Thời Sự, Bình Luân

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Quốc hội Việt Nam có thực sự đại diện cho người dân?

Có kẻ làm tay trong cho TQ đưa giàn khoan vào VN ?

Image
Các đại biểu trong một kỳ họp quốc hội
AFP
Quốc hội Việt Nam hôm nay kết thúc kỳ họp thứ 7 mà không có một nghị quyết về vấn đề giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc vẫn ngang nhiên hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Người dân nghĩ sao về điều đó và ý thức của họ đối với tình hình nguy biến của đất nước ra sao?

Nói về chủ quyền!

Truyền thông trong nước vào ngày 24 tháng 6 loan tin chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ bảy diễn ra hơn 1 tháng qua tại Hà Nội rằng ‘độc lập, chủ quyền quốc gia, hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không bị đe dọa nghiêm trọng’.

Ông Nguyễn Sinh Hùng cũng lặp lại những điều mà người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam từng lên tiếng nhiều lần đó là ‘hành động của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phàn của Việt Nam, vi phạm luật quốc tế , trước hết là Công ước của Liên hiệp Quốc về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về Ứng xử các bên ở Biển Đông-DOC, vi phạm thỏa thuận cấp cao giữa Việt Nam và Trung Quốc về nguyên tắc chỉ đạo giái quyết vấn đề trên Biển Đông, làm tổn hại sâu sắc đến tình hữu nghị, đoàn kết, láng giềng của nhân dân hai nước’

Tuy nhiên, Quốc hội lần này không ra một nghị quyết về tình hỉnh Biển Đông hiện nay như phát biểu của ông phó chủ tịch Uông Chu Lưu phát biểu vào chiều trước khi quốc hội bế mạc kỳ họp khóa 7.

Dân bất tín

Ngay tại Quốc hội, hồi ngày 19 tháng 6, một vị đại biểu từ thành phố Hồ Chí Minh là luật sư Trương Trọng Nghĩa lên tiếng là nếu lần này Quốc hội không có tuyên bố hay nghị quyết chính thức nào về Biển Đông, thì theo ông người dân sẽ thất vọng và hoang mang.


Một người quan tâm đến tình hình đất nước và hôm ngày 22 tháng 6 vừa qua đã một mình ra trước Bưu điện Thành phố Hồ Chí Minh biểu tình, giăng biểu ngữ yêu cầu chính phủ phải kiện Trung Quốc về hành vi xâm lược tại Biển Đông, anh Đinh Quang Tuyến, bày tỏ ý kiến sau khi biết tin Quốc hội trong kỳ họp này không có nghị quyết về Biển Đông:

Nói thẳng ra, Quốc hội ( Việt Nam) không thực sự là quốc hội đâu; mặc dù lý thuyết là như vậy nhưng không phải lòng dân. Trong cơ chế này thì đó là sự ‘giàn xếp’ với nhau thôi. Quốc hội này không mang tính chính danh. Nhưng thôi thì, ‘sự đã rồi’ thì mình tạm thời chấp nhận. Chính danh hay không, thì cũng đã là quốc hội rồi thì phải thực thi nhiệm vụ tối thiếu. Khi nhận thức rõ ràng về chủ quyền, kể cả lãnh đạo cao nhất cũng thừa nhận rồi, thì dù với dân ( trong nước không chính danh), nhưng chính danh với thế giới thì hãy có trách nhiệm, nếu không làm thì tự biết là không xứng đáng.

Thực ra nếu quốc hội có thực quyền thì đã làm; nhưng quốc hội không có thực quyền vì lãnh đạo quốc hội và đa số thành viên đều là đảng viên. Mà đảng viên thì phải thề với đảng trước khi thề với đất nước nên các đại biểu quốc hội phải thực hiện lời thề của họ đối với đảng. Thế mới là cái tệ! Đảng chần chừ, không quyết thì quốc hội không quyết! Cấu trúc chính trị của Việt Nam trên thực tế là quốc hội dưới đảng.

Một vị trí thức tại Hà Nội là Kiến trúc sư Trần Thanh Vân cũng nói rõ sự bất tín nhiệm đối với Quốc hội Việt Nam hiện nay:

Tôi không tin quốc hội từ lâu rồi. Tôi xin lỗi và nghĩ rằng khi ‘đảng cử- dân bầu’, dân phải bầu theo đảng. Mà đảng là ai thì anh biết rồi, chuyện ấy ta không nên nói nhiều!

Ý thức người dân

Dù Quốc hội cũng như các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và chính phủ chỉ mới đưa ra những tuyên bố như lập trường về chủ quyền của Việt Nam không thay đổi, hay Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng để kiện Trung Quốc… mà chưa có những động thái rõ ràng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước, trước hành động xâm lược của Trung Quốc, những người dân như anh Đinh Quang Tuyến và kiến trúc sư Trần Thanh Vân đều cho rằng họ có sẵn hành động riêng của bản thân chứ không thể trông chờ vào chính quyền, quốc hội hay đảng Cộng sản Việt Nam.

Anh Đinh Quang Tuyến cho biết:

Người dân Việt Nam không còn ngây thơ, đến đứa con nít 5 tuổi cũng không còn tin, trông cậy vào chính phủ nữa, đều biết chính phủ mất uy tín rồi. Không ai ở không mà tin cậy vào chính phủ. Có điều người ta bây giờ tập trung sức lực để chống lại Trung Quốc đã, cho nên người dân bằng cách này hay cách khác họ sẽ lên tiếng, chứ không buông xuôi. Như tôi từng phát biểu, kể cả khi chính phủ đầu hàng, đảng đầu hàng, dân tộc này không bao giờ đầu hàng, không thể nào đầu hàng. Điều đó là chân lý! Người dân trong nước bằng cách này hay cách khác rồi họ sẽ làm. Hãy theo dõi.

Kiến trúc sư cũng thông tin về điều mà bà biết được đang loan truyền giữa những người dân với nhau:

Vừa qua chúng tôi có cuộc hội đàm nho nhỏ do giáo sư Nguyễn Khắc Mai, giám đốc Trung tâm Minh Triết Việt, tổ chức. Anh hùng quân đội Lê Mã Lương đến và có nói rằng hiện nay có 4 triệu cựu chiến binh sẵn sảng xông ra mặt trận bất cứ lúc nào, và quân đội sẽ theo họ chứ không theo ông Phùng Quang Thanh. Tôi nói rằng dân mạnh lắm. Trong nước nói thì nghe buồn cười, nhưng dân mạnh lắm, càng ngày càng mạnh. Nếu như 7 năm trước, cô Đoan Trang chỉ viết vài dòng đến Hoàng Sa, Trường Sa trên VietnamNet, bài bị gỡ xuống và VietnamNet bị phạt 30 triệu đồng. Hôm nay, người ta nói; vậy là bây giờ dân không nói nữa mà dân làm. Tôi rất tin. Tôi đã gặp anh hùng Lê Mã Lương. Anh ấy đã 64 tuổi và đã về hưu. Những vị tướng như thế trong quân đội rất nhiều và họ xông ra bất cứ doanh trại nào thì người ta theo và lính tráng sẵn sàng nghe họ, vì họ mới thực sự là anh em chỉ huy lính hiện nay.

‘Họ’ (Nhà nước) không dám hành động thì mình hành động. Bằng cách gì? Sẵn sàng, thế thôi.

Các tướng tá, các sĩ quan, cựu chiến binh sẵn sàng ba lô lên đường bất cứ lúc nào. Vì họ mới là lực lượng thực sự chiến đấu để bảo vệ tổ quốc.

Vừa qua, lính bị trói tay, trói chân lại để cho ‘họ’ ( Trung Quốc) giết, nhưng sẽ đến lúc ( có một vài vị cựu chiến binh tuyên bố) vùng lên không để bị chết nữa. Không có những trận Gạc Ma năm 88 tái diễn nữa đâu.

Các anh ở xa không làm được đã đành; chúng tôi ở gần biết chuyện và thông báo đến các anh.

Truyền thông trong nước trích dẫn tin từ Cục Kiểm Ngư của Việt Nam cho biết vào ngày 23 tháng 6, tàu Kiểm ngư KN-951 của Việt Nam bị hai tàu kéo Hữu Liên 09 và Tân Hải 285 đâm thẳng vào mạn phải và mạn trái.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, thuộc trường Đại học News South Wales, có bài viết nêu ra câu hỏi ‘Cả tháng nay chưa thấy các vị lãnh đạo ( Việt Nam) có chiến lược gì để giảm va chạm. Nhưng chẳng lẽ Việt Nam cứ chịu nhục hoài hay sao, chịu nhục đến bao giờ?’
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Bàn về sự phá sản toàn diện của chính sách ngoại giao của Hà Nội


Nguyễn Hưng Quốc
Gần hai tháng nay, không có ai ít nhiều quan tâm đến Việt Nam mà không tự hỏi: Việt Nam đối phó với hành động lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc như thế nào? Về phía Trung Quốc, hầu như mọi người đều biết họ muốn gì. Và thật ra thì họ cũng không hề giấu giếm ý đồ của họ: Chiếm toàn bộ Biển Đông (bao gồm cả Trường Sa, dĩ nhiên!) Còn phía Việt Nam? Không ai biết gì cả. Tất cả các nhà lãnh đạo đều im lặng, hoặc nếu mở miệng thì chỉ nói những điều chung chung, vô thưởng vô phạt, ra vẻ đầy quyết tâm nhưng lại không chỉ ra, hoặc gợi lên, một chiến thuật nào cả.


Trở lại với câu hỏi trên, Việt Nam sẽ đối phó với Trung Quốc như thế nào?

Có hai cách trả lời: tiêu cực và tích cực.

Tiêu cực, như những gì chúng ta thường thấy nhan nhản trên các mạng lưới xã hội, từ blog đến facebook, nhiều người cho rằng Ciệt Nam đã bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc rồi; hoặc nếu không phải bán đứng thì cũng, ít nhất, một số khá đông ủy viên trong Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương đảng chủ trương nhượng bộ, để Trung Quốc tha hồ làm chủ trên Biển Đông. Theo cách nhìn này thì những lời phát biểu này nọ hoặc việc đưa tàu hải giám hay tàu đánh cá ra chạy lòng vòng giàn khoan HD-981 chỉ là một vở kịch nhằm đánh lừa dân chúng để không ai quá phẫn nộ có thể đổ xuống đường biểu tình chống lại họ. Nói cách khác, theo cách nhìn này, “mặt trận” chính mà chính quyền Việt Nam muốn đối phó không phải là Trung Quốc mà chính là dân chúng Việt Nam.

Khả năng trên không phải không có. Có nhiều bằng chứng: Một, từ lịch sử, họ đã từng làm vậy qua công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958; hai, qua cách họ hành xử với Trung Quốc kể từ sau hội nghị Thành Đô năm 1990; ba, qua sự lúng túng của họ trong cuộc đối đầu với Trung Quốc trong mấy tháng vừa qua. Không thể nói sự kiện Trung Quốc mang giàn khoan HD-981 đến Biển Đông là bất ngờ được. Làm chính trị, không thể không biết trước những việc đơn giản như vậy. Không biết là ngu. Nhưng nếu biết trước mà không chuẩn bị gì cả, thậm chí, không thống nhất được ý kiến trong một nhúm 14 người trong Bộ Chính trị là sao?

Nhưng thôi, ở đây, tôi xin nhìn vấn đề theo hướng tích cực, là, chính quyền Việt Nam, một, thực tâm muốn chống lại Trung Quốc; hai, đang toan tính một chiến thuật gì đó để bảo vệ Trường Sa và Biển Đông. Nếu vậy, chiến thuật của họ là gì?

Theo tôi, có hai chiến thuật chính: Câu giờ và bêu xấu Trung Quốc.

Họ ra lệnh cho các tài hải giám, hải ngư và tàu đánh cá tư nhân Việt Nam ra chạy lòng vòng chung quanh giàn khoan HD-981 nhưng không đối đầu để tránh leo thang xung đột. Họ chạy lòng vòng như vậy để chứng tỏ với dân chúng trong nước là họ cương quyết bảo vệ lãnh hải Việt Nam nhưng đồng thời cũng để tàu Trung Quốc húc vài chiếc chìm để… quay phim.

Vâng, để quay phim. Mới đây, trên các cơ quan truyền thông Tây phương đã xuất hiện một số hình ảnh tàu Trung Quốc xịt nước vào tàu Việt Nam, đâm sầm vào một số tàu Việt Nam, làm hư hại nhiều tàu đánh cá Việt Nam… Những bức ảnh và những thước phim ấy đều do phóng viên ngoại quốc thực hiện. Việc mời gọi phóng viên chụp ảnh và quay phim để công bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng quốc tế như vậy có hai mục đích: Một, để cả thế giới thấy sự xâm lược hung hãn và tàn bạo của Trung Quốc, từ đó, càng thêm ghét và sợ Trung Quốc. Hai, để thế giới thấy Việt Nam, tuy nhỏ và yếu, nhưng vẫn nhất định không chấp nhận việc Trung Quốc làm bá chủ trên Biển Đông. Vì ghét và sợ Trung Quốc nên càng cảm thấy có nhu cầu đoàn kết với nhau để chống lại Trung Quốc. Vì thấy Việt Nam có quyết tâm nhưng yếu ớt nên càng cảm thấy có nhu cầu ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam.

Nhớ, sau năm 1975, khi Khmer Đỏ quấy nhiễu ở biên giới phía Tây, Việt Nam cũng thực hiện chiến thuật ấy. Trong suốt mấy năm, từ cuối năm 1975 đến năm 1978, Khmer Đỏ nhiều lần xua quân tràn qua biên giới bắn giết đồng bào Việt Nam, chính quyền chỉ la làng chứ không có phản ứng gì quyết liệt cả. Nếu lúc ấy, chính quyền quyết định phản công, họ có thể làm được một cách dễ dàng. Nhưng họ không làm. Chủ yếu để chứng minh cho thế giới thấy họ là nạn nhân, và khi họ tràn quân sang chiếm Campuchia, thế giới cũng dễ dàng thông cảm: Đó chỉ là một phản ứng tự vệ. Một việc chẳng đặng đừng.

Lần ấy, Việt Nam không thành công trong nỗ lực tuyên truyền của mình cho nên khi Việt Nam chiếm Campuchia, các nước Tây phương vẫn đồng loạt kết tội là Việt Nam xâm lược và càng gia tăng mức độ cấm vận đối với Việt Nam. Tôi nhớ, trong một bài viết sau chuyến thăm Việt Nam năm 1980, khi nhắc đến phong trào vượt biên, Gabriel García Márquez cũng cho Việt Nam hoàn toàn thất bại trên mặt trận tuyên truyền đối ngoại.

Lần này, Việt Nam có nhiều lợi điểm hơn. Thứ nhất, hiện nay trên thế giới đang có rất nhiều người ghét Trung Quốc và cũng sợ sự phát triển của Trung Quốc. Âm mưu bành trướng của Trung Quốc đã quá rõ ràng. Hơn nữa, kẻ thù của Trung Quốc cũng rất nhiều. Ngoài Việt Nam, ít nhất Nhật Bản và Philippines cũng là đối tượng để Trung Quốc giành giật và uy hiếp. Thứ hai, Việt Nam hiện nay, tuy bị phê phán nhiều nhưng quan hệ với các nước trên thế giới tương đối tốt đẹp. Mọi người đều thấy Việt Nam chỉ nguy hiểm đối với chính đồng bào của họ nhưng không hề nguy hiểm đối với bất cứ một nước nào khác. Với hai lý do này, việc Việt Nam thành công trong nỗ lực tuyên truyền của họ không có gì khó hiểu.

Nhưng đó chỉ là một thành công nhỏ. Cuộc tranh chấp với Trung Quốc hiện nay rất phức tạp, bao gồm nhiều bình diện khác nhau: tuyên truyền, pháp lý, ngoại giao và, ở trường hợp xấu nhất, ít người mong muốn nhất, quân sự. Việc đóng vai trò nạn nhân để tranh thủ sự đồng tình của thế giới chỉ thuộc bình diện tuyên truyền. Giả dụ chiến dịch tuyên truyền ấy thành công thì, sau khi tranh thủ được sự ủng hộ của thế giới, Việt Nam sẽ làm gì nữa?

Ở đây có hai vấn đề:

Thứ nhất, nên lưu ý là Việt Nam không có nhiều thì giờ để làm một cái gì đó. Đến giữa tháng 8, khi Trung Quốc rút giàn khoan HD-981 về nước theo kế hoạch dự trù một cách yên ổn, họ đã thành công trong việc chứng tỏ với thế giới là Biển Đông thuộc về họ, nơi họ muốn đến lúc nào thì đến, muốn đi lúc nào thì đi. Việc bất động của Việt Nam cũng được xem là một sự xác nhận điều đó: Họ không hề phản đối.


Thứ hai, việc tranh thủ sự đồng cảm của thế giới chỉ là bước đầu và không hứa hẹn bất cứ một sự hậu thuẫn nào cả. Xin lưu ý: Ukraine được cả thế giới, đặc biệt Mỹ và Cộng đồng châu Âu, thương cảm và ủng hộ nhưng điều đó không hề ngăn chận được bàn tay tham lam, xảo quyệt và tàn bạo của Putin.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

'Cần Cả Một Thế Giới' hay trường hợp Ðỗ Thị Minh Hạnh

Tâm Việt

Ðã không ít người khóc khi được tin Ðỗ Thị Minh Hạnh được CS thả ra hôm 26 tháng 6 vừa qua. Ca Dao ở Pháp cũng khóc, chị Hương ở Houston, TX, cũng khóc, và Chương trình Văn hóa Nhân bản Lạc Việt phỏng vấn một số người ở California, cũng có người như Nguyên Dung khóc.

Mà không khóc sao được! Ta hãy nghe Ca Dao nói về trường hợp gặp Hạnh với [Nguyễn Hoàng Quốc] Hùng như thế nào: “Năm 2009, khi tiếp xúc với công nhân bên Mã Lai, tôi thấy họ tội nghiệp quá, ngây thơ quá, họ như thân nhộng phơi mình trước nỗi bất công của xã hội, giữa đàn áp của bọn chủ ác ôn. Và gặp Hạnh với Hùng. Cô cho tôi xem những tấm hình cô và Hùng lên tận Bauxit Tây Nguyên chụp về, cô kể về những buổi tối đi gặp dân oan... Sự nhiệt tình và lòng thương người của cô bé ấy đã làm tôi xấu hổ. Tôi sống an nhiên trong cái tháp ngà của mình trong khi quê hương còn bao nỗi!!! Kể từ đó, tôi quyết định ở lại với Lao Ðộng Việt.”

