Bình Luận , Quan Điểm

dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Nếu cho người Việt bầu, ông McCain sẽ đắc cử tổng thống
Tác giả: Roger Mitton – Nguyên Hân chuyển ngữ

Cựu tù binh chiến tranh McCain là sự chọn lựa của người Việt Nam để làm tổng thống Hoa Kỳ.

HÀ NỘI - Rất nhiều người trong những nước đang phát triển hân hoan khi Thượng Nghị sĩ Barak Obama thắng để được bầu làm ứng cử viên tranh cử tổng thống của đảng Dân chủ, nhưng đối thủ của ông thuộc đảng Cộng Hòa, Thượng Nghị sĩ John McCain, vẫn là người được mến chuộng ở Việt Nam.

Ông McCain có thể không trẻ trung, đầy sinh lực và truyền cảm như ông Obama.

Và ông không chuyển tải nhận thức tương đồng với thế giới đang phát triển như ông Obama, là người mà cha ruột của ông là người Phi châu và bản thân ông Obama đã từng đi học ở Nam Dương (Indonesia) thời niên thiếu.

Cũng chẳng có một nơi chốn nào mang tên ông McCain ở châu Á, như một phố ở Nhật Bản mang tên Obama.

Nhưng những điều này tuồng như vô nghĩa với người Việt Nam, vì họ vốn cho Thượng Nghị sĩ McCain là một trong những người của họ.

Cảm tình này ngày càng tăng bởi vì ông McCain đã từng ngồi tù năm năm ở nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, người mà sau này khi ra khỏi tù đã quên hết những tháng năm bị tù tội, ngược đãi và hành hạ đó, để nỗ lực xây dựng mối quan hệ giữa hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam.

Năm 1967, một hỏa tiển địa không đã bắn trúng chiếc phi cơ A-4 Skyhawk của ông McCain, là một phi công của Hải quân Hoa Kỳ, đang bay trong một phi vụ thả bom thủ đô của người Việt miền Bắc.

Phi cơ ông ta rớt xuống hồ Trúc Bạc ở ngay trung tâm Hà Nội và bị thương nặng – gãy cả hai tay và một chân – đã được kéo ra khỏi hồ nước và bị thảy vào nhà tù Hỏa Lò.

Được mệnh danh là “Hilton Hà Nội”, nhà tù Hỏa Lò sau này đã được phá sập để thay vào đó, là trung tâm Somerset Grand Hanoi được xây dựng, nó là một trung tâm vừa là nhà ở vừa là khu thương mãi được làm chủ bởi một công ty của Singapore có tên CapitalLand.

Sau khi được thả ra khỏi tù năm 1973, ông McCain đã cho hay là ông đã bị tra tấn trong thời gian ở tù, nhưng phía Việt Nam đã phủ nhận điều này.

Ông Vũ Mão, một cựu đại biểu của Quốc hội Việt Nam, là ngành lập pháp của Việt Nam nói rằng: “Ông McCain biết rằng nếu chúng tôi đã ngược đãi ông qúa tồi tệ, làm sao ông có thể sống đến ngày hôm nay? Cho nên, nếu ông thắng cử, chúng tôi sẽ chúc mừng ông.”

Thực ra, theo người bạn tù Richard Stratton, thì chính ngay lúc bị ngồi tù này, ông McCain đã bày tỏ ý định sẽ ra tranh cử tổng thống một ngày nào đó.

Nhiều năm sau đó, sau khi ông trở thành Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ, chính sự ủng hộ của ông để thiết lập quan hệ bang giao với Hà Nội đã giúp Tổng thống Clinton vượt qua được những trở ngại bởi những tay diều hâu trong Quốc hội Hoa Kỳ dạo đó.

Giờ đây rất nhiều người Việt Nam hy vọng rằng nếu ông McCain đắc cử tổng thống, ông sẽ dành cho họ những hậu thuẩn tương tự trong những vấn đề khác.

Ông Nguyễn Đức Gan, một cựu chiến binh 60 tuổi nói: “Vâng, tôi hy vọng ông McCain sẽ thắng cử lần này, bởi vì đó là điều tốt cho chúng tôi. Ông đã bị tù ở đây, nhưng may mắn cho ông, ông vẫn còn sống.”

Viên chức chính phủ và giới học gỉa tin rằng ông McCain sẽ đánh gía cao mối hợp tác quân sự được cải thiện giữa hai quốc gia, cũng như vừa rồi đây Hà Nội đã biểu quyết ủng hộ thái độ cứng rắn của Hoa Kỳ đối với Iran ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Theo ông Nguyễn Trấn Bạt, chủ tịch Investconsult, một trong những nhóm tư vấn thương mãi hàng đầu ở Việt Nam nói: “Nếu ông McCain trở thành tổng thống, sự hiểu biết của ông về chúng tôi sẽ là điểm lợi hỗ tương trong những cuộc họp song phương.”

Khi ông McCain viếng thăm Hà Nội trong năm 2000, ông đã nói: “Tôi đã cho cuộc chiến tranh Việt Nam đi vào chuyến tàu dĩ vãng đã lâu. Tôi giờ đây không cưu mang trong tôi sự tức giận hay thù hận gì.”

Ông trông như nhẹ tay hơn ông Obama về hồ sơ nhân quyền và sự tự do tôn giáo của Việt Nam.

Hôm đầu tháng này, ông Obama đã nói: “Tôi vẫn tin một cách mạnh mẽ rằng hồ sơ nhân quyền của nhà nước Việt Nam vẫn chưa tốt đẹp.”

Nhưng ông Bạt nói: “Đảng viên đảng Dân chủ như ông Obama luôn nói nhiều về nhân quyền, nhưng hầu như đó chỉ là sự ủng hộ ngay trong nước và nó sẽ không ảnh hưởng gì chuyện quan hệ với Việt Nam.”

Ngay cả chuyện ăn cơm tù ở Hỏa Lò của ông McCain giờ được nhắc đến như chuyện đùa.

Người Việt Nam nói rằng họ sẽ đón chào ông tổng thống tương lai McCain trở lại thăm Việt Nam lần nữa vì ông đã một lần là khách của họ suốt trong bảy năm trời trước đây.


(1) Tựa đề do Nguyên Hân đặt.
(2) Ex-POW McCain is Viet favourite for US president. The Singapore Straits Times, 15 June 2008, by Roger Mitton, Vietnam Correspondent.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image


Nhuộm Đỏ Hải Ngoại

Nguyễn Ðạt Thịnh
Manh nha của Việt Cộng nhằm nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngoại được nhật báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Việt Cộng, loan tin trong số phát hành ngày 16 tháng Sáu.

Nguyên văn bài báo như sau, “Tăng cường tập hợp, đoàn kết thanh niên Việt Nam ở ngoài nước giai đoạn 2008 – 2012, tăng cường công tác Ðoàn, Hội và đoàn kết, tập hợp thanh niên Việt Nam ở ngoài nước giai đoạn 2008 - 2012 là nội dung xuyên suốt của Nghị quyết liên tịch được Bí thư Ðảng ủy ngoài nước Phạm Sỹ Tam và Bí thư thứ nhất Trung ương Ðoàn TNCS (thanh niên cộng sản) Hồ Chí Minh Võ Văn Thưởng ký chiều 16-6 tại Hà Nội.

“Theo đó, các cấp ủy Ðảng ở ngoài nước phối hợp cơ quan đại diện (toà đại sứ, tòa lãnh sự Việt Cộng) thành lập các tổ chức Ðoàn, Hội; đa dạng các hình thức đoàn kết (ngụy trang tối đa), tập hợp rộng rãi mọi đối tượng thanh niên Việt Nam trên địa bàn. Phấn đấu đến năm 2010 ở hầu hết các địa bàn ngoài nước có cấp ủy đảng và đông thanh niên đều có tổ chức Ðoàn Thanh niên hoặc Hội Liên hiệp thanh niên hoặc Hội Sinh viên Việt Nam. Chú trọng giáo dục chính trị - tư tưởng đối với đoàn viên, thanh niên, làm tốt công tác phát triển Ðảng trong đoàn viên, thanh niên; triển khai kế hoạch thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Ðảng ủy ngoài nước và cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” do T.Ư Ðoàn phát động trong thanh niên Việt Nam ở ngoài nước,…

“Hai bên phối hợp xây dựng đề án triển khai tổ chức cho thanh niên Việt Nam ở ngoài nước được tham gia các phong trào thanh niên ở trong nước, như các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham gia phát triển kinh tế đất nước, tìm hiểu lịch sử, văn hóa Việt Nam, lao động tình nguyện, từ thiện…”.

Nghị quyết này cần được tìm hiểu qua 2 góc cạnh thực tế và pháp lý.

Trên góc cạnh thực tế, Việt Cộng đã có “đảng ủy” tại hầu hết những thành phố Hoa Kỳ có đông người Việt Nam sinh sống, chúng như con đỉa đói dai dẳng bám chân chúng ta để hút máu. Giờ này chúng ra mặt “ tổ chức Ðoàn Thanh niên hoặc Hội Liên hiệp thanh niên hoặc Hội Sinh viên…” để phá hoại tinh thần yêu nước của người Việt hải ngoại.

Mục đích chúng nhắm vào là tạo thực lực để biểu tình chống lại những cuộc biểu tình của chúng ta như chúng đã manh nha thực hiện, và đã thất bại, trong cuộc viếng thăm Hoa Kỳ của Nguyễn Minh Triết.

Chúng còn nhắm vận động “… cho thanh niên Việt Nam ở ngoài nước được tham gia các phong trào thanh niên ở trong nước, như các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham gia phát triển kinh tế đất nước, tìm hiểu lịch sử, văn hóa Việt Nam, lao động tình nguyện, từ thiện…”.

“Tìm hiểu lịch sử, văn hóa Việt Nam” có phải là nỗ lực mặc áo đỏ cho mẹ Việt Nam như lá thư ngỏ của Hồng Y Phạm Minh Mẫn viết, và có phải là thái độ chối bỏ mầu vàng của quốc kỳ Việt Nam, như Linh mục Trịnh Tuấn Hoàng tuyên bố hay không? Và “lao động tình nguyện, từ thiện…” có phải là đem tiền, đem người Việt hải ngoại về nước làm những công việc Việt Cộng có bổn phận làm nhưng không làm, không?

Việt Cộng tinh quái đã khai thác tính từ thiện của tôn giáo và của tâm hồn Việt Nam, chúng lại còn manh nha chính trị hóa thái độ “lá lành hải ngoại đùm lá rách quốc nội” để mặc áo đỏ cho tu sĩ và thanh niên hải ngoại.

Trên góc cạnh pháp lý, nghị quyết nhuộm đỏ hải ngoại của hai tên đầu xỏ Việt Cộng Phạm Sỹ Tam và Võ Văn Thưởng ký chiều 16-6 tại Hà Nội đã là nguyên cớ để cộng đồng người Việt Houston tiếp tục phản đối việc thiết lập tòa lãnh sự Việt Cộng tại Houston.

Cộng đồng Houston đã gặp những nhà dân cử của thị xã để phản đối việc này với lập luận là người Việt Houston không muốn đóng thuế trả lương cho cảnh sát giữ an ninh cho lãnh sự quán Việt Cộng. Giờ này công tác giữ an ninh và phí tổn đi kèm theo sẽ gia tăng lên rất nhiều nếu tòa lãnh sự của chúng thành công trong việc thành lập một lực lượng biểu tình chống biểu tình.

Nhưng mọi nỗ lực của Việt Cộng để nhuộm đỏ “khúc ruột ngàn dậm” rồi cũng thất bại, nhất là tại Houston. Ðại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak đã đối diện với thế hệ trẻ Việt Nam tại đây, và đã đổ mồ hôi hột, xin phép cử tọa cho ông cổi áo ngoài, trước cơn phẫn nộ lạnh, rất lễ độ, nhưng lại vũ bão không kém những trận cuồng phong quen thuộc trên ven biển Mexico.

Nguyễn Tấn Dũng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn Michalak vì Houston vừa nhận thêm viện binh: cô nghị viên Janet Nguyễn, từ Cali qua để tô điểm cho cuộc dàn chào Dũng thêm phần gay cấn.

Nguyễn Ðạt Thịnh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Thế hệ đối lập mới và nhân quyền ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Lan
62 năm sau ngày Độc lập, 32 năm sau ngày chiến tranh kết thúc, người dân Việt Nam vẫn chưa được hưởng những quyền tự do cơ bản mà Tuyên ngôn độc lập1 đã khẳng định : quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

62 năm sau ngày độc lập, 32 năm sau ngày chiến tranh kết thúc, nhân quyền vẫn đang là khát vọng của nhân dân Việt Nam, và là mục tiêu đấu tranh hàng đầu những nhà dân chủ trong và ngoài nước.

Những quyền cơ bản gắn liền với lịch sử đấu tranh của dân tộc và được luật pháp công nhận


Những quyền và tự do cơ bản ấy, trên lý thuyết, không phải là một điều mới lạ. Đấu tranh cho nhân quyền không phải là làm một cuộc cách mạng. Trái lại, tranh đấu cho quyền con người và tự đo đã luôn là khát khao của dân tộc Việt Nam từ hơn một thế kỷ nay.

Tư tưởng của các nhân sĩ yêu nước lớn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đã nhắc đến rất nhiều về quyền con người để dân tộc phát triển, có thể kể đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh2. Bản Hiến pháp năm 1946, soạn thảo và thông qua bởi một Quốc hội đa đảng, quy định một cách súc tích và rõ ràng những quyền cơ bản của con người4. Năm 1977, Việt Nam khi gia nhập Liên Hợp Quốc đã đặt bút ký Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948, cam kết tôn trọng và bảo đảm sự thực thi quyền cơ bản của người dân. Hiến pháp 1992 hiện hành6 cũng nêu rõ những quyền và tự do cơ bản ấy.

Như vậy, những quyền cơ bản mà nhân dân Việt Nam đang đòi hỏi trước tiên bao gồm các quyền và tự do quy định tại Hiến pháp 1992, Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền của Liên Hợp Quốc 1948, các công ước về Quyền Dân sự, Chính trị và về các Quyền Kinh tế, Xã hội năm 1966 mà Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn. Trong đó, có những quyền chính trị quan trọng: Quyền tự do ngôn luận (điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền, điều 69 Hiến pháp Việt Nam 1992), quyền tự do lập hội (điều 20 TNQTNQ, điều 69 HP VN 1992), quyền bầu cử tự do và công bằng (điều 21 TNQTNQ, điều 2, 3 và 7 HP VN 1992), quyền được bình đẳng trước pháp luật (điều 7 TNQTNQ, điều 52 HPVN 1992), v.v…


Thế nhưng, đến nay, người dân Việt Nam vẫn không có quyền bày tỏ quan điểm của mình, dù là ôn hòa, một cách tự do. Nhiều nhà dân chủ trong nước thậm chí chỉ vì lên tiếng kêu gọi nhân quyền đã bị bắt giam và xét xử một cách độc đoán7. Người dân không có quyền ra báo chí tư nhân8. Việt Nam cũng chưa có luật về quyền tự do lập hội. Chỉ có các hội đoàn, báo chí của Nhà nước mới được công nhận. Quyền làm chủ của người dân quy định tại điều 2 và điều 3 Hiến pháp Việt Nam bị tước đoạt. Nguyên tắc nền tảng quyền lực thuộc về nhân dân bị vi phạm một cách trắng trợn bởi tiếng nói và lá phiếu của người dân mất đi sức mạnh và ý nghĩa trong thể chế độc đảng, độc tài9. Quyền bầu cử tự do, công bằng không thể tồn tại trong thể chế độc đảng.

Đã đến lúc người dân Việt Nam cần hiểu rằng trong hơn nửa thập kỷ qua, Việt Nam bước lùi so với nhân loại về vấn đề nhân quyền.

Đã đến lúc tuổi trẻ Việt Nam lên tiếng đòi hỏi những quyền tự do cơ bản mà lịch sử, luật pháp quốc tế và Hiến pháp Việt Nam đã công nhận.

Thế hệ đối lập mới ở Việt Nam và khát vọng nhân quyền


Ngày hôm nay, một thế hệ đối lập mới ở Việt Nam đã hình thành và đang phát triển, mang một niềm tin sâu sắc rằng toàn thể nhân dân Việt Nam và mỗi cá nhân phải được hưởng những quyền và tự do cơ bản mà Tạo hóa ban cho mỗi con người.

Một tư duy dân chủ mới

Thế hệ đối lập mới ở Việt Nam, trước tiên có thể được hiểu theo nghĩa rộng: đó là một thế hệ với tư duy dân chủ mới. Đó là những nhà đấu tranh dân chủ không phân biệt xuất xứ, tuổi tác, có quan điểm đấu tranh ôn hòa và thiện chí đối thoại.

Trong thời điểm những năm 80, 90, cuộc đấu tranh cho dân chủ vẫn gắn liền với tư tưởng chống cộng, thậm chí diệt cộng, và phương pháp đấu tranh bạo động cũng không bị loại trừ. Đến bây giờ, hầu hết các tổ chức tranh đấu cho dân chủ trong nước cũng như hải ngoại đã đồng thuận ở hai điểm : đó là việc đấu tranh cho sự tôn trọng các giá trị cơ bản của con người như một trong những mục tiêu hàng đầu ; và phương pháp đấu tranh ôn hòa, bất bạo động đã trở thành xu hướng chung.



Đặc biệt, nhiều tổ chức trong nước tỏ rõ thiện chí muốn đối thoại với Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng tìm ra giải pháp cho những vấn nạn của đất nước, như trường hợp Đảng Dân chủ Việt Nam, đã được GS Hoàng Minh Chính phục hoạt ngày 1 tháng 6 năm 200610.

Tất nhiên, chỉ có thiện chí thì chưa đủ. Chỉ khi lực lượng dân chủ lớn mạnh và có tổ chức chặt chẽ thì mới có thể tạo được áp lực đáng kể lên Đảng cộng sản, buộc họ ngồi xuống bàn đàm phán. Phong trào đấu tranh của Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan là một bài học lịch sử điển hình và vô cùng quý báu11.


Thế hệ thanh niên dân chủ với tư duy dân chủ mới

Một thế hệ đối lập mới ở Việt Nam cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp : thế hệ những nhà đấu tranh cho dân chủ trẻ tuổi trong nước, đặc biệt là thế hệ sinh ra sau năm 1975. Đó là những thanh niên tiến bộ thuộc tư duy dân chủ mới.

Việc họ sinh ra trong thời bình, lớn lên trong lòng chế độ, có những tác động không nhỏ tới sự nhận thức của họ về vấn đề dân chủ. Họ không bị ám ảnh bởi chiến tranh, hận thù và sự phân biệt ý thức hệ, từ đó có một quan điểm bao dung hơn. Sự tranh đấu của họ trước tiên xuất phát từ nhận thức về những bất công, những vấn nạn tồn tại và ngày càng trầm trọng trong xã hội. Hơn thế nữa, đó là một sự dấn thân dựa trên niềm tin vào những giá trị nhân bản, những quyền cơ bản mà nhân dân Việt Nam đáng lẽ phải được hưởng để có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Sự xuất hiện và lớn mạnh của thế hệ đối lập trẻ tuổi này là tín hiệu lạc quan cho phong trào dân chủ Việt Nam, bởi họ mang tới một luồng sinh khí mới và sẽ tiếp nối công cuộc đấu tranh của những thế hệ trước.


Khát vọng nhân quyền

Thế hệ thanh niên đầu tiên sau cuộc chiến, năng động, mang nhiều khát khao thể hiện bản thân, cần tự do – sự tự do mà cơ chế chính trị ngột ngạt hiện tại đang kìm hãm12. Quyền tự do ngôn luận, mà nhiều bạn trẻ gọi đơn giản là quyền được nói, có thể được coi là một trong những tự do cơ bản mà những người trẻ luôn gắn bó, bởi khát khao thể hiện, chia sẻ và tìm kiếm sự đồng cảm trên bước đi tìm con đường của cuộc đời mình. Điều phi lý là họ không có quyền thể hiện lòng yêu nước, chỉ bởi cách họ yêu nước khác với những gì đảng cầm quyền hô hào và áp đặt. Thế nhưng, không ai có quyền giữ độc quyền yêu nước.

Những bạn trẻ yêu tự do, chuộng công lý, con đường của họ sẽ là gì trong đất nước độc tài toàn trị này, nếu không phải là đấu tranh cho tự do, cho công bằng xã hội, cho cuộc sống tốt đẹp hơn của người dân Việt Nam, và trước tiên là giành lại cho chính mình quyền được sống, quyền theo đuổi hạnh phúc, và quyền thực hiện lý tưởng phục vụ xã hội của mình theo cách mà họ muốn?


Nhiều tổ chức thanh niên đã hình thành trong nước. Có những tổ chức hoạt động bán công khai như Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ. Có những nhóm hoạt động bí mật như các nhóm sinh viên Trần Hiền Thảo- Hà Thị Đông Xuân, nhóm sinh viên Sài Gòn… Nhiều tổ chức khác được thành lập với mục đích thực thi những quyền tự do cơ bản được Hiến pháp và Luật pháp quốc tế công nhận, như Câu lạc bộ Nhà báo Tự do13, Tạp chí Phía Trước14…


Tuyệt đại đa số các tổ chức hoặc nhóm này trong bản tuyên bố thành lập đều nêu ra Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền như một trong những cơ sở pháp lý cho sự thành lập tổ chức của mình. Đặc biệt là các điều 19 và 20 liên quan tới quyền tự do ngôn luận và quyền tự do lập hội. Họ cũng khẳng định rằng đó là những quyền được quy định trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành.

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ ra đời ngày 8 tháng 5 năm 2006, khởi đầu từ Nguyễn Tiến Trung, sau khi bức thư tâm huyết của anh gửi Bộ trưởng bộ Giáo dục Nguyễn Minh Hiển15, dù không nhận được hồi đáp của chính quyền, đã có được sự hưởng ứng mạnh mẽ của người dân trong và ngoài nước, đặc biệt là các bạn thanh niên. Tổ chức THTNDC ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng của phong trào dân chủ Việt Nam, bởi đây là tổ chức chính trị đầu tiên của những người trẻ tuổi sinh ra và lớn lên trong nước.

THTNDC có quan điểm ôn hòa, đòi hỏi những quyền sinh hoạt chính trị một cách tự do, công bằng, và chủ trương đối thoại chứ không đối đầu. Các thành viên Tập Hợp hoạt động công khai trong nước đã thể hiện đúng quan điểm ấy khi luôn tỏ ra đàng hoàng, đúng mực, lịch sự khi đối diện với lực lượng công an ngày đêm theo dõi, đe dọa và quấy nhiễu họ.

Tập Hợp cũng bày tỏ mong muốn đối thoại, kêu gọi Đảng Cộng sản chủ động trong việc chuyển hóa sang chế độ dân chủ bởi đó là giải pháp duy nhất cho những khủng hoảng tại Việt Nam. Độc đảng và độc quyền chính trị là nguyên nhân của lạm dụng quyền lực, là nguyên do sâu xa nhất của tham nhũng, bất công và các vấn nạn trong xã hội hiện tại. Chấp nhận bỏ điều 4 Hiến pháp không phải là tự sát. Trái lại, đó là sự mở đường cho sự đoàn kết, các đảng phái cùng góp sức, góp trí cho sự phát triển của đất nước trong một chính trường công bằng, trong đó không loại trừ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Bởi, Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ giữ một niềm tin mãnh liệt rằng ý nghĩa thực sự của của một nền dân chủ là bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của con người, rằng công cuộc tìm kiếm sự thật chỉ có thể đạt được khi các tư tưởng khác nhau được cạnh tranh một cách công bằng. Một hệ tư tưởng phi lý sẽ bị đào thải bởi xã hội mà không cần một sự lựa chọn, áp đặt độc đoán nào bằng quyền lực.


Những nền độc tài, bằng bạo lực và kiểm duyệt thông tin, cai trị dựa trên sự thiếu hiểu biết và sợ hãi của người dân. Thông tin sẽ khiến người dân hiểu được bản chất độc tài của những người nắm quyền. Để vượt qua sự sợ hãi, người dân cần hiểu rằng những bất công cùng cực đè nén lên xã hội và chính bản thân họ, là kết quả của sự lạm dụng quyền lực, và trên hết, sự tước đoạt một cách phi lý và phi pháp những quyền tự do cơ bản của mỗi con người, mỗi công dân.


« Suối nguồn của lòng can đảm và sự vững vàng trước bạo quyền vô hạn độ thường là lòng tin son sắt vào các giá trị đạo đức thiêng liêng kết hợp với sự hiểu biết lịch sử rằng dù cho mọi khó khăn, lịch sử loài người được đặt trên một lộ trình duy nhất là sự tiến bộ cả về tinh thần lẫn vật chất», lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi đã nhận định thật xác đáng16. Những quyền con người đã và đang được tôn vinh trên phạm vi toàn cầu, đang là động lực rất lớn cho niềm tin ấy của nhân dân và tuổi trẻ Việt Nam.


Lời kết

Công cuộc đấu tranh cho dân chủ ở các nước độc tài rất cần đến sự cổ vũ và hỗ trợ của quốc tế - bởi tôn trọng và cổ vũ nhân quyền là mục đích chung của nhân loại. Sức mạnh của dư luận quốc tế sẽ là một nguồn động viên tinh thần lớn lao cho nhân dân những nước đang chịu sự kìm kẹp của độc tài.

Không chỉ vậy, nhân dân những nước ấy còn có thể trông đợi vào sự chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức từ những tổ chức đấu tranh thành công trong lịch sử, như Công đoàn Đoàn kết Ba Lan, đặc biệt là về tổ chức. Chỉ có tổ chức mới kết hợp sức mạnh của từng cá nhân thành một nguồn lực mạnh mẽ và hiệu quả để gây đối trọng lên độc tài, buộc họ nhượng bộ và ngồi xuống bàn đàm phán. Đó có thể sẽ là sự mở đầu cho một trang lịch sử mới của tự do, công bằng mà dân tộcViệt Nam đã chờ đợi trong một thời gian dài.

