Tạp Ghi

lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

“PHÊ VÀ TỰ PHÊ” và “QUYỀN IM LẶNG”
Phạm Khánh Chương
31-05-2015

Sự khác biệt rất lớn giữa làm người ở đất nước Dân Chủ và làm người ở nước CHXHCN Việt Nam
I. Quyền Im Lặng

Tại các nước dân chủ, luật pháp muốn buộc tội ai thì phải chứng minh người đó có tội. Luật pháp không thể dùng những lời nói của họ, do họ bị bắt buộc phải nói, để buộc tội họ.

Người đang bị thẩm vấn, bị điều tra không có nghĩa là họ có tội, họ vẫn có đầy đủ những quyền mà người công dân bình thường có được. Họ chỉ có tội khi tòa án kết tội dựa trên chứng cứ không thể chối cãi hay nghi ngờ (beyond a reasonable doubt). Tước đoạt quyền im lặng của họ, bắt họ phải nói, rồi dùng nó để buộc tội họ, tức là qua mặt luật pháp, gián tiếp kết án họ mà không thông qua tòa án.

Quyền im lặng (right to remain silent) dựa trên nguyên tắc căn bản mọi người có quyền tự bảo vệ, có quyền không nói bất cứ điều gì khiến người khác dùng nó chống lại hay buộc tội bản thân mình (no man is bound to accuse himself).

Quyền im lặng được công nhận và bảo vệ rộng rãi tại các nước dân chủ. Không những thế, người thi hành pháp luật (police officer) còn phải có nhiệm vụ nhắc nhở người bị cáo buộc “Bạn không cần phải nói bất cứ điều gì nếu bạn không muốn, nhưng bất cứ điều gì bạn nói có thể được sử dụng để chống lại bạn trong một tòa án của pháp luật.”

Dĩ nhiên cũng có nhiều trường hợp người ta lạm dụng quyền im lặng. Để hạn chế, luật pháp tại nhiều nước có sự thay đổi nhưng vẫn tôn trọng nguyên tắc căn bản của quyền đó. Bị cáo vẫn được quyền im lặng để tự bảo vệ khi đang bị phỏng vấn hay điều tra bởi cảnh sát, nhưng (nếu họ) sử dụng quyền im lặng một cách thái quá, họ có thể bị đánh giá là không hợp tác, và nếu tại phiên tòa, họ có thể bị buộc tội khinh miệt tòa án (contempt of court).

Quyền im lặng chỉ là một trong những quyền mà người bị buộc tội được hưởng vì nó giúp giảm thiểu tối đa sự bức cung hay dùng nhục hình dẫn tới bị cáo “phải buộc tội” mình rồi sau đó bị kết tội, và đây cũng quyền của con người nói chung mà Thượng Đế ban cho con người.

II. Phê và Tự Phê

Dưới chế độ CS, “phê và tự phê” thực ra chỉ là “anh phải tự xưng tội, rồi tự buộc tội anh và buộc tội người khác” mà không cần thông qua xét xử tại tòa án. “Phê và tự phê” hoàn toàn trái ngược với “quyền im lặng”.

“Phê và tự phê” dưới chế độ CS là nghĩa vụ, là bổn phận, là bắt buộc. Nó áp dụng cho mọi thành phần trong XH không phân biệt, và được đảng CS tiến hành dưới nhiều hình thức và trong nhiều tình huống khác nhau.

“Phê và tự phê” có những tên gọi khác như “kiểm thảo”, “tự kiểm thảo”, “phát hiện”, “tố giác”, “đấu tố”, v.v…, và dù dưới hình thức nào, nó cũng điều có chung một đặc điểm là bị buộc tội nhưng không qua quá trình tố tụng và xét xử tại tòa án của pháp luật.

“Phê và tự phê” là công cụ đắc lực nhất, hữu hiệu nhất để đảng CS bảo vệ sự độc tôn của đảng. Đảng CSVN sử dụng nó để cấm đoán, chà đạp, kết án những quyền căn bản của con người khi những quyền đó đi ngược lại ý thức hệ CS của đảng. “Phê và tự phê” đã hũy diệt đạo đức, tính nhân bản của con người một cách kinh khủng nhất, tàn bạo nhất và có hệ thống nhất.

Qua “phê và tự phê”, mọi người bắt buộc phải tự nhận tội và buộc tội. Không được bào chữa, càng cố bào chữa càng chứng tỏ “ngoan cố”, “không tự giác”. Tự vạch tội mình, vạch tội người càng nhiều càng “tốt”, càng “giác ngộ cách mạng”và càng “có công với cách mạng”, với “tổ quốc XHCN”. Hậu quả của nó là, để khỏi tự hũy biệt mình, chỉ còn cách phải hũy diệt người khác trước khi họ hũy diệt mình, bất chấp thủ đoạn, bất chấp lương tâm và đạo lý con người.

Đảng CSVN lấy ý thức hệ Mác-Lê làm chân lý, làm tư tưởng chỉ đạo cho mọi hành động, suy nghĩ và lời nói của nhân dân. “Phê và tự phê” là một biện pháp hữu hiệu được đảng dùng để uốn nắn, trừng phạt, tiêu diệt những ai đi ra ngoài khuôn khổ ý thức hệ đó.

III. Kết luận

“Quyền im lặng” được các chính thể dân chủ dùng để bảo vệ con người. Tại VN, đảng CS dùng “phê và tự phê” để duy trì quyền lực.

Tại VN hiện nay, quyền im lặng nói riêng và quyền con người thiêng liêng mà Thượng Đế ban cho đang được quyết định, ban phát bởi những kẽ đầu óc ngu ngơ như ĐBQH Đỗ Văn Đương hay những đại biểu QH, đa số là đảng viên CS, mà nhiệm vụ duy nhất của họ chỉ là bảo vệ đảng chứ không phải bảo vệ quyền lợi nhân dân dù họ mang tiếng là đại biểu nhân dân.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

40 năm và câu chuyện đổi đời[/color
]


Ông sĩ quan cao cấp sang đây quá chậm trong khi những người đi trước đã ổn định cuộc sống. Trong những ngày tháng chờ đợi, một hạ sĩ quan của ông ngày trước, bây giờ là một chủ tiệm phở khá đắt khách ngỏ ý giúp ông việc làm trong tiệm của anh.

Anh không thể biếu người chỉ huy cũ của mình một số tiền, nhưng có thể giúp ông một số thu nhập hàng tháng. Nhưng ông này thẳng thắn từ chối, và nói với những người quen là, “Tao mà đi làm công cho thằng lính hồi xưa của tao hay sao?”

Ông tổng giám đốc một cơ quan ngày trước sang định cư tại đất này, chán ngán vì cảnh đời vân cẩu, bể dâu, theo ông, những “thằng” ngày xưa không đáng làm tài xế cho ông, qua Mỹ trước ông, nay nhà cao, xe đẹp, có cuộc sống thong dong, trong khi ông không kiếm nổi được việc làm $5/giờ. Ông sinh ra bi quan, hận đời, chưa già mà tóc đã bạc phơ, sống cuộc đời khép kín, không muốn giao du với ai.

Nhiều cấp chỉ huy hành chánh và quân sự ngày trước, sang đây ngậm ngùi làm nghề cắt cỏ, thợ sơn, lau nhà, gác cổng..., nhưng cũng không thiếu những “lính trơn” qua đến đất hứa thành công vượt bực.

Có những người vui vẻ nhận một cuộc sống thay đổi. Một bác sĩ quân y, rất giỏi giải phẫu, sau khi chịu cảnh tù đày, đến Mỹ chậm trễ, không có cơ hội học lại nghề cũ, ông phải vào “shop” may. Bàn tay ông trước kia thành thạo việc mổ xẻ, cắt khâu cho thương binh từ mặt trận về, thì bây giờ hai bàn tay ấy, suốt nhiều năm cắt chỉ, đóng khuy, không hề mang một chút mặc cảm. Một vị hiệu trưởng một trường trung học, sang đây làm nghề giao “pizza” suốt 13 năm, lái xe suốt mấy chục nghìn dặm đường, nhận những đồng tiền “tip” của thiên hạ để nuôi con và có đủ phương tiện bảo lãnh hai con đã lập gia đình trước lúc ông được đến Mỹ. Một vị giáo sư thanh tra trung học, phụ tá của một phụ tá tổng trưởng Giáo Dục, quên quá khứ để làm lại cuộc đời trên đất Mỹ, từ những nghề vẫn được xem là “thấp kém” như y công trong bệnh viện (Certified Nursing Assistant-CNA) giữ trẻ em (babysitter), thợ làm bánh bông lan để sống còn và có cơ hội để lo cho các con còn ở Việt Nam sang đoàn tụ với cha mẹ.

Những người thành công ở hải ngoại thường là những người quên quá khứ của mình, sẵn sàng làm lại cuộc đời. Một quân nhân trước đây mang cấp bậc trung sĩ, di tản vào những ngày cuối cùng trong cuộc chiến, sang đây đã chịu khó cắp sách đến trường và bây giờ là một luật sư khá nổi tiếng. Để làm gương cho con cháu và tuổi trẻ Việt Nam ở Mỹ, ông Nguyễn Ngọc Sẳng, một người tù sau khi ra khỏi tại tập trung, phải đi làm những nghề mà xã hội vẫn xem thường như đi bán vé số ở bến xe và quán nhậu, xách nước ngọt cho du khách tắm ở Vũng Tàu, đã phấn đấu khi đến Mỹ, lấy bằng tiến sĩ giáo dục khi ông đã 63 tuổi. Xuất thân là nghề “nhà binh,” Thiết Đoàn Trưởng Thiết Giáp Nguyễn Hữu Lý đã nhận bằng cao học văn chương tại Dallas năm 73 tuổi. Nguyên Thượng Nghị Sĩ VNCH, ông Lê Tấn Bửu, bị tù tập trung 13 năm, đến Mỹ năm ông đã 70 tuổi, đáng ra là tuổi dưỡng già, ông đã trở lại làm sinh viên và tốt nghiệp tiến sĩ năm 81 tuổi.

Nếu có một sự so sánh giữa hai cảnh đời trôi nổi, thì người bi quan than thở cho số phận, chức tước, địa vị, của cải, bổng lộc không còn, còn người lạc quan lấy hoàn cảnh của họ sau năm 1975, sau khi đi tù về hay những ngày đói khổ ở Việt Nam để nói những lời tri ân với cuộc sống mới. Ông Nguyễn Thanh Ty, một cựu tù nhân chính trị nói:’

“Nếu không có nước Mỹ thì có lẽ thằng con trai tôi, giờ này đang ôm bình cà rem đi bán ở Chợ Đầm, Nha Trang.” (Cháu đã đỗ kỹ sư sau khi cha định cư ở Mỹ).

Ông HO Nguyễn Ngọc Trạng thì tâm sự:

“Nếu không có cuộc đổi đời này, thì thằng con bị tâm thần của tôi chắc phải đi ăn xin ở bến Ninh Kiều, Cần Thơ, và thân tôi còn đạp xe ôm ở bến Bắc Mỹ Thuận cho đến khi ngã xuống vì kiệt lực.”

Trong chiến tranh có rất nhiều cảnh đổi đời trái ngược. Có người giàu có bạc triệu, ngày 30 Tháng Tư, 1975, bỏ nước ra đi chỉ với hai bàn tay trắng. Cũng có người nghèo khó, vượt biển ra hải ngoại, ngày nay đã trở thành triệu phú ở hải ngoại. Xuất thân con nhà nghèo, thuở nhỏ phải đi chăn trâu, vào trường tiểu học không có được một cái giấy khai sinh, ngày nay, Hồ Văn Trung là chủ tịch tập đoàn Trangs Group sản xuất thực phẩm, có trụ sở và chi nhánh khắp nơi trên thế giới như Úc, Mỹ, Anh, Việt Nam, Châu Phi...

Thế gian vẫn thường quan niệm “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa,” nhưng chiến tranh và loạn lạc sinh ra chuyện đổi đời. Ngày nay con vua phải đi bán chợ trời (trường hợp Mệ Bảo Ân con Vua Bảo Đại sau năm 1975) con thầy chùa thời buổi “mạt pháp,” trong tay có hàng triệu đô la là chuyện thường tình.

Nếu có kẻ bất tài, vô học mà may mắn leo lên chức vụ cao, người đời gọi cảnh này là “chó nhảy bàn độc!” Ngày nay, trên quê hương đổi đời có bao nhiêu loại “nhảy bàn độc!” Y tá chích thuốc, du kích khiêng cáng lên ghế tể tướng, thiến heo, thợ mộc đóng hòm cũng có ngày lên ngôi hoàng đế. Đến như Nikita Khrushchev, thuở nhỏ phải đi chăn lợn, có thể lên đến chức tổng bí thư của Liên Bang Xô Viết. Có những chuyện đổi đời nhờ công lao khó nhọc, tinh thần cầu tiến nhưng cũng có những trường hợp “đổi đời” như chuyện “chó ngáp phải ruồi” mà người đời thường hay mai mỉa.

Nếu nói “xỏ xiên” chuyện đời đổi, thì không ai bằng ngòi bút Trần Tế Xương: “Công đức tu hành sư có lọng, su hào đủng đỉnh mán ngồi xe!”

Người đời thường an ủi, cho rằng những chuyện thăng trầm, “lên voi xuống chó” đều do định mệnh, số phận đã an bài cho mỗi người. Nhưng câu chuyện 40 năm từ ngày người Việt Nam bỏ nước ra đi, và ngay cả những người của chế độ Cộng Sản trong nước đã có những cuộc đổi đời khốc liệt.

Nhưng “đổi đời” không phải là một định luật. Có những ông bác sĩ sau năm 1975 sang đây vẫn là bác sĩ, kỹ sư vẫn là kỹ sư (nhất là ngành công chánh) có ông quyền thế tham nhũng chạy trước mang theo cả bọc vàng, vẫn có vài căn nhà, mấy tiệm ăn hay mở đôi ba cái 7-11 cũng là chuyện thường tình.

Nhưng phần lớn, biến cố 30 Tháng Tư, 1975 rõ ràng là, “Trời làm một trận lăng nhăng, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông!”

Dân gian có câu “không có ai giàu ba họ, mà cũng chẳng có ai khó ba đời!”

Không cứ ở đời con vua, số phận “đẻ bọc điều” thì lại làm vua, còn dân đen “sinh ra dưới một vì sao xấu” suốt đời phải chịu số phận hẩm hiu.

Chấp nhận và an vui. Không phấn đấu được thì cho là số phận an bài, số phận có thể thay đổi được sự sống chết, sự giàu nghèo, may rủi, nhưng số phận không thay đổi được nhân cách, sự suy nghĩ và cái nhìn của con người đối với cuộc sống này. May mắn đổi đời giàu có, không trả thù dĩ vãng, kiêu ngạo vênh váo thì chẳng may sa chân chịu số phận thấp hèn, có gì đâu mà mặc cảm, tủi thân.

Vậy thì anh cũng đừng buồn, ngày nay anh không còn quyền cao, chức trọng hay không có tiền của trong tay, chuyện là anh có còn là người tử tế cho người ta thương yêu kính nể anh không?


Huy Phương
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

2Đ hay 4T là cái gì?
Ở VN bây giờ lại có thêm một từ ngữ mới vừa được loan truyền trong dân gian. Đó là 2Đ, nghe có vẻ hơi bí hiểm, tưởng là một phát minh nào mới của VN vốn rất thiếu những phát minh mà chỉ thấy toàn tiến sĩ, kỹ sư cùng các nhà được gọi lá trí thức cao ngất ngưởng mà chẳng thấy một phát minh nào.

Hoặc người dân còn tưởng là ngành CA, mật vụ, tình báo vừa thành lập thêm một ban phòng nào đó để theo dõi, loại trừ bọn “phản động” các kiểu đang làm mất uy tín quốc gia.

Nhưng đó chỉ là sự suy đoán của mấy “con chim đã từng bị đạn” hay nói cho rõ là nhiều anh bị bắt ngang xương, được “mời lên làm việc” lu bù hoặc câu chuyện cửa miệng của mấy ông già lẩm cẩm lắm chuyện ngồi ở quán cóc đầu chợ.

Nhưng tới khi được chính ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang giải thích, người dân mới biết. Tiếp xúc cử tri TP Sài Gòn ngày 16.5 vừa qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời thẳng thắn những thắc mắc, hoài nghi về công tác cán bộ rằng:

“Ở đại hội các cấp, các cô bác anh chị, các đồng chí đừng đưa những con người 2 Đ vào cấp ủy. Cô bác anh chị, những đảng viên phải hành xử đúng với lương tâm, chức trách của mình, không nể nang thiên vị”.

Chủ tịch Trương Tấn Sang nói tiếp: “Đất nước có nhiều mặt tốt nhưng có một bộ phận cán bộ còn hư hỏng. Dân nói cán bộ “2 Đ”: Đất và Đô la. Đây là câu chuyện có thật, sự thật Đảng và Nhà nước cũng có nói trong rất nhiều văn kiện và nhấn mạnh rằng đó là “một bộ phận không nhỏ”. Đây là điều hết sức day dứt, ai cũng rất bức xúc. Tôi cũng khẳng định lại là những điều mà người dân nói là có thật”.

Té ra là loại cán bộ chuyên ăn đất và đô la lâu nay nằm kỹ trong các cơ quan công quyền, ai cũng biết “chỉ có vài người không biết”.

Cán bộ “2 Đ” sờ sờ, nhưng biết làm sao đây!

Thật khó cho sự lựa chọn những người vào cấp ủy mà không phải cán bộ “2 Đ”. Bởi vì “một bộ phận không nhỏ” hư hỏng có nghĩa là bộ phận đó lớn. Lớn có nghĩa là nhiều người. Đã có lần tôi viết bài và tự hỏi: “Một bộ phận là cái chi chi?”. Cứ nghe nói hoài “một bộ phận cán bộ” tha hóa biến chất mà không biết nó là bao nhiêu người, chỉ ước lượng tạm thời thôi cũng được. Nhưng là 10% hay 80-90% đây? – Chịu!