Thế rồi Ðỗ Thị Minh Hạnh, cô bé 25 tuổi, trở về VN lao mình vào Phong Trào Lao Ðộng Việt, làm việc với công nhân VN để tạo được một cuộc đình công thuộc hàng lớn nhất ở VN, tới 10 nghìn người ở hãng giầy Mỹ Phong, Trà Vinh, đòi được một số quyền lợi như tăng lương và cải tiến các điều kiện làm việc. Nhưng rồi Hạnh và Hùng và Ðoàn Huy Chương đã phải trả giá cho sự thành công của mình: sau khi bị bắt, Hùng đã lãnh án 9 năm tù giam, Chương và Hạnh mỗi người 7 năm.

Cả thế giới lên tiếng

Chính quyền CS tưởng đã bẻ gẫy được ý chí của Hạnh. Ra tòa, Hạnh không chỉ hiên ngang, khi tòa tuyên án, Hạnh đã cất tiếng hát và nói: “Ðể em hát cho hai anh nghe!” Vào tù, bị đưa vào sống chung với những người tù hình sự có bệnh HIV-AIDS và dù bị quản giáo xúi giục những người kia đánh Hạnh, Hạnh vẫn một lòng rộng lượng chia xẻ cơm quà cho họ, và tuy nhỏ người Hạnh vẫn tìm cách bảo bọc cho bà Mai Thị Dung, một tín đồ Hòa Hảo bất khuất. Chuyện về Hạnh, kể không hết được. Vì được những bạn tù khác thương yêu, Hạnh đã viết được một bức thư dài trên 10 trang gửi về cho ba Hạnh kể hết những chuyện gì đã xảy ra cho Hạnh. Khi Hạnh từ chối lao động cưỡng bức (bóc hột điều để phải phỏng các ngón tay), Hạnh bị chúng đánh đến điếc một bên tai. Khi Hạnh thấy có u ở ngực, các quản giáo cũng không cho Hạnh đi khám bác sĩ. Những chuyện xảy ra cho Hạnh biến người mẹ hiền lành, sợ sệt là bà Trần thị Ngọc Minh, trở thành một con hổ dữ, một con hùm mẹ quyết trốn khỏi VN để đi khắp thế giới cầu cứu cho con. Sau khi được Ba Lan cung cấp giấy tờ tỵ nạn, bà đã sang Mỹ, Canada, Úc Châu, Ðức, đến đâu bà cũng không ngần ngại ra trước Quốc Hội các nước nói lên tiếng nói bênh vực cho Chương Hùng Hạnh.

Và kết quả thì như ta đã thấy, theo blog của Phạm Chí Dũng ở Sài Gòn: “Ðược biết hồ sơ Ðỗ Thị Minh Hạnh được nêu ra trong quá trình thương thuyết gia nhập Hiệp Ðịnh Xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Ðỗ Thị Minh Hạnh được biết tới như một nhà đấu tranh bảo vệ quyền lợi của người công nhân tại Việt Nam. Cô bị bắt năm 2010, khi đó mới 25 tuổi, với cáo buộc ‘xúi giục’ công nhân của một công ty giày da tỉnh Trà Vinh tổ chức đình công. Cô bị xử 7 năm tù giam với tội danh ‘phá rối an ninh trật tự nhằm chống lại chính quyền nhân dân’ theo điều 89 Bộ luật Hình sự, vì đã rải truyền đơn kích động công nhân biểu tình, đình công.

“Ðây là một điều đáng mỉa mai, vì Ðảng CSVN - đại diện trung thành cho lợi ích của giai cấp lao động - là người người bắt giữ Ðỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Ðoàn Huy Chương. Trong khi chính phủ Hoa Kỳ, đại diện cho chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản bóc lột người lao động, lại là người can thiệp để Việt Nam phải trả tự do cho Hạnh và đòi hỏi một hệ thống công đoàn thực sự độc lập và thực sự vì quyền lợi của người công nhân được thiết lập ở Việt Nam.

“Trong 4 năm bị giam cầm, Hạnh vẫn tiếp tục đấu tranh phản kháng sự áp bức bóc lột sức lao động của các tù nhân từ công an trại giam. Vì lý do này cô đã bị đối xử tàn tệ, bị đánh đập và chuyển trại ra miền Bắc - xa gia đình, rất khó khăn cho việc thăm nuôi. Sức khỏe của Hạnh cũng suy yếu nhiều, dù năm nay cô mới 29 tuổi.

“Hai tuần trước đã có tin Hạnh sẽ được trả tự do, nhưng cuối cùng điều đó đã không thành sự thật vì Hạnh từ chối ký giấy tờ cơ quan công an ép cô ký. Chúng tôi mong rằng lần này Hạnh sẽ được trả tự do thực sự, và xin gửi lời chúc mừng tới Hạnh và gia đình!

“Không còn là tin đồn nữa. Khi chính một nữ cựu tù nhân lương tâm còn trong vòng quản chế như Phạm Thanh Nghiên nghẹn ngào cho tôi biết, và chính anh Ðỗ Ty - cha của Hạnh - xác nhận qua điện thoại, thì mọi ngờ vực đều tan biến.

“Chiều muộn ngày 27 tháng 6, 2014, Ðỗ Thị Minh Hạnh - cánh chim báo bão những năm về trước đã làm cộng đồng dân chủ trong nước và hải ngoại tràn ngập một niềm vui khó tả: cô vừa được tự do!

“Hạnh đang trên đường về nhà!”

“Hầu tương tự như trường hợp của “người tù xuyên thế kỷ” Nguyễn Hữu Cầu, những tin tức đầu tiên về việc Minh Hạnh có thể được “cho về” đã xuất hiện cách thời điểm trả tự do khoảng một tháng. Và trong khoảng thời gian một tháng ấy, “họ cố ép tôi ký bản nhận tội, nhưng tôi nói rõ với họ là tôi không ký vì tôi không có tội gì hết!” - tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu thản nhiên thuật lại và còn ngâm nga bài thơ “Con Bò Kéo Xe” của ông.

“Cách đây chưa đầy một tuần, những thông tin từ gia đình Ðỗ Thị Minh Hạnh và người mẹ vận động không mệt mỏi cho cô như đã cảnh báo về ý đồ ‘giấy nhận tội’. Lẽ đương nhiên, ai cũng hiểu đó là quán tính của một chính thể chưa thể quen với quán tính bắt buộc phải thừa nhận sai lầm khi bắt người, nhất là khi người đó lại chỉ đấu tranh cho quyền lợi của công nhân Việt Nam chứ chẳng hề nhắm tới động cơ lật đổ chế độ hiện hành.

“Vào buổi sơ khai của phong trào đấu tranh công nhân, hành động chính quyền bắt ba người tranh đấu Ðỗ Thị Minh Hạnh, Ðoàn Huy Chương và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng cũng tràn sắt máu nguyên thủy. Không một ai được thanh minh, cũng chưa từng có một dấu hiệu thỏa hiệp nào của Nhà nước Việt Nam với nhu cầu công đoàn độc lập quá sức bức bối.”

Khác hẳn với giờ đây...

“Giờ đây, gần 1,000 cuộc đình công của công nhân diễn ra hàng năm tại nhiều vùng ở Việt Nam đã đủ chứng minh cho tính ‘ưu việt’ đến thế nào của Tổng Liên Ðoàn Lao Ðộng Việt Nam - một cơ quan công quyền nhưng trung gian để trực tiếp hưởng 2% trên tổng quỹ lương doanh nghiệp và cũng ăn vào công sức lao động của công nhân, một tổ chức “đại diện cho quyền lợi của công nhân” song đã chưa từng chấp nhận bất kỳ một cuộc đình công nào trên toàn quốc, ngược hẳn với mối giao hảo chung chịu của họ với giới chủ doanh nghiệp.

“Giờ đây và khác hẳn với thời kỳ làn sóng công nhân tranh đấu bị đàn áp, chính thể cầm quyền ở Việt Nam đang phải dần chấp nhận đòi hỏi về định chế công đoàn độc lập do người Mỹ và phương Tây đặt lên bàn đàm phán Hiệp định TPP. Không phải vô cớ mà cũng vào tháng 6 này, hơn 150 dân biểu Quốc Hội Mỹ đã đồng gửi thư kiến nghị cho đại diện thương mại Hoa Kỳ về ‘không TPP nếu không có công đoàn độc lập’ và ‘Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho Ðỗ Thị Minh Hạnh’.

“Cũng không phải vô cớ mà kịch bản cánh chim báo bão Ðỗ Thị Minh Hạnh được trả tự do vô điều kiện không chỉ là niềm vui bất ngờ của cô và gia đình, mà còn khiến bật lên một tia hy vọng lớn lao hơn nhiều: đã có tín hiệu về một khả năng nào đó tổ chức công đoàn độc lập được chính quyền ‘thí điểm’ ở Việt Nam trong vài năm tới.

“Hãy khóc...”

“Nếu có thể nhớ lại, hãy nên so sánh những bước chân của Hạnh bần thần ra khỏi phòng giam với không khí òa vỡ của đám đông vào tháng 8, 2013, khi nữ sinh áo trắng Phương Uyên đột ngột được phóng thích ngay tại tòa Long An. Ðể sau tháng 8 ấy là một sự chuyển mùa dân chủ ở Việt Nam, nơi mà tiếng chim hót dân sự đã không còn bị vùi dập quá tàn nhẫn.

“Cánh chim báo bão Minh Hạnh hẳn cũng như vậy thôi. Phía trước không chỉ là bầu trời tự do với riêng cô, mà một chân trời mới đang hé rạng cho các tổ chức xã hội dân sự ở đất nước đầy cam go này, nơi mà mới đây 16 tổ chức dân sự đã tiếp bước Hạnh để ra một tuyên bố về sự cần kíp xây dựng tổ chức công đoàn độc lập cho 5 triệu công nhân Việt Nam.

“Hạnh hãy khóc đi, những giọt nước mắt xiết bao ơn nghĩa với Người Mẹ và Dân Tộc...”

Và cuối cùng, để kết, chúng tôi xin cho in lại như một thứ phụ lục bản Thông Cáo Báo Chí của Lao Ðộng Việt tổng kết tất cả những nỗ lực của người Việt hải ngoại trong thời gian Ðỗ Thị Minh Hạnh bị cầm tù, để thấy rằng chúng ta là một cộng đồng thật đoàn kết khi chúng ta có những gương sáng như Ðỗ Thị Minh Hạnh và Chương Hùng soi con đường đi tới của tuổi trẻ Việt Nam.

Ghi chú:

“Cần Cả Một Thế Giới” lấy ý từ câu “It takes a village to educate a child” (Cần cả một làng để dạy cho một em nhỏ), là một câu châm ngôn của người Trung Nam Mỹ. Ở đây, chúng tôi xin mượn hình ảnh này để nói rộng ra.
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Bạn trẻ ơi, hãy sống thật sung mãn
Ðoàn Thanh Liêm

Gần đây, tôi nhận thấy trên các ly đựng cà phê Starbucks người ta có in một số câu nói thật ngắn gọn của Oprah Winfrey là một người rất nổi danh với chương trình hội thoại trên truyền hình tại Mỹ từ vài ba chục năm gần đây. Ðiển hình như câu phát biểu sau đây của người nghệ sĩ tài ba này: “Cuộc sống của bạn thật to lớn. Hãy tiếp tục vươn tới” - Nguyên văn tiếng Anh: “Your life is big. Keep reaching.”

Câu nói này khiến tôi liên tưởng đến cái khẩu hiệu rất thông dụng trong giới trẻ trên thế giới từ ba bốn chục năm nay. Câu đó chỉ gồm có 4 chữ thế này: “Think Globally, Act Locally.” Xin tạm dịch dài dòng cho rõ nghĩa hơn: “Hãy suy nghĩ toàn cục, Hãy hành động tại địa phương.”

I- Thích nghi với hoàn cảnh mới của xã hội tiến bộ

Ngày nay với sự tiến bộ thần kỳ của khoa học kỹ thuật cũng như sự thịnh vượng về mặt kinh tế tại khắp nơi trên thế giới - và đặc biệt là sự bùng nổ thông tin và giao lưu giữa các dân tộc - thì hiện tượng toàn cầu hóa càng ngày càng mở rộng trên khắp các lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như chính trị. Trong một thế giới văn minh phát triển như thế, thì mỗi cá nhân riêng lẻ - cũng như mỗi tập thể dân tộc của một quốc gia - đều phải cố gắng học tập, suy nghĩ, tìm hiểu để mà theo kịp được với những sự chuyển biến lớn lao của xã hội. Như dân gian thường nói, “Mỗi khi nước nổi lên, thì con thuyền cũng phải dâng cao theo.” Ðó là một quy luật trong cuộc tranh đấu sống còn của thiên nhiên cũng như của cộng đồng nhân loại vậy.

Còn về mặt hành động, thì cũng phải thích nghi với hoàn cảnh thực tế tại mỗi địa phương với những đặc thù về văn hóa xã hội cũng như về kinh tế chính trị riêng biệt tại mỗi nơi, mỗi lúc. Cụ thể như tại nhiều nơi trên thế giới kể từ thập niên 1950, người ta thường phát động những chương trình hoạt động gọi là “Phát Triển Cộng Ðồng” (Community Development Projects) nhằm cải thiện môi trường sinh hoạt của từng địa phương. Ðó là những công tác cải tiến xã hội thực tiễn mà được thực hiện với sự tham gia tự nguyện và hăng say phấn khởi của chính người dân địa phương, ngay tại “hạ tầng cơ sở” nơi đó (at the grassroot).

Cũng tại các địa phương, thì thường xảy ra những bất công áp bức do người có quyền thế gây ra làm khổ cực cho người dân “thấp cổ bé miệng, thân cô thế cô.” Vì thế mà cần phải có những người trượng phu quân tử dám ra tay nghĩa hiệp để bênh đỡ cho những nạn nhân của bất công xã hội đó. Như cha ông ta xưa kia đã từng nhắc nhở trong câu, “Anh hùng thấy sự bất bình chẳng tha.” Và chính vì khía cạnh “Hành động nhằm bênh vực sự công bằng xã hội” này, mà tôi muốn khai triển chi tiết hơn trong mục sau đây.

II- Vai trò làm “đối trọng” của xã hội dân sự hiện nay

Như ta đã biết xã hội dân sự đóng hai vai trò chính yếu, đó là vừa làm “đối tác” và vừa làm “đối trọng” đối với Chính Quyền Nhà Nước (Counterpart/Counterbalance). Làm đối tác là cùng sát cánh với nhà nước trong loại công việc từ thiện nhân đạo, giáo dục thanh thiếu niên v.v..., như các hội hồng thập tự, hướng đạo, cứu trợ nạn nhân thiên tai bão lụt. Còn làm đối trọng là tranh đấu bênh vực những nạn nhân của bất công áp bức do cán bộ nhà nước gây ra, điển hình như bênh vực dân oan bị mất nhà mất đất, bảo vệ các nạn nhân bị công an cảnh sát đối xử tàn bạo, chà đạp nhân phẩm v.v...

Từ trên 60 năm nay, kể từ ngày Liên Hiệp Quốc công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền vào năm 1948, thì lần lượt tại khắp nơi trên thế giới đã phát sinh ra một phong trào tranh đấu cho phẩm giá và quyền con người. Cuộc tranh đấu này đã và đang diễn ra hết sức kiên cường sôi nổi nhằm bắt buộc giới cầm quyền cũng như giới tài phiệt tại từng quốc gia phải chấm dứt mọi hành động bất công áp bức đối với người dân sở tại. Và đặc biệt trong vòng 30 năm nay, nhờ sự phổ biến của Internet mà người dân tại nhiều quốc gia đã có thể trao đổi tin tức vừa mau lẹ vừa chính xác cho nhau - để rồi từ đó mà đưa ra những hành động hợp thời, hiệu quả nhằm bênh vực quyền lợi chính đáng của bà con đồng bào ruột thịt của mình.

Riêng ở nước Việt Nam chúng ta hiện nay, thì đang xuất hiện công khai các nhóm, các tổ chức tự phát mà có đủ cả ba tính chất “phi chính phủ,” “bất vụ lợi” và “tự nguyện” của xã hội dân sự nhằm đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản phải thực tâm tôn trọng những quyền tự do căn bản của mỗi người công dân - như đã được ghi rõ trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các văn bản liên hệ khác cũng do Liên Hiệp Quốc ban hành. Như vậy là cuộc tranh đấu của bà con chúng ta ở trong nước đã đi đúng hướng với phong trào toàn cầu để đòi hỏi mọi chính phủ phải thực thi những cam kết về Bảo Vệ Nhân Quyền từ lúc họ ký kết phê chuẩn các Công ước Quốc Tế về quyền chính trị và dân sự cũng như về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.

Cụ thể là gần đây, nhiều nhà tranh đấu nhân quyền từ Việt Nam đã có mặt tham gia tại các buổi điều trần công khai về nhân quyền do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ, hay do tổ chức Cộng Ðồng Âu Châu (EU = European Union) hoặc do chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ mở ra cho công chúng tham dự. Rõ rệt là những đại biểu đó đang cất lên tiếng nói thay cho những nạn nhân của bất công áp bức ở Việt Nam - mà họ luôn bị chính quyền cộng sản bịt miệng không cho phát biểu - điển hình là Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã bị công an công khai bịt miệng trước phiên tòa (Voice for the Voiceless in Vietnam).

Như vậy là cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại địa phương Việt Nam chúng ta hiện đang có được sự thông cảm, liên đới và sự tiếp tay yểm trợ của nhiều dân tộc trên thế giới vậy đó (Local Action with Global Solidarity and Support).

III- Tranh đấu vì “yêu thương trọn vẹn” đối với đồng bào ruột thịt thân yêu của mình

Vào năm 1995, lúc còn bị giam giữ tại trại Z30D ở Hàm Tân, Phan Thiết, tôi có làm một bài thơ song ngữ tiếng Việt và tiếng Anh nhan đề “Nói với bạn trẻ” - trong đó có mấy câu cuối như sau:

“...Hãy sống thật sung mãn
Bằng yêu thương trọn vẹn
Và tận hưởng
Sự an bình ngây ngất
Trong sâu thẳm nội tâm chúng ta.”

Tôi muốn đưa cụm từ ngữ “hãy yêu thương trọn vẹn” trong bài thơ này để góp thêm vào với cái khẩu hiệu “hãy suy nghĩ toàn cục, hãy hành động tại địa phương” đã ghi ở trên thành một khẩu hiệu có ba vế mà được viết ra tiếng Anh như sau: “Think Globally - Act Locally - Love Totally.”

Và tôi cũng muốn nói rõ hơn với các bạn trẻ rằng, ở vào đầu thế kỷ 21 này, phần đông trong chúng ta đang được hưởng thụ những thành quả tốt đẹp của sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, của nền kinh tế thịnh vượng và của sự thông cảm và liên đới quốc tế. Ðó là những phúc lộc do cha ông chúng ta trước đây và cũng do nhân loại tiến bộ ngày nay đã góp phần tạo dựng ra để cho tất cả chúng ta được sống trong bàu không khí nhân ái an hòa, thịnh vượng và tiến bộ của cộng đồng thế giới hiện nay.

Vì từ gần 70 năm qua, người cộng sản đã gieo rắc mối hận thù ân oán của chủ thuyết “đấu tranh giai cấp” với “chuyên chính vô sản” vào trong lòng dân tộc ta - khiến cho cái nọc độc bạo lực căm thù đó đã tàn phá đến tận cội rễ trong tâm hồn con người Việt Nam chúng ta, làm băng hoại tiêu diệt hết cái truyền thống nhân ái bao dung trong xã hội - mà phải biết bao nhiêu thế hệ vất vả cực nhọc cha ông ta mới gầy dựng nuôi dưỡng lên được. Do đó, mà tôi muốn kêu gọi các bạn trẻ hãy nghiêm túc nghe theo lời kêu gọi khuyên nhủ của cha ông chúng ta từ xa xưa - mà được gói ghém trong hai câu văn thật ngắn gọn như sau, “Ðem đại nghĩa thắng hung tàn. Lấy chí nhân thay cường bạo.”

Trong cuộc sống của con người thời nào và ở đâu cũng vậy - điều quý báu nhất là do nơi tấm lòng nhân ái yêu thương đùm bọc lẫn nhau, giúp đỡ nhau mỗi khi có ai gặp hoạn nạn, bị bóc lột chèn ép. Các bạn trẻ ngày nay được tiếp cận nhiều với thế giới văn minh tiến bộ, thì các bạn càng có nhiều khả năng, nhiều sáng kiến để mà đem ra giúp dân giúp nước đang bị cả hai thứ “thù trong, giặc ngoài” quấy phá.

Và chỉ khi nào mà - thông qua các hành động cụ thể tích cực - các bạn biết đem hết cái tình yêu thương trọn vẹn đó ra để san sẻ rộng rãi với đông đảo các bà con đang là những nạn nhân khốn khổ bất hạnh của cường quyền bạo lực - thì cuộc sống của các bạn mới thật sự sung mãn và có ý nghĩa cao đẹp tuyệt vời vậy.
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Cái ác


Nguyễn Thiên Ân

Người đời định nghĩa cộng sản
Cộng sản: là gian là dối ...
Xã hội chủ nghĩa: là thối là tha ...

(Nguyên Thạch, blog Dân Làm Báo)

LTS - Tòa soạn xin đăng tải nguyên văn bài viết dưới đây của cựu ký giả Thiên Ân về tập hồi ức “Thung Lũng Tử Thần: Hồi Ức Của Một Người Tù Cải Tạo” của cố ký giả Vũ Ánh. Buổi ra mắt tác phẩm “Thung Lũng Tử Thần” sẽ được tổ chức vào lúc 2 pm ngày 19 Tháng Bảy, tại Phòng Sinh Hoạt Người Việt.

***

Vài tuần trước, một người tự xưng là thuộc một đơn vị tình báo của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam công bố trên mạng một bản văn với đầy đủ hình ảnh ghi lại những vụ tàn sát dã man của lính Tàu nhắm vào các nữ tù binh Việt Nam trong trận chiến xâm lăng vùng biên giới. Người đọc bài và nhìn thấy những hình ảnh cho là nữ tù binh Việt Nam bị cắt xén các bộ phận sinh dục, lõa lồ phơi thây sau khi bị trục ra khỏi các quân y viện trên biên địa và bị hãm hiếp tập thể trước khi bị giết, đều không khỏi cảm thấy ghê rợn trong óc lẫn đau xót trong tim. Bài viết và những hình ảnh đó, nếu thật, cho thấy một thảm trạng mà có lẽ không ai còn chối cãi nổi, chứng minh thực chất tàn ác của những người cộng sản đối với những người được coi là các đồng chí cùng theo thánh Mác để xiển dương và thành đạt cuộc cách mạng nhắm đưa thế giới tiến lên chủ nghĩa xã hội đen.
Image
Poster buổi ra mắt sách “Thung Lũng Tử Thần: Hồi Ức Của Một Người Tù Cải Tạo” tại Nhật Báo Người Việt chiều 19 Tháng Bảy, 2014.
(Hình: Triết Trần/Người Việt)

Nhưng thật ra thì đấy không phải là lần đầu tiên người ta được biết tới tâm địa độc ác của người cộng sản. Người đọc lịch sử đã biết chuyện Lenin và Stalin sát hại đến cả 20 triệu dân Nga sau khi cuộc cách mạng Bolsheviks thắng lợi năm 1917; hay chuyện Mao Trạch Ðông sát hại đến cả 10 triệu dân Tàu ngay từ thời cộng sản Tàu còn lâm chiến với Quốc Dân Ðảng của Tưởng Giới Thạch cho tới sau khi Mao chiếm trọn Hoa Lục năm 1949 và thành lập nước cộng sản Tàu, được mỹ miều mệnh danh là Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc. Thậm chí ngay trên quê hương Việt Nam thì chính các đảng viên cộng sản cũng xác nhận cuộc cải cách ruộng đất được Hồ Chí Minh và đảng cộng sản của ông ta mang ra thi hành sau khi chiếm được nửa đất nước, đã giết, và giết oan, đến cả 200 ngàn người theo lệnh giết người đúng tỉ số do Mao chỉ thị.

Thành thử có thể nói rằng cái ác của người cộng sản đã là một sự thật đương nhiên, đối với người khác chủng tộc, đối với đồng bào mình, đối với đồng chí và ngay cả đối với anh em ruột thịt. Ðối tượng truy sát của người cộng sản không cứ phải là đối thủ (thí dụ như Leon Trotsky bên Nga) mà có thể là chiến hữu (thí dụ như Lâm Bưu bên Tàu hay Nguyễn Bình ở Việt Nam), bạn bè, anh chị em (thí dụ như Ðinh Ðức Thiện) nếu những người đó dám chống đối, hay ngay cả chỉ dám bất đồng với đám chóp bu cộng sản. Bởi thế, những hành động cực ác mà người cộng sản làm đối với những người bị họ coi là kẻ thù không còn là chuyện đáng ngạc nhiên. Nhất là khi đó lại là những kẻ cựu thù thuộc hàng ngũ “phe thua trận,” nghĩa là những người không còn một mảy may khả năng chống đối hay tự vệ nào. Ðây có lẽ là đại ý của 270 trang sách tóm lược 13 năm tù gọi là “cải tạo” của ký giả Vũ Ánh. Quyển “Thung Lũng Tử Thần: Hồi Ức Của Một Người Tù Cải Tạo” là tập hợp những bài báo của ký giả Vũ Ánh viết đăng trên nhật báo Người Việt trước khi anh từ giã gia đình và thân hữu đi về miền miên viễn hôm 14 tháng 3 năm 2014. Sách với khổ 15x23cm do các thân hữu của anh trong tờ Người Việt ấn hành và bán với giá 20 Mỹ kim, do vậy không phải là một tác phẩm dài, hay trường thiên, tỉ như “Một ngày trong đời của Ivan Denissovitch,” hay “Trại Ung Thư” hay “Quần Ðảo Ngục Tù” của Aleksandr Solzhenitsyn. Người đọc, nếu muốn, và nếu thấy hấp dẫn, có thể đọc liên tục và đọc trọn trong chỉ một ngày. Ðó chính là điều tôi đã làm.

Một chi tiết có thể bị trành tròn ở đây. Vì nghịch lý. Ấy là làm thế nào mà một quyển sách viết về tội ác lại có thể hấp dẫn? Tội ác; được điểm xuyết bằng bệnh tật, bằng xương thịt rã rời vì bị đòn vọt và cùm gông suốt đêm ngày, bằng nước mắt kết tụ do cả đau đớn nhọc nhằn lẫn hận thù dằn vặt và bằng xác chết của người tù lẫn đôi khi là của thân nhân họ. Những hình ảnh đó cố nhiên là dễ gây kinh tởm, khiến nhiều người đọc có thể thở dài lau nước mắt rồi gấp sách. Ấy là nếu tác phẩm không kèm theo những chi tiết, rất nhiều chi tiết, về tình người, tình chiến hữu, tư cách và nhân tính của người tù. Nói cho rõ hơn, đó là tư cách và nhân tính của chính tác giả Vũ Ánh và những bạn đồng tù của anh trong các nhà giam từ Nam ra Bắc, nhất là trong trại trừng giới khổ sai A-20 Xuân Phước. Những đoạn ngắn, chỉ chiếm một phần nhỏ nội dung quyển sách, đã mô tả tình người bàng bạc của các cựu quân nhân VNCH sa cơ, của các tu sĩ Phật Giáo lẫn Công Giáo và nhất là của người dân thường cũng thuộc “bên thua trận” ở miền Nam Việt Nam dành cho những người tù khốn khổ này. Hấp dẫn là bởi thế. Chớ còn mô tả cái ác và lòng tham của những kẻ thắng trận thì sách vở từ thập niên 1980 tới nay đã trần tình không thiếu. Các bài báo và sách loại này nhiều đến mức không thể ghi lại đầy đủ nếu không chịu khó ngồi kiểm điểm và liệt kê mọi tài liệu đã được in ấn từ 35 năm nay của các cựu tù nhân. Tuy nhiên đấy không phải là mục đích của một bài viết ngắn, tóm tắt vài ý nghĩ và, thế tất là thiếu sót của một người đọc.

Trước hết, xin hãy nói về cái ác. Con người - hơn nữa, lại là người cộng sản - thì đúng như Freud đã xác nhận, vốn có tính tàn ác, thích gây đau khổ cho đồng loại để thưởng thức nỗi đau của đối tượng nhằm thỏa mãn bản chất hung ác của chính họ. Thiếu Tá Vũ Mộng Long, TÐT/TÐ82BÐQ kể lại trong một bài của ông chuyện một bạn tù trốn trại chẳng may vướng lại bên hàng rào kẽm gai chỉ để bị một cán bộ cộng sản ngồi cách đó không xa, tay cầm AK cứ thỉnh thoảng lại nâng súng lên bắn nát từng khớp xương trên tấm thân người tù. Người cộng sản chiến thắng, đầy quyền lực, cứ ngồi đó thưởng thức nỗi đau kèm tiếng rên la của một người lính thua trận và rồi bỏ mặc nạn nhân chảy máu cho đến chết. Những ví dụ chứng minh cái ác của người cộng sản đối với các chiến binh sa cơ của miền Nam có lẽ không còn cần phải được đưa ra thêm nữa. Nhưng gần đây thì còn những hình ảnh mới xuất hiện, và ngày một nhiều, trên mạng, lại cho thấy bên thắng trận ác như thế nào đối với những người - và đây là các thường dân không hề mang một chút nợ máu nào đối với nhân dân - chỉ chẳng may đứng trong hàng ngũ khối dân miền Nam bị xâm lăng mà thôi.

Hình ảnh một cụ già 90 tuổi, cầm một tấm bảng cầu cứu sau khi được báo cho biết căn nhà vách tôn cụ đang ở đã bị cưỡng chế, không thể không gây chấn động trong lòng người xem. Cũng trong thời gian này, hình ảnh trọn một gia đình ở Thạnh Hóa thuộc tỉnh Long An vừa than khóc vừa lớn tiếng tố cáo tội ác của người đang là bí thư huyện ủy và đám “công an” nơi họ ở, hùng hổ kéo tới trục xuất họ ra khỏi nhà. Nhiều trường hợp tương tự cũng đã được phơi bày, bởi chính các lão bà lưng còm má hóp lẫn con cháu họ trong những cuộc biểu tình công khai của dân oan mất đất, mất nhà, mất ruộng, mất vườn, mất hết. Tất cả căn nguyên đưa tới thảm nạn có thể được tóm gọn trong chữ tham. Và từ tham mà dẫn tới cái ác vô biên và tuyệt đối của những kẻ có quyền năng tuyệt đối. Xin hãy đọc một chi tiết ác, nhẹ nhất đối với những người tù, ở trang 70 trong sách của nhà báo Vũ Ánh.

“ ... mọi thứ thực phẩm của những anh em có gia đình thăm nuôi mang lên từ Hàm Tân Z30C đều bị ném vào mấy chiếc cần xé lớn. Viên cán bộ trực trại ra lệnh cho tù hình sự mang xuống nhà bếp của tù nhân với lệnh 'Ngày mai đem nấu để phát cho trại viên ăn chung.' Và đúng như lời ông ta, nhà bếp của tù nhân phải bóp bụng tuân lệnh nấu một thứ thực phẩm chè không ra chè, cháo chẳng ra cháo. Mỗi người được phát một nửa tô bằng nhựa một loại thực phẩm loãng gồm cơm khô, bột, lẫn vào đó là những cọng mì ăn liền. Thực ra, bình thường người dễ tính nhất cũng khó ăn, nhưng tù cải tạo đã 4 năm đói khát triền miên chúng tôi cũng vui vẻ thưởng thức món ăn mà trong đời chúng tôi chưa bao giờ được thấy này ...”

Tôi đoán đám tù khi ăn cái món tả pí lù quái dị đó đã phải “nhăn mặt mỉm cười” và tôi cũng võ đoán Vũ Ánh khi viết đoạn này cũng phải mang nét mặt y như thế. Khác chăng chỉ là lúc phải ăn ở Xuân Phước thì bấm bụng ăn cho đỡ đói, vừa ăn vừa chửi thề; còn khi ngồi tả lại ở Mỹ thì nhăn mặt vì tưởng tượng tới cái bụng đau nhừ sau khi ăn và rồi mỉm cười ghi nhận hạnh phúc của một cựu tù đang sống ở Mỹ và được thưởng thức các món cao lương mỹ vị ở những nhà hàng vùng Nam California. Quí vị có thể tự hỏi, “Tù, có ăn là may rồi, còn nhăn mặt chửi thề chi nữa.” Quí vị nghĩ đúng nếu chưa đọc đoạn kế tiếp, để nhờ đó mà biết rằng trong mấy cái cần xé đựng thực phẩm tiếp tế của gia đình cho người tù, còn có cả những hũ thịt ram mặn, những gói lạp xưởng hay thịt muối kiểu Tàu được nấu theo tiểu táo (bếp nhỏ) dành cho trưởng phó trại và an ninh!!! Nên nhớ là từng ấy “cao lương mỹ vị” đã được mẹ và vợ con các tù nhân đưa tới trại sau nhiều ngày trèo đèo vượt suối, đánh đố với chính sinh mạng họ. Những món ăn đó là kết quả của bao nhiêu tháng năm hi sinh dành dụm chắt mót của họ ... rốt lại đã lọt vào bụng những kẻ đang hành hạ con, chồng và cha họ bên trong vòng rào. Thật không còn nỗi xót xa và đắng cay nào hơn cho người tù khi nghĩ tới người thân và khi nhìn thấy đám cán bộ cộng sản hể hả thưởng thức công lao mồ hôi nước mắt của thân nhân mình. Nhất là sau năm bảy năm dài mà trong đó người tù chỉ hàng ngày được hưởng chế độ hai muỗng cơm, hai muỗng nước và hai muỗng muối trong biệt giam. Ðây là một hình thức tra tấn mà tác giả cho là vượt xa Ðức Quốc Xã (đối với dân Do Thái thời Ðệ Nhị Thế Chiến). Bởi muối thật nhiều trong thực đơn chỉ nhắm duy nhất một mục đích là làm người tù khát rã họng suốt ngày đêm và thân thể họ mau bị phù thũng để chết lẹ hơn mà thôi. Ðám cai tù cộng sản rõ ràng là phải rất sung sướng khi chứng kiến kết quả của những hành động tra tấn tâm thần lẫn thân xác người tù do họ chủ động. Niềm vui sướng kỳ quặc đó có thể được coi là một hiện tượng tâm lý phổ quát của đa số cán bộ trông coi các trại trừng giới trên cả nước Việt Nam sau ngày 30 tháng 4, 1975 nếu nhìn vào bằng cớ trưng dẫn trong sách vở và các bài báo của những cựu tù may mắn sống sót.

Tôi nghĩ cái hay của ký giả Vũ Ánh, căn bản, nằm trong lối mô tả các thực kiện suốt 13 năm tù của anh, kể cả hơn 6 năm bị cùm trong xà lim, đôi khi cùm cả tay lẫn chân. Tất cả các bài viết trong sách, gồm tổng cộng 30 tiểu mục không kể lời tác giả mở đầu và kết thúc cuối sách, đều được viết một cách nhẹ nhàng đến bình thản - đôi khi còn có cả nét cợt cười - không ai oán, không than van và nhất là vắng cả những thù hận đúng ra phải có đối với những kẻ đã cướp mất một phần đời trai trẻ và đáng sống nhất, chưa kể thiếu chút nữa đã tước đi mạng sống, của anh. Người đọc quyển Hồi Ức của Vũ Ánh có cảm tưởng anh đã mô phỏng văn phong trong “Ðiên” của một bậc tiền bối đã ở tù cộng sản trước anh, đã gánh chịu những cơ cực chẳng thua gì anh và đã bị hạ nhục có khi còn hơn cả anh vì địa vị của ông trong chính quyền VNCH trước khi bị cộng sản cầm tù ngoài Bắc từ Tết Mậu Thân. Chỉ khác là tác giả Hoàng Liên (Nguyễn Văn Ðãi) ở tù ngắn hơn anh mà thôi.

Cụ Hoàng Liên, cũng như Vũ Ánh, đã bị cộng sản cầm tù; nhưng đã vượt khỏi ngưỡng chết để sống nốt quãng đời còn lại của mình. Tôi cho đó là một cái may do trời đất, tổ tiên và ý chí của chính họ hơn là do lòng nhân của những người đã bắt bớ, kìm kẹp và lưu đày họ trong tình trạng sống không ra sống mà chết chẳng được chết. Nghĩa là không hề do sự khoan hồng mà đám cán bộ cộng sản luôn miệng nhấn mạnh trước các tù nhân, coi đó là một đặc trưng của chế độ cộng sản. Trong một đoạn (trang 175, 176), ghi lại những đối đáp, có thể coi là một cuộc đấu trí, giữa Vũ Ánh và một cán bộ trung ương tới trại thẩm vấn anh, Ánh đã định nghĩa rất chính xác lượng khoan hồng đó bằng một hình ảnh tỷ giảo “ ... khoan hồng mà nhà nước nói như kiểu này thì thà các ông đưa chúng tôi ra ngoài đồng, cho mỗi đứa một viên đạn, như thế mới đúng là khoan hồng ....” Lập luận tương tự cũng đã được ông Huỳnh Cự, Trung Tá (VC) trước ngày hồi chánh, khi trả lời trưởng trại giam “lẽ ra đem tôi ra bắn ở cầu Bình Triệu thì mới là khoan hồng” khi y nói với ông rằng ông được sống cho tới lúc đó là nhờ nhà nước khoan hồng. Các thành phần chống cộng đã nói tới cảnh tắm máu nếu cộng sản chiếm được miền Nam. Cảnh đó đã không thực sự xảy ra như ở Kampuchea khi Khmer Ðỏ vào tới Phnom Pênh. Nhưng lừa bịp tất cả các quân nhân và công chức VNCH, bị gọi một cách miệt thị là bọn “ngụy,” vô tù để buộc họ lãnh một cái án vô hạn kỳ mà có khi đã kéo dài đến hơn 17 năm đối với một số tù - mà loại uyển ngữ giả nhân giả nghĩa của cộng sản bắt phải gọi là “trại viên” - thì tình cảnh đó đôi khi còn tệ hơn là tắm máu.

Chính Vũ Ánh đã kể trong những lần bị thẩm vấn và khảo tra, anh đã thẳng thắn nói với cán bộ cộng sản thẩm vấn anh rằng với tấm thân “xác ve” tiều tụy anh đang mang thì có đem anh ra bắn cũng thế thôi; bởi anh “coi như đã chết rồi.” Anh viết rất rõ một nhân tố đã giúp người tù sống và giữ được phần NGƯỜI trong thân xác héo mòn của họ” ... muốn giữ được nhân phẩm, duy trì nhân cách và khí tiết, một người tù cải tạo phải biết chấp nhận phần xấu nhất cho đời tù của mình, đó là sẵn sàng ra nằm ở Ðồi Thông (nghĩa địa của tù nhân cải tạo) ... ” (trang 107). Tôi võ đoán rằng đó không chỉ là kết luận của Ánh mà còn là của tất cả những người tù kiên cường khác. Tôi cũng mạn phép võ đoán thêm một chút nữa rằng quyết định như thế không hề là một lối phát biểu kiểu anh hùng Tàu, khinh thường sinh mạng mình. Trái lại, đối với những người tù không có ngày mai thì “coi như đã chết” chỉ là một phương tiện để giữ cái sống cho mình. Nếu xét kỹ thì sẽ thấy tính thuận lý của việc coi như đã chết để còn được sống. Trường hợp những người quá u buồn, quá lo lắng cho vợ con đến nỗi co ro khúm núm luồn lụy kẻ thù với hi vọng sẽ được nhẹ tay và nhờ đó mà sống sót, thì cái sống của họ hình như không đáng mang ra so với những người coi như chết mà vẫn sống. Ấy là chưa kể trường hợp những người quá lo rồi thực sự lìa đời do đau ốm thân xác và bệnh hoạn tâm thần trong tù, hay đi làm ăn-ten ton hót cho cai tù biết hành trạng các bạn tù của mình đến độ bị khinh ghét, bị hành hung và chung cuộc đã chết thảm ngay cả khi đã ra khỏi tù. Những trường hợp đại để như vừa kể cho thấy rằng khi những người cộng sản thuộc “bên thắng cuộc” không tạo ra những biển máu đúng theo ý muốn của Lê Duẩn bằng cách giết toàn bộ sĩ quan từ cấp tá trở lên và công chức từ trung cấp trở lên, để thay bằng cách giết họ lần mòn trong các nhà tù, không chứng tỏ người cộng sản chủ trương khoan hồng hay hòa hợp hòa giải gì cả với đồng bào mình bên “phe thua cuộc.” Người cộng sản trong thời gian sau 30 tháng 4, 1975, theo thiển ý, không hề ý thức mức độ gian ác của họ; loại gian ác mà Ánh cho là “... không thể tưởng tượng nổi trên thế gian này lại có sự dối trá, che đậy đến mức phi nhân như thế ...” khi đám cán bộ lừa dối vợ của một người tù đang ngồi chờ chồng trong giây phút họ đưa xác chết người tù ra nghĩa địa ngang qua chính chỗ mà bà này đang ngồi chờ. La Rochefoucault từng nhận xét là “khó có người nào khôn ngoan đủ để biết hết những cái ác mà y làm” (*). Rõ ràng là chẳng sai chút nào đối với người cộng sản. Dĩ nhiên cũng đáng mừng là đã có tù nhân sống sót về với gia đình. Nhưng bù lại thì cũng đã có rất nhiều người được cho về chỉ cốt để trại tù đỡ phải chôn họ. Và như thế là đỡ mang tiếng sát hại tù nhân. Người cộng sản không khôn đến độ ý thức cái ác của họ nhưng đủ khôn đến mức giả vờ nhân đạo cho những tù nhân gần chết về với gia đình.

Nhà báo Vũ Ánh không nằm trong số này. Phần chính, theo như tôi đã lạm bàn, là nhờ anh đã dứt khoát coi như mình không có gia đình, không cha mẹ vợ con, không cả thân mạng, không còn gì ráo. Anh đã thậm chí từ chối ra gặp Mẹ mình khi cụ bà cày cục đi thăm và có lẽ nhờ vậy mà đã không bị các cán bộ cộng sản dùng Mẹ và người anh cả làm áp lực truy bức anh. Có lần tôi hỏi xem anh phải sống làm sao trong tình trạng đó? Và nhất là làm sao giữ được đầu óc đừng phát điên và thân thể đừng bị phù thũng khi chỉ được cho ăn mấy lát khoai mì mỗi ngày với 2 muỗng nước muối bên trong xà lim? Câu trả lời của Vũ Ánh, đơn giản đến mức cộc lốc “đã chết rồi thì còn lo gì chuyện sắp chết?” Người đọc sẽ hiểu được lý do khiến anh và vài tù nhân gốc lính VNCH cả gan làm tờ báo chuyền tay mang tên Hợp Ðoàn ngay trong tù, trước mặt những tay điềm chỉ mà anh gọi là bọn “lá lúa PRC25” (**) khi hiểu được cái tâm cảm đã chết lúc vẫn còn thở của họ. Tôi không muốn nhắc lại những hành động đáng cho là can đảm và bất khuất của những người này trong trại tù (mà Vũ Ánh đã ghi trong sách) để mệnh danh họ là anh hùng. Chính họ thật sự cũng không hề muốn mạo nhận như thế. Tuy nhiên nếu không có một tâm lực cực nóng đối với điều mình tin tưởng và một ý lực cực mạnh đối với điều mình muốn làm thì đã không có những người liên tục kiếm đường trốn trại bất kể nỗi lo bị bắn chết (hay bị đánh chết) mà họ biết chắc là sẽ gặp nếu không thoát. Cũng đã không có cảnh một tù nhân nguyên là sĩ quan trẻ dám đứng lên, ngay trước mặt cai ngục và cán bộ cộng sản , để làm “quản ca” đốc thúc tất cả tù nhân hát vang bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” của Nguyễn Ðức Quang như được tả lại ở trang 65 “... ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người, làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam ...”; cũng đã không có chuyện một sinh viên 19 tuổi bị tù vì tội rải truyền đơn, can trường đấu khẩu tay đôi với cán bộ cộng sản và nhất định không quì gối theo lệnh của y, kèm theo khẩu CKC lên đạn mà hắn đã chĩa thẳng vào người anh khi ra lệnh (trang 115).

Tuy nhiên ghi nhận sơ lược về lòng quả cảm của đa số tù nhân trại cải tạo như thế đã đủ. Như xem một cuốn phim mà người xem chưa biết lúc mở gút (denouement) như thế nào, độc giả sẽ khám phá ra rất nhiều điều đáng ghi nhớ về cộng sản và những tù nhân VNCH nằm dưới tay họ khi đọc Hồi Ức của Vũ Ánh. Riêng đối với tôi, một bạn thân của Ánh, tôi còn muốn nhớ thêm, và nhớ mãi, hai sự kiện. Trước hết là mối tình đẹp muôn đời giữa Ánh và Ty như đã được chấm phá đôi nét ở trang 153. Ðẹp, và vui hơn nữa đối với riêng tôi, khi trong đám cưới, nhìn quanh quất không có ai, Ánh đã bảo tôi, “Mày đầu bạc đại diện đàng trai đứng chủ hôn luôn cho tao.” Vậy là tôi bỗng trở thành trưởng thượng của bạn mình trong khoảng 15 phút. Kế đó là bữa ăn thân hữu - loại bữa ăn mà tôi đã vui hưởng nhiều lần với nhiều bè bạn trong đời - diễn ra trong vòng non 1 tháng trước cái ngày định mệnh 14 tháng 3 năm nay. Ðây, do thâm tình giữa hai chúng tôi, là một kỷ niệm nhớ đời, bởi nó do chính tay bạn tôi nấu nướng cho tôi ăn. Lần đầu mà cũng là lần cuối. Nó mặn mòi, đơn sơ và hiền lành y như bản chất con người đích thực của bạn tôi. Tôi nghĩ tôi sẽ nhớ mãi bữa ăn đó, như sẽ nhớ mãi Hồi Ức của bạn tôi, coi như một tập văn kiện riêng, tuy rằng, như Ánh ghi trong lời kết “... tôi chỉ có mục đích duy nhất là để con cháu tôi và con cháu những bạn đồng tù với tôi ... dùng làm tài liệu tham khảo, đối chiếu và suy nghiệm khi cần thiết sau này ... “

Nguyễn Thiên Ân
(12 tháng 7, 2014)

(*) Il n'y a guère d'homme assez habile pour connaitre tout le mal qu'il fait

(**) Máy truyền tin của các đơn vị hành quân VNCH hồi thời chiến
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Xấu hổ, đau lòng và buồn tủi

Mai Tú Ân/FB Mai Tu An

Thế là chuyện lạ đã xảy ra...Quốc Hội Hoa Kỳ đã nhất trí thông qua Nghị Quyết về biển Đông, yêu cầu Trung Quốc quay về nguyên trạng trước ngày 1/5/2014, tức là yêu cầu TC rút giàn khoan 981, một việc mà Quốc Hội Việt Nam đã không dám làm, đã không thể làm và thực sự đã không làm...

Tại sao một việc mà để giúp ích cho chính Dân Tộc Việt Nam chúng ta thì bên ngoài làm được, còn ta thì Không ?

Phải chăng lòng người dân Mỹ phẫn uất với hành động ngang ngược của TC, mà qua các đại biểu của họ ở Quốc Hội Hoa Kỳ đã tỏ thái độ bằng một Nghị Quyết chính thức, với số thuận 100% yêu cầu TQ rút giàn khoan khỏi lãnh hải VN, còn lòng dân Việt Nam ta thì Không ?


Phải chăng chỉ có người dân Mỹ, qua Quốc Hội của họ là phẫn nộ với hành động của TQ, còn lòng phẫn nộ của dân Việt Nam, qua Quốc Hội của mình thì Không ?

Phải chăng các ông Nghị Hoa Kỳ có trách nhiệm hay quyền lợi gì ở VN, còn các ông Nghị của chúng ta thì Không ?


Phải chăng chúng ta đang ở tình trang không có gì quan trọng lắm, chẳng có gì liên quan đến vận mệnh Quốc Gia nên Quốc Hội Mỹ thì lên tiếng còn Quốc Hội ta thì Không ?

Phải chăng qua trường hợp chưa bao giờ xảy ra, chưa từng có, và không bao giờ nên có này thì giờ đây Quốc Hội Hoa Kỳ đã trở thành Quốc Hội Việt Nam, còn Quốc Hội Việt Nam thì trở thành Quốc Hội của Ai, cho Ai và vì Ai...

Không có câu trả lời từ cơ quan quyền lực cao nhất của ý nguyện người dân VN, cũng như không có câu trả lời từ những vị đại biểu, đại diện cho dân, và được người dân VN "bầu" lên...Giống như từ xưa tới giờ, từ giờ tới mai sau thì câu trả lời vẫn là một khoảng không im thin thít, của gần 500 con người Giả Điếc Thời Đại, Mũ Ni Che Tai...


Không hiểu với động thái vừa rồi của Quốc Hội Hoa Kỳ thì có nhiều người nữa,, trong cái gọi là Quốc Hội Việt Nam có cảm thấy xấu hổ không, có thấy đau lòng và buồn tủi như người dân Việt Nam chúng tôi hay không ? Chúng tôi không cần câu trả lời, vì chúng tôi biết sẽ không có câu trả lời ấy.


Chúng tôi chỉ thấy xấu hổ, thấy đau lòng và buồn tủi vì chúng tôi là dân của một nước có chủ quyền, có Chính Phủ và có một Quốc Hội như Quốc Hội nước Việt Nam này, để chúng tôi nói lên một điều mà lẽ ra chúng tôi không bao giờ phải nói trong lúc vận mệnh của dân tộc đang bị thử thách lúc này : "Cám ơn Quốc Hội Hoa Kỳ, cám ơn nhân dân Hoa Kỳ"

11/7/2014
MTA
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

CHUYỆN VỀ NHỮNG CÁI LỖ

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Cô gái điếm có cái lỗ trôn. Ông thầy đồ có cái lỗ miệng. Cả hai đều dùng cái lỗ của mình để buôn bán nuôi thân, đồng thời làm trách nhiệm công dân đối với đất nước lúc này là chống cộng. Cô gái bán trôn. Bán trôn xong rồi, cô cầm tấm bảng carton có viết chữ đi rao hàng: “bán trôn, không bán nước”. Một mình cô trình diễn ngoài đường phố kẻ đi người lại tấp nập để tranh thương với nghề bán nước (lại cũng bán) của VGCS. Ông thầy bán nước bọt. Ông không làm “tiếp thị” ngoài đường phố như cô gái, mà giao dịch toàn với các đại gia, dân làm ăn lớn tại các hội nghị, hội thảo quốc gia trong các phòng ốc sang trọng. Ông thầu được món hàng “Việt Nam Học” của VGCS, đem vào bán cho học trò trong các đại học Mỹ. Có người bảo ông là cộng sản? Không, ông cũng chống cộng. Ông tuyên bố ông lo lắng cho cộng đồng bị ngôn ngữ và văn hóa cộng sản xâm nhập. Có nghĩa là, ông quốc gia có hạng chẳng thua ai. Ông chứng minh: “Tôi giúp các hội sinh viên Việt Nam hằng năm tổ chức buổi tưởng niệm biến cố đau thương 30 tháng 4, tổ chức “Đêm Văn Hoá”, hát quốc ca VNCH trong lễ ra trường của sinh viên v.v.”

Mấy chuyện này chẳng phải bần bút phịa ra để tán nhảm, mà là thực tại xẩy ra trong xã hội ta ngày nay, đăng trên internet, mọi người đều thấy cả. Cô gái bán trôn, xin lỗi, bần bút không biết tên. Ông thầy bán chữ quí danh là Quyên-Di. Đứng trên lập trường dân tộc, trong lúc đất nước nghiêng ngả như hiện nay, bạn đọc thử suy nghĩ, cân nhắc, đánh giá, và so sánh cách thức chống cộng bằng cái trôn của cô gái điếm với chống cộng bằng cái miệng của GS Quyên Di, xem cái nào chống cộng có chính nghĩa hơn, cái nào đáng coi trọng hơn? Bần bút chỉ nêu hiện tượng. Kết luận xin tùy ở bạn đọc.

Hai mặt của một vấn đề

Về cô gái bán trôn, cô chẳng ngại giấu diếm mình làm nghề bán trôn, một thân một mình biểu tình bất chấp cường quyền, ra đường công khai lên án bọn VGCS bán nước. Đó là đặc điểm chống cộng của cô gái bán trôn. Ngoài ra chẳng có gì nhiều nữa để nói về cô ngoài cái chuyện chắc chắn là cô vì nghèo đói nên mới phải đem cái ngàn vàng đi rao bán. “Nghề ngỗng ” của cô tuy không được xã hội chấp nhận, nhưng thiết tưởng cô còn hơn hẳn những con đàn bà của những thằng lớn có chức, có quyền, có tiền, có địa vị, “ăn no ấm cật rậm rật tối ngày” không biết làm gì, chạy đôn chạy đáo tìm đĩ đực tặng free cái trôn lại còn phải bù tiền cho đĩ nữa để thỏa mãn cơn rượng đực. Hơn cả lũ cán bộ ra vào luồn cúi, nịnh bợ để ăn cắp, lừa đảo, giựt dọc. Và chắc chắn hơn hẳn cả lũ Bộ Chính chị chính em đem bán mồ mả ông cha, đất đai của tổ tiên cho Tầu khựa để vinh thân phì gia. Cái đáng nói khác nữa là trong lúc quốc gia hữu sự, có biết bao nhiêu sĩ phu, trí thức, đảng viên lão thành trốn tránh trách nhiệm thì một người làm điếm như cô lại ý thức được trách nhiệm của mình, mà là ý thức rất đúng đắn: chỉ bán tạm cái lỗ cắm dùi trên thân thể của mình chứ không bán nước. Và còn cái đáng - rất đáng nói - sau cùng là, cô rao bán trôn công khai ngoài đường, ngoài chợ, giữa thanh thiên bạch nhật chứ không bán lén bán lút như cung cách bọn chó má Bộ Chính Trị đảng VGCS bán giấu bán đút đất nước cho Tầu khựa. Bọn to đầu khốn kiếp nhìn cô gái bán trôn mà không biết hổ thẹn. Bị bà nhà văn Dương Thu Hương ỉa lên đầu mà cũng phải nín thinh. Hèn ơi là hèn. Đã hèn mà còn vô liêm sỉ nữa. Những người có chút liêm sỉ bị chửi bới như thế hẳn phải tự vận từ khuya rồi.

Thấy cô gái chống cộng đơn độc như thế, có người thương cảm mà chẳng ai dám đồng tình, ca ngợi sự can đảm và sáng suốt của cô. Lý do chỉ vì cô là một cô gái bán trôn.


Trong khi cả nước đứng lên chống VGCS bán nước sôi nổi, mà như trình bầy, cô gái làm nghề bán trôn là một điển hình, thì thầy giáo Quyên Di lại đi theo một đường lối khác mà ông cũng cho là chống cộng. Một bản tin trên internet cho biết :

Nhà văn, nhà giáo Quyên Di đang hợp tác với chế độ cộng sản Việt Nam trong các đề án của Khoa Việt Nam Học & Tiếng Việt của đại học Khoa Học và Nhân Văn thuộc viện đại học Hà Nội. Hà Nội cùng với các phần tử thiên tả tại Hoa Kỳ mở các chương trình dạy "Việt Nam Học và Tiếng Việt" cho các sinh viên Việt Nam tại các trường đại học ở Hoa Kỳ. Một trong những người tiếp tay đắc lực là nhà văn Quyên Di.

Và sau đây nữa là trích website của trường ĐH Hà Nội (http://vsl.edu.vn/gs-quyen-di-thuyet-trinh-tai-khoa/59:

Trong chuyến về Hà Nội dự Hội nghị Quốc tế Việt Nam học lần thứ tư, Giáo sư Quyên Di Chúc Bùi (Đại học California Los Angeles và Đại học California State, Long Beach) đã nhận lời thuyết trình tại Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt vào sáng 29/11/2012. Chủ đề của buổi thuyết trình là “Định hướng đào tạo Việt Nam học tại Hoa Kì”. Đây là buổi sinh hoạt khoa học lần thứ hai của Khoa trong năm học 2012-2013. Nhiều cán bộ giáo viên của Khoa, cộng tác viên, và một số giáo viên đã nghỉ hưu và sinh viên quốc tế đã tham dự buổi thuyết trình … Các chương trình trao đổi văn hóa tại University of Washington Seatle, San Jose State University, California Los Angeles, UCLA đang mở các chương trình này. Các giáo sư người Việt là những người tiếp tay. Tại Seattle đã có giáo sư đến từ Hà Nội. Chương trình giảng dạy do Hà Nội cung cấp….

Bị tố cáo hợp tác với chế độ Hànội, nhưng GS Quyên Di phủ nhận. Ông biện lý: “Tôi biết: trong công cuộc bảo vệ lý tưởng quốc gia, bảo vệ cộng đồng khỏi sự xâm nhập của ý thức hệ cộng sản; cũng như trong sứ mệnh giữ gìn sự trong sáng, thanh lịch và chính xác của tiếng Việt, sự đóng góp của tôi rất nhỏ nhoi. Tuy nhiên, tôi làm những việc này với tất cả tâm huyết và sự trân trọng.”

Theo GS Quyên Di, thì vì lo lắng cho cộng đồng bị ngôn ngữ, văn hóa cộng sản xâm nhập, nên ông phải trực diện với CS để có cơ hội và tư thế. Việc này ông biện bạch bằng cách nêu ra các sắc tộc khác cũng đều làm như thế cả. Ông chứng minh rằng năm 2012, đi dự “Hội nghị Quốc tế Việt Nam học” tổ chức ở Hà Nội, ông không đi một mình mà đi cùng với ban giáo sư khoa Ngôn ngữ và Văn Hoá Nam Á của đại học UCLA, trong đó có các giáo sư dạy tiếng Ấn, tiếng Phi, tiếng Indonesia, tiếng Thái. Và ông hãnh diện khoe: “Lần đó, tôi có dịp may trình bày về sự bảo vệ, phát triển ngôn ngữ - văn hoá Việt Nam tại Hoa Kỳ, trong nền giáo dục dòng chính cũng như trong các cộng đồng địa phương. Với những chứng liệu cụ thể, tôi chứng tỏ cho người nghe thấy sức mạnh và quyết tâm của cộng đồng chúng ta trong sứ mệnh này, để họ thấy rằng chuyện họ muốn xâm nhập cộng đồng chúng ta qua con đường ngôn ngữ và văn hoá là bất khả thi.


Cứ cho là GS Quyên Di không “hợp tác” mà chỉ “tham gia” vào việc soạn thảo môn “VN Học” của VGCS và đem vào dậy trong các đại học Mỹ, nhưng ông cũng đã thừa nhận những việc làm của ông sau đây:

- Giúp VGCS tuyển giáo sư từ trong nước qua Mỹ giảng dậy, vì theo ông, “Phải nói là cho đến nay, cộng đồng chúng ta không có nhiều nhân sự đủ tiêu chuẩn để tham gia những cuộc đọ sức này”.

- Soạn thảo chương trình giảng dậy

- Về nước thuyết trình để trao đổi kinh nghiệm.


Mục đích của GS Quyên Di - như ông nói - là để bảo vệ lý tưởng quốc gia, bảo vệ cộng đồng khỏi sự xâm nhập của ý thức hệ CS, giữ gìn sự trong sáng, thanh lịch, và chính xác của tiếng Việt. Không cần phải lý sự dài dòng, cứ tìm vào nội dung của chương trình giảng dậy, và xem kết quả của việc học tập thì thấy được GS Quyên Di nói thiệt hay phóng đại, thành công hay thất bại.


1. Việc bảo vệ lý tưởng QG và cộng đồng - Thực tế cho thấy, VGCS càng ló mòi lưu manh, gian ác, càng lòi cái đuôi bán nước ra bao nhiêu thì lý tưởng QG càng sáng tỏ hơn bấy nhiêu. Khỏi cần ai phải bảo vệ hết. Điều này rõ như ban ngày. Còn việc người ta có theo đuổi lý tưởng QG hay không thì lại là chuyện khác. Việc GS Quyên Di nói rằng ông bảo vệ cộng đồng khỏi sự xâm nhập của CS thì chính ông đã tự mâu thuẫn và huênh hoang quá rồi. Ông tham gia vào công tác tuyển chọn và đưa bọn giáo sư trong nước sang dậy cho con em người tỵ nạn tại các đại học Mỹ thì chuyện này nên giải thích ra sao? Đó có phải là đem CS xâm nhập cộng đồng không?


2. Chương trình giảng dậy - Nguyên cái tên “Việt Nam Học” thôi đã thấy là dao to búa lớn quá rồi, không khỏi có tính cách lòe bịp. Là VN Hoc thì phải nói đến nghiên cứu đủ hết mọi lãnh vực về dân tộc, đất nước, và con người VN, gồm văn minh, văn chương, văn học, phong tục tập quán, lịch sử, nguồn gốc dân tộc vân vân. Nhưng theo GS Quyên Di thì, trong môn VN Học, ông thầy dậy ngôn ngữ và tiếng Việt cho sinh viên ngoại quốc là chính. Trong học trình (syllabus), như GS Quyên Di phổ biến, có đề cập đến nhiều lãnh vực học tập, nhưng thực tế, theo chúng tôi nghĩ, chỉ là ông thầy dậy tiếng Việt cho sinh viên bằng cách giới thiệu những khía cạnh của đời sống VN. Một tuần lễ, môn VN Học có hai ngày lên lớp, thứ hai và thứ Tư. Mỗi ngày lên lớp 1 giờ 15’ (3:30 - 4:45 pm). Như vậy một tuần sinh viên chỉ gặp ông thầy 2 lần trong 2giờ 30 phút, mà học trình lại quá ôm đồm. Xin nêu một thí dụ:


Week 2: (tuần lễ thứ 2 của niên học)


* Vietnamese Philosophy (triết lý Việt Nam)

- Agriculture philosophy (Triết Lý Nông Nghiệp)

- Yin and Yang philosophy (Triết Lý Âm Dương)

- Three ranks: Heaven-Earth-Man philosophy (Triết Lý Tam Tài:Thiên-Ðịa- Nhân)

- Five elements (i.e. Metal, Wood, Water, Fire and Earth) philosophy (Triết Lý

Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ)

- The Vietnamese Bronze Drum Culture (Văn Minh Trống Ðồng)

* The Traditional Vietnamese Belief Systems (truyền thống tín ngưỡng

của người VN)

* Perception of Self and Nature (nhận thức về con người và về thiên nhiên)

* Religions, beliefs, and rituals (tôn giáo, tín ngưỡng, và các lễ nghi)

* Holidays and celebrations (Các ngày lễ và những lễ hội)

* Traditional Vietnamese Cultural Characteristics (các đặc tính văn hóa

truyền thống của người VN)

- the Most High worshiping (đạo thờ Trời)

- heroes and ancestors worshiping (thờ cúng tổ tiên và các anh hùng dân tộc)

- spirit of gratitude (lòng biết ơn)

* Assigning INDEPENDENT PROJECT (đề án cá nhân của sinh viên)


Xin hỏi, có 2 giờ 30 phút đồng hồ mà bằng đấy môn học bao la như biển cả, rậm rạp như một khu rừng, ông thầy dậy được cái gì? Và học trò học được cái gì?


3. Kết quả học tập - Chúng tôi không đưa ra những bằng chứng khảo sát. Trong sự hiểu biết thô thiển và giới hạn của mình, chúng tôi chỉ nêu ra một vài bằng chứng quan sát để nói lên rằng những nỗ lực của GS Quyên Di - có thể ngay tình nhưng chủ quan và nông cạn - đã và đang gặp thất bại. Nghĩa là, ông đã không giữ được sự trong sáng, thanh lịch, và chính xác của tiếng Việt như ông nói, mà trái lại, còn làm cho ngôn ngữ VN dần dần biến thái một cách lố bịch.


Đọc trên báo chí và trên internet hiện nay tại hải ngoại, những người yêu mến tiếng Việt không khỏi bàng hoàng khi thấy người tỵ nạn viết cho người tỵ nạn đọc những câu văn ngớ ngẩn, những từ ngữ thô kệch và vô nghĩa. Nói chung văn phong rất Việt cộng, thí dụ như: “các chiến sĩ công an đang tác nghiệp …”, hoặc: “chính quyền Saigon ra lệnh …”. Văn phong miền Nam phải là: “bọn công an đang làm phận sự …”, hay: “Chính Phủ VNCH ra lệnh …”. Khẳng định rằng chỉ có bọn văn nô trong nước mới viết như thế. Người miền Nam và dân tỵ nạn tuyệt đối không. Tình trạng viết lách này tại hải ngoại chắc chắn xuất phát từ bọn cán bộ VGCS đang làm việc tại đây, hoặc con em tỵ nạn xuất thân từ các lớp Việt ngữ do bọn cán bộ văn hóa sang dậy trong các đại học Mỹ. Trách nhiệm này thuộc về ai? GD Quyên Di có nhìn thấy tình trạng này không, và có nên gánh lấy một phần trách nhiệm, vì chính ông đã đem bọn VGCS vào dậy Việt ngữ và văn minh, văn hoá VN … trong đại học Mỹ.


Một nhà giáo chống cộng trật chìa như thế nhưng lại được dư luận đồng cảm và bênh vực: “Tôi nghĩ là có được một địa vị như ông (GS Quyên Di) thì cần gì phải đính chính với những người chưa có tầm nhìn chiến lược và quy mô…… hơi đâu để tâm mà cố làm được gì có ích và qua lý trí của mình. Quan nhất thời dân vạn đợi chúng ta nên tỉnh thức”.

Đâu là tầm nhìn chiến lược và quy mô của GS Quyên Di, xin chỉ ra?


Sự thật mất lòng


Những việc làm của GS Quyên Di về Hànội thuyết trình, tham gia soạn thảo chương trình giảng dậy về môn VN Học với VGCS, đem nó vào đại học Hoa Kỳ, tuyển chọn giáo sư từ trong nước ra giảng dậy về môn này là đã rõ ràng. Ông không phủ nhận, mà chỉ biện bạch và chống chế. So với cô gái bán trôn, ông tỏ ra vừa thiếu can đảm, vừa kém trí tuệ. Ông không nhận thức được VGCS là một lũ bán nước. Là một giáo sư đại học, ông thừa biết rằng bán nước là một trọng tội đối với đất nước, hợp tác với bọn bán nước là tòng phạm với chúng. Ông cũng không dám công khai tố cáo tội ác lại còn cộng tác với lũ tội phạm, cho dù ông cộng tác trong lãnh vực văn hóa. Về lãnh vực này, GS Quyên Di không thế nào không biết cái NQ 36 của VGCS. Chúng chi ra hàng tỉ dollars để thực hiện nghi quyết này. Hai lãnh vực NQ 36 xâm nhập cụ thể và thành công nhất là văn hóa và văn nghệ. Ngày trước ca sĩ hải ngoại không dám về nước để hát xướng. Nay hầu như ca sĩ hải ngoại không đứa nào không về hát hò để kiếm tiền. Ngày trước ca sĩ trong nước ra hải ngoại hát bị biểu tình chống đối. Bây giờ chúng ra hải ngoại hát thoải mái. vấn đề biểu tình hầu như không còn nữa. Đó là sự thành công không thể phủ nhận được của NQ36, mặc dầu nói ra thì đau lòng, nhưng đó là sự thực.

Về văn hóa cũng thế, lãnh vực xâm nhập này của NQ36 tuy không ồn ào, nhưng không phải là không có kết quả. Nhiều lớp dậy Việt Ngữ cho con em người tỵ nạn đang sử dụng tài liệu giảng dậy của VGCS. Nhiều đại học dậy môn “Việt Nam Học” như GS Quyên Di xác nhận. Chương trình và nội dung của môn học này sản xuất từ trong nước, do giáo sư trong nước ra giảng dậy. Tiếp vào sự xâm nhập văn hóa nàylà chuyện không ít nhà thơ, nhà văn hải ngoại đem sách về in và phổ biến trong nước. Ngược lại, sách của bọn văn nô trong nước được bọn trí thức ngựa hải ngoại in, ca tụng, và quảng cáo không thiếu gì… Đó cũng phải là một thành công đáng kể của NQ36.

Cần đặt ra vấn đề như thế này là, nếu GS Quyên Di [và một số khoa bảng khác nữa] không hợp tác với VGCS đem môn VN Học vào các đại học Mỹ để dậy cho con em chúng ta, không hợp tác soạn thảo chương trình giảng dậy, trái lại, còn ngăn cản các đại học Mỹ mướn thầy dậy tiếng Việt từ trong nước, vận động giới đại học chặn đứng sự xâm nhập của cái môn học tào lao này, chận đứng các thứ văn hóa phẩm tuyên truyền của VGCS v.v., thì liệu cái NQ 36 nó có thể thành công được không? Rất tiếc là GS Quyên Di đã hành động ngược lại với đường lối hợp lý mà đáng lẽ ông nên làm để ngăn chận NQ36. Đó là cần phải vận động để ngăn chặn sự xâm nhập của NQ 36, thì trái lại, ông đã cộng tác với VGCS để thi hành cái NQ đó. Rất đáng nghi ngờ về sự khôn ngoan, sáng suốt của nhiều giới trí thức ngày nay. Sáng suốt nhưng lại u mê, thiển cận. Sự khôn ngoan lại chính là tinh thần nô lệ từ ngàn xưa, nó bắt rễ sâu xa trong xã hội, mà người ta gọi là tinh thần “trọng sĩ”. Giới “SĨ” của ta rất tự hào về điều này. Tinh thần yêu nước của cô gái bán trôn không được coi trọng cũng vì cô không mang chữ “Sĩ” hay chữ “Sư” trên mình. Xã hội VN còn mang nặng thiên kiến rõ rệt: kẻ bị coi là hạ cấp thì dù có làm hay mấy cũng vẫn bị cho là chẳng ra gì. Người có học làm sai cũng vẫn được coi trọng.

Chẳng dám “mèo khen mèo dài đuôi” - bởi vì bần bút cũng là người Việt Nam - nhưng nói về đạo đức, lễ giáo thì người Việt Nam mình phải nói là có thừa. Do đó mà có bao giờ người ta thấy người việt mình khen việc làm của giới gái điếm bao giờ đâu, và cũng chẳng bao giờ thấy ai dám chê bai công việc của một nhà mô phạm? Cô Tư Hồng chở gạo đi cứu đói còn bị dè bỉu. Chuyện Kiều tuyệt tác đến thế mà vẫn cứ bị chê là dâm thư không đáng đọc. Chỉ vì cái lý do cô Tư Hồng và nàng Kiều là những người làm nghề bán trôn.

Còn về học thuật thì như Khổng Phu Tử chẳng hạn, một ông Ba Tầu nhưng được dân ta tôn thờ như thánh. Thờ Khổng đã vậy, lại còn thờ cả Quan Công, Trưong Phi mới là dị hợm! Cái gì “Tử viết” cũng đều là khuôn vàng thước ngọc cả. Chẳng mấy người thấy rằng cái chế độ Tầu cộng đến hồi sắp sụp đổ thì bọn đầu sỏ Trung Nam Hải bèn phải vực Khổng Tử dậy để chống đỡ cho cái chế độ mục rữa của chúng. Xưa kia Tầu cộng vùi dập ông thánh Khổng bao nhiều thì ngày nay chúng lại tôn thờ ổng bấy nhiêu. Để làm gì? Thưa là để muợn cái đạo lý của ông “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” để giữ vững ngai vàng cho chúng. Quân (vua) là đảng. Thần là dân bị trị. Dân phải trung với đảng, bất trung với đảng thì đương nhiên chết là phải. Đó là đạo đức thánh hiền, thứ đạo đức trọng sĩ, kỵ nông, sợ cường quyền.


