Tạp Ghi

MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »


Image

Lời thật mất lòng.
Gần đây tôi có đọc được một vài bài viết nói về cuộc sống của người Việt trên đất nước Mỹ khiến tôi không khỏi chạnh lòng. Ở bất kỳ đất nước nào trên thế giới, con người cũng đều phải đi làm để lo cho cuộc sống của mình. Những người lười biếng, thì cuộc đời của họ sẽ dậm chân tại chỗ

Giầu và nghèo thì không có nước nào mà không có hai tầng lớp này, bởi vì chẳng nơi nào chỉ có toàn người giầu và chẳng nơi nào chỉ có toàn người nghèo cả.

Tôi đã theo cha mẹ qua Mỹ khi lên 10 tuổi và bây giờ chỉ còn hai năm nữa thì tôi được 30. Như vậy có nghĩa là tôi đã sống ở Mỹ một thời gian khá dài. Phải nói rằng trong lòng tôi luôn cám ơn đất nước Mỹ đã cho tôi cơ hội đến trường mà không phải lo sợ không có tiền để đóng cho họ, cám ơn Mỹ đã cho tôi cơ hội để cầm mảnh bằng kỹ sư trong tay, và cám ơn Mỹ đã cho tôi cơ hội kiếm được một công việc làm khá tốt.

Tất cả những điều có được ngày hôm nay là do sự cố gắng vươn lên của tôi. Muốn bước tới sự vinh quang không phải là ngồi một chỗ than thở hoặc lười biếng mà có được.

Rất nhiều người Việt vượt biên qua Mỹ trước kia đã thành công, có nhà cửa và có tương lai sự nghiệp vững chắc. Cha mẹ tôi khi đặt chân qua Mỹ cách đây 18 năm cũng đã phải làm lại từ đầu. Ông bà không quản ngại làm việc siêng năng để lo cho anh em tôi học nên người, nhưng không bao giờ than van rằng đất nước Mỹ bắt họ phải làm việc đầu tắc mặt tối.

Đất nước Mỹ không hề mang chúng ta sang đây, mà chính chúng ta tự đòi sang, vì thế nếu làm việc cực khổ thì đừng bao giờ phiền trách họ vì như thế là mình quá vô lý.

Nhiều người Việt khi mới đặt chân qua Mỹ sau những ngày vượt biên nguy hiểm đầy gian nan đã được chính phủ Mỹ nuôi dưỡng trong một chương trình trợ cấp còn được gọi là welfare vì có con nhỏ cho tới khi 18 tuổi, ngoại trừ độc thân thì chỉ được 24 tháng. Như vậy đủ biết xã hội mỹ đã tốt đến thế nào đối với chúng ta.

Người Việt ở Mỹ cũng có hai tầng lớp: một loại trí thức có văn bằng cầm trong tay và một loại người không có mảnh bằng nào cả. Người có bằng cấp sẽ kiếm được công ăn việc làm tốt hơn, còn người không có bằng cấp thì phải làm nghề lao động. Dĩ nhiên lương sẽ không được trả cao.

Ở Mỹ tôi đã nhìn thấy rất nhiều người cùng thế hệ với tôi trở thành bác sĩ, kỹ sư giúp ích cho đời sống mọi người. Đa số những người qua Mỹ sau này muốn làm giầu nhanh nhưng không chịu học hành.

Cũng có nhiều người Việt ở Mỹ từng làm giầu bằng nghề Nail. Tôi không quen biết ai trong ngành này, nhưng theo những nhận xét từ người lớn cho biết, họ kiếm tiền rất dễ dàng . Chính họ tự chọn làm nghề chà chân, sơn móng tay để kiếm tiền, chứ chính phủ Mỹ hay người Mỹ không hề bắt họ làm như vậy. Nghề này ngồi trong bóng mát và không quá khổ cực như những người phải làm việc ở ngoài đồng nhặt trái cây giống như người Mễ, hoặc công nhân sửa đường phố, nên xin đừng than thở. Mỗi lần tôi nghe ai than làm nghề nail thế này thế nọ thì tôi không thể hiểu họ thực sư muốn gì!.

Đôi khi họ kiếm nhiều tiền hơn cả những người đã phải bỏ công ra ngồi học 4 năm trong đại học. Những người đi làm cho công ty Mỹ luôn đóng thuế đàng hoàng nhưng họ lại không.

Tôi rất ghét những người ăn cơm Mỹ, ở nhà Mỹ, kiếm tiền từ người Mỹ nhưng luôn chê trách cuộc sống và đất nước Mỹ. Những người chỉ biết đứng núi này trông núi nọ không bao giờ thành công và hài lòng với những gì họ đạt được.. Nếu thật sự ở Việt Nam tốt hơn trong mắt họ thì họ nên về đó mà sống, sang Mỹ làm gì!.

Căn cứ theo báo cáo cũng như từng đọc báo chí thì tôi thấy cuộc sống ở VN khó khăn gấp nhiều lần bên Mỹ. Thử hỏi một kỹ sư hóa học ra trường kiếm được bao nhiêu tiền một tháng? Ngay cả tầng lớp trí thức như giáo sư người đã cho sinh viên kiến thức, mà còn nghèo khổ đi làm thêm ban đêm để có đủ tiền nuôi vợ con đó thôi.

Những người giầu bên VN đa số là cán bộ cao cấp, con ông cháu cha hoặc là những người buôn bán, ngoài ra số người nghèo thì vẫn còn rất nhiều.

Chúng ta không thể nào so sánh cuộc sống của người Việt tại Mỹ với cuộc sống của người Việt tại quê nhà được vì đây là hai bối cảnh hoàn toàn khác nhau. Ở Mỹ làm việc cực nhọc nhưng không cảm thấy bị gò bó, muốn nói gì hay đi đâu cũng được.

Ngoài ra luật phát của Mỹ luôn được tôn trọng nên ý thức của con người rất cao, còn ở Việt Nam thì luật pháp chẳng bao giờ được người ta thực hành triệt để vì ý thức của người dân quá thấp kém.

Người Mỹ rất lịch sự mặc dù có một số người kỳ thị nhưng khi gặp gỡ mình ngoài đường họ luôn nói lời chào hỏi dù không hề quen, điều này khiến cho người Việt ở Mỹ cũng lịch sự theo.

Người Việt ở Mỹ rất có lòng tốt đối với thân nhân còn sống ở bên Việt Nam. Dù giầu hay nghèo họ đều cố gắng gởi tiền về VN lo cho gia đình, thử hỏi đa số những người bên VN có dám cho tiền thân nhân của mình hay không khi biết họ nghèo khổ?, giỏi lắm thì chỉ được vài bữa ăn là cùng. Tranh giành nhau từng thước đất, hoặc gia tài thì có rất nhiều.

Con cái ở bên Mỹ không bao giờ chờ đợi được chia gia tài từ cha mẹ. Họ tự tạo cho mình một cuộc sống vững chắc riêng.

Mỗi người có một cuộc sống đi kèm theo sự thành công hay thất bại. Mỹ chưa phải là thiên đường nhưng nó đã giúp cho người Việt ở đây có rất nhiều cơ hội mà nếu ở VN thì chắc chắn họ sẽ không bao giờ có được trừ khi họ có thân nhân làm trong guồng máy chính quyền.

Tôi không quên nguồn gốc mình là người Việt Nam nhưng tôi cũng sẽ không làm kẻ vong ơn, ăn cơm, uống nước của Mỹ nhưng luôn miệng che bôi Mỹ.

Tôi rất tự hào khi được sống ở bên Mỹ.

QuynhMai ST
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Hiện tượng suy đồi trong văn hóa Việt tại hải ngoại.

Chu Tất Tiến.

Từ ngày xa quê, người Việt Hải Ngoại, nói chung, đều nhận thức được bên cạnh nhu cầu Bảo Vệ Văn Hóa Việt tại hải ngoại, còn một nhu cầu rất quan trọng trong đời sống tinh thần: Nhu cầu Gặp Gỡ, Kết Giao, nhằm chia vui xẻ buồn với nhau cho cuộc sống đỡ buồn tẻ, khô khan, hoặc để thực hiện một chương trình nào đó, hoặc để yểm trợ những người Dân Oan đang bị đàn áp tàn khốc tại Việt Nam.

Một số người thích làm chính trị, lại thực hiện những tổ chức có tính cách chiến đấu chống Cộng Sản, đòi Tự Do, Dân Chủ tại quê nhà. Ngoài các tổ chức Ái Hữu trên, có những tổ chức thuần chính trị muốn phục hồi chế độ cũ, hoặc muốn quang phục quê hương. Từ nhu cầu đó mà các hội đoàn ái hữu ra đời: ái hữu đồng môn, ái hữu ngành nghề, ái hữu lớp (khóa) học, ái hữu đơn vị phục vụ, và ái hữu đồng hương, người cùng tỉnh trước 1975. Các tổ chức Xã Hội Dân Sự này được hình thành tại tất cả các tỉnh có nhiều người Viêt Nam. Trên nước Mỹ, các tổ chức này được tìm thấy tại California (581,946), Texas (210,913), Washington (66,575), Florida (58,470), Virginia (53,529), Georgia (45,263), Massachusetts (42,915), Pennsylvania (39,008), New York (28,764), và Louisiana (28,350). Trong tất cả các nơi trên, California đông hơn cả, có lẽ vì khí hậu ở đây không nóng quá hay lạnh quá như các tiểu bang miền Bắc hay cực Nam. Và cũng vì nơi đây đông người Việt nhất, nên những vấn đề phức tạp cũng xẩy ra nhiều nhất. Điển hình là đa số các hội ái hữu đã chia hai hoặc ba, tuy cùng lý tưởng, cùng nguồn Mẹ, cùng mục tiêu nhưng những tranh chấp, tranh cãi hầu như không bao giờ ngừng nghỉ. Lợi dụng sự Tự Do của xứ sở tại, các phe cùng xuất xứ đó tấn công nhau dữ dội nhiều khi còn dữ dội hơn là chống Cộng Sản, những kẻ đã làm cho họ phải lưu vong, bỏ mồ mả cha ông, gia đình, vợ con mà trốn đi. Các bên đối phương dùng mọi phương pháp, tiện nghi như báo chí, radio, truyền hình, và khoảng thập niên nay, dùng Internet để lăng nhục đối thủ, hoặc chụp mũ đối thủ bằng mọi loại mũ. Mũ “Thân Cộng, Tay sai Cộng Sản”, “Việt Gian”, “Việt Cộng nằm vùng” được sử dụng nhiều nhất. Người ta có thể bịa ra nhiều chuyện động trời, đặt chuyện nói xấu cả người phối ngẫu của đối thủ, nhằm “giết chết” đối phương mà không cảm thấy xấu hổ với lương tâm.

Nếu bình tĩnh nhìn vào các cuộc đấu tranh giữa các hội Ái Hữu đó, người Việt tị nạn sẽ thấy ngay một nguyên nhân lớn nhất gây ra chia rẽ: “Chức Vụ Chủ Tịch”. Điều hay xẩy ra thường nhất, là sau khi hết thời hạn làm Chủ Tịch, người Chủ Tịch đương nhiệm muốn được lưu nhiệm, sẽ tìm một lý do nào đó, để tách ra, lập một Hội Ái Hữu khác. Tùy theo sự vận động ngầm, tùy theo lý do thành lập Hội mới, mà số thành viên của Hội mới đó, nhiều hay ít, đôi khi chỉ có lèo tèo vài người, nhưng cũng có trường hợp số người trong Hội thứ hai này lên đến cả trăm. Còn lại những trường hợp tách đôi, tách ba chỉ vì một vài quan niệm cá nhân khác biệt.

Sự việc “Ái Hữu Mà Không Thương Nhau” này diễn ra trong hầu hết mọi nơi, mọi tôn chỉ. Không chỉ các tổ chức lớn như Hội Cộng Đồng, có nhiều quyền lợi về danh tiếng cũng như về tài chánh, các hội ái hữu cựu quân nhân, ái hữu các binh chủng, và ái hữu cựu học sinh, sinh viên, hay các cộng đoàn tôn giáo cũng bể ra làm hai, hoặc ba mảnh. Thời gian sau này, với sự phát triển của Email, lại có sự chia rẽ của những “Group”, diễn đàn “ảo” cùng tên gọi mà đối địch với nhau. Cho đến hôm nay, năm 2014, tức là 39 năm sau ngày Saigon đổi tên, vẫn còn những sự chia rẽ dữ dội như thế. Trong một số cuộc bầu cử chọn Chủ Tịch, đôi khi xẩy ra những tranh cãi lớn tiếng, xô đẩy, giữa những người được gọi là “trí thức”, hay “sĩ quan cao cấp”. Một vài cuộc bầu cử lại có sự tham dự của các nhóm khác làm áp lực như trong cuộc bầu cử Chủ Tịch của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh trường A, lại có những hội viên của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh trường B đến la lối, chiếm “micro” để phản đối hay ủng hộ một ứng viên. Điều đáng ngạc nhiên là những người “quan trọng hóa vai trò Chủ Tịch” đó lại là những người có học thức và chức vụ cao, như Giáo Sư, Bác Sĩ, Cử Nhân, Tiến Sĩ, cựu Đại Tá, Trung Tá, Phó Tỉnh, Phó Quận, Tổng Giám Đốc, Giám Đốc…Trong các cuộc cãi lộn nhảm nhí dành chức Chủ Tịch đó, những nhân vật trong cuộc cãi lộn đã cư xử không khác gì những đứa trẻ thiếu ý thức, đã gọi đối phương là “Thằng, Con” như “thằng Dược Sĩ này, Con mụ Bác Sĩ kia, thằng Đại Tá, thằng chó chết Giáo sư cái con khỉ mốc..”

Thật đau lòng cho Văn Hóa và Lịch Sử Việt Nam hơn 4,000 năm Văn Hiến. Giả dụ như mà Tổ Tiên nước Văn Lang thức dậy, nhất định sẽ rơi lệ, khóc cho tình trạng suy đồi của Văn Hóa và truyền thống Tôn Sư, Trọng Đạo đã có từ ngàn năm nay. Một số người Việt đã mất đi ý thức “Tự Trọng” trong khi lại say mê quyền lực “ảo” là các chức chưởng trong các hội Ái Hữu. Nhiều người lẫn lộn giữa “quyền lực thực” và “hư danh”, giữa sự “Thay Mặt, Đại Diện” cho một nhóm người và “Chủ Nhân của quyền lực”. Thực tế, các chức vụ như “Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch, Kiếm Soát Viên, Hội Đồng Quản Trị” chỉ là những danh xưng được đặt ra cho một nhu cầu Gặp Gỡ và Trao Đổi giữa những người cùng quan điểm với nhau để dễ làm việc. Nhưng trong đại đa số các trường hợp tranh dành chức Chủ Tịch, người ta thường nhắm đến một mục tiêu là “quyền lực” và “danh vọng”. Họ cứ ngỡ rằng, với danh xưng Chủ Tịch, thì có quyền sinh sát, tuyển người này, đuổi người kia, quyền cầm micro trên sân khấu trong các buổi họp mặt, quyền được giới thiệu “Ông, Bà Chủ Tịch” lên phát biểu đầu tiên để nhận những tràng vỗ tay tán thưởng ầm ĩ. Những người “Bé Cái Lầm” này cứ nghĩ rằng mình là “Chủ” (Big Boss), mà không nghĩ rằng mình chỉ là một đại diện (Representative) mà thôi. Vỉ chẳng có thực quyền, nên trong thời hạn giữ chức chưởng đó, các thành viên có quyền “khai trừ” ông, bà Chủ Tịch tại bất cứ thời điểm nào. Với các thành viên trong tổ chức, cũng không có lực nào buộc họ phải tham gia cho đến hết đời cả. Thích thì đến, không thích thì rời xa. Họ cũng “Bé Cái Lầm” về bản Nội Quy, coi như đó là một bản Hiến Pháp của một nước. Nhiều vị cứ vin vào những điều mà chính họ đã thảo ra trong Nội Quy để bảo vệ chức vụ của mình. “Chỉ có tôi là Công Lý, Chính Đáng, Chính Danh, còn tất cả những người khác đều là những kẻ vô lại”, đó là câu thường thấy ở cửa

miệng của cả hai đối thủ. Họ còn thiếu kiến thức khi không nhận thấy rằng tất cả các Hội Ái Hữu đó đều là “hội Cờ Tàn”, nghĩa là giống như một ván cờ, mà các quân Xe, Pháo, Mã đã chêt cả, chỉ còn vài con Tốt và Con Tướng! Một khi quân cờ đã chết, thì chẳng có gì thay thế. Các hội này sẽ từ từ tàn đi, khi danh sách hội viên đã chuyển sang báo chí thành danh sách Phân Ưu hay Cáo Phó. Hiện nay, những người trẻ nhất trong các hội đó cũng phải trên dưới 60, trung bình là 70, cao hơn nữa là 75, 80. Thế thì trong vòng 10 năm nữa, có bao nhiêu người chống gậy đi họp? Những tiếng nói, dù là qua “micro” sẽ phều phào, mất chữ. Những cánh tay giơ lên bỏ phiếu sẽ như là tay Robot, từ từ nhích lên, nhích lên…

Điều muốn nói trong bài này là kết quả trông thấy của những vụ việc tranh giành đó:

Sự xáo trộn cộng đồng, sự mất tin tưởng vào các tổ chức, vào Người Việt trên xứ người, và mất đi những cơ hội để chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ trong nước. Đau lòng hơn nữa, là Cộng Sản Việt Nam đã lợi dụng các cuộc tranh cãi này để tiếp tục đàn áp Dân Việt, công khai Bán Nước cho Tầu Khựa mà không ngại rằng các cộng đồng di tản có thể làm được điều gì để chống đối lại. Các vụ cưỡng chế đất đai, đuổi dân ra đường làm ăn mày vẫn đều đặn diễn ra, các vụ bắt bớ, quy chụp để nhốt người vẫn không ngừng tiếp diễn trên quê hương đang tan nát.

Thôi, biết nói sao nữa khi lòng người đã như vậy. Chỉ còn ngửa cổ nhìn trời mà hát bài Đêm Nguyện Cầu của Lê Minh Bằng: “Thượng Đế hỡi, có thấu cho Việt Nam này…” Cầu mong cho các ông, bà Chủ Tịch biết dừng chân, suy nghĩ lại và bắt tay đối phương, để tạo nên một cộng đồng vững mạnh, chỉ có một mục tiêu duy nhất Bảo Vệ Quê hương khỏi bàn tay sắt máu, bạo tàn của chế độ Cộng Sản.

Chu Tất Tiến
Tháng Tư Đen 2014.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Loài người ngày càng tiêu lạm quỹ tài nguyên của trái đất

Anh Vũ
Hôm qua, 19/08/2014, được đánh dấu là ngày mà nhân loại đã tiêu thụ hết nguồn tài nguyên mà trái đất có thể sản sinh trong năm 2014. Chỉ trong vòng hơn 8 tháng, loài người chúng ta đã tiêu thụ hết khả năng tái tạo thiên nhiên của trái đất trong cả năm.


Từ năm 2003, trên cơ sở ước tính lượng lương thực – thực phẩm, tài nguyên mà con người đã sử dụng, đồng thời có tính đến khả năng hấp thụ lượng phát thải CO2 từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, Global Footprint Network, một tổ chức phi chính phủ của Mỹ trong lĩnh vực môi trường sinh thái, đã ấn định một ngày trong năm được gọi là “Earth Overshoot Day”, tức là ngày đánh dấu thời điểm thế giới đã sử dụng hết tài nguyên mà Trái đất có thể đáp ứng cho cả năm. Như vậy là trong thời gian còn lại của năm, con người sẽ phải “tiêu lạm” vào quỹ tự nhiên thông qua việc khai thác tài nguyên và thải rác cùng khí thải độc hại ra ngoài môi trường, làm trầm trọng thêm hiện tượng biến đổi khí hậu.

Năm nay, thời điểm nhân loại tiêu hết nguồn vốn thiên nhiên của 365 ngày được xác định là ngày 19/8, tức là nhân loại rơi vào tình trạng “nợ nần sinh thái” trong 134 ngày còn lại.

Thực ra cách tính toán nói trên đã được các chuyên gia thực hiện từ năm 1970 và được chuẩn hoá từ năm 2003. Ngược dòng thời gian người ta thấy thời điểm tiêu hết vốn tài nguyên của nhân loại cứ bị đẩy lùi hàng năm khiến cho món nợ sinh thái của loài người cứ ngày càng chồng chất thêm.

Năm nay thời điểm rơi vào nợ sinh thái được đẩy sớm hơn một ngày so với năm ngoái, nhưng so với năm 2010 thì nó đến trước 12 ngày, năm 2000 thì rơi vào ngày 5/10 hay xa hơn một chút là năm 1975, thì đến tận ngày 29/11 thì nhân loại mới tiêu hết nguồn tài nguyên cho phép.

Có thể lý giải cho thực trạng "Earth Overshoot Day" bị đẩy lên sớm dần là vì trong những năm 1970, dân số thế giới chỉ bằng khoảng phân nửa hiện nay ( gần 4 tỷ người vào những năm 1970 trong khi đến năm 2014 dân số thế giới là 7,2 tỷ người). Tất cả các nhu cầu cho con người đều tăng, trong đó đặc biệt có nhu cầu năng lượng tăng rõ nét, cho dù rất nhiều tiến bộ công nghệ xuất hiện hàng ngày giúp kiết kiệm năng lượng. Theo thông báo của Quỹ bảo vệ thiên nhiên hoang dã WWF ( World Wildlife Fund), “Ngày nay 86% dân số thế giới sống trong các nước có nhu cầu lớn về tài nguyên thiên nhiên mà hệ sinh thái của trái đất không thể tái tạo kịp” để đáp ứng”.

Nhu cầu của loài người sử dụng tài nguyên thiên nhiên để nuôi sống và phục vụ sinh hoạt của mình là tất yếu, nhưng từ giữa thập niên 1970, nhu cầu của chúng ta đã vượt ngưỡng cho phép. Mức tiêu thụ tài nguyên của nhân loại đã vượt quá khả năng tái tạo tự nhiên của trái đất để có thể cung cấp trở lại cho con người.

Theo tính toán của Global Footprint Network, trái đất phải tăng gấp rưỡi lần khả năng tái tạo mới đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên của con người cho tới thời điểm năm 2014 và nếu cứ giữ nhịp độ tiêu thụ như hiện nay thì từ nay đến năn 2050 loài người sẽ phải cần có “2 trái đất” mới đáp ứng được nhu cầu về tài nguyên.

Vào “ngày thế giới mắc nợ” thiên nhiên năm nay, tổ chức phi chính phủ Mỹ cũng đưa ra bản thống kê đối với các quốc gia riêng dựa trên những chỉ số dự trữ tài nguyên thiên nhiên của từng nước có được và mức tiêu thụ thực tế của dân cư. Các “con nợ sinh thái” lớn vẫn là những nước phát triển và mới trỗi dậy như Nhật Bản, Hoa Kỳ và không thể thiếu được Trung Quốc, đất nước của hơn một tỷ dân và đang trong cơn khát năng lượng và nguyên vật liệu phục vụ cho tốc độ phát triển phi mã của mình. Tiếp theo là các nước như Ấn Độ, Nga, Brazil, Qatar….,

Trên thực tế, nhu cầu tiêu dùng tài nguyên ở gần 20% dân số toàn cầu vẫn nằm trong ngưỡng hệ sinh thái có thể đáp ứng được, song kho dự trữ sinh thái của họ cũng không thể duy trì, vì bị các “con nợ sinh thái” lớn trên vay mượn dưới nhiều hình thức.

Hậu quả của tình trạng nhân loại chi nhiều hơn thu này là điều càng ngày càng hiển hiện. Chẳng hạn như tình trạng biến đổi khí hậu chính là sản phẩm của việc tích tụ khí gây hiệu ứng nhà kính vượt quá khả năng hấp thụ của rừng và đại dương. Thêm vào đó là tình trạng phá rừng, huỷ hoại đa dạng sinh học, đánh bắt hải sản quá mức hay khai thác tài nguyên khoáng sản quá nhanh.

Cùng với tiến bộ của khoa học công nghệ ngày nay, các giải pháp cho tiết kiệm năng lượng, khai thác tài nguyên thiên một cách hợp lý cũng đã được triển khai ở đây đó trên thế giới, nhưng dường như vẫn chưa đủ. Món nợ sinh thái của nhân loại hôm nay không được trả ngay sẽ tích tụ lại trở thành gánh nặng lớn đẩy thế hệ tương lai vào một cuộc “khủng hoảng sinh thái”, một cụm từ đã được các chuyên gia môi trường nhắc đến nhiều thời gian gần đây.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

HỌC CÁCH ĐỂ GẶP MAY MẮN!

Thế giới có 3 loại người: người may mắn, người xui xẻo và bình thường. Ai cũng muốn là người may mắn, nhưng không phải ai cũng được như thế. Nhưng nếu biết cách, bạn sẽ là người may mắn.

GS Richard Wiseman, ÐH Hertfordshire (Anh) đã làm một cuộc nghiên cứu cực kỳ công phu trên 400 người từ 18-84 tuổi trong suốt hơn 10 năm, để tìm hiểu về quy luật may mắn của con người.

Qua nghiên cứu này, ông đã rút ra được khá nhiều điều lý thú và hữu ích cho tất cả mọi người muốn mình trở nên may mắn hơn.


Cuộc sống là một trò chơi tìm kiếm.


Trong một cuộc thí nghiệm, GS Wiseman đưa cho người may mắn và xui xẻo 2 tờ báo và hỏi họ:

- Hãy tìm cho tôi có bao nhiêu tấm hình trong tờ báo này? Người xui xẻo mất 2 phút, trong khi người may mắn chỉ mất có vài giây. Tại sao lại như vậy?


Vì ở ngay trang 2 của tờ báo có một dòng chú thích:

- Ðừng tìm nữa, tờ báo này có 43 tấm hình. Cuộc thí nghiệm được làm lại nhiều lần và người xui xẻo chẳng bao giờ nhìn ra dòng chữ ấy.

Bài học rút ra là: người xui xẻo đã bỏ lỡ cơ hội vì họ quá bận rộn, quá tập trung vào những gì đang làm. Trong khi đó, người may mắn luôn biết nhận ra những gì khác biệt hơn là những gì họ tìm kiếm.

May mắn thường gõ cửa những người luôn sáng tạo và luôn biết cách làm mới mình, làm mới môi trường xung quanh mình.

Nếu ví sự may mắn là trái táo và môi trường quanh bạn là một vườn táo. Hàng ngày, bạn chỉ cứ hái mãi ở một vườn, càng ngày bạn sẽ càng khó tìm thấy, vì táo ít đi từng ngày.

Nhưng nếu bạn sang một vườn táo mới, xác suất hái được táo của bạn sẽ tăng lên đột ngột. Ðó chính là sự may mắn!

BIẾT LÀ MÌNH MAY MẮN

Sở dĩ GS Wiseman chia ra làm hai loại người: may mắn và không may mắn vì… chính họ đã tự nhận mình là như vậy. Cùng một sự việc, người may mắn và xui xẻo có thể nhìn dưới 2 khía cạnh khác hẳn nhau.


Cũng như một đội tuyển tham dự Olympic vậy, năm nay họ thi đấu chỉ đoạt huy chương đồng, sang năm, họ tập luyện chăm chỉ hơn và rồi đạt huy chương bạc. Nhưng bạn hãy thử đoán xem, lúc nào họ vui hơn?

Khi đoạt huy chương bạc, họ cảm thấy xui xẻo vì chỉ còn một chút nữa thôi là họ có thể làm được điều tốt nhất. Còn khi chỉ đoạt huy chương đồng, họ lại thấy may mắn, vì nếu họ không cố gắng dù chỉ là một chút nữa thôi thì họ đã không có gì cả.

Các nhà nghiên cứu gọi đây là hiện tượng suy nghĩ “phản thực” (counter-factual). Những người may mắn là người biết biến sự xui xẻo thành cảm giác may mắn.

Trong một thí nghiệm khác, GS Wiseman đặt ra trường hợp rằng: một ngày bạn vào nhà băng, thế rồi bất chợt bọn cướp xuất hiện, chúng bắn bừa một viên đạn thế nào lại trúng vào vai bạn. Quan điểm của người xui xẻo là:

- Ôi trời, sao tôi xui xẻo đến thế. Ðến nhà băng ngày nào không đến, lại đến đúng ngày có cướp viếng, đã thế lại bị tai bay đạn lạc.


Trong khi đó, quan điểm của người may mắn là:

- Ôi may quá! Ðạn chỉ trúng vào vai mà không vào đầu mình!


Chính quan điểm ấy giúp họ có một cuộc sống tràn đầy tự tin và hy vọng. Họ luôn lạc quan ngay cả khi khó khăn nhất.


LUYỆN ÐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI MAY MẮN

Mục đích của nghiên cứu này là rút ra những kinh nghiệm và thói quen có thể giúp chúng ta tìm thấy nhiều sự may mắn hơn.

GS Wiseman tổ chức một cuộc trao đổi giữa hai nhóm người. Những người may mắn sẽ nói về cách họ suy nghĩ, cảm nhận về cuộc sống, cách họ tìm kiếm may mắn, phá vỡ các thói quen và giải quyết những xui xẻo.


Những người xui xẻo được giao nhiệm vụ là hãy thay đổi một số thói quen, lối sống. Sau đó chỉ một tháng, những kết quả báo lại thật bất ngờ: 80% số người xui xẻo đã cảm thấy sống tốt hơn, vui vẻ hơn và may mắn hơn.


Piper, một người thuộc nhóm xui xẻo nói:

- Tôi đã tự lập ra một số sở thích và thói quen bất chấp những hạn chế của mình. Ví dụ như vào các sáng thứ 7, tôi rất muốn đi câu, vì vướng chuyện học lại thôi. Nhưng lúc đó, tôi vẫn cứ đi câu bất chấp vẫn còn một đống bài ở nhà. Trong khi câu cá, chúng tôi đã trao đổi cùng nhau về bài luận, tôi đã nhận ra khá nhiều điều lý thú và tôi đã có một bài luận điểm A.

Alesadra nói:

- Tuần trước, tôi thấy có một cái váy rất đẹp, nhưng không mua. Hôm sau tôi quay lại để mua thì người ta đã bán mất. Nếu là trước đây, tôi sẽ thất vọng, buồn rầu mà đi về. Nhưng sau khi đi một vòng, tôi lại tìm được một cái khác đẹp hơn và còn rẻ hơn thế. Thật là may mắn!

Có lẽ, may mắn hay xui xẻo cũng chỉ là một khái niệm trừu tượng và do quan điểm của mỗi chúng ta. Vậy là bài học rút ra ở đây thật sự chẳng có gì cao siêu cả.

Nếu bạn muốn là người may mắn, hãy tự xếp hạng mình là người “số đỏ”. Hãy luôn suy nghĩ tích cực, rằng những may mắn đến với bạn là do bạn xứng đáng được hưởng, còn những xui xẻo chẳng qua là những thử thách giúp chúng ta cứng cỏi hơn mà thôi.

Hãy nhớ rằng: “Khi một cánh cửa sập lại với bạn, chắc chắn sẽ có 5, 7 cánh cửa khác trải thảm đỏ đón bạn!”

- Sưu tầm –
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Một Đời Hai Chữ "Mánh Mung"...
Anh bạn Khảm rổ này tên thật là Đặng Ngọc Khảm thuộc tài nguyên Khóa 20 SQHQ/NT, cùng Khoá SQ với tôi. Một phần bài viết này là phản ảnh đời sống thật của Khảm. Anh bạn này đã thanh thản ra đi hơn 1 năm rồi...1 thân một mình trong 1 căn nhà trọ của một gia đình tại Úc. Anh đã để lại một số bài viết rất dí dỏm.

NXDuc

Chấm dứt một kiếp người gương mẫu XHCN , suốt đời chỉ nghĩ tới hai chữ : Mánh Mung

Năm 1984 sau 3 năm cày bừa vất vả nơi xứ người , tôi mua chiếc xe hơi mới đi cho sướng , coi cái bàn tọa nó êm tới cỡ nào . Bạn bè cứ khuyên tôi hãy lấy tiền đó trả bớt tiền nợ mua nhà mà mình vay của ngân hàng . Nó sẽ giảm tiền lời mình phải trả hàng tháng cho họ nhiều lắm . Tôi để ngoài tai , hưởng thụ trước đã ! Tôi đăng báo bán cái xe cũ vẫn còn rất tốt đã theo tôi cày cuốc bấy lâu nay .

Người khách đầu tiên điện thoại cho tôi đến nhà coi xe là anh Bắc kỳ 75 . Trông anh có vẻ đẹp trai , ăn nói lễ độ . Điều làm tôi ngạc nhiên là làm sao anh có mặt trên xứ sở Úc châu này ? Tôi không dám hỏi , chỉ lẳng lặng quan sát anh . Anh đi một vòng coi xe rồi nói :

“Anh ơi ! Em mới qua được dăm (vài) tháng , cần xe đi làm , em không biết coi máy , em nghĩ anh là người Bắc năm tư (54) nên em tin anh . Em không giả (trả) giá , nếu anh “đảm bảo” máy tốt em sẽ chồng tiền mặt lấy xe ngay .”

Tôi nói đùa cố ý chọc anh chút cho bõ ghét :

“Nhà cụ cứ nhắm mắt vào mà mua , nhà em cưỡi nó mấy năm nay rồi , tốt lắm . Cơ khí đảm bảo , chất lượng cao , không khi nào bị đột xuất nằm đường . Mua về , nhà cụ không phải tốn tiền bảo quản thêm , cứ việc xử lý vô tư..ư ..ư. Hơn nữa nhà cụ làm sao kiếm ra cái xe hoành tráng mà giá cực kỳ rẻ như xe này của nhà em được cơ chứ ???”

Anh hiền từ nhìn tôi cười thoải mái , đồng ý mua ngay . Tôi mời anh vào nhà làm giấy tờ sang tên . Anh năn nỉ tôi đi với anh ra nha lộ vận vì anh không biết tiếng Anh. Tánh tôi hay thương người (cha mẹ “dzợ” tôi đông lắm chứ không chỉ có 2) nên tôi đồng ý .

Công việc xong xuôi , anh mời tôi đi ăn phở . Thấy anh ăn mặc đúng là người mới tới Úc , tôi không nỡ “ăn” tiền của anh bèn mời anh về nhà tôi uống cà phê .

Anh cho tôi biết cái xe của tôi là cái thứ 10 anh đi coi vì thấy giá rẻ . Anh mới nhìn xe của tôi là anh “kết” rồi . Đẹp , sạch sẽ từ trong ra ngoài. Cái điều làm anh mua ngay là lối nói chuyện của tôi , có vẻ không tha thiết để bán cho bằng được như những người kia . Điều đó làm anh tin tưởng xe còn tốt .

Nghe anh nói tôi mới biết anh cũng thuộc loại dân buôn bán thứ thiệt khiến tôi càng tò mò đời tư anh nhiều hơn. Qua cách nói chuyện của anh, tôi biết anh muốn làm thân với tôi . Tự nhiên anh khai ra cuộc sống của gia đình anh trước .

Anh là dân Hòn Gai tỉnh Quảng Ninh ngoài Bắc . Năm 1974 tới tuổi đi lính , anh phải gia nhập bộ đội . Đầu năm sau đơn vị anh được điều động vào Nam “giải phóng” cuộc sống “lầm than đói rách” của nhân dân đang bị “Mỹ Ngụy” kềm kẹp 20 năm nay !!! Câu này đứa bé con 6 tuổi ở làng anh vào lớp 1 , đã phải học thuộc lòng ….

Trong bộ đội các chính trị viên lên lớp luôn nói rằng dân miền Nam không có cái bát ăn cơm , phải ăn bằng gáo dừa. Dép không có mà đi . Con cái sanh ra không được đi học . Lớn lên thành ăn trộm , ăn cắp , đĩ điếm . Lính “Mỹ Ngụy” đi tới đâu là hiếp dâm đàn bà con gái tới đó . Còn “thằng Diệm” “nó” lê máy chém khắp miền Nam ..v..v…

Anh thầm nghĩ , cuộc sống ngoài Bắc này đã cực khổ lâu nay, chỉ mong cho quân đội miền Nam ra giải phóng miền Bắc . Bây giờ trong đó họ còn khổ hơn mình nữa thì còn trông mong gì …. Năm trước B52 oanh tạc miền Bắc, mọi người đang mong cho Đảng CSVN đầu hàng để đổi đời . Đùng một cái Mỹ ngưng ngang , tức muốn chết . Chỉ cần oanh tạc thêm vài ngày nữa thôi là Đảng hả họng rồi !

Anh vượt đường Trường Sơn với tâm trạng chán chường . Từ giã cha mẹ trong nước mắt vắn dài , khóc thương cho sự chia ly , cằm chắc cái chết trước mắt . Quê anh bao nhiêu thanh niên “hồ hởi phấn khởi” theo lời Hồ vào Nam , giờ này cũng chưa thấy ai có tin tức gì !

Lội suối băng rừng ngày đêm anh sợ sệt , hồi hộp , chim teo hết , chứ không “hân hoan” như cái loa phóng thanh treo trước nhà anh , ngày đêm ra rả một luận điệu giống nhau . Sau này anh mới biết , vì cuộc chiến gần tàn , Mỹ đã rút nên trên đường vào Nam anh không được hân hạnh thưởng thức mùi bom của B52 .

Sáng 30/4/75 đơn vị anh được lệnh sửa soạn cấp tốc tiến vào Saigon thì đơn vị mở “đài” cho mọi người nghe “cái tên” tổng thống miền Nam Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng . Anh mừng đến chảy nước mắt , ôm bạn bè nhảy múa ăn mừng . Anh thầm cám ơn tổ tiên đã cho anh còn sống sót .

Chỉ cần một tháng sau anh đã thực sự “mở mắt” . Những lời Bác , Đảng nói với anh khi xưa đều ngược lại . Thành phố Saigon bây giờ dù còn đang bầy hầy , ngổn ngang sau ngày dân đua nhau tìm đường chạy ra nước ngoài , trông vẫn còn sự sang trọng , “phồn vinh thật” chứ không “giả tạo” . Họ vội vã ra đi với hai bàn tay trắng giống như năm 54 , bỏ lại tất cả nhà cửa , tài sản . Dân Saigon ăn nói hiền hòa , dễ thương . Tầm hiểu biết của họ vượt ngoài sự tưởng tượng của anh bấy lâu nay .

Anh không hiểu nổi tại sao bộ đội của anh làm ngơ cho cái đám nhố nhăng mặt mày bậm trợn , đeo băng đỏ vào cánh tay quậy tung đường phố . Lần đầu tiên trong đời anh mới thấy cái TV , tủ lạnh , nhất là cái đồng hồ đeo tay có cửa sổ lại không người lái (đồng hồ tự động có ngày) . Cái gì cũng lạ với anh kể cả cách ăn mặc của dân miền Nam , trông hấp dẫn đẹp mắt vô cùng . Anh bắt đầu hoang mang , chán nản , hết còn tin tưởng những lời được Đảng CSVN nhồi nhét trong đầu anh , từ ngày anh có trí khôn . Chỉ toàn lừa dối , láo khoét !

Trong những lần học tập chính trị , giảng viên có lên lớp nói với anh :

” Nói láo là một việc xấu , nhưng nói láo cho Bác và Đảng thì không sao …..”

Anh thèm muốn , mơ ước có được những đồ đạc tiện nghi vật chất ở Saigon này mà trong túi lại không có tiền . Anh bắt đầu rình mò ăn cắp bất cứ cái gì trong trại lính của anh đem bán . Các cơ quan của “Mỹ ngụy” mà đơn vị anh vào tiếp quản đầy dãy đồ đạc , cái gì cũng lạ mắt , anh chưa từng thấy bao giờ . Để kín anh rình , để hở anh rinh . Ngày anh có tiền mua được cái “đài con” anh sung sướng ôm ấp nó suốt ngày .

Mấy năm sau anh tìm đủ mọi cách để xin “phục viên” làm dân thường , kiếm đường đi buôn lậu. Anh vào Nam mua radio đồng hồ, quạt máy đem ra Bắc bán , mua 1 bán 10 , tiền vào đầy túi .

Thời gian đi buôn , anh thấy phong trào vượt biên trong Nam rầm rộ quá nên anh cũng tính đường bỏ Bác Đảng để ôm chân “đế quốc” Mỹ cho nó ấm thân . Anh không biết xã hội Tây phương nó sướng cỡ nào nhưng anh thấy cái “gương” đời sống tại Saigon , anh biết chắc nó hơn
Năm 1980 anh ra sức móc nối với bạn bè tổ chức ra đi bằng “thuyền buồm” . Anh đem theo vợ với 2 con . Ghe căng buồm ra khơi , chạy dọc theo bờ biển từ quê anh qua Hong Kong . Hễ hết nước , lương thực , anh lại ghé vào đất Trung cộng mua . Lênh đênh hơn 3 tháng mới tới nơi . Tại trại tị nạn anh lại biết thêm một điều : người dân miền Bắc từ bỏ cái “thiên đường XHCN” như anh rất nhiều . Anh ở trại tỵ nạn gần 3 năm thì được phái đoàn Úc chấp nhận cho đi định cư .

Tới Sydney anh ở tại khu Marrickville gần trung tâm thành phố . Đa số dân tỵ nạn gốc Bắc 75 quây quần sống trong khu này . Họ sống khép kín , không giao tiếp rộng . Vấn đề an sinh xã hội của Úc thời đó lỏng lẻo nên họ toàn lãnh tiền phụ cấp thất nghiệp , đi làm lậu . Có người còn khai 2,3 tên khác nhau lãnh tiền , chính phủ chẳng hay biết vì Úc không có giấy tờ dán hình .

Tôi hỏi anh nghĩ thế nào về già Hồ . Anh cười : em luôn cám ơn già Hồ . Không có già Hồ làm sao em được sống sung sướng ở “nước ngoài” như vầy chứ ! Em đang theo chân già Hồ cũng tìm đường “kíu nước” đây…..!

Từ đó về sau anh kết thân với tôi . Thỉnh thoảng anh đem bánh cuốn làm bằng nồi hơi với chả mực cho tôi . Ăn rất ngon . Bố mẹ anh chỉ cho anh nghề này . Bây giờ anh làm , bán “chui” cho bạn bè quen biết nên cũng dư tiền đi chợ . Gia đình anh có 1 vợ 2 con , chính phủ cho tiền trợ cấp còn nhiều hơn anh đi làm . Anh cứ tà tà ăn tiền chính phủ , hai vợ chồng lãnh quần áo về nhà may lậu , lấy tiền mặt , không khai thuế . Tôi phải công nhận những người sống ngoài Bắc họ chịu cày thật . Có lẽ cái khẩu hiệu “cày ngày không đủ tranh thủ cày đêm” nó đeo dính trước ngực họ rồi ….

Vợ chồng anh làm nhiều , ăn tiêu rất cần kiệm , không đi chơi đâu . Sáng tinh mơ hai vợ chồng ngồi vào bàn máy may . Trưa ăn tạm tô mì gói rồi làm tiếp tới tối . Bữa cơm chiều ăn qua loa , tiếp tục làm tới hơn nửa đêm mới nghỉ . Coi như mỗi ngày anh chỉ ngủ chừng 4 tiếng thôi . Thế mà anh cũng có thì giờ “hì hục đục đẽo” ra thêm cái “hĩm” nữa , tất cả nhà anh có 3 “con cua”, con cua lớn nữa là 4 . Anh rất muốn vợ anh sinh cho anh thằng Cu nối dõi tông đường . Dụ ngọt mãi chị mới có bầu , anh mừng “hết lớn”, hy vọng kỳ này có con Chim . Ai ngờ chị lại phọt ra cái Bướm . Anh chán quá , bèn cho chị nghỉ khỏe 3 tháng là anh hò hét chị tiếp tục ngồi bàn máy may trở lại . Anh thuộc dân “bộ đội” ít học , trước mỗi câu nói anh phải xổ nho Đ.M , anh mới ăn cơm ngon . Vợ anh nghe riết , quen tai đâm ghiền …

Hơn 3 năm sau anh mua nhà trả tiền mặt làm tôi ngạc nhiên , phục anh sát đất . Coi như mỗi năm anh kiếm hơn 100 ngàn , trong khi công nhân cu li một năm có 20 ngàn thôi ! Anh mời tôi ăn tân gia . Tôi tưởng anh mời bạn bè đông , cốt để khoe khoang vì 10 thằng Bắc kỳ hết 9 thằng nổ , nên tôi ăn mặc chỉnh tề (sợ dân nổ họ chê mình nghèo) . Tới nơi tôi mới biết chỉ có vợ chồng tôi thôi . Thì ra anh là 1 thằng Bắc kỳ còn lại không giống ai . Tôi càng mến anh hơn . Anh có trở ngại gì về giấy tờ hay đi đâu thông dịch dùm cho anh , tôi đều sốt sắng giúp đỡ .

Nửa năm sau anh tới nhờ tôi điền vào cái form của nhà thương đồng ý cho vợ anh mổ . Anh cho biết vợ anh có cục bướu to bằng nắm tay trong ngực . Bác sĩ nói đây là cuộc đại giải phẩu . Xẻ hết 1 bên hông , nâng nguyên cả cánh tay với mảng hông lên rồi mới lóc cục bướu đó ra . Trời còn thương chị . Chỉ 6 tháng sau , chị khỏe lại , hùng hục cày tiếp …

Cày cuốc thêm 1 năm nữa thì tới phiên anh bệnh . Anh cứ hay ho khan về đêm . Bác sĩ cho đi chụp hình phổi mới lòi ra anh bị ho lao . Tôi đi theo anh vô nhà thương . Khi làm giấy tờ nhập viện bác sĩ thắc mắc không biết tại sao anh bị bệnh này . Họ không nghĩ anh bị lây nhiễm . Họ cũng không nghĩ anh cày cuốc trong hãng nhiều quá sanh bệnh vì từ khi tới Úc tới giờ hơn 5 năm , anh toàn lãnh tiền thất nghiệp thôi . Họ hỏi anh có lo nghĩ gì không , có buồn bã điều gì khiến anh khó ngủ không ?

Anh phịa rằng anh nhớ cha nhớ mẹ , lo cho con cái ăn học , nên không ăn ngủ được . Bác sĩ nghe tôi thông dịch với phần phụ họa thêm tay chân mà họ cứ lắc đầu , vỗ về an ủi anh . Tôi cứ phải nín cười khi nhìn anh đóng kịch . Mặt anh buồn vời vợi , hai mắt xa xăm chỉ muốn khóc…cái đầu cứ lắc qua lắc lại, mồm chỉ phát ra câu độc nhất : Vé ri bét …zu nâu…!!! (very bad , you know)

Họ cấp cho anh 6 tháng thuốc đem về nhà uống và hẹn ngày anh chụp hình tái khám . Mỗi ngày bác sĩ cho uống cả 15 viên thuốc đủ loại . Anh cứ uống 1 ngày nghỉ 1 ngày . Đem một nửa số thuốc được cấp , đóng thùng gởi về cho bố mẹ anh ở Hòn Gai . Vậy là anh chỉ uống có một nửa dose thôi , trong khi anh vẫn thức đêm thức hôm cày cấy…tưng bừng !

Ngày anh đi tái khám ,sau khi chụp lại hình phổi của anh , bác sĩ vò đầu bứt tóc không hiểu tại sao bệnh anh không thuyên giảm bao nhiêu . Họ hỏi anh tùm lum để tìm ra nguyên nhân . Thông dịch cho anh tôi cũng muốn khùng theo họ luôn . Cuối cùng họ nghĩ thế nào mà không cho anh đem thuốc về nhà nữa . Mỗi buổi sáng anh phải tới nhà thương uống thuốc trước mặt y tá. Bây giờ anh nhận đồ ít đi, làm sơ sơ , chờ khỏi bệnh tính sau , chỉ sợ lòi ra anh may lậu thì chết cả đám .

Trong lúc có thì giờ nghỉ khỏe , anh nghĩ cách giả bộ ly dị vợ anh . Vợ anh giữ 2 con , anh giữ 1 đứa vì bộ xã hội cấp tiền cho dân “single parent” nhiều lắm . Khi trước 2 vợ chồng “tò te” dưới một mái nhà được lãnh hơn $500/1 tuần . Bây giờ tách ra “kèn” ai nấy thổi, mỗi người được lãnh gần $450 , nghĩa là thu nhập gần gấp đôi, chưa kể tiền may lậu . Vợ anh ở nhà trước, anh dọn ra ở khúc sau.

Anh phải uống thuốc thêm gần 9 tháng nữa mới thực sự khỏi bệnh . Anh bắt đầu xả hết ga may tiếp . Làm thêm 1 năm nữa , anh đi mua căn nhà thứ 2 . Căn kia khi ly dị , anh sang tên cho vợ anh .

Tôi hỏi anh có biết ăn thất nghiệp là anh ăn tiền của người đi làm đóng thuế không ? Anh nói tỉnh bơ :

“Úi giời ơi , chúng em sống XHCN quen rồi . Cái khó nó bó cái khôn , mỡ tới mõm mèo ngu gì không đớp chứ . Cái gì đớp được cứ việc đớp , mình không đớp thì thằng khác cũng đớp thôi ….. “

Tôi hết ý kiến ….

Bây giờ vợ anh ở 1 căn , anh ở 1 căn , vẫn tiếp tục may ngày may đêm . Qua năm sau tự nhiên anh thấy cứ ngồi may lâu là đau thốn vùng bụng , ăn no lại đau dữ dội hơn . Bác sĩ cho anh đi soi bụng mới lòi ra anh bị loét bao tử , có thể bị ung thư . Anh phải vào nhà thương giải phẩu cắt phần loét đó đi , may nhỏ lại . Anh không còn ăn nhiều được nữa , mỗi bữa chưa được 1 chén cơm . Anh kiệt sức từ từ , chán quá anh bỏ nghề may luôn .

Vợ anh là người “hồ hởi” nhất , ngày ngày theo bạn bè cùng quê của chị đi chơi đó đây . Chị cũng đua đòi học nhảy đầm . Chị kêu anh đi học nhảy cho vui . Anh “Đ..ị..T” cho 1 hồi , nhất quyết không chịu lại còn cấm chị đi nữa .

Chị bỏ ngoài tai vì chị đang say sưa hưởng thụ . Ly dị rồi chị đâu có care . Hơn nữa trong đám nhảy đầm có một chàng “sĩ quan Ngụy” hay mời chị nhảy , ăn nói có duyên làm lòng chị cũng thổn thức . Trong khi chồng chị mở mồm là xổ nho ăn nói dùi đục mắm tôm còn chàng này nói năng từ tốn lịch sự nhẹ nhàng như ru hồn người….Chị cảm thấy mình đẹp , hãnh diện , hạnh phúc vì có người đàn ông tôn trọng chị , tâng bốc , khen ngợi chị đủ điều . Thực sự chị vẫn còn đẹp gái dù rằng chị đã qua 3 lần “rặn đẻ”…

Chị thỉnh thoảng gặp tôi nhờ tôi khuyên anh đừng xổ nho nữa , chịu khó theo chị đi nhảy đầm cho khỏe . Anh nhất định không nghe . Tôi hỏi mãi anh mới nói : em có biết nghe nhạc đâu mà nhảy đầm với nhảy đìa , chỉ nhảy “nái” thôi…

Anh không chịu nhảy thì chị đi nhảy mình ên . Tuy nhiên chị chỉ nhảy với chàng “sĩ quan Ngụy về chiều” nhưng rất lịch sự , hào hoa . Còn anh buồn quá , lai rai may lại kiếm tí tiền còm , sống cho qua nỗi buồn mất vợ .

Lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy . Giòng máu XHCN của chị không còn nữa . Nó chuyển sang giòng máu tư bản từ khi chị quen chàng “Ngụy”. Lòng chị đã quên lời Đảng bắt phải hy sinh tình nhà , đặt tình yêu XHCN trên hết . Tâm hồn chị đang hạnh phúc hưởng thụ mật ngọt của tình yêu lứa đôi đầy tính nhân bản của con người . Đêm đêm chị nằm trên giường một mình , nhung nhớ hình bóng người thương mà tiếc cho cả cuộc đời chị , chỉ biết cày với cuốc ….

Hai đứa con gái đầu của chị đã trưởng thành . Anh chị không ai để mắt tới tụi nó . Anh chị thuộc dân ” i…tờ ” chưa hết tiểu học , trình độ đâu mà kềm cặp chuyện học hành của chúng . Anh chị chỉ cầu Trời cho chúng học hành tới nơi tới chốn mà thôi . Ông Trời lại phụ lòng anh chị , chúng hưởng thụ nhiều hơn chị nữa , lại còn dám bỏ nhà theo trai , chơi chán mới mò về nhà .

Anh chị la rầy mãi cũng chán , không thèm nói nữa . Anh bắt đầu chỉa mũi dùi qua la chị . Chị tức mình cắt đứt đường tơ lòng…..thòng với anh , chính thức xách Bướm XHCN của chị …. theo tiếng gọi con tim…. về nâng Chim “Ngụy”.

Chị tâm sự với tôi bây giờ chị mới thực sự biết yêu , biết thế nào là hạnh phúc của tình yêu . Khi xưa chị căm thù thằng “Ngụy” bao nhiêu thì bây giờ chị nâng niu , o bế con Chim “Ngụy…quá nửa chừng xuân” của chị bấy nhiêu . Chàng đi làm nuôi chị . Cuộc sống đạm bạc mà tràn đầy niềm yêu thương vợ chồng !

Mặc dù tôi thấy thương hại cho chồng chị nhưng lòng tôi cũng thấy khoái vì tôi cũng là “Ngụy”. Sau ngày mất nước tôi bị những thằng bộ đội như chồng chị hành hạ nhục nhã trong trại cải tạo , đôi khi chỉ muốn chết cho xong . Bây giờ chứng kiến “tình Nam duyên Bắc” làm sao tôi không “đã” cho được ….

Từ ngày “vợ anh cuốn chiếu theo trai” không lời giã từ , anh đâm ra “hận đời đen như mõm chó”, tối ngày thơ thẩn như người mất hồn . Trong tay anh có 2 căn nhà , bán đi cũng hơn 1 triệu . Tất cả không còn ý nghĩa gì với anh hết . Anh chẳng còn tha thiết chuyện ăn uống nữa , thân thể càng ngày càng yếu đi . Một năm sau anh kiệt lực , té xỉu khi đi shop . Xe ambulance chở anh vào nhà thương mới phát hiện ra anh bị ung thư thời kỳ cuối .

Tôi vào thăm anh . Nhìn anh nằm trên giường , gương mặt hốc hác mà tôi thấy tội nghiệp . Anh tâm sự với tôi rất nhiều . Anh nói vợ anh coi vậy mà sáng suốt hơn anh , biết tìm cái hạnh phúc cuối của cuộc đời . Tuy hơi muộn màng nhưng có chết chị cũng không hối tiếc như anh . Cuộc đời anh cứ bị ám ảnh cái chân lý “lao động là vinh quang” của già Hồ , cứ lo cày bừa túi bụi , tới khi tàn hơi mới chực nhớ ra rằng mình chưa có hưởng thụ được gì hết . Anh nói : ở ngoài Bắc cứ “lao động” không thôi thì chỉ đủ cơm cà dưa muối , muốn có “vinh quang” thì phải mánh mung . Dân XHCN 10 người , máu “mánh mung” hết cả mười … Anh nhờ tôi khuyên vợ anh vào nhà thương cho anh được gặp mặt lần cuối . Con anh đã thông báo cho mẹ nó mà vẫn chưa thấy chị tới .

Tôi điện thoại cho chị lần thứ 3 mới nghe chị trả lời . Chị cho biết cái tổ “Bướm Bắc Chim Nam” của chị mới đi oversea về . Hôm qua nghe con chị nói anh bệnh là chàng “Ngụy” chở chị cấp tốc vào nhà thương thăm anh ngay . Kể từ hôm nay chàng “Ngụy” sẽ chở chị tới , để chị một mình chơi với anh trong những ngày cuối đời. Khi nào muốn về chị cứ điện thoại cho chàng tới rước . Tuy nhiên chị ở chơi với anh tới tối , nhà thương không cho thăm nuôi nữa , chị mới về .

Sở dĩ chàng để chị đi một mình vì chàng không chịu được ánh mắt buồn tủi hối hận của người sắp đi vào cõi chết . Hơn nữa chàng cũng muốn gia đình con cái chị tìm lại những giây phút đầm ấm cuối cùng !!!

Anh trăn trối nhờ chàng chăm sóc cho các con anh , cố đem lại tình thương cho chúng . Anh nhìn chàng cười buồn :

“Khi xưa chúng mình thấy nhau chắc có thằng chết rồi . Trốn già Hồ qua đây hai đứa mình vẫn là địch thủ của nhau . Thắng trên chiến trường chẳng có ích gì , thắng trên tình trường mới quan trọng .”

Nói xong mắt anh rướm lệ . Chàng “Ngụy” vỗ về anh :

“Niềm đau mất nước đã qua đi theo ngày tháng , tôi không hận thù anh gì cả . Tôi đến với vợ anh vì chị đã ly dị. Tôi mến tâm hồn mộc mạc đơn sơ của chị . Tôi xin lỗi anh ….”

Chị kể cho tôi nghe trong tiếng nấc nghẹn ngào . Có lẽ cuộc đời chị đều yêu thương cả hai người chăng ???

Tôi chưa thấy mặt chàng “Ngụy” của chị ra sao . Chỉ nghe chị nói như thế tôi đã cảm phục tư cách , tính tình của chàng rồi . Nhà thương hỏi chị có muốn đưa anh về nhà chờ chết không ? Chị hỏi ý kiến chàng “Ngụy”. Chàng đồng ý ngay , bèn đi làm thủ tục giấy tờ , đích thân chàng chở anh về nhà . Chàng vẫn tế nhị vắng mặt để gia đình con cái chị quây quần bên anh . Tôi thỉnh thoảng tới thăm anh , nói bá láp cho anh cười .

Hai tuần sau , anh xuôi tay nhắm mắt …..Chấm dứt một kiếp người gương mẫu XHCN , suốt đời chỉ nghĩ tới hai chữ : Mánh Mung


Khảm Rỗ
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Dạy tiếng Việt ở Mỹ
Xin coi như đây là Thư Riêng tâm tình với quý vị, hơi dài, vì như 1 tiếng thở dài...

Xin phép tự giới thiệu, tôi là GS Trần Thủy Tiên, M.S. và M.A.,

đã từng dạy Psychology, Sociology, và Vietnamese ở vài Community Colleges, cho các sinh viên người Mỹ và Việt ở địa phương, hơn 12 năm qua, nay đã về hưu, nhưng rất bận vì phải lo việc nhà, dạy tư, vẫn tiếp tục sửa sách cho hoàn chỉnh hơn, và viết tiếp các sách Giáo Khoa dạy Việt Ngữ (bilingual Việt - Anh) cho trẻ em và người lớn.


Nhờ dạy Tiếng Việt trên 12 năm, tôi có rất nhiều kinh nghiệm thực tế về các việc ai dạy và ai học... liên quan đến việc dạy và học Vietnamese... mà không thể nói hết qua email...

Nói sơ qua là ngày nay, chúng ta phải giữ vững đạo đức, trước sức mạnh của đồng tiền và tiếng tăm. Khi tôi vừa dạy học vài năm thì có nhiều tổ chức và cá nhân gọi phones hoặc emailed mời tôi về VN dạy... với số tiền nhiều hơn. Tôi không trả lời email thì họ gửi email tiếp, trong nhiều năm, nhờ tôi thông báo "rộng rãi" về các Scholarships của họ cho sinh viên của tôi hoặc kêu gọi sinh viên của tôi về VN học Tiếng Việt. Tôi cám ơn và yêu cầu đừng liên lạc...

Sau khi biết rõ tôi "bảo vệ cờ vàng", nghĩa là không dùng tôi được, họ bắt đầu dùng sinh viên của họ đánh phá tôi. Sinh viên du học từ VN vào lớp, nói xấu tôi, công khai hoặc sau lưng, về việc tôi dùng Cờ Vàng trong sách dạy, và không dạy Sử theo lối VN trong nước. Khi các em sinh viên khác báo cho tôi biết, tôi gọi riêng các em (từ VN qua), và nói rõ: ở hải ngoại, tôi có quyền dạy Việt Ngữ theo cách nhân bản và khai phóng, tôi không phải tuyên truyền về "bác" Hồ (vì ông ta là national killer và chẳng phải là "bác" của ai cả...), các em là sinh viên thì phải use your brain and search more information ở xứ tự do để tìm hiểu Sự Thật, chứ không nên cứ tin và nghe theo những gì đã bị nhồi sọ từ nhỏ, ở trong nước CS độc tài...

Quả đúng là "con cháu bác Hồ"! Các em nầy phản pháo kịch liệt... và nói như nước chẩy (non-stop talking) về "sự hy sinh cao cả suốt đời của bác, nhờ vậy mà gia đình của các em giàu lên sau năm 1975, về sự bóc lột tàn ác của Mỹ Ngụy, sự ăn bám Mỹ của bọn Ngụy sau khi chạy qua Mỹ... mà vẫn chưa thức tỉnh và không biết xấu hổ, cứ chống lại Đảng và nhân dân ta ở trong nước..."

Tôi biết: We cannot change people overnight.

Vì các em sinh viên du học, đa số (không phải tất cả) là con cháu các gia đình của Đảng, hoặc làm ăn với Đảng viên, rất giàu có và đầy quyền lực ở VN, nên các em tưởng cũng có thể dùng quyền lực (quen thói ở VN) để uy hiếp tôi. Các em nầy cho tôi biết: Với cái Thẻ Đảng và tiền bạc của cha mẹ và bà con, các em đi qua mọi cửa, từ VN qua tới Mỹ, cho tới khi... đụng phải cái cửa lớp học của cô Thủy Tiên!!! Nên các em "uất hận" tôi.

Tôi chỉ nói với các em 2 điều:

1) If you don't want to learn the Truth in a free country, it's your own problem.

But one day, you'll know - as the Truth is always the Truth.

2) If you don't want the way I teach, drop the class!

This is a free country, you can add to another class.

Và tôi bước ra khỏi lớp... (không cho chúng có cơ hội tranh cãi tiếp).

Dĩ nhiên còn vô số chuyện khác. Nhưng 1 chuyện như trên cũng đủ để hiểu rồi.

....................

Kính thưa quý vị, đã bao nhiêu năm, tôi rất buồn khi so sánh thấy sự yếu kém về nhận thức Chính Trị của con em Tỵ Nạn với con em VC. Đa số những người chống Cộng cũng không dạy được con cháu trong nhà, không bỏ thì giờ giải thích cho con cháu hiểu... về ý nghĩa của VN War, Cờ Vàng, sự tàn ác của CS..., nhất là trong những dịp hội tụ gia đình như Tết, Labor Day, July The Fourth, Thanks giving, Christmas... Họ còn mua DVD của Thúy Nga (nói xấu VNCH) cho vợ con và cha mẹ coi trong nhà...

Nên mỗi khi có chuyện Quốc Cộng xẩy ra, thì hầu hết con em chúng ta ú ớ... nói không ra lời, trong khi con em VC thì nói liên tục không ngừng... Tụi sinh viên du học từ VN, bây giờ (con nhà Đảng, giàu vô kể, ăn không, học tới Tiến Sĩ, đông hơn con em tỵ nạn; chúng đang được người Mỹ thích và tin dùng trong các đại học và ngoài đời...) Ai trách nhiệm cho sự thua sút nầy?

Tệ hơn nữa, mỗi khi có người trẻ nào ra ứng cử, vào làm việc trong các CĐ Tỵ Nạn, rồi tuyên bố: "Tôi chỉ làm việc xã hội và văn nghệ, tôi không chống Cộng..." thì các người lớn tuổi khác, thản nhiên, thụ động chấp nhận, nói bâng quơ: "Ồ! Tụi trẻ nó vậy..." chỉ vì nhìn bề ngoài mấy em trẻ nầy coi bộ "Hiền lành, dễ thương..." nên không hề nghĩ đến sự tác hại sâu rộng trong CĐ ra sao... Nhất là khi chúng họp nhau đánh phá và bêu xấu những người chống Cộng trong CĐ, mà lại đươc những kẻ ngây thơ dễ dãi, ủng hộ, nói những người chống Cộng "khó khăn" với các em quá!!! Có ở trong chăn mới biết có rận, những người này có vào nội bộ CĐ làm việc, mới hiểu cái khổ của người chống Cộng, khi bọn xấu bảo nhau bất hợp tác, không làm gì cả, để mọi việc dồn lại cho vài người chống Cộng cô đơn, làm đến kiệt sức rồi buồn quá, bỏ đi...

Nhớ lại, chúng ta mất Miền Nam cũng vì vô số người trẻ, người già Nằm Vùng, nhưng bề ngoài có vẻ hiền lành, vô hại... Vẫn chưa thức tỉnh?

Vậy 10 năm nữa, các CĐ sẽ ra sao? Hiện nay, hầu như CĐ nào ở hải ngoại cũng bị đánh phá bởi bọn du côn (cũng là người Việt Tỵ nạn như chúng ta nhưng đã biến tính và mất nhân cách lẫn đạo đức, do ganh tỵ với người tài đức hơn mình, tranh quyền, ham danh..).

Tại sao những người Tốt không đoàn kết lại để chống bọn Xấu? Và rất ít người Tốt nhưng có Sĩ Khí, lên tiếng cho Lẽ Phải, ngày nay... Họ thường im lặng cho yên thân, bỏ mặc đồng đội.

Như vậy số quá ít người Tốt còn lại sẽ bị cô lập, bao vây bởi số đông áp đảo của bọn xấu, nên phải bỏ đi, và bọn côn đồ không chế các CĐ. Tại sao bọn xấu không dùng những mánh khóe gian manh của họ đế chống VC hay Tầu Cộng? Mà quay ngược lại, đánh phá chính những người tốt của chiến tuyến bảo vệ Cờ Vàng? Tại sao chúng ta không thành lập các Hội Đoàn bảo vệ những người Tốt của chúng ta? ngồi yên nhìn chúng bắn tỉa từng chiến hữu của mình? Tại sao những người lớn tuổi không cư xử có tư cách, Làm Gương Tốt cho giới trẻ, khiến đám trẻ dần dần cũng trở thành tệ hại, phụ họ đánh phá người Tốt?

Xin góp ý kiến, nếu quý vị quan tâm...
GS Trần Thủy Tiên,
M.S. in Counseling & Guidance, M.A. in Human Sciences
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

VĂN HÓA CỞI GIÀY

Tạp ghi Huy Phương

Từ ngày sang Mỹ tôi không bao giờ sắm những đôi giày có dây. Thật là phiền phức khi vào nhà người khác phải đứng lom khom, chân co chân duỗi để tháo chiếc giày ra, trước khi bước vào nhà, cho vừa lòng gia chủ. Với đôi giày không dây, chỉ cần tuột ra hay xỏ vào nhanh chóng rất tiện lợi. Có hôm chưa kịp cởi giày, đang bận bắt tay bắt chân thì bà chủ nhà đã thẳng thừng gọi ông chồng: “Anh nhắc mấy ông bạn cởi giày ra!”

Có nhà lại cẩn thận treo một cái bảng nhỏ ở ngay cửa bằng tiếng Anh, còn hơn là ở cửa chùa hay nhà thờ Hồi Giáo: “Take off your shoes before entering!” Làm như gia đình này suốt năm chỉ tiếp toàn khách Mỹ. Khách Việt không biết tiếng Anh chắc phải nhờ chủ nhà phiên dịch, nhắc nhở.

Liệu khách đến thăm có thấy khó chịu với loại bảng “chào mừng quan khách” này không?

Vẫn biết vợ chồng ông bạn quí cái sàn nhà gỗ bóng loáng hay chiếc thảm đầy màu sắc hơn cái tình bạn hay cái thân thằng bạn mới bước vào nhà, nhưng lâu rồi thành quen, không còn thấy khó chịu nữa. Mới bước qua cửa hay trước khi chủ nhà mở cửa cho vào, khách đã vội líu ríu khom mình, vội vã cởi đôi giày ra, nhiều khi để ngay ngoài bậc cửa kẻo thất lễ. Đôi khi vợ chồng chủ nhà nói mấy câu ngăn cản khách sáo cho có lệ, mà không hẳn là cương quyết, thì thôi cũng cứ cởi đôi giày ra cho phải phép.

Buồn cười là những đôi giày dép của khách lại được để lại trên tấm thảm chùi chân mang chữ “Welcome” đặt trước cửa nhà!

Cái gì quen làm đã thành nếp thì người ta gọi đó là văn hoá, một thứ văn hoá đặc biệt Việt Nam, mặc dầu không thấy sách vở nào ở hải ngoại của các nhà biên khảo văn hoá ghi rằng vào nhà người Việt Nam thì phải cởi giày, đi chân không. Thứ văn hoá này được miễn trừ trong những lễ cưới hỏi, không lẽ nhà trai đến, hai tay bận bưng mâm cau trầu hay đang khiêng con heo quay thì tay đâu mà cởi giày. Cứ tưởng tượng một đoàn người ăn mặc chỉnh tề, đàn ông complet cà vạt, đàn bà áo dài, vòng vàng sáng loé, mà đi chân đất như lính thời Minh Mạng, Tự Đức thì thật khó coi.

Không thể đem cái thói quen cởi giày ở Sài Gòn ra áp dụng cho hải ngoại. Nền nhà lót gạch bông của người Sài Gòn là cái giường ngủ, không thể đem đất cát, bụi bặm trên đường phố dơ bẩn vào nhà. Tôi đã sống ở Sài Gòn hơn 10 năm, nhà chật, căn gác nóng hầm hập thì cái nền nhà lót gạch bông vừa là bàn ăn, vừa là giường ngủ. Khách ở xa về, cũng không khách sáo, trời mát thì trải chiếu ra, nóng nực thì chùi sàn cho sạch, có khi ở trần nằm cho mát lưng. Ai mà nhẫn tâm mang giày đi dép vào cái nền nhà này? Nhưng ở Mỹ lại khác, ăn có nơi, ngủ có chỗ, không phòng riêng thì cũng nằm tạm trên cái xô-pha, còn nền nhà là chỗ đi lại, vì sao lại phải trân trọng nó như thế?

Ở Mỹ này đường sá, sân nhà không có một tí rác hay bụi bặm, tưởng có thể nằm lăn ra đó mà ngủ một giấc cũng sướng cái thân, đương nhiên đôi giày không dẫm bùn hay đất cát, làm sao có thể làm dơ bẩn hay trầy trụa sàn gỗ hay thảm lót nhà ai.

Một người Mỹ đã bày tỏ chuyện “cởi dày” trên một trang mạng như sau: “Đối với nhà tôi, tôi yêu cầu mọi người mang đôi giày của họ vào nhà, trừ khi thực sự giày họ bẩn thỉu vì dính bùn đất - mà tôi đã không lần nào thực sự thấy như vậy. Chuyện này có thể xẩy ra, nếu bạn sống trong một trang trại, nhưng đó lại là một câu chuyện khác. Chúng tôi có tấm thảm dừa đặt trước cửa để cho khách chùi chân rồi!”

Ở Sài Gòn, nạn vào chùa mất dày dép là chuyện thường tình. Có lần ông bạn tôi vừa đi du học ở Okinawa về cho một đôi dép Nhật bằng da tốt, vào chùa lạy Phật ra thì không tìm thấy đôi dép mới nữa. Nếu như biết đôi dép nào của thằng kẻ cắp bỏ lại thì cũng mang tạm vào cho đỡ đau chân, cuối cùng cũng phải đi cà nhắc, lội bộ ra xe.

Trong chúng ta, những người ra đến hải ngoại ngày hôm nay, trừ trường hợp những người giàu có, may mắn, sung sướng từ Việt Nam ra đi bằng máy bay, đến Mỹ đã có sẵn nhà cao, cửa rộng, chưa có một ngày cơ cực, còn thì hầu hết đã trải qua những ngày khốn khó, đau khổ trong chiến tranh, chết chóc, chạy loạn, bị tù đày, đi thăm nuôi, đi “kinh tế mới,” vượt biển, mưa nắng chạy chợ trời… Có lúc ở gần cái chết, chỉ mong được với tay nắm được cái sống, lúc đói chỉ mong có miếng cơm, lúc chia cắt chỉ mong có một giờ đoàn tụ. Những giờ tuyệt vọng lúc đó, của cải vật chất, tiền bạc, danh vọng chỉ là những thứ mờ nhạt, phù du.

Bây giờ ra hải ngoại, chúng ta có đủ tất cả: cái nhà đẹp trên đồi, cái xe đời mới, một đàn con khoa bảng, có đời sống tự do, đã đi du lịch nhiều nơi, có sức khoẻ, giàu sang… Nhưng cũng vì vậy chúng ta bắt đầu thấy quý cái thân, yêu cái nhà, không nấu nướng cho đỡ hôi, giữ cái thảm cho sạch sợ bạn bè dẫm phải.

Cũng ở hải ngoại này, khách có mời mới có cơ hội đến, khách muốn đến cũng phải xin phép trước chủ nhà, cũng không ai nhàn rỗi lê la từ nhà này sang nhà khác mà chuyện trò, đấu láo. Một gia đình trung lưu, mỗi năm may ra cũng chỉ có khoảng chục khách quen tới nhà, nên bộ salon ở phòng khách mọi nhà chỉ để cho người trong nhà chứ ít khi dùng để tiếp khách. Nếu có người hàng xóm hỏi thăm, ông giao hàng, hay người đi truyền đạo, thì cũng chỉ hé cửa thò đầu ra ngoài nói năng chốc lát, đâu có để ai giẫm lên cái thảm nhà mình. Vậy thì ai là người bước vào cửa nhà mình, nếu đó không phải là con cháu, họ hàng, bạn bè thân quý? Nếu thật sự, người ta không quí gia đình mình, chẳng ai dư thời giờ, rỗi rảnh mà bước vào ai!

New International Version (2011) có ghi: "Đừng đến gần hơn," Thiên Chúa phán. "Cởi giày của bạn ra, nơi mà bạn đang đứng là Đất Thánh." Mà ngôi nhà của bạn có là Đất Thánh hay không?

Bạn nghe tôi đi, hãy kiếm một đôi giày không dây như tôi, hoặc đừng bước vào nhà ai nữa, nếu cảm thấy họ quý cái thảm sạch của nhà họ hơn là tình ruột thịt, tình bằng hữu, tình đồng hương và cả tình người. Con chó kiểng được cưng còn được chạy nhảy trên tấm thảm là vì nó không biết mang giày, nên không phải cởi ra.

Với lại “một đời ta, ba đời nó” như ông bà ta đã nói: cái thảm, chiếc xe, ngôi nhà… đôi khi còn trơ trơ ra đó mà tên người đã nằm trên trang cáo phó rồi cũng nên.
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Bọn móc đống rác

Bùi Bảo Trúc


Người đàn ông đứng cạnh một chiếc thùng rác. Ông ta đang dùng tay móc cái thùng rác không biết để tìm kiếm cái gì. Nhưng nhìn kỹ một chút thì người ta thấy ngay: cái thùng rác có hàng chữ Soviet Union, chứa những thứ phế thải chưa kịp đem đi đổ.

Lúc ấy Liên Bang Xô Viết vừa tan rã. Ðảng cộng sản bị cấm hoạt động ở ngay cái nôi của chủ nghĩa cộng sản. Cái thùng rác là nơi an nghỉ cuối cùng của những thứ rác rưởi người ta vừa thải ra. Trong bức hí họa, người đàn ông là Nelson Mandela. Ông vừa được thả sau gần ba chục năm ngồi trong những nhà tù khủng khiếp nhất của nhân loại. Nên nếu ông có lúi húi móc cái thùng rác mong kiếm được cái gì mang về xài đỡ thì việc làm ấy của ông cũng có thể hiểu nổi. Trong suốt thời gian gần ba chục năm dài ngồi trong những nhà tù apartheid của người da trắng, ông đã bị đối xử bằng những cách đối xử còn thua cả cách đối xử dành cho những con vật. Mà cách đối xử ấy cũng chẳng chỉ dành cho riêng mình ông, mà còn cho luôn cả những người Phi Châu khác cùng mầu da, cùng quê hương với ông nữa. Ông có lý do để đi tìm sự cứu rỗi mà ông nghĩ là có ở những thứ bị quăng không một chút tiếc thương vào trong cái thùng rác ấy.

Nelson Mandela, dĩ nhiên, sau đó, đã nhìn ra được sự thật. Ông bỏ ý định ôm lấy cái đống rác dơ bẩn đó và chọn đi một con đường khác để dẫn dắt đất nước Nam Phi của ông.

Bức hý họa tôi không nhớ xuất hiện trên tờ báo Tây phương nào. Nhưng thời gian nó xuất hiện chắc phải là khoảng năm 1992, tức là sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ. Nelson Mandela lãnh đạo “quê hương yêu dấu” của ông (Cry My Beloved Country/Alan Paton) qua đời năm ngoái (5 tháng 12, 2013) và được cả thế giới thương tiếc.

May mà ông nhận ra được cái thùng ấy chỉ chứa toàn rác rưởi để chọn đi con đường tử tế hơn cho dân tộc và đất nước Nam Phi của ông.

Vậy mà từ ngày Liên Bang Xô Viết lăn đùng ra chết (26 tháng 12, 1991) đến nay đã được gần 1/4 thế kỷ, vẫn còn một bọn xuẩn động ôm lấy cái thùng rác ấy để moi ra ăn với nhau. Lẽ ra chẳng ai thèm nhắc đến trò chơi ngu dốt của chúng nhưng vì trò xuẩn động này của mấy thằng ranh con lại được tờ Tuổi Trẻ nhắc đến trong một bài báo có cái tựa nguyên văn “Những Chàng 'Bônsêvích.'” Bài báo cho biết mấy ranh con này là sinh viên của Ðại Học Quốc Gia Hà Nội trong một tiết mục của Festival hôm 2 tháng 9 vừa qua. Mấy thằng ranh con này, khoảng hơn 20 đứa ở khắp nước (ở Hà Nội có được 5 mống) đã liên lạc với nhau để “trao đổi” những kỷ niệm và kiến thức về Liên Xô. Bọn này thỉnh thoảng gặp nhau ở một quán cà phê CCCP (Liên Xô) ở Kim Mã, Hà Nội. Chúng tìm mua vài ba thứ quân phục của hồng quân, sách vở tài liệu liên quan đến Liên Xô trước đây để cho...đỡ nhớ. Chúng gọi nhau là “thanh niên cơm sườn” thay cho hai chữ cộng sản.

Tội nghiệp cho những thằng ranh con ngu dốt này. Ðến bây giờ mà còn moi thùng rác ra mà ăn với nhau. Nhưng mà chúng nó cũng còn khôn chán. Gọi nhau là “cơm sườn” thay vì cộng sản vì theo cộng sản thì chỉ có đói rã họng ra mà chết cả lũ hay sao!

Bài báo có một bức ảnh đi kèm chụp năm thằng ranh con quỳ và đứng như tư thế của những người lính thủy quân lục chiến Mỹ đang dựng lá cờ Mỹ ở Iwo Jima trong bức tượng ở đài tưởng niệm thủy quân lục chiến Mỹ bên ngoài nghĩa trang quốc gia Arlington, Virginia. Những chi tiết khác cũng làm không nên thân. Lính hồng quân nào lại mặc áo trấn thủ, nón sắt ngụy trang bằng lá cây, đi giày jogging. Có được mỗi một cái mũ calot là chính xác.

Học đòi có thế mà cũng láo toét hệt như thằng cha gốc gác mù mờ đem mấy cuốn sách về Tân Trào, về Pác Bó dịch ra tiếng Việt để bịp cả nước như nó đã làm bên con suối mà nó đặt tên lại là Le Nin...trong nhưng lúc tạm gác chuyện đi vào bản vồ vài ba chị đàn bà Tày cho vui đời cách mạng.

Tháng 7 năm 2013, Nguyễn Tấn Dũng ký một sắc lệnh miễn học phí cho các sinh viên ghi tên học chương trình 4 năm về chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà không có con chó nào chịu học. Ðài BBC cho biết cả nước không có được nổi 100 sinh viên ghi tên.

Lý do không phải là vì tốt nghiệp khó kiếm ra việc, mà là vì không thể kiếm ra việc.

Ðành làm “thanh niên cơm sườn” vậy.

Lý do là vì hồi này đất khó kiếm, không còn cạp ra mà ăn được nữa
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Những bài ca chế diễu Khánh Lỳ

Thương nữ bất tri vong quốc hận
cách giang do xướng hậu đình hoa




Hát Cho Một Người Quỳ Xuống


Ai quỳ xuống sau một lần đã đến đây
Đã lưu vong với cộng đồng này
Đã nương thân dưới vòm trời này
Rồi quỳ xuống xin Việt cộng về kiếm cơm
Khi hát ra Hà nội
Khi hát vô Sài gòn
Người ta bảo nghề ca kỹ
ca xướng vô loại như loài chim (t)hôi

Ai quỳ xuống cho hận thù vào lãng quên
Vác va li đi về một lèo
Chuyến bay đưa ai về Sài gòn
Rồi từ đó ra Hà nội hát mấy đêm
Như cánh chim vào lồng
Như trái tim bội tình
Sau một lần được cứu vớt
Những xấu xa này nói cũng như không

Việt cộng còn đó ai biết không ai?
Cộng đồng còn đây ai nhớ không ai?
Cờ đỏ còn treo, Thành Hồ còn tên
Khi bóng ai như cánh chim sà xuống
Một lần nào đó ai đã ba hoa
Chỉ trở lại đây những sáng bao la
Người mình tự do, Việt cộng chạy xa
Ôi tháng năm, cứ nói xong rồi cũng mò về

Ai quỳ xuống xin một lần về kiếm cơm
Đứa con tham đã tìm về nhà
Đất Ca li quay mặt thẹn thùng
Người thành phố trong một ngày đã nhắc tên
Mua vé xem bằng tiền
hút máu xương đồng bào
Xin cho một người vừa quỳ xuống
thấy bóng thiên đường (xhcn) cuối trời thênh thang


Tiền ngỡ sẽ trao nhau


Tiền ngỡ sẽ trao nhau
như người cố làm lì
Người ngỡ trả cho nhau
sao người vẫn chưa đưa
Ôi lúc xưa hợp đồng
mỗi show được vài triệu
Nhưng ngoài kia ế độ
cả hội trường đìu hiu

Tiền ngỡ đã chi ra
nhưng người vẫn còn đòi
Người ngỡ đã đi xa
nhưng người vẫn quanh đây
Những bước chân dồn dập
đã đi vào đòi tiền
Nghe từng câu hứa cuội
rớt vào lòng biển khơi

Khi danh ca chưa về
thì tiền như trút xuống
Khi live show lên đầy
thì tiền quá mênh mông
Một người đòi thật cao
một người bảo còn lâu
Ðể tình cảm chìm sâu
ai nói câu cuối... đèo

Tiền ngỡ hốt vô mau
nhưng tiền vẫn còn nợ
Người ngỡ sẽ chen nhau
nhưng người đã không xem
Những ngón tay ngại ngùng
đã thu lại từng đồng
Như ngoài kia gió lộng
ghế từng hàng tênh hênh

Người ngỡ đã ra đi
nhưng người bỗng lại về
Người ngỡ chỉ đi khi
không còn có vi xi
Ôi trái tim phiền muộn
đã ham lợi một lần
Như bờ xa nước cạn
đã chìm vào bùn nhơ
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Chọc Cải Cách ra mà ngửi


Ngô Nhân Dụng

Nghe tin có cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất tại Hà Nội, tôi đã tìm đọc mấy bài tường thuật trên các báo trong nước và các mạng thông tin. Cảm tưởng chung: Đây chỉ là một trò tuyên truyền rất vụng về, mạo xưng là “lịch sử;” mà nó lại nhạt phèo, chẳng có gì mới mẻ đáng coi. Người ta trưng bày những sập gụ, tủ chè, bát đĩa dùng trong nhà địa chủ; bên cạnh cảnh sống bần hàn của những nông dân. Những người tổ chức cuộc triển lãm chắc hy vọng mọi người xem xong sẽ kết luận: Xã hội thời xưa thật lắm cảnh bất công. Nếu có bát công tức là có bóc lột, đó là cách suy nghĩ đơn giản, dễ khiến người ta tin.

Nhưng người biết suy nghĩ sẽ nhận ra điều này: Thời nay cũng nhiều cảnh bất công không khác gì 60 năm trước. Chỉ cần nhìn vào ngôi nhà của một ông Bí Thư Huỳnh Đức Hòa, tỉnh ủy Lâm Đồng, người ta cũng có thể thấy ông giàu có gấp ngàn lần các địa chủ thời 1946-1957. Trong khi đó thì bao nhiêu người lao động đang sống trong các ổ chuột ở thành phố vẫn chạy ăn từng bữa. Và cảnh sống của đồng bào nghèo tại các vùng nông thôn xa; nếu so sánh nhà cửa của họ với ngôi nhà tồi tàn của người nông dân nghèo khổ, của các bần cố nông thời cải cách ruộng đất, chắc cũng như nhau. Nếu khá hơn cũng chỉ hơn đến gấp đôi, gấp ba là cùng. Hố cách biệt giàu nghèo ngày nay tăng lên gấp trăm, gấp ngàn lần so với thời 1950! Nếu có bất công tức là có bóc lột, thì ngày nay ai bóc lột ai?
Image
Do đó, cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất sẽ gây tác dụng ngược. Thay vì “gây căm thù” đối với các địa chủ ngày xưa, cuộc triển lãm sẽ khiến người đi coi nghĩ tới các đại địa chủ thời nay. Một điều hiển nhiên ai cũng thấy: Sau khi Đảng Cộng Sản cướp ruộng đất từ tay các địa chủ, thì nông dân Việt Nam bây giờ có được làm chủ ruộng đất hay không? Câu trả lời là: Không! Ngày nay tất cả ruộng đất thuộc quyền của “nhà nước.” Nhà nước là tay đại địa chủ, nắm quyền cho dân “cấy rẽ,” cho ai thì người ấy được “quyền sử dụng,” chỉ là quyền sử dụng chứ không phải quyền sở hữu. Nhà nước là một bộ máy khổng lồ vô hình, nhưng đại diện của nó là các quan chức, cán bộ từ tỉnh xuống huyện, xuống xã. Họ nắm toàn quyền, ban bố quyền sử dụng cho đám dân đen. Họ có thể lấy lại quyền sử dụng của nông dân để ban phát cho các nhà tư bản đỏ, bồi thường dân một đồng thì thu lời hàng trăm đồng. Cả bộ máy nhà nước này nằm gọn trong tay Đảng Cộng Sản. Đảng là tay đại địa chủ thời nay. Đảng đưa ra khẩu hiệu “Người cầy có ruộng,” nhưng cuối cùng chỉ có đảng là có ruộng, nông dân Việt Nam vẫn đóng vay tá điền. Thay vì các địa chủ thu tô, ngày nay nông dân sống dưới chế độ đảng thu thuế. Báo chí trong nước vừa so sánh số thuế má, dưới nhiều hình thức, tại một tỉnh Thanh Hóa ngày nay còn nhiều hơn các món thuế nông dân phải đóng trong thời thuộc Pháp.

Một phản ứng ngược khác, là người đi xem triển lãm sẽ bất mãn thêm khi thấy đây chỉ là một trò tuyên truyền cũ kỹ, hoàn toàn không phải là lịch sử, dù được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia. Người biết suy nghĩ sẽ thấy, như Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, tại sao một cuộc triển lãm tự xưng là lịch sử mà lại không được trung thực. Ông nói, “... những sai lầm - tội ác do chính quyền gây ra thời đó không được đưa ra, những việc phá tan chùa, đình, miếu, làng, xã...làm phá vỡ những truyền thống đạo lý - văn hóa tốt đẹp của con người Việt Nam qua ngàn năm ...” cũng không được trưng bày ra.

Nhưng việc phá tan những miếu mạo, đình chùa cũng không phải là tội ác văn hóa lớn nhất của Đảng Cộng Sản. Ông Nguyễn Tường Thụy, một người làm blog riêng có tiếng ở Hà Nội đã nhắc đến tội ác khác về văn hóa, là cuộc Cải Cách Ruộng Đất “nó tàn phá luân lý đạo đức lúc bấy giờ” với những cảnh “cha tố con, con tố cha, vợ tố chồng, anh em tố nhau ...” Và ông nhấn mạnh rằng, “Cải cách ruộng đất là do người Trung Quốc, các chuyên gia Trung Quốc chỉ đạo và cố vấn...” Một blogger khác, J.B Nguyễn Hữu Vinh đã đi xem triển lãm, kể lại, “Đi bên cạnh, cô thuyết minh viên áo đỏ (nói) liên tục: ‘Cải cách ruộng đất xóa bỏ chế độ người bóc lột người, là cách mạng về quan hệ sản xuất và nông dân đổi đời...’ Tôi quay lại nói, ‘Quan chức Cộng Sản ngày nay thì đất đai, nhà cửa, ăn chơi còn gấp trăm lần địa chủ phong kiến trước đây. Mà tất cả là từ tiền tham nhũng của dân, còn địa chủ phong kiến ngày xưa có ăn chơi cũng là tiền của họ. Bây giờ có ông quan hàng trăm ha đất như chủ tịch Bình Dương thì bọn địa chủ sao so được nhỉ?’”

Nguyễn Hữu Vinh trông thấy một nhiếp ảnh gia đi chụp các vật trưng bày trong phòng triển lãm, khi chụp hình xong, anh ta kết luận, “Thôi, cái hay, là chúng nó đưa ra để dân biết rằng cái giai cấp địa chủ, phong kiến ngày xưa chẳng là cái đ. gì so với bọn quan Cộng Sản tham nhũng hôm nay.” Một di họa văn hóa của thời Cải Cách Ruộng Đất vẫn để lại bóng đen lảng vảng trong xã hội Việt Nam: “Cái gọi là 'thành phần' xuất hiện trong thời đó, cho đến nay tròn 60 năm sau vẫn ám ảnh trong từng tờ hồ sơ, lý lịch của các em nhỏ đến trường, dù chúng chẳng hiểu “thành phần” nghĩa là cái gì và từ đâu ra.”

Cuối cùng, chỉ vì Đảng Cộng Sản tổ chức cuộc triển lãm tuyên truyền vô duyên này, những người như các ông J.B Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Xuân Diện có cơ hội bày tỏ những suy nghĩ thật của người dân Việt thời nay. Rõ là chỉ làm cho rách việc thêm!

Tại sao Đảng Cộng Sản lại bày ra một trò tuyên truyền gây phản ứng ngược nhiều như vậy? Có thể chỉ vì các cán bộ trong Viện Bảo Tàng Lịch Sử chẳng có việc gì làm cho qua thời giờ, cho nên họ mới bày vẽ ra cái cuộc triển lãm này. Hay là quý ông bà trong ban văn hóa tư tưởng của đảng đang lo khi chế độ sụp đổ thì mình thất nghiệp, nên cố gắng tô thêm son phấn lên mặt đảng một lần chót? Hoặc có thể đưa ra một giả thuyết táo bạo, rằng có người đã xúi giục họ tổ chức triển lãm để khiêu khích tất cả nông dân miền Bắc, những người đã đi biểu tình đòi ruộng, đòi đất trong những năm qua và bị ông đại địa chủ thời nay đàn áp dã man. Đặc biệt, họ muốn khiêu khích tất cả giới thanh niên, trí thức miền Bắc và đặc biệt là dân Hà Nội, xem có ai dám đứng ra “lật mặt nạ” của Đảng Cộng Sản hay không?

Mà việc lột mặt nạ thì không khó gì cả. Người ta không thể tổ chức một cuộc “phản triển lãm” về những tội ác của Đảng Cộng Sản trong vụ Cải Cách Ruộng Đất. Không thể trưng bày cảnh những người bị gán cho danh hiệu địa chủ bị chôn sống, thò đầu trên mặt đất để nhìn thấy lưỡi cầy kéo qua đầu mình cho tới khi chết. Cảnh này đã có thi sĩ Hữu Loan làm chứng, ông đã kể lại cho con cháu khỏi quên chuyện một địa chủ đã cấp gạo cho trung đoàn của ông trong thời kháng chiến bị hành hạ như vậy. Sau đó, tác giả Màu Tím Hoa Sim đã cưới cô con gái nhà địa chủ này, để đền ơn công cha mẹ cô nuôi dưỡng cả trung đoàn.

Không thể tổ chức triển lãm, nhưng giới thanh niên, trí thức Hà Nội có thể làm một cuộc triển lãm trên mạng. Một cuộc “phản triển lãm” đã xuất hiện trên các mạng ở Việt Nam. Blogger Lê Dũng đã chụp lại các bức ảnh trong phòng triển lãm rồi nêu ra những sai lầm, gian dối. Thí dụ, mấy ông già 60 nhận xét thời 1950 “Đũa nhựa và thìa phíp trắng chưa có!” Hoặc nhìn cái áo của “địa chủ” được trưng bày, có người thấy, “Áo trưng bày này là hàng fake [giả] 100 %. Vì “May bằng máy công nghiệp, viền cứng và thô, thời đó không có máy khâu đó. Đặc biệt áo dài thời đó hoàn toàn khâu tay, mũi khéo và mềm mại.” Đến một bức ảnh, “Bần cố nông làm gì có nồi đồng, có chiếu trải ra hè ăn cơm vậy?” một độc giả của Blog Lê Dũng góp ý “thời đó đã làm gì có modern áo đuôi tôm hả mấy ông giời con?” Một độc giả giấu tên khác nói thẳng: “Nói dối mà không biết ngượng sao, hỡi những kẻ lấy tay che mặt trời? Nạn nhân Cải Cách Ruộng Đất vẫn còn đầy rẫy, hoặc con cháu họ sẽ lên tiếng. Hay đợi đấy!” Một độc giả ký tên Mượt viết, “Chết thật, dối lừa mãi thế sao?”

Lê Dũng kết luận, “Tóm lại tay nào sắp đặt cái ảnh này là dân vớ vẩn, không có tí kiến thức gì về lịch sử, am hiểu về đồ vật.” Và anh viết thêm, “Dù sao thì tôi vẫn nói với mọi người cùng xem rằng: việc có cái triển lãm này cũng hay, bọn trẻ sẽ tìm nốt nửa còn lại qua gúc gồ, thế thôi vì một nửa sự thật không phải là sự thật.”

Nửa thứ hai của sự thật đã được trình bày từ lâu. Bao nhiêu tác giả đã viết về cuộc Cải Cách Ruộng Đất. Những tác phẩm mô tả tai họa Cải Cách sớm nhất là “Những thiên đường mù” của Dương Thu Hương, “Ác mộng” của Ngô Ngọc Bội. Tiếp theo có “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên, tiểu thuyết “Ba người khác” của Tô Hoài. Đặc biệt, cuốn “Đèn cù” của Trần Đĩnh gần đây nhất đã cho thấy vai trò của Hồ Chí Minh trong vụ giết bà Nguyễn Thị Năm, chính ông Hồ đã viết bài đăng báo buộc tội bà. Có thể đăng lại những đoạn văn của các tác giả trên, để “triển lãm cho mọi người được thấy sự thật về tội ác của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Bà Nguyễn Thị Năm và các con
Image
Bà Nguyễn Thị Năm và các con
Nhưng trên các mạng đã xuất hiện những câu chuyện thực đau lòng hơn cả những cảnh trong tiểu thuyết. Một độc giả ký tên Lê Tri Điền kể trong Blog Lê Dũng những chuyện xảy ra thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất tại xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; chúng tôi trích vài chuyện: “Có một bà tên Chấn, không hiểu bùa phép nào của đội cải cách mà lên trước ‘ tòa án nhân dân’ nắm râu bố đẻ mà vặt rồi rít lên: Thằng Thể (tên bố bà Chấn)...mày là....mày là...” (bà Chấn sau này ân hận vì tội lỗi với người cha thân yêu của mình nên trở thành người trầm cảm, bà chết vào khoảng năm 1989 trong đói nghèo cô độc). Một chị con gái kể: Tôi thương cha tôi lắm, hắn bắt cha tôi, thúc vô rọ lợn rồi chúc ngược cha tôi đầu cắm xuống đất, tôi lén đem cơm cho cha thấy mặt cha đỏ tím tụ máu sưng tròn như chấy bưởi, cha tôi nói con đi đi! Không du kích biết thì khổ, cha không ăn được cấy chi mô, tôi còn nhỏ quá, chả biết cha có tội chi, thương cha quá mà không dám khóc...” Cuộc phản triển lãm vẫn còn tiếp tục. Dân Hà Nội không để cho người ta khinh thường, bày trò tuyên truyền rẻ tiền trước mắt mình mãi như vậy.

Một người bạn tôi mới trò chuyện với một bà chị lớn tuổi ở Hà Nội qua điện thoại, nhân tiện hỏi, “Chị đi xem cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất tại Bảo Tàng Lịch Sử chưa?” Bà chị trả lời, “Xem làm cái gì? Chúng nó hết khôn dồn ra dại hay sao mà lại đi chọc “c...” ra mà ngửi với nhau như thế hở!”

Đúng là hết khôn dồn ra dại cho nên mới đi chọc Cải Cách ra mà ngửi. Khi một chế độ lâm vào bước đường cùng thì nó mới sinh ra những trò dồ dại, ngớ ngẩn, lung tung beng như vậy.
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Chết khôn, dại ?

Đời này ai dại, ai khôn
Sống mặc áo rách, chết chôn áo lành.


Ca dao

Ðược tin ông bạn già bất thình lình “ra đi”, tôi vội mang vòng hoa đến chào từ biệt. Ông bạn tôi mặc bộ đồ rất đẹp, bình thản nằm đó.

Tôi mừng thầm cho ông bạn đã “ra đi” một cách nhẹ nhàng trong lúc đang ngủ ngon lành. Sau đó, trên đường lái xe về nhà, tôi suy tư về khoảng thời gian còn lại trong đời tôi. Dù sao năm nay tôi đã trên bẩy chục tuổi đầu rồi. Theo thống kê ở Canada, người đàn ông trung bình có thể sống tới năm 76 tuổi mới được phép “ngao du vùng tiên cảnh”. Có nghĩa là tôi còn có thể sống được chừng 5 năm nữa. Vì thế, tôi nghĩ rằng đã đến lúc tôi phải phác họa ngay một “chương trình ngũ niên” cho tôi, kẻo lúc “ra đi” lại tiếc rẻ khôn nguôi.

Cũng may hiện nay tôi vẫn còn khỏe mạnh, tiền hưu trí cũng đủ để “phè phỡn với đời”. Vấn đề quan trọng bây giờ là phải “phè phỡn” làm sao cho “phải đạo”? Chuyện “ong bướm” ư? Mục này tôi không còn khả năng để “đụng” tới. Những người đến tuổi sắp “ra đi” như tôi không nên quá tham lam. Chúng ta hãy để đám con cháu có dịp “thi thố tài năng”, không nên tranh dành với thế hệ trẻ. Biết nhường nhịn như vậy mới được người đời kính nể.

Ðối với tôi, ăn uống cũng không còn là một mục khoái lạc đáng để ý tới. Có mấy cái răng hàm thì rụng gần hết, huyết quản thì bị mỡ bám đầy, máu thì ngọt như mật ong. Theo tôi nghĩ, ông Trời cho mỗi người một số lượng đồ ăn nhất định để sinh sống trong suốt cả cuộc đời của mình. Người nào dùng hết “khẩu phần” của mình là phải “ra đi”. Ông Trời đâu có cho phép chúng ta kéo dài cuộc sống để “ăn ké” vào khẩu phần của người khác. Nói tóm lại, “ăn nhiều, ăn nhanh, ăn mạnh, vét cho sạch nồi cơm”, không phải là bí quyết trường sinh. Các bác sĩ ở các nước Âu Mỹ cũng đã nhận ra điều này, nên đã luôn luôn khuyên già trẻ cũng như nhớn bé phải ăn uống chừng mực. Hơn nữa, chúng ta cũng đã từng được nghe các cụ nhắc nhủ nhiều lần: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”, hoặc “tham thì cực thân, Phật đã bảo thầm thì chớ có tham [ăn]”.

Thế là tôi đã mất hai trong bốn mục khoái lạc mà người đời gọi là “tứ khoái”. Sau cùng, tôi chỉ còn thấy có hai thú vui hợp với túi tiền và sức lực của tôi: đó là đọc sách, và đi du lịch. Tôi thấy, đi ngao du những nơi danh lam thắng cảnh là thuận tiện nhất: ban ngày thì đi tham quan đó đây, tối về khách sạn ngồi đọc sách. Ðối với người có tuổi như tôi, thời giờ rất là cấp bách, làm “công đôi ba việc” như vậy mới “tranh thủ được thời gian”. Thế là hai vợ chồng tôi bàn nhau đi ngao du vùng nắng ấm để trốn mùa lạnh ở Canada. Ôi, mùa đông ở xứ “tình nồng” này, sao mà lạnh thế! Càng về già, tôi càng cảm thấy lạnh, lạnh từ ngoài vào tới tận đáy lòng con người.

Tối hôm đó, tôi chui vào mền nằm nghĩ đến ngày mai tới Miami sưởi nắng... Ðang say sưa mơ màng thì vợ tôi đánh thức:

– Dậy đi anh. Ðến giờ ra phi trường rồi, máy bay không đợi anh đâu. Em đã chọn cho anh một bộ quần áo rất đẹp để mặc đi đường.

Bỗng nhiên tôi nhớ đến ông bạn già của tôi đã được Nhà Ðòn mặc cho một bộ quần áo rất đẹp trước khi lên xe “ra đi”. Tôi nhìn vợ tôi xếp quần áo của tôi vào va-li, tôi vội hỏi:

– Ủa, em không đi cùng với anh hay sao?

– Em còn bận công việc nên đành phải ở lại. Anh đã đến tuổi có quyền được đi ngao du, nay đây mai đó. Anh cứ đi chơi thanh thản là em mừng rồi.

Cuối cùng tôi đành phải lên xe taxi ra phi trường một mình. Tôi quay đầu nhìn lại mái nhà thân yêu của tôi cho đến khi nó mờ dần sau màn tuyết trắng, mầu trắng tang tóc làm tôi khẽ rùng mình. Phải chăng kẻ “ra đi” thường nghĩ tới kẻ “ở lại”?

Quả thiệt máy bay không đợi tôi. Tôi vừa ngồi xuống ghế thì máy bay bắt đầu cất cánh. Lòng tôi buồn rời rợi vì tôi đang bay về vùng nắng ấm trong khi họ hàng thân yêu tôi còn phải ở lại vật lột với băng tuyết từ Bắc Cực ù ù thổi về. Khi máy bay hạ cách xuống phi trường Miami, xe của hãng du lịch đã chờ sẵn để đưa tôi về khách sạn R.I.P (“Resort of International Peace”, mà tôi tạm dịch là “Lưu Xá Hòa Bình Thế Giới”). Mới nhìn thoáng qua tôi đã nhận thấy phong cảnh thành phố này quả có đẹp, đúng như những bích trương quảng cáo du lịch đã trình bày. Hai bên đường là những cây cao vời vợi, cành lá um tùm. Xung quanh khách sạn của tôi là những biệt thự xinh xắn nằm sau những hàng rào hoa đủ mầu đủ loại.

Ngồi uống trà trong vườn của khách sạn, tôi thoải mái nghe chim hót líu lô và nhìn mấy con bướm bay tung tăng trong nắm ấm. Một lát sau, người hướng dẫn du lịch mời tôi lên xe đi xem phong cảnh thành phố. Ðó là một chiếc xe buýt chở chừng 50 du khách đủ loại người. Ða số là người có tuổi như tôi, nhưng cũng có vài người rất trẻ. Ngoài một số người Mỹ ra, tôi còn nhận thấy vài người ngoại quốc mặc quần áo cổ truyền của nước họ. Ông tài xế cho biết là xe sẽ dừng nhiều nơi nổi tiếng trong thành phố, du khách có thể xuống bất cứ chỗ nào để tham quan, một giờ sau đó xe sẽ trở lại đón để đưa đi thăm viếng nơi khác, hoặc chở về khách sạn R.I.P.

Xe đi vòng vòng trong thành phố và vùng ngoại. Xe ngừng nhiều nơi nổi tiếng của vùng này: có những khu biệt thự sang trọng lộng lẫy, có những bãi cát vàng óng ả chạy dài xuống biển xanh mầu ngọc thạch, có những trung tâm thương mại xầm uất, v.v... Mỗi khi xe ngừng lại, thì có vài du khách tíu tít xuống xe. Khi xe tới Tropical Garden (Vườn Bách Thảo Nhiệt Ðới), tôi bèn xuống xe vì muốn sống lại trong khung cảnh xanh tươi của đất nước tôi khi xưa. Tôi sung sướng khi thấy lại những cây đa cổ thụ cao ngất từng mây, những cành hoa phượng vĩ rực rỡ dưới nắng chan hòa, những con chuồn chuồn vui đùa giữa những cụm bông sen trên mặt hồ phẳng lặng...

Tôi đang thẩn thơ hưởng khung cảnh tĩnh mịch gần như thoát tục, thì bỗng nhiên nghe có tiếng người gọi tên tôi. Quay lại thì thấy anh Tùng, người bạn chí thân của tôi từ ngày học đệ thất. Ðã hơn bốn chục năm rồi bây giờ mới lại gặp nhau. Chúng tôi bắt tay nhau thiệt lâu, mừng mừng tủi tủi. Chúng tôi dạo chơi dưới bóng mấy cây liễu già bên hồ, kể lại cho nhau nghe những kỷ niệm vui buồn khi xưa. Sau khi học hết bậc trung học, anh Tùng đi động viên, nay đây mai đó, theo tiếng súng của thời cuộc ở nơi tiền tuyến. Còn tôi được may mắn được đi ngoại quốc du học. Tuy vậy, chúng tôi vẫn liên lạc mật thiết với nhau bằng thư từ. Lá thư cuối cùng của anh tôi nhận được hồi cuối năm 1967. Trong thư anh cho tôi biết là anh đang hành quân ở Quảng Trị, và trong vài tuần nữa anh được nghỉ phép để về Cần Thơ ăn tết và nhân tiện cưới vợ luôn một thể. Thế rồi trận Mậu Thân bất thình lình xẩy ra. Từ đó tôi không nhận được tin tức gì về anh. Tôi cho rằng anh đã bị tử trận. Bây giờ lại gặp được anh, tôi mừng muốn khóc. Trong khi đi bách bộ trong vườn, chúng tôi nói chuyện huyên thuyên, không để ý đến thời gian. Ðến lúc xe buýt tới, chúng tôi đành phải chia tay nhau. Tôi lên xe ra đi. Anh ở lại vì anh muốn tiếp tục cuộc du ngoạn trong vườn mà anh ví “như vườn Tao Ðàn ngày xửa ngày xưa, nơi mà chúng mình thường tới chơi trong những giờ trốn học”. Bắt tay anh, tôi hẹn với anh ngày tái ngộ. Anh cười vui vẻ, rồi thốt ra một câu triết lý bâng quơ:

– Vũ trụ này thực ra bé nhỏ lắm, chúng mình đi loanh quanh, luẩn quẩn, mãi rồi sẽ có ngày cũng lại gặp nhau.

Ðến lúc lên xe chạy ra ngoài phố, tôi mới sực nhớ là đã quên hỏi địa chỉ của anh. Tuổi già lẩm cẩm, hay quên. Thiệt là vô tích sự!

Xe chạy vào khu ăn chơi buôn bán nổi tiếng trong vùng. Tôi tò mò xuống xe đi xem cảnh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm.” Ðường phố đông nghịt những người. Họ đi ngắm nhau, hoặc ngắm những hàng hóa đắt tiền bầy trong tủ kính. Tôi mỉm cười nhìn một bà Mỹ to béo đang chăm chú nhìn một bộ áo dạ hội mỏng dính với bảng giá “Special Sale: 299.95 dollars.” Tôi cảm thấy tội nghiệp cho cái “cái cối xay” đang bị thôi miên bởi cái áo “hớ hênh,” vừa hở lưng đằng sau, vừa hở rún đằng trước. Ðã thích ăn cho mập xù, lại còn thích mặc quần áo khiêu gợi! Ðang ngẫm nghĩ về cái ham muốn quá đáng của con người, thì tôi đã bước tới trước cửa một tiệm kim hoàn. Tôi đứng ngắm những vòng ngọc đủ mầu, những dây chuyền vàng chạm chổ tinh vi, những chuỗi hạt trai sáng rực dưới ánh đèn trong tủ kính. Bỗng nhiên có tiếng ồn ào trong tiệm, rồi có bóng một thanh niên chạy vọt ra ngoài, đằng sau là những tiếng hô hoán ầm ĩ. Hai tiếng súng nổ liên tiếp làm tôi giật mình quay lại. Tôi thấy một cô cảnh sát cầm súng thản nhiên đứng nhìn người thanh niên đang nằm quằn quại trên vũng máu, tay còn nắm chiếc đồng hồ vàng nạm kim cương. Khách bộ hành tò mò nhìn cảnh chết chóc như đang xem chương trình Miami Vice trên ti-vi. May sao vừa lúc đó thì xe buýt của hotel tới, tôi vội chạy lên xe, để trốn cảnh si mê và tàn bạo.

Xe ngừng bánh nhiều nơi cho du khách xuống du ngoạn. Nhưng tôi vẫn ngồi yên trên xe vì tôi thấy mất hết cảm hứng đi ngắm cảnh phồn hoa giả tạo. Cuối cùng xe cũng về tới khách sạn R.I.P khi thành phố bắt đầu lên đèn. Tôi mệt mỏi xuống xe và rất ngạc nhiên khi thấy bố mẹ tôi mừng rỡ chạy ra đón tôi, và ôm tôi vào trong lòng. Mẹ tôi vỗ về tôi, rồi nhẹ nhàng trách tôi:

– Con mải đi chơi ở đâu mà mãi bây giờ mới về, làm bố mẹ mong chờ.

Tôi cảm thấy hối hận vô cùng, tôi gục đầu vào vai mẹ tôi khóc nức nở như ngày tôi còn bé...

Bỗng nhiên tôi nghe văng vẳng có tiếng gọi tôi:

– Dậy đi anh. Anh nằm mơ cái gì mà khóc lóc thảm thê vậy?

Tôi chợt bừng tỉnh, nước mắt hãy còn rỏ xuống gối. Sau đó, tôi nghĩ nhiều lắm. Tôi nghĩ đến ông bạn già của tôi mặc bộ quần áo rất đẹp đang nằm trong nhà quàn. Tôi nghĩ đến chuyến du ngoạn mà tôi đã thực hiện được trong giấc mơ. Tôi nghĩ đến giờ phút kỳ lạ cho phép tôi gặp lại những thân nhân của tôi đã bỏ tôi “ra đi” lâu lắm rồi. Tôi nghĩ đến cái sống và cái chết. Sau khi tôi “ra đi,” tôi sẽ đi về đâu? Là “người trần mắt thịt,” làm sao tôi biết được. Chỉ những “chuyên gia” nghiên cứu về linh hồn hay duyên kiếp mới “biết rõ ràng” những chuyện gì “chắc chắn” sẽ xẩy ra khi chúng ta sang “bên kia thế giới.” Những vị này thường cho chúng ta biết rằng: sau khi chết đi, con người sẽ khốn khổ lắm nếu không biết thành kính thờ phụng Chúa hoặc ra chùa tụng kinh giải oan. Có người lại nghĩ rằng sau khi chết đi, con người sẽ trở thành cát bụi, chứ không đi đâu hết. Trái lại, giấc mơ kỳ lạ mà tôi đã trình bày ở trên làm cho tôi nghĩ rằng cuộc sống cũng như sự chết không khác gì một cuộc ngao du. Linh hồn chúng ta có thể là một hành khách trên một chuyến xe buýt du ngoạn. Xe buýt tới thì ta phải lên xe “ra đi.” Làm sao mà biết được xe sẽ ngừng ở nơi nào. Khi xe tới trạm, ta phải xuống. Trạm xe bus có thể là một khu “Vườn Nhiệt Ðới,” có thể là một trung tâm thương mại phồn thịnh giả tạo đầy si mê và tội lỗi, có thể là một khu tối tăm, nghèo nàn, có thể là một ổ trộm cướp đầy sì ke, ma túy...

Nếu cho sự chết là một du ngoạn, tại sao chúng ta không sửa soạn cuộc “ra đi” của chúng ta cho chu đáo. Khi chúng ta vượt biên, chúng ta sửa soạn rất kỹ càng. Nhưng khi chúng ta đến tuổi phải “ra đi,” chúng ta lại không tính toán như người vượt biên, dù rằng chúng ta vẫn còn đủ tỉnh táo để sửa soạn cuộc “ngao du” của chúng ta. Chúng ta không chịu sửa soạn trước khi “ra đi” vì chúng ta sợ chết, nên chúng ta không dám nghĩ đến cái chết cho đến khi chúng ta thở hơi cuối cùng. Thế là chúng ta “thẩy” trách nhiệm đó cho những người thân thiết có nhiệm vụ cáng đáng thân xác của chúng ta. Trong lúc “tang gia bối rối,” người nào càng thân thiết với chúng ta bao nhiêu, thì lại càng bối rối bấy nhiêu. Khi bối rối như vậy, làm sao họ có thể tính toán một cách hợp lý được. Kết quả là người thương yêu của chúng ta sẽ bị các Nhà Ðòn lợi dụng triệt để. Chuyện này rất dễ hiểu: vì thương tiếc “người ra đi,” nên những người thân thích tưởng rằng càng tiêu nhiều tiền cho chuyện ma chay bao nhiêu, thì “người ra đi” càng sung sướng bấy nhiêu. Thiệt là nhầm to. Những bài kinh giải thoát, những sớ cầu siêu không hóa giải được những tội lỗi của con người. Một cuộc mai táng huy hoàng không làm cho “người ra đi” được “mát mặt” thêm một chút nào. Tuy vậy, những người thân thích luôn luôn muốn có một đám tang thiệt là linh đình và tốn kém để tỏ lòng thương tiếc của mình đối với “người ra đi.” Trong trường hợp này, “người ra đi” chỉ còn biết thở dài (sau khi thở hắt ra). Rồi người đến viếng cũng muốn mua một vòng hoa thiệt to, thiệt đắt tiền để tỏ tình bạn hữu với “người ra đi” và nhất là để chứng minh cho bà con lối xóm biết rằng mình là “người đàng hoàng, có thủy, có chung.” Thấy cảnh này, “người ra đi” cũng lại thở dài, chỉ muốn thốt ra câu từ biệt: “Này bạn ơi, đã quá trễ rồi. Sẽ có ngày tái ngộ,” và “tức cảnh” làm bài thơ như sau:

Khi một thằng nằm xuống

Lại có thằng luống cuống đứng lên

Vái lạy thằng nằm xuống

Hy vọng khi mình nằm xuống

Lại có thằng khác luống cuống đứng lên.

Ðiều mà chúng ta biết chắc là đa số những người sắp “ra đi” đều lo lắng thiết tha cho “người ở lại,” và nghĩ rằng mình còn có thì giờ thu xếp mọi việc trước khi “ra đi.” Tiếc thay, khi xe buýt bất thình lình tới đón đi “ngao du,” chúng ta vội vàng lên xe nên không giúp gì cho những “người ở lại.” Trong khi đó, “người ở lại” đau đớn muôn phần. Khi bố mẹ tôi lần lượt qua đời, một mình tôi “ở lại,” tôi lịm người đi vì thương tiếc. Rồi khi tôi loáng thoáng được tin anh bạn chí thân của tôi bị tử thương, tôi buồn ngẩn ngơ, tội nghiệp cho số phận long đong của người trai thời loạn. Tôi bối rối vì tôi cảm thấy hối hận vì tôi cho rằng mình đã cư xử không đầy đủ tình nghĩa đối với “người ra đi,” không có dịp tổ chức một đám táng trọng thể đưa người quá cố sang “Bên Kia Thế Giới.” Ngoài ra, trong thâm tâm, tôi cảm thấy lo sợ vì không biết những thân nhân của tôi sẽ đi về đâu: có được “về với Chúa không”? có thoát khỏi “vòng nghiệp chướng” hay không? Ðó là những phản ứng tự nhiên của những “người ở lại.” Vì thế, chúng ta thường thấy những vụ ma chay linh đình để “người ở lại” có dịp “trả nghĩa” đối với “người ra đi” (thà “trả nghĩa” trễ hạn, còn hơn là bị mang tiếng “bạc tình, bạc nghĩa”). Chúng ta lại còn thấy trong những cuộc cúng lễ nguy nga, mọi người thiết tha cầu xin Trời hay Phật giúp “người ra đi” được lên Thiên Ðàng hay vào Cõi Niết Bàn. Mọi tín đồ đều “biết chắc chắn” rằng một linh hồn đầy tội lỗi khó có thể siêu thoát được nếu thân nhân không thành khẩn cầu xin Ðấng Tối Cao nhủ lòng khoan hồng đại lượng với “người ra đi”! Phải chăng vì chúng ta nghĩ rằng cái quá khứ của “người ra đi” thiếu đạo đức, nên chúng ta mới phải làm lễ cầu siêu cho “người ra đi” như vậy? Thiệt là tội nghiệp cho người “ra đi”: Ðã “nằm xuống” rồi mà còn bị người đời gán cho cái tội “thiếu đạo đức.”

Nói cho cùng, “người ở lại” đáng thương hơn “người ra đi.” Trong khi “người ra đi” thản nhiên nằm đó, thì “người ở lại” không những bị xúc động tinh thần mà còn phải xả thân cáng đáng công việc tiễn đưa “người ra đi.” Vì thế, tôi không thắc mắc về việc tôi sẽ “ra đi,” nhưng tôi nghĩ rất nhiều, và lo lắng rất nhiều cho “người ở lại.” Tôi muốn “người ở lại” khỏi phải quàng lên vai một gánh quá nặng nề về tinh thần cũng như vật chất khi tôi “nằm xuống.” Có lẽ ít người nghĩ như tôi và làm như tôi, vì đến lúc gần ngày tận số, mỗi người nghĩ một kiểu, và người nào cũng cố gắng làm những việc mà mình cho rằng thỏa đáng nhất. Do đó, tôi không dám khuyên ai. Những điều tôi trình bày sau đây chỉ là một thí dụ không điển hình, một lối nhìn đời “không giống ai.”

Trước hết, tôi không muốn những bạn bè thân thuộc tôi quá u sầu về chuyến “ngao du” của tôi. Do đó, tôi đã trình bày cho mọi người biết rằng khi “chuyến xe buýt” tới, tôi sẽ thản nhiên “ra đi” như tất cả mọi người khác đã từng “ra đi.” Tôi sẽ “đi” về đâu? Có lẽ tôi sẽ về với bố mẹ tôi. Có lẽ tôi sẽ ngao du vùng tiên cảnh cùng với bạn bè tôi. Dù sao đi chăng nữa, tôi không cần biết tôi sẽ “đi” đâu, vì có biết hay không biết thì tôi và những người thân thuộc của tôi cũng chẳng làm được gì cả.

Sau đó, việc tôi phải làm trước khi “ra đi” là sửa sang lặt vặt trong nhà, vì vợ tôi không phải là một người khéo tay biết sửa chữa nhà cửa. Ngoài ra, những gì của tôi mà tôi thấy không cần dùng cho bản thân tôi hoặc cho “người ở lại,” tôi mang đi cho người khác, hoặc đổ vào thùng rác. Khi tôi quẳng đi gần hai ngàn quyển sách của tôi, tôi cảm thấy nhẹ nhõm trong người. Trái lại, vợ tôi rất xúc động, và hỏi tôi:

– Những cuốn sách này là kỷ niệm gần 40 năm dạy học, tại sao anh vất đi?

– Anh không cần nữa.

– Thì cứ để đấy, đôi khi anh muốn đọc lại thì sao?

– Ðọc đi, đọc lại làm gì? Người ta lại tưởng rằng anh dốt, học mãi mà chưa thuộc bài.

Sau khi dọn dẹp nhà cửa, tôi bắt đầu nghĩ đến phí tổn chôn cất. Tôi thấy ở Ottawa mấy gia đình mà tôi quen biết đã chi phí trên 15 ngàn dollars cho mỗi vụ ma chay. Tôi tính nhẩm trong đầu thì thấy rằng chỉ trong vài chục năm nữa, cộng đồng người Việt ở Ottawa (hơn bốn ngàn nhân mạng) sẽ phải chi cho Nhà Ðòn và nghĩa địa một tổng số vào khoảng 60 triệu dollars (không kể tiền chi cho các vị tu sĩ cúng lễ, cùng tiền bạn bè bỏ ra mua hoa phúng viếng). Như vậy, phí tổn ma chay cho nửa triệu người Việt đang sinh sống ở Bắc Mỹ sẽ lên tới gần 8 tỷ dollars. Thiệt là oai hùng! Thiệt là vĩ đại!

Ðể biết rõ chi tiết của vấn đề, tôi bèn mời một đại diện Nhà Ðòn quen biết ở Ottawa tới bàn chuyện ma chay cho tôi. Ông “tiếp thị” (salesman), quần áo chỉnh tề, mặt trang nghiêm và đầy kính cẩn, ăn nói nhẹ nhàng và từ tốn trong khi trình bày giá cả cho tôi nghe. Tập tài liệu về giá biểu in rất đẹp như tờ thực đơn của một tiệm ăn sang trọng ở Paris (năm sao). Ðiều quan trọng mà mọi người nên biết là “người mua” không được kỳ kèo về giá cả, vì Nhà Ðòn làm ăn đàng hoàng “trước sau như một,”.

Tôi đọc kỹ tờ giá biểu, rồi tham khảo với các bạn bè, tôi thấy rõ phí tổn nặng nề mà “người ở lại” phải chi cho Nhà Ðòn ở Canada (có lẽ cũng tương tự như ở bên Mỹ). Ðể có một thí dụ cụ thể, tôi xin liệt kê sau đây các “món hàng” căn bản mà Nhà đòn Tubman đã trình cho tôi:

(1) Dịch Vụ Chuyên Môn (Professional Services)


• 900$ – dịch vụ do các chuyên viên Nhà Ðòn cung cấp (professional and support staff services);

• 250$ – giấy tờ lên quan đến vấn đề khai tử (documentation);

• 125$ – dịch vụ ở nghĩa địa hoặc công việc trao lọ đựng tro cho thân nhân (gravesides service or delivery of urn as arranged).

(2) Dịch Vụ Chăm Lo “Người Ra đi” (Prrofessional Care of Deceased)

• 200$ – tắm rửa và làm vệ sinh cho “người ra đi” (sanitary care of deceased);

• 570$ – ướp xác và trang điểm “người ra đi” (embalming and cosmetology of deceased).

(3) Phòng Ốc Và Dụng Cụ

• 400$ – xử dụng Nhà Ðòn (basic use of funeral home);

• 990$ – xử dụng phòng thăm viếng, phòng làm lễ và những dụng cụ (visitation room, chepel, and/or service equipment);

• 225$ – xử dụng phòng sửa soạn và gìn giữ xác “người ra đi” (use of facilities for preparation of deceased and/or shelter of remains).


(4) Xe Cộ Và Vận Chuyển (Automotiles and Transportation)

• 295$ – chuyển xác về Nhà Ðòn (transfer from place of death ố radius 40 km);

• 200$ – xe cộ cần dùng cho các nhân viên Nhà Ðòn (vehicles required for administrative tasks, clergy, funeral director);

• 270$ – xe chở quan tài ra nghĩa địa (funeral coach);

• 125$ – xe limousine chở thân nhân.

Chi phí căn bản cho Nhà Ðòn là $5,604.03 (gồm cả thuế)

(5) Chi Phí Cho Thành Phố

• 75$ – khám nghiệm tử thi.

• 52$ – thuế vệ sinh cho thành phố.


(6) Phí Tổn Mai Táng


• 3,700$ (trung bình) – Tiền mua quan tài tùy theo loại sang hay hèn, đúng theo giai cấp: từ thứ rẻ nhất là vải quấn xác (890$) cho tới quan tài rẻ tiền bằng gỗ ván ép (1,695$), tới loại quan tài vừa đẹp vừa bền dành cho các nhà giầu thích sài sang (11,000$);

• 5,500$ – Tiền mua chỗ “An Nghỉ Ngàn Thu” (R.I.P - Rest In Peace ) tại nghĩa địa: miếng đất to hơn cái giường đáng giá khoảng chừng 5,500$;

• 1,000$ – Tiền dựng mộ bia tùy theo túi tiền của mỗi người (từ 1,000$ cho tới 5,000$, hoặc nhiều hơn nữa).

Chi phí mai táng trung bình khoảng chừng $13,000

Tôi đọc tờ giá biểu thấy nhân dân ta bị Nhà Ðòn và Nhà Nước làm tiền một cách rất là quy củ. Không những thế, ông “tiếp thị” lại còn khuyến khích tôi “mua” nhiều món “hàng” khác vừa đắt tiền, vừa... vô dụng. Tôi bèn chặn lại với một câu hỏi rất ư là “rẻ tiền”:

– Mai táng kiểu nào rẻ tiền nhất?

Hắn ngỡ ngang vì đang “rao hàng” thì bị cụt hứng. Nhưng ngay sau đó, hắn mỉm cười, rồi nhìn tôi một cách rất ư là đại lượng:

– Ông thích chơi trò rẻ tiền thì ông nên chọn con đường hỏa táng, vì ông sẽ không mất tiền chi phí chôn cất và mua đất ở nghĩa địa.

– Ngoài tiền hỏa táng ra, còn có mục chi phí nào khác nữa không.

– Có chứ. Thân xác của ông sẽ được tắm rửa, thoa son đánh phấn, và được đặt trong một cỗ quan tài thiệt đẹp. Chúng tôi sẻ tổ chức linh đình cho ông. Ai trông thấy nằm đó cũng phải thèm cái địa vị của ông.

– Nếu tôi thích đi con đường hỏa táng, thì tôi đâu có cần mua quan tài làm gì cho tốn tiền?

Lần này hắn nhìn tôi một cách khinh thường ra mặt, và nói với một giọng mỉa mai:

– Ông cũng cần phải được trang điểm và nằm trong một cỗ quan tài đàng hoàng khi bạn bè thân thuộc đến thăm viếng ông lần cuối cùng. Trưng bày thân xác ra như vậy mới là người đàng hoàng chứ! Tuy nhiên, nếu ông thích bủn xỉn, thì cũng không sao. Chúng tôi cũng có thể chiều ông được. Ðáng lẽ ông mua một cỗ quan tài rẻ tiền, ông có thể thuê một cỗ quan tài sang nhất hạng. Cỗ này đáng giá 11,000$. Những người giầu sang mua loại này, rồi mang đi chôn hay đốt cùng với cái xác của họ. Nhưng nếu ông mướn cỗ quan tài này, để nằm vài ba bữa, lấy le với bà con lối xóm, thì ông chỉ phải trả tiền thuê là 2,850$. Thiệt là rẻ mạt! Làm sao mà người đời biết được rằng ông là người hà tiện, đến lúc “nằm xuống” mà còn không dám bỏ tiền ra mua một cỗ quan tài để nằm cho thoải mái.

– Nhưng tôi không muốn “trình làng nước” cái thân thể xám ngắt của tôi cho mọi người chiêm ngưỡng thì sao?

Hắn thở dài đến sượt một cái như một thầy giáo làng nhìn thằng học trò bướng bỉnh lại còn có tật cù nhầy:

– Làm như vậy cũng bớt được vài ngàn: tiền son phấn, tiền thuê quan tài, tiền thuê Nhà Ðòn v.v.. Mà ông cũng không cần phải chi cho các vị tu sĩ đến tụng kinh gõ mõ tùm lum trong Nhà Ðòn của chúng tôi làm gì. Thế là ông đỡ thêm được vài ba trăm nữa. Ðối với hạng người “rẻ tiền” như ông, đỡ được trăm nào hay trăm đó, có phải không?

Thằng cha “tiếp thị” cho tôi là người bủn xỉn nên có vẻ bực mình lắm. Hắn chỉ muốn thu được nhiều tiền cho chủ Nhà Ðòn để được ăn nhiều tiền hoa hồng do gia đình “người ra đi” cung phụng. Vì thế, mỗi lần tôi bớt được món chi phí nào là hắn có vẻ đau đớn như đang bị bà nha sĩ nhổ một cái răng hàm bự trong mồm. Cuối cùng, tôi chọn một chương trình hỏa táng hợp với ý tôi. Tổng số tiền tôi phải chi ra là 2,709.24$ cho những mục như sau:

• tiền giấy tờ (khám nghiệm xác chết, giấy khai tử, v.v.);

• tiền xe đưa xác tôi từ nhà xác đến Nhà Ðòn;

• tiền hòm bằng giấy cứng (50$) đựng xác chết để mang đi hỏa táng;

• tiền đưa hòm xác tới lò đốt (không có vụ bầy biện thân xác ra cho mọi người “dòm ngó”);

• tiền đốt xác;

• tiền hộp đựng tro để trao cho vợ tôi mang đi thả xuống biển (tôi mua loại rẻ tiền nhất nên chỉ tốn có 20$; còn loại sang và đẹp thì lên tới 500$);

• tiền thuế trả cho thành phố, tiểu bang, và liên bang.

Người “tiếp thị” đại diện Nhà Ðòn Tubman và tôi cùng ký vào tờ khế ước (bốn bản). Sau đó, tôi hân hoan trao cho hắn tấm ngân phiếu 2,709.24$. Tôi phải trả tiền trước. Ðối với tôi, điều này rất thuận tiện, vì sau này giá cả có gia tăng thì Nhà Ðòn ráng mà chịu, chứ những “người ở lại” không còn phải lo lắng điều gì cho “người ra đi.”

Khi vợ tôi đi làm về, tôi hý hửng đưa cho cô nàng xem tờ khế ước. Thế là cô nàng khóc bù lu bù loa, rồi hỏi tôi một câu mà tôi cho là lãng nhách:

– Trong cả cuộc đời của anh, anh chỉ thích chơi sang. Tại sao đến cuối cuộc đời, anh lại định chết một cách rẻ tiền như vậy?

– Em hỏi một câu thiệt là lãng nhách! Thế nào là chết rẻ tiền? Chết sang thì đi đến đâu? Mang tiền ra cúng Nhà Ðòn và Nhà Nước làm gì? Chúng nó làm gì có quyền cấp visa cho anh vào Thiền Ðàng, hay vào Vùng Cực Lạc. Việc gì mình phải “đút lót” chúng nó? Dù sao anh cũng “save” hơn 12,000$, chứ đâu có phải là ít.

– Em không cần món tiền đó đâu!

– Nếu em không cần số tiền đó, thì em mang nó đi giúp người nghèo, có sao đâu? Ða số dân ta hiện đang sống trong cảnh nghèo túng. Em có biết rằng nếu em mang 12,000$ về Việt Nam, em có thể nuôi hơn 60 em mồ côi trong một năm. Như vậy, anh là người “chết sang” hay là người “chết rẻ tiền”?

Thấy tôi lý luận như vậy, cô nàng vừa lau nước mắt vừa cười đùa:

– Thôi, anh muốn chết kiểu nào cũng được. Cái đó tùy anh. Nếu anh “ra đi” trước em, em sẽ chúc anh theo kiểu Tàu: “Thượng Lộ Bình An,” và xin anh “Bảo Trọng.”

– Vậy, trước khi “ra đi,” anh sẽ chào em theo kiểu Mỹ: “Hẹn Ngày Tái Ngộ” – “See You Later.”

Nguyễn Hữu Chi

Tiến Sĩ Tâm Lý Chính Trị Học
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

....Ðọc để thêm một lần, thấm thía cái bi kịch của dân tộc Việt Nam xuất phát từ một sự chọn lựa sai lầm, mà thật ra cũng không phải tự nguyện chọn lựa mà là bị lừa, bị bịt mắt nên cứ tưởng đi theo đảng sẽ có tự do, độc lập, ấm no.....

Mỗi người kể một câu chuyện

Song Chi
Ðất nước Việt Nam chỉ tính riêng từ đầu thế kỷ XX đến nay đã trải qua bao nhiêu sự kiện long trời lở đất. Chiến tranh với Pháp, với Mỹ mà cũng là cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn, chiến tranh biên giới phía Bắc và các cuộc hải chiến trên biển Ðông với Trung Cộng, chiến tranh biên giới phía Tây Nam với Khơ Me Ðỏ...làm chết hàng triệu người Việt Nam.

Hàng loạt sự kiện bi thảm do những chính sách sai lầm, thất nhân tâm, xuất phát từ tầm nhìn hẹp hòi, thiển cận, từ niềm tin mù quáng vào học thuyết Mác-Lênin và lòng trung thành ngu muội với Liên Xô, Trung Cộng của Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đã gây bao tang thương cho đất nước, dân tộc.

Ðến khi nhận ra sai lầm thì cũng chỉ thay đổi nửa vời về kinh tế và tiếp tục giữ chặt con đường độc tài độc đảng.

Hậu quả là Việt Nam ngày nay lạc hậu, thua kém hàng chục, hàng trăm năm so với các nước láng giềng chứ chưa nói đến các cường quốc trên thế giới. Một xã hội nát bét về mọi mặt, người dân thì vẫn chưa được sống trong tự do, độc lập và hạnh phúc. Ðáng nói nhất, Ðảng Cộng Sản đã dẫn Việt Nam vào vòng lệ thuộc nặng nề và đánh mất một phần lãnh thổ lãnh hải cho Trung Cộng.

Cái hiện thực đau thương đó là nỗi bất hạnh lớn nhất của dân tộc Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm qua, nhưng đồng thời, nó cũng là nguồn đề tài, chất liệu vô cùng phong phú cho người sáng tác.

Thế nhưng nhìn lại suốt thế kỷ XX cho tới đầu XXI, số lượng tác phẩm từ văn học, thơ ca, hội họa, phim ảnh, kịch nghệ... tái hiện được phần nào quãng đường lịch sử đen tối nhất, lại chưa có bao nhiêu. Chứ khoan nói được thế giới biết đến.

Ngay văn học, vốn là loại hình chỉ phụ thuộc chủ yếu vào nhà văn, bất cần yếu tố bên ngoài nào, nếu so với làm phim hay dựng kịch, nên có thể dễ ra đời hơn, nhưng cũng không có nhiều tác phẩm gây chú ý.

Có thể một phần vì suốt từ năm 1945 đến nay đối với người dân miền Bắc và từ năm 1975 đối với người dân cả nước, khi phải sống trong một chế độ kiểm soát chặt chẽ và bóp nghẹt mọi tư tưởng, suy nghĩ khác biệt và do đó, cũng bóp chết luôn tài năng sáng tác ở người nghệ sĩ nói chung và nhà văn nói riêng.

Nhưng bây giờ dù sao tình hình cũng khác. Bây giờ nhà văn nếu không xuất bản được trong nước thì gửi cho các nhà xuất bản ở bên ngoài, và tác phẩm có thể đến được với người đọc nhanh chóng bằng nhiều con đường khác nhau.

Trước kia đảng, nhà nước nắm chắc cái bao tử của nhà văn qua con đường tem phiếu, sổ gạo, xuất lương ở các cơ quan, hội đoàn...Nếu lôi thôi mà bị cắt sổ gạo, cúp lương, thì chỉ có nước đi câu cá trộm ở Hồ Tây như nhà thơ Phùng Quán hay lên rừng chở đá như nhà thơ Hữu Loan.

Bây giờ, nhà văn có nhiều đường sống hơn, không làm cho nhà nước thì làm cho tư nhân, không được phép sống bằng nghề thì sống bằng cách khác. Vấn đề là nhà văn có cái gì để viết, có muốn viết, dám viết hay không.

Trong số những tác phẩm ít ỏi ra đời, là hồi ký, tiểu thuyết hay công trình nghiên cứu, soi sáng lại một phần quá khứ lịch sử u ám, góp phần giải mã một sự kiện, một giai đoạn hay giải thiêng Ðảng Cộng Sản... Có “Ðêm giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên, “Chuyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, “Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc” của nhà phê bình văn học Thụy Khê, “Hồi ký của một thằng hèn” của nhạc sĩ Tô Hải, “Bên thắng cuộc” của nhà báo Huy Ðức...Và mới đây là “Ðèn cù” của tác giả Trần Ðĩnh.

Nói một chút về cuốn sách mới nhất, “Ðèn cù.” Thật sự, tôi không đánh giá cao “Ðèn cù” ở góc độ một tác phẩm văn học. Văn phong trong “Ðèn Cù” khá là lủng củng, nhiều câu rối rắm, tối nghĩa, cấu trúc của tác phẩm lại càng lộn xộn vì viết theo trí nhớ, nhiều khi đang kể ở địa điểm này, thời gian này lại nhảy sang thời điểm khác, sau đó lại quay trở lại ...khiến người đọc hơi bị rối. Nhưng bù lại, tác giả có lối kể chuyện sinh động, nhiều chi tiết hóm hỉnh.

Giá trị lớn của “Ðèn cù” như nhiều người đã phân tích, là cái nhìn sám hối về một quãng đường lịch sử trong đó có sự dự phần của tác giả, là ở chuyện giải thiêng Ðảng Cộng Sản, giải thiêng một số nhân vật lãnh đạo Bắc Việt. Thông qua “Ðèn cù,” một số lập luận, quan điểm mà từ trước đến nay đa số thường cho là như vậy, hóa ra không phải. Ví dụ như vai trò của ông Hồ Chí Minh trong Cải Cách Ruộng Ðất hay Lê Duẩn thực ra lúc đầu rất tôn sùng Mao và Trung Cộng.

Có người bảo tác phẩm thiếu tính xác thực của thông tin, không có dẫn chứng văn bản, tư liệu đối chiếu, để tăng độ tin cậy. Nhưng thật ra, đây là một cuốn sách dạng hồi ký, là “truyện tôi” như lời tác giả, không phải là một công trình nghiên cứu và đòi hỏi văn bản trong hoàn cảnh bấy giờ là rất khó.

Cũng có người cho rằng phần lớn những sự kiện, hay một số những câu chuyện trong “Ðèn cù,” họ đã từng được nghe, được biết. Riêng đám bồi bút tự cho là biết nhiều thông tin trong ruột, còn dè bỉu là cứ bới c. ra làm gì, rằng tác giả viết vì thù hằn cá nhân v.v...

Nhưng cho đến tận bây giờ, trong hơn 90 triệu dân Việt, có bao nhiêu phần trăm biết được sự thật về Cải Cách Ruộng Ðất, vụ án xét lại, mặt thật của một số lãnh tụ hay bản chất của Ðảng Cộng Sản?

Có bao nhiêu phần trăm hiểu rõ mưu sâu của Trung Cộng từ đầu và trong suốt cuộc chiến Việt Nam, những chuyển biến trong nhận thức của từng nhân vật lãnh đạo cao cấp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam dẫn đến sự nhùng nhằng dích giắt trong mối quan hệ Việt Trung?

Và còn các thế hệ tương lai nữa. Kể lại quá khứ không có nghĩa là đào bới đống rác, càng không phải do thù hằn, mà cần phải sòng phẳng với lịch sử, rút ra những bài học sai lầm để không bao giờ lặp lại.

Ðọc “Ðèn cù,” một số người khó mà bào chữa rằng Ðảng Cộng Sản chỉ mới trở nên tệ đi sau này khi đã nắm được cả giang sơn về một mối, khi các quan chức đảng viên đã ngồi trên mọi vinh hoa phú quý hưởng lạc đâm ra tham nhũng, xa rời nhân dân, xa rời lý tưởng.

Trong con mắt của nhân chứng Trần Ðĩnh, bản chất của Ðảng Cộng Sản đã dối trá, tàn ác, bội ước, hiếu chiến ngay từ đầu, và quan trọng hơn cả, đã phụ thuộc, quỵ lụy quá mức đối với Liên Xô và Trung Cộng ngay từ đầu, kể từ ông Hồ Chí Minh trở đi. Bị phụ thuộc từ viện trợ tài chính cho tới tư tưởng, mọi chủ trương chính sách đều do Bắc Kinh cầm tay chỉ dạy, nhất cử nhất động đều phải báo cáo với Bắc Kinh.

Vì nếu không có sự giúp đỡ, chi viện tối đa của Liên Xô và Trung Cộng, Bắc Việt không thể nào đánh thắng Pháp, thắng Mỹ và miền Nam.

Cái tâm thức nô lệ, tôn sùng Bắc Kinh được Ðảng Cộng Sản truyền cho người dân miền Bắc và cho giới văn nghệ sĩ, trí thức nói riêng. Giới trí thức thay vì đóng vai trò phản biện, thức tỉnh chính quyền, khai trí cho nhân dân thì lại bị trở thành bồi bút, thậm chí góp phần giết người bằng ngòi bút. Sống hèn, sống không khác những con vật.

Ðảng kiểm soát tất cả từ tư tưởng, linh hồn, cho tới bao tử, bộ phận truyền giống của người dân. Nhân cách con người, từ giới làm chính trị, giới văn nghệ, trí thức trở đi, bị hủy hoại đến tận cùng.

Dễ hiểu vì sao con người Việt Nam ngày hôm nay lại tệ hại đi như vậy.

Dễ hiểu vì sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam khó thoát Trung, không thoát được.

Ðọc để thêm một lần, thấm thía cái bi kịch của dân tộc Việt Nam xuất phát từ một sự chọn lựa sai lầm, mà thật ra cũng không phải tự nguyện chọn lựa mà là bị lừa, bị bịt mắt nên cứ tưởng đi theo đảng sẽ có tự do, độc lập, ấm no.

Hiện thực Việt Nam và cuộc sống của đại đa số người dân hôm nay là câu trả lời rõ ràng chua xót nhất cho cú lừa kéo dài xuyên thế kỷ này.

Như đã nói, lịch sử Việt Nam còn quá nhiều điều cần phải được viết lại kể lại, được bạch hóa, cho dân mình bây giờ và các thế hệ tương lai, cũng là cho cả thế giới cùng biết.

Mỗi người từ góc nhìn của mình, chỉ cần viết một cuốn sách, kể lại một câu chuyện, chuyện mình hay chuyện người, để góp phần vẽ lại bức tranh buồn của dân tộc. Góp phần giải mã quá khứ, giải thiêng Ðảng Cộng Sản, thức tỉnh người dân đứng dậy, dẹp bỏ cái chế độ này đi để xây dựng một chế độ tự do dân chủ, một xã hội tươi đẹp hơn.

Bởi dân tộc Việt đã khốn khổ khốn nạn lâu quá rồi, đã trả giá quá đắt rồi, dân tộc này phải xứng đáng được hạnh phúc.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

'Nhà hạnh phúc'

Tạp ghi Huy Phương

[img]http://www.danchimviet.info/wp-content/ ... Pac-bo.jpg[/img]
Đèn cù và hang Pắc bó
Ðọc “Ðèn cù” của Trần Ðĩnh tôi mới hiểu ra lịch sử của cái gọi là “Nhà hạnh phúc,” một gian nhà tranh nhỏ được cất ra dành cho những người trong cơ quan Cộng Sản để tiếp vợ hay chồng đến thăm viếng ngủ qua đêm, một sáng kiến của ông Trường Chinh.

Lúc bấy giờ ở “an toàn khu” Việt Bắc, ông Dương Ðức Hiền, tổng thư ký đảng Dân Chủ (1), đi thăm vợ ở Hội Phụ Nữ của đảng, cả hai phải đem nhau ra bìa rừng. Một ông lão trong bản ngang qua, trông thấy, than vãn là thương chúng nó phải “đè nhau ở lưng đồi thế kia,” mà ông tổng thư ký đảng lại còn ngóc đầu lên “chào cụ” cho đủ bài bản dân vận, “đi thưa về trình.”

Câu chuyện không ai ngờ là mãi 35 năm sau, “Nhà hạnh phúc” lại được cất lên trong trại “cải tạo,” lần này không biết sáng kiến của ai, để cho tù cải tạo ngủ với vợ ra thăm. Những người trong nhà tù trên bảy năm, may ra mới thấy mặt mũi cái “motel dã chiến” này, thời gian đã có những phái đoàn báo chí ngoại quốc đến thăm trại tù, còn từ năm 1980 trở về trước, đang còn hận thù sâu sắc, Bộ Nội Vụ (sau này đổi tên là Bộ Công An) chẳng có thời giờ nghĩ đến chuyện này, những chuyến thăm viếng cho phép vợ chồng gặp gỡ chớp nhoáng, có sự giám sát của cán bộ và chưa có chuyện cho vợ thăm tù được ở lại ngủ qua đêm với chồng.

Câu chuyện xây dựng “Nhà hạnh phúc” ngay trong trại tù để cho tù “cải tạo” ngủ với vợ, xem ra như là một chuyện nhắm mục đích tuyên truyền với bá tánh rằng đảng ta hết sức nhân đạo khoan hồng. Mãi đến năm 1981 khi chúng tôi được chuyển trại về Nam, một vài trại tù thuộc khu Z30D và Z30C (Hàm Tân) mới bắt đầu lục đục bắt tù kéo tranh, nứa, gỗ... về cưa đục, khẩn trương xây dựng “Nhà hạnh phúc” cho vợ ra thăm tù được ngủ lại đêm với chồng.

Nhưng không phải tù nhân nào có vợ ra thăm cũng đều được trại chiếu cố khoan hồng nhân đạo, nếu như vậy phải xây hàng nghìn căn nhà, hay một trại có những dãy giường để người ta có thể làm tình tập thể.
Tù “cải tạo” học tập tốt, lao động tốt, được bầu bán là cải tạo tiên tiến may ra mới được chiếu cố cho thêm một phiếu quà, tức là được phép ăn thêm quà nhà, còn như được ngủ với vợ qua đêm phải là loại tù “xuất sắc” được phê chuẩn từ ban chỉ huy trại, phải là loại “văn hóa, thi đua” mẫn cán, hay ăn ở được lòng cai tù.

May ra 1,000 anh tù “cải tạo” mới có một anh được hưởng cái “hạnh phúc” đêm thăm nuôi ngủ “ngoài chuồng” với vợ, tức là không phải vào ngủ trong những căn nhà tù có điểm danh và được canh gác cẩn mật bởi vệ binh.

“Nhà hạnh phúc” là ngôi nhà một gian, làm bằng toàn tre nứa, may ra chỉ đủ kê một cái giường nhỏ, phần còn lại dư chỗ cho một cái bàn, một cái ghế. Không nghe nói gian nhà có bếp hay có chỗ để một cái lu nước với một cái gáo hay không, phần này tôi nghĩ là tù “hạnh phúc” có thể “khắc phục” được. Ngôi nhà nhỏ được xây cất gần bộ chỉ huy trại nhưng nằm ngoài phạm vi trại tù có lính canh. Nhà lợp mái, vách trát bùn xong rồi, nhưng tù cũng chưa nghe thông báo gì về tiêu chuẩn ai được ngủ, ai không, để tù có thi đua, ráng sức, may ra ngàn năm một thuở, vượt qua số phận của anh em để ngủ với vợ nhà một đêm.

Sau đó, thỉnh thoảng một vài tuần, lại nghe một anh đội trưởng hay thi đua có vợ ra thăm, được phép cắp chăn chiếu lên ngủ ở nhà hạnh phúc. Sáng hôm sau, anh tù được đặc ân ấy ở nhà một ngày bồi dưỡng lại sức lực, bẽn lẽn nhìn anh em, còn bà vợ có mở cửa ra về lúc gặp đoàn tù xếp hàng đi làm, ăn nói xỏ xiên, thì che nón cúi gầm mặt, đi thẳng. Mặt khác, đối với những người có chồng đi “cải tạo” cùng hoàn cảnh, sẽ nhìn người đàn bà vừa ra khỏi ngôi nhà kia với những ánh mắt như thế nào. Cũng như những người tù chung trại nhìn chồng bà, tôi không nghĩ là họ có lòng ganh tỵ hay thèm khát địa vị của những người đã ngủ qua đêm trong ngôi “Nhà hạnh phúc” ấy.

Tuy vậy, không phải không có những người chạy chọt, lo lót để được đặc ân ngủ qua đêm với vợ trong trại tù bằng nhiều cách, như đem hết quà cáp gia đình gửi, lên nhà bếp cán bộ trại, hay lót tay quản giáo. Ranh giới giữa “học tập tốt, lao động tốt, an tâm tin tưởng vào đường lối khoan hồng của cách mạng” và những người “nín thở qua sông” khá mong manh, khó ai mà cân đo được.

Riêng người đàn bà vợ tù, “chẳng may” thụ thai sau cái đêm trùng phùng ấy, biết ăn nói, giải thích ra sao với gia đình, lối xóm nên bộ chỉ huy trại tù đã chu đáo cấp cho một cái giấy chứng nhận ngày tháng, bà này có được ngủ với chồng qua sự khoan hồng, nhân đạo của đảng và chính phủ, có đóng con dấu đỏ và chắc chắn là có mấy chữ độc lập tự do, hạnh phúc kèm theo. Ðó là nói về lý, nhưng về tình, làm sao khỏi miệng tiếng ở đời, khi người đàn bà có chồng đi “cải tạo” chưa thấy về mà bụng thì mỗi ngày mỗi lớn. Một đêm hạnh phúc, nhưng có những đến “chín tháng mười ngày” xót xa.

Phần ông chồng, được “đặc ân” ngủ với vợ, dù chỉ một đêm, trong khi bạn bè, chiến hữu mình nằm san sát nhau trên sạp tre cách đó không xa, hẳn cái “hạnh phúc” này cũng không trọn vẹn. Vả lại, được hưởng đặc ân này, người tù phải có “công trạng” ra sao, hay phải lo lót, quà cáp tới mức nào để đưa vào danh sách được ngủ trong ngôi nhà mang tên “hạnh phúc.”

Và đứa con, được thụ thai trong cái nhà tù xa xôi giữa núi rừng ấy, trong đêm, giữa tiếng kẻng đổi phiên của cai tù, lớn lên sẽ nghĩ sao về sự ra đời của mình?

Một cựu sĩ quan VNCH, vốn là con trai độc nhất của gia đình, khi anh lớn lên, người mẹ thường trông chờ con lấy vợ để sinh cho bà một đứa cháu nối dõi, nhưng chiến tranh đã đưa anh đi xa, không có cơ hội lập gia đình. Ðầu năm định mệnh 1975, nghe lời mẹ, anh lấy vợ. Lấy vợ chưa được bao lâu thì quân đội tan hàng, anh khăn gói đi tù. Cuộc đời tù “cải tạo” dưới chế độ Cộng Sản không hy vọng và không biết được thuở nào ra, nhất là đối với một sĩ quan tác chiến có “nợ máu” như anh.
Qua bảy năm ở trong tù, thương nhớ vợ thì ít, mà xót xa nghĩ đến mẹ già đau yếu, mỏi mắt chờ con thì nhiều. Khi biết được có “chế độ” ngủ qua đêm tại “Nhà hạnh phúc,” anh đã tìm cách liên lạc với gia đình, để có phương tiện đút lót hầu có chút cơ may mang về cho mẹ một đứa cháu, thì dù phải chết trong tù, anh cũng yên tâm. Ðến ngày hẹn gặp vợ, anh cũng mong đợi từng ngày và hy vọng làm tròn bổn phận của một đứa con chưa tròn đạo hiếu, và bỏ qua tất cả những lời dị nghị, xì xầm của bạn bè trong nhà tù.

Lâu ngày vợ chồng gặp nhau, sau một vài giờ mừng rỡ, tưởng chừng như câu chuyện không bao giờ dứt. Khi tiếng kẻng của trại nhắc nhở giờ ngủ, anh cũng háo hức nghĩ đến chuyện ái ân. Họ hôn nhau những nụ hôn vụng về, và anh lần lượt gỡ bỏ bộ y phục mà anh còn nhớ rõ bảy năm về trước, được người vợ mang theo. Trên vạt giường tre, anh đau xót khi thấy thân thể vợ qua nhiều năm nghèo đói, tuyệt vọng, thương nhớ. Hai cánh tay chị khẳng khiu, xương vai nhô cao. Hai bầu vú đầy đặn năm xưa không còn nữa, hai núm vú như muốn lặn sâu vào lồng ngực. Cái bụng thiếu ăn sát xuống giường và hai đầu xương hông gầy guộc nhô cao. Anh yên lặng ôm vợ vào lòng và mặc cho hai hàng nước mắt tuôn chảy, chị cũng khóc theo, cả hai đều thương xót cho số phận của nhau.

Mười bảy năm tù, khi anh trở lại nhà thì mẹ anh qua đời, chưa có được một lần gặp mặt con trai và đứa cháu mà bà hằng mong đợi. Khi trở về thì anh chị đã quá già, tương lai vô định, họ không nghĩ đến chuyện có một đứa con.

Những ngôi “Nhà hạnh phúc” lập ra cho các bộ đội “cụ Hồ,” cho những cơ quan xa thành phố ngày trước của Cộng Sản, may ra còn có thể hiểu, nhưng những ngôi “Nhà hạnh phúc” được bày trò ra trong các “trại cải tạo” sau năm 1980, như một đặc ân cho người thất thế, mang nỗi đau đớn của phận người, trông nhếch nhác, bẩn thỉu và mỉa mai vô cùng.

(1) Ðảng làm“kiểng” do ông Trường Chinh lập ra và cơm gạo thì do ông Nguyễn Lương Bằng, phụ trách tài chánh, cấp.
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »


Image

Nói láo kiểu VN và thống kê

GS Nguyễn Văn Tuấn

Đã từ lâu, các tổ chức quốc tế không tin vào những con số thống kê của VN do các cơ quan Nhà nước sản xuất và cung cấp. Chẳng hạn như con số thất nghiệp (1.84%) gần đây gây ra nhiều tranh cãi, nếu không muốn nói là khó tin. Càng khó tin hơn khi người ta trình làng con số 80% người dân hài lòng về dịch vụ công. Trời ạ!


Trong cái môi trường tham nhũng và nhũng nhiễu tràn lan như VN mà 80% người dân hài lòng với dịch vụ công! Nhưng sốc nhất có lẽ là con số chỉ 1 người không trung thực trong số 1 triệu người kê khai tài sản. Nhưng những con số đó nó có mặt và cứ như là cười cợt và thách thức dư luận công chúng.


Không phải người nước ngoài không tin con số thống kê của VN, mà ngay cả người trong nước cũng không tin. Cách đây không lâu, Thủ tướng Chính phủ, khi bình luận về con số GDP của các tỉnh, ông nói: "Cách tính GDP của các tỉnh thành hiện nay không xác thực, không đúng thực tế và so với quốc tế thì không giống ai cả".

Đúng là chẳng giống ai về định nghĩa. Định nghĩa "thất nghiệp", một quan chức thuộc Viện Nghiên cứu khoa học và xã hội, nói: "Một người không có việc có thể lấy xe máy đi chạy xe ôm, làm gánh rau lên chợ hoặc ra chợ người ngồi đấy, ngày hôm đấy người ta kiếm được một suất thì người ta không thất nghiệp". Tôi không làm về kinh tế, nhưng nghe qua cách lí giải đã thấy ... vô lí. Nếu tôi bị mất việc toàn thời gian, phải đi gánh rau bán hay lái xe ôm thì chỉ là tạm thời, chứ tôi vẫn tìm việc làm. Chính việc "tôi đang tìm việc làm" phản ảnh tôi đang thất nghiệp. Do đó, ở nước ngoài người ta định nghĩa [chung] về người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động đang không có việc làm và tích cực tìm việc làm trong 4 tuần qua. Với định nghĩa đó, Úc có tỉ lệ thất nghiệp khoảng 4-6% (tuỳ tháng và năm). Tôi chưa nghe nước tư bản "giãy chết" nào có tỉ lệ thất nghiệp dưới 2%.

Con số thống kê là sản phẩm của hoạt động xã hội. Nói đúng ra, nó là sản phẩm của con người. Mà, con người thì có lựa chọn, nên con số thống kê có khi cũng là sản phẩm của những lựa chọn. Tôi có thể nói tỉ lệ người dân hài lòng với dịch vụ công là 80% nếu tôi đặt câu hỏi theo ý của tôi mà tôi không cho người trả lời nhiều lựa chọn. Chẳng hạn như kiểu lấy phiếu tín nhiệm Quốc hội, người ta chỉ cho người trả lời 3 lựa chọn "tín nhiệm cao", "tín nhiệm", và "tín nhiệm thấp", mà không có lựa chọn "không tín nhiệm"! Dĩ nhiên, ai cũng biết đó là một trò gian lận rất thấp, nhưng người ta vẫn làm để có kết quả người ta mong muốn.

Đến con số GDP mà các tỉnh thành còn làm "không giống ai" như Thủ tướng nói thì đủ biết các quan chức chẳng xem đạo đức nghiệp vụ và sự trung thực ra gì. Thủ tướng mà còn nói như thế, chẳng khác gì ông nói quan chức các tỉnh ... nói dóc. Nên nhớ rằng ông tổ cộng sản Lenin từng nói "Thống kê là tai là mắt của đảng", vậy mà người ta dám bịt mắt và bịt tai đảng bằng những con số thống kê dóc!

Cựu thủ tướng Anh Benjamin Disraeli từng so sánh con số thống kê với nói dóc. Ông nói: "lies, damned lies, and statistics" (láo, đại láo, và thống kê). Câu này hàm ý nói rằng người ta dùng con số thống kê để biện minh cho các lí giải kém thuyết phục. Câu nói của Disraeli vẫn còn tính thời sự ở VN: những con số tỉ lệ thất nghiệp 1.84% hay 80% hài lòng với dịch vụ công chỉ là những biện minh cho những lí giải quá yếu.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


“Trăm năm trồng người...”


Huy Phương

Một bản tin ngắn, rất tầm thường ở Việt Nam, không chắc làm cho bạn quan tâm, đau lòng, đó là bản tin từ Hà Nội, cho biết nạn bẻ kính chiếu hậu xe hơi bắt đầu tràn lan. Chỉ với một chiếc Porsch Panamera giá $200,000 đã được quân gian chiếu cố, chỉ trong hai năm, đã bị bẻ kính bảy lần. Ngay một sinh viên trường Cao Ðẳng Văn Hóa-Thể Thao Hà Nội, Ðặng Huy Việt, trước đây cũng từng là thủ phạm loại ăn cắp vặt này. Theo tôi, trong cái thời buổi tệ mạt này, rõ ràng là chuyện “trăm năm trồng người” đã có kết quả hay hậu quả đau lòng.


Một trong những “danh ngôn” của Hồ Chí Minh được CSVN ca tụng nhất là câu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người,” nhưng trẻ em “quàng khăn đỏ” ít đứa nào biết tới ông Quản Trọng bên Trung Quốc là tác giả chính hiệu danh ngôn này, đã bị “bác” bứng nguyên cây về trồng trong vườn nhà “bác.” Câu này lấy từ ý của Quản Trọng trong sách Quản Tử, nguyên văn là: Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc, thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân. (Kế sách cho một năm, lấy việc trồng lúa làm đầu; kế sách cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu; kế sách cho trăm năm, lấy việc trồng người làm đầu).


Những gì “bác” đã gieo giống, chăm sóc, tưới nước bón phân, ngày nay rõ ràng là đã có kết quả. Sách Minh Tâm Bảo Giám, chương Kế Thiện, có câu: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. (Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu). Không ai gieo hạt chanh chua mà lại hái được giống cam ngọt, nói đơn giản, gieo nhân nào thì gặt quả nấy!


Hạt giống độc địa ấy từ ngày được Hồ Chí Minh mang về gieo trong khu vườn nhà đã như là “loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh; là loài trùng độc, sinh sôi nảy nở trên rác rưới của cuộc đời” như câu nói của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, Tây Tạng, khi nhận xét về chủ nghĩa cộng sản. Sau ngày cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, nơi Bắc Việt gọi là vùng tạm chiếm, tệ nạn xã hội càng ngày càng gia tăng, làm băng hoại đạo đức xã hội, luân thường đạo lý, như những chuyện băng đảng nhóm xã hội đen, cướp của giết người, mại dâm, ma túy, cờ bạc, hiếp dâm trẻ em, loạn luân, lừa gạt, chiếm đoạt tài sản.


Lúc đầu, nói về tình hình trật tự xã hội, đề cập đến những điều xấu xa đầy rẫy này, đảng cộng sản tránh né trách nhiệm, đổ lỗi cho đó là hậu quả, tàn dư của chế độ cũ để lại, chỉ đích danh là Mỹ, Ngụy, nhưng rõ ràng là sau hơn 39 năm “làm chủ” đất nước, thực tế ngày nay không thể còn đổ lỗi cho ai.


Sau nữa là cả nước từ 60 năm nay, dưới sự cai trị của đảng, do chủ trương của đảng, là “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!” Vậy thì những gì được ghi nhận hôm nay là thành quả chiếu sáng từ tấm gương ấy, đó là chân lý, mà chân lý này không bao giờ thay đổi. Không ai dám hỏi Hồ Chí Minh thực sự có đạo đức hay không, và cả đất nước mù quáng tin theo những gì đảng nhồi nhét từ những đứa trẻ, làm đông đặc đầu óc thanh niên, bắt người ta tin vào những chuyện không có thật.


Hậu quả là ngày nay cả nước nói dối như cuội.

Hậu quả là ngày nay cả nước ai cũng gian dối để sống.

Hậu quả là ngày nay, lý tưởng của cuộc sống là đồng tiền.


- Ở xã hội ấy cái gì cũng mua được bằng tiền, cái gì cũng được đem bán, và người ta sẵn sàng bán đi những cái gì quý nhất.
- Ở xã hội ấy, người ta không biết hổ thẹn vì nhân cách, nhưng cảm thấy hổ thẹn khi thua sút những người chung quanh vì cái nhà, cái xe, cái điện thoại, cái xách tay...
- Ở xã hội ấy, ai cũng muốn bỏ đi, những ai còn ở lại là không đi được, hay đang còn kiếm được tiền để chuẩn bị đi hay lo cho những người đã đi.
- Con người là vốn quý như ai đó đã từng nói, nhưng một mạng người không đáng giá bằng một con chó!
- Con người là vốn quý, nhưng người ta coi rẻ sinh mạng của nhau, cầm dao giết nhau chỉ vì một cái nhìn, một chuyện tranh cãi hay để cướp đoạt tài sản của người khác.
- Con người là vốn quý, nhưng công an, thế lực của chế độ, sẵn sàng đánh chết dân vì dân không chịu nhận tội mình không làm.
- Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người, nhưng người vá xe sẵn sàng rải đinh trên đường để cho tiệm mình đông khách, thêm lợi nhuận.
-Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người nhưng bọn phục vụ cho dân, ăn gian, làm dối, sống chết mặc bay.
- Cộng sản đã từng ca tụng: “Chủ Nghĩa Xã Hội là đỉnh cao trí tuệ loài người!” Hà Nội là lương tri của nhân loại! Báo Quân Ðội Nhân Dân đã ca tụng “đỉnh cao của khí phách và trí tuệ Việt Nam,” nhưng ngày nay nhân dân Việt Nam đi đến đâu đều được mọi người có những cái nhìn thiếu thiện cảm. Nhật, Thái Lan, Nam Hàn, Singapore... kết án người Việt trộm cắp, ăn tham, xả rác, bán dâm... khiến hình ảnh Việt Nam đang dần trở nên xấu xa. Cả nhân viên nhà nước cũng buôn lậu, ăn cắp, hối lộ, vậy người Việt ra nước ngoài còn dám ngẩng mặt nhìn ai?

- Ở trong nước dân Việt đã bày tỏ dân trí bằng cách ẩu đả, chửi bới nhau để chen lấn mua bánh Trung Thu ở Hà Nội, giành giật đạp lên nhau để giành được kiếm một miếng sushi miễn phí ở một cửa hàng mới khai trương, hỗn loạn trèo lên đầu nhau lên nhau để mua bằng được lá ấn trong lễ khai ấn đền Trần, hôi của khi có tai nạn qua đường như rơi tiền, đổ bia... Người ngoại quốc và các tòa đại sứ ở Việt Nam thì bắt đầu “sợ” dân Việt khi những cây anh đào được đem từ Nhật đến bị đám đông nhào đến vặt sạch, chính phủ Hòa Lan tổ chức phát 3,000 chiếc áo mưa cho dân chúng để tỏ tình hữu nghị thì đám đông ào ạt, hung dữ nhào lên sân khấu cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.
- Chính giới trí thức trong nước, như Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang đã viết rằng, “Phải nói rằng kể từ khi đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam thì con người Việt Nam bấy giờ còn tha hóa hơn con người Việt Nam hồi thời phong kiến. Và tư chất, đạo lý của con người Việt Nam bây giờ còn thua cái thời Pháp thuộc. Cho nên điều đó là do ảnh hưởng của chế độ chính trị và của tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội mà chủ yếu đẩy con người vào tình trạng không cạnh tranh lành mạnh, không cạnh tranh dựa trên đạo lý, không dựa trên pháp luật, mà bằng phe nhóm, ỷ thế, ỷ quyền, ỷ vào giai cấp, ỷ vào thành phần lý lịch, ỷ vào con ông cháu cha. Hơn nữa, kể từ khi đưa cái Chủ Nghĩa Mác vào, lấy chuyên chính vô sản vào, thì người ta không tôn trọng pháp luật nữa. Cho nên người ta sẵn sang giẫm đạp lên pháp luật, lên đạo lý, từ đấy ảnh hưởng đến tâm tính của con người Việt Nam. Rồi đời sống không cần đạo lý, không cần pháp luật. Thì đó là cái tội của chế độ chính trị và tổ chức xã hội này.”

Ai đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam, phải chăng là công ơn “bác Hồ,” cho nên hôm nay, chưa đến một trăm năm, mà việc trồng người của “bác” đã có kết quả “khả quan,” đưa đất nước vào chỗ lụn bại, tha hóa.

Muốn gieo lại hạt giống tốt thì phải quét sạch, khai quang, đào xới lại cả khu vườn, thay đất mới, và phải mất trăm năm nữa, con người hôm nay mới trở lại được cái tử tế, văn hóa, chỉ mong được tương đối như người miền Nam trước 1975, hay nói xa hơn là cả cái thời Pháp thuộc.

Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là “chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân !”

Huy Phương
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 4 guests