Biết người nào hư hỏng để loại ra, tìm người không hư hỏng để đưa vào cũng là sự thử thách bản lĩnh và trí tuệ của từng đảng viên. Có khi, tìm người liêm khiết khó hơn tìm người “2 Đ”. Cán bộ có đất, có đô la tất nhiên có thế lực, không dễ loại họ ra khỏi cấp ủy. Có đất, có đô mới có cái để chạy, mưu ma chước quỷ biến hóa khôn lường, người công chính cũng dễ lâm vào thế khốn đốn khi đối mặt với thế lực và tiền bạc.

Biết người đó là cán bộ “2 Đ”, nhưng ngăn làm sao đây! Đảng viên còn có lá phiếu để bỏ, quần chúng thấy cán bộ “2 Đ” sờ sờ, nhưng biết làm sao đây!

- La làng à? Đừng chơi dại.

Bạn Nguyễn Sỹ Tỉnh (nguynstnh@yahoo.com.vn) đã cảnh báo:

“Nói chung Dân ta biết tất cả đấy, nhưng vì thấp cổ, bé họng, nói ra hoặc "vỡ mồm" hoặc "gẫy răng" nên không ai dám nói thôi”.

Bạn Trần Minh Thuý ( tran_minhthuy2002@yahoo.com) phụ họa:

“Biết cán bộ "2Đ" nhưng làm sao đây, nghe mà "chua xót" quá, bởi những người giữ trọng trách cao mà còn phải "bó tay" với loại cán bộ này thì dân làm gì được họ cơ chứ ? Và xin khẳng định một điều là chỉ có thể loại bỏ được những con sâu " 2Đ " này, một khi cử tri được trực tiếp bỏ lá phiếu mà thôi còn thì nói nhiều cũng chỉ đến nói là hết, người dân chán nghe lắm rồi”.

Đúng là chỉ có người trong đảng giới thiệu và bầu bán với nhau thôi, anh dân đen đứng ngoài ngó vô cho.., vui cái sự đời vậy thôi.

- Bạn Xuân Thủy xuanthuy29051982@yahoo.com còn “tố” thêm:

“Nơi tôi ở Yên Thủy - Hòa Bình còn 4Đ cơ. Đó là Đô la - Đất - Đạo đức đểu - Đục khoét”.

Nếu tính toán như bạn Xuân Thúy chắc còn nhiều Đ nữa đấy. Chẳng hạn như “Xin đểu” là những anh có chức có quyền hỏi xin dân con gà, con heo nhưng thực chất là buộc anh phải cho. “Mượn đểu” là mượn của dân rồi “quên” luôn. Có hàng trăm thứ đểu khác nữa trong cái “thời đại đồ đểu” này.

Từ đâu phát sinh ra những 3k, 4c…

Tôi nhớ vào khoảng những năm 1945, khi “toàn quốc kháng chiến”, các cán bộ dân vận luôn khuyên dân chúng thực hiện 3 không: “không biết, không nghe, không thấy” để giữ bí mật cho quân đội và bí mật quốc gia”. Hồi đó gọi là 3 K.

Nhưng về sau này, sau những năm 1975, khi các cán bộ biến thành quan cai trị dân thì 3K lại là của những quan lớn ấy. Dân bị tra khảo, đánh đập oan ức, các quan thường chỉ có câu trả lời “không thấy, không nghe, không biết” nên sẽ cho điều tra xử lý sau.

3K của anh dân nghèo là “không ruộng, không đất, không nhà cửa”. Bởi ruộng đất đều là của “Nhà Nước” hết.

Rồi đến các cậu ấm con quan, đi đâu cũng được hậu đãi trọng vọng, người dân gọi là 4C tức là “con ông cháu cha” hoặc vào công sở nào cũng thấy 5C “con cháu các cụ cả”.

Rồi cứ thế những 3k, 4-5 C khác cũng tuần tự ra đời.

Lại có thêm một chữ mới 4T

Trong thời gian vừa qua, chuyện um xùm nhất tại VN là chuyện thuộc về “bản chất văn học VN”.

Đã có tới 20 nhà văn lâu nay nằm trong Hội Nhà Văn Việt Nam của chế độ hiện nay, xin rút lui khỏi Hội Nhà Văn này. Tất cả có chung một lý do như họ đã tuyên bố là: “"Hội Nhà Văn VN không còn là tổ chức tin cậy với hội viên nữa”. Theo họ, hành động này « vi phạm trắng trợn điều lệ hiện hành của Hội Nhà văn Việt Nam, tước bỏ một trong những quyền cơ bản của hội viên và công dân, xúc phạm nghiêm trọng danh dự của người cầm bút ». Danh sách đó gồm có:
Image
Các nhà văn thành lập Văn đoàn Độc Lập
1. Nguyên Ngọc - 2. Đỗ Trung Quân - 3. Nguyễn Quang Lập - 4. Nguyễn Huệ Chi - 5. Phạm Đình Trọng - 6. Võ Thị Hảo - 7. Bùi Minh Quốc - 8. Đặng Văn Sinh - 9. Hoàng Minh Tường - 10. Lê Hiền Phương - 11. Ngô Thị Kim Cúc - 12. Nguyễn Quang Thân - 13. Thùy Linh - 14. Vũ Thế Khôi - 15. Ý Nhi - 16. Dư Thị Hoàn - 17. Trịnh Hoài Giang - 18. Dạ Ngân - 19. Nguyễn Duy - 20. Trần Kỳ Trung.

Trong số đó, nhà thơ Đỗ Trung Quân tác giả bài thơ Quê Hương được nhiều độc giả biết, vừa công bố trên mạng internet lá thư phúc đáp văn thư của ông Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà Văn VN yêu cầu ông làm hồ sơ xin tham gia giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng văn chương nhà nước. Sau đây là nguyên văn lá thư của nhà thơ Đỗ Trung Quân:

“Anh Hữu Thỉnh à,

Anh thừa biết 4T, cấm vận, cô lập, cấm tôi viết lách, xuất hiện trên truyền thông ,chỉ bằng lệnh miệng, chả có một văn bản nào, nghĩa là chơi xấu tôi từ hơn ba năm qua, thế mà anh và Hội nhà văn im như thóc không dám lên tiếng bảo vệ cho hội viên lấy nửa câu, hoặc ít ra cũng đòi cho được có cái văn bản cho nó đàng hoàng, minh bạch mà giờ còn chơi trò đạo đức giả gửi văn bản yêu cầu tôi…tự làm đơn xin giải thưởng, xin – để giao cho các anh cái quyền gạt thẳng tưng thì tôi chưa biết mở mắt ra tí nào, còn ham hố, háo danh và ngu lâu lắm. Thôi nhé các anh cứ tự nhiên vui vẻ, tôi vái dài và tránh xa những trò này”.
Image
Nhà thơ Đỗ Trung Quân tác giả từ mới "4T"
Nhà thơ Đỗ Trung Quân lại có thêm một từ ngữ mới: 4T. Chẳng biết tại sao ông này lại gọi là 4T, đúng ra cứ theo như người bình dân hiểu thì đây là 4 Cấm, có lẽ ông sợ lầm 4 C với “con ông cháu cha” nên phải có từ ngữ mới. Vậy phải gọi 4T là 4 cấm mới đúng: cấm vận, cô lập, cấm viết lách, cấm xuất hiện trên truyền thông. Câu chuyện về những ông nhà văn nhà thơ tự ý xin rời bỏ cái gọi là “Hội Nhà Văn” còn lôi thôi lắm. Đây là câu chuyện của riêng TP Sài Gòn.



Khai trừ cả những người đã rút lui, không còn là hội viên của mình nữa

Sáng ngày 5/5/2015, Đại hội Nhà văn Việt Nam khu vực TP. Sài Gòn chuẩn bị cho đại hội (đại biểu) lần thứ 9 đã khai mạc, chương trình làm việc là 1 ngày. Trọng điểm là việc bầu để cử những “nhà văn đại biểu” đi dự đại hội lần thứ 9 tại Hà Nội tháng 7 tới.

Ở TP Sài Gòn có 155 hội viên, nhưng chỉ 90 người có mặt. Hầu như những người không có mặt (60 người) đều không có văn bản chính thức về sự vắng mặt của mình.

Vào lúc phiếu bầu cử đã được phát, và đã xác định sẽ gạch tên những người không được cử, trưởng ban tổ chức Lê Quang Trang cầm micro thông báo: trong danh sách của Văn Đoàn Độc Lập có 26 người là hội viên Hội Nhà văn VN, trong đó có chín người ở TP. Sài Gòn, sau đó đọc tên 9 hội viên, gồm: Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân, Ý Nhi, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Thân, Phạm Đình Trọng, Hiền Phương và Ngô Thị Kim Cúc.
Image
Hai nhà văn Ngô Thị Kim Cúc (trái) và Dạ Ngân thuộc số chín người mà Hội Nhà văn Việt Nam yêu cầu gạch tên sáng ngày 5-5-2015 vừa qua.

Chỉ thông báo tên mà không cần giải thích, trưởng ban tổ chức mặc nhiên yêu cầu gạch tên những nhà văn này để không thể có mặt trong đại hội nhà văn sắp tới. Thật ra trong số đó là những người thành lập “Hội Nhà Văn Độc Lập”, không chịu lệ thuộc vào bất cứ hội đoàn nào. Bởi nhà văn cần có tự do sáng tác, nếu lệ thuộc, làm theo mệnh lệnh chỉ còn là những anh “lính đánh thuê, gọi dạ bảo vâng”.
Image
Nhà thơ nữ Ý Nhi xin rút lui từ tháng 1/2002 vẫn còn bị gạch tên?

Và một sự thật khác là những nhà văn ấy đã rút lui khỏi cái hội này từ lâu rôi. Nhà thơ Ý Nhi, có tên trong danh sách bị gạch tên, thực ra đã gửi thư thông báo từ bỏ Hội Nhà văn VN từ tháng 1/2002. (Tôi được biết nhà văn Ý Nhi khi tôi đang bị CA khám xét nhà, tịch thu hết máy móc và tài liệu, chị đã từ Bình Thạnh lặn lội lên thăm và an ủi gia đình tôi trong khi tôi còn đang bị hạch hỏi ở CA Q3, vì thế tôi chưa có dịp trực tiếp gặp để cảm ơn chị, nhân ở đây xin chị nhận lời cảm ơn của tôi).

Nhà văn Dạ Ngân đã rút khỏi Ban Vận động Văn đoàn Độc lập từ 14/12/2014. Nhà văn Nguyễn Quang Lập đã rút khỏi Ban Vận động Văn Đoàn Độc Lập từ 26/6/2014, đồng thời cũng rút tên khỏi tất cả các Hội mà anh tham gia, trong đó có Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Sân Khấu, Hội Điện Ảnh Việt Nam. Vậy việc gạch tên của họ chỉ là một trò khôi hài thôi.

Người dân vốn ít khi quan tâm tới hoạt động của giới cầm bút bỗng vui mừng săn đón từng nhà văn trên đường phố. Trong đại hội, nhiều người dân, trong đó có những trí thức khoa bảng, đã mang tới những tâm thư, những thỉnh cầu, đề nghị các nhà văn hãy vì dân mà làm điều đó. Đừng tưởng dân ngu, người nào ra sao, họ biết cả đấy các ông các bà nhà văn ơi, đừng dùng “vải thưa che mắt Thánh”.

Hãy có lòng tự trọng cao nhất của người cầm bút giữa thời đại nhiễu nhương này cho đúng với thiên chức của người cầm bút.

Nay mai chẳng biết ở VN còn xuất hiện bao nhiêu từ ngữ tắt như thế nữa.

Văn Quang
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Còn đâu một thời ‘tị nạn!’

Tạp ghi Huy Phương
Qua một bài viết của Tiến Sĩ Phan Văn Song vào Tháng Mười Một, 2013, chúng ta được biết trên báo “Ép Phê” số 4 tại Paris (không ghi rõ ngày phát hành) ký giả Xuân Mai đã đưa một tin có 22,417 người Việt tại Pháp bị tước bỏ quyền tị nạn, vì đã phản bội tư cách tị nạn của mình.

Nhưng quyền tị nạn là gì?

Liên Hiệp Quốc định nghĩa về tị nạn như sau: “Đó là người có đủ lý do để sợ rằng bị bách hại vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, hoặc vì là thành viên của một đoàn thể xã hội nào, hoặc vì chính kiến, hiện sống ở ngoài quốc gia mà mình mang quốc tịch nhưng không thể nhận được hoặc không muốn nhận sự bảo vệ của quốc gia mà mình mang quốc tịch vì những lý do trên, hoặc là người không có quốc tịch vì ở ngoài quốc gia thường trú nhưng nay không thể trở về quốc gia đó, hoặc là người vì những lý do kể trên không muốn trở về quốc gia thường trú.”

Tại Việt Nam, khi lực lượng Cộng Sản chiếm miền Nam vào Tháng Tư, 1975, hàng trăm ngàn người dân miền Nam tìm cách ra đi. Số đầu tiên do quân đội Hoa Kỳ cứu vớt, chỉ trong ngày đầu tiên đã có tới 2,074 người tị nạn được chuyển an toàn tới hàng không mẫu hạm Midway. Tiếp theo là hàng loạt người chạy trốn Cộng Sản bằng đường biển và đường bộ suốt thập niên 1980 lên hơn một triệu người. Tình hình tương tự ở Lào và Cambodia cũng mở đầu cho hàng trăm ngàn người trốn tránh chính sách áp bức của chính quyền vượt biên giới sang Thái Lan.

“Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi, đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: ‘Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tị nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do này, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.’”

Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tị nạn của ông đến bảy lần từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA – Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – Văn Phòng Bảo Vệ Người Tị Nạn và Vô Tổ Quốc).

Ngày 27 Tháng Sáu, 2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tị nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản.

“Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Geneva ngày 28 Tháng Bảy, 1951, chúng tôi thu hồi thẻ tị nạn, đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tị Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tị nạn chính trị.”

Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tị nạn và quyền lợi, với con số là 22,417.

Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tị nạn và trợ cấp xã hội. Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội Vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tị nạn. Một khi mất thẻ tị nạn thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm. Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên ba năm, thì phải có sổ thông hành của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp. Cái thâm độc của Việt Cộng là như thế.”

Tiến Sĩ Phan Văn Song có nói đến việc xin tị nạn ở Pháp, như khi được nước Pháp nhận cho vào, việc đầu tiên là làm đơn xin tị nạn, nói về lý do phải bỏ nước ra đi, nếu ở lại sẽ bị tù đày, kỳ thị và trả thù. Quy chế tị nạn chánh trị được chứng minh bằng tư cách vượt biên trốn chạy ra khỏi biên giới nước Việt Nam của mình, bằng đường bộ, đường biển, vượt biển được tàu buôn vớt, hay vượt biên đến một trại tị nạn ở một nước thứ ba.

Cơ quan bảo vệ người tị nạn, sau khi người tị nạn tuyên thệ và ký tên hứa không về Việt Nam nữa, sẽ cấp cho họ thẻ tị nạn, gọi là thẻ OFFRA. Với cái thẻ này, người mang thẻ được chứng minh là người “réfugié,” tức là người tị nạn, và từ nay họ cũng là người “vô tổ quốc” (apatride) luôn, đương nhiên sẽ mất luôn quyền công dân, hết còn là người CHXHCN Việt Nam nữa!

Hưởng được quy chế tị nạn là được giấy tạm trú (Carte de séjour temporaire), giấy phép đi làm (Carte du travail), có trợ cấp bảo hiểm xã hội (Sécurité Sociale), có trợ cấp y tế (bác sĩ, bệnh viện), trợ cấp nhà (APL-Allocation Pour le Logement). Ở Pháp còn các loại trợ cấp đặc biệt khác như trợ cấp mẹ đơn chiếc không chồng mà phải nuôi con, trợ cấp cho con bú, nuôi con không có sữa hay không muốn cho con bú, thì có trợ cấp để mua sữa bò hay sữa bột.

Du lịch là chuyện nhân quyền, nên muốn đi du lịch đã có sổ thông hành (Titre de Voyage). Đi đâu cũng được nhưng dân tị nạn Việt Nam bị cấm đi du lịch ở các quốc gia gần nơi mình bỏ xứ ra đi.

Dân tị nạn muốn qua mặt việc kiểm soát về Việt Nam thì đã có tòa lãnh sự lo, họ chỉ cần ghi danh vào Hội Việt Kiều Đoàn kết, Liên Hiệp Việt Kiều, Việt Kiều Yêu Nước, các cơ quan này lo giấy đi du lịch Malaysia, từ đây sẽ về Việt Nam và trở lại. Nhưng những ai đi theo lối này, sẽ bị các cơ quan ngoại giao Cộng Sản thông báo danh sách lại cho cơ quan OFPRA để cắt quyền tị nạn. Trong trường hợp này những ai không vào được quốc tịch Pháp để có dân quyền như một người dân địa phương thì phải có giấy chứng nhận của tòa đại sứ hay lãnh sự quán Việt Nam, chứng nhận họ là công dân Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, có sổ thông hành Việt Nam, sinh viên có ghi danh đại học, hoặc làm việc ở một cơ quan ngoại giao Việt Nam, hay có hợp đồng làm việc với một công ty Pháp hay hãng ngoại quốc tại Pháp, đóng thuế lợi tức cho nước mình cư ngụ để trở thành Việt Kiều đúng nghĩa.

Ngày nay ở Pháp không biết còn ai là thuộc diện tị nạn. Phần lớn đã vào quốc tịch Pháp, số còn lại theo tòa đại sứ Việt Cộng để làm Việt kiều cư ngụ, làm ăn trên đất Pháp.

Liệu ngày nay, bốn triệu người Việt ở ngoại quốc, ai còn mang trong mình cái “căn cước tị nạn” vì Việt Cộng áp chế mà phải bỏ nước ra đi. Trong những người này, ai là tị nạn chính trị, ai là tị nạn áo cơm, ai là Việt Kiều, ai là Việt Cộng, ai đã trở thành lưu vong, ai nhận một đất nước khác làm quê hương?

Theo nguồn tin trong nước, những ngày cuối năm 2014, có một triệu “kiều bào” về Việt Nam đón Tết Ất Mùi … và con số tiền hải ngoại rót về Việt Nam năm 2014 ước tính lên đến $13 tỷ! Nhìn quanh sinh hoạt của cộng đồng người Việt chúng ta ở đây hay ở đó, con số này, dù có bị thổi phồng lên đi nữa cũng là chuyện rõ ràng và đáng buồn!

Không phải chuyện ông Nguyễn Văn Tuyền, tị nạn Cộng Sản ở Pháp năm 1980, từ năm 1995 đến năm 2000 đã trở về Việt Nam bảy lần, tôi biết một người, nguyên là thiếu úy tị nạn đến Mỹ từ năm 1975, tính đến năm 2012 đã trở lại Việt Nam 57 lần. Trong hai năm nay, không còn gặp, tôi không biết con số lượt đi-về này đã tăng thêm bao nhiêu lần nữa?

Chúng tôi đồng ý với kết luận của Tiến Sĩ Phan Văn Song ở Pháp, “Chỉ tội nghiệp cho những người còn tâm huyết ký tên thỉnh nguyện với chánh phủ Mỹ, chánh phủ Úc xin hãy đặt điều kiện nhân quyền với chánh phủ Việt Nam. Người Việt tị nạn chúng ta có ai đặt điều kiện nhân quyền với Hà Nội không, khi hằng năm gởi về $10 tỷ, khi hằng năm trở về du hý, du lịch? Mình không thể nhờ người ta đấu tranh nhân quyền, cho dân chủ, cho tự do, của dân tộc mình, khi mình không làm gì hết!”
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Thật trơ trẽn khi đảng & Nhà nước độc tài độc đảng kêu gọi HHHG dân tộc

Ngọc Ẩn –

Đảng CSVN kêu gọi HHHG dân tộc nhưng điều 4 hiến pháp của CSVN vẫn dành độc quyền lãnh đạo và chế độ độc tài tiếp tục dùng bạo lực đàn áp người dân. Đảng CSVN hủy bỏ điều 4 hiến pháp, sau đó kêu gọi HHHG dân tộc thì nghe bớt lưu manh, bịp bợm.

CSVN kêu gọi HHHG với người Việt hải ngoại vì điều 4 hiến pháp và bạo lực của côn an không có đất sống ở hải ngoại. Ở những nơi không xài được luật rừng, nhà tù, côn an, côn đồ để trấn áp, đấu tố, đánh đập, thủ tiêu, bỏ tù, quản chế tại gia thì CSVN kêu gọi HHHG dân tộc với người ngoại quốc.

Đối với người dân trong nước thì những hình ảnh của phóng viên Trương Minh Đức và Blogger Nguyễn Chí Tuyến bị côn an đánh đập đã và đang phơi bày sự dối trá, trơ trẽn, khốn nạn của cái mặt thật HHHG dân tộc mà CSVN đang kêu gọi.alt


Bao nhiêu lời đường mật, âu yếm, nịnh bợ và bao nhiêu tiền đổ vào nghị quyết 36 kêu gọi Việt kiều xóa bỏ hận thù, trở về HHHG dân tộc đều như nước đổ đầu vịt, gió thoảng, mây bay khi Việt kiều nhìn thấy những hình ảnh đầy máu me, bầm dập thâm tím của anh Trương Minh Đức và anh Nguyễn Chí Tuyến. Đảng viên CSVN thì miệng kêu gọi HHHG với dân nhưng tay thì đập ống sắt vào đầu dân hoặc dùng ống sắt đánh gãy chân Chị Trần Thị Nga. CSVN học tập nói một đàng làm một nẻo từ CSTQ. CSTQ thì miệng kêu gọi giữ hòa bình, ổn định ở biển Đông nhưng vẫn cứ tiến vào thềm lục địa VN húc chìm ghe thuyền của ngư phủ VN và ngang nhiên cấm người VN đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền của VN. CSTQ đối xử với CSVN cùng một phương pháp, luận điệu mà CSVN đối xử với người dân VN.

Cái bộ máy cộng sản là một bộ máy rất tụt hậu. Mang một ông Tiến Sĩ bỏ vào bộ máy cộng sản thì sẽ sản xuất ra một con bò. Mang con bò đó bỏ tiếp vào bộ máy cộng sản thì sẽ sản xuất ra côn an. Đó là cách giải thích là tại sao Đảng và Nhà Nước kêu gọi HHHG dân tộc trong khi côn an dùng ống sắt đánh người dân vô tội bể đầu chảy máu. Nếu Đảng và Nhà Nước CSVN có quyền sử dụng luật rừng và côn an ở hải ngoại thì tôi tin chắc 100% là côn an sẽ đánh Việt kiều bầm dập, gãy chân, nứt sọ và kết án 13-16 năm tù về tội chống phá Nhà Nước như trường hợp anh Trần Huỳnh Duy Thức và chị Tạ Phong Tần. Anh Thức và chị Tần chống phá Nhà Nước tham nhũng chưa bằng 1% Việt kiều chống phá mà đã bị bỏ tù lâu như thế. Riêng tôi chỉ biết 16 chữ vàng “đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” của cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu là chắc ăn.

Kinh tế CSVN đang khánh tận, CSVN đang cần ngoại tệ, muốn có ngoại tệ thì CSVN ao ước HHHG với Việt kiều. Việt kiều thì cũng rất ư là muốn HHHG với Việt cộng để xây dựng lại đất nước nhưng kẹt điều 4 hiến pháp rất độc tài và những hình ảnh bê bết máu của người dân trong nước rất ám ảnh Việt kiều. Làm cách nào để HHHG với chế độ độc tài toàn trị? Câu trả lời là bao giờ hết độc tài thì bàn luận HHHG dân tộc thì hợp lý và không có cảnh máu me, bầm dập như cái kiểu HHHG đầy lưu manh của CSVN hiện nay.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Những cái cột đèn

Huy Phương
Thời thơ ấu, ở trong một thành phố nhỏ, có hai thứ âm thanh luôn luôn ám ảnh tôi, đó là tiếng chuông chùa và tiếng còi tàu. Trong khi tiếng chuông chùa mang lại sự thanh thản, an nhiên cho những cuộc đời thầm lặng thì tiếng còi tàu luôn luôn thúc giục, kêu gọi thoát ra khỏi những cảnh đời trói buộc, như lời vẫy gọi cho những chuyến đi xa.

Một cột đèn tiêu biểu ở Hà Nội, Việt Nam. Những chiếc loa được gắn trên cột đèn
là một thói quen phát xuất từ thập niên 1960, vì nhu cầu tuyên truyền của cuộc
chiến thời đó. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Chẳng bao giờ “tôi thấy tôi thương những chuyến tàu,” trái lại từ sân ga, tôi thấy con tàu luôn luôn hăm hở như muốn bứt xiềng lao về phía trước. Tiếng máy phì phò, rít lên từng chặp như chính nó không chịu nỗi kìm hãm ngột ngạt, muốn bung ra, chạy về phía chân trời xa lạ, nhưng hẳn là mênh mông, đầy hy vọng.

Con tàu sẽ đi qua những cánh đồng bát ngát, hít thở lấy mùi vị của cỏ cây, đồng nội; con tàu sẽ chạy qua những nhịp cầu với dòng sông còn ngái ngủ, phủ đầy màn sương buổi sáng; con tàu sẽ chạy đến những thành phố xa lạ, mái ngói lô nhô đầy ánh nắng, gửi những tiếng còi dội vào vách núi, tỏa ra trên bờ cát trắng đang được vỗ về bởi những đợt sóng biển nhẹ nhàng.

Tôi có những người bạn đã may mắn, một ngày lên những con tàu ấy để ra đi. Khi trở lại, họ đã là một con người khác, những thay đổi dưới mắt tôi, là sự tươi tắn, tự tin và cả cuộc sống mới đã làm tôi thèm thuồng, mơ ước.

Còn tôi, trong tuổi ấu thơ, tôi trở về dưới mái nhà tù mù ánh điện vàng, ngạt thở với cái gia đình, nơi đó, tôi đã sinh ra và lớn lên. Mái ấm gia đình nào cũng thân quen, hiền hậu, quyến luyến, không ai muốn bỏ đi, nhưng với tôi là một khung cảnh buồn thảm, phiền muộn.

Những đứa trẻ vừa mới lên quá tuổi mười lăm vẫn thường ghét gia đình cũng như tâm trạng một người vừa đến tuổi trưởng thành muốn rời bỏ thành phố mình đang ở để đi đến một nơi khác. Cho đến một ngày kia, tôi đã được lên con tàu ấy, khởi đầu cho một chuyến đi xa. Rồi con tàu bỏ nhà ga, để lại tất cả ngôi nhà, con sông, chiếc cầu, những khuôn mặt thân quen, bạn bè, cùng những kỷ niệm của thời học trò. Tất cả hình ảnh hai bên con tàu đều chạy giật lùi về phía sau, xa dần, rồi khuất trong tầm mắt. Tôi không hề tiếc nuối, lưu luyến những gì giờ đây đã ở lại sau làn khói đen. Con tàu chạy mãi về phía trước, đi xa và xa mãi.

Không những chỉ đến Sài Gòn, từ Sài Gòn tôi đã vượt qua đại dương, đi hết nửa vòng trái đất, để đến những phương trời xa lạ, được tự do thở hơi mặn nồng của gió biển đại dương, hay may mắn nghe hương thơm của những cánh rừng lục địa.

Tôi có nhiều người bạn thời thơ ấu, sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà của cha mẹ, khi cha mẹ qua đời ở lại trong ngôi nhà ấy. Người bạn này trở thành thầy giáo và trở lại dạy ở ngôi trường cũ mình học, kết hôn với một cô giáo cùng trường và nuôi con cũng lớn lên trong ngôi nhà cũ, mái ngói đã rêu phong ấy. Ngôi nhà mà hai mươi năm về trước tôi đã đứng ở ngoài cổng gọi tên anh cùng đi học, hai mươi năm sau, trở về thành phố cũ, tìm thăm lại bạn ngày xưa, cũng đã gặp lại anh trong ngôi nhà ấy, có thể cũng được ngồi lại trên bộ “trường kỷ” ngày xửa ngày xưa ấy. Có khác chăng là chúng tôi đã lớn lên, trưởng thành mỗi người mỗi cách, và gần như định mệnh đã trói buộc anh, gần nửa cuộc đời, gắn bó với những gì, mà có lẽ đối với tôi, đã trở thành dĩ vãng. Trong câu chuyện, người bạn cũ của tôi đã thổ lộ ý nghĩ của anh, là được như tôi, không phải vì cái địa vị hay công việc tầm thường của tôi, mà chuyện được đi xa và sống xa cái thành phố này.

Đối với cư dân Huế, được sống ở Sài Gòn đã là một điều mơ ước. Đối với người Sài Gòn, những người vượt qua đại dương, đi đến những phương trời xa lạ, hẳn cuộc sống phải tốt đẹp, hạnh phúc hơn.

Trong cảnh đời thay đổi, nay sống, mai chết, cơn lốc của chiến tranh đã chia lìa, xô đẩy người ta đi xa, từ một ngọn nguồn, chia ra làm trăm hướng. Có những sự thay đổi khốc liệt đến ngỡ ngàng, đau xót, cảnh “thương hải, tang điền,” chuyện “sông kia rày đã nên đồng,”để một đêm trở mình xót xa thế sự, “giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò!”

Thế nhưng vẫn có những người ở một chỗ, đứng một nơi, vẫn có những cuộc đời bất di bất dịch như một cái nhà ga nhỏ, ở một quận lỵ xa xôi nào đó, chứng kiến biết bao những chuyến tàu đi qua, hối hả với những tiếng máy hào hển, nhả những tàng khói đen trở lại, trong khi nhà ga vẫn đứng đó nhìn theo, và vì nhà ga không có đôi mắt nên không cảm thấy hơi cay mà nhỏ lệ.

Câu chuyện này làm tôi liên tưởng người cô già, trong khi anh em, con cháu đã tản mác hay lưu lạc bốn phương trời, cô vẫn còn ở đó, dưới mái từ đường cũ nát, nơi cô đã sinh ra và lớn lên, chịu cảnh thiệt thòi góa bụa, để lo hương khói và mồ mả cho ông bà, cha mẹ. Không có cô, ai còn lo được chuyện này!

Tôi còn nhớ rõ người đàn bà ngồi bán vé sau “guichet” của rạp chiếu bóng thường trực Vĩnh Lợi trên đường Bonard ngày nào, sau ngày gần một triệu người bỏ miền Bắc di cư vào Nam. Tôi nhớ rõ khuôn mặt và hình ảnh của bà, trong những ngày bỏ học cùng bạn bè chui vào rạp giữa một ngày Sài Gòn nóng bức. Lúc nào cũng thấy bà mặc một bộ y phục màu đen, không hề nghe bà nói, cũng chẳng bao giờ thấy bà cười. Hơn mười năm sau, sau khi lập gia đình, sinh con đẻ cái, vào quân đội, đi nhiều nơi, một ngày trở về thành phố, ngang qua rạp Vĩnh Lợi ngày xưa, tôi vẫn thấy bà lặng lẽ ngồi đó, như tôi đã thấy bà nhiều năm về trước. Hình như mọi sự thay đổi, xáo trộn ở ngoài kia, bà không có can dự hay bà không cần biết tới.

Tôi nghĩ đến những cái cột đèn cùng những số phận của nó.

Ngày xưa ở cái thành phố nhỏ, nhà chật, trời nóng, nhiều muỗi, lũ trẻ vẫn thường đem sách ra ngồi dưới vùng ánh sáng của ngọn đèn đường để học bài. Rồi lũ trẻ lớn lên, đỗ đạt, ra đời, mỗi người đi mỗi hướng, già đi hay thay đổi cùng thời gian. Chúng đã trở lại cái xóm cũ ấy đã bao lần, nhưng vô tâm, thờ ơ, có bao giờ nhớ tới hay nghĩ tới cái cột đèn ngày xưa đã cho bọn trẻ một vùng ánh sáng của chữ nghĩa trong thời thơ ấu.

Bây giờ những chiếc cột đèn không còn mang nguồn ánh sáng vàng vọt nữa, mà tràn đầy một vùng ánh sáng của ngọn đèn huỳnh quang, nhưng vẫn chôn chân nơi ấy, như mỗi số phận đã được an bài cho mỗi người.

Cũng những cái cột đèn đó, trên mình đã mang bao nhiêu khẩu hiệu, qua thời gian và thời đại, được cột trên mình với bao nhiêu sợi thép cứng, da thịt là vôi vữa trên thân thể đôi khi đã vỡ nát, có nơi lòi cả bộ xương sắt thép đã hoen rỉ.

Có những cái cột đèn mà số kiếp đọa đày, bỗng dưng một ngày nọ chịu mang trên mình bao nhiêu chiếc loa nặng nề, để từ đó nhận bao nhiêu lời nguyền rủa. Có thể ngày xưa, những chiếc cột đèn đó đã mang lại ánh sáng cho những vùng tăm tối, nhưng ngày nay chúng mang lại tai họa cho mọi người trong thành phố, với những âm thanh cuồng nộ, chát chúa, như giọng sủa hỗn xược của những con chó muốn chồm đầu vào khung cửa nhà người khác.

Có những chiếc cột đèn mà số phận hẩm hiu sinh ra và nằm cạnh chiếc cửa sổ nhà ai, có thể ngày xưa đã có lần hãnh diện, dù đêm đã khuya, còn rọi ánh sáng vào căn phòng của cô tiểu thơ nhà nọ, nhưng hôm nay lại mang đại họa lại cho cả gia đình này, khi mà người ta không thể bỏ đi, chạy trốn số phận cay nghiệt của định mệnh, đành phải ở lại với tai ương suốt cuộc đời còn lại.

Những cái cột đèn đã bị chôn chân, bị trói tay, không đường vùng vẫy, cựa quậy.

Những cái cột đèn chờ một trận động đất, một cơn bão lửa, hay một trận cuồng phong.

Tôi thấy tôi thương cho những cái cột đèn!

Những cái cột đèn chôn mình suốt đời theo cùng số phận.
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »


Người Nhật ‘tốt’ hay không ‘tốt’ ?


Nguyễn Quốc Vương
Mối quan tâm lớn của người Việt là gắng sức thiết lập các mối quan hệ thân quen. Người Nhật thì khác. Xã hội của họ là một hệ thống được quy chuẩn và pháp chế hóa. Ai có chức phận của người đó…

Thông thường người nước ngoài hay phàn nàn người Nhật cứng nhắc và nguyên tắc, nhưng thực tế… vẫn có ngoại lệ.

Không đơn giản "tốt" hay "xấu"

Khi mới tiếp xúc với một nền văn hóa nào đó hoặc tiếp xúc lâu nhưng không thể thâm nhập sâu được vì rào cản ngôn ngữ người ta thường không tránh khỏi những nỗi kinh ngạc. Vợ tôi cũng thế.

Đến đâu, sau khi làm việc với người Nhật xong vợ tôi đều bảo "ông ấy tốt thế", "chị ấy tốt thật". Những người vợ tôi vừa "khen" và cảm động là các nhân viên làm việc ở tòa thị chính, ngân hàng, các bác sĩ, y tá làm ở bệnh viện…

Tôi bảo vợ : "Chẳng phải thế đâu. Biết thế nào là tốt. Họ chỉ làm công việc của họ thôi". Nghe thế, vợ tôi có vẻ không bằng lòng, cau mặt lườm : "Cứ nói như anh ấy…".

Kỳ thực đúng là như thế. Nếu bạn sống hợp pháp ở Nhật, thì kể cả bạn không hề biết một từ tiếng Nhật và là người nước ngoài, trong hầu hết các trường hợp bạn sẽ vẫn nhận được sự ân cần, chu đáo và lịch sự ở các cơ quan công quyền lẫn nhưng nơi cung cấp dịch vụ.

Lý do đơn giản nằm ở chỗ cả pháp luật và quan niệm đạo đức thông thường, phổ biến trong xã hội Nhật đều coi các nhân viên công quyền là người làm thuê nhận tiền công (lương) từ tiền thuế của dân. Cảm quan của người Nhật về tiền thuế rất rõ ràng và mạnh mẽ. Những sự lãng phí hay các vụ biển thủ tiền công làm cho họ tức giận nghiêm trọng.

Các cơ quan công quyền và nhân viên của họ cũng ý thức rất rõ người dân là "ông chủ" hoặc chí ít là "khách hàng". Trong xưng hô họ gọi người dân đến làm việc là "quý khách".

Image
Không thể nhận xét người Nhật "tốt" hay "xấu" một cách đơn giản.
Đối với những nơi khác như công ty, khách sạn, nhà hàng… họ coi những người đến với họ là khách hàng. Họ cung cấp dịch vụ làm khách hàng vừa lòng và thu phí dịch vụ tương ứng. Trong tư duy và cách làm việc đó, hành xử của nhân viên là dựa trên luật pháp và các nguyên tắc giao tiếp đã được "chuẩn hóa".

Điều này khá thú vị. Nếu bạn quan sát kĩ sẽ thấy ở Nhật, các nhân viên của cùng một hệ thống sẽ có những lời nói và hành động trước khách hàng y hệt nhau, dù họ làm việc ở Kyushu hay hòn đảo Hokkaido ở cực bắc.

Hành xử của nhân viên trong khi làm việc luôn được giám sát nghiêm ngặt bởi cấp trên và camera nội bộ. Mọi hành vi vô lễ với khách hàng, người dân hoặc sai với "quy chuẩn" đều bị xử lý thích đáng.

Và như thế, có thể thấy, câu nhận xét của vợ tôi về họ là một sự sai lầm. Không thể đánh giá họ là "tốt" hay "xấu" một cách đơn giản. Họ trên hết chỉ là những người lao động chăm chỉ và tuân thủ nghiêm túc theo quy chuẩn. Họ tươi cười đấy nhưng khó biết họ thật sự nghĩ gì. Họ khó chịu với khách hàng đấy nhưng không họ không bao giờ đuổi khách hay buông lời khiếm nhã.

Vì thế dễ hiểu khi bạn thấy trong chốn công sở hay cửa hàng họ vừa quỳ xuống nói chuyện với bạn rất ân cần với nụ cười tươi nhưng khi bước ra ngoài đường họ hoàn toàn xa lạ với bạn dù vừa mới giáp mặt và tư vấn cho bạn trước đó chưa đầy… 2 phút.

Người Việt : "gia đình" là trung tâm ?

Tham chiếu với người Việt chúng ta thì sao ? Tôi nghĩ lời nhận xét của vợ tôi về chuyện ai đó tốt hay không trong trường hợp này là hợp lý. Người Việt trong vô thức coi cả xã hội là một gia đình và dùng quan hệ gia đình để quy chiếu mọi quan hệ xã hội.

Tư duy này thể hiện rất rõ trong sự xưng hô của người Việt. Người già thì gọi là "bác", là "ông", "bà", "cụ". Người trẻ hơn thì gọi là chú, là anh. Ít tuổi hơn thì là em, là cháu. Cách gọi những người hoàn toàn xa lạ là bố (mẹ) và xưng "con" dù không có quan hệ thuyết thống tương đối phổ biến.

Phải chăng việc coi trọng hệ giá trị đó khiến người Việt hành xử dựa trên sự phán đoán của tình cảm cá nhân (hay như nhiều người nói người Việt duy tình). Điều này chi phối từ những nhân viên công vụ ở chốn tôn nghiêm hay ở nhà hàng, cửa hiệu, chúng ta có xu hướng "ưu tiên" hơn với những người có quan hệ thân thiết, quen biết, những người được coi là "anh em".

Vẫn có ngoại lệ.

Đọc đến đây, rất có thể sẽ có bạn kêu lên : "Anh viết sai. Không phải thế". Có thể. Vì trải nghiệm của bạn khác tôi. Hơn nữa cũng có ngoại lệ.

Thế nước Nhật có ngoại lệ không ?

Thông thường người nước ngoài hay phàn nàn người Nhật cứng nhắc và nguyên tắc, nhưng thực tế… vẫn có ngoại lệ. Xin kể hai ngoại lệ khá thú vị liên quan đến trải nghiệm của tôi.

Câu chuyện thứ nhất liên quan đến chuyện ở trọ của tôi. Khi đến Nhật lần thứ nhất và học xong chương trình thực tập sinh, tôi muốn thi vào cao học nhưng ông thầy hướng dẫn không đồng ý. Ý ông là tôi phải học thêm một năm tiếng Nhật nữa. Không có cách nào khác, tôi trở thành du học sinh tư phí tự chi trả học phí và đi làm kiếm sống để học.

Rắc rối là chi phí ở bên ngoài khá đắt trong khi theo quy định tôi sẽ phải dọn ra khỏi ký túc xá khi trở thành sinh viên tư phí. Có lẽ đọc hồ sơ và biết câu chuyện của tôi, ông trưởng phòng hành chính gọi tôi vào phòng bảo : "Lẽ ra anh phải chuyển ra ngoài nhưng tôi đã bảo lãnh để anh có thể ở lại một năm". Thật là ngoài sức tưởng tượng.

Cũng chính ông sau này là người đã tự bỏ tiền túi tạm đóng học phí cho một du học sinh Việt Nam khác khi thời hạn đóng tiền đã sắp hết mà cậu ta chưa có đủ tiền. Hành động này của ông vượt ra khỏi cả "nghĩa vụ" của ông trong công việc. Với tôi, ông thật sự là "một người tốt".

Câu chuyện thứ hai là ở bệnh viện. Vợ tôi mang bầu và sinh con ở Nhật. Đến tuần cận ngày dự sinh bà bác sĩ làm tình nguyện viên ở đó thì thầm với tôi : "Nên chuyển sang khám vào ngày thứ 3 vì bác sĩ X đó tôi thân thiết và có kinh nghiệm hơn". Cái này cũng vượt ra ngoài "quy chuẩn" thông thường. Có lẽ bà cụ coi chúng tôi như con và động lòng thương cảm vì hai vợ chồng tôi không có bà sang trợ giúp.

Khi gặp ông bác sĩ mới tôi hiểu thêm lý do tại sao bà bác sĩ tốt bụng gợi ý. Bác sĩ này đã từng làm việc 3 tháng ở bệnh viện Từ Dũ của Việt Nam. Cả ông và vợ đều là học trò "cưng" của bà bác sĩ tình nguyện. Hơn hai tuần sau khi ra viện, bà bác sĩ mặc Kimono, tự lái xe đến tận nơi tôi ở chơi và cho con tôi rất nhiều đồ chơi. Đấy cũng là một ngoại lệ.

***

Bởi tư duy khác biệt, nên trong đời sống và công việc, người Việt thường chỉ cảm thấy thoải mái và dễ dàng trong "mạng lưới" do chính mình tạo ra thông qua các mối quan hệ thân thuộc và quen biết. Mạng lưới ấy dựa trên tình cảm cá nhân và các lợi ích riêng tư. Rời ra khỏi mạng lưới ấy, người Việt sẽ như con cá ra khỏi nước. Có lẽ vì thế mà trong cuộc đời mình, một mối quan tâm lớn của người Việt là gắng sức thiết lập các mối quan hệ thân quen.

Người Nhật thì khác. Xã hội của họ là một hệ thống được quy chuẩn và pháp chế hóa. Ai có chức phận của người đó. Để bước chân vào "người thân" trong mạng lưới mang tính cá nhân của họ không phải là điều dễ. Đặc tính này cũng gây nên nhiều hệ lụy. Một trong những hệ lụy đó là nỗi cô đơn...


Nguyễn Quốc Vương
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


" Mười Ngày Ở Việt-Nam "


Trương Minh Tịnh

Ba tôi sống 96 tuổi. Ba không “healthy” bằng mẹ .Vì vậy,tôi đinh ninh mẹ tôi thế nào cũng sống tới đó hoặc hơn….

Những năm về sau nầy,trong công cuộc vận động Dân Chủ cho Việt-Nam,thông qua Quỹ Tù Nhân Lương Tâm (chuyên thăm nuôi tù nhân và vợ con- những chiến sĩ Tự Do bị chính quyền CS bắt bỏ tù-khoảng hai trăm rưỡi anh chị em ở trong nước từ Bắc chí Nam)…..tôi đều lấy tên thật Trương Minh Tịnh…..công khai,vì :

1/- Tôi nghĩ mẹ tôi ít nhất cũng sống 5 năm nữa.Lúc đó VN chắc chắn đã có một chế độ Dân Chủ (như Singapore,Mã-Lai,Miến Điện.....).


2/-Tôi thấy tôi làm điều đúng.Hợp ý Chúa. Khi góp sức đòi hỏi một chế độ Dân Chủ cho VN.

3/-Những phụ nữ VN, đủ mọi lứa tuổi, chân yếu tay mềm, như Phạm Thanh Nghiên, Đỗ Thị Minh Hạnh,Bùi Thị Minh Hằng,Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,Lê Thị Công Nhân,Huỳnh Thục Vi, Đoan Trang,Lê Thị Phương Anh,Nguyễn Thị Huần,Trần Khải Thanh Thủy,Tạ Phong Tần,Nguyễn Thị Phương Uyên ,Mẹ Phương-Uyên,Đỗ Hoàng Vi,Cụ bà Lê Hiền Đức,bà Kim Liên,Hồ Thị Bích Khương v.v…….và hằng ngàn người con gái khác (cùng gia đình họ).Sống trên đất VN. Đầu tên mũi đạn.Mà can trường tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ.Trong khi tôi là con trai,lại có quốc tịch Úc mà nhát thì “yếu” quá !
Từ hồi còn con nít chơi trong xóm,tôi không thi thố nỗi với con trai vì tôi nhỏ con.Nhưng “vật lộn” với con gái thì tôi tự ái.Không bao giờ chịu thua….Và cũng để tìm cãm giác dễ chịu khác….. hahaha !!!!!!
………………
Đùng cái,mẹ tôi chết.92 tuổi…Thế mới biết khỏe chưa chắc sống lâu.Tôi hỏi vài anh em thân cận trong Quỹ Tù Nhân Lương Tâm. Về không ?- Một nửa nói “Yes” một nửa nói “No”…Tôi hỏi chị Dương Hà (vợ anh Cù Huy Hà Vũ),chị nói “anh về chịu tang mẹ đi.Số phone em đây……”.
Tôi suy nghĩ theo lối của một anh em trong Quỹ Tù Nhân Lương Tâm (trước đây đã về) : Nếu chết,tuổi nầy cũng OK rồi.Nếu bị tù thì có dịp chia sẻ với Việt-Khang (tác giả bài hát “Việt-Nam Tôi Đâu”).Nếu bị sách nhiễu thì thông phần với anh chị em trong nước….

Nghĩ là làm. Tôi về…..

Và có sao ghi vậy, sau đây.

Ngày đầu tiên,ngồi trên máy bay nhìn xuống. Việt-Nam đẹp….Đã có dịp đi ngoại quốc kha khá…… Ít có nước nào mà sông nước đất đai đan nhau màu mỡ, tiềm lực kinh tế thuận lợi, như VN.

Máy bay hạ cánh.Chuẩn bị kỹ lưỡng để đối đáp với mọi tình huống…..Lại không gặp bất cứ “sự cố” nào. Đi qua Hãi Quan và ra ngoài về nhà tuốt luốt.

Từ Saigon về Long Khánh,khác với những năm về trước (công an giao thông đầy đường), bây giờ chỉ còn thấy một tốp duy nhất ở chốt Quán Tre (Dầu Giây). Ông tài xế cho tôi biết thêm về vụ phó trạm bắn chết trưỡng trạm và vài CA khác bị thương (ở trạm nầy mấy tháng trước đây) là vì ăn chia không đều,chứ không phải vì hát Karaoke như báo chí loan tin.Chủ yếu là vì “bức xúc” chuyện tiền bạc !

Có người trên xe nói “CA bây giờ rét dân rồi.Cá ăn kiến và kiến đang ăn cá.Lúc nào cũng tốp 4 người trở lên.Không dám đi riêng hoặc tốp 2 vì sợ dân (nhất là dân miền Bắc) đánh”.

Về gặp Mẹ.Nước mắt tôi dàn dụa……
Suốt đêm đó không ngủ. Ở bên mẹ .Vì tôi biết chĩ còn mươi tiếng đồng hồ nữa là tôi sẽ không còn thấy mặt mẹ tôi.
Nói chuyện với bà con (ngoài Huế vô,và bà con trong nầy). Người lớn thì chán nãn vì vật giá leo thang mà tiền kiếm không ra.Lại bệnh hoạn tràn lan.Không ai còn dám đi nhà thương.Bệnh là chịu chết.Giới trẻ thì Đại Học cho chán rồi về …lang thang vì không cách gì kiếm được việc làm ở thành phố…..Bế tắc ! Một vài vị lớn tuổi nhắc chuyện Huế Mậu Thân …..

Sau vài ngày lo việc cho mẹ xong thì tôi về Saigon. Ở khách-sạn.

Phòng tập thể dục tối.Tôi nhìn qua khách-sạn bên kia. Một cô gái trẻ, khi dọn phòng, bưng nửa chai sửa còn dư của khách uống say sưa và bỏ vỏ chai nhựa vào bao (đưa về nhà bán ve chai ? )… Ở tầng dưới,một cô chef-cook khác,trẻ đẹp,nhưng thao tác nấu thì chậm lắm.Chỉ bằng 1/3 năng suất một cô chef-cook bên Úc.

Tôi làm quen với mấy cô làm trong khách-sạn tôi ở,la-cà nói chuyện khi họ tụm 2 tụm ba ăn cơm trưa (ngồi trên sàn dọc hành lang khách-sạn,không có ghế).Tôi liếc thấy cà-mên cơm của họ chỉ có muối dưa,tí cá…..Họ không nói gì nhưng tôi biết họ cực kỳ bất mãn vì “người ăn không hết,người lần không ra”….. nhan nhãn trước mắt họ mỗi ngày.

Ngày đầu tiên ở Saigon,tôi họp mặt Đại Học Sư Phạm ( ra trường năm 1976, lớp đầu tiên sau 30/4/1975). Ôi ! Thì như pháo nỗ.Dành nhau nói vì sợ không còn có dịp để nói.Vì 38 năm mới gặp lại.Tối đó nói không hết,trưa hôm sau còn thêm một buổi ở nhà (một đứa) nữa. Tại đây mới đề cập nhiều đến “hiện tình đất nước”.Tất cả đều đồng ý là chế độ tham nhũng,xấu xa,tệ quá…..Mỗi đứa đưa ra một bằng chứng. Có đứa kể con của nó lên Facebook “chưỡi” chế độ bị CA tới nhà “mắng vốn”. Vẫn không sợ…… Một cựu Sư-Phạm (gái) nói “người đứng đầu ngành CA như Phạm Quý Ngọ mà trong vòng vài ngày đã nhận hối lộ 1 triệu rưỡi đô-la thì hỏi còn gì để nói nữa chứ!”

Ngày kế, tôi họp mặt các đồng nghiệp Cựu Thầy Cô của Trường Công Nhân Kỹ Thuật Dầu Khí Bà-Rịa. Nhóm nầy ít, nhưng tình cãm dạt dào .Vì những năm 77,78,79 là những năm “ đói thê thãm” và các cựu Thầy Cô nầy phần đông là con “Ngụy”….. giữa một trường toàn Cách Mạng……34 năm mới tìm được nhau. Nhắc lại chuyện xưa ai cũng rùng mình !.

Vì có sự chòng chéo sui-gia của bạn tôi,tôi được mời đi chơi (2 ngày) với một gia-đình (65 tuổi đảng),con cái cấp Thứ Trưởng,Cục Trưởng ..…Vì vậy, trên xe một nửa là Cách mạng một nửa không.Xe vừa mới chạy một đoạn, đi ngang một Trụ Sở Công An Tỉnh, có câu khẩu hiệu to đùng “ Kỹ Cương - Hiệu Quả - Kín Đáo”. Một người nói oang oang trong xe “Kỹ Cương là lớn được ăn lớn,nhỏ phải chịu ăn nhỏ,không được lộn xộn”.. Hiệu quả là “phải kiếm nhiều nhiều tí”. Kín Đáo là “đừng để ai thấy”. Cả xe cười vang. Kể cả mấy ông Cách Mạng. Một người khác nói “anh Ba cứ vào đảng đi.Nếu lật lại em bảo lãnh cho”. Và suốt thời gian 10 ngày ở VN,tôi thấy ai ai, đâu đâu, cũng nói đến chuyện “ lật lại”. Không hiểu sao! Họ như chờ đợi một cái gì đó xảy ra bất cứ lúc nào ! Một phó phòng Cảnh Sát (hàng xóm) nói với cháu tôi “nếu thay đổi,có gì bà giúp tôi nghe…….”.

Ngày kế,tôi họp mặt các cựu bạn của tôi trong Dòng tu năm nào. Rất đông anh em tới.Thượng vàng hạ cám có đủ.Linh Mục (cha),Thầy,Giáo Sư,Chạy xe ôm,Làm công bán hàng ngoài chợ,Giám Đốc,Phóng viên ……Ngoài liên hệ học hành,còn có chung lý-tưởng tôn giáo,nên nhóm nầy đoàn kết thương yêu nhau ghê gớm. Coi nhau như anh em ruột vì “ngày xưa còn bé” cùng ăn,cùng ngủ,cùng đọc kinh,cùng đá banh……

Sau đó tôi thăm bạn (đại gia) ung thư trong bệnh viện Ung Bướu Nguyễn Văn Học Gia-Định.Kinh hoàng bệnh viện VN……
Rồi đi thăm nói chuyện với một đàn anh Kiến Trúc Sư……Hỏi về VN,chú (tôi gọi chú),say sưa giảng “CS không thể tồn tại vì đi ngược lại với quy luật tự nhiên của con người ……..“.

Ngày cuối cùng,tôi thăm một người bà con, ở Mỹ ,nhưng về VN làm ăn đã lâu.Vì có tiền nên có rất nhiều “connection” với chính quyền cấp cao…….Anh ta nói “Tình hình VN biến chuyển từng ngày,nếu không muốn nói là từng giờ.Bất cứ cái gì cũng có thể xảy ra “over-night”. Và xảy ra trong nội bộ của họ chứ chẵng đâu xa. Có cả khả năng quân đội Trung Quốc tràn vào VN…... Anh đã chuẩn bị sẵn. Động là chuồn liền.Mấy ông to cũng vậy….Họ sẵn sàng hết”.

Được hỏi tại sao “em về VN mà không có bất cứ một rắc rối nào “ ? Anh ta nói: Dù muốn dù không thì họ cũng đã phải chịu chấp nhận “ý kiến khác biệt” ,ngay ở họ với nhau cũng thế.Nên chuyện phát biểu trên Internet v.v…Hội nầy hội nọ v.v…....ngày nay không còn là vấn đề nữa.Quan điểm chú thế nào cũng được.Chú về đây mà đi gặp ông Nguyễn Đan Quế cũng chẵng sao.Nhưng 5 người trở lên là không được.Họ can thiệp.Chế độ đang ở thế bị động.Họ sợ số đông.Một phần lớn là nhờ các đảng viên kỳ cựu của họ ly-khai.Báo chí gần đây nói rất thẵng……Ngày xưa CA khắp nơi và ngang tàng lắm nhưng bây giờ đã “co cụm” lại. VN đã chia làm 2 phe rõ rệt,phe chính quyền “phè phỡn” và phe công nhân,nông dân,thư ký văn phòng,thợ….”vất vả”. Đó là nhờ công sức của các chiến sĩ Dân Chủ,dân oan, dám đương đầu, hy-sinh,dồn họ vào thế thụ động.Sở dĩ họ cứ phải lui từ từ là vì họ thấy họ “bậy”. Cái gì cũng vậy,khi nào mình đúng thì mình dễ hăng hái,trong khi người sai thì dễ “xìu”. CA bâygiờ “rét” là vì dân không còn sợ như xưa.Chú coi trong Youtube sẽ thấy.Thử hỏi “chung chi” mà cả va-li đô-la thì họ đâu còn ra gì để nói ai…..”.

Tôi cho rằng ý-kiến nầy chính xác.Tôi xin ghi lại trung thực như một lời cám ơn các bạn đã quan tâm khi tôi về VN.

Một Linh-Mục (lớp đàn anh của Tịnh,biết Tịnh nhiều,từ Âu-Châu,đã viết như sau,lúc Tịnh đang ở VN).

Em TMT ơi!
Mấy bữa ni anh ăn ngủ không yên, vì đã nghe chương trình nói chuyện của ông Đính Hùng, người về thăm mẹ đang ốm nặng bị bắt phải trở lại điểm khởi hành... Sáng nay đọc Mail của em cho biết đã về bằng yên và dự đám táng mẹ... Mừng quá! Tạ ơn Chúa! Deo gracias!
Người ta đối xử với em như rứa là một nước cờ cao đó. Chắc những ngày em sống trên đất nầy bóng sẽ luôn theo hình... Anh cầu nguyện cho em được bằng yên và nhất là ngày ra khỏi không gặp nạn. Xin Thiên thần hộ thủ gìn giữ em trong mọi nẻo đường được bằng yên.
Một lần nữa anh chia buồn với em và gia đình vì mới mất mẹ và chia vui vì em đã được đưa mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng với những người thân yêu.
Thân mến chào em.

Đàn anh lo cho đàn em là đúng.Cám ơn “đàn anh”. Nhưng chuyện đó là xưa rồi.Thật ra họ bây giờ (vì thấy chính họ bậy quá) nên không còn hoạnh họe như vậy đâu.Nhân dân đang ở thế tiến công và chính quyền đang phải co cụm chống đỡ từng ngày.Nội bộ họ thì chia rẽ.Chung quy cũng chỉ vì tranh nhau đô-la.

Giờ phút cuối cùng ở Saigon,tôi thăm một bà cụ 95 tuổi,ngày xưa ở ngoài Bắc bị đánh địa chủ chết lên chết xuống,bây giờ (vì có lý do o bế) họ “đã đền bù….đã phục hồi danh dự”. Bà Cụ chỉ nói: “……Hồ Chí Minh!..... Ôi ! ….Họ ác lắm con ạ !

Trương Minh Tịnh
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Mười Điểm Yếu Của Trung Cộng
Huệ Lộc
***

1. Trung Cộng chiếm đảo nhiều nhất, có nguy hại lớn cho khối ASEAN trong đó bao gồm Burma, Cambodia, Brunei, Indonesia, Philippines, Laos, Việt Nam, Singapore, Thailand, và Malaysia; hơn nữa Trung cộng có thái độ rất kiêu ngạo và ảnh hưởng xấu nhất. Trung Cộng rất lo sợ những hải đảo kia bị thu hồi lại bởi những quốc gia trên, đồng thời còn bị thu hẹp quyền lực trên biển Đông như lúc nguyên thuỷ, và phải đối phó với những vấn đề khó khăn trong nước mà nhiều năm qua không thể giải quyết được:

a. Làm cho tài nguyên hải sản bị giới hạn đối với chế độ nhân khẩu nuôi miệng ăn cho số lượng dân số khổng lồ trên tỉ người.

b. Chính vì công nghệ hoá xã hội quá nhanh trong thời gian gần đây nên khối lượng hoá chất bị đào thải từ các nhà máy và hầm mỏ được chôn vùi trong lòng đất địa phương. Vì thế hơn chín mươi phần trăm ruộng đồng tại Trung cộng không thể trồng trọt được vì nạn ô nhiễm môi trường nầy.

c. Số lượng tiêu thụ ngũ cốc hoa quả hằng ngày phải nhập hơn sáu mươi phần trăm từ các nước láng giềng như Thái Lan, Việt Nam, Cambodia, Singapore, Mã Lai...

d. Ngành chăn nuôi súc vật trong nước không cung cấp đủ phẩm lượng cho giới tiêu dùng, nên dùng hải sản để trợ cấp và thay thế cho thịt trâu bò heo gà... Dần dần hải sản trở nên nguồn cung cấp thực phẩm chính để nuôi dân và xuất cảng.

Vì những lý do cấp bách phải giải quyết cho nạn nhân mãn, Trung Cộng muốn tấn công Việt Nam để răn đe các nước khác buộc các quốc gia khác phải tự mình rút lui, cuối cùng Trung Cộng độc quyền khai thác tài nguyên Biển Đông và đồng thời kiểm soát toàn bộ không phận vùng Đông Nam Á. Câu hỏi được đặt ra là liệu Trung Cộng có chiến thắng trong chiến tranh Việt Trung hay không? Nếu có chiến thắng thì giữ nước Việt Nam được bao lâu? Trong Tam Quốc Chí còn ghi lại câu chuyện Thất Cầm Mạnh Hoạch, nghĩa là ông Khổng Minh khi đánh một nước nhỏ trên biên giới Tàu, bảy lần bắt được vua Mạnh Hoạch của nước nầy đều tha hết bảy lần vì biết rằng không thể cai trị nước của họ được, mà chỉ mong họ sống hoà bình thuận thảo là được rồi. Trung Cộng đánh Việt Nam để làm gì, đánh không xong lại bị sa lầy thì tốn kém vô cùng. Nên biết số tiền mà Trung Cộng chi ra cho những sự điều hợp bộ binh, hải quân, không quân ở biển Đông và dọc theo biên giới Việt Trung tốn kém hơn 10 triệu tiền US mỗi ngày. Số tiền nuôi quân nầy vốn không có phân định trước trong kế hoạch quốc gia nay bất thần chi dụng thì sự tốn kém sẽ làm ngân sách cạn kiệt rất nhanh chóng. Hơn nữa khi đánh nước Việt Nam, Trung cộng không có một lý do nào chính đáng, ngoài chuyện la hét lên rằng Việt cộng là những tên "phản bội". Nếu Việt cộng là những tên phản bội, thì đừng qua lại giao dịch với những tên"phản bội đó" gồm có ba triệu đảng viên, tại sao lại mang quân đi đánh cả nước 83 triệu ngưòi dân Việt Nam? Nếu 83 triệu chử ký của người dân Việt Nam phản đối Trung cộng và được gởi tới Liên Hiệp Quốc qua nhiều ngã khác nhau thì Trung cộng sẽ trả lời như thế nào? Trung cộng quả thật không có danh chánh ngôn thuận để xua quân vào Việt Nam. Lại cũng không có một lý do hay một cơ sở lý luận nào mang quân đánh Việt Nam. Vậy hành động Trung cộng xâm lăng Việt Nam là một hành động khủng bố quốc tế, không thua gì bọn ISIS hiện nay.

2. Xưa nay Việt Nam đã không bao giờ thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung quốc. Những bản đồ quân sự, tài liệu địa lý trên thế giới đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi miền Nam Việt Nam bị cưỡng chiếm năm 1975 thì Trung cộng có những thái độ bất thường tự vẽ ra những bản đồ mới dành khoảng chín mươi phần trăm biển đảo về mình, tuy nhiên điều nầy không được một quốc gia nào trên thế giới công nhận. Vì không được quốc tế công nhận, nên Trung cộng mới ra oai dọa nạt uy hiếp các nước Nhật, Philippines, Mã Lai, Singapore, Việt nam... Như thế, vì lý do bản đồ của mình tự vẽ ra không được quốc tế công nhận mà khủng bố nước khác, là điều không chánh đáng, ngược lại chủ trương bảo vệ hoà bình của Liên Hiệp Quốc, nhất là chủ trương của Hoa Kỳ.

3. Việt Nam không có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á vì tướng tá Việt Nam không còn thống nhất hay đoàn kết với nhau qua sự suy sụp nhanh chóng của chủ nghĩa cộng sản. Nạn tham nhũng, bè nhóm, tranh quyền, và thanh trừng trong quân đội và nội bộ đảng làm suy yếu khả năng quân lực cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên dưới áp lực của Trung cộng, đảng cộng sản Việt Nam đành phải cầu cứu kêu gọi các cường quốc bảo vệ, nên Việt Nam được viện trợ tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với Trung cộng. Quân đội của Trung cộng tuy có thể phát động cuộc chiến Nam sa một cách rầm rộ như biểu dương lực lượng bộ, không và hải quân, nhưng muốn chiến thắng Việt Nam thì không phải dễ dàng. Tại sao? Vì nếu biết trước thắng Việt Nam dễ dàng, thì Trung cộng không cần dùng quân đội đánh thuê như Cambodia quậy phá quận Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang hiện nay. Chính vì lo sợ sa lầy trong trận chiến Việt Trung, nên Trung Cộng cứ cố tình sang Việt Nam để thuyết khách khiến cho Việt Nam đầu hàng dâng thêm biển đảo và đất liền thì chúng rút về. Còn nếu như Việt Nam cứ khăng khăng chờ Trung Cộng đánh trước thì Trung Cộng không bao giờ dám. Tại sao? Vì khi chiến tranh hai nước xảy ra, Trung cộng sẽ đối đầu với nhiều thế lực trong nước cũng như ngoài nước.

4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ không nhẹ nhàng. Tại sao? Vì tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam đã chạy qua cầu cứu Toà Nhà Trắng rồi. Trái lại, nếu Trung cộng tấn công vào nước khác như Philippines thì lại càng không được vì Philippines đã có có hồ sơ tố cáo Trung cộng lên Hiệp Hiệp Quốc. Nếu đánh Philiippines là phải trả lời các câu hỏi của Liên Hiệp Quốc. Thế thì không dám đánh Phillippines là chuyện chắc chắn. Bây giờ Trung cộng sau khi đưa quân rầm rộ đến biên giới Hoa Việt thì lại gặp chứng bịnh "nhai miếng gân gà" khó nuốt.

5. Việt Nam càng lúc càng bắt tay liên minh với khối ASEAN nhất là Nhật và Philippines. Nếu Việt Nam mất về tay Trung Cộng thì các nước nầy cũng bị ảnh hưởng theo như một hậu quả không thể tránh được, vì thế Trung Cộng tấn công Việt Nam sẽ đụng độ tới khối ASEAN và Nhật. Dĩ nhiên là Trung Cộng không bao giờ muốn một lúc mà phải đánh nhiều nước như thế.

6. Tình hình quốc tế gần đây không có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Mỹ Việt trong thời kỳ quan trọng, chỉ cần Việt Nam cam kết thực hiện nhân quyền cho dân Việt và huỷ bỏ điều 4 Hiến Pháp thì quân đội Mỹ sẽ bảo vệ Việt Nam tới cùng. Trung cộng dĩ nhiên là không bao giờ dám liếc mắt nhìn vào bản đồ nước Việt nữa. Vậy người cộng sản Việt Nam muốn mất nước hay muốn mất điều Bốn Hiến Pháp? Mất nước là mất hết tất cả. Mất điều Bốn Hiến Pháp là chỉ mất sự bất công cho dân tộc Việt Nam.

7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược của Việt Nam không thể để vào tay cộng sản Trung Quốc. Giữ được Nam Sa là giữ được điểm trọng yếu Biển Đông. Từ đây có thể kiểm soát tàu bè trong hải phận, bảo đảm ngư dân có thể yên tâm đánh cá và sản xuất hải sản làm giàu cho xứ sở, đồng thời còn kiểm soát yểm trợ những tài nguyên dầu khí của quốc gia. "Nam quốc sơn hà Nam Đế cư"

8. Lão Tử, một nhà hiền triết có tư tưởng cách mạng nổi tiếng, trong Đạo Đức Kinh nói: "Càng muốn vây bắt thì càng làm địch trốn sâu; càng tìm cách tấn công thì càng làm địch thủ mạnh hơn". Vậy người Việt Nam nếu không tránh được thì đánh, giặc càng tìm cách tấn công, ta càng tìm cách thủ mạnh. Đánh mãi không được, hết tiền của, giặc cũng đành phải rút về. Khi địch rút về, thì đánh đường tuyệt hậu, tức địch đầu đuôi không tiếp ứng được tất phải rã tan hàng ngũ bỏ chạy vắt giò về Tàu.

9. Dĩ nhiên đánh Tàu không sợ Đài Loan tiếp ứng, vì dân Đài Loan cũng như Hồng Kông đều kinh sợ chủ nghĩa cộng sản. Hơn nữa Đài Loan theo chủ nghĩa Tự Do và nhờ Hoa Kỳ yểm trợ quân sự cũng như vũ khí hàng năm. Do đó Đài Loan không bao giờ chính thức yểm trợ quân sự cho Trung Cộng để tấn công Việt Nam. Nói thế có nghĩa là Trung cộng cô đơn trong chiến tranh Việt Nam. Tuy nói là đánh với Việt Nam, chớ thật ra Trung cộng phải đối đầu với thế giới nhất là G7.

10. Thế giới ngày nay Trung cộng thường hay khủng bố các nước láng giềng. Tự vẽ ra bản đồ phân chia hải phận biển Đông, tự chiếm hết 90% thuỷ diện tích, ngang ngược chiếm các đảo rồi xây dựng thêm đảo nhân tạo mà không tôn trọng hiệp ước quốc tế. Nay ỷ mạnh mang quân đội tấn công uy hiếp Việt Nam không một lý do chánh đáng thì rõ là một hành động bất chấp công ước quốc tế. "Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong" thiên định đây chính là công đạo; công đạo trường hợp nầy chính là toà án quốc tế. Trong toà án quốc tế, nếu Việt Nam đệ đơn kiện Trung cộng xâm lăng lãnh thổ, lãnh hải thì Trung Cộng thua là cái chắc. Một khi toà án quốc tế mở hồ sơ cho sự kiện tụng thì Trung cộng sẽ không dám làm gì nước Việt Nam cho đến khi hồ sơ kiện được đóng lại. Vậy lý do Trung cộng hoạch định tấn công Việt Nam lần nầy là gì? Có phải chăng chỉ vì đàn em Phùng Quang Thanh bị loại bỏ, nên Trung cộng nổi giận ra quân đánh Việt Nam hay chỉ vì muốn thanh toán hai ông chủ tịch đảng và thủ tướng rồi sau đó cho bầu bán chọn người lại xong rút về. Nhưng đâu có dễ dàng thế, ông chủ tịch đảng nhà ta cũng đã nhanh chân chạy sang cầu cứu Nhà Trắng còn ông Thủ tướng thì xin thêm quyền điều động quân sự rồi. Trong 13 chương Binh Thư Yếu Lược, Tôn Võ Tử có nói : "Đánh địch vì giận hoặc không có lợi, thì không nên đánh." Lần nầy Trung Cộng phạm hết cả hai điều huý kỵ trong binh pháp thì chắc chắc là lãnh phần thất bại.

Trong lịch sử Việt Nam, những trang kiêu hùng làm quân Tàu vỡ mặt là lúc Trần Hưng Đạo và Trần Quốc Toản tiêu diệt quân Nguyên; Vua Quang Trung đại phá quân Thanh; Nguyễn Trãi với bài Bình Ngô Đại Cáo; Lý Thường Kiệt phá Tống với bài thơ:

Nam quốc sơn hà Nam Đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Ngô Linh Ngọc dịch:

Đất nước Đại Nam, Nam Đế ngự,
Sách trời định phận rõ non sông.
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm,
Bay hãy chờ coi chuốc bại vong!

Huệ Lộc
7/17/2015
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Những đoạn kết... buồn hiu!

Huy Phương

Cô đào thương biết lúc phải giã từ sân khấu lúc mình về già, khi nhan sắc đã tàn phai, giọng hát đã rã rời, đứt đoạn.
Dù sự ra đi ấy có đem lại những thiệt thòi, đau xót, người trong cuộc cũng phải đành chấp nhận.
Chính người hâm mộ cũng không bao giờ muốn thấy thần tượng của mình lúc xế chiều, mà họ muốn giữ lại cái hình ảnh đẹp đẽ của những ngày xưa.

Image
“Đoạn kết của những Ông Bình Vôi.” (Hình minh họa.
Tư liệu của Huy Phương)

“Limelight” là cuốn phim nổi tiếng nhất của Charlie Chaplin, một phim rất cảm động về tình đời. Trong phim, Charlie Chaplin đóng vai một ca sĩ hài hước về... chiều, thất bại vì tài năng đã đến lúc tàn tạ, “Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn, chìm trong bóng đêm, người ta lãng quên bẽ bàng...”

Chúng ta thương xót cho cuộc đời nghệ sĩ lúc về chiều, không còn ai hâm mộ, chết trong lãng quên, nhưng chúng ta cũng không muốn người nghệ sĩ kéo dài năm tháng trên sân khấu khi nhan sắc đã về chiều, tẻ nhạt và buồn phiền.

Người ta thường tự kết liễu thanh danh của mình bằng những đoạn kết... buồn.

Trong những con người đó chúng ta có thể kể đến Phạm Duy, một tên tuổi hay nói ví von hơn, là một “ cây cổ thụ” trong làng âm nhạc Việt Nam, đã có một đoạn kết dở, khi ông đã tự phủ nhận tất cả chính kiến của mình để xoay chiều 180 độ. Những người đó, cũng là Trịnh Công Sơn, người đã được sự yêu thương của tất cả người Việt Nam, đã có một đoạn kết... buồn, khi dưới bạo lực... mềm, ông đã kéo dài thêm một quãng đời, khi đồng bào rên xiết, ông đã reo vui bằng những câu hát mê muội, “Em ở nông trường anh ra biên giới,” “ Huyền thoại Mẹ,” “Ra chợ ngày thống nhất,” và tệ hại hơn là “Ánh sáng Mạc Tư Khoa,” được xem như một bản “báo cáo công tác” sau khi ông được ân huệ của Cộng Sản trả công bằng một chuyến “tham quan” Liên Xô.

Liệu những “thiên tài” hay “đại thụ” có cần kéo lê thêm một đoạn đời như thế không?

Có những ca sĩ tên tuổi, được sự yêu mến của mọi người, giờ đây muốn thêm một kịch bản gọi là phần hai cho đời mình. Dù dưới mục đích cao đẹp “cần về quê hương hát cho đồng bào mình nghe,” hay thực tế là họ cần tiền và còn kiếm được tiền, thì những đoạn kết ấy cũng không mấy tốt đẹp, đánh mất tất cả niềm tin và sự thương yêu lâu nay người đời đã dành cho họ.

Nói như Nguyễn Du, “Đã buồn cả ruột, lại dơ cả đời !”

Tiểu thuyết Trà Hoa Nữ (La Dame Aux Camélias) được chuyển thành kịch bản là một tác phẩm nổi tiếng trên khắp thế giới, nhưng nếu chẳng may có ai đó dựng nên kịch bản “Hậu Trà Hoa Nữ” để cho Marguerite Gautier có dịp gặp tái hồi cùng Duval, như lấy nhau, thì vở kịch chán chường lố bịch biết bao.

Người đời thường thích những chuyện có “hậu” và phải hiểu đây là thứ hậu vuông tròn, đẹp đẽ (happy ending.) Chính vì vậy mà Nguyễn Du kéo dài truyện Kiều, nên nhân gian có thành ngữ “tái hồi Kim Trọng.” Trong phần tái hồi này Kim Trọng để chàng phải nài nỉ, phân bua “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường,” cũng tính chuyện “động phòng.” May mà Thúy Kiều cứng rắn, cho mình là “hương dưới đất, hoa cuối mùa,” từ chối quyết liệt, Kim Trọng mới thẹn thùng đổi chuyện chăn gối ra chuyện cầm thơ.

Có nhiều người không tự biết mình, hay soi gương cũng chẳng thấy khuôn mặt mình, nhưng như vậy không có nghĩa là không ai thấy mình. Đó là những người chưa chết nhưng đã tự chôn mình. Họ cố ôm lấy những danh vọng hão, hết chức vụ này lại muốn nhảy sang cầm lấy chức vụ khác, hết làm chủ tịch thì quay sang làm cố vấn, họ nghĩ không có họ thì ai còn khả năng đứng ra cứu nước!

Trong khi ông nọ hết nhiệm kỳ làm tổng thống lại lui về chức thủ tướng chờ thời, rồi trở lại làm tổng thống, bà nọ không còn là thị trưởng thì ứng cử lấy chức nghị viên thành phố, người kia oanh liệt một thời cấp tiểu bang nay lại công danh thụt lùi về lại quận hạt. Như vậy còn chỗ nào cho người khác, trẻ tuổi và tài năng tiến thân. Cái giỏ cua bây giờ cua bò lên không bị ai kéo trở lại, nhưng đóng nắp rồi thì cũng không ai còn tìm được con đường tiến thân. Biết chấm dứt kịp lúc, đúng thời, đối với họ quả là chuyện khó khăn.

Lê Đạt trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, năm 1956, đã có bài thơ “Ông Bình Vôi” để phê phán những cán bộ sống lâu lên lão làng nhưng “càng lớn càng đặc,” ôm lấy các chức vị, trong đó có những câu:

“Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại...”

Nhà văn Phan Khôi, nhân mấy câu thơ của Lê Đạt, có viết một bài văn cũng mang tên là “Ông Bình Vôi” có những câu như: “vật gì sống lâu và to xác thì gọi bằng ‘Ông’ để tỏ lòng tôn kính, sùng bái.” Trong cộng đồng chúng ta bây giờ không thiếu những “Ông Bình Vôi!”

Ở Việt Nam có quy định tuổi về hưu cho các cấp chỉ huy, nhưng gần đây người ta cho tái bổ nhiệm một bà với một lý do rất buồn cười là vì bề ngoài, trong bà còn trẻ! Người ta trau chuốt công lao của bà và gần như đi đến kết luận, trong lúc này chưa ai thay thế được bà.

Ở Mỹ nếu một ông tổng thống làm đến 3 nhiệm kỳ thì... chán chết, trong khi đó, “Ong Bình Vôi” (*) Phạm Văn Đồng của “ta” ôm chức thủ tướng Việt Cộng tại vị lâu nhất đến 32 năm (1955-1987).

“Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu!”

Ai muốn nhìn một hoa hậu về già, tóc bạc, miệng móm?

Ông tướng chết giữa chiến địa có đoạn kết cho đời mình bi hùng, trong khi ông tướng về hưu chết trong nhà dưỡng lão có một đoạn kết... buồn hiu!

(*) “bằng đất nung cả, mà một thứ giống như cái hũ nhỏ, duy cổ eo, miệng loa...”
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »


Image

Một ngày kia

Một ngày kia, có một người đàn ông trung niên tướng mạo xấu xí, dẫn theo một cô gái vô cùng trẻ trung xinh đẹp, đến một cửa hàng chuyên buôn bán những chiếc túi xách hàng hiệu.

tien, lừa đảo, hạnh phúc, hàng hiệu, Bài chọn lọc,

Ông ta đã chọn một túi xách trị giá đến 18,000USD cho cô gái. Khi trả tiền, người đàn ông lấy ra cuốn chi phiếu, chẳng ngần ngại điền số tiền vào một tờ chi phiếu, nhân viên cửa hàng có phần khó xử. Người đàn ông nhìn thấu tâm tư của cô nhân viên, nên hết sức bình tĩnh nói với người bán hàng: “Tôi cảm thấy dường như cô đang lo sợ đây là một tờ chi phiếu không tiền bảo chứng, phải không? Hôm nay lại là Thứ Bảy, ngân hàng không mở cửa. Thôi thì tôi đề nghị cô hãy giữ tờ chi phiếu và cả cái túi xách này lại. Đợi đến đầu tuần tới, sau khi đổi được tiền rồi, thì xin cô hãy gửi túi xách này đến nhà của tiểu thư xinh đẹp này, cô thấy như vậy có được không?”.

Kết quả sẽ như thế nào? Xin hãy mau đọc tiếp…….

Cô nhân viên cửa hàng nghe xong hoàn toàn yên tâm, vui vẻ chấp nhận lời đề nghị này, lại còn hào hứng cam đoan rằng chi phí gửi túi xách sẽ do cửa hàng này đảm nhiệm.

Sáng Thứ Hai, nhân viên cửa hàng đem tấm chi phiếu đến ngân hàng thanh toán, kết quả tờ chi phiếu này quả thật là tờ chi phiếu không tiền bảo chứng!

Người nhân viên vô cùng tức giận, liền gọi điện cho người đàn ông đó, người đàn ông nói với cô rằng: “Chuyện này có gì to tát lắm đâu, tôi và cô cả hai đều không bị tổn thất gì cả. Hôm Thứ Bảy đó, tôi cuối cùng đã chiếm hữu được cô gái đó rồi! Thật lòng cảm ơn sự hợp tác của cô”.

Câu chuyện này nói với chúng ta rằng:



Những gì mà chính bản thân ta “nhìn thấy tận mắt” cũng chưa chắc đã là thật.

Tham hư vinh thì phải trả một cái giá rất đắt. Cô gái xinh đẹp kia cho rằng cái túi xách trị giá hàng nghìn USD đó sẽ được giao đến tận nhà vào sáng Thứ Hai, nên tự nhiên cũng đã buông lơi cảnh giác, cho rằng đầu tư như vậy thật là xứng đáng. Cô vốn đã không biết rằng bản thân mình đang chơi trò mạo hiểm, chẳng hề có bất cứ sự đảm bảo nào.

Một con cáo phát hiện một chuồng gà, nhưng con cáo đó vì quá mập nên không thể chui lọt qua hàng rào để ăn gà. Thế là nó nhịn đói suốt ba ngày, cuối cùng đã vào được. Tuy nhiên, sau khi ăn no nê rồi, chiếc bụng phình to nên lại không ra được nữa, đành phải bắt đầu nhịn đói lại ba ngày mới ra được. Cuối cùng nó xót xa than thở rằng, bản thân mình ngoài nhất thời sướng miệng ra, trên cơ bản hoàn toàn là phí công vô ích.

Đời người không phải cũng như vậy sao. Đến trần truồng mà ra đi cũng trần truồng. Không ai có thể mang theo tài sản và danh vọng mà mình đã vất vả kinh doanh một đời để theo cùng.

Vậy nên những lúc nên làm việc thì hãy làm việc, những lúc nên nghỉ ngơi thì hãy nghỉ ngơi, vui vẻ làm việc, tận hưởng cuộc sống, trân quý tất cả những gì mà mình có được, hãy yêu thương những người mà bạn yêu thương, vui vẻ mà sống trọn từng ngày.

Sống một ngày vui vẻ là sống một ngày,

Sống một ngày không vui vẻ cũng là sống một ngày…….

Vậy tại sao chúng ta lại không trân quý hết, vui vẻ mà sống trọn một ngày chứ!
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »


Chuyện chó chết!


Tạp ghi Huy Phương


Con chó nằm trong cũi thấy đồng loại của mình bị đem đi đập đầu, cạo lông còn lồng lộn, gầm gừ, hay chảy nước mắt, nhưng đôi khi con người lại quá thờ ơ và dửng dưng với nỗi đau và cái chết của chính đồng bào mình.

Khắp nơi trên đất, chó là con vật được đánh giá cao vì sự thông minh, lanh lợi, lòng trung thành, tình cảm chan chứa, và nhất là mối thân hữu tự nhiên đối với loài người.

Ai nói mặc ai, chứ ở cái xứ Việt nam từ xưa đến nay, tôi thấy con chó là thứ súc vật hèn hạ, bị khinh bỉ nhất, được con người Việt Nam dùng trong những câu chửi rủa miệt thị, không hề nương tay. Nói đến gốc gác thì gọi là “đồ chó đẻ,” mạt sát thì gọi là “đồ chó,” thậm chí trong trò chính trị, khi nói đến những tên hoạt đầu, bất tài vô tướng, một sớm một chiều ăn trên ngồi trốc, thì ví von như “chó nhảy bàn độc!”

Con chó chết lại được xem tệ hại hơn là một con chó sống, bằng chứng chửi ai là chó chết nặng gấp mười lần chửi ai là đồ chó… sống!

Mỗi ngày mở trang báo Việt Nam ra, đau lòng thấy bao nhiêu chuyện chó… chết, nói theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Nghĩa đen thì nguồn tin từ Việt Nam cho biết, mỗi năm có 3 triệu con chó chết vì bị giết thịt, thời thịnh đạt, có tổ hợp “Liên Hiệp Thịt Chó Nhật Tân” với con số lên đến 25 nhà hàng, như vậy ông chủ của cửa hàng Nhật Tân phải lên hàng Tổng Giám Ðốc Thịt Chó.

Ðường dây kinh doanh chó xuyên quốc gia cũng được thành lập từ đây với khoảng 300,000 con chó được nhập trái phép từ Thái Lan, Lào về Việt Nam mỗi năm. Như vậy trung bình mỗi ngày có gần 8,000 con chó chết, được đưa lên bàn nhậu, mỗi cửa hàng tiêu thụ khoảng 50 con chó mỗi ngày.

Ðáng lẽ Việt Nam phải nhập cảng văn hóa phẩm, máy móc điện khí, sản phẩm để tạo tiện nghi trong đời sống của con người và nâng cao dân trí, thì phải nhập cảng chó (chắc là nhập cảng lậu) để thỏa mãn những cái mồm nhầy nhụa thịt, mỡ chó và nồng nặc hơi men, để quên đời, có khi quên đi cái thân phận của mình và chẳng bao giờ nghĩ đến cái khổ của người khác. Con chó nằm trong cũi thấy đồng loại của mình bị đem đi đập đầu, cạo lông còn lồng lộn, gầm gừ, hay chảy nước mắt, nhưng đôi khi con người lại quá thờ ơ và dửng dưng với nỗi đau và cái chết của chính đồng bào mình.

Ngày nào ở Việt Nam cũng có chuyện chó… chết! Con chó bị đập đầu nhưng không phải tại các quán bán thịt chó mà chó chết vì người ăn trộm chó. Khi dân phát giác ra chó mình bị đánh chết hay bị đầu độc cho vào bao bố thì y như thế nào cũng có người trộm chó bị đánh chết để đền mạng chó. Vậy là ở Việt Nam hiện nay cái chuyện… chó nhất là mạng con người còn thua cả con chó.

Ở nước khác, nếu bắt trộm một con chó của hàng xóm, nặng lắm là bị phạt tiền và ở tù 10 tháng theo luật nhà nước, nhưng ở Việt Nam thì trộm chó có thể bị đánh chết theo luật nhà… quê, nôm na là luật… rừng.

Thậm chí là ăn trộm một con gà cũng bị đánh chết, nhưng gà không phải chó, bài đang nói chuyện “chó chết” mà nhảy qua chuyện “gà chết” là lạc đề, mặc dù chuyện “gà chết” hay “ chó chết” thì cũng đại loại như nhau.

Nhà cai trị để dân đói và mất đạo đức, bần cùng phải sinh đạo tặc, bắt chó, trộm gà là nhà cai trị quá… chó. Coi mạng người thua con chó, và con người trong xã hội ấy coi chó ngang người hay hơn cả con người thật là lũ… chó!

Vài người đổ xô ra đường đánh chết người trộm chó, lại toàn quyền hủy hoại tài sản của người vì họ đã đổ xăng đốt luôn xe. Không phải chủ chó mà người khác cũng hung bạo nhảy vào đánh ké, dù sự việc không can cớ đến mình, vì bản chất hung bạo của con người trong xã hội này. Những người giết người này, chúng ta có thành ngữ là “lòng lang, dạ thú,” tức là có tâm địa của loài lang, là chó… sói!

Về nghĩa bóng thì đất nước Việt Nam hôm nay mỗi ngày xảy ra không biết bao nhiêu chuyện chó… chết.
Một cái cầu treo xô bao nhiêu người xuống vực chết thảm, thì không quy tội người làm cầu mà đổ chuyện cho người đi. Thế có… chó không?

Chuyện công ty Tư Vấn Giao Thông Nhật Bản (Japan Transportation Consultants – JTC) tố cáo đã hối lộ cho các quan chức Ðường Sắt Việt Nam, chuyện Dương Chí Dũng đưa hối lộ cho anh mình là tướng công an, tính tiền nghìn, tiền triệu trong khi đồng bào lầm than, đói phải đi ăn trộm chó là hết sức… chó!

C…. đánh dân chết, ra tòa chỉ bị án treo là chuyện quá ư là… chó!

Nomadic Matt, người Mỹ, ký giả du lịch đã được giới thiệu trên CNN, BBC, Yahoo, Times, New York Times, trong bài viết “Tại sao tôi không bao giờ quay trở lại Việt Nam” đã tố cáo bọn ….. Việt Nam cuồng dâm, đàn áp dân, thường dùng đòn độc bằng đánh vào hạ bộ của phụ nữ! Thật là quá … chó!

Bọn …. đạp vào mặt dân, gậy gộc, roi điện đàn áp dân oan, người biểu tình chống bắt bớ, cưỡng chế đất đai có khác gì bọn khuyển ưng của hoạn thư ngày trước:

“Sửa sang buồm gió lèo mây,
Khuyển ưng (chó và chim ưng) lại chọn một bầy côn quang” (đồ hung dữ, du côn)

Do chữ “côn quang” này mà ngày nay người dân dùng chữ “……..” để thay thế cho hai tiếng “…..”

Con người tha hóa, trong một xã hội, không còn cương thường đạo lý, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con như chuyện cơm bữa. Giết chồng, giết vợ xong đem vứt xuống sông, bác sĩ giết bệnh nhân đem phi tang, thầy chùa giết tình nhân đem chôn sau vườn chùa… bạn bè giết nhau chỉ vì một cái điện thoại, mới ăn ngủ với nhau xong, nhẫn tâm đập đầu tình nhân để đoạt tài sản. Ở đâu cũng nghe giết, giết… như khẩu hiệu của “thi hào” Tố Hữu: “Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ…” Trong xã hội này, người ta giết người không gớm tay, còn dễ dàng hơn giết một con… chó!

Ở Việt Nam bây giờ ở đâu cũng nghe hiếp, hiếp! Trưởng ban văn hóa xã cho trẻ em mới học lớp 4 xem phim sex để hiếp. Hiếp dâm để quay phim, tống tình bắt làm nô lệ tình dục! Nữ sinh bị hiếp dâm tập thể trước mặt bạn trai! Nhờ bạn hiếp dâm vợ để lấy cớ ly dị! Cưỡng hiếp chị dâu đang mang thai! Ðây là vài chuyện trong muôn vàn chuyện… hiếp, được tường trình trên báo chí trong nước! Một xã hội rất… chó, giống chó vì đã xảy ra quá nhiều chuyện… cẩu hợp!

Một xã hội loạn lạc, lắm điều đốn mạt “thượng hạ giai cẩu” (trên dưới đều “chó,” câu nói của Cao Bá Quát) ngay cả bậc sĩ phu, không xoay chuyển được thời thế, chỉ đành kêu lên những tiếng tuyệt vọng: “chó ơi là chó!”

Chuyện chó còn dài dài, may ra khi chết hết chó, dân chúng không còn món nhậu khoái khẩu, dân tình không còn ta thán chuyện chó, bốn cõi mới yên bình, mong rằng cũng sẽ đến lúc “chó chết là hết chuyện!”

Ngày xưa đi học, tóc còn xanh mướt, làm một bài luận văn mà dùng chữ lặp đi lặp lại (điệp ngữ) thế nào cũng bị thầy giáo gạch bôi đen, gạch đỏ. Hôm nay, tóc đã bạc phơ, viết một bài văn, câu kéo lủng củng, nhất là đếm đi đếm lại có đến 64 chữ “chó,” chỉ vì lòng còn quá buồn phiền, sân hận vì những chuyện chó chết, chỉ xin các bạn thương tình miễn thứ!

Huy Phương
trinhham
Posts: 133
Joined: Mon Dec 10, 2012 2:07 am
Contact:

Post by trinhham »

Image

BÌNH LUẬN VỀ PHÙNG QUANG THANH

Phùng Quang Thanh cao khoảng trên mét sáu, dáng người mập mạp, béo múp, mặt lợn, răng hơi hô và hai cái răng cửa lệch nhau như căn hầm chữ A mà ngày xưa anh đã đào trên chiến trường chống Mỹ. Ông có sống mũi hơi cao đào hoa, cánh mũi nhỏ thuộc loại giữ của. Tính giữ của này đã được trang mạng chandungquyenluc cụ thể hóa bằng việc đưa các thông tin về tài sản tham nhũng khổng lồ. Còn số đào hoa thì các cô gái từng nằm trên bụng ông tè sè sè đều biết thế nào là Trư Bát Giới. Chính vì ông mập mạp, béo tốt, cằm có nọng mỡ; nên nhân dân, theo phong tục cổ truyền, đặt ngay cho ông là Thanh Heo, phương ngữ Bắc Bộ gọi là Thanh Lợn. Người lịch sự gọi ông là Thanh Hợi, lính bộ đội gọi theo chức vụ là Trư đại tướng hoặc Đại tướng Heo, tướng Lợn, còn người yêu thích truyện Tây du ký gọi ông là Trư bát Giới hoặc Thiên Bồng Nguyên Soái.

Ông gia nhập Quân đội Bắc Việt Nam năm 1967, tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, Nam Lào (1972 ở Khe Sanh trong trận đánh với đại tá Thọ và thiếu tá Trâu và bắt sống hai vị này tại hầm chỉ huy lúc ông mang lon thiếu úy) trong cuộc nội chiến huyng đệ tương tàn Việt Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc. Phùng Quang Thanh được nổi tiếng ở hải ngoại với biệt danh là “tướng thân Tàu” vì qua các thông tin tình báo cũng như các phát ngôn nổi tiếng của ông. Cho nên, người ta không biết Phùng quang Thanh là tướng của quân đội Việt Nam cộng sản hay tướng quân đội của Trung Hoa cộng sản. Nhìn vào lịch sử quan hệ giữa hai đảng gắn bó keo sơn, thì đảng cộng sản Việt nam là một chi bộ trực thuộc đảng cộng sản Trung Quốc và đã từng có người việt làm tướng của cả hai bên; thậm chí ngay cả lãnh tụ của đảng cộng sản Việt Nam, xưng là “cha già dân tộc” cũng là dân Tàu Khựa, là bố của Hùng Vương, thì việc Phùng Quang Thanh xứng danh là “tướng thân Tàu” cũng không có gì lạ.

Khi giàn khoan Hải Dương của Trung Cộng kéo vào khoan thăm dò dầu khí ở vùng biển của Việt Nam, ông tự hào về quân đội do ông chỉ đạo đã "Trong đó, đã làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước, xử lý tốt nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề Biển Đông, bảo vệ được môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực, không để xảy ra xung đột, tạo điều kiện phát triển kinh tế". Quả thật như vậy, trong suốt thời gian này, gần như toàn bộ các ủy viên Bộ Chính trị và toàn bộ Ban Chấp hành Trung Ương đảng không dám nói câu nào phản đối Trung Cộng về việc Trung Công ngang nhiên xâm phạm chủ quyền vùng biển của Việt Nam. Chỉ có Ba X còn nói cứng “không đổi chủ quyền lấy tình hữu nghị viển vông”. Hậu quả là chiệc trực thăng chở đặc nhiệm của Quân khu Thủ Đô , trang bị đến tận răng vũ khí ám sát cất cánh bay nhưng may mắn cho Ba X vì máy bay đã bị nổ tan sau khi cất cánh và kế hoạch không thành công. (Sau đó, kẻ chủ mưu bị nhiễm phóng xạ chết, còn kẻ thủ lĩnh điều động lính bị bắn chết, kẻ có quyền hạn trực tiếp biết nhưng làm lơ, không ngăn chặn đang bị tạm giam).

Khi quân Trung quốc chiếm đảo của Việt nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh khẳng định “trong xử lý căng thẳng trong quan hệ giữa các nước, vai trò của quân đội hết sức quan trọng. Quân đội phải kiềm chế, kiểm soát và quản lý chặt chẽ mọi hoạt động của từng người chỉ huy, người chiến sĩ trong chỉ huy, điều khiển vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu, từ tàu chiến, máy bay...” nghĩa là ông yêu cầu quân đội Việt Nam không được phản ứng khi quân Trung Cộng xâm lăng chủ quyền biển đảo.

Không những thế, khi nhân dân Việt Nam phản ứng đấu tranh biểu tình chống nhà cầm quyền Trung Quốc xâm lược, Thanh Heo còn khẳng định “Việt Nam đặc biệt coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện với TQ; mong muốn hai bên thực hiện đầy đủ nhận thức chung quan trọng của lãnh đạo cấp cao hai nước nhằm thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước, hai quân đội phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước Việt-Trung.”
Còn những thông tin trong nội bộ quân đội cho biết chính ông là người chủ trương cho quân đội Việt nam mặc quân phục giống quân đội Trung Cộng. Ông cũng là người tán thành nhiệt liệt và quán triệt việc “quân đội trung với đảng” chứ “quân đội không trung với nước” và ông nổi tiếng là hét ra lửa, kỷ luật sắt với những sĩ quan dưới quyền không quán triệt tinh thần này của ông. Bởi ông hiểu rõ, trong Bộ Chính trị, ông là người có ảnh hưởng mạnh nhất, ngay cả tổng bí thư cũng phải nghe lời ông. Ngay cả việc cho Trung Cộng khai thác boxit ở Tây Nguyên, dù các tướng lĩnh đề xuất đây là cứ điểm quân sự quan trọng ở Đông Dương, nhưng ông cùng với băng nhóm thân Tàu, lúc đó, đứng đầu là Nông Đức Mạnh, đã quyết buộc Ba X phải chấp thuận. Ở Vũng Áng, Hà Tĩnh cũng vậy, ông cũng ủng hộ và bật đèn xanh cho Bí thư tỉnh phá luật cho Trung Hoa thuê toàn bộ đất vùng này, cắt ngang Việt Nam. Thông qua việc tiếp tay cho quân đội Trung Cộng hóa trang làm công nhân làm việc trong các khu cộng nghiệp Trung quốc trên lãnh thổ Việt Nam, ta thấy rõ Việt Nam đã bị Trung Cộng khống chế gần như hoàn toàn về quân sự. Giả sử như có tuyên chiến phía bắc thì từ biên giới, quân Trung quốc theo đường cao tốc đã xây sẽ tiến về chiếm Hà Nội trong vòng một tiếng đồng hồ và bè lũ Việt gian Hán nô tài Phạm quang Nghị, Nguyễn Thế Thảo sẽ ngay lập tức dâng thành Thăng Long. Còn miền Trung thì quân Trung cộng chiếm toàn bộ bằng đội quân ở Hà Tĩnh. Quân Việt ở quân khu 4, quân khu 7 ra tiếp ứng sẽ bị chặn ngay ở Tây Nguyên. Còn quân khu 9 thì cả tư lệnh cũng đã là đệ tử ruột của ông.

Ông đã chủ trương bán chức tướng và đề xuất phong nhiều chức tướng. Qua việc đề xuất phong tướng này, ông vừa thu được tiền vừa tăng cường vây cánh trong quân đội. Cho nên, ông nổi tiếng với câu nói “nếu không phong tướng, anh em sẽ tâm tư”.
Không những vậy, theo thông tin tình báo được tiết lộ bởi facebook Vịt Bầu Nguyễn Thùy Trang, ông đã phòng ngừa trước đại hội đảng thứ 12 có biến cố giải tán đảng. Mà giải tán đảng cộng sản Việt Nam thì các cam kết giữa hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc tại Hội nghị Thành Đô năm 1990 không còn hiệu lực, nhiệm vụ của Thiên triều giao phó sáp nhập Việt Nam vào thành tỉnh Âu Lạc của Trung Cộng không thành. Còn giữ được đảng cộng sản thì Trung Cộng mới khống chế được Việt Nam, mất đảng cộng sản thì Việt Nam sẽ thoát khỏi sự kiểm soát của Trung Cộng. Do nhiệm vụ Tập Cận Bình giao cho ông phải giữ đảng và nắm ghế tổng bí thư trong lúc xu thế phản đối Trung Cộng đang dâng cao trong Ban Chấp hành Trung ương. Quá lo lắng nên ông nói “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc”. Nghe tin đồn của Vịt Bầu, vịt đàn, vịt mỹ nhân là ông đã được chuẩn y của Tập Cận Bình, trước đại hội đảng 12, ngay từ Hội Nghị trung ương cơ cấu nhân sự tổng bí thư. Nhưng sự ủng hộ ông yếu dần và có khả năng cao là ông theo Hồ Đức Việt về bán thịt chó ở quê. Thường Vạn Toàn và ông trình phương án khẩn cấp và Tập cận Bình chuẩn y chữa cháy trong tình huống xấu nếu có thể xảy ra. lúc đó, nếu ông bị bỏ phiếu thấp, lập tức quân trung Cộng sẽ đánh phía Bắc với sự phối hợp của quân khu Thủ đô chiếm trọn miền Bắc, quân đội đóng giả làm công nhân vùng Hà Tĩnh (Vũng Áng), vùng Tây Nguyên (boxit Tân Rai) sẽ chiếm miền Trung, còn ông phối hợp quân khu 9 đánh bọc lên quân khu 7 và quân khu 4. Để trang bị cho quân khu 9 đánh miền đồng bằng, ông đã mua của Pháp 118 tổ hợp đại bác tự hành “Vua chiến trường 155m” nhưng mới mua được gần 20 “Vua chiến trường” trang bị cho Quân khu 9 và sang Pháp thanh toán tiền thì ông bị mổ thịt phổi tại Pháp.
Sau khi ông trở thành món Heo quay, những bí ẩn về ông càng tăng lên vì những lời tuyên bố của nhà cầm quyền Việt nam là ông vẫn khỏe, vừa mổ phổi xong ông gọi điện về nước nói chuyện chỉ đạo ầm ầm. Và ông về nước thật.
Lúc xuống máy bay, ông Nguyễn Thanh Bình, phó ban tuyên giáo Trung ương bước xuống. Gia đình không đón, các phóng viên không được phép quay phim chụp hình. Chỉ có một tấm hình duy nhất cho thấy phía xa xa, ông Nguyễn Thanh Bình có vẻ ngoài hơi giống Thanh Heo và các báo chí truyền thông òa lên rộn rã là ông đã về mạnh khỏe. Sau đó, trong dịp lễ các thành viên lãnh đạo dâng hương vào buổi sáng, đúng ra ông phải có mặt nhưng ông vắng bởi vì buổi sáng, ánh nắng mặt trời quá chói chang, mà sau khi mổ thịt phổi, ông trở thành kẻ sợ ánh sáng. Cho nên, buổi tối, ông được đi xem văn nghệ nhân ngày Thương binh Liệt sĩ. Và sau bao nhiêu bí ẩn đồn đoán, ông đã xuất đầu lộ diện.
Ô hô, anh Thanh Heo ngày nào của chiến trận Khe Sanh đường 9 Nam Lào vẫn còn đây. Ông Thanh Lợn với những câu nói bán nước cầu vinh bất hủ vẫn còn đây. Thằng Trư đại tướng với âm mưu đưa Việt nam làm nô lệ với cả ngàn năm Bắc thuộc vẫn còn đây. Vẫn béo ú, mập mạp và cằm có nọng mỡ đây rồi sao?
Không. Có nét khác. Sau khi bị mổ thịt phổi, dù đã trên lục tuần nhưng ông vẫn như tuổi dậy thì vì phát triển chiều cao nên đã cao hơn thành mét bảy. Do ở trong bệnh viện Pháp quá lâu hít nhiều hương thơm nhang khói của các cô y tá Pháp nên cánh mũi ông nở ra bè bè hoan hỉ. Sống mũi thấp hơn và mắt láo liên nhìn mọi người. Hai cái răng cửa không còn như căn hầm chữ A thời chống Mỹ mà giống hai cánh cửa khép hờ của căn nhà biệt thự. Đặc biệt, vành tai, sau gáy của ông, chắc trong bệnh viện lâu ngày không tắm nên phải dán silicon và ủ cả da mặt. Chỉ còn cái cằm nọng mỡ đặc trưng của loài heo vẫn như xưa.
Nhưng cái khác biệt nhất là, ông không nói câu nào. Đây chính là ưu điểm, là sự ưu việt của chế độ tư bản Pháp đã mổ thịt phổi chữa bệnh cho ông. Ông không còn nói câu nào ca ngợi tình hữu nghị Việt Trung, không còn nói câu nào thể hiện tinh thần bán nước. Dù cho ông hao hao gần giống ngày xưa vì loài lợn nào cũng gần giống nhau, nhưng ông đã thay đổi hoàn toàn về tư duy. Cho nên, với tấm lòng của những người con xa quê hương nhưng vẫn giữ tấm lòng yêu Tổ Quốc, tôi bắt đầu cảm mến ông vì ông đã không xúc phạm tới những tấm lòng yêu nước của đồng bào, của dân tộc. Tôi bắt đầu ủng hộ ông. Ủng hộ người có nhiều tên Heo, Lợn, Hợi, Trư đại tướng, tướng Lợn, tướng Heo, Thiên Bồng Nguyên Soái, Trư Bát Giới vì ông không còn kêu ụt ịt bán nước lấy nhân dân tệ mua cám heo nữa.

Vuong Phamnhat

http://nguoisantin.890m.com/index.php/a ... uang-thanh
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Thời đại huy hoàng hay thời đại ăn cắp?

TRAVAILLER C'EST TROP DUR ET VOLER C'EST PAS BEAU ...
Dư luận ở VN mấy tuần này rất sôi nổi về chuyện nhiều phụ nữ Việt Nam bị Singapore từ chối nhập cảnh. Thêm vào đó vụ hai du khách người Việt Nam vừa bị cảnh sát Thụy Sỹ bắt vì trộm cắp 3 cặp kính mắt càng làm dậy sóng trên khắp các phương tiện truyền thông từ trong nước đến nước ngoài.

Là người VN dù ở đâu cũng thấy quá xấu hổ. Hầu như tất cả những vụ bê bối tương tự như thế cũng được dịp “kiểm điểm” lại, vụ nọ nối vụ kia như những người Việt từng ăn cắp ở Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản…

Dư luận cũng phản ứng bằng nhiều cách khác nhau. Nhiều người giận dữ vì cảm thấy quốc thể bị sỉ nhục, muốn có hành động trả đũa, thậm chí kêu gọi tẩy chay du lịch Singapore. Nhưng bình tâm suy nghĩ lại và đặt câu hỏi tại sao những phụ nữ nước khác còn nghèo khó hơn VN vẫn được đón tiếp nồng hậu mà phụ nữ VN bị săm xoi, bị nhòm ngó, bị đuổi thẳng về nước như thế? Nhiều bạn đọc đã trả lời câu hỏi này.

Bạn Nguyễn Văn Mỹ trên thanhnien.com.vn kể lại:

“Tôi đã giận tím mặt khi cả đoàn doanh nghiệp Việt Nam, từng du lịch khắp thế giới nhưng vẫn bị hải quan cửa khẩu Aranyaprathet (Thái Lan, giáp với Poipet, Campuchia) buộc từng người phải cầm 700 USD lên để chụp hình trước bàn dân thiên hạ.

“Bảng phong thần” danh sách các nước bị hạn chế nhập cảnh vào Thái Lan có tên Việt Nam to tướng được dựng ngay cửa khẩu. Vậy mà lâu nay lãnh đạo không nghe, không biết.

Về nước, anh em phản ứng dữ dội, báo chí nhập cuộc, Tổng cục Du lịch và Bộ Ngoại giao Việt Nam có công hàm.

Người Thái thừa nhận sai sót, bỏ thủ tục chụp ảnh, dẹp bảng phong thần nhưng không chịu xin lỗi và Việt Nam vẫn nằm trong “Black list” (tạm dịch là Danh sách đen) của họ.

Chỉ khác là để trong bàn làm việc của cửa khẩu chứ không trương ra ngoài. Tìm hiểu mới hay là họ làm vậy để đối phó việc hàng ngàn người Việt qua Thái lao động bất hợp pháp, mang theo nhiều tệ nạn xã hội.

Cách hành xử của Singapore là vơ đũa cả nắm nhưng đừng vội trách họ. Dù không cho phép mại dâm công khai như Thái Lan nhưng Singapore có khu Geylang biệt lập và sầm uất không thua phố đèn đỏ ở Amsterdam (Hà Lan). Rất nhiều “Bướm đen” (vì toàn mặc đầm đen) người Việt lượn lờ ngã giá, bằng tiếng Việt và cả tiếng Anh ba rọi”.

So sánh giữa du lịch ở trong nước và nước ngoài.


Qua Singapore, chỉ một số phụ nữ bị làm khó dễ ở cửa khẩu, còn vào rồi thì được đón tiếp niềm nở trân trọng. Còn du lịch trong nước, bị chặt chém tơi tả, bị đối xử ghẻ lạnh, dù không phải tất cả. Hơn thế, chất lượng dịch vụ, an ninh xã hội, giao thông, vệ sinh thực phẩm và môi trường đều kém xa nên rất nhiều người Việt, dù yêu nước nồng nàn cũng “bỏ của chạy lấy người”.

Image
Nhiều cô gái Việt Nam sang Singapore để bán dâm chui là nguyên nhân
khiến hải quan Singapore làm khó dễ phụ nữ Việt khi nhập cảnh nước này

Nói thẳng ra chỉ những người bị nghi ngờ là sang Singapore làm điếm hoặc ở lì không chịu về mới bị đối xử như vậy.

Trước hết là cách ăn mặc nhiều khi quá “thiếu vải” đầu tóc nhuộm xanh nhuộm đỏ, lối giao tiếp thiếu lịch sự… đã buộc nhân viên hải quan của họ phải nghi ngờ và cấm nhập cảnh là quyền của họ bảo vệ thuần phong mỹ tục của quốc gia mình.

Mặt khác, nếu bạn nói tiếng Anh trôi chảy, ăn mặc đứng đắn…chẳng ai thừa hơi đuổi bạn về nước làm gì. Họ sẽ trân trọng mới bạn bước vào nước họ.

Ngày 25/7, báo chí dẫn lời Tham tán Công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore Nguyễn Minh Hằng sau buổi làm việc giữa phía Việt Nam và ICA cho biết Cơ quan Quản lý Cửa khẩu và Nhập cư Singapore (ICA) khẳng định hoàn toàn không áp dụng bất kỳ hình thức hay biện pháp phân biệt đối xử nào với công dân Việt Nam".

ICA cũng cho biết nhiều trường hợp công dân nữ Việt Nam sử dụng các hộ chiếu khác nhau để nhập cảnh Singapore, có trường hợp dùng ba hộ chiếu với nhân thân khác nhau. Đối với những trường hợp vi phạm nêu trên, ICA sẽ không cho phép nhập cảnh.

ICA cũng giải thích việc họ mời một số công dân nữ Việt Nam vào phòng để hỏi về giấy tờ liên quan, lấy dấu vân tay… là thực hiện giống như với công dân nhiều nước. Việc này để phục vụ việc quản lý xuất nhập cảnh trong dài hạn. Chúng ta thừa biết đó chỉ là những lời lẽ ngoại giao cho “vui vẻ cả làng”, thật ra nguyên nhân chính nằm ở phía sau. Hãy nhìn hình ảnh những cô gái VN đứng đường trên hè phố Singapore thì chẳng còn gì để bàn luận thêm.

Đến chuyện thời đại ăn cắp
Image
Trung tâm mua sắm nhộn nhịp ở Zurich, Thụy Sĩ

Tôi dẫn chứng những sự thật đau lòng này qua lời kể của 2 hướng dẫn viên (HDV) du lịch VN qua nước ngoài. HDV kể lại trên VietnamNet, xin tóm tắt những điểm chính:

“Đoàn du lịch của tôi gồm 30 người, khởi hành từ ngày 9/7 đi du lịch Pháp và Thụy Sĩ. Đến ngày 15/7, ngày cuối cùng trước khi lên đường trở về nước thì xảy ra vụ việc đáng xấu hổ là hai du khách bị cảnh sát Thụy Sĩ bắt giữ vì trộm cắp.
Image
Nhâm Tiến Dũng - Nhâm Thị Hồng Phương, ăn cắp tại Thụy Sĩ

Sự việc xảy ra ở khu mua sắm ở Zurich, Thụy Sĩ. Qua máy quay giám sát, nhân viên đã phát hiện hai du khách bóc nhãn, thẻ giá của 3 chiếc kính có trị giá 300 euro/chiếc và đem ra khỏi cửa hàng. Cảnh sát nhận được thông báo từ cửa hàng đã nhanh chóng bắt 2 vị khách này.

Image
Giấy phạt tiền của cảnh sát Thụy Sĩ ghi rõ họ tên hai du khách Việt ăn cắp

Cả hai đã phải nộp phạt 2.000 franc (khoảng 46 triệu đồng) để được thả và đoàn có thể lên chuyến bay về Việt Nam vào sáng hôm sau. Không ai không phải che mặt vì quá xấu hổ với người nước bạn.


Còn phạm cả tội gian lận khai thuế


Hướng dẫn viên của đoàn cho biết ngay từ khi nhận đoàn, anh đã thấy một sự “không tử tế” ở hai du khách này. Trước khi xảy ra sự việc đáng xấu hổ này thì nam du khách này cũng vừa khiến anh mất mặt với nhân viên an ninh sân bay ở Zurich.

Du khách này đã khai gian để được hoàn thuế, khi nhân viên sân bay đưa tiền, anh này “sáng mắt” đã cầm vội và chạy đi. Nhân viên sân bay thấy lạ, họ kiểm tra lại giấy tờ, và đề nghị người dẫn đoàn phải gọi anh này trả lại tiền nếu không sẽ giữ cả đoàn ở lại.

Hướng dẫn viên kỳ cựu này cũng chia sẻ rằng, bao nhiêu năm dẫn đoàn, anh đã gặp không biết bao nhiêu kiểu người, nhưng có nhiều người Việt hay nói dối, lươn lẹo.

Chuyện nhỏ đáng xấu hổ hơn nữa

Một hướng dẫn viên khác kể lại những câu chuyện nhỏ còn đáng xấu hổ hơn. Anh nói:

“Tôi làm trong ngành du lịch lại chuyên về thị trường Outbound nên “được” nghe không biết bao nhiêu là những điều về du khách Việt. Có những khách phải thốt lên “nhục nhã quá”. Chuyện ăn, chuyện uống là “chuyện thường ở phố huyện”. Chẳng ở đâu lại buồn cười như khách Việt. Mỗi lần đoàn khách Việt bước vào là nhà hàng cứ “rôm rả” hẳn lên. Nào là nói to, nào là chọn người ngồi cùng bàn, lấy thức ăn thừa mứa đến nỗi nhà hàng phải để hẳn dòng chữ bằng tiếng Việt “Lấy đủ ăn, nếu thừa sẽ bị phạt!”.
Image
Bảng cấm lấy đồ ăn thừa trong các bữa buffet ở Thái Lan

Nhiều khách ra nước ngoài cũng “tranh thủ” thưởng thức mọi “đặc sản” địa phương. Họ đề nghị hướng dẫn viên cho địa chỉ đến "nhà thổ" mua dâm. Họ đi một mình thì chẳng sao, có người đòi hướng dẫn viên đưa đến tận nơi. Hướng dẫn viên ngồi ôm đồ cho khách chờ ngoài sảnh đến nửa đêm chưa được về nghỉ, ngày mai vẫn phải lên đường như bình thường.

Có khách khiếm nhã, còn "đề nghị" với nữ hướng dẫn viên địa phương hướng dẫn đi chơi gái liền bị mắng té tát, làm chúng tôi bị một phen khốn đốn xin xỏ, còn khách đó bị bẽ mặt trước cả đoàn.

Trốn ở lại lao động trái phép lại còn là vấn nạn đối với rất nhiều nước, làm hướng dẫn viên và công ty tổ chức bị một phen “tá hỏa”. Đừng hỏi vì sao các nước lại làm chặt visa đối với công dân một số nước trong đó có Việt Nam”.

Lao động VN cũng làm xấu mặt dân Việt


Trên báo Dân Trí ngày 28-7-2015 vừa đưa ra một thông tin mới nhất về những người được đưa đi xuất khẩu lao động bị trả về vì ý thức chấp hành pháp luật của người lao động kém; thường trộm cắp, đánh nhau, bỏ trốn...

Cụ thể gần 4.000 lao động Việt Nam làm việc ở lĩnh vực bảo vệ, vệ sĩ tại Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) hoang mang trước việc đột ngột bị chấm dứt hợp đồng trước hạn. Trong khi cơ quan chức năng đang tìm cách bảo vệ quyền lợi của họ thì một số lao động kích động quậy phá.

Bản ghi nhớ có thời hạn 3 năm, được ký gia hạn vào tháng 8-2012. Đến nay, có trên 5.000 lao động được đưa sang làm vệ sĩ tại UAE, trong đó gần 4.000 người đang làm việc theo hợp đồng, thu nhập trung bình 600 USD/người/tháng.

Tập đoàn IGG ủy thác thực hiện chương trình) chấm dứt hợp đồng trước hạn đối với hàng ngàn lao động Việt Nam là thỏa thuận nói trên hết hạn vào tháng 8-2015 và chưa có kế hoạch gia hạn. EGSS đang làm thủ tục về nước cho toàn bộ vệ sĩ của Việt Nam. Trong số gần 4.000 lao động bị trả về, có 1.286 lao động chưa kết thúc hợp đồng 3 năm tính đến tháng 8-2015 và một số có thời hạn kéo dài đến năm 2016.

Giám đốc một doanh nghiệp tham gia chương trình cho rằng nguyên nhân chính là do ý thức chấp hành pháp luật của lao động Việt Nam quá kém. Vị giám đốc này nói: “Họ hay tụ tập nhậu nhẹt rồi đánh nhau, gây mất trật tự công cộng. Làm công tác bảo vệ cho các cơ sở của hoàng gia mà “quậy” như vậy thì ai dám sử dụng”.

Cũng xin nói thêm, đây không phải lần đầu Việt Nam bị UAE dừng chương trình vệ sĩ. Trong phạm vi bản ghi nhớ đầu tiên thực hiện từ năm 2009, khoảng 600 vệ sĩ Việt Nam vừa mới sang được vài tháng cũng bị trả về nước. Lý do là một số lao động sau khi nhậu nhẹt rồi phát sinh mâu thuẫn, đánh nhau, gây mất trật tự an ninh.

Còn ở Qatar có khoảng 50 Doanh nghiệp xuất khẩu lao động (DN XKLĐ) của Việt Nam bắt đầu khai thác Qatar từ năm 2005 và đến năm 2007 cung ứng được khoảng 10.000 lao động. Tuy nhiên, từ năm 2008, xuất phát từ tình hình lao động trộm cắp (chủ yếu trộm cắp dây đồng của công trình xây dựng), nấu rượu lậu, nhậu nhẹt, gây rối trật tự…, chính phủ Qatar quyết định dừng tiếp nhận vô thời hạn lao động Việt Nam.

Hai thị trường XKLĐ lớn nhất của Việt Nam hiện nay là Đài Loan và Hàn Quốc cũng kẹt cứng ở đoạn tuyển dụng mà nguyên nhân chính vẫn xuất phát từ người lao động.

Hiện có khoảng 24.000 lao động Việt Nam bỏ trốn ở Đài Loan, dẫn đầu các nước XKLĐ vào thị trường này. Hơn 26.000 lao động đang cư trú bất hợp pháp ở Hàn Quốc không chịu về nước dù chính phủ nước này đang mở chiến dịch truy bắt trên toàn quốc.


Ăn cắp từ trong nước đến ngoài nước

Trong nhà còn nhiễu nhương, hỗn loạn, ăn cắp chia làm nhiều loại, có cả loại ăn cắp đúng pháp luật và vô pháp luật, ăn cắp riêng lẻ và ăn cắp theo nhóm gọi là “nhóm lợi ích” thì khó tránh khỏi thiên hạ khinh khi.


Lãnh đạo thiếu gương mẫu, pháp luật chưa nghiêm minh nên người dân mất niềm tin, là điều kiện cho tệ nạn sinh sôi. Quản lý lỏng lẻo, không có bất kỳ hành động nào chặn đứng việc xuất khẩu tệ nạn thì hậu quả khôn lường. Nếu không có cách khắc phục hiệu quả, e rằng sắp tới, người Việt ra nước ngoài không chỉ bị Thái lan, Singapore làm khó dễ khi nhập cảnh mà sẽ lây lan sang những nước khác.


Những sự việc trên hẳn là làm cho người nói câu “thời đại ngày nay là thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử” phải cảm thấy xấu hổ. Có thật là “thời đại huy hoàng nhất lịch sử” hay “thời đại của những kẻ lừa lọc, ăn cắp nhiều nhất trong lịch sử”?

Văn Quang
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Rỗng tuếch rỗng toác
Bùi Bảo Trúc

Hồi còn học tiểu học, trong những chuyến đi cắm trại, bài hát mà chúng tôi thích nhất được thầy cô dậy cho hát là bài Bạch Đằng Giang, trong đó có mấy câu đến nay, hơn nửa thế kỷ trôi qua, tôi vẫn còn nhớ: “Đây Bạch Đằng Giang sông hùng dũng của nòi giống tiên rồng, giống Lạc Hồng, giống anh hùng Nam Bắc Trung…”

Sông Bạch Đằng thì quả là con sông “hùng dũng” đúng như lời của bài hát. Con sông đó đã đóng góp bằng dòng thủy triều lên xuống đúng giờ giấc gíúp cho hai chiến lược gia đại tài của lịch sử Việt Nam đánh tan tành quân Nam Hán và quân Nguyên không còn một manh giáp. Trong cả hai trận đánh, Ngô Quyền (năm 938) và Trần Hưng Đạo (năm 1288) đều cho binh sĩ đóng những cọc nhọn mũi bọc thép xuống lòng sông rồi nhử địch vào khúc sông có đóng cọc để quân Nam phục kích xông ra đánh đoàn tầu chiến của địch. Quân địch bị tấn công thình lình bỏ chạy thì đúng lúc đó, thủy triều rút xuống, tầu thuyền địch bị cọc nhọn nhô lên khỏi mặt nước sông đâm thủng chìm gần hết.

Một đô đốc hải quân Cao Ly, đô đốc Yi Sun-shin, mà người ta nói là gốc nhà Lý ở Việt Nam chạy qua lánh nạn, trong cuộc chiến tranh 7 năm giữa Cao Ly với quân Nhật năm 159, trên sông Myongnyang cũng dùng một chiến thuật tương tự, lợi dụng thủy triều của sông để phục kích đánh tan đoàn tầu chiến Nhật tướng Matashi Kurushima chỉ huy.


Sông Bạch Đằng xứng đáng được mô tả là con sông hùng dũng.


Hùng dũng là phải như thế. Hai chiến thắng vẻ vang của hải quân Việt Nam ở con sông này đã giữ vững được biên cương đất nước, nếu không thì người Việt đã cạo răng, thắt bím trên đầu và đi bán ve chai dầu cháo quẩy hết rồi còn chi.

Hôm nay lôi hai chữ “hùng dũng” ra nói chơi vì tuần qua mấy bản tin của báo chí trong nước cũng đem hai chữ này ra dùng để tường thuật lễ thượng kỳ của hai chiếc tầu ngầm mới mua của Nga vừa được “cõng” từ một xưởng đóng tầu ở Nga về Cam Ranh. Hai tiềm thủy đĩnh mang tên là Hải Phòng và Khánh Hòa đã được kéo cờ đỏ sao vàng lên tại bến cảng Cam Ranh. Bài báo trên tờ Tuổi Trẻ viết nguyên văn: ”Tầu ngầm Hải Phòng và Khánh Hòa HÙNG DŨNG trong lễ thượng cờ”.

Được biết hai tầu ngầm này cùng 4 chiếc khác được mua của liên bang Nga, được đóng trong xưởng đóng tầu tại St Petersburg và được đưa về Cam Ranh bằng tầu vận tải của Hà Lan. Tất cả đều không tự vận hành từ Nga về Việt Nam.

Nhưng những tin tức báo chí thì đều hô hoán lên rằng những chiếc tầu ngầm ấy đã “rẽ nước” về Viêt Nam, rằng loại tầu ngầm kilo mà Nga đóng cho Việt Nam là loại tầu tối tân hơn của Trung quốc và Ấn độ (mặc dù tất cả đều do Nga đóng).

Tầu ngầm do Nga đóng và được tầu vận tải của Hà Lan đưa về tận Việt Nam thì cũng chẳng cần phải khoe nhắng lên như thế. Thực ra thì chuyện mua tầu của một nước khác thì cũng là chuyện nước nào cũng làm, như Israel, Canada, Úc... Nga cũng nhờ Pháp đóng cho hai chiếc tầu đổ bộ chở trực thăng loại Mistral. Do đó, Việt Nam nhờ Nga đóng tầu ngầm cũng dễ hiểu.

Các tầu ngầm mà Nga đóng cho Việt Nam, khi được chuyển giao cho hải quân Việt Nam đều được “cõng” về tận Việt Nam thì cũng là chuyện dễ hiểu. Nhưng nói là các tiềm thủy đĩnh này rẽ nước về Cam Ranh là nói phét, nói cho sướng cái lỗ tai vậy thôi.

Nói nghe cho sướng. Chứ có gì đáng nói đâu.

Về đến Cam Ranh, nước ta liền làm lễ thượng kỳ cho hai chiến hạm. Quân ta lễ phục “hoành tráng” kéo cờ lên, chụp hình cho đẹp rồi chẳng lẽ … chấm hết. Thế là hô hoán lên rằng hai chiến hạm “hùng dũng” trong lễ thượng cờ.

Nghe “hùng dũng” thì tưởng hai chiếc tầu ngầm chạy về Cam Ranh đã khiến cho những chiếc tầu “lạ” cong đít lên chạy ra khỏi những vùng biển của Việt Nam, không dám héo lánh đến gần khu vực đánh cá của các ngư dân Việt Nam. Những cái tầu “lạ” vừa nghe nói tới các tầu ngầm Hải Phòng và Khánh Hòa là rút hết. vân vân. Nếu có như thế thì hãy nổ là “hùng dũng” chứ chỉ “chiều buồn len lén tâm tư” tiến vào Cam Ranh thì “hùng dũng” cái quái gì?

Trong cùng số báo có bản tin “hùng dũng” đó là tin hơn 9 ngàn tầu cá của Trung quốc tiến vào biển đông đi thẳng vào hải phận Việt Nam để bắt nạt ngư dân Việt.

Chẳng thấy cái tầu quái nào của nước ta ra mặt cho tầu “lạ” nó sợ gì hết. Tầu đánh cá “lạ” vẫn cứ “hùng dũng” tiến vào vùng kinh tế của Việt Nam, không coi các tiềm thủy đĩnh “hùng dũng” ra cái kilo (?) nào hết trơn. Tầu ngầm kilo (?) bị coi là không ra cái kilo (!) nào hết thì nản thật.

Thêm một điều nữa là tất cả những tầu chiến của Việt Nam mua mới dây không có một chiếc nào được đặt tên bằng tên của những nơi từng diễn ra những trận hải chiến giữa Việt Nam và Tầu trong lịch sử “hùng dũng” của chúng ta hết. Toàn những tên như Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Kiến Hòa, Đà Nẵng, Bà Rịa… Mấy cái tên này có liên quan quái gì đến chuyện đánh Tầu đâu. Còn những cái tên như Vạn Kiếp, Vân Đồn, Trần Khánh Dư, Trần Hưng Đạo… thì bố bảo cũng không dám đặt cho các chiến hạm. Phạm húy thì thấy mẹ ngay.

Vì chúng nó hèn, rất rất hèn với giặc trong khi lại rất rất ác với dân.

Hùng với chả dũng. Vẫn chỉ phét lác mấy câu rỗng tuếch rỗng toác mà thôi.

Bùi Bảo Trúc
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 12 guests