Học viện Khổng Tử ở Hànội nghe đâu được xây bề thế lắm. Mà Khổng Phu Tử là ai? Ông ta là một quan lại nước Lỗ. Làm quan chán rồi về dậy học, viết sách. Trong sách Luận Ngừ, Khổng Tử thú nhận, ông chẳng có tư tưởng gì, chỉ là sưu tầm, cóp nhặt, và sao chép lại của thiên hạ. Phải thừa nhận ông có công sưu tầm. Những cái hay, cái đẹp của dân phương Nam, Khổng Tử lượm về recycle thành kinh, thành sách, dậy lại cho Lạc Việt. Kẻ sĩ Lạc Việt lại cứ tưởng đấy là “thánh kinh” người Tầu đem giáo hóa mình, và cúc cung xưng tụng ngài Khổng là “Vạn thế Sư Biểu”, chỉ vì ngài Ba Tầu này là “SƯ”, một ông thầy đồ tiêu biểu.

Trên đất nước ta ngày trước, một anh Ba Tầu mua ve chai, đồng nát về bán lại cho nhà máy recycle thành những thứ đồ gia dụng. Những thứ đồ gia dụng này đem bán lại cho người mình xài. Đó mới là chặng một recycle của mấy anh Ba. Chặng thứ hai, chẳng mấy chốc anh Ba ve chai trở nên giầu có, anh mở chành, thu mua lúa thóc của nhà nông, xay thành gạo bán lại cho nông dân. Người dân Việt sống nhờ gạo của Ba Tầu nhưng kỳ thực là gạo của nông dân VN, chứ chẳng phải anh Tầu nào làm ra cả. Khổng Khâu ngày xưa cũng vậy thôi, chỉ có điều cụ Khổng nhà ta, thay vì thu mua ve chai, đồng nát và lúa thóc, ông thu nhặt văn hóa, văn minh của Việt Tộc, tinh chế và san định thành kinh, thành sách dậy lại cho người mình. Hóa ra đạo đức, văn minh, văn hóa là đạo đức, văn minh, và văn hóa Lạc Việt nhưng do Tầu Khổng Khâu recycle. Điều tai hại là nhiều người Việt ngày nay cứ cho người VN mình không có văn minh, văn hóa. Nằng nặc cho rằng văn minh văn hóa VN đều là của Tầu. Từ nô lệ Tầu về văn hóa, ngày nay tiến đến nô lệ về chủ quyền của đất nước chỉ là một bước nhỏ.


Lời kết

Người bình dân ta có câu tục ngữ ý nghĩa rất hàm xúc: “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông, nhì sĩ”. Đói meo, cái thành kiến “nhất sĩ, nhì nông” bị vỡ mộng. Bấy giờ người ta mới mở mắt ra thừa nhận “nhất nông, nhì sĩ”. Lúc này đây, nước nhà sắp mất hẳn bào tay Tầu khựa rồi, không biết người mình có sẵn sàng xoay hướng tư duy, thay đổi câu tục ngữ thành “nhất sư nhì đĩ, gặp cơn quốc sỉ, nhất đĩ nhì sư” để chống xâm lược và diệt Việt gian không?


San Jose 21-7-2014
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

HD-981 đã dời đi nhưng hiểm họa xâm lăng vẫn còn đó!

Bài viết của Lê Nguyên Bình (ĐVDVN)

Giàn khoan HD-981 đã dời đi nhưng trong thực tế chưa có sự bảo đảm nào là chủ quyền lãnh hải Việt Nam đã được trả lại toàn vẹn. Cơn bão Rammasun sẽ qua, và những áp lực ngoại giao của thế giới đối với Trung Cộng sẽ từ từ lắng dịu, nhưng tham vọng bành trướng của nhà cầm quyền Bắc Kinh đối với biển Đông Việt Nam vẫn còn nguyên trạng. Vấn đề của Việt Nam là làm sao để có thể đối phó được mọi hình thức xâm lấn khác nhau trong thời gian tới, kể cả khi các giàn khoan mới sẽ được đưa trở lại Biển Đông.

Giàn khoan của Trung Cộng tạm thời rời khỏi vùng biển Việt Nam không do kết quả của sự "đấu tranh bằng con đường ngoại giao" của nhà nước Việt Nam, mà là từ các áp lực quốc tế xuất phát bởi quyền lợi liên đới trong khu vực biển Đông.

Bên cạnh đó là nhu cầu cân bằng ảnh hưởng và quyền lực của các quốc gia đang đóng vai trò quan trọng trong một chiến lược chung nhằm ngăn chận làn sóng bành trướng nguy hiểm của Trung Cộng ở vùng Đông Nam Á. Cùng lúc, giàn khoan HD-981 đã làm xong nhiệm vụ trắc nghiệm phản ứng của mọi phía liên hệ. Trớ trêu thay điều mà Bắc kinh thấy khá rõ ràng là nhân dân Việt Nam quyết liệt chống đối, chính phủ nhiều nước đồng thanh cảnh cáo họ nhưng nhà nước Việt Nam thì lại rất lúng túng, mâu thuẫn trong những lời tuyên bố cũng như hành động ứng xử. Việt Nam sẽ tiếp tục kiện Trung Cộng đã vi phạm chủ quyền lãnh hải để khẳng định quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, và đòi Bắc kinh phải bồi thường các thiệt hại tài sản mà họ đã gây ra cho nhà nước và ngư dân, hay chỉ được tạm thoát nạn là hài lòng?

Sự ôn hòa, kiên nhẫn của một nhà nước trước tình hình căng thẳng, nguy hiểm là điều cần thiết song ôn hòa không có nghĩa là thiếu dứt khoát với kẻ xâm lăng hung hãn, và càng không thể vì mục đích tránh xung đột với nước đang gây hấn mà đàn áp những công dân yêu nước. Đảng đương quyền quên rằng thiếu sự ủng hộ của đông đảo quần chúng thì bất cứ nhà nước nào cũng không có đủ sức mạnh để khiến cho Bắc kinh phải kiêng dè.

Thật vậy, trở ngại của nước ta không phải là không vận động được một sự hậu thuẫn hiệu quả và lâu dài từ cộng đồng các quốc gia tự do, hay không thành hình được một đường lối bảo toàn chủ quyền một cách hiệu quả. Vấn đề là vì Việt Nam đang ở dưới chế độ độc đảng. Từ đó, sách lược đối phó với vấn đề biển Đông của nhà nước Việt Nam chỉ là đường lối riêng của đảng CSVN, với ưu tiên lớn nhất được dành cho mục đích bảo vệ vận mệnh chính trị của đảng này. Thái độ và hành động đấu tranh bảo toàn chủ quyền đất nước của nhân dân đã bị chính nhà nước Việt Nam ngăn trở. Và vì vậy, trở ngại của vấn đề biển Đông không phải chỉ là làm sao đối phó với Trung Cộng, mà còn là làm sao hóa giải được cản trở lớn nhất từ phía đảng cầm quyền hiện thời.

Sự kiện Trung Cộng tạm rút giàn khoan tạo được sự nhẹ nhỏm nhất thời cho chế độ đương quyền nhưng nỗi lo của nhân dân về hiểm họa Bắc phương xâm lấn vẫn còn nguyên vẹn. Với tình hình này, Bắc Kinh chắc chắn sẽ tìm cơ hội khác để tiếp tục hành động "hợp thức hóa" chủ quyền trên biển Đông. Chiến lược lấn chiếm bằng cách dùng vũ lực đặt thành "sự kiện đã rồi" như họ đã từng làm ở Hoàng sa (1974) và Trường Sa (1988) rất có thể sẽ tiếp tục xảy ra. Thực tế cho thấy dù bị thế giới lên án, chịu nhiều áp lực song Trung Cộng vẫn còn ở thế thượng phong trong thế trận ở biển Đông. Nói cách khác, Bắc kinh vẫn ở thế chủ động trong việc gây biến động và điều hướng tình hình, và nhà cầm quyền CSVN vẫn tiếp tục chống chỏi bằng các hình thức bị động. Cho nên, sự kiện "HD-981" sẽ có thể tái diễn bất cứ lúc nào dưới những tên gọi mới. Cục diện biển Đông sẽ trở lại tình trạng sôi sục đầy đe dọa. Nếu vậy, Việt Nam đã chuẩn bị được gì với chiều hướng nguy hiểm đó?

Trước các nhận thức nêu trên, có phải chăng đây là lúc mà mọi hình thức vận động đấu tranh cần phải tập trung áp lực để buộc đảng CSVN phải trả lại quyền lãnh đạo và bảo vệ đất nước cho toàn dân? Có phải chăng tình trạng độc quyền yêu nước và đàn áp những người chống xâm lăng cần phải được chấm dứt càng sớm càng tốt?

Trong bối cảnh phải đối phó với nạn ngoại xâm, nước ta cần một sự đoàn kết dân tộc, xây dựng một sức mạnh có thể buộc Bắc kinh phải kiêng nễ. Tuy nhiên, sự đoàn kết quốc dân trong thời đại này không thể là củng cố một chế độ độc tài toàn trị. Việt Nam cần chuyển thể để trở thành một cơ chế dân chủ đa đảng pháp quyền. Từ đó, chính phủ dân chủ sẽ có điều kiện huy động được sức mạnh của toàn dân, bao gồm các thành phần xã hội và chính trị.

Hiểm họa ngoại xâm đã đánh thức được lòng yêu nước của nhiều người và kinh nghiệm thực tế cho thấy là tình trạng độc tài toàn trị đang là trở ngại lớn nhất cho cuộc đấu tranh bảo toàn tổ quốc. Trong chiều hướng đó, giải thể cơ chế độc tài để cứu nước đang là một yêu cầu trọng đại.

Biển Đông chưa thực sự yên bình và làn sóng xâm lăng của Bắc phương vẫn còn. Muốn công cuộc chống xâm lăng được thật sự được thành công, mọi người Việt Nam phải tiếp tục đấu tranh để khẳng định lập trường của dân tộc đối với Trung Cộng, và đối với cả nhà cầm quyền CSVN.

Chúng ta phải xót xa để nhận rằng, với thân phận một nước nhỏ, Việt Nam sẽ rất khó giành lại được những phần biển đảo đã bị cưỡng chiếm. Không những thế, với hoàn cảnh chính trị hiện nay, ngay cả việc bảo toàn được phần lãnh hải còn lại cũng không phải là điều dễ dàng. Nhưng dù vậy, những khó khăn to lớn đó chỉ là thử thách dành cho các thế hệ Việt Nam hôm nay.

Chủ quyền đất nước sẽ có thể được bảo toàn khi Việt Nam đã thật sự có một chính thể dân chủ, vì với một chính phủ đa đảng, Bắc kinh sẽ không thể mua chuộc hay uy hiếp được. Hơn nữa, khi đã có dân chủ, mọi tầng lớp nhân dân đều có quyền và được khích lệ thể hiện lòng yêu nước.

Dân chủ là chìa khóa tốt nhất để giải quyết những vấn nạn của đất nước chúng ta. Và ý chí đoàn kết của toàn dân sẽ là sức mạnh truyền thống trong cuộc tranh đấu chống xâm lăng như Ông Cha ta đã có trong ngàn năm qua.

Lê Nguyên Bình
Thành viên Đảng Vì Dân Việt Nam
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Cuộc đấu tranh theo hai hướng

Bùi Tín (Blog VOA)


Giàn khoan HD-981 đã được kéo ra khỏi vùng biển VN, vừa đúng khi cơn bão Rammasun kéo đến.

Xin những ai còn lo đến vận mệnh của đất nước chớ vội thở phào nhẹ nhõm, coi như mối đe dọa từ phương Bắc đã thuộc về quá khứ, và từ nay ta có thể ngủ yên. Nghĩ như vậy là rơi vào bẫy của bành trướng.

Cuộc khủng hoảng Biển Ðông còn nguyên vẹn, khi giàn khoan HD-981 rút về, vì Bắc Kinh luôn luôn coi “vùng biển Hoa Nam” - Biển Ðông của Việt Nam - là vùng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, cho nên độc chiếm nó là mục tiêu chiến lược hàng đầu của họ.

Do vậy, toàn dân phải tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ hơn, bền bỉ dẻo dai hơn, toàn diện hơn, chống bành trướng Bắc Kinh trên mọi lĩnh vực - quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa - không phải vì TQ tạm rút giàn khoan do mùa mưa bão mà giảm khí thế đấu tranh.

Nhà báo Roger Milton trên báo Myanmar Times (7.7.2014) cho rằng lãnh đạo VN đã có sự chia rẽ, và kết luận rằng “về cơ bản VN đã đầu hàng.”

Rõ ràng là nhóm lãnh đạo đã không ngang tầm với trách nhiệm bảo vệ đất nước chống bành trướng và xâm lược, còn ngáng trở cuộc đấu tranh của nhân dân, không đi cùng với nhân dân, luôn tỏ ra lập trường hai mặt; khi bọn bành trướng hoàn toàn giở trò vũ phu cậy nước lớn đông người, vừa ăn cướp vừa la làng, hoàn toàn xóa bỏ phương châm “4 tốt, 16 chữ vàng” do chúng đề ra. Vậy thì phía VN còn có lý do gì mà còn coi TQ là bạn, thậm chí là “bạn tốt,” còn có lý do gì mà không tìm bạn khác đáng tin cậy để kết thân, thậm chí kết liên minh theo quyền tự do của mỗi nước.

Các lực lượng dân chủ nhân quyền trong xã hội dân sự hãy mở tiếp mặt trận đối ngoại năng động và sáng tạo ra ngoài biên giới nước ta. Anh chị em vận động dân chủ và nhân quyền vừa qua đã tỏ ra là một mũi nhọn xung kích của nền ngoại giao nhân dân đúng nghĩa, bổ sung và thay thế cho nền ngoại giao nhà nước ù lì, nhu nhược, vừa chống vừa run trước thế lực bành trướng.

Một hướng đấu tranh cần đẩy mạnh trong nước là hướng dẫn dư luận xã hội chỉ ra cho lãnh đạo đảng, Nhà nước, Quốc Hội, Mặt Trận Tổ Quốc, cho Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CS rằng nếu họ tự nhận là lực lượng lãnh đạo đất nước thì họ phải đi đầu trong cuộc đấu tranh chống bành trướng, phải sát cánh với nhân dân trong các cuộc xuống đường, biểu tình ôn hòa chống bành trướng, phải mạnh dạn phát đơn kiện TQ ra trước tòa án quốc tế như chính phủ Philippines đã làm.

Nhân dân ta cần chất vấn các cấp chính quyền, các đại biểu Quốc Hội về một loạt vấn đề như:

Vì sao lại hạn chế, cấm các cuộc biểu tình ôn hòa chống bành trướng, bảo vệ ngư dân ta, vì sao lập trường công khai, chính thức của lãnh đạo Ðảng CS và Nhà nước VN lại yếu kém rõ rệt so với lập trường chính thức của Philippines, Nhật Bản và Hoa Kỳ trong vấn đề biển Ðông, một vấn đề sinh tử của chính nước ta? Vì sao khi Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama cử cố vấn đặc biệt, giám đốc Á Châu Vụ của Hội đồng An Ninh Quốc Gia Evan Medeiros sang Hà Nội ngày 14 tháng 7 vừa để thúc đẩy việc ký kết Hiệp ước Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP, vừa để bàn sâu thêm về cuộc khủng hoảng biển Ðông trong triển vọng nâng cao thêm quan hệ đối tác toàn diện, về quốc phòng và an ninh, phía VN lại tỏ ra thiếu sốt sắng, còn có vẻ lạnh nhạt một cách khó hiểu và dại dột nữa. Người tiếp đặc phái viên tổng thống Hoa Kỳ là Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh, một người không có chân trong Bộ Chính Trị, chỉ là ủy viên mới trong Ban Chấp Hành Trung Ương, không có quyền uy gì đáng kể. Ông cũng không thể trả lời rõ ràng về việc ký kết hiệp cuối về TPP cũng như về biển Ðông, không đáp ứng điều gì về những gợi ý tăng cường quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh.

Ông Minh từng được Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry mời gấp sang Washington DC để bàn về tình hình biển Ðông ngay từ đầu tháng 5, nhưng cứ lần lữa mãi. Nay chính phía Mỹ cử phái viên đặc biệt của tổng thống sang, mà không có một vị nào trong Bộ Chính Trị tiếp. Rõ ràng là một nền ngoại giao nhà nước ốm yếu, tê liệt, bị bọn bành trướng khống chế, một nền ngoại giao đầu hàng từ sự kiện Thành Ðô (tháng 9, 1990) với những thỏa thuận bí mật sau lưng nhân dân, sau lưng cả Quốc Hội; những thỏa thuận bất hợp pháp vì không được Quốc Hội thỏa thuận, đã đến lúc cần công khai hóa, minh bạch hóa cho toàn dân sáng tỏ và phủ định. Ðây là biện pháp “Thoát Trung” cơ bản, cấp bách.

Trong hoàn cảnh hiện nay, Bộ Chính Trị nên xem xét kỹ tình hình, lắng nghe nguyện vọng của lao động, nông dân, tuổi trẻ, thuận theo kiến nghị của trí thức tiên phong của dân tộc, ra nghị quyết theo 2 hướng:

1. Cải cách cơ chế chính trị, chuyển đổi từ hệ thống độc đảng lạc lõng cô đơn sang hệ thống đa đảng đa nguyên phổ cập của thế giới, để công dân được lựa chọn hiền tài thay mặt cho mình cầm quyền ở các cấp, chấm dứt việc Ban Tổ Chức của Ðảng CS ở Trung Ương và các cấp tùy tiện ban phát chức vụ theo phe nhóm lợi ích, nguyên nhân cơ bản của sự xuống cấp thê thảm của chế độ hiện nay.

Công đoàn tự do được thành lập ở các địa phương, ngành nghề, xí nghiệp. Trả tự do cho những người bị giam vì lý do chính trị như đã trả tự do cho các công dân Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Ðỗ Thị Minh Hạnh...

2. Trong lĩnh vực đối ngoại: chủ trương giữ mối quan hệ láng giềng tốt, bình đẳng, tôn trọng nhau với TQ, đồng thời thực hiện quan hệ hợp tác toàn diện, bè bạn thân thiết, đối tác chiến lược với các nước tán thành chủ trương đối nội và đối ngoại mới của VN, có thể kể ra là Hoa Kỳ, Philippines, Nhật Bản, Ấn Ðộ, Liên Âu, Úc... Các mối quan hệ chặt chẽ, tin cậy trên đây không nhằm chống một nước nào.

Các chủ trương cụ thể trong mục 1 trên đây cũng là để dọn đường cho VN gia nhập thuận lợi Hiệp ước TPP, mang lại nhiều lợi thế và lợi ích cho VN.

Giao cho Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng chuẩn bị thật tốt cho cuộc họp đối tác chiến lược Việt-Mỹ dự định vào tháng 9 tới tại VN. Theo AP và báo The Washington Post (13.7.2014) Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel sẽ tham dự cuộc họp quan trọng này. Cuộc họp sẽ đề cập đến vấn đề tăng cường quan hệ giữa Hải quân VN với Hạm Ðội 7 của Hoa Kỳ cũng như vấn đề Hoa Kỳ có thể thỏa thuận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Trên đây là những chủ trương mang tính đột phá chiến lược, cấp bách và hoàn toàn chín muồi, mang lại cho VN một thế chiến lược mới để bảo vệ nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, mang lại phát triển, thịnh vượng và hạnh phúc lâu bền cho toàn dân tộc.

Ðây là nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta mong được bàn luận rộng rãi và tạo nên công luận làm áp lực có sức thuyết phục với những người lãnh đạo CS, với đông đảo đảng viên CS còn có lương tâm và trách nhiệm với nhân dân, với đất nước.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Trung Quốc vô hình trung 'thúc' Mỹ bán vũ khí cho Việt Nam


WASHINGTON DC - Trong dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương
mà dân biểu Forbes (Cộng Hòa) và Hanabusa (Dân Chủ) đệ trình, có một đề nghị bán vũ khí cho Việt Nam.

Nhiều năm qua, chính quyền Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ ước muốn mua vũ khí của Hoa Kỳ và đề nghị
Hoa kỳ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam nhưng Hoa Kỳ không chấp thuận.

Image
Sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan 981 đến thăm dò dầu khí ở quần đảo Hoàng Sa, hồi tháng 5 vừa qua,
Hoa Kỳ đưa Khu trục hạm USS Blue Ridge, soái hạm của Hạm đội 7 vào khu vực biển Ðông. (Hình: Wikipedia)

Dường như cách hành xử của Trung Quốc tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương thúc đẩy Hoa Kỳ bán vũ khí cho Việt Nam.

Trong thông cáo báo chí liên quan tới dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương, ông Forbes và bà Hanabusa, cùng là thành viên Ủy Ban Quân Lực của Hạ Viện Hoa Kỳ, cho biết, dự thảo mà họ đệ trình nhằm hậu thuẫn cho quyền tự do hàng không và hàng hải, giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Ông Forbes cho biết, dự thảo được đại diện cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ tại Hạ Viện ủng hộ bời nó tái khẳng định lợi ích cơ bản của Hoa Kỳ trong việc duy trì quyền tự do lưu thông cả trên không lẫn trên biển, đồng thời giúp giải quyết các tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình.

Ðáng chú ý là ông Fornes nhấn mạnh, cả hai yếu tố vừa kể đã bị Trung Quốc thách thức nhiều lần qua việc cố dùng sức mạnh để thay đổi hiện trạng trong khu vực.

Theo ông Forbes, các hành động của Trung Quốc đã thúc đẩy Hoa Kỳ phải tiếp tục tham dự một cách tích cực ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương để bảo đảm sự tồn tại lâu dài của nền hòa bình và thịnh vượng mà khu vực này được thừa hưởng trong sáu thập kỷ vừa qua.

Dự thảo nghị quyết dài 16 trang về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương được mô tả là đã khắc họa các hành vi gây mất ổn định tại biển Ðông và biển Hoa Ðông của Trung Quốc. Những hành vi như đưa giàn khoan 981 đến thăm dò dầu khí tại quần đảo Hoàng Sa, phong tỏa bãi Cỏ Mây (Second Thomas), đòi chủ quyền tại những khu vực vốn là vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác mà Trung Quốc đã thực hiện được nhận định là nguy hiểm.

Nếu dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương được Hạ Viện Hoa Kỳ thông qua, Hạ Viện Hoa Kỳ sẽ chính thức lên án các hành vi có tính chất hăm dọa, cưỡng bức của Trung Quốc để cản trở quyền tự do lưu thông trên không và trên biển tại các vùng biển Châu Á. Kêu gọi Trung Quốc từ bỏ việc thực hiện các quy định về vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Ðông, không thiết lập các vùng nhận dạng phòng không tương tự ở những nơi khác.

Dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương có một khuyến cáo dành cho chính phủ Hoa Kỳ trong quan hệ với Việt Nam. Ðó là thiết lập và thực hiện một chính sách, sao cho phản ánh được cả tiến bộ lẫn thách thức còn tồn tại trong hồ sơ nhân quyền của Việt Nam, cũng như các lợi ích an ninh quốc gia thiết yếu của Hoa Kỳ, bằng cách mở rộng quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam, thông qua việc bán hoặc chuyển giao thiết bị quốc phòng trong chiều hướng thích hợp với sự phát triển và duy trì khả năng phòng thủ chống ngoại xâm của Việt Nam.”

Cũng cần nhắc lại là cách nay vài tuần, vào ngày 10 tháng 7, Thượng Viện Hoa Kỳ từng thông qua một nghị quyết, tái khẳng định sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với quyền tự do hàng hải, hàng không và khẳng định, việc sử dụng hải phận, không phận ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương phải tuân thủ luật pháp quốc tế.

Nghị quyết đó kêu gọi Trung Quốc tránh các hoạt động trái với Công ước Ngăn ngừa xung đột trên biển. Trả biển Ðông về nguyên trạng, giống như trước ngày 1 tháng 5, thời điểm Trung Quốc đưa giàn khoan 981 đến thăm dò dầu khí ở khu vực quần đảo Hoàng Sa. (G.Ð)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Phe đảng CSVN muốn giới thiệu với Mỹ nhà lãnh đạo tương lai?
Friday, August 01, 2014 3:57:27 PM

Luật Sư Nguyễn Văn Ðài

Ngay sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan HD981 trên vùng đặc quyền kinh tế của VN.
Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh đã điện đàm với Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry. Và Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh được mời qua thăm Mỹ.

Những người Việt ở trong và ngoài nước, cộng đồng quốc tế chờ đợi chuyến đi này, để xem VN sẽ yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ những gì
trong vụ tranh chấp trên biển Ðông với TQ. Nhưng chuyến đi này chưa xảy ra,
thì dư luận trong và nước rất bất ngờ với chuyến thăm Mỹ của ủy viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Thành Ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị.

Image
Cư dân mạng chỉ trích nặng nề về bức hình chụp nơi ghi dấu tích phi công John McCain đang giơ tay đầu hàng
khi máy bay bị bắn rơi ở Hồ Trúc Bạch mà ông Phạm Quang Nghị mang sang Mỹ làm quà cho Thượng Nghị Sĩ John McCain.
Người ta gọi đây là món quà vô văn hóa và xúc phạm người được tặng. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)



Theo tôi quan sát và đánh giá thì nguyên nhân có thể như sau:

Thứ nhất, đó là tranh giành ảnh hưởng phe phái.

Chắc chắn việc cử Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh hay Phạm Quang Nghị qua Mỹ đã được tranh cãi quyết liệt và kéo dài trong nội của BCT đảng CS.

Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh thuộc phe chính phủ, nếu Phạm Bình Minh qua Mỹ, thuyết phục được chính phủ cũng như Quốc Hội Hoa Kỳ ủng hộ và giúp đỡ VN trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải. Ðiều này sẽ giúp tăng vị thế của Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh trong cuộc đua vào BCT, cũng như nâng cao vị thế của phe chính phủ.

Trong khi đó, Phạm Quang Nghị đang được phe đảng nâng đỡ, giới thiệu, vận động để trở thành tổng bí thư. Trong 16 thành viên BCT, đã xuất hiện nhiều tư tưởng muốn chơi với Mỹ. Nhưng những người này lại không muốn Thủ Tướng Dũng đóng vai trò trong cuộc chơi đó. Họ muốn giảm vai trò của thủ tướng và phe chính phủ. Họ muốn phe đảng lãnh đạo cuộc chơi này. Và do vậy, trong cuộc tranh đua này, phe của đảng và Phạm Quang Nghị đã chiến thắng.

Thứ hai, đảng CSVN muốn giới thiệu nhân vật sẽ là lãnh đạo tương lai của đảng.

Phạm Quang Nghị được đảng cử đi Mỹ, nhưng không phải muốn là đi được. Vì trước đó, ngoại trưởng Hoa Kỳ đã chính thức mời Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh. Do vậy, đảng giao cho Bộ Ngoại Giao và đại sứ VN tại Hoa Kỳ nhiệm vụ thuyết phục Bộ Ngoại Giao HK mời Phạm Quang Nghị.

Tuy Phạm Quang Nghị là ủy viên BCT, bí thư Thành Ủy Hà Nội. Nhưng Hoa Kỳ không coi trọng những chức vụ đó của Nghị. Bởi vậy, chúng ta có thể hình dung được những người đi vận động phải giới thiệu với Bộ Ngoại Giao HK rằng Phạm Quang Nghị sẽ trở thành người cầm đầu đảng CSVN trong tương lai. Là người sẽ xây dựng và lãnh đạo mối quan hệ Việt-Mỹ. Ðặc biệt là sau khi Phạm Quang Nghị đi thăm Hoa Kỳ về, mối quan hệ Việt-Mỹ sẽ được lãnh đạo đảng bàn thảo và quyết định.

Có giới thiệu như vậy thì Bộ Ngoại Giao HK mới chính thức mời Phạm Quang Nghị. Trong lịch trình của chuyến thăm, Ngoại Trưởng John Kerry sẽ tiếp đón Phạm Quang Nghị. Nhưng do tình hình Trung Ðông mà ông John Kerry đã không có mặt ở Mỹ để đón tiếp Phạm Quang Nghị.

Như vậy, phe đảng của Tổng Trọng đã nắm được quyền quyết định trong cuộc chơi với Hoa Kỳ. Và chuyện chưa bao giờ xảy ra với đảng CSVN, đó là họ giới thiệu người lãnh đạo tương lai của họ tới chính phủ Hoa Kỳ.

Và mối quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến triển đến đâu? Nó sẽ được quyết định trong kỳ họp của BCT và trung ương tới đây. Ðiều này cũng sẽ ảnh hưởng đến việc cải thiện nhân quyền và dân chủ hóa tại Việt Nam.

Ngoài nỗ lực đấu tranh của phong trào dân chủ. Chúng ta chỉ biết chờ đợi và cầu mong điều tốt đẹp nhất sẽ đến với đất nước và dân tộc Việt Nam.

(Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2014)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Image

Dân Chủ không thể xin, cho

Ngô Nhân Dụng

Một bức thư ngỏ mới công bố của 61 đảng viên Cộng Sản Việt Nam kêu gọi đảng thay đổi, phải “đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ;” và phải tách khỏi đường lối lệ thuộc Trung Cộng. Lá thư này rất đáng hoan nghênh, mặc dù rất nhiều đảng viên cộng sản cất lên lời kêu gọi như vậy từ mấy năm nay rồi; nhiều người còn công khai tuyên bố từ bỏ đảng Cộng Sản.

Lá thư ngỏ này đáng chú ý vì trong 61 người ký tên có nhiều vị lần đầu bày tỏ ý kiến về hai vấn đề chính trị quan trọng nhất: nội trị và ngoại giao. Ðối với thể chế chính trị trong nước, những người ký tên yêu câu xóa bỏ chế độ cộng sản; mặc dù trong thư không nói thẳng ra những chữ đó. Họ công nhận đảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm tội “dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm... theo mô hình xô-viết.” Sau đó, dù thay đổi kinh tế nhưng “vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc.” Do đó, họ yêu cầu giới lãnh đạo đảng phải “thay đổi cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội,... chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ... xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ.”

Ðối với việc ngoại giao, họ yêu cầu giới lãnh đạo đảng phải ý thức “mưu đồ biến Việt Nam thành chư hầu kiểu mới” của Cộng Sản Trung Quốc. Họ yêu cầu cấp lãnh đạo đảng “từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng;... bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ,... thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc.” Cụ thể hơn, ban lãnh đạo đảng “phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.” Hơn nữa, đảng Cộng Sản “phải cho nhân dân được biết những sự thật” về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Ðô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế, v.v...”

Ngoài ra 61 vị ký tên còn yêu cầu “Ðại hội toàn quốc lần thứ XII” sắp tới được chuẩn bị “với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ.” Nói cách khác, quý vị yêu cầu nội bộ đảng Cộng Sản cũng phải dân chủ hóa.

Nói tóm lại, những lời “yêu cầu” trong bức thư cũng là những điều mà rất nhiều người Việt Nam đang đòi hỏi đảng Cộng Sản phải làm. Vì vậy, bức thư ngỏ này đáng hoan nghênh.

Trong bức thư ngỏ này thấy ba điều đáng chú ý. Thứ nhất, danh sách các chữ ký không xếp theo thứ tự ABC, hay già trẻ, chức vụ cao thấp, mà xếp theo tuổi đảng, từ người đã vào đảng năm 1939 xuống tới người vào đảng năm 1996. Thứ hai, bức thư này chỉ nhắm gửi cho các người đồng đảng, từ ban chấp hành trung ương xuống các đảng viên. Thứ ba, quan trọng nhất, là quý vị đứng tên chỉ thỉnh cầu mà không đòi hỏi, không tranh đấu. Họ không cho biết nếu cấp trên vẫn lờ đi, không nghe, không biết, không thấy lá thư này (như vẫn phản ứng trước các kiến nghị tương tự trước đây), thì quý vị sẽ có hành động gì chăng. Những lời yêu cầu “dân chủ” trong bức thư không kèm theo hai chữ “tự do,” cũng là một điều đáng chú ý. Vì các ông Stalin, Mao Trạch Ðông cũng đều tự nhận là dân chủ, họ còn nói chế độ của họ dân chủ gấp vạn lần nền dân chủ ở các nước tư bản. Nhưng họ chỉ nói dân chủ mà không đả động gì đến những quyền tự do cơ bản giúp con người sống có phẩm giá, gọi là “nhân quyền.”

Vì vậy, những người ngoài đảng Cộng Sản Việt Nam có thể thất vọng. Thái độ tôn kính người nhiều tuổi đảng cho thấy các người ký tên vẫn giữ một thứ tôn ti trật tự hoàn toàn nội bộ. Chỉ nêu lên các thỉnh cầu mà không đòi hỏi, không tranh đấu, chứng tỏ 61 người vẫn tuân thủ một tôn ti trật tự nội bộ. Dân chủ hóa đất nước và chống Trung Cộng bành trướng là những mối quan tâm của 90 triệu người Việt Nam. Không phải chuyện riêng của các đảng viên cộng sản. Nhưng 61 vị đảng viên trên chỉ thỉnh cầu cấp trên trong đảng thay đổi, chứ không nói gì với người chung quanh. Ðây là thói quen do suốt nửa thế kỷ sống trong một chế độ “xin, cho” tạo ra. Ðọc xong bức thư chúng ta có cảm tưởng mình đang “đọc trộm” thư riêng của người khác; họ không có ý gửi cho mình đọc những chuyện nội bộ của họ. Vì vậy, rất nhiều người thất vọng; mặc dù vẫn kính trọng thiện chí của quý vị đã ký tên.

Một người Việt Nam có suy nghĩ, trước cảnh đảng Cộng Sản “đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh” chắc phải kêu gọi tất cả đồng bào cùng lo xây dựng lại. Phải phát triển kinh tế; muốn thế phải xây dựng dân chủ; và phải phục hưng văn hóa. Ðây là chuyện chung của cả nước, không thể giao cho mấy chục người trong một đảng cầm quyền định đoạt hết được.

Từ 100 năm trước đây Phan Châu Trinh đã đặt một thứ tự ưu tiên cho ba việc kể: Phục hưng văn hóa là điều quan trọng nhất (dân khí, dân trí), kinh tế hưng thịnh (dân sinh) là hậu quả tự nhiên. Khi Phan Tây Hồ đặt các ưu tiên như vậy, cụ không nói đến thứ tự thời gian mà nhấn mạnh đến tầm quan trọng. Trong ba lãnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế, thì dân khí, dân trí có vai trò quyết định. Một nước làm ăn giầu có hơn mà dân trí, dân khí vẫn thấp kém thì sẽ không thể tiến xa được, nhất là trong thời đại “kinh tế tri thức” hiện nay. Một nước mở cửa thị trường mà không có luật pháp minh bạch, thì riêng nạn tham nhũng không thôi cũng khiến cho kinh tế chậm lụt mãi mãi. Cho nên nếu không dân chủ hóa thì kinh tế khó phát triển. Nhưng một nước thiết lập thể chế dân chủ rồi mà dân khí, dân trí chưa phấn khởi, thì nền dân chủ sẽ chỉ có trên giấy tờ. Dân khí phấn khởi khi nào mọi công dân coi “việc nước” cũng là phận sự của chính mình. Do đó, chính mình phải quan sát, theo dõi, kiểm tra những người đang nắm quyền hành trong nước. Việc xây dựng chế độ tự do dân chủ là việc của toàn dân, chứ không thể giao khoán cho một nhóm người nào cả. Ðó không phải là “công tác mới” của hàng chục triệu đảng viên cộng sản Việt Nam! Họ không thể quyết định thay cho 90 triệu con người.

Muốn phục hưng dân khí của người Việt Nam thì những nhà trí thức phải có thái độ và hành động mới. Cứ tiếp tục thái độ “xin cho” thì không bao giờ “phấn dân khí” được. Dân khí sẽ bùng lên khi thấy những hành động quyết liệt, cam đảm. Không thể rụt rè, xin xỏ. Bức thư yêu cầu đảng Cộng Sản “chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ” nhưng lại nói thêm, “một cách kiên quyết nhưng ôn hòa.” Có người Việt Nam nào bây giờ đang đòi thay đổi chế độ bằng bạo lực đâu, mà phải lo lắng như vậy? Một bức thư “yêu cầu” thay đổi với lời lẽ lễ phép từ đầu đến cuối, như vậy không đủ chứng tỏ các người soạn thư rất ôn hòa hay sao? Có lời lẽ nào trong thư tỏ ra muốn bạo động, quá khích đâu? Văn tức là người. Ðọc cái đuôi “kiên quyết nhưng ôn hòa” người ta cảm thấy một tình trạng tâm thần không yên ổn, vừa nói vừa lo ngại sẽ bị chụp mũ, bị đàn áp, tù tội, lo bị gán cho cái tội “xét lại, chống đảng” như kinh nghiệm đã dậy. Thái độ này khó mà giúp cho công việc “phấn dân khí.”

Cho nên, chúng tôi ước mong các đảng viên Cộng Sản Việt Nam sẽ đồng ý và phổ biến bức thư của 61 đảng viên mới công bố, nhưng yêu cầu quý vị hãy bầy tỏ thái độ một cách kiên quyết hơn nữa. Phải nói thẳng rằng đây là những đòi hỏi tối thiểu của chúng tôi. Phải xác định rằng nếu lá thư này không được trả lời, nếu các yêu cầu này không được thỏa mãn trong vòng ba tháng, sáu tháng, chúng tôi sẽ từ bỏ đảng, sẽ kêu gọi đồng bào tập họp trong một (hay nhiều) đảng mới, tranh đấu buộc đảng Cộng sản phải thay đổi: Thực hiện tự do dân chủ và hành động cương quyết với Trung Quốc. Ông Nguyễn Hữu Thọ từng nói, đại ý: Muốn tự do thì phải tranh đấu chứ không thể xin người ta ban cho được. Gần 40 năm rồi, nhiều người không còn nhớ câu đó nữa.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »



Việt Nam mua gì đầu tiên khi Mỹ bỏ cấm vận?
(Bình luận quân sự) - Hiệp định 123 về hạt nhân dân sự Việt Nam-Hoa Kỳ được ký thì vấn đề dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là không thê khác

Tuy nhiên, khi đó, Mỹ không thể cho không mà Việt Nam phải trả bằng USD. Vấn đề là, muốn, cần thì nhiều, nhưng có tiền để mua hay không mới quan trọng, đặc biệt mua loại vũ khí nào cho phòng thủ hữu hiệu mới là quyết định.

Có lẽ, có 2 thứ mà Việt Nam cần nhất mà có nó Việt Nam sẽ khiến Trung Quốc cực kỳ khó chịu và bi quan.

Vũ khí âm thanh chính hiệu Hoa Kỳ

Mùa thu 2005, ngoài khơi bờ biển Somalia, hải tặc trên các tàu cao tốc bao vây tàu chở khách viễn dương “Seabourn Spirit”. Bọn hải tặc hoàn toàn tin tưởng vào sự vượt trội của chúng và yêu cầu thủy thủ đoàn thả thang dây, song chỉ vài phút sau, chúng buộc phải vứt lựu đạn và súng để ôm lấy đôi tai đau đớn. Hải tặc đã bị Thiết bị phát âm thanh tầm xa (Long Range Acoustic Device – LRAD) của Mỹ nện cho một đòn nhớ đời.

Trong thông cáo được phát đi vào ngày 16/12/2013, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết, trong Biên bản chung về Hợp tác Hàng hải-Cảnh vệ Duyên hải giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ký ngày 1/10/2013 giữa Thiếu tướng Cảnh sát Biển Việt Nam (VCG) Nguyễn Quang Đạm và Đô đốc Tư lệnh Cảnh vệ Duyên hải Hoa Kỳ (USCG) Robert J. Papp, để nâng cao năng lực của các đơn vị tuần tra biển nhằm triển khai nhanh các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn, ứng phó thảm hoạ, và các hoạt động khác, bao gồm cả việc cung cấp 5 tàu tuần tra cao tốc vào năm 2014 cho lực luợng Cảnh sát Biển Việt Nam.
Image
Vũ khí âm thanh LRAD 1000 Xi của tàu CSB Việt Nam 8001
Viện trợ cho Việt Nam 5 con tàu tuần tra cao tốc cho lực lượng CSB Việt Nam này chắc chắn không thể thiếu LRAD chính hiệu.

Điều ngạc nhiên thú vị là không hiểu tại sao trên các tàu hiện đại của CSB Việt Nam đều trang bị LRAD của Mỹ, thiết bị có thể tạo ra âm hưởng tối đa 146 dB, cao hơn giới hạn gây đau đớn cho con người (120-130 dB) và gây thủng màng nhĩ.

Đây là vũ khí “phi sát thương” được dùng trên biển để chống hải tặc hữu hiệu nhất. Vì vậy, với Việt Nam, dùng để đối phó với “50.000 vũ khí công nghệ cao” của Trung Quốc trên Biển Đông khi chúng cậy đông, ồ ạt xông vào vùng EEZ đánh bắt trái phép là một sự răn đe khủng khiếp sắp tới.

Trong sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, có lẽ CSB Việt Nam giấu bài, hoặc LRAD chỉ có ở tàu lớn như 8001, nhưng dẫu sao CSB đã có loại vũ khí này.

Như vậy, vũ khí đầu tiên mà Việt Nam cần ở Mỹ với số lượng nhiều là đây, với chất lượng chính hãng và phạm vi tác chiến lớn hơn.

Tất nhiên, Việt Nam vẫn có thể mua vũ khí này từ Pháp, nhưng độ tin cậy không cao vì chưa qua “trận mạc” so với LRAD của Mỹ như đã từng (nêu ở trên).

Mua 6 chiếc P-3C4 Orion đời mới của Mỹ

Sự xuất hiện của P-3C4 trên Biển Đông sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sự sống còn của lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc còn hơn cả hạm đội tàu ngầm Việt Nam sắp triển khai. Rõ ràng, kế hoạch tác chiến của Hạm đội Nam Hải trên Biển Đông buộc phải hoàn toàn thay đổi.

Đây là điều Trung Quốc không bao giờ muốn, rất lo ngại, bởi lẽ, khi lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc trên Biển Đông bị “phơi lưng” thì không những có lợi cho Việt Nam (đương nhiên) mà Mỹ vẫn được lợi khi không có lực lượng săn ngầm của Mỹ có điều kiện hoạt động tại đây.
Image
Máy bay tuần tra trinh sát, tác chiến chống ngầm P-3C Orion mà sự xuất hiện của nó trên Biển Đông có thể tạo nên một sự thay đổi địa chính tri,
địa quân sự khu vực.
Trong khi đó, chống ngầm trong phòng thủ biển của Việt Nam cực kỳ quan trọng, mang tầm chiến lược. Phải xây dựng 4 lực lượng gồm: mìn, thủy lôi chống ngầm; tàu mặt nước săn ngầm; tàu ngầm chống ngầm và máy bay chống ngầm là then chốt.

Do vậy, không có gì là ngạc nhiên khi Việt Nam có ý định mua của Mỹ hay Nhật Bản loại máy bay này từ trước và nếu thành công thì chắc chắn đây là cuộc mua bán mà đôi bên cùng có lợi. Mỹ lợi nhiều hơn khi không những thu được tiền mà quan trọng hơn họ còn biết được thông tin về tàu ngầm Trung Quốc.

Hải quân Việt Nam có 6 chiếc tàu ngầm và cần có thêm 6 chiếc P-3C4 Orion đời mới do Mỹ sản xuất là bảo đảm có một “vùng biển sạch” cần thiết nếu muốn cho nhu cầu tác chiến khác trên Biển Đông.

Thế là đủ. Trong tay Việt Nam có thêm 2 loại này nữa thì chẳng khác nào Rồng lửa Việt Nam có móng vuốt của Nga và lửa của Mỹ.

Lê Ngọc Thống
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

Biển Đông: Trung Quốc cáo buộc Mỹ 'đổ dầu vào lửa'

BẮC KINH (NV) .- Trung Quốc cáo buộc Mỹ cố tình kích động thêm căng thẳng ở Biển Đông khi bác bỏ đề nghị của Hoa Thịnh Đốn
kêu gọi các nước dừng tất cả các hành động khiêu khích ở khu vực.

Image
Tàu hải giám của Trung Quốc (trái) chận đường tài cảnh sát biển Việt Nam muốn tiến đến giàn khoan HD981, ngày 15/5/2014,
khi lực lượng hai nước kình chống nhau về chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)
Những lời bình luận của Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị được đưa ra vào lúc Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF) bị che mờ bởi các tranh chấp trên Biển Đông mới xảy ra.

Tại cuộc họp ARF cuối tuần qua, ngoại trưởng Mỹ đề nghị các nước tranh chấp dừng tất cả các hành động xây dựng được nhìn thấy như thách đố các nước khác, nhờ vậy, dễ tiến đến một Bộ Quy Tắc Ứng Xử (COC) tránh được xung đột võ trang ở khu vực. Tuy nhiên, đề nghị vừa kể gặp sự chống đối thẳng thừng từ Bắc Kinh và nay lại còn đổ vạ ngược lại nữa.

“Một số nước ở ngoài khu vực đang không ngừng kích động căng thẳng...liệu ý đồ của họ có tạo ra khủng hoảng ở khu vực không?” Ông Vương Nghị nói. “Trung Quốc và ASEAN hoàn toàn có thể bảo vệ vững chắc cho hòa bình và ổn định của Biển Đông”.

Lời phát biểu của ông Nghị được phổ biến trên trang mạng của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc hôm Thứ Hai 11/8/2014 nhằm đả kích thẳng đề nghị của Mỹ tại diễn đàn ARF. Liên tiếp mấy ngày trước và sau hội nghị ASEAN và các đối tác tổ chức tại thủ đô Miến Điện Nay Pyi Taw, Tân Hoa Xã liên tiếp đưa ra các bài bình luận và phân tích thời sự đả kích kịch liệt các đề nghị giúp giảm căng thẳng Biển Đông của Phi Luật Tân cũng như của Hoa Kỳ.

Trong bài bình luận “Một Biển Đông êm ả không cần kẻ đổ dầu vào lửa”, bài viết của Tân Hoa Xã hôm Thứ Hai 11/8/2014 thuật lại lời phản bác của ngoại trưởng Vương Nghị với đề nghị của ngoại trưởng Mỹ John Kerry là “phản tác dụng” và “phá hoại” dù Trung Quốc gây ra các sự việc đã xảy ra.

Bài bình luận của Tân Hoa Xã đổ lỗi cho Mỹ là “phóng đại” các căng thẳng ở khu vực mà như thế có thể làm phức tạp thêm những nỗ lực đang diễn ra giữa các bên liên quan nhằm làm cho các cơn sóng lớn trên Biển Đông dịu xuống.

Tân Hoa Xã kêu rằng ngoại trừ những kình chống nhau giữa Việt Nam và Trung Quốc về vụ giàn khoan Hải Dương HD981 “trong vùng biển của Trung Quốc”, thì “tình hình nói chung ở vùng biển này vẫn ổn định và không có một nguy cơ lớn nào vượt ra ngoài tầm kiểm soát”.

“Bằng cách đổ dầu thêm vào lửa, Hoa Thịnh Đốn xúi giục nhiều hơn nữa những nước như Việt Nam và Philippines có lập trường cứng rắn hơn chống lại Trung Quốc, làm tăng sự nghi ngờ về ý định thật của Mỹ mà như vậy làm cho một giải pháp thân thiện (giải quyết tranh chấp) khó đạt tới hơn”, Tân Hoa Xã viết.

Từ trước tới nay, Bắc Kinh vẫn tránh né đàm phán về một Bộ Quy Tắc Ứng Xử để giảm thiểu cơ nguy xung đột võ trang trên Biển Đông, nhưng Tân Hoa Xã viết trong bài bình luận nói trên rằng “Bắc Kinh đang hợp tác với khối ASEAN để hình thành một bộ Quy Tắc Ứng Xử để bảo đảm hòa bình và ổn định cho khu vực, vốn phục vụ lợi ích của tất cả các nước kể cả Hoa Kỳ”.

Trong một bài bình luận khác cũng nhắm đả kích thẳng Hoa Kỳ, Tân Hoa Xã cũng thuật lời ngoại trưởng Vương Nghị bác bỏ lời kêu gọi dừng mọi hoạt động xây dựng tại khu vực Biển Đông.

Theo bản tin của thông tấn xã AFP, một viên chức Ngoại giao cao cấp Hoa kỳ giấu tên hôm Thứ Hai cho hay rằng cuộc họp ARF ở thủ đô Miến Điện đã đi từ “sự mơ hồ của một tiến trình dài hạn” tiến đến một cơ hội “thu lượm sớm sủa các ý kiến”, ám chỉ trao đổi các chi tiết về một bộ Quy Tắc Ứng Xử mà trước đây, không mấy ai nghĩ sẽ có trước sự bất hợp tác của Bắc Kinh.

Viên chức Ngoại Giao Mỹ cho hay thêm là Hoa Thịnh Đốn tiếp tục theo dõi, quan sát khu vực. “Chúng tôi cũng sẽ theo dõi tình hình thực tế ở các bãi đá ngầm, đảo nhỏ ở Biển Đông để có thể xác định xem là các nước tranh chấp có giữ lời hứa đồng thuận mà những bước kêu gọi giảm căng thẳng đã đưa ra.”

Trên diễn đàn ARF tại Nay Pyi Taw, ông Vương Nghị đã lập lại quan điểm cứng rắn của Bắc Kinh về vấn đề chủ quyền Biển Đông là “không thể lay chuyển” và sẵn sàng đối phó với bất cứ hành động nào đụng chạm tới những cái mà họ gọi là chủ quyền lãnh thổ truyền thống có lịch sử lâu dài dù mới chỉ cướp của các nước khác hồi thập niên 1970 và thập niên 1980. (TN)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mỹ giúp Việt Nam 'giải quyết thách thức bảo vệ chủ quyền?'


HÀ NỘI (NV) .- Mỹ sẽ giúp Việt Nam “giải quyết những thách thức về bảo vệ chủ quyền trên biển” theo bản tin điện tử của Đảng CSVN
thuật lời Đại tướng Chủ tịch Hội Đồng Liên Quân Hoa Kỳ Martin Dempsey.

Image
Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Liên Quân Hoa Kỳ, duyệt hàng quân danh dự cùng với thượng tướng Đỗ Bá Tỵ,
Tổng tham mưu trưởng quân đội CSVN hôm Thứ Năm 14/8/2014 tại Hà Nội. (Hình: AP Photo/Tran Van Minh)
Báo điện tử ĐCSVN nói ông Dempsey nói như vậy trong cuộc hội đàm với ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sau khi đã họp với tổng tham mưu trưởng quân đội CSVN mà nguồn tin nói rằng ông đã “có những cuộc thảo luận rất hiệu quả với phía Việt Nam về những vấn đề quan tâm chung cũng như việc thúc đẩy quan hệ đối tác”.

Nguồn tin vừa kể còn thuật lời ông Dempsey nói phía Hoa Kỳ “sẽ tìm ra lộ trình và cách thức để sớm dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam”, một điều cũng được ông Nguyễn Tấn Dũng đề cập trong cuộc gặp mặt Chủ tịch Liên Quân Hoa Kỳ.

* Thăm Việt Nam là mối quan tâm hàng đầu

Đại tướng Martin Dempsey là vị Chủ tịch Liên quân Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam kể từ khi chiến tranh chấm dứt năm 1975 đến nay. Theo báo Wall Street Journal, ông nói với báo chí là chuyến thăm Việt Nam là một quan tâm hàng đầu của ông. Ông đến Hà Nội chỉ ít ngày sau khi hai phái đoàn của Thượng viện Hoa Kỳ cũng đến đây và cũng đều đề cập đến vấn đề bãi bỏ cấm vận vũ khí sát thương mà CSVN luôn luôn thúc giục.

Trước khi rời Việt Nam, nghị sĩ nhiều ảnh hưởng John McCain họp báo nói có thể từ Tháng Chín tới đây, lệnh cấm vận võ khí sát thương cho Việt Nam được gỡ bỏ từng phần. Dù vậy, không thấy ông cho biết chi tiết và những điều kiện cụ thể nào mà nhà cầm quyền Việt Nam phải đáp ứng.

Theo sự tường thuật của báo ĐCSVN, đại tướng Dempsey “hoàn toàn chia sẻ với đánh giá rằng hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nhất là ở Biển Đông và Hoa Đông đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi những đòi hỏi phi lý và hành động xác lập chủ quyền dựa trên sức mạnh đơn phương. Điều này không chỉ đe dọa Việt Nam, các nước ASEAN mà còn đe dọa tới lợi ích của các nước, trong đó có Hoa Kỳ.”

Ông Dempsey đến Việt Nam trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc mới chỉ tạm “hạ hỏa” nhờ Bắc Kinh rút giàn khoan dầu HD981 về nước.

Nhiều nhà phân tích thời sự tin rằng đây chỉ là một bước lùi của Bắc Kinh để tiến hành những hành động khiêu khích khác, có thể khó đối phó hơn, nhằm củng cố những lời tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông.

Mua sắm trang bị quân sự tối tân của các nhà sản xuất Mỹ có giá rất đắt, dù được quốc hội Mỹ chấp thuận thông qua, cũng nhiều phần quá khả năng tài chính của Hà Nội, theo giới chuyên viên phân tích thời sự. Những tháng trước đây, có tin Hà Nội bắn tiếng muốn mua 6 máy bay săn tàu ngầm Orion P-3 hiện đang chờ cho nghỉ hưu.

Đầu Tháng Tám này, ngoại trưởng Nhật Fumio Kishidacho đến Hà Nội loan báo cung cấp 6 tàu và trang thiết bị nhằm giúp Việt Nam “tăng năng lực thực thi luật pháp trên biển”. Chúng gồm 2 tàu tuần tra và 4 tàu đánh cá cũ được tân trang lại thành tàu tuần bán quân sự chứ không phải những tàu mới.

Khi ngoại trưởng John Kerry đến Hà Nội ngày 16/12/2013, ông loan báo Hoa Kỳ sẽ cung cấp khoản viện trợ $32.5 triệu yểm trợ các nước ASEAN “tăng cường năng lực chấp pháp trên biển”, trong đó Việt Nam được cung cấp ngân khoản $18 triệu để sắm 5 tàu tuần tra cao tốc. Hiện người ta không biết tin tức chi tiết tiếp theo của vụ việc. (TN)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest