Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Địa Phương Quân và Nghĩa Quân QLVNCH
Long Ðiền
Mục đích:

Bài này viết để vinh danh những “Anh Hùng Vô Danh” Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân trong cuộc chiến 1954-1975, họ là những người chịu nhiều đau thương nhất, tổn thất cao nhất so với các binh chủng khác trong QLVNCH, đồng thời họ chịu nhiều sỉ nhục từ phía cộng sản.

Vì chính CSVN xem họ là kẻ thù nguy hiểm nhất qua 2 câu vè tuyên truyền của VC thời đó:

“Ngàn hai bắt được thì tha.
Chín trăm bắt được đem ra chặt đầu”

(1200 đồng là lương hàng tháng của quân dịch Chủ Lực Quân, 900 là lương của Dân Vệ/Nghĩa Quân) thực tế CSVN chỉ tuyên truyền vậy thôi, thời kỳ chiến tranh 1945-1975 chúng bắt được ai thì hầu hết đều bị thủ tiêu chớ làm gì có tha ai đâu.

*Giới thiệu sơ lược:

Ðịa Phương Quân, thời kỳ đầu được gọi là Bảo An Ðoàn, là lực lượng vũ trang địa phương của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Bảo An Ðoàn được thành lập năm 1955 trên cơ sở thống nhất các lực lượng Bảo Chính Ðoàn, Nghĩa Dũng Ðoàn, Việt Binh Ðoàn do Pháp bàn giao lại, thu nạp thêm một bộ phận các tín đồ Thiên Chúa giáo Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Trong thời gian từ năm 1955 đến 1964, lực lượng Bảo An Ðoàn trực thuộc Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Hòa, làm nhiệm vụ bảo đảm trật tự trị an ở từng địa phương.

Từ 1964, Bảo An Ðoàn được chuyển sang trực thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa và đổi tên thành Ðịa Phương Quân. Ðịa Phương Quân tổ chức thành các đại đội (khoảng 100 người). Trong thời gian từ 1968 đến 1972, lực lượng này phát triển mạnh từ 895 lên 1,823 đại đội, tương ứng với số quân 132,000 lên 301,000. Cuối 1972, một số đại đội Ðịa Phương Quân được gộp lại thành tiểu đoàn. Phần lớn các đồn lớn là của Ðịa Phương Quân do tiểu khu và chi khu điều khiển. Các đồn nhỏ do phân chi khu (xã), giao cho Nghĩa Quân phụ trách. Bộ Chỉ Huy quận hay còn gọi là chi khu thông thường do lực lượng Nghĩa Quân bảo vệ.

Chi khu trưởng và Ban Tham Mưu chi khu là những cấp chỉ huy xuất sắc của Chủ Lực Quân đưa sang nên họ đã huấn luyện, hướng dẫn các đơn vị ÐPQ/NQ những phương thức hữu hiệu để tiêu diệt cộng sản mà họ đã có được kinh nghiệm khi còn chỉ huy các đại đơn vị tinh nhuệ như Nhảy Dù, Biệt Ðộng, Thủy Quân Lục Chiến, v.v... Do đó có nhiều trung đội Nghĩa Quân đánh giặc hữu hiệu không thua gì các đơn vị chủ lực. Chính hai thành phần này mới là những người bám rễ giữ đất, chịu nhiều gian khổ và thương vong nhất trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ.

Phía cộng sản xem họ là kẻ thù nguy hiểm, nhưng báo chí Miền Nam Việt Nam thời đó cũng tỏ ra có nhiều ngộ nhận không ít về họ. Có báo thì cho là lính ma, lính kiểng, có báo thì cho là binh chủng lạc hậu và đặt tên là “con rùa chậm tiến” chỉ vì họ không được trang bị hiện đại bằng các binh chủng khác, luôn luôn được trang bị chậm và thiếu các loại vũ khí tối tân như M16, M79 phóng lựu và thông thường phương tiện di chuyển hay hành quân họ thảy đều dùng đôi chân của mình chớ không có phương tiện cơ hữu như quân xa, máy bay. Họ đánh giặc theo kiểu nhà nghèo. Lương thì ít ỏi không đủ sống, vì vậy đôi khi NQ còn được trợ cấp thực phẩm, có 2 câu thơ truyền miệng:

“Dân Vệ Ðoàn vì dân trừ bạo
Hai bao gạo một thùng dầu.”
(Chú thích: Gạo của Hoa Kỳ trợ cấp loại 10 ký/bao, dầu là loại dầu ăn hột cải 4 lít.)

Nhận định về người lính ÐPQ/NQ thuộc QLVNCH xin đơn cử một số nhận định sau đây:

1- Quân lực Việt Nam Cộng Hòa 1968-1975 (bài của nhà nghiên cứu về Việt Nam Bill Laurie):

Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời trình bày quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên “Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc Ðại Học Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 tháng 3 năm 2006.

Trong số nhiều diễn giả Việt Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm trung thực và thẳng thắn nhất của riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên viên tình báo cao cấp trong nhiều năm, song song với những ý kiến không quanh co che đậy về giới truyền thông và chính trị Hoa Kỳ trong thời chiến tranh tại Việt Nam. Bài này dịch thuật nguyên văn bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để trình bày lại, vắn tắt hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả, cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ.

Sử gia Bill Laurie đã có nhận định như sau về ÐPQ và NQ:

“Cũng không hề có ai ngụ ý hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng Ðịa Phương Quân tỉnh Hậu Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đã làm mất mặt chẳng những một mà tới ba trung đoàn chính quy của quân đội miền Bắc trong chiến dịch tấn công năm 1972 của Hà Nội.

“Họ đã nhai nát và nhổ phun ra nguyên cả lực lượng tấn kích của đối phương, một lực lượng có thể đã làm đổi chiều lịch sử vào thời kỳ đó. Ðịa Phương Quân không được pháo binh và không quân sẵn sàng yểm trợ như lực lượng chính quy VNCH, trong đó kể cả Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến,... Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật chiến đấu căn bản bộ binh.”

2- Bài “Xác Ðịnh Giá Trị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” của Tiến Sĩ Lewis Sorley (phần nói về ÐPQ/NQ)

Tiến Sĩ Lewis Sorley tốt nghiệp cử nhân năm 1956 tại U.S. Military Academy, West Point; M.A. năm 1963 tại University of Pennsylvania; M.P.A năm 1973 tại Pennsylvania State University; và tiến sĩ (PhD) năm 1979 tại Johns Hopkins University ông đã trình bày về những nhận xét ÐPQ/NQ như sau:

“Ông Thomas J. Barnes trở lại Việt Nam sau ba năm vắng mặt để làm việc trong chương trình bình định vào mùa Thu 1971. Ông nói với Tướng Fred Weyand là ‘Tôi đã ngạc nhiên với ba tiến bộ chính, sự phồn thịnh của nông thôn, Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân giữ vững vị trí và phát triển sự tự trị chính trị kinh tế làng xã. Ta đã giúp làng xã lấy lại tính cách độc lập và tự lực theo tập tục Việt Nam. Ðó là việc tham gia quan trọng nhất của chúng ta trong công việc bình định.’

“Tháng Năm 1967, khi Ðại Tướng Abrams đến Việt Nam thì Quân Lực VNCH gồm có Lục Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân. Ngoài ra còn có những lực lượng diện địa bao gồm Ðịa Phương Quân (ÐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) phụ trách an ninh lãnh thổ. Tỉnh Trưởng chỉ huy Ðịa Phương Quân còn Nghĩa Quân đặt dưới quyền Quận Trưởng. Các lực lượng này trú đóng tại địa phương của họ và thực hiện mục tiêu ‘càn quét và giữ đất’. Vào năm 1970 đã có 550,000 quân số, nghĩa là một nửa QLVNCH.

“ÐPQ và NQ gia tăng khả năng và thành tích của họ và phải được ghi công đầu. Trong buổi thuyết trình WIEU (dự đoán tình báo hàng tuần) cho quan khách Tướng Abrams nói, ‘Ðiều tôi quan tâm nhất là vai trò của ÐPQ và NQ trong chiến cuộc luôn bị quên lãng. Người ta chỉ thường nói đến QLVNCH trong khi đã lâu nay ÐPQ và NQ gánh chịu nhiều tổn thất và đã giáng cho quân địch nhiều đòn chí tử... Tôi nói thẳng, nếu ta muốn nói đến an ninh cho dân thì đây mới là phần việc lớn!’”

Cùng một lúc, ông nói rõ ràng về thành tích của các đơn vị này, “Tôi không biết có nên trang bị thêm các đại đội Lục Quân không? Nếu có thêm nhân số thì tôi nghĩ đem đầu tư vào các lực lượng diện địa (ÐPQ/NQ) này có lợi hơn.”

Cuối năm 1969, khi nhìn biểu đồ tình hình trong ba tháng vừa qua ghi rõ ai đã đem lại nhiều thành quả nhất về khí giới, tử vong, Tướng Abrams đã nói: “Thật rõ ràng và đúng. Số địch bị giết, khí giới thu được, hầm bí mật phát hiện, v.v... thì QLVNCH vẫn giữ nguyên tỷ lệ 27/28% trong khi tỷ lệ của Ðồng Minh sút giảm. Sự chênh lệch là do các lực lượng địa phương và đã xẩy ra từ Tháng Tám vừa qua.”

Một người trong cử tọa nói lớn, “Ðó là tính chất của cuộc chiến!”

Tướng Abrams trả lời ngay, “Ðúng lắm! Tôi luôn luôn hỏi lợi nhuận thu được từ 100,000 súng M-16 như thế nào? Như vậy hả? Vâng ta đã bắt đầu thấy kết quả”!

Ông Bill Colby cũng nhận xét rằng trong Tháng Bẩy 1970 lực lượng địa phương cũng bảo vệ được súng của mình. Tỷ lệ khí giới mất đối chiếu với vũ khí thu được là một trên ba, khác hẳn tình trạng năm năm trước đây.

Tướng Abrams nói thêm: “Các lực lượng địa phương, các con sóc ấy tiến tới rất vững vàng. Một tình trạng đã được duy trì lâu nay là ÐPQ và NQ đã gánh chịu phần lớn trách nhiệm chiến tranh.” “NQ đã lần hồi gỡ bỏ mặc cảm của một phụ lực quân để trở thành các binh sĩ chính quy và là một bộ phận chính của bộ máy chiến tranh”!

Các sĩ quan cao cấp Việt Nam cũng nhìn nhận như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng:

“Các ÐPQ và NQ tăng tiến về phẩm cũng như lượng và đã được các nhân vật bình luận khắt khe như Tướng Julian Ewell khen tặng: “Họ là mũi nhọn trên chiến trường”!

Ưu điểm:

Sở trường của ÐPQ/NQ là đánh du kích, là triệt tiêu hạ tầng cơ sở địch, trong chiến dịch Phượng Hoàng họ là binh chủng cung cấp tin tức tình báo nhiều nhất, chính xác nhất, đồng thời cũng là đơn vị trực tiếp triển khai hành quân, thanh lọc, phục kích để tiêu diệt du kích Việt Cộng và lực lượng địa phương huyện, xã của địch. Vì sống gần dân (ÐPQ) trong dân (NQ) nên họ nhận được nhiều tin tức tình báo quý giá, những báo cáo về sự thâm nhập của quân CS vào trong xã ấp, những thói quen di chuyển của VC nên các cuộc đột kích, phục kích của ÐPQ/NQ rất dễ thành công.

- Trong thế phòng thủ đôi khi đối đầu với chủ lực CS, các chiến sĩ NQ/ÐPQ cũng đã đánh nhiều trận ngoạn mục bẻ gãy các cuộc tấn công bằng xe tăng có pháo binh yểm trợ của chủ lực CS Bắc Việt.

- Trong công tác Bình Ðịnh Phát Triển họ là thành phần xuất sắc góp phần trong các chính sách của Quốc Gia như rào ấp Chiến Lược, ấp Tân Sinh, Luật Người Cày Có Ruộng, v.v...

- Trong quốc sách Chiêu Hồi mà kết quả trên 200,000 cán binh VC về hồi chánh để trở về với đại gia đình dân tộc thì ÐPQ/NQ là có thành tích cao nhất trong việc kêu gọi cán binh VC trở về với chính nghĩa Quốc Gia.

- Trong công cuộc trường kỳ kháng chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ miền Nam chống lại sự xâm lăng ồ ạt của quân chính quy Cộng Sản Bắc Việt cũng như sự phá rối trị an của du kích cộng sản còn gọi là Việt Cộng (VC). Lực lượng Diện Ðịa bao gồm Ðịa Phương Quân (ÐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) đảm nhận trọng trách lớn lao là bảo vệ làng, xã, thị xã, tỉnh lỵ, đô thị, trường học, cầu cống, quốc lộ, tỉnh lộ, trục lộ giao thông nông thôn, đường sắt, các công trình quan trọng (như đập thủy điện Ða Nhim, Nhà Ðèn Chợ Quán, v.v...)

Có bảo vệ an toàn nơi tuyến đầu là nông thôn thì chốn hậu phương thành thị mới yên ổn để phát triển và xây dựng, thất bại ở nông thôn là mất hậu cứ căn bản sẽ bị Cộng Sản bao vây và khủng bố. Chúng ta thử nghĩ hậu cứ của các đại đơn vị của QLVNCH tại thủ đô Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, v.v... sẽ ra sao nếu không có vành đai nông thôn do lực lượng ÐPQ/NQ bảo vệ an toàn bao bọc.

Ngoài ra hàng ngàn công trình xây dựng của Quốc Gia sẽ ra sao nếu không có sự bảo vệ ngày đêm của lực lượng diện địa ÐPQ/NQ để cho Chủ Lực Quân rảnh tay hành quân lưu động tảo trừ quân chính quy CS xâm nhập miền Nam. Nhưng thật bất công cho họ trước 1975 báo chí VNCH gần như quên lãng họ, báo chí hải ngoại sau 1975 cũng vậy, xem họ như con ghẻ, hay nhẹ hơn là xem họ như những đơn vị thứ yếu trong Quân Lực VNCH!!!

Hãy nghe lời nhận định của Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Ðoàn 5 BB/ QLVNCH (lúc đó đang là đại tá trung đoàn trưởng TR.Ð 8/ SÐ5BB) trả lời phỏng vấn của Chuẩn Tướng Haig/ QÐ Hoa Kỳ ngày 24 tháng 1, 1970: “Ông giải thích sự sắp xếp này chỉ cho thấy cần yểm trợ thêm cho NQ/ÐPQ trong các cuộc hành quân của các đơn vị này vì hiện giờ pháo binh của QLVNCH phải yểm trợ cho các đơn vị chính quy và địa phương quân trong vùng hành quân của Trung Ðoàn 8...

...“Chỉnh đốn lại cấu trúc của tất cả các vị trí phòng thủ của NQ/ÐPQ theo tiêu chuẩn của SÐ 1 BB HK để loại bỏ mọi yếu điểm hiện có trong các vị trí này. Rất nhiều vị trí hiện hữu, lô cốt và công sự phòng thủ được thiết kế và xây cất một cách yếu kém và sẽ không chống nổi bất cứ một loại tấn kích nào.”

“Nhưng ông nói nếu NQ/ÐPQ không chu toàn được phận vụ bảo toàn an ninh cho các trung tâm đông dân cư, các đơn vị QLVNCH sẽ buộc phải rút về bảo toàn an ninh cho các vùng đó và rồi các đơn vị QLVNCH trở lui lại vị thế của năm 1966”...

“Cần có yểm trợ pháo binh trực tiếp cho NQ/ÐPQ.”

Nhiệm vụ của ÐPQ/NQ thật nặng nề đó là bảo vệ an ninh cho đồng bào sống an lành trong các thôn ấp, đồng thời bảo vệ các thành thị, tỉnh lỵ, quận lỵ, được an bình và chống lại những vụ pháo kích bừa bãi của Cộng Nô vào các vùng đông dân cư. Trong khi đó thì chủ trương của Cộng Sản Việt Nam là dùng nông thôn bao vây thành thị, phá hoại an ninh tại nông thôn bằng hàng trăm hình thức khủng bố, sát hại, thủ tiêu, bắt cóc, bắt thanh niên từ 14, 15 tuổi trở lên bổ sung cho lực lượng VC, cho các mật khu, du kích và chủ lực tỉnh, huyện. ÐPQ/NQ đã triệt hạ các ý đồ của Cộng Quân là làm cho nông thôn bị mất an ninh để đồng bào chạy về khu thành thị, để từ đó chúng dùng nông thôn bao vây thành thị trong chiến lược thôn tính Miền Nam theo chủ trương của quốc tế cộng sản.

Nhược điểm:

- Một khi đã chấp nhận nhiệm vụ diện địa thì phải có mặt thường xuyên trên địa bàn cố định, đồng thời phải liên tục tuần tiễu xa và gần để bảo vệ cứ điểm như đồn bót, chợ búa v.v... Lực lượng diện địa thường cố định quân số, ví du bảo vệ cầu trên quốc lộ thì từ cấp tiểu đội đến trung đội (từ 10 đến 30 quân nhân). Quân số ít thay đổi do đó dễ bị CS điều nghiên đem lực lượng mạnh gấp 3, 5 lần để tấn công. Quân dụng thiếu thốn, nhất là vật liệu để xây dựng hệ thống phóng thủ, hầm hố rất thiếu thốn so với chủ lực quân nên khó có thể cầm cự khi bị địch ồ ạt tấn công.

- ÐPQ/NQ sống trong quần chúng, nhận nhiều tin tức tình báo từ dân cư địa phương nhưng đồng thời cũng dễ bị rò rỉ thông tin cho cộng sản tấn công, dễ bị cài nội tuyến đánh úp đồn bót.

- Gánh nặng trách nhiệm, huấn thị phối hợp của Bộ Tổng Tham Mưu đã minh định rõ ràng là ÐPQ/NQ lực lượng bảo vệ lãnh thổ (cố định), nhưng lại được trang bị yếu kém so với Chủ Lực Quân.

Ðó là 3 yếu tố căn bản giải thích lý do tại sao lực lượng này chạm địch thường xuyên và chịu tổn thất gấp rưỡi hay gấp 2 lần so với Chủ Lực Quân (bao gồm các sư đoàn Bộ Binh và TQLC, Nhảy Dù, BÐQ cộng lại) theo bảng thống kê tổn thất sinh mạng hàng năm do Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đúc kết.

- Trong khi đó nhiệm vụ của Chủ Lực Quân là hành quân lưu động lùng và tiêu diệt chủ lực quân của CSVN, nhờ yếu tố di động thường xuyên nên họ ít bị địch tập trung tấn công hơn so với ÐPQ/NQ. Ngoài ra lực lượng Tổng Trừ Bị gồm các sư đoàn Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến thường hành quân lưu động với quân số từ cấp tiểu đoàn, trung đoàn trở lên, đây là các đai đơn vị tinh nhuệ, có hỏa lực không quân và pháo binh cơ hữu cũng như tăng phái yểm trợ tối đa khi lâm chiến nên CSVN thường tránh né các đại đơn vị này mà tìm cách đánh các đơn vị nhỏ của ÐPQ/NQ. Chứng tỏ trong cuộc chiến VN áp lực địch luôn đè nặng lên ÐPQ/NQ. Ngoài ra tấn công vào các vị trí như tỉnh lỵ, đô thị thì CSVN dễ dàng cướp đoạt tài sản dân chúng, chứ tấn công các đơn vị chủ lực thì vừa dễ bị thiệt hại và chẳng có tài sản gì để cướp ngoài vũ khí.

Những trận đánh chưa ai kể đến của ÐPQ/NQ trong cuộc chiến Việt Nam:

Có thể nói rất nhiều kể sao cho hết những chiến công hiển hách của anh em chiến sĩ ÐPQ/NQ trên toàn thể Miền Nam từ 1954-1975, tôi chỉ lược ra đây một số những chiến công của ÐPQ/NQ chưa hề được ai nhắc tới:

- Trần Văn Tựu một chiến sĩ Nghĩa Quân quận Long Ðiền, chức vụ trung đội trưởng, trước kia là một đại đội trưởng du kích huyện Long Ðất, nhưng sau khi trở về với chính nghĩa Quốc Gia, anh đã lập nhiều chiến công hiển hách. Từng hướng dẫn lực lượng Quận vào đột kích mật khu Tam Phước, Minh Ðạm như chỗ không người. Ðánh giặc đối với Tựu là một cái thích thú, không hề than van cực nhọc, được đi hành quân là vui, không thích nhiệm vụ canh gác. Tỉnh Ðội Bà Rịa, huyện đội Long Ðất từng bao lần treo giá anh Nghĩa Quân này còn cao hơn sĩ quan trong Chi Khu. Vì tất cả thói quen, đường đi nước bước của VC trong vùng anh thảy đều thuộc nằm lòng.

Trên đường đột kích mật khu Minh Ðạm năm 1965, xuất phát lúc nửa đêm, trung đội của anh nhận nhiệm vụ dẫn đường, lực lượng quận khoản 4 trung đội NQ theo sau. Anh là trung đội trưởng vừa là khinh binh đi đầu... Còn độ 500 thước nửa đến mật khu. Nhìn dấu chà chôm (chổi bằng cành cây trong rừng) vừa mới quét, anh biết ngay là sắp vào mật khu, ra lệnh cho anh em dừng lại để anh đích thân bò đi đầu tháo gỡ mìn bẫy. Anh đã áp sát và hạ thủ tên du kích canh gác dễ dàng không tiếng động, kế đó 1 tên vừa ra suối đánh răng cũng bị anh hạ thủ nhẹ nhàng. Ra thủ hiệu cho thuộc cấp bò theo, lần lượt mỗi anh NQ đứng kế bên mỗi chiếc võng của kẻ thù, bằng 1 thủ hiệu kế tiếp tiểu đội anh đã đồng loạt thanh toán gọn trên 10 tên VC còn đang ngủ trên võng bằng lưỡi lê mà không hề nổ 1 phát súng. Sau đó cắt người canh gác thay cho VC, lục soát các hầm trú ẩn, xong rồi mới báo cáo cho quận đem quân vào thanh toán phá hủy căn cứ địch.

Có đi bên cạnh anh thì mới biết khả năng tác chiến trong rừng của anh rất cao, đầy khôn khéo. Mỗi hành động đều có tính toán nhanh như sao xẹt, phản ứng rất nhanh và chính xác. Một lần đang đi cùng tiểu đội đi đến điểm phục kích đêm, anh vô tình đi ngang qua một cửa sổ có 1 tên du kích đang về thăm nhà, ngoài ra còn có 2, 3 đồng bọn canh gác ngoài xa. Tên du kích thoáng thấy dáng anh la lên hỏi: “Ai?” Anh bình tĩnh đi chậm lại, không quay đầu, không hấp tấp trả lời: “Mình đây mà!” rồi tiếp tục đi bình thường. Tên du kích mắc lừa tưởng đồng bọn, không nổ súng. Vừa qua khỏi vách nhà, anh xoay ngang trả lời bằng 1 tràng tiểu liên Thompson kết liễu tên VC trong nhà. Bởi vì nếu anh tỏ ra hấp tấp hay chạy thì tên này sẽ nổ súng trước anh và sẽ hạ anh dễ dàng.

Còn hàng trăm chuyện lớn, chuyện nhỏ của anh trong đời lính đẹp như ciné, lính trong quận thi nhau kể về anh như thế! Nhưng hễ có tài thì lại có tật, trong bất kỳ cuộc hành quân nào, dù cấp chỉ huy có ra lịnh, lục soát bi đông của anh cẩn thận đến đâu, hễ đi ngang qua xóm nhà dân thì anh chàng mua bidon rượu đế lúc nào không ai biết, rồi vừa đi vừa lén uống từ từ!

Một lần đi hành quân qua vùng An Ngãi, ta và địch chạm súng bất ngờ, địch khai hỏa trước làm cho ta bị thương 2 NQ, địch có cây cối bao che, bên ta trống trải nên đành nằm bẹp để chịu trận. Quân ta dàn hàng ngang chờ đợi vì địch đang có chướng ngại vật bao che, có gốc cây lớn làm điểm tựa, địch bắn sẻ chứ chưa dám xung phong vì hai bên ngang ngửa. Thình lình anh chàng Tựu nổi nóng vì nãy giờ phải mọp bên bờ ruộng, từ từ cởi súng, đạn ra để 1 bên chỉ đeo dây ba chạc đầy lựu đạn M26, không nói 1 lời, không xin phép cấp chỉ huy. Ðứng dậy vụt chạy cực nhanh thẳng vào vị trí địch, trong khi đồng đội thảy đều bất ngờ.

Anh ta chạy có kỹ thuật chữ chi hẳn hoi, hai tay 2 quả lựu đạn, còn cách khẩu thượng liên 10 mét, tông 2 quả lựu đạn xong rồi nằm chờ. Hai tiếng nổ long trời vừa nổ chưa hết khói là lúc anh ta phóng mình chạy vô lượm súng và thanh toán địch bằng chính AK của địch. Tới đó thì Trung Ðội còn lại mới giật mình mà xung phong theo anh. Trận đụng độ chớp nhoáng này ta hạ sát được 4 tên VC, số còn lại hoảng quá chạy hết. Anh chàng Tựu đứng lên cười ha hả làm cho chúng nó nín thở mà chạy, bỏ lại khẩu thượng liên và 2 khẩu AK. Diễn tả thì dài dòng mà diến tiến ngoài mặt trận thì nhanh như chớp mắt, không ai ngờ anh Tựu lại thanh toán địch nhanh đến như vậy!

Tức mình vì anh này làm càn không xin phép, sĩ quan Chi Khu kêu anh lại quở trách. Anh chàng trả lời tỉnh bơ: “Thiếu úy ơi, em đâu có ngu, em bỏ súng lại, chạy mình không vô tụi nó, chơi cho tụi nó 2 quả, lỡ thời tụi nó bắn giỏi thì cùng lắm là chết mình em, chúng nó đâu lấy được súng em đâu!” Rồi cười hề hề làm sao mà nổi nóng với anh chàng ba gai này được!

Một lần VC phát loa, gần bên hông dinh quận chừng trăm thước, có lẽ tiểu đội du kích bò vô, phát loa tuyên truyền chừng 5, 10 phút rồi sẽ bỏ chạy, trong quận thì chưa biết phản ứng ra sao vì VC đang nấp bên nhà dân, bắn ra thì sợ trúng dân, không bắn thì cũng kẹt. Anh chàng Tựu giơ tay tình nguyện: “Xin ông thầy cho em ra lấy cái loa, đừng bắn ra tui nó, coi chừng trúng em, em hứa bắt gọn lấy cái loa nộp ông thầy mà.”

Với cây tiểu liên bá xếp anh bò ra ngoài bằng cổng hậu rồi lần mò ra tới nơi tên phát loa, đứng dậy bắn 1 phát lấy cái loa chạy vô quận, tụi du kích còn lại bắn theo nhưng không kịp với con sóc nhanh nhẹn này. Diễn tiến chưa đầy 10 phút thì anh đã thanh toán xong mục tiêu! Với kích thước nhỏ con độ chừng 1m55 thôi nhưng anh chàng NQ gan dạ này làm cho bọn VC trong vùng kinh hồn táng đởm.

- Ở chi khu Ðất Ðỏ cũng có vài anh NQ gan cóc tía, y hệt anh Tựu. Anh này tên gì tôi quên rồi, chỉ còn nhớ sự việc như vầy:

Khoảng năm 1967, VC bao vây Chi Khu Ðất Ðỏ ngay giữa ban ngày, vòng vây chưa thắt lại gần, chúng đã xâm nhập vào 2 xã Phước Thạnh và Phước Hòa Long cách BCH Chi Khu độ 2 cây số đường chim bay. Chúng bắn cầm chừng nhưng lực lượng thâm nhập vô Quận lỵ rất đông, có lẽ để chờ đánh lực lượng tiếp viện của tỉnh. Quân số chúng độ khoản trung đoàn. Những toán quân tuần tiễu của ta đụng độ lẻ tẻ với địch nhưng phải rút về chi khu vì quân số địch quá đông.

Ðược tin tình báo của dân và vợ lính cho biết VC đang đóng quân nhiều nơi, trong đó có 1 chỗ đặt Bộ Chỉ Huy gần nhà dân, muốn phối kiểm tin tức để có thể sử dụng pháo binh đánh chính xác địa điểm vì sợ lầm nhà dân, ông chi khu trưởng đích thân tập hợp Trung Ðội NQ Thám Báo Chi Khu để tìm 1 người tình nguyện đi ra ngoài, vào tận nơi để xem xét tình hình. Cuộc đi này muôn vàn nguy hiểm vì vậy ông chi khu trưởng cần 1 người tình nguyện. Trong vòng 5 phút giải thích lý do, có đến 3 anh NQ tình nguyện! Anh chàng được chọn vì anh viện cớ có vợ chưa có con, có gì thì nhờ 2 bạn kia lo giùm vợ con.

Anh giả trang người đi cày vác cuốc, mặc áo bà ba, lận lựu đạn trong người. Lấy cớ đang cày bừa, nghe nổ súng nên chạy về nhà. Anh qua mặt du kích gác dễ dàng, xăm xăm đi vào vùng địch kiểm soát, đi về hướng BCH Trung đoàn địch với cây cuốc trên vai! Qua mấy xóm nhà dân, gần đến BCH thì địch khả nghi, hô đứng lại, anh vụt chạy thẳng vô căn nhà VC đóng BCH nên chúng chưa dám nổ súng sợ trúng cấp chỉ huy. Anh xông tới gần, ném 2 quả lựu đạn rồi chạy ra ngoài sau khi nổ xong, tiêu diệt trọn ổ BCH Việt Cộng. Sau đó anh chạy thoát được ra ngoài vì chúng hoảng loạn, mãi gần 4 giờ đồng hồ sau anh mới về đến được Chi Khu, hoàn thành nhiệm vụ tình báo!!! Nhờ tin tức chính xác, Chi Khu sau đó đã bắn pháo binh vào đúng tọa độ anh NQ này cho, đồng thời lợi dụng lúc địch đang bối rối vì BCH bị thiệt hại nặng, Chi Khu đã nhanh chóng điều động lực lượng ÐPQ phối hợp NQ giải tỏa vòng vây. Ðịch bỏ chạy, rút hết vì đã lộ kế hoạch.

- Ðồn Bờ Ðập thuộc xã Hội Mỹ, quận Ðất Ðỏ, do 1 trung đội thuộc Ðại Ðội 612 ÐPQ đảm trách, tối đi phục kích 2 tiểu đội, còn 1 tiểu đội ở nhà giữ đồn. Vợ lính cũng cắt gác 1 vọng vì thiếu quân số. Ðêm đó (khoảng năm 1967) VC sử dụng 1 tiểu đoàn chính quy, có súng phun lửa, DKZ, B40 cộng thêm dân công ước độ vài trăm người tấn công biển người với cái đồn nhỏ chỉ độ 10 người lính với 15 bà vợ lính, 2 tiểu đội đi phục kích bên ngoài cũng không về tiếp ứng được. Các bà vợ lính đã chiến đấu dũng cảm, con nít thì tiếp tế đạn, lựu đạn, họ đã cầm cự đến sáng Chi Khu mới đưa quân đến tiếp ứng kịp thời, sau đó thu gom xác VC chết chung quanh đồn gần 60 tên, mượn xe pulldozer ủi 1 cái hố chôn chung mấy tên “sinh Bắc tử Nam” này chung 1 hố có cấm bảng lớn ghi rõ ràng: “Mồ chôn Cộng Phỉ.”

Không hiểu sau 75, VC có đào đi cải táng không thì không rõ. Phần này chắc chúng không dám ghi vào quân sử vì tủi hổ quá 10 đánh 1, mà một lại thắng! Mấy bà vợ lính sau đó có được tỉnh tặng bằng khen, có truyền hình từ Sài Gòn đến quay phim làm lại trận giả, quay lại trận đánh để đời này, không rỏ chiếu được mấy lần!

Sau trận này có 1 chi tiết đứng tim. Ðó là khi trên tiểu khu đến nghiên cứu trận liệt có 2, 3 sĩ quan cấp tá đến xem xét, suýt chút nữa là to chuyện, vì có 1 tên VC quá sợ trốn trong bụi cây ôm khẩu AK, trời sáng bét mới giơ khẩu AK đứng lên đầu hàng, làm ai nấy một phen hú hồn vì nó mà còn can đảm quơ 1 băng AK chắc phải có 2, 3 sĩ quan chết vì tên này!

Lính NQ ở các quận nói chung rất gan dạ, chiến đấu trường kỳ không hề than van, họ có ưu điểm sống gần nhà, gần quê quán nên không dám làm gì sai quấy sợ bà con chê cười. Trong khi đó lực lượng chủ lực xa nhà, xa quê, nếu cấp chỉ huy không kiểm soát kỷ dễ có tình trạng kiêu binh làm mất lòng dân. Anh em ÐPQ/NQ rất sợ mất lòng dân nên họ giữ gìn kỷ luật rất giỏi. Ðây chỉ là nhận xét chung chung, không có ý so sánh với các binh chủng đàn anh. Bởi vì các trận đánh lớn binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, v.v... xứng đáng bậc đàn anh vang lừng trong quân sử còn NQ/ÐPQ chỉ sở trường những trận nhỏ không tên mà thôi.

- Trong trận chiến sau cùng tại Chi Khu Long Thành ngày 24 tháng 4 năm 1975, tôi đã mục kích những người lính Nghĩa Quân Long Thành, bắn cháy 4, 5 chiếc T-54 qua những màn xáp lá cà còn hay hơn phim ảnh Mỹ!!! Ai có dịp đi ngang quốc lộ 15 đoạn quận lỵ Long Thành sau ngày 30 tháng 4, 1975 chắc đã thấy 5, 7 xác T-54 của VC cháy còng queo trước quận lỵ Long Thành, đó là chiến công của Nghĩa Quân Long Thành đánh tăng T-54 bằng M.72 và M.79 chống tăng rất giỏi. Trung Tá Sáu, quận trưởng kiêm chi khu trưởng, đã đánh một trận khiến cho Cộng Quân nhớ đời.

Trung Tá Sáu trong trận đánh đã đi từng vị trí của NQ để động viên binh sĩ, đồng thời ông cầm nón sắt đi xin các binh sĩ nào còn lựu đạn để đính thân ông đem ra cổng chánh cho binh sĩ ném vào các chiến xa địch đang tràn vào. Một chiếc T54 bị đứt xích 1 bên vì trúng M72 quay vòng vòng trước cổng Chi Khu sau đó đã bị 1 chiến sĩ NQ phóng lên thảy 1 trái lựu đạn vào buồng lái kết thúc cuộc đời của “con cua” gãy càng này. Hành động can đảm này của anh NQ đã trả giá bằng chính bàn tay của anh, vì thế Trung Tá Sáu đã xin trực thăng tản thương anh chiến sĩ can trường này trong khi 2 bên còn đang đánh nhau dữ dội! Sau này nghe kể lại còn có 1 Trung Ðội NQ đồn trú trên Quốc lộ 15 gần quận lỵ Long Thành, hết ngày 2 tháng 5, trung đội NQ này vẫn kiên trì chống CS tới viên đạn cuối cùng, vừa bắn nhau vừa kéo chuông nhà thờ kêu gọi quyết tử!!!

Tổng kết:

ÐPQ/NQ là lực lượng “sinh sau đẻ muộn” của QLVNCH, có nhiều sở trường cũng như nhiều sở đoản, nhiệm vụ được giao thì nặng nề, nhưng trang bị, yểm trợ lại yếu kém do đó có nơi thì hoàn thành xuất sắc, có nơi thì chỉ trung bình. Tuy nhiên qua những điều vừa phân tích có nhiều bất công đối với họ, kể cả những bất công chung của QLVNCH bị nhóm truyền thông bất lương bôi bẩn có mục đích thương mại và chính trị, bị đồng minh xem thường và phản bội, vậy phải trả lại “Công Ðạo” cho họ. Họ là những anh hùng vô danh, không có ai cậy nhờ để phục hồi danh dự, nhưng họ cũng không xin xỏ và luôn ngẩng cao đầu mà đi vì xét cho cùng họ đã đóng góp xương máu của mình nhiều nhất cho quốc gia và dân tộc.

Vì tôi chỉ quanh quẩn trong vùng III Chiến Thuật nên chỉ mục kích những sự việc trong khu vực, nhưng chắc chắn còn nhiều, nhiều lắm những tấm gương can đảm, những trận đánh để đời của binh chủng khiêm nhường này. Người viết được biết trong các vùng chiến thuật, các tiểu khu, các chi khu còn rất nhiều đơn vị ÐPQ/NQ xuất sắc nhưng chưa được ai biết đến. Kính mong quý chiến hữu viết nhiều bài về các đơn vị ÐPQ/NQ anh hùng để mai sau lịch sử còn biết đến các đơn vị vô danh đã góp nhiều máu xương trong công cuộc bảo vệ Miền Nam Việt Nam trong suốt 20 năm trường chiến đấu gian khổ.

Trong thời điểm từ 1972 đến 1975, sự sai lầm về chiến lược trong việc sử dụng các sư đoàn Bộ Binh và các sư đoàn Tổng Trừ Bị vào nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ, thay vì sử dụng lực lượng ÐPQ/NQ là nỗ lực chánh trong phòng thủ diện địa để các sư đoàn Bộ Binh và các lực lượng tổng trừ bị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến rảnh tay hoàn toàn lưu động 100% để tiếp ứng chiến trường bất cứ nơi nào cần. Khốn thay cuối năm 1974 và đầu năm 1975 chúng ta đã không còn lực lượng tổng trừ bị nào cả khi Cộng Sản dốc toàn lực tấn công!

Nhưng trận chiến 1975 chưa phải là trận chiến sau cùng. Những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và toàn dân Việt Nam kiêu hùng sẽ dành lại quyền tự quyết, lật đổ bạo quyền để xây dựng lại quê hương và bảo vệ biên cương trước mưu đồ xâm lược của kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc và thái độ hèn hạ dâng đất, dâng biển cho Tàu Cộng của bè lũ Cộng Sản Việt Gian.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Little Saigon: 'Ride the Thunder' hết vé ngay ngày khởi chiếu
Saturday, March 28, 2015 6:36:55 PM

Linh Nguyễn/Người Việt


WESTMINSTER, California (NV) - Các cựu quân nhân Mỹ-Việt lần đầu tụ họp đông đảo từ sáng sớm để tham dự lễ ra mắt
phim Ride the Thunder được long trọng cử hành lúc 10 giờ sáng Thứ Bảy, 28 Tháng Ba, ngay phía trước rạp Regency, ở Westminster.

Image
Tài tử Joseph Hiếu (bìa phải) trong phần phát biểu. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Chúng tôi rất hân hạnh trình chiếu cuốn phim, nói lên sự thật của cuộc chiến Việt Nam, trong đó các cựu quân nhân Mỹ và Việt Nam đã can đảm chiến đấu cho tự do, bảo vệ miền Nam Việt Nam,” ông Fred Koster, đạo diễn và chủ nhân hãng phim mang tên ông, tuyên bố tại buổi lễ.

Thị trưởng thành phố Westminster, ông Trí Tạ, nhân dịp này cũng ca ngợi việc trình chiếu cuốn phim vào thời điểm tưởng niệm Tháng Tư Đen của cộng đồng người Việt tị nạn.

“Chuyện phim cho mọi người thấy một cách trung thực, sự hy sinh dũng cảm của người lính VNCH và đồng minh chiến đấu cho tự do. Tự do không phải tự nhiên mà có, nhưng là kết quả của sự tranh đấu. Chúng ta muốn thấy cuốn phim này thành công để mọi người biết đến những công lao của người lính,” ông nói.

“Nhạc phụ của tôi là một sĩ quan binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cùng đồng đội chiến đấu cho tự do. Đây là dịp để chúng ta tri ân người lính,” Thị Trưởng Trí Tạ nói trong niềm xúc động.

Ông Phát Bùi, nghị viên thành phố Garden Grove, trao bằng tưởng lục cho ông Fred Koster, nhà sản xuất phim và ông Richard Botkins, tác giả cuốn sách, để vinh danh công việc làm đầy ý nghĩa của họ.

Image
Cái ôm của hai chiến hữu trong phần “nối lại khoảng cách.” (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Chúng ta có thể tha thứ cho Jane Fonda, nhưng chúng ta không thể quên hành động phản chiến, dù cô ấy đã xin lỗi. Chúng tôi cám ơn đồng hương có mặt để yểm trợ cho công việc ý nghĩa này,” vị nghị viên nói giữa tiếng vỗ tay của mọi người.

Ban tổ chức giới thiệu cựu Đại Tá Gerry Turley, sĩ quan đối tác của cựu Trung Tá TQLC Lê Bá Bình, hai nhân vật chính trong phim Ride the Thunder.

“Chúng ta là những người Mỹ di dân. Nước Mỹ muốn cám ơn những người Mỹ gốc Việt đã chọn Hoa Kỳ là quê hương, đã đóng góp nét đẹp của văn hóa Việt Nam và làm việc chăm chỉ cho đất nước này, phồn thịnh hơn. Xin đừng quên nói với con cháu mình những gì quý vị đã làm cho đất nước này tốt đẹp hơn. Xin ơn trên ban phước cho tất cả,” vị sĩ quan TQLC Hoa Kỳ nói.

Tiếp theo là cựu Trung Tá Lê Bá Bình được mời phát biểu.

Image
Cựu Trung Tá Lê Bá Bình (trái) ký sách lưu niệm cho hai cha con hâm mộ. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Cuốn sách và cuốn phim trình chiếu ngày hôm này là sự thực hùng hồn cho thấy sự sinh dũng cảm cho lý tưởng tự do của những người quân nhân chúng ta, Mỹ cũng như Việt. Nhân đây tôi muốn nhắc cho con cháu thuộc thế hệ hai, lời nói của vị tư lệnh tối cao QLVNCH, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, rằng 'đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm',” ông dõng dạc nói.

Sau đó ông Richard Botkins kêu gọi mọi người đứng lên, nhìn về phía trái của sân khấu nơi có những bức tường ghi danh tánh của các chiến sĩ Mỹ-Việt, cùng cầu nguyện cho những anh hùng đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam.

“Chúng tôi mong mọi người hãy nhớ đến đồng đội của mình. Xin viết tên của họ và dán lên bức tường như một hành động tưởng nhớ,” ông nói.

Sau đó MC Greg Gillaspy, đại diện cho tổ chức cựu quân nhân Vietnam Veterans of America, chi hội 1024 Nam California, kêu gọi các chiến hữu cùng thực hiện hành động “Bridging of the gap” (nối liền những ngăn cách).

Từng hai người, từ hai bên, tiến lại gặp nhau phía trước sân khấu, chào kính và ôm nhau. Bên trái là cựu quân nhân Mỹ và bên phải là các cựu quân nhân VNCH, trong đủ màu áo quân binh chủng.
Image
Nghị Viên Phát Bùi (trái) trao bằng tưởng lục cho đạo diễn Fred Koster (giữa)
và ông Richard Botkins, tác giả sách Ride the Thunder.
(Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Nghi thức diễn ra thật cảm động, nhiều khán giả ngồi chứng kiến, mắt rưng lệ, trong đó có cựu Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, 82 tuổi, hội trưởng Hội H.O. và Quả Phụ Cô Nhi Tử Sĩ VNCH; và bà Margaret Barker, trung sĩ nhất của Lục Quân Hoa Kỳ, 98 tuổi, trong chiếc áo lính và đội mũ ghi hàng chữ Thế Chiến Thứ Hai.

Trước đó, sau phần nghi lễ chào quốc kỳ Mỹ-Việt và một phút mặc niệm, cựu Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Phục Hưng cho biết, “Hệ thống Regency phát hành phim cho biết để cuốn phim được chiếu rộng rãi trên toàn quốc Hoa Kỳ, ít nhất trong tuần lễ này phải bán được 3,500 vé để chứng tỏ sự hâm mộ của khán giả.”

Nha Sĩ Lý Văn Quý, đại diện ban tổ chức, sau buổi lễ nói với phóng viên Người Việt một tin mừng.

“Chỉ trong hai ngày là số vé bán tại rạp đã đạt chỉ tiêu. Ba ngàn năm trăm vé được đồng hương hưởng ứng nhiệt liệt. Trong tuần tới chắc sẽ chúng ta sẽ đoạt kỷ lục và như thế là chính nghĩa đã thắng,” ông nói.

Đạo diễn Fred Koster giới thiệu thành phần “producer,” gồm nữ tài tử Kiều Chinh, tài tử Alan Ford, ông Lý Văn Quý, tài tử Joseph Hiếu và cô Carmen Cabana, phụ trách quay phim.

“Mỗi người trong chúng ta, ngày hôm nay là bằng chứng của sự dấn thân. Tình nghĩa vợ chồng, xa nhau trong cuộc chiến, là một sự dấn thân, gặp nhiều thử thách. Làm phim cũng là một sự dấn thân. Nhà đạo diễn và tác giả cuốn sách đã dùng tim óc để cống hiến quý vị. Cám ơn sự hy sinh của quý vị và làm gương sáng cho thế hệ mai sau,” cô nói.
Image
Người tham dự viết tên trên bức tường tưởng niệm. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
Tài tử Joseph Hiếu, tuy bận rộn phỏng vấn, tâm sự, “Phải nói là tôi rất xúc động trước sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng. Phải chăng đây là sự sống lại của miền Nam Việt Nam?”

Khán giả đồng hương Việt Nam tham dự buổi lễ đông đến nỗi có người phải đậu xe gần chợ Albertson.

“Giá vé có $7, nhưng tôi là 'xi nho' được bớt hai đồng, chỉ trả một vé có $5 thôi. Rẻ quá,” bà Vũ Thuận, 79 tuổi, cư dân Camarillo, nói thêm, “Tôi cầm thử cây súng trưng bày, thấy oai nhưng nặng quá. Thế mới thấy tội nghiệp cho những người lính mình.”

Bà Vũ Thị Cẩm, sau khi ra chụp hình trên các xe Jeep trưng bày, chia sẻ, “Tôi rất thích khi Việt Nam mình có một cuốn phim nói sự thật để tri ân các chiến sĩ. Nhờ đó mà biết được công lao của họ.”

Phim “Ride the Thunder” kể lại câu chuyện xung quanh cựu Trung Tá Lê Bá Bình, sĩ quan thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mang cấp bậc thiếu tá tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 3 Sói Biển trong phim, và cố vấn Mỹ Thủy Quân Lục Chiến tham dự chiến tranh Việt Nam trong thập niên 1970 là Đại Tá John W. Ripley, vai đại úy trong phim.

Phim Ride the Thunder hiện chiếu tại rạp Regency, 6721 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683.

Muốn biết thêm chi tiết về phim, xin vào trang web http://www.ridethethundermovie.com/

Muốn mua sách, xin vào trang web

Liên lạc tác giả: LinhNguyen@nguoi-viet.com
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Để Tưởng Niệm Một Ngườ Anh

Phạm Tín An Ninh
Lần cuối cùng tôi gặp lại anh, khoảng tháng 7 năm 1978 tại Nghĩa Lộ. Trong những người tù ốm o đang vác những bó nứa, băng qua khu ruộng khô mà đám tù chúng tôi đang “lao động” , bất ngờ tôi nhận ra anh, khi anh hỏi xin bọn tôi một ngụm nước. Tôi ngỡ ngàng đứng nghiêm đưa tay lên chào:
– Đại Tá!
Anh nhìn lên, nhận ra tôi và nở nụ cười:
– Mi ở đây à? Chừ còn tá với tướng chi mi. Mi khỏe không?
Tôi đưa cho anh lon guigoz nước rồi nắm lấy tay anh. Anh gầy hơn xưa nhiều, chỉ có nụ cười vẫn vậy, không thay đổi. Chưa kịp hỏi anh ở trại nào và vợ con ra sao, thì tên vệ binh hét: “không được quan hệ linh tinh, khẩn trương về trại”. Tôi phụ đưa bó nứa lên vai anh. Bước đi, anh nói vọng lại một câu:
– Mi nhớ giữ gìn sức khỏe hỉ!
Có một thời báo chí và nhiều người gọi anh là “Người hùng Ban Mê Thuột”. Điều đó rất xứng đáng. Khi chỉ có trong tay một tiểu đoàn và được tăng cường Đại Đội 23 Trinh Sát tinh nhuệ, nhờ hầm hố công sự vững chắc, anh cùng đơn vị đã phải chiến đấu đơn độc nhưng thật quyết liệt can trường trước nhiều đợt tấn công biển người của địch, giết hằng trăm địch quân và bắn cháy nhiều chiến xa T-54, giữ vững vị trí đến sau khi cả thành phố Ban Mê Thuột đã lọt vào tay giặc gần một tuần trước đó. Ngày 17.3.75, một lực lượng địch đông đảo có nhiều chiến xa kéo đến bao vây tấn công để bằng mọi giá phải nhổ cái gai làm chúng vô cùng căm tức. Với hàng ngàn quả pháo, chúng muốn san bằng cái cứ điểm cuối cùng mà đơn vị anh đang tử thủ, quyết sống chết trong căn cứ B50 bên cạnh phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 8 cây số về hướng Đông. Anh đã cùng đồng đội vẫn không nao núng, đánh thật đẹp một trận để đời. Một số binh sĩ hết đạn, anh ra lệnh cho thu nhặt súng đạn của địch để đánh lại địch. Rất tiếc, phi vụ tiếp tế thả dù cuối cùng không may rơi ra ngoài vị trí, lương thực và đạn dược đã cạn kiệt. Anh khôn khéo lừa địch, cùng những thuộc cấp sống sót mở đường máu lúc nửa đêm, phân tán thành nhiều toán nhỏ, vài toán rút về hướng Lạc Thiện, vài toán đi về khu làng Thượng thuộc tỉnh Tuyên Đức, riêng anh cùng một toán trên 20 người đến được Phước An, hai ngày trước khi quân lỵ cuối cùng của tỉnh Darlac này rơi vào tay Cộng sản. Anh và đồng đội đã tạo thêm một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Việt Nam.



Đặc biệt, anh cũng là cấp chỉ huy trực tiếp cuối cùng của tôi vào những giờ thứ 25, trước khi Quân Lực VNCH bị bức tử, để những chiến sĩ anh hùng như anh phải đành đau đớn tức tưởi kết thúc binh nghiệp nửa đường.

Vào đầu tháng 4/75, QĐ II&QK2 lần lượt lọt vào tay giặc, sau những cuộc triệt thoái tồi tệ và bi thảm nhất trong lịch sử chiến tranh. Hầu hết quân nhân các cấp thuộc các Sư Đoàn và Tiểu Khu thống thuộc còn sống sót đã tiếp tục di tản vào Bình Tuy, Vũng Tàu, Sài gòn. Được lệnh của Bộ TTM truyền đi trên các đài phát thanh, truyền hình, kêu gọi “đến trình diện tại Trại Chí Linh, Trung Tâm Huấn Luyện XDNT Vũng Tàu” để sau đó được bổ sung tái lập một sư đoàn duy nhất: Sư Đoàn 22BB với Thiếu Tướng Phan Đình Niệm tiếp tục làm tư lệnh, đặt dưới quyền xử dụng của Quân Đoàn III.

Không ngờ số lượng đến trình diện thật đông đảo. Đa số là sĩ quan, chỉ có khoảng một phần ba là hạ sĩ quan và binh sĩ. Khi lang thang đi tìm mấy thằng bạn cùng đơn vị cũ, xem ai còn ai mất sau trận chiến Khánh Dương và một số phải di tản theo Tỉnh Lộ 7B oan nghiệt, bỗng tôi nghe trên loa có một giọng Huế quen thuộc gọi tên mình, và yêu cầu đến dãy nhà số 4 gặp Đại Tá Võ Ân. Tiếng gọi quen thuộc ấy cũng chính là tiếng nói của anh.

Tôi tìm đến dãy nhà số 4, nơi đặt BCH Trung Đoàn 47 (tái lập). Vội vàng tìm gặp anh, để xem người hùng của trận chiến Ban Mê Thuột bây giờ ra sao. Anh ngồi trên dãy bàn dài với một vài sĩ quan cấp trung tá, có nhiều vị tôi quen biết. Tôi đưa tay chào, chưa kịp trình diện lời nào, thì anh đã phất tay bảo tôi ngồi:

-Tau được chỉ định tái lập gấp Trung Đoàn 47 này. Mi về đây với tau cho vui. Anh em 23 nhiều lắm. Tụi mình “đánh đấm” tiếp.

Thoáng một chút xúc động. Nghĩ mình là một sĩ quan đàn em cấp thấp, cũng chẳng tài cán gì, chỉ gặp gỡ một vài lần và được anh quí mến. Vậy mà hôm nay, trong cái cảnh chợ chiều, hổn tạp rối ren này, anh vẫn còn nghĩ đến mình.

Ba ngày sau, Trung Đoàn 47 BB được tạm tái lập với một quân số mà quan nhiều hơn lính. Một tiểu đoàn có đến 2 trung tá. Cấp đại đội có 1-2 thiếu tá, có vị đã từng làm tiểu đoàn trưởng hay chi khu phó. Có nhiều trung đội được chỉ huy bởi một đại úy với quân số không quá 25 người, mà 50% là sĩ quan. Chắc chắn trên thế giới không có một đội quân nào với bản cấp số kỳ quặc và “ghê gớm” như thế.

Trong hầu hết những bài viết về các trận chiến cuối cùng của QLVNCH, dường như chưa có ai nói đến sự kiện này. Tại sao những sĩ quan cấp tá, cấp úy lại sẵn sàng nhận lãnh những chức vụ quá nhỏ nhoi như thế, trong lúc tình hình nguy ngập, chiến trường đang từng giờ thu hẹp lại, mà mọi bất lợi, hiểm nguy đang chờ họ đối mặt? Hơn nữa hầu hết đều bỏ lại gia đình ở miền Trung mà bây giờ đã thuộc vùng địch chiếm. Bao nỗi ưu tư canh cánh bên lòng. Nếu không phải là “Tổ Quốc, Danh Dự. Trách Nhiệm”, sứ mạng cao cả mà họ đã tuyên thệ nhận lãnh khi quì xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa?

Ngay tại BCH Trung Đoàn, ngoài Đại tá Võ Ân Trung đoàn trưởng, còn có đến 4, 5 trung tá. Trung tá Nguyễn Thắng Phùng, Chỉ huy trưởng TTHL/SĐ 23BB nhận lãnh chức vụ Trưởng ban 3( kiêm Phụ Tá hành Quân) . Vai trò này anh đã từng làm cách đây trên 10 năm, khi còn mang cấp bậc thiếu úy. Tôi vẫn còn nhớ, khi mới ra trường vài tháng, dắt trung đội biệt phái đến trình diện BCH Trung Đoàn 45BB của Trung tá Võ Văn Cảnh, đóng trại giữa rừng để chỉ huy trận chiến Quảng Nhiêu đang hồi khốc liệt nhất, tôi được gặp Thiếu Úy Nguyễn Thắng Phùng, đang là Trưởng Ban 3 Trung Đoàn. Anh rất vui vẻ, niềm nở hướng dẫn trung đội tôi ra nằm giữ an ninh cho một Pháo Đội Pháo Binh 155 ly, đóng bên cạnh BCH Trung Đoàn. Anh dặn dò chỉ vẽ những điều cần thiết. Chỉ với câp bậc thiêu úy, nhưng tôi nghĩ anh là một Trưởng Ban 3 nhiều kinh nghiệm, khả năng. Tôi có cảm tình với anh kể từ ngày ấy. Anh đã đảm trách chức vụ này từ khi còn thiếu úy, bây giờ mang đến cấp bậc trung tá, anh lại trở về với cái chức vụ hơn 10 năm trước. Vậy mà anh rất vui vẻ, bình dị, thường thân tình đùa cợt với anh em và chu toàn trách nhiệm của mình. Anh bảo:
– Được làm việc với Đại Tá Ân là vui rồi!
Tôi rất nể phục thái độ và tư cách của anh.

Trong BCH Trung Đoàn có một vài vị nguyên là tiểu khu phó, tham mưu trưởng của các tiểu khu. Tôi cũng gặp một anh thiếu tá, nguyên là tiểu đoàn trưởng xuất sắc của một tiểu đoàn ĐPQ tại TK Bình Định. Năm 1971 có một thời tăng phái hành quân cho Chiến Đoàn 44 của chúng tôi tại An Khê, (khi ấy tôi là Trưởng Ban 3 Chiến Đoàn nên thường gặp và biết khả năng điều quân của anh), còn bây giờ thì anh đang vui vẻ làm đại đội trưởng với quân số chưa tới 80 người.

Tôi được anh Ân thương mến, giao cho một chức vụ cũng không có trong bản cấp số: Sĩ Quan Hành Quân & Tiếp Vận. Thực chất, đó chỉ là một loại “thượng sĩ thường vụ” của Trung Đoàn, chạy ngược chạy xuôi lo đủ thứ việc.

Ngày 17/4/1975, chưa kịp trang bị xong, một số quân nhân chưa có cả súng đạn, Trung Đoàn được lệnh di chuyển xuống Long An, đảm trách hành quân an ninh trong vùng Bến Lức. Ban đêm, từng đoàn xe từ Tổng Kho Long Bình chở vũ khí, quân trang quân dụng xuống để đơn vị vừa hành quân vừa trang bị tiếp. Đạn thì thiếu nhưng súng lại thừa. Một người có thể được trang bị một khầu M16 và thêm một súng Colt 12 nếu muốn.

Ngày 22/4/75 có khoảng 10 tân sĩ quan hai khóa 28 và 29 của Trường VBQGVN vừa tốt nghiệp “non” tại Trường Bộ Binh Long Thành, đến trình diện. Các anh vẫn giữ đúng nề nếp, cử một đại diện chỉ huy trình diện đơn vị trưởng theo đúng lễ nghi quân cách. Nhìn họ mà tất cả chúng tôi ai nấy cũng đều cảm kích, chạnh lòng. Những sinh viên đã từ bỏ học đường chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn tổ quốc. Bây giờ giang sơn đang như sợi chỉ mành trước gió, tổ quốc lâm nguy, vậy mà họ vẫn đến đây, để chấp nhận một cuộc chiến ở giờ thứ 25, trong một hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi, khi chưa hề có được một ngày kinh nghiệm chiến trường. Trong những đôi mắt nhuốm chút ít ưu tư ấy vẫn tỏa ra đầy khí phách, sẵn sàng nhập cuộc.

Đại Tá Võ Ân đến bắt tay từng người một. Im lặng một lúc, anh lấy giọng:
-Thay mặt đơn vị, anh cám ơn và hoan nghênh các em đã đến trình diện. Các em đã cho chúng tôi một nguồn sinh lực mới, sau thời gian trải qua những mất mát, giao động. Điều đó cũng đã là một góp phần xứng đáng rồi. Anh biết các em chưa nghỉ phép sau khi làm lễ ra trường. Còn đơn vị lại đang trong thời kỳ tái tổ chức. Bây giờ theo thông lệ, anh cấp cho các em giấy nghỉ phép mười ngày, để các em về thăm gia đình. Mong là các em hiểu sự quyết định này của anh.

Hầu hết các tân sĩ quan nhất quyết xin ở lại để chiến đấu cùng đơn vị. Có anh bảo là gia đình ở ngoài Trung, không có ai ở đây. Nhưng tất cả sĩ quan chúng tôi có mặt lúc ấy đều thấy quyết định của ĐạiTá Ân là có cân nhắc và có tình có lý, nên khuyên các anh nên chấp nhận quyết định của Đại tá, nếu anh nào gia đình ở miền Trung có thể về Sai gon tạm nghỉ ngơi chờ lệnh, sau khi hết phép trở lại đơn vị cũng chưa muộn (?)

Ngay chiều hôm ấy, có lệnh bàn giao vị trí cho một đơn vị khác của Quân Đoàn III, chúng tôi khẩn cấp di chuyển đêm xuống giải tỏa áp lực địch tại Quận Cần Giuộc. Theo tin tức, đã có hơn một trung đoàn địch đang trên đường tiến đến uy hiếp khu vực này.

Tất cả chúng tôi đều đến từ Vùng 2, nên không ai biết rành địa thế và tình hình trong khu vực lạ lẫm này. Để tránh chậm trể và nguy hiểm, Trung Đoàn được biệt phái một toán Cảnh Sát do một Thiếu Tá chỉ huy, dẫn đường. Khởi hành từ 10 giờ tối, cho mãi 5 giờ sáng đơn vị mới tới địa điểm. Toán Cảnh sát “hướng lộ” đã dẫn chúng tôi đi sai lộ trình. Rất may là tất cả an toàn, không đụng độ với bất cứ lực lượng nào của địch.

BCH Trung Đoàn đóng tại Trường Trung Học Cần Giuộc. Phía trước là đồng ruộng, sau mùa gặt nên đất đã khô và trơ những gốc rạ. Tổng Kho Long Bình có lệnh phân tán quân trang quân dụng, nên đã đưa xuống đây cả mấy chục chiếc xe GMCvà xe jeep các loại, kèm theo một lệnh miệng: ” Mỗi xe chỉ có đầy bình xăng, xử dụng chiếc nào đến hết xăng là bỏ luôn.” Vừa xe, vừa gạo, và quân trang chất thành những đống cao giữa trời, trên những đám ruộng khô.

Trung Đoàn có ba tiểu đoàn, không có đại đội trinh sát và đại đội chỉ huy công vụ. Một tiểu đoàn đóng chung với BCH Trung Đoàn, làm lực lượng trừ bị, hai tiểu đoàn bung ra xa. Trong đó có một tiểu đoàn hành quân tái chiếm xã Mỹ Lộc, một khu trù phú của quận Cần Giuộc, bị một tiểu đoàn địa phương của địch xâm nhập, truy giết các nhân viên xã ấp và các trung đội nghĩa quân.

Giữa một cuộc chiến không nhìn thấy tương lai, và phải chỉ huy một đơn vị như chiếc áo cũ mục nát,được vá víu bằng những tấm vải đủ màu, nhưng Đại tá Võ Ân cùng tất cả chúng tôi đã sống với nhau thật vui vẻ, chí tình. Với tôi, đó lại là thời gian đáng ghi nhớ nhất trong cả mười một năm binh nghiệp. Cái ranh giới chỉ huy gần như nhỏ lại, để nhường cho cái tình huynh đệ. Điều này có được phần lớn là nhờ vào anh – Đại tá Võ Ân.

Ngày xưa, khi còn chỉ huy các tiểu đoàn, trung đoàn hùng mạnh, tham dự nhiều trận chiến cam go ở Bình Định, Pleiku, Kontum, Quảng Đức, anh vẫn vui vẻ thân tình như hôm nay. Với bạn bè hay đàn em, thuộc cấp lúc nào anh cũng dùng hai chữ “mi, tau”. Sĩ quan trong đơn vị thực sự xem anh như một người anh, hay một ông thầy của thời trung học.

Tháng 11 năm 1973, Phóng viên chiến trường Dương Phục, trong một lần đặc biệt đi theo đơn vị của anh, khi ấy là Trung Đoàn 53 thuộc Sư Đoàn 23BB, đang quần thảo với địch trong một trận chiến vô cùng khốc liệt tại Quảng Đức, đã viết:

“Tôi vác ba lô ra xe và hai tiếng đồng hồ sau có mặt bên cạnh đơn vị có nhiệm vụ tái chiếm hai tiền đồn Bu Prang và Bu Bong đã lọt vào tay địch quân trong cuộc tấn công ngày 4.11 vừa qua.

Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 Bộ Binh, trông giống một giáo sư hơn là một đơn vị trưởng tác chiến. Cả bộ chiến phục bụi bậm, bẩn thỉu, và khẩu súng lục Colt 12 đeo lủng lẳng bên hông cũng không giúp anh có vẻ ngoài oai hùng của người lính chiến. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ là bề ngoài. Sức chịu đựng bền bĩ và ý chí sắt thép của anh Ân được truyền tụng theo chiều hướng huyền thoại hóa trong trung đoàn.

Ân tiếp tôi ngay tại vị trí chiến đấu của Tiểu Đoàn 2/53. Khuôn mặt trẻ trung, nhưng dầy dạn vẻ phong trần, nụ cười chân tình như chỉ những người lính chiến mới biết cười như vậy. Ân bảo tôi :
– Anh đến chậm mất hai ngày.
– Hai ngày sớm hơn đã xảy ra chuyện gì?
– Pháo. Địch pháo như mưa, pháo dội vào các đơn vị chúng tôi. Sau pháo, chúng xung phong.”

Sáng ngày 27 tháng 4 /1975, khoảng 10 giờ sáng. Khi chúng tôi đang ngồi uống cà phê trong một phòng học được dùng làm Trung Tâm Hành Quân, nghe tiếng trực thăng đang đảo thấp một vòng đáp xuống đám ruộng khô phía trước, cách chúng tôi chừng hơn100 mét. Nghĩ là trực thăng CNC đến làm việc cho Trung Đoàn, Đại Tá Ân bảo tôi lấy một chiếc xe jeep mới toanh, không mui, chạy ra đón phi hành đoàn. Vì trời nóng, nên đa số chúng tôi đều mặc áo thun. Tôi không kịp mặc áo lính, lái xe chạy băng qua mấy đám ruộng khô và dừng lại trước chiếc trực thăng vừa đáp xuống. Bỗng bất ngờ, ngạc nhiên khi thấy một người vừa bước xuống, tay cặp chiếc mũ sắt ngụy trang có gắn 3 ngôi sao. Theo sau là một vị trung tá trên tay cầm khẩu M-18. Tôi giật mình, nhận ra đó là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Vội vàng bước xuống xe, tôi đứng nghiêm đưa tay chào. Ông bước tới gần tôi. Trong tiếng cánh quạt trực thăng chưa dừng hẵn, tôi nghe ông hỏi lớn:
– Có Đại Tá Ân trong đó không?
– Trình Trung Tướng, có .
Tôi trả lời và mời ông lên xe, nhưng ông từ chối, bảo là ông muốn đi bộ. Có thể là ông có ý cho tôi chạy vào trước để báo cho đại tá Ân, tôi đoán thế.

Tôi vội vã lái xe chạy vào BCH la lớn cho Đại Tá Ân và mọi người biết: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng tới thăm chứ không phải phi hành đoàn.

Tất cả vội vã mặc áo và sửa soạn lại tấm bản đồ lớn được treo trên bảng đen (của lớp học). Tôi xếp mấy chiếc ghế lại cho ngay ngắn. Khi Đại Tá Ân chưa kịp bỏ áo vào trong quần thi Tướng Trưởng đã bước vào phòng. Anh chỉ còn kịp đứng nghiêm hô to: “vào hàng, phắc” rồi đưa tay lên chào.

Tướng Trưởng trông khá mệt mỏi, ánh mắt hình như bị mất ngủ. Ông hỏi với một giọng buồn bã:
– Tình hình thế nào em?
Đại Tá Ân đưa cây que chỉ bảng lên tấm bản đồ, định trình bày tình hình, thì Tướng Trưởng đưa tay ngăn lại. Ông chỉ nói một câu ngắn ngủi:
– Phải cẩn thận. Đừng để hao tốn sinh mạng của anh em một cách vô ích.
Sau khi đưa tay bắt từng người có mặt trong TTHQ, Tướng Trưởng cho biết ông không có nhiều thì giờ vì chỉ mượn được trực thăng trong một thời gian ngắn, và bảo Đại Tá Ân lái xe chở ông sang thăm ông Quận trưởng Cần Giuộc. Tôi gọi toán cận vệ lên một xe jeep khác chạy theo, nhưng Tướng Trưởng khoát tay, bảo không cần. Sau này Đại tá Ân cho biết, anh Trung tá Quận Trưởng này cũng là một thuộc cấp được Tướng Trưởng tin cậy và quí mến, thời Ông còn làm Tư Lệnh QĐIV.

Cả đại tá Ân và chúng tôi không biết lúc ấy Tướng Trưởng giữ chức vụ gì. Chỉ biết là ông đến thăm anh Ân và dặn dò đôi điều. Anh Ân cũng cho biết là chưa từng làm việc dưới quyền Tướng Trưởng, có lẽ ông chỉ nghe nói đến anh Ân “người hùng trong trận chiên Ban Mê Thuột”, nên đến thăm và khen ngợi anh như từng khen ngợi những sĩ quan, những đàn em xuất sắc của ông ở Quân Đoàn I, nơi có nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc với cái tên chỉ có hai chữ như anh (Võ Ân): Lê Huấn, Võ Toàn, Vĩnh Dác, Hoàng Mão, Nguyễn Hóa,Võ Vàng…

Tôi gặp và biết anh Ân lần đầu tiên vào khoảng cuối năm 1972, khi anh mang cấp bậc trung tá, dắt một tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 22BB, từ Bình Định lên tăng cường cho Trung Đoàn 44BB chúng tôi, để giải tỏa Trung Nghĩa, một ngôi làng Công giáo, dưới sự chỉ huy của một vị linh mục, quyết tử chiến với Cộng quân, nhưng vì không đủ hỏa lực nên bị một lực lượng địch cấp tiểu đoàn chiếm hơn nửa làng. Một trận chiến phức tạp, khốc liệt, và cuối cùng anh đã chiến thắng ngoạn mục. Bằng một lối đánh giặc rất đặc biệt, xử dụng toàn súng cối 60 ly thay cho Pháo Binh và phi yểm.

Sau nhiều lần tấn công bất thành, do lực lượng địch trú ẩn bám trụ trong các giao thông hào kiên cố và chống trả mãnh liệt. Lệnh của Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn, tránh tối đa việc xử dụng phi pháo có thể gây thiệt hại cho khu nhà thờ và nhà cửa của dân chúng. Hơn nữa, Pháo Binh khó cận yểm vì khoảng cách giữa địch và dân quá gần, tiền sát viên của ta khó tiếp cận để điều chỉnh cho thật chính xác.

Anh lệnh cho các đại đội tạm rút ra, lựa chọn các binh sĩ trẻ và có năng lực tác chiến, chỉ trang bị súng nhẹ, không mang theo ba lô, chia thành nhiều toán nhỏ, làm lực lượng xâm nhập, tấn công. Các binh sĩ lớn tuồi hay yếu kém theo sau, làm lực lượng tải đạn, tản thương và án ngữ. Anh tâp trung cơ hữu và xin chúng tôi tăng cường thêm cho anh nhiều súng cối 60 ly (ít được các đơn vị xử dụng) với đầy đủ đạn dược, cùng một số xạ thủ có kinh nghiệm về loại vũ khí này. Tôi được Đại Tá Phùng Văn Quang, Trung Đoàn Trưởng 44, chỉ định đảm trách công việc này. Anh và tôi cùng hướng dẫn cấp tốc các tiểu đội trưởng cũng như xạ thủ, điều chỉnh súng cối từng mét một. Khi các tiểu đội bò vào tiếp cận các hầm hố của địch, đích thân anh điều động trên 20 khẩu súng cối 60 ly tác xạ theo sự điều chỉnh của các tiểu đội trưởng. Kết quả thật không ngờ. Địch quân bị tiêu diệt bởi các khẩu súng cối 60 ly này, số còn lại bị thương và bị bắt sống, bên ta không có binh sĩ nào tử thương.

Sau trận chiến, trước khi trở về đơn vị gốc, anh gọi tôi ra ăn bữa cơm chia tay, cùng với vài sĩ quan của anh ngoài tiệm Thiên Nam Phúc. Và có lẽ do chiến công này, chỉ một thời gian ngắn sau đó anh được thuyên chuyển về Sư Đoàn 23 BB để giữ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 thay Đại Tá Trần Văn Chà. Sau này, tôi cũng được nghe kể lại, anh Ân là người chưa từng giữ cấp “phó” bao giờ.

Anh tốt nghiệp Khóa 12 Thủ Đức, là người thăng cấp trung tá sớm nhất và cũng là người duy nhất của khóa mang cấp bậc đại tá . Hầu hết những sĩ quan giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng dưới quyền, đều là khóa đàn anh, có người xuất thân trường Võ Bị đồng thời với anh. Nhưng tất cả đều nể phục và kính mến anh.

Ngày 30-4-75, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chúng tôi đang quây quần trong phòng học được dùng làm TTHQ. Đại Tá Ân gục đầu xuống bàn. Tất cả im lặng. Cái im lặng thật rợn người. Có lẽ trong đầu mỗi người đang suy nghĩ về một điều gì đó. Tôi bước lại ôm vai anh. Trung Tá Phùng lệnh cho gọi tất cả anh em tập họp trước sân trường để nghe anh Ân ra lệnh lần cuối cùng. Anh cám ơn, bắt tay và ôm từng người, chúc tất cả trở về an toàn và gặp lại gia đình. Anh cũng ra lệnh phá hủy tất cả các loại súng ống trước khi rời vị trí.

Anh bảo tôi tâp trung tất cả tài xế lái các xe GMC khả dụng chở anh em về cầu chữ Y. Không đủ xe, tôi chạy đi mướn thêm hai chiếc xe đò. Tôi nghiệp hai anh tài xế đến giờ này vẫn còn chí tình với lính, tình nguyện chở giúp bọn tôi về đến Sài gòn. Tôi đưa anh về nhà (chị Ân thuê để cùng các con tạm trú ở đây, sau khi theo đoàn quân di tản từ miền Trung). Anh bắt tay tôi thật chặt, nhìn tôi rồi bỗng nở một nụ cười, như chưa hề có chuyện gì xảy ra:
-Mi về xem vợ con ra sao. Cẩn thận hỉ.
Tôi nhìn anh, chưa biết nói lời gì để an ủi anh, thì lại nghe tiếng anh đùa:
-Que sera sera! Chừ tau chỉ tội nghiệp cho vợ con, còn tau thì phó thác số phận cho ông trời!
Tính anh là vậy đó, lúc nào cũng bất cần, cũng cười đùa, mặc dù trong lòng đang rối như tơ vò.

Chia tay anh, tôi bước đi mà nước mắt lưng tròng. Bước chân nhẹ tênh như không còn cảm giác, và trong lòng bây giờ dường như chỉ là một khoảng trống mênh mông!

Anh bị tù hơn 14 năm. Sang Mỹ cùng gia đình năm 1992 theo diện HO, và chỉ vài năm sau anh qua đời tại Florida, do bị đột quỵ (tai biến mạch máu não). Có lẽ do hậu quả từ những cơn say và nhiều đêm mất ngủ. Anh dùng rượu để có thể tâm tình với hư vô, với những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại ở đâu đó trên các chiến trường xưa, và đã ân hận vì không trả được món nợ máu xương này cho họ.

Anh ra đi, nhưng không hề chết. Tên tuổi Võ Ân vẫn còn vang vọng mãi trong tâm khảm của mọi người đã từng quen biết và sống chết cùng anh. Lịch sử dân tộc chắc chắn còn ghi đậm tên anh. Một người lính đã sống hết lòng với đồng đội anh em, và chiến đấu bằng tất cả danh dự cùng cả trái tim mình.

Phạm Tín An Ninh

(40 năm sau ngày tan đàn xẻ nghé)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Những ngày cuối tháng 3

Võ Hương-An

Mọi người thường nói đến tháng 4, tôi chỉ nói đến tháng 3, bởi vì tôi là cư dân Đà Nẵng. Đà Nẵng thất thủ ngày 29 tháng 3, 1975. Bước qua tháng 4 thì tôi không còn chi để nói nữa, vì tôi đã vô tù, khi Sài Gòn đang còn ăn ngon ngủ yên.

Khoảng 10 giờ sáng ngày 28 tháng 3, 1975, Cao Minh T., Hải Quân trung úy, thuộc văn phòng chỉ huy trưởng Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng, lái xe đến nhà, nói với tôi:

- Thưa thầy - chả là tôi là thầy cũ của T. hồi trung học - ông sếp của em biểu em qua thưa với thầy: Sáng mai, cũng vào giờ này, thầy mang gia đình qua căn cứ. Đến cổng trại Chi Lăng, thầy mượn điện thoại gọi cho em hoặc ông sếp của em, em sẽ ra đón thầy vô. Thầy nhớ chỉ mang đồ gọn nhẹ cho dễ di chuyển. Có thể tối mai mình lên tàu.”

T.về rồi, tôi nói cho bà xã biết để chuẩn bị lần cuối.

Sếp của T. là Lê Kim L., Hải Quân trung tá, bạn cùng lớp, ngồi cùng bàn với tôi hồi trung học. Tôi làm việc ở Quận 1, bên này sông Hàn, còn trại Chi Lăng của L. nằm ở bán đảo Tiên Sa thuộc Quận 3. T. dùng chữ “qua” là hết trật. Tôi bắt tay T., cảm ơn cả hai thầy trò và hứa sẽ có mặt đúng giờ.

Giữa tháng 3, khi Quảng Trị và Huế bắt đầu đỏ lửa, rút kinh nghiệm mùa Hè 72, đồng bào đã bắt đầu di tản vô Đà Nẵng. Có tin đồn ngày 21 hoặc 23 tháng 3 quốc lộ 1 sẽ bị cắt, nên cường độ di tản càng tăng; người ta đi bằng mọi phương tiện, kể cả máy cày và xe bò. Chính tôi cũng phải vội vã đem xe ra Huế đón thầy tôi và gia đình bên vợ vào ngay kẻo sợ kẹt đường như tin đồn. Trong một lần gặp nhau, L. nói với tôi, “Cái rờ-moọc (remorque) của tau nặng, mà cái rờ-moọc của mi cũng nặng. Tình thế này nếu không đưa đại gia đình vô Sài Gòn bằng máy bay được thì phải tính tới tàu thủy. Có lẽ mi đem gia đình qua tau để cùng đi.” Đó là lý do T. thay mặt ông thầy đến ước hẹn với tôi hôm ấy.

Bấy giờ Đà Nẵng như trong cơn hấp hối, không biết mất lúc nào. Thành phố tràn ngập người tị nạn từ Quảng Trị và Huế vào và từ Quảng Nam, Quảng Tín ra, chưa kể các đơn vị quân đội hàng vạn người từ các nơi thuộc vùng I rút về bố trí vòng trong vòng ngoài Đà Nẵng. Tất cả các trường học đều đóng cửa làm nơi tạm trú cho đồng bào tị nạn. Ngay cái sở tôi làm việc cũng phải tạm ngưng hoạt động - bởi từ trên xuống dưới không ai còn bụng dạ đâu để làm việc - để tiếp nhận thân nhân, bạn bè, đến tìm nơi tạm trú; trong đó, nội đại gia đình hai bên của vợ chồng tôi đã không dưới hai chục người. Sếp lớn đang ở Sài Gòn, hai “sếp nhỏ” là Tr., chánh sự vụ, và tôi, lo điều động sắp xếp sao cho mọi người tạm ổn trước khi đi bước kế tiếp. Tối đến, trên nền tầng dưới của cái phòng làm việc rộng lớn, các gia đình trải chiếu nằm la liệt. Tôi điện thoại vào Sài Gòn, báo cáo tình hình với sếp, được sếp hứa là ngoài đó anh em yên tâm, sẽ có máy bay ra đón. Chờ đến ngày 27 tháng 3 cũng chẳng thấy chi, mà ví dầu có máy bay chăng nữa cũng không dễ chi kéo bầu đoàn mấy chục người lên tàu một cách an toàn. Sau ngày 27 tháng 3 thì không còn liên lạc được với Sài Gòn nữa.

Hàng ngày, toàn những tin xấu đưa tới. Huế chính thức thất thủ ngày 26 tháng 3, nhưng trước đó, quả thật đường đèo Hải Vân đã đã bị cắt như lời đồn. Nhiều mẩu chuyện thương tâm và khủng khiếp trên bãi Thuận An được những người vượt thoát và sống sót kể lại. Phi trường Đà Nẵng bị pháo kích. Người ta chen chúc giành giật nhau lên máy bay, có người liều lĩnh một cách tuyệt vọng bằng cách bám vào càng bánh xe máy bay và rơi xuống vịnh Đà Nẵng như trái mít, hoặc bị chẹt chết trong hầm bánh xe. Trên bến sông Hàn, người ta chen nhau lên tàu. Chiếc tàu Trường Xuân (hay Trường Thành? Trường Sơn? Lâu ngày quên mất, chỉ còn nhớ được chữ Trường!) tiếp nhận một số lượng khách quá tải và khách phân bố vô trật tự làm con tàu nghiêng về một bên và nằm ì ở bến mấy ngày, không biết về sau có nhổ neo được không. Trong mấy ngày chộn rộn cuối tháng 3 năm đó, có lần tôi tới nhà người bạn, Lâm thành B., thấy bà vợ đang ngồi chăm chỉ đạp máy may. Hỏi, “Giờ này mà còn ngồi may gì nữa?” Vợ B. giải thích, “May cái địu để cho anh B. đeo thằng cu Bi trước bụng, rảnh hai tay mà leo thang dây lên tàu. Anh không nghe nhiều người bồng con níu thang dây lên tàu, bị người ta lấn, con rớt xuống biển chết trước mắt mà không cứu được hay răng?” Nghe nói thế, tôi sực nhớ thằng con trai non ba tuổi và bà vợ đang mang cái bầu lùm lùm bốn tháng, bèn trở về nhà bảo vợ may gấp cái địu theo kiểu cách của vợ B. Tôi nói, “Mình phải bắt chước vợ chồng B. để anh còn rảnh hai tay mà dắt con Ni, con Na (hai đứa con gái), để cho em rảnh tay với cái bụng bầu mà chạy.”

Xế chiều 28 tháng 3, một người quen thân đến thăm, nói chuyện tình hình với tôi và khuyên hãy yên tâm ở lại, chính quyền mới sẽ khoan hồng, có giải pháp hòa giải, đừng di tản, nguy hiểm. Tôi biết anh ta có liên hệ mật thiết với tay dân biểu Cộng Sản nằm vùng Phan Xuân Huy và cái gọi là lực lượng hòa-hợp-hòa-giải-dân-tộc theo đóm ăn tàn, nên chỉ trả lời vắn tắt, “cảm ơn anh, nhưng nhất định tôi sẽ đi.” Trời tối mịt, vừa cơm xong thì người giúp việc nói có người hỏi tôi ngoài ngõ. Té ra Nguyễn Văn Ch., thông dịch viên của O' Rork, cố vấn hành chánh QK1. mà tôi có mối giao tình với cả hai thầy trò. O' Rork ở trong Camp Alamos, đầu đường Đống Đa. Nơi này, cũng như nhiều cơ sở khác của người Mỹ, đều bỏ trống hoàn toàn, làm mồi cho các vụ hôi của. Tôi ngạc nhiên,” Ủa, tôi tưởng O' Rork phải mang anh theo rồi chứ?” Ch. buồn rầu lắc đầu, cho biết bị kẹt. Ch. rủ tôi chung tiền, mỗi người khoảng 100,000 ngàn, thuê gọ (ghe) chở gia đình ra ngoài vịnh Đà Nẵng, sẽ có tàu đón. Nhà Ch. ở khu Tam Tòa, gần biển, chuyện thuê gọ không khó, chỉ kẹt là không đủ tiền. Tôi thấy giải pháp có vẻ phiêu lưu, vì nếu không có tàu nào sẵn lòng vớt thì làm sao? Vả chăng, đã ước hẹn với L. bằng con đường an toàn cho một đại gia đình 20 người, nay sao lại chọn con đường khó đi? Ch. rất buồn khi nghe tôi không hưởng ứng, bởi vì Ch. nghĩ rằng tôi là chỗ đáng tin cậy nhất để chung vụ. Không biết bây giờ anh ở đâu, anh Ch.?

Trong ngày 28 tháng 3, tình trạng hỗn loạn ở Đà Nẵng gia tăng một cách đáng ngại, nào cướp giật, bắn lộn nhau, hôi của những nhà vắng chủ, nhất là nhà của Mỹ kiều. Bước ra đường, mạng người thật mong manh. Cướp giật và nổ súng vô tội vạ. Tình trạng gần như không có chính quyền nữa. Dân chúng hoang mang và lo sợ tột độ. Tôi gọi những chỗ bạn bè quen biết để hỏi tin tức nhưng không có ai trả lời. Quảng sáu giờ chiều, mở radio, nghe đài Phát Thanh Đà Nẵng phát đi bản tin nói rằng Trung Tá Nguyễn Kim Tuấn (nhà văn Duy Lam) được cử làm thị trưởng Đà Nẵng, Chuẩn Tướng Điềm được cử làm quân trấn trưởng với nhiệm vụ ổn định an ninh trật tự thành phố. Trong lòng cảm thấy có chút an tâm vì thấy anh Duy Lam còn ở lại, nhưng gọi đi nhiều nơi để thử kiểm chứng nguồn tin thì như đá chìm đáy nước. Lệnh giới nghiêm ban hành, đường sá dần dần vắng vẻ.

Đối diện sở tôi làm việc là quân trấn Đà Nẵng. Tôi thường trông chừng hoạt động bên đó để đoán định tình hình. Đèn vẫn sáng, lính vẫn còn canh gác, vẫn có người vô ra. Trong sân vẫn có xe M113 tăng cường. Đêm đó, đang ngủ, tự nhiên tôi thức giấc vì những tiếng động khác thường. Nhìn đồng hồ: non một giờ sáng, đã bước qua ngày 29 tháng 3. Ngoài đường người đi lại nườm nượp, xuôi dòng về hướng Cổ Viện Chàm, có lẽ người ta đang tìm về cảng sông Hàn hoặc tìm đường qua Quận 3. Chạy ra cửa sổ, nhìn sang Quân trấn, hai chiếc thiết vận xa đang nổ máy ầm ĩ và chuyển bánh. Các xe GMC 10 bánh và xe Dodge 4 cũng đang nổ máy, vợ con lính gọi nhau ơi ới, hối thúc lên xe. Tất cả những dấu hiệu khác thường đó cho tôi hiểu là ong vỡ tổ rồi. Tôi thức cả đại gia đình dậy, ai lo tư trang nấy, như đã sắp đặt từ trước, ôm ra xe. Trong sở có hai chiếc xe lớn, thuộc loại SUV ngày nay, là chiếc Ford Bronco và Ford Scout, và một chiếc du lịch hiệu Toyota Crown của sếp. Tôi lấy chiếc Bronco, để chiếc Scout cho gia đình Tr. Còn chiếc Toyota thì tay Đàn, cận vệ của sếp thừa hưởng. Bởi ngoài ba người chúng tôi ra thì trong sở không có ai biết lái xe nữa mà giành. Tất cả anh em trong cư xá thấy tôi chuẩn bị chạy, cũng hối hả theo, mỗi người tự kiếm lấy phương tiện. Tôi giao cho cô em út chiếc Honda dame, và cô em vợ chiếc Yamaha dame, bảo, “Cô và dì cứ bám theo xe anh mà đi.” Vợ chồng cô em áp út thì đi theo xe của anh ruột chú ấy. Riêng chiếc Bronco nhét đến 16 người, gồm gia đình tôi 7 người và gia đình ông bà nhạc 9 người. Hẳn là hãng Ford không bao giờ nghĩ rằng chiếc Bronco của họ có thể chở đến chừng đó con người ta, trong đó, già nhất là bà ngọai vợ, 81 tuổi và bé nhất là thằng con trai ba tuổi của tôi! Tôi chống cửa sau lên, buộc thêm dây thật chắc làm tay vịn, và lật tấm bửng phía sau, bảo những người trẻ ngồi xây mặt ra sau, nắm lấy dây cho chặt, và cứ thế mà lên đường.

Người ta đi như trẩy hội, đó là người tị nạn trong các điểm tạm trú. Họ không có phương tiện gì khác ngoài đôi chân, thấy người ta đi thì mình ở không đành, và tôi nghĩ rằng có lẽ họ cũng không biết đi đâu. Chỉ trừ con nít, còn ai cũng mang, vác, hay xách một túi hành trang nào đó. Có những cái xách quá nặng, thì hai người cùng khiêng. Nhìn xuống phía bờ sông, trụ sở của cơ quan CORP đang bốc cháy rực trời. Không biết ai phóng hỏa. Chỗ này sau năm 1975, trở thành “Nhà chứng tích tội ác đế quốc Mỹ.” Tôi lái xe theo đường Độc Lập để qua cầu Trịnh Minh Thế, tìm đường đến trại Chi Lăng của L. với hy vọng sẽ được đáp tàu xuôi Nam một cách an toàn. Càng ngược lên phía Tiên Sa thì tốc độ càng chậm, vì đường chật ních xe cộ và người ta. Tới gần Ngã ba Sơn Chà, lại xuất hiện đoàn người ngược dòng, có vẻ như là tháo lui. Hỏi ra, là vì họ không tìm thấy tàu bè gì cả. Từ ngã ba này đi vào là căn cứ quân sự, ngày thường, có đến hai trạm gác, không dễ chi vào, nếu không có phép, vậy mà nay tôi lái xe đi ngon ơ, trong bụng đâm nghi. Đến cổng trại Chi Lăng, cổng mở toang như đời thái bình, chẳng bóng dáng lính tráng chi cả. Tôi đậu xe bên đường, bảo mọi người ngồi trên xe chờ để tôi vào nhà xem thử ra sao. Vừa tính bước đi thì ba tôi (ông nhạc tôi) vỗ vai nói, “Khoan đã, con nên quay đầu xe trước cho sẵn sàng, để khi cần rút lui thì mình khỏi mất thì giờ, lúng túng.” Đến bây giờ, nhớ lại giây phút đó, tôi vẫn phục ông già vợ thật là bình tĩnh và sáng suốt. Tôi đi thẳng vào nhà riêng của L. thì thấy có miếng giấy nhỏ dán ở cánh cửa, cáo lỗi đã không thể chờ đợi được như đã hẹn. Có lẽ L. không phải chỉ hẹn một mình tôi, và cái thư ngỏ vắn tắt kia cũng không nhằm chỉ gởi cho tôi. Sau này, khi gặp lại nhau trên đất Mỹ, tôi biết L. đã vào được Sài Gòn, nhưng không thể đi xa hơn, để chịu số phận xuất ngoại bằng con tàu HO sau khi đã trả giá. Tôi ra xe, nói với ba tôi, “Thằng bạn của con, nó đi rồi. Bây giờ Ba ở đây, để con đi quanh quanh xem có tàu bè gì không.”

Tôi kéo theo chú em rể, vừa đi được một quãng ngắn thì đạn pháo chớp nổ bốn bề. Tôi chạy ngược về phía xe đậu, vừa chạy vừa la, “VC pháo kích, xuống xe, nằm xuống! Nằm xuống!” Đạn nổ ùng oành bốn phía. Tất cả mọi người đều xuống xe và nằm úp mặt xuống lề đường, chỉ trừ bà ngọai và thầy tôi (cha tôi), lúc đó đã 77. Cả hai người già ngồi xuống sàn xe, ôm đầu chịu trận. Cũng may không ai hề hấn gì. Khi đợt pháo kích tạm ngưng, tôi hô mọi người lên xe và quyết định quay về. Hai chiếc xe gắn máy bỏ lại bên đường. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong đời, tôi phóng xe liều lĩnh như mấy tay lái xe bạt mạng, lạng lách đủ kiểu để cướp đường, tránh mau ra khỏi vùng pháo kích.

Không biết chạy được bao lâu, ba tôi ngồi bên cạnh nói, “Tạm yên rồi, con.” Tôi giảm ga, tấp xe vào bên lề, ông chỉ tay về hướng cũ, nơi vẫn còn thấy ánh chớp và nghe tiếng nổ, nói, “Ở đó còn bị pháo, thiệt mình may mắn quá.”

Nhìn quanh, bây giờ là dòng nước chảy xuôi, nghĩa là người ta không kéo lên hướng Tiên Sa nữa, mà quay trở về. Tôi có cảm tưởng mọi người như đang đi trong một cơn mộng du, trong đó có tôi. Nghỉ một lát, lấy lại bình tĩnh, tôi lên xe, tiếp tục đường về. Qua khỏi Ngã ba Sơn chà thì xe phải chạy số 1, nhích từng bước, như xe đám ma, vì xe cộ và người ta chen chật mặt đường.

Qua khỏi Ngã ba một đoạn chừng trên dưới một cây số, dòng xe và người dừng lại, có lẽ nghẽn tắt phía trước. Tôi bỗng nghe tiếng máy xe gầm rú và tiếng người ta thét huyên náo. Ngoái cổ nhìn lui, thiệt là khủng khiếp. Từ xa, hai chiếc xe tăng M48 đang cướp đường để đi, những xe nào không tránh kịp đều bị nó hất tung. Người ta la thét và dạt chạy tán loạn. Nhắm chừng, tôi biết xe tôi đang ở ngay trên lộ trình của chúng, nghĩa là mép đường bên trái. Nghĩ đến thảm cảnh gần hai chục con người ta trong xe sẽ trong chớp mắt làm mồi cho hai con thú điên trong khi xe tôi cũng như các xe khác không thể nhúc nhích tránh vào đâu được, con người tôi tưởng như có thể nổ tung ra. Một mặt tôi hô mọi người xuống xe, cố dạt tránh về bên phải, và thấy lề đường bên trái còn trống trải, xe tăng có thể dạt qua về bên ấy để lấy lối đi, tôi nhảy xuống xe, hướng về chiếc xe tăng lạy như tế sao, cứ lạy vài cái thì tay phải tôi lại ra dấu cho nó dạt ra, tôi làm như máy, miệng thì la, không nhớ là la cái gì, nhưng có lẽ kích động lắm, vì có hai ba người cũng nhảy ra làm như tôi. Có lẽ người lính lái xe tăng cũng còn một chút lương tri nào đó, cũng có thể số phận của đại gia đình chúng tôi và nhiều người khác chưa chết, để ngày hôm nay tôi có thể kể lại giây phút kinh hoàng đó, chiếc xe tăng đi đầu đổi hướng, dẫn theo chiếc xe sau. Tính ra, xích sắt của nó chỉ cách cái xe tôi không hơn một thước! Có lẽ đó là nỗi sợ hãi lớn nhất trong đời mà tôi đã gặp.

Thoát nạn xe tăng, dòng người và xe lại nhích lên từng bước. Còn cách cổng tổng kho Đà Nẵng chừng hai trăm thước, chợt nghe tiếng đại liên nổ đùng đùng như đụng trận; cả đoàn dừng lại, giáo dát. Theo hướng tiếng súng, tôi nhận ra hai chiếc thiết vận xa M113 đang nổ súng phá cửa của hai nhà kho lớn nằm quay mặt ra đường. Cửa sập, mạnh ai nấy chạy vào hôi của, dân có, lính có. Tôi nghĩ phải là người địa phương, vì chỉ địa phương mới có đủ bình tĩnh mà làm thế chứ dân chạy loạn thì còn lòng dạ đâu nữa. Không biết là hàng hóa gì, chỉ thấy người ta ôm ra từng két giấy, người một thùng, người hai thùng. Tôi nghĩ giá như vào lúc đó họ có phép hóa ba đầu sáu tay, chắc sướng lắm. Không biết là món hàng gì nhưng thấy có mấy cặp đang hung hăng giành nhau. Cặp thì đánh lộn nhau, cặp thì rượt nhau, người không lấy được cầm súng rượt người lấy được, nổ lên trời loạn xạ. Vượt qua khỏi khu vực tổng kho thì tốc độ di chuyển gia tăng lên được một chút, chừng non mười cây số/giờ. Có lúc dừng lại, nhác thấy ở mé đường bên phải có Nguyễn Công L., tốt nghiệp ở Mỹ, làm việc cho Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Đà Nẵng. L. hỏi tôi, “Sao? Cũng về à?” Tôi gật đầu và đưa tay cứa ngang cổ, ra dấu chấp nhận cái chết.

Có những lúc xe chạy chậm quá, ngồi trên xe ngột ngạt, mấy cô em vợ và bà xã tôi xuống xe đi bộ, nghe thoải mái hơn, bởi nhiều người cũng làm thế. Hai người lớn tuổi nhất trên xe là bà ngọai vợ và thầy tôi. Ông cụ bị huyết áp. Vì vậy, cứ một lúc, tôi phải xem chừng và hỏi thăm sức khỏe. Đến lúc thấy câu trả lời của ông cụ có vẻ yếu ớt và sắc mặt đỏ hồng, tôi biết là không xong và giận mình quên không chuẩn bị thuốc hạ huyết áp.

Chỉ còn chừng năm chục thước nữa là qua khỏi cầu mới - chiếc cầu song song với cầu Trịnh Minh Thế, do công binh Mỹ xây - thì xe tắt máy. Tưởng là hết xăng, té ra không phải, overheat! Khói tỏa ra ở đầu máy khét lẹt. Tôi hô mấy cô em vợ và hai người giúp việc xuống đẩy xe để cho tôi lái qua khỏi cầu. Ở chân cầu bên phải là bãi ủi của tàu LST, vô số lính TQLC chạy tới chạy lui, và không biết xăng ở đâu mà đổ lênh láng ra thấu ngoài đường! Thật là phép lạ, không có ai hút thuốc.

Vừa quẹo phải đường Triệu Nữ Vương một đoạn ngắn thì chiếc xe chịu chết. Một cây cột điện bị xe ủi sập (?) nằm chắn ngang đường, y như một cây cản bằng bê tông. Lề đường sát ngay hàng rào nhà người ta, không nhúc nhích vào đâu được. Đang phân vân tính kế thì một đoàn người và xe của TQLC ào ào đi tới. Thấy chiếc xe tôi cản đường, nhiều tiếng chửi thề vang lên. Có ông nào đó nóng nảy la lên, “Bắn mẹ nó đi, mà đi.” Tôi nói, “Mấy anh bắn tôi thì có được ích chi. Chi bằng mỗi anh xúm vô một tay, nhấc bổng cái xe tôi qua khỏi cây cột điện, tôi tấp vào lề là mấy anh có đường đi ngay.” Có tiếng hô “Phải đó, dô tụi bây!” Lập tức, chiếc Bronco của tôi được đưa qua khỏi cái cột điện như có phép Tề Thiên. Đang đứng chùi mồ hôi trán, tính kế làm sao về đến nhà kịp thời để cứu ông cụ đây, thì chợt thấy cách chừng hai chục thước, có người đang loay hoay bên một chiếc Dodge 4 đang đậu trong sân. Tôi chạy vội đến làm quen:

- Anh ơi, anh sắp sửa đi đâu phải không?

- Phải, tôi sắp đưa gia đình về lại nhà ở Thạch Thang. Chạy không được thì về nhà, tính sau, chứ đi thế này nguy hiểm lắm, vợ con đùm đề. Tôi vừa ghé vô đây để xin nước đổ xe thì cây cột điện bị xe M113 ủi sập, may quá.

- Tôi cũng như anh, chạy không được phải về, nhưng giờ xe bị cháy máy. Thuận đường về, anh kéo giúp cho xe tôi đến trước Quân trấn được không?

- Được được, chuyện dễ mà, nhưng tôi không có dây kéo.

- Để tôi đi kiếm.

Nói thế chứ cũng không biết kiếm đâu. Vừa may, chợt thấy bên kia đường một cái dù, loại dù thả tiếp liệu, đang nằm vắt nửa trên vỉa hè, nửa dưới lề đường. Chạy băng qua đường, rút con dao xếp ba lưỡi bén ngót trong túi ra, tôi cắt ngay một sợi dây đai mang về. Cũng may là tôi thủ sẵn con dao để phòng lúc cần dùng khi chạy loạn nên mới có cái để mà cắt loại dây này, chứ lấy răng mà cắn cũng không dễ chi đứt sợi dây dù, huống là loại dây đai to bản vừa chạy băng qua đường tôi vừa la:

- Có dây rồi!

- Đâu? Đâu? A, được đó. Xe anh ở đâu?

- Nằm chết kia kìa. Anh làm ơn de xe anh lui gần xe tôi thì mới cột dây được.

Xe chạy đến gần Cổ Viện Chàm thì phải nép bên đường bởi ở phía đường Độc Lập có bốn năm chiếc xe cắm cờ xanh đỏ của MTGPMN và cờ đỏ sao vàng, chất đầy thanh niên nam nữ, đang ào ào chạy tới, với tiếng loa oang oang. Lắng nghe, thì biết đây là thành phần “nhân dân khởi nghĩa,” họ đang kêu gọi dân chúng treo cờ “mặt trận” để đón “bộ đội giải phóng” và yêu cầu “ngụy quân” buông súng, đem súng nạp cho “cách mạng.” Toàn cả chữ nghe lạ tai. Một người bên đường tỏ ra thông thạo, “Họ về tới Đò Xu rồi, mấy xe đó đi đón bộ đội giải phóng đó.” Khi quyết định trở về và chấp nhận mọi hậu quả của nó, tôi thấy lòng bình tĩnh lạ thường, nên khi thấy, nghe những điều như thế, tôi chẳng thấy xúc động chút nào, xem như việc phải thế. Hình như tâm lý đang ở trạng thái bão hòa; có lẽ khi cái động đã lên đến cùng cực thì biến thành cái tĩnh.

Mười phút sau thì xe về đến nhà. Bấy giờ mới kịp nhìn kỹ ân nhân: một trung sĩ, trạc tuổi tôi. Tôi hỏi tên và hỏi nhà để sau này tới thăm cảm ơn, nhưng anh ta xua tay, “Giúp chút chút vậy thôi, có gì đâu mà anh cảm ơn,” rồi cười, lên xe phóng đi mất. Ông cụ tôi gần như bất tỉnh, chỉ còn thở thoi thóp, hỏi không nói, gọi không trả lời. Trong cứ xá, anh em nhân viên chạy không được cũng lục tục trở về trước cả tôi nữa.. Hai ba người chạy ra giúp tôi đưa ông cụ vào nhà. Vừa may Bác Sĩ Tôn Thất S., y sĩ của Liên Đoàn 8 CB, vốn là bạn mà cũng là hàng xóm gần gũi, chạy không lọt cũng vừa về tới nơi. Ông cụ tôi đã được cấp cứu kịp thời. Tính ra, chúng tôi đã mất 11 tiếng đồng hồ để đi từ ngã tư Độc Lập/Thống Nhất qua đến Tiên Sa rồi trở về, một lộ trình chỉ dài chừng 20 km đi về, mà nghe thăm thẳm âu lo và kinh hoàng.

Thấy ông cụ nằm ngủ bình yên, và trong nhà, nam phụ lão ấu tuy mệt nhưng an toàn, tôi khoan khoái đốt một điếu thuốc ngồi thở khói, lòng thanh thản lạ thường, không cần biết cái gì sẽ đến với mình, với gia đình mình, có thể lát nữa đây hay ngày mai. Cửa mở, anh Thôi, người tài xế của sở, có nhà ở Thanh Khê, vào nhà, hốt hoảng nói với tôi, “Họ vô tới Thanh Khê rồi, tui lấy xe đạp vô đây coi ông đã đi được chưa. Giờ ông tính sao?” Tôi cười, “Tính rồi mà không được nên mới ngồi đây chớ. Thôi, từ giờ trở đi hết ông rồi, đừng kêu ông nữa nghe. Anh mà còn kêu ông là anh hại tôi đó!” Anh Thôi nhăn mặt, “Ông nói chi tội tui rứa!” Xin lỗi anh Thôi, cuốn-sách-đời của chúng ta dày hay mỏng, có khi hay hoặc có khi dở, tùy phận người, và dù muốn dù không, có lúc chúng ta cũng phải dở qua trang khác.

Tháng 3, 2005
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

NHỮNG TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG & CHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH
VIỆT NAM CỘNG HÒA
Quân đội VNCH chính thức buông súng và tan rã vào trưa ngày 30/4/75, sau nhật lệnh đầu hàng của Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, một tên nằm vùng được Tổng thống 3 ngày Dương Văn Minh bổ nhiệm làm quyền Tổng Tham Mưu Trưởng. Đó là một ngày đen tối mà cho đến hôm nay, sau đúng 40 năm, hầu như vẫn còn in rõ trong tâm niệm của hàng triệu người lính cũ của quân đội miền Nam cùng với những cảm nghĩ cay đắng, đau xót. Những cảm nghĩ ấy có lẽ cũng được cả những người chết mang theo.

Bốn mươi năm sau khi tan hàng rã ngũ bằng một cuộc bức tử kinh tởm, chân dung thật của người lính VNCH vẫn còn bị che mờ sau những màn khói huyền thoại, phản bội và vô ơn. Có lẽ trong lịch sử thế giới, không có người lính nước nào phải chịu một số phận nghiệt ngã như người lính VNCH. Trong khi cầm súng chiến đấu và sau khi đã buông súng hằng chục năm, người lính ấy vẫn chưa thoát khỏi cái số phận nghiệt ngã bám theo mình.

Tuyên truyền CS vu cáo họ là "những tên lính đánh thuê", là bọn "ngụy quân" phản quốc, làm tay sai cho ngoại bang giết hại đồng bàọ. Báo chí phương Tây, kiêu ngạo và bất công - qua một số cấp chỉ huy thối nát, bất xứng - vẽ lên hình ảnh những người lính chỉ biết nhũng nhiễu dân, bỏ chạy trước địch quân, và "không chịu chiến đấu". Cuộc tan hàng thê thảm vào ngày 30/4/75 càng khiến người lính VNCH bị lăng nhục hơn nữạ. Kẻ thù, sau khi "lượm được chiến thắng", đã tận dụng mọi phương tiện để trả thù, đày ải, hạ nhục những người lính bại trận. "Bạn bè", khiếp sợ trước "chiến thắng thần thánh"của đối phương, cũng để tự bào chữa cho sự hèn nhát và phản bội của mình, tiếp tục trút mọi tội lỗi lên đầu những người lính đã bị bắt buộc phải buông súng.

Người lính VNCH: biểu tượng cho sự chịu đựng gan dạ và bền bỉ trong cuộc chiến chống cộng ròng rã suốt 3 thập niên.

Đau đớn hơn nữa là sự phản bội của một số những người chỉ huy cao cấp trong quân đội VNCH. Từ Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn văn Thiệu, nguyễn Cao Kỳ, cho đến gần đây nhất là Trần Văn Đôn. Chưa hết, còn sự vô ơn và phản bội của một số người Việt cầm bút, ở trong và ngoài nước, những người đã nhờ máu của người lính VNCH mà dược hưởng tự do trong hơn 20 năm để viết ra những gì họ nghĩ, cái tự do trong cái giới hạn trong một xã hội chiến tranh nhưng ít nhất họ cũng không bị trở thành những con ngựa trong chuồng như ở miền Bắc. Những nhà văn nầy đã và đang trả cái ơn ấy bằng cách khai thác và phóng đại những khuyết điểm của người lính VNCH, hay vô liêm sĩ hơn nữa, vu cáo những người chiến sĩ chính danh là những tên lính đánh thuê khát máu, không nhân tính, không lý tưởng. Đâu là chân dung thực của người lính VNCH ?

Năm 1984, trước bộ phim được gọi là "tài liệu lịch sử" dài 13 giờ chiếu mang tên Vietnam: A Television History (Việt Nam: Một Bộ sử Truyền Hình) nhưng là một sự lăng mạ lịch sử, ông James Banerian đã viết một cuốn sách vạch trần những sai lầm ác ý của những người làm phim. Cuốn sách của ông nhan đề là Losers Are Pirates (Thua là giặc), rút từ câu tục ngữ Việt Nam "được làm vua, thua làm giặc". Cái tựa đề ấy đã xác nhận thêm số phận bạc bẽo cay nghiệt của người lính thua trận, và là một trong số hiếm hoi những tiếng nói lương thiện và trung thực trong "thế giới tự do" đã đóng góp vào việc tái tạo lại chân dung thực của người lính VNCH.

Cũng trong năm 1984, học giả Phạm Kim Vinh viết cuốn "Thiên Anh Hùng Ca Viết Cho Quân Lực VNCH, dùng những chất liệu lịch sử và những bài viết của các tác giả Tây phương lương thiện để bẻ gãy những sự vu cáo, bác bỏ những lời buộc tội bất công, xoá tan những huyền thoại, và phục hồi danh dự cho những người lính đã chiến đấu trong những điều kiện khắc nghiệt suốt hơn 20 năm, đi qua một con đường dài lịch sử mà ông cho là "kể về sự khắc khổ và chịu đựng còn vượt xa con đường Vạn Lý Trường Chinh của Mao Trạch Đông, và về tính cách thiêng liêng, vị tha và cao quý còn vượt xa các cuộc Thánh Chiến Thời Trung Cổ.

Chân dung người lính VNCH được phác họa sống thực ngay ở bìa cuốn sách, với hình ảnh một người chiến binh gầy ốm, gương mặt chĩu nặng ưu tư mệt mỏi, nhưng chân vẫn bước đi với hai ống quần xắn lên tới đầu gối và cây súng thô sơ trên vaị Qua gần 300 trang sách với thật nhiều dẫn chứng cụ thể và những biện luận vững chắc, tác giả Phạm Kim Vinh đã đưa người đọc đi lại con đường dài mà người lính VNCH đã đi, từ những ngày đầu được khai sinh với nhiều bất hạnh, trưởng thành dần trong khói lửa với cuộc chiến đấu dũng cảm trong sự thiệt thòi bất công vô lường, cho đến cái chết tức tửi oan nghiệt vào ngày 30/4/75.

Những chiến xa T-54 của Cộng Sản bị bắn cháy gần phi trường Tân Sơn Nhất trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975.

Ngay sau khi người lính VNCH buông súng, trong đống sách báo phim ảnh trên thế giới nói về cuộc chiến VN cũng đã có rải rác những cái nhìn công bằng hơn về những người lính thua trận, qua những cuộc chiến đấu cuối cùng dũng cảm tuyệt vọng của họ

Hai ngày sau khi Saigon sụp đổ, Peter Kanh, nhà báo Mỹ đoạt giải Pulitzer, đã viết một bài bình luận dài trên tờ Wall Street Journal (2/5/75) tựa đề "Truy điệu Nam Việt Nam", trong đó có đoạn viết về Quân Lực VNCH như sau :

"...Nam Việt Nam đã chống cự hữu hiệu trong 25 năm, và họ đã không phải luôn luôn được người Mỹ giúp. Tôi nghĩ ít có xã hội nào bền bỉ chịu đựng được một cuộc chiến đấu lâu dài như vậỵ..Quân lực VNCH đã chiến đấu can đảm và vững mạnh trong một số trận đánh mà chúng ta còn nhớ, thí dụ như trận An Lộc Quân đội ấy đã chiến đấu giỏi và can đảm ở nhiều trận đánh khác mà chúng ta không còn nhớ địa danh. Quân lực ấy đã can đảm và chiến đấu trong hàng ngàn trận đánh nhỏ, và giữ vững hàng ngàn tiền đồn hẻo lánh ở những nơi mà cái tên nghe rất xa lạ với người Mỹ...

Hàng trăm ngàn người của quân lực ấy đã tử trận. Hơn nửa triệu người của quân lực ấy đã bị thương...Và trong những tuần lễ chót, khi mà người Mỹ nào cũng biết là cuộc chiến đấu đã thua rồi thì vẫn còn những đơn vị của quân lực ấy tiếp tục chiến đấu, thí dụ tại Xuân Lộc. Nhờ có những sự chiến đấu ấy mà người Mỹ và một số người Việt lựa chọn mới an toàn thoát đi được. Rốt cuộc, quân lực ấy đã tài giỏi hơn sự ước lượng của người ta . Phía mạnh hơn chưa chắc đã là phía tốt hơn".

Không phải đợi tới ngày nay, 40 năm sau, người ta mới khẳng định được rằng, "phía mạnh hơn không phải là phía tốt". Phía tốt hơn đã trở thành phía yếu hơn và đã bị đánh bại trên chiến trường chỉ vì đã trở thành nạn nhân của sự hèn nhát và phản bộị Người lính VN đã chiến đấu cho tự do đã bị trói tay buộc chân, cắt giảm viện trợ vào lúc hiểm nghèo nhất.

Trong cuốn "Not with guns alone", nhà báo lão thành người Úc Denis Warner đã lên án Quốc Hội Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự cho VNCH vào lúc cần phải gia tăng. Ông cho biết cả một tiểu đoàn QLVNCH bị tiêu diệt trong một trận đánh ở miền Tây sau khi bắn hết viên đạn cuối cùng.

Ở miền Trung, mỗi khẩu đại bác chỉ còn được cấp 4 viên đạn mỗi ngày, trong khi Cộng quân có khả năng nã vào các căn cứ quân sự miền Nam hàng ngàn quả đại pháo mỗi đêm.

Tác giả Mỹ Louis Ạ Fanning cũng viết như sau trong cuốn "Sự phản bội tại VN" (Betrayal in Vietnam) :

"Trong khi quân lính Bắc Việt được tăng cường chiến cụ thì quân đội Nam Việt Nam lại bị cắt giảm thật nhiềụ Trước kia, mỗi khinh binh đi hành quân tuần tiễu được phát mười trái lựu đạn, nay chỉ còn được phát có một trái".

Những kẻ trói tay buộc chân người lính VNCH cũng chính là những kẻ đã kết tội người lính ấy "không chịu chiến đấu" trong khi cả "thế giới tự do" không hề có một lời lên án việc CSBV xé bỏ Hiệp Định Paris 1973, chiếm đoạt miền Nam bằng võ lực. Sự hèn nhát nầy đã bị nhà văn Nga lưu vong Solzhenitsyn coi là một sự vô đạo, vì ý chí tự vệ của phân nửa Âu Châu và ở 3/4 thế giới còn thua xa ý chí chiến đấu tự vệ của Nam Việt Nam, phần đất đã bị bỏ rơi với lời biện hộ "không thể bảo vệ những người không có ý chí để tự bảo vệ!"

Sự hèn nhát và vô đạo ấy đã làm thức tỉnh lương tâm một số người từng góp phần cổ võ cho CSBV xâm chiếm miền Nam, khi họ chứng kiến những trận đánh cuối cùng của một số đơn vị QLVNCH. Trong số nầy có 3 nhà báo Pháp Jean Larteguy, Jean Lacouture và Pierre Darcourt. Ba nhà báo nầy đã có mặt tại miền Nam Việt Nam trong cơn hấp hối của Saigon, có lẽ chờ đợi đón mừng "bộ đội giải phóng" để chứng kiến cái chết ô nhục của quân đội miền Nam mà họ đã phỉ báng trong suốt bao nhiêu năm. Nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt, họ trở về Pháp, và đã làm cho cả thế giới ngạc nhiên với những gì họ viết ra

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Jean Larteguy ghi lại như sau khi tới thăm một đơn vị Dù cố thủ tại Sài Gòn:

"Thứ Hai 28/4/75.
Saigon sáng nay yên tĩnh.
Các đơn vị của một lữ đoàn Dù chiếm đóng vị trí của họ trong thành phố, sau bức tường, trong các khu vườn. Họ không buồn rầu, và không tuyệt vọng. Họ điều động như thể đang dự một cuộc thao dượt. Đôi lúc họ còn cười với nhau, và liệng cho nhau những chai Coca-Colạ Họ không nuôi một ảo tưởng về số phận của họ, về kết quả của trận đánh tối hậu nầỵ Nhưng tôi có cảm tưởng là họ nhất định chiến đấu tới cùng, và sẽ tự chôn mình trong những đổ nát của Saigon.

Và những binh sĩ tuyệt vơì nầy vẫn còn có được các cấp chỉ huy ở bên họ. Một trong các cấp ấy là một đại tá. Tôi hỏi ông ta xem tình hình ra saọ

Ông trả lời:

- Chúng tôi sẽ chiến đấu, và chúng tôi sẽ là những người chót chiến đấụ Hãy nói cho mọi người biết rằng chúng tôi chết không phải vì Thiệu, vì Hương hay vì Minh.

Sau khi Dương văn Minh đã tuyên bố đã đầu hàng. Lartéguy lại được chứng kiến tận mắt trận đánh cuối cùng của các đơn vị QDVNCH tại Saigon, và ghi lại như sau:

"Gần Lăng Cha Cả, quân Dù đánh trận chót. Họ chiến đấu tới 11 giờ 30 trưa, cho tới khi các cấp chỉ huy của họ từ Dinh Tổng Thống trở về sau cuộc gặp gỡ bi thảm với tướng Minh. Các sĩ quan nầy khuyên họ nên ngưng chiến đấụ. Họ vừa hạ được 5 xe tăng T-54. Những xe ấy còn đang cháy ngùn ngụt. Một chiếc nổ tung vì đạn trong xe

Quân Dù không để lại trên trận địa một thứ gì, dầu là vũ khí, đồ trang bị, người bị thương hoặc người chết"

Lartéguy cũng được thấy tận mắt các sinh viên Trường Võ Bị Đà Lạt, lực lượng trừ bị chót của QLVNCH, tiến ra trận địạ

"Và trong những bộ đồng phục mới, giày chùi xi bóng láng, các sinh viên anh dũng của Trường Võ Bị Đà Lạt đã đi vào chỗ chết. Chỉ còn thiếu có cái mũ diễn hành và đôi bao tay trắng".
Một đồng nghiệp của Lartéguy là Raoul Coutard đã thu được cảnh xuất quân bi tráng ngay vào máy quay phim và cố nén xúc động để hỏi các sinh viên sĩ quan:

- Các anh có biết là sắp bị giết chết không?

Một thiếu úy trả lời:

- Chúng tôi biết chứ.

- Vì sao?

- Tại vì chúng tôi không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản.

"...Các xe tăng đầu tiên của cộng sản vào Saigon từ phía Đông, qua tỉnh lộ Thủ Đức và Biên Hòạ.. Bộ binh thì tiến từ phía Bến cát và Tây Ninh. Tuy vậy, bọn nầy chỉ tới được trung tâm Saigon vào lúc 5 giờ chiềụ .Từ ngày hôm trước, các đơn vị cộng quân nầy dã bị chặn tại gần Hốc Môn, gần nơi có Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù do Lữ Đoàn 4 của sư đoàn Dù trấn giữ, dưới sự chỉ huy của đại tá Vinh, sĩ quan to con, mặt phong trần, nhất định bất chấp lệnh ngưng bắn. Các đơn vị cộng quân bị thiệt hại nhiềụ. Sau đó, chúng còn phải giao tranh 2 lần trên đường phố Saigon : một lần trước trụ sở Cảnh Sát Công Lộ; nơi đây chừng 100 cảnh sát viên chiến đấu oanh liệt trong hơn một giờ, trước khi bị xe tăng cộng sản đè bẹp; lần thứ hai ở ngã tư Hồng Thập Tự và Lê van Duyệt, là nơi chỉ có 4 người lính dù võ trang đại liên và bazooka mà chiến đấu được trong 50 phút. Đến khi hết đạn, họ đi ra ngoài, nắm vai nhau, lập thành vòng tròn rồi cho nổ một tràng lựu đạn tự sát.

Đến chiều tốị 400 chiến sĩ Mũ Đỏ (Dù) được gom từ trận Hốc Môn và từ phi trường, tụ lại quanh đại tá Vinh, và còn chiến đấu gần chợ chính và các nơi có ruộng lúa của tỉnh Chợ Lớn. Dến 10 giờ đêm, đại tá Vinh cho lệnh các binh sĩ chia thành toán nhỏ, lợi dụng bóng đêm để rút về đồng bằng."

Darcourt cho biết đại tá Vinh đã ở lại vị trí và tự sát.

Hai cái chết hào hùng khí phách của 2 vị tướng ưu tú của QLVNCH cũng được các nhà báo quốc tế chân chính thuật lạị

Nhà báo lão thành người Úc Denis Warner viết về cái chết của tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lịnh sư đoàn 5, như sau:

"...Trong buổi sáng ngày 30/4/75, sư đoàn 5 mất liê lạc với quân khu III tại Long Bình. Tư lệnh sư đoàn 5 là tướng Lê Nguyên Vỹ quyết định dùng mọi thứ xe cơ giới để tiến về Saigon. Toàn thể quân đoàn I của CS chận đánh đoàn xe của tướng Vỹ. Bị yếu thế về mọi mặt, đoàn xe ấy bị tiêu diệt. Tướng Vỹ hiên ngang tự sát".

Về cái chết của tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh quân đoàn 4, ký giả Mỳ Alan Daeson thuật lại:

"...Tại Cần Thơ, tướng 3 sao Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh vùng 4 và đồng bằng Cửu Long, rốt cuộc đành chịu nhận là cuộc chiến đã hết, khi ông ta nghe thấy tướng Minh nói trên đài phát thanh. Là một trong các tướng lãnh cương quyết ở lại, tướng Nam đã chiến đấu cho đến phút chót...Ông ra lệnh cho các sĩ quan tham mưu của ông không được rời bản doanh.

Ông ta còn đích thân đi quan sát tiền tuyến nữạ. Ông ta đã bắn viên tỉnh trưởng Sa đéc ở ngay phía đông Cần Thơ, vì kẻ ấy nhất định đòi đi theo người Mỹ chạy trốn. Khi viên tỉnh trưởng Kiên Giang trái lệnh của tướng nam, và dùng tàu rời khỏi Rạch Giá để đi về phía Nam thì tướng Nam cho 3 chiếc trực thăng võ trang đuổi theo, rồi bắn chìm chiếc tàu ấy bằng đại liên và hỏa tiễn.

Tướng Nam chẳng có gì để phải hổ thẹn khi chiến đấu những ngày chót của một chiến binh. Ông đã thật sự dâng cuộc đời mình cho cuộc chiến đấu ấỵ Trong vòng 30 phút, sau khi tướng Minh ra lệnh đầu hàng trên đài phát thanh, tướng Nam kề khẩu súng lục cỡ 45 vào mồm rồi bóp cò. Ông ta chết ngay tại chỗ."

Những trận đánh dũng cảm và những cái chết anh hùng trên đây là đoạn kết của một cuộc chiến bi tráng kéo dài trên 20 năm, trong dó theo viên tướng Pháp Vanuxem thì cứ mỗi 8 phút lại có một người lính VNCH hy sinh. Nhờ sự hy sinh ấy mà hơn 20 triệu người dân miền Nam được sống tự do trong 1/4 thế kỷ. Bao nhiêu cuộc đời êm ấm đã trôi qua trong thời gian ấy, bao nhiêu công danh sự nghiệp đã được "những con người may mắn" thủ đắc.

Và đây là cái "phần thưởng" mà xã hội miền Nam ngày trước đã đền đáp cho sự hy sinh của người lính sau mỗi cuộc hành quân, qua ngòi bút của Phan Nhật Nam:

"Người chồng không chết, và sẽ trở về. Người lính bơ phờ, gầy guộc, ngồi đếm đi đếm lại những tờ giấy bạc bằng những ngón tay cáu ghét, mơ ước bỗng nhiên xấp bạc trở thành nhiều hơn, một giấc mơ nhẹ nhàng, quên được cảnh đời với đôi chân lội ngập trong bùn, những tờ bạc có được sau 30 ngày đo chân bờ ruộng, trong rừng sâu, trên những cồn cát, 30 đêm ngủ võng, nằm hầm, mắt mở lớn sau một lớp cỏ ướt sương, và toàn thân ngâm chặt dưới nước bùn lạnh giá. Những tờ bạc chỉ đủ mua một phần gạo cho một người đàn bà và 4 đứa con trong tháng".

Đó là người lính không chết. Nếu người lính chết, thì đây là thân phận vợ con người lính:

"Người lính chết, chết là hết, nhưng không bao giờ hết cho người vợ lính. Không hết cho một chuỗi ngày tháng dài đăng đẵng sau lưng, cùng với một lũ con nheo nhóc; những đứa bé sẽ lang thang trên các đống rác chất ngất được đổ từ những chiếc xe nhà binh Mỹ; thằng bé sẽ mặt cái áo dài của bố nó, dài đến tận đầu gối, tóc rối, mắt khô, chân tay là những rễ cây khẳng khiụ.. Những người vợ lính, và đứa con lính sẽ dự phần vào cuộc đua khốn nạn, dấu chân trần sẽ vượt thật nhanh trên những chiếc hộp sắt bóng loáng, hay sét rỉ..."

Cuộc chơi rõ rệt không công bằng, nhưng nguời lính VNCH vẫn miệt mài chiến đấu và hy sinh. Cho đến khi hoàn toàn bị trói taỵ Cuộc chơi tàn. Nhưng người lành lặn bị lùa vào các trại cải tạọ. Đui, què, mẻ sứt...không còn được ai nhắc tới, biết tớị những người chết không yên, mồ mả bị đào xới lăng nhục.

Bốn mươi cái 30/4 đã trôi qua, hào quang của những kẻ đã chiến thắng nhờ sức mạnh súng đạn ngoại bang đã tắt lịm trong cái xã hội cực kỳ thối nát. Bao giờ lương tâm mới thức tỉnh trong những con người vẫn còn muốn ném bùn vào nét chân dung của người lính VNCH ?

Tác giả: Sơn Tùng
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Sau ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975, thời thế đã đổi thay. Cái Thiện đã nhường chỗ cho cái Ác. Tự-Do, Bác-Ái, Công-Bằng chỉ còn là kỷ niệm.

Thời Thế, Thiện, Ác, và... Con Người


Vương Mộng Long- K20
Một ngày cuối tháng Ba năm 1970 Thượng Sĩ Woodell ghé Cư Xá Trần Quí Cáp- Pleiku đón tôi vào Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa-Kỳ để ghi tên xin khám bệnh. Hôm sau, tôi chính thức nhập viện để được giải phẫu một vết thương.

Đúng lý ra, hôm đó, tôi phải lên đường về trình diện Tổng Y Viện Cộng-Hòa theo quyết định của Bác Sĩ Trung, Giám-Đốc Quân Y Viện Pleiku. Chỉ vì sáu tháng trước đây, vết thương trên vai trái của tôi đã được mổ một lần. Lần đó bác sĩ chỉ lấy ra được hai mảnh đạn nhỏ, còn mảnh đạn lớn vì ở quá sâu lại dính với xương vai, nên tôi được xuất viện về đơn vị, chờ ít lâu, sẽ di chuyển xuống vùng sườn trái, khiến cả một vùng cơ bắp sưng tấy, và đang làm độc. Ban Giám Đốc Quân Y Viện Pleiku đã làm thủ tục chuyển tôi về Tổng Y Viện Cộng-Hòa vì nơi đây có nhiều phương tiện chữa trị hơn. Tôi về đơn vị trình bày việc này cho trung tá liên đoàn trưởng, lúc đó cũng có mặt ông trung tá cố vấn trưởng liên đoàn. Ông trung tá Hoa-Kỳ nêu ý kiến, giới thiệu tôi vào Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa-Kỳ trước, nếu chữa không xong, họ sẽ chuyển tôi ra Hạm Đội 7.

Bệnh viện 71 Dã Chiến nằm trong một thung lũng, bên cạnh con đường nhựa nối liền phi trường Cù-Hanh và Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn II. Bệnh viện này là nơi tiếp nhận thương binh Mỹ từ các chiến trường Cao-Nguyên Vùng 2 chuyển về. Từ đây thương binh được cấp cứu, điều trị sơ khởi, sau đó tuỳ theo tình trạng nặng nhẹ, họ sẽ được chuyển về Sài-Gòn hay chuyển ra Hạm Đội 7.

Thay quần áo xong, tôi được đưa vào phòng Quang Tuyến X rồi chuyển sang phòng chẩn bệnh.Nơi đây đã có mặt một nữ y sĩ trung tá già da đen. Bà y sĩ trung tá này chính là trưởng khoa giải phẫu của Bệnh Viện 71 Dã-Chiến. Hình dáng của bà ta thật là cao lớn và thô kệch, nhưng giọng nói của bà lại vô cùng ấm áp dịu dàng. Rất từ tốn, bà tự tay đo, và ghi trên hồ sơ, nhịp tim, mạch của tôi. Rồi bà bước ra cửa, nói nhỏ với cô điều dưỡng vài lời. Một phút sau ông đại úy bác sĩ phụ trách ca mổ của tôi có mặt. Ông y sĩ đại úy này da trắng, cũng hơi lớn tuổi, và mang kiếng trắng. Hai vị thày thuốc luân phiên quan sát hai tấm hình X Ray, rồi sờ nắn vùng đang sưng tấy bên nách tôi. Khi ngón tay của họ nắn bóp trên chỗ sưng, tôi cảm như nơi đó là một quả xoài đã chín nhũn, chứ chẳng thấy đau đớn gì cả. Công việc chẩn bệnh chấm dứt, tôi ngồi chờ người dẫn sang phòng mổ.

Chợt ngoài bãi đáp có tiếng động cơ của trực thăng tản thương. Hai điều dưỡng viên chạy ra khiêng chiếc cáng, trên đó là một thương binh băng kín nửa người phần dưới. Theo sau chiếc cáng là một sĩ quan Mỹ và một sĩ quan Việt-Nam. Người sĩ quan Việt-Nam đó là Đại-Úy Phạm Văn Tư Khóa 19 Võ Bị, tôi quen biết. Anh Tư là dân Tình-Báo, đang tăng phái ngắn ngày cho ban thẩm vấn đặc biệt của Mỹ tại Hàm-Rồng. Thấy bệnh nhân là một người Việt-Nam, nên tôi thắc mắc hỏi anh Tư:

- Ủa! Sao Niên Trưởng không đưa người của Niên Trưởng vào Quân Y Viện Pleiku mà lại đưa vào đây?

- Có phải người của “moa” đâu? Việt-Cộng đó!

- Việt-Cộng à?

- Thằng Việt-Cộng này vướng Claymore ngoài rào trại Dak-Séang. Mỹ bắt được, đem về Camp Enari, giao cho Phòng 2 Sư Đoàn 4 (Hoa-Kỳ )

- Từ Camp Enari về đây có vài ba cây số sao không dùng xe mà phải xử dụng tới trực thăng?

- “Moa” thấy đùi của anh ta bị quấn “garô” sưng to quá, sợ xảy ra nội xuất huyết thì chết, nên đề nghị với Mỹ lấy máy bay của sư đoàn, đưa anh ta về đây.

Nhìn mặt người nằm trên cáng, tôi đoán chừng hắn cũng cỡ tuổi của tôi và anh Tư thôi.

- Hắn thuộc đơn vị nào vậy?

- Tụi “moa” vừa ký nhận đã phải đưa tới đây ngay. Chưa hỏi được câu nào.

- Bộ anh ta đi đánh nhau không mang theo giấy tờ gì sao?

- Có chứ! Nhưng tài liệu mình còn để trên bàn. Việc cứu người là trọng, phải lo trước. Chiều nay mình sẽ nghiên cứu tài liệu cũng chưa muộn.

- Ừ nhỉ! Dù gì thì hắn ta cũng là người Việt-Nam, chỉ không cùng chiến tuyến với chúng mình.

- “Toa” biết không? Trên đường đi, hắn cứ luôn mồm gọi “Xuân ơi! Xuân ơi!” Chắc hắn yêu thương người mang tên Xuân này lắm .

Tôi gật đầu, tán đồng,

- Dù là Quốc-Gia hay Cộng-Sản, thì con người nào cũng có một trái tim, biết yêu thương, và biết giận hờn.

Một năm trước đây, trong trận Dak-Tô (5/1969), tôi đã trải qua tình cảnh tương tự như người cán binh Cộng-Sản này. Ngày đó, vào giờ phút tuyệt vọng nhất, trái tim tôi chỉ còn hình bóng người mà tôi yêu thương nhất. Tôi đã gọi tên người này nhiều lần trước khi bị ngất đi.

Tên tù binh được chuyển vào phòng X Ray rồi sang phòng chẩn bệnh. Hai Quân-Cảnh Hoa-Kỳ được gửi tới canh gác trước phòng chẩn bệnh. Đại Úy Tư bắt tay tôi, rồi cùng viên sĩ quan Mỹ rời bệnh viện.

Khi tôi và tên tù binh được đẩy vào phòng giải phẫu thì trên bàn mổ đang diễn ra một ca phẫu thuật khá ồn ào. Một nam bác sĩ cùng hai nữ y tá cố gắng và kiên nhẫn lắm mới lấy được cái đầu đạn đồng A.K 47 ra khỏi đùi trên của một anh lính Hoa-Kỳ. Anh lính này da trắng, còn rất trẻ, tuổi chừng mười chín hai mươi là cùng. Anh chàng bị cột chặt nửa người dưới và hai chân xuống bàn mổ, để tránh dãy dụa, gây trở ngại cho bác sĩ.

Chắc việc mổ xẻ làm cho người trẻ tuổi đau đớn lắm, nên anh ta không ngớt khóc lóc, kêu la. Ông bác sĩ và hai cô y tá cứ phải luôn miệng, dỗ dành, an ủi anh. Trước cảnh này tôi cũng thấy tội nghiệp. Mỗi khi hoàn tất một pha mổ, toán phục dịch vệ sinh lại nhanh tay thay cái khăn bàn mới, rồi đẩy vào phòng một khay đựng dụng cụ giải phẫu khác đã tẩy trùng. Ca mổ của anh lính Hoa-Kỳ chấm dứt thì tới phiên anh tù binh Cộng-Sản. Mỗi bên đùi của tên tù binh này bị hai viên chì Claymore ghim sâu tới xương. Bác sĩ phải đánh thuốc tê từng chân, mổ lấy đạn chì từ từng vết thương một. Do đó, thời gian hoàn thành công việc này khá dài.

Nhìn những giọt mồ hôi chảy thành dòng trên má hắn, tôi nghĩ hắn đang nén cơn đau. Trong suốt nửa giờ đồng hồ, hắn chỉ rên nho nhỏ trong miệng, trừ hai lần bác sĩ gắp đạn ra khỏi đùi phải thì y chịu không nổi, buột miệng hét lên:

“ Ối! Ối! Đau! Đau quá!... Ư!... Ư!... ư… ư…”

Với ca mổ này, cô điều dưỡng da trắng cũng tận tình săn sóc tên Việt-Cộng, không khác gì đã làm đối với anh lính Mỹ trong ca mổ trước. Cô dịu dàng lau đi những giọt mồ hôi trên mặt người tù. Dù biết rằng người được chăm sóc không hiểu cô nói gì, nhưng cô cứ dỗ dành:

“Don't worry! Don't worry! You will be Okay!”

Qua cử chỉ dịu dàng và giọng nói êm như ru của cô, không ai dám nghi ngờ rằng cô đang đóng kịch. Bốn viên chì đã được lấy ra rồi. Vết thương cũng được may vá và băng bó xong. Y tá chuyển người tù sang chiếc xe lăn, cạnh chiếc xe lăn của anh lính Mỹ.

Là bệnh nhân cuối cùng, tôi leo lên bàn mổ mà nửa người bên trái nặng như đeo chì. Tôi bị cởi trần, nằm hơi nghiêng về bên trái. Cô y tá vừa lau sạch đám bọt oxygen trên vùng sườn trái của tôi, thì ông bác sĩ bắt đầu dùng mười đầu ngón tay ấn nhè nhẹ quanh quanh, thăm dò. Rồi thật từ từ, ông dùng iode vàng xoa trên vùng đang mưng mủ, rộng dần ra thành một bề mặt cỡ lòng bàn tay. Ông y sĩ đại úy chích cho tôi ba mũi thuốc tê, rồi huyên thuyên cùng tôi đôi chuyện nắng mưa. Vài phút sau, ông mới bắt đầu ra tay. Dưới tay ông, lưỡi dao sắc như nước, nhanh như chớp, cắt ngọt hai nhát chéo chữ “X” xuyên da, thịt, chạm tới xương sườn của tôi. Sau đó, cứ thủng thỉnh, ông xẻ dọc, rồi xẻ ngang, như người ta đang băm một cái bánh mềm. Tới khi thịt da trên cái diện tích cỡ lòng bàn tay đó bị bấy ra rồi, ông bác sĩ mới dùng một lưỡi dao cong như lưỡi hái, mạnh tay cạo từng lọn thịt bầm màu xanh lẫn với máu mủ, cho rơi xuống một cái thau nhôm do cô y tá hứng.Vì nằm nghiêng về bên trái, tôi thấy cái thau nhôm chứa lổn nhổn những cục thịt pha máu đỏ, mủ xanh, mủ vàng, tanh hôi vô cùng.

Tôi chợt nghĩ, nếu như tôi cứ cứ ỷ y, không chịu nhập viện, chắc chỉ sau một thời gian ngắn nữa thôi, cả vùng sườn bên trái của tôi sẽ thối rữa thành mạch lươn, hết phương cứu chữa.Khi lưỡi dao đục khoét lớp da thịt bên ngoài, tôi chưa thấy đau đớn chút nào, tới lúc lưỡi dao cạo trên xương nghe, “Két! Két! Cột! Cột!” thì điếng người. Ngay cả khi ở ngoài mặt trận, bị mảnh đạn ghim vào, tôi cũng không thấy đau như thế này. Toàn thân tôi run lên bần bật như đang cơn sốt rét. Tôi bật người lên, oằn người xuống, đồng bộ với những nhát dao đang cào, nạo xương sườn của tôi. Tôi cắn chặt hai hàm răng vào nhau. Hình như môi dưới của tôi bị răng tôi cắn chảy máu mất rồi? Mồ hôi trên mặt tôi chảy như tắm, rớt ròng ròng trên tấm nhựa trắng trải bàn mổ. Tôi nghĩ, lúc đó có lẽ mặt tôi đã xám xịt như chàm? Nhưng tôi vẫn còn tỉnh táo lắm. Tôi biết, lúc này, có hai người đồng cảnh ngộ, một bạn, một địch, đang chăm chú theo dõi, đánh giá sức chịu đựng của một người lính Việt-Nam Cộng-Hòa. Một giọt nước mắt, một tiếng kêu la của tôi sẽ nằm trong trí nhớ của họ suốt đời.

Tôi nhắm mắt, nghĩ tới cảnh những thương binh Việt-Nam Cộng-Hòa khác đã từng lên bàn mổ, bị cưa chân, cưa tay, chắc họ phải chịu đau đớn vạn lần hơn tôi. Tôi tự an ủi rằng, mình còn may mắn hơn những người này rất nhiều...

Rồi tôi hồi tưởng lại truyện Tam Quốc Chí đọc ngày còn bé, với huyền thoại Tướng Quân Quan Vân Trường cứ ung dung ngồi uống rượu, ngâm thơ không màng tới việc Hoa Đà đang xẻ thịt, cạo xương ông để rút mũi tên tẩm thuốc độc đang ghim trên vai ông ta ra. Ngày xưa làm gì có thuốc tê, thuốc mê? Vậy mà Quan Công không hé chút đau đớn nào, thì ông quả là người có sức chịu đựng phi thường. Càng nghĩ, tôi càng phục vị anh hùng thời Tam Quốc này quá!

Bỗng nhiên bác sĩ ngừng tay dao, đưa tay chụp cái kìm. Ông ngoáy mũi kìm vào cạnh sườn tôi, kẹp chặt một vật, rồi giựt mạnh! Theo phản xạ, tôi vội oằn mình, ưỡn người lên, nương theo hướng lôi kéo của mũi kìm.

“Bục!” thân mình tôi như bị móc lên cao, rồi rơi xuống mặt bàn. Tôi có cảm giác như vừa bị ông bác sĩ giựt đứt một phần thân thể. Đau thấu xương, đau tới ù tai, hoa mắt luôn! Quá sức chịu đựng, tôi xón đái ra quần mà không hay!

“Here it is!”

Ông bác sĩ vừa cười, vừa giơ cái mũi kìm cho tôi thấy một cục thịt to bằng đầu ngón tay cái, máu đỏ bầy nhầy. Đó là cái mảnh 82 ly vừa bị gắp ra từ khe hở giữa hai cái sương sườn. Thả cục đạn xuống cái khay trên bàn, ông bác sĩ lại tiếp tục cào nạo. Tay chân tôi bủn rủn không còn hơi sức. Tôi mệt lả người, nằm im như cái xác. Hồi lâu sau, ông bác sĩ ngừng tay, hất hàm ra dấu cho cô điều dưỡng đứng chờ bên tủ thuốc. Hiểu ý, cô điều dưỡng bưng ra, đặt trên bàn một hộp nhựa chứa hai cái lọ. Bác sĩ nhanh tay lau sạch máu trên vết mổ, rồi mở nắp cái lọ, rút ra một sợi bấc tẩm thuốc bột trụ sinh màu vàng như nghệ.

Với cái kẹp inox, ông khéo léo nhét hết hai lọ băng bấc đèn màu nghệ vào đầy vết mổ. Xong xuôi, cô y tá dán miệng vết thương bằng một tấm băng hai lớp chứa bông gòn ở giữa, rộng bằng bàn tay. Bên ngoài miếng băng này, cô còn quấn thêm một lớp băng cứu thương quanh ngực tôi để cho tôi bớt đau. Ông bác sĩ và hai cô y tá đều mang băng che miệng, tôi không thấy miệng họ cười, mà chỉ thấy mắt họ cười, khi ca mổ vừa hoàn tất.

Những gì xảy ra trong phòng giải phẫu buổi trưa hôm đó đã cho tôi thấy cái ý nghĩa cao quý của ngành y. Dưới mắt của người thầy thuốc, việc cứu người là mục đích tối thượng. Mạng sống của mỗi con người đều quan trọng như nhau: Dù người đó là bạn hay thù, là da trắng hay da màu, là Cộng-Sản hay Quốc-Gia.

Cô điều dưỡng vừa đẩy cái khay dụng cụ đi khuất thì bà y sĩ trung tá trưởng khoa bước vào. Bà nói đôi lời với ông bác sĩ, rồi cúi xuống bế tôi gọn trên đôi cánh tay to lớn của bà. Giọng nói của bà bên tai tôi, dịu dàng như giọng của một hiền mẫu: “Oh! My baby! My baby! You will be Okay! My baby...”

Anh lính Mỹ và tên cán binh Việt-Cộng cũng sững người, trố mắt. Bà bác sĩ bế tôi đi trước, hai cái xe lăn của anh lính Mỹ và tên cán binh Cộng-Sản được y tá đẩy theo sau.

Ra tới phòng hồi lực, bà đặt tôi xuống giường rồi lẳng lặng đi ra. Lúc sau bà quay lại, trên tay có gói Salem và cái kẹp diêm cây. Bà để gói thuốc lá và diêm quẹt trên đầu giường tôi, rồi dơ ngón tay trỏ điểm điểm một vòng, ngụ ý món quà này dành cho cả ba người. Giường tôi nằm ở giữa, bên trái là anh bạn Đồng-Minh, bên phải là tên cán binh Cộng-Sản. Chỉ có đầu giường tôi bị treo lủng lẳng dây nhợ chuyền nước biển pha thuốc trụ sinh. Còn giường hai bên không bị vướng vít gì, vì họ đã được chích Penicillin rồi.

Tôi đốt một điếu Salem đưa cho anh lính Mỹ. Anh ta lắc đầu, nhỏ nhẹ:

- Thank you!

Tôi đưa điếu thuốc lên môi, kéo một hơi dài, nhả khói. Tôi trao bao thuốc cho tên Việt-Cộng,

- Này hút đi! Salem đầu lọc nhẹ lắm!

- Không thèm! nhìn tôi với ánh mắt lừ lừ, gờm gờm, hắn ta gằn giọng. Tôi tỉnh như ruồi,

- Không hút thì thôi! Tớ hút một mình.

- Thuốc của đế quốc, không thèm hút!

- Thông cảm đi! Ở đây không có thuốc lào. Chỉ có thuốc thơm đế quốc thôi. Không hút thì nằm đó mà ngửi khói.

Tới chiều, chúng tôi được cung cấp mỗi người một khay thức ăn, gồm một bánh mì kẹp thịt bò, một hộp sữa tươi, và một chùm nho. Tôi và chú GI ăn uống rất ư là tự nhiên, còn tên cán binh Bắc-Việt thì nằm quay mặt vào tường không thèm chạm tới cái khay.

Trước khi quay gót đem theo cái khay của tôi, cô điều dưỡng nhìn tên bộ đội một lúc, rồi dịu giọng,

- Take it! It's good for you!

Tôi chêm thêm,

- Ăn đi chứ! Không ăn thì chết đói! Muốn gì thì cũng phải sống trước đã! Ăn đi!

Cô y tá nhìn tôi, đồng tình,

- May you tell him to take it?

Tôi nghiêm mặt, hù cho anh cán binh sợ thêm.

- Thôi ăn đi! Anh không ăn, cô ấy dẹp mất thì đói đấy!

Anh chàng hình như cũng đói lắm rồi? Sau một phút ngập ngừng, chàng đưa tay cầm kẹp bánh mì, rồi vội quay mặt vào tường.

Buổi tối, trời trở lạnh, anh lính Mỹ nổi cơn, la hét, chửi bới om xòm. Cô y tá trực phải tới ngồi ở cuối giường, an ủi dỗ dành, rồi đọc truyện cho anh ta nghe. Tôi mồi một điếu Salem, đưa cho tên Việt-Cộng,

- Hút đi! Không nguy hiểm tới tính mạng đâu mà sợ.

Lần này thì hắn ta không từ chối nữa.

- Ừ! Có thế chứ! Này! Vì sao bị thương và bị “tó” vậy? tôi bắt đầu gạ gẫm.

- Đang điều nghiên mục tiêu thì bị vướng mìn.

- E mấy?

- Hăm Tám (28)

Tôi đã biết E 28 là tên của Trung Đoàn 28 Mặt Trận B3 Cộng-Sản Bắc-Việt, nên khai thác tiếp,

- Năm ngoái tớ có đụng E 28 ở Dak-Tô. Trận đó E 28 chết gần hết, cậu còn sống sót là may lắm đó

- Mới bổ sung về E 28 hai tháng thôi.

- Cấp chức gì?

- Trung úy Đặc-Công.

- Quê ở đâu?

- Hải ... Rương

- Làng nào?

- Hỏi gì mà lắm thế?

- Thôi không hỏi nữa!

Thấy hắn sắp quạu, tôi không thèm nói chuyện thêm. Tôi xoay người lại, nằm ngửa, quay mặt sang anh bạn Đồng-Minh. Cậu bé đã ngáy khò khò.

Đêm vào khuya, tôi bị vết mổ hành, chỉ nhắm mắt, chập chờn. Thêm vào đấy, cứ ba tiếng đồng hồ, y tá lại đánh thức tôi dậy, nhét hai viên trụ sinh vào mồm bắt nuốt. Từ sau lần bị thương thứ nhì, cơ thể tôi không thể tiếp nhận Penicillin, nên kỳ này bác sĩ cho tôi uống Erythromycin với liều lượng cao gấp đôi để phòng ngừa vết mổ làm độc.

Hình như tên tù binh có tâm sự, không ngủ được. Chắc anh ta đang suy tính điều gì gay go lắm? Lâu lâu hắn lại mở mền, hé mắt quan sát quanh phòng. Có lúc hắn gượng gạo ngồi dậy thử đứng hai chân trên nền nhà, nhưng thấy không vững, y đành ngồi phịch xuống nệm, thở dài. Mấy lần y mở miệng gọi tôi:

“Này! Này!”

Tôi khoát tay ra dấu cho hắn ta im tiếng, đừng làm ồn lúc đêm khuya. Quá nửa đêm, ba, bốn y tá vào phòng hồi sức, chuyển anh lính Mỹ ra xe, chở đi.

Lợi dụng lúc căn phòng chộn rộn, ồn ào, anh cán binh hỏi nhỏ:

- Các anh có đem tôi đi bắn bỏ không?

Tôi ngạc nhiên

- Cái gì mà bắn bỏ? Ai nói với anh điều đó?

Anh cán binh trả lời với vẻ mặt hoàn toàn thật thà,

- Chính ủy nói mà! Chính ủy nói, nếu để các anh bắt, các anh sẽ đem xử bắn. Tôi phì cười.

- Ai mà bắn anh làm gì? Tuyên truyền bậy bạ thế mà anh cũng tin!

Anh Việt-Cộng ngẩn người, ra chiều suy nghĩ, rồi lẩm bẩm:

“Chẳng lẽ chính ủy nói sai?” tiếng anh ta nhỏ như thể là, anh ta nói, cho chính mình anh ta nghe thôi.

- Này! Có phải Xuân là vợ anh không? tôi hỏi dò.

- Đúng! Xuân là vợ tôi đấy! Xuân vừa đẻ đứa con gái đầu lòng thì tôi có lệnh đi B. Không biết kiếp này tôi có còn gặp lại Xuân và Bé Ty không?

Nghe tâm sự của anh ta, tôi không khỏi mủi lòng. Hai người ngừng trò chuyện khi cô y tá trở về phòng cho tôi uống thuốc. Ngày kế tiếp, sau bữa ăn sáng, hai Quân-Cảnh gác cửa phòng rút đi, Đại Úy Phạm Văn Tư và viên sĩ quan Phòng Nhì Sư-Đoàn 4 Hoa-Kỳ lại xuất hiện. Anh Tư bắt tay tôi, rồi ngồi xuống cạnh giường bệnh của tên tù Phiến Cộng.

- Hết lo chết rồi nhé! Giờ thì mình đi thôi!

Viên đại úy Mỹ cũng cúi xuống, vỗ vai người tù, xí xố vài câu hỏi thăm. Sau đó, hai sĩ quan Việt, Mỹ đỡ tên tù Cộng-Sản lên ghế lăn. Tôi đưa bao Salem còn hơn nửa cho tên cán binh.

- Này! Cầm lấy! Tôi cũng người Hải-Dương...

Anh trung úy Việt-Cộng rụt rè cầm bao thuốc lá nhét vào túi. Rồi, anh ta nắm lấy bàn tay phải của tôi, lắc lắc vài cái.

- Các anh đã cứu mạng tôi. Người ta nói rằng các anh độc ác lắm. Nhưng thật ra... các anh có độc ác đâu? Lúc này ánh mắt anh ta không còn vẻ gờm gờm, hằn học nữa. Tới cửa phòng, anh ta dơ tay vẫy tôi lần cuối.

Tới trưa, tôi được chuyền thêm một bịch nước biển pha trụ sinh rồi rời bệnh viện lúc hai giờ chiều, theo chế độ điều trị ngoại trú.

Bà bác sĩ trưởng khoa dúi vào tay tôi cái bao nylon, trong đó chứa cục đạn bằng gang màu đen đã được chùi rửa sạch.

“Don't throw it away! Keep it for memory!” bà dặn dò.

Bà không bắt tay tôi, mà xoay lưng đi về văn phòng.

“Take care! Good bye! My son!”

phút chia tay, hình như bà tránh nhìn tôi, giọng nói của bà run run.

Khi đỡ tôi lên xe, cô y tá mới nói nhỏ vào tai tôi: “Her son was a Ranger like you!”

Hai ngày sau tôi trở lại bệnh viện để thay băng thì cô y tá quen báo cho tôi biết rằng bà y sĩ trung tá trưởng khoa vừa lên đường về nước vì bà đã mãn nhiệm kỳ phục vụ ở Việt-Nam.

Nhớ tới bà, lòng tôi chợt dâng lên một cảm giác lâng lâng, ngọt ngào.

Thế là bà đã về quê! Bà đã xa rời chốn hiểm nguy. Bà sẽ về đoàn tụ với người con trai của bà; anh ấy cũng là một “Ranger” như tôi. Bà cũng giống mẹ tôi: những lúc xa con, thấy anh lính nào cỡ tuổi con mình, cũng thấy thương, như là thương con mình

* * *

Cuối tháng Chín năm 1974 Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân xuống Đức-Lập tăng cường cho Tiểu-Khu Quảng-Đức để tham dự cuộc hành quân khai thông Liên Tỉnh Lộ 8 B. Thiếu Tá Phạm Văn Tư (lúc này là Trưởng Phòng 2 Tiểu-Khu) lại gặp tôi lần nữa. Nhớ chuyện năm nào ở Bệnh Viện 71 Dã-Chiến, tôi hỏi anh Tư.

- Ngày đó, vì cớ gì mà anh cứu thằng trung úy Đặc-Công Việt-Cộng?

- Đạo lý làm người mà Long! “Moa” cứu hắn, chỉ vì hắn sắp chết. Vả lại, hắn đâu phải là kẻ thù của chúng ta? Hắn chỉ là kẻ địch của chúng ta thôi. Tôi biểu đồng tình.

- Đúng! Kẻ thù là người có ân oán với mình. Những tên cán binh đang đánh nhau với mình thì có thù oán gì với mình đâu? Tôi hỏi tiếp.

- Sau này anh có còn gặp lại y không?

- Không. Vì khai thác xong thì tụi này chuyển giao anh ta cho Phòng Nhì Quân-Đoàn II ngay. Giữ lâu làm gì?

Tôi nhắc anh Tư.

- Anh có nhớ chuyện thằng Vi-Xi đó cứ gọi tên Xuân lúc hôn mê không? Và anh có biết Xuân là ai không?

- “Moa” không hỏi, mà cũng quên khuấy chuyện này rồi.

- Xuân là tên vợ hắn. Đứa con gái hắn vừa chào đời, thì hắn có lệnh vào Nam.

Nghe vậy, anh Tư bèn đưa bàn tay phải lên ngang ngực, dơ ngón trỏ ra nhịp nhịp.

- Ừ há! Chắc ngày trao đổi tù binh năm 1973 hắn đã về đoàn tụ với gia đình ngoài Bắc rồi.

Tôi chợt nhớ, tên cán binh ấy là người Hải-Dương, nên buột miệng.

- Thằng đó là người cùng quê với tôi đấy.

Anh Tư gật gù.

- Có khi hai người là bà con cũng nên?

Tôi cũng gật gù theo.

- Biết đâu chừng lại là anh em, họ hàng. Tôi có một bà dì và hai ông bác còn ở ngoài Bắc. Nếu như hắn là con của những người này, thì quả là “cốt nhục tương tàn”. Anh Tư phụ họa.

- Những thằng địch đang cầm súng chỉ là nạn nhân bị tụi đầu sỏ cầm quyền lợi dụng máu xương thôi. Mấy thằng Cộng-Sản “cội” đang ăn trên, ngồi trốc ở ngoài Hà-Nội mới là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh “nồi da xáo thịt” này. Tụi đó mới chính là kẻ thù của chúng mình!

* * *

Đầu năm 1976, nghĩa là đúng sáu năm, sau ngày Đại Úy Phạm Văn Tư áp giải viên trung úy Đặc-Công Việt-Cộng tới Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa -Kỳ thì tôi và anh Tư đã thành hai trong số vài trăm tù nhân cấp thiếu tá của khu K 3 trại Tam-Hiệp, Biên-Hòa.

Thời kỳ này, giờ khắc trôi từ từ như đang đợi chờ ngày bầu cử Quốc-Hội nước Việt-Nam Thống-Nhất. Chúng tôi còn ở trong Nam, chưa bị đưa ra Bắc, chưa bị cưỡng bách làm các công tác lao động nặng.

Riêng anh Phạm Văn Tư và người cùng Khóa 19 Võ-Bị của anh là Trần Văn Bé được trại tuyển dụng làm thợ đóng bàn ghế trên ban chỉ huy. Tám giờ sáng, vệ binh vào mở cổng, dẫn hai anh đi làm công tác. Năm giờ chiều, hai anh tự động trở về K 3, không có ai dẫn độ. Anh Trần Văn Bé là người ở cùng Đại Đội B với tôi trong Trường Võ-Bị thời sinh viên sĩ quan. Anh Bé cũng là người đã huấn luyện tôi những ngày đầu đời lính, nên chúng tôi không lạ gì nhau. Chiều chiều, anh Tư và anh Bé thường rủ tôi tới Lán 2, nơi có cái bàn gỗ của Thi Sĩ Trương Minh Dũng để hút thuốc lào và tán gẫu. Anh Trương Minh Dũng là bạn cùng Khóa 5 Thủ- Đức với Trung Tá Hoàng Kim Thanh, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân. Tôi đã gặp anh Dũng vài lần khi chúng tôi mới tới tăng phái cho tỉnh Quảng-Đức (9/1974). Lúc đó anh Dũng đang giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Tiểu-Khu này. Bây giờ thì ông Thi Sĩ Tham Mưu Trưởng Tiểu-Khu ngày xưa đã mang biệt danh rất hợp thời là “Dũng Điếu Cày”.

Anh Tư biết tôi ghét thuốc lào, nên mỗi ngày anh đều vấn cho tôi vài điếu thuốc rê Cẩm-Lệ. Buổi trưa một ngày tháng Hai năm 1976, có tiếng súng liên thanh nổ ròn rã một tràng dài ngoài hàng rào. Tiếng súng ngừng lại vài giây, rồi tiếp tục, nhưng lơi đi, từng phát một, như ai đó đang thực tập bắn bia. Trên con đường nhựa bao quanh các khu cách ly, vệ binh chạy rầm rập nối đuôi nhau. Chúng vừa lên đạn “lách cách!” vừa gọi nhau ơi ới:

“Báo động! Báo động! Tù trốn! Tù trốn!”

Cổng chính của tất cả các khu giam giữ tù cải tạo liền bị đóng kín, khóa lại. Chòi gác nào cũng đầy lính canh, súng chĩa vào sân. Tù nhớn nhác nhìn nhau ngơ ngác. Rồi cửa hông được mở cho hai vệ binh ghìm súng A.K đi vào K 3 để kiểm tra. Tù cải tạo bị đuổi về lán. Vệ binh vào từng nhà, đếm đầu, nhận mặt từng người, với sự xác nhận của lán trưởng. Kiểm tra xong, trong sân trại sinh hoạt đã trở lại, nhưng không còn cái không khí ồn ào náo nhiệt thường ngày. Tù cải tạo vẫn tụm năm, túm ba, nhưng không phải để đánh cờ, chơi bóng chuyền, hay tập thể dục dưỡng sinh, mà để rì rầm với nhau về chuyện mới xảy ra lúc buổi trưa. Chẳng ai biết vị sĩ quan nào của Việt-Nam Cộng-Hòa đã mạo hiểm làm nên sự kiện này. Trong sân trại, tiếng chim se sẻ nói chuyện với nhau nhiều hơn là tiếng người ta.

Khoảng hai giờ chiều, loa phóng thanh trên chòi cao ra lệnh cho các lán trưởng lên văn phòng nhận lệnh. Khi trở về, lán trưởng Lán 24 của tôi là Thiếu Tá Trần Thành Trai tập họp tất cả lán viên, rồi tuyên bố: “Trưa nay có hai cải tạo viên trốn trại. Tên Phạm Văn Tư bị bắt lại. Tên Trần Văn Bé còn tại đào. Các anh đừng hoang mang, nghe lời dụ dỗ của bọn phản động mà trốn trại, sẽ mang họa vào thân.”

Chẳng rõ câu tuyên bố này là do Lán Trưởng Trần Thành Trai ứng khẩu, hay anh ta đã sao y nguyên bản lời của cán bộ? Tôi ra sân bóng chuyền tìm gặp vài người quen để hỏi thăm tin tức của hai người đàn anh Khóa 19. Một anh lán trưởng tiết lộ: Khi anh ta lên họp trên ban chỉ huy trại thì nghe vệ binh nói với nhau rằng anh Phạm Văn Tư bị bắn trọng thương, nhưng vẫn còn bị bỏ nằm trong hàng rào kẽm gai, vì khu vực đó có mìn nên vệ binh không chịu chui vào lôi anh Tư ra. Xế chiều, anh bạn Bắc Hải ngoắc tôi ra góc sân thì thầm.

- Anh Bé thoát rồi! Còn anh Tư thì bị bắn nát bấy cả hai đùi và hai cánh tay. Người bắn anh Tư là “Thượng Sĩ Buồn” đó! Anh Tư thiệt là số xui. Thằng Thượng Sĩ Buồn đi đái, gặp ngay lúc anh Tư đang bị kẽm gai móc vào lưng áo, cách cầu tiêu có vài thước thôi. Nó chạy vào lấy khẩu A.K 47 nhắm hông và đùi của anh Tư, bắn hết một băng đạn ba mươi viên. Rồi nó ráp băng đạn thứ nhì, tì súng trên hàng rào, cứ nhắm tay, chân của anh Tư mà tiếp tục bóp cò từng viên một, cho tới viên cuối cùng. Chân tay anh Tư đã nát bấy, nên anh ấy chỉ còn nước nằm kêu la đau đớn chờ chết. Mãi tới ba giờ chiều chúng nó mới cho gọi mấy anh cải tạo viên bên K 1 chui vào hàng rào, lôi anh Tư ra. Họ khiêng anh Tư về bệnh xá, thằng thiếu úy trưởng trại không cho băng bó, nó còn bắn thêm ba, bốn phát K 54 vào bụng anh Tư, rồi bắt khiêng anh Tư bỏ trên miếng ván nằm trong cái nhà kho cũ của trại. Anh Tư khát quá, xin uống nước, anh em đi lấy nước cho anh, thì thằng Thượng Sĩ Buồn ngăn lại, không cho uống. Sau đó, nó đuổi mấy anh ấy về lán. Nói xong, Hải buột miệng chửi thề:

- Đù Má! Cái thằng Thượng Sĩ Buồn này độc ác dữ!

“Thượng Sĩ Buồn” là biệt danh của tên Việt-Cộng quản giáo K 3. Tên này tuổi dưới ba mươi, mặt mày sáng sủa như một thư sinh. Không rõ tên thật của hắn là gì, nhưng anh em trong trại thường gọi hắn là “Thượng Sĩ Buồn”. Mà cũng đúng! Lúc nào mặt y cũng phảng phất nét u sầu, như đang mang tâm sự không vui, như đang nhớ thương ai. Tôi nhớ hồi còn ở bên K 1, ông “Ba Gà Mổ”, tức ông lán trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Lộc đã từng chỉ cho tôi thấy mặt một cán bộ Việt-Cộng “hiền hết xẩy” nhân dịp tôi theo ông Lộc lên khiêng gạo trên văn phòng trại. Ông “Ba Gà Mổ” có vẻ biết rành rẽ tên cán binh này lắm.

- Anh quản giáo này quê ở mãi ngoài Bắc-Thái lận! Ảnh mới vào Nam sau “ngày giải phóng”. Ảnh hiền hết xẩy! Cuối năm 1975 tôi được chuyển từ K 1 sang K 3. Khi thấy người phụ trách K3 chính là anh cán bộ “hiền hết xẩy” tôi cũng mừng.

Sáng sáng, Thượng Sĩ Buồn đứng nơi góc trại nhìn các anh tù tập thể dục dưỡng sinh. Chiều chiều, Thượng Sĩ Buồn rảo quanh trại đôi lần, thủng thẳng tản bộ trên con đường mòn sát hàng rào. Lâu lâu hắn dừng chân ân cần hỏi thăm sức khỏe của những tù nhân đang túm năm, tụm ba đánh cờ tướng hay đang bàn chuyện gẫu. Hắn rất sốt sắng liên lạc với cán bộ hậu cần giúp mua hàng cho anh em trong trại, mỗi khi được nhờ. Nói chung, hắn ta được lòng nhiều người. Không ai nghi ngờ lòng tốt của hắn cả.

Có một vị tù cải tạo nào đó đã “phịa” ra cái lý lịch đầy màu sắc tiểu thuyết của Thượng Sĩ Buồn, rồi chuyền tai nhau: Nào là, hắn ta vốn là sinh viên đại học Y-Khoa, ly khai vào “bưng” nhân Tết Mậu-Thân, ngày trở lại Sài-Gòn thì người yêu đã lấy chồng! Hoặc, cho hắn là con nhà địa chủ, cha mẹ chết hết trong thời cải cách ruộng đất, vì thế hắn buồn!

Chiều hôm đó Thượng Sĩ Buồn vẫn thủng thẳng tản bộ trên con đường mòn quanh trại. Nhưng không có người tù cải tạo nào dám nhìn anh ta cả. Vì ai cũng biết rằng, anh ta chính là người đã lạnh lùng bóp cò, nhắm bắn từng viên A.K 47 trên thân thể một người cùng màu da, cùng nguồn cội với anh ta. Giờ đây, anh ta đã lộ rõ nguyên hình một tên cuồng sát máu lạnh núp đàng sau một khuôn mặt điển trai. Cũng từ hôm sau, cho tới ngày tôi lên tàu ra Bắc (tháng 7/1976), tôi không còn trông thấy Thượng Sĩ Buồn xuất hiện trong vòng rào K 3 nữa. Hình như hắn được chuyển sang phụ trách khu K 4?

Tối đó tôi mở ba lô, véo một cục từ bánh thuốc rê đầy ắp mà anh Phạm Văn Tư đã đưa cho tôi chiều hôm trước. Tay tôi vân vê những sợi thuốc, trí óc tôi hiện lên khuôn mặt vừa nghiêm trang, vừa buồn rầu của người Niên Trưởng. Lúc đưa “rê” thuốc cho tôi, giọng anh thực từ tốn, nhưng vô cùng dứt khoát, anh nói.

- Từ mai, “moa” bỏ thuốc! “Toa” cầm nguyên bánh Cẩm-Lệ này về, rồi tự tay vấn lấy mà hút! “Moa” chán cái việc suốt ngày ngồi vấn vấn, vê vê này rồi! Chẳng làm nên tích sự gì cả!

Chuyện xảy ra trưa nay, đã cho tôi hiểu rằng, thực sự, người đàn anh của tôi đâu đã chán thuốc rê? Anh cho tôi cả bánh Cẩm-Lệ còn mới toanh, và tuyên bố “bỏ thuốc”, chỉ vì anh phải bắt đầu một cuộc phiêu lưu ít người dám làm: Trốn trại! Thật vậy, có ít người dám làm điều này lắm! Chỉ vì, trốn trại chẳng phải chuyện đùa! Mà trốn trại, chính là đem sinh mạng của mình ra đánh đổi lấy Tự-Do.

Hai ông đàn anh của tôi đều là dân Tình-Báo, do đó, dù thân thiết cách mấy, tôi cũng không hay biết mảy may mưu đồ của hai ông.

Tôi cũng chợt nhận ra một điều trái khoáy, oái oăm, đó là chuyện ngày xưa Đại Úy Phạm Văn Tư vì “Đạo Làm Người” mà cứu mạng một tên Việt-Cộng sắp chết vì nội xuất huyết trên những vết thương ở đùi. Rồi chỉ sáu năm sau, người tù cải tạo Phạm Văn Tư lại bị những tên Việt-Cộng khác bắn nát tứ chi, không băng bó, vứt trong xó nhà, để mặc cho máu chảy tới cạn kiệt. Không có ai làm “garô” cho anh; không ai lưu tâm tới chuyện hai đùi, hai tay anh đang bị nội xuất huyết, hay ngoại xuất huyết cả; chắc chắn anh sẽ chết dần với nỗi đau đớn tột cùng. Cảnh này cũng thật là trái ngược với hình ảnh cô y tá Hoa-Kỳ tận tâm chăm sóc một tù binh bị thương, không cùng màu da và ngôn ngữ với cô, vừa luôn miệng dỗ dành:

“Don't worry! Don't worry! You will be Okay!”

Ngày xưa, khi nhân loại còn dã man, có chuyện người chiến thắng đã đem địch quân ra tùng xẻo, hoặc trói kẻ thù lại, cột dây cho ngựa kéo lê tới chết.

Ngày nay, dù thế giới đã đổi thay, nhưng cung cách đối xử với người dưới ngựa của Việt-Cộng cũng không văn minh hơn chút nào.

Tôi đang suy nghĩ miên man, thì anh bạn Nguyễn Phong Cảnh ló đầu vào cửa sổ ngoắc tay,

- Lẹ lên! Lẹ lên!

Vừa chui lọt thân mình qua cái cửa sổ, tôi đã bị anh Cảnh lôi đi như chạy giặc. Cảnh dẫn tôi men theo bờ rào, đi về hướng nhà bếp, tới góc cuối của K 3, cách cái chòi gác hai lớp kẽm gai. Lúc đó trên chòi không có lính canh. Hai đứa ngồi núp mình, nghe ngóng. Từ căn nhà tôn bên kia, cách tôi bốn lớp kẽm gai và hai khoảng đất trống, rõ ràng là tiếng la rú đau đớn của anh Tư đang vọng ra.

“Ối!...Ối! ...Ối!...ôi!...ôi!...ôi!..ư...ư...ư..”

Tiếng la rú lanh lảnh, đứt quãng, quằn quại, từng đợt rợn người, của một sinh vật sắp chết đã phá vỡ cái yên tĩnh của một vùng không gian vào lúc trời chạng vạng. Chắc chắn trong suốt cuộc chiến tranh hai mươi năm vừa qua, khó có thương binh nào phải lâm vào tình trạng đau đớn khủng khiếp như tình trạng hiện thời của người thất trận Phạm Văn Tư.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

CHIẾN THẮNG XUÂN LỘC

Một trong những chiến thắng oanh liệt của Quân sử Việt Nam Cộng Hòa là chiến thắng Xuân Lộc. Chiến thắng này làm thế giới kinh ngạc và khâm phục. Oan khiên thay, đây cũng là chiến thắng sau cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa!

Đầu tháng Tư 1975, sau khi Quân khu I và II gần như bị địch chiếm lần lượt từng tỉnh một, Phan Rang và Xuân Lộc trở thành cửa ngõ để Cộng Sản Bắc Việt tiến vào Saigon trên hai quốc lộ 1 và 20. Thị xã Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh là vùng núi thấp đồi cao, rừng thưa với các đồn điền cao su.. Long Khánh nằm ở vị trí chiến lược quan trọng vì nằm trên giao điểm hai quốc lộ 1 và 20. Đồng thời Xuân Lộc lại nằm chặn trên đường giao liên giữa chiến khu C và D của Việt Cộng, với các mật khu của chúng như Cù Mi, Xuyên Mộc, Mây Tào, Đất Đỏ của tỉnh Phước Tuy.

Như mặt trận Ban Mê Thuột trước đó, CSBV luôn dùng chiến thuật biển người để tấn công các cứ điểm của VNCH. Ở mặt trận Xuân Lộc CSBV tung vào chiến trường Quân đoàn 4 gồm ba Sư đoàn 6, 7 và 341 cùng các lực lượng pháo binh, chiến xa, phòng không hùng hậu và các đơn vị của Quân khu 7. Mặt trận này do Thiếu tướng CS Hoàng Cầm là Tư lệnh, và Thiếu tướng Hoàng Thế Hiệp là Chính uỷ. Cộng quân đồng loạt mở cuộc tấn công từ 3 phòng tuyến : ngã Ba Dầu Giây, Thị xã Xuân Lộc và Gia Rai.

Về phía Việt Nam Cộng Hòa có Sư Đoàn 18 Bộ Binh (Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo, sau được vinh thăng lên Thiếu tướng, là Tư lệnh), gồm các Trung đoàn 43 (Đại Tá Lê Xuân Hiếu ), 48 (Trung Tá Trần Minh Công) và 52 (Đại Tá Ngô Kỳ Dũng), cùng các lực lượng Địa phương quân Nghĩa quân. Sau đó các đơn vị tăng phái cho Xuân Lộc gồm có Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân, Lữ Đoàn 1 Dù (Đại Tá Nguyễn Văn Đỉnh Lữ đoàn Trưởng và Trung Tá Lê Hồng Lữ đoàn Phó) gồm các Tiểu đoàn 1, 2, 8, 9 và Tiểu đoàn 3 Pháo Binh Dù. Phần không yểm do Sư đoàn 3 Không Quân từ Cần Thơ đãm nhiệm. Tất cả các lực lượng trên đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Đại Tá Lê Xuân Mai Tư lệnh Phó SĐ18BB, Đại Tá Biệt Động Quân Phạm Văn Phúc là Tỉnh trưởng Long Khánh.

Các đơn vị được bố trí như sau :

- Bộ Tư Lệnh hành quân đặt tại Quận đường Xuân Lộc.
- Thị xã Xuân Lộc do Trung đoàn 43/SĐ18BB, Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân và các Tiểu đoàn Địa phương quân bảo vệ.
- Mặt núi Chứa Chan, Gia Rai do Trung đoàn 48/SĐ18BB trấn giữ.
- Ngã Ba Dầu Giây: do Trung đoàn 52/SĐ18BB và một Thiết đoàn Chiến xa trấn giữ.

Tờ mờ sáng ngày 9/4, CSBV pháo kích vào Xuân Lộc với hơn ba ngàn pháo đủ loại khiến dân lành vô tội chết và bị thương vô số. Đến 8:00 giờ pháo ngưng, Cộng quân tấn công vào thị xã nhưng gặp sức kháng cự mãnh liệt của Trung đoàn 43 và lực lượng Địa phương quân, nên đành phải chém vè bỏ tại chổ hơn trăm xác VC và nhiều xe tăng T-45, PT-76 bị bắn cháy bởi hỏa tiển chống chiến xa M-72 và Không quân oanh tạc.Sang ngày 10/4, CSBV dùng hai Sư đoàn 2 và 6 và lực lượng chiến xa ào ạt tấn công khắp bốn mặt vào Xuân Lộc. Quân trú phòng VNCH chống trả ác liệt, hai bên đánh từng ngôi nhà, từng con đường góc phố. Nhiều phòng tuyến có khi bị mất và lấy lại nhiều lần. Các phi tuần phản lực F-5 yểm trợ quân bạn bên dưới hữu hiệu. Cộng quân tổn thất nặng nề sau nhiều ngày giao tranh, khiến sau này trong hồi ký Đại Thắng Mùa Xuân, Văn Tiến Dũng phải thú nhận.

Đến ngày 14/4, Lữ đoàn 1 Dù và Tiểu đoàn 3 Pháo Binh Dù được tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc, chưa được nghĩ sau khi rút từ miền Trung về. Cả hai Sư đoàn 3 và 4 Không quân tận dụng tất cả khoảng gần 100 trực thăng hiện có để chuyển quân Dù vào Xuân Lộc. Các đại bác Pháo đội Dù được Chinook thả quanh Bộ Chỉ Huy Hành quân Dù đóng gần Bô Tư Lệnh SD18BB. Hai Tiểu đoàn Dù nhảy thẳng trên trên đầu địch đánh chiếm Bảo Định trên quốc lộ 1, nơi hai Trung đoàn địch thuộc Công trường 6 đang tập trung chuẩn bị tấn công Bộ Tư Lệnh SD18BB. Đồng thời một Tiểu đoàn Dù khác được trực thăng thả xuống khu vườn cây của cố Thống tướng Lê Văn Tỵ Và phần còn lại được thả vào Xuân Lộc giải vây cho lực lượng Địa phương quân Nghĩa quân và Bộ Chỉ Huy Tiểu khu Long Khánh.

Từ ngày 12 đến 14/4, Cộng quân mở cuộc tấn công mạnh vào Trung đoàn 52 tại Ngã Ba Dầu Giây bằng tăng pháo hùng hậu và biển người. Với sức tấn công vượt trội của CSBV, phòng tuyến của Trung đoàn 52 SD18BB trên quốc lộ 1 từ Kiệm Tân đến ấp Phan Bội Châu lần lượt bị tràn ngập.
Chiều ngày 15/4 cuộc chiến trở nên vô cùng ác liệt ngay tại xã Dầu Giây, ngã ba quốc lộ 1 và 20 giữa Chiến đoàn 52 (do Đại Tá Ngô Kỳ Dũng chỉ huy), gồm Trung đoàn 52 và Địa phương quân Tiểu khu Kiệm Tân, Long Khánh với Quân đoàn 4 CSBV, kể cả Sư đoàn 341 vừa từ Thanh Hóa vào, do Tướng Trần Văn Trà trực tiếp chỉ huy thay Tướng Hoàng Cầm, sau khi Tướng Hoàng Cầm "nướng" qúa nhiều quân mà không chiếm được Xuân Lộc. Trong trận chiến long trời lỡ đất này, mỗi người lính QLVNCH đã phải chống chọi với 10 quân Bắc Việt với tăng pháo hùng hậu yểm trợ Chiến đoàn 52 bị thiệt hại nặng, thiết giáp pháo binh và binh lính bị tổn thất nặng nề. Khi rút, quân ta chỉ còn vỏn vẹn 200 người.

Đêm 15/4, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III, với sự đồng ý từ Bộ Tổng Tham Mưu, ra lệnh cho sử dụng bom Daisy Cutter. Ngày hôm sau lúc 10:00 sáng Bộ Tư Lệnh Quân đoàn III được báo cáo về rừng người, chiến xa và dại pháo CSBV tập trung trong thị xã Dầu Giây để chuẩn bị tiến về Saigon, sau khi đè bẹp Chiến đoàn 52 của ta trước đó. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn ra lệnh Không quân từ phi trường Tân Sơn Nhất chở 2 quả bom Daisy Cutter 15,000 lbs thả xuống Ngã Ba Dầu Giây, vùng tập trung quân Bắc Việt sau khi Chiến đoàn 52 tan rã, khiến gần 10,000 quân Bắc Việt cùng tăng pháo đang di chuyển trên quốc lộ 20 bị xóa sạch. Được biết bom Daisy Cutter là loại bom khổng lồ, cân nặng 15,000 lbs, có kích thước to như chiếc vận tải cơ C130. Bom này được dùng để khai hoang, mở bãi đáp cho cấp Sư đoàn trong bất cứ địa thế nào và tầm sát hại với đường kính 5 miles.

Ngay sau khi QLVNCH sử dụng bom Daisy Cutter (lần đầu và cũng là lần cuối cùng), Hà Nội tố cáo Hoa Kỳ xử dụng bom nguyên tử trên chiến trường Việt Nam. Nhưng việc này đã làm chậm bước tiến của quân CSBV trong thời gian ngắn.

Sau đó, vì không nuốt được Xuân Lộc cộng với tổn thất nặng nề, các đơn vị chủ lực Cộng quân bỏ Xuân Lộc, dùng quốc lộ 20 tiến về Biên Hòa. Nhận định tình hình với Biên Hòa sẽ là mặt trận kế tiếp, ngày 20/4 Tướng Nguyễn Văn Toàn cho lệnh bỏ Long Khánh, rút Sư Đoàn 18 Bộ Binh rút về Biên Hòa. Để rút quân, các lực lượng chiến đấu dùng Liên tỉnh lộ 2, phát xuất từ Tân Phong, Long Giao rút về Phước Tuy, với ba cánh quân SĐ18BB, Tiểu khu Long Khánh và Địa phương quân, đơn vị Dù.

Trong cuộc lui binh này, Lữ đoàn 1 Dù đi bọc hậu sau cùng. Lữ đoàn 1 Dù chạm địch truy kích và thiệt hại đáng kể. Khi lệnh rút quân được ban hành 20/4, tại Bảo Định hai bên vẫn còn giao tranh, nên nhiều anh em thương binh bị bỏ rơi, không kịp di tản. Vì đối với người còn sống đoạn đường 40 cây số trong rừng cao su là đoạn đường máu phải vượt qua. Nổi oan khiên này vẫn còn đeo đuổi người lính VNCH ! Khi ra dến Quốc lộ 1 đông bào xóm đạo chờ sẵn theo chân doàn Dù di tản. Thật là hình ảnh cảm động tình quân dân bao nay cho đến ngày tàn cuộc chiến.

Qua cuộc chiến tại Xuân Lộc có thể nói đây là một trong những trận chiến đẫm máu nhất của chiến tranh Việt Nam. Qua 12 ngày giao tranh ác liệt phòng tuyến Xuân Lộc vẫn đứng vững, bằng xương máu của anh em Sư đoàn 18 Bộ Binh, Lữ đoàn 1 Dù, Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Không Quân và các lực lượng Địa phương quân Nghĩa quân Tiểu khu. Người lính QLVNCH không khuất phục trước biển người, mưa pháo, tiếng gầm rú T-54 cày xé quê hương. Người lính trong gian nguy vẫn bình tĩnh cầm M-72 đứng chờ xe tăng VC đến thật gần nhả đạn. Chiến thắng này đã khiến cho các nhà báo ký gỉa ngoại quốc dù có thành kiến cũng phải kinh ngạc, Tướng Cộng Sản phải khâm phục, nhìn nhận thất bại.

Và đây cũng là chiến thắng sau cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước khi bị bức tử ngày 30 tháng Tư năm 1975.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image


CHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH VNCH
Nguyễn thị Thảo An
Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.

Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.

Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.

Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.

Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.

Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.

Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả... cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.

Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.

Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.

Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.

Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.

Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.

Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.

Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.

Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.

Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.

Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.

Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.

Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?

Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.

Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.

Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.

Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?

Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.


Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.

Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?

Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?

Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.

Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.

Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.

Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.

Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.

Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.

Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.

Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.

Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.

Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.

Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.

Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

(Tô Thùy Yên)

Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?

Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?

Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.

Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.

Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.

Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.

Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.

Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.

Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.

Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.

Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề "xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản". Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.


Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà.

Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ
như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc,
thì dân tộc ta mới mong có được những
truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.

Nguyễn thị Thảo An
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Nhân mùa Quốc Hận, mời đọc một bài viết mới của Phan Nhật Nam
Ngày tôi còn cắp sách đi học thì Phan Nhật Nam đã là một nhà văn quân đội lừng danh. Văn của ông đơn giản, thắm thiết, nhưng đặc biệt nhất, ông đã đem được máu, lửa, đau thương cam khổ của dân tộc, của những người lính QLVNCH vào trong văn của ông. Hồi đó chúng tôi đã chuyền tay nhau những cuốn như "Dọc Đường Số Một", "Dựa Lưng Nổi Chết" vân vân...

Cùng với PNN, chúng tôi cũng đọc “Đời Pháo Thủ” của Nguyên Vũ và vài nhà văn quân đội khác như Dương Hùng Cường của Không Quân vân vân, nhưng thành thật mà nói, không có ai viết cho mình đọc thống khoái bằng PNN...

Năm 75, PNN bị kẹt lại và bị đày đoạ trong tù Việt Cộng. 13 năm tù khổ sai dành cho một người lính không có tội gì ngoài tội yêu thương đất nước, yêu thương gia đình, yêu thương anh em...

Sau chừng ấy đau thương tủi nhục, một điều lạ là, văn của ông bây giờ cũng chẳng khác hồi xưa. Bài nào cũng, như đã nói, đã đem được máu lửa, đau thương tủi nhục của cả dân tộc vào từng câu, từng chữ...

Kính mời quí vị đọc bài mới nhất của PNN nhân mùa Quốc Hận 2015....


Trường Sơn Lê Xuân Nhị


Trong Lửa Đỏ, Giữa Sự Chết, Trên Quê Hương!

Phan Nhật Nam
Một

Cách đây 50 năm, tại Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp, Gia Định những buổi chiều mưa dầm Tháng 6 miền Nam, anh xoay xở quay quắt giữa những thây chết của những người lính thuộc đơn vị đầu đời, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, Tiểu Đoàn 52 Biệt Động, Tiểu Đoàn 2/7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh.. Những người chết của chiến trận Đồng Xoài, Bình Dương nổ ra từ những ngày đầu Tháng 6. Đối với một gã lính vừa qua tuổi 20 năm ấy, sự mất mát của hàng trăm chiến hữu chỉ được đưa về sau nhiều ngày kể từ khi tử trận quả là một sự đau thương quá lớn.. Thân thể người chết căng cứng, xanh đen, tím thẩm, dòi bọ lúc nhúc bò theo những vết thương sũng máu. Khoảng đất nghĩa trang đặc sánh bởi máu, thịt, con người chảy vữa, sênh sếch.. Trong đó có máu, thịt của bạn anh, Thiếu Úy Trần Trí Dũng, gã học sinh đã cho bạn cùng lớp và toàn Trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng niềm hãnh diện.. Vô địch bóng bàn học sinh, thủ quân đội bóng rỗ, cũng là trung phong hàng đầu của hội tuyển bóng tròn trường trung học đá hay nhất miền Trung. Nhưng giờ đây, tất cả dạng hình tươi trẻ sống động của Dũng với lúm đồng tiền trên má không còn nữa.. Kéo fermeture bao đựng xác – Bạn anh, người bạn ấu thơ của Đà Nẵng hơn mươi năm trước bấy giờ chỉ là một thây xác sùi sụp nước nhờn tím thẩm hôi hám. Có chăng được phần an ùi. xác Dũng còn nguyên dạng hình chưa bị vữa nát. Buổi đá banh năm xưa ở Sân Vận Động Chi Lăng làm sao tưởng ra tình cảnh nầy Dũng ơi?!

Xóm nhà dân trước nghĩa trang phải di tản vì mùi hôi thối bốc kín đặc khoảng không. Tiếng kêu khóc của thân nhân tử sĩ âm âm oán thán, xót xa, xé cắt.. Có bà cụ vật vã thều thào bên chiếc poncho gói xác người vừa lật mặt.. Nam ơi! Nam ơi! Sao cháu bỏ bà.. Anh ngồi xuống bên cạnh bà cụ.. Bà ơi, con cũng tên Nam, cha mẹ con không còn, con gọi bà bằng bà thay anh Nam. Trở về hậu cứ đơn vị nơi phi trường Biên Hòa, sân cờ tiểu đoàn trắng màu khăn tang, con trẻ chạy thất thanh quanh những người mẹ đang nằm lăn trước bậc thang các văn phòng đại đội.. Thiếu úy ơi! Thiếu úy ơi! Hóa ra anh là sĩ quan còn sót lại của một tiểu đoàn nhảy dù mà từ tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, 4 đại đội trưởng đồng tử nạn.. Không biết Đại Úy Phát, đại đội trưởng Đại Đội 74 và đám quân binh thất lạc nay đang ở đâu. Thế nên, những tưởng Tháng 6 năm 1965 đã quá sức chịu đựng của con người - Cho dẫu là người lính có khẩu hiệu Nhẩy Dù Cố Gắng!

Hai

Từ trên trực thăng ở Quảng Trị đổ về Huế trong ngày Mồng Bốn Tết Âm Lịch anh đã thấy ra một Thành Phố Huế chết lặng. Người Huế chết khi ẩn núp sau những gốc cây bị pháo, hỏa tiễn cộng sản bắn lật ngược, cạnh hàng hàng rào chè cháy xém; trên lề đường với mỗi viên gạch đồng bị vỡ vụn, nơi sân nhà trước chiếc bàn thờ xiêu đổ.. Người chết đang qùy lạy ông bà, với áo mới thấm máu, xé rách, con trẻ còn cầm trong tay bao đỏ tiền lì xì đầu năm.. Tuy nhiên cảnh chết của Huế không chỉ xẩy ra trong khu Thành Nội, trên đường Mai Thúc Loan, Đinh Bộ Lĩnh, khu sân bay Tây Lộc, ở những cửa thành Thượng Tứ, Đông Ba.. Chết ở Huế trùm khắp, mọi chốn, tại mỗi phân đất tại vùng Bãi Dâu, bên cạnh Sông Hương, nơi sân Trường Gia Hội, Chùa Áo Vàng.. Và sau ngày quân cộng hòa chiếm lại Kỳ Đài, đám cán binh cộng sản gồm du kích, nội thành, và bộ đội miền Bắc bị đánh bật ra khỏi khu cố thủ Gia Hội, trên đường rút lui mang theo những tù nhân vốn chỉ là con trẻ vị thành niên, người già, phụ nữ.. Nhưng đối tượng làm con tin cho lần tháo chạy. thế nên cuối cùng, thì cảnh chết, sự chết đã hiện thực, vượt khỏi sự tưởng tượng của bất cứ ai còn có Nhân Tính – Bởi người Huế đã tiếp bị thảm sát do những kẻ cùng chung khu phố, chung xóm nhà cư ngụ. Không sót một người. Không trật một người. Người Huế bị giết do một Sự Ác được ngụy danh là “giải phóng”, để thỏa mãn mặc cảm vô dụng, hèn kém của những kẻ gọi là “trí thức cách mạng”, điễn hình đặc chất Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Pham, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh, Tôn Thất Dương Kỵ.. Người Huế chết chật hết những bụi lùm ở Khe Đá Mài vùng núi Ngũ Tây; sùm sụp bước chân của đoàn người tìm kiếm trong những ngày hè cùng năm năm 1968. Hơi thây chết bốc lên theo nắng đầu hè miền Trung ong óng như hờn oan. Nhưng hởi ôi! Chết ở Huế cũng chưa đủ cho cuộc đau thương của người Việt. Người Việt miền Trung chiếm đầu bảng đầu oán hận. Không phải đợi dài lâu.

Ba

Anh đang ở trên cây số 9 từ Quảng Trị kể đến, vùng thôn Mai Đẳng, xã Hải Lăng..Không thể dùng một chữ, một tĩnh từ, không thể nói, khóc, la, trước cảnh tượng trước mặt, chỉ có thể im lặng, chỉ có thể nghiến răng, bặm môi, dù răng vỡ, môi chảy máu tươi, tay luống cuống, mắt mờ nhạt, mũi phập phồng.Không có thể biết gì về thân thể đang mở ra trước sự tàn khốc trước mặt.Trời ơi ! Hình như có tiếng kêu mơ hồ dội ngược ở trong lồng ngực, trong cổ họng, nơi óc não, hay chỉ là ảo giác của con người mất hết khả năng kiểm soát.Kiểm soát làm sao được nhịp đập của quả tim, không ai ngăn cản cơn chớp liên hồi của đôi mắt, tay nổi da gà, những sợi gân ở thái dương phồng lên đập xuống – Máu chảy ngúc ngắc trăn trở lăn lóc khô khan khó nhọc trong những gân căng đến độ chót ... Cũng không phải như thế - Anh không biết, hoàn toàn không biết được gì của xác thân. Anh không còn là người đang sống, vì sống là sống cùng với người sống, chia xẻ vui buồn, đau đớn lo âu với người sống. Chung quanh anh trước mặt chỉ còn một hiện tượng, một không khí - Chết. Phải, chỉ có Sự Chết bao trùm vây cứng. Chỉ có nỗi chết đang tầng tầng phủ chặt kín không gian. Cho dù rằng, Tháng 4, 5, 1972 ở An Lộc với những ngôi mộ vô danh, mộ tập thể, những cái chết câm lặng đến độ chót của đau đớn kinh hoàng, người cha trầm tĩnh đi tìm từng cái chân, cánh tay của năm đứa con vừa bị tan thây vì quả đạn đại pháo, nhưng lại còn được một nấc chót - Bên cạnh người chết vẫn còn người đang sống - Ở An Lộc, anh thấy được loại người cuối đáy đau thương đó. An Lộc lại quá nhỏ, chỉ hơn một cây số vuông, cái chết cô đặc lại, ngập cứng vào người nhanh và gọn như nhát dao ngọt.Cái đau đến chớp mắt, người chưa kịp chuẩn bị thì đã ngập hẳn vào trong!

Nhưng ở đây, thôn Giáp Hậu, Mai Đẳng, Hải Lâm của Quảng Trị thì khác hơn An Lộc một bậc, hơn trên một tầng, tầng cao ngất chót vót, dài hơn An Lộc một chặng, dài hun hút mênh mông.sự chết trên 9 cây số đường này là 9 cây số trời chết, đất chết, chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá, chết vương vãi từng mảnh thịt, chết từng cụm xương sống, đốt xương sườn, chết lăn lóc đầu lâu, chết rã rời từng bàn tay cong cong đen đúa ... Anh đi theo chiếc xe công binh ủi một đường dài, những xác chết, không, phải nói những bó xương bị dồn cùng áo quần, vật dụng, chạm vào nhau nghe lóc cóc, xào xạc, “đống rác” người ùn ùn chuyển dịch, một chất nhờn đen đen ươn ướt lấp lánh trên mặt nhựa - nhựa thịt người !!Trời nắng, đồng trắng, con đường im lìm, động cơ chiếc xe ủi đất - phải gọi xe ủi người mới đúng - vang đều đều, hơi nắng bốc lên từng đường trên mặt nhựa, hơi nặng mùi ... Vạn vật chết trong lòng ánh sáng. Ánh sáng có mùi của Sự Chết. Nếu cảnh chết tập thể của người Do Thái ở các trại tập trung gây nên niềm bàng hoàng xúc động, vì thế giới chứng kiến, thấy ra được những “xác người,” chồng chồng lớp lớp. Chín cây số đường chết của Quảng Trị không còn được quyền dùng danh từ “xác chết” nữa, vì đây chết tan nát, chết tung tóe, chết vỡ bùng ... Chết trân tất cả mọi cái chết.Không còn được “người chết” trên đoạn đường kinh khiếp đến tột độ của chốn quê hương thê thảm đọa đày.

Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang chính tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người.Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh ? Có cảm giác lạ : Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Bốn

Nhưng cuối cùng..Hóa ra, Khổ Đau/Sự Chết nơi chiến trận Đồng Xoài 1965 chỉ là khúc dạo đầu phần bi thảm với những người lính tử trận. Cuộc tàn sát Mậu Thân, 1968 cũng trong giới hạn của ngàn người dân Thành Phố Huế bị đập đầu, chôn sống. Và cho dẫu ngọn lửa Mùa Hè 1972 gớm ghê khốc liệt bao nhiêu cũng chỉ bùng cháy, tiêu hủy các thị xã An Lộc, Kontum, Quảng Trị.. Hóa ra Địa Ngục Miền Nam không chỉ chứng ấy. Hóa ra khổ đau Miền Nam không chỉ với vài ngàn, vài chục ngàn người chết, những thị xã bị tiêu hủy.. Tai ương Việt Nam/Thảm Họa Miền Nam thăm thẳm vô bờ với mùa xuân uất hận không thể nào quên. dẫu hôm nay 40 năm sau 1975. Chúng ta hãy nhìn lại đoạn đường máu thẩm của một Dân tộc đọa đày trên quê nhà điêu linh.. Đầu xuân năm 1975, vào buổi Tháng Ba, thêm một lần người Miền Nam tự hỏi: Cộng sản sắp đánh ở đâu? Khi nào sẽ đổ ra thêm một trận máu xương với lực lượng cộng sản miền Bắc nhất quyết thực hiện bước cuối cùng cái gọi là sự nghiệp “giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”. Sự nghiệp cách mạng mà 40 năm sau 1975 bày ra tình cảnh nguy nan vô hạn với hiễm họa mất nước về người Hoa, và xã hội Việt Nam chìm ngập xuống vực thẵm băng hoại, suy vong

Vào Tháng Ba năm 1975, lãnh thổ miền Nam đã bị mất một phần thuộc phía bắc sông Thạch Hãn, Quảng Trị của quân Khu I; ở Quân Khu II mất phần đất nằm về mặt bắc và tây của vùng Trường Sơn; Và quanh Sài Gòn một vùng rộng lớn của miền Đông Nam Bộ từ thượng lưu sông Đồng Nai qua Phước Long, Bình Long, Tây Ninh về Long An, Hậu Nghĩa, xuống Kiến Tường, Định Tường thuộc châu thổ sông Cửu Long. Trong tình hình chung như vừa kể, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư lệnh Quân Đoàn II đóng ở Pleiku lúc ấy không thể quyết đoán cụ thể về kế hoạch quân cộng sản sẽ đánh ở đâu trong vùng Quân Khu II. Trong khi ấy, cộng sản Hà Nội lập kế hoạch, bắt đầu với chiến dịch Tây Nguyên từ 4 tháng 3 đến 3 tháng 4 năm 1975 mang mật danh là Chiến Dịch 275. Cuộc tiến công xử dụng các đơn vị cấp sư đoàn bộ binh Bắc Việt có chiến xa, đại bác nặng yểm trợ khởi cuộc nổ súng từ ngày ngày 10 Tháng 3 năm 1975 với mục tiêu là Ban Mê Thuộc, thành phố cực Nam của vùng cao nguyên. Bộ chính trị, quân ủy trung ương tại Hà Nội đã điều động thực hiện cuộc tấn công miền Nam với hai lợi điểm mà thật sự là hai ưu thế quyết định. Đấy là sự bất ngờ về tình báo thêm được bảo đảm bằng cái ô chính trị tuyệt đối an toàn tức là biết chắc Mỹ sẽ không bao giờ can thiệp lại vào Việt Nam. Cụ thể Hạm Đội Mỹ quay mặt trước lần hải quân Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, tháng 1, năm 1974.

Trong cuộc họp mật của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng vào tháng 1 năm 1975 trước khi phát lệnh tấn công miền Nam theo kế hoạch Chiến Dịch 275, Ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa một bên ký kết Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam đã hân hoan tuyên bố: “Cho kẹo Mỹ cũng không dám trở lại Việt Nam!"

Ngày 10 Tháng 3 năm 1975, quân đoàn Tây Nguyên dưới quyền tổng chỉ huy của Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đến từ Hà Nội đồng loạt tấn công vào thị xã Ban Mê Thuộc với những sư đoàn 324, 324B, 320, 308, 316 và cả sư 341 tổng trừ bị của quân đội miền Bắc. Nhưng khi quân dân Ban Mê Thuộc đang trên bờ vực sống-chết thì báo chí thế giới, báo cộng sản ở Hà Nội, báo phản chiến ở Sàigòn đều đồng thanh phát biểu: "Cách mạng giải phóng miền Nam là do mâu thuẫn giữa giai cấp cách mạng và giai cấp phản cách mạng; giữa nhân dân tiến bộ và thành phần ngụy quân, ngụy quyền phản động; giữa lực lượng vũ trang cách mạng và tập đoàn quân phiệt, phát xít công cụ của chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ..."

Với sư đoàn F10 làm mũi nhọn được hai sư đoàn 320, 316 tăng cường, và sư 341 làm tổng trừ bị, lực lượng cộng sản có khoảng 25,000 người được pháo binh, chiến xa nặng yểm trợ phối hợp. Đối lại tại thị xã Ban Mê Thuộc phía VNCH chỉ có khoản 1,200 lính chiến đấu trong tổng số lính hậu cứ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, lực lượng Địa phương quân Tiểu khu Đắc-lắc, và Liên đoàn 22 Biệt động quân. Thế nên từ hai giờ sáng ngày 10 tháng Ba, giờ mở lệnh tấn công mà tướng Dũng ước tính chiến trận Ban Mê Thuộc sẽ chấm dứt sau một tuần nhưng chỉ đến 5 giờ 30 chiều cùng ngày, thị xã Ban Mê Thuộc hầu như thuộc về phần kiểm soát của quân Bắc Việt cho dù Biệt Động Quân và bộ binh vẫn tiếp tục chiến đấu. Dũng cứ tưởng như là giấc mơ. Và Dũng đã đi từ giấc mơ sang một vùng ảo giác vào những ngày sau khi được báo cáo: Quân đoàn II tháo chạy!

Cuộc di tản dọc Tỉnh Lộ 7 theo lộ trình Pleiku-Phú Bổn xuống Tuy Hòa quá lớn với mối đau thương dài đặt trên hai trăm cây số đường núi với hai trăm ngàn dân thường đi từ hai thành phố Kontum, Pleiku. Phải, chỉ là dân thường những người nghèo không đủ tiền mua vé máy bay vào những tuần, tháng trước. Trời cao nguyên buổi tàn xuân gây gây rét vào sáng, càng về trưa nắng cao và nóng khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe, nòng pháo, khí cụ, tózc và da mặt ngưi, vạn tròng mắt đỏ rực. Những tròng mắt mệt mỏi lo âu, tuyệt vọng. Phía sau lưng, thị xã Pleiku bốc lửa ngọn, khói đen đặc ngật ngật bay lên cao hơn đỉnh núi Hàm Rồng. Lửa lóng lánh ánh sáng kinh dị trong đôi ngươi những người lính Liên Đoàn 7 Biệt động quân, thành phần hậu vệ đoàn di tản. Trời cao nguyên với thị trấn Pleiku thường chĩu lặng sương mù nay oằn thân vật vã trong màu lửa địa ngục. Lửa từ khối đống kim loại vũ khí, từ những kho quân nhu, quân cụ soi loang loáng chập chờn những đường dốc hun hút lẫn khuất dưới tàng thông. Tất cả đồng nhóm lên màu đỏ chói. Màu đỏ của máu lửa soi chập chờn đoàn người di tản thê thiết. Đoàn di tản qua được một ngày bình an. Bình an sống sót qua đói, khát, nhục nhằn và lo âu. Lính gục trên mũi súng, đàn bà, con trẻ nằm rũ lên hành lý, thành xe, đất cát. Được sống, được ngủ là hạnh phúc quá lớn hở trời? Còn biết kêu vào đâu? Với ai? Nhưng nỗi bình an này không kéo dài được, bởi người cộng sản chỉ trong ngày 16 tháng Ba đã tìm ra đáp số cho câu hỏi: Quân đoàn II đang tính gì sau chấn thương ngày 10 tháng Ba tại điểm bất ngờ Ban Mê Thuộc? Qua máy dò tìm làn sóng điện, Bộ Tư Lệnh Mặt trận B3 cộng sản khám phá những phi cơ C47, C130 xuất phát từ phi trường Cù Hanh (Pleiku) đi Nha Trang không có lượt bay về. Sự kiện nầy đã trút mối âu lo của Tướng Dũng về việc lực lượng VNCH có thể điều quân tái chiếm Ban Mê Thuộc. Thế nên Dũng ra lệnh cho Sư Đoàn 320 băng rừng truy kích đoàn di tản và Sư Đoàn 968 từ Lào về trên đường bôn tập về hướng Pleiku cũng được lệnh đâm ngang từ ngã ba Thanh An chuyển hướng hành quân dài theo Tỉnh Lộ 7 xuống đồng bằng vùng duyên hải miền Trung.

Ngày 16 tháng Ba, Một Chúa Nhật điêu linh tan nát dọc con đường đỏ sẫm đất núi và máu rây. Đoàn di tản bị chận ở phía đông Củng Sơn, bị cắt rời ở quận Phú Túc, bị đuổi dập từ tây quận lỵ Phú Bổn. Xe tăng cán ngang lên GMC, xe GMC hất xe đò chở thường dân xuống vực thẳm, cũng hất luôn những xe jeep nhỏ, cán qua những chiếc xe Dodge 4 của địa phương quân chở những người già và trẻ em tan tác. Chiếc vespa của một gia đình chạy lông lốc, xiêu vẹo trên sườn đồi, đứa con, người vợ rơi tơi tả, người chồng, người cha rơi cuối cùng với chiếc xe vỡ toang trên mỏm đá. Và súng nổ... 105, 155 pháo binh, hỏa tiễn TOW, XM72 của phía cộng hòa; 130 ly, 122 ly, B40, B41 của phía cộng sản tất cả cùng hòa vào nhau thành một luồng hỗn âm tan tác làm rung rinh sắc núi mờ nhòa ánh nắng. Mặt trời bị chìm khuất trong khói xám. Có xác bà già ngồi dựa bờ đất bên lề đường, người khô quắt không vết thương. Dấu hiệu sự chết chỉ được nhận biết nơi ổ mắt, mũi, miệng... Đám kiến rừng bò lúc nhúc quay quắt đánh hơi. Ba đứa trẻ mắt lạc thần ngồi nhìn đoạn đường hỗn loạn không cảm giác. Bé trai nhỏ nhất gục đầu trên gối chị ngủ lay lắt.

Bao trùm tiếng la khóc khản đặc của người có âm thanh của đạn súng sơn pháo nổ thật gần. Sư đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản. Lính còn rõ phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo đất bay bay.Cái chết không đơn giản, mau chóng bởi súng đạn. Chết còn bị nhận chìm từ từ trong lòng chiến xa khi chiếc xe tăng chúc đầu xuống đầu cầu nổi bắc qua sông Ba. Chiếc cầu bắc vội mỏng manh không thể nào chứa nỗi sức nặng vạn con người, vạn chiếc xe.. Chiếc tăng M48 như khối đá ấn mạnh xuống lòng chén nứt vỡ. Trong lòng xe có tiếng người hét nghẹn, trên pháo tháp có đám người ngoi ngóp, người đạp lên đầu, lưng, vai người để được thở được sống thêm vài giây ngắn. Chiếc xe chìm xuống im lặng, kéo theo, mang theo, đè xuống rất nhiều thây xác. Xích sắt điên cuồng đào xoáy giòng sông máu sẫm làm quẫy lên, tung tóe những tay chân người kẹp dính đâu dưới lưn xe.

Cuối cùng đoàn di tản cũng về đến Tuy Hòa vào ngày 25 tháng Ba do Tiểu Đoàn 58 Biệt Động dẫn đầu. Hai-trăm ngàn dân theo lính chạy loạn từ Kontum, Pleiku nay còn khoảng sáu chục ngàn người. 200,000 trừ đi 60,000 vậy đã chết bao nhiêu? Không ai có thể tính chính xác được số dân thiệt mạng. Người chỉ biết và đau với trường hợp của từng người thân, của mỗi gia đình, của chính thịt da mình. Trên chiếc trực thăng từ phi trường Đông Tác (Tuy Hòa) về Nha Trang, viên thiếu tá ngồi ôm đứa con nhỏ, gục đầu nín thinh khi đứa bé chợt nhớ và hỏi nhỏ... Bà nội đâu hở ba? Trong đêm khuya nơi trại tạm cư ở đèo Rù Rì, nghe những lời than vãn rời rạc lẫn tiếng khóc nấc nghẹn ghìm ghìm. Trên bãi biển Nha Trang từng khối người ngồi chập choạng dưới trăng khuya. Trăng vàng chạch, đỏ nhừ nhừ như máu bầm. Trong lòng người di tản từ cao nguyên đồng bằng trong tháng Ba năm 1975 hầu như ai cũng đọng khối máu uất nghẹn đau thương. Khối máu oan hờn của một dân tộc điêu linh chỉ khác người dân miền Trung chịu sớm nhất. Đau nhất.

Mùa Chúa chịu nạn giải cứu thế gian diễn ra cùng lần bức tử miền Trung. Khởi đầu buổi Đồng Tế tàn cuộc miền Nam. Bắt đầu từ Ngày 10 Tháng Ba ở Ban Mê Thuộc, dọc TỈnh Lộ 7 B, con lộ máu dẫn về miền duyên hải. Hóa ra không cần đủ hết tháng Ba, để tiếp theo tháng Tư thấm máu toàn miền Nam sụp vỡ. Thế nên, người hôm nay phải viết lại, phải nói lên – Vì nếu không sẽ có tội – Tội với những người đã chết mà lượng người chết trên Tỉnh Lộ 7 B là oan khiên đồng hiến tế khởi đầu lần tận diệt Quê Hương. Của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.

Bốn Mươi Năm Trận Ban Mê Thuộc
Lần Khởi Cuộc Mất Quê Hương

(10 Tháng 3, 1975-2015)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Ngã Tư Bảy Hiền ngày 30 tháng 4 năm 1975

Rất lạnh năm phương ngày quỉ nhập
Kinh thành này thắp đuốc âm ty
Bi thương vần vũ khung trời thấp
Sa lửa thiêu dập đốt thánh thi.

(Đêm Tháng Tư, thơ Nguyễn Ngọc Thuận)


Người sĩ quan mặc đồ rằn tập họp đám Nhân Dân Tự Vệ lại và bảo:

-Bây giờ đã đến lúc các em phải tiếp tụi anh một tay. Việc đầu tiên là phải vứt hết các khẩu súng cùi này xuống giếng, sau đó lập một nút chặn không cho bất cứ một ai đem vũ khí vào thành phố. Ai cưỡng lệnh, các em cứ bắn, có như thế mới an tâm mà đánh đấm được!

Chỉ một lát sau, đám Nhân Dân Tự Vệ ô hợp đã được trang bị toàn bằng súng M.16 và những quả lựu đạn bóng lưỡng đeo lủng lẳng trên người. Nhiều khuôn mặt non choẹt, nhưng đầy vẻ tự hào đi bên cạnh những người lính dày dạn gió sương, khiến đường phố trở nên nhộn nhạo và tăng thêm không khí chuẩn bị chiến đấu.

Người sĩ quan ấy còn cất công hướng dẫn từng tốp Nhân Dân Tự Vệ đi ngược theo con đường chính dẫn vào Saigòn. Vừa đi ông vừa chỉ vào những khẩu M.79 đã được lên cò sẵn từ đêm qua, dựng rải rác dọc trên hè phố:

-Nếu gặp tăng, các em làm ơn nâng cái này lên vai, nhắm mục tiêu vào giữa và bóp cò giùm tụi anh một cái... là xong!

Người toán trưởng Nhân Dân Tự Vệ sau khi nghe xong những lời dặn dò của người lính, liền lui về phía sau cùng với mấy người trong toán để tìm bảng viết vội hàng chữ: Muốn vào thành phố xin để lại vũ khí, và máng nó lên một con ngựa sắt để giữa đường.

Chưa đầy một tiếng sau, chỗ đó đã chất đầy một đống vũ khí đủ loại.

Người sĩ quan vẫn đi đi lại lại như con thoi. Mỗi khi gặp một người mặc quân phục đi vào thành phố, ông đều chận lại và hỏi:

-Còn muốn chiến đấu không?

Những ai gật đầu ông liền đưa tay chỉ đến đống vũ khí bị bỏ lại, để họ tự lựa chọn và tái trang bị. Những ai từ chối, nại cớ này kia thì ông chỉ lắc đầu ngao ngán, khoát tay bảo đi. Riêng đám Nhân Dân Tự Vệ thì rất hào hứng khi lần đầu tiên họ được tự do nhét vào bụng cả những cây súng ngắn Rulô, P.38 và Cold 45... do những người lính tháo chạy vứt vội bên đường.

Lúc ấy trời mới vừa hừng sáng, tiếng đạn pháo kích của Cộng quân bắt đầu nổ dồn dập, với những tiếng đạn rít xé trời bay ngay trên đầu nghe đến lạnh người. Đoàn người lánh nạn lũ lượt chạy vào thành phố ngày một đông, và con lộ chính từ Ngã Tư Bảy Hiền dẫn vào sân bay Tân Sơn Nhất và Saigòn đã bắt đầu nổ ra các cuộc giao tranh đẫm máu.

Những người lính tử thủ trong Bệnh viện Vì Dân đã có một lợi thế vững chắc. Từ trên sân thượng họ đã phóng ra những trái M.72 chống chiến xa một cách chính xác. Đã có ít nhất 3 chiếc T.54 của Cộng quân bị bắn cháy tại chốt phòng ngự này. Một nhóm quân khác đóng chốt bên cánh phải của Ngã Tư, nơi có đồn Cảnh sát Tân Sơn Hòa bị cộng quân bắn rát khiến họ phải rút sâu vào bên trong trường trung học Nguyễn Thượng Hiền. Một chiếc T.54 tăng tốc độ chạy về hướng nghĩa địa Tây, nhưng đã bị lính dù chặn đầu bắn cháy, một chiếc khác tiến nhanh hơn chạy về tới gần Lăng Cha Cả thì cũng bị lính Không Quân bắn gục...

Mấy tên nằm vùng cầm cờ Mặt Trận nửa đỏ nửa xanh dẫn đường cho toán bộ đội tùng thiết, thấy mấy chiếc tăng mở đường đều bị bắn cháy nên khiếp sợ cầm cờ chạy dạt vào bên trong các ngõ hẻm, khiến bộ đội chính quy VC không biết đường nào để tiến vào thành phố. Hướng tiến công chính của CSBV từ Tây Ninh này không ngờ gặp sức kháng cự có hiệu quả của lính Dù và Không Quân nên bị chậm hẳn lại, khiến bộ đội Việt Cộng phải nã đạn B.40 loạn xạ nhằm tạo sự hỗn loạn trên dòng người chạy trốn.

Một trái đạn pháo kích rơi ngay ngã rẽ vào Nhà thờ Chí Hòa Nam, hất tung một chiếc xe lam chở đầy hành khách. Sức nổ của trái phá mạnh đến nỗi đưa cả một xác người nằm vắt vẻo lên trên đường dây điện, trong khi những người bị thương khác không ai cứu chữa nằm bò la hét vang trời, tạo nên một cảnh hỗn loạn và bi thương tan tác chưa từng thấy!

Vài chiếc trực thăng chong chóng quay xành xạch lượn sát mái nhà định đáp xuống khu cánh đồng rau muống (đằng sau Nhà Dây Thép Gió) để đón thân nhân di tản, bị đủ loại đạn của Nhân Dân Tự Vệ bắn lên khiến không chiếc nào dám hạ cánh. Một chiếc xâm mình hạ xuống sân thượng để đón gia đình một vị dân cử, nhưng không gặp may khi một cánh quạt vướng vào tường nhà bên cạnh, làm cho chiếc trực thăng này không sao cất cánh lên được nữa!

Dù con đường Phạm Hồng Thái (Lê Văn Duyệt nối dài) bị đủ loại đạn bắn trực xạ từ phía Cộng quân, dòng người đổ xô về Saigòn để tìm đường thoát thân vẫn đông nghẹt. Nhiều xác chết không toàn thây đã được dân chúng kéo vào bên lề, và mỗi khi có tiếng đạn bay rít trên đầu, đoàn người lại dạt vào hai bên phố, hoặc chạy băng vào các ngõ hẻm, vứt lại ngổn ngang trên đường đủ loại hành lý và xe cộ.

Gần cổng trại lính Nguyễn Trung Hiếu một bà mẹ bị miểng đạn tiện đứt một chân máu me lênh láng nằm lăn lộn rên la trên đường, mà trên tay vẫn ôm chặt xác đứa con đã bị mảnh đạn khác lấy mất đầu! Vài người từ tâm dừng xe lại, nhưng biết không cứu giúp được gì nên đành nuốt nước mắt phóng đi. Lúc này không ai có thể lo cho ai được, vì số phận của họ cũng mong manh y như người đàn bà cụt chân đang hấp hối!

Người sĩ quan vẫn chạy đi chạy lại, ông hò hét số binh sĩ lấy thêm đạn từ bên trong doanh trại Nguyễn Trung Hiếu, và chở bằng xe Jeep lên cung cấp cho toán lính ít ỏi còn lại đang rải mỏng từ Ngã Tư Bảy Hiền xuống Ngã Ba Ông Tạ.

Đang lúc dầu sôi lửa bỏng, một thanh niên mình trần đứng cãi vã với mấy tay Nhân Dân Tự Vệ, vì anh ta nhất định không chịu để lại vũ khí khi qua trạm. Đang ngồi trên chiếc Jeep chở vũ khí, viên sĩ quan nhảy xuống ra lệnh:

-Anh kia lại đây! Anh thuộc đơn vị nào? Có còn muốn chiến đấu không?

Người thanh niên lớn tiếng chửi thề:

-Đù mẹ! Chạy chết mẹ từ ngoài kia vào đây, còn đánh đấm chó gì nữa!

Viên sĩ quan đanh giọng:

-Vậy phiền anh bỏ vũ khí xuống!

Bằng một cử chỉ chống đối, người thanh niên vung khẩu súng M.16 lên, nhưng viên sĩ quan đã nhanh hơn rút khẩu Colt 45 bên hông. Tiếng nổ chát chúa vang lên và thân thể người thanh niên ngã vật xuống với dòng máu đỏ chan hòa! Đám Nhân Dân Tự Vệ xanh mặt đứng nép vào bên phố, viên sĩ quan mặc áo rằn phân bua:

-Các nơi khác mất sớm cũng vì bọn làm loạn này! Phải thế thôi...

Đống vũ khí do những người tuân lệnh để lại ngày một nhiều hơn. Lác đác gần đó còn có cả các bộ quân phục và các túi quân trang!

Những tiếng nổ của đủ loại súng đạn vẫn vang lên tứ phía.

Các toán bộ đội mở đường đã dần chiếm được các chỗ trú ẩn trong các căn nhà vững chắc và thận trọng tiến về phía trước. Toán lính VNCH cố thủ cứ phải lui dần vì Cộng quân ngày càng tiến gần họ qua dòng người di tản, và nếu hỏa lực cứ bắn về phía trước thì số người chết sẽ không cơ man nào đếm xuể!

Người sĩ quan vẫn oai dũng điều binh, và không cho bất cứ người lính nào lùi về phía sau thêm nữa...

Nhưng đúng vào cái lúc tranh sống ấy, một viên đạn AK bắn sẻ đã tách ông rơi khỏi chiếc xe Jeep lùn đang đậu bên đường. Không ai tới tiếp cứu ông cả, vì họ chưa biết tên Cộng quân ẩn núp nơi nào!

Cho đến khi hai người lính liều mình ôm súng phóng về phía trước với hỏa lực trợ giúp của đồng đội, đã kéo được ông vào chỗ an toàn. Nhưng lúc ấy ông chỉ còn là một cái xác không hồn! Viên đạn oan nghiệt duy nhất đã khoét một lỗ nhỏ trên ngực ông, nhưng lại phá toang khi trổ ra phía sau lưng!

Đúng lúc ấy, Dương Văn Minh vị Tổng thống mới nhậm chức 2 ngày trước đã hạ lệnh cho quân đội buông súng đầu hàng.

Người lính ôm chiếc máy truyền tin PRC25 là người đầu tiên trút khỏi người chiếc máy nặng trình trịch, và chạy lại phía mấy người lính đang ngồi ôm súng cố thủ bên trong các ngõ hẻm. Họ nói nhỏ với nhau về lệnh buông súng của Dương Văn Minh, và cứ thế họ rút về phía sau...

Đám Nhân Dân Tự Vệ nhặt được máy truyền tin, nhưng không biết phải dùng nó vào việc gì. Họ nhấc ống liên hợp lên, và lần đầu tiên trong đời họ nghe được những giọng nói the thé của Bắc quân:

-Buông súng đi! Tổng thống của các anh ra lệnh đầu hàng rồi!

-Bọn Ngụy quân nghe đây: Hàng sống! Chống chết! Biết không?...

Tiếng súng chống cự thưa dần...

Cùng lúc tiếng gầm rú của những chiếc xe tăng còn lại của Bắc quân đã bắt đầu tiến vào Saigòn, theo sau là những chiếc xe vận tải sản xuất từ Trung Cộng chở đầy các tên bộ đội còn non choẹt, ngơ ngác nhìn ngắm tứ phía như những người đến từ các hành tinh khác!

Trên đường dẫn vào Saigòn lúc ấy, ngoài những đống vũ khí và xác người rải rác, còn có những đống quân phục đủ loại và những bộ lễ phục còn mới toanh được ném vội ra đường phố. Dân chúng e ngại một cuộc trả thù, nên họ vội vàng tống khứ ra khỏi nhà bất cứ thứ gì có dính dáng đến chế độ cũ. Không ai nghĩ đến chuyện thu nhặt, vì không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới.

Đêm ấy, đủ loại súng đạn và hỏa châu được bắn lên trời.

Nó giống như một đêm hội hoa đăng với những lằn lửa đạn chi chít đuổi theo nhau. Trong lúc Bắc quân say sưa mừng chiến thắng, thì cuộc vượt thoát của hàng triệu người lại bắt đầu...


*Nguyễn Vi Túy

(Tháng Tư Đen)
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

Quân nhân, tù nhân và thuyền nhân

Nguyễn Đăng Đường
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Đời Tị Nạn)

Hàng năm cứ vào Tháng Tư lòng tôi buồn buồn có nhiều đêm khó ngủ, quá khứ đau thương miên man hiện về như cuốn phim chiếu chậm,
bao nhiêu năm rồi mà vẫn chưa quên những ngày tháng cũ.

Image
Thuyền nhân Việt Nam. (Hình: Văn Khố Thuyền Nhân)

Đời tôi có hai lần bị xúc động mạnh.

Lần đầu vào năm 1965 khi đơn vị tôi đóng ở Quận Dầu Tiếng, Tỉnh Bình Dương. Chiếc tàu đò Thần Phong xuôi ngược Bình Dương - Dầu Tiếng bị Việt Cộng đón đường treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Người phi công F5 của Mỹ lầm lẫn nên dội một quả bom thật chính xác. Người bạn gái đầu đời của tôi đi trên chuyến tàu đó.

Lần thứ hai, vào ngày 30 tháng 4, 1975 khi Dương Văn Minh kêu gọi quân đội và dân chúng giữ trật tự để bàn giao chánh quyền.

Hai biến cố đó làm tan nát lòng tôi. Riêng ngày 30 tháng 4, 1975 không chỉ làm nát lòng tôi mà còn làm thay đổi vận mạng của tôi nói riêng và của miền Nam Việt Nam nói chung.

Tôi giải ngũ khi đất nước chưa tàn cơn binh lửa và tạm cư tại Quận 8, Sài Gòn. Tuy trở về với đời sống dân sự nhưng tôi vẫn thường băn khoăn đến vận nước nên lòng không mấy lúc bình yên. Rồi việc gì đến phải đến - miền Nam mất!

Tôi bán đổ, bán tháo căn nhà ở Sài Gòn để làm vốn liếng hồi hương vì sợ bị đi vùng kinh tế mới. Đợt đổi tiền đầu tiên làm tôi thua nặng, năm trăm đồng tiền cũ đổi được một đồng tiền mới và chỉ giữ tối đa hai trăm tiền mới mà thôi. Số còn lại ký gửi, muốn lấy ra phải có lý do chánh đáng. Lý do gì đây?

Lao động địa phương, lao động huyện, lao động tỉnh, đào kênh, đắp đê, nghĩa trang liệt sĩ, đắp đường biên giới để đánh Miên đều có tôi. Những năm thất mùa ăn bo bo thay gạo, tôi tập làm “người quân tử ăn chẳng cần no.” Sau vài ba năm, tôi già trước tuổi. Tuy thân tàn nhưng ma chưa dại, lúc nào tôi cũng mang tâm sự của tác giả “Thăng Long Thành Hoài Cổ.”

Một hôm giữa năm 1979, anh tôi dẫn về mấy người khách lạ. Sau vài ba câu chuyện thời sự mở đầu, một người trông rất có vẻ là cấp chỉ huy nói với tôi rằng qua sự giới thiệu của anh tôi, anh ta biết rất nhiều về tôi. Hôm nay, anh đến để mời tôi vào tổ chức. Từ ngày đó tôi là thành viên của “Lực Lượng Phục Hưng Quốc Gia Việt Nam,” vùng hoạt động là tỉnh Long An. Tôi sống trong niềm tin, hy vọng và đợi chờ.

Đến năm 1983, vì một lý do rất tầm thường, tổ chức bị bại lộ. Tôi bị bắt ngày 21 tháng 7, 1983 cùng với nhiều người khác. Tôi bị nhốt tại khám lớn Long An 18 tháng rồi đi lao động tại trại cải tạo Mộc Hóa. Đến ngày 1 tháng 9, 1985, tôi được trả tự do nhưng phải bị quản chế tại địa phương 12 tháng. Nhưng hết 12 tháng lại bị quản chế tiếp vì lý do “tư tưởng chưa tốt.” Đến năm 1989, dân chúng địa phương xin giùm tôi mới được tha.

Thời điểm này tôi muốn bỏ nước ra đi nhưng làm sao đi được vì mình là một tên tù mạt vận. May thay có tin người cháu sắp làm một chuyến vượt biên, tôi tiếp xúc và được hứa giúp đỡ. Tôi phải đạp xe ba mươi hai cây số từ nhà lên Sài Gòn nhiều lần để giữ liên lạc vì ngày đi không được biết trước. Vợ con tôi hoàn toàn không biết tôi đang toan tính chuyện gì. Lần sau cùng vào một ngày đầu tháng 10 năm 1989, tôi lên Sài Gòn rồi không trở về nữa. Tôi đi vượt biên.

Tàu đậu tại cảng Bến Đình, Vũng Tàu, tôi được đưa ra tàu trước một ngày để kiểm tra tổng quát và thay thế một thủy thủ không đi. Sáng hôm sau, chủ tàu có mặt và cho tàu chạy ngược về hướng Sài Gòn với tốc độ chậm. Hơn một giờ sau, ghe “tắc xi” từ Sài Gòn ra tới. Cả hai chiếc cùng quẹo vào nhánh sông vắng cho người qua tàu lớn, chui xuống hầm kín rồi chia tay. Ghe nhỏ trở về, còn tàu lớn quay ra cửa biển Vũng Tàu rồi trực chỉ hải phận quốc tế.

Tàu dài chỉ mười bốn thước dự trù chứa bốn mươi người, nhưng vì chủ tàu cũng đi luôn nên dân “tắc xi” lợi dụng cơ hội đưa ra tới chín mươi hai người. Tính luôn thủy thủ đoàn tám người nữa là chẵn một trăm người. Sau này, chúng tôi có tên là “Tàu một trăm.”

Tàu nhỏ đông người, chỗ tốt dành cho đàn bà trẻ con, đàn ông ngủ ngồi hoặc nằm co theo kiểu tôm kho. Ngày đầu chưa quen sóng gió nên bà con thi nhau mửa. Thời gian còn tại ngũ, tôi đã làm quen với ghe tàu nên không bị say sóng. Tôi phải lấy nước cho những người đã mửa rồi lại đưa thau, đưa thùng, đưa tô, đưa chén cho những người sắp mửa. Tàu có hai tài công thì một người đã ở lại, tôi phải làm tài công phụ bất đắc dĩ dù chưa được huấn luyện ngày nào. Tôi cũng làm người canh giữ và phân phát nước uống vì sợ không khéo cả tàu chết khát. Ban đêm, tôi lại ngồi trò chuyện với tài công chánh vì sợ anh ta còn trẻ dễ ngủ gật. Tôi là người bận rộn nhất tàu.

Tôi không ngủ ngồi được khi tàu chạy lắc lư, nên cứ thức. Có lần thằng con của anh thuyền trưởng không kiềm chế được nên mửa vào lưng tôi, chiếc áo bộ đội mới mua được cởi ra tẩy vội rồi mặc tiếp.

Vì được hứa cho đi miễn phí nên tôi phải làm một cái gì đó cho chuyến đi. Sau này định cư rồi, lời hứa đó không được giữ tôi cũng đã trả xong món nợ nghĩa ơn.

Người đông nên tàu chạy chậm, thiếu dầu, thiếu nước uống, thiếu lương thực. Bốn ngày, ba đêm trên biển chúng tôi kêu cứu nhiều lần nhưng không tàu nào dừng lại cả. Đến giữa đêm thứ tư gặp giàn khoan Nam Dương, chúng tôi được cứu. Họ tốt quá! Họ cho dầu, cho nước uống, cho lương thực, giúp đánh điện tín về Việt Nam, rồi chỉ hướng vào Nam Dương.

Trưa hôm sau, tàu tới đất liền nhưng vì không có bản đồ nội địa nên chúng tôi không tìm được đảo KuKu, nơi có Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc. Thủy Quân Lục Chiến Nam Dương thay vì chỉ đường đi KuKu họ lại dẫn chúng tôi về đảo Tarempa, một căn cứ quân sự. Họ tịch thu tất cả tư trang, giấy tờ cá nhân của phái nam, còn phái nữ được ông trung tá trưởng đảo đưa vào phòng kín khám xét đặc biệt hơn nữa.

Cô thông ngôn không bị khám xét nên cất giữ được một số giấy tờ quan trọng của tôi. Hôm sau, ông trung tá bảo chúng tôi trở về Việt Nam. Đã đoán trước, nên chủ tàu phá máy, thợ của họ sửa hoài không được nên phải gọi tàu khác đưa chúng tôi tới đảo KuKu. Đến KuKu thuyền trưởng của tàu này chưa cho chúng tôi lên đảo, ông ta đòi tiền rồi dụ cô thông ngôn vào phòng hãm hiếp. Cô thông ngôn nhảy xuống biển, họ vớt lên và cho chúng tôi vào đảo. Từ tàu lớn sang ghe nhỏ để lên bờ, một thanh niên bị dập nát chân, vì vậy sáng hôm sau chúng tôi được vào đảo Galang thay vì phải ở lại đảo KuKu hai tuần nữa.

Chúng tôi đặt chân lên trại Galang I ngày 6 tháng 10, 1989. Tôi mặc áo bộ đội, đầu không nón, tay không xách, đi chân đất khập khễnh bước lên đảo. Đêm ngủ lại đảo Tarempa đôi dép và cái xách tay của tôi không cánh mà bay. Ông đại diện thuyền nhân trại Galang I đón chúng tôi và bảo ai mặc đồ bộ đội thì bỏ đi. Thế là tôi chỉ còn có quần tây, áo thun mà thôi, thật thảm thương.

Ở Galang I mấy hôm để làm lý lịch và các thủ tục khác, chúng tôi được chuyển vào trại Galang II. Đường dài khoảng năm cây số, hẹp và quanh co. Tài xế Nam Dương lái xe như bay làm chúng tôi ngất ngư. Chúng tôi lần lượt được vào khu Biệt Lập rồi Zone B. Một barrack mười phòng có tầng trên tầng dưới, vừa đủ cho một trăm người chúng tôi xây dựng cuộc đời mới - đời tị nạn.

Đời tôi gắn liền với ba chữ “nhân” đó là quân nhân, tù nhân và thuyền nhân.

Trước khi thuyền nhân Việt Nam đến, có lẽ Galang là một hoang đảo. Hôm nay, với trên dưới hai chục ngàn người cùng các cơ quan, trường học, bệnh viện, nhà thờ, chùa, hàng quán, rạp chiếu phim... Galang mang bộ mặt của một thị trấn vùng cao nguyên Nam Việt.

Thuyền nhân Việt Nam ở bất cứ trại tị nạn nào cùng có bốn nhóm. Thứ nhất, được thân nhân ở nước thứ ba gởi tiền đều đặn, thứ hai không được đều đặn, thứ ba chỉ được một lần thôi, thứ tư không được lần nào. Tôi thuộc nhóm thứ ba nên cũng khổ. Ba năm trời tôi chỉ nhận được ba trăm đô Úc, do ba người thân gởi cho từ ngày mới tới đảo. Tôi phải trồng vũng rau đắng để bữa cơm dễ nuốt, vì lương thực chánh của cao ủy cung cấp có gạo, mì gói, cá hộp cùng một ít nhu yếu phẩm mà thôi. Dù sao cũng vẫn hơn ba năm tù chính trị chỉ có cơm với muối.

Trước khi tới đảo, tôi nghĩ mình là cựu quân nhân và tù nhân chánh trị có giấy tờ chứng minh sẽ được định cư sớm. Tôi đâu biết rằng sau ngày 14 tháng 3, 1989 thuyền nhân phải bị thanh lọc, thời gian chờ đợi trên dưới ba năm. Từ đó mới có đậu thanh lọc, rớt thanh lọc, giấy tờ giả, hối lộ, cưỡng bức hồi hương, phản đối, đàn áp, tự sát...

Thanh lọc được chia ra làm nhiều đợt theo thứ tự thời gian đến. Tôi đậu thanh lọc đợt ba nhờ có đủ giấy tờ mà cô thông ngôn đã giữ hộ tôi. Cũng nhờ có giấy tờ bảo lãnh của thân nhân ở Úc nên tôi được phái đoàn Úc nhận trong cuộc phỏng vấn bổ túc.

Ở trại tị nạn, tôi học được từ ngữ mới đó là “đẩy xe” tức là đi với tình nhân. Từ này dùng cho phái nam. Ở Galang người ta “đẩy xe” nhiều lắm. Xa gia đình, thiếu tình thương, hai tâm hồn hai trái tim khác phái cần nhau rất dễ gần nhau. Tôi cũng không ngoại lệ nên đã vướng vào một chuyện tình buồn. Tàu tôi có tay đàn tây ban cầm thật tuyệt, tôi có giọng hát cũng dễ nghe. Ngày còn đi học, đi lính giọng hát này đã giúp tôi rất nhiều trong việc gây cảm tình với phái nữ. Barrack tôi nằm trên đồi nên đêm xuống thật buồn, chúng tôi thường đàn hát giải khuây. Tôi đâu ngờ từ căn phòng tầng trên của Barrack có một người đàn bà đêm đêm đứng bên cửa sổ nhìn xuống để nghe tôi hát. Mỗi lần gặp nhau, tôi đọc được những gì chất chứa trong đôi mắt của nàng và tôi cũng nghe nhịp tim mình bối rối. Thế rồi một hôm, tôi mời nàng lên quán nước trên đồi uống cà phê, nàng nói với tôi “mỗi lần nghe anh hát em muốn chạy xuống ngồi vào lòng anh.” Tôi đâu phải là Phật, làm sao tôi không yêu nàng. Gương mặt buồn cố hữu và giọng nói dịu dàng của nàng đã xâm chiếm hồn tôi. Tôi muốn nàng ở chung phòng và cùng ăn thứ rau đắng với tôi.

Rồi ngày tháng êm trôi nên tôi không biết được chữ ngờ. Được nửa năm đầm ấm thì chồng nàng từ Việt Nam vượt biên tìm vợ. Tôi bỏ đi nơi khác để vợ chồng nàng gặp nhau giàn xếp chuyện gia đình. Ý nàng không muốn tái hợp với chồng nhưng ông Cha Xứ Galang buộc nàng phải quay về để khỏi bất lợi cho việc thanh lọc. Nàng đi rồi, tôi trở về phòng cũ vắng tanh. Trước đây, tôi hạnh phúc bao nhiêu thì bây giờ tôi đau khổ bấy nhiêu. Tôi buồn, tôi uống, tôi say, tôi tập làm thi sĩ.

Ta đốt đời ta men đắng cay,
Say tình say rượu cũng là say.
Men cay giây phút còn tan biến,
Tình lỡ ngàn năm khó nhạt phai.
Nửa năm hương lửa vẫn còn đây,
Tình ta nhẹ tựa khói sương bay.
Em về bên ấy đời êm ấm,
Đâu biết rằng anh lạnh giá đầy.
Ai bảo rằng yêu chẳng khổ đau?
Một lần dang dở dễ quên sao?
Ái ân mộng mị tình hư ảo,
Không trọn kiếp này, hẹn kiếp sau.
T... ơi tình chết kể từ đây!
Chôn chặt tình ta xuống tuyền đài.
“Nhất phiến tình sầu thiên cổ lụy.”
T... ơi tình chết kể từ đây!

Galang, tháng 12, 1990


***

Đến Úc ngày 27 tháng 2, 1992, tôi vội lo thủ tục bảo lãnh gia đình. Ngày 28 tháng 3, 1993, vợ con tôi đặt chân xuống phi trường Sydney. Hồi còn ở Việt Nam vợ tôi có biết chuyện này, gặp lại nhau tôi vẫn kể cho nghe, vợ tôi chỉ cười thôi coi như chuyện cũ.

Còn T... nàng không được thanh lọc mà phải theo chồng, chồng rớt nàng rớt theo và đã hồi hương sau đó.

Cách đây mấy năm, nàng có gửi thư báo tin tôi là ông chồng đã chết trong một tai nạn. Tôi cũng có mấy đứa cháu rớt thanh lọc và hồi hương nên nàng có được địa chỉ của tôi. Nàng rất buồn và muốn được đi du lịch nước Úc để thăm tôi. Tôi giữ im lặng đến bây giờ và cũng chưa về Việt Nam lần nào.

Xin lỗi nghe T... không phải tôi bạc bẽo nhưng tôi làm được gì ngoài sự im lặng. Ba năm tôi ở tù, ba năm tôi bỏ nước ra đi, vợ tôi buồn và khổ nhiều hơn em nữa. So với hàng triệu người Việt Nam khác, ba chúng ta chẳng có nghĩa gì. Từ ngày 30 tháng 4, 1975 cuộc đời có thêm nhiều bi kịch, chúng ta vô tình đã thành diễn viên mà thôi.
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Chiến hữu

Tưởng Năng Tiến


Image
Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.
Trung úy Đỗ Lệnh Dũng


Image
Tr. úy Đỗ Lệnh Dũng thời còn trẻ. Nguồn: Photobucket
Tưởng gì chứ sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cấp bực làng nhàng, như ông Dũng, tôi quen cả đống. Bạn cùng khoá cũng độ vài trăm, cùng đơn vị khoảng vài chục, và cùng trại (tù) thì chắc … vài ngàn!

Tôi đã nghe vô số thằng kể lại những giờ phút cuối cùng của đơn vị mình nhưng chưa thấy ai bị lâm vào hoàn cảnh bi đát, và giữa lúc thập tử nhất sinh, đã tuyên bố một câu (ngon lành) dữ vậy.

Cỡ Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu (vào giờ phút chót) cũng chỉ âm thầm … đào ngũ thôi, chứ chả hề có mở miệng nói năng gì ráo trọi – với bất cứ ai. Còn Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ thì ồn ào hơn chút đỉnh, rồi cũng chuồn êm – không lâu – sau đó.

Trường hợp của Đỗ Lệnh Dũng thì hơi khác. Cách hành xử của ông cũng khác. Bảnh hơn thấy rõ.

Đúng nửa đêm 24/11/1974, trái đạn 82 ly đầu tiên rót vào trong vòng đai Đồng Xoài. Với đại pháo và T-54 yểm trợ, hai trung đoàn của Sư Đoàn 7 của Bắc Quân – sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung – đã chiếm được chi khu này, vào rạng sáng 7/12/1974.
Image
Tháng 6, 1965: Đồng Xoài, Vietnam. Nguồn: AP/Horst Faas
Buổi chiều cùng ngày, trong khi đang cùng những quân nhân còn sống sót tìm cách thoát khỏi vòng vây, trung úy Đỗ Lệnh Dũng (bỗng) thấy một đoàn người – toàn là đàn bà và trẻ con nhếch nhác, với tay nải hòm xiểng, lôi thôi, lếch thếch – nằng nặc đòi đi theo toán quân của ông, để trốn ra khỏi vùng đất (sắp) được … hoàn toàn giải phóng.

Trước nguy cơ dân chúng có thể bị thiệt mạng oan uổng trong lúc giao tranh, và để thuyết phục mọi người nên ở lại nhà cho được an toàn, trung úy Dũng đã dõng dạc tuyên bố với đám đông:

“Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”

Và Đỗ Lệnh Dũng đã trở lại thực, chỉ vài ngày sau, như là một … tù binh! Rồi ông bị đấu tố trước Toà Án Nhân Dân Huyện Đôn Luân, một tên gọi khác (mỹ miều hơn) của Đồng Xoài, và đưa từ Nam ra Bắc – theo đường mòn Hồ Chí Minh – để đi cải tạo. Gần muời năm sau, năm 1982, trung úy Đổ Lệnh Dũng được chuyển trại từ Bắc vào Nam – và tiếp tục … ở tù!

Cuộc đời (rõ ràng và hoàn toàn ) không may của trung úy Đỗ Lệnh Dũng đã được nhà văn Lê Thiệp viết lại, bằng một cuốn sách – dầy đến bốn trăm trang – lấy tên của chính ông làm tựa. Nhà xuất bản Quê Hương đã cho phát hành phẩm này (1) vào cuối năm 2006, với lời giới thiệu – như sau:


“Đỗ Lệnh Dũng không chỉ là câu chuyện về chiến tranh, dù nhân vật chính là một chiến binh mất tích giữa chiến khu D sau một trận đánh dữ dội.” Đây là câu chuyện về những oan khiên khắc nghiệt mà người dân Việt Nam phải trải gần trọn thế kỷ qua cho đến ngày nay.

Nhân vật chính giã từ cha mẹ khi tròn 18 tuổi và lúc được gặp lại cha mẹ thì đã gần tới tuổi ngũ tuần. Thời gian xa cách là lửa đạn, là những ngày lê gót trên con đường mòn vượt rừng núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, là những năm tháng đoạ đầy tại những trại tù …

Dù chỉ là một góc cạnh giữa muôn ngàn góc cạnh của một thời bão táp, câu chuyện vẫn là bằng cớ vô giá về thảm trạng con người bị tước đoạt trọn vẹn tuổi trẻ, tình yêu gia đình và mọi điều kiện an bình của cuộc sống.”

Image
Đỗ Lệnh Dũng – Lê Thiệp, nhà xuất bản Quê Hương
Cuốn Đỗ Lệnh Dũng được ra mắt vào ngày 21 tháng 1 năm 2007, ở thành phố San Jose, California. Hôm đó, tôi đã hân hạnh được nhìn thấy Trung Úy Dũng và Thiếu Tá Đặng Vũ Khoái – chỉ huy trưởng Chi Khu Đôn Luân – người mà không mấy ai tin là còn có thể sống sót, sau khi đơn vị này thất thủ.

Thiếu tá Khoái cho biết nhờ tác phẩm này mà trong mấy tuần qua, một số những người lính năm xưa – đang tản mát khắp năm Châu – đã tìm lại được nhau. Và ông nghẹn ngào khi giới thiệu với mọi người, vài quân nhân khác của đơn vị – hiện cũng đang có mặt tại hội trường.

Tôi ngồi ở xa, không nhìn rõ nét mặt của những nhân vật này nhưng có thể đoán được rằng mắt họ đều đang ngấn lệ. Tôi cũng là một cựu chiến binh, cũng có cái may mắn lớn lao là còn sống sót sau cuộc chiến vừa qua, và thoát thân đến được một quốc gia an bình phú túc nên cảm thông (thấm thía) sự xúc động của họ.

Trong giây phút đó (có lẽ) mọi người đều cảm thấy an ủi và ấm lòng, trước cảnh trùng phùng bất ngờ (và khó ngờ) đến thế. Cái cảm giác sung sướng vì sự may mắn (hiếm hoi) của mình đã theo tôi suốt cả buổi chiều hôm ấy, và đã cùng với tôi đi vào giấc ngủ.

Nửa khuya, tôi thức dậy. Đêm nào tôi cũng thức dậy vào giấc đó. Và đó cũng là lúc mà tôi thường lò mò trở về … chốn cũ. Như một công dân “part – time” của nước Hoa Kỳ, tôi chưa bao giờ sống hết mình và hết tình nơi quê hương mới. Gần ba mươi năm lưu lạc, tôi vẫn cứ sống (một cách mộng mị) đều đều – theo kiểu “ngày ở / đêm về” – như thế.

Tôi thường trở về Đà Lạt. Đây là nơi mà tôi đã lớn lên, và đã ướp đẫm tuổi thơ (cũng như tuổi trẻ của mình) bằng rất nhiều đặc sản của núi rừng: nuớc hồ Xuân Hương, sương mù, phấn thông vàng, mùi cỏ dại của Đồi Cù, và cả trăm loại hương hoa man dại.

Có dạo tôi hay trở về những đồi trà, đồi bắp, đồi khoai – bao quanh trại cải tạo Tân Rai – ở Blao. Tôi cùng lũ bạn tù cứ đi trong nắng sớm, trên những con đường mịn màng (thơm nồng mùi đất) sau một đêm mưa.

Cũng có khi tôi về lại Sài Gòn, ghé thăm một người bạn đồng đội mới, chỉ vừa biết sơ, qua một bài báo ngắn – của ký giả Bùi Bảo Trúc:

Image
Thương binh Nguyễn Văn Thìn. Nguồn: OntheNet
Sáng nay mở e-mail ra đọc, tôi nhận được từ một người không hề quen biết, không kèm theo một giòng chữ nào, bức hình một người đàn ông mà tôi cũng chưa gặp bao giờ. Hình chụp người đàn ông đang ngồi trên giường có trải chiếu, đằng sau là bức tường loang lổ, hoen ố những vết đen mốc. Ông có một bộ ria, tóc dầy và đen, một mắt to, một mắt nhỏ mà tôi nghĩ là bị hư, chỉ còn một con. Ông không còn chân tay. Hai chân bị cụt trên đầu gối. Và hai tay cụt ở trên khuỷu tay, gần nách.

Trong hình có ghi tên ông. Ông tên là Thìn, Nguyễn Văn Thìn. Năm sinh được ghi là 1952. Hàng chữ phía dưới cho biết ông là thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Ðơn vị cuối của ông là Trung Ðoàn 49, Sư Ðoàn 25 Bộ Binh. Cấp bậc của của ông là Trung Sĩ Nhất. Ông sinh năm 1952, tuổi Thìn nên tên cũng là Thìn. Ông không còn chân tay. Từ 30 năm nay, ông không có chân, cũng không có tay.

Ông làm sao sống nổi qua bằng ấy năm không có hai chân mà cũng không có cả hai tay. Tôi tưởng tượng, không khó khăn lắm, cũng vẫn thấy ra được những khó khăn của ông. Trong một chế độ thân thiện với ông, ông cũng đã vô cùng bất hạnh vì thiếu con mắt, thiếu hai tay, lại thiếu luôn cả hai chân. Huống chi trong một khung cảnh không thân thiện nếu không muốn nói là thù nghịch, thì ông còn khổ biết là bao nhiêu nữa. Tôi không dám tưởng tượng thêm ra những chuyện khác trong đời sống hàng ngày của ông, nếu đó có thể gọi được là một đời sống.

Ông Thìn luôn luôn nhìn tôi với đôi mắt u buồn và lắc đầu ra dấu, như có ý nói là đừng đến thăm nhau nữa: “muộn mất rồi.” Mãi sau này tôi mới biết là … muộn thật! Trong những trang sổ tay cũ, khi viết về trung sĩ Nguyễn Văn Thìn, cách đây vài năm, tôi đã có dịp phổ biến địa chỉ của ông: nhà số 9/8 đường Bông Sao, phường 5, quận 8, Sài Gòn.

Chừng một tháng sau, vài người báo cho tôi biết là họ đã gửi quà về biếu ông Thìn nhưng không còn … kịp nữa. Ông bạn đồng đội của tôi đã qua đời, vài tuần, trước đó!

Đêm nay thì tôi về miền Trung, phần quê hương khốn khó mà tôi chưa bao giờ có dịp ghé qua, để thăm một đồng đội khác:

Image
TPB Dương Quang Thương và tác giả Nguyễn Cảnh Tân. Nguồn: Báo Việt Luận
Sự hy sinh của anh quá lớn, hai mắt, hai tay và hai chân cho tổ quốc còn cá nhân chị đã hy sinh cả cuộc đời cho những người mà cả tổ quốc phải tri ân. đã rưng rưng khóc lần nữa và cảm ơn nhiều lắm đến bà con ở Úc và Hội.

Tôi phải vượt đường xa tít tăp từ Huế tìm đến nơi 1 anh Thương Binh mù hai mắt, cụt 2 tay lẫn 2 chân gần Lăng Cô … Tôi nhìn thấy anh Dương Quang Thương nằm xấp ngay ngạch cửa. Tôi lên tiếng chào, anh bật ngồi dậy hỏi tôi là ai?”

Qua những phút giây trao đổi, tôi thấy anh khóc, những dòng nước mắt lăn ra từ hai hố mắt sâu thẳm ấy làm tôi phải khóc theo. Nghe tiếng người lạ, vợ anh từ sau hè chạy lên trên tay còn cầm nắm rau dền hoang vừa mới ngắt về để lo bữa ăn chiều, chị chào hỏi tôi rồi rót nước mời tôi uống …

Thoạt đầu tôi chỉ nói tôi là người mang tiền và thuốc tây đến cho anh do bà con từ bên Úc đóng góp gửi về. Tôi gởi anh 100 đô Úc và 5 hộp thuốc tây. Anh đã rưng rưng khóc lần nữa và cảm ơn nhiều lắm đến bà con ở Úc và Hội.”

Sau một hồi tâm sự anh nhắn gửi lời cảm ơn đến người điều hành Hội mà gia đình anh thường thư từ qua lại nhiều năm nay. Tôi xúc động quá và cho biết là: Thưa anh chị chính tôi đây… Nghe đến đó anh quờ quạng hai cái cùi tay còn lại lết thật nhanh về hướng tôi và ôm lấytôi mà khóc.

Vợ anh cũng khóc, tôi cũng khóc, người chạy xe ôm cũng khóc theo… Sự hy sinh của anh quá lớn, hai mắt, hai tay và hai chân cho tổ quốc còn cá nhân chị đã hy sinh cả cuộc đời cho những người mà cả tổ quốc phải tri ân.

Chị đã khóc nhiều lắm vì những khó khăn đè nặng thân phận của người phụ nữ ốm o gầy còm cố vươn vai suốt hơn ¼ thế kỷ gánh gồng, ẵm bồng tắm rửa, đút ăn và những cơn lũ lụt khủng khiếp phải cõng chồng chạy tìm sinh lộ… Ra tới đầu ngõ, tôi và anh xe ôm vẫn còn khóc…

(Nguyễn Cảnh Tân (2), “Nỗi Sầu Riêng Hay Cái Đau Chung,” Việt Luận, 27 Oct. 2006).

Ở VN, bây giờ, mà khóc nhiều như vậy e hơi (bị) lố. Làm người Việt thì dù ở vào hoàn cảnh tệ bạc đến đâu chăng nữa vẫn (có thể) được khối kẻ khát khao. Tôi liên tưởng đến số phận te tua, bầm dập của Đỗ Lệnh Dũng và không khỏi trạnh lòng nghĩ thêm rằng: đó là cảnh đời mà phế binh Dương Quang Thương có nằm mơ cũng không thấy được.

Và hiện tại ở quê tôi còn bao nhiêu chục ngàn cựu chiến binh khác nữa (cũng tàn phế đến độ không thể đi xin ăn được) đang nằm chờ chết ở một xó xỉnh nào đó, ước mơ đến ngày có người đồng đội cũ (chợt) nhớ đến mình và ghé thăm chơi – như chiến hữu Nguyễn Cảnh Tân đã ghé thăm bạn Dương Quang Thương, vào một buổi chiều cuối năm 2006.

© Tưởng Năng Tiến
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

MẮT ĐÊM

Truyện thởi chiến của Trần Hoài Thư
(trích Văn số 121 ngày 1-1-1969)
Chiến tranh Việt Nam khốc liệt qua những bức ảnh khói lửa

Khi tổ tiền sát viên chạy đến gần chiếc cầu gỗ, ẩn dưới bờ mương, tôi bắt đầu cho tổ của trung sĩ Y Bok tiếp tục tiến chiếm gò mả để yểm trợ cho tổ đi sau. Bên kia chiếc cầu gỗ, xóm nhà xác xơ. Vài ngôi nhà ngói bị đổ nát, còn lại những đống gạch vụn, dưới ánh nắng chói chang. Đại-bàng ra lệnh trong máy C.25, hãy dặn các con anh coi chừng, có mãng cầu nhiều lắm đó. Tôi ngoắc tay, ra hiệu người trung đội phó, làm một thủ lệnh sẵn sàng qua cầu. Đằng sau, trung đội 1 cũng bắt đầu tiến lên trên đám ruộng phía trái. Một chiếc L.19 đang bay đảo vòng trong bầu trời xanh lơ. Một trái khói trắng bốc lên cách gần tôi một trăm thước. Đó là quả đạn hiệu chỉnh của pháo binh. Tiếp đến là những quả dạn nổ long trời. Bụi cát bốc lên mù mịt. Đó là những quả đạn bắn hiệu quả. Tôi áp người vào bờ mương, nghe thân thể rung động. Toán lính nằm dọc theo bờ, súng chĩa về ngôi làng. Tôi bặm môi, ra hiệu thằng mang máy đến gần , và báo cáo: Phú Sơn, đây Phú Sơn ba nghe không trả lời. Tôi báo cáo cho anh trình lại thẩm quyền, các con tôi sắp vượt qua cầu. Trình Đại bàng cho yểm trở. Nghe rõ trả lời. Bàn tay buông lỏng. Tiếng rè rè từ ống liên hợp cất lên: Tôi nghe năm trên năm. Bây giờ những quả đạn pháo binh nổ dồn dập. Những cột khói đen cuồn cuộn, quyện với hơi nóng rát mặt tỏa lên. Tôi được Đại-bàng bảo hãy chờ. Cho pháo binh cầy nát mục tiêu đã. Rồi mình qua. Tôi đáp, nghe năm trên măng, rồi nằm ngửa, súng đặt trên đùi. Tay lấy chiếc khăn, chiếc khăn màu lam mà Quỳnh đã gởi cho tôi trong lần chia ly cuối cùng, đẫm nước mắt, lau vội mặt kính nhem nhuốc nước bùn, tôi nghe nỗi kích thích lạ kỳ, tràn ngập trong từng tế bào, trong huyết quản. Thân thể bị lay động dưới sức nổ của đạn trái phá. Tôi xoay người lại, đặt đầu ống liên hợp vào tai lắng nghe những mẩu âm thoại dồn dập trong máy. Nắng đã bắt đầu lên, và cánh đồng trải dài nhảy múa trước mắt.

Bây giờ, Đại-bàng ra lệnh: Hãy qua cầu. Đứa con 2, yểm trở cho anh. Tôi đứng, hét: Tổ tiền sát viên, qua ngôi làng, chiếm ngôi nhà trước mặt. Tiến. Hạ sĩ I Ký cầm cây M.16, qua cầu, chạy như bay đến sau đống gạch vụn. Những người lính còn lại tiếp tục chạy qua cầu, yên ổn. Tôi thở dài nhẹ nhõm. Tôi không ngờ tình hình lại yên ổn như thế. Khi nãy, trung đội tôi còn ở trong ngôi vườn cách ngôi làng một cánh đồng đất bùn, chúng tôi đã phải nổ súng dữ dội khi thấy những người bà ba đen chạy vụt qua. Binh I Mễ hét lên: Bọn nó chạy đó, thiếu úy. Tiếp sau, những tràng nổ liên thanh chát chúa vang lên, kèm với những quả đạn M.79. Tôi hét lên: Ai cho lệnh bọn mày bắn, hả? Tiếng Đại-bang từ trong ống liên hợp ra lệnh thôi bắn, thôi bắn. Tôi bực dọc đá một thằng lính ngồi bên cạnh, say sưa nhả đạn. Ai cho mày bắn, hả? Mày lỡ bắn vào dân thì sao? Nó phân trần, bực dọc: Em thấy bọn nó mặc bà ba đen, chạy vụt qua mà. Tôi hét: Ai cho mày bắn? Đại-bàng la tùm lum, mày vác tai mà nghe! Binh Nay nói: Ở đây là V.C. hết. Thiếu úy không thấy ca-nông nhả, sao. Tôi không trả lời, rảo về phía tổ trung sĩ Y Đao, bố trí phía trái. Những nhánh hoa giấy đỏ thắm bò qua những sườn nhà trơ nóc, lung lay trong gió. Bầu trời thật xanh. Tôi ngồi xuống, và cảm thấy ngứa ở các ngón chân. Các ngón chân cọ quậy trong đôi tất ướt nước bùn. Tôi nghĩ đến câu nói của binh Nay. Có lý, có lý.

Làm sao lại có những người dân vô tội, ở tại cái vùng nơi trong bản đồ được đánh chữ thập bằng bút chì mỡ màu đỏ, xác định mục tiêu nặng nhất.

“Tin tình báo xác nhận vào khoảng một đại đội có vũ khí cộng đồng xuất hiện vào đêm… tại ấp V.Q. Chúng sẽ dưỡng quân tại đấy, đồng thời sửa soạn cho một cuộc tấn công mới vào các vùng của ta.

Lệnh hành quân vắn tắt như vậy. Tôi nói thầm: Có lý, có lý.

Chúng tôi vào đầu làng yên ổn. Tôi cảm thấy một nỗi sợ hãi bao vây, như những cánh tay vô hình cầm con dao sẵn sàng vuốt ve da thịt. Những bước chân giẫm trên đống gạch vụn, âm vang khô và nặng nề. Có tiếng xầm xì của một người lính Thượng, khi hắn đưa chiếc mũi trong không khí, đón nhận một hương vị nào đó. Thiếu úy, có cứt còn mới. Nhiều lắm. Tôi nói đâu đâu. Hắn chỉ tay vào cuối nền nhà, cạnh bờ sông , Tôi nói với người trung đội phó. Ở đây còn nhiều người lắm, trung sĩ. Bảo anh em nằm xung quanh, tìm vị trí ẩn núp. Đợi lệnh tôi. Tay phải với ống liên hợp, tôi quì xuống bằng đầu gối phải: Phú sơn đây. Phú-sơn 3, nghe không trả lời. Ở đây có người nhiều lắm. các con tôi vừa tìm ra một hầm cứt mới. Nghe không trả lời. Đại-bàng bảo cứ nằm yên, các con của Hai, sẽ qua cầu bây giờ. Tôi đưa thủ hiệu nằm xuống. Một tiếng động thật nhanh và khô kèm theo một âm thanh đổ. Tôi chụp khẩu súng, đặt hướng vào nơi khả nghi. Một con heo nái, những chiếc vú dài lê trên mặt đất, xuất hiện từ một bụi lau. Hạ sĩ Y Wang vừa chỉ tay vừa xầm xì. Tôi mỉm cười.

Binh Hà vừa tìm ra một thùng đạn K.50 giấu trong sàn bếp. Tôi bắt đầu cho các tổ lục soát và bố trí ra hướng bờ sông. Đằng là bãi cát trắng, những khóm lau đen nổi lên trên mặt nước yên tĩnh. Xa hơn nữa, dãy núi Bà Đen, hình dáng nặng nề, đen thẫm. Tôi mở bi-đông lấy một tí nước vỗ vào trán và quệt trên hai con mắt. Cái kính đã bị bụi làm cho nhem nhuốc. Nước mát lạnh. Tôi cởi hàng cúc áo, để hứng những làn gió từ bên bờ sông. Những người lính đang tiếp tục lục soát. Nắng làm những chiếc cổ màu đen của những người lính Thượng ri rỉ mồ hôi. Trung đội Hai đã vào và lục soát những khóm nhà dọc theo con đường làng. Trung đội Một, chận đường ở cầu, nằm bên bờ mương. Đại-bàng dặn trong máy dặn các đứa con coi chừng lựu đạn gài. Đứa con Hai đã tìm ra một trái ở cửa hông. Tôi nói, nghe năm trên năm. Phút chốc, tôi thấy những cuộn khói bốc lên và đám lửa hừng hực đỏ từ một căn nhà tranh ven đường. Các con của trung Hai đã đốt vì không dám gỡ lựu đạn. Có tiếng nổ long lở tiếp theo. Tôi mệt nhọc dựa lưng vào bờ vách, khẽ nhắm mắt. Nỗi mệt nhọc rã rời chạy dài trên khắp thân thể. Đôi chân duỗi ra, cố gắng ngồi một dáng thoải mái; tôi lấy bi-đông uống một hớp nước. Thằng mang máy ngồi bên cạnh, tiếp tục nghe và trả lời. Tiếng rè rè từ ống liên hợp đều đều. Vô sự. Phú-sơn đây Phú-sơn Ba trả lời. Gia đình tôi vô sự. Hả. Anh bắt được một đứa hả? Nó trốn trong dịp bọn nó tổng công kích vào dịp Tết, hả? Tôi nghe từng lời đối thoại. Chẳng có gì để nói nữa. Đằng sau nhà, có tiếng hét của người lính: Lên không. Đầu hàng đi. Tao ném lựu đạn xuống bây giờ. Tôi đứng dậy, tiến về tiếng hét. Thằng Trung cầm trái M.26, sắp bỏ vào miệng rút chốt. Tôi gọi giựt: Khoan đã. Muốn chết hả? Trung nói: Thiếu úy, em nghe tiếng động trong hầm, bọn nó núp trong hầm, thiếu úy. Tôi nạt: Mày tưởng bắt bọn nó dễ dàng như vậy sao? Trung cầm trái lựu đạn, phân bua: Thì ở đây là bọn nó rồi còn gì. Tôi nói: Lỡ dưới hầm toàn dân không thì sao? Tôi chỉ tay vào trái lựu đạn cay, sao mày không dùng thứ này? Ai dạy mày, hả.

Tôi nằm trên miệng hầm, sát tai vào lớp đất. Có tiếng rục rịch khe khẽ. Tôi bảo Trung và cả tổ nằm chĩa súng xung quanh miệng. Tôi hét. Đồng bào ở dưới thì lên, bọn tôi tới giải phóng đồng bào. Đồng bào không lên, chết chịu. Tôi đếm từ một đến mười…

Tôi đếm một, hai, ba, bốn, năm. Đồng bào lên không. Trái lựu đạn cay của Trung được đưa ra, và miệng nó sắp rút chốt, thì người đàn bà hiện lên trong khoảng tranh mờ tối của cửa hầm. Mụ ta có bầu, trạc độ 39, 40 tuổi. Mụ vừa trồi đầu lên vừa chắp tay lạy: Lạy các ông, chúng con vô tội. Binh Hai hét: Còn bao nhiêu người ở dưới đó? Mụ rên rỉ: Dạ còn chừng bảy, tám người. Gia đình con cả. Tiếp đến một lũ người trồi đầu lên. Đi đầu là hai ông già, mấy người đàn bà, một đứa con gái còn nhỏ và mấy đứa con nít. Họ mang theo những chiếc va-li thiếc, những thúng đồ hoặc những túi vải bố. Tôi bảo lính dồn đám người về một góc. Nắng chói lòa trên nền nhà đổ vụn và những mảnh chai phản chiếu một màu nhức nhối. Tôi cảm thấy khó chịu, khi những giọt mồ hôi bắt đầu ri rỉ xuống cổ. Mụ đàn bà cứ réo: Lạy các ông, các ông tha con. Binh nhất Hai lên đạn rắc rắc. Mụ nói các quan ơi tôi vô tội. Binh Hai vội đá cái va-li thiếc bay đi một khoảng và nói: Sao mụ có bầu. Chồng mụ ở đâu rồi. Mụ đàn bà vội nói: Chồng tôi, ảnh làm lính Quân-cụ ở Qui-nhơn. Tôi cười. Bao giờ cũng vậy, mỗi lần hành quân qua mỗi ngôi làng mất an ninh, chỉ thấy đàn bà, trẻ con và ông già bà lão. Đàn bà phần nhiều có chửa. Và một điều lạ, hỏi chồng bà ở đâu, chúng tôi chỉ nghe ảnh đi lính Quân-cụ, Quân-nhu, hay nằm bệnh viện. Lần này mụ đàn bà cũng nói như vậy. Tôi bảo lính lấy dao găm cạy va-li thiếc, lục soát. Nắp va li được mở tung. Có một bộ ka-ki vàng. Binh Hai hét: Chồng mụ đi lính Quân-cụ hay đi giải phóng. Nói mau. Hắn sắp bạt tai, thì tôi vội ngăn lại. Tôi không thể chịu nổi những gương mặt thảm thê, những đôi mắt ngơ ngác sợ sệt đó. Mụ đàn bà nhìn tôi van lơn. Hai ông già tiếp tục nhìn ra cánh đồng chói nắng. Những người khác nhìn xuống đất. Tôi quay mặt lại. Binh Hai vẫn tiếp tục điều tra, dọa dẫm. Nắng đã làm nhức mắt. Tôi muốn nhắm mắt lại, ngủ một giấc, một giấc thôi. Mẹ tôi ở đó, những đêm ôm chặt tôi trốn dưới gầm giường. Đạn réo ngoài sân, ngoài ngõ, ngoài hiên. Đạn réo trên đầu, trên mùng, Mẹ tôi ở đó, trên sân nắng, hai tay để lên đầu, khóc lóc nhìn bọn lính Tây tra hỏi. Vẫn những giọt nước mắt, vẫn những tiếng khóc lóc, như một âm vang từ xa xôi vọng lại, từ một quê hương, một xóm làng đìu hiu. Tôi chống hai tay vào đầu gối, mệt nhọc đứng dậy. Tôi nói: Thôi, để yên đó. Mùi thối từ ngôi nhà gạch bên cạnh bốc lên, đến buồn nôn. Có lẽ là một xác sinh vật nào đó. Những quả cà-nông vẫn tiếp tục dội về, như một cung đàn buồn thảm. Chiếc L.19 vẫn rà rà trên đầu. Tôi đi về phía nhà sau. Toán lính đang lục soát trong nhà bếp. Một hũ ruốc. Cả bọn la lên. Một người lính Thượng, đút tay vào hũ, và bỏ vào miệng, la: Ngon. Ngon. Những thùng lúa bị đổ, thóc rơi xuống nền, ngập tràn. Trên chiếc bếp, những lư nhang bị đổ gãy, nằm ngổn ngang. Tôi dặn tổ trưởng hãy cẩn thận, coi chừng tụi nó cài lựu đạn. Trung sĩ tổ trưởng đáp dạ, rồi hỏi chừng nào rút, thiếu úy. Tôi nói: Chắc chiều. Tôi trở ra hàng hiên. Binh Hai vẫn tiếp tục hét. Mặt hắn đỏ gay. Hắn đã bất lực trước đám người khốn nạn. Một cô bé trạc mười ba, mười bốn tuổi đang ngồi mặt cúi xuống. Binh Hai nói với tôi: xem chừng con nhỏ đi, mình dọa được, thiếu úy. Tôi ngước nhìn. Dáng dấp gầy yếu, màu da đen ngăm, đôi mắt mở lớn ráo hoảnh, ẩn bên trong nỗi sợ hãi tột cùng. Binh Hai cầm con dao, đưa lưỡi vào cổ con bé, hét: Mày chỉ mấy người đàn ông vừa chạy, ở đâu? Không nói tao giết. Con bé run run. Dạ con không biết. Binh Hai vội đá một đá vào mông con bé. Tôi tự thấy đắng ở cổ. Hai tay buông thõng, tôi nhìn những con kiến đang bò bên bờ thành. Một hàng li ti, chấm chấm đen. Bọn này bò, biết bao giờ thấy mỏi. Gió ngoài sông mang theo mùi thối từ căn nhà bên cạnh. Mặt trời chói lòa giữa bầu trời xanh lơ. Tôi đứng dậy, khổ sở, hét: Tại sao đồng bào lại ở đây, hả? Đồng bào không biết đêm ngày cà-nông, máy bay thả bom. Đồng bào lại chịu khổ cực như vậy hả?

Ông già được dịp phân trần: Dạ, tại vì nghèo quá. Bọn tôi nhờ chút lúa, chút gạo. Đi rồi lấy gì mà sống.
Tôi nói: Đồng bào phải quí trọng tính mạng của dồng bào.

* * *

Đến bốn giờ chiều, chúng tôi được lệnh mang số dân cư ngụ tại đây về vùng có an ninh. Trung đội tôi bọc chót. Tôi phải khổ tâm mới bảo họ lên đường. Những thúng gạo, nồi niêu, những bát chén, kèm theo những tiếng khóc nức nở. Tôi nghĩ đến một quê hương đã mất. Tôi phải bảo tính thúc từng người. Hình như không có người nào muốn đi. Cuối cùng đoàn người lục tục lên đường. Viên cố vấn Mỹ đi theo đại đội, đếm từng đầu người, rồi ghi trên sổ tay. Đồng ruộng trải dài, thỉnh thoảng vài hố bom cày, loang loáng nước. Đoàn người chậm chạp đi qua những con ruộng đất bùn. Hai bà già chống gậy run run mò mẫm, đi được một đoạn, vội nằm lăn trên đất, khóc lóc: Bọn mày đi đi, tao ở lại. Tao chết cũng còn thấy nhà tao, thấy cha mẹ tao, ông bà tao. Tao không sợ chết. Tao già rồi. Người đàn bà mặc áo màu nâu xanh, đến bên cạnh, ôm chân bà lão, khóc lóc. Má không đi, con cũng không đi. Tôi phải bảo lính dừng lại. Làm sao tôi khuyên họ. Chiếc L.19 vẫn bay rà rà trên đầu. Đại-bàng cứ gọi trong máy C.25, bảo: Hãy đưa họ về mau. Trời sắp tối rồi. Viên trung đội phó càu nhàu: Kệ họ, thiếu úy. Mình đi về muộn bọn nó phục kích thì chết. Tôi nói trong ống liên hợp: Xin Đại-bàng chờ. Tôi nói mãi, họ cũng không chịu đi. Nhứt là mấy bà lão. Tôi bỏ máy, đến bên người đàn bà, nói: Cổ nói với bả, rán đi. Bọn tôi giúp giùm cho. Nhưng bà già vẫn nằm lăn trên đất, tiếp tục gào: Tao không đi, tao không sợ chết. Tôi thẫn thờ nhìn về đằng trước, những người lính của trung đội 2 đã mờ khuất sau đám tre của ngôi làng T.H. Trời đã về chiều. Nắng đang hấp hối trên những hố bom loang loáng nước. Đại-bàng bảo trong máy: Hãy tìm tất cả mọi phương tiện, đưa họ về. Tôi lắc đầu: Tôi chịu, đại úy.

Cuối cùng, đoàn người được đưa về làng ven lộ yên ổn. Có ba, bốn người ở lại. Tôi khổ sở nhìn đám người chậm chạp, cử động trong màu sắc nhá nhem. Đại-bàng bảo nhiệm vụ của mình đến đây đã hết. Sơn-tây cho mấy đứa con sẵn sàng ra lộ, chờ lên con cua. Tôi đứng trên thềm một ngôi nhà gạch, nói lớn: Bây giờ đồng bào có thể yên tâm ở lại. Đây là vùng an ninh, có lính quận bảo vệ. Đồng bào được tự quyền đi lại. Đồng bào có thể về thành phố. Chúng tôi cám ơn đồng bào.

Một ông già chợt giơ tay, nói:

- Bẩm quan, quan đưa chúng tôi về rồi quan bỏ chúng tôi lại đây, chết đói. Chúng tôi ra đi không mang theo một đồng bạc. Chính phủ không lo cho chúng tôi. Làm sao chúng tôi có cơm gạo mà ăn.

Tôi nói:

- Đồng bào cứ yên tâm. Chánh phủ sẽ lo lắng sẽ cho nhà đồng bào ở, sẽ cung cấp gạo cơm cho đồng bào sinh sống.

Tôi nghe tiếng xầm xì trong đám đông. Trong máy, Đại-bàng giục sửa soạn xulu, cứ để cho tiểu khu lo sao thì lo. Tôi thấy những con mắt ngơ ngác nhìn quanh. Một đôi vợ chồng già đang tìm một góc thềm của căn nhà hoang, trải tàu dừa khô xuống. Đứa bé gái đang đứng, ủ rũ bên cây đa. Chẳng biết, mấy quan lớn có lo lắng để đưa đám dân khốn khổ này về trại lánh cư không. Tôi mệt nhọc, gọi trung đội phó, dặn bắt đầu kiểm soát rồi xulu. Trời đã chạng vạng. Một đàn cò bay ngang. Người Mỹ cố vấn đại đội cười nói với tôi: Sao họ can đảm vậy. Họ ở những nơi mà tôi không ngờ đến. Tôi buồn buồn nói: Ở Việt-nam, dân tôi sống khốn khổ như vậy. Nhưng họ cần cù, nhẫn nại. Họ quí mảnh đất ao vườn hơn chính bản thân của họ…

Trái với lệnh hành quân, các con cua sẽ đón chúng tôi trở về đại đội vào buổi chiều, nhưng đến giờ phút chót, chúng tôi được lệnh đóng quân đêm tại làng T.H. Đại-bàng chọn trụ sở ấp làm bộ chỉ huy. Đến 7 gay go, các toán kích bắt đầu đến mục tiêu. Tôi dặn trung sĩ Hoàng, nếu đụng, cứ bắn ba phát súng báo hiệu rồi chạy về. Tổ kích được chỉ định gồm những cậu lính tân binh. Tôi hơi e ngại, nhưng nghĩ rằng đã là lính, thì phải biết mùi. Tôi dắt trung đội lởn vởn khu vực kích, định đến đêm rút về để tổ trung sĩ Hoàng nằm lại. Trên đường di chuyển, chúng tôi gặp một ông già, mặc bà ba đen, chân đi đất, đi xe đạp. Tôi bảo lính bắt dừng lại để hỏi vài điều cần thiết. Nhưng lão già vẫn đạp xe. Thằng Hà vội lên đạn rắp rắp, quát: Ông đi, tôi bắn. Lão già ngừng xe. Tôi bảo binh Lợi hỏi giấy tờ, và lục soát thật kỹ. Dáng dấp lão thật khả nghi. Binh Lợi hỏi giấy tờ, lão đưa đủ giấy tờ. Nhưng khi đòi lục cả bóp, lão nằng nặc không chịu. Tôi nói, tiền bạc ông có bao nhiêu hãy cất, còn bóp đưa tôi ( tôi sợ bên trong, lão còn cất giấy tờ liên quan đến bên kia). Cuối cùng chúng tôi tìm được một tờ giấy khai sinh đề V.N.D.C.C.H. Tôi cười, vỗ vai lão thân mật:

-Chúng cháu ở trên núi mới về. Chúng cháu về đây để giải phóng đồng bào. Bác xem khăn đỏ, biểu thị cho màu cờ giải phóng.

Lão ngần ngừ, rồi nói:

- Tôi không biết.. Tôi là dân vô tội.

Tôi tiếp tục thuyết phục:

- Bác hãy chỉ những anh em đồng chí, ra gặp chúng tôi. Nếu không bác theo đế quốc, bác phản bội đồng bào, nhân dân.
- Không, không.
- Anh em tôi khổ cực từ trên núi rừng xuống, giải phóng đồng bào, bác tin không.
- Tin ( Có tiếng cười của vài thằng lính).
- Tốt. Bây giờ, bác hãy đem xe đạp gửi ở nhà bên cạnh, rồi đi với chúng tôi.
Một chốc, lão đi bộ ra. Chúng tôi cười. Binh Hà nói. Lại gặp một tên nằm vùng. Nhưng vừa ra, lão rên rỉ ( hình như lão đã biết những lời nói dối của chúng tôi). Tôi vô tội. Tôi theo chánh phủ. Tôi là phó ấp. Anh em lường gạt chúng tôi.
- Không. Chúng tôi là quân đội giải phóng. Tôi hỏi bác lần chót, Bác ở bên chúng tôi hay theo Ngụy.
- Tôi ở Ngụy!

Cả đám lính cười rộn rã. Tôi nói với thằng lính cận vệ. Thôi bảo lão đi kẻo tối.
Lão nhìn bọn tôi, kể lể:

- Tối rồi, sao đi được.. Tôi là ấp phó, các ông hại tôi. Đêm nay, tôi phải ở lại. Bọn nó về, có nước chết

Tôi sững sờ. Màu tối hắt hiu trên những gò mả, những kênh đào. Dù sao, đêm nay tôi cũng phải ân hận. Lỡ có chuyện gì xảy đến cho ông già khốn khổ này không? Lỡ đêm nay, bọn nó về, bắt ông già ra một bãi đất nào đó, cột hai tay lại, rồi đọc một bản cáo trạng, để sáng mai, người dân có thể thấy thi thể của một lão già gục chết. Tôi nhớ lại gương mặt của ông ấp trưởng ấp Đại-tín vào một buổi sáng mùa xuân, khi người bên kia hạ sát trong đêm tối. Đôi mắt mở trừng, dòng máu chảy ở cửa miệng, đầu ngoẻo xuống. Làm sao tôi quên được những buổi chiều, ông mời tôi một tách nước trà nóng, ngồi nhìn mặt trời lặn, tâm sự về những nỗi chịu đựng của những người sống trong bóng tối. Tôi nói nhiều về những nỗi khổ tâm của kẻ cầm súng, và những ước vọng về một ngày mai, khi đất nước thanh bình. Ông ấp trưởng rưng rưng thuật lại những cảnh cực khổ, dằng dặc từ ngày này qua ngày khác. Những đêm nằm bờ mương, trốn chạy từ nhà này sang nhà khác.

Bây giờ, tôi lại gặp một người, đang đứng bên cạnh, đang nhìn trời đêm, lo sợ. Tôi an ủi: bác tìm nhà nào quen, ngủ. Rồi rút toán lính về đóng cạnh bộ chỉ huy. Trước khi rút đi, tôi được biết ông già ấy mắc bệnh lãng tai. Tôi cúi đầu đếm những bước mỏi mệt. Toán lính trở về dưới ánh trăng mập mờ. tiếng côn trùng vọng về âm u. Những khóm tre xõa tóc như những bóng ma quái. Tôi cảm thấy lạnh. Trong máy C.25, các đứa con của trung đội 2, báo cáo bắt được một người đàn ông vừa trốn từ chân núi trở về và sắp sửa bắn một người đàn bà, trong đêm lại mò lên núi. Các đứa con báo cáo vị trí đã bị tiết lộ, bây giờ di chuyển toán lính về một địa điểm khác. Tôi lặng mình trong âm thanh quen thuộc từ ống liên hợp. Tiếng gọi và trả lời của người lính mang máy tiếp tục trồi lên, khe khẽ. Vô sự, các đứa con tôi đang zulu, đừng nổ súng ẩu, nghe bồ.

Đại bàng chia vị trí đóng quân đêm từ ống liên hợp. Chúng tôi đóng quân ở hướng Bắc, cây đèn bấm bật lên rồi tắt. Chiếc bản đồ trải ra. Tôi làm những động tác quen thuộc, như ăn, như uống, như làm vệ sinh, như giải quyết sinh lý. Dưới ánh trăng, khóm lá loang loáng những giọt sương đêm. Tôi nằm trên poncho. Người lính giúp việc mở bi-đông rượu, nói: Thiếu úy, uống một tí cho ấm. Tôi nói ừ đưa tao uống một tí. Sao mày lại kỳ vậy. Mỗi lần hành quân, lại mang cả bi-đông rượu theo. Uống say làm sao gác được. Hắn cười uống để đánh giặc cho hăng, thiếu úy.

Hắn mở nắp bi-đông, mời tôi. Rượu đế chánh hiệu. Em mua ngay tại ổ, thiếu úy. Tôi khẽ uống, nhắm mắt và nghe cả thân thể bừng nóng. Đêm thật buồn. Tôi chợt nhớ đến những gương mặt ngơ ngác của đám dân bị đưa về hồi chiều. Gương mặt con bé bị tát tai, với mái tóc rũ dài, và đôi mắt ráo hoảnh. Những bước chân lún sâu dưới bùn. Ba người đàn bà bị bỏ lại, những bà già nằm lăn trên đất, khóc lóc. Tiếng ông già vang lên dưới đám đông. Trong không gian hiu quạnh, có tiếng rì rầm của một chiếc trực thăng. Tôi nghe lòng như một sa mạc nhớ nhung. Đến bây giờ, tôi vẫn có mặt, yên ổn nằm đợi. Đến bây giờ tôi còn thấy được quãng đường đã qua, và quãng đường trước mặt. Một trái sáng được bắn lên từ một ngôi làng nào đó. Yên ổn đi nhé. Yên ổn để làm gì, nhỉ. Tôi muốn khóc. Đã một năm trôi qua, đêm nay tôi phải cám ơn ai để tôi còn hơi thở. Tay tôi mò mẫm trên ngực. Vết sẹo mỏng, nhức nhối. Tay tôi rờ trên đùi. Những mảnh lựu đạn còn sót lại trong thịt cứng trơ, nổi lên. Tôi phải cám ơn ai đây. Có tiếng ho húng hắng của một thằng lính từ một góc tối. Binh Nha trở dậy, nói với một thằng bạn. Con nhỏ hấp dẫn, đếch chịu được. Em ngồi bếp, thổi lửa. Tao vào, giả đò xin châm thuốc. Em vẫn ngồi, tao khẽ đụng bàn tay. Em cũng chả rút ra. Tức cha chả là tức. Sắp sửa nhảy vào, lại được lệnh rút đi. Có tiếng đáp: Đ.M, có ngày nó thiến mày đó, con ơi. Mày xem ở Bình-dương, cha thiếu úy T.Q.L.C. bị một con nhỏ cho về chầu trời. Những tiếng xì xầm bỗng yên lặng, khi những phát đạn ở ven chân núi dồn dập bắn lên. Tôi thét: Bố trí và nhào xuống thềm cầm cây M.16 chạy ra sân tìm chỗ núp. Những viên đạn lửa xẹt lên. Tôi cầm ống liên hợp, lắng nghe. Phú-sơn, đây Phú-sơn 2, nghe không trả lời. Các con tôi đụng. Chưa biết kết quả. Trả lời sau. Nghe không trả lời. Tôi nghe năm trên năm. Đại -bàng bảo hãy lục soát, rồi chuyển về gấp. Nghe không trả lời. Tiếng rè rè từ đầu ống liên hợp: Tôi nghe năm trên năm. Tôi báo anh một tên bị chết. Bắt được một gói tài liệu. Hiện chúng tôi sắp Zulu, nghe rõ không trả lời

Tôi hồi hộp đón nhận những mẩu âm thoại dồn dập. Chúng tôi đứng, ngồi bất động sau hàng giậu. Trước mặt, cánh đồng trải dài im lặng dưới chân núi. Những trái sáng bắn lên từ chỗ nổ súng. Tôi nói với người trung đội phó: Chờ Đại-bàng cho lệnh, rồi mình nghỉ.

Sáng hôm sau, tôi dắt trung đội đi lục soát khu vực toán kích nổ súng hồi đêm. Hy vọng sẽ tìm thêm một kẻ bị thương nằm lại đâu đó. Thằng Ngọc dắt tôi đến chỗ người bị bắn hồi đêm. Hắn kể lại những phút trước khi hắn nổ súng. Con đàn bà đó gan thật, cứ lầm lũi tiến. Nó mặc quần, xắn lên tới háng, đội mũ rừng, em tưởng là đàn ông. Em để nó cách ba thước mới bóp cò. Bọn đi sau chạy tán loạn. Tôi không còn nhận rõ mặt của người đàn bà nằm trên bờ ruộng. Đạn M.16 có sức công phá kinh khủng. Mặt bị loét lở. Nhưng tôi bỗng để ý đến chiếc áo màu nâu xám. Chiếc áo của người đàn bà trẻ ôm lấy chân bà già, khóc lóc. Má không đi, con cũng không đi. Tôi bảo thằng Hai kéo chân cho ngay ngắn, lấy tờ báo nhật trình trùm trên đầu và thân thể, đồng thời loan báo với dân làng, ai là thân nhân, hãy đến nhận về chôn liệm.

Đến chiều, một bà già chống gậy, mò mẫm trên con đường làng, vừa khóc vừa kêu: Hai ơi, Hai ơi, mày bỏ tao đi… Con ơi… Bà đến bên xác người đàn bà trẻ, khóc rống. Cánh đồng mùa hè mang vẻ bình lặng ngàn đời.

Một tháng sau, tôi cùng một thằng bạn lái xe jeep trở về thành phố. Chúng tôi ngồi trước hàng hiên của một tiệm giải khát. Tôi bỗng thấy đứa con gái nhỏ đứng trên lan can của một nhà tắm hơi. Tôi nhớ mang máng con bé bị tát tai trong chuyến hành quân trước. Con bé có mái tóc dài, dáng gầy, và đôi mắt ngơ ngắc. Con bé gánh đôi thúng gạo nặng, hai chân lún sâu dưới bùn, lảo đảo bước đi. Con bé đứng dưới gốc đa. Bây giờ con bé đang đứng trên lan can một tiệm Tắm Hơi. Tôi đứng dậy, đá cái lon sữa, đá một cái thật mạnh.

TRẦN HOÀI THƯ
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Nguyễn Ngọc Hạnh, lá cờ vàng và sự kiên cường của người lính

Đỗ Dzũng/Người Việt

SAN JOSE, California (NV) - “Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh là người sử dụng ống kính để diễn tả hết những hình ảnh hào hùng,
ý chí sự kiên cường của người lính VNCH quyết tâm chiến đấu để bảo vệ miền Nam Việt Nam,” ông Vũ Quang Đăng,
trưởng ban tổ chức lễ vinh danh và triển lãm ảnh nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, nói.

Image
Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh ngồi trên xe lăn được Giám Sát Viên
Dave Cortese (trái) trao bằng tưởng lục vinh danh ông.
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Buổi lễ này do toàn thể môn sinh của nhiếp ảnh gia và Hội Nhiếp Ảnh Bắc California (VNPS) tổ chức tại Santa Clara County Hall, San Jose, hôm Thứ Bảy, 9 Tháng Năm.

Ông Đăng nói tiếp, “Ông đã thu lại được đầy đủ hình ảnh can trường của các chiến sĩ , quyết dựng lại ngọn cờ chính nghĩa trên cổ thành Quảng Trị.”

“Qua những tác phẩm này, chúng ta thấy thấp thoáng đâu đó hình ảnh lá cờ vàng thân yêu của tổ quốc, với cả một nghệ thuật độc đáo, tất cả đã tạo nên con người Nguyễn Ngọc Hạnh,” ông Đăng nói tiếp.

Trong sự nghiệp nhiếp ảnh, ông Hạnh nhận được rất nhiều huy chương quốc tế, gồm 92 huy chương vàng, 110 huy chương bạc, và nhiều giải thưởng khác, và là hội viên của hơn một chục hội nhiếp ảnh khắp thế giới.

Sau nghi thức khai mạc và phần phát biểu của ông Đăng, nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch, hội trưởng VNPS kiêm phó ban tổ chức, cho chiếu một slideshow nói về cuộc đời nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, kèm theo các tấm hình ông chụp tại các mặt trận ở chiến trường Việt Nam, từ Khe Sanh đến Quảng Trị, và các nơi khác.
Image
Hai trong những tấm hình về cờ vàng rất nổi tiếng của nhiếp ảnh gia
Nguyễn Ngọc Hạnh. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)

Các tấm hình nổi tiếng ở chiến trường của nhiếp ảnh gia này bao gồm một khẩu đại bác vừa “nhả” đạn, một binh sĩ VNCH ném lựu đạn, hai chiếc phản lực cơ hạ xuống sau đó một chiếc bị rớt và phi công tử nạn, một trái bom rơi ngay gần chỗ ông, người lính bị cắt làm đôi tử nạn, còn ông bị thương...

“Nhìn những tấm hình này của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, chúng ta sẽ thương những người lính này hơn, những người lính trẻ, chiến đấu quên mình, luôn đối diện với cái chết,” nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch nói.

Không chỉ chụp hình, theo nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh còn cộng tác với một số báo, có đăng hình và bài viết.

“Không chỉ cảnh chiến tranh, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh cũng chụp hoa nữa, một điều ít ai biết,” ông Lịch nói.

Về lá cờ vàng trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Hạnh, nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch cho biết, “Hình của ông lúc nào cũng có cờ vàng. Triển lãm mà không có cờ vàng thì không phải là triển lãm của Nguyễn Ngọc Hạnh. Học trò nhiếp ảnh mà không chụp hình cờ vàng thì không phải là học trò của Nguyễn Ngọc Hạnh.”

Nói đến hình cờ vàng nổi tiếng của Nguyễn Ngọc Hạnh thì phải là tấm hình “Vá Cờ” và một tấm hình lá cờ vàng bị thủng vì những lỗ đạn.
Image
Một số tác phẩm của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh trưng bày
trong ngày vinh danh ông. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch giải thích, “Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh giải thích rằng, những lỗ đạn trên lá cờ cho thấy, mặc dù trải qua cuộc chiến, cờ vàng vẫn bay.”

Trong một tấm khác, Nguyễn Ngọc Hạnh ghi lại hình ảnh chị Đỗ Huỳnh Thị Minh Ngọc, cư dân San Jose, thêu trên 2,000 khăn choàng màu lá cờ vàng để tặng các hội đoàn.

Kế đến là các vị dân cử như Dân Biểu Liên Bang Zoe Lofgren, Giám Sát Viên Santa Clara County Dave Cortese, Thị Trưởng Milpitas Jose Esteves, và hai nghị viên San Jose, Ash Katra và Johnny Khamis lên vinh danh và chúc mừng nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh.

“Tôi chưa bao giờ thấy căn phòng này trang hoàng đẹp như hôm nay. Nói về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Hạnh, các tấm hình do ông chụp luôn tạo cảm giác mạnh cho người xem,” Giám Sát Viên Dave Cortese nói.

Trên sân khấu là 29 tác phẩm nổi tiếng của ông Hạnh, dưới mỗi tấm là một mẫu tự với hàng chữ “Nguyen Ngoc Hanh Grand Master VNPS.”

Dọc theo các bức tường là những tác phẩm khác của ông và các học trò.

Với hơn nửa thế kỷ chụp hình, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh được rất nhiều người ngưỡng mộ, nhất là tính cách của ông.

Ông Vũ Công Hiển, hội trưởng Hội Nhiếp Ảnh Trúc Viên, chia sẻ, “Tôi học được ở ông năm điều. Thứ nhất là khiêm tốn; thứ nhì là một tấm hình phải nói lên điều gì đó, không cần tựa đề, tất cả hình của ông đều do người ta đặt tên; thứ ba, tất cả chi tiết trong hình không được thừa hoặc thiếu; thứ tư, chỉ trong vòng 3 giây mà người xem biết mình muốn gì thì lúc đó mình là 'master;' và cuối cùng là phải hướng thượng, tức là khi khen một tấm hình không khen xã giao như 'ờ, hình đẹp quá.'”
Image
Một người ký tên kỷ niệm khi đến dự lễ vinh danh nhiếp ảnh gia
Nguyễn Ngọc Hạnh. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Chị Nguyễn Thúy Loan, cư dân San Jose, không thể nào quên những tấm hình về lính của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh.

“Tôi còn nhớ ngày xưa, bà chị tôi để tấm hình có tấm thẻ bài ở chỗ làm. Lúc đó, tôi chỉ biết đó là hình do ông chụp, và rất ngưỡng mộ ông. Theo tôi, ông bỏ công rất nhiều để chụp hình. Một tấm hình ông chụp là mất rất nhiều thời gian, chứ không dễ dàng gì,” chị Loan nói.

Và dù đa số hình của ông đều được chụp tại chiến trường, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh không phải là người “cổ vũ hay phản đối chiến tranh.”

Ông Vũ Quang Đăng nhận xét, “Đa số những tác phẩm của ông có chủ đề là chiến tranh, vì chính ông đã chứng kiến tận mắt và ghi lại qua ống kính, để tạo nên những tác phẩm để đời. Thế nhưng, Nguyễn Ngọc Hạnh không phải là một nhiếp ảnh gia phản chiến, ông cũng không ca ngợi, cổ vũ cho chiến tranh.”

“Ông chỉ sử dụng ống kính để diễn tả hết những hình ảnh hào hùng và ý chí kiên cường của người lính,” ông Đăng kết luận.

Theo tài liệu của ban tổ chức, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh sinh năm 1927 tại Hà Đông, phục vụ trong quân đội Pháp cho đến năm 1950 thì chuyển qua quân đội Việt Nam khi mới thành lập, và phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù cho tới ngày 30 Tháng Tư, 1975, với cấp bậc cuối cùng là trung tá.

Ông Hạnh tốt nghiệp trường Nhiếp Ảnh Pháp ở Toulouse năm 1956 và trở thành một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.

Năm 1957, ông sáng lập Hội Nhiếp Ảnh KBC Việt Nam. Năm 1961, ông trở thành nhiếp ảnh gia chiến trường của QLVNCH.

Năm 1969, ông xuất bản sách “Việt Nam Khói Lửa” (Vietnam in Flames) bằng tiếng Anh trong đó có nhiều hình ảnh của ông ghi lại những trận đánh lớn ở Huế, Quảng Trị, và đặc biệt là Khe Sanh (Tháng Ba, 1968) khi ông đã bị trọng thương.

Năm 1971, ông được chọn là đại diện danh dự của Hội Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật Quốc Tế Pháp tại Việt Nam.

Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc năm 1975, ông bị giam trong trại tù tập trung của Cộng Sản.

Đến năm 1983, ông được thả qua sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế.

Năm 1989, ông vượt biên, đến Hoa Kỳ, và định cư tại San Jose, California.

Một năm sau, ông thành lập “Vietnam Photographic Association of Northern California” (Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California-VNPA) sau đổi thành “Vietnam Photographic Society of Northern California” (VNPS) vào năm 2000.

Sau hơn hơn 25 năm định cư tại San Jose, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh đã đào tạo và huấn luyện hơn 500 học viên nhiếp ảnh tại miền Bắc California và tổ chức nhiều triển lãm, trong đó có hơn 20 năm triển lãm liên tục tại hội chợ Tết để quảng bá văn hóa Việt Nam và vẻ đẹp của nước Mỹ.

Ngoài ra, ông cũng hợp tác với nhiều hội ảnh bạn khắp nước Mỹ qua các triển lãm, in sách, diễn thuyết, để đề cao văn hóa Việt và lòng yêu nước qua nghệ thuật nhiếp ảnh.

Ông cũng tham gia nhiều phong trào gây quỹ từ thiện, đặc biệt là Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh hàng năm để giúp đỡ các thương phế binh VNCH còn ở tại quê nhà. Tại các đại nhạc hội này, những tấm hình của ông ủng hộ đã giúp ban tổ chức thu được hàng ngàn đô la.
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Ghi tạc ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Nguyễn Lộc Yên
(Danlambao) - Ngày 5-6-1948, cựu hoàng Bảo Đại gặp Cao ủy Pháp là Bollaert ở vịnh Hạ Long, trên chiến hạm Duguay Trouin, bản tuyên ngôn Việt-Pháp được công bố là nước Pháp thừa nhận nền độc lập và thống nhất Việt Nam. Nhưng đến ngày 20-7-1954, cộng sản Bắc Việt ký kết với Pháp Hiệp định Genève, đem nước Việt chia đôi, lấy vĩ tuyến thứ 17 tại sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự. Sau đấy, quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam ra đời trong một hoàn cảnh quốc gia rối ren.

Ngày 1-7-1955, Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam chính thức hình thành, quân đội còn non trẻ lại nhận lãnh trách nhiệm chiến đấu chống lại cả một khối cộng sản quốc tế hung hãn từ phương Bắc tràn xuống phương Nam, nhân dân thế giới đã thán phục: “Miền Nam Việt Nam là ‘Quốc gia tiền đồn’ chống cộng”. Dù vậy, người Quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vẫn vững tâm kiên cường chiến đấu vì sứ mạng thiêng liêng bảo vệ tổ quốc và dân tộc.


Bối cảnh lịch sử thời cận đại tại miền Nam Việt Nam


Sau khi các tướng lãnh trong quân đội VNCH đảo chánh, lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963, đã thành lập Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM) do trung tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch và nắm chính quyền. HĐQNCM cử Nguyễn Ngọc Thơ lập chính phủ lâm thời.

Đến ngày 30-1-1964, trung tướng Nguyễn Khánh gây áp lực tướng Minh, bắt giam 5 vị Tướng thân cận của tướng Minh, vẫn để tướng Minh làm quốc trưởng, tướng Khánh tự đứng ra lãnh đạo gọi là chỉnh lý và lập chính phủ ngày 8-2-1964. Ngày 16-8-1964, tướng Khánh mở cuộc họp Hội đồng tướng lãnh tại Vũng Tàu, cuộc họp này đã thông qua một hiến chương mới, thường gọi là Hiến chương Vũng Tàu, tướng Khánh lên làm chủ tịch VNCH, trung tướng Dương Văn Minh làm cố vấn.

Hiến chương Vũng Tàu đã bị chống đối từ nhiều phía, trong đấy có đông đảo tín đồ Phật giáo và sinh viên học sinh. Trước tình trạng này, tướng Khánh phải tuyên bố hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu và từ chức.

Ngày 25-8-1964, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng họp tại bộ Tổng tham mưu đồng thuận sẽ bầu vị nguyên thủ quốc gia, nguyên thủ quốc gia phải thực hiện cơ cấu dân chủ; các tướng lãnh sẽ trở về với quân đội. Đến ngày 27-8-1964, thành lập Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia: Dương Văn Minh làm quốc trưởng, Nguyễn Khánh làm thủ tướng, tướng Trần Thiện Khiêm giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Ngày 13-9-1964, trung tướng Dương Văn Đức tạo cuộc binh biến nhằm cảnh cáo tướng Khánh độc tài, nhưng thất bại, tướng Đức bị bắt và giải ngũ sau đó.

Ngày 7-10-1964, đại tướng Trần Thiện Khiêm bị trung tướng Khánh buộc lưu vong. Ngày 24-10-1964, Thượng Hội Đồng Quốc Gia bầu Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng VNCH, đến ngày 31-10-1964, quốc trưởng Phan Khắc Sửu ban hành sắc lệnh SL.005/QT/SL, bổ nhiệm ông Trần Văn Hương thành lập nội các, đến ngày 4-11-1964, Trần Văn Hương thành lập chính phủ dân sự. Tuy nhiên, sự thật các tướng lãnh vẫn còn nắm quyền lực.

Cuối tháng 11-1964, tướng Minh và tướng Khánh lên cấp đại tướng.

Đến tháng 12-1964, đại tướng Dương Văn Minh lại bị đại tướng Khánh đưa đi làm đại sứ Thái Lan.

Đến ngày 16-2-1965, thì bổ nhiệm bác sĩ Phan Huy Quát làm thủ tướng. Ngày 25-2-1965, bổ nhiệm đại tướng Nguyễn Khánh làm đại sứ lưu động và rời Việt Nam.

Sự bất ổn chính trị tại miền Nam Việt Nam là cơ hội cho Bắc Việt đưa quân xâm nhập vào miền Nam, gây cho Quân lực VNCH phải đối đầu với Cộng quân càng ngày càng đông đảo hơn.

Song song với khó khăn về tình trạng thay đổi nhân vật lãnh đạo, thì chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng (TTMT), kể từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 7 năm 1965, đã lần lượt thay đổi đến năm (5) lần:

1- Trung tướng Trần Văn Đôn, nhận chức TTMT ngày 2-11-1963, sau khi lật đổ tổng thống Diệm.

2- Trung tướng Trần Thiện Khiêm, nhận chức TTMT ngày 31-1-1964, sau khi tướng Đôn bị bắt.

3- Trung tướng Nguyễn Khánh, nhận chức TTMT ngày 8-10-1964, sau một ngày đại tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong.

4- Trung tướng Trần Văn Minh (không phải là trung tướng Trần Văn Minh mà sau này là Tư lệnh Không quân), nhận chức TTMT ngày 26-2-1965, sau một ngày tướng Khánh lưu vong.

5- Trung tướng Minh bàn giao chức vụ TTMT cho thiếu tướng Nguyễn Hữu Có ngày 15-7-1965.

6- Lần thứ sáu: Thiếu tướng Có bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng cho thiếu tướng Cao Văn Viên ngày 15-10-1965.

Như vậy, chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng từ tháng 11-1963 đến tháng 7-1965, chưa tròn hai năm đã thay đổi 5 lần; trung bình mỗi vị Tổng Tham Mưu Trưởng giữ chức vụ này khoảng bốn (4) tháng, thử hỏi với thời gian ngắn ngủi ấy, làm sao tổ chức được một hệ thống quân đội vững vàng, hùng mạnh?! Trong khi đấy tình hình quân sự tại chiến trường càng ngày càng ác liệt?!

Vì sao ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là ngày 19 tháng 6.

Đến ngày 25-5-1965, thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ, bổ nhiệm một số tổng trưởng mới, nhưng quốc trưởng Phan Khắc Sửu không đồng ý, đã gây nên cuộc khủng hoảng nội các.

Ngày 9-6-1965, thủ tướng Phan Huy Quát họp báo, tường trình về cuộc khủng hoảng chính trị và đề nghị các tướng lãnh đứng ra làm trung gian để ổn định cho đến khi có một chính phủ dân cử. Các tướng lãnh áp lực quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát giao lại cho quân đội trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia mà trước đấy đã ủy thác cho chính phủ dân sự.

Do yêu cầu mạnh mẽ của các tướng lãnh, quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát và chủ tịch Hội đồng Quốc gia Lập pháp Phạm Xuân Chiểu đồng ký bản tuyên cáo vào ngày 11-6-1965. Nội dung chính của bản tuyên cáo là: Chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, đồng quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Đồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết định số 4 ngày 16-2-1965, Quyết định số 6 ngày 17-2-1965 và Quyết định số 8 ngày 5-5-1965, Tuyên cáo số 7 ngày 5-5-1965. Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt thành phần xã hội, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng ngày 1-11-1963.

Ngày 14-6-1965, Hội Đồng Quân Lực họp tại Sài Gòn, đồng thuận đứng ra lãnh trọng trách điều khiển quốc gia một lần nữa. Liền sau đó thành lập Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, sau khi thảo luận đã đồng ý đưa đến quyết định:

Thành phần của Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia gồm có: Một Chủ Tịch, một Tổng Thơ Ký, một Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp, Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Các vị được tín nhiệm gồm có:

1- Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia: Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu.
2- Tổng Thư Ký: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu.
3- Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp: Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.
- Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có.
- Tư Lệnh Quân Đoàn I: Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi.
- Tư Lệnh Quân Đoàn II: Thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh.
- Tư Lệnh Quân Đoàn III: Thiếu tướng Cao Văn Viên.
- Tư Lệnh Quân Đoàn IV: Thiếu tướng Đặng Văn Quang.

Ngày 19-6-1965, Hội Đồng Quân Lực ra quyết định số 4/ QLVNCH, giải tán Hội đồng Quốc gia Lập pháp và thiết lập các tổ chức: Đại hội đồng Quân lực, Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội đồng Kinh tế và Xã hội. Ngoài ra, Chủ tịch Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia Nguyễn Văn Thiệu, đã ký sắc lệnh 001/a/CT/LĐQG thành lập nội các chiến tranh, gọi là Ủy ban Hành pháp Trung ương và quyết định số 5/QLVNCH thành lập Thượng Hội đồng thẩm phán. Từ đấy, “Ngày 19 tháng 6 là ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”, còn gọi là “Ngày Quân Lực” và Ngày Quân Lực 19-6 đầu tiên được tổ chức trọng thể vào ngày 19-6-1966.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa can trường, danh bất tử.

Sau khi ký hiệp định Genève ở Thụy Sĩ vào ngày 20-7-1954, quân Pháp lần lượt rút về nước Pháp, còn số người theo Việt Minh từ miền Nam tập kết ra Bắc không có thống kê đầy đủ. Nhưng theo Hội nghị tại Liễu Châu (Quảng Tây, Tàu) ngày 3-7-1954, trước khi ký hiệp định Genève, thì Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai dự tính rút khoảng 60.000 người cả bộ đội và chính trị viên về Bắc và sẽ lén gài người ở lại miền Nam Việt Nam khoảng 10.000 người với vũ khí chôn giấu để chờ thời cơ.

Đến ngày 20-12-1960, Bắc Việt thành lập “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” tại xã Tân Lập (nay là Tân Biên, nơi núi rừng tỉnh Tây Ninh) và lén lút đưa quân vào Nam. Cũng từ đấy, quân đội Bắc Việt xâm lược miền Nam từ du kích chiến sang vận động chiến, mở những trận đánh lớn, như: Trận ấp Bắc thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay, đã đụng độ lớn vào ngày 2-1-1963. Trận Bình Giã đụng độ dữ dội vào cuối tháng 12 năm 1964 tại làng Bình Giã, tỉnh Phước Tuy.... Như vậy, quân Bắc Việt tấn công miền Nam Việt Nam từ khi chưa có quân Mỹ tham chiến.

Đến ngày 8-3-1965, đơn vị Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (United States Marine Corps) đổ bộ lên bãi biển Nam Ô, Đà Nẵng (mật hiệu của bãi đổ bộ: Red Beach Two). Đơn vị đổ bộ đầu tiên thuộc Tiểu đoàn 3/9 (Battalion Landing Team 3/9), vào bờ lúc 9 giờ 18 phút (giờ địa phương). Từ đấy bắt đầu một trang sử mới về sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Hiệp định Paris (Ba Lê) ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, đến tháng 11 năm đó, Quốc hội Mỹ thông qua luật buộc Tổng thống báo cho Quốc hội trong vòng 48 tiếng về quyết định điều quân Hoa Kỳ trong chiến tranh, và triệt thoái quân đội trong vòng 60 ngày. Hai biện pháp này đã khiến tổng thống Nixon không thể can thiệp ở Đông Dương.

Như vậy, quân Mỹ bắt đầu đến Việt Nam từ năm 1965 và rút quân về nước vào năm 1973, thời gian kể từ trước năm 1965 và sau năm 1973, chỉ có Quân đội VNCH chống chọi với Cộng quân mà thôi. Và Mỹ không hề chiếm một (01) tấc đất nào của VN, ngược lại nước VN rõ ràng bị Tàu cộng xâm lược:

- Ngày 19-1-1974, Hải quân Tàu cộng đánh cướp đảo Hoàng Sa của VNCH.
- Ngày 14-3-1988, quân Tàu cộng đánh cướp đảo Gạc Ma của Việt Nam.
- Ngày 30-12-1999, Tàu cộng lấn chiếm khoảng 700 km vuông lãnh thổ VN.
- Ngày 25-12-2000, Tàu cộng lấn chiếm khoảng 11.000 km vuông vịnh Bắc Việt.

- Vào đầu tháng 5-2014, Giàn khoan HD-981 của Tàu cộng xâm phạm vào vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam...

Vậy ai nói rằng Mỹ xâm lược là kẻ đổi trắng thay đen, có những quốc gia “cần quân xâm lược Mỹ” để vẹn toàn lãnh thổ, tiêu biểu như:

- Nhật, Nhật-Mỹ đã lần lượt ký kết nhiều thỏa thuận, xác lập “dự toán quan tâm” bằng hình thức lập pháp đặc biệt và ngân sách Nhật sẽ cung cấp cho quân đội Mỹ đóng tại Nhật tăng dần theo từng năm. Năm 1999, dự toán quan tâm với ngân khoản là 275,6 tỉ Yên (khoảng 2,7 tỉ US Dollard).

- Nam Hàn, thỏa thuận Hoa Kỳ-Hàn Quốc có thời hạn trong 5 năm, đã được thông qua hồi tháng 7 năm 2013, theo thỏa thuận này, Hàn Quốc sẽ đóng góp khoảng 930 tỷ won (khoảng 875 triệu USD) trong năm 2014, cho chi phí đóng quân của binh sĩ Mỹ ở đất nước này.

Từ đấy theo thiển kiến của người viết đừng có kẻ nào ra rả loạn ngôn “chống Mỹ xâm lược cứu nước”, vì định nghĩa xâm lược là: “cướp lãnh thổ và chủ quyền của nước khác bằng vũ lực hoặc bằng các thủ đoạn chính trị”.

Lý do nào, miền Nam Việt Nam bị thất bại vào năm 1975?!

Có nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chính là thiếu quân dụng, đạn dược để chiến đấu, để minh chứng điều này xin trích bài “Những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam” của Giáo sư Robert F. Turner ở Đại Học Luật Khoa Virginia và Học Viện Hải Quân thuộc Trung tâm an ninh Luật Pháp Quốc Gia, đã thẳng thắn nói rằng: “Có một bài viết trong báo Foreign Affairs năm 2004, do Giáo sư John Lewis Gaddis là Khoa trưởng American Diplomatic Historians đã nhận định đúng đắn: Các sử gia hiện tại công nhận rằng miền Nam Việt Nam và đồng minh đã thắng cuộc chiến quân sự. Nhưng lại thua cuộc chiến tâm lý tại Mỹ. Tôi xin nhắc lại cho quý vị trẻ biết sau khi bị bỏ bom tơi bời Hà Nội vội vã trở lại đàm phán tại Paris. Và mọi chuyện êm xuôi nếu chúng ta dùng máy bay B52 để trấn giữ hiệp định. Nhưng quốc hội với áp lực của ‘Phong trào Hòa Bình’ đã thông qua dự luật vào năm 1973. Sẽ là bất hợp pháp nếu Tổng thống sử dụng bất cứ đồng nào trong công quỹ cho cuộc chiến tại Việt Nam, Lào và Cambodia. Làm như vậy, Quốc hội đã chuyển thắng thành bại. Quốc hội phản bội lời cam kết lịch sử của Hoa Kỳ là bảo vệ các nước không Cộng sản tại Đông Dương. Lúc ấy tôi làm việc tại Thượng nghị viện, nghị sĩ Ted Kennedy tuyên bố rằng ‘Việt Nam không cần giúp đỡ, họ đã có lượng vũ khí trị giá vô số triệu đô la’. Đó là sự thật, Việt Nam có phi cơ trực thăng, xe tăng Hoa Kỳ. Nhưng cái mà họ không biết là Việt Nam không có đạn, không có xăng, không có phụ tùng. Đống đồ đó trở nên vô dụng. Đây là câu chuyện tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe”.

Dù người Quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, nhưng danh bất tử. Vì sao, là vì trong suốt 20 năm chiến tranh, những nơi xảy ra chiến trận ác liệt, người Quân nhân của VNCH đã can trường biến những địa danh: Bình Long An Lộc (1972). Cổ thành Quảng Trị (1972). Đồi Charlie, Đắk Tô, Tân Cảnh (1972). Hải chiến Hoàng Sa (1974). Phòng tuyến Xuân Lộc (1975)... thành những địa danh nổi tiếng trong lịch sử thời cận đại và khi nhắc nhở đến những địa danh này đã làm sống lại tinh thần chiến đấu can trường của Quân lực VNCH.

Ngày nay, có nhiều người Quân nhân QLVNCH đã đến các nước tự do, dù không còn trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu nhưng đa số trái tim vẫn yêu nước nồng nàn, có những Quân nhân ngày nay không còn cầm vũ khí thì cầm bút chống Cộng rất mạnh mẽ và hiệu quả. Người Quân nhân QLVNCH luôn tâm niệm “Huynh đệ chi binh”, thế nên trong khi chiến đấu thì thân thương dìu dắt lẫn nhau, nay kẻ hải ngoại người quốc nội, tâm tư vẫn lo lắng cho nhau, nên chẳng những có nhiều người Quân nhân cùng Đồng bào luôn lo lắng giúp đỡ Thương binh VNCH trong nước đã, đang bị chế độ phân biệt đối xử?!

Thương binh tàn tật, sống gian nan
Xã hội đổi thay, quá phũ phàng!
Kẻ thắng hung hăn, cười ngạo nghễ
Người thua lận đận, tủi miên man!

Nhớ người thương tật, bởi quê hương
Đời sống khó khăn, cảnh đoạn trường!
Mong mỏi đồng bào, hoan hỷ giúp
Nhắn nhe chiến hữu, tận tình thương?!!!

Trong suốt 20 năm (1954-1975) chiến tranh tàn khốc đã gây ra số tử thương: Quân đội của VNCH bị tử thương khoảng: 250.000 người. Quân độ CSVN bị tử vong khoảng: 1.100.000 người, trong số này bao gồm chết vì chiến trận, chết vì bị máy bay trên đường xâm nhập vào Nam và chết vì bệnh tật. Thường dân Việt Nam bị chết khoảng: 3.000.000 người. Và hai nước láng giềng là: Cao Miên bị chết khoảng 70.000 người, Lào bị chết khoảng 50.000 người. Tổng kết quân đội các bên, kể cả quân Mỹ, Nam Hàn... giúp miền Nam; quân Tàu... giúp miền Bắc và thường dân Việt Nam, Miên và Lào, đã bị chết ước tính khoảng 4.480.000 người.

Quân lực VNCH, trên hai mươi năm gìn giữ miền Nam Việt Nam tự do, với những chiến tích lẫy lừng, chẳng những bảo vệ miền Nam Việt Nam tự do, phồn thịnh, mà còn chận đứng làn sóng xâm lăng ào ạt của Cộng sản suốt 20 năm dài đằng đẵng, đã làm cho cả thế giới phải tôn vinh và thán phục. Người Quân nhân VNCH đã để lại những tấm gương hào hùng lẫm liệt, tô điểm trang Sử Việt rực rỡ và giống nòi sẽ muôn đời lưu luyến biết ơn.

Trong suốt 20 năm chiến tranh, người Chiến sĩ của VNCH đã gian nan bền bỉ chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc và bảo bọc Đồng bào, biết bao người đã dũng cảm lẫm liệt hy sinh, lòng son sắt ấy mãi mãi thắm đượm núi sông. Người viết kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ anh linh của 250.000 người Chiến sĩ VNCH bị tử thương và lực lược đồng minh, với 58.000 người Chiến sĩ Hòa Kỳ đã hy sinh vì bảo vệ tự do tại miền Nam Việt Nam:

Xưa Chiến sĩ núi non lặn lội
Giữ tự do, vượt suối, băng rừng
Nhớ người son sắt kiên trung
Nhớ ơn báo quốc, hào hùng chiến công!

Nhìn thăm thẳm lên không lồng lộng!
Thấp thoáng xa những bóng anh linh!
Nhớ ra người đã hy sinh
Sao còn lẫm liệt, rập rình tiếng quân?!!!

Ngày nào mất, mộ phần không biết?!
Ngưỡng mộ người, thương tiếc, tiếc thương!
Nguyện cầu Tử sĩ muôn phương
Thảnh thơi cực lạc, thiên đường an vui!(*)

Ngày 9 tháng 6 năm 2014
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest