Bình Luận , Quan Điểm

khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Phải thay đổi cơ cấu

Ngô Nhân Dụng
Sau khi đọc tin tức về kinh tế Việt Nam đang tuột dốc, một người bạn kể câu chuyện tiếu lâm đang được người Hà Nội truyền tụng. Kể rằng trong bệnh viện Việt Ðức có một người muốn thay toàn thể não bộ để cải lão hoàn đồng. Bác sĩ giới thiệu bộ óc của một nhà khoa học lẫy lừng mới qua đời. Cả nhà bệnh nhân chê vì trông bộ não đã cũ vàng, các nếp gấp méo mó hết, không biết xài được bao lâu. Chắc vì lúc còn sống nhà khoa học suy nghĩ nhiều quá. Lại giới thiệu bộ óc còn mới hơn, của một nhà kinh doanh trẻ bị tai nạn lưu thông. Nhưng gia đình bệnh nhân vẫn chê là nhà tư bản đã sử dụng não thùy bên trái “quá tải,” chẳng mấy năm sức sản xuất sẽ đụng trần rồi tụt y như thị trường chứng khoán. Cuối cùng, bệnh viện đưa ra một bộ óc hồng tươi, các nếp gấp còn mới nguyên như thuở thanh niên. Bệnh nhân mừng quá, hỏi: “Óc của ai mà còn tốt như vậy?” Ðó là bộ óc của một chuyên gia kinh tế tốt nghiệp một đại học Mỹ danh tiếng!

Bà vợ của nhà kinh tế quá cố giải thích: “Bố các cháu không bao giờ tham nhũng nên cũng không phải mưu mô, kết bè phái với ai cho mệt óc. Chỉ phải cái tội là nghèo, để lại cho vợ con mỗi một bộ óc. Cụ căn dặn rằng khi nào lạm phát lên tới 25% thì phải đem óc cụ bán, óc còn mới sẽ được giá cao, để lấy tiền mà đong gạo. Óc còn tốt vì kể từ khi được vào làm trong Ban Kinh Tế Trung Ương Ðảng, bố các cháu chẳng phải làm việc gì hết! Các cụ ở trên có ai cần nghe ý kiến mình đâu mà suy nghĩ cho mệt!”

Gần đây ở Việt Nam có người than rằng Ngân Hàng Nhà Nước (tức ngân hàng trung ương phụ trách chính sách tiền tệ cả quốc gia) thiếu nhân tài. Vì bao nhiêu người có khả năng chạy qua làm các ngân hàng tư nhân cả, ở đó họ được trả lương cao hơn. Nhưng kinh tế là chuyện tiền bạc, không thể đổ lỗi cho các chuyên gia kinh tế tham tiền được! Ngay cả những người không màng đến tiền bạc vì thiết tha đến những mục tiêu cao hơn trong cuộc sống, họ cũng phải được thỏa mãn những nhu cầu tinh thần cao hơn. Ít nhất, họ phải thấy những công trình mình làm, khi “vặn óc” suy nghĩ về các vấn đề kinh tế, tài chánh đề ra những kế sách, ít nhất cũng phải có... người đọc! Nhưng trong chế độ cộng sản, chính trị quyết định hết thẩy, những kế sách hay ho đến mấy mà không phục vụ cho quyền lợi của các quan chức cộng sản thì cũng bị xếp xó. Những người đưa ra các ý kiến nghịch với quyền lợi “các cụ” có thể còn bị trù ểm nữa! Trong cảnh đó, các chuyên gia kinh tế làm sao có thể ngồi suy nghĩ mệt óc, để sau cùng các ý kiến của mình được “xếp hồ sơ lưu” vĩnh viễn? Ai muốn đóng bung xung cho các “tập đoàn kinh tế” của đảng nhà nước bòn rút tài sản của quốc dân?

Trước khi tình trạng kinh tế nguy ngập, rất nhiều chuyên gia kinh tế có tiếng đã công khai góp ý kiến. Các ông Lê Ðăng Doanh, Nguyễn Thăng Long ở trong, các ông Vũ Quang Việt, Nguyễn An Nguyên ở nước ngoài đã trình bày các biện pháp ngăn ngừa lạm phát, ổn định kinh tế toàn thể (vĩ mô) từ khi những mầm mống lạm phát mới ló ra. Nhưng không ai thèm nghe! Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản còn lo thu xếp việc tha bổng cho Nguyễn Việt Tiến cho êm thấm để bảo vệ đoàn kết trong đảng; trước khi các cụ bàn việc Nông Ðức Mạnh xuống thì ai lên, và ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn bận đánh dẹp các nhà báo, rồi lại lo bảo vệ cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008! Những lúc nhàn rỗi chợt nghĩ đến chuyện kinh tế ông mới ra lệnh tổng công ty đầu tư Vốn của nhà nước đi mua cổ phiếu để cứu các nhà tư bản cháy túi vì thị trường tụt xuống.

Trong khi đó thì tỷ lệ lạm phát nó không đợi. Chín tháng đầu năm 2007, giá cả tăng hơn 7%, báo động đỏ bắt đầu vì các nguồn đầu tư trực tiếp ngoại quốc đang đem vào sau khi Việt Nam được gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Tiền đổ vào đâu thì cũng có nguy cơ thúc cho giá sinh hoạt tăng lên. Các cụ không quan tâm, cứ thấy đô la vào là vui mừng, và vẫn cho các ngân hàng của nhà nước cho các doanh nghiệp của nhà nước vay tiền thoải mái. Tiền đổ vô những cái thùng không đáy này không giúp gia tăng số lượng hàng hóa và dịch vụ, cho nên áp lực lạm phát càng lên. Cuối năm, tỷ lệ lạm phát cả năm lên tới trên 12%. Báo động đỏ bắt đầu, nhưng nhà nước không biết làm cái gì nữa! Tháng Giêng 2008, tỷ lệ tăng lên 14% một năm, Tháng Tư lên 21%, và trong Tháng Năm thành hơn 25%.

Khi vốn đầu tư ngoại quốc vào, cộng với tiền các ngân hàng nhà nước cho doanh nghiệp nhà nước vay đem ra chi tiêu, thì vật giá phải lên. Ngân Hàng Nhà Nước lúc đầu đã không tăng lãi suất, vì muốn bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước lúc nào cũng cần vay thêm tiền. Thời ông Phan Văn Khải lập các “tổng công ty” tính bắt chước các chaebol của Nam Hàn, nhưng các cán bộ được cử làm giám đốc không ai biết làm ăn như người Nam Hàn. Thời Nguyễn Tấn Dũng lại lập ra những “tập đoàn kinh tế” to hơn, nhưng tựu chung vẫn là chính sách bảo vệ guồng máy kinh tế trong tay các đảng viên thân cận. Các tổng công ty và tập đoàn tha hồ vay tiền để làm các dự án, tưởng như vậy là kinh tế sẽ phát triển nhanh hơn. Nhưng vay tiền thì dễ, đầu tư có hiệu quả thì khó. Vay rồi không bao giờ trả được, cũng coi như huề cả làng; vì cả ngân hàng và xí nghiệp đều cùng là con cháu các cụ cả! Chỉ có người dân đóng thuế mất tiền thì xót ruột thôi, nhưng người dân đâu có quyền góp ý kiến?

Cùng lúc đó, Ngân Hàng Nhà Nước lại đem tiền Việt Nam đi mua bớt đô la Mỹ trong thị trường, gây ra cảnh số tiền lưu hành bột phát. Nhà nước bèn thay đổi chính sách, thu tiền về bằng cách cưỡng bách các ngân hàng phải mua công trái, tức là cho chính phủ vay với lãi suất rất rẻ! Các ngân hàng thiếu tiền mặt, có lúc đã từ chối không nhận đô la Mỹ để đổi tiền Việt Nam! Ngân Hàng Nhà Nước lại đổi chính sách hối đoái, cho phép đổi đô la theo một giá linh động hơn, chung quanh giá chính thức để cho phép đồng nội tệ được lên ngõ hầu giảm bớt ảnh hưởng của tiền nhập cảng xăng dầu đang lên. Nhưng hậu quả là nhiều người nghi ngờ và lo sợ cho giá trị của đồng bạc Việt Nam. Họ kéo nhau đi đổi lấy đô la. Tất cả hệ thống tài chánh xoay như chong chóng, theo bàn tay múa may lúng túng của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

Những người ủng hộ chế độ thường cãi rằng cả thế giới đang lạm phát, Việt Nam có bị lạm phát cũng là chuyện bình thường. Nhưng điều bất bình thường là giá sinh hoạt ở Việt Nam tăng gấp đôi và gấp ba tỷ lệ ở các nước ngay trong vùng Á Ðông. Trung Quốc, Indonesia thấy giá cả tăng 9% là đã lo ngăn gấp rồi, nhưng họ cũng không dám tăng lãi suất quá cao, sợ các hoạt động kinh tế giảm bớt vì khó vay tiền. Riêng ở Việt Nam thì mới có cảnh lúng túng vì hai tai họa xẩy ra cùng một lúc. Một bên thì lãi suất của các ngân hàng tăng vọt lên, bên kia là lạm phát tăng nhanh hơn, lãi suất chay theo cũng không đuổi kịp. Khi lạm phát lên 25% mà ngân hàng cho vay chỉ đòi 15% thì chính các ngân hàng đang chịu thiệt vì lãi suất là số âm!

Các ngân hàng cho vay lấy 14, 15% một năm, không ai dám vay nếu đem tiền về đầu tư mà không sinh lợi được gấp đôi tỷ lệ đó. Những người dám vay chắc hẳn là những người “không sợ súng,” vì có những mối đầu cơ tích trữ bảo đảm sinh lời! Trước đây, người ta còn vay để mua nhà, đất và cổ phiếu, nhưng nay các thị trường đó cũng cạn. Người lao động khổ vì đồng lương không đuổi kịp vật giá leo thang, giới trung lưu cũng mang họa vì nhà nước tấp tểnh làm kinh tế tư bản nửa vời, cho chơi trò mua bán chứng khoán. Ðầu tuần này, bỗng dưng thị trường chứng khoán đóng cửa “vì lý do kỹ thuật!” Không biết lý do kỹ thuật nào mà cả thị trường tê liệt mất 4 ngày! Những người tập tành dự trò chơi cổ phiếu đã mất vốn liếng sau khi chỉ số thị trường chứng khoán tụt mất hai phần ba; riêng từ đầu năm tới giờ đã tụt 55%. Cuối cùng chỉ nộp tiền cho những “tay trong” chuyên lũng đoạn, làm giá. Nhiều người Trung Quốc sang Việt Nam kiếm lời trong thị trường chứng khoán, các đồng chí này có kéo nhau tham dự cuộc rước đuốc Olympic 2008 ở giữa Sài Gòn!

Bây giờ một công ty tham vấn tài chánh Mỹ, Morgan Stanley phải báo động rằng chính sách tiền tệ của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đang đưa tới một cuộc khủng hoảng ngân hàng ở Việt Nam. Các ngân hàng không đòi được nợ của các xí nghiệp quốc doanh, có thể đưa tới một cuộc khủng hoảng tín nhiệm. Dân Hà Nội xếp hàng trước các cửa hàng đổi tiền ở phố Hà Trung để mua đô la Mỹ, giá đô la tăng lên. Thị trường chứng khoán mở cửa sau bốn ngày ngưng, giá các cổ phần tụt xuống mặc dầu nhà nước đem tiền của dân ra mua để cứu các nhà tư bản nội hóa.

Chính sách của nhà nước là khuyến khích xuất cảng, nhưng cán cân thương mại năm ngoái đã thâm thủng 14 tỷ Mỹ kim. May nhờ có gần 7 tỷ đô la do người Việt ở nước ngoài gửi về, 6 tỷ đầu tư trực tiếp của người ngoại quốc, và nhờ tiền viện trợ cho nên có đủ 14 tỷ bù vào lỗ thiếu hụt. Năm nay cán cân thương mại sẽ thiếu khoảng 25 tỷ Mỹ kim, gần bằng một nửa Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Tiền Việt kiều gửi về khó tăng, đầu tư ngoại quốc càng khó tăng khi cả nền kinh tế đang nguy ngập! Không một quốc gia nào trong vùng chịu khốn đốn như vậy.

Nếu đảng Cộng Sản có thay đổi cả chính phủ, thay chức tổng bí thư, cũng không thể thay đổi được cảnh bế tắc về kinh tế. Ngày Thứ Sáu, các ông bộ trưởng Võ Hồng Phúc (kế hoạch và đầu tư), Vũ Văn Ninh (tài chánh), ông Nguyễn Văn Giầu, chủ tịch Ngân Hàng Nhà Nước, được ra trình diễn trong Quốc Hội cho các đại biểu chất vấn. Ông nào ông nấy chỉ tìm cách chối tội, ông Phúc không ngần ngại đổ tội cho Nguyễn Tấn Dũng, vì đã được báo động mà lại bất động! Chỉ có ông Trần Du Lịch, viện trưởng một viện nghiên cứu kinh tế là biết tỏ ý tha tội cho cả ba viên chức cao cấp nhà nước. Ông Trần Du Lịch công nhận là cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay là do “cơ chế kinh tế” tạo ra, cuộc khủng hoảng tiền tệ chỉ là nguyên nhân trực tiếp nhất thời mà thôi.

Vậy thì làm sao để thay đổi cơ chế? Trước hết là phải tước bỏ độc quyền cai trị của đảng Cộng Sản, trong đó có quyền của các cụ lấn áp tất cả các ý kiến chuyên môn về kinh tế. Khi một đảng chính trị già cỗi, cổ hủ, các lãnh tụ chỉ lo bám lấy quyền lực để hưởng lợi, không ai dám quả quyết thay đổi theo cơ chế thị trường đích thật, thì kinh tế sẽ còn sa lầy mãi, khó thoát ra được.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Thủ Tướng Nguyễn Tán Dóc... tán dóc về Phong Thuỷ...
Tác giả: Nguyễn Phương Anh.


"Tựa vào dãy núi Ba Vì và hướng ra dòng sông Hồng, Hà Nội sẽ luôn giữ được thế rồng cuộn hổ ngồi tiện hướng nhìn sông dựa núi; tiếp nối được giá trị khoa học và nghệ thuật trong lịch sử hình thành và phát triển đô thị Việt Nam là luôn gắn với môi trường sống của con người với môi trường cảnh quan thiên nhiên", Thủ tướng nói. http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2008/05/3BA02CB8/


Từ xưa đến nay, trên nghị trường nước ta chưa thấy một thủ tướng nào lại đi vin phong thuỷ như là "giá trị khoa học và nghệ thuật" vào việc xử lý các công việc hệ trọng của đất nước, mà câu nói trên lại được ông thủ tướng phát ngôn ra giữa Quốc hội và gần đủ 600 tờ báo đảng đăng lại mới càng thêm phần nguy hiểm.

Các báo chí chính thống thường liệt những dạng câu nói, bài viết liên quan đến phong thuỷ vào mục giải trí, chuyện phiếm...nhưng không hiểu sao lần này ông thủ tướng lại nói chắc như đinh đóng cột vậy. Mặt khác thế "nhìn sông, dựa núi" thường chỉ là nơi dùng để táng mồ mả cha ông cho con cháu sau này phát đạt chứ không dùng cho người sống, còn để đô thị phát triển thì phải "tiền Giang, hậu Lộ" tức là trước mặt là sông, sau là đường để buôn bán, giao thương, vận chuyển, tưới tiêu nông nghiệp...cho hợp lý nhất.

Có vẻ các cụ tướng lĩnh trong câu lạc bộ Thăng Long bàn tán về cái tên gọi là thủ tướng "Nguyễn Tán Dóc" cũng không phải là không có lý.

Thực ra, để hiểu rõ cái thế Rồng cuộn, Hổ ngồi của Hà nội thì qủa là quá dễ, vì từ trước đến nay Hà nội là nơi Long (Núi) chầu, Sông tụ chứ chẳng có cuộn hay ngồi gì hết. Hay nói cách khác, Rồng mà không bay là Rồng hỏng, Hổ mà không đi săn là Hổ giấy. Hà nội là Thăng Long , là Rồng bay, nay ngồi cuộn lại thì thật là hết thuốc chữa.

Từ xa xưa, Thành Hà nội luôn được canh gác rất cẩn mật, được các thần, thánh trông coi mà đặc biệt là các đền Voi Phục (thờ Linh Lang), đền Kim Liên (thờ Cao Sơn ), đền Bạch Mã (thờ Long Đỗ - được Vua Lý Thái Tổ phong làm Thăng Long thành Hoàng đại vương) và đền Quán Thánh (thờ Huyền Thiên Trấn Vũ).

Một bài học qua thời Hùng Vương mà người đời nay luôn ghi nhớ, đó là triều đại Hồng Bàng chỉ có Mười tám đời Hùng Vương. Nơi Đền Hùng có đủ 99 con Voi chầu (1 con quay ngược bị chặt đầu) là nơi đắc địa, vậy mà đời thứ 18 lại tham, muốn thêm 3 ngọn núi nữa chăng?.

Đến đời thứ 18 Vua Hùng cũng thấy khí không còn vượng nữa nên muốn duy trì thêm thời gian trị vì, và điều tốt nhất là chọn lựa một nơi để mà dựa vào (hay tựa vào), lúc đó chỉ còn cách tìm người tài ra giúp và thần Tản Viên (Ba Vì- Sơn Tinh) là lựa chọn số một và qua một cuộc thi kén rể, Vua Hùng 18 đã có người con rể vừa ý mình, nhưng không biết ngài lựa thế nào mà lại làm cho người khác giận thêm, mỗi năm gây nên thảm cảnh cho dân lành, nên ước mong dân yên bình để có đời thứ 19 đã không thực hiện được, đấy cũng chính là một bước đi sai lầm làm chấm dứt triều đại Hồng Bàng. Lòng dân không yên, thiên tai liên miên, lại thêm phần đói khổ nên Thục Phán (An Dương Vương) nổi lên, đánh từ Đông Bắc sang và lập nước Văn Lang thay thế cho Hồng Bàng.

Triều đại cộng sản ngày nay có phải cũng đang lâm nguy và cũng muốn được muôn năm nên đi theo vết xe đổ là dựa vào Ba Vì cho an toàn ?. Xét qua đời sống xã hội ta cũng thấy : giá cả tăng cao làm cho đa phần dân bị nghèo đi và khó sống, lạm phát cao làm cho xã hội đình đốn, các thị trường chứng khoán đổ vỡ, bất động sản tan hoang, tài chính ngân hàng bí thở...càng làm cho người dân không thể an cư, lạc nghiệp được. Người dân có thể đang nghèo mà dịch chuyển lên giàu một tý thì họ chịu được, chứ đang bình thường mà đời sống đi xuống theo kiểu rơi tự do, lạm phát đến tháng 6 đã 25% , nhập siêu 25 tỷ đô la, giá các loại hàng hoá tăng đồng loạt lên gấp 2,3 lần, phúc lợi xã hội càng ngày càng bị tước đoạt bằng "xã hội hoá"...thì rõ ràng họ không thể chấp nhận được, làm cho lòng dân họ không yên, họ sẽ đòi hỏi một triều đại mới tiến bộ hơn để thay thế cái đã thối nát, tham nhũng, phi khoa học, ngược chiều lịch sử. Họ cần một triều đại với quyền lực đích thực thuộc về họ - triều đại Dân Chủ!.

Mở rộng Hà nội hết cả Hà tây , mà theo ông Tán Dóc thì phải tựa vào dãy núi Ba Vì- nơi cao nhất, do vậy việc chọn Sơn Tinh làm thành hoàng Hà nội là chắc chắn, nếu không tự tiện áp đặt được thì theo kiểu bầu bán như hiện nay chắc chắn Sơn Tinh cũng trúng. Vì ngoài ông ra còn 4 vị trấn thành Hà nội cũ là Cao Sơn - là em họ của ông, quân lính của ông lúc trước , Linh Lang là một hoàng tử của Vua Lý Thái Tông làm sao dám trái lời hai anh em họ nhà ông - những người khai quốc công thần từ thời Quốc tổ Lạc Long Quân-Âu Cơ và thời Hùng Vương.

Vậy là Thánh Tản đã có 2 phiếu, ông Long Đỗ nếu có Huyền Thiên Trấn Vũ giúp thì có đấu cũng không lật lại được, mà xem về hoàn cảnh bây giờ người ta phù thịnh chứ ai phù suy nên ông Huyền Thiên ấy ngả hẳn sang phe Hà Tây thì thấy rõ - trước ông giúp Hùng Vương ,sau lại giúp An Dương Vương nên nay có cơ hội chiêu hồi sao lại nỡ bỏ cho được?. Với lại khi đi bỏ phiếu vì lòng tự trọng chả lẽ ông Long Đỗ lại bỏ phiếu cho mình ?. Ông Long Đỗ mất chức Thành Hoàng Hà nội 100% rồi, mà chức này ông có từ gần 1000 năm, nay thiếu mấy trăm ngày cho tròn mà lại bị phế thì không ức sao được! Ông chắc cũng khó mà yên tâm cho được, bên ngoài bằng mặt, bên trong không bằng lòng, Thần Thuỷ Tinh thì đã từ lâu ghét Sơn Tinh đến độ năm nào cũng dàn trận thử sức nhau, phen này chắc hẳn sẽ làm đôi câu đối, ít quà mà gặp gỡ ông chăng , nhỡ đâu ông kết hợp với Thuỷ Tinh thì có vấn đề lớn, Hà Thành phen này đường sá thành sông cho cá lội tung tăng là hết sẩy!. Nhân việc này cũng ảnh hưởng đến các chức quan hiện tại, quan Hà tây sẽ làm trưởng đa số trong Hà nội mở rộng chứ không phải lép vế như vừa qua báo đài làm rùm beng lên, điển hình là ông Thiếu Tướng Giám Đốc công an Hà tây đã nhanh chân lên làm 1 cục trưởng thuộc Bộ công an nên đến 1/8 thì ông vẫn còn hơn chức cái ông giám đốc công an Hà nội mới lúc đó.

Dân xứ Đoài cứ an tâm kê cao gối mà ngủ, không chừng "Vua" lại xuất thân từ quê mình đó. Mở rộng Hà nội đến như vậy sẽ phát sinh nhiều hậu quả : về đất đai - tranh giành dự án, về việc phát sinh hàng vài chục phó thủ trưởng trong các đơn vị- đấu đá nhau trong nội bộ, về an ninh quốc phòng - phải lập nhiều trạm rađa, tên lửa, binh lính...để bảo vệ đối tượng đặc biệt là Thủ đô đã rộng gấp 3,6 lần, nên tốn kém kinh phí đáng nhẽ dùng cho dân sinh, kinh tế.

Hà nội chỉ nằm trong vòng núi chầu, sông tụ như cũ là đủ, vời ông Sơn Tinh về làm điểm tựa để làm gì cơ chứ, nhưng mà thôi : Nước có vận nước, Vua có vận vua ...Cả vũ trụ còn luân hồi, nói chi việc đã rồi. Những dấu hiệu về thay đổi triều đại còn rất nhiều : lúc này trộm cướp liên miên - các thành phố đã phải lập trở lại đội săn bắt cướp, việc "Cua đổi càng, Vàng mọc nổi"- cua thì từ đầu 2008 đã đổi càng hàng loạt từ phải sang trái, vàng thì nổi hết đến mức dát cả lên thức ăn rồi, nên nước đổi "vua" là điều phải đến. Các việc khác như động rừng - thú dữ Hổ, Gấu, Voi tràn về tận phố xá, động đất xảy ra nhiều và liên tục từ vài năm trở lại đây, khí hậu bất bình thường, dịch rầy vàng, bọ đen, ruồi, lợn sinh voi ...cũng là những hiện tượng mà từ xưa đến nay đúc kết trong dân gian như báo trước việc thay đổi một triều đại trong thời gian rất ngắn.

Nói cho cùng, có ai trên đất nước Việt nam này lại không yêu thích sự tiến bộ, yêu thích sự tự do, yêu thích sự giàu mạnh ?. Và có ai còn yêu thương được với chủ nghĩa cộng sản quái ác, tội ác (nghị quyết 1481) với trăm điều tệ hại như độc tài, không cho báo chí tự do, chống tham nhũng giả vờ, nhân quyền bị xâm hại, đất đai tổ tiên bị mất mát vào tay ngoại bang, dân chủ thì chỉ là bánh vẽ, hiến pháp, luật pháp thì bị ngồi xổm lên trên.... Nhưng sự chuyển đổi triều đại này có suôn sẻ hay tàn nhẫn?. Chẳng lẽ nhà thơ Trần Mạnh Hảo lại nói đúng trong cuộc chiến chống giặc nội xâm này : " Tổ Quốc ơi, yêu Người phải lấy máu mà yêu !".

Hà nội, 3/6/2008.

Nguyễn Phương Anh.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Chống Cộng: Đề Tài Chánh Của Bầu Cử

VI ANH .
Nói gì thì nói, nét chánh của cuộc bầu cử ở Little Saigon là đề tài chống Cộng. Không phải ứng cử viên, mà chính cử tri biến thành vấn đề then chốt.
Một, về không gian. Cuộc bầu cứ ở Quận Cam, quan trọng nhứt là bầu Giám sát viên, một cơ quan quản trị một ngân sách gần 10 tỷ Đô la, chi phối hầu hết sinh hoạt của người dân trong Quận Hạt. Quân Cam là đia hạt tọa lạc Little Saigon. Nhiều người Việt hải ngoại gọi là thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn CS. Nơi đây thưòng xuất phát nhiều chiến thuật, chiến lược đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, có một cộng đồng người Việt lớn nhứt ở Mỹ, lớn nhứt ở hải ngoại, chỉ sau công đồng quốc gia ở trong nước Việt. Đơn vị bầu cử số 1 trùng lắp gần trọn lãnh thổ Little Saigon, các cơ quan đầu não của đoàn thể chánh trị, văn hoá, xã hội, truyền thông đa số qui tụ trong vùng này. Không một ứng cử viên gốc Mỹ, Mễ hay Đại Hàn nào ra - mặc thị nhường cho người Mỹ gốc Việt vì biết ra khó mà thắng với tinh thần, kỷ luật, tỷ lệ bầu cử cao của người Mỹ gốc Việt qua nhiều cuộc bầu cử, nhứt là kỷ bầu cử giám sát viên vửa rổì. Nên chỉ có ba ứng cứ viên gốc Việt ra tranh cử mà thôi

Hai, về thời gian. Ưng cử viên và cử tri không quên căn cước tỵ nạn CS của mình và của cộng đồng mình. Người Mỹ gốc Việt vẫn còn giữ căn tính và cắn cước tỵ nạn CS dù đã rời khỏi chế độ độc tài CS, được sống tại một quốc gia tư do, dân chủ Mỹ suốt 33 năm, có gia đình đã có thế hệ thứ ba hậu duệ. Tinh thần chống Cộng vẩn còn rất mạnh. Điều này phản ảnh rõ rệt trong cuộc tranh cử sôi nổi và gây cấn vào chức vụ giám sát viên, đơn vị 1 của Quận Cam, nơi toạ lạc Little Saigon. Việc chống Cộng tuy không một ứng cử viên nào chánh thức và minh thị đưa vào chương trình tranh cử, nhưng thực tiễn sinh động của cuộc sống đã biến thành đề tài tranh cử trung tâm, đề tài chánh của ứng cử viên trong vậ5n động và của cử tri khi chọn lựa.

Ba, đề tài chống Cộng là đề tài của cộng đồng (viết không hoa, danh từ chung có nghĩa tập thể người Mỹ gốc Việt). Đề tài chống Cộng hầu như là thực tế đã cho thấy, không phải ứng cử viên khởi động vì như đã thấy đâu có ứng cử viên nào chánh thức đưa vào chương trình tranh cử đâu. Mà chính là cộng đồng gồm cơ quan đoàn thể, thân hào nhân sĩ và đồng hương -- là những cử tri gốc và cử tri ngọn -- đã đặt thành vấn đề. Các ứng cử viên muốn hay không muốn phải đối diện. Ứng cử viên phải tốn tiền bạc công sức để vận động, phản bác bằng mọi hình thức. Tù tiếp xúc giải bày, cổ võ, quảng cáo vận động, phản bác, bài viết tấn công, làm sáng tỏ vấn đề , hình ảnh chứng minh trên phương tiện thông tin đại chúng và trong truyền đơn gởi đến cử tri tại nhà. Các tổ chức thân hữu của các ứng cứ viên cũng tiếp tay một cách tích cực. Tự nhiên có lẽ tích cực nhứt là cá nhân tình nguyện công khai hay ngầm ngầm chống và binh úng cử viên quyết liệt. Nhưng tất cả đều tự chế, không có gì đáng tiếc xảy ra, nhờ luật pháp Mỹ rất nghiêm minh, phát biểu thì hoàn toàn tự do, xâm phạm thân thể là trái luật.

Ba, sẽ thiếu nếu không nói truyền thông đại chúng bằng tiếng Việt. Dòng chánh hay trong luồng phần đông ở vào thế kẹt, ba ứng cử viên đều -- nếu không thân quen thì cũng quen biết -- khó binh ai bỏ ai, có nhiều việc ứng cử viên đụng chạm nhau, truyền thông dòng chánh tránh né, không đề cập, rồi bị đòi hỏi, thưa kiện lôi thôi, mất lòng "vô ích". Nhưng trước áp lực của quần chúng độc giả, cũng cố gắng đi tin, chỉ trước sau một thời gian mà thôi. Nhưng mà dù có thiên vị, có quyền ăn, quyền gói ý kiến người khác trên phương tiện truyền thông của mình, thì cũng không làm được. Nhưng bên cạnh truyền thông dòng chính còn có dòng phụ, ngoài luồng. Những chương trình phát thanh đêm, có chương trình sau giờ cao điểm, có cả chương trình sau 12 giờ khuya, vẫn có khán thính giả nhưng chi phí các cá nhân và đoàn thể có lòng có thể đảm đương được. Ngay các ứng cử viên cỡ lớn của Mỹ Hillary, Obama, McCain còn cũng phải "nể". Những talk shows này, phát thanh dòng phụ cũng quan trọng lắm vì nước Mỹ gần như không có ngủ, xe trên đường lúc nào cũng chạý, cơ xưởng sàn xuất nhiều ca, cái ra dô là người bạn đường, ngươi bạn qua đem hủ hỉ.

Và phải cám ơn nhờ khoa học kỹ thuật tin học đã giải thoát con người, khán thính giả qua con đường Internet, nhứt là ở Mỹ hầu như nhà nào cũng có Internet. Các báo điện tử, trang mạng, nhật ký trên mạng, youtube, paltalk loan truyền tin và hình như ánh sáng. Báo chí, truyền thanh, truyền hình dòng chánh không loan tãi, thì dòng phụ loan tải. Báo chí dòng chánh phải cạnh tranh để sau cùng rồi thích hay không thích, muốn hay không muốn cũng phải loan tãi nếu không thì "thua".

Bốn, nhờ áp lực của quần chúng và sự cạnh tranh giữa truyền thông trong và ngoài luồng, mà không có thế lực chánh trị nào có thể không chế được công luận, không thể nào triệt tiếng nói đối lập được dù có bao nhiêu tiền, bao nhiêu người móc nối. Nhờ thế những bí mật đi đêm đi hôm dù ứng cử viên giấu đút thế mấy, các bí mật của ứng cử viên cũng bị phanh phui, phơi bày. Mà bí mật léng phéng với CS hay thân Công là dị ứng nhứt. Cũng như chuyện kỳ thị màu da của người Mỹ. Chuyện Mục sư Wright đỡ đầu tâm linh cho Obama hơn 20 năm trước, làm phép hôn phối cho vợ chồng TNS Obama cũng bị phanh phui để đánh giá xem ứng cử viên da đen Obama có bị ảnh hưởng kỳ thị chủng tộc hay không.

Thà đừng làm chánh trị, đã chấp nhân làm chánh trị nhứt là chánh trị bầu cử, tham chánh. thì công luận được quyền đặt kính chiếu yêu trên thân thế sự nghiệp chẳng những trong hiện tai mà cả quá khứ nữa, của chánh trị gia mà ứng cử viên là một chánh trị gia tiêu biểu. Khó có thể viện dẫn quyền riêng tư, chuyện xảy trong qua khứ để biện minh. Cử tri gốc Việt rất giản dị khi chọn lựa, khoan dung với ứng cử viên nhưng rất chặt chẽ, cứng rắn với chánh nghĩa. Cử tri gốc Việt muốn người đại diện mình phải gương mẫu nhứt là về chánh nghĩa. Một bài học đáng để đời cho người làm chánh trị là đừng có léng phéng với những người hay những việc mà quần chúng kiêng kỵ. Thí dụ đối với người Mỹ gốc Việt với căn tính và căn cước tỵ nạn CS, không chấp nhân những người đi đêm, đi hôm vơi CS, dù đi đã lâu rồi, cũng dể bị dị ứng lắm.

Năm và sau cùng thông thường việc chống binh ứng cử viên vì tinh cảm hay phe nhóm sẽ lắng đọng dần sau ngày bầu cử. Nhưng vấn đề lập trường và chánh nghĩa là vấn đề chiến lược, nó thẩm thấu lâu đời trong cộng đồng tỵ nạn CS, do đó ít khi ngưng sau ngày bầu cử. Còn quá sớm và cũng không nên tiên đoán ai sẽ đắc cử giám sát viên trong ngày bầu cử là ngày viết bài này. Nhưng có thể thấy nếu kết quả vòng 1 cuộc bầu cử giám sát viên, không ai đạt túc số trên 50%, cuộc tranh cử giữa hai người nhiều phiếu nhứt sẽ tiếp tục, đề tài chống Cộng ắt cũng còn sôi đọng - mạnh hơn nữa không chừng. Đây là một thuận lợi cho tinh thần chống Cộng. Nó sẽ ngăn chận và đề phòng những hành động thân công vô tình hay cố ý của những ai tổ chức hay cá nhân, muốn sống cùng, sống với, sống nhờ cộng đồng tỵ nạn CS. Nhứt là ứng cử viên đặc biệt sống nhờ lá phiếu của đồng bào tỵ nạn CS.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Báo Trong Nước: Trí Thức Là Ai ?



Trí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia.
Bàn chuyện trí thức, “trước khi ngồi vào bàn hãy thống nhất khái niệm”, tôi xin nêu lên một số quan niệm và cách hiểu về “trí thức” ở nước ngoài. Chữ “Intelligentsia” mà ta dịch là “trí thức” gốc từ Nga. Cách đây gần hai chục năm trên một tờ tạp chí Liên Xô

có một cuộc thảo luận bàn tròn về “Trí thức xưa và nay”. Tham gia thảo luận là các nhà đông phương học Liên Xô hồi đó. Tôi xin trích dịch một số ý kiến nêu ra đây tham khảoi. V. I. Maksimenko quan niệm trí thức: “Đó là một kiểu ý thức và đó cũng là một môi trường văn hóa xã hội, nhờ đó ý thức này được sinh ra, được duy trì, được phổ biến và được truyền lại cho thế hệ khác hay dân tộc khác. Có thể có những quá trình xã hội - lịch sử mà trong lòng chúng trí thức không những thể hiện mình ra, mà về nhiều mặt còn có khả năng quy định chiều hướng đời sống của dân tộc. […]. Trí thức bao giờ cũng có tính “quốc tế” và tính “thế giới”, nhưng không phải do sự đoạn tuyệt mang tính chất hư vô chủ nghĩa với các mối quan hệ nền tảng của mình, mà do các khát vọng của nó mang tính toàn nhân loại và do nó không chấp nhận vai trò làm nhà tư tưởng cho những quyền lợi phe nhóm, hạn hẹp. Vì thế nó không thể tạo thành “giai cấp” cũng như không thể lập thành “đảng phái”: mọi mưu toan trên con đường này đều sẽ biến thành sự tự bứt mình khỏi cuộc sống hiện thực làm khô cứng giới trí thức”. Theo ông, tất cả mọi tấn kịch của trí thức đều xa gần liên quan đến một mâu thuẫn nảy sinh tự chính bản chất của trí thức: định hướng tự trị về tư tưởng - cuộc sống - hoạt động và nhu cầu biến sự tự trị đó thành cái được xã hội thừa nhận, điều này thể hiện rõ nhất trong quan hệ với “quyền lực” và “Nhân dân”. Nói chính xác hơn: “Ở đâu các quan hệ này không được ý thức, chúng ta có thể tha hồ tìm thấy các cấu trúc trí tuệ phát triển cao, nhưng không tìm được trí thức. Trong quan hệ với quyền lực, trí thức có thể đứng ở vị trí hợp tác hay đối lập, đối thoại hay bác bỏ hoàn toàn, nhưng có một điều nó không thể làm: trùng khớp với quyền lực và biến thành một trong những hiện thân của nó mà vẫn giữ được mình là trí thức”. G. S. Pomerants cho rằng “trước thời Phục Hưng của châu Âu… không có các nhà trí thức theo nghĩa chặt chẽ của từ này. Chỉ có các tiền trí thức. Họ xuất hiện cùng với triết học”. Ông theo quan niệm của M. Buber là “có hai kiểu người mang văn hóa trí thức thay nhau bước ra tiền đài lịch sử. Kiểu “ổn thỏa” thể hiện trong mình văn hóa như là hệ thống chức năng chuẩn mực; kiểu “đặt vấn đề”, ngược lại, - đó là người mang sự khủng hoảng văn hóa, sự tả tơi, đổ nát, và sự thay thế các hình thức của nó. Nhà tư tưởng kiểu ổn thỏa, ngay dù có nghiên cứu triết học đi nữa, cũng biến nó thành một khoa học hệ thống chuyên ngành (Aristotel, Hégel). Nhà tư tưởng kiểu đặt vấn đề, giống như Hamlet, tìm cách khôi phục cái thế giới bị “lung lay”, “trật khớp” (Pascal, Kierkegaard). Sự khác biệt giữa các thời đại chỉ là ở mức độ ảnh hưởng của kiểu này hay kiểu kia mà thôi”.

Trí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia.

Điều thú vị là có sự phân biệt giữa “intelligent” và “intellectual”. Rất khó dịch hai từ này, gọi là “thông thái” và “trí thức” có được chăng? Tôi cứ để ngỏ cách dịch nghĩa, nhưng theo tôi, đây có lẽ là chỉ hai dạng trí thức khác nhau (hay hai dạng khác nhau nối tiếp nhau của trí thức) thuộc hai kiểu văn hóa khác nhau, có thể là dạng Đông và dạng Tây. E. A. Torchinov đặt câu hỏi: “Có phải intelligentsia hiện diện như là dấu hiệu quan trọng của một nền văn hóa này hay khác, hay tầng lớp này xuất hiện ở một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó, rồi sau biến mất (được thay bằng, chẳng hạn, các chuyên gia hay các “intellectual”)? Có phải intelligent là người quá độ từ người học giả trung đại sang người intellectual thời mới ở châu Âu?” Ông cho câu trả lời sẽ là khẳng định nếu như không có thực tế Trung Quốc với tầng lớp nhà nho ở đây. Theo ông từ nho gần với quan niệm về “intelligent” của Nga hơn với quan niệm về “intellectual” của phương Tây. Và mặc dù nhà nho chưa phải là trí thức theo đúng nghĩa của từ này, nhưng đó là nền tảng cho trí thức có thể xuất hiện khi có điều kiện thích hợp. A. I. Kobzev cho chữ nho là bao gồm cả “intelligent” và “intellectual”. Ông dẫn ý kiến của nhà Trung Quốc học nổi tiếng người Anh J. Needam cho rằng quan niệm” công danh rộng mở cho người tài” mà nhiều người gắn với cuộc Đại Cách Mạng Pháp, thật ra lại không phải xuất từ Pháp hay châu Âu nói chung, mà là từ Trung Quốc. Thế kỷ XX các dân tộc châu Âu lấy thi cử để tuyển viên chức, ấy là đã có ý dựa theo kinh nghiệm của Trung Quốc. A. I. Kobzev cho rằng “intelligentsia” theo nghĩa chuẩn mực và rộng nhất là tầng lớp người lao động trí óc. Nhưng định nghĩa đó quá rộng, cần thu hẹp lại bằng cách chỉ ra: một, cấp độ học vấn; hai, kiểu lao động trí óc (sáng tạo, tự do, phi tôn giáo); ba, các quan niệm và phương châm tư tưởng hệ quan trọng nhất (niềm tin vào sứ mệnh riêng của mình, sự hướng theo những tư tưởng tiến bộ, thái độ phê phán đối với truyền thống, sự đối lập với quyền lực, lòng yêu dân); bốn, sự tự nhận diện của intelligentsia với tư cách tự nó.

Trong cuốn sách Người mất hướng (L’homme dépaysé), Tzvetan Todorov, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng gốc Bungary sống tại Pháp, đã đưa ra nhiều suy nghĩ về trí thức, nhất là người trí thức “dépaysé”. Trong một đề mục “Chính trị của trí thức”, ông tán thành sự xác định của Montaigne phân biệt ba vị thế đối với chân lý và các giá trị tinh thần: “vị thế của người hư vô chủ nghĩa (như cách chúng ta nói hiện nay), những người từ chối tìm kiếm chúng; vị thế của người giáo điều, những người đã tìm thấy chúng; và vị thế của người nghiên cứu không mệt mỏi, những người tiếp tục tìm kiếm ngay cả nếu như họ biết rằng sự tìm kiếm không đi đến đâu cả. Ranh giới giữa loại người sau và người hư vô chủ nghĩa mà hiện nay đặc biệt nhiều là rất lớn, bởi nó được xác định bằng các mục đích cuối cùng. Ranh giới giữa họ và người giáo điều mỏng manh hơn, bởi đây chủ yếu liên quan đến các phương tiện để đạt mục đích: người giáo điều có được giá trị nhờ vào truyền thống (mang tính tôn giáo hay không) hoặc nhờ vào sự đốn ngộ thoáng qua (từ lời lẽ của vị thủ lĩnh có phép mầu nhiệm hay từ sáng tạo của nghệ sĩ thiên tài), còn người tìm kiếm chân lý và các giá trị tinh thần có được chúng thông qua sự nhận thức Vũ Trụ và thông qua sự đối thoại giữa mọi người. Trí thức kiểu thứ ba, không giáo điều không hư vô, làm việc cả với chân lý, cả với các giá trị tinh thần, điều đó do chính thiên chức của nó gây nên; hơn thế ở cả hai mặt nó đều đạt được sự hài hòa, bởi nó không tin vào những chân lý có sẵn, không tin vào các giá trị chỉ dựa trên hành động đức tin. Kiểu trí thức như thế, ngược lại với hai kiểu kia, không phải là lỗi thời”ii.

Edgar Morin, nhà khoa học xã hội Pháp, cho thuật ngữ “trí thức” gồm có ba điều: 1) Chỉ người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, tinh thần; 2) Các hoạt động đó có tác động đến đời sống chính trị và xã hội của xã hội quanh họ; và 3) Loại người này có ý thức tuân theo các nguyên lý phổ quát thích hợp. Điểm thứ ba trong định nghĩa “trí thức” của Edgar Morin nghĩa là thế nào? Đó có nghĩa là trí thức phải có được tính bất đồng sáng tạo và tinh thần phê phán, phải duy trì được “độ căng” giữa lý tưởng và thực tế. “Bản chất tuyệt đối của các lý tưởng của trí thức ngăn họ có những thỏa hiệp nửa vời, “nửa sự thật”, mà các nhà chính khách thấy khó tránh khỏi”iii.
Những cách hiểu và định nghĩa về trí thức nêu trên có thể cho thấy một quan niệm thống nhất: trí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia.


Theo tôi, hiện nay ở Việt Nam có những trí thức có nhân cách kẻ sĩ, nhưng rất ít người có tư cách trí thức.
Cố giáo sư Trần Đình Hượu (1925 – 1995), một nhà nghiên cứu tư tưởng và văn hóa nổi tiếng cho rằng, theo hành trình của nhà nho trong lịch sử, thì từ cuối thế kỷ XVIII đến nay, chúng ta có các loại hình: nhà nho - Tài tử, nhà nho - Cần vương, nhà nho - Duy tân, nhà nho - Tây học, nhà nho - Cách mạng. Nho ở đây chỉ một tính chất, một loại hình, bất luận hoàn cảnh xuất thân và học vấn, và có thể nói nó là xuyên/liên thời đại nữa. Chất kẻ sĩ là sự khảng khái và bất chấp, bộc lộ rõ và có tác động mạnh về mặt đạo đức. Tư cách trí thức thì khác, đó là sự suy nghĩ độc lập và dám đi đến cùng trong sự suy nghĩ của mình trên cơ sở học vấn tri thức và khả năng tư duy khoa học, không chịu hệ lụy và ràng buộc nào từ ngoại cảnh dù nhân danh gì.

Để trí thức Việt Nam có thể lớn mạnh thành một tầng lớp đúng nghĩa và có vai trò tích cực đối với xã hội thì chúng ta phải vận hành một thứ văn hóa chính trị tham dự. Văn hóa chính trị (political culture) là một quan niệm chỉ sự hành xử của người dân đối với chính quyền, hay chính trị nói chung. Đó là “Sự định hướng của các công dân của một quốc gia đối với đời sống chính trị, sự nhận thức của họ về tính hợp thức chính trị và các truyền thống của thực tế chính trị” (“The orientation of the citizens of a nation toward politics, and their perceptions of political legitimacy and the traditions of political practice”
www.photius.com/countries/brazil/glossary/). Có nhiều thứ văn hóa chính trị khác nhau tùy theo cấp độ và kiểu loại tham dự chính trị cũng như tùy theo thái độ của người dân đối với đời sống chính trị. Almond và Verba, hai tác giả công trình nghiên cứu nổi tiếng về chính trị học “Văn hóa dân sự” (The Civic Culture, 1963) đã nêu lên ba kiểu văn hóa chính trị tinh (pure type) như sau: - Kiểu giáo dân (Parochial): Nơi các công dân chỉ mơ hồ biết là có chính quyền trung ương tồn tại và họ sống gần như không quan tâm gì đến các quyết định của Nhà nước - Kiểu thần dân (Subject): Nơi các công dân biết có chính quyền trung ương tồn tại và họ phụ thuộc nhiều vào các quyết định của nó với rất ít sự bất đồng, phản đối. - Kiểu tham dự (Participant): Nơi các công dân có khả năng tác động đến chính quyền bằng nhiều cách khác nhau và họ bị ảnh hưởng bởi việc đó. Ba kiểu tinh này của văn hóa chính trị có thể kết hợp với nhau, phối hợp những yếu tố đắc dụng của mỗi cái, tạo thành văn hóa dân sự.

i Tạp chí “Các dân tộc Á Phi” (Narody Azii i Afriki), số 2/1990, tr. 39-56.
ii Tzvetan Todorov. L'homme dépaysé. 242 p., Seuil, Paris. 1996.
iii Dẫn theo Yue Daiyun. Comparative Literature and China, Peking University Press, 2004, tr. 211.




Phạm Xuân Nguyên

http://www.tiasang.com.vn/news?id=2730
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tai ương “của trời và người” trên chốn thiên đàng
Tác giả: Hoàng Ngọc Nguyên

Trong vòng chưa đến ba tuần vào tháng Tư và tháng Năm, hai vụ thiên tai đã cướp đi cả 80,000 sinh mạng ở Myanmar và hơn 60,000 tại Trung Quốc, cùng với hàng triệu người bị thương, mất tích hay tiêu tan nhà cửa. Đây là một nỗi đau còn thấm lâu dài trong lòng người ở hai nước này, và là sự trở lại một nỗi lo thiên thu của loài người trong thời đại ngày nay. Chúng ta chưa thể nào quên được mới năm nào, sóng thần tsunami ở vùng Nam Á đã ra tay sát hại ít nhất 239,000 người tại Indonesia, Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Thái Lan… Chưa đến một năm sau, vào tháng 8 năm 2005, cơn bão Katrina đã tước quyền sống của gần 2,000 người và làm hàng trăm ngàn phải di tản khỏi tiểu bang Louisiana. Những thiên tai, trước đây vẫn được xem là những biến cố bất thường, đang xảy ra ngày càng thường xuyên hơn. Nhưng con người mong manh, nhỏ bé, bất lực, phù du… không chỉ vì ông trời. Trong cuộc sống của con người chúng ta bất dịnh, đầy lo toan, và lắm khi tuyệt vọng… cũng có trời mà cũng có ta. Nếu không phải do chính ta thì cũng do người khác, do xã hội chung quanh, do đời sống chính trị, kinh tế bao phủ, chụp lên đời sống của mỗi một người. Chính những con người đã làm ma quỷ khiến cho địa ngục có khi là có thật trên thế gian này.
Image
Động đất tại Beichuan, Trung Quốc.China photos/Getty Images
Tai họa của trời

Nước Mỹ vẫn được xem là vùng đất đầy hứa hẹn, chốn cơ hội, là thiên đàng có thật từ mấy chục năm qua. Cho nên nó không hỗ danh là “đất nước của những người di dân”. Nhưng thời đại đã đổi thay, và ngay cả thiên đàng yên ổn trong trí tưởng tượng của thời xa xưa nay cũng có phần nào ảm đạm, đứng ngồi không yên vì những mối lo thiên tai. Hóa ra trời đánh không tránh thiên đàng.

Thực ra, không phải chúng ta không biết, nhưng bình thường con người biết mà không lo. Người ta cứ nói lo gì mà lo, lo bò trắng răng. Ở vùng biển người ta thực ra cũng sợ bão tố, sóng thần. Ở vùng đồng bằng nhiều sông ngòi thì sợ đê vỡ, lụt lội. Ở vùng núi, sợ địa chấn, động đất… Nhưng người ta cứ nghĩ rằng có thể tin được dự báo và có thể tin ở khả năng hành động cấp thời của chính phủ. Mặc dù Louisiana là một tiểu bang của nước Mỹ và Katrina xảy ra ở Louisiana, nhưng vẫn còn nhiếu người chưa nắm hết cách chính quyền của ông Bush “ra tay” trong vụ này. Cựu bí thư báo chí của Tổng thống Bush, Scott McClellan, phát ngôn nhân của Nhà Trắng từ 2003 đến 2006, kể trong cuốn sách mới ra tuần này “What Happened: Inside the Bush White House and Washington’s Culture of Deception” (Đã xảy ra chuyện gì: bên trong Nhà Trắng của Bush và Văn hóa Ngụy tín của Washington) rằng đến một tuần sau tổng thống mới nghe lời xúi dại của Cố vấn số 1 bay máy bay cho an toàn, vòng vòng trên bầu trời nhìn xuống cảnh tan hoang dưới đất qua cửa sổ máy bay rồi thở dài. Bao nhiêu tai tiếng đã nổ ra từ cách phản ứng của chính quyền trước thiên tai đổ xuống cho hàng triệu người dân ở một nơi người da đen chiếm đa số.

Trung tướng hồi hưu Russel L. Honoré, vốn là tư lệnh Đệ nhất Quân đoàn và cầm đầu Lực lượng Đặc nhiệm Hỗn hợp trong vụ cơn bão Katrina, tuần này đã viết trên CNN rằng nước Mỹ cần phát triển một “văn hóa sẵn sàng trước thiên tai” (a culture of preparedness for disasters). Ông cho rằng “sự liên thuộc quốc tế và truyền thông hữu hiệu (trong thời đại ngày nay) kết hợp lại đã thường xuyên nhắc nhở chúng ta về (hai tai ương) thiên tai và nạn khủng bố”. Ông nhấn mạnh chúng ta rõ ràng đang sống trong một tình trạng bình thường mới: nguy cơ thiên tai thường trực nơi này hay nơi khác buộc hàng trăm ngàn hay hàng triệu người bỗng chốc phải hối hả bồng bế di tản đến nơi khác. Ông nhận xét rằng trong tình hình mới như thế mà chúng ta dường như vẫn vô tâm, chẵng có những chuẩn bị cần thiết để khi cấp thời có thể hành động kịp thời “trước những tai nạn từ ông trời hay từ con người”. Ông cảnh cáo “Đã đến lúc nước Mỹ phải thức tỉnh trước thực tế này.” Những biến cố xảy ra sau vụ khủng bố của al-Qaeda ngày 11-9-2001 như bão Katrina, cháy rừng ở California và Florida, nhiếu cơn lốc và cuồng phong, rồi địa chấn, động đất lẽ ra phải buộc người ta nghĩ lại và thay đổi lối nghĩ, lối sống của mình. Chúng ta đang đứng trước một loạt những nguy cơ: động đất, bão tố, dịch bệnh cho đến những tai nạn công nghiệp, mất điện, khủng bố và những hiệu quả của những cuộc tấn công có thể có bằng vũ khí giết người hàng loạt. Những gì chúng ta vẫn tưởng chỉ có trong phim ảnh dã tưởng trong thực tế lại vuợt quá sự tưởng tượng của phim ảnh.

Trách nhiệm chuẩn bị và xây dựng nền “văn hóa dự phòng” là của chính phủ, và bắt đầu phải bằng xây dựng ý thức nơi toàn dân để cho có thể có sự chuẩn bị hành động cấp thời ở nơi làm việc và ở gia đình. Trong những đề nghị mà ông nêu lên trong bài báo là đến ngày của cha hay ngày của mẹ hay ngày của ông bà, hãy cho các vị một cái radio thông báo thời tiết ngày đêm thay vì tặng khung hình, cà vạt… Và mỗi gia đình bao giờ cũng cần sẵn sàng chuẩn bị hành trang lên đường: thức ăn, áo quần và thuốc men cấp cứu…

Và của người

Để đề phòng thiên tai phải làm như thế, nhưng làm thế nào để đề phòng những tai ương đến từ chính con người? Những tai ương như chiến tranh Iraq chẳng hạn. Hay bất cứ cuộc chiến tranh nào được phát động với mục đích không rõ ràng và hy sinh xương máu con người một cách vô tâm.

Cuốn hồi ký của Scott McClellan đang gây sóng gió là vì một người của Tổng thống đương nhiệm kết luận rằng cuộc chiến Iraq là sai lầm, thất bại, tai họa, và những lý do được nêu ra để tiến hành chiến tranh có tính tùy tiện, ngụy tạo và lừa dối người dân. Theo McClellan, Tổng thống Bush đã phát động một cuộc vận động dư luận quần chúng có tính cách tuyên truyển và nhồi sọ dựa trên những niềm tin độc đoán thay vì dựa trên sự thật. Ông muốn đánh Iraq cho bằng được cho nên ông chế ra cho bằng được đủ mọi lý do, từ vũ khí giết người hàng loạt của Hussein đến xây dựng dân chủ, tự do ở Iraq… Trong khi ông Bush vẫn chưa trả lời được những cáo giác của McClellan, Thủ tướng Úc Kevin Rudd cũng lên tiếng tố cáo cựu Thủ tướng John Howard dối gạt dân Úc, ngụy tạo tin tức tình báo để biện minh chuyện Úc gởi quân đến Iraq theo yêu cầu của Mỹ và Anh. Bắt đầu từ ngày Chủ nhật 1-6, Úc rút 2,000 quân khỏi Iraq và thủ tướng Úc nói rằng Úc phải rút kinh nghiệm để tránh sai phạm lạm dụng tin tức tình báo trong tương lai.

Vấn đề không phải chỉ có hơn 4,000 lính Mỹ đã bị hy sinh và hàng chục ngàn bị thương. Vấn đề là hàng trăm ngàn người Iraq đã chết, lính và dân thường, và hàng triệu trở thành người tỵ nạn. Không lẽ sinh mạng, sự an toàn và hạnh phúc người dân Iraq không đáng kể trong bảng liệt kê hậu quả của cuộc chiến khi tính đến chính nghĩa của cuộc tấn công chiếm đóng Iraq sao. Vấn đề là trong lịch sử vào thời này hay thời khác nơi này hay nơi khác có những người lãnh đạo, tuy thời quân chủ đã trở thành xa xưa lac hậu, nhưng vẫn nghĩ mình có quyến thế thiên hành đạo, cho nên bắt người dân chết là phải chết cho những cuộc chiến tranh vô ích, vô nghĩa. Như trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Miền Bắc có thể có đến 3 triệu người chết – lính và dân thường. Không lẽ mạng sống của người Việt quá nhẹ quá rẻ so với mạng sống của lính Mỹ cho nên những người ở Hà Nội trong thời chiến thì không chút đắn đo, dè dặt sau chiến tranh thì không mấy thương tiếc, dằn vặt?

Điều bất hạnh triền miên cho loài người chính là ở chỗ cho dù loài người có đạt được những tiến bộ gì đi nữa, sự “lạm dụng” con người của thiên tai và của chính con người dường như có ít thay đổi về mặt bản chất từ thời Tần Thủy Hoàng cho đến nay.


Cuộc sống quanh ta

Hạnh phúc thay cho những người sống vô tâm, không lo nghĩ, không bận tâm về những vấn đề đáng bận tâm đích thực. Còn bao nhiêu người như thế vẫn nhởn nhơ – ngay trong số người Việt chúng ta? Người Mỹ đang trở lại thời “Người giàu cũng khóc”. Không có ai không bị “bệnh” ghiền dầu, xe cộ trên nước Mỹ vốn chạy như mắc cửi. Nhưng trong vòng năm tháng qua, dầu thô đã mấp mé 132 đô-la một thùng, xăng đã lên hơn 4.5 đồng một gallon – tăng đến 50% không phải chơi. Khủng hoảng lương thực và thực phẩm đang lan tràn khắp thế giới như một dịch họa. Đó là mối lo khác trong đời sống hàng ngày. Thị trường nhà cửa đình đốn, tín dụng mua nhà thì đang làm cho cả hệ thống ngân hàng khủng hoảng, không ít người lỡ mua nhà và người muốn bán nhà đang như ngồi trên lửa.

Với số đông người Mỹ, có lẽ thách đố suy thoái và lạm phát hiện nay có tính cách “đầu đời”. Suy thoái có nghĩa là đe dọa thất nghiệp và thu nhập teo lại. Lạm phát là giá cả cứ tăng mãi cho nên người ta phải bắt đầu cắt giảm ngân sách gia đình. Đáng thương nhất là những người già, lớn tuổi nhưng rõ rệt không dám về hưu, bệnh tật lũ lượt đến mà không dám đi bác sĩ hoặc vì không có bảo hiểm hay “thiếu” bảo hiểm, hoặc vì giá thầy giá thuốc lên cao quá…

Trong lâu nay, giải pháp người ta quen nhất của chính phủ là cắt giảm lãi suất và cắt giảm thuế để kích thích kinh tế. Sư tổ của giải pháp này là ông Alan Greenspan, chủ tịch Quỹ Dự trự Liên bang từ thời ông Bush cha qua đến ông Bush con. Nhưng xem chừng giải pháp này hết hiệu nghiệm và người mới, ông Ben Bernanke, có lẽ phải thấy chống lạm phát là quan trọng hơn nếu không ngăn chận được suy thoái. Lãi suất có thể lại từ từ lên để khuyến khích người ta bớt tiêu dùng và tiết kiệm. Bớt tiêu dùng thì người ta đã bớt từ vài tháng nay. Tiết kiệm thì có lẽ người ta không còn khả năng. Như thế suy thoái còn tiếp tục, nạn thất nghiệp sẽ được giải quyết thế nào và ảnh hưởng thế nào đối với đời sống người dân? Câu hỏi đó người ta quay nhìn Tổng thống Bush để mong chờ sự trả lời. Nhưng tổng thống Bush vẫn được tiếng là người “lặn kỹ”, “offstage”, trước những vấn đề kinh tế.

Người dân đã có đủ kinh nghiệm để hiểu sự giới hạn trong khả năng xây dựng của người lãnh đạo và sự vô tận trong khả năng đe dọa an lạc xã hội của những người ở trên cao. Nhưng theo thói quen, họ vẫn tuyệt vọng nhìn người lãnh đạo khi hữu sự. Vào tối thứ Ba, 3-6, họ đã có được một vài ý niệm về tương lai. Ai là lãnh đạo thay ông Bush người ta phải đợi đến tháng 11 mới chắc chắn, nhưng có điều chắc người ấy không phải là bà Thượng nghị sĩ tiểu bang New York và là cựu Đệ nhất Phu nhân Hillary Clinton. Đó là một điều đại phước cho nước Mỹ. Cuộc vận động ròng rã chín tháng qua của bà, dù rằng cho đến tháng Ba người ta đã khuyên bà nên rút lui đi để “bảo toàn lực lượng” của đảng Dân Chủ, tránh “hao tổn sinh linh”, tiền bạc, của cải của những nhà đầu tư chính trị và thời giờ của bá tánh, bà vẫn nhất định không là không. Cuộc vận động của bà đã xác nhận những gì người ta nghĩ, những gì người ta sợ, người ta không ưa về bà. Có cái gì đó không thật, quá quắt, ngang ngược, không đẹp ở một người tuy già nhưng vẫn còn đẹp. Những cái gì đó chỉ có một phần từ bà. Một phần quan trọng là từ Bill Clinton. Người ta đã kể nhiều trường hợp trong cuộc vận động cho bà vợ, ông Clinton đã làm hại bà như thế nào bằng cách ăn nói kiêu ngạo, trên đầu người ta, gài đối thủ vào những tội không có như khai thác chủng tộc, kỳ thị giới tính, khinh thị giới lao động… Tờ Vanity Fair còn nói rằng ông không tập trung đầy đủ vào việc đi vận động cho bà. Trong số ra đầu tháng Sáu, một bỉnh bút của tờ này, Todd Purdum, chính là chồng của Dee Dee Myers, phát ngôn viên của Nhà Trắng thời Bill Clinton, đã viết rằng ông Clinton vẫn thế, trên đường “lưu diễn” của ông vận động cho bà, ông đã kiếm thời giờ ghé thăm một số nhân vật “celebrities”, như nữ diễn viên Gina Gershon chẳng hạn. Ông Clinton mắng lại: “Đồ rác rưởi” – nhưng không đính chính.

Người ta đã mong chờ bà trong cuộc vận động sẽ xuất hiện như một sự lựa chọn mới của nước Mỹ: một người lãnh đạo phái nữ có những nữ tính dịu dàng, điềm tĩnh, thận trọng, sáng suốt, cân nhắc, có đức tính hy sinh và tầm nhìn hướng nội nhằm vào những chuyện người dân quan tâm. Dĩ nhiên phải có đến một nửa cử tri là phái nữ. Thế mà họ không ủng hộ bà tuyệt đối vì có người họ không thấy ở bà là một nguời đàn bà.

Nước Mỹ vẫn tỏ ra có khả năng kỳ diệu khi sắp xếp cho một người da màu lên làm tổng thống vào thời điểm tế nhị này. Đáng tiếc là điều người ta mong chờ tối thứ Ba đã không xảy ra. Bà Clinton đã bỏ lỡ cơ hội để chứng tỏ thực ra bà là phụ nữ – và bà khả ái. Bà không gọi điện thoại chúc mừng Barack Obama. Bà dường như đang làm cao, giữ khoảng cách. Nhưng bà bắn tiếng và vận động để cho Obama chấp nhận bà làm ứng cử viên phó tổng thống cho ông. Với lý do có một liên danh đen trắng đề huề. Người ta không chắc Barack Obama sẽ làm được gì khi là tổng thống nước Mỹ. Nhưng người ta chắc rằng ông sẽ chẳng làm được gì khi người phó là Hillary Clinton có Bill Clinton sau lưng. Cả Thượng viện Mỹ và Ủy ban Toàn quốc đảng Dân Chủ ai cũng sợ bà làm chủ tịch phe đa số Dân Chủ ở Thượng Viện hay chủ tịch đảng Dân chủ. Cho nên họ đá bà qua cho Obama. Chắc chắn Obama cũng đủ khôn ngoan để biết chuyện đó.

Cuối cùng thì người ta chợt nhớ đến lời than ngậm ngùi của lão trượng Lee Iacocca, nhà lãnh đạo “thần thoại” của kỹ nghệ xe hơi của Mỹ trong những năm 60-70: Tất cả những người lãnh đạo nước Mỹ đi đâu hết rồi? (Where have all the leaders gone?). Một đất nước không thể có một ngày không vua. Nhưng có lãnh đạo nhiều khi là tai ương gấp mấy lần là không có, như thời Quo Vadis chẳng hạn! [HNN]
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Obama Và Chiến Thắng Mang Ý Nghĩa Toàn Cầu

New York Time
07-06-2008


Image
Hình (Time magine): Số báo 23-10-2006, tạp chí Time đã có bài viết phân tích vì sao Obama có thể trở thành tổng thống Mỹ.
Khắp toàn cầu, người ta đua nhau ca ngợi Barack Obama hệt như ông đã đắc cử tổng thống Mỹ, dù trên thực tế ông chỉ vừa chiến thắng trong cuộc bầu cử sơ bộ. Obama được hoan nghênh không chỉ vì viễn cảnh tốt đẹp cho nước Mỹ mà cho cả thế giới.

Nhiều người nói rằng, thắng lợi của Thượng nghị sĩ 46 tuổi trong cuộc bầu cử sơ bộ đã báo hiệu sự thất bại của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Và nếu Obama trở thành tổng thống, chiến thắng có thể là điềm báo cho sự ra đi của cuộc tham chiến đơn thân độc mã - như những người ngoài cuộc vẫn miêu tả - trong kỷ nguyên George Bush.

Tại Pháp, bà Segolene Royal, đối thủ cũ của Tổng thống Sarkozy trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp hồi năm 2007, nói: “Ông Obama là hiện thân của nước Mỹ hôm nay và tương lai”.

Tổng thư ký đảng cầm quyền Pháp UMP Patrick Devedjian nói với giọng phấn khởi hơn. Devedjian gọi tấm vé ứng cử tổng thống của Obama là “một hình ảnh rất đẹp của nước Mỹ, hình ảnh của một ứng viên đã vượt qua cuộc đua và tới nơi mà ông ấy muốn chỉ bằng tài năng xuất sắc của ông”.

Thị trưởng Paris Bertrand Delanoë nhận xét: “Tấm vé ứng cử tổng thống của Obama mang hi vọng lớn lao cho nước Mỹ và cho nền hoà bình trên thế giới”.

Nhìn chung, việc ông Obama tuyên bố giành chiến thắng đã chuyển sự tập trung của thế giới sang cuộc đối đầu giữa một bên là đại diện đảng Dân chủ và bên kia là Thượng nghị sĩ John McCain, ứng cử viên của phe Cộng hoà - đảng đã đánh mất hình ảnh của mình trên toàn cầu vì cuộc chiến Iraq.

Thắng lợi của ông Obama được báo chí châu Á và một số tờ báo ở châu Âu đưa lên trang nhất tuy muộn hơn. Nhưng các chương trình truyền hình và đài phát thanh buổi sáng, kèm theo đó là nhiều trang web, đã dành sự quan tâm đặc biệt tới chiến thắng của Thượng nghị sĩ Illinois chẳng khác nào các phương tiện truyền thông ở Mỹ.

Trung Quốc không đưa ra bình luận chính thức nào về thắng lợi của ông Obama. Nhưng tin tức này đã ngay lập tức được đưa lên trang nhất các trang web lớn. Sina.com, công ty quản lý cổng Internet của Trung Quốc, đã nhanh chóng tiến hành một cuộc thăm dò dư luận trên mạng: Bạn có nghĩ Obama sẽ chiến thắng? Vào trưa ngày thứ 4, khoảng 20.000 người đã tham gia bỏ phiếu trực tuyến, với 55% dự đoán Thượng nghị sĩ Illinois sẽ thắng, 32% cho rằng ông sẽ thua và 13% trả lời “khó nói”.

Ấn tượng tốt đẹp dành cho ứng cử viên da màu cũng được cảm nhận ở Pakistan, nơi bài phát biểu của Obama tại nhà thờ St. Paul (bang Minesota), được phát sóng trên truyền hình vào 9 giờ sáng ngày thứ 4.

Munaway Akhtar, một luật sư giỏi ở thủ đô Islamabad nhận định: “Nếu ông ấy trở thành tổng thống, điều đó sẽ mang lại sự thay đổi tốt đẹp trong quan hệ với Pakistan. Pakistan luôn thân thiện với Mỹ nhưng người dân chưa bao giờ được hưởng lợi mà chỉ các nhà lãnh đạo. Hi vọng, điều đó sẽ thay đổi với Obama”.

Wamiq Zuberi, tổng biên tập Business Recorder - tờ báo thương mại lớn nhất của Pakistan, tin rằng người dân nước này rất vui mừng. “Mọi người thực sự ấn tượng với giây phút lịch sử khi một người Mỹ gốc Phi đầu tiên trở thành ứng cử viên tổng thống cho một đảng chính trị lớn ở Mỹ’.

Tinh thần lạc quan đó cũng xuất hiện tại trung tâm tài chính ở Hồng Kông. “Tôi cảm thấy hình ảnh của ông ấy rất trẻ trung, tươi mới, đầy sinh lực”, Richard Law, một luật sư 50 tuổi nói.

Trên khắp châu Âu, chiến thắng của Obama được nhìn qua lăng kính và các sắc thái của lợi ích quốc gia.

Một người Kosovo, vùng đất đã phương tuyên bố độc lập khỏi Serbia hồi tháng 2 và giành được sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ, nói: “Người Kosovo yêu bất kỳ ứng viên nào nếu họ yêu quí chúng tôi”. Obama và McCain đều ủng hộ độc lập cho Kosovo.

Tại Đan Mạch, nước ủng hộ cuộc chiến của Mỹ tại Iraq trước khi rút quân do sự phản đối ngày càng tăng ở trong nước, cây viết về chính trị Matias Seidelin của tờ Politiken cho rằng Thượng nghị sĩ Obama được xem là ứng cử viên có khả năng hàn gắn danh tiếng đã bị tổn hại của Mỹ. “Ông ấy nghiêng về đối thoại trong chính sách ngoại giao”.

Tại Đức, nhiều tờ báo và đài phát thanh, truyền hình cũng bị cuốn vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Vài chính trị gia và nhà bình luận gọi Obama là một John F. Kennedy mới, bày tỏ hi vọng rằng Obama sẽ trở thành chủ nhân Nhà Trắng không chỉ bởi sức trẻ mà còn bởi lời hứa rằng ông sẽ không đi lại con đường cũ của chính quyền Bush.

Tại thủ đô Brussels (Bỉ), Jan Marinus Wiersma, phó chủ tịch nhóm Xã hội, nói: “Obama đại diện cho sự thay đổi của một chương trình nghị sự mà châu Âu mong đợi. Chúng tôi hi vọng và mong ông ấy sẽ chiến thắng”.

Giới trí thức và các chính trị gia tại nhiều nước khác ở châu Âu như Thuỵ Sĩ, Hy Lạp, Tây Ban Nha. Tại Thuỵ sĩ, Miriam Behrens, phát ngôn viên của đảng Xanh nói: “Công chúng có khuynh hướng ủng hộ Obama. Ông ấy được coi là người có sức lôi cuốn quần chúng, cởi mở trong cách tiếp cận với châu Âu về mọi vấn đề. Tại đây, mọi người đánh giá rất cao ông ấy”.

Chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ cũng được theo dõi sít sao tại Baghdad, nơi các chính trị gia có khuynh hướng ủng hộ các ứng viên dựa trên lập trường và sự hiểu biết của họ về cuộc chiến Iraq.

Mahmoud Othman, một thành viên uy tín của liên minh người Kurd trong quốc hội nói: “Đó là vấn đề liên quan tới người dân Mỹ. Tôi thích Clinton hơn bởi bà ấy quan tâm tới vấn đề Iraq và đặc biệt là người Kurd. Nói chung, thay đổi là điều tốt đẹp cho nước Mỹ. Họ muốn một chính quyền mới kể từ khi Obama đại diện cho tầng lớp trẻ và ông ấy muốn sự thay đổi”.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Bữa Tiệc Bất Đắc Dĩ của Hillary

Hillary Clinton hôm 7 tháng 6 đã nói điều mà những người ủng hộ Barack Obama mong đợi bấy lâu: bà ủng hộ chiến dịch vận động tranh cử của ông và làm tất cả mọi việc có thể để ông trở thành tổng thống mới của nước Mỹ.

Image
Hillary tại Viện bảo tàng xây dựng quốc gia.
Bà Hillary vẫn giữ vẻ mặt dũng cảm khi chính thức tuyên bố chấm dứt nỗ lực trở thành nữ tổng thống đầu tiên của nước Mỹ sau 16 tháng vận động. Đó quả là thời khắc khó khăn đối với một phụ nữ có một sự nghiệp chính trị lâu năm và chỉ cách đây vài tháng thôi dường như là ứng viên tổng thống chắc chắn của đảng Dân chủ.

Sự ứng cử của Hillary là một chặng đường gập ghềnh, từ địa vị là người có nhiều triển vọng trở thành ứng viên tổng thống, chính trị gia giỏi hùng biện cho tới chỗ là người tụt lại khi chiến dịch vận động của bà vấp ngã. Đúng lúc đó, Obama đã nổi lên giữa những cử tri quan tâm nhiều tới lời kêu gọi thay đổi của ông hơn là kinh nghiệm của Hillary.

Vẫn phải đợi hai phe của đảng Dân chủ sẽ kết hợp cỗ máy của họ như thế nào hoặc sẽ mất bao lâu để hàn gắn vết thương chính trị trong nội bộ đảng này. Tuy nhiên, những người ủng hộ Obama nói rằng họ phấn khích bởi sự ủng hộ nhiệt tình mà Hillary dành cho Obama.

Ra đi
Bị cáo buộc hồi đầu tuần là ngoan cố vì không thừa nhận thất bại ngay sau khi Obama giành được đủ sự ủng hộ của các đại biểu để trở thành ứng viên tổng thống, Hillary đã gửi đi một thông điệp khác biệt trong bài phát biểu ra đi của bà. ’’Cuộc sống quá ngắn ngủi, thời gian lại quá quý giá. Chúng ta phải hợp tác với nhau và đó là nguyên nhân tôi sẽ làm việc hết sức để đảm bảo Thượng nghị sĩ Obama là tổng thống kế tiếp của chúng ta. Tôi hy vọng và cầu nguyện rằng tất cả các bạn sẽ cùng hợp sức với tôi’’.

Đó là một sự kết thúc đầy cảm động đối với một chiến dịch vận động tranh cử mà đã đưa cựu đệ nhất phu nhân Hillary tới gần tòa Bạch Ốc hơn bất kỳ phụ nữ nào khác trong lịch sử Mỹ.

Cuộc mít tinh này đánh dấu sự khởi đầu của một chiến dịch chạy đua giữa Obama và John McCain, đồng thời đặt ra một sự lựa chọn khó khăn cho các cử tri Mỹ về hướng đi của nước Mỹ sau tám năm nằm dưới sự lãnh đạo của Bush.

Obama và các đồng minh của ông đã hoanh nghênh sự ủng hộ của Hillary và ca ngợi bà về thông điệp quyền phụ nữ mà chiến dịch vận động của bà đã gửi đi. ’’Tôi cảm kích và vinh dự khi có được sự ủng hộ của Hillary. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là tôi tôn vinh bà ngày hôm nay vì chiến dịch tranh cử dũng cảm và mang tính lịch sử của bà. Bà đã đập tan mọi rào cản đại diện cho những đứa con gái của tôi và phụ nữ khắp mọi nơi, những người biết rằng không có giới hạn cho những mơ ước của họ’’.

Trong bài phát biểu, bà Hillary đã nêu bật bản chất lịch sử của việc bà ứng cử. Bà nói rằng bà hy vọng bà đã tạo ra 18 triệu vết nứt trong chiếc trần thủy tinh mà ngăn cản phụ nữ trở thành tổng thống. Và bà hy vọng bà đã làm cho con đường tới chiếc ghế tổng thống của nữ ứng viên kế tiếp dễ dàng hơn một chút. 18 triệu là số phiếu phổ thông mà Hillary giành được trong các cuộc bỏ phiếu sơ bộ chọn ứng viên tổng thống đảng Dân chủ.

Mở đường
Việc Hillary tuyên bố ủng hộ Obama đã mở đường cho hai nhóm vận động tranh cử hợp sức với nhau, đoàn kết các cử tri Dân chủ vốn bị giằng xé giữa hai thượng nghị sĩ này. Câu hỏi chính là liệu Hillary có thể chuyển cho Obama những sự trung thành của các cử tri là những phụ nữ, người Mỹ gốc Latin và các công nhân lao động da trắng hay không.

Garin giám đốc chiến lược tranh cử của Hillary, nói rằng vẫn chưa rõ hai nhóm sẽ hợp sức với nhau thế nào. Tuy nhiên, việc đó hoàn toàn tùy thuộc vào sáng kiến của nhóm Obama.

Những dấu hiệu bớt căng thẳng ngay lập tức đã xuất hiện trên trang web của hai ứng viên: nhóm của Obama đã mời những người ủng hộ gửi email cho Hillary để cảm ơn bà. Trang web của Hillary công bố thông điệp mới: ’’Ủng hộ Thượng nghị sĩ Obama... Cùng với nhau chúng ta có thể viết chương tiếp theo của lịch sử Mỹ’’.

Tuy nhiên, những lời bình luận của những phụ nữ toát mồ hôi để đợi nghe những lời nói của Hillary - một số người đã bật khóc - cho thấy Obama vẫn còn phải vượt qua một thách thức là thu phục những người ủng hộ Hillary.

Carol Schneider, 63 tuổi, một chuyên gia giáo dục từ Washington, không giấu giếm sự bất bình trước cách Hillary bị đối xử và nói rằng bà có thể viết tên của Hillary lên phiếu bầu trong tháng 11. ’’Tôi lấy làm thất vọng và hổ thẹn vì đảng Dân chủ đã không chọn một ứng viên có kinh nghiệm và trình độ như Hillary. Người ta đã thiếu kính trọng đối với bà ấy từ đầu tới cuối’’. Nhiều phụ nữ trẻ tham dự cuộc mít tinh cũng thất vọng song họ dường như ít tức giận hơn.

Về mặt kỹ thuật, Hillary đã ngừng chiến dịch vận động của bà và không chính thức từ bỏ sự ứng cử. Động thái này cho phép bà giữ các đại biểu, tiếp tục gây quỹ để trả nợ tranh cử và có thể đảm bảo cho bà một vai trò nổi bật hơn tại Hội nghị toàn quốc vào tháng 8 tới của đảng Dân chủ.

Đảng Cộng hòa không phí thời gian khi mở một chiến dịch tấn công Obama. Ủy ban quốc gia đảng Cộng hòa đã mở một trang web tên là ’’Clinton và Obama’’, nêu bật những lời chỉ trích mà hai thượng nghị sĩ này đã ném vào nhau trong suốt mùa bầu cử sơ bộ. ’’Thượng nghị sĩ Hillary đã đúng khi nghi ngờ về sự ngây thơ và thiếu kinh nghiệm của Obama và những lo ngại này vẫn còn đối với mọi cử tri Mỹ’’, Chủ tịch Ủy ban Robert M. Duncan nói.

Tuy nhiên, bài diễn văn ra đi của Hillary đã được soạn thảo cẩn thận để gửi đi một thông điệp đoàn kết đảng Dân chủ. ’’Tất cả chúng ta biết rằng đây là một cuộc chiến cam go song đảng Dân chủ là một gia đình. Ngày hôm nay các con đường của chúng ta đã hội tụ’’, bà nói.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

KINH TẾ VIỆT NAM SẼ SỤP, NẾU PHẢN ỨNG CHẬM.
CỔ PHIẾU VIỆT NAM CÓ THỂ MẤT 59% TRONG NĂM NAY

Jun 10, 2008
Bản tin Bloomberg vào cuối tuần qua của phóng viên Ian Sayson cho biết rằng Việt Nam sẽ còn thê thảm thêm nữa: chứng khoán Việt Nam có thể tiếp tục mất giá tệ haị nhất trong các thị trường toàn cầu, trong khi nhà nước Cộng sản Việt Nam tăng lãi suất để ghìm lạm phát, theo nhận xét của công ty Merrill Lynch. Đặc biệt, kinh tế Việt Nam có thể sụp đổ nếu phản ứng chậm như trường hợp Thái Lan vào năm 1996. Theo bài viết này, tác giả Sayson cho rằng chi phí vay cao hơn sẽ hạn chế sức tăng lợi tức và ngăn cản sự hồi phục trong trị giá tích sản của Việt Nam. Ông Mark Matthews, trưởng ban chiến lược Châu Á Thaí Bình Dương của công ty đầu tư Merrill Lynch tại Hồng Kông cho biết chỉ số chứng khoán Saigon sụt 1.5% để còn 384.24 điểm hôm thứ Sáu, ghi dấu sụt giá kỷ lục 22 ngày liền, với các nỗi lo thâm thủng mậu dịch nhiều hơn và lạm phát tới mức cao kỷ lục trong 16 năm sẽ buộc nhiều quỹ đầu tư nứơc ngoài sẽ lo bán tháo chứng khoán.

Chỉ số chứng khoán này đã ở mức thấp nhất trong 27 tháng, đã mất 59% trị giá trong năm nay. Các công ty lượng giá tín dụng khác cũng giảm điểm của Việt Nam như Standard & Poors, Moodys Investors Service và Fitch Ratings đã cho phổ biến bản lượng định tương lai về tình hình nợ của Việt Nam xuống điểm âm, vì cho rằng Nhà nước Cộng sản Việt Nam phản ứng chậm đối với lạm phát. Bản tin Bloomberg cho rằng tốc độ phản ứng của nhà nước có thể cho thấy là Việt Nam có thể đưa tới sự sụp đổ tương tự như Thái Lan thời thập niên 90, lúc đó chỉ số SET của thị trường Thái Lan mất 85% từ tháng giêng năm 1996 tới hết tháng 8 năm 1998. Bài báo đã trình bày một hình ảnh bi quan, và ông Matthews cho rằng không có lý do này cho thấy taị sao Việt Nam có thể thoát nạn giảm giá chứng khoán thêm 70% nữa, nếu lập laị lỗi lầm của Thái Lan vì phản ứng cực kỳ chậm. Thế giới sẽ thấy Việt Nam không ngóc đầu lên lại, ít nhất là trong năm nay. Trong khi đó các tin tức trong nước cho thấy lại có thêm hàng trăm công nhân tại khu công nghiệp Thăng Long đình công để đòi chủ giải quyết một số quyền lợi. Bản tin RFA nói là các công nhân này thụôc công ty Vico Iritani, là doanh nghiệp vốn 100% của Nhật Bản, cho biết họ làm việc từ năm 1996, đến nay mức lương cũng chỉ đạt 960 ngàn đồng một tháng. Môi trường làm việc luôn có tiếng động cao và các bữa ăn kém dinh dưỡng. Hơn 550 công nhân quyết định ngưng việc và yêu cầu chủ nhân tăng lương, tăng phụ cấp, được hưởng chế độ thưởng lễ, tết, bảo đảm cuộc sống tối thiểu. Nhiều phóng viên liên lạc với Ban quản lý khu công nghiệp và ban giám đốc công ty Vico Iritani để xin tiếp xúc với công nhân, nhưng đã không được chấp thuận. Tình hình kinh tế tại Việt Nam bị coi là rất thê thảm, đồng đô-la Mỹ có thể lên tới mức từ 20 đến 23 ngàn đồng VN. Tin của báo chí trong nước cho biết giá đô-la trên thị trường tự do ở Saigon đã lập kỷ lục mới khi một đô-la đổi được 18,000 đồng. Việc tiền Việt Nam xuống giá xảy ra vào thời điểm khi đồng đô-la cũng lên giá với các đồng tiền khách trong đó có bảng Anh và euro. Trước đó các ngân hàng đầu tư quốc tế cũng đã cảnh báo đồng Việt Nam có thể tụt xuống tới mức từ 20 đến 23,000 đồng đổi được một đô-la.

HÀ NỘI TÌM CÁCH ĐỐI PHÓ VỚI KHỦNG HOẢNG KINH TẾ

Trong nỗ lực ngăn chặn đã lạm phát cũng như nguy cơ khủng hoảng tài chính gần kề, nhà nước Cộng sản Việt Nam đầu tuần này đã đưa ra một số biện pháp, trong đó có quyết định tăng lãi xuất. Tuy nhiên quyết định này đã khiến giới đầu tư bán các chứng khoán của họ để lấy tiền mặt, dù báo chí địa phương trích lời Bộ Trưởng Tài Chính Vũ Văn Ninh tuyên bố rằng nhà nước không hề có ý định hy sinh thị trường chứng khoán. Tin của Reuters cho hay một chuyên viên về thị trường chứng khoán cho rằng tình hình sắp đi tới chỗ nhà nước phải có hành động để phục hồi niềm tin của giới đầu tư. Trước đó tất cả 3 công ty lớn chuyên đánh giá tín dụng trong những tuần lễ gần đây đã hạ giảm cái nhìn của họ đối với viễn ảnh về những đánh giá chính yếu của Việt Nam xuống tới mức tiêu cực, giữa lúc nhà nước đang tìm cách ngăn chặn đà lạm phát. Các chuyên gia cho rằng nhà nước Cộng sản Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn hơn tiên liệu trong việc hạ giảm đà lạm phát vì mức phát triển quá lố, vì tình trạng cung cấp tín dụng bừa bãi và vì những chi tiêu lớn lao bên ngoài ngân sách cho công cuộc phát triển.

THỦ TƯỚNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TUYÊN BỐ SẼ KHÔNG PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC, NHƯNG TĂNG THUẾ XUẤT CẢNG GẠO VÀ PHÂN BÓN

Thủ tướng Cộng sản Việt Nam là Nguyễn Tấn Dũng ngày hôm nay tuyên bố Việt Nam sẽ không phá giá đồng bạc, trong buổi nói chuyện với kinh tế trưởng của công ty J.P. Morgan Chase của Hoa Kỳ vào ngày hôm nay. Đồng bạc Việt Nam liên tục mất giá trong thời gian gần đây khiến các tổ chức tài chính quốc tế tỏ ý lo ngại.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang lâm vào suy thoái trầm trọng, và nhà nước cần có các biện pháp can thiệp hữu hiệu để tránh rơi vào khủng hoảng tài chính như Thái Lan hồi năm 1997. Sau cuộc gặp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông David Frenandez là kinh tế trưởng của J.P. Morgan Chase cho biết là phía Việt Nam nói đã phân tích và nghiên cứu tác động của việc phá giá đồng bạc Việt Nam trong giai đọan hiện nay và kết luận là nếu phá giá sẽ không có lợi ích gì. Đối với tin nói sẽ đồng bạc Việt Nam dự đoán sẽ phá giá ở mức 20% đến 40% thì Nguyễn Tấn Dũng bác bỏ hoàn toàn nói không có cơ sở. Ông Dũng đưa ra con số là cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam vẫn có thặng dư khỏang 1 tỷ đô-la Mỹ trong 5 tháng đầu năm nay. Trong khi đó, Hà Nội cũng vừa có chỉ thị là trong tháng 9 năm nay, Bộ Kế họach Đầu tư và Bộ Tài chính phải có báo cáo kế họach phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2009. Hà Nội cũng yêu cầu các tổ hợp, tổng công ty nhà nước trước khi đầu tư vào các lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng hay bất động sản phải báo cáo cho nhà nước. Hà Nội cũng chấp thuận đề nghị đánh thuế tuyệt đối gạo và phân bón xuất cảng. Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng lương thực thế giới, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã sử dụng biện pháp hành chánh cấm ký thêm hợp đồng xuất cảng gạo hồi đầu tháng 4 và hàm ý mở cửa trở lại vào đầu tháng 7. Hà Nội nói rằng Việt Nam thừa gạo trong kho, và mùa gặt tại Việt Nam là các vụ mùa ngắn ngày, cứ mỗi 75 ngày cho tới 90 là nông dân lại có thu họach mới. Lệnh cấm ký thêm hợp đồng xuất cảng vào tam cá nguyệt thứ nhì, trong lúc vụ Đông Xuân được mùa có tác dụng là giá lúa đang có chiều hướng tăng phải hạ nhiệt tức khắc, không thể tăng tương ứng với giá gạo thế giới. Mệnh lệnh này cứu được một số doanh nghiệp Nhà nước có nhiều hợp đồng xuất cảng gạo với giá thấp trong 2 tháng đầu năm, họ phải thực hiện hợp đồng giao gạo mà giá lúa nội địa lúc này đã vượt xa. Ngoài ra khi giá lúa đứng, doanh nghiệp mua được nhiều gạo với giá rẻ trữ đầy kho và sẵn sàng xuất cảng khi lệnh cấm được giải tỏa vào đầu tháng 7. Giá lúa không tăng trong khi vật tư nông nghiệp đầu vào tăng theo mặt bằng chung của vật giá làm nông dân điêu đứng. Việc kềm giá 10 mặt hàng thiết yếu, ra lệnh cấm xuất cảng gạo, đã tạo ra tình trạng đầu cơ tích trữ gạo và hiện tượng xuất cảng ngược những thứ đã nhập cảng là phân bón và thép. Hầu hết nông dân đều mắc nợ ngân hàng. Hạt lúa chỉ giúp họ không đói chứ không làm họ hết nghèo. Hết vụ gặt, nông dân chen lấn nhau ở ngân hàng nông nghiệp để trả nợ. Trả xong nợ cũ lại vay mới để đầu tư làm vụ kế tiếp. Một chuyên gia kinh tế nhận định rằng việc kéo dài các biện pháp kềm hãm về hành chính, sẽ dẫn đến những bất ổn về thị trường và những hậu quả mà Việt Nam không mong muốn.

HỘI NGHỊ NHÓM TƯ VẤN CÁC NHÀ TÀI TRỢ CHO VIỆT NAM KẾT THÚC TẠI SAPA

Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam nhóm họp ở Sapa đã kết thúc vào ngày hôm qua, các tổ chức quốc tế đã nhận định rằng kinh tế Việt Nam đang đi đúng hướng nhưng còn nhiều khó khăn phải giải quyết. Mặc dầu tin tưởng Việt Nam có thể không lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính như Thái Lan hồi 1997, các chuyên gia quốc tế khuyến cáo nhà nước Cộng sản Việt Nam cần có các biện pháp ứng phó trước tình trạng lạm phát và vật giá gia tăng. Hội nghị Sapa đã kết thúc với nhận định của các đại diện như IMF, quỹ tiền tệ quốc tế, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP, Ngân hàng Phát triển Á Châu ADB, cùng các đại diện của nhà nước Cộng sản Việt Nam. Ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của IMF cho rằng chỉ số kinh tế Việt Nam đang xấu và bắt đầu ảnh hưởng tâm lý đến các nhà đầu tư, vì vậy việc cung cấp số liệu và các biến cố kinh tế kịp thời là nguyên nhân quan trọng nhằm ổn định tâm lý của họ. Ông Ayumi Konishi, Giám đốc Ngân Hàng Phát triển Á Châu tại Việt Nam, cho rằng điều quan trọng nhất mà ông nhận thấy trong tình trạng lạm phát hiện nay là Việt Nam cần phải chú tâm đến người lao động và nông dân nghèo. Theo nhận định của ông thì hai thành phần này đang gặp khó khăn vì giá cả tiêu dùng vượt quá mức chịu đựng của họ. Không những thế, giai cấp này còn bị đe dọa bởi bệnh tật và giáo dục, vốn là những yếu tố thường song hành với nghèo khó. Đại diện của IMF khuyến cáo là Việt Nam cần phải hỗ trợ cho họ thông qua các chương trình y tế cũng như giáo dục và về lâu dài thì những sự trợ giúp này là phương pháp tốt nhất xóa dần nạn lạm phát hiện nay. Ông Ayumi Konishi tin rằng những tiềm năng kinh tế của Việt Nam đủ sức để đối phó với những thử thách trước mặt. Ông cũng nhấn mạnh đến 8 giải pháp mà Hà Nội đưa ra hai tháng trước đây là phải gấp rút áp dụng trước khi nền kinh tế rẽ qua một giai đoạn khác khó khăn hơn.


NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM HOẠT ĐỘNG KÉM HIỆU QUẢ

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Cộng sản Việt Nam là Nguyễn Văn Giàu thú nhận rằng các khoản vay từ hệ thống ngân hàng thương mại, tính đến cuối tháng Năm, tăng hơn 18% so với cuối năm 2007. Tuy nhiên, nhân vật này cũng nhận định là lượng tăng trưởng tín dụng đang có khuynh hướng giảm dần dưới áp lực của các chính sách xiết chặt tiền tệ mà chính phủ đưa ra để chống lạm phát. Trong một phát biểu được trực tiếp truyền hình, đương sự nói là lượng dư nợ tín dụng trong tháng Năm giảm xuống còn 2.25% so với tháng Tư. Cũng theo các nguồn tin từ trong nước, Việt Nam tính đến tháng 5 năm nay có 5 ngân hàng thương mại nhà nước, 6 ngân hàng liên doanh, 36 ngân hàng thương mại cổ phần, 44 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 10 công ty tài chánh, 13 công ty do thuê tài chánh và gần 1000 quỹ tín dụng. Một số nhà quan sát cho rằng số lượng cơ sở tài chánh như vậy là quá nhiều, có người thì lại nói là hơi ít, so với các nước trong khu vực. Cũng tin về kinh tế, công ty điện lực Việt Nam cho hay tình hình cung ứng điện trong tháng 6 sẽ tiếp tục căng thẳng do hầu hết các hồ thủy điện đều ở mức thấp, công suất dự phòng không còn nhiều và một số nhà máy đang trong giai đoạn sửa chữa. Từ cuối tháng 2 đến nay, các thành phố lớn ở Việt Nam bị cắt điện liên tục. mực nước các hồ thủy điện xuống thấp đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến công suất của các nhà máy. Theo thống kê của Việt Nam, mức tiêu thụ điện của thủ đô tăng trên 15%, vào khoảng 14.5 triệu Kilowatt giờ mỗi ngày. Những ngày cao điểm của tháng 3, mức tiêu thụ của thủ đô lên đến 17 đến 18 triệu Kilowatt giờ. Hà Nội hiện đang tham vọng xây cùng một lúc hai ba nhà máy điện nguyên tử với sự trợ giúp của các nước Tây phương, trong lúc đang phải mua điện của Trung cộng và Lào để có đủ cung cấp cho người dân.

LẠM PHÁT KHIẾN NÔNG DÂN CÀNG NGÀY CÀNG TUYỆT VỌNG

Lạm phát đã đẩy giá các loại nguyên liệu phục vụ nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu tăng vọt, trong khi giá lúa không tăng. Điều này dã khiến nông dân đặc biệt là nông dân các tỉnh miền Tây tuyệt vọng. Một nông dân tại xã Phú Thành A, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, cho biết trước kia họ bao phân bón, thuốc trừ sâu cho tới cuối vụ, bán lúa xong mới phải thanh toán. Năm nay phân bón, thuốc trừ sâu đều tăng giá, giá lúa thì vẫn vậy, họ sợ nông dân không thể trả nợ nên hạn chế bán thiếu. Theo nông dân dân miền Tây, tất cả các loại thuốc và phân đều tăng giá, có loại đã tăng tới 800,000 đồng một bao. Giá các loại bảo vệ thực vật, vì giá xăng dầu tăng, giá tất cả các loại dịch vụ khác như: chi phí dọn đất, cày ải, trục bừa, xạ giống, bơm nước cũng tăng thêm từ 30,000 đến 40,000 đồng một công. Chi phí tăng, giá lúa không lên, trồng lúa sẽ lỗ nên đa số nông dân miền Tây đang muốn bỏ ruộng. Tại Sóc Trăng, dù đã quá thời điểm gieo xạ nhưng nông dân trong vùng chỉ mới xuống giống cho khoảng 97,000 hecta lúa. Nông dân miền Tây vốn sống nhờ hai vụ lúa một nằm. Sau vụ Đông Xuân vừa qua, do không có vốn và thiếu nơi cất trữ, nông dân phải bán lúa ngay sau khi vừa thu hoạch xong. Một người tiết lộ đã có khá nhiều người phải bỏ xứ, đi làm thuê ở Saigon, ở miền Đông. Ngoài chuyện giá cả tăng, nhiều nông dân miền Tây đang kêu trời khi có quá nhiều phân bón giả. Báo chí trong nước liên tục đưa tin về chuyện Thanh tra các sở nông nghiệp phát triển nông thôn ở An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long phát giác đủ loại phân bón kém chất lượng, trong đó có cả đất sét pha màu để giả làm phân bón. Ngoài chuyện vật giá gia tăng, trồng lúa không có lời, nông dân thêm điêu đứng vì thiên tai và dịch bệnh. Ở huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu do trời liên tục mưa to, lúa non ở nhiều những thửa ruộng bị tróc rễ. Vào lúc này, miền Tây còn bị rầy nâu và ốc bươu vàng tấn công.


CẢNH SÁT MÃ LAI TRUY TÌM 15 TÊN CƯỚP NGƯỜI VIỆT, PHI LUẬT TÂN TUYÊN ÁN 10 NGƯ DÂN VÌ ĐÁNH CÁ LẬU

Cảnh sát Mã Lai đang truy nã 15 tên cướp người Việt đã tấn công 18 công nhân trong lúc họ đang ở nhà trọ. Chúng xông vào trói hết mọi người lại để cướp tiền và tư trang của họ. Một đại diện của cảnh sát cho hay là những tên cướp này trang bị dao dài, đã xông vào tòa nhà hai tầng và uy hiếp các nạn nhân cũng là những công nhân người Việt. Bọn cướp đã trói các các nạn nhân vào giường và ra tay trấn lột và lục soát cả tòa nhà. Sau đó bọn cướp đã tẩu thoát với số tiền cướp được khoảng 2,000 ringgit Mã Lai và điện thoại cầm tay của nạn nhân. Cũng may là các công nhân này chưa nhận tiền lương tháng nên bọn cướp không lấy được nhiều tiền. Sau khi bọn cướp tầu thoát thì các nạn nhân tìm cách cởi trói cho nhau tự giải thoát. Bản tin không nói rõ có ai bị thương hay không nhưng cảnh sát cho biết các nạn nhân không báo ngay cho cảnh sát. Vụ cướp xảy ra thứ bảy mà sang ngày chủ nhật họ mới báo cho Cảnh sát, sau khi đã cho giới chủ nhân hay. Trong một tin khác 10 ngư dân Việt Nam đã thú nhận đã đánh bắt loại cá sabalo hay còn gọi là milkfish một cách bất hợp pháp tại Phi Luật Tân, đã bị tòa án quận hạt Bataan của xứ này xử phạt 1 năm tù ở. Trong số 10 can phạm có 4 người còn ở tuổi vị thành niên. Họ đã phạm vào điều khoản đặc biệt của Luật Đánh Cá cấm không được dùng khí ép để bắt cá. Ngoài bản án tù nhóm ngư phủ Việt Nam còn phải đóng tiền phạt 10,000 peso tiền Phi cho các dịch vụ có liên quan tới môi trường trong vùng đánh bắt lậu. Cả 4 thiếu niên Việt Nam trong nhóm bị xử án được đưa về một trại chăm sóc xã hội của quận hạt Batanes. Các em này chỉ bị án treo vì còn trong tuổi vị thành niên.


VIỆT NAM KHÔNG CÒN HẤP DẪN GIỚI ĐẦU TƯ NGOẠI QUỐC

Cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam đang cảnh báo rằng mức lạm phát với diễn biến mau lẹ, tình trạng náo động trong lực lượng lao động đang gia tăng và một môi trường kinh doanh bất động sản phình to lên như bong bóng có thể sẽ làm xói mòn sức hấp dẫn như là một điểm đến cho đầu tư của Việt Nam. Tại hội nghị thường niên giữa các giới thẩm quyền kết thúc vào ngày hôm qua giữa các chuyên gia trong nước và các thành viên cộng đồng doanh nghiệp ngoại quốc, ông Michael Pease, chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam đã đề nghị Hà Nội mau chóng hành động để khôi phục sự ổn định cho nền kinh tế vĩ mô. Hội nghị này diễn ra chỉ ít ngày sau khi tin tức cho hay mức lạm phát đã dâng lên tới 25% trong tháng Năm, là tỉ lệ cao nhất kể từ năm 1992, bị nhấn chìm bởi áp lực giá cả lương thực, vật liệu xây dựng và cho thuê nhà tăng cao. Ông này nói thành công của Việt Nam trong việc lôi cuốn đầu tư nước ngoài phần lớn được xây dựng trên sự trông đợi về một nền kinh tế và chính trị ổn định. Ông Pease là tổng giám đốc của hãng Ford tại Việt Nam phát biểu trong ngày kết thúc hội nghị và nói rằng Hà Nội giờ đây cần phải hành động khẩn cấp và quyết đoán để kềm chế một trái bóng đầu cơ bất động sản đang không chỉ đe doạ khu vực tài chính, mà còn ngấm ngầm làm yếu đi về lâu dài khả năng cạnh tranh của Việt Nam, trong khi ại đang phải đứng trước những thách thức từ các nước láng giềng trong đầu tư nước ngoài. Giá nhân công tăng lên cũng là một mối quan ngại đáng kể đối với hoạt động kinh doanh của Hoa Kỳ tại Việt Nam, và tình trạng náo động trong giới công nhân có liên quan trực tiếp tới những vấn đề thuộc về kinh tế vĩ mô. Kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào tháng giêng năm 2007, Việt Nam đã trở thành một hấp lực đối với các nhà đầu tư nước ngoài, được lôi cuốn bởi mức tăng trưởng mau chóng của mình và đạt tỉ lệ trung bình 7.5% một năm trong cả thập kỷ qua. Trong khoảng thời gian giữa tháng giêng và tháng Năm, giới thẩm quyền cho biết họ đã nhận được những bảo đảm đầu tư nước ngoài đạt 15.3 tỉ Mỹ kim tức là nhiều gấp đôi so với cùng thời gian này năm ngoái. Năm 2007, các luồng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam vào khoảng 15 tỉ Mỹ kim, đến từ nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, đầu tư theo danh mục cấp vốn và các nguồn tiền gửi của người Việt Nam ở nước ngoài. Song các kinh tế gia cho rằng cơn lũ ngoại tệ đã tạo nên những hiệu ứng gây mất ổn định có thể làm nản lòng hoạt động đầu tư, trong khi nó lại kích động gia tăng quá mức tín dụng ngân hàng, dồn đẩy lạm phát tăng cao. Giá cả tiêu dùng tăng nhanh, đặc biệt là giá lương thực đã dẫn tới tình trạng các cuộc đình công trở nên thường xuyên hơn, đôi khi có cả bạo lực, khi mà người công nhân nhận ra rằng họ không còn có thể đủ sống lâu hơn được nữa và đòi được tăng lương. Hà Nội cho biết việc kiềm chế lạm phát hiện đang là ưu tiên hàng đầu, song những nỗ lực nhằm hạ nhiệt nền kinh tế bằng cách nâng tỉ lệ lãi suất cho tới giờ vẫn chưa có được mấy tác dụng. Ông Pease thừa nhận rằng người công nhân có những mối quan ngại chính đáng về tình trạng xói mòn sức mua trên đồng lương của họ, nhưng ông cho là nhà nước cần phải làm hơn nữa để ngăn ngừa hoặc giải quyết đối với các cuộc đình công bằng việc giúp tạo ra mối liên hệ tốt hơn giữa công nhân và giới chủ đầu tư nước ngoài của các nhà máy. Ông cũng đánh giá tình trạng tham nhũng là một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển ở Việt Nam và thúc dục nhà nước phải bảo vệ chứ không được cản trở, những người tố giác và các nhà báo điều tra các vụ tham nhũng.

CÔNG TY CHỨNG KHOÁN CẦM HƠI, NHÂN SỰ BỊ CẮT GIẢM

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang ảm đạm chưa từng thấy, nhà đầu tư than trời trong khi các công ty chứng khoán điêu đứng. Và một chiến dịch cắt giảm nhân sự chứng khoán mạnh mẽ nhất từ trước đến nay bắt đầu lan rộng khắp các doanh nghiệp tài chính và chứng khoán. Vào thời hoàng kim của chứng khoán, chỉ riêng khoản thu lệ phí môi giới trên 400 triệu đồng mỗi ngày cũng đã dư sức trả lương cho bộ máy nhân sự của công ty chứng khoán. Tuy nhiên giờ đây mọi khoản thu, nhất là lệ phí môi giới gần như mất trắng. Đó là chưa kể một số công ty đã cắt giảm một phần lệ phí giao dịch để lôi kéo khách hàng. Khó khăn càng thêm chồng chất khiến các công ty chứng khoán rơi vào cảnh điêu đứng. Một thống kê gần đây cho thấy chi phí trung bình ở một công ty gồm thuê văn phòng, nhân sự, đường điện thoại, mất khoảng từ 500 đến 700 triệu đồng một tháng. Nhưng với giá trị giao dịch trên cả hai sàn chứng khoán Hà Nội và Saigon, thì số tiền thu được chẳng thấm vào đâu. Nhiều công ty đã phải bán cổ phần để tồn tại. Mới đây, Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán cũng đã gửi đề nghị giảm lệ phí cho các công ty để hỗ trợ, nhưng họ vẫn phải tìm cách cầm hơi bằng đủ nọi cách, hạn chế mọi chi phí không cần thiết, cắt giảm nhân sự, hạ lương và tiền thưởng. Bộ phận môi giới được coi là thừa nhân sự nhiều nhất cũng đã cắt giảm một số nhân viên kém năng lực, số khác được chuyển qua các bộ phận lưu ký, kế toán.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Bong Bóng Nhân Quyền Việt Nam
Tác giả: Vi Anh

Bong bóng có nghĩa bóng, nghĩa đen, tốt và xấu. Bong bóng treo bày tỏ nỗi vui mừng ngày sinh nhựt. Bong bóng chỉ một một hiện tượng phát triễn mà không thực chất dễ bể như thị trường chứng khoán ở Saigon. Bong bóng chỉ một nguồn tin thăm dò như tin Thủ Tướng Việt Cộng không phá giá đồng bạc VN hay có tác dụng xì sú páp bất mãn như tin Toà Khâm sứ được trả lại. Nhưng bong bóng tựu trung chỉ có một bản chất, một đặc tính duy nhứt là phải xì bể. Sớm hay muộn, chậm hay mau thôi. Nên khá khen những anh em trẻ ở Hà nội đã khéo " động não" dùng việc thả bong bóng để lần đầu tiên đánh dấu chuyến đi của Đặc sứ Mỹ Kramer đối thoại nhân quyền với CS Hà nội.


Tin tức, 10 giờ sáng ngày 28-5-2008, hàng trăm bong bóng đã được thả từ nhiều địa điểm khác nhau quanh Hồ Gươm treo lơ lửng những khẩu hiệu "Tự do cho nhân dân Việt Nam", "dân chủ cho nhân dân Việt Nam và Nhân quyền cho nhân dân Việt Nam". Có tiếng Anh nữa, "Human Rights for Vietnam" và "Democracy for Vietnam". Bong bóng bay lên bầu trời Hà nội đem lại ngạc nhiên, vui mừng, và ngợi khen những người tổ chức dám làm và thả. Phóng viên ngoại quốc thấy và hiểu. Mong mỏi thông điệp về nhân quyền của người Việt được chuyển đi như người cầu nguyện thánh thần, mong mỏi một cái gì thường phóng sanh chim chóc vậy. Nhưng bong bóng thì khác, lần hồi xì hơi xẹp xuống hay đứt dây bay lên không trung, áp suất không khí giảm bị nổ tan tành, ra từng mảnh rơi chăng biết về đâu. Nhưng dù sao cũng ráng lạc quan và tự an ủi trong bầu không khí mà người dân Việt cần tự do, dân chủ, nhân quyền như cần dưỡng khí. Nhân Quyền VN thà huy hoàng trong khoảnh khắc còn hơn hiu hắc suốt năm canh!


Than ôi, thực tiễn tình hình cuộc đối thoại hằng năm về Nhân Quyền giữa Washington và Hà nội cho thấy thật là vô bỗ cho nhân quyền VN. Đó là một cuộc đối thoại, một cái cảnh ông nói gà bà nói vịt, chỉ dùng ngôn ngữ để tuyên truyền hơn là tạo hiểu biết hầu cài thiện. Phái đoàn Hoa Kỳ do ông David Kramer, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ về Nhân quyền, Dân chủ và Lao động dẫn đầu. Đoàn của CS Hà nội cũng do trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao của CS Hà nội là ông Đoàn Xuân Hưng, hướng dẫn.


Coi như ngang " cơ" nhưng khác đường banh. Hà nội khẳng định: "Chúng tôi có quan niệm nhân quyền riêng, phù hợp với đặc điểm lịch sử, chính trị, văn hoá của Á châu, của dân Việt". Đây là cách nói ngang ba làng nói không lại vì Hà nội ký không biết bao nhiều công ước, hiệp ước có dính líu đến nhân quyền, mà coi những thứ đó như giẻ rách, chỉ biết có " quan niệm nhân quyền riêng" của Hà nội mà thôi.


Tội nghiệp Hoa kỳ, chịu thương, chịu khó, tại Mỹ, trước khi phái đoàn đi VN, Uy ban Quốc tế về Tôn Giáo đề nghị đưa CS Hà nội trở lại vào sổ bìa đen. Tố chức An Xá Quốc tế tuyên bố CS Hà nội vi phạm quyền tự do báo chí, tư do ăn nói. Uy ban Quốc Hội mở cuộc điều trần mời nhiều người Việt trình bày ý kiến. Và có dân biểu gốc Cali, tiểu bang đông cử tri Mỹ gốc Việt nhứt, khuyên người Mỹ gốc Việt phải đoàn kết lại đưa ý kiến chung để Mỹ biết mà đối thoại. Trong tình hình người Mỹ gốc Việt có cộng đồng có đôi ba ban đại diện, các đoàn thể quốc gia sau 33 năm lưu vong chưa có một tiểu Diên Hồng, mà dân biểu Mỹ đòi như vậy là bắt người Việt không mò trăng đáy biển thì cũng giành quyền đại diện gay go hơn.


Cũng tội nghiệp cho Ô. Đặc sứ Kramer đến VNCS, cũng chịu khó đi Đà Lạt (chắc mát như Cali mùa thu) để gặp một vài nhà dân chủ. Một vài nhà dân chủ được lãnh sự mời như Ô Nguyễn văn Đài, công an CS ngăn trở, thì những nhà ngoại giao Mỹ cũng chịu thua như Ô Đại sứ Mỹ đã chịu thua khi một vài nhân vật ly khai được Ô Đại sứ mời đến đến cổng tư hư dinh của Ô. Đại sứ mà công an CS cản trở. Dù Bà DB Sanchez từ Cali có mặt, khách tới cổng công an CS không cho vào, Ô. Đại sứ Mỹ nói đó là khách của tôi, công an cứ chận, Ô. Đại sứ cũng chịu thua trừ vài lời phản đối chiếu lệ như tiếng kêu vào sa mạc.


Kỳ này Đặc sứ Kramer cũng chịu thương, chịu khó đi gặp thứ trưởng Công an, Nguyễn văn Hưởng, bày tỏ niềm ưu tu sâu xa đối với những vụ vi phạm nhân quyền và thân phận những người vận động nhân quyền một cách ôn hoà mà CS bắt bỏ tù. Ong Vua Công an của CS Hà nội trả lời trớt qướt, muốn ân xá phải ở tù hai phần ba án, trong khi đó Ô Đại sứ khẳng định theo các văn kiện của nhà nước CS, là chỉ cần một phần ba thôi.


Nhưng để tương kính và hoà cả làng Đặc sứ Kramer cũng nói có tiến bộ về tự do tôn giáo dù chính Uy Ban Quốc về Tôn Giáo của Mỹ trước đó ở Mỹ nói CS Hà nội tiếp tục đàn áp tôn giáo và đề nghị đưa CS Hà nội lại vào sổ bìa đen CPC. Vì Ô Đặc sứ làm gì khác được khi mà Bộ ngoại Giao Mỹ lơ lửng như con cá vàng trong vấn đề nhân quyền VN. Khi mà CS Hà nội như con cọp đói trước những người Việt đòi quyền sống một cách ôn hoá. Đảng Nhà Nước CS Hà nội -- một cách có hệ thống và kế hoạch - thực hiện đường lối trước sau như một, nhà nước hóa các tôn giáo và triệt hạ các giáo hội độc lập. Từ đầu năm đến nay, số tăng ni, Phật Tử và các chùa chiềng của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhứt bị sách nhiễu, bắt bớ, điều tra nhiều đến nổi khó ai nhớ hết. Công Giáo cũng không yên ấm gì, đất đai, cơ sở bị tịch thu đòi lại không bao giờ được xét. Đại diện Vatican đi VN với những hồ sơ tài sản Công Giáo, bổ nhiệm giáo phẩm đang trục trặc.


Còn người dân Việt bị CS tước đoạt chẳng những quyền lợi tinh thần mà vật chất nữa. Nông dân thì bị cướp đất, cướp nhà dưới hình thức qui hoạch, nhà nước bồi thường rẻ như giựt, để ngoại bang xây nhà xưỡng và làm 130 sân chơi golf, trung bình một đơn vị hành chánh trực thuộc trung ương có hai sân. Dân Oan đi khiếu kiện thì công an CS càn quét. Công nhân thì CS kềm công xá để thu hút đầu tư, cấu kết với ngoại bang bóc lột mồ hôi nước mắt của người lao động. Đình công, biểu tình thì công an chia cắt, cho côn đồ dẹp phá không nương tay. Luật pháp kể cả Hiến Pháp CS, quyền lợi người dân chỉ hữu danh vô thực. Quốc Hội thì Đảng CS cơ cấu 90% là đảng viên, do đảng cử dân bầu. Tham nhũng là quốc nạn ngày càng bành trướng như ung thư vì cán bộ CS lớn nhỏ đều dính líu, trên ăn, dưới cũng ăn, đồng loã với nhau thì làm sao mà trị.


Thành ra, không những đối thoại nhân quyền mà mọi cuộc đối thoại nếu có vơi CS chỉ cù cưa, cù nhầy, cái gì lợi cho CS thì CS "nhất trí", không thì cải chày cài cối. CS cứ bắt, cứ giam các nhà dân chủ, nếu Mỹ la lối lâu lâu thì Hà nội thả vài người để giảm áp lực ngoại giao thôi. Thời gian có lợi cho CS trong việc vi phạm nhân quyền vì họ đang thống trị VN và vì càng ít nhân quyền CS càng dể không chế người dân và xã hội.


Thật là ngây thơ nếu hy vọng về cuộc đối thoại nhân quyền giữa Washington và Hà nội.


Nhưng cũng có người lạc quan, "thà có đối thoại, còn hơn là không", hy vọng Washington bật đèn xanh hay đỏ. Thực ra Washington đang dùng hư chiêu, làm chiếu lệ, lơ lửng như con cá vàng mà thôi để giảm bất mãn của người Mỹ gốc Việt. Mà Hà nội cũng thừa hiểu, coi hư chiêu nhân quyền của Mỹ chẳng ra cái gì vì sợ Trung Cộng hơn sợ Mỹ. TC có thể xâm chiếm VN, chớ Mỹ đâu có tham vọng đất đai. Trong khi CS Hà nội cho một thứ trưởng nói chuyện với Mỹ, thì chính Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh kiêm chủ tịch Bộ Chánh tri đích thân đi triều kiến và xoa dịu Anh Cả Đỏ.


Kinh nghiệm đau thương trong hòa đàm Paris năm 1972, hãy còn đó. Hà nội-Washington giải quyết vấn đề hoà bình cho VN, không phải bằng đối thoại cù cưa, cù nhầy ở bàn hội nghị hình quả trám. Mà Hà nội-Washington mật đàm giữa Kissinger-Lê Đức Thọ với sự đồng ý của CS Nga Tàu, để giải quyết số phận người dân Việt trên đầu trên cổ người dân Việt. Người dân Miền Bắc lẫn Miền Nam không có tiếng nói. Việt Nam Cộng Hoà bị Mỹ bức tử dâng cho Hà nội để đổi lấy thị trường cả tỷ người ở Trung Quốc. Có đối thoại, đối thiết gì đâu. Từ đó cho thấy vọng ngoại là thất bại. Nội lực dân tộc là tối cần thiết. Ai chờ đèn xanh, đèn đỏ của Mỹ là giao trứng cho Ac./.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

TỪ MỘT CUỘC "HỌP BÁO", NGHĨ VỀ TÂM LÝ QUẦN CHÚNG.
Trong một xứ Tự Do, Dân Chủ, mỗi cuộc bầu cử là một dịp để chiêm nghiệm về tâm lý đám đông (crowd psychology, social facilitation theory) một cách rõ nét nhất.

Những người dân bình thường có thể tạo được sức mạnh trực tiếp bằng cách hoạt động theo tính cách tập hợp và đoàn thể cùng một lúc. Lịch sử đã chứng minh những nhóm đông người có thể tạo nên những thảm kịch và thay đổi xã hội trong một phương thức đặc biệt, không thể tiên đoán được vì vượt qua mọi thủ tục thông thường và cần thiết. Nhiều triết gia đã đi tìm những lý giải cho tâm lý đám đông, và thấy rằng tâm lý đám đông hoàn toàn khác hẳn tâm lý của từng cá nhân trong đám đông đó.

Carl Jung đặt tên cho hoạt động đó là "sự tập hợp vô thức " (collective unsconsicious).

Những triết gia khác như Gustave Le Bon, Wilfred Trotter, Gabriel Tarde, Sigmund Freud và Elias Canetti cũng nghiên cứu về vấn đề này rất nhiều. Riêng Le Bon, trong năm 1895, đã viết cuốn "The Crowd: A Study of the Popular Mind" ( Đám đông: Sự nghiên cứu về ý chí của quần chúng) làm kim chỉ nam cho Adolf Hitler, sau này đã viết nên cuốn "Mein Kamf", thúc đẩy dân Đức lao vào cuộc thế chiến điên rồ tiêu hủy trên dưới 50 triệu người.

Sigmund Freud lại cho rằng những cá nhân trong đám đông trình diện tư cách của mình với người lãnh tụ xuyên qua cái gọi là "bản ngã lý tưởng" (ideal ego) của mình. Sau đó, cái "bản ngã lý tưởng" lại biến thành "siêu bản ngã" (super-ego), từ đó hành động sẽ vượt qua mọi giới hạn thông thường để tạo nên những thay đổi khủng khiếp.

Trở về với một cuộc họp báo ngoài đường, đầu tháng 6, tại nơi đậu xe của một khu thương mại nhỏ thuộc thành phố Garden Grove, gần Thủ Đô Tị Nạn, do một ứng cử viên người Mỹ gốc Việt tổ chức, với sự bảo vệ an ninh của vài cảnh sát và sự tham dự của khoảng 30 người, người quan sát sẽ thấy rằng những yếu tính trong tâm lý đám đông đã được các triết gia nghiên cứu trước đây, được thể hiện theo đúng với những ghi điều trong sách Triết học.
1-Đám đông dễ bị xúc động (Possibility of being emotional):
Khi người tổ chức, bằng giọng giận dữ, và những từ ngữ dễ gây xúc động, chỉ thẳng ngón tay vào một vài nhân vật dân cử đang hiện diện giữa đám đông, gọi họ là "băng đảng", và tố cáo sự liên hệ của họ với một Dân Biểu là người mà diễn giả nói là có những hoạt động có liên hệ đến Cộng Sản, thì lập tức nhiều tiếng la ó nổi lên. Khoảng hai chục người vỗ tay liên tục. Vài ngón tay chỉ về phía vị dân cử bị tố cáo. Một phụ nữ gầm lên với những danh từ thô tục, bình dân: "Thằng mất dậy! Đồ khốn nạn! Mặt vậy mà coi được à! Có học mà ngu! Đồ mặt dầy!..." Người phụ nữ luống tuổi đó, y phục bình dân, nhưng lời lẽ gay gắt vô cùng, chửi bới một Luật Sư đang giữ chức vụ dân cử, trước đây là người điều hành LAVAS, một chương trình Cứu Người Vượt Biển. Nhân vật ấy cũng là người tranh đấu cho hàng trăm người Việt Nam, đi lao động nước ngoài tại Samoa và bị bắt phải sống đời nô lệ cho các chủ nô vô lương tâm. Với sự tranh đấu ấy, hàng trăm người đã được nhập cảnh Mỹ, thoát cuộc sống khốn khổ của nô lệ. Khi đã bị kích động, thì người phụ nữ luống tuổi này đã quên hết những công việc thiện nguyện tốt đẹp mà nhân vật kia đã thực hiện trong bao nhiêu năm. Đồng thời với người phụ nữ có giọng điệu căm thù ấy, một phụ nữ khác, đội một cái mũ vải, cũng chỉ tay xỉa xói vào những nhân vật dân cử bị tố cáo kia, như một kẻ thù không đội trời chung vậy. (Cũng có dư luận cho rằng những phụ nữ chửi bới chuyên nghiệp đó đã được thuê bởi nhóm tổ chức để khích động đám đông?)
2-Ảnh hưởng dây chuyền (Chain of influence):
Vài người tham dự, lúc chương trình mới bắt đầu, thì yên lặng, quan sát. Nhưng sau khi bị khích động, cũng đỏ mặt, vỗ tay, gào lên những câu vô nghĩa: "Đuổi chúng nó đi! Đồ mặt trơ trẽn! Đến đây làm cái gì?" Ảnh hưởng dây chuyền này kéo dài từng chặp, từng chặp, tùy theo người lèo lái nói về những vấn đề thuộc chủ đề của ban tổ chức đã dự định đưa ra.
3-Chấp nhận những hành động vô lý (Easy and Unreasonable acceptance):
Vì đã có quan điểm chống Cộng rõ rệt, nên người tham dự dễ bị lôi cuốn theo những lời lẽ tố cáo các nhân vật trong cộng đồng là có liên hệ với Cộng Sản. Những người sôi nổi này không nhìn thấy những vô lý trong luận điệu được đưa ra mà chỉ chú trọng đến "cái mũ" chụp từ trước.

a-Chụp mũ khơi khơi (False accusation): Ngoài những vấn đề tố cáo khơi khơi một Dân Biểu có liên hệ với Cộng Sản, một người đàn ông khoảng trên 60, bỗng nhiên chỉ tay vào người viết lúc đó cũng tham dự với tư cách một nhà báo, la lên: "CTT và Phan Nhật Nam là Cộng Sản đây nè!", thì lập tức có vài tiếng nói phụ họa: "Đâu? Đâu?" Tiếp đó, là những ánh mắt khinh bỉ chiếu tới. Cùng với những lời vu khống vô lý đó, một số câu chửi đổng được bung ra "Trí thức không bằng cục phân!", không cần biết sự chụp mũ đó vô lý đến mức nào, người bị chụp mũ là ai, đã từng sinh hoạt như thế nào. Những lời ồn ào vô lý của đám đông, khởi đi bằng sự chụp mũ, được kéo dài cho đến khi người viết tiến lại người tố cáo, yêu cầu ông ta đưa bằng chứng thân Cộng của người viếtø, thì nguời đàn ông kia vùng vằng bỏ đi, sau khi vung tay: "Không nói chuyện với người thiên tả!" Khi một luật sư người Mỹ hỏi người viết về vị Luật Sư bị tố khổ kia, người viết trả lời: "Ông ta là trưởng nhóm Lavas, chuyên giúp thuyền nhân - boat people", một phụ nữ đứng bên cạnh lắng nghe, thấy chữ đó, thì lẩm bẩm: "Boat people cái quái gì! Chỉ làm tiền chính phủ!"

b-Vi phạm nguyên tắc chung (Violation of common rules): Một khi đã tuyên bố là "họp báo", thì bắt buộc người tổ chức phải để mọi phóng viên tham dự, chỉ trừ người nào có hành vi phá hoại hoặc khủng bố, ảnh huởng đến an ninh của buổi họp. Nhưng tại cuộc mệnh danh là "họp báo" này, một ký giả nhật báo và cũng là phóng viên đài truyền hình SBTN, đã bị người tổ chức chỉ tay vào mặt, yêu cầu đi ra, mà không nói lý do. Sau khi ứng cử viên nói vài câu tiếng Việt, người điều khiển chương trình bắt đầu tố khổ, mà không cho người bị tố khổ trả lời, cũng như không một tham dự viên nào được phát biểu. Vài người tham dự cho rằng đó không phải là "họp báo" mà là một cuộc "đấu tố" một chiều.
4-Tâm lý lo sợ(Phobia):
Sự vi phạm nguyên tắc họp báo này cùng với những lý luận hồ đồ và chụp mũ đó, ngoài sự hưởng ứng của đám đông, còn được tâm lý lo sợ bổ sung, khiến cho những bất công coi như được chấp nhận. Một số lớn im lặng, trên khuôn mặt họ có vẻ phân vân. Một thanh niên chừng dưới 40 tuổi, lắc đầu, ngơ ngác: "Ai cũng bị chỉ điểm là Cộng Sản, vậy là sao? Hết biết!?" Một vị khác điểm tay vào ngực người viết, nói: "Ông mà còn bị chụp là Cộng Sản, thì thử hỏi có ai không Cộng Sản?"Nói thì nói vậy, nhưng không ai dám có ý kiến. Đa số ở trong tâm trạng cầu an, nếu không nói là sợ đủ thứ. Sợ uy tín của diễn giả, sợ không khí buổi tuyên truyền, sợ bị la ó, sợ lôi thôi, rắc rối, sợ không trình bầy đủ ý kiến mà mình muốn nêu lên...

Do đó, đám đông, nói chung, là giữ thái độ bàng quang, thụ động, mặc cho những thái độ, cư xử có phần bất công với ai đó. Đám đông dễ bị khích động, đám đông dễ chấp nhận cả những cái vô lý. Đám đông là một tập hợp sôi nổi, nếu có người biết lợi dụng, thì dễ biến thành những cơn phẫn nộ không kiểm soát được, đôi khi biến thành bạo loạn.



Chu tất Tiến.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Ngày Của Mẹ, Của Cha

VI ANH
Lịch sử chỉ đánh giá đúng anh hùng khi không còn nữa. Ngày của Mẹ, của Cha năm thứ 33 này, những người cha, người mẹ đầu tiên đưa gia đình tỵ nạn CS ở hải ngoại chắc cũng không còn nhiều lắm. Đây là cơ hội tốt để thấy công ơn trời biển của những người cha, người mẹ đã hy sinh đưa con cái đến bến bờ tự do, quên mình lo cho gia đình con cái - là lớp trẻ Việt hải ngoại -- được như ngày hôm nay.

33 năm là thời gian gần nửa đời người. Thế hệ thứ nhứt đại đa số là những quân dân cán chánh VN Cộng Hoà dẫn gia đình con cái đi tỵ nạn CS ở hải ngoại, trẻ nhứt cũng 30, bây giờ đã hơn sáu bó trở lên. Những người cha, người mẹ đó thường là những người đã có những vai trò trong chế độ VNCH, nên thường là người có tuổi, trẻ cũng phải khoảng 40. Dù nhờ y tế tân tiến, đời sống hải ngoại đầy đủ làm tuổi thọ gia tăng, những người cha người mẹ thuộc thế hệ thứ nhứt của cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt đó, nay tuổi hạc cũng đã quá thất thập cổ lai hi rồi. Không ít người đã ra đi; số còn lại cũng mấp mé bờ sanh tử theo luật vô thường của Tạo Hoá.

Tre tàn măng mọc là qui luật sinh tồn. Con hơn cha nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần là đà tiến hoá của một dân tộc. Hậu duệ của những người cha người mẹ đến bến bờ tự do, đứa con sanh sớm nhứt tại nước hải ngoại bây giờ cũng trên 33 tuổi. Có người gọi là thế hệ thứ hai bây giờ cũng đã tứ thập nhi bất hoặc (từ 40 tuổi, không ngờ vực nữa) hay thế hệ một rưỡi ngũ thập tri thiên mạng (từ 50 tuổi, biết mệnh trời rồi) rồi. Còn thế hệ thứ ba thì nhiều lắm đang đại học hay ngoài đời, hoà nhập sâu sát vào xã hội Mỹ. Dù có bi quan và khiêm tốn sắc tộc thế mấy đi nữa cũng thấy lớp người hậu duệ của những bậc cha mẹ thuộc thế hệ thứ nhứt của những người Việt tỵ nạn CS, không thua sút bất cứ sắc tộc nào đã nhập cừ các siêu cưòng Tây Phương hàng thế kỷ trước. Đặc biệt ở Mỹ là hiệp chủng quốc, nơi người Việt định cư đông nhứt trên thế giới, những cố gắng vưon lên, thăng tiến cần lao đồng tiến xã hộicủa người gốc Việt thấy rõ nhứt. Bác sĩ, luật sư, kỷ sư, chuyên viên gốc Việt đã bảo hòa so với tỷ lệ dân số gốc Việt.. Ngành nào lớp trẻ VN cũng có mặt, chen vai sát cánh với những sắc tộc khác .

Sự thành công này của thệ hệ hậu duệ theo phân tích và nhận định của những nhà xã hội học là do yếu tố gia đình VN. Nói đến gia đình VN là nói đến cha mẹ. Gia đình tự nó là một nhóm xã hội (social group). Bất cứ nhóm xã hội nào cũng có sự lãnh đạo mới mưu cầu hạnh phúc và thăng tiến được. Nhóm xã hội gia đình VN, người cha thường đóng vai trò lãnh đạo thực hiện (instrumental leadership), nặng về lý trí, thực tiễn, đòi hỏi con cái phải thực hiện hoàn thành nhiệm vụ của gia đình. Do đó người cha tỏ ra cứng rắng với con cái và ít được con cái thân tình như đối với mẹ. Còn người mẹ đóng vai trò lãnh đạo hoà họp, tạo sự thông cảm chung, hạnh phúc, êm ấm chung cho gia đình nên được lòng con cái hơn người cha. Hai thể thức lãnh đạo này không xung khắc nhau mà bỗ túc cho nhau, làm gia đình VN phát triển tốt trong xã hội Tây Phương và làm cho lý do lớp trẻ VN thăng tiến nhanh trong xã hội các quốc gia định cư cách nước nhà có nơi nửa vòng Trái Đất.

Trên đường điịnh cư cũng như trên bất cứ đường đời nào mới, vạn sự khởi đầu nan. Cha mẹ lấy thân phận lót đường cho con cái để lớp trẻ có ngày nay. Hầu hết thế hệ thứ nhứt quên mình, để dĩ vãng qua một bên, hướng về tương lai phía trước, lo cho gia đình thăng tiến. Tướng lãnh Quân Lực VNCH không ngần ngại đi làm ngưòi lau cửa sổ cho các building, người quản lý nhà hàng. Nghị sĩ, dân biểu VNCH đi bán xăng, bán tiệm rượu, làm thợ nhà in, thợ lắp ráp điện tử. Công chức cao cấp đi cắt chỉ, ủi đồ, cắt cỏ, làm móng tay, làm mặt trong thời kỳ chân ướt chân ráo. Làm với tất cả lòng tận tụy, với sự hiểu biết và tin tưởng nơi lớp trẻ tiến lên, tiến thân.

Con cái ra sức cùng nhau xây đấp đại gia đình. Một chiếc xe đôi ba anh chị em chia giờ nhau đi và đưa rước nhau. Anh học ra trường tiếp cha mẹ đóng tiền trường cho em đi đại học cao hơn. Cả nhà chung đậu tiền cho người anh mua căn nhà đầu tiên và anh tiếp tay em mua căn nhà hay sang căn tiệm mới. Việc vầng công đó thực hiện được nhờ sự lãnh đạo thực hiện và hoà họp của cha mẹ Sư kết họp này có và làm được là do tình thương gia đình, và chữ tín nghĩa này có và mạnh hơn mọi credit mà ngân hàng nào có thể so sánh được. Bất thành văn tự nhưng long trọng và chắc chắn như nền tảng gia đình VN.

Do vậy Ngày Của Mẹ, Của Cha thứ 33 của người Việt hải ngoại này là ngày tưởng nhớ tới những người cha người mẹ đã qua đời đã dẩn dắt con ra khỏi chế độ CS, đến miền Đất Hứa. Ngày tưởng nhớ những hy sinh của những người cha người mẹ lót đường cho cho cái tiến thân. Ngày ngưỡng mộ lòng dũng cảm của những người cha người mẹ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, một ngày 24 giờ, một tuần bảy ngày để con cháu được như ngày nay; lòng dũng cảm của những người mẹ ngưòi cha đó can đảm hon người chiến sĩ can trường xung phong ngoài mặt trận vì giờ phút can đảm xung phong ngăn hơn, ít khi xảy hơn ra so với lòng dũng cảm gần như suốt đời của cha mẹ.

Chẳng những thế nhiều cha mẹ gốc Việt còn muốn hy sinh cho con khi không còn ở cõi trần này nữa. Nhiều người cha ngưởi mẹ đặn dò hay di chúc cho con cái, sau khi theo ông theo ba, thì con cái đem hoả thiêu, lấy tro đem rải ngoài biển hay gởi trong chùa. Vì không muốn đem tro xương của mình trở lại nước nhà còn nằm trong tay CS. Vì biết con cháu ở xứ văn minh kỹ nghệ, quá bận bịu này phải chạy theo việc làm, thường khi phải ở xa, ngày giỗ tết, thanh minh mà vì công việc làm ăn không về viếng mộ được, thì bùi ngùi, tủi buồn tội nghiệp. Trong những lý do vệ sinh, giản dị, niềm tin tôn giáo, nhiều gia đình VN bớt theo phong tục Việt sống cái nhà chết cái mồ, mà chấp nhận nhận hoả táng thân nhân, lấy tro rải biển hay gởi ở chùa, có lý do gia đình ấy.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Việt Nam: Thi Đua Yêu Nước và Nghịch Cảnh Võ Văn Kiệt

Phạm Trần
Hoa Thịnh Đốn
Chưa thấy nơi nào trên thế giới lại bầy ra cái trò “thi đua là yêu nước và yêu nước thì phải thi đua” như ở Việt Nam dưới thời Cộng sản. Trò chơi này lâu lâu diễn ra một lần, nhưng lần nào dân cũng phải “ăn cơm nhà vác ngà voi” để “làm ngày không đủ” thì phải “tranh thủ làm đêm” phục vụ đảng.

Mỗi lần thi đua như thế thì người dân được gì ? Giỏi thì đoạt cờ đảng, được trao danh hiệu “đơn vị xuất sắc”, “cá nhân tiên tiến”, công lao điểm cao thì được gắn cho ngôi Sao vàng ! Nhưng mỗi khi có phong trào thi đua là y như đảng có âm mưu giấu đi những khuyết điểm để dân quên đi những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày.

Năm nay, khi đảng và nhà nước CSVN ồn áo, rình rang kỷ niệm 60 năm ngày Hồ Chí Minh đưa ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc ( 11/6/1948-11/6/2008) thì người dân phải vật lộn với nạn vật gía lên cao, thiếu việc làm, lạm phát tăng cấp gần 30 phần trăm; nông dân mất dần ruộng cầy cho các công trình mở mang, công nghiệp hóa vô tổ chức và thiếu nghiên cứu; công nhân đình công, mất việc; học sinh con nhà nghèo phải bỏ học; môi sinh, sức khỏe dân nghèo không được bảo vệ; đô thị ngột ngạt, chen chúc, thiếu nhà ở, mất vệ sinh; tình trạng giầu – nghèo cách biệt trong xã hội cứ dãn ra và sâu thẳm mãi. Bất công xã hội chồng chất, kẻ ăn không hết, người lần không ra, tình trạng vô số người dân chưa đủ ăn bữa sáng đã lo tìm gạo bữa chiều không còn là chuyện bất thường ở Việt Nam.

Và con số “không nhỏ” cán bộ, đảng viên quan liêu, tham nhũng, suy đồi đạo đức, mất phẩm chất lan tràn từ thượng tầng lãnh đạo xuống tận làng, thôn không còn thu hẹp ở một đơn vị, một cơ quan mà chỗ nào cũng có, không ngăn chặn nổi.

CHA ĐẺ ĐỔI MỚI CŨNG THAN TRỜI

Nghịch cảnh này đã được Võ Văn Kiệt, cựu Thủ tướng ( 1991-1997) vừa qua đời tại Tân Gia Ba (Singapore) ngày 11-06 (2008), phản ảnh trong Bài viết cuối đờI "Không để người nghèo chịu thiệt thòi mãi."

Võ Văn Kiệt, 85 tuổi, là người đã cùng với Tổng Bí thư đảng Nguyễn Văn Linh cổ võ “Đổi mới”, mở cửa hội nhập với thế giới từ năm 1986, gửi bài viết cho một số báo trong nước, nhưng tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Trung ương đảng không đăng.

Bài của Kiệt, đăng trên Báo Điện tử ViệtNamNet ngày 12/04 (2008) , viết rằng :
“ Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá, nhưng, sau những bão, lụt- thiên tai, cuộc sống của người dân lại đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục. Người nghèo - những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa, trên thực tế, chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng; trong khi, chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra. Muốn cho đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng, chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo….”

“Chăm lo cho người nghèo hiện nay, không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của một Đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân. Thực hiện cam kết đó, không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà trước khi ban hành những chính sách lớn, cần phải phân tích, đánh giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo...”

“Chúng ta chưa có những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hóa xảy ra ở các vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản. Nhưng, mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh dự mà chúng ta thường đề cập của “giai cấp công nhân”.

Người nông dân còn chịu thiệt một cách trực tiếp trong quá trình “công nghiệp hóa”. Mỗi khi có những nhà máy, những khu công nghiệp, đô thị mọc lên, những phúc lợi xã hội mà sự phát triển mang lại cho nông dân chỉ chiếm một giá trị rất nhỏ so với lợi nhuận mà đất đai của nông dân đem lại cho những tầng lớp khác.

“Công nghiệp hóa” theo kiểu tiếp nhận những đầu tư, chủ yếu khai thác lao động giá rẻ, tuy có giải quyết được công ăn việc làm có tính nhất thời cho một số lao động thiếu việc làm, về lâu dài, không thể nào thay đổi địa vị nghèo khó của nông dân…”

Kiệt viết tiếp : “Trong khi đó, sự trả giá về mặt tinh thần là rất lớn vì đa số những nông dân này đang phải “ly hương, ly gia” để có việc làm. Công nghiệp hóa, đô thị hóa của chế độ ta mà không nhất quán quan điểm, không xuất phát từ người nghèo (số đông người nghèo) thì chúng ta không tránh khỏi càng làm sâu sắc thêm khoảng cách giữa hai tầng lớp giàu, nghèo. Công nghiệp hóa, đô thị hóa là một hướng đi cần thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài…”

“Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản trong giai đoạn “tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này. Phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà tôi nghĩ là các nhà lý luận rất cần tham khảo.

Kinh nghiệm sau hơn hai thập kỷ đổi mới cho thấy, không thể có “công bằng” đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta thời bao cấp). Cũng không thể “cào bằng” bằng cách “điều tiết” hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo….”

“Có lẽ, chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo một cách thường xuyên như ta. Thậm chí, với nhiều người, nó đã dần trở thành một thứ khẩu hiệu. Sự quan tâm đến người nghèo bằng các phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay bài viết, tôi nghĩ, là đã quá đủ.

Nhưng, chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP ( United Nations Development Program, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc) để thấy, chúng ta đã thực sự làm được những gì: Nhóm 20% những người giàu nhất ở Việt Nam hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của nhà nước; Trong khi, nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này….”

“Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn chải. Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp những người giàu và nghèo. Nhưng, phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên, để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, về y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo.”

Như vậy, cuộc Thi đua yêu nước của đảng CSVN năm 2008 có phản ảnh được những lo âu não nuột của Võ Văn Kiệt không, hay cứ tiếp tục hô cho to những khẩu hiệu rỗng tuếch tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” để quá độ lên Xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam tương lai có “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” ?

Nhưng đảng CSVN đã bắt dân “qúa độ” hơn 20 năm rồi mà chưa biết ‘mỏi gối chồn chân” hay sao mà phải tiếp tục đến bao giờ nữa mới thấy được Thiên đàng Xã hội chủ nghĩa ?

THI ĐUA ĂN GÌ ?

Trong thời kỳ chiến tranh, đảng Cộng sản Việt Nam vẽ ra các phong trào "Hũ gạo kháng chiến" , “ Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ngày ngày thi đua! Ta nhất định thắng, địch nhất định thua” cho đến “Cờ ba nhất, Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong” , “Thanh niên Ba sẵn sàng”, “Phụ nữ Ba đảm đang” ,“Xe chưa qua, nhà không tiếc!”, “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!”. Thậm chí có cả các phong trào “Tiếng hát át tiếng bom; Tất cả vì miền Nam ruột thịt!”,"Mỗi người làm việc bằng hai vì miền nam ruột thịt" , “Tất cả để chiến thắng! “ cốt để đánh lừa nhân dân miền Bắc trong cuộc xâm lăng miền Nam Việt Nam. Hàng trăm ngàn thanh niên-thiếu nữ tuấn tú của miền Bắc đã chết oan cho cuộc nội chiến 30 năm không cần thiết này !

Ngày nay, sau hơn 20 năm phải “Đổi mới” để sống theo Tư bản, được ngụy trang bằng lớp sơn hào nhoáng “theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa”, đảng lại tung ra các phong trào nghe nổ bom bóp như ngô rang : “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi"; "Xây dựng nông thôn mới", "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo"; "Tuổi trẻ sáng tạo"; "Thanh niên lập nghiệp"; "Tuổi trẻ giữ nước"; "Mùa hè xanh", "Lao động giỏi, lao động sáng tạo"; "Liên kết phục vụ nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới" , “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” , “Ngày vì người nghèo” v.v…

Nhưng dân càng thi đua càng nghèo hơn. Nước vẫn đì đẹt trong danh sách 40 quốc gia nghèo nàn, chậm tiến, tụt hậu nhất thế giới. Bất công Xã hội chồng chất lên cao mỗi ngày. Và người dân, ông chủ của đất nước lại phải làm tôi cho Đảng là kẻ “đầy tớ “ của nhân dân !

Thế mà trong ngày phát động phong trào thi đua yêu nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội ngoại vi của đảng vẫn có thể huênh hoang hô hào thi đua để “Phát huy dân chủ, thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh.”

Tại Hà Nội ngày 11/6, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng cũng cứ xúi dân : “Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng tâm, hiệp lực của toàn xã hội, người người thi đua, ngành ngành thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2006-2010) theo Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Trước mắt tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2008, mà trọng tâm là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế bền vững. “

Dũng còn hứa chính phủ sẽ “Chăm lo cải thiện đời sống nhân dân, giúp đỡ thiết thực cho người nghèo, giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của xã hội, như giảm tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai…”

Trước mặt Nông Đức Mạnh và các viên chức đảng dự lể kỷ niệm ngày Thi đua, Dũng còn kêu gọi cán bộ : “Không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, góp phần đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; thực hiện tốt Luật Phòng chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí.”

Rất tiếc là những gì Dũng nói vào dịp này cũng “xưa như trái đất” và đã từng bị cán bộ, đảng viên bỏ ngoài tai trong nhiều năm. Có khác chăng là chúng được nhắc lại vào dịp phát động phong trào Thi đua để đánh dấu một cuộc lùi lại vĩ đại khác của đảng CSVN.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn –
Mẹ Việt Nam, Áo Vàng áo Đỏ!

Tác giả: Thụy Ái

Trong bức thư gởi cho ban tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới (World Youth Day 2008, viết tắt WYD) dự định tổ chức tại Sydney vào tháng 7-2008, [tin Việt Báo, ngày Thứ Bảy, 6/7/2008,] Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã tỏ ý lo ngại vấn đề cờ vàng sẽ làm “tắt nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN.” Ngài nhấn mạnh, các bạn trẻ VN là “con một Cha, là anh em một nhà...” và “người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục...” Để kết luận Đức Hồng Y Mẫn kêu gọi sự trở về với “Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa...”

Bản văn đề cập đến lá cờ vàng của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn nghe thoáng thì xuôi nhưng tuy nhiên khó thuyết phục người đọc có suy nghĩ.

Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã mâu thuẫn, qua ba đoạn chỉ cách nhau trên dưới 100 chữ! Đoạn trên ông viết “người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục...” Nhưng khi đề cập đến Ngày Giới Trẻ Thế Giới tổ chức tại Sydney là vùng trời tự do, là giang sơn của người Việt tự do hải ngoại, biết rằng mẹ Việt Nam của người Việt tự do sẽ mặc áo vàng (cờ vàng) thì Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn lại đưa ra sự e ngại, rằng vấn đề cờ vàng sẽ làm “tắt nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN,” để rồi đưa ra đề nghị kêu gọi sự trở về với “Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa...” (?!)

Mỗi dân tộc đều có biểu tượng tinh thần quốc gia riêng biệt. Biểu tượng tinh thần quốc gia của người Việt tự do hải ngoại là lá cờ vàng 3 sọc đỏ. Mục tiêu của tôn giáo là phục vụ xã hội, phục vụ dân tộc qua chức năng hướng dẫn tâm linh con người, hướng con người làm lành lánh dữ trên căn bản đạo lý dân tộc. Tôn giáo tại Việt Nam vì thế luôn luôn gắn bó với quyền lợi đất nước và đứng dưới quyền lợi dân tộc. Trong giòng lịch sử, tôn giáo Việt Nam luôn đóng vai trò hướng dẫn niềm tin cho con người, đưa con người đến đạo đức, và vì yêu thương dân tộc mà tranh đấu cho hạnh phúc giống nòi. Chính vì thế tôn giáo đã bị cộng sản Việt Nam theo chủ nghĩa quốc tế vô sản đại đồng xem là kẻ đại thù cần phải tiêu diệt. Trên căn bản này Cộng Sản Việt Nam đã ra tay sát hại, trấn áp các vị lãnh đạo tinh thần đức cao phẩm trọng, những vị mà cộng sản Việt Nam xem là nguy hiểm cho chủ trương toàn trị ngu dân của chúng. Trường hợp đức Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa Hảo, đức tổng giám mục Nguyễn Kim Điền trước đây, và đức Tăng thống Thích Huyền Quang, đại lão hoà thượng Thích Quảng Độ hiện nay, vân vân, là những thí dụ điển hình cho sự tàn bạo này của cộng sản Việt Nam.

Tóm gọn, nếu bản chất của tôn giáo là hướng thượng, đưa con người đến lẽ phải tránh xa sự trái, phục vụ cho lợi ích tinh thần cho xã hội, cho dân tộc, thì sự kêu gọi trở về với “Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa...” của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong cố gắng vận động loại bỏ lá cờ vàng, biểu trưng của người Việt tự do tại hải ngoại, trong Ngày Giới Trẻ Thế Giới của cộng đồng Việt Nam tại Sydney, rõ ràng đã không giải thích được, vì không có tính khách quan, mà ngược lại chỉ để phục vụ một thâm ý chính trị qua chiêu bài tôn giáo.

Thực thế, nếu Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn thật sự nghĩ rằng “người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục...” thì khi Ngài và các bạn trẻ Việt Nam trong nước đi sang Úc Châu tham dự ngày đại hội của giới trẻ công giáo, thì việc Mẹ Việt Nam của người Việt tự do, trên vùng đất tự do, Mẹ mặc áo vàng là đúng lý tình chứ cớ sao mà Ngài lại phải yêu cầu lấy đi biểu tượng của người Mẹ Việt Nam hải ngoại ? Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn có nghĩ rằng Ngài có thể nào đề nghị với Đức Hồng Y G. Pell, giáo dân Mỹ xin đừng treo cờ Mỹ trong lúc Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn và các bạn trẻ Việt Nam trong nước đến thăm nhà thờ Mỹ hay không?

Tóm lại người nước ngoài đến Việt Nam thì cần tôn trọng các luật lệ tập tục của Việt Nam. Khi đi ra hải ngoại người Việt trong nước cũng phải biết tôn trọng những biểu tượng và quan điểm chính trị xã hội của người Việt hải ngoại cũng như của người ngoại quốc nói chung. Vì thế dù tôn kính chức vụ hồng y đến mấy trong giáo quyền Vatican, người đọc lá thư của đức Hồng y Mẫn cũng không thể không có câu hỏi rằng có thực đây là quan điểm của một nhà lãnh đạo tôn giáo cấp cao hay chỉ là thông điệp chính trị khéo léo của một cán bộ tôn giáo vận vào hạng có bản lãnh?

Thụy Ái
Ngày 14 tháng 6 năm 2008


http://www.tamthucviet.com/articleview. ... c5%93G%1dZ
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Chống... Cộng "bát nháo"!
"Mày là thằng vô liêm sỉ..." "Chúng mày là đồ vô liêm sỉ..." Tôi và mấy người bạn vừa ra khỏi phòng hội báo Người-Việt sau trận bóng đá đầu ngày Thứ Hai, giữa hai đội Pháp và Romania vào lúc 10:45 sáng. Một nhóm 5, 6 người vừa đàn ông, đàn bà, phần lớn ở vào tuổi trên trung niên nhào ra giữa đường, tay xỉa xói vào mặt chúng tôi, cất những lời lỗ mãng thiếu văn hóa như trên.

Bản thân tôi cùng những người bị chửi ngay giữa ngoài đường phố sáng hôm nay đều là những cựu quân nhân quân lực VNCH đã có ít nhất trên 10 năm quân ngũ, và nhẹ nhất cũng trên 10 năm tù cải tạo lê lết, tả tơi suốt từ miền Nam ra tới miền Bắc... Khi tôi vừa ôn tồn tỏ tường với họ rằng: "Chúng tôi tới đây chỉ với mục đích giải trí trong tinh thần thể thao, chúng tôi đều là cựu quân nhân QLVNCH, và cũng đã phải trả cái món nợ tù nhiều năm khổ sai, đầy ải... Thù Cộng Sản không bao giờ cạn trong tim,óc chúng tôi.."., thì được họ chửi rằng:"Chúng mày tù nhiều năm cũng đều bị Cộng Sản hóa rồi".

Tôi thực sự ngỡ ngàng tới độ nóng mặt! Cái lối chụp mũ Cộng Sản lên đầu người ta một cách trâng tráo giống y như lũ Cộng Sản đỏ Hà-Nội đang chụp lên đầu những người đang ở trong nước đấu tranh đòi tự do, đòi công bằng, no ấm, gán cho họ là "bọn khủng bố".

Hai chữ tự do ở nước Mỹ này đã bị người ta lạm dụng. Hãy thận trọng! sử dụng vô ý thức sẽ tạo nên những hậu quả vô cùng bất lợi cho công cuộc đấu tranh chống Cộng ,có khi còn gây nên những phản tác dụng khó lường.

Trước 1975, khi quê hương ta đang trong lúc phải trải qua những giai đoạn xáo trộn chính trị gay go, những người Cộng-Sản ngụy hình sách động quần chúng xuống đường biểu tình rầm rộ như ông sư Thích Trí Quang, ni sư Huỳnh Liên, hoặc thân Cộng như Linh Mục Chân Tín, Linh Mục Phan Khắc Từ, các dân biểu như Lý Quí Chung, Ngô Công Ðức v.v... Khi đó chúng tôi đang ở trong ngành chiến tranh chính trị, một tổ chức của quân đội VNCH vừa đương đầu, vừa đánh phá những tên Cộng Sản nằm vùng sách động quần chúng chống lại ta, chúng tôi cũng không lỗ mãng gọi những nhân vật nêu trên là: "Thằng vô liêm sỉ..." Vậy thì những người đang đứng ở đầu đường kia, ngày hôm nay, dựa vào những thành tích gì của bản thân để mà biểu tình, chửi bới người khác với những lời lẽ thiếu văn hóa đó!!??

Lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam yêu thương của chúng ta, kỷ vật vô cùng quý giá cuối cùng còn lại trên đôi tay của cuộc đời những người Việt lưu vong này, chúng ta trân quý nó, chúng ta bảo trọng nó. Những kẻ nào đó, có ý đồ bất chính, sử dụng nó cho những thủ đoạn chính trị lưu manh của cá nhân hay đoàn thể đều phải bị lên án và loại trừ.

Biến cố xẩy ra trên tờ báo Xuân Người-Việt có lá cờ vàng ba sọc đỏ vẽ trên cái chậu rửa chân của người làm neo đã tạo nên những phẫn nộ chính đáng của chúng ta, của mọi người. Kẻ phá hoại tờ báo có thành tích chống Cộng trước sau như một này, đã bị loại trừ. "Ta không cố chấp người làm sai, ta chỉ chấp kẻ không chịu nhận mình sai". Không thấy mình sai thì không thể sửa sai. Tập đoàn báo Người-Việt đã nhận mình sai sót. Ðã công khai nhiều lần xin lỗi. Ðã can đảm thẳng thắn tạ tội với toàn thể những người Việt mất nước đang sống trong nỗi đau của mặc cảm lưu vong này. Cũng như với những người đã chết vì Cộng-Sản sát hại. Thái độ thẳng thắn, can đảm nhận lỗi như vậy chưa đủ sao?? Tư thù , hay nặng lòng cố chấp đây!?

Một con bé 32 tuổi đời, lớn lên từ miền Bắc, có cha là Cộng Sản chính hiệu, cho vẽ bức tranh đê hèn trên, chẳng lẽ lại có khả năng tạo nên như một hành động: "ném pháo vào chuồng ngựa, cho đám ngựa đá nhau loạn xạ hay sao!?" Rõ ràng là: "to đầu mà dại".

Ðã gần sáu tháng qua đi... Thời gian thật đáng quý. Làm sao người ta lại có thể phí phạm những ngày tháng ngắn ngủi còn lại của đời người đem mình ra ở những nơi đầu đường, xó chợ để mà chống đối, chửi bới, mạ lị lẫn nhau một cách tồi tệ, dai dẳng như vậy! Thật đáng trách.

Hình ảnh năm ông tướng bị người ta mang ra, dựng cái bàn thờ đơn sơ, tồi tệ ở đầu đường, xó chợ kia, dầm mưa, dãi nắng, đêm, ngày... trông thật là tội nghiệp, đau xót. Tôi là một quân nhân đã có những năm dài chiến đấu chống lại bọn Việt-Cộng ác ôn dưới quyền chỉ huy của những vị tướng kia, mỗi lần có dịp đi qua đó lại phải âm thầm, cúi đầu im lặng. Không dám có ý kiến. Mặt khác, theo thiển nghĩ của tôi, có lẽ thân nhân của những vị tướng đó, thấy người ta "mang" chồng, cha mình ra bêu ở đầu đường, xó chợ để lợi dụng như vậy, chắc cũng đau lòng lắm. Hãy trân trọng tôn kính những vị tướng ấy như mình đang tôn kính người quá cố trong gia đình của mình.

Những vị tướng kia, khi tuẫn tiết, đều đang ở trong phòng của tướng tư lệnh, có cờ súy, trang nghiêm, oai phong, dũng mãnh. Ngày hôm nay, ở trên nước Mỹ này, người ta đang lôi các ông ra ngoài đường bắt các ông hoan hô, đả đảo. Trông thê thảm quá. Hãy đưa các ông ra chỗ tượng đài chiến sĩ, hay trả các ông lại cho thân nhân của người ta.

Lá cờ, và bản thân tôi đã có những gắn bó trong suốt đoạn đường dài của cuộc đời lính... Tết Mậu Thân Mùa Hè đỏ lửa... Chính tay tôi đã phủ hàng ngàn lá cờ lên quan tài của các chiến hữu tôi tại nghĩa trang quân đội ở Biên-Hòa. Ðồng thời an ủi, ủy lạo thân nhân của các tử si đó... Rồi đại nạn 30 Tháng Tư 1975, vào tù... Năm đầu 1976, khi bị giam ở Long-Giao, ngày quân lực 19 Tháng Sáu, tôi đã nhặt được một chai bia quân tiếp vụ có lá cờ của ta, đem dấu trong bụi cỏ, sau đó, âm thầm cho các chiến hữu biết. Mọi người đã bảo nhau. Cả ngày hôm đó, ai nấy cũng đi qua, lén lút chào cái "chai" đó. Rồi ngày 29 Tháng Sáu 1976 trên bến Hạ-Lý (Hải-Phòng) miền Bắc, trước mặt chúng tôi, (những tù bại binh biệt xứ) một tên bộ đội, sau khi dựng chiếc vespa mầu xanh dương, vừa ăn cướp được từ miền Nam, chậm rãi, mở cốp xe, lấy ra một lá cờ vàng ba sọc đỏ, từ từ, hắn lau xe, hắn lau khắp "thân thể" cái xe... Cuối cùng khi tới cái yên xe, hắn quay mặt nhìn chúng tôi cười đểu. Hình ảnh, và hành động hèn hạ của tên bộ đội đó đã làm uất nghẹn cổ họng tôi, nhức nhối tim, óc tôi trong suốt những năm qua.

Tôi đã gắn bó với lá cờ này không phải chỉ trong thời gian ở quân ngũ. Tên quản giáo trại giam đã buộc tội tôi rằng: "Thời gian làm thầy giáo dạy học tôi cũng có tội với Cách-Mạng! Vì sao? Vì mỗi buổi sáng tôi cho học trò chào cờ, hành động đó, chính là tôi đã nhồi vào đầu óc ngây thơ của chúng trân trọng, tôn kính lá cờ "phản động," xây lòng yêu nước trong chúng, chống lại Cách- Mạng. À, thì ra vậy! Tôi hãnh diện làm nghề thầy giáo đó...

Bây giờ đây, tại trung tâm Thủ-Ðô của người Việt tỵ nạn này, mọi người đã và đang kiên cường đấu tranh cho lá cờ thiết tha, tình tự, thân thương đó được tung bay trên khắp hầu hết các tiểu bang của Hoa-Kỳ, đồng thời cũng phải đương đầu với bọn Việt-Cộng nằm vùng liên tục đánh phá... Thế nhưng những khó khăn trên, những trở ngại này không là gì đáng kể, cái đáng phải quan tâm, phải lo ngại là vì cái ta, cái chấp ngã quá lớn, hay vì những tư thù, hoặc danh lợi cá nhân mà: "Bôi mặt đấu đá lẫn nhau..." thì thật là vô cùng tai hại cho công cuộc chống Cộng gay go và trường kỳ của chúng ta. Lũ Việt-Cộng nằm vùng chỉ chầu chực có vậy.

Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu đã có câu nói để đời: "Ðừng nghe những gì CS nói, mà hãy xem những gì CS làm." Qua bức hình ông Ðỗ Ngọc Yến chụp chung với vài tên Việt-Cộng, theo thiển ý của tôi: "Ðừng tin tấm hình ông Yến đứng với Việt-Cộng, mà hãy tin những gì ông Yến chống Cộng trên báo Người-Việt của ông". Tôi thiển nghĩ ông Yến không cần phải trình báo với mọi người rằng: "Tôi đã đi gặp Việt-Cộng đây!!" Trong thời Ðệ Nhất Cộng-Hòa, Tổng Thống Diệm cũng đã có lần liên lạc với cáo Hồ về vấn đề thống nhất đất nước. Ngài đâu cần phải thông báo cho quốc dân!! Ở đây tôi không có ý so sánh ông Yến với Tổng Thống Diệm (xin đừng chụp mũ!) Hình ảnh không hẳn hoàn toàn là nội dung của một vấn đề. Tôi còn nhớ những ngày bị tên công an thành Hồ quản chế, ngoài mỗi đầu tháng phải trình diện hắn, thỉnh thoảng hắn tạt vào nhà tôi, vờ thăm hỏi, nhưng thực sự là để kiểm soát xem tôi có vắng nhà không, vậy nếu hắn chơi độc chụp chung với tôi vài tấm hình, sau đó thủ kỹ, chờ khi nào ở trên nước Mỹ này, nếu tôi ngo ngoe làm thủ lãnh một tổ chức đảng phái nào chống Cộng đòi tự do cho đất nước, chúng sẽ tung những tấm hình đó ra, chắc lúc đó tôi sẽ bị đám biểu tình kia phạng cho biêu đầu, sứt trán??

Trong công cuộc chống Cộng, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác. Thủ đoạn: "Trai, cò tranh nhau, ngư ông hưởng lợi" luôn là sách lược hàng đầu được bọn CS nằm vùng tận dụng. Tôi còn nhớ: Sau kinh nghiệm thảm bại Tết Mậu-Thân 1968. Trung tâm khai thác tài liệu hỗn hợp Việt, Mỹ đã bắt được một tập cương lĩnh chính trị của Việt-Cộng chỉ đạo cho cán binh của chúng như sau: "Mặc dầu lực lượng quân sự của chúng ta thừa sức đè bẹp đối phương, mặc dầu kinh tế của đối phương bị kiệt quệ, mặc dầu tình hình chính trị của đối phương có nhiều dối loạn; Chúng ta cũng chưa được phát động chiến dịch. Chỉ khi nào tự đối phương mâu thuẫn với nhau tới mức trầm trọng chính tự chúng không cho phép chúng tồn tại, lúc đó chúng ta mới tổng tấn công, tổng khởi nghĩa, cướp chính quyền." Thảm trạng trên chính đà xảy ra ở những ngày tháng cuối cùng của miền Nam Việt-Nam. Nào là Linh Mục Thanh với những cáo trạng số 1, số 2, v.v. Ni sư Huỳnh-Liên và đám thày chùa ra đường ăn vạ. Mặt khác, một số tướng lãnh thì ngờ vực, đấu đá lẫn nhau. Rõ ràng lúc đó, nội tình miền Nam chia rẽ tới mức độ trầm trọng, vô phương cứu chữa.

Kể từ ngày tên Trần-Trường điên khùng treo ảnh cáo Hồ và cờ máu ở giữa thủ đô tỵ nạn này, sức mạnh tập trung chống Cộng của chúng ta như vũ bão, tưởng như làm đổ được núi, lấp được sông, khiến lũ CS Hà-Nội thất hồn, bạt vía. Nhưng đến nay thì sao!? Than ôi! Năm bè, bảy phái, chống đối, mạ lị, chửi bới lẫn nhau loạn cào cào, tới độ chóng mặt, không còn biết đâu là thật, là giả!!

Thế nào là "biểu tình tự phát??" Một cụm từ nghe thật lạ tai... Lèo tèo vài ba người cũng rủ nhau ra đường, cờ quạt hô hoán, điên cuồng chửi bới loạn xạ. Thật xấu hổ với những người Mỹ, những chủ nhà ở đất nước này.

Hôm nay, ở cái tuổi "thất thập cổ lai hy" này, tóc đã bạc, răng đã long, da đã nhăn, má đã lõm... cùng bạn bè xưa, đến đây, cái hội trường của báo Người-Việt này, với ý có được một ít phút giải trí, thư giãn, thì tôi lại bị người ta xỉ vả thậm tệ. Thật sự, tận đáy lòng mình, có ý vừa là giải trí, vừa là tỏ thái độ thông cảm, tội nghiệp với một cơ quan ngôn luận có tinh thần trách nhiệm đáng quý.

Trên đường về nhà, tôi cố gắng đẩy ra khỏi đầu mình ý nghĩ về những người mạ lỵ tôi ngày hôm nay là đang phá hoại sự đoàn kết chống Cộng. Phần cá nhân tôi: "Lạy Chúa, xin hãy tha tội cho họ, vì họ đã không ý thức được việc họ đang làm".

Bùi-Trọng-Nghĩa
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Trâu Chết Để Da



Người Việt Nam có câu "Trâu chết để da, người ta chết để tiếng". Làm chuyện tốt thì được tiếng thơm muôn đời. Làm chuyện xấu thì "trăm năm bia đá cũng mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Ngay như con trâu, sau khi chết, người ta lột da nó để lợp trống. Da tốt thì cái trống bền lâu, đánh lên kêu vang dội. Da xấu thì chỉ ít lâu tang trống bị rách,... đánh không kêu nữa.

Image

Võ Văn Kiệt: 1922-2008


Ông Võ Văn Kiệt vừa nằm xuống ở cái tuổi 86. Theo tiểu sử do đảng Cộng Sản Việt Nam cung cấp, thì ông đã "đi theo cách mạng" từ năm 16 tuổi và gia nhập đảng một năm sau đó. Với 69 năm tuổi đảng và trải qua bao biến cố, cùng 2 cuộc chiến tranh ác liệt, mà ông được chết già trên giường bệnh, thì quả là một điều hiếm thấy. Nói theo thuyết nhân quả thì "Phúc phần" nhà ông Kiệt khá lớn, và có thể do tích tụ từ cha, đời ông để lại. Nhưng, không biết kiếp này, phúc của ông có đủ dày, để dành cho con cháu hay cho kiếp sau của ông hay không ?


Cho đến nay, ngoại trừ tại 4 nước còn bị cộng sản cai trị là Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba, thì khắp khắp nơi trên thế giới người ta đều biết rằng, cộng sản đồng nghĩa với độc tài, với phi dân chủ, với tội ác, với khủng bố... Nạn nhân bị các chế độ cộng sản tàn sát đã lên đến cả trăm triệu người. Nhưng, theo truyền thống dân tộc Việt Nam, "nghĩa tử là nghĩa tận", và khác với đảng Cộng Sản Việt Nam, dân ta không gán ép cho tất cả những ai theo đảng cộng sản là tội ác và khủng bố. Vì vậy, tuy ông Võ Văn Kệt đã từng là nhân vật thuộc hàng chóp bu của đảng cộng sản Việt Nam, và đã từng làm thủ tướng, nhưng với một số tư tưởng tiến bộ, so với giới lãnh đạo đương thời; sự ra đi của ông Võ Văn Kiệt đã gây nhiều xúc động trong dân chúng, và số người tự nguyện đưa tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng khá đông đảo. Đây là một chỉ dấu cho thấy tấm da trâu này cũng dùng được.

Tuy rằng lịch sử sẽ là nơi phê phán tối hậu, nhưng với một khuôn mặt nổi tiếng như ông Võ Văn Kiệt, thì đương nhiên đã có những phê phán về con người của ông từ lúc sinh thời, cũng như ngay sau khi ông vừa nằm xuống. Bởi vậy, bênh cạnh những lời sáo rỗng muộn màng của đảng cộng sản Việt Nam, người ta đã thấy rất nhiều phẩm bình của dư luận về ông, trong lúc Hà Nội còn đang lúng túng, chưa biết loan báo cái chết của ông như thế nào.

Nhìn chung thì dư luận khen cũng lắm, mà chê cũng nhiều. Người ta ca tụng ông Võ Văn Kiệt có công tiến hành "cuộc chuyển giao vĩ đại của một đất nước từ chiến tranh sang hòa bình, từ bao cấp sang đổi mới". Người ta gọi ông là nhà kiến trúc công trình "đổi mới". Là người đã can đảm đương đầu với đám lãnh đạo bảo thủ như Lê Đức Anh, Đỗ Mười... Người ta truyền tụng rằng, vào những năm sau năm 1975, ở cương vị là Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn, ông Kiệt đã dũng cảm, đi ngược lại chủ trương của Hà Nội, để cứu đói cho dân Sài Gòn; lúc đó đang cùng cả nước bị thiếu đói vì những chính sách sai lầm của đảng cộng sản Việt Nam. Báo chí ngoại quốc đề cao ông Kiệt khi ở vị trí thủ tướng đã đưa Việt nam ra khỏi cơn khủng hoảng tài chính, đã khuyến khuyến khích các xí nghiệp tư nhân làm ăn. Đặc biệt là việc ông đưa Việt Nam gia nhập khối ASEAN, vận động Hoa Kỳ bỏ cấm vận và mở bang giao với Hoa Thịnh Đốn. Cùng lúc kêu gọi các doanh nhân nước ngoài vào đầu tư vào Việt Nam. Ông Kiệt được đánh giá là vị thủ tướng năng động hơn hẳn những người tiền nhiệm của ông. Ông cũng được coi là một trường hợp hiếm có trong các nhà lãnh đạo cao cấp, dám tuyên bố công khai chống những sai lầm của hệ thống cộng sản....

Image

Với dư luận Việt Nam, thì bên cạnh những lời khen tương tự, cũng không thiếu những chỉ trích dành cho ông Kiệt. Điểm đặc biệt là, sự phê bình này không chỉ đến từ những thành phần vốn dĩ không ưa cộng sản, mà hầu hết lại đến từ các diễn đàn của giới trẻ có học ở trong nước. Tuổi trẻ Việt Nam rất sòng phẳng, họ kính cẩn nghiêng mình trước sự ra đi của một bậc lão thành cách mạng; nhưng đối với họ, công, tội phải rạch ròi. Tuy ông Võ Văn Kiệt có một số công lao nhất định trong thời kỳ đổi mới, nhưng thực ra đó chỉ là xu thế mà ông buộc phải chạy theo, chứ chẳng phải sáng kiến tài tình nào của ông. Bởi vì ,sau khi khối xã hội chủ nghĩa tan rã, để có thể tồn tại, cộng Sản Việt Nam không còn lựa chọn nào khác là phải chuyển hướng. Ông Kiệt cầm quyền ngay vào giai đoạn đó, nên phải nương theo. Cùng lúc đó, ông phải thủ thế, không dám thẳng thắn như ông Trần Xuân Bách, hầu không bị chính cái cơ chế của đảng gạt ra ngoài. Người ta cũng nghi ngờ về thực tâm của ông trong những bài viết hay tuyên bố có tính cách tiến bộ trong những năm gần đây của ông. Bởi vì chính ông là tác giả của nghị định 31/CP, một nghị định vô cùng phản tiến bộ. Đến nỗi sau này, do áp lực của thế giới, chính đảng cộng sản phải huỷ bỏ nó. Trong khi ông Kiệt lại không hề đả động đến lỗi lầm cùng những tai tiếng do nghị định vừa kể của ông gây ra. Bên cạnh đó, tuy ông đưa lời kêu gọi hòa giải giữa những người ở hai chiến tuyến trước đây, nhưng những kêu gọi đó của ông vẫn không ra khỏi lề thói trịch thượng của kẻ thắng ban phát cho người bại, mà ông muốn kêu gọi hòa giải. Điểm quan trọng nhất được vạch ra là, với những hiệp định dâng đất nhượng biển của cộng sản Việt Nam cho Trung Quốc, rồì sự xâm lấn bờ cõi của nước đàn anh phương Bắc, và sự nhu nhược của Cộng Sản Việt Nam, ông Võ Văn Kiệt đã không hề có lời nào đả động đến sự nhục nhã này. Cuối cùng, mặc dù không bị chỉ trích trực tiếp về sự tham ô nhũng lạm, nhưng người ta cũng đặt nhiều nghi vấn về những tài sản và các cơ sở làm ăn khổng lồ do vợ con ông đứng tên.

Tóm lại, tuy đã có khá nhiều lời khen, tiếng chê đối với ông Võ Văn Kiệt được dư luận đề cập đến khi ông vừa nằm xuống; nhưng chắc chắn là chưa đủ để đánh giá chính xác về con người của ông. Hiện nay có thể còn nhiều điều liên quan đến ông vẫn đang bị Cộng Sản Việt Nam dấu nhẹm. Cũng như có những sự kiện không được đưa ra mổ xẻ tường tận vì sự tế nhị trong lúc tang chế . Nhưng rồi đây lịch sử sẽ vô cùng công bình đối với ông. Và đến lúc đó người ta sẽ biết cái trống lợp bằng miếng da trâu này bền được bao lâu?

Trần Đức Tường
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 8 guests