Tôi xin được nêu rõ rằng bài tham luận này trước hết thể hiện quan điểm của Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ mà tôi là thành viên - một quan điểm đã nhận được sự hưởng ứng của rất nhiều người dân và thanh niên trong nước. Trong tầm hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn hẹp của mình, tôi không hề có tham vọng bày tỏ tiếng nói của tất cả các nhà đấu tranh dân chủ trẻ tuổi. Âu đó cũng là sự đa nguyên tự nhiên trong xã hội mà chúng tôi đang nỗ lực bảo vệ và tôn vinh. Mong rằng quan điểm này sẽ góp một mảng màu tươi trẻ vào bức tranh xã hội sống động, đầy màu sắc, để nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế hiểu thêm về tâm tư và khát vọng của một bộ phận tuổi trẻ Việt Nam.

Nguyễn Hoàng Lan – Thành viên Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Phe bảo thủ 'đang thắng'
Tác giả: BBC


BBC Chuyên gia lâu năm về Việt Nam, GS. Carlyle Thayer, là người mới nhất góp thêm tiếng nói vào luồng phân tích cho rằng đang có cuộc tranh đua quyền lực giữa hai phe bảo thủ và cấp tiến ở Việt Nam.
Từ nhiều tháng qua, một số nhà quan sát đã nhận định những khó khăn của kinh tế Việt Nam đang làm lung lay vị thế của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Nay GS. Carlyle Thayer, tác giả của rất nhiều sách và bài báo về Việt Nam, nhận định Thủ tướng Dũng đang gặp thách thức cả trong nội bộ Đảng và trong lòng dân chúng.

Chiến trường báo chí

Viết trên tờ Wall Street Journal, ông Thayer cho rằng cần thừa nhận những thành tựu mà ông Dũng đã làm được từ khi nhậm chức thủ tướng.
Nhưng nhà phân tích người Úc này nói ông Dũng đang gặp thách thức cả trong nội bộ Đảng và trong lòng dân chúng.
Vụ bắt hai phóng viên Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải đã gây xôn xao dư luận thời gian qua.
Nhưng vụ này không chỉ liên quan chuyện tự do báo chí, mà theo ông Thayer, đằng sau đó là sự đấu đá giữa hai phe bảo thủ và cải cách.

“Những người tiến bộ không nhất thiết ủng hộ hệ thống truyền thông hoàn toàn độc lập. Nhưng họ xem truyền thông được tự do chút ít là công cụ có thể hữu dụng để giám sát tham nhũng, và nhờ đó mà giảm thiểu nguy cơ bất bình của người dân đối với sự cai trị của đảng. Những người bảo thủ xem chỉ thế thôi cũng đã là thách thức không thể chấp nhận cho đảng, và hiện tại có vẻ phe bảo thủ đang thắng.”

Theo GS. Thayer, phe bảo thủ kiểm soát được Bộ Thông tin và Truyền thông. Chính họ đã ngăn không cho một thư ký của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt được nắm bộ này. Thay vào đó, ông Lê Doãn Hợp, từ tỉnh Nghệ An, được đưa lên làm bộ trưởng.
Từ khi ông Nông Đức Mạnh tái đắc cử chức Tổng Bí thư tại Đại hội X năm 2006, có luồng dư luận cho rằng vai trò của ông Mạnh bị lu mờ trước ông Dũng.
Nhưng giờ đây, GS. Thayer, từ Học viện Quốc phòng Úc ở Canberra, lại thấy rằng nhóm bảo thủ, do ông Mạnh dẫn đầu, chiếm thế “chủ đạo trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cũng là chỗ mà khối an ninh góp mặt mạnh mẽ”.
Tại Đại hội X, Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh có số phiếu cao thứ hai sau ông Mạnh trong Ban Chấp hành Trung ương.
Trong tám thứ trưởng mới được vào Ban Chấp hành khi ấy, có ba người từ Bộ Công an.
GS. Thayer viết: “Họ coi trọng hơn cả sự ổn định chính trị và cái ghế của mình, và lo ngại về việc Thủ tướng Dũng không thể lèo lái hiệu quả trước lạm phát gia tăng và các tệ nạn xã hội khác.”

Lòng dân

Từ vị trí ngôi sao trong mắt các nhà đầu tư vài năm qua, kinh tế Việt Nam lại đang gặp nhiều khó khăn.
Truyền thông nước ngoài dạo gần đây có nhiều bài tự hỏi vì sao thị trường Việt Nam tiếp tục tuột dốc.
Lạm phát vọt lên tới 25%, mức cao nhất từ năm 17 năm qua, bóp nghẹt thu nhập của nhiều người dân và công nhân khắp nơi bãi công đòi tăng lương.
Trong bối cảnh này, GS. Thayer nói ông Dũng “cũng đang nhanh chóng đánh mất ủng hộ của người dân”.
“Nhiều người ở thành thị đã trở nên bất mãn khi ông Dũng không thể đối phó nạn ô nhiễm, tắc nghẽn giao thông hay tham nhũng. Mới nhất, lạm phát làm đau nặng túi tiền của họ.”

Đối ngoại

Đấu đá nội bộ trong đảng cũng có ảnh hưởng đến quan hệ với thế giới bên ngoài.

“Những người bảo thủ trong đảng cản trở sự mở cửa của Việt Nam khi nhấn mạnh nhân quyền và tự do tôn giáo là một phần của âm mưu diễn biến hòa bình. Nói cách khác, họ cố làm các thành viên lãnh đạo đảng lo sợ bởi ý tưởng rằng mở cửa kinh tế, đặc biệt là với Mỹ, nhất định sẽ dẫn tới mở cửa chính trị.”

Phe bảo thủ cũng “đóng vai trò lớn trong việc định hình quan hệ với Trung Quốc”.
Các vụ xuống đường phản đối Trung Quốc cuối năm ngoái vì vấn đề Biển Đông đã làm Bắc Kinh phật ý.
GS. Thayer cho biết: “Khi ông Mạnh có hội đàm cấp cao ở Bắc Kinh, những người bảo thủ đã dùng cơ hội này để thúc đẩy quan hệ giữa hai đảng, gồm cả quan hệ về tư tưởng.”
Đang có đồn đoán về một hội nghị giữa kỳ của đảng nhằm giải quyết mâu thuẫn nội bộ.
GS. Thayer lưu ý chỉ mới có một hội nghị như thế trong lịch sử, là năm 1994.
Nếu hội nghị này diễn ra, chính sách và sự lãnh đạo của Thủ tướng Dũng “sẽ bị công kích”.

Kết thúc bài viết, GS. Thayer kêu gọi “các đại biểu Quốc hội, chứ không phải phe bảo thủ đằng sau hậu trường, hãy xác lập uy quyền để xem lại chính sách của chính phủ và sự lèo lái của thủ tướng. Nếu họ không làm, những thành công gần đây của Việt Nam có thể sớm bị tước bỏ.”
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Nguy Cơ Lê Chiêu Thống Hiện Đại

Nguyễn Thanh Giang
Việt Nam kiên trì phát triển mối giao hảo với tất cả các nước trên thế giới, bất kể chế độ chính trị, trước hết với các nước láng giềng.. Đây là đường lối ngoại giao đúng đắn cần quán triệt lâu dài.

Trung Quốc là nước láng giềng lớn, có mối quan hệ lâu đời đối với Việt Nam trên nhiều phương diện: tư tưởng, văn hóa, chính trị, kinh tế, quân sự …. Bang giao hữu hảo với Trung Quốc lại càng cần được xem trọng. Chọc giận Trung Quốc để bị Đặng Tiểu Bình ra tay “dạy cho một bài học” là sai lầm tai hại xuất phát từ thói ngông cuồng, hợm hĩnh sau thắng Mỹ 1975 ! Ghi vào Hiến pháp: Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp càng chúng tỏ vô cùng non kém về tư tưởng chiến lược !

Nói vậy không có nghĩa cuộc binh đao 1979 là lỗi chỉ tại Việt Nam. Ai cho lũ Đại Hán kia được quyền dạy người bằng cách tàn bạo, khốn nạn như thế ?! Cho nên bây giờ Hồ Cẩm Đào và Nông Đức Mạnh xuê xoa nhau: “Tuy giữa hai nước vẫn còn xẩy ra việc này việc khác và điều đó là khó tránh khỏi …” là không đúng. Bỏ cái tư tưởng Đại Hán đi, bỏ cái ý đồ cầu viện đi thì không có chuyện nhượng đất, nhượng biển, không có chuyện nước ngoài bắn giết ngư phủ đồng bào mình mà cứ lặng thinh vô cảm.

Không chỉ giao thương, mà rất nên học hỏi Trung Quốc. Về mặt văn hóa và “thuần phong mỹ tục”, Trung Quốc gần gụi ta hơn Phương Tây, hơn Hoa Kỳ. Việt Nam và Trung Quốc đều từng cùng đã sa lầy trong vũng bùn Cộng sản lâu năm. Trung Quốc đang vùng vẫy để thoát ra dần dần một cách khôn khéo hơn. Về chuyện này có thể tôn họ làm sư huynh. Tuy nhiên, cần cảnh giác. Đừng để họ xui dại. Đừng để họ làm một đàng, xui mình làm một nẻo. Họ đi đêm với Nixon, trong khi xui mình chửi Mỹ thật thậm tệ, đánh Mỹ thật bạt mạng. Họ chạy hết cửa trước cửa sau xin được vào WTO trong khi xui mình cứ khoan khoan, để họ vào trước …

Chuyến thăm Trung Quốc cuối tháng 5 năm 2008 vừa qua là cần thiết. Ông Hồ Cẩm Đào thăm Việt Nam 3 lần. Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đáp lễ hơn một lần cũng có thể xem là để tỏ ra biết điều. Vả chăng, trước khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi Hoa Kỳ, ông Nông Đức Mạnh đi Trung Quốc, dẫu là chuyện cực chẳng đã, thì cũng đành cho phải phép.

Đi để “đưa quan hệ Việt-Trung tiếp tục phát triển lên tầm cao mới” thì cứ làm. Nhưng, để tiến tới “ Hai bên cùng lập nhiều cơ chế hợp tác giữa các bộ, ngành, giữa các địa phương giáp biên giới hai nước, đặc biệt là cơ chế Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương để chỉ đạo và điều phối sự hợp tác Việt Nam- Trung Quốc trên tất cả các lĩnh vực ” là đã thấy phải xem xét thận trọng.

Đến mức tuyên bố chung: “ Hai nước sẽ thiết lập đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo” thì không thể không đặt vào đây một dấu hỏi lớn. Vì sao làm ăn kinh tế, giao thương văn hóa … mà lại phải có đường dây nóng ? Đây là lần đầu tiên thiết lập đường dây nóng giữa lãnh đạo ta và lãnh đạo nước ngoài. Thời chiến trước đây cũng chưa từng phải thiết lập đường dây nóng với Liên Xô, Trung Quốc bao giờ.

Đề phòng ai đây ? Dằn mặt ai đây ?
Đường lối mèo không ra mèo, chuột không ra chuột: “Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” tạo ra trong xã hội nói chung và trong lãnh đạo đảng CSVN nói riêng hai phe phái ngày càng trở nên đối địch nhau. Trước hết, do cách làm kinh tế thị trường không đích thực mà dở giăng dở đèn, người ta đã lợi dụng một chút ranh ma “kinh tế thị trường”, một chút lăng nhăng, lơ mơ “định hướng xã hội chủ nghĩa” để hình thành một tầng lớp tư bản đỏ và địa chủ cộng sản một cách rất bạo liệt. Nếu Mác nói: “Chủ nghĩa tư bản đẻ ra giai cấp công nhân để chính giai cấp công nhân đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” thì chúng tôi nói: “Đường lối cơ hội “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”đẻ ra giai tầng tư bản đỏ cùng địa chủ cộng sản và chính họ đang đào mồ chôn CNXH ở Việt Nam” (chứ không phải mấy ông dân chủ hay bọn phản động).

Tư bản đỏ và địa chủ cộng sản muốn sống được thì phải bám Phương Tây, bám Hoa Kỳ. Vào WTO rồi mà rời Phương Tây, rời Hoa Kỳ là chết. Chinh phủ muốn có thị trường xuất nhập khẩu để bảo đảm chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm hiện đại hóa … cũng không thể không thân Phương Tây, thân Hoa Kỳ. Đường lối thân Phương Tây, thân Hoa Kỳ hợp lòng dân hơn. Phái “Kinh tế thị trường”, trong đó có Chính phủ và Nhà nước lại được tư bản đỏ và địa chủ cộng sản phù trợ hơn nên có thế hơn. Dư luận cho rằng cần có Đại hội Đảng giữa nhiệm kỳ để thống nhất chức Chủ tịch Nước và Tổng bí thư vào tay ông Nguyễn Minh Triết; hoặc là, đưa ông Nguyễn Thiện Nhân lên ghế thủ tướng để thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lên làm Tổng bí thư. Phái “Định hướng xã hội chủ nghĩa” vừa không được tư bản đỏ cung phụng nhiều bằng phái kia, vừa không được lòng dân nên yếu thế. Muốn cố thủ mấy cái ghế, họ đành tìm sức mạnh ở sự bảo hộ của ngoại bang. Ghế là quyền, quyền không chỉ đẻ ra tiền để dược phè phỡn mà còn được ngất ngây trong tung hô, trong phỉnh nịnh …. Cho nên phải sống chết mà giữ lấy ghế. Bằng mọi thủ đoạn, kể cả đánh giết nhau. Lặng lẽ là ám sát, đầu độc, quyết liệt thì dàn quân ra mà xả đạn, trút bom lên đầu … dân chúng !

Ứng viên tổng bí thư Lâm Bưu đã từng tan xác trên máy bay. Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, tổng bí thư Triệu Tử Dương …. đã từng bị các đồng chí trong Bộ Chinh trị cho chết rũ xác trong lao tù cộng sản.

Ở Việt Nam dường như cũng đã có dấu hiệu chẳng lành.

Ai đã đánh bom nhà thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sạt cả cổng sắt hồi Tết năm ngoái ?

Không thể là dân thường, cũng không phải bọn “phản động” trong hay ngoài nước…. Bởi nếu thế thì báo chí đã đưa tin kẻ này, kẻ kia bị trừng trị rồi

Tin một vị chức sắc của Tổng cục 2 tuyên bố: Tổng cục 2 đã có công bảo vệ sự lưu nhiệm cho tổng bi thư Nông Đức Mạnh và ngăn chặn sự xuất hiện Gorbachev ở Việt Nam thì chưa được kiểm chúng rõ ràng, nhưng tin tổng bi thư Nông Đức Mạnh đến trao danh hiệu Anh hùng Lao động cho tổng cục 2 thì báo chi đã đăng rành rành.

Sao lại vô nguyên tắc đến thế ! Sao lại ngang nhiên chà đạp lên Hiến phap như thế. Đảng chỉ lãnh đạo chứ Đảng đâu có quyền làm thay, có quyền qua mặt lấn sân Nhà nước ! Trao bằng sắc, danh hiệu này nọ phải là việc của chủ tịch nước hay thủ tướng chứ.

Lại nữa, Tổng cục 2 là anh hùng thời chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ thì được nhưng đã lòi ra Vụ T4 mà còn được tặng danh hiệu Anh hùng thời Đổi mới thì vỗ mặt nhau thẳng cánh quá, chà đạp dư luận, chà đạp lẽ phải và công lý thẳng thừng và trơ tráo quá !

Hồi mới lên, ông Nguyễn Tấn Dũng hăng hái muốn chứng tỏ chống tham nhũng mạnh mẽ hơn người tiền nhiệm nên bất chấp con rể Nông Đức Mạnh đang là yếu nhân trong PU18, bất chấp Đảng đang cơ cấu Nguyễn Việt Tiến vào Trung ương để chuẩn bị ngồi ghế bộ trưởng vẫn ra lệnh tống giam Nguyễn Việt Tiến.

Bây giờ người ta quật lại, không chỉ thả Nguyễn Việt Tiến mà còn phục hồi đảng tịch. Thả Nguyễn Việt Tiến thì phải tống tù một người nào đó it nhất tương đương Nguyễn Việt Tiến chứ. Sao lại chỉ bắt giam hai nhà báo ? Hỏi rằng, ai đã chỉ đạo cả một chiến dịch với hàng ngàn bài báo và hai cuốn sách bôi nhọ một cán bộ cao cấp của Đảng ? ( đến mức đưa tin lột truồng cave ra, đổ bia cả vào chỗ kin của thị mà liên hoan tập thể với nhau ! ). Bôi nhọ cán bộ cao cấp của Đảng tức là bôi nhọ Đảng đến thế còn gì !

Trận trả đòn điên cuồng đang diễn ra, bất chấp dư luận, bất kể danh dự, uy tin Đảng này chứng tỏ cơn cuồng nộ của họ đã dẫn họ đến trạng thái mất trí.

Trạng thái mất trí này hoàn toàn có khả năng sẽ còn khiến họ làm những việc khủng khiếp không lường được.

Thực tế đã đánh giá lời tuyên bố huyênh hoang sau chiến thắng 75 của ông Lê Duẩn: Đất nước từ nay vĩnh viễn sạch bóng quân xâm lược. Dẫu sao, chắc hẳn trong vòng mươi lăm năm tới, không nước nào dám, cũng không nước nào dại gì xâm lăng Việt Nam, ngoại trừ Trung Quốc. Vậy thiết lập đường dây nóng với Trung Quốc để đề phòng ai ? Dự định đánh nhau với ai ? Phải chăng sẽ là với các “đồng chí phản động” trong Bộ Chính trị như kiểu Triệu Tử Dương ? Hay là, chuẩn bị đối phó với “Thiên An Môn Việt Nam” bằng những sát thủ đã dầy dạn kinh nghiệm ?

Có lẽ họ biết họ sẽ không dễ dàng xua bộ đội Việt Nam, công an Việt Nam thảm sát nhân dân Việt Nam. Bộ Chính trị chia hai phái thì quân đội, công an không thể hoàn toàn thuộc về họ. Nhất là họ it được lòng dân hơn. Cho nên …

Đảng CSVN đã nhiều phen chia làm hai phái. Nhờ phái có xu hướng dân tộc chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quôc thắng phái cộng sản quốc tế cực đoan của Trần Phú, Hà Huy Tập mà có Cách mạng Tháng Tám, có Điện Biên Phủ. Do phái chủ trương giải phóng Miền Nam bằng bạo lực với mọi giá của Nguyễn Chi Thanh, Lê Đức Thọ, Lê Duẩn khống chế được phái đã có lúc nghiêng về chủ trương thống nhất đất nước bằng thi đua hòa bình của Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh mà dân tộc lâm vào cuộc thảm sát Mậu Thân … rồi bị quốc tế tẩy chay, bị Mỹ cấm vận … để đến nay đất nước vẫn còn khốn đốn và ngày càng tụt hậu xa so với thế giới.

Bây giờ, vận mệnh dân tộc sẽ ra sao nếu phe phản động chế ngự được phe cấp tiến ?

Không, nhất định không thể để như vậy. Hãy sáng suốt kíp thời nhìn nhận cho rõ và quyết tâm ngăn chặn bọn này.

Đã thấp thoáng bóng Lê Chiêu Thống hiện đại. Đất nước có nguy cơ lại rơi vào vòng đô hộ của một ngoại bang tồi tệ hơn tất cả các ngoại bang trong thế kỷ qua.

Tôi xin khẩn thiết cảnh báo và tha thiết kêu gọi.

Hà Nội 16 tháng 6 năm 2008
Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Last edited by thienthanh on Wed Jun 25, 2008 1:43 am, edited 1 time in total.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image


Cần Áp Lực Cực Mạnh Lên Cuộc Mỹ Du Của Nguyễn Tấn Dũng
Tác giả: Lý Đại Nguyên

Đường lối tuyên truyền huê dạng về chính sách ngoại giao toàn cầu của Việtcộng, nhằm che mắt thiên hạ về việc Việtcộng trước sau gì cũng vẫn kiên trì thực hiện kế hoạch vừa làm đàn em của Tầu, vừa kết thân với Mỹ, vừa cố bám độc quyền chính trị, vừa mở rộng kinh tế, vừa cố duy trì hệ thống quốc doanh ăn cướp, vừa muốn gia nhập thị trường tự do toàn cầu. Chính vì vậy, mỗi lần Việtcộng phải cho một lãnh tụ chính quyền sang Mỹ để làm công tác giao hảo và vận động đầu tư, thì lại phải cho một lãnh tụ đảng sang Tầu để vuốt ve và nhận chỉ thị từ quan thầy Trungcộng, rồi ngay sau chuyến Mỹ du về, kẻ được nói truyện trực tiếp với Tổng Thống Mỹ phải lập tức sang tận Bắc Kinh để báo cáo lại với các lãnh tụ của nước quan thầy. Nhằm làm nhẹ bớt không khí cuộc đu giây kiểu này, Việtcộng đã đồng thời phái một lãnh tụ khác thực hiện chuyến Tây du, để cho nó ra vẻ đó là chính sách ngoại giao toàn cầu.

Để chuẩn bị cho chuyến Mỹ du chính thức của thủ tướng Việtcộng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 24 tháng 6 này, thì từ ngày 30/05 đến ngày 02/06/08, theo lời mời của Hồ Cẩm Đào tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Hoa, Nông Đức Mạnh, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam đã thực hiện cuộc viếng thăm Trungcộng. Ngày 01/06/, hai bên đã ra một tuyên bố chung gồm 9 điểm. Trong đó 2 bên “nhấn mạnh sẽ tiếp tục duy trì truyền thống quan hệ mật thiết giữa 2 đảng, muốn tiếp tục tổ chức hội thảo lý luận, đào tạo cán bộ lãnh đạo và tuyên truyền, giáo dục truyền thống hữu nghị giữa nhân dân 2 nước.” Riêng phía Việtnam khẳng đinh: “Không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào đối với Đài Loan.” Trong khi đó, Đài Loan là nước đầu tư đứng thứ nhì ở Việtnam chỉ sau Đại Hàn. Ở đây thấy rõ Trungcộng đạt được mục đích chính trong cuộc Hoa du của Nông Đức Mạnh kỳ này là “đào tạo cán bộ lãnh đạo” cho cộng đảng Việtnam. Nghĩa là Việtnam có thể giao hảo với bất kỳ nước nào, kể cả Mỹ, nhưng Trungcộng vẫn nắm vững trong lòng bàn tay thành phần lãnh đạo Việtnam là đủ.

Còn chuyến Tây du của Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước Việtcộng hiện nay, cũng chỉ là dịp để Triết chứng tỏ sự dốt nát, hay là cố ý dốt nát để thực hiện phương châm “ngu si hưởng thái bình,” như trong chuyến chính thức viếng thăm nước Mỹ trước đây, khi được hỏi: “Việtnam có bỏ tù những người bất đồng chính khiến không?” Triết trân tráo trả lời: “Việtnam xử lý những người vi phạm luật pháp Việtnam. Đó không phải là bất đồng chính kiến”. Trong khi dư luận trong và ngoài nước đều biết rõ, tất cả những người bị kết án tù như: Lm Nguyễn Văn Lý, Ls Nguyễn Văn Đài, Ls Lê Thị Công Nhân … họ chỉ là những người lên tiếng đòi hỏi Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyển cho toàn dân, một cách ôn hòa, chứ không có bất cứ hành vi bạo động nào. Trong chuyến viếng thăm Tân Tây Lan, Triết đã mượn diễn đàn ở đó, để tự khẳng định lập trường trung kiên với cộng đảng, khi đưa ra câu tuyên bố: “Bỏ điều 4 Hiến Pháp là tự sát”, chẳng ăn nhằm gì với chuyến công du một nước ngoài. Thế rồi trong chuyến công du Na Uy ngày 05/06/08 vừa đây, trả lời cuộc phỏng vấn Đài Truyền Hình Quốc Gia Na Uy -NRK- Triết đã nhơn nhơn nói rằng: “Ở Việtnam không có vấn đề gọi là Nhân Quyền” . Làm cho cả chính phủ lẫn dân chúng Na Uy ngẩn tò te. Ngày 09/06/08 tại Hy Lạp, Triết đề nghị chính phủ Hy Lạp hỗ trợ Việtnam trong việc vận động để Liên Âu công nhận Việtnam có nền Kinh Tế Thị Trường, và để Ủy Ban Âu Châu dành cho Việtnam được hưởng Quy Chế Ưu Đãi Thuế Quan. Trong khi Kinh Tế Việtnam vẫn còn nằm trong cái hố đen tối của nền Kinh Tế Thị Trường theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghiã, lấy công ty Quốc Doanh làm chủ đạo sắp sụp đổ.


Chính dịp Mạnh đi Tầu, Triết đi Tây, Dũng chuẩn bị đi Mỹ, thì kinh tế Việtnam lâm nguy. Phe Mạnh nhận được sự hỗ trợ của Tầu, muốn nhân cơ hội này, đổ tội cho Dũng, nhằm lật Dũng trong cuộc họp hội nghị 7, khóa 10 của Trung Ương Đảng vào tháng Bảy này. Nhưng để cứu nguy cho kinh tế Việtnam hiện nay thì phải nhờ tới Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế -IMF- , các nước cấp viện, các tổ chức tài chánh quốc tế, và phải tạo nổi niềm tin để thu hút vốn đầu tư ngọai quốc. Mà ai cũng biết Mỹ là nước có đủ điều kiện, uy tín, khả năng để hỗ trợ cho chương trình cứu nguy đó. Chứ nhất định không phải là Trungcộng, quan thầy truyền thống của Việtcộng. Vì kinh tế Trungcộng tuy phát triển có vẻ dữ dằn, mà rất bấp bênh, vì đó vẫn chưa phải là nền Kinh Tế Thị Trường thực sự, nhất là Trungcộng bị đặt trong hoàn cảnh khắc nghiệt là khát dầu, đồng Mỹ Kim xuống giá mạnh, ảnh hưởng tới khối lượng Mỹ Kim khổng lồ mà Trungcộng đang ôm và hàng hóa của Trungcộng trên thị trường thế giới trở thành đắt đỏ tính theo Mỹ Kim. Nhất là nạn thiên tai động đất, lụt, bão đang đang gây khốn khổ cho dân, nó ngốn đi hàng chục tỷ Mỹ Kim của Trungcộng, và mối lo Kỳ Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008, tháng 8 này, không được như ý. Vậy còn hơi sức đâu mà lo cho đàn em Việtcộng. Nhưng về chiến lược lâu dài thì Trungcộng đang rút ngòi nổ chiến tranh, làm hòa với Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản trên mặt Đông Bắc Á. Còn vẫn củng cố sức mạnh quân sự nhằm bành trướng xuống vùng Đông Nam Á, mà Việtnam là trở lực lớn.


Do đo, chuyến Mỹ du này, vừa cứu cho điạ vị lãnh đạo của Nguyễn Tấn Dũng, vừa cứu cho kinh tế Việtnam khỏi rơi xuống vực thẳm. Nên, tuy thế của Nguyển Tấn Dũng đang yếu trong nội bộ đảng, nhưng sẽ trở thành mạnh khi được Mỹ hậu thuẫn. Với Mỹ thì ưu tiên trong thời điểm này là thực hiện giai đoạn chót của kế hoạch Nhập Nội Toàn Diện tại Việtnam, bất kể Dũng hay là ai, có can đảm và khả năng thực hiện nổi yêu cầu đó thì sẽ được Mỹ hậu thuẫn. Việc Mỹ chính thức viện trợ quân sự cho Campuchia của Hunsen là một dấu hiệu cho thấy Mỹ đã Nhập Nội Campuchia Toàn Diện, để nói với thế giới, nhất là Khối ASEAN là Mỹ không quay lưng lại với vùng này, và đây còn là cơ hội tập cho Việtnam có tinh thần độc lập, mà lựa chọn thế đứng thật vững cho Việtnam trong thế chủ động hòa bình đối tác kinh tế với Trungcộng và Thế Giới, thay vì phải làm tay sai, lép vế với Trungcộng như từ năm 1991 đến nay. Việc gì cũng phải hỏi ý kiến Trungcộng và phải nhường cho Trungcộng đi bước trước. Chuyến Mỹ du này của Nguyễn Tấn Dũng dù có làm nên cơm cháo gì với Mỹ hay không, thì bổn phận và trách nhiệm của Người Việt Hải Ngoại cũng phải gây áp lực cực mạnh đối với Dũng, để buộc Dũng, kể cả chính phủ Hoa Kỳ không thể để cho Việtcộng né tránh vấn đề Tôn Trọng Nhân Quyền, Tự Do Hóa Xã Hội, Tư Doanh Hóa Kinh Tế và Dân Chủ Hóa Chế Độ mãi được. Đừng sợ làm như thế Việtcộng sẽ quay trở lại ôm chân Trungcộng. Vì Trungcộng cũng không thể vượt nổi áp lực tài chánh của thế giới đang đè nặng xuống nền kinh tế của họ. Nếu Dũng bị Mỹ bỏ rơi thì Kinh Tế Việtnam sẽ bị khủng hoảng trầm trọng, xã hội động loạn, số phận của Việtcộng kể như sẽ kết thúc.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Kinh Tế Kiểu 'Bán Bến'
Tác giả: Ngô Nhân Dụng
Ông Nguyễn Tấn Dũng đã hẹn gặp ông Allen Greenspan, cựu thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Mỹ. Nghe như một con bệnh đi tìm thầy thuốc. Kinh tế Việt Nam trên đà tụt giốc. Ông Greenspan thì đang làm cố vấn cho các ngân hàng và quỹ đầu tư Mỹ và quốc tế; một bài thuyết trình của ông được trả hàng trăm ngàn Mỹ kim, một lời khuyên của ông có thể chuyển dịch hàng tỷ Mỹ kim đi nơi khác tìm cơ hội đầu tư. Ông là một nhà tài chánh lỗi lạc và đầy kinh nghiệm ở nước Mỹ, nhưng ông Greenspan có biết gì về kinh tế một nước đang chuyển từ chế độ cộng sản sang chế độ tư bản như Việt Nam hay không?

Ông Greenspan có thể khuyên ông Nguyễn Tấn Dũng và đảng Cộng Sản của ông hãy làm theo đúng sách vở: Muốn kinh tế phát triển bền vững, phải xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch tôn trọng và bảo vệ quyền tư hữu, một hệ thống chính trị cởi mở cho mọi người có cơ hội thăng tiến đồng đều, và một chính sách kinh tế vĩ mô ổn định bảo vệ niềm tin của mọi người vào tương lai, trong đó có niềm tin vào giá trị của đồng tiền trong tay họ.

Tất cả những liều thuốc trên, ở Việt Nam có hàng ngàn chuyên gia kinh tế biết đủ hết; và họ còn biết nhiều hơn ông Greenspan về tình trạng thực tế trên địa bàn. Tức là họ có thể đưa ra những đề nghị cụ thể và sát với thực trạng hơn ông rất nhiều. Sở dĩ nền kinh tế nước ta vẫn chậm lụt so với các nước láng giềng, lạm phát lên trên 25%, cán cân thương mại khiếm hụt bằng hơn một phần ba Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, là vì đảng cộng sản không nghe theo những khuyến cáo của các chuyên gia kinh tế có đầu óc độc lập ở trong nước. Một điều mà các chuyên gia kinh tế Việt Nam đã kêu gọi, là phát triển nền kinh tế tư nhân thay thế cho các doanh nghiệp nhà nuớc. Chắc ông Allen Greenspan cũng sẽ khuyên ông Nguyễn Tấn Dũng y hệt như vậy. Nhưng đảng Cộng Sản bị kẹt, không thể nào thi hành được.

Ngay từ năm 1986 khi đảng cộng sản bất đắc dĩ phải thay đổi kinh tế để thoát chết, nhiều người đã khuyến cáo họ phải giải phẫu ngáy cái ung nhọt “kinh tế quốc doanh.” Ông Võ Văn Kiệt, khi làm thủ tướng, đã cổ động và đã bắt đầu làm công việc giải phẫu đó. Nhưng cánh thủ cựu chống lại ý định này, chống kịch liệt và dai dẳng. Cách đây hai năm cựu Tổng Bí Thư Ðỗ Mười vẫn còn hô hào bảo vệ và phát huy kinh tế quốc doanh, vẫn ôm giấc mơ trở về mô hình Xô Viết cũ để “theo định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Tới đời ông Phan Văn Khải làm thủ tướng, đảng Cộng Sản quay lại củng cố kinh tế quốc doanh. Ông Khải cho thành lập những “tổng công ty,” tức là những xí nghiệp quốc doanh lớn hơn trước, đóng vai thống ngự từng lãnh vực kinh tế. Hậu quả là các tổng công ty được đảng cộng sản ưu đãi đã lấn áp giới kinh doanh bên ngoài đảng, khiến kinh tế tư nhân không thể phát triển cao lên được. Khi Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng, ông còn đi xa hơn một bước nữa, ông kết hợp nhiều tổng công ty lại thành những “tập đoàn kinh tế.”

Ai cũng thấy các ông Khải và Dũng đã theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” của Ðỗ Mười. Bên ngoài, họ khoác cho chủ nghĩa Ðỗ Mười cái áo mới, là mô hình “chaebol” của Nam Hàn. Tuy nhiên trong thực tế, Cộng Sản Việt Nam chỉ bắt chước được hình thức các chaebol, trong cốt tủy thì bản chất khác xa. Ðây là một vụ ngụy tạo lớn để lừa dối người và tự lừa dối mình!

Các chaebol của Hàn Quốc (cũng như các zaibatsu và keiretsu ở Nhật Bản) ở chính nước họ cũng đã bị chê là lỗi thời. Trên căn bản, các chaebol hay Keiretsu là những công ty tư nhân, hoặc ít nhất phải hoạt động như tư nhân vì phải cạnh tranh đồng đều với các tư nhân khác. Có làm có ăn, lời ăn lỗ chịu, tất cả chịu sự kiềm thúc của một hệ thống ngân hàng thương mại theo đúng quy tắc thị trường. Họ phải hoạt động trong xã hội tự do dân chủ và tôn trọng luật pháp, phải cạnh tranh gắt gao, cho nên mọi chaebol hay keiretsu đều phải cố gắng nâng cao hiệu quả kinh tế. Không những tình trạng lên, xuống của mỗi công ty đều dựa trên hiệu quả kinh tế, mà mỗi nhân viên trong xí nghiệp cũng được đánh giá, thưởng, phạt về hiệu quả kinh tế. Khi mọi người và mọi xí nghiệp đều có “động cơ tự nhiên” phải tìm cách làm ăn hữu hiệu hơn, thì năng suất và hiệu quả của cả nền kinh tế cũng tăng lên. Ðó là sức mạnh của kinh tế thị trường khi không bị bóp méo theo một định hướng vẩn vơ nào cả.

Còn ở Việt Nam thì khác. Các tổng công ty và tập đoàn kinh tế do các đảng viên Cộng Sản kiểm soát và được đảng bảo vệ. Không có một thế lực nào bên ngoài đảng Cộng Sản có thể kềm thúc họ, vì các định chế hành chánh và luật pháp đều nằm trong tay cùng một đảng. Các tổng công ty và tập đoàn kinh tế, từ cấp chỉ huy cho tới nhân viên của họ, không có “động cơ tự nhiên” thúc đẩy họ cố gắng nâng cao hiệu quả. Nhưng cùng lúc đó họ có thế lực lấn áp các xí nghiệp tư nhân, dù tư nhân cố gắng làm việc hữu hiệu hơn. Giới kinh doanh tư bị yếu thế trong trận đấu cạnh tranh kinh tế, khi trọng tài đứng về phía các doanh nghiệp nhà nước.

Trong khung cảnh như vậy, các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước Cộng Sản còn tạo thêm cơ hội cho các tập đoàn kinh tế sử dụng tài nguyên mà không cần biết đến những nhiệm vụ kinh tế có tính chiến lược mà đáng lẽ họ phải hoàn tất. Công ty Petro Việt Nam trong 20 năm qua không dựng xong một nhà máy lọc dầu, để cho Việt Nam là một nước sản xuất dầu mà vẫn phải nhập cảng xăng. Nhưng công ty dầu khí này lại đi mở ngân hàng và đang xây khách sạn 5 sao kiếm khách! Công ty điện lực đang bắt đầu một dự án 250 triệu Mỹ kim làm khu du lịch và giải trí trên bờ biển! Những “chaebol” này tha hồ sử dụng tiền của nhà nước, tức là tiền của dân, trao cho họ với mục đích bảo đảm cung cấp đủ điện, xăng, khí đốt cho dân. Họ lại dùng tài nguyên “trời ban” này để đè bẹp sự phát triển của kinh tế tư nhân! Trong lúc đó, dân đang khổ vì điện bị cúp, xăng khan hiếm! Công ty Vinashin đáng lẽ làm nhiệm vụ đóng tầu thủy thì lại mở các nhà máy sản xuất khác, mở ngân hàng, đầu cơ trong thị trường chứng khoán, đi làm rượu bia, và đang xin vay 3 tỷ Mỹ kim để làm dự án khai thác hàng hải thương thuyền, số nợ này được ngân khố của nhà nước, tức là của quốc dân bảo đảm. Trong mấy năm nay hầu hết các tổng công ty và tập đoàn kinh tế của đảng Cộng Sản đều tham dự vào canh bạc thị trường chứng khoán và địa ốc, đi vay tiền để mua cổ phiếu, và được các ngân hàng thương mại ưu đãi khi đi vay! Tiền của quốc dân đã được đem đi đánh bạc một cách vô tội vạ như thế!

Có thể coi tất cả đảng Cộng Sản là một “siêu tập đoàn kinh tế” bao trùm lên các tập đoàn kinh tế và tổng công ty hiện nay. “Siêu tập đoàn kinh tế Cộng Sản” chiếm độc quyền khai thác các tài nguyên của đất nước và sức lao động của dân Việt Nam. Ðảng Cộng Sản đã hát bài “Quốc Tế Ca” từ 80 năm trước đây, với lời mơ ước: “Bao nhiêu lợi quyền sẽ về tay mình!” Từ khi cướp được chính quyền, họ thực hiện giấc mơ đó, giành mọi quyền lợi cho các đảng viên hưởng.

Ðịa vị độc quyền của đảng Cộng Sản tạo ra cơ hội này. Ðó là một hệ thống dùng độc quyền chính trị để khai thác tài nguyên thiên nhiên và sức người của cả một quốc gia. Không khác gì hồi xưa họ khai thác những người cần “mua bến” khi vượt biên. Ðảng Cộng Sản đã đứng ra bán bến lấy tiền, ông Nguyễn Tấn Dũng chắc biết rất rõ công việc này.

Tại sao người ta có thể “bán bến?” Bờ, bến có sẵn đó, thuộc về của tất cả mọi người Việt Nam, có thuộc về quyền sở hữu của ai không mà có người được quyền “bán?” Vì họ chiếm độc quyền chính trị. Vì họ đóng vai công an kiểm soát đường sá và việc sử dụng bến, cảng.

Nhưng tại sao lại có những người phải “mua bến?” Vì họ đã bị đẩy vào cảnh khốn cùng, phải tìm cách thoát ra! Hiện nay không còn những người vượt biển nữa. Nhưng vẫn còn những thanh niên khốn khó phải đi ra ngoài bán sức lao động, những cô gái phải đi lấy chồng ngoại quốc hoặc phải bán thân. Ðảng Cộng Sản vẫn tiếp tục đứng thầu công tác “bán bến” cho những nạn nhân của chính sách kinh tế của đảng. Cảnh bán bến ngày xưa hay bây giờ, cũng giống việc tạo dựng những tập đoàn kinh tế, đều dựa trên một mô thức trước sau như một. Là một bọn người chiếm độc quyền cai trị, do đó cũng chiếm độc quyền khai thác tài nguyên và sức lực của cả dân tộc. Kinh tế quốc doanh là hình thức cao nhất và có hệ thống nhất của đường lối kinh tế đó. Tất cả hệ thống kinh tế của đảng cộng sản hiện vẫn theo “mô hình bán bến!”

Ông Allen Greenspan có biết gì về mô hình bán bến này hay không? Chắc chắn ông sẽ khuyên ông Nguyễn Tấn Dũng hãy giải phóng cho kinh tế tư nhân ở Việt Nam được phát triển. Chắc ông sẽ khuyến cáo phải cải tổ hệ thống tài chánh để các ngân hàng theo quy luật thị trường chứ không chỉ bảo vệ quyền lợi các đảng viên. Tất cả những lời khuyên này, các nhà kinh tế Việt Nam ở trong nước đã nói từ hai chục năm nay. Nhưng đảng Cộng Sản không nghe theo, vì nếu giải phóng cho dân Việt Nam được tự do kinh tế thì đảng sẽ mất quyền bán bến! Muốn kinh tế nước ta phát triển, phải tước bỏ cái độc quyền bán bến đó, tức là phải thay đổi từ cơ bản, xóa bỏ độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Do Thái có thể sẽ tấn công Iran
Tác giả: Daily Telegraph, Khúc Hạ lược dịch


Bolton John, cựu đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc đã dự đoán rằng Do Thái có thể sẽ tấn công Iran sau cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ tháng Mười Một nhưng trước khi người kế nghiệp ông George W Bush tuyên thệ nhậm chức.

Thế giới Ả Rập sẽ “rất vui” khi Do Thai tấn công vào những trung tâm chế tạo vũ khí hạt nhân của Iran, ông ta đã nói thế trong một buổi phỏng vấn với tờ báo Daily Telegraph.

"Người ta sẽ mừng thầm trong bụng, mặc dù ngoài mặt sẽ có những lời tố cáo, nhưng sẽ không có hành động nào cả”. Ông ta tuyên bố.

Ông Bolton, một con diều hâu không bao giờ biết nhượng bộ, đã từng đưa ra những giải pháp quân sự nhằm ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân, phàn nàn về sự thiếu quyết tâm của chính quyền Bush khi nghĩ đến viêc tấn công Iran.

"Rõ ràng là chính quyền đã bỏ dự định tấn công Iran”, Bolton nói. “Tôi không nghĩ rằng chính phủ còn nghĩ đến việc này một cách nghiêm túc nữa. Nếu bạn hỏi tôi về việc này một năm trước đây thì tôi đã nói chiến tranh với Iran thực sự có thể xẩy ra. Nhưng bây giờ thì khác rồi”.

Tuy nhiên Do Thái vẫn còn quyết tâm muốn ngăn chặn Iran có vũ khí hạt nhân. Bolton lập luận. “Khoảng thời gian tối ưu” cho việc tấn công nằm giữa cuộc bầu cử vào ngày 4 tháng mười một 4 và ngày tuyên thệ tổng thống vào ngày 20 tháng Giêng, 2009

"Người Do Thái đang chú tâm quan sát mọi diễn tiến vì tốc độ phát triển vũ khí hạt nhân nhanh chóng cũng như gia tăng phòng thủ bằng cách mua những hệ thống phòng không mới của Nga và cài đặt những trung tâm vũ khí hạt nhân vững vàng hơn”.

"Họ cũng đang theo dõi lịch trình bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Tôi cho rằng họ không muốn làm gì trước ngày bầu cử của chúng ta, vì không thể lường trước được những tác động có thể có trên kết quả của cuộc bầu cử”.

Nhưng ngồi đợi đến sau khi Obama Barack, ứng cử viên đảng Dân Chủ hoặc đối thủ của ông ta là John McCain, đảng Cộng Hòa, ngồi yên vị trong Nhà Trắng thì việc tấn công có thể bị ngăn trở thêm 4 năm nữa, hoặc ít nhất là bị trì hoãn.


"Nếu Obama đắc cử thì Do Thái sẽ không dùng giải pháp quân sự, vì với chính sách đối ngoại của Obama, họ sẽ e ngại hậu quả của chiến tranh”. Ông Bolton, là đại sứ Hoa Kỳ của tổng thống Bush tại Liên Hiệp Quốc từ năm 2005 đến 2006, đã tuyên bố.

"Dù McCain đắc cử, họ vẫn có thể bị trì hoãn. Trong hoàn cảnh càng chờ lâu thì càng có lợi cho Iran, tôi tin rằng tấn công sớm thì tốt hơn, trừ phi có những biến cố nào mới”.

Chính sách của McCain về Iran, mà Bolton hỗ trợ, thiệt thực hơn lập trường của tổng thống Bush nhiều".

Obama nói ông sẽ có những cuộc thảo luận sơ khởi với Iran mà “không đòi hỏi một điều kiện gì", trong khi đó McCain cho rằng thà dùng giải pháp quân sự với Iran còn hơn là để cho nước này trở thành một quốc gia có vũ khí hạt nhân tối tân.

Kristol William, một người cực kỳ bảo thủ, vào ngày Chủ Nhật đã cho đài Fox News biết rằng, nếu Obama thắng cử, có lẽ tổng thống Bush sẽ tấn công Iran. “Nếu tổng thống (Bush) nghĩ McCain sẽ đắc cử, ông sẽ cho là để cho vị tổng thống kế tiếp quyết định tấn công Iran thì hay hơn là chính ông khởi sự tấn công vào cuối nhiệm kỳ”. William Kristol nói.

Tuần trước, máy bay phản lực của người Do Thái đã thực hiện một cuộc thực tập tầm xa qua Địa Trung Hải. Tình báo Mỹ kết luận rằng đây là cuộc tập dợt cho việc tấn công Iran.

Ali Hosseini Mohammad, phát ngôn nhân bộ ngoại giao Iran, phát biểu rằng đây là một động tác “chiến tranh tâm lý” vô ích.

"Họ (Do Thái) không có khả năng đe dọa Cộng hòa Hồi giáo Iran. Do Thái có một số khủng hoảng nội địa và họ muốn dùng chiến tranh để che dấu những khủng hoảng này.

Đôi khi họ đưa ra những khẩu hiệu thật trống rỗng và vô nghĩa."

Ông ta nói thêm rằng Tehran sẽ phản ứng một cách “khốc liệt” với bất kỳ sự tấn công nào.


Vào Thứ sáu, ElBaradei Mohamed, đầu não của cơ quan năng lượng nguyên tử Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc, cho rằng việc tấn công Iran sẽ biến Trung Đông thành một trái banh lửa và khiến Iran tăng tốc độ phát triển vũ khí hạt nhân.


Ngược lại, Bolton gạt đi những ý niệm ngầm đe dọa này. "Điều then chốt là để Do Thái thoát ra khỏi tầm kiểm soát của Iran trong chu kỳ cung ứng nhiên liệu cho vũ khí hạt nhân, thí dụ như phá hủy trung tâm chuyển biến hóa chất Urani ở Esfahan hay làm phong phú chất Uran tại Natanz.

"Điều đó không giải quyết được vấn đề nhưng nó có thể kéo dài thời gian để Do Thái có thể tìm ra một giải pháp lâu dài.

Kéo dài được bao lâu? Thật khó biết được. Điều này tùy thuộc vào tầm tai hại của sự phá hủy."
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image


THỦ TƯỚNG CSVN NGUYỄN TẤN DŨNG VÀ HOUSTON

Bài Ls. Hoàng Duy Hùng - Ảnh của Trương Sĩ Lương
Image
Tháng 3/2008, trên trang nhà điện tử của Bộ Quốc Phòng Trung Quốc cho biết trong Chiến Tranh Việt Trung Lần II vào năm 1984, trong một đêm, Trung Quốc giết sạch 3700 quân của Cộng Sản Việt Nam ở núi Lão Qua. Lão Qua nằm trong lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc chiếm đóng núi này cho tới ngày hôm nay. Cộng Sản Việt Nam không dám lượm xác các đồng đội nên Trung Quốc đã cho hóa chất thiêu đốt tất cả các quân nhân tử thương này. Bên phía Việt Nam thinh lặng hoàn toàn trước tin động trời đó.

Tổng Bí Thư CSVN Nông Đức Mạnh lập tức đi Bắc Kinh. Sau chuyến viếng thăm Bắc Kinh trở về, Nông Đức Mạnh phục hoạt chức vụ cho một lô nhân sự cấp tướng trong quân đội và công an mà Nguyễn Tấn Dũng đã cách chức trước đây. Sự kiện đáng lưu ý nhất đó là Nông Đức Mạnh hỗ trợ cho Thứ Trưởng Giao Thông Vận Tải Nguyễn Việt Tiến quật ngược lại vụ án PMU18. Nguyễn Việt Tiến được miễn tố, được phục hồi đảng tịch, được ngồi lại chức vụ cũ. Sau đó, Nguyễn Việt Tiến truy tố 2 nhà báo Nguyễn Văn Hải (33 tuổi) làm cho báo Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến (56 tuổi) làm cho báo Thanh Niên bị bắt và bị truy tố về tội lạm dụng chức năng loan tin thất thiệt về vụ PMU18. Ngay cả thiếu tướng công an Phạm văn Quắc phe của Nguyễn Tấn Dũng cũng bị kỷ luật vì lý do đã điều tra vụ PMU18.
Image
Hai phe trong ĐCSVN đang đấu đá nhau kịch liệt thì thế giới lâm vào cơn khủng hoảng nhiên liệu và lương thực. Đồng tiền Dollar của Mỹ bị sút giá trầm trọng nên cả thế giới lâm vào tình trạng lạm phát. Đồng tiền Việt Nam dựa trên đồng Dollar của Mỹ nên lạm phát tăng vọt một cách chóng mặt đến độ cựu Giám Đốc Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ lên tiếng cảnh báo Việt Nam có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế như các quốc gia Đông Nam Á đã bị vào năm 1998. Phe của Nông Đức Mạnh đổ lỗi cho sự suy thoái kinh tế là do phe miền nam của Nguyễn Tấn Dũng quá yếu kém không biết điều hành công việc cách hữu hiệu.

Đứng trước bối cảnh này, đầu tháng 4/2008, phe Nguyễn Tấn Dũng tung tin Nguyễn Tấn Dũng được Tổng Thống George W. Bush mời sang viếng thăm Hoa Kỳ. Họ còn tung tin Nguyễn Tấn Dũng sẽ vững mạnh thay thế Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí Thư trong nay mai chớ không phải đợi tới Đại Hội XI vào năm 2012. Ngày 24/4/2008, trong bài nói chuyện với các doanh gia do Greater Partnership of Houston tổ chức, Đại Sứ CSVN Lê Công Phụng cho biết ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ đến Houston vào cuối tháng 6 năm 2008. Dư luận cho rằng nhân cơ hội này ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ chủ tọa buổi lễ khánh thành Tòa Tổng Lãnh Sự ở thành phố đông dân Việt đứng hàng thứ hai ở hải ngoại sau Nam California.
Image
Nhận được tin tức này, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Phụ Cận lập tức triệu tập một phiên họp khoáng đại để bầu chọn một ủy ban để đối phó với việc này. Đại Hội Khoáng Đại đã biểu quyết thành lập Ủy Ban Phối Hợp Hành Động Chống Cộng Sản do Đông Y Sĩ Đào Văn Thảo làm điều hợp viên.

Ngày 6/6/2008, Cộng Đồng đã tiếp xúc với Hội Đồng Thành Phố Houston và thành phố hứa sẽ không tiếp xúc Nguyễn Tấn Dũng cũng như sẽ thành lập Ủy Ban Hỗn Hợp với Cộng Đồng để ngăn chận việc thành lập Tòa Tổng Lãnh Sự CSVN vì sự hiện diện của Tòa Tổng Lãnh Sự sẽ gây náo loạn và nhiều cuộc biểu tình làm cho thành phố phải tốn kém nhiều tài chánh. Phiên họp này được phối hợp bởi bà cựu chủ tịch Kim Nguyễn và bà Helen Chang, Đổng Lý Văn Phòng Thành Phố.
Image
Ngày 10/6/2008, qua sự phối hợp của Hội Văn Hóa Khoa Học, Đại Sứ Michael Michalak đã tiếp xúc Cộng Đồng, và trong cuộc tiếp xúc này, ông cho biết Hà Nội sẽ thiết lập Tòa Tổng Lãnh Sự tại Houston. Cộng Đồng trình bày quan điểm của mình đó là bao lâu không có Dân Chủ và Tổng Tuyển Cử tự do thì bất cứ một viên chức nào của Hà Nội đến Houston nói riêng và hải ngoại nói chung đều sẽ phải đối phó với những cuộc biểu tình rầm rộ phản đối. Cộng Đồng cho biết sẵn sàng có một buổi đối luận công khai với sự tham gia của các cơ quan truyền thông báo chí và với sự điều hợp của chính phủ Hoa Kỳ để tìm ra một giải pháp tốt đẹp nhất cho Việt Nam. Đại Sứ Michael Michalak cho biết điều đó khó có thể thực hiện vì Cộng Sản Việt Nam không chấp nhận điều này. Cộng Đồng trình bày lại rõ ràng những người Việt hải ngoại chống Cộng không phải vì ám ảnh quá khứ hay hận thù mà là do lòng yêu nước muốn cho quê hương của mình lành mạnh cả xác và hồn, đó là phát triển kinh tế song hành với phát triển các giá trị tinh thần gồm có dân chủ và tự do.

Ngày 11/6/2008, ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng CSVN, người đã từng đỡ đầu cho Phan Văn Khải và Nguyễn Tấn Dũng, qua đời ở Singapore. Cái chết của ông có nhiều mờ ám. Nhiều người tin rằng ông đã bị phe thân Trung Cộng của Đỗ Mười – Nông Đức Mạnh sát hại bằng hình thức đâm vào bụng hay bị đầu độc. Ông Kiệt qua đời 24 tiếng mà không một tờ báo điện tử nào ở Việt Nam loan tin. Trong thời gian này, có nguồn tin được tung ra cho biết có thể Nguyễn Tấn Dũng phải hủy bỏ chuyến công du Hoa Kỳ vì e ngại có những biến chuyển hoặc đảo chánh khi ông ở nước ngoài. Sau khi đã dàn xếp xong ở trong hậu trường, CSVN mới long trọng làm lễ quốc táng cho Võ Văn Kiệt và các báo điện tử của Việt Nam công bố tổng quát chuyến công du Hoa Kỳ của ông Nguyễn Tấn Dũng từ ngày 24 – 26/6/2008.

Trước khi đi sâu vào nguyên do và hệ quả chuyến công du của Nguyễn Tấn Dũng, chúng ta nên biêt sơ qua về tiểu sử của ông.
Image
Image
I. Tiểu Sử Nguyễn Tấn Dũng?

Nguyễn Tấn Dũng sinh ngày 17/11/1949 tại Cà Mau. Năm 2005, một bài báo do ông Hoàng Dũng, cựu cán bộ Văn Phòng Trung Ương, tung ra một tài liệu cho biết Nguyễn Tấn Dũng là con rơi của cố Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh, em cùng cha khác mẹ của Nguyễn Chí Vịnh, một nhân vật gây nhiều sóng gió trong Tổng Cục 2. Hoàng Dũng tường trình lại những lời kể của cố Tổng Bí Thư CSVN Nguyễn Văn Linh như một nhân chứng sống hùng hồn để tăng sự khả tín cho bài viết của mình. Theo lời kể của Nguyễn Văn Linh, năm 1948-1959, Nguyễn Chí Thanh làm bí thư Liên Khu Uỷ Khu IV, và trong thời gian này, ông đã quan hệ với một nữ cán bộ ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng. Hoàng Dũng còn cho biết Nguyễn Tấn Dũng còn có một người em ruột tên là Nguyễn Tiến Thắng, tự là Tư Thắng, ngoại hình rất giống Nguyễn Tấn Dũng.

Ngay từ lúc niên thiếu, năm 1961, Nguyễn Tấn Dũng tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, trở thành một trong những du kích trẻ tuổi nhất. Nhiệm vụ của Dũng là giao liên. Năm 1967, Nguyễn Tấn Dũng chính thức tham gia Đảng Cộng Sản. Trong thời gian này, ông theo học Đại Học Hòa Hảo. Sau năm 1975, ông làm trưởng phòng công an của tỉnh Minh Hải. Nhờ có công triệt hạ cao trào đấu tranh của anh hùng Trần Văn Bá từ Pháp về, ông được thăng chức vùn vụt. Thời gian này, người ta gọi ông là “Dũng Xà Mâu.”

Ngày 27/6/2006, ông thay thế ông Phan Văn Khải ở cương vị Thủ Tướng. Ông là một trong những vị thủ tướng trẻ tuổi nhất của thế giới.

II. Mục Đích Của Chuyến Công Du

Nguyễn Tấn Dũng công du Hoa Kỳ có những mục tiêu như sau:
1. Nhờ Hoa Kỳ cân bằng lực lượng của phe Thân Trung Cộng mà giáo sư Stephen Young gọi là Đảng Hán Ngụy. Tháng 12 năm 2007, Trung Cộng tuyên bố thiết lập Huyện Tam Sa trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa làm cho Hoa Kỳ không yên tâm ở Biển Đông. Đặc biệt, tháng 2/2008, Trung Cộng tuyên bố đã chiếm lấy núi Lão Qua vào năm 1984 cho thấy dã tâm của Trung Quốc là từng bước một gậm nhấm lãnh thổ Việt Nam để kiểm soát Đông Nam Á Thái Bình Dương. Chính vì lý do này nên trong buổi tiếp xúc vào ngày 24/6/2008 tại Tòa Bạch Ốc, Tổng Thống George W. Bush đã không nặng lời về đề tài nhân quyền với ông Nguyễn Tấn Dũng như đã từng làm với Nguyễn Minh Triết vào năm 2007. Đối lại, Tổng Thống Bush nhấn mạnh ủng hộ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam như một lời nhắn gởi phe Hán Ngụy và Bắc Kinh rằng Hoa Kỳ không dễ dàng gì để cho Bắc Kinh múa máy quay cuồng một mình ở Đông Nam Á Thái Bình Dương đâu.

2. Vận động đầu tư của các công ty Hoa Kỳ ngõ hầu cứu nguy nền kinh tế có thể gặp phải khủng hoảng trong những ngày tháng tới. Năm 2008, 214 đại công ty của Hoa Kỳ đã đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn lên tới nhiều tỷ Mỹ Kim. Năm 2007, giao thương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lên tới 12.5 tỷ Mỹ Kim. Để giúp cho Việt Nam tăng triển thăng bằng với ảnh hưởng Trung Quốc, Hoa Kỳ sẵn sàng đón nhận nhiều nhân công Việt Nam biết tiếng Anh và thông thạo tay nghề vào nước Mỹ trong những ngày tháng tới.

3. Vuốt ve và chiêu dụ người Việt hải ngoại vì đây là bầu sữa lớn của chế độ. Năm 2008, Việt kiều gởi về nước khoảng 10 tỷ Mỹ Kim. Tại Houston, Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố “Việt kiều là một bộ phận không thể tách rời được của dân tộc.”

Vận động xin viện trợ nhân đạo và giáo dục. Để được viện trợ nhân đạo, Nguyễn Tấn Dũng nhắc lại vụ án da cam để đánh động lòng xót thương của dân bản xứ. Công ty Fullbright, một công ty lớn của Hoa Kỳ, đồng ý chi ra một tài khoản lớn để bảo trợ giáo dục cho Việt Nam. Xin nhắc lại, trong buổi gặp gỡ Cộng Đồng Houston, Đại Sứ Michael Michalak tuyên bố năm nay ông đã cấp ra 90 ngàn visa du học cho Việt Nam, và có thể sẽ tăng thêm gấp đôi trong năm tới. Đại Sứ Michael Michalak cho biết hãy để cho sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ, họ học và sống nếp sống dân chủ, họ sẽ đem mô hình của Hoa Kỳ về dần dà áp dụng trên quê hương Việt Nam. Đây là ánh nhìn rất lạc quan của một viên chức Hoa Kỳ nhưng nói lên cả một chính sách của quốc gia này trên tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

III. Mặt Trái và Mặt Phải Của Chuyến Công Du

A. Mặt Phải: Chuyến công du của Nguyễn Tấn Dũng mang lại nhiều lợi nhuận cho CSVN, tạo uy tín cho CSVN và cá nhân Nguyễn Tấn Dũng trên chính trường, giúp họ xiết chặt lại ghế cai trị của chúng. Đây là cơ hội để cho CSVN rêu rao trên các phương tiện truyền thông trong nước là họ có chính nghĩa nên mới được kẻ cựu thù Hoa Kỳ đón tiếp long trọng.

B. Mặt Trái. Trước đây CSVN lếu láo tuyên bố Việt Nam Cộng Hòa chạy theo ăn bơ sữa của Mỹ và Tây Phương, bây giờ, chuyến công du này của Nguyễn Tấn Dũng là một hình thức nhổ ra liếm lại của CSVN. Hiện nay, CSVN chia làm hai phe rõ rệt, phe thân Hoa Kỳ và phe thân Trung Cộng. Sau chuyến công du Hoa Kỳ, Nguyễn Tấn Dũng sẽ được thế mạnh hơn để trả đũa phe Hán Ngụy, từ đó, hố sâu phân hóa của ĐCSVN ngày càng một sâu đậm hơn.

Thêm vào đó, CSVN bị ê mặt trước sự biểu tình rầm rộ của người Việt tỵ nạn cộng sản lên án bộ mặt phi nhân của chúng và chúng không thể nào đại diện cho dân tộc Việt Nam. Nguyễn Tấn Dũng đã bị đả đảo dữ dội tại ngay Tòa Bạch Ốc và ở Houston, đã không dám hiên ngang đi giống như các phái đoàn ngoại giao khác là những chứng tích hùng hồn CSVN không có chính nghĩa, Cộng Sản Việt Nam bị chính dân tộc Việt Nam phỉ nhổ.

IV. Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Phải Làm Gì?

Trong xã hội dân chủ, vũ khí sắc bén để nói lên tiếng nói của mình là biểu tình, biểu tình ôn hòa, tránh những chuyện bạo động. Biểu tình là một hình thức đi bỏ phiếu, và bỏ phiếu có sức mạnh như thế nào thì biểu tình cũng có sức mạnh như vậy. Những cuộc biểu tình này đã làm cho quốc tế có lý do làm áp lực lên trên CSVN muốn được hỗ trợ thì phải tôn trọng nhân quyền, phải trả tự do các tù nhân lương tâm, các tù nhân chính trị, các nhà lãnh đạo tinh thần, v.v. Trong chuyến công du kỳ này, CSVN hứa thả một khuôn mặt tù nhân chính trị nối tiếng Ls. Lê Thị Công Nhân với điều kiện Ls. Lê Thị Công Nhân phải đi Hoa Kỳ tỵ nạn. Ls. Công Nhân từ chối điều kiện này và nhất quyết ở lại Việt Nam tranh đấu dầu có phải ngồi tù dài dài.

Ngoài việc tổ chức và tham gia cuộc biểu tình, người Việt tỵ nạn cộng sản nên thành lập một phái đoàn vào ngay trong Quốc Hội, trao các tài liệu cho các dân biểu, thượng nghị sĩ và nội các của Tổng Thống Bush, vạch trần cho Quốc Hội và Tổng Thống Bush thấy vì quyền lợi của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ không nên “đầu tư” 100% vào CSVN vì CSVN nổi tiếng là lật lọng. Thay vì yểm trợ cho CSVN hàng tỷ Mỹ Kim, Hoa Kỳ nên dành lại ít nhất là 10 triệu Mỹ Kim để yểm trợ cho các lực lượng Quốc Gia, các lực lượng cộng sản phản kháng, các lực lượng đấu tranh dân chủ, ngõ hầu tạo một thế cân bằng trong chính trị (political equilibrium). Đó là sự “đầu tư” khôn ngoan và lợi ích nhất cho Hoa Kỳ, và dầu người Việt Quốc Gia chưa có “lãnh đạo” hay chưa có quy về một mối, không sao, cứ yểm trợ cho nhiều nhóm, nhiều nhóm đấu tranh cản bước không cho CSVN múa gậy vườn hoang muốn làm gì thì làm, vạch trần cho quốc dân đồng bào biết tội lỗi bán đất dâng biển cho Trung Cộng thì CSVN phải e ngại và phải ngã về phía Hoa Kỳ. Trình bày với ông tư bản là phải trình bày cho họ thấy quyền lợi hơn là “nhân quyền” thì chắc chắn với sự trình bày này, Quốc Hội Hoa Kỳ và Nội Các của Tổng Thống Bush sẽ yểm trợ chúng ta nhiều hơn.

Phái đoàn cũng nên đề nghị với Nội Các của Tổng Thống Bush tổ chức một buổi diễn đàn công luận giữa người Việt tỵ nạn cộng sản và phái đoàn của CSVN về đề tài đất nước cũng như làm thế nào xây dựng đất nước trong bối cảnh Trật Tự Thế Giới Mới. Ánh sáng không sợ tối tăm, cây ngay không sợ chết đứng thì chắc chắn trong diễn đàn này người Việt Quốc Gia sẽ làm rạng tỏ chính nghĩa của mình, và cộng sản, vì là ác quỷ Dracula, chắc chắn sẽ bị ánh sáng chính nghĩa đó thiêu rụi. Phái đoàn người Việt Quốc Gia đề nghị với Nội Các của Tổng Thống Bush, nhưng chắc chắn phái đoàn của CSVN sẽ từ chối.

Sau cùng, các cơ quan truyền thông và các lực lượng đấu tranh phổ biến về nước tin tức các cuộc biểu tình chống Nguyễn Tấn Dũng, phân tách nội tình phân hóa của CSVN ngõ hầu dân chúng phấn chấn lên trong cuộc đấu tranh này. Đặc biệt, các lực lượng đấu tranh có những “đường giây” trong nước khai thác triệt để sự phân hóa của hai phe thân Trung Cộng và thân Hoa Kỳ, đẩy sự phân hóa này thêm trầm trọng hơn, và nhờ đó, biết đâu được cơ may đến cho dân tộc Việt Nam giống y như chuyện sụp đổ của Cộng Sản tại Liên Xô năm 1990.

V. Chi Tiết Chuyến Công Du

Vì e ngại những cuộc biểu tình rầm rộ của người Việt hải ngoại, CSVN tung hỏa mù lộ trình chuyến đi của mình để cho người Việt không kịp huy động nhân sự. Chương trình chuyến đi của Nguyễn Tấn Dũng thay đổi liên tục.

Chiều ngày 23/6/2008, Nguyễn Tấn Dũng bay đến Washington D.C. Ông gặp cựu Giám Đốc Ngân Hàng Alan Greenspan để nhờ cố vấn ngăn chận lạm phát tại Việt Nam. Ngày hôm sau, phái đoàn CSVN đến Bộ Thương Mại, ông đã bị đoàn biểu tình phản đối dữ dội và vội vã đi vào tòa nhà với nỗi cay đắng tột cùng. Lúc 12 giờ trưa, ông đến Tòa Bạch Ốc, phái đoàn đã bị đoàn biểu tình khoảng 600 người giương cao cờ Vàng làm họ phải lủi thủi đi vào trông rất thảm thương. Năm nay, Tổng Thống Bush không nhắc nhở đề tài dân chủ và nhân quyền như năm ngoái Tổng Thống Bush đã nhắc nhở ông Nguyễn Minh Triết. Tổng Thống Bush nói nhiều đến sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của Việt Nam như một lời nhắn gởi với Bắc Kinh chớ quá vọng động. Nguyễn Tấn Dũng ký một bản giác thư với Tổng Thống Bush nói lên quan điểm và lập trường của hai quốc gia trong vấn đề chính trị, ngoại giao, giáo dục, và kinh tế.

Trong khi đó, một phái đoàn khác của CSVN (không có Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến này), vào trưa 24/6, đã đáp xuống phi trường Dallas – Forth Worth chuẩn bị về Houston đã bị đồng hương nơi này phát giác và khoảng 200 người đã cầm cờ Vàng biểu tình phản đối ngay tại phi trường cho thấy nơi nào Cộng Sản tới thì nơi đó có phản đối dầu rằng được thông tin rất ngắn ngủi.

Sáng ngày 25/6, Nguyễn Tấn Dũng gặp gỡ Bộ Giáo Dục của Hoa Kỳ. Qua buổi gặp gỡ này, Hoa Kỳ hứa giúp xây dựng những đại học tại Việt Nam theo kiểu mẫu Hoa Kỳ. Đại Công ty Fullbright bảo trợ các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh cho các đại học Việt Nam.

Chiều 25/6, phái đoàn của ông Nguyễn Tấn Dũng bay về Houston ngụ tại khách sạn Hilton trên đường Post Oak và West Loop. Đúng giờ phút đó, hơn 1000 người đã tụ tập tại Hong Kong City Mall với rừng cờ Vàng biểu dương lực lượng. Các cơ quan truyền thông lớn tại địa phương như tờ Houston Chronicle, Đài 11, Đài 13, v.v. đều có tường trình về sự biểu dương lực lượng này và trình bày nguyện vọng của Cộng Đồng là bao lâu Việt Nam không có tổng tuyển cử và hệ thống dân chủ thì bấy lâu sẽ có phản đối khi một viên chức CSVN đến thành phố này. Cộng Đồng cũng đã đưa ra một tín hiệu rất rõ ràng đó là không chấp nhận một tòa tổng lãnh sự tại nơi này.

Sáng ngày 26/6, ông Nguyễn Tấn Dũng và phái đoàn hơn 100 người tới khu Galeria để gặp gỡ các thương gia Hoa Kỳ. Tháp tùng phái đoàn này có cựu Thủ Tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ. Nhiều người lấy làm xấu hổ trước thái độ của ông Nguyễn Cao Kỳ rất khúm núm trước Nguyễn Tấn Dũng. Hàng năm, Việt Nam mua khoảng 5 triệu Mỹ Kim bông vải sợi tại Texas nên kỳ này rất nhiều nhà trồng bông vải sợi của Hoa Kỳ đến gặp Nguyễn Tấn Dũng. Ông Dũng cũng ký một văn bản đặt mua 10 chiếu máy bay Boeing 737.

Vấn đề thương mại với Houston, năm 2007, nguyên liệu bông vải đã chuyển đi từ cảng Houston về Việt Nam là 1.9 triệu Mỹ Kim và Việt Nam đã chuyển đến cảng này các mặt hàng càfé, trà, bún, nước mắm, gạo, v.v. lên tới 86.7 triệu Mỹ Kim.

Trong khi phái đoàn CSVN gặp gỡ các doanh gia, khoảng 3000 người Việt với rừng cờ Vàng biểu tình ở ngoài hô to các khẩu hiệu đòi hỏi tự do và dân chủ cho Việt Nam. Cộng Đồng nói vọng trên loa bằng tiếng Anh cho người Mỹ biết Việt Nam chưa có dân chủ, và ở trong chế độ luật rừng của Việt Nam thì đầu tư rất là bấp bênh. Tinh thần tranh đấu của đoàn biểu tình rất cao, thành phố phải huy động rất nhiều cảnh sát để bảo vệ an ninh và để phòng hờ lỡ có những bạo động xảy ra.



Khoảng 1 giờ trưa phái đoàn Cộng Sản Việt Nam rời khỏi khu vực Galeria. Lúc đó trời bắt đầu đổ mưa nặng hộ, đoàn biểu tình cũng chấm dứt.

VI. Hệ Quả Của Chuyến Công Du

Sau chuyến công du này của Nguyễn Tấn Dũng, để được những ưu đãi về kinh tế, CSVN phải mở rộng hơn về sinh hoạt nhân quyền và chính trị, trả tự do cho một số nhà bất đồng chính kiến. Có người dự trù nội các của Tổng Thống Bush yêu cầu ĐCSVN xóa bỏ điều 4 cái gọi là Hiến Pháp Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, chấp nhận có tự do tín ngưỡng và báo chí trong nước để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử dưới sự giám sát của quốc tế. Đây là ảo vọng vì chắc chắn cộng sản không dám cho có tự do báo chí trong nước. Phe thân Hoa Kỳ muốn được Hoa Kỳ ưu đãi thì phải theo những điều kiện trên, phe thân Trung Quốc sẽ chống đối. Dầu có chống đối bao nhiêu đi nữa, dân chủ là khuynh hướng của toàn cầu nên dân chủ cũng sẽ đến với Việt Nam. Hệ quả này đương nhiên không phải một sớm một chiều, nó sẽ tiệm tiến, chậm mà chắc, và nếu cơ trời cho phép có những biến ứng, nó có thể diễn ra trong một tương lai gần.

Lời Kết:

Người Ý có câu châm ngôn: “Không vinh quang nào mà không qua chặng đường đau khổ và khó khăn.” Cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ của dân tộc ta cũng vậy, chắc chắn sẽ có nhiều gian truân và thử thách, chúng ta phải kiên trì, không thể nào ù lì ngồi chờ sung rụng, phải làm hết mình vì không ai thương dân tộc chúng ta bằng chúng ta.

Có người nêu lên ý kiến tại sao biểu tình chống Nguyễn Tấn Dũng khi Hoa Kỳ muốn dùng phe CSVN để ngăn chận ảnh hưởng phe Hán Nguỵ? Xin thưa, Cộng Sản nào cũng là Cộng Sản, biểu tình chống đối là phản đối cơ chế độc đảng. Nếu Nguyễn Tấn Dũng và phe miền Nam có can đảm tuyên bố xóa bỏ điều 4 hiến pháp chấp nhận tổng tuyển cử tự do thì chắc chắn họ không bị biểu tình phản đối mà có lẽ ngược lại họ được sự hoan nghênh của toàn dân.

Houston Texas ngày 27/6/2008
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Cộng Sản Việt Nam Với Nền Kinh Tế Khố Rách
Tác giả: Mai Vĩnh Thăng


Thứ Sáu tuần qua sở Thống Kê Cộng Sản Việt Nam (CSVN) chính thức tuyên bố ngân sách mậu dịch đã thâm hụt 14.42 tỷ Mỹ kim chỉ trong 5 tháng đầu năm 2008, và có thể lên đến 20 tỷ Mỹ kim cho đến cuối năm. Giá trị nhập cảng trong thời điểm nầy 37.82 tỷ Mỹ kim trong khi xuất cảng 23.4 tỷ Mỹ kim. Nguyên nhân chính làm cho mức thâm hụt vọt nhanh là vì giá dầu và khí đốt, nhập cảng vật liệu xây cất và phân bón.

Mậu dịch

Mậu dịch thâm thủng là sự khác biệt giữa số ngoại tệ Việt Nam thu vào khi xuất cảng và chi ra khi nhập cảng. Đơn giản, lấy tổng số giá trị hàng hàng hóa xuất cảng trừ cho tổng số nhập cảng, nếu xuất cảng lớn hơn nhập cảng là dấu hiệu kinh tế lành mạnh. Ngược lại, hiện tại cán cân mậu dịch Việt Nam bị thâm hụt 14.42 tỷ Mỹ kim so với 11 tỷ trong năm qua. Mậu dịch thâm thủng là việc bình thường không thể tránh, tùy theo khả năng xuất cảng và nhu cầu nhập cảng. Tuy niên rất nguy hiểm cho Việt Nam là vì ngân sách dự trữ ngoại tệ cho hối đoái chỉ còn 20.5 tỷ Mỹ kim gồm cả vàng, cỗ phần và vốn đầu tư của quốc gia có thể chuyển ra tiền mặt nếu cần. Khi ngân hàng nhà nước thanh toán số tiền thâm hụt trên, ngân sách dự trữ sẽ còn lại chừng 6.10 tỷ Mỹ kim. CSVN sẽ đi đến phá sản nếu không được Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế ứng trước, một hình thức tạm cho Việt Nam vay nợ mà họ đã từng áp dụng trong quá khứ.

Mậu dịch Việt Nam đang trên đà cháy túi trừ khi Đồng Việt Nam phá giá để có thể cạnh tranh xuất cảng với các quốc gia trong vùng. Tuy nhiên khi đồng Việt Nam phá giá có thể gây tốn kém cho giới nhập cảng và kỷ nghệ trong nước. Vì Đồng Việt Nam mất giá so với ngoại tệ khi nhập cảng nguyên liệu, vì thế giá hàng hóa thành phẩm sẽ cao và lạm phát cũng sẽ vì đó mà tăng thêm.

Ngoại tệ dự trữ

Còn gọi là dự trữ hối đoái, ngân hàng trung ương Việt Nam dành riêng dự trữ ngoại tệ, đồng Mỹ, Nhật, Âu, Úc, vàng khối hay công khố phiếu ngoại quốc mà Việt Nam mua . Tổng số ngoại tệ, vàng và công khố phiếu ngoại quốc trị giá 20.5% tỷ Mỹ kim hiện nay. Số ngoại tệ này dùng để đổi tiền cho xuất nhập cảng, đầu tư và nhất là hỗ trợ và làm quân bình số nợ quốc gia cùng việc phát hành tiền nội địa. CSVN trữ Mỹ kim nhiều hơn các loại ngoại tệ khác là ví áp dụng chính sách hối đoái dùng Mỹ kim làm căn bản để từ đó đổi sang các ngoại tệ khác.

Lạm phát

Lạm phát hiện nay là 30% cao hơn những năm vừa qua, tăng 21% từ tháng 3/07 và 18% kể từ tháng 12/07. CSVN cố gắng nâng cao mức tăng trưởng kinh tế đến thái quá, chẳng những không mang lại kết quả mong muốn mà còn có thể gây nguy hại cho nền kinh tế. Lạm phát Việt Nam có thể còn tăng cao hơn nữa khi đồng Việt Nam phá giá. Lịch sử kinh tế các quốc gia đang phát triển vùng Á Châu 25 năm qua, hiếm khi một quốc gia có thể phục hồi trong tình trang lạm phát cao mà không phải trãi qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế.

Ngày xưa miền Nam trù phú với đất rộng người thưa nên không thiếu ăn. Hiện nay dân số Sài Gòn độ 10 triệu, với lạm phát 30% thực phẩm lên giá làm cho dân chúng phải lo tích trữ thức ăn. Sở dĩ làm như vậy là vì ảnh hưởng của lạm phát và thường xuyên khan hiếm nhu yếu phẩm. Từ khi đồng Việt Nam mất giá, mất tin tưởng ở chính quyền nên dân chúng trữ vàng, là đơn vị tiền tệ vững chắc và an toàn. Thái độ nầy cho thấy nhà cầm quyền CSVN không có khả năng ổn định kinh tế. Càng mất tin tưởng ở chính quyền, giá vàng càng tăng nhanh. Mặc dù giá vàng tăng cao nhưng số lượng vàng nhập cảng lại càng nhiều hơn trước kia. Theo thống kê Ngân Hàng Thế Giới, chỉ trong vòng 4 tháng đầu năm 2008, Việt Nam chi ra 1.2 tỷ Mỹ kim để nhập cảng 43 tấn vàng.

Chứng khoán

Thị trường chứng khoán là biểu tượng của nền kinh tế.

Trong quá khứ, thị trường chứng khoán đã nhiều lần tiên đoán chính xác về tình trạng suy thoái kinh tế thế giới. Cộng sản Việt Nam cũng không ngoại lệ, sự vững mạnh hay sụp đỗ thị trường chứng khoán được xem như biểu tượng thịnh suy của nền kinh tế Việt Nam. Thị trường chứng khoán thường thay đổi đột ngột và đôi khi còn gây ra ngộ nhận. Tuy nhiên không vì thế mà CSVN lại không lưu tâm đến sự liên quan giữa thị trường chứng khoán và kinh tế. Thay đổi giá cả trên thị trường chứng khoán, cũng là sự thay đổi giá trị tăng trưởng thực sự của nền kinh tế quốc nội. Vì thế mỗi khi thị trường chứng khoán bị tụt giá trầm trọng, điển hình như hiện nay, cũng chính là lúc người ta lo âu là vì tình trạng suy thoái kinh tế đã cận kề.

Thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập năm 2005 với số vốn chưa đầy 1 tỷ Mỹ kim. Thời điểm cao nhất chứng khoán Sài Gòn và Hà Nội vào tháng 3/07 trị giá 29 tỷ Mỹ kim, hơn 40% tổng sản lượng quốc nội. Tuy nhiên, trước tháng 3/07 thị trường tụt giá 65% và giữ ở mức trung bình 60% cho đến nay. Vì cỗ phần mất giá nên giới đầu tư trong nước chán nản, ngoại quốc không thể bỏ chạy vì thị trường chậm, nhiều người bán nhưng ít người mua.

Cho đến cuối tháng 3/08, biên độ 1% đặt trên hối suất cố định với Mỹ kim (Crawling peg) khi trao đổi ngoại tệ và mua bán cỗ phần. Trong một cố gắng ngăn chận thị trường chứng khoán tụt dốc, kể từ tháng 4/08 CSVN cho tăng biên độ lên 2% trong khi lạm phát 30% thật không đáng kể, nhất là đối với kỹ nghệ xuất cảng. Chuyên viên phân tích tài chánh của Merrill Lynch, Deutsche Bank và Morgan Stanley đã cảnh cáo trừ khi CSVN tăng lãi suất, phá giá đồng Việt Nam, đóng cửa các ngân hàng vỡ nợ không sinh lợi. Về phía cầm quyền, cần phải cắt giảm ngân sách chi tiêu, nếu không sẽ khó tránh khỏi khủng hoảng tài chánh.

Tồi tệ nhất là nếu là nếu CSVN không làm gì cả, trường hợp nầy họ sẽ không thể bảo vệ an toàn cho hối suất giữa đồng Việt Nam và Mỹ kim. Chừng ấy sẽ không còn ngoại tệ dự trữ để điều hành hối đoái và sẽ đi đến tình trạng khủng hoảng tài chánh như Thái Lan năm 1997. Ngân sách dự trữ ngoại tệ hối đoái Thái Lan vào 1997 chỉ còn 22 tỷ Mỹ kim vì mậu dịch thâm thủng như Việt Nam hiện nay.

Vì sao giá trị cỗ phần và sinh hoạt kinh tế lên xuống cùng lúc ?

Lý thứ nhất là giá trị kinh tế của vốn đầu tư, cùng hai yếu tố cung và cầu. Hiện tại chúng ta đang chứng kiến giá trị chỉ số chứng khoán Việt Nam đang tụt dốc trầm trọng chỉ còn 60% so với giá mua lúc phát hành ban đầu. Kinh nghiệm cho thấy đây là thái độ bi quan của giới đầu tư thị trường chứng khoán Việt Nam. Chính vì thái độ bi quan nên người mua vào thì ít nhưng bán ra nhiều. Tình trạng nầy sẽ đưa thị trường chứng khoán đến mất quân bình, cung lớn hơn cầu, từ đó cỗ phần bị mất giá. Lãi suất vay nợ ngân hàng cũng là một yếu tố quan trọng không kém. Cho dù với lãi suất thấp, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa và các dịch vụ trong thời gian này cũng sẽ yếu dần, nhu cầu sản xuất chậm lại và sẽ đưa đến tình trạng thất nghiệp cao hơn.

Ngoài ra còn 2 lý do phụ liên quan đến giá trị cỗ phần và vận mệnh kinh tế Việt Nam. Thứ nhất, cỗ phần là một phần tài sản, sự thịnh vượng của gia đình. Cỗ phần mất giá sẽ gây thiệt hại về tài chánh cho gia đình, từ đó việc mua sắm sẽ giảm. Thất nghiệp gia tăng, cỗ phần tụt giá sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến nhu cầu sản xuất. Thứ hai, cỗ phần mất giá có thể là ảnh hưởng của kế hoạch kinh tế dài hạn, sai lầm và tồi tàn của bọn cầm quyền thất học. Những lý do trên cho thấy mức sản xuất và cung cấp hàng hóa tương lai của Việt Nam sẽ chậm lại không như bọn CSVN tiên đoán, nhất là những con số mang màu sắc chính trị lòe loẹt do sở Thống Kê cung cấp.

Sự liên quan thăng trầm giữa thị trường chứng khoán và kinh tế không phải nhà cầm quyền Việt Nam không biết vì họ đã được Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cố vấn. Nhưng cho dù biết trước, họ cũng không thể thay đổi được vận mệnh đất nước vì sự ngu dốt bất tài cố hữu của họ.

Kết luận

Trên thị trường kinh tế tự do, bất kỳ chính phủ nào cũng có thể bị cưỡng bách phá giá đồng tiền cho dù ngoài ý muốn khi mậu dịch thâm thủng trầm trọng. Kinh tế CSVN hiện nay trong tình trạng nguy cấp đó, thâm hụt 14.42 tỷ Mỹ kim trong 4 tháng đầu năm, tương đương với 20% tổng sản lượng quốc nội 72 tỷ Mỹ kim. Để cứu vãn nền kinh tế, nhà cầm quyền CSVN có thể phá giá đồng Việt Nam, trì hoãn tăng lương và nhất là giảm ngân sách chi tiêu. Trường hợp tệ nhất CSVN không có biện pháp cứu nguy kinh tế, Việt Nam có thể bị cưỡng bách phá giá đồng Việt Nam. Biện pháp hữu hiệu nhất để phá giá đồng Việt Nam là cộng đồng quốc tế và các nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam sẽ mua Mỹ kim qua hối đoái cho đến khi ngân sách dự trữ hối đoái cạn hết ngoại tệ. Chừng ấy CSVN sẽ không còn khả năng nhập cảng, kể cả thức ăn và nhu yếu phẩm cần thiết. Đến đây CSVN sẽ không còn cách chọn lựa nào khác hơn là phá giá đồng Việt Nam và mua lại số ngoại tệ vừa bán ra. Dĩ nhiên khi mua lại sẽ phải trả giá cao hơn vì đồng tiền đã bị phá giá.

Cộng đồng quốc tế rất quan tâm đến việc khủng hoãng tài chánh Việt Nam có thể xảy ra trong vòng 12 tháng tới. Việc nầy không những làm trì hoãn phát triển kinh tế Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến các quốc gia trong vùng. CSVN vội dập tắt dư luận bằng cách tuyên bố họ có đủ ngoại tệ dự trữ để bảo vệ đồng nội địa khỏi bị phá giá. Thực ra với ngân sách dự trữ 20.5 tỷ Mỹ kim sẽ không là bao so với thâm hụt mậu dịch và nợ nần tứ phía. Cách duy nhất gây lại uy tín là áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chận tận gốc những sai lầm: kinh tế tăng trưởng thái hóa và lạm phát quá độ.

Mai Vĩnh Thăng Úc Châu
MCom FAIBF, F Fin
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image


Phỏng Vấn Nhà Văn Võ Phiến
Nghệ Thuật Tính Trong Thơ Văn Gọi Là Văn Chương Tính


Lê Quỳnh Mai
Võ Phiến: Sinh năm 1925 tại Bình Định.
Tên thật: Đoàn Thế Cẩn. Sau 1934 đổi thành Đoàn Thế Nhơn.
Công chức, viết văn, viết báo (tại Việt Nam và hải ngoại).
Định cư tại Hoa Kỳ năm 1975.
Tiếp tục làm công chức ở Los Angeles cho đến lúc về hưu vào tháng Bảy năm 1994.
Chủ trương Nhà Xuất Bản Thời Mới. Cộng tác với các báo Bách Khoa, Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn Học, Văn, Khởi Hành v.v..
Trên 40 tác phẩm đã xuất bản từ Chữ Tình (1956) đến Văn Học Miền Nam (1999).


1.
Cả một đời thiết tha với văn chương, ông có nghĩ như William Faulkner(1), rằng "Nghệ sĩ là người bị ma quỷ xúi giục"? (2)

William Faulkner là một tài năng lỗi lạc, đã đạt thành công lớn lao. Ông có cá tính mạnh mẽ, có quan niệm nghệ thuật độc đáo, và không ngại lời lẽ cực đoan. Còn mình - tôi nghĩ - mình chỉ là kẻ tầm thường, chẳng qua thấy người ta viết nên truyện hay thơ hay, thì mình đọc, rồi ham, rồi bị lôi cuốn mà liều lĩnh viết theo. Vớ vẩn vậy thôi. Thường tình thôi. Nếu có sự "xúi giục", thì chính những cái hay cái đẹp của thiên hạ xúi mình, không có ma quỷ nào.

2.
Herman Melville (3) phải đợi gần nửa thế kỷ sau khi mất mới nổi tiếng qua tác phẩm Moby Dick. Stendhal (4) chỉ bán được ba cuốn Le Rouge et Le Noir khi mới xuất bản. Còn ông từ thập niên 50 đến nay đã được độc giả ái mộ và giới phê bình đánh giá cao. Ông thấy mình có may mắn hay không?

Nói tới sự may mắn, chắc chị còn nhớ tới Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Nếu tôi có được một số độc giả chú ý, chẳng qua cũng như anh chàng Xuân Tóc Đỏ trong truyện ấy thôi.

3.
Trước 1975 nhà phê bình Đặng Tiến viết: "Võ Phiến là một nhân chứng thời đại, muốn chế riễu cả thời đại lẫn vai trò nhân chứng của mình, chế riễu bằng một nụ cười lặng lẽ. Và bên kia nụ cười, cuộc đời không còn gì nữa cả." Lời phê bình đó từ sau 1975 đến nay có còn đúng không?

Ông Đặng Tiến hiểu biết rộng, nhận định sâu sắc; nếu có dịp chúng ta nên đặt câu hỏi vừa rồi với ông Đặng Tiến để ông giải đáp thì thích hợp nhất. Mình mà tự tiện suy nghĩ về mình thường khi sai lầm: thiên hạ người ta cười cho.

4.
Trong bài phê bình về Nguyễn Mộng Giác (5), ông thú nhận "không tránh khỏi cám dỗ là luôn nhắc về quê hương Bình Định". Thưa ông nguyên nhân chính có phải là nỗi sợ hãi cô đơn như ông viết hay không "con người rất sợ cái lạ. Không gì kinh hãi bằng bị nhích ra khỏi chỗ quen thuộc. Tư bề đều dưng" (6).

Chị nói đúng: cô đơn đáng sợ hãi lắm. Nhưng dù sợ cô đơn hay không sợ, người địa phương nào vẫn thích nói về địa phương nấy. Người Huế nhớ Huế, người Hà Nội nhớ Hà Nội, người Quảng nhớ Quảng, người Vĩnh Long Cần Thơ nhớ Vĩnh Long Cần Thơ.. . Ai nấy nhớ và nói mê tơi về quê mình. Người Bình Định cũng vậy đó. Hàng năm cứ đến ngày họp hội ái hữu đồng hương thì dù ở xa xôi cũng kéo về họp, nghe giọng nói quen ăn món ăn quen là sung sướng rồi.

Nguyễn Mộng Giác với tôi là người cùng tỉnh. Bài phê bình chị vừa nhắc đến, nguyên là bài tựa viết cho cuốn truyện ngắn của Nguyễn Mộng Giác, cuốn Ngựa Nản Chân Bon. Gặp một tác giả đồng tỉnh là một niềm vui mừng, lại phát giác ra ở tâm hồn tác giả nọ một số đặc điểm địa phương đã làm nên cái đẹp của tác phẩm thì lý thú biết bao! Làm sao cầm lòng được? Phải nói về Bình Định chứ chị!

5.
Tại sao Tùy Bút (7) của ông lại chọn đúng tên một tác phẩm của John Steinbeck(8 ): Của Chuột và Người?

Tác phẩm của John Steinbeck mà chị vừa nói, nhan đề của nó lấy từ mấy chữ trong một câu thơ của Robert Burns, một thi sĩ Tô Cách Lan (Scotland) hồi hậu bán thế kỷ thứ XVIII. Bài "To a mouse" của ông là một bài thơ danh tiếng viết dưới dạng lời nói với con chuột mà một đường cày vừa làm bật vỡ cái hang. Bài thơ có câu đại khái đề cập tới sự tan vỡ niềm ước mơ đẹp đẽ nhất của chuột và người. Đó cũng là điều đã xảy đến trong cuốn truyện của Steinbeck. Hai người bạn nghèo cặp kè đi làm công, một kẻ mơ ước dành dụm đủ tiền để sống thảnh thơi và nuôi một con thú nhỏ làm bạn, ngày ngày ve vuốt bộ lông mượt mà của nó. Kẻ ngây ngô chỉ mơ được chừng ấy hạnh phúc. Nhưng một hôm anh chàng khờ khạo mà quá vạm vỡ này lỡ tay gây nên cái chết của một cô gái. Giấc mộng tan tành. Steinbeck mượn mấy chữ trong câu thơ của Burns để nhắc đến sự trùng hợp nọ: trùng hợp ở cảnh vỡ mộng tức tưởi.

Bài tùy bút của tôi viết nhân một chuyến đi Gia Nghĩa. Lúc bấy giờ là đầu thập kỷ 70. Một số bạn sống tại địa phương đã kể cho tôi nghe đôi điều buồn bã. Kể rằng Gia Nghĩa hồi đệ nhất cộng hòa đã được dự tính xây dựng thành một trung tâm du lịch thứ nhì ở Cao nguyên. Đà Lạt là nhất, là trung tâm dành cho giới du lịch ngoại quốc, tư bản, giàu sang; Gia Nghĩa sẽ là trung tâm hợp với khả năng tài chánh của du khách trung lưu như công tư chức chẳng hạn. Bấy giờ số người kéo đến sinh sống tại Gia Nghĩa có đến 52 nghìn. Sau biến cố chính trị cuối năm 1963 tình hình an ninh suy đồi dần. Hai năm sau, dân số Gia Nghĩa chỉ còn 28 nghìn người. Giấc mộng trung tâm du lịch Gia Nghĩa thành mây khói! Như vậy, ở Gia Nghĩa bấy giờ tôi lại gặp một trường hợp tan vỡ giấc mơ nữa. Nhân sự gặp nhau ở ý nghĩa vỡ mộng trong bài viết của mình và tác phẩm của J. Steinbeck, tôi noi theo Steinbeck: là khi đặt nhan đề tôi mượn bốn chữ nọ để nhắc lại ý thơ ngộ nghĩnh của Burns. Là dùng chút điển tích cho vui thôi.

6.
Nguyễn Hưng Quốc thấy ông chịu ảnh hưởng của Đào Duy Anh, André Maurois(9) . Bùi Vĩnh Phúc so sánh ông với Lâm Ngữ Đường(10). Nhiều ảnh hưởng đã tạo nên văn phong độc đáo của ông. Nhưng nhà văn Võ Phiến đã dí dỏm nói rằng "Nghề văn do trời cấp lai-xăng. Số mệnh cả!"(11) Ông có thấy trời bất công khi cấp cho mỗi người một số mệnh hay không?

Nếu câu nói của chị có thể hiểu rằng những ai không được Trời cấp lai-xăng hành nghề văn chương sẽ trách móc ông Trời, thì oan cho Trời lắm. Ở nước ta, xưa nay trong giới văn thơ mà có được sự nghiệp lẫy lừng nhất chắc phải kể tên Nguyễn Du. Vậy mà Nguyễn Du chỉ mong sao sau khi mình chết, trong thiên hạ có được một kẻ khóc mình. Như vậy rõ ràng hành nghề văn thơ có sung sướng gì đâu? Viết lách khi sống đã gian nan đáng thương, khi chết lại đáng khóc. Thế thì khỏi được cái số mệnh văn chương là nhất không nên oán Trời trách Đất.

Và khi không thoát khỏi, khi đã trót vương vào nghiệp viết lách thì mong sao viết đừng dở quá. Đã trót viết lách thì bớt dở chừng nào tốt chừng nấy. Do đó đối với bất cứ các vị nào đã có công dạy bảo mình, ảnh hưởng đến mình, để mình tránh bớt cái xấu cái dở, tôi đều biết ơn sâu xa.

7.
"Trong vòng 20 năm, người độc giả miền Nam lặng lẽ chuyển hóa từ nam ra nữ và họ còn bị trụt tuổi nữa"(12) . Ông có thể nói thêm về phái tính và tuổi tác của độc giả hiện nay?

Chị vừa nêu ra một vấn đề thú vị. Nhưng vì tôi không có dịp tìm hiểu kỹ về nền văn học đương đại hoặc trong nước hoặc ngoài nước, cho nên không có những hiểu biết rõ ràng để trình bày. Căn cứ trên đôi điều nghe thấy trong giới hoạt động về sách báo hải ngoại, chỉ xin gợi ra vài suy đoán:

Một số tiệm sách cho biết rằng bán chạy nhất hồi gần đây là các loại tác phẩm về chính trị và về tôn giáo. Thiết tưởng hai món ấy dù không phải thuộc độc quyền của đàn ông thì cũng không phải món sở trường của nữ giới.

Lại nghe một số trong các vị trong giới xuất bản phàn nàn rằng in sách mỗi ngày mỗi đắt, mà độc giả bây giờ đòi cỡ chữ trang sách phải lớn thêm. Thiết tưởng mắt thích cỡ chữ lớn mới đọc nổi không phải là đặc trưng của tuổi trẻ.

Vậy chuyển hóa tính phái và trụt thấp tuổi tác e không phải là chuyện xảy ra trong lúc này.

8.
Ông viết trong Tạp Bút(13): "Tiểu thuyết Tàu, Pháp, Nga, Mỹ, Nhật đều có bản sắc riêng. Một bản sắc riêng biệt như thế, thế hệ tiểu thuyết gia ngày nay còn đang sáng tạo cho Việt Nam.." Sau 26 năm ông thấy tiểu thuyết Việt Nam đã có bản sắc riêng hay chưa?

Đến nay, tiểu thuyết Việt Nam đã có ngót trăm năm lịch sử, hoặc đậm hoặc nhạt chắc hẳn đã có bản sắc riêng. Bản sắc như thế nào, điều ấy không đơn giản, không tiện nói qua loa trong đôi câu. Nhưng hiển nhiên là người viết tiểu thuyết Việt Nam ngày nay không bắt đầu như cụ Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học. Thậm chí cũng không bước những bước đầu tiên như Nhất Linh khi viết Hồng Nương hay Người Quay Tơ. Trong kho tàng tiểu thuyết Việt ngữ đã khá đồ sộ, người tiểu thuyết gia trẻ tuổi của chúng ta bây giờ ngoài việc có thể rút được những kinh nghiệm bổ ích, có lẽ lại còn có thể tìm thấy một bầu không khí thích hợp quen thuộc giúp mình tự phát huy bản sắc dễ dàng và mạnh dạn hơn các lớp tiền bối.

9.
Cũng trong Tạp Bút(14) ông nhận xét "Một số sự việc xảy ra cho thấy như thể là ngoài các người văn nghệ ra không còn mấy ai đọc tác phẩm văn nghệ nữa, và ngoài các người văn nghệ ra cũng không mấy ai buồn chú ý đến văn nghệ nữa." Lời nhận xét của ông có đúng cho tình trạng hiện nay tại hải ngoại hay không?

Như chị đã nhận thấy, là bài tạp bút vừa nêu ra được viết vào tháng Mười Một năm 1974: Chỉ còn năm tháng nữa thì miền Nam Việt Nam sụp đổ. Trong hoàn cảnh ấy sự sống còn của bản thân, sự tồn tại của chế độ, cái tự do của mọi người đang bị đe dọa trầm trọng. Thái độ của người trong nước bấy giờ đối với tác phẩm văn nghệ có mất hẳn quan tâm cũng dễ hiểu thôi.

Ở hải ngoại hiện nay, chúng ta gặp một hoàn cảnh khác. Quần chúng văn nghệ cũng không mấy đông đảo, nhưng lý do không phải là vì tình hình khẩn trương nữa, mà có thể chỉ vì lớp người ra đi từ những thập niên 70 - 80 thì tuổi đã cao, có kẻ quá cao, hay đã qua đời; còn lớp trẻ lớn lên ở ngoài nước thì vốn hiểu biết Việt ngữ chưa đủ để tham dự vào sinh hoạt văn nghệ.

Cũng có thể có những yếu tố khác nữa ảnh hưởng đến văn học hải ngoại mà tôi chưa có dịp suy nghĩ kỹ càng, không tiện phát biểu phiêu lưu.

10.
"Truyền thông và thương mãi tung rộng tác phẩm văn nghệ ra quần chúng bằng một cái đà rất mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng hạ thấp nó xuống, tạo ra một thứ văn chương không phải là văn chương. Lấy gì làm dấu hiệu nhận ra cái văn chương tính của một công trình xây dựng bằng ngôn ngữ?" Xin ông cho biết dấu hiệu nào giúp ta nhận ra văn chương tính của một công trình xây dựng baằng ngôn ngữ.

Một công trình xây dựng bằng ngôn ngữ, thế nào là có văn chương tính, thế nào là không? Đẹp đến mức nào thì gọi là có nghệ thuật, dưới mức nào thì chưa? Có lẽ chúng ta không nên lạc vào những lý luận dông dài xa xôi. Nên nói chuyện với nhau về những điều cụ thể gần gũi. Những người tù ở các trại lao công cưỡng bách phải làm việc nặng nề và ăn uống thiếu thốn, nên khao khát chất ngọt, đối với họ một tán đường đen là quý báu; tán đường quý lắm, nhưng nói về tính "nghệ thuật" thì nó không bằng chiếc bánh trung thu trong dịp thưởng trăng. Cũng như ở gáo nước lạnh trong buổi trưa hè, tính nghệ thuật thấp hơn ở chén trà Long Tĩnh mỗi sớm tinh sương. Cũng như ở cà phê bít tất trong ly nhựa, tính nghệ thuật thấp hơn ở các loại cà phê gourmet, Starbucks, Pasqua...

Cái nghệ thuật tính trong thơ văn gọi là văn chương tính. Đại khái thì ở những bài vè lưu hành rộng rãi đó đây không có văn chương cao bằng ở Truyện Kiều xứ ta hay truyện Thủy Hử bên Tàu chẳng hạn.

Vừa rồi có nói tới mấy chữ "lưu hành rộng rãi" nhiều bài vè được lưu hành rộng rãi trong dân gian; và Kiều cũng là một tác phẩm lưu hành rộng rãi khắp dân gian. Vậy thì tầm phổ cập không làm suy giảm tính văn chương. Không cần phải lo rằng viết mà không được quần chúng yêu thích là viết không cao tài không lớn.

Mặt khác, sự trau chuốt, cầu kỳ quá đáng, mài dũa thận trọng quá đáng cũng không làm tăng tính nghệ thuật. Trở lại trường hợp nhà văn từng bị "ma quỷ" giục giã: William Faulkner ngã một chiếc xe cút kít xuống làm bàn viết, gần một cái máy phát điện kêu ình ịch liên lỉ, mỗi tối ông viết từ nửa đêm đến bốn giờ sáng, viết xong cả cuốn Trong Khi Tôi Hấp Hối (As I lay dying) một mạch sáu tuần lễ không sửa chữa gì. Cuốn truyện viết phăng phăng ào ào như thế thành một tuyệt phẩm; ở Mỹ sách đã được hoan nghênh, bản dịch ra Pháp ngữ lại được các tác giả lừng danh lỗi lạc tán thưởng nhiệt liệt. Bài thơ miệt mài trong bao nhiêu năm của thi sĩ Giả Đảo không hẵn được đánh giá cao hơn. Vậy viết kỹ hay viết "dối" cũng không hẳn đã có ảnh hưởng quyết định đến văn chương tính.

Một tác phẩm là nghệ thuật hay phi nghệ thuật, tính cách của nó có ngay từ khi được quan niệm, chứ không phải trong thể thức thực hiện. Nếu ta quan niệm một tác phẩm nghệ thuật và thực hiện thành công thì tác phẩm có văn chương tính; mặt khác nếu sách được quan niệm trong đầu với chủ tâm thương mãi, nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí, nhu cầu tò mò táy máy, hay bất cứ thứ nhu cầu nhảm nhí nào khác của độc giả thì nó rất hiếm tính văn chương.

Tác phẩm nghệ thuật, trong quan niệm đã không nhằm mục đích thương mãi, cho nên khi ra đời có thể nó được đón tiếp rộng rãi, mà cũng có thể bị quần chúng bỏ rơi. Nhưng dù bán mạnh hay bán yếu, sách hay vẫn là sách hay, vẫn là một thành công. Cuốn Trong Khi Tôi Hấp Hối của William Faulkner bản Pháp văn bán mười năm không tới tám nghìn bản, bán ba mươi năm chưa tới mười hai nghìn bản. Mặc kệ, danh tiếng của nó cứ vang lừng.

11.
"Sự mất mát trong văn học lớn lao đến nỗi một nữ sĩ nổi tiếng như Hồ Xuân Hương mà chỉ không đầy hai thế kỷ sau đã mất gần hết dấu vết..."(15). Nhưng gần đây, Hoàng Xuân Hãn và Phạm Trọng Chánh(16) đã phát hiện những điều lý thú và mới nhất về Hồ Xuân Hương. Ông có ý kiến gì?

Đặt ra câu hỏi "Hồ Xuân Hương nàng là ai?" tức là đã xác nhận tính cách mơ hồ của tung tích Hồ Xuân Hương. Trong vòng đôi ba chục năm gần đây đã có những tìm tòi tích cực, có kết quả tốt. Cụ Hoàng Xuân Hãn phát giác được nhiều điều quan trọng về Hồ Xuân Hương. Ở Mỹ, ông Nguyễn Ngọc Bích mới đây có bộ sách hai cuốn rất công phu. Chúng ta hi vọng người nữ sĩ tài hoa độc đáo này sẽ dần dần hiện ra rõ nét thêm.

12.
Phần lớn tác phẩm của ông đều viết rằng con người thật nhỏ bé xoàng xỉnh thảm hại và bơ vơ. Như thế thì cuộc sống có ý nghĩa gì không hay "không chừng là cái chơi thôi"(17)

Hết thiên niên kỷ này đến thiên niên kỷ khác, bao nhiêu bậc cao minh của nhân loại đã suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc sống và chưa tìm được câu giải đáp. Hình như chưa có ai nẩy ra cái ý trao cho chúng ta trách nhiệm giải đáp thắc mắc lớn lao ấy. Nói rằng đời sống là cái chơi của ông Trời, đó chẳng qua cũng là một cách nói chơi thôi.

Gần đây triết gia Jean Francois Revel và người con tu sĩ của ông đã thảo luận với nhau đến nơi đến chốn về vấn đề này. Đức Đạt Lai Lạt Ma theo dõi và phát biểu: "Điều thực sự quan trọng không phải là đời sống có ý nghĩa hay không, mà là chúng ta có tạo được ý nghĩa cho đời sống của mình hay không."

Vậy đời sống có hay không có ý nghĩa, mặc nó. Ta nói chơi thôi, rồi cũng nên bỏ qua. Hãy để thì giờ ra sức tạo một ý nghĩa, cho đời sống nó... mừng!

13.
Nhà văn Võ Phiến đã kể lại rất cảm động buổi gặp gỡ cuối cùng giữa ông và học giả Nguyễn Hiến Lê: "Khuôn mặt đẫm lệ của ông hôm ấy in sâu trong trí tôi như hình ảnh bi thương của giới cầm bút miền Nam lúc bấy giơ.?#34;(18 ) Đó là kỷ niệm buồn. Còn kỷ niệm nào vui nhất trong đời viết văn của ông?

Kỷ niệm vui nhất trong đời văn của tôi xảy ra ngót đã sáu mươi năm. Đó là dịp lần đầu tiên tôi thấy bài mình viết được đăng lên báo.

Mở bài báo ra, trông thấy trước mắt bài viết của mình xuất hiện dưới dạng chữ in, thật là bỡ ngỡ, lạ lùng, ngạc nhiên. Chuyện không tưởng tượng nỗi. Mình cảm thấy tự dưng biến thành một kẻ khác. Không đến nỗi như con các hóa long, nhưng có thể như là một con cá bỗng hóa ra con nhái. Tức là một sinh vật sống dưới nước đột biến thành một sinh vật thuộc loài lưỡng thê, nhảy lên đất.

Sau biến cố động trời ấy, mình viết mãi viết mãi vẫn không biến hóa thêm thành một loài gì khác. Nhái bén vẫn cứ nguyên là nhái bén. Không có gì vui thêm.

14.
Ông đã viết câu kết rằng "Lần trước, Vũ Anh Khanh (bài thơ Tha La Xóm Đạo) mang giấc mơ ra Bắc, mở mắt tỉnh giấc hối hận quay về, chết trên dòng sông Bến Hải. Lần này không còn đâu là đất trở về nữa, dù chỉ về để chết"(19). Sau hơn một phần tư thế kỷ trên đất khách nhà văn Võ Phiến có còn mong trở về nữa hay không?

Chuyện về nước, tôi không mong mỏi nữa.

Về nước vào lúc này để cam chịu khuất phục dưới chế độ độc tài, không vui gì. Để góp tay cải thiện hoàn cảnh, tôi không nghĩ mình có đủ khả năng, còn đủ sức lực góp tay hữu ích. Còn như về để chết, thì... tưởng không cần thiết. Ở đâu, chết cũng "tiện" cả !

(1) William Faulkner Nobel 1949.
(2) Tiểu Luận của Võ Phiến, tr 122
(3) Herman Melville (1819-1891)
(4) Stendhal (1783-1842)
(5) Văn Học Miền Nam, tr. 1077
(6) Cảm Nhận, tr. 184
(7) Tùy Bút, tr 289
(8 ) Giải Nobel 1962
(9) Nguyễn Hưng Quốc - Võ Phiến, tr 19, 43
(10) Bùi Vĩnh Phúc, Lý Luận và Phê Bình, tr 134
(11) Cảm Nhận, tr 27
(12) Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, tr 84, 85
(13) Tháng 3/74, tr 244
(14) Tháng 11/74, tr 169
(15) Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, tr 21
(16) Hồ Xuân Hương - Nàng là ai?
(17) Thế kỷ 21, số 75, tr 57
(18 ) Trả lời phỏng vấn của Đào Huy Đán tháng 3/88
(19) Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, tr 322

Lê Quỳnh Mai
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Vì sao sau một ngàn năm đô hộ,
bá quyền Trung Quốc vẫn không Hán hoá được Việt Nam?


Tác giả: Phong Uyên


Từ thượng cổ, người Trung Hoa đã tự tạo cho mình niềm tin rằng vua chúa của họ là “Thiên tử” (con Trời), được ban cho “thiên mệnh” trị vì bàn dân thiên hạ. Từ khi vị hoàng đế đầu tiên (Tần Thủy Hoàng đế) thống nhất các nước nằm trong lưu vực sông Hoàng, nơi này được gọi là Trung Quốc – hàm ý quốc gia ở trung tâm toàn cõi đất.


Trăm họ tộc Hoa người Trung quốc được coi là thần dân. Những dân tộc không cùng dòng giống với người Hoa sống ở những khoảng đất chung quanh đều bị coi là man di như Hung Nô phía Bắc, Bách Việt phía Nam. Sau nhà Tần, các triều đại nhà Hán vẫn lấy danh nghĩa làm theo “mệnh trời”, tiếp tục chính sách bành trướng của Tần Thủy Hoàng chiếm hữu đất đai của các dân tộc này sáp nhập vào Trung Quốc. Còn tinh vi hơn, đàn bà con gái của các dân tộc này bị ép lấy người Hán, để rồi con cái họ trở thành người Hán vì mang huyết thống cha theo chế độ phụ hệ một chiều của người Tàu; bằng cách này, chỉ sau vài trăm năm, các dân tộc này đều bị tuyệt giống. Thật ra, đó là cách duy nhất để cung cấp nhân công cho một nền kinh tế có căn bản là nông nghiệp, khi người Hán chỉ là thiểu số so với toàn thể số dân đại lục Trung Hoa thời đó (vào khoảng 50 triệu, bằng dân số đế quốc La Mã cùng thời). Trong khoảng một ngàn năm gần như toàn thể các tộc Bách Việt sống ở phía Nam sông Dương Tử đều đã bị Hán hoá và tuyệt chủng. Chỉ còn lại duy nhất một dân tộc thoát được nạn này là dân tộc Lạc Việt, tổ tiên chủ yếu của dân tộc Việt Nam sau này: không những không bị đồng hoá mà, kỳ diệu hơn, còn giành được độc lập, giữ được một phần đất phía Bắc và tiếp tục bành trướng về phía Nam để tạo thành một quốc gia riêng, biệt lập với Trung Quốc, điều đã khiến cho cuộc Nam tiến của người Hán xuống cực Nam của vùng Đông Nam Á bị khựng lại từ hơn một ngàn năm nay.


Tôi đã thử tìm hiểu vì sao lại có được cái phép lạ đó. Theo tôi suy nghĩ, đó là nhờ ở bốn nhân tố:




Ý thức quốc gia của người Lạc Việt đã rất sớm nẩy nở, đủ sức chống lại ý thức bá quyền Đại Hán ngay từ khởi đầu.
Tinh thần dân tộc của người Lạc Việt đã vượt qua được giới hạn bộ tộc để đủ sức đương đầu với chủng tộc Đại Hán.
Truyền thống mẫu hệ của người Lạc Việt đã vô hiệu hoá phương thức đồng hoá bằng hôn nhân của người Hán theo chế độ phụ hệ, giúp cho dân Việt Nam bảo tồn được giống nòi.
Thể chế lạc tướng - lạc hầu được tồn lưu dưới hình thức cơ chế làng xã đã giúp dân Việt bảo vệ được nền tự chủ của mình.

Tôi cũng xin nói cho rõ hơn là cái nghĩa của từ “quốc gia” tôi bàn luận ở đây không cùng nghĩa với từ “quốc gia” bây giờ, và cũng không đồng nghĩa với chữ “quốc” trong “liệt quốc” thời Chiến quốc, mà có nghĩa “quốc gia Nam Việt” đối lập với “Trung Quốc” nhà Hán.


Theo tôi, chính Triệu Đà, để phục vụ tham vọng của mình, đã là người tạo cho dân Việt ý thức quốc gia và tinh thần dân tộc theo cái nghĩa đó. Trong lịch sử nhân loại có nhiều trường hợp như vậy: Alexandre Đại đế người Macédoine làm dạng danh nước Hi Lạp. Guillaume le Conquérant người Pháp lập ra nước Anh, trong quá khứ luôn luôn thù địch với Pháp. Napoléon người Corse đã đưa nước Pháp tới tột đỉnh vinh quang. Không kể những hung thần như Thành Cát Tư Hãn người Mông Cổ lập ra nhà Nguyên, Staline người Georgie, Hitler người Áo v.v...


Ý thức quốc gia


Khi Tần Thủy Hoàng mất, Triệu Đà chỉ là một viên lệnh úy tầm thường gốc người nước Ngụy thuộc tộc Hoa, nhưng là người có chí khí, đã biết lợi dụng thời thế hợp quần một số tộc Việt để xưng đế lập ra nước Nam Việt cùng thời với Trung Quốc của Hán Cao Tổ. Theo các nhà sử học phương Tây, sở dĩ nước Tần thắng được các nước khác, không phải vì có Tần Thủy Hoàng mà vì nước Tần là nước có thể chế, có hành chính qui củ, có quân đội mạnh, vũ khí tân tiến hơn các nước khác thời bấy giờ. Từng là một viên tiểu lại của nhà Tần, Triệu Đà đã lấy kinh nghiệm nước Tần để gây dựng nước Nam Viêt thành một quốc gia tân tiến ngang, nếu không nói là hơn Trung Quốc của nhà Hán thời sơ khai, nhất là về quân sự (đánh chiếm Trường Sa). Có thể nói trên lục điạ Trung Hoa và gần như cả Đông Nam Á thời đó, chỉ có hai quốc gia ngang sức đương đầu với nhau là Trung Quốc và Nam Việt. Cả hai đều có cơ cấu phỏng theo nước Tần. Nhờ vậy người Bách Việt trong nước Nam Việt của Triệu Đà có ý thức quốc gia rất sớm và sau một ngàn năm bị đô hộ vẫn giữ được ý thức đó để tái lập lại nước Việt sau này. Người Hán cho đó là khi quân, một thế giới không thể có hai nước, một điều phạm đến “thiên mệnh” của Trung Quốc, nên dùng đủ mọi phương kế kể cả phương kế bỉ ổi nhất là mỹ nhân kế Cù thị để xoá bỏ cho bằng được nước Nam Việt. Khi tiêu diệt được nhà Triệu, nước Nam Việt bị đổi thành Giao Chỉ bộ và bị chia nhỏ thành 9 quận cho mất tang tích một quốc gia đã dám đương đầu với Trung Quốc. Tuy vậy người Trung Hoa cho tới ngày nay vẫn luôn luôn bị ám ảnh bởi một quốc gia đã dám chống đối mình ngay từ sơ khởi, nên không có gì lạ khi nhà Thanh vì mặc cảm đã bắt Gia Long phải đổi quốc hiệu mà ông dự kiến “Nam Việt” thành “Việt Nam”. Trong thâm tâm, người Tàu vẫn coi Việt Nam là Giao Chỉ quận hay An Nam đô hộ phủ. Chứng cớ là khi người Pháp mới đặt chân xuống miền Nam, hỏi mấy chú Chệt tên nước này là gì, mấy chú vẫn nói tên là “Giao Chỉ”. Tây nghe âm Tàu đọc trại là “Cochin”. Lại sợ lầm với tên đất Cochin bên Ấn Độ, nên đặt lại là “Cochinchine” để phân biệt (từ tố “-chine” có nghĩa là “Trung Quốc”).


Tinh thần dân tộc

Là một nhà chính trị khôn ngoan, Triệu Đà đưa ra chủ trương liên kết mọi tộc Việt trong nước Nam Việt với nhau (như trong câu “người trong một nước phải thương nhau cùng”), điều đã khiến cho mọi tộc Việt vượt qua được giới hạn bộ tộc của mình, đi đến một ý niệm cao hơn là ý niệm về dân tộc Việt. Tinh thần dân tộc lại càng thêm vững mạnh khi Triệu Đà đem lại cho dân tộc Việt vinh quang đầu tiên bằng chiến công đánh chiếm Trường Sa [1] của Trung Quốc. Hơn một ngàn năm sau Lý Thường Kiệt noi gương đem quân tràn qua Tàu đánh phá các châu Khâm, Liêm. Rồi lại gần 1000 năm sau nữa, sau trận Đống Đa làm nhà Thanh khiếp đảm, Thanh đế Càn Long sợ Quang Trung sang đánh và đòi đất, phải vội vàng hứa gả con gái cho và hứa trả lại Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây).


Chế độ mẫu hệ và truyền thống lạc tướng - lạc hầu

Khi lập Văn vương [2] , cháu đích tôn con Mị Nương và Trọng Thủy, lên kế nghiệp mình, Triệu Đà có ý muốn nương theo chế độ mẫu hệ của người Lạc Việt để Việt hoá dòng giống mình, ngõ hầu triều đại nhà Triệu trở thành triều đại quy mô đầu tiên của dân Việt và sau này có thể dựa vào dân tộc Việt chống lại được sự bành trướng của Trung quốc. Trong lịch sử nhân loại, những dân tộc yếu muốn bảo vê được sự sống còn của nòi giống mình trước những dân tộc mạnh hơn đều chỉ có cách là duy trì liên hệ gia đình theo mẫu hệ. Thí dụ điển hình nhất là dân tộc Do Thái, 2000 năm mất nước, phải di tản đến mọi nơi trên thế giới, trước đó đã bao lần bị lưu đầy qua nhiều nước khác mà vẫn bảo tồn được dân tộc (cùng truyền thống văn hoá) của mình nhờ – không cần biết cha là thuộc dòng giống nào – tự coi mình là người Do Thái nếu mẹ là người Do Thái. Người Hán cũng biết vậy nên đã mưu tính đưa Cù thị vào làm vợ lẽ Anh Tề để con của Cù thị (có với tình nhân của thị là Thiếu Quý) là thái tử Hưng máu Tàu 100% sau này lên ngôi đem đất nước dâng lại cho nhà Hán. Quả nhiên là như vậy: khi Minh vương Anh Tề mất, Hưng lên ngôi (tức Ai vương) tính cùng mẹ đem nước dâng cho nhà Hán. Khi tể tướng Lữ Gia biết, giết mẹ con Cù thị và sứ giả nhà Hán, đưa Dương vương có mẹ người Việt lên thay thì đã quá muộn. Lại gặp tướng giỏi nhà Hán là Phục Ba tướng quân nên dân Việt đành chịu thua. Một ngàn năm sau, khi phản công lại Lý Thường Kiệt ở Khâm châu và Liêm châu, nhà Tống lại đem tích “Cù thị vị quốc hi sinh” như một Chiêu quân cống Hồ ra ca tụng nhằm cổ võ quân sĩ. Đủ biết là sự hiện hữu của nước Nam Việt đối lập với Trung Quốc vẫn là một mối hận trong tâm thức người Tàu.

Cũng có lẽ nhờ giữ được truyền thống mẫu hệ trong phong tục nên đã có những cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và Bà Triệu. Noi gương Triệu Đà, nhiều quan lại, sĩ tử người Hán, được cử qua “Hán hoá” dân Giao Chỉ, đã lấy vợ Việt không chịu trở về Trung quốc và con cháu không những đều trở thành người Việt mà còn nổi lên chống lại người Hán như trường hợp Sĩ Nhiếp, hoặc trường hợp Vạn Xuân vương Lý Bôn... Ngoài ra, nhiều tăng thống gốc Việt hay mẹ Việt như Tăng Khương Hội còn trở về Trung Quốc thuyết giảng đạo Phật theo văn hoá và tư tưởng Việt. Có thể suy luận là trong 1000 năm bị đô hộ, sở dĩ dân Việt Nam không bị đồng hoá là vì chính sách Hán hoá “lấy vợ Việt để đẻ con Hán” lại có hậu quả ngược lại, “gậy ông đập lưng ông”, là các con cháu có “mẹ Việt” đều trở thành người Việt, giữ gìn huyết thống Giao Chỉ và truyền thống văn hoá Việt, nhờ vậy đã không những không bị Hán hoá mà ngược lại, còn “Việt hoá” người Tàu qua đô hộ. Khả năng “Việt hoá” mạnh mẽ đó không những đã giúp dân Việt bảo vệ được nòi giống của mình trước người phương Bắc mà còn có thể, trong cuộc bành trướng về phương Nam, đồng hoá những dân tộc khác từng một thời hưng thịnh như Chiêm Thành, Chân Lạp, cũng như sau này đã “Việt hoá” những người Tàu Minh Hương để mở mang miền Nam.

Truyền thống lạc tướng - lạc hầu ẩn mình dưới những cơ chế làng xã cũng đã giúp cho dân Việt bảo tồn được nền tự chủ của mình trong suốt thời kỳ bị đô hộ, vì “phép vua thua lệ làng”: phép tắc của các quan thái thú Tàu cũng không thể vượt qua được lũy tre làng. Nhờ vậy mà “ý thức quốc gia” vẫn tiếp tục trường tồn tuy bị thu hẹp trong ý thức “làng nước”: làng chỉ là nước được thu nhỏ lại, và vị Thần Hoàng được thờ ở đình làng như những anh hùng dân tộc, những bậc thánh linh thiêng sẽ phù hộ cho người dân giữ làng giữ nước; còn làng là còn nước, bảo vệ làng là bảo vệ nước.


Để kết luận

Trong lịch sử thế giới từ cổ chí kim, từ Đông qua Tây, không một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, sau một ngàn năm bị đô hộ bởi một nước lớn và mạnh như Trung Quốc, không những vẫn bảo tồn được nòi giống mà còn vẫn giữ được cơ cấu quốc gia, và lại tiếp tục duy trì nền tự chủ của mình trong suốt thời gian một ngàn năm nữa. Đó là nhờ ở những nhân tố mà tôi đã nêu ở trên, cũng như nhờ ở sự khôn khéo của ông cha ta đã biết lúc cương lúc nhu, lúc tiến lúc lùi, tuy giữ hình thức triều cống ba năm một lần nhưng vẫn luôn luôn cảnh giác, coi phương Bắc là giặc, là kẻ thù, không bao giờ coi là bạn cả.

Chỉ có gần đây, trong khoảng thời gian 30 năm từ 1949 đến 1979, vì ý thức hệ, vì muốn độc tôn chiếm hữu quyền hành, giới cầm quyền Việt Nam mới coi kẻ thù truyền kiếp là huynh trưởng, là ân nhân, để rồi tự nguyện trở thành tên lính tiền phong, đem xương máu của chính đồng bào mình bảo vệ “ân nhân” vốn là kẻ thù đó. Khi bị người “anh em” dạy cho một bài học biên giới mới tỉnh ngộ thì đã muộn: chủ nghĩa bành trướng Đại Hán cũng vẫn y nguyên như 2000 năm về trước, cho dù được che giấu dưới chiêu bài “chủ nghĩa quốc tế vô sản”, “môi hở răng lạnh”; kế sách “Cù thị” vẫn tái diễn mà trong đó, [các lãnh tụ] Đảng Cộng sản Việt Nam không khác nào một thứ “thái tử Hưng”. Tuy nhiên, lần này, bá quyền Trung Quốc có nhiều hi vọng thành công: họ đang sử dụng ưu thế kinh tế, chính trị, quân sự của mình để tạo ra một sợi dây xích trói chặt Việt Nam bốn bề từ biên giới phía Bắc bọc qua Hoàng Sa - Trường Sa phía Đông, dọc theo sông Mê Kông từ Tây Tạng tới những nước đã bị khống chế như Lào, Cam Bốt phía Tây. Việt Nam hiện nay đã như cá nằm trong rọ. Bành trướng Đại Hán có thể tiếp tục thực hiện âm mưu làm bá chủ Đông Nam Á và Biển Đông mà gần như không còn chướng ngại vật Việt Nam.

Làm thế nào thoát được vòng cương toả của Trung Quốc để tạ lỗi với tổ tiên, với đất nước? Dù sớm hay muộn, chính quyền cộng sản Việt Nam cũng sẽ phải trả lời câu hỏi này.




[1]Địa danh Trường Sa ở đây là thành phố cổ hiện đang là thủ phủ của tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Còn “Trường Sa” với tư cách là tên gọi quần đảo trên biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam, Trung Quốc gọi là “Nam Sa”. Đời Hán, thành Trường Sa là kinh đô của “Trường Sa quốc”, một trong số chư hầu của nhà Hán. Theo sử sách, vào khoảng sau năm 195 TrCN, Nam Việt vương Triệu Đà đã từng tấn công Trường Sa quốc, chiếm đất của nước này. Đây là hành động chủ yếu mang tính tự vệ, vì nhà Hán (sau khi Hán Cao tổ Lưu Bang đã chết, Lữ hậu thâu tóm chính sự) khi đó bộc lộ tham vọng thôn tính Nam Việt, mà Trường Sa là ngả tiến quân thuận tiện nhất. (Các chú thích đều của talawas.)
[2]Để độc giả tiện theo dõi đoạn trích dẫn sử liệu này của tác giả Phong Uyên, talawas xin tóm lược dòng chính lưu của cây phả hệ nhà Triệu (gồm cả thảy 5 đời vua) đã cai trị Nam Việt quốc, như sau: Triệu Vũ vương (tức Triệu Đà, trị vì từ 207 TrCN đến 137 TrCN), Triệu Văn vương (tức Hồ, cháu đích tôn của Vũ vương và cháu ngoại của An Dương vương Thục Phán nước Âu Lạc; 137 TrCN – 125 TrCN), Triệu Minh vương (tức Anh Tề, 125 TrCN – 113 TrCN), Triệu Ai vương (tức Hưng, 113 TrCN – 112 TrCN; thực ra Hưng là con của Cù thị [vợ lẽ Minh vương] với Thiếu Quý, tình nhân của Cù thị – cả Cù thị lẫn Quý đều là người Hán), và Triệu Dương vương (con của Minh vương với quý phi người Việt; 112 TrCN – 111 TrCN). Đến đây (năm 111 TrCN), nhà Triệu mất nước Nam Việt vào tay nhà Hán.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Bài Thuốc Cứu Nguy Kinh Tế Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thái Nhiên



Từ ngày 23 đến 26/06/08 Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN đến Hoa Kỳ để xin cứu nguy kinh tế. Sau chuyến viếng thăm này, dư luận quốc nội cũng như quốc tế đã nêu thắc mắc rằng: tại sao trong những thương thảo về cứu nguy kinh tế, Hoa Kỳ và CSVN đã dành rất nhiều chú tâm đến hai đề mục quốc phòng và giáo dục? Đi tìm giải đáp cho câu hỏi vừa nêu, trước tiên, chúng ta hãy suy nghĩ về những nguyên nhân thâm sâu khiến Nguyễn Tấn Dũng phải tìm tới Hoa Kỳ.


Như mọi người đã biết, xã hội Việt Nam hiện đang lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế rất trầm kha. Tính tới tháng 5/2008 tỷ lệ lạm phát lên tới 25%. Sau các cao điểm 2006 và 2007, thị trường chứng khoán giảm 62%. Giá lương thực lên cao bất tận. Dân chúng vô cùng đói khổ. Bất chấp luật chống đình công, công nhân đình công liên miên, và đông đảo. Lòng căm giận của quần chúng chẳng khác nào quả bom nổ chậm. Nội bộ đảng CS cực kỳ bối rối. Chiếc ghế thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng chỉ là con tàu nhỏ giữa cơn phong ba của biển lớn.

Trong thế giới của những nhà cầm quyền không do dân bầu, những nhà cầm quyền phi chính thống, CSVN là bậc thầy siêu đẳng về khoa độc tài và tham ô. Thế nhưng trên địa bàn kinh tế tài chính, CSVN đích thực chỉ là một cậu học trò đang tìm đường thoát nạn mù chữ. Vì vậy khi phải đối diện với khủng hoảng kinh tế, CSVN chỉ biết phổ biến các luận điệu hoang tưởng với hy vọng làm chậm lại cơn phẩn nộ của người dân.

Ngày 21/5/2008, từ Saigon, báo Pháp Luật cho hay thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã phê duyệt ngân sách 56 tỷ đồng VN nhằm đào tạo luật học cho công chức ngành tư pháp của C SVN. Chương trình học sẽ diễn ra tại các quốc gia Anh, Mỹ, Úc, Pháp, và Đức. Thời gian học kéo dài từ 18 đến 24 tháng. Với chương trình 56 tỷ kia, CSVN xác định nguyên văn như sau: “Sau khi tốt nghiệp, học viên sẽ trở thành chuyên gia pháp luật, hoặc luật sư am hiểu luật pháp và tập quán thương mãi quốc tế”. (Hết trích dẫn). Xin đừng quên rằng: hầu hết chánh án của CSVN chỉ là những người biết đọc, biết viết tiếng Việt, mù tịt về ngoại ngữ. Làm thế nào chỉ sau 24 tháng họ trở thành chuyên gia pháp luật, đặc biệt là luật quốc tế thương mãi đi kèm với sự thông hiểu ngôn ngữ của nhiều quốc gia Âu Mỹ khác nhau? Đây hiển nhiên là câu chuyện phong thần thô thiển nhất trong thế giới của các loại phong thần. Trước những khốn cùng của khủng hoảng kinh tế CSVN đành phải dùng chuyện phong thần để gieo vào trí óc người dân ảo vọng rằng nay mai nhân tài trong chương trình 56 tỷ sẽ cứu Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế!

Mặt khác, có những gia đình nghèo đến độ phải vừa ăn cơm vừa nhìn con cá gỗ treo trên tường để tạo ảo tưởng là họ đang được ăn cơm với cá! Ngày 29/05/2008, trước quốc hội Hà Nội Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng CSVN đã mời quần chúng Việt Nam ăn cơm với cá gỗ bằng những tán dương về một Hà Nội mở rộng. Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: “Tựa vào dãy núi Ba Vì và hướng ra dòng sông Hồng, Hà Nội sẽ luôn giữ được thế rồng cuộn, hổ ngồi, tiện hướng nhìn sông dựa núi, tiếp nối được giá tri khoa học và nghệ thuật trong lịch sử hình thành và phát triển đô thị Việt Nam.” Buổi cơm cá gỗ của Nguyễn Tấn Dũng đã nêu bật các khuyết điểm sau đây.



-Người Việt thường nói rồng bay, phượng múa. Rồng cuộn là rồng chết. Hổ phải phóng mình săn mồi. Hổ ngồi là hổ bệnh. Tựa lưng vào hổ bệnh, đưa mắt ngắm nhìn rồng chết. Phải chăng đó là hình thái phong thủy tuyệt đẹp của Hà Nội dưới mắt nhìn của nhà phong thủy Nguyễn Tấn Dũng.



-Người đời chỉ nhắc tới phong thủy nhân những khi trà dư, tửu hậu, những khi cần cho nhau đôi câu chuyện làm quà. Chỉ có CSVN mới tôn vinh phong thủy thành một bộ môn khoa học hiểu theo nghĩa nghiêm chỉnh nhất. Trên toàn thế giới từ cổ chí kim, CSVN là chính phủ duy nhất đã long trọng lấy phong thủy làm nền tảng cho việc bàn luận quốc sự giữa thủ tướng và quốc hội.



Hai hoang tưởng vừa trình bày hiển nhiên không có khả năng làm người dân giảm đi những phẩn nộ trong khủng hoảng kinh tế. Vì vậy, CSVN phải nghĩ tới các việc làm cụ thể hơn. Đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự việc Nguyễn Tấn Dũng có mặt tai Hoa Kỳ từ 23 đến 26/06/2008.

Ngày 23/06/08, bằng văn bản trả lời cho báo Wall Street Journal, ông Nguyễn Tấn Dũng xác định: “Tái tổ chức các doanh nghiệp nhà nước là một trong các nhiệm vụ hang đầu để củng cố nền kinh tế”. Lời xác nhận vừa kể của Nguyễn Tấn Dũng đã mạnh mẽ chỉ ra rằng nguyên nhân trọng tâm đẩy tới khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam ngày nay lại nằm ngay trong cung cách điều hành guồng máy kinh tế của chế độ Hà Nội. Điều gọi là nguyên nhân trọng tâm kia đã được nhóm giáo sư, chuyên gia kinh tế của đại học Harvard-Hoa kỳ trình bày trong báo cáo đề ngày 15/01/2008. Báo cáo này gồm các chủ điểm sau đây:



Thứ nhất: Chế độ kinh tế tại Việt Nam có tên gọi là kinh tế tư bản thân hữu. Thân hữu ở đây là thân hũu giữa các tập đoàn kinh tế, đặc biệt là tập đoàn kinh tế quốc doanh với thủ tướng CSVN. Những tập đoàn này làm việc trực tiếp với thủ tướng, vượt qua các bộ quản lý chuyên ngành.

Thứ hai: Ba bộ và cơ quan ngang bộ có trách nhiệm hoạch định chính sách vĩ mô là Bộ Tài chánh, Bộ Kế hoạch Đầu tư, và Ngân hàng nhà nước không phối hợp thích nghi trong công việc chung.



Thứ ba: Bộ tài chánh thiếu chiến lược hữu hiệu về nguồn thu ngân sách, không kiểm soát được chi tiêu ngân sách, chi ngoài ngân sách quá nhiều.



Ba bệnh chứng vừa trình bày cho thấy guồng máy kinh tế của CSVN thực sự bị nội thương trầm trọng. Muốn đảng CSVN, cùng với chiếc ghế thủ tướng của chính mình được tiếp tục tồn tại, Nguyễn Tấn Dũng phải tìm tới Hoa Kỳ nhằm xin Mỹ viện trợ các giải pháp cứu nguy kinh tế. Do những đưa đẩy của lịch sử, lúc kinh tế CSVN lâm trọng bệnh cũng chính là lúc Hoa Kỳ cần CSVN đóng vai trò nút chặn trên con đường bành trướng của Bắc Kinh. Đôi bên đều có nhu cầu làm việc chung. Vì vậy ngày 24/06/08, sau cuộc hội kiến tại Bạch ốc, tổng thống Hoa Kỳ và thủ tướng CSVN đã nhanh chóng đạt đến các thỏa thuận như sau: đôi bên “thiết lập một cơ chế đối thoại mới, ở cấp cao để bàn về các vấn đề chiến lược như kinh tế, giáo dục, môi trường, khoa học, quốc phòng và an ninh”. Đặc biệt về mặt quốc phòng, ông Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: “ Tổng thống Hoa Kỳ đã nhắc lại hậu thuẩn của Hoa Kỳ đối với chủ quyền, an ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”



Ngày 26/06/08 đài BBC Luân Đôn loan tin: tổng thống Philippines Gloria Arroyo đã hội kiến với tổng thống Bush trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng vào tòa Bạch Ốc. Và rồi, sau khi gặp tổng thống Bush, Nguyễn Tấn Dũng đã đề nghị với tổng thống Philippines để hai nước có tuần tra chung về hải quân nhằm bảo đảm an ninh biển.



Song song với hoạt động quốc phòng, ngày 25/06/2008, trước sự chứng kiến của Nguyễn Tấn Dũng, thứ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo của CSVN, Phạm Vũ Luận đã cùng với phụ tá bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ, ông James Glasman ký bản ghi nhớ thỏa thuận hợp tác trong lãnh vực giáo dục giữa hai quốc gia. Ngay sau lễ ký kết, ông James Glasman thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố: “Điều quan trọng là những người có trách nhiệm trong lãnh vực giáo dục giữa hai nước phải biến lời nói thành hành động hiện thực.”


Nhìn chung ngoài một số hợp đồng hứa hẹn kinh doanh thông thường , chuyến đi Mỹ cầu viện Kinh tế của Nguyễn tấn Dũng đã làm cho quan hệ Việt Mỹ trở nên gắn bó hơn chung quanh hai chủ đề: quốc phòng và giáo dục. Tại sao vấn nạn kinh tế Việt Nam lại dẫn đến hai chủ đề quốc phòng và giáo dục? Thưa rằng kinh tế không thể thực sự phát triển bền vững nếu quốc phòng chưa ổn định. Trong hiện tình bang giao quốc tế, trên địa bàn quốc phòng, Hoa kỳ và Việt Nam gặp nhau tại biên giới Việt Hoa.

Hoa Kỳ cần Việt Nam cản đường nam tiến của Trung Quốc.


Việt Nam cần Hoa Kỳ hổ trợ Việt Nam trong quyết tâm bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ.


Cả Hoa Kỳ lẩn Việt Nam đều không muốn thế liên minh quân sự Việt Mỹ làm Trung Quốc nổi giận. Vì vậy Hoa Kỳ đã gặp tổng thống Philippines, trứơc khi Philippines và Việt Nam gặp nhau. Ngoài mặt là liên minh Việt Phi, bên trong là liên minh Việt Mỹ. Như vậy chủ đề quốc phòng đã tạm ổn.


Bây giờ hãy tìm hiểu mối liên hệ giữa kinh tế và giáo dục. Kinh tế thị trường là guồng máy kinh tế vận hành trên sự tôn trọng triệt để vai trò của tư nhân. Hệ luận của nguyên tắc vừa nêu là tinh thần bình đẳng giữa tư nhân với tư nhân và giữa tư nhân với nhà cầm quyền.


Đối với doanh gia quốc tế CSVN xác nhận kinh tế của Việt Nam là kinh tế thị trường. Thế nhưng, trong thực tế vai trò của tư nhân trên hoạt động kinh tế đã bị nhà nước đè bẹp. Bất chấp lời hay lỗ, nhà nước đã dùng ngân quỹ quốc gia để nuôi sống những tổng công ty quốc doanh, tạo điều kiện cho những tổng công ty này mở rộng tầm hoạt động trùm phủ lên toàn bộ guồng máy kinh tế quốc gia. Tình trạng trùm phủ này đã giết chết vô số công ty tư nhân ít vốn hơn nhưng kinh doanh hữu hiệu hơn. Những tổng công ty kia thường thua lỗ trầm trọng vì thiếu năng lực và tham ô. Xin hãy khảo sát một vài thí dụ rút ra từ bản tin ngày 23/06/08 của BBC Luân Đôn:
- Tổng công ty dầu khí PetroVietnam bỏ rơi công tác thành lập hệ thống lọc dầu để nhảy qua thành lập ngân hàng, xây dựng khách sạn năm sao…
- Tổng công ty Điện Lực ViệtNam cố tình quên đi cảnh thành phố bị cúp điện, mãi mê chạy theo kinh doanh viễn thông, đồng thời lấy 250 triệu Mỹ kim của công quỹ dể xây dựng một khu nghỉ mát ở ven biển.


- Tổng công ty đóng tàu Việt Nam, có tên là Vinashin, thay vì đóng tàu, đã vay ba tỷ Mỹ kim để kinh doanh vận tải đường biển, để lập nhà máy sản xuất beer, để đánh bạc dưới hình thức mua bán chứng khoán…


- Trên đây chỉ là ba trong vô số tổng công ty tại Việt Nam đã và đang kinh doanh theo kiểu đánh võ tự do.


Trước kia, CSVN gặp khó khăn bởi tệ nạn “trên bảo dưới không nghe”. Ngày nay chủ nghĩa Marx Lenin đã bị thay thế bằng “Chủ nghĩa Đô la”. Ngày nay không còn vấn đề “trên dưới” nũa. Ngày nay CSVN lâm vào hoàn cảnh đại gia bảo, đại gia không nghe. Đại gia toàn là những người vừa mù tịt về phương pháp và luật lệ kinh doanh của kinh tế thị trường, vừa không ai nghe ai, người nào cũng muốn chiếm ưu thế kinh doanh so với các đại gia khác, bất chấp quyền lơi của quốc gia, bất chấp luật pháp của xã hội. Đó là tất cả nguyên nhân trọng yếu dẫn tới rối loạn thị trường, khủng hoảng kinh tế.


Nói cách khác do không được giáo dục thích nghi về hoạt động của kinh tế thị trường, CSVN đã đẩy kinh tế thị trường Việt Nam rơi vào khủng hoảng ngày nay. Khủng hoảng lương thực và nhiên liệu của thế giới chỉ là giọt nước sau cùng của ly nước đã đầy. Như vậy muốn cứu Việt Nam thoát khỏi thảm trạng kinh tế hiện nay, nhà cầm quyền kinh tế Việt Nam, tức là đảng CSVN cần phải đựoc giáo dục lại từ đầu các bài học về trật tự về luật pháp, và nhất là về tính dân chủ và minh bạch của kinh tế thị trường.


Tóm lại, Kinh tế Việt Nam chỉ ổn định và phát triển chừng nào Việt Nam không bị de dọa bởi họa xâm lăng từ Bắc Phương, chừng nào Hoa Kỳ không bị Trung Quốc quấy nhiểu. Muốn vậy Mỹ Việt cần một liên minh quốc phòng. Mặt khác, kinh tế Việt Nam chỉ thực sự có khả năng vận hành trong thịnh vượng chừng nào nhà cầm quyền CSVN chịu hoc, chịu hiểu và chịu thành tâm tôn trọng luật lệ kinh tế thị trường. Muốn vậy giáo dục Hoa Kỳ, đặc biệt là giáo dục kinh tế, cần mở cửa tiép nhân học viên từ CSVN. Đó là lý do giải thích tại sao có những thỏa thuận về quốc phòng và giáo dục trong thời gian Nguyễn Tấn Dũng tới Mỹ để xin cứu nguy kinh tế.


Đỗ Thái Nhiên
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Trần Khải Thanh Thủy mạn đàm với GS Kết về chuyến đi Mỹ của ông Dũng

Trần Khải Thanh Thủy (ghi)

Chuông điện thoại reo vang, tôi nhấc ống nghe, giọng dè dặt:

- A lô!

Từ đầu dây vang lên tiếng người nói:

- Xin gặp nhà văn Trần Khải Thanh Thủy ạ!

Thành thực, tôi thật sự ái ngại, kể từ ngày bị đảng vô cớ bắt giam, tôi không còn là nhà văn dưới con mắt của bạn bè, người dân trong quốc nội nữa.

Ðơn giản vì sống lâu trong sự lừa dối, ác độc của đảng cộng sản, người ta chỉ có hai cách để lựa chọn, hoặc phải làm quen với nó, sống cảnh “mũ ni che tai”, “không biết, không nghe, không thấy”, hoặc tự bộc lộ quan điểm của mình. “Biết rõ, vẫn nghe, luôn thấy”. Tôi thuộc loại người thứ hai, không thể làm như lời người xưa dặn, dù thâm thúy đến đâu, qua đúc kết cả nghìn năm kinh nghiệm đi chăng nữa: “Tâm hệ nhất xứ, thủ khẩu như bình” (Buộc trái tim lại, miệng kín bưng như hũ nút...).

Tiếc thay, số người dám lựa chọn con đường thứ hai như tôi: “Bung trái tim ra, miệng nói theo những lời mách bảo của con tim” không nhiều, vì thế mà bị kết tội phản đảng (phản lại các hoạt động làm kìm hãm sự phát triển của đất nước của đảng độc tài tiếm quyền). Bởi vậy, 463 hội viên hội văn học nghệ thuật Hà Nội, cùng 700 hội viên hội nhà văn Việt Nam, và bao nhiêu mối quan hệ khác, không ai dám gọi điện thoại, giao tiếp với tôi vì sợ bị liên lụy, sợ lý lịch có vấn đề, sợ bản thân cũng như gia đình, chồng con bị nhòm ngó, có tên trong sổ đen của lũ chó săn nội hóa (do cài đặt thiết bị nghe trộm)...

Chính vì thế chiếc điện thoại bàn gần như bị bỏ không, hầu như chỉ để dùng vào một việc duy nhất: Tôi gọi sang bà ngoại hoặc bà gọi sang thăm con cháu, nay nó bỗng reo lên một cách đầy bất ngờ và thật vô cớ như vậy...

- Chị Thủy à, đầu dây giọng anh Nguyễn Chính Kết vang lên:- Tôi Kết đây.

- À! Vâng! Vâng ạ. Cái tên lập tức làm sáng lên gương mặt bình dị quen thuộc, dù chưa gặp ngoài đời lần nào nhưng đã trở nên thân thiết ngay khi tôi trở thành thành viên của khối 8406.

- Vừa rồi có đọc thư ngỏ của chị gửi Nguyễn Tấn Dũng, bà con bên này nhiều người ủng hộ chị lắm đấy. Lý do gì thúc đẩy chị viết thư gửi Nguyễn Tấn Dũng vậy?

- Có gì đâu anh, tôi mạnh dạn bày tỏ, vì câu trả lời đã nằm sẵn trong đầu: - Lý do đầu tiên là sự thất vọng tột cùng của cá nhân em với ngài đương kim thủ tướng này, anh ạ. Chính em và gần như toàn thể người dân trong nước đã bị mắc lừa bởi những lời kêu gọi hào sảng của ông ta trong việc chống tham nhũng: Nào tham nhũng và quan liêu là một trong 4 nguy cơ của xã hội hiện tại, làm cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của đảng, gây bất bình và giảm lòng tin của nhân dân với đảng và nhà nước. Nào: Phải đề ra các biện pháp, pháp lệnh chống tham nhũng. Cụ thể ra cả một bộ luật hình sự, với quy định 11 tội danh trong nhóm tội phạm tham nhũng. Nào không chống được tham nhũng tôi sẽ xin từ chức. Nào đưa ra 8 vụ án điển hình phải giải quyết dứt điểm trong năm 2007 như PMU 18, đất đai ở Ðồ Sơn (Hải Phòng), phân đạm ở Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, đất đai ở quận Gò Vấp (Sài Gòn) v.v... Nhưng tất cả chỉ là sự nói láo, nói lấy được, nghĩa là nói như dân gian nhận định về Bộ Chính Trị của triều đình cộng sản:

Một bầy thay trắng đổi đen

Phía dưới hủ hóa, phía trên dạy đời.

Cùng là tham nhũng cả, có khác nhau ở mức độ nhiều ít, vì vậy làm sao chống nổi tham nhũng? Cùng là quạ chứ có phải là bồ câu đâu, cho nên việc gì phải xấu hổ vì màu đen của quạ?

- Ôi chị Thủy à? Không biết bà con ngoài Bắc hoặc trong quốc nội thế nào chứ, cá nhân tôi và nhiều người bên này luôn tin vào nhận định xác thực của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: -“Ðừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm. Vì thế khi nghe tin Nguyễn Tấn Dũng hô hào chống tham nhũng, chúng tôi biết ngay là ông ta nói xạo.

- Tất nhiên điều làm em lầm tưởng là Việt Nam chống được tham nhũng. Còn có một lý do khách quan nữa, đó là theo tiền lệ, Việt Nam lệ thuộc khá nhiều vào Trung Quốc, gần như rập khuôn theo mô hình Trung Quốc (tiếc là những mặt tích cực của Trung Quốc thì không rập khuôn được, để đến nỗi bế tắc về chính trị, khủng hoảng về đường lối, tồi tệ về đủ mọi thứ từ đối sách, quyết sách, chính sách như hiện tại).

Các thành tựu của Việt Nam thường đi sau Trung Quốc 10 năm, ví dụ Trung Quốc đổi mới 10 năm thì Việt Nam cũng quyết định đổi mới theo. Năm 1996, sau một năm hô hào chống tham nhũng, Trung Quốc tổ chức hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh có 89 nước tham dự với 900 đại biểu trong đó có Việt Nam, nội dung của hội nghị này là nhận định về thực trạng tham nhũng trên thế giới và đưa ra những biện pháp chống lại tệ nạn này. Trong đó bắt buộc tất cả các quan chức trong nội các chính phủ phải kê khai và công khai tài sản trước khi nhận chức và sau khi rời khỏi chức vụ, để ủy ban quốc gia chống tham nhũng kiểm tra.

Suốt 13 năm qua (1995-2008) Trung Quốc đã phát hiện 227,000 vụ tham nhũng, truy tố 13,000 quan chức cấp huyện trở lên và 57,000 quan chức cấp phường xã, thu hồi cho nhà nước 22.9 tỷ nhân dân tệ ($2.8 tỷ USD) theo đúng quan điểm của Chủ Tịch Giang Trạch Dân: “Trị nước phải trị đảng trước, cán bộ cấp càng cao, càng phải xử lý nghiêm.”

Kể từ năm 1995 một loạt tên tuổi đã bị bắt như Trần Hy Ðồng (nguyên ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư thành ủy Bắc Kinh 16 năm), Thành Khắc Kiệt (nguyên phó chủ tịch quốc hội bị kết án tử hình). Tử Bỉnh Tùng (nguyên phó chủ tịch Khu Tự Trị Choang, Quảng Tây bị tù chung thân). Du Phương Lan, nguyên bí thư thành ủy thành phố Khâm Châu, Hồ Trường Thành, phó chủ tịch tỉnh Giang Tây (tử hình ) v.v... Ðặc biệt nghiêm trọng là vụ án thế kỷ của tập đoàn buôn lậu công ty Viễn Hoa thành phố Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, với 600 bị cáo, trong đó 16 án tử hình, 12 án chung thân, và 56 án khổ sai. Cả 3 phó chủ tịch tỉnh bị cách chức, gây chấn động dư luận cả nước, được nhân dân Trung Quốc nức lòng phấn khởi và đồng tình ủng hộ. Chính vì thế hồi tháng 6-2006, khi nghe ông Dũng lên nhận chức và đưa ra những lời kêu gọi hào sảng như những lời “sát thát” trong lĩnh vực diệt tham nhũng thì em tin cơn bão chống tham nhũng ở Trung Quốc đã tràn sang Việt Nam. Và dưới những lời kêu gọi của ông Dũng thì Việt Nam cũng sẽ chống được, sẽ có những vụ án hi hữu nhất trong lịch sử chống tham nhũng của đảng cộng sản xảy ra. Hàng trăm cán bộ sĩ quan an ninh, quân dội dính lứu đến ăn hối lộ, bao che cho những đường dây ma túy, rồi vụ PMU sẽ được đưa ra ánh sáng làm thay đổi bộ mặt xã hội, giúp Việt Nam đẩy lùi các tệ nạn v.v... Nhưng sau hai năm theo dõi, thì thấy đất nước càng ngày càng khốn khó, tham nhũng không những không bị đẩy lùi mà còn phát triển với mức độ chưa từng thấy, những người chống tham nhũng từ dân oan đến nhà báo lần lượt vào ngồi tù hoặc trại tâm thần...

Quá thất vọng, thêm bản thân bị tù tội vì nói thẳng, nói thật... nên biết tin Nguyễn Tấn Dũng sang Mỹ em quyết định phải viết thư ngỏ.

- Chị nhận xét gì về tình trạng lạm phát hiện nay?

- Lạm phát với tốc độ phi mã anh ạ, không chỉ: 22 hoặc, 25 % như báo chí cộng sản nói đâu, mà có nhiều mặt hàng tới 60%. Lạm phát tăng chóng mặt, thời cuộc chưa bao giờ phải run trong từng cọng rau, từng hạt mắm, muối như thời điểm 2008 này. Không chỉ đơn thuần là giá chạy, lương nằm mà lương còn phải đắp chăn rên hừ hừ trong nhà hàng tuần như người lên cơn sốt rét vậy. Chính vì lương ốm, nên những người sống bằng đồng lương tội nghiệp lắm, từ cán bộ công nhân viên theo ca, theo kíp, hoặc ôm bàn đủ 8 tiếng mà lương chỉ 50-60 USD, trăm khoản phải chi dùng. Từ tiền học của con, chi tiêu hàng ngày, điện nước sinh hoạt, phụng dưỡng cha mẹ già, chưa kể khóc cười cùng thiên hạ (đám cưới, đám tang) không sao mà bôi đủ. Cho nên đi làm cả tháng cho nhà nước chỉ để lĩnh số lương tiêu đủ một tuần, ba tuần còn lại, nhà giàu, có của ăn của để thì mắc bệnh “chảy máu vàng” (bán vàng đã tích lũy từ trước để phụ thêm vào tiền sinh hoạt, nhà nghèo chỉ còn nước cháo rau qua ngày.

Nói chung ở Việt Nam bây giờ nhiều cảnh tội lắm, số bàn tay lật ngửa (ăn xin, ăn mày) tăng gấp 10-15 lần so với thời điểm trước năm 2,000. Hơn nữa đã đói, nghèo thì sự dung tục sẽ tăng cao hơn và nhận chìm bao giá trị làm người, giá trị tự thân của người dân trong xã hội. Câu thơ day dứt nhất trong điều kiện hoàn cảnh hiện tại của nông thôn Việt Nam là:

Hoa nở chẳng vì đâu

Khi vàng con mắt đói

Bởi xóm làng thương nhau

Bếp mỗi chiều vẫn khói

Không có bánh mì, thì hoa hồng cũng chẳng giúp ích trong cuộc sống... Ngọn khói lam mỗi chiều bốc lên trong mỗi mái nhà chỉ là tượng trưng, theo thói quen, để tự an ủi mình và an ủi xóm làng xung quanh, dù dạ dày vẫn co thắt trong đầu mỗi người, mỗi khi chiều về. Bố mẹ vẫn phải nhường nhau và nhường con trong bữa ăn hàng ngày. Cơm ba bát, áo ba manh, thuốc ba thang (3 lần sắc) xem ra vẫn là điều khó, và việc thỏa mãn bần cố nông trong thời cộng sản vẫn chẳng thay đổi bao nhiêu so với thời phong kiến, đế quốc mục ruỗng thối nát hàng nghìn năm trước đó.

- Vâng, chị là nhà văn, nên có những nhận định sống động xác thực lắm. Câu hỏi cuối cùng: - Chị nhận xét về tình trạng đấu tranh dân chủ trong nước như thế nào?

- Tất nhiên là có triển vọng hơn anh ạ. Lớp gạo cội thì vững tin là phong trào dân chủ đang đi tới đích cần thiết, tự do dân chủ cho nước nhà. Từ giờ cho đến cuối năm 2008 và đầu 2009 sẽ có những biến chuyển lớn. Thời cuộc như người buộc xích lôi đi, tạo ra những cú nhảy vọt về nhân quyền, tự do, chứ không còn nằm trong vũng lầy của lịch sử nữa, nên rất tin tưởng, phấn khởi. Lớp trẻ cũng ý thức được trọng trách trên vai mình, lại biết được cộng đồng Hải ngoại hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần nên đối đầu trực diện hơn, không e dè nhút nhát, không vướng bận sợ hãi như trước nữa. Thời gian vừa rồi tại Hà Nội xảy ra 2 biến cố, tuy chưa được trọn vẹn, song cũng đủ như một tiếng gà gáy sáng, xua đi bóng đêm ma quỷ, làm nức lòng người dân thủ đô. Ðó là cuộc chống đuốc cộng Tàu và thả bóng bay nhân quyền. Sắp tới 16-7 sẽ là ngày biểu tình vòng quanh bờ hồ với số lượng hàng trăm người... Tất cả những mầm xanh tự do tuy còn nhỏ nhoi này song đến một ngày gần nhất sẽ trở thành kẻ thù của sa mạc, nguy cơ của độc tài, giúp chế độ cộng sản sớm chấm dứt, và bà con mình ở hải ngoại sẽ lần lượt trở về tổ quốc, tay trong tay và mắt cười trong mắt với tất cả các nhà dân chủ tại quốc nội rồi cùng xắn tay xây dựng đất nước đàng hoàng to đẹp, dân chủ và giàu mạnh, như tất cả các nước anh em bên ngoài.

- Vâng, thành thực cám ơn chị, thời gian hạn hẹp quá, đành dừng cuộc mạn đàm tại đây, hẹn gặp lại chị sau.

- Dạ. Chào anh, hy vọng sẽ sớm gặp lại.

Hang đá, 30-6-2008

Trần Khải Thanh Thủy
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Tuổi Trẻ Việt Nam Phải Làm Gì Cho Đất Nước Hôm Nay?

Hương Trà
Sinh viên năm thứ 2 Khoa Luật
(Email: huongtra13@gmail.com)

Image
Hình: Thanh niên sinh viên Việt-Nam biểu tình tại Hà Nội chống Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa và Trường Sa.
Người Việt Nam chúng ta vẫn luôn tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc mình. Lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước với những chiến công oanh liệt của cha ông ta đã để lại cho chúng ta một đất nước vẹn toàn như ngày hôm nay. Suốt 1000 năm nô lệ giặc Tàu phương Bắc và 100 năm đô hộ giặc Tây, xương máu của tiền nhân đã đổ ra để dành độc lập cho tổ quốc, không phải để cho chúng ta ngày hôm nay lại dững dưng, vô cảm trước bọn bá quyền Trung Cộng thời đại xâm lấn đất nước ta một lần nữa.

Vào thời điểm năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng, các đảng phái chính trị khác nhau đã lập thành được một chính phủ đa đảng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, dù là chỉ một thời gian ngắn ngủi. Ông Hồ Chí Minh và các đồ đệ của mình chỉ vì tham vọng chính trị và mộng bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn cõi Đông Dương nên đã tìm cách tiêu diệt các đảng phái và những thành phần ái quốc phi-cộng sãn đã từng cùng ông chống ngoại xâm như: nhà ái quốc họ Phan, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đức Giáo chủ Hoà Hảo Huỳnh Phú Sổ,… và hàng vạn chí sĩ khác.

Lịch sử còn rành rành đó, thế nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đang cố ra sức vùi dập, chối bỏ sự thật này. Để làm được việc này, ĐCSVN cần đến sự hỗ trợ đắc lực, thậm chí mù quáng của các đảng viên, cán bộ trong guồng máy chính quyền, quân đội, công an, những người trí thức,... Trong thế kỷ 21 này, ĐCSVN lại tiếp tục công việc này bằng cách tận dụng các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng thông qua hệ thống internet. Một điển hình cho công cụ đắc lực này là hệ thống công an mạng với những tên tuổi được biết đến như Nguyễn Tử Quảng.

Cũng với hệ thống internet, toàn thế giới đã nhận ra và hiểu rõ bộ mặt thật của CNCS (một chủ nghĩa đã bị khai tử ở Liên Xô và Đông Âu nơi thành trì của nó), cũng như nhận thức rõ được lý tưởng ảo huyền bởi sự tuyên truyền và chỉ đạo của các thành phần bảo thủ lãnh đạo đảng cộng sản. Việc nhận ra sự thật này chỉ là vấn đề thời gian, và những kẻ đang cung cúc mù quáng tận tụy với chế độ cộng sản nên suy nghĩ thật kỹ càng để chắc rằng sự phục vụ nhiệt tình của mình phải là cho đất nước nhân dân, chứ không phải cho một đảng cầm quyền thối nát, kẻo không thì muôn đời sẽ mang tội với Tổ quốc và nhân dân.

Tuổi trẻ tuy bồng bột nhưng với trí tuệ và lòng nhiệt huyết lại là rường cột của nước nhà. Để có được sự nhận xét khách quan trung thực, chúng ta nên ôn lại những dữ kiện đã qua, để từ đó có được cái nhìn đúng đắn về tương lai. Cần phải hiểu rằng trong một đất nước, quân đội và công an là lực lượng bảo vệ đất nước và nhân dân chứ không phải là công cụ bảo vệ chế độ, chính phủ của bất cứ đảng phái nào.

Nhìn vào thực trạng lịch sử VN, trong quá khứ với chế độ phong kiến cai trị đất nước theo hệ thống cha truyền con nối, luật pháp trị dân theo sự chỉ đạo của vua và chỉ có vua là trên hết, vua phán thì bắt buộc thần dân phải nghe theo vì vua như là "thiên tử", dân không có quyền chọn lựa người đại diện hợp pháp cho mình. Vì vậy cho nên, nếu một triều đình mà trong đó vua quan có tài đức biết thương dân, biết lo cho dân thì dân có phúc, ngược lại cũng có không ít những vì vua cùng quan lại tham ô chỉ biết có quyền lợi cá nhân thì đó là cái đại hoạ mà nhân dân phải gánh chịu. Vậy hãy nhìn lại suốt chiều dài hơn 60 năm cai trị tuyệt đối của ĐCSVN, có khác gì chế độ phong kiến ngày xưa không?

Những người trong guồng máy chính quyền hiện nay chỉ tuyệt đối trung thành với đường lối của đảng, trong khi đảng chỉ quy tụ một thiểu số thành phần trong xã hội mà thôi. Như vậy, trung thành với đảng, với chính quyền không phải là trung thành với tổ quốc với nhân dân được.

Theo sự tiến bộ của loài người thì không có cái gì mà tồn tại vĩnh viễn mãi được, trái lại bắt buộc phải đổi thay theo đà tiến bộ của nhân loại. Do đó nền phong kiến lỗi thời cũng phải cáo chung theo định luật bất di bất dịch này. Ngày nay, với chế độ tự do dân chủ đa nguyên mà đại đa số các nước trên thế giới đang theo đã chứng minh rằng: quyền dân chủ nhân quyền của người dân được tôn trọng và bảo đảm bằng giấy trắng mực đen, bằng quyền hạn tự do chọn lựa người đại diện cho mình để phục vụ đất nước. Những ai không tôn trọng ý kiến của nhân dân, độc tài cai trị thì dĩ nhiên theo thời gian sẽ bị nhân dân đào thải.

Nếu ĐCSVN thực tâm yêu nước, thực tâm muốn tiến bộ cùng dân tộc như đảng đã từng tuyên bố thì bắt buộc phải chấp nhận chế độ đa nguyên có cạnh tranh để cùng nhau tiến bộ và thực tâm tôn trọng những gì đã hứa. Chính bản thân ông Hồ Chí Minh cũng đã từng nói “một đảng mà giấu diếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng, một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó từ đâu mà có khuyết điểm, xét hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó rồi tìm mọi cách để sửa chữa. Như thế là đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn và chân chính” (trích nguồn tapchicongsan.org.vn/deta…ews_ID=8651104).

Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc (LHQ) cùng các công ước quốc tế mà chính ĐCSVN đã tình nguyện ký kết tham gia đều thể hiện đầy đủ các quyền lợi của người dân VN. Tuy luật pháp của mỗi quốc gia có khác nhau, nhưng đều phải phù hợp với bảng tuyên ngôn nhân quyền của LHQ và các công ước quốc tế mà mình đã cam kết. Theo đó người dân đều có toàn quyền tự do về ngôn luận, thông tin, báo chí, tín ngưỡng, cư trú, lập hội, tham gia các đảng phái và bất đồng chính kiến với chính quyền…v.v…. Điều 69 Hiến Pháp Việt Nam (HPVN) hiện hành cũng ghi rõ các quyền lợi đó, nhưng tiếc thay Bộ Luật Hình Sự (BLHS) là luật dưới Hiến Pháp lại có những điều khoản hoàn toàn đi ngược lại điều 69 HPVN như điều 88 (tuyên truyền chống nhà nước….), điều 258 (lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước….) để rồi công an và toà án xem 2 điều khoản vi hiến này như là kim chỉ nam để tự do trù dập, bắt bớ và bỏ tù những ai dám can đảm đấu tranh cho dân chủ nhân quyền một cách ôn hoà bất bạo động. Hành động này đã được thể hiện rõ nét qua những phiên toà trá hình để xử những những nhân vật bất đồng chính kiến, những người dám đứng lên chống bất công tham nhũng, thối nát của chế độ.

Sau khi ĐCSVN cai trị ở miền Bắc thì đã có hơn 2 triệu người trốn vào miền Nam sau ngày ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước vào tháng 7/1954, đặc biệt sau khi Hoa kỳ thực sự phản bội và bỏ rơi chính phủ VNCH, tạo thuận tiện cho CSVN cưỡng bức miền Nam bằng vũ lực vào tháng 4/1975, không qua bầu cử tự do như Hiệp định Paris đã quy định. Suốt những năm sau đó, CSVN lại tiếp tục gây ra nhiều thảm cảnh bằng lối cai trị tàn bạo và những chính sách quái gở mà đã khiến hơn 3 triệu người phải bỏ nước ra đi, với số người thiệt mạng trên biển cả, trên đường đi lên đến hàng hàng trăm ngàn người.

Những người tỵ nạn này mà đa số là "thuyền nhân", sau khi đến được bến bờ tự do đã làm lại cuộc đời, bản thân và con cái đều thành đạt, và hàng năm gởi về thăm nuôi thân nhân hàng tỷ đô la. Đó cũng là lý do khiến nhà nước CSVN xoay 180 độ không còn gọi đám tỵ nạn là "phản động", mà thay bằng các mỹ từ "Việt kiều yêu nước" hoặc là "khúc ruột ngàn dặm".

Sự sụp đổ hoàn toàn hệ thống cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu đã buộc các nhà lãnh đạo ĐCSVN phải chấp nhận nền kinh tế thị trường của tư bản qua cái gọi là "đổi mới". Nền kinh tế VN bắt đầu được hồi sinh sau giấc ngủ dài, mặc dù sự hồi sinh này đang bấp bênh và giả tạo vì nền kinh tế lệ thuộc hoàn toàn vào sự đầu tư của nước ngoài. Tuy tham gia vào các định chế kinh tế, các tổ chức thế giới, nhưng ĐCSVN chỉ chấp nhận tự do cạnh tranh về kinh tế chớ không bao giờ dám chấp nhận tự do cạnh tranh chính trị.

CSVN thường tuyên bố đế quốc Mỹ là kẻ thù không đội trời chung. Nhưng hôm nay nhờ có đế quốc Mỹ mà Việt Nam mới được vào WTO, được ngồi vào ghế thành viên không thường trực của Đại hội đồng LHQ, được Mỹ và các nước dân chủ Tây phương giúp đỡ mới có được nền kinh tế như ngày hôm nay. Hàng năm Mỹ thường giúp VN cải thiện nền giáo dục, cứu trợ thiên tai và giúp các bệnh nhân nghèo AIDS cùng các chương trình xoá đói giảm nghèo, cũng như được Mỹ ưu ái bán cho vệ tinh VINASAT-1..v.v… CSVN thường nói là tư bản bóc lột công nhân, còn CNCS là chủ nghĩa công bằng do công nhân và nông dân lãnh đạo nhưng trên thực tế đồng lương và cuộc sống của công nhân và nông dân trong những nước tư bản dân chủ đa nguyên đã vượt xa gấp trăm lần công nhân và nông dân của các nước theo CNCS.

CSVN tuyên dương Trung Quốc là đất nước đàn anh, là người thầy vĩ đại, là ân nhân như môi với răng,... nhưng thử nghĩ lại xem Trung quốc đã giúp đỡ cho chúng ta được những gì ngoài việc chiếm đất đai lãnh thổ của ta, giết hại đồng bào và các ngư dân của ta, ngang nhiên phát động chiến tranh năm 1979 để lấn chiếm đất đai của ta khiến cho hàng chục ngàn chiến sĩ phải hy sinh, in tiền giả để phá nền kinh tế của ta, thực phẩm có chất độc cũng từ Trung Quốc mà ra,…

Một chuyện động trời mà nhân dân VN không thể nào ngờ tới, nhưng ngày nay nó đã được phơi bày ra ánh sáng là chính thủ tướng Phạm văn Đồng thừa lệnh chủ tịch Hồ Chí Minh ký công hàm ngày 14/9/1958 công nhận 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa là của Trung quốc. Bởi vậy cho nên khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa từ tay hải quân VNCH vào tháng 1/1974 thì ông GSTS Hoàng Tùng (trưởng ban Tư Tưởng - Văn Hóa TW) tuyên bố: "Trung quốc chỉ chiếm dùm ta sau này sẽ trả lại, tinh thần quốc tế vô sản mà!". Dĩ nhiên câu nói này nhằm để xoa dịu những người còn có chút lòng yêu nước trong đảng mà thôi. Khi Trung Quốc xây dựng phi trường quân sự ở Hoàng Sa thì cả Bộ Chính Trị CSVN đều im lặng và giấu kín không cho ai biết. Bộ Chính trị đảng cũng mập mờ và giấu kín chuyện Trung Quốc đánh chiếm gần hết các đảo ở Trường Sa vào năm 1988 khiến cho sự hy sinh của các chiến sĩ hải quân bị chìm vào quên lãng. Ngày 2/12/2007 vừa qua khi Trung quốc tuyên bố xác nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào thành phố Tam Sa của chúng thì cả ban lãnh đạo ĐCSVN cho đến hôm nay không ai dám lên tiếng phản đối, chỉ cho phép phát ngôn viên ngoại giao Lê Dũng phản đối chiếu lệ trên tivi.

Sinh viên, học sinh cùng các thành phần yêu nước biểu tình chống bọn xâm lăng Trung Quốc thì công an lại thẳng tay đàn áp. Các chiến sĩ trong hàng ngũ quân đội, công an khi đàn áp những người biểu tình phản đối kẻ xâm lược đất nước mình có biết rằng mình đang nối giáo cho giặc không? Quý vị có biết rằng với sự nhiệt tình phục vụ để bảo vệ thành trì của ĐCSVN đã giúp cho những thành phần lãnh đạo bảo thủ của đảng ngày nay người nào cũng có tài sản kết sù trong nước, người nào cũng có tiền gởi ngân hàng ngoại quốc hàng trăm triệu hoặc tỷ đô la, người nào cũng có con đi du học ở các nước tư bản, xài tiền như nước lã. Trong khi đó quí vị là những người trực tiếp chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước tổ quốc và nhân dân thì quí vị có được những gì ngoài đồng lương chết đói và một vài bằng khen do cấp trên ban tặng.

Cụ Hoàng Minh Chính đã từng là trưởng ban nghiên cứu chủ nghĩa Marx-Lênin, có quyền cao chức vọng nhưng ông đã nhìn ra được chính nghĩa mà từ bỏ con đường XHCN, bất chấp mọi hiểm nguy để dấn thân tranh đấu cho Việt Nam có được con đường dân chủ đa nguyên. Ông đã được cả thế giới hoan nghênh và rất đông tướng, tá cùng những đảng viên ưu tú của đảng và mọi thành phần trí thức cùng nhân dân trong nước ủng hộ và đang tiếp nối con đường dang dở của ông, cho dù hiện nay thân xác ông đã hoà cùng sông núi.

Hiện tại chính quyền đang ra sức chặt đứt mọi công việc sinh sống của những người đấu tranh dân chủ, làm áp lực thân nhân gia đình vợ con của họ để cho họ không còn khả năng tranh đấu. Ông Trung tá Tùng (thuộc sở công an thành phố Sài Gòn) nói với anh Đỗ Nam Hải ngày 28/4/2008 rằng: "hiện nay tình báo TQ đã biết mặt anh, biết cả nhà anh nơi anh cư ngụ…vì thế, anh liệu chừng cho vấn đề an ninh của cá nhân anh….". Không biết những ai có tinh thần dân tộc sẽ nghĩ gì trước lời nói này của ông Trung tá công an Tùng?

Ngọn đuốc Olympic Bắc kinh đã kết thúc trong tủi nhục, trong sự chống đối lan tràn khắp nơi trên thế giới. Đúng ra nhà nước Việt Nam không cho ngọn đuốc vào Việt Nam để phản đối hành động xâm lăng của Trung Quốc như Đài Loan đã làm. Nhưng trái lại ngày 29/4/2008 vừa qua chính quyền đã tự hào rước ngọn đuốc thế vận hội ô nhục của bọn bá quyền xâm lược Bắc kinh vào thành phố Saigòn. Với một rừng công an và mật vụ của VN và TQ đã được dàn sẵn từ trước, với sự canh gác nghiêm nghặt và liên tục hạch sách trù dập các nhà đấu tranh dân chủ, hành hung và bắt trước những thành phần sinh viên cùng những người mà chính quyền cho là mầm móng lãnh đạo biểu tình chống Trung Quốc. Ngay chính vị lãnh đạo nhà nước là thủ tướng Nguyễn tấn Dũng cũng đã "quyết tâm" bảo vệ thành công ngọn đuốc. Nhờ vậy một rừng cờ TQ với sự bảo vệ của công an CSVN đã tự do tung bay trên nền trời Sàigòn chiều ngày 29/4/2008, trong khi lá cờ đỏ CSVN tự nhiên biến mất va bỗng chốc Sài Gòn đã trở thành ngày hội của đất nước Trung Quốc. Người TQ cầm cờ tự hào cao ngạo trước nỗi buồn của dân chúng Saigòn, trong khi trang web của hội Thanh Niên Lạc Việt một lần nữa đã bị đánh sập, toàn bộ kế hoạch cho cuộc biểu tình chống TQ đã được công an phá tan trước giờ khai mạc, sinh viên cùng các thành phần yêu nước và dân chúng bị rừng công an cô lập trên tất cả con đường mà ngọn đuốc đi qua.

Nhìn tình cảnh này mọi người chứng kiến đành phải rơi nước mắt cho cái nhục quốc thể của mình, nhưng biết phải làm sao trong giờ phút đó khi toàn bộ sức mạnh của bạo lực nghiêng hẳn về một chính quyền tự nhận là trí tuệ, sáng suốt lãnh đạo đất nước. Ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh tạm thời đã thành công tại VN, xem như chính quyền CSVN đã làm tròn lời hứa đối với đàn anh Trung Quốc (kẻ xâm lăng đất nước mình). Tuy nhiên, khí thế đấu tranh vì chính nghĩa của toàn dân sẽ không bao giờ mất, vì lời di chúc của vị vua anh minh Trần Nhân Tôn "quyết không để mất một tấc đất của quê hương cho bọn bá quyền phương bắc" mãi mãi nằm sâu trong tận đáy lòng của mọi người VN yêu nước.

Các chiến sĩ quân đội, công an là lực lượng nồng cốt để bảo vệ quê hương rồi đây sẽ nhìn ra được sự thật quá đau lòng này. Chúng ta đã mất gần 50 năm mới biết được công hàm dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho bọn bá quyền Trung Quốc của thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bây giờ nếu quý vị còn quá trung thành với một thiểu số người bảo thủ lãnh đạo ĐCSVN mà ra tay đàn áp, bóp chết lòng yêu nước của nhân dân thì thử hỏi trong tương lai đất nước Việt Nam chúng ta sẽ ra sao, bọn bá quyền Trung quốc sẽ nghĩ sao về lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam?. Các nước trên thế giới tuy không bị Trung Quốc xâm lăng nhưng người dân ở các nước này đã vì nhân quyền và dân chủ mà mà lên tiếng, cho nên ngọn đuốc Olympic của Trung Quốc đi đến đâu cũng đều có biểu tình phản đối.

Anh Lê Minh Phiếu (nghiên cứu sinh, sinh viên trường ĐH Luật Montesquieu, Pháp) người được chọn cầm đuốc chạy trên đường phố Sài Gòn đã gởi thư cho ông Rogge chủ tịch Olympic Quốc Tế để phản đối việc Trung Quốc đã lợi dụng ngọn đuốc Olympic vào mục đích chính trị nhằm hợp thức hoá quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc. Tuy phản đối nhưng anh vẫn trở về Sài Gòn để cầm đuốc. Ngược lại chính quyền đã quá cẩn thận tuân theo mệnh lệnh của tổng bộ thiên triều Trung Quốc không cho anh Phiếu cầm ngọn đuốc (lệnh của tổng bộ là do chính tai anh Phiếu nghe được). Tuy nhiên, có sự linh thiêng diệu kỳ là mặc dù ngọn đuốc đã được bảo vệ thật kỹ càng nhưng vẫn bị tắt chỉ cách điểm xuất phát chưa đầy 200mét trên tay của bà Nguyễn Thị Thu Hà (Phó Chủ Tịch UBND thành phố). Điều đáng ghi nhớ nữa là ngọn đuốc đã bị tắt nhiều lần như thế trên suốt các con đường mà ngọn đuốc đi qua. Có lẽ hồn thiêng sông núi đã phù hộ nhân dân Việt Nam.

Xin nhắc nhở các chiến sĩ quân đội, công an rằng: đa số các thành phần trong phong trào tranh đấu cho nền dân chủ trong nước hôm nay đều là những đảng viên ưu tú của đảng, đã từng giữ những chức danh quan trọng trong đảng, đã từng là cấp chỉ huy trong quân đội và công an. Họ là những người đã biết rất rõ đường hướng của chủ nghĩa cộng sãn, đã nhận thức được là CNCS không còn phù hợp cho toàn dân nữa và họ đang thực hiện đúng theo lương tâm của họ, đúng theo sự tuyên truyền hàng ngày của đảng là xây dựng một XÃ HỘI CÔNG BẰNG DÂN CHỦ VĂN MINH.

Tại vì đảng độc tài lãnh đạo nên đã bịt kín mọi sự thật, cho nên đa số những người phục vụ cho đảng cùng đa số nhân dân không biết gì về chuyện Trung Quốc ngang nhiên chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Hiệp ước ranh giới tháng 12/1999 khiến đất nước mất Ải Nam Quan, hiệp ước lãnh hải tháng 12/2000 mất trên 10 ngàn km2 đường biển. Rồi nào là cơ chế độc đảng đã khiến cho tham nhũng công khai lộng hành từ trung ương xuống địa phương không sao cứu giãn nổi, quyền lực và bè phái đã dung túng cho những kẻ bất tài vô dụng ngồi vào các chức danh quan trọng trong chính quyền để thủ lợi cá nhân.

Lịch sử đã từng kết tội Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc theo ngoại bang nhưng Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc chưa hề ký hiệp ước hoặc công hàm dâng đất, dâng biển cho Tàu dù chỉ một tấc. Vậy thử hỏi có người nào lại cam tâm tôn vinh một đất nước đã xâm lăng đất nước mình? Hành động bóp chết quyền tự do của người dân được quy định ở điều 69HP hiện hành là phản lại tổ quốc và nguyện vọng của nhân dân. Theo đà tiến bộ của loài người thì chắc chắn trong tương lai không xa con đường dân chủ đa nguyên bắt buộc phải đến. Chính đại tá Chung (CA Hà nội) khi làm việc với nhà dân chủ Nguyễn Khắc Toàn cũng đã khẳng định là "đa đảng sẽ phải đến từ từ thôi".

Hiện nay cuộc sống của đại bộ phận đồng bào thân yêu đang trở nên khó khăn hơn vì cơn lạm phát phi mã, vì sự lạm quyền và tham nhũng tinh vi của các thành phần quyền lực trong đảng. Việc đảng tuyên bố Nguyễn Việt Tiến (thủ phạm chính tham nhũng trong vụ PMU18) là vô tội và đang phục hồi tất cả quyền lợi cho ông ta, đồng thời lại bắt giam 2 nhà báo của Tuổi Trẻ và Thanh Niên đã đăng bài vạch trần những âm mưu tham nhũng của Tiến, cũng như truy tố thiếu tướng Quắc (vì ông này đã cho tiến hành điều tra để vạch trần những sai trái của Nguyễn Việt Tiến khiến cho Tiến phải bị bắt giam 18 tháng), đã gây công phẩn cho làng báo Việt Nam dưới sự điều hành của đảng. Việc này cũng gây công phẫn trong dư luận trong nước và gây bất mãn quốc tế khiến cho ông trưởng đoàn ngoại giao về nhân quyền của Mỹ phải nêu ra trong ngày đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Mỹ tại Hà Nội vào ngày 30/5/2008 vừa qua.

Trước khi kết thúc xin được nhắc lại lời phát biểu muộn màng của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt: “….Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ quốc VN không của riêng một đảng, một phe phái, một tôn giáo nào… Quốc hội có nhiều người tự ứng cử và được dân bầu lên một cách tự do sẽ tốt hơn Quốc hội bây giờ”. Vậy ngay từ bây giờ thế hệ chúng ta phải làm gì cho đất nước để khỏi hổ danh là con Hồng cháu Lạc?
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 9 guests