Tạp Ghi

buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Ở Mỹ chẳng có gì vui

Trịnh quân

Ở Mỹ chẳng có gì vui;
Có nhiều điều vui lắm chứ:
Có nhà ông Obama không lớn bằng nhà ông Nông Ðức Mạnh,
Chẳng có trống đồng, ngà voi như ở nhà ông Lê Khả Phiêu.
Có tham nhũng (?) nhưng không có cả “một bầy sâu,”
Có triệu phú nhưng chắc gì giàu bằng “tư bản đỏ.”
Trật tự xã hội được chính quyền nắm giữ;
Có công an nhưng khi dân vào đồn ra về,
Không phải bò lê,
Một cọng lông chân cũng không hề mất.
Có đường phố rất nhiều xe mà không bao giờ bị ách tắc,
Trật tự lưu thông ưu tiên hàng đầu.
Chẳng ai “cắt đầu,” chẳng người “đánh võng” đâu.
Lái xe thong dong mà không sợ cảnh sát giao thông bắn tốc độ.
Có học sinh đến trường mà không hề sợ bị đòn hội chợ;
Sách giáo khoa không có chuyện nực cười,
Thánh Gióng đánh giặc Ân xong chẳng chịu về trời,
Quất một bữa cơm rồi nhảy xuống Hồ Tây tắm.
Có bịnh viện dành cho mọi tầng lớp dân chúng,
Nhưng không phải cần “phong bì” để được ưu tiên.
Và cũng không phải nằm xếp lớp ra cả ngoài hiên,
Không là chỗ cho con bà Bộ Trưởng Nguyễn thị Kim Tiến.
Có những công viên cho dân đến,
Ðể tự do đả kích chính quyền,
Mà không lo bị nằm ấp.
Tối về nhà được ngủ ngon giấc,
Mà không hề sợ nhà bị vất mắm tôm.
Có văn hóa “xếp hàng,” “xin lỗi,” “cảm ơn.”
Mà không bị chê là “hâm,” là “vớ vẩn.”
Có Davis, Harvard, MIT, Berkely, danh tiếng
Mà không có tỷ lệ 99.9% sinh viên tốt nghiệp.
Không có ra ngõ là gặp giáo sư, tiến sĩ,
Mà một con ốc vít không làm nổi, vì sao?
Hay chỉ là một lũ chăn trâu,
Mua bằng cấp để khoe khoang thành tích.
Chênh lệch giàu, nghèo một trời xa cách.
Người ăn không hết, kẻ thì nghèo xơ.
Tiền thuế của dân xây tượng đài cho to,
Mà học trò đến trường phải đu dây qua suối.
Ở Mỹ có nhà hàng, tiệm ăn fast food.
Có nhân viên phục vụ tận tình,
Mà không có “cháo chửi,” “bún mắng,” “phở xếp hàng.”
Cùng thực phẩm ướp hóa chất độc hại tràn lan,
Của Trung Quốc đang giết dần dân Việt.

Ai biết,
Ở Mỹ không vui vì thiếu bạn bè?
Mà đã có anh, chị, có em, có bà con hàng xóm.
Có đại gia đình dang tay chào đón,
Bạn bè thì có thể thêm,
Còn anh, chị, em chỉ có nhiêu đó.
Anh, chị, em có “đi” mình làm sao tìm thấy!
Như nước chảy, hoa trôi,
Rồi thôi!
Chừng mấy thứ đó;
Sao ở Mỹ lại không có gì vui?
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Người Việt ít tình cảm?

Nguyễn Hưng Quốc
Người Việt thường nói, thậm chí, thường tự hào, là dân tộc ta có nhiều tình cảm, thường xem tình cảm như một yếu tố nổi bật, nếu không muốn nói là nổi bật nhất và cũng đẹp nhất của văn hóa Việt Nam.

Người ta so sánh: Trong khi văn hóa Tây phương chủ yếu có tính duy lý, văn hóa Việt Nam chủ yếu có tính duy tình; trong khi người Tây phương thường sống với những tính toán, cân nhắc, so đo về các lợi hại vật chất có khi một cách khá ích kỷ theo tinh thần cá nhân chủ nghĩa, người Việt, ngược lại, lúc nào cũng xem quan hệ giữa người với người, đặc biệt trong phạm vi gia đình và bạn bè, là tối thượng, có thể vì nó mà người ta sẵn sàng hy sinh và chấp nhận mọi thiệt thòi.

Tôi rất muốn tin như thế. Và vì muốn tin như thế nên có lần, trong giờ thảo luận về đề tài gia đình trong một lớp học về văn hóa Việt Nam do tôi phụ trách, tôi sững sờ khi nghe một nữ sinh viên người Úc nhận xét: Người Việt Nam, ngay trong đời sống gia đình, có vẻ như rất ít tình cảm.

Xin nói ngay là cô sinh viên Úc tuyệt đối không phải là người kỳ thị chủng tộc. Cô còn trẻ, mới ngoài 20, có bạn trai là người Việt Nam. Họ học chung một lớp ở trung học; đến năm lớp 12 thì yêu nhau, và tình yêu của họ kéo dài đến tận bây giờ, lúc cả hai đã sắp hoàn tất chương trình Cử nhân. Khác với các mối tình học trò ở Úc mà tôi thường chứng kiến, phần lớn chỉ thoáng qua, coi như những cuộc phiêu lưu thú vị nhưng ngắn ngủi, rồi sau đó, “anh đi đường anh tôi đường tôi,” tình yêu giữa hai người này có vẻ rất nghiêm túc. Cả hai đều nghĩ đến chuyện lâu dài. Cô sinh viên Úc, khi vào đại học, ghi danh ngay môn Tiếng Việt, và học rất giỏi. Không những học tiếng Việt, cô còn ghi danh vào tất cả các môn liên quan đến Việt Nam, từ văn hóa đến xã hội và chiến tranh. Cô học một cách cần cù, say mê và đầy quyết tâm. Mỗi lần chuyện trò, nhắc đến bạn trai và gia đình bạn trai, bao giờ cô cũng nói với một giọng âu yếm và đầy tha thiết. Cô vừa đi học vừa đi làm. Cuối năm, với số tiền dành dụm được, cô và bạn trai lại lặn lội về Việt Nam, đi thăm từ Nam chí Bắc, quan sát nếp sống và văn hóa Việt Nam cũng như cố gắng thực tập tiếng Việt. Dạy học đã khá lâu, thú thực, tôi chưa từng gặp một sinh viên Úc, nhất là sinh viên nữ nào, lại yêu một cách say đắm đến như vậy. Yêu một người rồi yêu một gia đình và cuối cùng, yêu một đất nước nghèo nàn và xa lạ.

Xin mở một dấu ngoặc: Ở trên, tôi nhấn mạnh “nhất là sinh viên nữ.” Lý do là, trong gần 20 năm dạy tiếng Việt tại trường đại học Úc, tôi thường thấy các sinh viên Úc học tiếng Việt vì một trong ba lý do chính: vì nghề nghiệp (chủ yếu là một số nghề có liên quan ít nhiều đến cộng đồng Việt Nam: nhân viên xã hội, cảnh sát, giáo viên, v.v...); vì văn hóa (để biết thêm một cái gì khác và mới); và vì lý do tình cảm: có chồng/bạn trai hoặc vợ/bạn gái là người Việt. Thuộc loại cuối, theo ghi nhận của tôi, bao giờ nam cũng nhiều hơn nữ. Nói cách khác, một người đàn ông Úc có vợ hoặc bạn gái người Việt dễ có khuynh hướng học tiếng Việt hoặc thậm chí, ăn uống theo lối Việt Nam hơn là một phụ nữ Úc có chồng hoặc bạn trai người Việt. Tại sao có hiện tượng đó? Để trả lời một cách thuyết phục, chúng ta cần có những công trình nghiên cứu công phu và nghiêm túc, những điều nằm ngoài phạm vi của bài viết này. Xin đóng ngoặc.

Trở lại với cô sinh viên Úc nêu trên. Nghe cô nhận xét là người Việt Nam, ngay trong phạm vi gia đình, có vẻ ít tình cảm với nhau, tôi rất ngạc nhiên và yêu cầu cô giải thích thêm.

Hơi có chút lúng túng, cô nhấn mạnh là những nhận xét của cô đều có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa, xuất phát từ những gì cô nhìn thấy từ gia đình và đại gia đình của người bạn trai. Chúng có thể không đúng. Nhưng tôi khuyến khích cô nói, cuối cùng, cô cũng cho biết: Lần đầu tiên cô đến nhà bạn trai của cô là nhân dịp sinh nhật của anh. Cũng có quà cáp. Cũng có bánh sinh nhật. Và cũng có đèn cầy. Như mọi gia đình Úc khác. Nhưng sau khi người bạn trai thổi đèn cầy và sau bài hát mừng sinh nhật, cô hình dung là mọi người trong gia đình sẽ ôm bạn trai của cô. Cô đứng lùi ra sau, dựa vào vách để nhường mọi người. Nhưng cô ngạc nhiên thấy chẳng ai ôm hay bày tỏ tình cảm gì với bạn trai của mình cả. Hát xong, thổi tắt đèn cầy xong, các phụ nữ trong gia đình, từ mẹ đến bà ngoại người bạn trai của cô, đều chạy ùa vào nhà bếp để chuẩn bị thức ăn; còn cánh đàn ông thì loay hoay chạy đi tìm bia rồi í ới cụng ly nhau: “Dzô! Dzô!” Hết.

Từ đó, cô tiếp tục quan sát. Suốt mấy năm liền, đến nhà bạn trai vài lần một tuần; cũng như cùng bạn trai về thăm họ hàng ở Việt Nam mỗi năm một hai lần, cô hoàn toàn không bắt gặp một biểu lộ tình cảm nào giữa những người thân trong gia đình cả. Xa nhau cả mấy tháng hay cả năm, gặp nhau, mọi người nhìn nhau, cười. Rồi thôi. Không một cái ôm. Không một sự âu yếm nào, dù thật nhỏ.

Một sinh viên Việt Nam trong lớp cũng nêu một nhận xét tương tự. Cô là du học sinh; bố mẹ còn ở Việt Nam. Sau mấy năm xa cách, bố mẹ cô quyết định sang Úc thăm cô. Cô ra phi trường đón. Đã ít nhiều quen với lối sống ở Úc, cô tưởng tượng gặp nhau, mọi người sẽ ôm chầm lấy nhau. Nhưng không. Gặp cô, bố mẹ cô chỉ cười nhẹ rồi nhìn quanh, ngắm cái này ngắm cái khác. Cô tiu nghỉu. Và buồn. Thấy có cái gì như hững hờ trong tình cảm của bố mẹ đối với cô.

Cô sinh viên người Úc nói thêm: Cô nghi ngờ cái gọi là sự đùm bọc của người Việt Nam. Cô cho biết mẹ và dì của bạn trai cô sống với nhau. Cả hai đều góa chồng. Đối với người Tây phương, hai chị em, dù trong hoàn cảnh như thế, cũng hiếm khi sống chung với nhau, nhất là khi họ còn khá trẻ. Nhưng người Việt thì khác. Sống chung sẽ đỡ được nhiều gánh nặng về kinh tế. Nhưng cô không tin là có lợi về tình cảm. Cô nhận thấy, dù sống chung với nhau, hai người, nếu không cãi cọ thì cũng thường xuyên hậm hực với nhau. Gặp chị thì nghe nói xấu em. Gặp em thì nghe nói xấu chị.

Một sinh viên Việt Nam khác, sành về văn chương Việt Nam, nhắc đến các cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, để chứng minh quan hệ trong gia đình và đại gia đình Việt Nam, ngay từ xưa đã không hoàn toàn thuận thảo. Thì mọi người thuộc nhiều thế hệ sống chung dưới một mái nhà. Có vẻ ấm áp. Nhưng quan hệ giữa họ với nhau thì có thật lắm vấn đề. Giữa bố mẹ chồng và con dâu. Giữa anh em với nhau. Giữa đám con rể và đám con dâu. Lúc nào dường như cũng có các cuộc chiến tranh âm ỉ.

Qua những phát biểu của các sinh viên ở trên, tôi chưa muốn vội đi đến kết luận là người Việt ít tình cảm. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh điều này: sự phân biệt Đông và Tây bằng cách cho bên này là duy tình và bên kia là duy lý, theo tôi, chỉ là một sự phân biệt hời hợt. Sống ở Tây phương khá lâu, tôi đã từng cảm động trước tình cảm của một số bạn bè người Úc đối với gia đình của họ cũng như bạn bè của họ. Cũng như, cách đây bốn năm năm, tôi rất cảm động khi xem tivi, thấy tường thuật việc mấy người cựu chiến binh Úc đã lặn lội về Việt Nam tìm xác đồng đội của mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam hơn bốn mươi năm về trước. Vì tình bạn, họ đi Việt Nam, tìm về những chiến trường cũ, thuê người đào bới khắp nơi để tìm xác đồng đội. Công việc nặng nề, cực nhọc, có lúc gần như tuyệt vọng. Cuối cùng họ cũng tìm ra được một số mẩu xương. Họ gửi về Úc để thử nghiệm. Khi biết chắc chắn đó là hài cốt của đồng đội, họ mới báo tin cho chính phủ Úc và thân nhân của những người ấy. Trước những việc làm như thế, chẳng lẽ chúng ta lại cứ khăng khăng cho là người Tây phương nặng về lý trí hơn tình cảm ư?

Tôi chỉ muốn lưu ý là chắc chắn người Việt không thiếu tình cảm, nhất là tình gia đình. Vấn đề chỉ là cách biểu hiện tình cảm của họ khác với người Tây phương. Vậy thôi.

Nhưng cái khác ấy có nên hay không?

Sau khi mẹ tôi qua đời vào năm 2000, một trong những điều khiến tôi ân hận nhất là, nhớ lại, thấy dường như, từ lúc trưởng thành, chưa bao giờ tôi ôm bà, vỗ về bà và nói thương bà. Như điều tôi thường làm với bạn bè người Úc.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Người Việt Thích Nổ

Nguyễn Hưng Quốc
14.04.2015

Năm 2011, nhân các thảm họa xảy ra tại Nhật, giới cầm bút hay nói đến văn hóa ứng xử của người Nhật, từ đó, ít nhiều liên hệ đến người Việt.

So sánh người Việt và người Nhật, chắc chắn chúng ta thua nhiều thứ. Nhưng có một điều chúng ta nhất định không thua: tật nổ.

Tôi không nói đến từng cá nhân. Từ góc độ cá nhân, ở đâu chúng ta cũng có thể bắt gặp những kẻ khoác lác. Người Việt Nam chưa chắc đã hơn. Thậm chí còn thua nữa là khác. Ở đây, tôi muốn nói đến người Việt với tư cách một tập thể.

Sống ở Úc khá lâu, tôi chỉ nghe người Úc, từ giới chính trị gia đến giới trí thức hay giới bình dân, hay nói Úc là một quốc gia may mắn (lucky country), nhưng thường thì người ta nhấn mạnh thêm: May mắn, chưa đủ; Úc cần phải trở thành một quốc gia giàu kỹ năng (clever country), hoặc, hơn nữa, một quốc gia giàu sáng kiến (smart country). Đất rộng và nhiều tài nguyên thiên nhiên, chưa đủ; người Úc cần có chiến lược thật sáng suốt để khai thác và tận dụng những của cải Trời cho ấy.

Ở Việt Nam thì ngược lại. Ở đâu chúng ta cũng nghe những tiếng nổ um trời. Trên báo chí. Trên tivi. Trên các đài phát thanh. Về địa thế thì Việt Nam nằm ở điểm giao lưu của hai nền văn hóa cổ kính và lớn nhất châu Á: Trung Hoa và Ấn Độ. Về thiên nhiên thì “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”. Về lịch sử thì đánh thắng hết đế quốc này đến đế quốc khác. Về đảng và lãnh tụ thì là “đỉnh cao trí tuệ của nhân loại”. Còn về con người thì toàn là anh hùng, ra ngõ là gặp ngay anh hùng, khiến cả thế giới đều ngưỡng mộ; ngưỡng mộ đến độ nhiều người ngoại quốc cứ mơ ước có một phép lạ nào đó biến mình thành... người Việt Nam.

Nhiều người đã phê bình cái tính thích nổ ấy. Sớm, thẳng thắn và cay đắng nhất là Nguyễn Duy trong bài thơ “Nhìn từ xa... Tổ quốc” sáng tác năm 1988, trong đó có mấy câu:

xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày?
[...]
Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học

lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
[...]
Xứ sở thật thà
sao thật lắm thứ điếm
điếm biệt thự - điếm chợ - điếm vườn...

Tuy nhiên, ở đây, tôi sẽ không bàn đến khoảng cách giữa những điều người ta tuyên truyền và thực tế. Tôi chỉ muốn tập trung vào một sự nghịch lý khác: trong sự khoác lác của người Việt, đặc biệt của bộ máy tuyên truyền, có cái gì như thiếu tự tin, nếu không muốn nói thẳng ra là tự ti. Mà thật ra, về phương diện tâm lý, sự khoác lác thường xuất phát từ sự tự ti hơn là tự hào thực sự. Và vì tự ti cho nên khi khoác lác, người ta hay cầu cạnh đến một số thế lực khác, chủ yếu là từ người ngoại quốc.

Chuyện báo chí Việt Nam đánh bóng tên tuổi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cách đây mấy năm là một ví dụ điển hình (1). Người Việt khen nhau, người ta thấy chưa đủ. Người ta cần một người ngoại quốc. Nếu không có người ngoại quốc có thẩm quyền thì người ta bắt đại một ông chuyên về rác và các loại chất phế thải. Nếu không có thật thì người ta bịa. Tiêu biểu nhất là vụ Vũ Hạnh bịa ra cái tên A. Pazzi, một người Ý, khi in cuốn Người Việt cao quý ở Sài Gòn vào năm 1972. Sau này, Vũ Hạnh tiết lộ là động cơ chính thúc đẩy ông viết cuốn sách ấy là để kích động lòng tự hào dân tộc, từ đó, gián tiếp tiếp sức cho phong trào phản chiến và chống Mỹ do cộng sản chủ trương lúc ấy. Nhưng để kích động lòng tự hào dân tộc mà lại phải mượn một cái tên ngoại quốc, kể cũng mỉa mai quá, phải không?

Những chuyện mượn danh và uy tín của người ngoại quốc để tự khen mình hoặc để chứng minh điều gì đó là đúng nhan nhản trên sách báo và ở các hội trường tại Việt Nam. Trong viết lách, nhiều người cho việc trích dẫn một tác giả Việt Nam khác là xoàng. Trích dẫn, phải trích dẫn một tác giả ngoại quốc mới là sang. Không đọc được ngoại ngữ thì trích dẫn qua trung gian của một tác giả Việt Nam khác nhưng lại giấu nhẹm tên tuổi tác giả Việt Nam ấy đi!

Chán.

***

Chú thích:
1.Xem bài ““Báo chí nước ngoài” ca ngợi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng? Thật ra chỉ là một trò lừa bịp!” của Nguyễn Tôn Hiệt trên http://tienve.org/home/activities/viewT ... rkId=11922 và bài “Thông Tấn Xã Việt Nam biến rác thành vàng để lừa bịp nhân dân” cũng của Nguyễn Tôn Hiệt trên http://tienve.org/home/activities/viewT ... rkId=11928.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Hillary Clinton với đường hướng mới trong cuộc tranh cử

HÀ TƯỜNG CÁT

Hãy còn quá sớm để dự đoán về cuộc tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2016. Nói rằng một ứng cử viên – đã hay chưa chính thức công bố
tranh cử – đang lên hay đang xuống theo thăm dò dư luận lúc này, sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với kết quả vào tháng 11 năm 2016.
Nhưng các nhân vật có triển vọng kế vị Tổng Thống Obama không thể chậm trễ, họ phải khởi đầu cuộc vận động ngay từ bây giờ.


Image
Dân Biểu Liên Bang Carolyn Maloney, DC-NY, nói chuyện với những người ủng hộ bà Hillary Clinton trong một cuộc mít tinh tại Manhattan
hôm Thứ Bảy 11 tháng 4, trước khi bà chính thức công bố tranh cử Tổng Thống. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)



Bà Hillary Rodham Clinton vừa công bố quyết định tranh cử hôm Chủ Nhật. Trên thực tế, bà được coi như dễ dàng thắng ở vòng bầu cử sơ bộ trong đảng Dân Chủ, có nghĩa là khác với các ứng cử viên Cộng Hòa còn cần phải tranh đấu gay go để được đảng mình tấn phong làm ứng cử viên vào giữa năm tới. Như vậy cần chi bà phải loan báo ngay như vậy?

Theo nhận định của tờ báo chính trị Politico, có ba nguyên nhân.

Thứ nhất về luật pháp. Bà đã ký hợp đồng mướn một văn phòng rộng lớn ở Brooklyn làm trụ sở tranh cử trung ương. Theo quy định của Ủy Ban Bầu Cử Liên Bang (FEC), trong vòng 15 ngày khi bắt đầu hoạt động tranh cử, phải làm giấy tờ hồ sơ tuyên bố sự ứng cử.

Thứ hai về khía cạnh chính trị. Khi bà Clinton bị phát hiện và chịu nhiều chỉ trích về vấn đề sử dụng tài khoản emails cá nhân trong thời gian làm ngoại trưởng, bà cố ý trả lời một cách chung chung các lời chất vấn, không giải đáp thỏa mãn các thắc mắc. Việc này làm những người ủng hộ bà lo ngại rằng nếu chưa có một bộ máy tranh cử bà sẽ không nhanh chóng đối đầu được với sự đánh phá của đối phương.

Nguyên nhân thứ ba có tính cách tâm lý. Mọi người đều biết là bà sẽ ứng cử Tổng Thống, vậy tại sao không xác định dứt khoát cho rồi?

Nữ ký giả kỳ cựu có tên tuổi Maureen Dowd trong một bài viết trên tờ New York Times hôm Thứ Bảy, mang tựa đề “Bà ngoại Tổng Tư Lệnh”, phân tích những ưu điểm và nhược điểm của bà Hillary Clinton để dự đoán về cách thức bà sẽ thực hiện trong cuộc tranh cử.

Dowd so sánh John F. Kennedy người có sức thu hút tự nhiên đối với quần chúng, với Richard Nixon người không có khả năng ấy và phải cố gắng tiếp cận từng người để thu phục. Bà Hillary cũng không có sức hấp dẫn như ông chồng, cựu Tổng Thống Bill Clinton, và bà đã có lần thổ lộ với cố vấn Harold Ickes: “Tôi chưa bao giờ nhận ra ưu điểm ấy của Bill, cho đến khi hiểu và cố gắng để được như thế”.

Pat Buchanan, một cựu cố vấn cho Nixon, gần đây nói với tờ tạp chí New York Magazine: “Bà Clinton gợi tôi nhớ lại Nixon”. Theo ông ta, tâm lý hoang tưởng, tính cách bí ẩn và những chuyện tai tiếng – như vụ emails – có thể làm bà rớt đài như vị cựu Tổng Thống Cộng Hòa đã phải từ chức. Ông cho rằng hai người là những chính trị gia thích hợp với những hoạt động hậu trường hơn là trước quần chúng.

Từ đó ký giả Dowd dự đoán bà Clinton sẽ theo phương cách của Nixon chinh phục quần chúng từng người, ở giai đoạn đầu và còn sớm của cuộc tranh cử. Bởi vì bà không thể nào có được cái tác phong cảm hóa cử tri như Bill Clinton hay Barack Obama. Do đó ban tranh cử đã hoạch định cho bà một loạt những sinh hoạt khiêm nhượng, trong phạm vi nhỏ để cảm hóa cử tri. Các chiến lược gia Dân Chủ nói với hai ký giả Anne Gearan và Dan Balz của tờ Washington Post rằng “đường lối chậm rãi và nhỏ bé” sẽ tạo sức mạnh cho bà Clinton.

Bà Clinton không khởi đầu sự ra mắt cử tri giống như Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Ted Cruz với bài diễn từ đọc trước một cử tọa đông đảo tại Liberty University hay những buổi hội kéo dài của Thượng Nghị Sĩ Rand Paul ở Louisville. Bà chỉ công bố quyết định qua một đoạn băng video dài 2 phút. Theo dự trù, bà sẽ xuất hiện trước cử tri trong chuyến đi 4 tiểu bang trong tháng 5 khởi đầu từ Iowa và New Hampshire, hai tiểu bang sẽ tổ chức bầu cử sơ bộ sớm nhất vào đầu năm 2016.

Bà Clinton cũng có thể rút nhiều bài học từ Rahm Emanuel trong cuộc tái tranh cử thị trưởng Chicago rất khó khăn vừa qua. Rahm là giám đốc ủy ban tài chính cho ủy ban tranh cử của Bill Clinton năm 1992, cựu Đổng Lý Văn Phòng tòa Bạch Ốc cho Tổng Thống Obama trong hai năm đầu, sau đó từ nhiệm và đắc cử trở thành thị trưởng dân Do Thái đầu tiên của thành phố Chicago năm 2011. Rahm không dễ dàng tái đắc cử năm 2015 như dư luận chờ đợi mà phải vất vả qua vòng thứ nhì mới thắng cử, do nhiều vấn đề phức tạp của Chicago và đồng thời cũng do cá tính không dễ cảm mến của ông.

Tổng Thống Obama ca ngợi Hillary Clinton có sự phi thường của chính bà và tin rằng nếu thể hiện được tính cách ấy và có những sửa đồi khôn ngoan, bà sẽ trở thành người tuyệt diệu.

Năm 1992, các chiến lược gia của Tổng Thống Bill Clinton đã tìm cách mô tả đệ nhất phu nhân Hillary là một người mẹ nồng nàn, khả ái. Một phần tư thế kỷ sau trên sân khấu chính trị quốc gia, bây giờ bà ngoại 76 tuổi vẫn còn cần phải điều chỉnh lại hình ảnh về mình.

Người ta muốn hiểu lập trường của bà về những vấn đề dân sinh, kinh tế, quốc nội và đối ngoại như thế nào. Nhưng hãy còn quá sớm để bà biểu lộ quan điểm rõ ràng. Bà còn cần phải cân nhắc, nhận định về những thành quả và vấp váp của Tổng Thống Obama không phải ngay bây giờ mà ít nhất một năm nữa. Mặt khác, bà chưa thể biết đối thủ của mình sẽ là nhân vật Cộng Hòa nào nên không thể vội vàng ra đòn trước.

Những người Cộng Hòa sẽ phải tránh vấn đề tế nhị về giới tính khi tấn công người phụ nữ đầu tiên muốn trở thành Tổng Thống Hiệp Chúng Quốc. Nhưng họ đã chuẩn bị sẵn rất nhiều đề mục và ngay khi bà công bố ứng cử, những người Cộng Hòa lên tiếng chỉ trích, phê phán về một loạt nội dung khác nhau. Lập luận rằng tính cách tiếp nối gia đình trong chính trị từ Bill tới Hillary là không tốt đối với chế độ dân chủ Mỹ có thể là võ khí hiệu quả nếu như không có Jeb Bush và Rand Paul trong hàng ngũ Cộng Hòa. Do đó có lẽ trọng tâm công kích sẽ nhắm vào việc bà là một phần trong đường lối ngoại giao của chính quyền Obama và chính sách ấy không được sự tán thành của đa số quần chúng cử tri. Tính cách khả tín của cá nhân bà sẽ bị đả kích qua vụ emails.

Cựu Tổng Thống Bill Clinton có thể là một tài nguyên tốt cho việc vận động, tuy nhiên cũng có những điểm bất lợi. Kinh nghiệm thất bại của bà trước Obama trong giai đoạn bầu cử sơ bộ năm 2008 là kinh nghiệm đáng phải cân nhắc. Tờ New York Times trong tháng 3 đã dự đoán Bill sẽ không xuất hiện nhiều, trong khi Politico số báo mới đây cho rằng hai người đã tìm ra phương cách phối hợp hiệu quả hơn.

Mối quan hệ với truyền thông rất quan trọng và bà Clinton chưa phải là người sẵn sàng đáp ứng tất cả những cái mà các phóng viên muốn tìm hiểu. Cựu Tổng Thống Bill Clinton có lẽ có vai trò trong việc này. Ngoài ra gần đây một loạt những nhân sự mới được tuyển vào ban vận động cho thấy dường như bà Clinton muốn tăng cường các người có liên hệ tốt với báo giới. Các phóng viên thường chú trọng đến những sự kiện lớn và những cuộc vận động trong phạm vi nhỏ thường không phải là mục tiêu nhắm tới, do đó cần phải có phương cách thỏa đáng để bà không có lúc bị gạt qua trong những tin tức hàng đầu của cuộc tranh cử.

Tài chính luôn luôn là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc bầu cử và càng ngày tiền vận động của các ứng cử viên càng lên cao tới những con số kỷ lục. Tin tức từ nội bộ ban tranh cử tiết lộ rằng bà Clinton dự tính vận động gây quỹ được từ $1.5 đến $2 tỷ, vượt số $1.1 tỷ của Obama năm 2012.

Bà Clinton có thể là ứng cử viên thu được nhiều tiền nhất từ trước đến nay nhưng chắc chắn ứng cử viên đối thủ, một người Cộng Hòa nào đó, cũng không thua kém. Cộng thêm với tiền chi ra của các “siêu ủy ban chính trị” và những nhóm ngoại vi khác, cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2016 của hai đảng dự đoán sẽ tốn kém không dưới $5 tỷ.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

'Ngày Ðại Họa'

Lê Tuấn

(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Ðời Tị Nạn)

Trước năm 1975, tôi là sĩ quan bộ binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ ngày ra trường đến ngày mất nước, 30 Tháng Tư 1975,
biên cương là nhà và ít khi tôi có dịp về thăm cha mẹ. Mỗi lần tôi được vài ngày phép về, mẹ tôi mừng mừng tủi tủi và nói:
“Con lớn rồi sao không lập gia đình, ưng cô nào cha mẹ cưới cho, có cháu nội cha mẹ vui.”
Image
Trong tù cải tạo. Cảnh trong phim Vượt Sóng của đạo diễn Hàm Trần. (Hình: Internet)



Tôi chỉ cười hề hề và nói: “Từ từ mẹ ạ,” và tôi giải thích cho mẹ tôi hiểu: “Con bây giờ ở nơi tiền tuyến, từng giây, từng phút đối diện với quân thù không biết việc gì xảy ra cho con, độc thân thì quá dễ chẳng liên lụy với ai cả, nếu có vợ có con thì thật là phiền phức, cảnh vợ góa, con côi tội lắm, hơn nữa con và vợ con chỉ gần nhau vài ngày một năm thì đâu có hạnh phúc, chỉ gây thêm cảnh kẻ nhớ người mong, mẹ ạ.” Nghe tôi giải thích, mẹ tôi lặng thinh.

Thế rồi ngày 30 Tháng Tư năm 1975 ập đến đem tang tóc cho cả miền Nam Việt Nam. Ðơn vị tôi lúc đó chạy về Thủ Ðức, sau khi nghe lệnh đầu hàng, tôi rất bàng hoàng và buồn bã trước cái cảnh chia tay giữa đồng đội đã từng sống chết bên nhau, chia nhau từng mẩu thuốc, bây giờ mỗi người tự lo liệu lấy. Khi mọi người đi hết còn lại một mình tôi đứng ngoài hàng hiên một ngôi nhà ngói cũ xưa.

Tôi rút khẩu colt 45 định kết liễu đời mình cho xong thì nghe tiếng gọi: “Anh Tuấn vào đây thay quần áo kẻo nguy hiểm lắm.” Tôi quay lại thấy một thiếu nữ đứng bên cửa, không hiểu sao cô lại biết tên tôi, thì ra tôi còn mặc bộ quân phục, cấp bậc và bảng tên còn nguyên vẹn. Cô đưa cho tôi bộ thường phục và đôi dép. Tôi thay quân phục và cô đem khẩu colt 45 ném xuống giếng bên cạnh nhà. Tôi cảm ơn cô và vội vàng hòa với dòng người di tản về Saigon, về đến nhà mới hay mình mặc áo đàn ông nhưng quần đàn bà.

Nghe tin phải trình diện cải tạo vào sáng mai, chiều hôm đó tôi gấp bộ đồ và đôi dép, đạp xe lên Thủ Ðức để trả lại và cám ơn cô vào khoảng 4 giờ chiều. Cô mời tôi vào nhà và nói: “Cha mẹ em đi Biên Hòa thăm người bà con mới chết, có một mình em ở nhà thôi.”

Tôi và cô nói chuyện đến 6 giờ chiều vẫn chưa thấy cha mẹ cô về, chúng tôi hỏi thăm nhau gia cảnh và đủ thứ chuyện, cô rất lo lắng cho số phận của các sĩ quan đi trình diện cải tạo ngày mai, cô cho tôi địa chỉ và tên họ “Tô Mỹ Phương” cái tên sao mà đẹp quá, tôi nói đùa: “Bộ em là cháu nội của Tô Ðông Pha hay là Tô Ðịnh?” Cô trả lời, “em hổng biết.” Sau cùng trời chuyển mưa, tôi tạm biệt ra về, trong lúc chia tay mắt cô ứa lệ và không hiểu tại sao mà chúng tôi ôm nhau rồi hôn nhau, trong lúc đó tay tôi đụng hẹ vào ngực cô (bên ngoài áo và chỉ vô tình thôi nhé). Cô nói với tôi: “Nụ hôn đầu tiên.”

Thời gian cải tạo lúc ở Long Khánh, Phú Quốc, Hoàng Liên Sơn, khi quân Tàu đánh Lạng Sơn thì di chuyển về Vĩnh Phú. Cô thăm nuôi tôi cả thảy 10 lần, 6 lần ở trong Nam và 4 lần ở ngoài Bắc, lần cuối cùng cô thăm tôi là lúc tôi đang bệnh rất nặng, tôi phải nhờ bạn bè dìu ra và đem đồ thăm nuôi vào trại. Tối hôm đó, tôi hôn mê không còn biết cô đã tiếp tế những thứ gì. Theo bạn bè kể lại, tôi đã chết lúc gần sáng, sáng hôm sau cán bộ cho hai người đào huyệt và sau đó cho hai người khiêng tôi đem chôn, nhưng khi đến nơi huyệt còn nông quá phải cho đào sâu thêm. Họ đặt tôi nằm bên cạnh và cả bốn người cùng đào. Khi xong thì tôi hồi tỉnh lại, thở và chân tay cử động nhẹ. Cán bộ ra lệnh chôn nhưng bốn người bạn năn nỉ xin đem tôi về trại. Cán bộ quyết định chôn và nói: “Trước sau gì nó cũng chết, chôn để khỏi mất thì giờ.” Cả bốn người bạn năn nỉ mãi và cuối cùng tôi được khiêng về trại. Anh em lấy đồ tiếp tế của tôi gồm một ít sữa bột, vài ký gạo, thuốc tây, anh em cho tôi uống sữa và uống thuốc nhưng mất cả 3 tháng trời tôi mới tạm bình phục.

Khoảng 3, 4 năm sau tôi không thấy cô đến thăm, tôi buồn và đặt nhiều nghi vấn, tôi tự hỏi, có thể cô đã sang sông hay việc gì chẳng lành đã xảy ra... “Chết hay cô đã đi lấy chồng?”

10 năm sau tôi được tha về, việc đầu tiên là đi thăm mộ cha mẹ tôi đã qua đời khi tôi còn ở trong tù, hôm sau đạp xe lên Thủ Ðức thăm cô và gia đình cùng cám ơn cô đã thăm nuôi tôi. Vừa bước vào nhà, tôi thấy hình cô trên bàn thờ, lòng tôi quặn đau, nước mắt cứ tuôn trào, tôi khóc và khóc rất nhiều không nói nên lời. Mười phút sau tôi mới thưa chuyện được với cha mẹ cô và được ông bà cho biết, cô chết sau khi ra Bắc thăm nuôi tôi trở về đến Quảng Bình xe bị tai nạn, vì đường sá xa xôi khó khăn, khi gia đình biết tin ra đến Quảng Bình thì cô đã được chôn cất ở nghĩa trang. Ba năm sau, gia đình ra Quảng Bình để đem hài cốt về thì nghĩa trang đã bị giải tỏa để xây nhà cho cán bộ, không biết hài cốt để đâu?

Nghe kể đến đó, tôi lại khóc và thưa: “Thưa hai bác, vì con mà Phương chết, xin hai bác tha thứ cho con.” Ông bà cũng sẵn lòng thông cảm vì chuyện đã rồi.

Thời gian được tha về, thỉnh thoảng tôi đến thăm ông bà, sau mấy lần vượt biên thất bại, sau cùng tôi đi đường bộ sang Campuchia và Thái Lan. Năm 1987, tôi đến Hoa Kỳ, cố gắng học hành và có việc làm ổn định. Tôi đã lấy tên bài hát “10 năm yêu em và cũng là mãi mãi” của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng để làm kim chỉ nam cho cuộc sống và thường giúp đỡ cha mẹ Phương hàng năm.

Tháng 5, 2010, tôi về hưu, trong lúc nhàn rỗi, tôi làm một chuyến du lịch Hồng Kông-Trung Quốc-Thái Lan-Việt Nam, lần này cũng như ngày ra tù, việc đầu tiên là đi thăm mộ cha mẹ tôi, hôm sau đi Thủ Ðức thăm cha mẹ Phương.

Nhiều năm xa cách, ông bà không nhận ra tôi, sau khi tôi giới thiệu mới nhận ra nhau, thế là trong nhà như có đám tang, chúng tôi ôm nhau khóc đến nỗi hàng xóm chạy qua xem có chuyện gì xảy ra.

Trong lúc ăn cơm, ông bà hỏi tôi gia cảnh, đời sống bên Mỹ và đủ thứ chuyện, sau cùng ông bà muốn đề nghị “tình chị duyên em” nghĩa là tôi cưới em của Phương là Tô Mỹ Phượng là dược sĩ. Tôi trả lời: “thưa hai bác, cho con suy nghĩ.”

Về đến Mỹ tôi suy nghĩ nhiều, Phương đã chung tình và hy sinh cả mạng sống để cho tôi được sống, vậy bây giờ tôi phụ tình sao? Hơn nữa 60 năm cuộc đời, bây giờ tôi đã lố 6 năm, vậy còn gì là đời nữa. Kính mong quý vị cho vài lời khuyên sao cho “tốt đạo đẹp đời,” đẹp lòng người chết và vui lòng người sống.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Bia Đá Mọc Rất Lạ
Cô Tư Sài Gòn

Image
Di tích quốc gia Đền Trần bỗng xuất hiện những tấm bia lem nhem, 'nửa Tây nửa Ta'.



Bia là một tảng đá dựng lên thường mang những dòng chữ để ghi về một sự kiện nào. Như thế, bia mang theo cảm xúc của người dựng bia.

Bia thường gặp nhất là bia mộ, ghi tên tuổi một người đã quá cố. Có khi, bia để vinh danh người đã chết.

Nhưng bia cũng để hài tội, hạch tội người quá cố. Thí dụ, như câu chuyên của nước Tàu xa xưa, khi đời sau dựng bia Tần Cối để mắng viên quan hung hiểm bạo ác này.

Bia tuyệt vời nhất bao giờ cũng từ lòng yêu thương: như trụ đồng Mã Viện dựng lên, thế là dân Việt Nam dồn đá vào, biến trụ đồng trở thành núi đá sừng sững, đây là tấm lòng người dân dựng núi bia đá thuần túy vì lòng yêu nước.

Bia không nhất thiết là cụ thể như bia đá. Ông bà mình có câu:

"Trăm năm bia đá cũng mòn,
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ".

Như thế, bia trở thành mục tiêu để người đời sau bắn cung tên (hay bằng miệng như dùng ngôn ngữ).

Bởi vậy, ông bà mình thường khuyên là hãy nghĩ tới những cái chết trong sạch, để giữ danh thơm, chớ đừng biến thành tấm bia cho người đời sau bắn vào.

Nên ca dao có câu, mượn chuyện con cò để nói lên:

Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”...

Có khi, dân nhậu buồn quá, trong xã hội naỳ, bèn làm thơ chế:

Trăm năm bia đá cũng mòn.
Bia chai cũng vỡ chỉ còn bia ôm...

Trời ạ... sao lại lấy tấm thân phụ nữ mà vui. Phaỉ biết trân quý họ chớ. Phụ nữ đâu phải là đồ chơi lăn lóc giữa các bia chai...

Mới đây, lại có chuyện bia.

Thông tấn TTXVN có bản tin tựa đề “Tự tiện đặt bia ở đền triều Trần: Vi phạm Luật di sản văn hóa” trong đó, ghi nhận:

“Liên quan đến việc “dựng chui” bia đá tại di tích cấp quốc gia đặc biệt Khu di tích lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình đã có văn bản số 35/BC-SVHTTDL báo cáo Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Bình về vụ việc; đồng thời, kiến nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo khắc phục những sai phạm, khiếm khuyết trong quá trình tu bổ, tôn tạo tại di tích này.

Theo báo cáo của Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, sau khi nhận được thông tin Ban quản lý di tích Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần huyện Hưng Hà dựng bia tại di tích cấp quốc gia đặc biệt; ngày 20/4 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình đã tổ chức đoàn kiểm tra tại di tích. Tại thời điểm kiểm tra, Ban quản lý di tích huyện Hưng Hà đã hoàn tất việc dựng bia.

Cụ thể, tại đền thờ các vị vua triều Trần đã dựng bia có kích thước cao 2,75m, rộng 1,7m, chân bia cao 0,5m làm theo hình thức “rồng ổ.” Chất liệu bằng đá xanh; lòng bia (mặt trước) khắc nội dung văn bia “Trần triều đế miếu” bằng tiếng Việt và tiếng Anh.

Trước đền Thánh và đền Mẫu cũng dựng ở mỗi bên một bia đá có kích thước như bia dựng tại đền Vua nhưng hình thức chân bia ở đền Thánh khắc hình tượng “rùa đội bia,” chân bia ở đền Mẫu khắc họa hình tượng hoa Sen; nội dung văn bia “Đức Thánh Trần linh từ” và “Mẫu Trần triều linh từ”, thể hiện bằng tiếng Việt và tiếng Anh trên cùng một mặt.

Tại khu mộ các vị Vua Trần, phía trước 3 gò mộ đều được dựng thêm 1 bia đá xanh có kích thước cao 2,42m, rộng 1,47m, chân bia cao 0,35m khắc họa hình tượng rùa đội bia, nội dung 3 bia đá dựng mới này thể hiện bằng tiếng Anh. (Trước lễ hội Xuân năm 2014, Ban quản lý di tích huyện Hưng Hà đã cho dựng 2 tấm bia, một tấm bằng đồng và một tấm bằng đá).

Nội dung các văn bia được Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình đánh giá là thể hiện nhiều điểm sai lệch về nội dung, lời văn lủng củng, sử dụng văn cổ kết hợp với văn hiện đại, không đúng với ngữ pháp tiếng Việt, bản văn bia thể hiện bằng tiếng Anh lẫn lộn tiếng Việt không phù hợp với nguyên tắc dịch thuật; hình thức trang trí hoa văn trên các bia, nhất là phần chân bia không tuân thủ theo truyền thống mỹ thuật cổ Việt Nam. Một số bia đã được khắc chữ hoàn chỉnh nhưng lại bị tẩy xóa, sửa chữa nhem nhuốc làm mất mỹ quan nơi di tích tôn nghiêm…”(ngưng trích)

Thế mới lạ.

Có phải mấy anh Bắc Kinh căm thù đời nhà Trần ba lượt ra trận chống Bắc xâm nên bày trờ dựng bia đá quậy chăng?

Nghi ngờ này khả tín... vì chính bản tin cũng nêu ra:

“Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình: Di tích cấp quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) là công trình, địa điểm gắn liền với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử dân tộc....”

Nếu không có Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo, đất nước Việt Nam bây giờ có thê là một tỉnh nhỏ của Tàu rồi vậy.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Đàn Cá trong Ao Bác Hồ và Những Con Chó của Pavlov
Lê Diễn Đức
Kể về bản thân là chuyện nên kỵ. Nói về cái dở thì không sao, nhưng nói cái hay, dễ bị coi là khoe mẽ. Vì thế, tôi thỉnh cầu trước một sự châm chước.

Tôi có ý định lấy chính mình làm điểm xuất phát để bàn về một chuyện khác. Về những cay đắng của một con người. Như một ví dụ. Chẳng phải để dạy dỗ ai (làm gì dám cho mình ghê thế!). Cũng chẳng khoác cái áo “dân chủ, nhân quyền” gì ráo trọi. Càng không nhân danh trí thức. Đơn giản chỉ là những nghĩ suy.

Một kinh nghiệm.

Khi mới ở tuổi lên mười, tôi đã đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”. Năm 1967 tôi được Hồ Chí Minh trao phần thưởng cho kết quả học tập xuất sắc với tất cả 14 môn học đạt điểm cao nhất. Đó là một cuốn sổ tay kích thước khoảng 20 x 15cm, giấy trắng tinh, bìa cứng láng bóng, màu xanh dương, có in hình Hồ Chí Minh chụp thẳng và dòng chữ phía dưới “Giải thưởng của Hồ Chủ Tịch”. Với tôi, gia đình, trường học và chính quyền địa phương, giải thưởng này là một vinh dự, vì không phải tỉnh, thành phố nào cũng có thưởng, và nếu có thì chỉ có một hoặc hai người. Buổi trao giải thưởng được tổ chức hào hứng trên sân kho của hợp tác xã, dưới ánh trăng (vì lúc bấy giờ máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc dữ dội, học sinh đi sơ tán ở thôn quê, ban đêm không dám nổi lửa, thắp đèn).

Bà con làng xóm tụ hội rất đông. Ba tôi cảm động đến phát khóc. Tôi nâng niu cuốn sổ tay đến mức không dám xài, lâu lâu lấy ra ngắm nghía ! Tuy nhiên cũng chưa tức cười thảm hại bằng thằng bạn.

Năm 1968, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thăm trường, tặng cho mỗi đứa được cử đi gặp một cục kẹo Hải Châu (thứ cao cấp, hiếm hoi, xa xỉ với lũ học sinh nghèo trong những ngày chiến tranh). Thằng bạn thèm rỏ dãi nhưng trân trọng quá, không dám ăn, để dành làm kỷ niệm. Trời nóng, chỉ vài hôm, cục kẹo chảy nhão nhoẹt dính bê bết với giấy bọc, phải vứt đi. Hắn đi Đông Đức, về nước giảng dạy ở Bách khoa Hà Nội, cho đến giờ. Tôi tin chắc hắn không quên chuyện này!

Tôi sang Ba Lan năm 1969. Cả đoàn du học sinh chúng tôi phải vào nằm viện để bác sĩ khám, tẩy giun sán trước khi được sống chung với người ta tại Trung tâm học tiếng Ba Lan dành cho người nước ngoài. Trong bệnh viện, được báo tin Hồ Chí Minh từ trần, chúng tôi khóc thảm thiết ! Mấy cô y tá Ba Lan ngơ ngác, lúng túng chẳng biết chuyện gì xảy ra !

Chúng tôi đã yêu Đảng, yêu Bác Hồ đến thế ! Đã một thời ngây thơ, ngây ngô như thế !

Đến năm 1994, Kim Nhật Thành chết, xem TV thấy dân Bắc Triều Tiên đứng đông nghẹt hai bên đường ôm nhau gào khóc. Lúc này thì tôi đã bật cười ! Cười cả chính mình ! Tôi cũng đã y chang vậy ngày nào, bị ngu hoá, bị lừa gạt mà không biết.

Phải công nhận các chế độ cộng sản đạt mức siêu đẳng về chuyện nuôi trồng con người theo ý đồ của mình.

Thế hệ tôi và cả xã hội miền Bắc, mỗi một con người được nhào nặn, rèn luyện, nhồi nhét tư tưởng vào trí não, để không còn là mình nữa, chỉ biết suy nghĩ và hành động theo những lời dạy dỗ của Đảng và Bác, đi theo con đường mà Bác và Đảng vạch ra, như con rối, như cái máy. Cái bóng Đảng, Bác…bao trùm lên đời sống.

Phản ứng của chúng tôi chẳng khác gì những con cá trong ao của ông Hồ ở Phủ Chủ Tịch. Không hơn, không kém.

Vào năm 1958, theo yêu cầu của ông Hồ, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đã thiết kế cho ông ngôi nhà sàn theo kiểu của người miền núi, cùng với vườn cây, ao cá.

Ngôi nhà sàn có hai tầng, tầng trên ông Hồ dùng làm phòng ngủ và phòng làm việc trong mùa đông, tầng dưới là nơi ông làm việc vào mùa hè, họp Bộ Chính trị. Ngôi nhà sàn xây dựng xong vào ngày 1/5/1958, bằng gỗ loại bình thường, chiếu theo căn dặn của ông – báo chí viết như thế.

Tuy nhiên, trong thực tế, mãi sau này tôi mới biết, gỗ được sử dụng để làm ngôi nhà sàn “giản dị” thuộc loại tốt. Ngoài ra, sự giản dị này cũng đáng bàn… Bởi vì, ngôi nhà tọa lạc giữa phong cảnh hữu tình, đầy cây cỏ, hoa lá xanh tươi, chim bay, cá lượn bốn mùa. Bác ngồi thư giãn, hút thuốc lá 555 hay xì-gà của Fidel Castro gửi tặng thì còn gì bằng ! Đấy là chưa nói đến chuyện có các nàng tới hầu hạ (như cô Nông Thị Xuân chẳng hạn)! Ngay giữa thủ đô chật hẹp, ồn ào, bụi bặm mà hưởng thụ một dinh cơ tao nhã, thanh bạch như vầy, thì khác gì cuộc sống của Tiên ông dưới trần, quả là chưa có tiền lệ.

Vào thời buổi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lắm đại gia tư bản đỏ “chơi độc” theo gương ông Hồ, cũng xây những dinh thự to rầm theo kiểu nhà sàn bằng toàn gỗ quý, vườn tược được trồng nhiều loại cây kiểng mà một chậu trị giá hàng chục ngàn đôla. Cũng ngay trong lòng Hà Nội.

Hồi nhỏ tôi được nghe nhiều huyền thoại về ông Hồ. Với chúng tôi, tên Hồ Chí Minh đồng nghĩa với đấng siêu nhân, thánh thiện và lòng tôn kính. Ở Nghệ An, có bài đồng giao xem ông Hồ, Tướng Giáp sinh ra như là tất yếu của Trời Đất: “Đụn Sơn phân dái / Hòn Đái thất thanh / Nam Đàn sinh Thánh / Đông Thành sinh Tướng”

Mỗi lần nghe ai kể về đời sống của Bác, nói đến đàn cá trong ao của Bác, lũ trẻ chúng tôi xuýt xoa, phục lăn. Số là đàn cá đông đúc được ông Hồ luyện công phu. Sau một thời gian nhử mồi cám dỗ, ông đã thành công. Khi cho cá ăn, ông chỉ cầm cái que gõ gõ vào cái hộp đựng mồi hay thành bờ ao gì đó.. là cả đàn lúc nhúc bơi lại.

Khi lên cấp 2, bắt đầu học vật lý, tôi không còn phục cao kiến luyện cá của ông Hồ nữa, mà chỉ phục ông ở tính kiên nhẫn. Tôi cúc cục mãi mới tập gọi được đàn gà. Còn dạy cá đâu phải giỡn ! Té ra ông Hồ chỉ thực hành lý thuyết từ xửa xưa của nhà khoa học người Nga Ivan Pavlov, Giải thưởng Nobel Y học năm 1904.

Ivan Pavlov nổi danh từ việc thí nghiệm phản ứng tiêu hoá trên cơ thể chó. Qua nghiên cứu sinh lý học của nước bọt, ông khẳng định rằng, nước bọt không chỉ tiết ra lúc ăn, mà cả trong phản ứng trước bữa ăn. Thức ăn gây chảy nước bọt được gọi là “kích thích ban đầu”, còn tiếng chuông gõ hoặc ánh sáng của cái đèn xuất hiện trước bữa ăn, gọi là loại “thức ăn phụ trợ”. Kích thích chó liên tục một thời gian dài bằng “thức ăn phụ trợ”, cùng lúc với “kích thích ban đầu” để tạo thói quen, ông đã làm chó tiết nước bọt chỉ còn qua sự kích thích thứ cấp. Hiện tượng này được gọi là phản xạ có điều kiện của Pavlov, trái ngược với sự chảy nước bọt bẩm sinh, là phản xạ vô điều kiện.

Thì ra, những con cá của ông Hồ chỉ là một phiên bản nhỏ từ con chó của Pavlov.

Phiên bản lớn mới thật hãi hùng.

Người ta nói Việt Nam là một nhà tù lớn, hay cả quốc gia đang bị nhốt trong cái cũi.

Trong cái cũi này, giống như đàn cá trong ao, ông Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng muôn vàn “thức ăn phụ trợ” để “trồng người” vì “hạnh phúc trăm năm” của… Đảng.

Bằng quản lý trong tay sổ hộ khẩu, sổ gạo, sổ dầu, phiếu thực phẩm, phiếu vải, học đại học; nay thêm sổ đỏ, chứng minh nhân dân, hộ chiếu, giấy chủ quyền xe, v.v… – ông Hồ và Đảng từ lúc cầm quyền đến nay đã biến đất nước thành một phòng thực nghiệm vĩ đại của “phản xạ có điều kiện”, biến dân tộc thành một bầy đàn ngoan ngoãn. Hàng chục triệu người Việt đã, đang và tiếp tục trở thành những con cá trong ao hay là những con chó của Pavlov.

Ngoài ra, còn một “thức ăn phụ trợ” khác công hiệu. Đó là bộ máy tuyên truyền khổng lồ, chằng chịt từ trung ương xuống thôn xã, bản làng, liên tục đập vào não trạng con người ngay từ thưở thiếu thời. Bất kỳ nguồn thông tin nào bất lợi cho sự độc quyền cai trị của Đảng đều bị ngăn chặn. Những mầm mống phản kháng ngay lập tức bị đè bẹp, đời sống của gia đình, người thân bị phong toả đến bần cùng…

Cho nên, lúc còn là học sinh, tay còn vương mực tím, khi ông Hồ chết, tôi và các bạn tôi cùng thời đã chảy dài nước mắt, cũng không có gì là lạ. Đúng ra, chúng tôi nên được chia sẻ, được thương hại, tội nghiệp.

Nhưng nhờ Trời, ngay trong năm thứ nhất học đại học, tôi đã nhanh chóng nhận ra lẽ thường phải có ở đời, sự bất công và bất nhân của chế độ cộng sản. Nó tước đi của con người đời sống riêng tư, cá tính và những quyền tự do tối thiểu nhất.

Chúng tôi bị Toà đại sứ Việt Nam tại Ba Lan cấm không được yêu đương, không được mặc quần jeans ra ngoài đường, không được khiêu vũ, không được đến thăm nhà người bản xứ, không được đi lao động kiếm thêm tiền trong dịp nghỉ Hè, v.v… Một ngàn lẻ một thứ cấm ! Hàng tuần họp chi đoàn, viết bản tự kiểm. Lơ mơ là bị trục xuất về nước !

Và tôi lơ mơ, xé rào nên bị trục xuất thật. Vừa đặt chân tới ga xe lửa Hàng Cỏ, Hà Nội, chưa kịp xuống tàu, hai công an đã xông lên chỗ ngồi và áp tải tôi vào trại giam, sau đó lãnh án tù hai năm về tội yêu và trốn ở lại nước ngoài. Ra tù, lận đận mãi tôi mới xoay được việc làm và quay lại Ba Lan năm 1989, đúng lúc chế độ cộng sản Ba Lan sụp đổ.

Làm nhân chứng của 20 năm xây dựng thể chế dân chủ ở Ba Lan với muôn vàn khó khăn nhưng thành quả phát triển giành được thấy rõ qua từng năm tháng, nhãn quan chính trị của tôi thay đổi hoàn toàn. Tôi được tỉnh ngộ qua liệu pháp điện áp của thực tế một xã hội từ chế độ cộng sản chuyển sang dân chủ tự do, cho mình cơ hội nhìn nhận, phân biệt Ác và Thiện. Quy trình tiến hoá bình thường của tôi được tái hiện, từ “con cá của Bác Hồ”, “con chó của Pavlov” lên làm người. Tôi lột xác cùng với những thăng trầm của tiến trình dân chủ hoá ở Ba Lan và Đông Âu.

Ba Lan tự do đã đưa sự thật lịch sử ra ánh sáng và công lý. Quá khứ đã chứng minh không thể chối cãi rằng, chế độ cộng sản tồn tại thực chất nhờ dối trá và bạo lực. Những người cộng sản không thèm nghe ai khi thấy phương hại đến độc quyền lãnh đạo của họ, cho dù những lời khuyên đó có mang lại lợi ích cho đất nước đến đâu. Chỉ khi bị áp lực tranh đấu mạnh mẽ của quần chúng, bị thất bại, bị dồn vào thế cùng, họ mới làm ra vẻ hướng thiện hoặc nhượng bộ.

Nhưng khi có sức mạnh và nhất là lúc thành công, họ tự mãn, cao ngạo, và độc ác gấp bội. Bản chất lưu manh, cướp giật của họ, theo thời gian càng ngày càng lộ liễu. Họ biến thù thành bạn, biến bạn thành thù tuỳ theo tình huống có lợi cho sự bảo đảm quyền lực. Họ là bậc thầy của sự tráo trở, lật lọng và bội bạc. Quan điểm phải hợp tác với cộng sản để cải tạo cộng sản, có cách nói cho cộng sản nghe, đã chứng tỏ tính chất xuẩn ngốc của nó qua hậu quả việc làm của rất nhiều người từ hàng chục năm nay. Chưa có vị “quân sư” nào làm cộng sản thay đổi được bản chất, ngược lại, họ thường bị phản phé, ngược đãi và chịu chung một bi kịch giống nhau. Rốt cuộc họ chỉ là những kẻ bị phấn khích hoặc có tâm thức bất bình thường, thích đi theo vết xe đổ.

Thiếu tự do và thông tin với bên ngoài, con người không thể nào có đủ kiến thức để nhìn nhận, so sánh các mô hình sinh hoạt xã hội khác, cho nên đại bộ phận người Việt trong chế độ cộng sản, nhất là nông dân, cứ tưởng rằng, cái ao, cái cũi mà trong đó mình đang được Đảng ban phát là “đỉnh cao chói lọi” rồi.

Mẹ kiếp! Nhốt người ta lại, bưng tai, bịt mắt, chỉ mở cho nhìn, cho nghe những gì mình muốn áp đặt, cùng với sự đe doạ mạng sống thường trực – rồi bảo “dân trí thấp”, “dân tộc chưa trưởng thành”. Nói thế có khác gì trói chân, buộc tay thằng bé, cho ăn uống nhỏ giọt, cách ly với sông nước, rồi phán nó chậm lớn, không có khả năng biết bơi. Đểu giả, mất dạy cỡ này là cùng!

Vậy mà, lạ lùng thay, có những người không sinh ra trong chế độ ấy, đầu đã hai thứ tóc, mà giờ đây bắt đầu muốn yêu Bác Hồ như thế hệ chúng tôi mấy chục năm trước đây !

Lạ lùng nữa, vì những người ấy đã tháo thân chạy khỏi chế độ cộng sản và được lớn lên, ăn học, trở thành kỹ sư, giáo sư, tiến sĩ ở các quốc gia dân chủ, tự do.

Lạ lùng hơn, vì những người ấy, được gọi là trí thức, không thể không biết đến tội ác mà chủ nghĩa cộng sản toàn trị đã gây ra cho nhân loại nói chung và đối với dân tộc Việt Nam nói riêng trong suốt gần một thế kỷ.

Lạ lùng đến kinh ngạc, vì những bi kịch Cải cách Ruộng đất, Nhân Văn Giai Phẩm, vụ Xét lại Chống Đảng, Thảm sát Tết Mậu Thân Huế 1968, Cải tạo Tư bản, Tư thương miền Nam sau 1975, Chiến dịch bán bãi thu vàng, các vụ án Minh Phụng-Epco, Năm Cam, PMU 18, PCI, vân vân và vân vân… – chẳng mang đến cho họ một chút ý thức gì về dã tâm khủng khiếp và ghê tởm của lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam.

Không biết bị ám bởi phản xạ có điều kiện nào qua “thức ăn phụ trợ” của thời “đổi mới”, “tăng trưởng”, “phát triển”, “vươn ra biển lớn”, mà giữa lòng Hà Nội xuất hiện một sự đảo ngược tiến trình tiến hoá của loài người.

Cả ngàn con người đang no cơm ấm cật, xiêm áo chỉnh tề, bỗng dưng biến thành đàn cá Bác Hồ, bầy chó của Pavlov, “hân hoan”, “hồn nhiên” hát bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Và rồi sau khi kết thúc thắng lợi ra về, cùng nhau đồng ca điệp khúc: “dân trí Việt Nam còn thấp”, “dân tộc ta chưa trưởng thành” nên chưa thể vươn tới tiến trình dân chủ hoá

Bệnh này coi bộ hết phương cứu chữa !
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

40 Năm Thăm Thẳm Đoạn Trường Của Boat People

-PhanNhậtNam-
Bức hình gây chấn động báo giới Hoa Kỳ với tựa đề “Lên tàu” do một thủy thủ chụp được trên chiến hạm USS White Plan Tháng 7 năm 1979. Đấy là hình ảnh một người đàn ông Việt Nam được vớt đang leo lên thang dây bên mạn tàu với tất cả hành trang của gia đình trong túi vải cắn chặt trong miệng. Cuối năm 1979 tin tức về tàu Mỹ vớt người tỵ nạn bay về Việt Nam, cả Sài Gòn lên cơn sốt. Nhà nhà vượt biển, người người vượt biển. Đó cũng là năm cuối cùng của thập niên 70 với người phụ nữ có bầu cũng ra đi, sanh trên tàu Mỹ, đặt tên con theo tên tàu có khai sanh công dân Hoa Kỳ do thuyền trưởng ký.
Trong thời gian hải quân Thái làm việc, bọn cướp vắng mặt nhưng ngay sau khi lính Thái vừa bỏ đi thì lập tức bốn chiếc tàu hải tặc tràn người lên đảo. Bọn cướp lại lục soát thêm nhiều lần nữa. Dĩ nhiên những nạn nhân VN khốn khổ chẳng còn gì để chúng cướp bóc nữa. Để bù trừ chúng luân phiên nhau hãm hiếp phụ nữ tại chỗ giữa ban ngày. Bọn hải tặc Thái chẳng cần tìm chỗ nào kín đáo để diễn trò thú vật... Năm bé gái: KH, 15 tuổi, BT 17 tuổi, AH 12 tuổi, NỴ 11 tuổi và MT 15 tuổi bị chúng cưỡng hiếp tập thể ngay trước mắt mọi người. Thảm kịch trên đảo Kra may thay được chấm dứt vào ngày 6 Tháng 1 năm 1980, khi nhóm người tuyệt vọng được phát hiện bởi trực thăng của Cao Ủy LHQ bay qua đảo. Vị cứu tinh là Ông Scheitzer, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã đến đảo Kra trên một chiếc tàu cảnh sát Thái, đưa thuyền đón người tỵ nạn vào quận Pakphanang thuộc tỉnh Nakorn Sri Thamaraj. Ở đây 18 ngày làm thủ tục với cảnh sát Thái, thì nhóm người tỵ nạn được đưa về trại Songkhla ngày 23 tháng 1, 1980.
Ngày 10 tháng 4 năm 1980, nhân ngày giỗ thứ 100, ngày người vợ và các con cùng những đồng bào chết thảm trên Biển Đông để đi tìm Tự Do. Tại trại tỵ nạn Songkhla, Cha Tuyên Úy Joe Devlin đã dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho gia đình ông và những người bị chết oan khốc tại nhà thờ trại. Người Việt Nam khổ nạn điển hình Vũ Văn Thái dâng lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy xót thương cho những linh hồn đã chết đớn đau trong thảm họa hung của cả Dân Tộc Việt Nam. Xin Chúa hãy cứu vớt linh hồn vợ con, các con của con để đưa tất cả về nơi an nghỉ bình an hạnh phúc đời đời nơi nước Chúa. Xin Chúa hãy giúp con đầy đủ can đảm để đứng vững sau cơn gió bão khủng khiếp của đời người, để cho con còn đầy đủ minh mẫn, đủ sức khỏe để lo lắng cho đứa con trai duy nhất của con còn đang sống ở Đài Loan. Con đã chịu đau thương quá nhiều. Con cầu nguyện Ơn Chúa ban xuống cho tất cả thân nhân còn lại của con, các đồng bào của con, những người sẽ vượt biển ra đi đều tới bến bờ bình an”.

Thảm kịch của gia đình ông Vũ Văn Thái hoàn toàn là không đơn lẻ, cùng thời điểm của thập niên 80, trên biển Đông, vùng Vịnh Thái Lan đã là một địa ngục có thật đối với khối Người Việt khổ nạn vì họa cộng sản phải phá thân ra khỏi nước... Những thảm cảnh như sau tiếp diễn hiện khắp nơi với những nhân chứng, nạn nhân thuộc nhiều quốc gia, nhiều giới người, nhiều lứa tuổi...
Ông Ted Schweitzer là người Mỹ đầu tiên đã cập bến vào một đảo sào huyệt hải tặc và mục kích chuyện 238 thuyền nhân Việt Nam bị đắm ghe, dạt vào đấy. Có 80 người bị giết, tất cả các phụ nữ đều bị hãm hiếp và buộc khiêu vũ khỏa thân cho chúng xem. Ông Schweitzer can thiệp yêu cầu họ chấm dứt tấn tuồng vô nhân đạo này thì bị bọn cướp xúm lại đánh đập đến như gần chết. Thật may mắn mà ông còn sống sót để thuật lại. Khi tỉnh lại, ông thấy trước mắt những cánh tay, đùi chân còn rải rác đây đó. Đấy cũng là bằng chứng có vụ ăn thịt người.
Cô Nguyễn Phan Thúy cùng với mẹ, dì và người em gái đã bỏ tiền ra mua chổ trên tàu để vượt trốn. Sau mười ngày lênh đênh trên biển cả, tàu bị mắc cạn, hết nước, hết thức ăn. Hải tặc đến bắn chết người dì. Một ông già có răng vàng bị chúng lấy kìm vặn khỏi miệng. Một người đàn bà đang có bầu bị chúng ném xuống biển. Các người sống sót bị chúng lột hết quần áo, xua cả lên bờ, và tàu bị nhận chìm. Chúng bắt các phụ nữ xếp hàng. Cô Thúy cùng một cô gái khác tên Liên bị chúng lựa ra rồi đưa sang chiếc thuyền đánh cá của chúng. Suốt ba tuần lễ sau đó, hai cô liên tiếp bị hãm hiếp. Cô Liên chịu không nổi, bị chúng chán rồi vứt cô xuống biển; còn cô Thúy chúng đem bán cho một động mãi dâm trong làng mang tên là “Phòng đấm bóp nơi thiên đường”. Ở đây cô mang thai và bị bọn người man rợ người ta lấy một que tre trục bào thai ra. Cuối cùng cô thóat được và được cơ quan Cứu Trợ Liên Hiệp Quốc tiếp nhận.
Năm 1989, một chiếc ghe chở 84 thuyền nhân bị hải tặc đến cướp. Tất cả đàn bà và trẻ con bị chuyển qua thuyền hải tặc và từ đó không còn nghe một tin gì về số phận họ nữa. Những người đàn ông thì bị nhốt dưới khoang tàu rồi, từng người một, chúng lôi lên đập cho đến chết. Sau cùng, những người còn lại liều mình sấn vào bọn cướp thì tàu hải tặc nhào đến đâm vào tàu thuyền nhận xuống cho chìm đi. Một số người cố thóat liền bị chúng dùng cây sào nhận chìm xuống nước. Còn lại 13 người thóat chết nhờ bơi ra xa và được bóng đêm che phủ.
Vào tháng 4 năm 1989, có bảy tên hải tặc trang bị súng ống, đao búa đến tấn công một chiếc tàu nhỏ chở 129 thuyền nhân. Tất cả đàn bà đều bị hãm hiếp, đàn ông bị sát hại, trừ một thiếu niên tên là Phạm Ngọc Nam Hưng. Anh này sống sót nhờ bám được vào một chiếc bè kết thành bởi ba xác chết.
Cuối cùng chính phủ Thái bị Cơ quan Cứu Trợ Quốc Tế cưỡng bách tìm biện pháp đối phó. Các tàu đánh cá phải ghi tên bằng chữ lớn ngay mũi tàu. Các tàu đều phải được chụp hình lúc ra khơi và lúc về cảng. Biện pháp này đã khiến nhiều hải tặc lo sợ, nhưng những bọn còn lại bèn trở nên tàn nhẫn, hung dữ hơn trước! Chúng thủ tiêu hết mọi nhân chứng để không còn một ai nhận diện được chúng nữa. Vào cuối thập niên tám mươi các vụ hải tặc dần dần chấm dứt do con số người tỵ nạn giảm đi.

Đoạn Kết của Bi Kịch Thuyền Nhân Người Việt
Cuối cùng, làn sóng người tị nạn Việt Nam bằng đường biển đã viết lên thiên bi sử của thuyền nhân, và những câu chuyện hãi hùng của các cuộc vượt biển của người tị nạn Việt Nam đã đánh động được lương tâm thế giới. Vào tháng Ba 1979, chương trình Ra Đi Có Trật Tự (ODP) ra đời để cố gắng ngăn chặn những làn sóng vượt biển. Ngoài ra, cũng vào thời gian này, các chương trình cứu người vượt biển đã được một số tổ chức thiện nguyện quốc tế phát động hai chiếc tàu cứu vớt thuyền nhân ngoài biển là Anamur do một tổ chức từ thiện Đức Quốc vận động vào năm 1979 L’Ile de Lumiere của tổ chức từ thiện Pháp Medecins du Monde điều hành vào năm 1980 đã cứu mạng được nhiều thuyền nhân Việt Nam lênh đênh ngoài biển cả trong khoảng thời gian từ 1979 cho đến 1990.
Đoạn kết thúc nhân đạo được khởi từ những sự kiện sau đây: Tin tức thời sự loan báo ba thuyền tỵ nạn với 443 người mới đến Hồng Kông bị cảnh sát Macao kéo ra biển khơi gặp trận bão Hope chết không còn người nào. Nhưng người Việt vẫn tiếp tục ra đi. Riêng tháng 5 và 6, năm 1979 đã có 110 ngàn người vượt biển. Bão tố, hải tặc và các tàu viễn dương không cứu vớt đã làm cho số người đến các trại vào tháng 7 chỉ còn 22 ngàn người. Không những các tàu buôn dân sự làm ngơ mà ngay cả tàu chiến của Mỹ trên Thái Bình Dương cũng không cứu thuyền nhân. Xót đau vì cùng máu đỏ, da vàng, người Việt ở Mỹ và khắp nơi kéo về Hoa Thịnh Ðốn thắp nến cầu nguyện trước Bạch Cung.

Nước mưa hòa trong nước mắt nhỏ giọt xuống những ngọn nến lung linh. Những linh mục và những thượng tọa đi lại đọc kinh suốt đêm. Từ cửa sổ trên lầu của Bạch Cung, Tổng Thống Jimmy Carter đã nhìn thấy tất cả thảm kịch biển Ðông. Lòng người từ nhân thúc dục - Lệnh từ Phủ Tổng Thống Hoa Kỳ được ban hành. Bộ An Sinh và Xã Hội sẽ nhận cấp khoản Tỵ Nạn Việt Nam vào Mỹ từ 7 ngàn nay tăng lên 14 ngàn một tháng. Bộ Quốc Phòng ra lệnh cho Ðệ Thất Hạm Đội dành riêng năm tuần dương hạm để cứu vớt thuyền tỵ nạn. Tất cả các chiến hạm đều phải cứu thuyền nhân hoặc tiếp tế rồi báo tin cho các con tàu trách nhiệm khác.
Bức hình gây chấn động báo giới Hoa Kỳ với tựa đề “Lên tàu” do một thủy thủ chụp được trên chiến hạm USS White Plan Tháng 7 năm 1979. Đấy là hình ảnh một người đàn ông Việt Nam được vớt đang leo lên thang dây bên mạn tàu với tất cả hành trang của gia đình trong túi vải cắn chặt trong miệng. Cuối năm 1979 tin tức về tàu Mỹ vớt người tỵ nạn bay về Việt Nam, cả Sài Gòn lên cơn sốt. Nhà nhà vượt biển, người người vượt biển. Ðó cũng là năm cuối cùng của thập niên 70 với người phụ nữ có bầu cũng ra đi, sanh trên tàu Mỹ, đặt tên con theo tên tàu có khai sanh công dân Hoa Kỳ do thuyền trưởng ký.
Tổng Thống Jimmy Carter, còn đi xa hơn một bước nữa. Nhân dịp hội họp với Thủ Tướng Do Thái Bergin, vị nguyên thủ Mỹ đã đưa ra vấn đề thuyền nhân Việt Nam. Thủ Tướng Bergin nồng nhiệt đáp ứng: “Nước Do Thái đã có những kinh nghiệm riêng về vụ việc này. Năm 1939, trước khi thế chiến đệ nhị bùng nổ, con tàu The St. Louis chở 900 dân Do Thái trốn khỏi Ðức Quốc đã bị xua đuổi trên khắp mọi hải cảng. Không một nước nào nhận. Ngày nay tuy chúng tôi là một nước nhỏ, mới lập quốc nhưng sẵn sàng chào đón thuyền nhân Việt Nam”. Tháng 10 năm 1979, một tàu Do Thái trên đường đi Nhật đã cứu được 60 thuyền nhân. Thuyền trưởng nói rằng các bạn phải cảm ơn Carter. Tính đến nay, dù là quốc gia sống giữa vùng Trung Ðông khói lửa sôi động, Do Thái cũng có cả ngàn thuyền nhân Việt Nam lập nghiệp.

Năm 1981, Tổng Thống Carter mãn nhiệm kỳ, đến năm 1988 có một thuyền trưởng chiến hạm USS Dubuque trên đường qua Trung Ðông đã gặp con tàu vượt biên ra đi từ Bến Tre với 110 người ngày 22 tháng 5-1988. Sau nhiều giông bão, gặp nhiều tàu đại dương nhưng không được cứu, đến ngày thứ 19 gặp tàu chiến Mỹ thì thuyền nhân hoàn toàn kiệt quệ. Hạm trưởng không hề biết lệnh của Tổng Thống Hoa Kỳ 8 năm về trước nên ông chỉ tiếp tế nước và thực phẩm nhưng không vớt. Con thuyền Bến Tre trôi dạt trên đại dương trước sau tổng cộng 37 ngày, chỉ còn sống 52 người sau khi đã ăn thịt những người khác.
Tàu đánh cá Phi cứu vớt con thuyền Bến Tre khốn khổ đưa về đảo Bolinao. Ông Hạm trưởng chiến hạm USS Dubuque phải ra tòa quân sự của hải quân vì không làm tròn bổn phận. Nạn nhân còn lại của thảm kịch Bolinao phải ra tòa làm nhân chứng. Tên hòn đảo hoang trên Thái bình Dương với 52 người còn sống. Sống bằng thân xác của gia quyến và đồng loại. Bolinao 52 chỉ là một trong hàng ngàn thảm kịch khác đã xảy ra mà chúng ta không bao giờ biết hết. Nếu như không có một người như Jimmy Carter vào những ngày cuối thập niên 70 niềm đau thương của biển Ðông còn chất ngất đến chừng nào.

Phan Nhật Nam
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

[img]http://www.haingoaiphiemdam.com/Images/ ... 039372.jpg[/img]

'Không than phiền!'

Tạp ghi Huy Phương
Cuộc đời chúng ta quả là có nhiều chuyện bất như ý, không ai cảm thấy thỏa mãn với cuộc sống hoàn toàn. Nhức đầu, cao máu, nhịp tim đập loạn xạ, chất chua làm loét bao tử cũng vì nhiều chuyện lo nghĩ, buồn bực.

Buổi sáng đến sở làm, đường bị kẹt xe, gặp giám đốc mặt mày khó chịu, đồng sự ganh tị, đi ăn trưa phải xếp hàng. Chiều về nhà, nghe vợ than phiền chuyện nhà, con cái không chịu học hành, lối xóm thường trực đậu xe trước nhà, mở máy điện toán thì Internet “rớt mạng,” như vậy làm sao có được một giấc ngủ ngon. Tâm không lạc thì chắc thân cũng khó an.

Có người đưa ra lý thuyết “Không than phiền” để tìm cái hay trong cái dở phải gặp, tìm cái tốt trong hoàn cảnh tồi tệ, luôn luôn lạc quan trong những tình huống xấu nhất.

Buổi sáng đang ngủ say thì bực mình vì bị trở dậy bởi chiếc đồng hồ báo thức, nhưng có hai điều, vui vì mình còn sống hôm nay để thấy ánh sáng mặt trời, hai là mình còn có một công việc phải trở dậy đi làm, trong khi những người khác đang thất nghiệp.

Đừng than bị đóng thuế nhiều, điều đó chứng tỏ thu nhập của anh cao.

Đừng than cuộc hôn nhân của con gái không vừa ý, khi nghĩ rằng bạn mình có con gái mất tích trên Biển Đông.

Đừng than trời quá nóng, quá lạnh, hàng xóm ồn ào vì bây giờ trong bệnh viện có người đang hôn mê, không còn cảm giác gì nữa.

Cả chuyện đừng than có cái chân nhức mỏi, vì ngoài đời nhiều người đã bị cưa chân.

Trong một quốc gia độc tài, chính phủ mong muốn dân chúng ngậm miệng, đừng than phiền về một điều gì không như ý cả, cũng như ban giám đốc một hãng xưởng không muốn công nhân than phiền về giờ giấc làm việc, lương bổng và điều kiện về môi trường.

Đừng than phiền vì xăng, điện lên giá, cũng đừng than phiền vì kẹt đường đi lại, hay phố xá ngập nước sau mỗi cơn mưa. Đã vậy cũng đừng than phiền vì công an côn đồ coi mạng dân như cỏ rác. Cũng đừng than phiền về tình trạng tham nhũng, bóc lột. Đừng than phiền vì đạo lý suy đồi. Đừng than phiền vì chế độ độc tài toàn trị.

Thời Việt Cộng đang đội nón Việt Minh, người dân trong những vùng “xôi đậu” biết điều thì thủ khẩu, tối cài cửa tắt đèn, giết bớt chó ăn thịt, và muốn toàn mạng, không bị bêu đầu giữa chợ, giết thả trôi sông thì giữ mồm giữ miệng, chớ có than phiền, nói xấu Việt Minh.

Ngày cướp được Nam, miền Bắc còn ăn độn, Đại Hội Đảng Lao Động kỳ IV đổi thành Cộng Sản, ước mơ của mỗi gia đình do đại hội đảng đề ra chỉ mong có nước chấm trong bữa ăn và mỗi nhà có một cái phích nước sôi, ngày nay “TV, Honda chạy đầy đường,” nhà nào cũng tủ lạnh, điều hòa không khí, xe hơi đời mới, điện thoại đắt tiền, tiện nghi sang trọng, thời trang không thua Âu Mỹ, còn than phiền nỗi gì. Mới ngày nào còn nhai bo bo vẹo quai hàm, suốt đời mang dép râu, đội nón cối phế thải, nay thịt cá ê hề, mỗi năm tiêu thụ 68 triệu lít rượu, 3 tỷ lít bia, đốt 4 tỷ bao thuốc lá, dân Việt Nam còn ta oán nỗi gì!

Trong thời gian có cuộc khủng hoảng giàn khoan HD 981, Thượng Viện Hoa Kỳ ra Nghị Quyết số 412 ngày 10 Tháng Bảy, 2014 cảnh cáo Trung Quốc và đòi quốc gia này phải rút giàn khoan ra khỏi Biển Đông nơi tranh chấp với Việt Nam. Ngày hôm sau, ông Michael Fuchs, phó phụ tá Ngoại Trưởng Hoa Kỳ phụ trách Chiến Lược và Quan Hệ Địa Phương Khu Vực Đông Á và Thái Bình Dương, bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình ở Biển Đông. Trong lúc đó, quốc gia bị xâm phạm thì Bộ Chính Trị 16 người, đầu não của Đảng CSVN, với chủ trương “không than phiền” đã không ủng hộ ý kiến đòi Quốc Hội ra một nghị quyết lên án hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc.

Khi Bắc Kinh đã khởi công biến các bãi đá ngầm chiếm của Việt Nam ở Trường Sa Tháng Ba, 1988 thành các đảo nhân tạo, tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương, Đô Đốc Samuel Locklear, đã cảnh báo hoạt động cải tạo đất của Trung Quốc trên Biển Đông cho phép nước này tăng cường ảnh hưởng tại khu vực có tranh chấp, nhưng Việt Nam thấy không cần phải lên tiếng phản kháng, than phiền, vì Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh đã khẳng định rằng, “Xu thế ghét Trung Quốc là nguy hiểm cho dân tộc!”

Nước ngập thì chịu khó lội, cảnh sát đòi hối lộ thị chịu khó chi tiền, công an đánh chết người thì mang về chôn, nghèo đói, bị áp bức chẳng qua vì số phận, kêu ca, than phiền với ai. Bà Phó Đoan (Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn thị Doan) đã nói, “Nước ta dân chủ vạn lần hơn tư bản” thì còn than vãn nỗi gì?

Đi ra đường bị ai nhổ vào mặt, đá vào đít thì cũng chẳng cần lau mặt, xoa đít, cũng cứ lẳng lặng mà đi. Miễn là giữ được của cải, địa vị, giữ được “bộ lông” của đảng.

Thì ra cái câu “Chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi đau đồng loại, mà chăm chút bộ lông của mình” lại là của cái ông Karl Marx nhà mình.

Phải biết đừng than phiền và bỏ tù hết cái đám hay than phiền nhà nước!

Văn hào William Shakespear đã nói, “I always feel happy, you know why? Because I don't expect anything from anyone.” (Anh biết vì sao tôi luôn luôn thoải mái không? Vì tôi chẳng bao giờ kỳ vọng một điều gì ở một ai cả!)

Tuổi trẻ Việt Nam cứ ăn nhậu, đua đòi chạy theo theo vật chất, đạp lên nhau để được ăn sushi không mất tiền, leo hàng rào sắt để được tắm miễn phí, không quan tâm đến chính trị, cũng chẳng bao giờ kỳ vọng gì nơi chính quyền Cộng Sản cầm quyền, không cần than phiền nữa, nhưng khi bất mãn lên cao độ, ly nước đã tràn, cỏ khô trên đồng bắt lửa, thì “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc!” (*)
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Những nét son đầy hứng khởi

Bùi Tín

Dịp kỷ niệm 40 năm 30/4 kết thúc chiến tranh năm nay mang lại nhiều niềm vui khác hẳn những năm trước. Nhiều bài bình luận trên các mạng có chất lượng, phơi bày sự thật, nói trắng ra sự thật, chỉ rõ nguyên nhân chính xác dẫn đến ngày 30/4/1975 là ý đồ xâm chiếm, thôn tính miền Nam bằng vũ lực của Đảng CS cầm quyền trên miền Bắc, ngang nhiên vi phạm Hiệp định Paris năm 1973, cố tình chà đạp các điều khoản «tôn trọng quyền tự quyết của mỗi miền được lựa chọn chế độ chính trị của mình», «tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN», «cam kết không đe dọa dùng vũ lực và không dùng vũ lực», «không bên nào thôn tính lấn chiếm bên nào».

Ngày 30/4 năm nay đông đảo nhân dân Việt Nam nhìn rõ thêm rằng nền cai trị của Đảng CS đã mang lại tai họa cho đất nước và nhân dân, dẫn đến tình trạng lạc hậu thê thảm so với các nước láng giềng, là nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất công xã hội, tham nhũng tràn lan, giáo dục trì trệ, y tế bệ rạc, văn hóa suy đồi. Cả một tầng lớp trí thức dân tộc cùng một số đảng viên CS có công tâm lên tiếng công khai đòi đảng phải thay đổi cả hệ thống cai trị từ độc đảng toàn trị cổ hủ sang dân chủ đa nguyên, có bầu cử tự do, có tự do lập hội, tự do ngôn luân, tự do tôn giáo.

Điều rất đáng phấn khởi là gần đây nhân dân thủ đô đã xuống đường liên tiếp bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, buộc chính quyền Hà Nội phải ngưng việc tàn sát cây cổ thụ, hứa xử trí nghiêm ngưòi phạm tội. Chính quyền Hà Nội cũng công khai phủ nhận không cử người của ngành công an hay ngành tuyên huấn phá đám các cuộc biểu tình trước đây ở quanh Bờ Hồ Hoàn Kiếm, còn công nhận những công dân thủ đô từng xuống đường chống bành trướng là những người yêu nước. Đây là một điểm son thắng lợi đầu Xuân, có nhiều ý nghĩa của bà con thủ đô ngày càng tự tin khi xuống đường.

Trong khi đó cuộc đấu tranh của 70.000 lao động thuộc công ty Nam Triều Tiên Pou Yuen - Sài Gòn đòi chủ hãng và đặc biệt là đòi chính quyền trung ương phải thay đổi các điều sai lầm trong Luật về bảo hiểm xã hội bất lợi cho người lao động. Quốc hội đã phải lập tức ghi nhận yêu sách quan trọng này và hứa giải quyết. Thắng lợi bước đầu này là một nét son mới của phong trào lao động ở nước ta, một cuộc tập dượt lớn về bãi công quy mô rộng với bài học kinh nghiệm quý về thắng lợi rõ ràng.

Đi cùng với những thắng lợi trên, đông đảo bà con ở huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận đã kéo nhau ra Quốc lộ A1, làm nghẽn đường, kẹt xe suốt 50 kilômét trong đêm 14 và ngày 15/4, vì không chịu nổi cảnh bụi than từ nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 do phía Trung Quốc nhận thầu xây dựng thải ra làm ô nhiễm cả một vùng đất và vùng biển rộng lớn. Công an được huy động hòng dẹp cuộc đấu tranh quyết liệt này, bị đồng bào giáng trả bằng bom xăng tự chế, cuối cùng theo báo Lao động (ngày 20/4) Phó Thủ tưóng Hoàng Trung Hải phải vào tại chỗ xoa dịu, đôn đốc việc làm cống dẫn nước giảm bụi từ bãi xỉ than, còn công khai xin lỗi nhân dân Tuy Phong về tai họa này. Đây cũng là một nét son nữa của cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân, mang lại tự tin cho đông đảo công dân bật dậy dũng cảm bảo vệ cuộc sống của mình, buộc chính quyền phải lùi bước.

Bài học quý giá từ các nét son thắng lợi trên đây là chiếu theo Hiến pháp hiện hành, người dân có quyền tụ họp, biểu tình, xuống đường tuần hành có trật tự, không có ai, kể cả chính quyền như cơ quan hành chính, tuyên huấn, công an có thể hạn chế, cấm cản.

Theo quy định của mọi thể chế dân chủ chân chính, hiến pháp là đạo luật cơ bản của đất nước, là đạo luật gốc, bất khả xâm phạm, không có một đạo luật nào, sắc lệnh, nghị định nào của bất cứ cơ quan chính quyền nào có thể hạn chế, ngăn cản hay xuyên tạc một cách tùy tiện. Nhiều nước đặt ra Viện Bảo hiến hoặc Hội đồng Bảo hiến, có nghĩa vụ bảo vệ triệt để hiến pháp, hủy bỏ những văn kiện, sắc lệnh, nghị định, thông tư, tài liệu nào vi phạm bất cứ điều khoản nào của hiến pháp.

Ủy ban Hành chính quận Hoàn Kiếm cấm nhân dân biểu tình quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm là một quyết định vi hiến khi cuộc biểu tình diễn ra có trật tự và có mục đích chính đáng.

UBHC còn có nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho những người biểu tình ôn hòa, chứ không có quyền ngăn cấm hay cho tay chân phá đám.

Thủ tướng cấm báo chí tư nhân hoạt động cũng là một quyết định vi hiến rõ ràng, cho nên là một sai lầm lớn, đi ngược lại điều khoản của Hiến pháp khẳng định quyền tư do ngôn luận và tư do lập hội của mọi công dân. Quyết định này mọi công dân có quyền bác bỏ, coi như vô giá trị. Do đó, Văn đoàn độc lập và Hội Nhà báo độc lập VN cũng như những tổ chức xã hội dân sự khác như Hội Phụ nữ Nhân quyền, Hội Bầu Bí tương thân, Khối 8406, Hiệp hội Dân oan.… tuy không được phép chính thức, vẫn là những tổ chức hợp hiến, chính đáng, đàng hoàng, được xã hội quý trọng. Cũng do đó mà hàng loạt cơ quan báo chí, thông tin, mạng lưới ngoài luồng chính thống, thường gọi là lề trái, «tự do», ngày càng được xã hội tín nhiệm, tìm đọc đông đảo, vượt qua đầu rất xa hàng trăm tờ báo và mấy chục đài phát thanh nhà nước, hàng trăm «dư luận viên» của đảng trâng tráo, đuối lý, mất dần tự tin vì bị công luận chê cười.

Một khi chính quyền mang tên «nhân dân», thực thi những chủ trương quá đáng, như dùng công an để bán bãi, bán tàu thuyền ọp ẹp cho hàng vạn người di tản thành «thuyền nhân» để thu hàng chục vạn lạng vàng chia nhau và nộp quỹ của đảng, hay dùng công an tra tấn người yêu nước chống bành trướng đến chết trong đồn công an, hoặc cướp đất của dân với đền bù rẻ mạt, nhân dân có quyền xuống đường để đấu tranh ôn hòa nhưng quyết liệt cho đến thắng lợi, hoặc nhân dân có thể chung lòng thực hiện «bất tuân dân sự» một cách hòa bình, tuần hành đông đảo với những biểu ngữ thích hợp, bãi công, bãi thị, bãi khóa, đều là chính đáng, vì lòng dân là ý Trời, quyền sống an lành trong nhân phẩm của toàn dân là thiêng liêng nhất.

Một nét son tươi rói đầy hứng khởi nữa là nhà báo Điếu Cày kiên cường từng bị kết án 12 năm tù giam ra tù trước thời hạn được Tổng thống Barack Obama tiếp đón thân mật trong Nhà Trắng cùng 2 nhà báo nữ của Ethiopia và nước Nga đúng vào dịp Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5, trước khi tiếp ông Nguyễn Phú Trọng cũng vào tháng 5 này. Đây là sự kiện nhiều ý nghĩa, là dịp nắn gân xem ông Trọng sẽ xoay sở ra sao trên đất Hoa Kỳ, khi Tổng thống Obama tại cuộc gặp trên đây công khai tuyên bố rằng ông coi tự do báo chí là mối quan tâm ưu tiên trọng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

Quả là đầu năm 2015 mang lại nhiều niềm vui, niềm hứng khởi cho mọi người dấn thân cho sự nghiệp dân chủ hóa đất nước chống ách thống trị của chế độ độc đoán toàn trị cộng sản cuối mùa. Những nét son trong đấu tranh cổ vũ mọi người tự tin dấn tới với sức lực thu hút mới, những sáng kiến mới trong khi chính quyền độc đảng đang tiến lui đều khó.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »


TC Giết Dân VN Bằng Đồ Ăn


Vi Anh

TC không cần đánh đấm Việt Nam [VN] làm chi cho mệt, cũng có thể biến VNCS thành một thuộc địa kiểu mới. Về chánh trị thuần hoá Đảng Nhà Nước CSVN cầm quyền thành thái thú, mặt Việt, bụng Tàu. Về kinh tế tuồng đồ ăn thức uống độc hại bán rẻ cho người dân Việt, làm liệt bại sức khoẻ toàn dân, giết dân VN chết dần mòn thì TC chiếm VN không cần nổ một tiếng súng, rút một cây gươm. Trong bài này xin phân tích về chiến lược “TC Giết Dân Việt Bằng Thực Phẩm.”

Đài RFA của Mỹ ngày 16/1/2015 nhóm phóng viên tường trình từ VN cho biết ở nước nhà VN, người VN đồng bào chúng ta đều lo sợ ăn mặn, ăn chay gì cũng chết… vì đồ ăn Trung Cộng [TC] làm quá độc, bán quá nhiều khắp chợ cùng quê, khó mà khỏi chết vì TC.

Phóng sự dẫn nhập “Hiện tại, với người Việt nói chung và với người Hà Nội, một thành phố lớn, thủ đô Việt Nam có khoảng cách địa lý khá gần với Trung Quốc nói riêng, mối bận tâm lớn nhất của người dân vẫn là ăn gì cho khỏi chết, khỏi bệnh vì Trung Quốc. Có thể nói rằng đó là câu hỏi mang tầm thế kỷ của Việt Nam hiện nay bởi mọi thứ hàng hóa ở đất nước này đã nhuộm màu Trung Quốc và mọi thứ thực phẩm đều có thể là mầm bệnh đến từ Trung Quốc. Những người ăn uống thông thường cũng có thể chết vì Trung Quốc, những người ăn chay cũng có thể chết vì Trung Quốc.”

Tìm hiểu thêm qua một số nguồn khác, báo Sức Khoẻ và Đời Sống và một số youtube cho biết với hình ảnh minh hoạ và lời nói người trong cuộc chứng minh là TC họ làm gian, làm giả nhiều món nguy hại, ghê gớm không tưởng tượng được để không ăn mà bán rẻ cho VN.

Ghê gớm nhứt là gạo nấu cơm là món ăn căn bản hàng ngày của người Việt, tạo ra sức khoẻ cho người Việt nên ông bà VN có câu “cơm đắp đầu gối” người lao động VN. Nghe tin này có người nói gạo làm sao làm giả được. Nào là hình thức phẩm chất nhiều thứ lúa, gạo Nàng Hương, Chợ Đào, gạo tròn, gạo dài. Còn mùi nữa, gạo làm sao làm giả được. Nhưng không đâu TC làm gạo băng nhựa nylon. Thực tế đã chụp được hình, thu được video clip, thu được âm chứng là tại Trung Quốc đã xuất hiện một loại gạo được làm từ... nhựa. Nó được làm từ khoai tây, khoai lang và nhựa tổng hợp đúc thành hình dạng của hột gạo. Họ sử dụng hương có mùi gạo, nhưng thực tế nó là hóa chất tạo mùi giống với gạo. Bán ngoài chợ, trong tiệm dùng tay vốc lên xem, cân phân, ngửi mùi khó mà biết. Chỉ khi mua về nấu cơm, cơm rất cứng, ăn vào không thể tiêu hóa được và vô cùng độc hại cho cơ thể con người; lúc đó mới biết bị lường gạt, hoá ra mình đào mộ cho mình bằng ăn gạo TC.

Không chỉ TC làm gạo giả bán cho VN, mà họ còn làm nhiều thứ đồ ăn như để “thuốc chết” người Việt nữa. Mới nghe nói đã phát ói rồi. Như họ "tẩm độc" trái đào của TQ biến đào Trung Quốc thành đào chính vụ của VN. Họ chích thuốc mau lớn vào dưa hấu, lớn mau đến bể ngay ngoài rẫy. Họ nuôi cá, nuôi lươn trong bể hóa chất, cho lươn ăn thuốc ngừa thai, để mau lớn, mau mập, đem bán thành đặc sản xuất cảng tươi sống hay đông lạnh.

Họ biến cua biển, cua đồng bằng cách cho vào bể chất vôi nồng độ thật cao để vỏ cua mềm thành cua lột, trở thành đặc sản đem xuất cảng.

Họ bắt chuột ở thành thị sống trong đường mương, cống rảnh, ăn đồ dơ đổ xuống cống nhiều chất béo nên rất mập, giả làm thịt cừu, thịt heo đem xuất cảng.

Để làm được điều này những người sản xuất đã sử dụng các loại hóa chất như nitrate, gelantin và nhiều hóa chất khác để cho ra những sản phẩm giống cả hương vị, màu sắc của thịt cừu thật.

Tàu hủ, một món ăn dân dã, người bình dân và những ngươi ăn chay thường dùng, thường giá rẻ. Thế mà TC cũng sản xuất giả để, xuất cảng. Họ đã sử dụng đạm đậu nành với bột mì, bột màu và nước để làm tàu hủ giả và tàu hủ ky.

Trong thành phần của tàu hủ giả còn có các hóa chất độc như rongalite, một chất tẩy trắng dùng trong kỹ nghệ để làm cho tàu hủ mềm và trắng hơn; đó là chất các nhà khoa học và y học cho là chất gây ung thư.

Quá đủ thực phẩm độc hại bán cho dân nghèo trên thế giới, mà người VN sát biên giới TQ là nạn nhân nhiều và nặng nhứt. Nói tới TC, trên thế giới người ta chỉ chú ý như là một nước xuất cảng hàng hoá rẻ tiền như quần áo, giày vớ, đồ điện tử, đồ gia dụng rẻ tiền, nhưng ít ai chú ý TC là nước xuất cảng lương thực, thực phẩm, nông sản – đứng hàng thứ ba trên thế giới. Thực phầm chiếm một phần lớn nhứt trong số hàng hoá bán trên thế giới. Hàng hoá TC rẻ nên nhiều người mua, nhứt là dân nghèo, mà dân nghèo lúc nào và nước nào cũng đông hơn dân giàu.

Nông phẩm gốc như sữa, đường TC không phải chỉ bán dưới dạng thực phẩm sữa đường, mà có thể dùng để biến chế ra hàng trăm phó phẩm và thực phẩm khác. Sữa độc có chứa chất melamine của TC chẳng những TC đã dùng làm ra kẹo Thỏ Trắng: “Made in China” xuất cảng sang nhiều nước thì dễ biết. Sữa của TC được các công ty của các nưóc khác mua dùng như nguyên liệu để chế ra thực phẩm của ngoại quốc, thì người tiêu thụ thông thường làm sao biết được. Theo nhà báo Tristan de Bourbon, viết trên tờ La Croix của Pháp, hãng của Pháp Nestlé, Unilever dùng sữa nhập cảng từ TC để biến chế thành sữa, cà phê sữa Nestlé, Unilever, thì ngưòi tiêu thụ đâu có biết nguyên liệu là sữa có độc chất của TC.

Tiêu biểu như cà phê Việt Nam như Trung Nguyên, Vinacaphe của Việt Nam làm bằng sữa nhập từ TC, khi xuất cảng ra ngoại quốc, người uống đâu có biết có sữa có chất melamine của TC hay không. Hoạ may chỉ có nhà nước sau khi kiểm tra chất lượng, công bố thì người tiêu thụ mới biết thôi. không bán sản phẩm của họ ra ngoài khu vực. Tuy nhiên, dân chúng ở Tây Phương sẽ không thể tránh được nạn thực phẩm bị nhiễm độc như trong vụ sữa vừa qua dù những nước văn minh đều có cơ quan kiểm phẩm. Nhưng những cơ quan này đâu có đủ người kiểm hết hàng hoá nhập cảng, chỉ kiểm mẫu bất thần rút ra trong lô hàng mà thôi.

Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi thấy mật ong made in China bán ra ở Mỹ và Pháp có thứ mật ong giả. TC là nước sản xuất mật ong lớn nhất thế giới chánh yếu là để xuất cảng. Cách làm giả cũng đủ thứ: pha trộn mật thật với giả hoặc làm giả hoàn toàn. Người TC họ trộn mật thật một ít siro làm từ đường, gạo hoặc củ cải hay chế ra mật ong từ nước, đường phèn và phẩm màu nhân tạo.

Còn bún, phở, mì, miến giả made in China đầy chợ. TC sử dụng gạo hư, kém chất lượng trộn cùng các chất phụ gia có khả năng gây ung thư như sulfur dioxide đề làm ra các sản phẩm bún phở - những món ăn thông dụng của người châu Á.

Một số nơi còn làm bún, phở từ tinh bột như bột ngô và không thể thiếu các hóa chất tạo mùi, tẩy trắng khác.

Một nửa số rượu TC xuất cảng là giả, dễ làm giả nhất là các loại rượu vang. Cách làm giả phổ biến nhất là cách thu mua vỏ các chai rượu đắt tiền rồi đổ đầy những loại rượu rẻ tiền vào.

Giá trị những phi vụ làm giả rượu vang lên tới hàng chục triệu USD. Riêng trong năm 2012, cảnh sát đã bắt tới 350 vụ làm rượu vang giả ở Thượng Hải.

Địa lý VN, CS hai nước gọi là núi liền núi, sông liền sông nên tất cả đồ gian, giả đó TC tuồng qua bán ở VN khi bị ngoại quốc phát giác trả về. Dân nghèo VN quá đông mua đồ rẻ. Nhập siêu (trade deficit) của VN đối với TC là 23.7 tỉ Mỹ kim, chưa kể số hàng nhập lậu đáng kể qua biên giới ở những nơi như Móng Cái và Lạng Sơn. Cả thế giới báo động hàng hoá made in China. Mỹ viết thành sách “Death by China”. Dân VN chết vì thực phẩm TC là điều không khó hiểu./.(Vi Anh)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Mãi võ Sơn Đông

Tạp ghi Huy Phương
Thế nào là quảng cáo mà quảng cáo quá lố? Những người vào tuổi tôi, có thể đã trải qua, ở tỉnh lỵ, buổi chiều sau phiên chợ tan, thường có những toán “Mãi võ Sơn Đông,” chuyên bán thuốc cao đơn hoàn tán, trống kèn inh ỏi, để khuyến dụ người qua lại, bọn trẻ con chúng tôi thường tò mò quây quần, tụ họp, không phải để mua thuốc, nhưng để xem khỉ làm trò.

- “Nghe đây! Nghe đây! Dầu này trị bá bệnh!”

- “Đàn bà đau bụng chổng khu,

Xức vô một tí xách cái dù đi chơi!”

- “Đàn bà chồng bỏ chồng chê,

Xức vô một tí, chồng mê về liền!”

Rõ ràng là quảng cáo quá lố! Nhưng lũ trẻ chúng tôi không quan tâm và bà con cũng không ai khiếu nại. “Đây anh Hai một chai, chị Tám hai chai!” Tin hay không tin là “tùy người đối diện,” những tay múa võ, bán thuốc hoàn toàn không chịu trách nhiệm. Khách hàng mua dầu “bá bệnh” của toán Sơn Đông cũng không thấy ai than phiền, khiếu nại khi không xách được “cái dù đi chơi” hay chưa thấy ông chồng tệ bạc trở về. Nhưng ngày nay, ở Trung Quốc, chỉ mới quảng cáo kem đánh răng, đã bị phạt đến hơn $1 triệu. Đây là điều chúng ta cần để ý đến khi chúng ta đang sống trong một thời đại mà quảng cáo “làm mưa làm gió,” không những trên đường phố mà hiện diện ngay trong gia đình chúng ta mỗi ngày.

Tân Hoa Xã đưa tin, một nhãn hiệu kem đánh răng do Từ Hy Đệ, “Đệ Nhất MC” của Đài Loan làm người mẫu quảng cáo, mới đây bị Cục Công Thương Thượng Hải (Trung Quốc) phán quyết là đã sai sự thật. Hy Đệ nói trong đoạn phim quảng cáo: “Chỉ cần một ngày, răng đã trắng ra trông thấy,” nhưng theo điều tra của cơ quan trên, hình ảnh người mẫu quảng cáo với hàm răng trắng bóng không tỳ vết là nhờ sửa chữa bằng kỹ thuật photoshop, hoàn toàn không do hiệu quả mà loại kem đánh răng Crest Mica mang lại. Theo đại diện của Cục Công Thương Thượng Hải, những mặt hàng sử dụng hàng ngày không được quảng cáo sai sự thật.

Chuyện photoshop là chuyện thường tình của lối quảng cáo bây giờ, “before” thì da nhăn, đồi mồi, nám... qua một lần “ủi” của photoshop thành “after” vừa trẻ lại 10 tuổi và có làn da mịn màng. Nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần thì quen mắt, cũng phải tin.

Để bảo vệ cho quyền lợi của khách hàng (người tiêu thụ) chính tòa án tiểu bang California vừa ra phán quyết, khẳng định người tiêu dùng khi mua hàng trên mạng Internet, có quyền nêu nhận xét của mình về chất lượng dịch vụ của công ty cung cấp món hàng liên quan. Đây là vụ án chưa có tiền lệ trong lịch sử tư pháp Mỹ thời hiện đại.

Vào Tháng Năm, 2013, hãng giày nổi tiếng Skechers phải bồi thường cho khách hàng vì quảng cáo không đúng sự thật về sản phẩm của mình. Sau hơn 520,000 lời khiếu kiện của khách hàng, tòa án buộc Skechers phải trả lại từ $40-$84 cho mỗi khách hàng, tổng số tiền đền bù lên tới $40 triệu về loại giày đế mềm Shape-ups với lời quảng cáo giày này giúp người mang giảm cân, tăng sức khỏe, làm lớn mông, và săn chắc bắp thịt bụng. Quảng cáo này do người mẫu Kim Kardashian quảng cáo, giày bán rất chạy nhưng sau đó hơn nửa triệu khách hàng đã than phiền vì hãng đã quảng cáo “quá lố,” trong đó có khách hàng đã tốn thêm tiền để chữa bệnh đau lưng do giày Shape-ups gây ra.

Từ Hy Đệ sẽ trả số tiền phạt này hay chính công ty đã thuê mướn MC làm người quảng cáo để ca ngợi sản phẩm phải trả. Công ty sản xuất đã trả tiền thuê mướn MC, danh ca, nghệ sĩ và cả những nhân vật chính trị như ông Bob Dole (Viagra) vì biết rằng những nhân vật này được lòng tin của quần chúng. Những người này được trả tiền để nói, vì quảng cáo là một cái nghề thu nhập không ít, nên dù họ chưa bao giờ dùng giày Shape-ups Skechers, kem đánh răng Crest Mica, dược thảo này, thuốc bổ nọ, nếu được trả tiền, họ vẫn vui lòng nhận mình là người đang thực sự tiêu dùng món hàng đó. Những lời nói này không có gì bảo đảm, danh tiếng, nhan sắc hay học vấn không chứng thực lời “rao” của họ đáng tin cậy. Vấn đề là những nhân vật này có bước qua nổi những lôi cuốn của tiền bạc, và giữ được sự lương thiện hay không. Lương thiện ở đây là không chịu nói những lời dối trá.

Nếu có một loại “thần dược” diệt được mầm mống ung thư, thì nhà sáng chế hay ông bác sĩ này đã đoạt giải Nobel Y Khoa vẻ vang cho dân tộc Việt rồi, còn đâu những ông mãi võ Sơn Đông khua chiêng đánh trống từ ngày này qua tháng nọ để bán thuốc!

Quảng cáo quá lố có gây tai hại cho người tiêu dùng hay không?

Đi một đôi giày quảng cáo “dỏm” có thể bị đau lưng mà thôi, nhưng uống một loại thuốc quảng cáo “dỏm” có thể bị mất mạng, mà mất mạng từ từ, cũng không ai mổ xẻ để giám định nạn nhân chết vì những thứ thuốc này không? Chúng ta thấy những người trẻ ít tin lời quảng cáo, nhất là chuyện thuốc men. Trong khi đó chính người già Việt Nam (trên 62 tuổi) là khách hàng tốt bụng và cũng là nạn nhân của loại quảng cáo này.

Có một điều quan trọng là quảng cáo mỹ phẩm quá lố có thể tàn phá một nhan sắc, quảng cáo dược phẩm quá lố có thể giết một mạng người, nhưng có một thứ quảng cáo quá lố có thể giết cả một thế hệ, đó là loại quảng cáo chính trị, là lời hứa hẹn đường mật của các ứng cử viên hay các đảng phái cầm quyền. Việt Minh kêu gọi: “Đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, già trẻ, trai gái, miền ngược, miền xuôi... để đánh đuổi Nhật-Pháp làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập.” Nhưng lúc chiếm được một nửa miền Bắc rồi thì chuyện “đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân” đã trở thành một loại mồm mép quảng cáo, phân biệt bần nông với địa chủ, phát động phong trào đấu tố, tổng số người bị đấu tố trong cải cách ruộng đất đã được thống kê là 172,008 người; số người bị oan sai là 123,266 người, chiếm tỉ lệ 71.66%. Chùa nhà thờ thành nơi phơi lúa, ngô của hợp tác xã, lòng người ly tán, con tố cha, vợ đấu chồng. Giành được nửa nước, mang danh độc lập, nhưng mang súng đạn của Liên Xô, Trung Quốc về, xô đẩy hàng triệu thanh niên ra chiến trường đi xâm lược miền Nam.

Quảng cáo cho chuyện giải phóng, miền Bắc vẽ ra hình ảnh dân chúng miền Nam bị bóc lột tận xương tủy, không có được cái bát ăn cơm, sau ngày “giải phóng,” để đem vào một chục cái chén “ngang” rồi mang về một chiếc honda, vài cái “đài” lẫn “đổng.”

Miệng lưỡi ngành tuyên huấn Cộng Sản cũng chẳng khác gì người khua chiêng gióng trống Sơn Đông ngoài phiên chợ. Chính vì miệng lưỡi này mà hàng vạn vạn thanh niên miền Bắc phải nát thân vì bom đạn, mang cái ảo tưởng đi giải phóng cho người, nhưng chính thân mình thì sống dưới trăm tầng áp bức. Thành phần đầu não Hà Nội chủ trương dùng xương máu của thanh niên Việt Nam để “đánh cho Liên Xô-Trung Quốc.” “Độc Lập” nhưng thuần phục Trung Quốc, bán đất, nhường biển. “Tự Do” có nghĩa là bịt mồm, chặn họng, bắt bớ giam cầm những người muốn có tiếng nói chính trực. “Hạnh Phúc” phải chăng là bán sức, bán trôn khắp cùng bàng dân thiên hạ.

Quảng cáo là tuyên truyền. Nói một lần nghe lạ tai, người không tin, lập lại trăm lần cũng phải tin. Nếu chúng ta nói: Đừng tin những gì Cộng Sản nói, thì cũng phải nói, đừng tin những gì người ta quảng cáo, hay ngược lại.
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Image



“Thật khó để chữa bệnh cho người giàu”
Tương truyền, danh y Trung Quốc – Quách Vũ cho rằng, người giàu thường khó điều trị hơn. Biển Thước – vị Thần y nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa cũng có cùng quan điểm.

Dưới triều Đông Hán, Quách Vũ là một ngự y, thường được ca ngợi với tài nghệ siêu thường. Mặc dù là một ngự y, ông không bao giờ từ chối chữa bệnh cho người nghèo. Ông nhận thấy rằng, phương pháp điều trị của mình có hiệu quả hơn với người nghèo, điều khiến mọi người khó hiểu là hiệu quả của Quách Vũ khi điều trị đối với tầng lớp thượng lưu không bao giờ được như vậy. Hoàng đế nghĩ rằng có điều gì bất thường ở đây, vì vậy ông bảo những quý tộc ăn vận rách rưới khi tới gặp Quách Vũ. Quả nhiên, bệnh của họ rất mau lành.


Hoàng đế rất bất bình về việc này và cho gọi Quách Vũ vào cung. Quách Vũ đáp: “Nguyên tắc cơ bản của trị bệnh là sự tập trung. Đối với tầng lớp thượng lưu có 4 khó khăn: Họ không tôn trọng lời khuyên của thầy thuốc, cuộc sống của họ khác với người dân bình thường, họ có thể chất yếu và thường rất kiêu ngạo dẫn đến hay “hạn chế” thầy thuốc của mình. Ví dụ, khi tiến hành châm cứu, người ta phải hoàn toàn tập trung vào công việc. Kim châm bị lệch đồng nghĩa với thất bại. Chữa bệnh cho người giàu thường gây tâm lý lo lắng cho các thầy thuốc và do đó khiến việc điều trị trở nên khó khăn hơn”.

Sau khi nghe lời giải thích của ông, Hoàng đế gật đầu tỏ vẻ đồng ý và ra lệnh cho những người trong cung thay đổi cách cư xử và những thói quen xấu của mình. Câu nói “Thật khó để chữa bệnh cho người giàu” bắt đầu lan truyền từ đó.

Thật trùng hợp, Thần y Biển Thước thời Chiến Quốc cũng có quan điểm tương tự. Biển Thước đã đi đến nhiều quốc gia khác nhau và dùng tài năng của mình để làm dịu bớt đau khổ cho người dân. Mặc dù Biển Thước là bậc kỳ tài, nhưng ông có một quy tắc về 6 loại người mà ông sẽ không trị bệnh:

1. Những người có quyền lực, kiêu ngạo và hống hách

2. Những người yêu tiền hơn tất cả

3. Những người tham ăn, tham uống

4. Những người bệnh nặng, nhưng không chịu điều trị từ sớm

5. Những người quá yếu để dùng thuốc

6. Những người tin vào yêu thuật, không tin y học

Trong lịch sử nền y học Trung Hoa truyền thống, có bốn vị danh y nổi tiếng, đó là: Biển Thước, Hoa Đà, Tôn Tư Mạc và Lý Thời Trân.

Biển Thước là một trong những vị thầy thuốc đầu tiên được biết đến vào thời Chiến quốc, từ năm 770 tới năm 221 trước Công Nguyên. Theo các văn kiện lịch sử, Biển Thước có khả năng nhìn thấu thân thể bệnh nhân. Ông cũng là người đã nghĩ ra phương pháp bắt mạch.

Theo truyền thuyết, Biển Thước đã cứu thế tử nước Quắc từ cõi chết trở về. Thông qua bắt mạch, Biển Thước biết được thế tử đang ở trong trạng thái chết giả, và ông đã dùng thuật châm cứu để cứu sống thế tử. Từ đó, Biển Thước được người đời ca tụng là có tài “cải tử hoàn sinh”.

'Theo các văn kiện lịch sử, Biển Thước có khả năng nhìn thấu thân thể bệnh nhân. Ông cũng là người đã nghĩ ra phương pháp bắt mạch.'
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »


THÔNG TIN TỪ THÙY TRANG
​VIỆT NAM CÓ THỂ SẮP MẤT NƯỚC
TÔI RẤT BUỒN KHI ĐƯA TIN NẦY:
VIỆT NAM SẮP MẤT NƯỚC, TIN HAY KHÔNG THÌ TÙY BẠN!


Trung Quốc sẽ CHIẾM trọn VIỆT NAM theo kịch bản đã Cam Kết của Hội Nghị Thành Đô 1990, và nước VN sẽ mãi mãi là một KHU VỰC TỰ TRỊ giống như Tây Tạng hiện nay.
Tướng Phùng Quang Thanh và Bí Thư Đảng CSVN sẽ kêu gọi Quân Đội "ĐẦU HÀNG ĐỂ TRÁNH ĐỔ MÁU".

Thùy Trang đã cho ít nhất gần 10 người trên FB, những bạn bè thân quen để xem Video Clip (FULL) về Hệ Thống Đường Hầm của Trung Quốc Tại Hà Tĩnh.

Sau khi liên lạc với các sĩ quan QĐND YÊU NƯỚC (Giấu Tên), những người đã cung cấp cho Thùy Trang Video clip, cho biết là Hệ Thống Đường Hầm và Vũ Trang của Trung Quốc đã được Tình Báo Hoa Nam nằm trong Quân Đội CSVN giúp chuyển vào.

Kịch bản sẽ là:

(1) Trung Quốc sẽ GÂY HẤN ngoài Biển Đông và QĐND sẽ đánh trả, sau đó TQ lấy cớ dàn trận qui mô để chiếm VN.

(2) Khi Trung Quốc đánh vào Việt Nam với quân số và vũ khí có sẵn trên đất liền, toán quân gần 50.000 nhân công giả dạng sẽ nhanh chóng cô lập và cắt đứt từng Quân Khu một. Vào lúc đó Tướng Phùng Quang Thanh và Bí Thư Đảng CSVN sẽ kêu gọi Quân Đội "ĐẦU HÀNG ĐỂ TRÁNH ĐỔ MÁU".

(3) Trung Quốc sẽ CHIẾM trọn VIỆT NAM theo kịch bản đã Cam Kết của Hội Nghị Thành Đô 1990, và nước VN sẽ mãi mãi là một KHU VỰC TỰ TRỊ giống như Tây Tạng hiện nay.

(4) Đây là Lý do vì sao Hà Nội và Huế muốn nhanh chóng chặt bỏ Cây Xanh để mở đường cho Máy May Tiêm Kích và Vệ Tinh Trung Quốc hoạt động hữu hiệu hơn với các mục tiêu dưới đất. Các bạn phải hiểu rằng lúc xảy ra chiến tranh thì sẽ có nhiều đội quân thuộc QĐND KHÔNG buông súng ĐẦU HÀNG dễ dàng.

Đây là những gì Thùy Trang NGHE và biết ĐƯỢC, còn tin hay không thì TÙY BẠN. Nhiệm vụ của mình là nói hết những gì mình biết được, không thêm, không bớt.

(*) Vì lý do An Toàn của Thùy Trang và người đưa Clip, mình sẽ KHÔNG đưa Full Clip cho người "LẠ" (Đừng mất công hỏi). Xin đừng gửi link cho Thùy Trang vì mình sẽ block bạn để tránh click nhầm.

Thân Ái

Nguyễn Thùy Trang
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »


Thói xấu đã tiêm nhiễm vào huyết quản rồi


Văn Quang 22-5-2015
Trong tuần này, hầu hết các báo ở VN và các trang mạng trên khắp các diễn đàn trong và ngoài nước đều sôi sục vì những bản tin mới nhất về chuyện du học sinh VN tại Nhật ăn cắp vặt và ăn cắp có tổ chức. Nỗi nhục không phải chỉ có người VN ở trong nước gánh chịu mà tất cả người VN có mặt trên khắp hành tinh đều cảm thấy nhục khi “phải là người Việt Nam”. Trước hết tôi thấy cần phải xác định ngay rằng, từ trước những năm 1975, du học sinh VN rất nhiều, nhưng chưa hề mang tai tiếng nào về những vụ ăn cắp như thế này. Họ chỉ mang vẻ vang về cho đất nước.

Hồi đó (trước 1975) hầu hết các học sinh VN được đi du học không cần phải là con ông cháu cha, bất kỳ gia đình nào đủ sức lo cho con cái đi du học đều được chính phủ cho phép dễ dàng. Các du học sinh hầu hết theo học ở Pháp hoặc ở Anh, Mỹ. Cần phân biệt rõ “du học sinh” và tu “nghiệp sinh” vì, “tu nghiệp sinh” là một dạng học nghề nên dù sang Nhật để làm thuê còn “du học sinh” là những người đi học văn hóa tại các trường Trung Học, Đại Học ở nước ngoài. Hầu như chưa có học sinh nào du học ở Nhật bởi thời ký đó Nhật Bản cũng chẳng hơn gì VN về mọi phương diện từ văn hóa đến xã hội, nếu không muốn nói là họ còn kém VN nhiều mặt bởi họ đang phải gắn bó vết thương chiến tranh tàn phá sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh. Nhưng từ đó đến nay, nước Nhật tiến bộ nhanh chóng. Trong khi người Việt vẫn nghèo đói tang thương. Từ cái nghèo đói đó nẩy sinh biết bao nhiêu tệ nạn. Nhất là nạn tham nhũng phá hoại tất cả từ văn hóa đến đạo đức. Nào là nạn buôn bán người, nạn trộm cướp, ma túy, mại dâm… kể làm sao hết. Chính vì lẽ đó nên số người xuất ngoại lao động ngày càng nhiều. Người VN bắt đầu giao thương với Nhật và du học sinh cũng được gửi sang Nhật học hành. Và sự thật là con cái đại gia thực thụ thì ít, con cái thuộc loại con ông cháu cha thì nhiều. Người dân lo kiếm ăn đã khó, lấy tiền đâu cho con đi du học. Chỉ có những người lao động muốn đổi đời chạy chọt đóng tiền cho các doanh nghiệp quốc doanh như Sovilaco hoặc Suleco được độc quyền xuất khấu lao động sang Nhật để học nghề kiếm tiền, gọi là “tu nghiệp sinh”. Gần như tất cả các “tu nghiệp sinh” tại Nhật phải làm việc khoảng 20 tiếng/ngày và 7 ngày/tuần nhưng chỉ được trả “trợ cấp” 70,000 Yen/tháng (khoản thu nhập chỉ bằng một nửa mức thu nhập tối thiểu). Một blogger người Việt có nickname là “Minh T”, sống tại Nhật khẳng định: “Với 25,000 Yen còn lại, phải dành 10,000 Yen trả tiền nhà/tháng, 15,000 Yen để trả các loại chi phí ăn, uống, điện, nước, ga,… Gái không làm điếm, trai không ăn cắp cho bọn hàng không Việt Nam mới là chuyện lạ”.

Tôi không nói tất cả các du học sinh VN thời nay đều như thế cả, chỉ có một số cô cậu ăn chơi lạc đường vào sa ngã. Tiếc thay con số đó lại không hề ít. Và không chỉ du học sinh mà số người ăn cắp thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau, kể cả người lao động và những người được gọi là có học. Xin dẫn chứng:
Image
Biển cảnh báo người Việt ăn cắp tại siêu thị ở Nhật bằng tiếng Việt không hiếm…


Mỗi ngày xảy ra 8 vụ người VN ăn cắp ở Nhật.


Báo Một Thế Giới dẫn nguồn từ Viet-jo.com cho biết, tháng trước, Cơ Quan Cảnh Sát Nhật Bản đã công bố tình hình bắt giữ tội phạm nước ngoài trong năm 2014 tại nước này với tổng cộng có 15,215 trường hợp. Trong số đó các vụ liên quan đến người Việt Nam lên đến 2,488 vụ, tăng 61,6% so với năm 2013, tính ra trung bình mỗi ngày xảy ra 8 vụ trộm cắp dính đến người Việt Nam.

Cụ thể, có tổng số người nước ngoài tại Nhật bị bắt là 10,689 người, tăng 8,1% so với năm 2013. Đặc biệt, trong số người phạm tội có đến 1,548 người Việt Nam, chiếm 16,4% tổng số các trường hợp các vụ do người nước ngoài vi phạm luật pháp bị cơ quan an ninh Nhật bắt giữ, chỉ xếp sau Trung Quốc.

Điều đáng buồn là trong số các vụ án hình sự, thì người Việt đứng đầu về cả số vụ lẫn số người các tội cướp giật, ăn cắp. Số người Việt ăn cắp bị bắt giữ là 1,745 trong tổng số 6,716 người nước ngoài bị bắt. Trong các trường hợp ăn cắp do người Việt Nam thực hiện thì số vụ ăn cắp ở cửa hàng, siêu thị đặc biệt cao với 1,437 vụ, người sang Nhật học nghề chiếm 12.9%. với phần lớn tỉ lệ là du học sinh với 54.2%, tăng 1,8 lần!

Những bản thông báo còn hơn chửi người Việt
Image
Bức ảnh cảnh báo không được lấy ô và giầy của người khác

Bạn đã thấy tình trạng người Việt Nam ăn cắp đồ tại Nhật lại có xu hướng gia tăng. Điều đó khiến cho hình ảnh người Việt càng thêm xấu xí trong mắt các bạn nước ngoài.

Cách đây không lâu, 6 người Việt (gồm cả nam và nữ) ăn cắp quần áo hiệu Uniqlo bị cơ quan chức năng Nhật Bản bắt giữ. Nhóm người này đã hơn 100 lần thực hiện hành vi trộm đồ. Khi điều tra về tài khoản của một phụ nữ trong nhóm, cảnh sát phát hiện nhiều giao dịch hàng hóa trị giá tới 10 triệu yên (tương đương 1,9 tỷ đồng). Họ trộm đồ từ nhiều cửa hàng ở những khu vực khác nhau và bán hàng thông qua các trang mạng xã hội. Hẳn bạn chưa quên mới đây hình ảnh những phi công và tiếp viên Hàng Không VN buôn lậu đồ ăn cắp được nêu tên trên báo. Hôm 17 tháng 12, cảnh sát Nhật đã bắt quả tang Ðặng Xuân Hợp, phi công của Vietnam Airlines đang vận chuyển hàng gian về Việt Nam. Cảnh sát xác định có khoảng 50 nhân viên (bao gồm cả phi công lẫn tiếp viên hàng không) của Vietnam Airlines dính líu đến tổ chức trộm cắp và vận chuyển hàng gian đang bị điều tra. Khi bị bắt phi công Ðặng Xuân Hợp xấu hổ quá tự cởi áo, che mặt tránh ống kính của báo giới Nhật khi bị bắt giữ tại phi trường Fukuoka. Theo tin mới nhất, ngày 18-5 vừa qua tại phiên tòa xét xử 2 nhân viên của hãng hàng không Vietnam Airlines mang 6 kg vàng nhưng không khai báo, công tố viên Hàn Quốc đã đưa ra bản án 24 tháng tù giam đối với cơ trưởng Nguyễn Văn Dũng và 12 tháng tù giam đối với tiếp viên Nguyễn Tuấn Phong.

Ngay cả một cô dẫn chương trình của Đài Truyền Hình VN, con một ông Tổng giám đốc thừa mứa tiền bạc cũng mắc chứng ăn cắp vặt. Một lần ở Thụy Điển và một lần ở Anh, Đại sứ quán VN phải can thiệp và cả hai lần bố cô phải gửi sang tờ giấy của bác sỹ chứng nhận bệnh tâm thần đưa ra sử dụng cô mới được thả. Câu chuyện từ năm 2001 và 2006, chuyện đã xa, giờ này chắc cô đã có tuổi và yên ấm bên chồng con nên tôi không muốn ghi rõ tên họ.

Thế nên ở nhiều nhà hàng cửa hiệu của Nhật đã dán những thông báo vô cùng nhục nhã đối với người Việt.

Bạn Kim Mạnh Hiệp (26 tuổi) – cựu du học sinh Đại học Tokyo Agriculture and Technology University, Nhật Bản cho biết: “Hiện tại, mình được biết có một vài công ty đã… cấm tuyển người Việt Nam. Một số video được các công ty này công bố có ghi lại hình ảnh người Việt ăn trộm sản phẩm… Rồi có cả những biển tiếng Việt “cấm ăn vụng, uống vụng đồ trong nhà bếp” để cảnh báo những bạn trẻ Việt làm trong nhà hàng Nhật nữa. Chưa kể, gần đây có một số vụ ăn cắp đồ trong siêu thị, hay bắt trộm dê của người dân, mà đài truyền hình NHK (Nhật) đã có phóng sự riêng dài hơn 20 phút…” Ngoài ra còn tấm bảng để ngay cửa ghi rõ tiếng Việt: “Tuyệt đối không được lấy ô và giầy của người khác để dùng”. Và chắc còn nhiều nữa mà chúng ta chưa biết hết. Nếu bạn có dịp đi du lịch sang Nhật chắc bạn không dám nhận mình là người Việt Nam. Còn rất nhiều chuyện đáng nói về vấn đề này, nhưng ở đây tôi chỉ chú trọng đến vấn đề chung mới đây của cả các du học sinh và tu nghiệp sinh.
Image
Phi công Ðặng Xuân Hợp tự cởi áo, che mặt tránh ống kính của báo chí


Bản thông báo mới của văn phòng trường Nhật ngữ viện nghiên cứu Tokyo

Ngày vừa qua, một bản thông báo mang tên “Thông báo đến học sinh Việt Nam về việc ăn cắp vặt” được chia sẻ trên nhiều diễn đàn giới trẻ. Theo thông báo này, văn phòng trường Nhật ngữ viện nghiên cứu Tokyo, Nhật Bản cho biết:

“Hiện nay nhiều sinh viên Việt Nam đang sinh sống tại Nhật bị cảnh sát bắt vì tội ăn cắp, bỏ trốn và không đến trường làm nhà trường rất lo lắng.

Ở các siêu thị hoặc cửa hàng thuốc tây ở Nhật đều có camera giám sát hoặc nhân viên giám sát ăn cắp vặt.

Gần đây, được biết có một tổ chức tội phạm liên lạc với những sinh viên đang du học tại Nhật như thế này: “Hãy đi đến tiệm… có bán những sản phẩm… ăn cắp rồi đưa cho người Nhật. Nếu làm vậy nợ nần ở Nhật sẽ được trả bớt”.

Khi bị bắt vì tội ăn cắp sẽ bị đưa vào tù và đưa trả về Việt Nam (cưỡng chế về nước). Trên thực tế những trường hợp như thế này đang gia tăng.

Mặt khác, nếu bỏ trốn không đến trường thì:

Xem như trở thành cư trú bất hợp pháp. Sinh viên nào không đến trường, nhà trường xem như sinh viên đó nghỉ học và thông báo đến Cục quản lý xuất nhập cảnh Tokyo. Nếu như thế cho dù còn thời hạn cư trú nhưng vẫn bị cảnh sát bắt.

Về hành vi ăn cắp, nếu không đến trường, bỏ trốn thì khi đang làm việc bị cảnh sát bắt được sẽ bị trả về nước và vĩnh viễn không được đến Nhật vì hành vi của bạn đã được lưu lại.

Nhà trường hiểu rằng các bạn sinh viên có nhiều vất vả nhưng các sinh viên đến đây với mục đích là du học sinh thì hãy cố gắng học tập tốt. Khi các bạn giỏi tiếng Nhật thì các bạn sẽ tìm được công việc tốt cho mình và chắc chắn sẽ có nhiều điều tốt đến với mình.

Khi các bạn có khó khăn gì, muốn trao đổi điều gì các sinh viên hãy đến văn phòng. Các sinh viên hãy cố gắng lên!”.
Image
Cảnh sát thu giữ số quần áo mà nhóm người Việt đã lấy cắp tại cửa hàng Uniqlo.


Nguyên nhân vì đâu


Bạn Nguyễn Hương Giang (24 tuổi, SV năm cuối trường Asia University, Nhật Bản) cho biết: “Theo mình, có 2 nguyên nhân dẫn đến việc trộm cắp này. Thứ nhất, trước khi trở thành như vậy, các bạn ấy cũng chỉ là du học sinh bình thường nhưng do hoàn cảnh “cơm áo gạo tiền” nên “nhẹ dạ cả tin” vào những lời “rót tiền như rót mật” và bị các tổ chức tội phạm liên hệ, dụ dỗ thực hiện hành vi trộm cắp”.

Từ những câu chuyện, hình ảnh “tố” thói “trộm cắp vặt” của du học sinh Việt tại Nhật, Nguyễn Phượng – một bạn trẻ Việt 26 tuổi đang làm việc tại Nhật nói: “Theo mình, nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ chính cách giáo dục của người Việt, từ cách hành xử đời thường”.

Ngay cả các bạn trẻ cũng đã nhận thức được nguyên nhân xảy ra những hành động xấu xa đó chính là do tuổi trẻ đã có một thời gian quen sống trong một xã hội suy đồi đạo đức, con người đối với nhau chỉ là quyền lợi cá nhân. Trước mắt là những kẻ không cần làm gì vẫn có tiền rừng bạc bể khiến thiên hạ ngây ngất. Cứ thò tay ra là có tiền, đó là tiền hối lộ. Các cậu dù là du học sinh, dù là con ông cháu cha, dù là dân lao động đi học nghề không ăn hối lộ được thì ăn cắp. Thói quen xấu ấy tiêm nhiễm vào huyết quản rồi, đã thành cái bệnh nan y. Khi nào các cha anh sống lương thiện cho các con cháu noi theo mới có lớp người tử tế được. Còn trong tình trạng suy đồi này thì vẫn sẽ còn những tờ thông báo dán trên tường các cửa hàng cửa hiệu trên đất Nhật. Chưa biết chừng nay mai còn có những tờ thông báo như thế này ở các nước khác nữa. Cẩn thận đề phòng đi là vừa.

Văn Quang 22-5-2015
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest