Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


CUỘC LUI BINH NGHIỆT NGÃ


Bảo Định Nguyễn Hữu Chế

Tiểu đoàn 2/43/SĐ18BB/QLVNCH

L.T.S: Tony Chế, Nickname mà anh em chúng tôi gọi anh khi anh vừa tái ngũ, đưa về phục vụ tại TĐ 31/BĐQ - Trắng trẻo, hơi hô hô, nên lúc nào nhìn anh cũng giống như đang cười vui với mọi người, tiếng Anh thuộc loại "vi vút" vì anh làm sở Mỹ, do đó mới có tên Tony - Một thời gian sau, anh được thuyên chuyển về SĐ18/BB và sau đó trở thành Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc của Sư Đoàn - Có một chút "hơi hướm" với BĐQ, nhưng cũng phải "dụ dỗ" mãi, anh mới viết cho một bài đầu tiên, để tưởng nhớ 30 năm ngày mất nước, mời các Bạn cùng theo dõi những lời kể của một nhân chứng sống.



Chẳng dám đem mình ví von với danh nhân - Nhưng đầu óc tôi cứ vơ vẩn nhớ tới câu nói của Napoléon Đệ Nhất:

"Nước Anh đánh trận nào cũng thua, chỉ có trận cuối cùng họ thắng" - Anh em chúng tôi, TĐ 2/43, SĐ18BB, ngược lại, đánh trận nào cũng thắng, chỉ có trận cuối cùng là thua ....... Khởi đầu cho trận thua đau đớn này là cuộc lui binh nghiệt ngã đêm 20-4-75 tại mặt trận Xuân Lộc, mà TĐ 2/43 chúng tôi phải rút lui trước địch quân. Một việc chúng tôi phải miễn cưỡng làm, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng .

Như quý vị đã biết, hành quân Lui binh là loại hành quân rất khó khăn, nhất là khi phải tiến hành dưới áp lực và hỏa lực của địch. Trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng vừa qua giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam từ năm 1956 đến năm 1975, QLVNCH đã hơn một lần bị thảm bại cay đắng, trong cuộc triệt thoái, hay di tản chiến thuật, hồi trung tuần tháng 3 năm 1975 từ Cao nguyên về Duyên hải miền Trung, với thiệt hại ít nhất 75% khả năng tác chiến của Quân đoàn II. Cuộc Hành quân Lui binh do Sư đoàn 18BB thực hiện trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 4 năm 1975 đã thành công tốt đẹp. Toàn bộ Sư đoàn và các đơn vị tăng phái đã về đến Bình giã, Bà rịa thuộc tỉnh Phước Tuy an toàn. Nói thế không có nghĩa là không có những tổn thất nho nhỏ, mà Tiểu đoàn 2/43 là một trong những cái nho nhỏ đó.

Thật sự Tiểu đoàn 2/43, đơn vị rời chiến trường sau cùng, vì có nhiệm vụ đánh nghi binh, đánh chặn hậu cho đại quân rút an toàn, nên đã bị tổn thất đáng kể, khi đơn độc vượt qua vòng vây trùng trùng điệp điệp của Cộng quân, nhưng không đến nỗi bi đát như lời của Luật sư Nguyễn Văn Chức trích lại từ cuốn Việt Sử Khảo Luận của LS Hoàng Cơ Thụy, viết theo ký giả Mỹ Frank Snepp trong cuốn Decent Interval: "Trực thăng đã đến bốc cái tiểu đoàn chót của 4 tiểu đoàn sống sót của sư đòan 18, kể luôn tướng Lê Minh Đảo. Có 600 người dưới quyền đại tá Lê Xuân Hiếu tình nguyện ở lại sau cùng để che chở cho cuộc triệt thoái. Trong vài giờ, họ bị tràn ngập bởi 40 ngàn quân Bắc Việt đã được bố trí để trực tiếp đánh họ". Hai ông Luật sư, một ông ký giả với những nhận định, trích dẫn của nhau về một trận đánh mà chẳng có ông nào tham dự .......Tôi xin miễn có ý kiến về việc này, vì sự thật hiện nay đã phần nào được chứng minh.

Anh em chúng tôi, những người đóng vai chính trong trận đánh, vượt bao hiểm nguy, may mắn thoát chết, bây giờ nghĩ lại vẫn còn thắc mắc: "phép lạ nào mà chúng tôi còn sống sót" - Sự việc xảy ra vừa đúng 30 năm. Tuổi đời của tôi cũng sắp đến "thất thập cỗ lai hy". Trí nhớ có phần giảm sút. Những ngày đêm hãi hùng đó trong khu rừng rậm, trong những căn cứ địa của VC, bị Sư đoàn 341 CSBV truy đuổi và bao vây chặt. Có những điều tôi vẫn còn nhớ như in, nhớ rất rõ ràng. Nhưng cũng có nhiều điều tôi chỉ còn nhớ mù mờ, nhớ lẫn lộn, thậm chí đã quên hẳn!

Tên của các vị Sĩ quan trong Tiểu đoàn, tôi cũng nhớ không hết, ngoài các vị sau đây:



-Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn Tấn Chi, K.12 Thủ Đức.
-Đại úy Sĩ quan Hành quân/Huấn luyện/TĐ Nguyễn Mỹ.
-Trung úy Nguyễn Văn Thắng, SQ Quản trị Nhân viên kiêm Chỉ huy Hậu cứ/TĐ
-Trung úy Nguyễn Văn Hào, ĐĐT/ĐĐ1
-Trung úy Võ Văn Mười, ĐĐT/ĐĐ2
-Trung úy Nguyễn Văn Hùng, ĐĐT/ĐĐ3
-Trung úy Hà Văn Dương, ĐĐT/ĐĐ4
-Trung úy Võ Kim Thạch, ĐĐT/ĐĐCH&YT
-Trung úy Tuyễn, SQ Truyền tin
-Trung úy Linh
-Trung úy Chánh
-Vị SQ Trợ Y/TD, SQ Tiền sát viên Pháo binh, Vị Trung đội trưởng Pháo binh,...

Có nhiều đồng đội đã vĩnh viễn nằm xuống trong khu rừng oan nghiệt đó. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, người chịu trách nhiệm đến sự an nguy của Tiểu đoàn trong cuộc Hành quân Lui binh, tôi xin nhận sự phán xét của các Chiến hữu. Và cũng thay mặt các Chiến hữu, tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước Vong Linh của những đồng đội đã anh dũng nằm xuống để cho chúng ta được sống, Nước Việt được trường tồn. Nhưng bất hạnh thay! cuộc chiến đấu cho Chính Nghĩa của chúng ta đã bị phản bội. Rốt cuộc, miền Nam thân yêu của chúng ta đã lọt vào tay bọn CSBV xâm lăng. Nhưng tôi vẫn tin tưởng sự hy sinh của các bạn không oan uổng, không lãng phí. Chúng ta chỉ mới thua một trận chiến, cuộc chiến vẫn tiếp tục, nhưng dưới một hình thái khác. Ngày Quang Phục Quê Hương không còn xa. Chủ Nghĩa Cộng Sản, Chế độ Cộng Sản nhất định phải bị tiêu diệt. Dân tộc Việt, đất Nước Việt nhất định trường tồn. ĐỘC LẬP - TỰ DO - DÂN CHỦ và HẠNH PHÚC - NO ẤM nhất định sẽ trở về với toàn dân.

Bảo Định

Khi Tiểu đoàn xuống núi, vừng đông đã ló dạng. Một ngày mới bắt đầu. Những trái đạn pháo 105 ly được bắn đi xối xả, bắn cho hết đạn, đã liên tục rót lên đầu giặc chỉ mới vừa ngưng. Hai khẩu pháo thân thương hoàn thành xong nhiệm vụ thì nhận hai trái lựu đạn nỗ tung bụng, đang nằm im lìm, trơ càng như hai đống sắt vụn ở ngọn đồi phía dưới, cô đơn và lạnh lẽo.

Tiểu đoàn yên lặng di chuyển. Lộ trình ấn định là Xuân Lộc - Bà Rịa, theo Liên TL2. Điểm tập trung tại Đức Thạnh, Tỉnh Phước Tuy. Sau đó sẽ có xe đưa về căn cứ Long Bình nghỉ ngơi, tái bỗ sung quân số và đạn dược, rồi nhận nhiệm vụ mới.

Buổi sáng ngày 20/4/75, lối 9 giờ, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, TL/QĐ III, Quân Khu 3 bay vào Xuân Lộc gặp Tướng Đảo để chỉ thị việc rút quân. Chỉ trong một thời gian ngắn, Tướng Đảo và Bộ Tham Mưu Sư đoàn đã cấp tốc soạn thảo một kế hoạch triệt thoái rất tỉ mỉ. Vừa quá trưa, tôi đã nhận được Lệnh Hành Quân để kịp thời chuẩn bị. Tôi đã thi hành đúng theo những chỉ thị ghi trong LHQ: Tiểu đoàn giữ lại 2 khẩu pháo 105 ly, còn tất cả sẽ kéo về Xuân Lộc để di chuyển cùng Sư đoàn. Hậu cứ Tiểu đoàn gồm cả kho lương thực, đạn dược sẽ theo Sư đoàn đi trước. Tiểu đoàn vẫn duy trì hoạt động bình thường. Hoạt động nghi binh - cũng giống như trường hợp của Trương Phi cùng 20 người ngựa, tại cầu Trường Bản, đã mưu trí dùng những nhánh cây cột vào đuôi ngựa cho chạy lui, chạy tới trên đường, tạo đất bụi bay mù trời để đánh lừa quân của Tào Tháo, nhờ thế, đại quân của Lưu Bị đã rút đi được - Hai khẩu pháo vẫn tác xạ quấy rối liên tục vào vị trí địch. Các toán tiền đồn, phục kích vẫn nằm tại vị trí. Nhất là Trung đội Biệt Kích Tiểu đoàn hoạt động khu vực Núi Ma, đối diện căn cứ Núi Thị, bên kia đường QL1 về hướng Bắc. Nhờ sự hoạt động hữu hiệu của Trung đội này, Cộng quân đã không thể nào đến gần đặt súng cối bắn vào Tiểu đoàn.

Theo Lệnh Hành Quân, đúng 7 giờ tối, Tiểu đoàn sẽ vào hệ thống truyền tin của Lữ đoàn 1 Nhãy Dù, đặt dưới quyền chỉ huy của Lữ đoàn trưởng Dù. Đến 12 giờ đêm, Tiểu đoàn trở lại hệ thống làm việc của Sư đoàn, phá hủy 2 khẩu pháo, rời bỏ căn cứ Núi Thị, rút về điểm tập trung trước, sau đó là các đơn vị của Lữ đoàn Dù. Đúng lúc 12 giờ, tôi gọi LĐ Dù cho tôi trở về với SĐ. LĐ Dù bảo chờ. Lúc 1 giờ sáng, tôi gọi lại, cũng bảo chờ! Lúc 2 giờ sáng, tôi gọi lần nữa, cũng được trả lời: Chờ! Lúc gần 3 giờ, nhìn về hướng thị trấn, tôi thấy có rất nhiều ánh đèn xe hơi di chuyển. Tôi liền gọi về LĐ Dù hỏi và được trả lời: Nó đấy! Hãy xữ dụng pháo bắn. Nhưng pháo của tôi đã bắn gần hết đạn từ lúc quá n ửa đêm, chuẩn bị phá hủy để di chuyển. Và cũng từ lúc đó tôi mới được lệnh cho Tiểu đoàn rời căn cứ. Nhìn đồng hồ, kim chỉ vừa đúng 3 giờ - 3 giờ sáng! Tôi cho lệnh gom quân. Việc gom quân không phải dễ dàng. Làm thế nào để các toán tiền đồn và phục kích rời vị trí, trở về căn cứ mà địch không phát hiện được, không bám sát đi theo là chuyện khó. Trong suốt cuộc chiến vừa qua, nhất là thời kỳ chiến tranh Việt - Pháp, những đơn vị đi tiền đồn, phục kích về bị địch bám sát theo rồi lợi dụng thời cơ, cướp đồn là chuyện thường xãy ra. Và phải hơn một giờ sau Trung đội BK/TĐ mới về đến Tiểu đoàn.
Hành Quân
Theo tập Hồi ký của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh mà nhà Sử học George J. Veith gửi cho tôi bản dịch tiếng Anh, thì vị cựu Lữ đoàn trưởng LĐ 1 Dù nói đơn vị cuối cùng của LĐ, Tiểu đoàn 9 Dù cùng Trung đội Pháo binh đã rời Long Giao lúc 4 giờ 30 sáng. Như vậy là toàn bộ LĐ Dù đã rút đi trước, đã rời khỏi Mặt trận trước Tiểu đoàn 2/43. Và TĐ2/43 là đơn vị cuối cùng rời bỏ Xuân Lộc!

Lúc Tiểu đoàn đi đến gần Ấp Núi Đô thì trời đã sáng hẳn. Một số Nghĩa quân và Địa Phương Quân vác súng chạy theo, muốn nhập theo đoàn quân. Nhưng với tinh thần cảnh giác cao độ, tôi buộc phải đổi hướng, tránh xa họ. Vì tôi không thể phân biệt được thật hay giả. Tôi phải nghĩ đến sự an nguy của đơn vị trước tiên. Trong chiến đấu, ta không thể xử sự theo lối nữ nhi thường tình. Tại mặt trận An Lộc, Bình Long hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, vì lòng nhân đạo, muốn cứu một thương binh Cộng quân, tôi đã mất đi một y tá khi tên thương binh địch mở chốt lựu đạn ném vào người định cứu mình!

Tại Đức Thạnh, tỉnh Phước Tuy, Đại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng 43BB, con chim đầu đàn của chúng tôi, gọi báo cáo với Tướng Đảo là TĐ2/43 vẫn còn kẹt ở Xuân Lộc.

Lối 7 giờ sáng, khi Tiểu đoàn di chuyển gần đến căn cứ Long Giao, đang đi trong khu rừng chồi, sắp đến vùng đồn điền cao su thì tôi nghe tiếng trực thăng bay ngang đầu. Tôi nghe tiếng gọi tôi. Đó là tiếng của Đại tá Ngô Kỳ Dũng, Trung đoàn trưởng 52BB đang bay trên chiếc C&C của Tư lệnh, chuyển lệnh của Tướng Đảo, ra lệnh cho tôi phải hủy bỏ lộ trình cũ trong Lệnh Hành quân, mà phải chuyển hướng băng rừng ra Long Thành, trên QL15.

Xin nói rõ thêm một chút, để câu chuyện được mạch lạc : Đường LTL2, Lộ trình triệt thoái theo LHQ, nối liền Xuân Lộc , tỉnh Long Khánh và Bà Rịa, tỉnh Phước Tuy, dài trên 40 km đã bị bỏ hoang phế từ lâu, kể từ sau Hiệp định Đình chiến Paris, khi quân đội Đồng minh (Úc Đại Lợi) rút khỏi chiến trường. Khi Tướng Đảo quyết định chọn con đường này để làm Lộ trình triệt thoái. Ông đã có một quyết định táo bạo. Nhưng đã tạo được sự bất ngờ. Đoạn đường dài trên 40 km đó, lâu nay vẫn là vùng an toàn của Cộng quân. Ngoài những toán du kích địa phương có nhiệm vụ canh giữ con đường, Trung đoàn 33 CSBV vẫn thường xuất hiện hoạt động quấy phá. Con đường đã là hành lang giao liên an toàn giữa các mật khu cuả VC. Quyết định táo bạo của Tướng Đảo, yếu tố bất ngờ của cuộc Hành quân Lui binh do Sư đoàn 18BB thực hiện đã làm cho Cộng quân trở tay không kịp. Chúng không thể tức thời điều quân đến truy kích và ngăn chặn. Trong quyển "Lịch sữ Quân Đội Nhân Dân" của CSBV, Quân đoàn IV Cộng quân của Tướng Hoàng Cầm thú nhận: "Chúng tôi đã không phát hiện kịp thời cuộc di chuyển quân của Sư đoàn 18 để tổ chức lực lượng truy kích và ngăn chặn." Nhưng những cuộc chạm súng, tấn công vào đoàn quân triệt thoái, tuy không quy mô, nhưng cũng không phải là nhỏ và đã gây cho lực lượng bạn một số tổn thất đáng kể: Đại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh trưởng bị bắt. Trung tá Tham Mưu trưởng bị tử thương, đồng thời cũng đã gây một số thiệt hại cho LĐ1 Dù, khi đơn vị này vừa chiến đấu vừa bảo vệ thường dân các ấp Bảo Định, Bảo Hòa và Bảo Toàn di tản theo. Sau khi đơn vị cuối cùng của LĐ1 Dù đi qua, con đường giờ đây lại nằm dưới sự kiểm soát của Cộng quân - Yếu tố bất ngờ không còn nữa - Chúng cố vớt vát những tổn thất mà chúng đã gánh chịu trong suốt 12 ngày đêm tại Mặt trận Xuân Lộc, bằng cách phải tiêu diệt cho được đơn vị còn lại của QLVNCH. Đó là Tiểu đoàn 2/43 Sư đoàn 18BB, vừa rời bỏ căn cứ Núi Thị. Vì lý do đó mà Tướng Đảo đã lệnh cho chúng tôi thay đổi lộ trình .

Đây là lần đầu tiên kể từ khi xuống núi, tôi bắt được liên lạc với Sư đoàn. Nhưng khi chiếc trực thăng bay qua, lệnh đã ban xong, tôi lại mất liên lạc hoàn toàn với bên ngoài. Không còn đơn vị bạn nào ở gần để có thể liên lạc qua lại. Sư đoàn, Lữ đoàn, Trung đoàn đều ở xa. Tất cả đang di chuyển. Chúng tôi lại đang ở trong rừng. Máy truyền tin không thể hoạt động tầm xa. Chúng tôi đã hoàn toàn cô độc. Chúng tôi lạc lõng giữa khu rừng rậm mênh mông với nhiều mật khu, nhiều căn cứ địa của địch. Khu rừng này nối tiếp với mật khu Hắc dịch nổi tiếng của VC. Hiện giờ, Sư đoàn 341 của Cộng sản Bắc Việt đang chiếm cứ nơi này. Đây là một Sư đoàn tân lập, gồm các Tiểu đoàn Chủ lực của hai tĩnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Chúng vừa mới được đưa vào Nam hồi cuối tháng 2, sát nhập vào Quân đoàn IV do Tướng Hoàng Cầm chỉ huy. Binh sĩ phát âm giọng Nghệ - Tĩnh, rất khó nghe.

Lối 9 giờ, Tiểu đoàn đến một khu rừng cao su, phía tây căn cứ Long Giao. Đơn vị tiền phương chạm địch. Nhưng địch quân chỉ là một toán nhỏ, cấp Tiểu đội. Chúng đã nhanh chóng bị thanh toán. Liền sau đó, đơn vị tiền phương lại chạm địch. Lần này địch phản ứng mạnh. Nhưng không có pháo binh và phi cơ yểm trợ. Phải giao chiến trong tình trạng này thật là bất lợi. Tôi sợ quân sĩ bị thương vong sẽ gây phiền phức. Tôi quyết định đoạn chiến. Vừa lúc đó, từ hướng đông, một đoàn xe Molotova chạy vào -sau này đi ở tù cải tạo, được biết đó là loại xe quân sự do Trung Cộng chế tạo để chở quân, có tên là Hồng Kỳ, hơn 10 chiếc đang đổ quân. Chúng định đánh bọc hậu Tiểu đoàn. Chúng định lùa Tiểu đoàn tôi vào khu rừng trước mặt, nơi đại quân của chúng đang chờ sẵn để tiêu diệt. Tôi cho đổi hướng, Tiểu đoàn đi nhanh về hướng Bắc, lẩn vào khu rừng chồi. Sau đó phải đổi hướng theo hướng Tây trở lại. Khi đến một con suối, Đại đội 2 của Trung úy Võ Văn Mười báo cáo phát hiện một túp lều, bên trong có mấy tên VC đang ngồi uống nước trà. Một khẩu K.54 treo trên vách phên. Không thể lẩn tránh kịp. Tôi cho lệnh nổ súng, thanh toán cho gọn. Toán VC bị tiêu diệt. Tiểu đoàn tiếp tục tiến. Đến chiều, chúng tôi đến một khu rừng chồi tương đối thoáng, nối tiếp là rừng rậm. Tôi cho lệnh nghỉ ngơi. Tôi hội ý với Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn Tấn Chi, K.12 Thủ Đức, và các Đại đội trưởng. Tiểu đoàn sẽ chia làm hai cánh: một do tôi trực tiếp chỉ huy, và một do Đại úy Chi chỉ huy, xuyên qua rừng rậm, tiến về Long Thành. Tôi còn nhấn mạnh thêm : Tùy theo tình thế, các Đại đội trưởng có thể đơn độc dẫn đơn vị mình về điểm hẹn. Tôi phải ra lệnh phân tán như vậy vì tình hình rất nghiêm trọng, địch với một quân số rất lớn, lại đã biết chúng tôi đang trong vòng vây của chúng, sớm muộn gì chúng cũng sẽ tìm được và tiêu diệt trọn đơn vị chúng tôi .

Trời đã về chiều. Bóng đêm đến nhanh. Tiểu đoàn tiến vào khu rừng rậm. Từ bìa rừng vào chưa đến 100 mét thì cánh quân của tôi chạm súng dữ dội với địch. Sau một ngày hành quân mệt mỏi, lại phải chạm địch liên miên. Tinh thần căng thẳng, thể xác rã rời. Nhất là khi tôi cho lệnh cố tránh né địch, bão toàn sinh mạng. Nên vừa chạm súng được một lúc là chúng tôi tìm cách "chém vè". Bây giờ toán quân theo tôi tất cả chỉ còn 28 người, kể cả tôi. Chúng tôi đã bị bao vây chặt. Đêm đó là một đêm trăng mờ. Hai mươi tám người chúng tôi mò mẩm, im lặng, tìm đường thoát thân trong bóng đêm, dưới ánh sáng mờ nhạt của vầng trăng khuyết:

Chàng từ đi vào nơi gió cát,
Đêm trăng này nghỉ mát phương nao?
Xưa nay chiến địa nhường bao,
Nội không muôn dặm, xiết bao dãi dầu."

Thật ra thì đêm trăng đó chúng tôi không thể nào nghỉ mát được. Chúng tôi đã phải "dãi dầu" suốt 12 ngày đêm tại Mặt trận Xuân Lộc. Ngày hôm nay phải hành quân đơn độc, chạm súng liên tục, nhưng lại thiếu sự yểm trợ của phi pháo, là hai yếu tố quyết định thành công của bất cứ cuộc hành quân nào. Tiểu đoàn lại đang lọt giữa vòng vây trùng trùng điệp điệp của địch. Chúng tôi đang tìm kế thoát thân. Gần nửa đêm, chúng tôi lần mò đến một khu rừng thấp. Một con đường mòn cắt ngang. Tôi định cho vượt qua thì gặp một toán Cộng quân di chuyển. Chúng dừng lại ngay trước mặt, và phát loa kêu gọi:

"Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế, Biệt hiệu Bảo Định, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/43, Sư đoàn 18BB Ngụy. Hiện Tiểu đoàn bạn đang bị quân Cách Mạng bao vây. Hàng thì sống, chống thì chết."

Tên bộ đội phát loa, giọng đặc sệt Nghệ - Tĩnh. Chúng thuộc Sư đoàn 341 CSBV. Có thể chúng chỉ là những đơn vị chủ lực Tỉnh vừa mới đôn quân thành chính qui vì nhu cầu chiến trường miền Nam, nên kinh nghiệm tác chiến còn kém cỏi. Nếu không, có lẽ......

Chúng tôi đổi hướng. Nhưng lại gặp tiếng loa kêu gọi đầu hàng với nội dung và giọng nói như lúc nãy. Có lẽ chúng đã ghi âm - Đầu óc tôi căng thẳng, hiện tại anh em chúng tôi như kiến bò trong chén, tứ bề thọ địch, có thể nói thật, không hề cường điệu là chỉ với tay ra là chạm địch - Thập phần nguy hiểm, tôi suy nghĩ : phần số tôi đến đây là tận cùng sao! Nếu vậy, tôi phải có quyết định thế nào để bảo toàn tính mạng cho thuộc cấp chứ! - Tôi bò đến gặp từng anh em và nói với họ: "Các anh có thể ra, nhưng tôi thì không. Đợi tôi lẩn tránh xa thì các anh có thể bắt đầu". Nhưng tất cả đều nhất quyết "KHÔNG" - Lòng tôi chùng xuống, hai cánh mũi cay cay, nước mắt muốn trào ra - Tôi hít thở thật sâu để cảm xúc lắng xuống, huynh đệ chi binh là những giây phút này đây, khốn khó có nhau, sống chết có nhau là lúc này đây! Cám ơn các anh em đã có những hành động quyết liệt, để khích lệ tinh thần tôi, đã cho tôi nguồn hy vọng để tiếp tục đấu tranh giành sự sống, trong lúc thập tử nhất sinh .......

Tiểu đoàn 2/43, đơn vị thiện chiến của Sư đoàn 18BB. Kể từ thời cố Trung tá Hắc Long Đỗ Văn Tân, K.7 Võ Khoa Thủ Đức làm Tiểu đoàn trưởng, giao lại cho cố Trung tá Hắc Long Nguyễn Văn Thoại, gốc Thiếu Sinh Quân, dân Thủy quân Lục chiến, đến Thiếu tá Bảo Định Nguyễn Hữu Chế là tôi, từng phục vụ tại Binh chủng Biệt Động Quân. Dù chỉ một thời gian ngắn, nhưng cũng học được kinh nghiệm tác chiến "tốc chiến tốc thắng" của Binh chủng ưu tú này, nên đã giữ cho Tiểu đoàn luôn luôn là đơn vị xuất sắc của Sư đoàn cũng như của Quân đoàn III.

Sau trận chiến An Lộc của Bình Long anh Dũng hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, tôi được đại diện đơn vị về Bộ Tư Lệnh Quân đoàn nhận lãnh phần thưởng do Cố Thiếu tướng Lê Văn Hưng, lúc đó giữ chức TLP/QĐ trao tặng. Tết năm 1974, Tiểu đoàn lại được chọn là đơn vị xuất sắc để Ông Tổng trưởng Kinh tế - Tài chánh Hà Xuân Trừng đại diện Chính phủ đến ủy lạo. Và năm 1974, Tiểu đoàn được Tuyên dương Công trạng trước Quân đội, Hiệu kỳ của Tiểu đoàn được gắn thêm một Anh Dũng Bội Tinh với Ngành Dương liễu. Những chiến công vang dội mà Tiểu đoàn đã gặt hái được đã làm cho Cộng quân khiếp sợ. Từ trận Tái chiếm Phi trường Quản Lợi tại Mặt trận An Lộc, Bình Long; trận Bố Lá thuộc Quận Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; trận Thái Hưng thuộc Quận Công Thanh, tỉnh Biên Hòa; trận Võ Đắc - Võ Su thuộc Quận Hoài Đức, tỉnh Bình Tuy; trận tái chiếm Ngã Ba Dầu Giây thuộc Tỉnh Long Khánh hồi Hiệp định ngưng bắn Paris đầu năm 1973. Đặc biệt tại trận này, khi khai thác tên tù binh cấp B trưởng, tức Trung đội trưởng thuộc Trung đoàn 33 Cộng quân, hắn nói: "Chúng tôi được lệnh của Thủ trưởng E, tức Trung đoàn trưởng, mỗi khi gặp TĐ2/43 thì phải đoạn chiến và tìm cách chém vè! Không biết đó là lời thật hay dối lòng để tâng bốc mình. Nhưng thực tế, TĐ2/43 đã làm cho Cộng quân phải e dè và kiêng nể.

Nhưng giờ đây chúng tôi như những con thú bị săn đuổi trong khu rừng săn bắn của Triều đình Nhà Thanh từ thời đại Khang Hy đến Càn Long. Con thú chỉ có thể chạy trốn trong khu rừng săn bắn rộng mênh mông, nhưng khó vượt thoát ra ngoài. Chúng tôi đang bị sa cơ thất thế - Đau hơn nữa là cảnh sa cơ thất thế của chúng tôi không phải vì tài hèn, sức mọn, mà vì bị đồng minh trói tay, hay nói rõ hơn là bị .... bán đứng .

Lúc gần sáng, chúng tôi gặp một con suối. Sau khi vội vàng cho lấy nước đổ vào bi-đông, và những bao gạo sấy, chúng tôi lại lên đường. Phải tránh xa các con suối. Vì đó là nơi địch cũng thường xuất hiện để lấy nước hoặc tắm giặt. Toán 28 người chúng tôi hầu hết là lính Văn phòng, Truyền tin, Quân Y, Pháo binh.... Tất cả chỉ được trang bị súng ngắn hay lựu đạn để dể dàng làm việc. Chỉ có một số anh em thuộc Trung đội Biệt Kích/TĐ là có súng M.16. Nhưng chỉ với 28 người, lại đang nằm trong vòng vây địch, đang bị lùng đuổi. Muốn sống còn, chúng tôi phải tìm cách lẩn tránh bọn chúng. "Tránh voi cũng chẵng xấu mặt nào!".
Tiền Đồn
Bước sang ngày thứ ba, kể từ khi rời bỏ Xuân Lộc. Hoạt động của chúng tôi vẫn thế. Ngày nghỉ, tìm những nơi rậm rạp chui vào. Đêm đến thì di chuyển. Cứ nhắm hướng Tây, hướng Long Thành mà đi.

Đến ngày thứ tư, tôi cảm thấy đã thoát ra được khỏi vòng vây địch, nhưng tôi vẫn chưa dám trả lời máy, mặc cho SĐ, TR/Đ lo lắng, và những người vợ lính đang ngày đêm khắc khoải chờ tin chồng tại Tiền trạm Tiểu đoàn ở Long Bình. Hàng ngày, buổi sáng và buổi chiều đều có máy bay, khi thì trực thăng, khi thì L.19, do Phòng 3 Sư đoàn, Ban 3 Trung đoàn, và thường do Đại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng 43BB đích thân bay đi tìm.

Tại Tiền trạm Tiểu đoàn, đặt tạm bên ngoài căn cứ Long Bình, đối diện với BTL/SĐ, Trung úy Nguyễn Văn Thắng, Sĩ quan quản trị nhân viên TĐ, đã bận rộn suốt ngày để điều động những chiếc xe GMC về Long Thành đón những toán quân vượt thoát vòng vây địch vừa từ trong rừng ra. Cánh quân của Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn Tấn Chi đã về đến gần như nguyên vẹn. Chỉ có cánh quân Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng là đụng độ mạnh, phải phân tán. Nhưng những quân nhân sống sót, cuối cùng cũng lần mò ra đến điểm tập trung. Trung úy Thắng lại còn phải trả lời, phân ưu những Bà Vợ Lính, kể cả Bà vợ của Thiếu tá TĐT, những quân nhân còn ghi nhận là "MẤT TÍCH". Những người vợ lính đợi tin chồng, đang khắc khoải lo âu. Hàng ngày họ đến đây từ sáng sớm. Có người tay bồng, tay dắt những cháu bé mới 3, 4 tuổi. Hoàn cảnh thật thương tâm!

Buổi sáng ngày thứ tư của cuộc triệt thoái, tức là ngày 24/4/75, Trung úy Thắng nhận được chỉ thị từ Sư đoàn là phải chuẩn bị hồ sơ để làm lễ "TRUY THĂNG - TRUY TẶNG" cho những quân nhân được ghi nhận là "MẤT TÍCH". Tin này, Thắng hoàn toàn giữ kín. Thỉnh thoảng, Trung úy Thắng cũng nhận được những cú điện thoại từ Sư đoàn, Trung đoàn của Thiếu tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo, và Đại tá Trung đoàn trưởng Lê Xuân Hiếu hỏi thăm: Phu nhân Thiếu tá Chế còn đó không?

Lối 5 giờ chiều, chiếc máy truyền tin của Tiền trạm Tiểu đoàn bỗng vang lên giọng nói yếu ớt: "Hoàng Yến, đây Bảo Định; Hoàng Yến, đây Bảo Định, nghe rõ trả lời." Đó là tiếng gọi của tôi khi khi toán quân đang tiến tới một một khu rừng chồi thấp, mà tôi nghĩ có thể đã thoát ra khỏi vòng vây địch. Lúc đó vừa lúc chiếc L.19 bay ngang đầu. Vị Đại tá Trung đoàn trưởng của tôi ngồi trên đó, đang gọi tìm tôi:

- Tôi nghe tiếng ai như tiếng Bảo Định
- Bảo Định đây, Hoàng Yến - tôi vội trả lời.
- Anh cho tôi tọa độ điểm đứng, dọn bãi đáp.
- Không được, tôi sợ chưa thoát khỏi vòng vây. Để tôi đi xa thêm nữa. Đợi sáng mai.
- Được, hẹn Bảo Định sáng mai.

Sau đó, chiếc L.19 trở về căn cứ. Toán quân của tôi tiếp tục cuộc vượt thoát. Cố di chuyển càng xa về hướng Tây càng tốt. Hy vọng thoát được vòng vây của địch. Đã 4 ngày 3 đêm kể từ khi xuống núi. Có lẽ đây là giờ phút sung sướng nhất!

Sáng ngày hôm sau, tức 25/4/75, lối 9 giờ, một đoàn trực thăng 4 chiếc bay vào vùng. Tôi cho trải "paneau" làm tín hiệu nhận nhau. Tôi cho sắp làm 3 toán. Địa thế là rừng chồi. Chỉ có một khoảng trống nhỏ có thể dùng làm bãi đáp cho một chiếc trực thăng. Chiếc thứ nhất đáp xuống bốc toán đầu tiên rồi cất cánh an toàn. Chiếc thứ hai, bốc toán thứ hai. Cũng cất cánh an toàn. Nhưng đến chiếc thứ ba, tôi ở trong toán thứ ba - trực thăng vừa đáp xuống thì từ hướng Đông, AK, B.40 đồng loạt khai hỏa cùng những tiếng la "xung phong" dậy trời. Toán quân còn lại của tôi nhanh chóng lao vào trực thăng - Trực thăng vội vàng cất cánh - Vì muốn tận mắt thấy các thuộc cấp được an toàn trước, nên tôi tự xếp mình vào toán thứ ba và là người cuối cùng - Nhìn chiếc trực thăng đang bốc lên, nghe tiếng súng các loại nổ rền, hòa lẫn tiếng hô "xung phong" của địch - Tôi sững sờ - Cái chết đang đến trong đưòng tơ, kẽ tóc - Nhưng bản năng sinh tồn chợt trỗi dậy - Tập trung hết sức lực còn lại, tôi chỉ còn kịp chạy đến, nhảy mạnh lên, hai tay vội chụp lấy càng máy bay, ôm chặt. Trực thăng lướt nhanh trên đầu ngọn cây rồi từ từ tăng cao độ, trực chỉ Long Bình. Người xạ thủ đại liên, gunner, cùng những người lính trong lòng máy bay cố nắm chặt hai tay tôi, và kéo tôi lên. Nón sắt và bản đồ đã rơi mất. Tôi mệt nhừ, ngồi im bất động. Cặp kính cận thị của tôi cũng không còn. Những giọt nước, nước mắt hay là máu từ từ lăn xuống trên khuôn mặt dãi dầu mưa nắng và trận mạc từ hơn hai tuần lễ nay, tôi cảm thấy mằn mặn.

Trực thăng hạ thấp, chuẩn bị đáp. Từ trên cao, tôi đã nhìn thấy mờ mờ vị Đại tá thân yêu đã mấy ngày đêm lo âu cho sự an nguy của tôi và Tiểu đoàn 2/43 chúng tôi; đang đứng chờ trước đầu xe jeep, đậu sát LZ, đàng sau văn phòng Tư lệnh. Ông đón tôi với tất cả nỗi mừng vui của người anh cả đang dang tay đón đứa em thất lạc trở về mái nhà xưa. Ông nói: "Lên xe vào gặp Thiếu tướng Tư lệnh. Ổng đang chờ anh!" .


Michigan, Mùa Tyết trắng 2005
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Bia Đá Đợi Chờ, 39 Năm Sau

Lễ khánh thành bức tường tưởng niệm bẩy vị anh hùng tuẫn tiết 30 tháng tư 1975 tổ chức 10 giờ sáng thứ bẩy ngày 5 tháng 4-2014. Tại Viện Bảo Tàng Việt Nam số 1650 Senter Rd, San Jose CA 95112. Lối vào trên đường Pheland. Tôi riêng nghĩ rằng dù gọi là bức tường nhưng ý nghĩa như một mộ bia tập thể cho 7 vị anh hùng. Gọi là khánh thành nhưng mang hình thức một ngày tang lễ muộn màng gần nửa thế kỷ. Tôi viết bài này tặng cho các bạn trẻ đã hoàn tất một công tác ý nghĩa từ cả hai cõi âm dương.

Tháng tư 75, năm cùng tháng tận.

Tháng 4 năm 2014 tại Hoa Kỳ tôi ghi lại chuyện 39 năm về trước. Cuối tháng 12 năm 1974 Bắc quân dốc toàn lực tổng tấn công miền Nam. Trận mở đầu thăm dò đánh Phước Long. Địch vừa đánh vừa nhìn qua Hoa Thịnh Đốn. Hoa Kỳ án binh bất động. Sau Paris, tù binh đã trở về, quốc hội Mỹ quay lưng nhìn về hướng khác. Khi Sông Bé, thị trấn đầu tiên của Nam Việt Nam kêu cứu. Saigon chỉ còn trong tay một phần của liên đoàn 81 để gửi lên tiếp viện. Những người lính biệt kích anh hùng mỏi mệt vừa từ mặt trận Phước Thành được kéo về tưởng chừng sau 3 tháng hành quân nay tạm nghỉ. Nào ngờ lại được trực thăng vận xuống giữa vùng lửa đạn để đánh trận tuyệt vọng tại Phước Long. Ngày 6 tháng 1 năm 1975 Phước Long hoàn tòan thất thủ. Đây là trận
mở đầu cho cuộc chiến tranh kết thúc. Kể từ Genève 54 chia đôi đất nước, sau 21 năm từ chiến tranh chính trị đến chiến tranh quân sự, miền Nam lại thua trận chỉ trong 3 tháng mở đầu của năm 1975.

Sau Phước Long, Saigon trải qua cái tết 75 buồn bã rồi cùng một lượt các chiến trường nổ súng. Ngoại trừ miền Tây tạm yên, các mặt trận đều bị tấn công. Từ miền Đông, lên cao nguyên, xuống duyên hải và ra miền Trung. Năm sư đoàn cộng sản tấn công Ban Mê Thuộc ngày 1 tháng 3-1975. Ngày 8 tháng 3-1975 thêm 5 sư đoàn cộng sản tấn công Huế, cùng 1 lượt 3 sư đoàn đánh vào Quảng Ngãi.

Riêng Ban Mê Thuộc hoàn toàn do cộng sản kiểm soát ngày 14 tháng 3-1975. Qua ngày hôm sau tổng thống Nguyễn văn Thiệu ra Cam Ranh đưa quyết định bất hạnh nhất của đời binh nghiệp khi ra lệnh rút quân đoàn II. Tiếp theo là một loạt các lệnh bất thường cho quân đoàn I.

Hà Nội vừa đánh vừa thăm dò Hoa Thịnh Đốn. Saigon vừa rút lui cũng vừa thăm dò Hoa Thịnh Đốn.

Mọi việc không còn như xưa. Ngân khoản viện trợ cuối cùng của Hoa Kỳ chỉ đủ dành để cất lều và dự trù nuôi ăn cho hàng ngàn người tỵ nạn đến Mỹ. Qua tháng 4 phòng tuyến cuối cùng của Saigon tan vỡ tại Xuân Lộc. Sau khi ban hành những quyết định sai lầm tai hại khôn cùng, tổng thống Thiệu từ chức với bài diễn văn oán trách đồng minh Hoa Kỳ. Nhưng ông cũng vẫn được đồng minh chở đi kịp thời ra khỏi nước. Phó tổng thống Trần văn Hương lên cầm quyền cố giữ cho đủ 1 tuần rồi thể theo yêu cầu của quốc hội giao quyền cho đại tướng Dương văn Minh.

Lúc đó nước đã đến chân, không còn giải pháp nào để lựa chọn. Hải quân VNCH trước khi ra khơi lần cuối đã cử đề đốc tham mưu trưởng Diệp Quang Thủy lên gặp ông Minh để mời xuống tàu. Đại tướng Minh với chút khí phách Nam Kỳ đã từ chối để ở lại nhận ngàn cân tủi nhục. Lúc đó là chiều 29 tháng 4-1975.

Cũng vào chiều 29 tháng 4-1975 được tin vợ con đã vào Tân Sơn Nhất để di tản, tướng Phạm văn Phú, tư lệnh quân đoàn II uống thuốc tự vận tại nhà. Trên đường vào phi trường, được tin chồng tự vẫn, bà Phú và con quay trở về đưa chồng vào nhà thương Đồn Đất (Grall).

Sáng 30 tháng 4 khi tướng Minh còn đang soạn bài kêu gọi buông súng, tướng Phú đã qua đời. Ông chết trước khi có lệnh đầu hàng. Tướng tư lệnh quân đoàn II tự vẫn để trả món nợ của riêng ông về trách nhiệm mặt trận cao nguyên.Tướng Phạm văn Phú, nguyên là tù binh trận Điện Biên Phủ, quê Hà Đông, khi chết ông 47 tuổi. Ông ra đi trước khi chiến tranh chấm dứt được vài giờ. Gia đình đã trở lại chôn cất ông và sau đó kẹt lại tại Việt Nam.

Bia đá tưởng niệm.
Những cái chết anh hùng.


Trong lịch sử kháng Pháp của dân tộc Việt đã có biết bao nhiêu anh hùng tuẫn quốc. Năm 1867 trong Nam có cụ Phan thanh Giản tự vẫn để nhận tội làm mất 3 tỉnh miền Tây. Năm 1873 cụ Nguyễn Tri Phương tự vẫn ở ngoài Bắc, tiếp theo năm 1882 tổng đốc Hà Nội, cụ Hoàng Diệu tự vẫn vì không giữ được thành.

Chuyện bây giờ ở thời cận đại là cái chết của các anh hùng Việt Nam Cộng Hòa vào tháng 4-1975. Trong cái tháng 4 oan nghiệt đó hàng trăm quân cán chính đã tự vẫn. Tuy nhiên để ghi nhận vào bảng vàng, bia đá, chúng ta cần có đủ hình ảnh, nhân chứng, tài liệu thật chính xác.

* Cái chết mở đầu trước giờ cuối cùng của cuộc chiến là của thiếu tướng Phạm văn Phú. Tiếp theo ngay sau khi đại tướng Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng trưa 30 tháng 4-75 thì người tự vẫn công khai và đầu tiên là trung tá cảnh sát Nguyễn văn Long, quê ở Huế 56 tuổi. Ông tự tử bằng súng lục lúc 11:30 ngay trước tượng thủy quân lục chiến Việt Nam, ngó qua quốc hội. Những người vô danh và anh nhà báo Pháp chở xác ông vào nhà thương Đồn Đất của Pháp. Tình cờ tướng Phú cũng chết tại nhà thương này vào buổi sáng cùng ngày.

Trong khi tại Saigon có 2 chiến binh tự sát thì trung tá Đỗ Đình Vượng dẫn trung đoàn về bộ tư lệnh sư đoàn 5 tại Bến Cát. Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ tư lệnh sư đoàn mời các sĩ quan tập trung về ăn cơm trưa. Mọi người không còn ai bình tĩnh mà ăn uống. Riêng ông Vỹ ăn đủ 3 bát cơm thường lệ rồi cho lệnh các đơn vị trưởng tùy nghi. Ông lui vào phòng riêng dùng súng tự vẫn. Ông là người thứ ba.

Tướng Lê Nguyên Vỹ quê Sơn Tây chết năm 42 tuổi. Vợ con di tản qua Mỹ mấy tháng sau mới biết tin. Gia đình sau này bốc mộ đem về quê cũ tại Sơn Tây, Bắc Việt. Bàn thờ ông để trong đình làng ghi rõ là Lê tướng công, tư lệnh sư đòan số 5 quân đội Saigon.

Người thứ tư tuẫn tiết bằng thuốc độc là chuẩn tướng Trần văn Hai tư lệnh sư đoàn 7 tại căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho. Trước khi ra đi vào chiều 30 tháng 4-1975 tướng Hai có điện thoại từ giã tướng Hoàng văn Lạc tư lệnh sư đoàn 9. Ông Hai quê Gò Công, qua đời năm 50 tuổi.

Người thứ năm là tướng Lê văn Hưng, tư lệnh phó quân đoàn 4, tự vẫn bằng súng vào buổi tối 30 tháng 4-1975. Ông Hưng lúc qua đời có đông đủ vợ con và các sĩ quan cận vệ. Lúc đó khoảng 9 giờ tối. Ông quê ở Gia Định và ra đi năm 42 tuổi.

Vị tư lệnh quân đoàn 4, thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam đã sống 1 ngày 30 tháng 4 rất dài. Riêng ngày 29 ông đã nhận lệnh đón phái đoàn chính phủ VNCH từ Saigon xuống, nhưng rồi lệnh hủy bỏ. Suốt ngày 30 tháng 4, ngay sau lệnh đầu hàng ông đã có dịp gặp phái đoàn cộng sản 2 lần nhưng rồi lại cho biết chưa sẵn sàng. Chiều 30 tháng 4 ông còn đi thăm thương binh tại quân y viện Phan thanh Giản. Qua đêm không ngủ, sau khi thắp hương thỉnh chuông lạy Phật, tướng Nguyễn Khoa Nam lấy súng lục tự tử vào sáng 1 tháng 5-1975. Ông Nam sinh quán Thừa Thiên, chết độc thân năm 48 tuổi.

Người sau cùng ghi danh trên bảng tưởng niệm là đại tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông Cẩn chiến đấu đến giờ phút cuối trong ngày 30 tháng 4-1975 và bị bắt tại Chương Thiện. Ông là một trong các sĩ quan đã tiếp tục chiến đấu. Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị bắt giam, bị tra tấn hành hạ suốt 4 tháng. Ông bị xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 4 tháng 8-1975. Ông Cẩn quê Rạch Giá, khi qua đời trẻ nhất 37 tuổi. Cùng bị xử bắn có 4 vị quận trưởng Chương Thiện và các trưởng ty. Tiểu khu Chương Thiện quyết chiến đến giây phút cuối nên bị xử bắn nhiều nhất.

Bia đá tưởng niệm.
Bia Đá ngàn thu.


Trong chiến sử thế giới, hai bên tử sĩ hy sinh là chuyện thường tình. Khi nước Nhật bại trận, các sĩ quan theo tinh thần võ sĩ đạo truyền thống, nhiều người tự vận. Chuyện này đã được thế giới biết đến.

Tuy nhiên, sau chiến tranh Việt Nam, con số sỹ quan, và chiến binh tự vẫn hàng trăm người, quả thực là điều đáng kính phục. Đặc biệt là cái chết của cấp chỉ huy. Xúc động vì những hy sinh cao cả đó, biệt đoàn văn nghệ Lam Sơn tại San Jose đã vận động gây quỹ và lập bức tường tưởng niệm để hình ảnh các anh hùng QLVNCH được lưu lại với bia đá ngàn thu. Nguyên khối đá chính nặng 8 ngàn pounds. Tất cả 3 khối đá, bệ đá và khối cement chân bệ tổng cộng trên 30 ngàn tấn. Trên bia đá khắc hình ảnh 7 vị anh hùng. Hai bên là lời tri ân bằng Anh ngữ và Việt Ngữ. Khối đá quý như là 1 loại cẩm thạch vĩ đại từ Ấn Độ được cắt sẳn theo kích thước và chở qua California. Tại xưởng làm mộ bia có máy tạo hình. Lại thêm chuyên viên từ Phi Luật
Tân làm bằng tay hình ảnh 7 vị anh hùng VNCH. Phía sau là hình bóng các chiến binh Việt Nam.

Bia đá tưởng niệm.

Lễ khánh thành

Buổi lễ khánh thành sẽ là 1 ngày hết sức đặc biệt với sự tham dự của các quan khách Việt Mỹ. Ban tổ chức đã phổ biến thư trên báo chí, radio, TV và trên internet. Địa điểm tại Viện Bảo Tàng Việt Nam số 1650 Senter Rd, San Jose- CA 95112. Lối vào trên đường Pheland. Tổ chức từ 10 giờ sáng thứ bẩy ngày 5 tháng 4-2014. Nếu không có gì trở ngại, kính mời quý bà, quý cô mặc áo dài, quý vị cựu quân nhân mặc quân phục. Chương trình sẽ thực hiện bằng Anh và Việt ngữ.

Mở đầu nghi lễ chào cờ mặc niệm sẽ do toán quốc quân kỳ của US Army. Ban quân nhạc Hoa Kỳ sẽ hòa tấu quốc ca Hoa Kỳ và quốc ca Việt Nam Việt Nam Cộng Hòa. Phần nghi lễ quan trọng nhất là việc mở các tấm vải phủ trên bức tường. Ban tổ chức thực hiện 7 bóng bay lớn có viết chử thảo danh tánh các vị anh hùng.Theo thứ tự ngày giờ hy sinh từng trái bóng và hương linh anh hùng sẽ bay lên trời xanh.

Mỗi bóng bay lên là có súng nổ. Khởi đầu là tướng Phạm văn Phú và sau cùng là đại tá Hồ ngọc Cẩn. Phần ý nghĩa nhất cần ghi nhận là lần đầu tiên ban tổ chức mời được tất cả đại diện các gia đình của 7 vị anh hùng từ bốn phương về tham dự. 7 vị tướng lãnh và cấp chỉ huy có danh trên bảng tưởng niệm đã trở thành các anh hùng bất tử tượng trưng cho cả QLVNCH. Đặc biệt các cựu chiến binh của quân đoàn 4, của sư đoàn 7, của tiểu khu Chương Thiện, của sư đoàn 5 BB, của cảnh sát quốc gia đều có thể tìm thấy ý nghĩa thiêng liêng, một chút riêng tư trong tình huynh đệ chi binh.

Bài báo này xin gửi đến các bạn như là 1 bản báo cáo và 1 lời ân tình, xin mời đến dự.Bên cạnh bức tường tưởng niệm, còn có 1 biểu tượng hết sức ý nghĩa. Có thêm phần triển lãm một mộ bia lấy từ nghĩa trang quân đội đem về năm 2004.

Nếu chưa từng về thăm nghĩa trang quân đội, các bạn sẽ có dịp ghé đến đây thắp 1 nén hương cho người anh hùng tử sĩ vô danh. Một bia mộ đặt ngay tại Việt Museum nhân dịp khánh thành bức tường tưởng niệm. Đây là lễ giỗ 30 tháng 4 dành cho các anh hùng tuẩn tiết. Lễ giỗ muộn màng mà cộng đồng làm chung với gia đình tang gia 39 năm sau. Xin hãy đến 1 lần với buỗi lễ và sẽ nhớ suốt đời vì đã mang ý nghĩa thiêng liêng nối kết mối liên hệ giữa người ra đi trong lòng đất quê hương và người ở lại hải ngoại đến giây phút này. Bia đá đợi chờ, 39 năm sau.

Giao Chỉ, San Jose
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Danh sách các sĩ quan và quân nhân tự sát trong và sau ngày 30/4

DANH SÁCH NẦY CHỈ TẠM THỜI ĐƯỢC THU THẬP TRONG 37 NĂM SAU 75 . QUÝ VỊ NÀO CÓ TÀI LIỆU XIN VUI LÒNG BỔ TÚC THÊM .
39 năm kể từ ngày 30.4.1975, niềm uất hận tưởng chừng như phôi pha, nhưng không, vẩn luôn canh cánh bên lòng…suốt chặng đường dài vừa qua nhân dân VN không bao giờ quên được sự hy sinh cao cả của các Tướng lãnh, Sĩ Quan và quân nhân các cấp thuộc QUÂN LỰC VNCH với trách nhiệm BẢO QUỐC AN DÂN trong không khí Tự Do của hai nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Hoà.

Cám ơn anh- những người chiến sĩ VNCH, đã hy sinh đời trai cho cuộc chiến chống xâm lăng của bọn CSVN. Nhân mùa Quốc Nạn 30.4.2013, người viết xin được ghi lại những nét hào hùng của các chiến sỉ QUÂN LỰC VNCH đã tuẫn tiết trong những ngày chót của cuộc chiến, để không rơi vào tay giặc. Các anh đã hiên ngang đi vào hồn thiêng sông núi!
Đất nước Việt Nam anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Những đấng tiền nhân tiên liệt đã vị quốc vong thân. Phận làm con cháu chúng ta cần ghi nhớ công đức ! đó mới gọi là hiếu nghĩa vẹn toàn.


1- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, cựu tư lệnh Quân Đoàn II 30/4/1975
2- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn IV 30/4/1975
3- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, tư lệnh phó Quân Đoàn IV 30/4/1975
4- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, tướng tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh 30/4/1975
5- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh 30/4/1975
6- Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng 42 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh- khóa 16 Đà Lat. 31/3/1975 tự sát tại Quy Nhơn
7- Đại Tá Lê Cầu, trung đoàn trưởng 47 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Tự sát ngày 10/3/1975 (*) xem tin cập nhật tại đây

8- Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn (bào đệ của Trung Tướng Lê Nguyên Khang). 30/4/1975
9- Thiếu Tá Không Quân Nguyễn Gia Tập, đặc trách khu trục tại Bộ Tư Lệnh KQ. Tự sát 30/4/75 tại BTLKQ
10- Trung Tá Nguyễn Văn Long CSQG 30/4/1975 tự sát tại công trường Lam Sơn, Sài Gòn
11- Trung Tá Nguyễn Đình Chi Phụ Tá Chánh sở 3 ANQĐ – Cục An Ninh Quân Đội. Tự sát 30/4/1975 tại Cục An Ninh
12- Trung Tá Phạm Đức Lợi, phụ tá Trưởng Khối Không Ảnh P2/ Bộ TTM 30/4/1975
13- Trung Tá Vũ Đình Duy, trưởng Đoàn 66 Đà Lạt 30/4/1975
14- Trung Tá Nguyễn Văn Hoàn, trưởng Đoàn 67 Phòng 2 Bộ Tổng Tham mưu. Tự sát ngày 30/4/1975
15- Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Tự sát ngày 28/4/1975 cùng vợ, 2 con và cháu (bằng súng)
16- Thiếu Tá Đặng Sỹ Vĩnh, trưởng Ban Binh Địa P2 Bộ TTM, sau biệt phái qua Cảnh Sát 30/4/1975 tự sát cùng vợ và 7 con
17- Thiếu Tá Mã Thành Liên (Nghĩa), tiểu đoàn trưởng 411ĐP, TK Bạc Liêu- khoá 10 Đà Lạt. 30/4/1975 tự sát cùng vợ
18- Thiếu Tá Lương Bông, phó ty An Ninh Quân Đội Cần Thơ- Phong Dinh. Tự sát ngày 30/4/1975
19- Thiếu Tá Trần Thế Anh, đơn vị 101. Tự sát ngày 30/4/75
20- Đại Úy Vũ Khắc Cẩn, Ban 3, Tiểu Khu Quảng Ngãi. Tự sát 30/4/1975
21- Đại Úy Tạ Hữu Di, tiểu đoàn phó 211 Pháo Binh Chương Thiện. Tự sát 30/4/1975
22- Trung Úy CSQG Nguyễn Văn Cảnh, trưởng cuộc Vân Đồn, Q.8. Tự sát ngày 30/4/1975
23- Chuẩn Úy Đỗ Công Chính, TĐ 12 Nhảy Dù. Tự sát ngày 30/4/1975 tại cầu Phan Thanh Giản
24- Trung Sĩ Trần MinhTrần Minh, gác Bộ Tổng Tham Mưu. Tự Sát 30/4/1975
25- Thiếu Tá Đỗ Văn Phát, quận trưởng Thạnh Trị Ba Xuyên 1/5/1975
26- Thiếu Tá Nguyễn Văn Phúc, tiểu đoàn trưởng, Tiểu Khu Hậu Nghĩa 29/4/1975
27- Trung Tá Phạm Thế Phiệt 30/4/1975
28- Trung Tá Nguyễn Xuân Trân, Khoá 5 Thủ Đức, Ban Ước Tình Tình Báo P2 /Bộ TTM. Tự sát ngày 1/5/75
29- Trung Tá Phạm Đức Lợi, Phòng 2 Bộ TTM, khóa 5 Thủ Đức, học giả, nhà văn, thơ, soạn kịch…bút danh: Phạm Việt Châu, cựu giảng viên SNQĐ, trưởng phái đoàn VNCH thực hiện HĐ Paris tại Hà Nội. Tự sát tại nhà riêng ngày 5/5/1975
30- Đại Úy Nguyễn Văn Hựu,
(*) xem ý kiến độc giả tại đây
trưởng Ban Văn Khố P2/Bộ TTM. Tự sát sáng 30/4/75 tại P2/Bộ TTM
31- Thiếu Úy Nguyễn Phụng, CS đặc biệt, 30/4/1975 tự sát tại Thanh Đa, Sài Gòn
32- Thiếu Úy Nhảy Dù Huỳnh Văn Thái, khoá 5/69 Thủ Đức. 30/4/1975 tự sát tập thể cùng 7 lính Nhảy Dù tại Ngã 6 Chợ Lớn.
33- Trung Úy Đặng Trần Vinh (con của Thiếu Tá Đặng Sĩ Vinh), P2 BTTM. Tự sát cùng vợ con 30/4/1975
34- Trung Úy Nghiêm Viết Thảo, An Ninh Quân Đội, khóa 1/70 Thủ Đức. Tự sát 30/4/1975 tại Kiến Hòa
35- Thiếu Úy Nguyễn Thanh Quan (Quan Đen), phi công PĐ 110 Quan Sát (khóa 72). Tự sát chiều 30/4/1975
36- Hồ Chí Tâm B2, TĐ 490 ĐP ( Mãnh Sư) TK Ba Xuyên (Cà Mau). Tự sát bằng súng M16 trưa 30/4/1975 tại Đầm Cùn, Cà Mau
37- Thượng Sĩ Phạm Xuân Thanh, trường Truyền Tin Vũng Tàu. Tự sát ngày 30/4/1975 tại Vũng Tàu
38- Thượng Sĩ Bùi Quang Bộ, trường Truyền Tin Vũng Tàu. Tự sát ngày 30/4/1975 cùng gia đình 9 người tại Vũng Tàu
39- …………………………….. và còn rất nhiều rất nhiều tấm gương sáng của những người anh hùng QLVNCH

Danh sách này do một cựu SVSQ khoá 3/73 Thủ Đức sưu tầm từ những tài liệu không được đầy đủ, cần có một cơ quan nào đó làm việc cập nhật bản danh sách các anh hùng của QLVNCH để được đầy đủ và chính xác nhằm lưu danh cho hậu thế.

Nhìn lại hàng ngũ quân đội trên thế giới, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Trong lúc mọi người đang tưởng niệm về ngày 30.4.1975, thì đã có không biết bao nhiêu người hiện nay, đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của người lính VNCH, họ cố tình quên đi qúa khứ để được vinh thân phì da, quên đồng đội, quên những những người chiến hữu từng sát cánh ngày nào trên khắp các chiến địa….Thật xấu hổ cho những loại người nầy!

Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều người đang dấn thân tiếp tục chiến đấu liên tục cho ngày quang phục quê hương. Họ vẫn luôn nghĩ tới những người xưa đã VỊ QUỐC VONG THÂN, họ đã vì DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM của một quân nhân QUÂN LỰC VNCH….Chúng tôi kính phục họ, chúng tôi hãnh diện vì họ, họ đang sống những ngày đáng sống trên các phần đất tạm dung. Họ chính là những quân nhân ưu tú của QUÂN LỰC VNCH.

Một điều rất may mắn nữa là hầu hết người Miền Nam, xưa nay vẫn biết ơn người lính năm nào, nhất là sau ba mươi tám năm qua, đã biết hết cảnh đổi đời oan nghiệt. Giờ đây xin mọi người hãy dành một nén hương lòng cho những người anh hùng của QUÂN LỰC VNCH đã anh dũng ra đi trong những ngày cuối của cuộc chiến. Họ đáng cho chúng ta được tôn vinh và đời đời nhớ ơn…
Anh hùng có tử
…nhưng khí hùng luôn luôn bất tử.

Kính dâng lên linh hồn các anh những nén hương của tuổi trẻ hậu duệ VNCH nhân mùa quốc hận 30 tháng 4 năm nay.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Vợ Lính

Tôi quen biết chàng khi anh ấy đã là lính. Cái lon Chuẩn úy chẳng là cái thá gì với tôi, một người con gái đầy nam tính. Tiếng nói miền Trung lơ lớ khó nghe, mặt chẳng đẹp trai và nhìn qua là biết chẳng phải con nhà giàu. Mấy cái đó và cả con người đó đáng lý ra chẳng dính dáng gì với tôi. Thế nhưng, trời bất dung gian cái tên Chuẩn uý người Huế đó không biết bằng cách nào lại có thể xin vào dạy giờ ở cái trường Trung học tư tôi đang dạy. Tôi thì phớt tỉnh Ăng lê, tới giờ dạy, hết giờ về không chuyện trò tào lao với người khác phái. Cái nhược của tôi bây giờ tôi mới biết là ở chỗ này. Thế là cứ tới giờ tôi đang dạy thì hắn lại sai học trò sang mượn khăn lau bảng, mà dạy toán thì lau bảng thường xuyên. Lại qua mượn phấn, hết phấn thường xuyên. Hết giờ lại tới chào và xin lỗi. Ngày khác lỗi vẫn hoàn lỗi, lại mượn phấn, mượn khăn.

Từ đó tôi ghét hắn. Mấy đứa học trò cũng biết tôi không thích hắn. Thế là tôi bảo học trò để sẳn một mớ phấn trong cái hộp và một cái khăn lau bảng. Học trò hắn qua mượn, tôi đưa luôn hộp và nói hãy giử lấy tôi tặng luôn, khỏi trả. Hắn tìm tôi xin lỗi và xin chở tôi về sau giờ dạy. Tôi từ chối, mặt lạnh như tiền đi thẳng. Buổi chiều, hắn tìm tới nhà để xin lỗi. Hôm sau không giờ dạy, hắn lại tới nhà mượn sách và ngồi lì nói chuyện không đâu ra đâu. Cứ hể có dịp là hắn tới nhà tôi ngồi đồng, hắn nói đủ thứ chuyện bằng âm hưởng miền Trung nặng trình trịch. Một thời gian sau, tôi nghe miết rồi quen cái giọng khó nghe. Không tới trả sách thì lại thấy thiếu vắng một cái gì không phải là sách. Cái chiến thuật “mưa lâu thấm đất”, “Nói hay không bằng ngồi dai” đã khiến tôi phải lên xe hoa về nhà hắn và làm vợ hắn cho tới bây giờ.

Ông xã tôi là con trai một trong một gia đình hiếm hoi con trai. Cha chồng tôi là con trai một và đã mất sớm khi mẹ chồng tôi mới hơn 30 tuổi. Một nách 3 đứa con côi và cha mẹ chồng già yếu, mẹ chồng tôi đã ở vậy một nắng hai sương làm tròn nhiệm vụ làm dâu và làm mẹ. Do đó cái ao ước và hoài bảo của bà là có người thừa tự. Tôi cô gái miền Nam tánh tình bộc trực, lại là một nữ hướng đạo hội họp, đi cắm trại liên miên, không nằm trong danh sách những người bà lựa chọn. Thế nhưng khi cậu con trai đã quyết thì bà phải bằng lòng. Vì trong thời buổi chiến tranh, người lính không thể biết trước ngày nào bỏ thây ngoài trận chiến. Và thế mẹ chồng tôi đã bỏ cái làng quê chôn nhau cắt rốn vào miền Nam để cưới vợ cho con, hầu mong tìm một mống cháu nội sau này.

Thế nhưng sau 3 năm cưới nhau tôi vẫn trơ trơ cho mẹ chồng tôi ngày đêm không yên giấc. Tôi biết trong tận cùng bà buồn lắm. Đôi khi bà nhìn tôi với đôi mắt thiếu tin tưởng. Câu “Cây độc không trái, gái độc không con” mà một lần tôi tình cờ nghe từ miệng bà khiến tôi buồn không ít. Thế nhưng là lính, vợ chồng không gần gũi nhau, làm sao có con được. Thế là bà bỏ Biên Hoà theo con trai ra Đà Nẵng và tuyên bố sắp đặt chỗ ở để tôi phải thuyên chuyển theo chồng. Kỳ nghỉ tết năm 73, sau buổi họp cuối cùng, tôi đón xe đi Sài Gòn và lên chuyến bay đi Đà Nẵng thăm chồng. Đến đón tôi không phải mẹ chồng mà là người lính tùy tùng của anh. Thế là chiều hôm đó tôi có mặt ở nơi đóng quân của anh. Một ngọn đồi cao của vùng núi Quế Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam. Đây là lần đầu tiên tôi chính thức sống đời vợ lính nơi tiền đồn.

Chúng tôi trú ngụ trong căn hầm chỉ huy đầy súng đạn và trang bị truyền tin. Tôi đang đan dang dở một tấm khăn trải bàn. Thế là tôi phải hoàn tất gấp tấm khăn đó để làm chiếc màn cách ly. Cuộc sống vợ chồng trong đồn lính thì có nhiều chuyện không thể cười mà cũng không thể khóc của một cô giáo kín đáo, nghiêm túc với cuộc sống xô bồ lính tráng ở đây. Tôi chỉ biết những ngày ở đó tôi thương lính hơn, tôi thông cảm nỗi cô đơn của chồng hơn và nhất là thật sự biết lo sợ cho chồng trong cuộc sống mà nơi đâu cũng có tai mắt của kẻ thù rình rập. Hết ngày lễ, chồng tôi giao đồn cho Đại đội phó đưa tôi về Đà Nẳng thăm mẹ chồng và ngay chiều đó tôi lên máy bay về lại Sài gòn vì ngày mai đã bắt đầu niên học mới.

Thế là tôi có mang đứa bé đầu lòng và tôi phải làm đơn xin thuyên chuyển để thật sự bắt đầu một cuộc đời mới. Mùa hè năm đó miền Trung đã thật không yên. Nhà tôi ở gần Phi Trường nên hàng đêm pháo dội về từng chập. Mẹ chồng tôi về lại Biên Hoà để lo cho con gái sinh nở. Tôi mang cái bụng bầu chui hầm thường xuyên. Mỗi lần có tin từ tiền đồn là tôi lo lắng hồi hộp. Những cuộc đụng độ xảy ra liên tiếp. Đại đội phó, Hạ sĩ Quan, rồi lính bị thương liên tục. Cuối cùng người Đại đội phó mới đổi về cũng bị thương. Tôi như ngồi trên lửa nóng. Nỗi cô đơn, lo sợ, hồi hộp, mất ngủ khiến tôi xuýt bị sẩy thai. Thế rồi mẹ chồng tôi cũng về kịp trước ngày tôi sinh nở. Con tôi mở mắt chào đời ở một nhà hộ sinh tư . Tôi mệt nhoài sau cơn vượt cạn, mẹ chồng tôi đón con bé với nụ cười gượng gạo. Bà chỉ mong là trai để nối dõi tông đường. Còn anh, được tin tôi đã sinh con, anh về cùng người lính tùy tùng. Vào nhà thương, xoa đầu tôi, bồng con hôn vài cái là xe hậu cứ đã chờ để đưa anh lên lại đơn vị. Ngày đầy tháng con bé, họ hàng, bà con đầy nhà. Anh bươn bả bước vào, chào mọi người rồi tới bên tôi cười cười. Bồng con bé lên hỏi tôi “Sao mặt nó như dài ra” hôn con, ăn vội vã vài miếng. Xe hậu cứ trờ tới và anh lại lên đường. Tôi ứa nước mắt, không thể giận anh, mà cũng không thể không trách anh. Chẳng nói gì được với tôi một câu ngọt ngào khi tôi vật lộn trong cơn đau đẻ, lại chịu sự chăm sóc cực kỳ quái đản của mẹ chồng tôi trong những ngày nằm cữ. Tôi nhắm mắt lại, thương con và thương mình quá đỗi.

Thế là cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt. Anh được đổi về làm ở Trung tâm Hành quân. Tôi nghe thôi chứ cũng không biết ở đâu? Chỉ biết ít nguy hiểm tính mạng hơn ở Đại đội. Chồng tôi là một người sống chân thành và tốt với bạn bè, đồng đội. Tôi nhớ có một lần anh dẫn về nhà một người lính và một người phụ nữ. Anh nói với tôi đây là lính trong đơn vị, vợ nó tới thăm. Anh cho nó nghỉ phép và nói nhỏ với tôi lo ăn uống cho tươm tất. Đến tối, anh bảo tôi ôm con xuống nhà sau ngủ, nhường giường chúng tôi cho hai vợ chồng kia. Anh nói:

- Tội nghiệp tụi nó, gặp nhau như vầy nó mừng lắm. Hãy để nó trọn vui. Đời lính không biết sống nay, chết mai.

Và như vậy, sáng hôm sau anh lên đơn vị, người lính cùng vợ có 3 ngày phép đoàn tụ tuyệt vời. Một lần thấy anh không còn bộ đồ civil nào cho ra hồn, tôi bảo anh đi may một bộ đồ mới. Anh vốn là người khó tính và kén chọn. Mãi sau mới chọn được màu vải vừa ý mà may. Lấy đồ về chỉ một lần mặc thử cho tôi ngắm rồi mãi bận hành quân không có dịp mặc. Đại đội phó của anh gia đình ở tận miền Tây, anh ta lại phải lòng cô gái Đà Nẵng. Thế là một hôm anh về bảo tôi mở tủ lấy bộ đồ mới may, tặng cho anh chàng Đại đội phó của mình. Anh nói với tôi :

- Nó cũng trạc với anh. Nó mặc vừa đó em. Thôi tặng cho nó đi hỏi vợ. Hỏi vợ chỉ một lần chứ may đồ thì mình còn nhiều lần khác. Tội nghiệp gia đình nó ở xa, không có bộ đồ civil nào mặc cho ra hồn để coi cho được trong ngày quan trọng.

Tôi vừa tiếc vừa phục tấm lòng tốt của chồng. Không còn lời nào để nói tôi đành gói lại đàng hoàng, bỏ trong túi xách và bảo đem cho chú ấy. Ngày Đà Nẵng sắp mất, người người bỏ chạy ra ngoài bến tàu để thoát vào Sài gòn. Chồng tôi ở Trung tâm hành quân, biết sự sụp đổ đã đến, không liên lạc được với đại đội cũ của mình. Anh cấp tốc lên tận nơi trú đóng và kéo lính về trong làn sóng di tản khổng lồ của Đà Nẵng. Chúng tôi, mẹ già, con dại chờ đợi anh mỏi mòn. Trông thấy anh về với đoàn quân tan tác mà muốn xỉu.

Chồng tôi ruột để ngoài da. Lúc nào anh cũng lo cho bạn bè, đồng đội, anh em, ít khi nào lo lắng chuyện nhà. Mọi thứ mẹ chồng tôi cáng đáng điều khiển và tôi là người tuân lệnh thi hành. Có lẽ nói ra không ai tin, nhưng đối với tôi, tôi chưa hề cầm trong tay một đồng lương lính. Ngày chưa theo anh, tôi đi dạy, có lương, có nghề nghiệp, tiền ai nấy xài. Mà tiền lính thì tính liền anh cũng chẳng có gì dư dã. Theo chồng ra Đà Nẵng tiền lương anh có đưa cho mẹ chồng tôi không thì tôi không biết, còn tôi chẳng hề nghe nói đến tiền bạc. Ngày Đà Nẵng mất lẽ dĩ nhiên anh không có lương và anh đi cải tạo suốt 8 năm trời chấm dứt một thời kỳ lính tráng.

Như vậy thì làm vợ lính vui hay buồn, sướng hay khổ? Thưa các anh, người vợ lính chịu mọi thiệt thòi. Có chồng mà cũng như không trong suốt thời kỳ chinh chiến cũng như hoà bình. Những ngày tù tội đã đành không thể trách ai. Các anh trong bốn bức vách lao tù, số phận ai cũng như ai. Nhưng người vợ lính ở nhà cái vòng đai rộng hơn, bẫy rập nhiều hơn, con người tàn ác quỷ quyệt hơn đe doạ thân phận đàn bà. Tôi có những người bạn vì thương chồng, lo lắng chạy chọt để lo cho chồng về, để rồi sụp bẫy. Cả cuộc đời danh tiết, hạnh phúc bị mất tất cả. Có người lạc bước khi bươn chải kiếm đồng tiền lo cho con, lo cho chồng cải tạo. Thương tâm lắm, đau đớn lắm cho những cánh hoa trong biển lửa tàn ác của chiến tranh ý thức hệ.

Xin lỗi các anh cho tôi nói thật. Khi ở tù về, các anh thật sự quên đi tất cả, đem hết sức mình cùng sát vai vợ mà lo cho gia đình không? Đàn bà chúng tôi, ăn trắng mặc trơn, học hành trí thức, nhưng đến lúc phải lo miếng ăn cho con, cho chồng thì bất chấp sự cực khổ. Bán chợ trời, chạy hàng xuôi ngược Bắc Nam, Bán hàng rong, cày thuê, cuốc bẫm, bán thuốc tây, thuốc hút, làm công nhân… Bất cứ nghề nghiệp nào lương thiện để kiếm ra tiền thì không quản ngại khó khăn. Các anh nhận những món quà đơn sơ, nhưng biết đâu rằng trong hoàn cảnh cả nước cùng đói, chúng tôi phải tính toán muốn bạc tóc mới đem được đến tay các anh một ít quà, nhưng là một biển yêu thương, một trời thương nhớ. Khi các anh được về nhà sau những tháng ngày bán đời mình cho đói khát, bệnh tật. Các anh không biết là đã mang theo trong mình một nỗi chán chường, một tâm hồn đầy bất mãn và nghi kỵ mọi thứ. Các anh lính hào hoa, yêu đời, coi thường sinh mạng đã mất. Các anh bây giờ đã bỏ lại trên núi đồi Việt Bắc phân nửa cuộc đời hùng tráng của mình. Chồng tôi cũng vậy, anh chán đời, bất mãn và tự ái với vợ, với con và chính bản thân mình. Tôi đã khóc nhiều đêm, nhiều ngày mà không biết làm sao kéo anh ra khỏi cái ám ảnh tàn khốc đó. Tôi công nhận CS thật quỷ quyệt, những bài học nhồi nhét cho các anh, nó như con ma kéo trì những chí hướng phấn đấu của chồng tôi. Người lính của tôi đã thật sự thất trận thảm thương.

Khi được sang Mỹ đinh cư, mẹ chồng tôi mang nhiều bệnh tật. Chồng tôi vui buồn, khoẻ mạnh hay suy nhược theo căn bệnh của mẹ chồng tôi. Anh có cảm giác mình phải làm cái gì trả hiếu cho mẹ mà bất lực. Ngày mẹ chồng tôi mất, chồng tôi như thân cây không còn mầm sống gục xuống đau đớn. Anh bị trụy tim, bị strock và đầu óc càng ngày càng suy nhược theo căn bệnh Parkinson.

Bây giờ sau 38 năm chồng tôi không còn làm người lính, nhưng tôi vẫn làm người vợ lính hằng ngày theo từng sinh hoạt của chồng. Anh đang sống trong hồi ức những ngày bên anh em, bạn bè, đồng đội. Có món gì ngon là anh bảo kêu mấy đứa tới ăn. Đừng tưởng anh kêu bầy cháu tôi. Không đâu, bạn bè lính tráng của anh đó. Khi thì kêu tôi chuẩn bị đồ nhậu, mấy thằng em tới chơi. Khi thì bảo thay đồ cho anh để anh đi họp Tiểu đoàn. Khi thì vui cười kể chuyện huyên thuyên như có người trước mặt.

Và như vậy tôi mãi mãi là người vợ lính, vui buồn chung với những suy tư và cảm giác của chồng. Những người chỉ huy, đồng đội của chồng dù không ở trước mặt, nhưng là những người bạn vô hình đem lại niềm vui cuối đời cho chồng tôi. Mỗi buổi sáng lạy Phật tôi đều nguyện cầu bình an cho chồng, cho con cho tất cả mọi người xung quanh tôi. Cầu nguyện cho những anh hùng chiến sĩ đã nằm xuống được nhẹ nhàng siêu thoát.

Tôi rất ái mộ những chị cầm cờ theo chồng trong những cuộc biểu tình, hay sát cánh bên anh trong những lần sinh hoạt đơn vị. Màu áo các chị tung bay xinh xắn, gương mặt các chị rạng ngời hạnh phúc, đôi mắt các chị rực lửa đấu tranh. Những người vợ lính ấy đã làm đẹp cuộc đời cho chồng, cho xã hội. Tôi không được may mắn ấy, chồng tôi bây giờ là một thương binh thật sự. Anh không thể sát cánh cùng đồng đội sinh hoạt, nhưng trái tim anh và đầu óc anh đầy ắp tình đồng đội và quê hương. Và tôi dù gì và cho thế nào đi chăng nữa tôi vẫn mãi mãi là người vợ lính không bao giờ thay đổi.

Nguyễn thị Thêm
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cuộc chiến đấu của những người lính không còn binh chủng

Nguyên Huy/Người Việt

Bốn người ngồi trong một phòng khách sang trọng. Họ vốn là sĩ quan đồng khóa 14 Thủ Ðức trước năm 1975. Ra trường người được điều về Hải Quân, Không Quân, người về Bộ Binh, Chiến Tranh Chính Trị. Những năm tháng trong quân ngũ, họ vẫn gặp nhau thường xuyên do tình cờ cùng công tác ở một nha, sở. Ba Mươi Tháng Tư Một Chín Bẩy Lăm, họ tan tác. Người di tản được. Người vào tù. Người trốn tù, vượt biên. Ba Mươi Tháng Tư năm nay họ gặp lại được nhau. Buổi gặp mặt hôm nay là tiệc mừng đón kẻ sang Mỹ chậm nhất trong 4 người.

Người ngồi trong góc tối mờ của phòng khách bắt đầu kể lại một kỷ niệm. Giọng anh bình thản, đều đều như đọc 1 trang sử đã qua. Ba người ngồi nghe, nhạt nhòa trong ánh sáng của đèn phòng khách.

Bên ngoài, trời Cali đầu hè, vẫn lạnh. Không gian tĩnh quá như muốn nhấn mạnh cái lẻ loi, cô đơn của người xa xứ.


***

Vào những ngày chộn rộn nhất của Tháng Tư năm ấy tôi lại phải ra công tác ngoài Huế. Chả là vị giám đốc của tôi được lệnh cho thu dọn đài phát tuyến để chuyển vào Nam vì tình hình mất Huế kể như gần chắc rồi. Lòng không muốn, nhưng quân lệnh, khó mà cưỡng. Ở Huế, tôi vội vã cùng nhân viên địa phương tháo gỡ hết và liên lạc xong với 1 đơn vị Hải Quân, xin được 1 chuyến tầu chuyên chở. Nhưng chỉ vào tới Ðà Nẵng thôi vì tầu còn phải trở lại để di chuyển cho nhiều cơ quan khác. Tôi đành đánh điện về xin chỉ thị. Kết quả: bằng mọi giá, tôi phải giữ được dụng cụ vật liệu của trung tâm đã tháo ra. Thế là tôi đành ở lại Ðà Nẵng để chờ trung ương liên lạc với bên Hải Quân xin chuyên chở vật liệu vào Saigon. Bắt đầu là những giờ phút kinh hoàng ập đến. Huế đã thất thủ. Ðà Nẵng lên cơn sốt di tản. Người đổ ra cảng Ðà Nẵng và suốt dọc bờ biển Sơn Trà hỗn loạn. Dân lính hòa nhau trong cuộc chạy đua ra biển. Một cuộc tìm sống hãi hùng. Pháo cộng sản bắt đầu nã rải dọc bờ biển là lúc mà con người không còn đối xử được với nhau 1 chút nhân ái nào nữa. “Panique” đã diễn ra. Tôi phải làm sao? Bỏ của chạy lấy người? Ðể rồi vào Saigon chắc là sẽ bị ra tòa án quân sự. Ở lại để chờ di chuyển vật liệu. Chắc chết. Tôi không thể nào dứt khoát được. Không phải tôi có tinh thần trách nhiệm cao đâu, mà chính vì sợ phải ra tòa án quân sự khi không hoàn tất được nhiệm vụ. Lúc này, tôi mới thấy mình ngu. Người ta thì bỏ cả đơn vị, công sở, thậm chí cả vợ con để chạy lấy người mà mình thì không dứt khoát được. Tôi cố nhờ một vài đơn vị còn trụ lại để liên lạc với thượng cấp của tôi mà không liên lạc được. Vị sĩ quan truyền tin bảo tôi, “Ông cứ xuống tầu đi, trung ương phải biết tình thế này chứ. Chuyến tầu của đơn vị tôi sẽ nhổ neo lúc 3 giờ. Nếu đi, 2 giờ 30 ông lại đây.” Tôi cảm ơn, chạy về đơn vị mình. Viên trung sĩ trực, đi cùng tôi vẫn bình tĩnh nằm chờ ở bến. Tôi hỏi:

- Mình tính sao bây giờ?

Hiểu ý tôi, viên trung sĩ đáp.

- Tùy đại úy quyết định.

- Vậy 2 giờ 30 mình ghé tiểu đoàn truyền tin đi cùng họ.

- Vâng.

Anh ta lặng lẽ xếp lại tấm chăn dã chiến và cái ba lô anh lấy làm gối. Gấp chiếc ghế bố nhà binh để góc tường, anh ngó căn nhà kho rộng chứa đầy những vật liệu tháo gỡ từ 1 trung tâm phát tuyến, anh thẫn thờ:

- Bỏ lại kể cũng tiếc thật. Cả chục triệu đô la chứ ít gì.

Tôi hỏi anh là trung đội Ðịa Phương Quân được tòa tỉnh Huế biệt phái cho đi khuân vác theo đâu.

Anh rắn rỏi đáp:

- Mạn phép đại úy, tôi cho họ về Huế cả rồi.

Tôi trợn mắt:

- Tình thế này mà anh để họ về Huế.

- Họ nôn nóng vợ con gia đình. Biết làm sao.

Tôi định la nhưng chợt nhận ra tình cảnh chung, đành lặng lẽ thu xếp hành trang.

Pháo địch nã lên dữ dội hơn. Tiếng súng nhỏ râm ran khắp thành phố. Nhưng dòng người vẫn chật đầy phố phường. Như một cảnh hội pháo. Nhưng là hội của quỷ vì ai nấy mặt mũi xanh rờn, áo quần tơi tả.

Tôi ngó ra bãi biển. Như một cảnh tắm biển mùa hè ở các xứ người. Nhưng ở đây, nơi quê hương khốn khổ này, người ra biển không phải là để tắm mà để trốn chạy chính đồng bào của mình. Không có cảnh áo tắm nào đâu. Chỉ là một bãi biển đen kịt những con người khốn khổ. Một đám lính không còn vị chỉ huy nào, hùng hổ vừa bắn chỉ thiên vừa lao những chiếc jeep, dodge ào ào xuống bãi. Chúng gạt mọi người, cướp những chiếc thuyền cao su, thuyền gỗ, hay bất cứ thứ gì nổi trên nước có thể đưa chúng ra nơi tàu Hải Quân đậu. Tiếng người la ó, gào thét râm ran. Tiếng đại pháo từng chập rộ lên và bây giờ thì liên tục triền miên. Bỗng đám đông xao động hẳn. Nhiều tiếng la thất thanh:

- Việt Cộng đã vào thành phố rồi đấy.

Tôi hốt hoảng, ngoắc viên trung sĩ chạy túa theo đoàn người quên cả ba lô hành trang.

Chạy dọc theo bãi Sơn Trà xuống phía Nam cùng dòng người hỗn loạn, tranh cướp nhau lên 1 chiếc đò gỗ. Người lái đò hét lớn:

- Mỗi người 1 lạng vàng, tôi mới chở.

Ai nấy gật đầu. Tôi cũng gật đầu.

- Chung vàng ra.

- Cứ cho đò ra khơi đi. Chúng tôi sẽ chung đủ.

Tôi nhìn lại người trên thuyền. Chiếc thuyền khoảng 5m dài hơn 1m rộng mà có tới gần 5 chục người. Nước mấp mé mạn thuyền. Tôi tìm viên trung sĩ. Không thấy. Chúng tôi đã lạc nhau. Một ông trung niên, dáng như nhà buôn, đứng ra thu vàng cho tên lái thuyền. Thôi thì lại huyên náo. Người không có vàng, chỉ đưa tiền. Tiền cả bịch lớn, chẳng biết là bao nữa. Người lột đồng hồ, tư trang... Còn tôi? lấy gì bây giờ. Tôi đành lắc đầu.

- Không có gì, lính mà.

Ông thương gia trừng mắt:

- Nhẩy xuống đi. Lính mà cũng chạy à.

Chợt ông nhìn trên tay tôi, hỏi:

- Rolex hả.

Tôi chợt nhớ chiếc đồng hồ đeo tay Rolex quí giá của tôi. Tôi lưỡng lự:

- Cũ rồi.

Ông Thương gia gay gắt:

- Tháo ra đi. Mất thì giờ quá.

Một bà dè bỉu:

- Còn tiếc gì nữa cơ chứ. Sống là may.

Có tiếng la lớn:

- Thuyền chìm! Thuyền chìm!

Rồi hỗn loạn. Tôi chỉ kịp cởi chiếc áo lính thì nước đã tới cổ. Bản năng sinh tồn đã đưa tôi tới mạn tầu Hải Quân lúc nào tôi cũng chẳng biết. Lên tầu, vừa lạnh mệt tôi thiếp đi bao lâu để khi tỉnh dậy thoáng nghe thấy tiếng reo:

- Cam Ranh.

***

Ở lại Cam Ranh chờ chuyến tầu Hải Quân để về Vũng Tầu cả tháng trời, tôi không còn biết phải làm gì. Ngày ngày dạo quanh các khu tị nạn, ngóng chờ các chuyến xe hàng từ Nha Trang vào để đọc nghiến ngấu những tin chiến sự trên báo Chính Luận phối hợp những tin tức nghe được trên đài BBC vào chiều tối, thấy càng sốt ruột. Tôi đã thử lội bộ, tìm đường về Nam nhờ các chuyến xe hàng. Nhưng một xu dính túi không có giữa lúc bạc tiền được tung ra không tiếc để có được một chỗ trên xe hàng chạy về Nam. Vả lại, trên đường bộ xuôi Nam, làm sao có an toàn. Mỗi lúc, câu chuyện di tản chiến thuật của quân dân miền Nam càng trở nên bi đát, đau thương, kinh hoàng hơn. Ðắn đo mãi, tôi đành ở lại chờ đi bằng đường thủy.

Buổi sáng hôm xuống được chuyến chiến hạm HQ của Hải Quân Việt Nam, cũng là lúc mà mọi người được tin là Nha Trang đã mất. Khi vào đến Vũng Tầu, tôi mới được biết là Nha Trang đã bỏ ngõ khi Cộng quân còn ở cách thành phố đến cả nửa ngày đường. Người ta bảo nhau chạy vì tối hôm trước đài BBC có loan tin Cộng quân tiến vào thành phố Nha Trang.

Từ Vũng Tầu về Saigon chẳng còn bao xa nữa. Nhưng tôi vẫn nôn nóng. Trước cảnh chiến địa tan hoang, người người ly tán ở miền Trung, tôi không còn lòng dạ nào ngoài ước muốn được ở bên gia đình lo cho vợ dại con thơ. Nhưng ở Vũng Tầu, ngoài các bến bãi và những nơi tạm trú cho quân đội và dân chúng, thành phố biển này cũng chỉ hơi xao động. Phố xá vẫn buôn bán tấp nập, tầu bè san sát và bãi biển thì đông đặc người. Cũng có người tắm, nhưng phần nhiều là ngóng chờ những chuyến ra khơi. Nghe nói thì tầu Mỹ đã bắt đầu đón người, nên ai nấy đều nhìn ra biển chứ ít ai nghĩ đến trở vào đất liền.

Trong khi đó chiến sự lan mạnh. Có tin Phan Rang đã mất và Cộng quân đang dồn về Long Khánh. Thoáng trong óc tôi, một hình ảnh một mạng lưới đang thu hẹp lại. Tôi quyết định tìm mọi cách trở về Saigon mà không lóng ngóng ở bãi biển để tìm cách ra đi như mọi người khác.

Khi men được về đến Biên Hòa thì Biên Hòa cũng thất thủ. Ðó là sáng ngày 28 Tháng Tư năm 1975. Tôi vội lội bộ băng ruộng cùng rất nhiều đồng bào, tìm về hướng Thủ Ðức. Nhiều tiếng miền Trung thốt lên, e ngại:

- Có ai biết đường về Thủ Ðức-Saigon không?

- Cứ đi. Qua các thôn xóm hỏi thì rõ.

Tôi quan sát đám người cùng đi. Bấy giờ tôi mới chợt nhận ra, phần lớn là anh em trong quân đội. Có một vài phụ nữ, với con nhỏ, chắc là gia đình của quân nhân. Chúng tôi tập họp nhau lại khoảng 50 người. Một anh bạn trẻ, mặc chiếc sơ mi rách nát nhầu, nhưng cái quần lại là quần “trây di,” chân đi dép Nhật, hăng hái nói:

- Cứ theo tôi.

Tôi hỏi anh.

- Anh biết rõ lối đi không.

Nhìn kỹ tôi một lát, anh mới nói:

- Cách đây 10 năm tôi có ở vùng này 8 tháng.

Hiểu ý anh tôi hỏi:

- Tôi khóa 14. Còn anh.

Anh vui mừng:

- Chúng ta cùng khóa rồi. Vậy anh còn nhớ đêm di hành cuối khóa không?

Tôi ngần ngại thú nhận:

- Ðêm đó tôi trốn hành quân.

Anh không nói gì, quay nhìn bốn hướng. Rồi chợt nhận ra điều gì anh quả quyết.

- Mình đi về hướng này. Chỉ đến trưa là sẽ tới sân bắn mới Thủ Ðức. Tới đó mình tìm xe lam về Saigon được rồi. Bọn nó chưa ra khỏi được Biên Hòa đâu.

50 người chúng tôi theo anh lội tắt các khu ruộng. Hết xóm đến thôn, lại đến ruộng, rạch. Ðâu đâu cũng thấy dân chúng nhớn nhác nên chẳng ai để ý đến chúng tôi cả. Một vài nơi đã dám kéo cờ Giải Phóng Miền Nam, nửa xanh nửa đỏ có ngôi sao vàng.

***

Chúng tôi tới được bờ Nam sông Saigon thì cũng vừa lúc tiếng súng lớn nhỏ nổ rộ bốn chung quanh. Anh bạn trẻ nói cho cả bọn:

- Mình đang ở giữa một mặt trận rồi.

- Sao anh biết.

- Kinh nghiệm chiến trường lâu nay.

Một người trong bọn lắng nghe rồi nói:

- Phía này là quân bạn.

Rồi anh kéo một số người đi tiếp. Tôi đắn đo. Anh bạn trẻ lôi tôi đi:

- Phải đi thôi.

- Nhưng lỡ lọt vào trận tuyến địch thì sao.

- Anh quên tiếng M1 nổ rồi à.

Tôi chợt tỉnh, yên tâm đi theo.

Nắng chiều gắt gao. Ðồng cỏ hừng hực hơi nóng. Cỏ lút đầu người. Mới đó mà không hiểu mọi người đã tản đi đâu hết. Tôi đành nhắm hướng các ngọn cỏ lau xao động phía trước mà tiến tràn. Lúc này tiếng súng nổ ran như pháo Tết ở sau lưng, càng khiến bước chân tôi lội nhanh về phía trước. Có lẽ tôi đã lạc bọn rồi. Phía trước chỉ là những làn cỏ lướt trong gió. Không một dấu hiệu nào chứng tỏ đồng bọn tôi đang trú ẩn. Có tiếng đạn réo trên đầu. Tôi cúi xuống chạy lúp xúp. Những ngày ở quân trường năm xưa tôi đã quên hết. Bốn tháng giai đoạn 1 học chiến thuật, 4 tháng sau đó về ngành CTCT rồi ra trường, chỉ ở văn phòng. Bỗng tôi thấy 1 người nằm vắt qua bờ mương nhỏ. Một chiến binh. Bên nào? Bộ quân phục dã chiến đầy bùn quen thuộc, nhưng đôi giầy “saut” lại bằng vải. Quân đội mình làm gì có giầy nầy. Chợt tôi thấy cái nón cối cách xa đó. Tôi hốt hoảng, rẽ về lối khác. Thế là mình đang ở trong chiến tuyến của Cộng quân rồi. Phải ra thoát. Lúc này 1 cây súng trên tay chắc có ích. Tôi quay lại, nhặt lấy khẩu A.K. bên xác chết. Hình như đâu đó có tiếng nói. Tôi lắng tai cố nghe nhưng không thấy gì. Chỉ là tiếng gió rào rạt làm nền cho những tiếng súng từng hồi rộ lên.

Chiều xuống thấp lắm. Cơn gió đồng mát mẻ thổi trên người bắt đầu se khô mồ hôi đẫm áo. Phía trước mặt tôi, hình như là 1 thôn xóm. Ðã thấy một lối đi mòn giữa một bãi tha ma trống. Tôi không dám tiến đến bãi tha ma vì sợ làm đích cho cả hai bên. Lại phải đi vòng. Hình như thấp thoáng có một mái tranh. Và những nóc nhà tranh, nhà ngói hiện ra. Một địa danh chợt đến: Linh Xuân Thủ Ðức ư. Không. Ðây phải là Cát Lái rồi. Cánh đồng cỏ lút đầu vẫn trải dài trong bóng chiều thật nhạt. Tiếng súng vẫn từng chập, ở mọi phía. Lúc này, hình như tôi không phải là tôi nhút nhát, mà lại quen được tiếng súng nổ. Thỉnh thoảng có một vài phút yên tĩnh trên cánh đồng, tôi lại sợ cái yên tĩnh ấy.

***

Bây giờ thì tôi khá bình tâm. Một vài dấu hiệu quen thuộc trong cảnh chiều đã xuống thấp. Rõ rồi. Ðây là Ngã Ba Cát Lái. Ðúng con sông này và con đường nhựa nhỏ tôi đang băng qua đây. Ký ức chợt hoạt động mạnh mẽ. Biết bao nhiêu chiều Chủ Nhật tôi đã cùng N. tới nơi này. Dựng xe bên bờ đường, ngồi trên bờ cỏ, ngắm chiều xuống rồi trở về thành phố ăn một bữa cơm tây và chia tay. Chả có gì nhưng đã là những hình ảnh làm tôi nuối tiếc, thèm khát biết bao khi vào quân trường phải thực tập những bài học lính gác giặc tại các khu vực này. Bây giờ, cả chục năm đã qua, trở lại chốn cũ giữa một hoàn cảnh khó tả này, hình ảnh người yêu cũ lại hiện ra và cũng cùng lúc hình ảnh gia đình ập đến. Bước chân tôi lại dồn dập. Tiếng súng vẫn ở sau lưng rộ lên nhiều hơn phía trước mặt. Tôi đoán, quân bạn đang rút về thành phố. Cuộc chiến này sắp chấm dứt rồi sao. Chấm dứt ngắn gọn như thế sao. Chúng tôi sẽ còn lại gì. Không thể thế được. Mậu Thân 1968 chúng tôi đã phản công và chỉ sau 2 tuần, lại làm chủ tình thế suốt từ Nam ra đến Thạch Hãn.

Nhưng bây giờ, chúng đang đẩy lùi chúng ta. Cuộc chiến bây giờ là trận địa chiến không phải du kích, đánh lẻ như phần lớn các cuộc đụng độ hồi 1968.

Vậy sẽ thua sao? Tương lai rồi sẽ thế nào cho một Việt-Nam?

- Ðứng lại.

Một tiếng quát nhỏ đưa tôi về thực tại. Tôi bàng hoàng nhìn trong đêm, phía có tiếng quát, và đứng sững người, bỏ khẩu A.K. xuống đất.

- Ðơn vị?

Tiếng nói dịu đi. Tôi vội trả lời vì đoán là quân bạn.

- Chiến Tranh Chính Trị.

- Ở đâu.

- Saigon.

Một thân người nhô ra khỏi bức tường. Trong ánh sáng mờ của đêm sao, tôi thấy rõ một chiến binh Việt Nam Cộng Hòa vì dáng đứng của anh. Anh ngoắc tay cho tôi lại gần:

- Di tản miền Trung vào hả.

Tôi gật đầu, giải thích:

- Ðang công tác thì chiến sự lan đến.

- Bỏ chạy cả phải không.

Anh chiến binh cười lớn, ngạo nghễ. Một tràng tiểu liên réo trên đầu. Lửa đạn nhoang nhoáng. Anh đẩy tôi ngã sấp, miệng chửi tục. Cùng lúc, phía bức tường, từng tràng trung liên khạc lửa, đinh tai nhức óc.

Anh chiến binh bảo tôi:

- Lấy súng rồi tìm chỗ nấp. Chúng đã dò ra bọn mình rồi đó.

Có tiếng gọi chiêu hàng xa xa:

- Các anh hãy bỏ súng xuống. Hòa bình đã tới rồi. Quân Cách Mạng sẽ khoan hồng cho các anh. Ðừng ngu xuẩn điên cuồng chống lại Cách Mạng, chống lại nhân dân.

Lại một tràng trung liên xuyên về hướng đó. Anh chiến binh chửi tục. Anh nói với tôi:

- Anh rút theo đồng bào hay ở lại chiến đấu với tụi tôi.

Tôi vội vàng:

- Tôi phải về trung ương báo cáo công tác ngay không thể ở lại với các bạn được. Bạn có thể cho biết đơn vị nào đang chặn địch ở đây không.

Anh lẩm bẩm:

- Ðơn vị. Chính tôi cũng không còn biết nữa. Rút chạy từ Qui Nhơn, tôi đã lạc đơn vị.

- Vậy anh đang chiến đấu với ai.

Anh hất đầu về phía bức tường.

- Tổ trung liên kia gồm 1 Dù, 1 Biệt Ðộng Quân và 1 Bộ Binh. Họ không nói nhưng nhìn quân phục và huy...

Tiếng nổ chát chúa ngay bên tai, khói mù mịt. Tiếng những bước chân chạy và tiếng vũ khí va đập. Thoáng có tiếng gọi:

- Rút vào trong thôn đi các bạn.

Thấp thoáng tôi thấy cả chục bóng đen di chuyển. Tôi cố gắng len lỏi theo họ, qua các hàng rào tre, gỗ, kẽm gai, tường gạch. Vẫn là tiếng anh chiến binh lúc đầu:

- Nếu anh không ở lại thì nên đi phía này ra xa lộ mà kiếm xe về Saigon. Bọn tôi sẽ về chân cầu xa lộ...

Tiếng súng chợt nổ rền bốn phía. Chúng tôi đang ở trong một thôn xóm. Hình như chúng tôi đã bị bao vây tứ phía. Anh chiến binh kéo tôi chạy vào trong một căn nhà gạch. Có tiếng nói gằn giọng:

- Chạy đâu nữa, kiếm 1 vị trí chiến đấu đi.

Tôi chợt nhận ra quanh tôi có rất nhiều người. Phần lớn là chiến binh. Tôi không rõ họ thuộc đơn vị nào. Nhưng tất cả, quân phục đều tả tơi, nhưng vũ khí lại rất đầy đủ. Một người trong nhóm nói:

- Chúng ta không thể tụ cả lại đây được. Phải phân tán ra.

- Ai chỉ huy ở đây.

- Tôi.

Mọi người đều dồn mắt nhìn về phía tiếng người vừa xưng “tôi” dõng dạc. Nền trời đêm qua khung cửa mở rộng soi rõ một dáng người nhỏ nhắn nhưng vững chãi. Tự nhiên tôi thấy vững tin và có lẽ những người chung quanh tôi cũng vậy. Nhiều tiếng nói:

- Chúng tôi sẵn sàng.

Bỗng có tiếng một người:

- Chiến đấu gì nữa. Tìm đường mà rút thôi.

Người nhỏ nhắn đanh giọng:

- Ðó là ý kiến của một mình anh. Anh có quyền làm như vậy. Và xin anh ra khỏi căn nhà này ngay.

Rồi với 1 giọng cao hơn, người nhỏ nhắn cương quyết:

- Ai muốn rút cứ việc bỏ vũ khí lại, nhất là đạn và lựu đạn.

Không khí chợt im lặng, làm tiếng súng bên ngoài càng rõ hơn. Không một ai có cử động bỏ ra ngoài. Người nhỏ nhắn bắt đầu phân công tác:

- Hai bạn nào ra nhận định hướng tiến của địch?

Hai bóng người vụt đứng lên, lẻn qua cửa rất nhanh.

- Tổ trung liên án ngữ đường vào thôn.

- Rõ.

Ba người vác súng và đạn chuyền qua cửa sổ ra sau vườn căn nhà.

- Các bạn còn lại, vũ khí đạn dược còn được bao nhiêu?

Nhiều tiếng nói lao xao. Người nhỏ nhắn tiếp:

- Không sao. Chúng ta cố gắng cầm cự, rút đến chân cầu xa lộ là có đủ đạn dược rồi. Ở đó có 1 đơn vị Dù đang trấn cầu, Bây giờ tôi chia như sau, 3 người một nhóm. Nhóm 1, bên phải căn nhà chế ngự hướng xa lộ. Nhóm 2, bên trái, cũng vậy. Nhóm 3 phía sau nhà, kiểm soát các nhà lân cận. Còn lại là nhón 4 trừ bị tại đây. Chúng ta chờ “tiền sát” về sẽ tìm đường rút ra khỏi thôn.

Mọi người im lặng thi hành nhiệm vụ. Bây giờ thì mọi người đều không cần biết đến địch ở bên ngoài là bao nhiêu, nhưng cứ nghe tiếng súng thì không thể nào nghĩ là quân số 2 bên ngang nhau được. Nhưng tất cả đều như nhớ lại những bài học chiến thuật xưa và văng vẳng câu nói của cán bộ dạy chiến thuật “phải biết lao vào chỗ chết để tìm ra đường sống khi bị địch vây hãm hay phục kích”.

Tiếng súng bên ngoài thưa thớt. Ðêm hình như đã khuya. Ðã nghe rõ tiếng côn trùng rỉ rả khắp khu vườn tối.

Hai tiền sát viên trở lại. Tôi nghe rõ từng giọng hổn hển:

- Chúng không vào thôn. Chúng đang tiến về cầu xa lộ. Chúng đi từng đoàn nghênh ngang. Dân nói, chúng đông lắm...

Vị “chỉ huy” của chúng tôi ra lệnh:

- Vậy ta rút. Bây giờ để toán 3 rút trước, rồi toán 2 và toán 1. Trung liên sau cùng với tôi và nhóm trừ bị. Thôi, Chúng ta bắt đầu.

Tự nhiên tôi cảm thấy yên tâm ghê gớm. Hình như tôi đã trút bỏ được hết nỗi lo lắng về gia đình. Trước mặt tôi bây giờ chỉ là một cuộc chiến đấu không cân sức mà chúng tôi phải chấp nhận.

Khi chúng tôi ra khỏi thôn thì trời hửng sáng. Phía chân trời một vài vệt đỏ rõ ràng. Một vài ngọn gió mát lướt trên cánh đồng không xua đuổi được hết cái oi bức của đêm qua.

Tôi quay nhìn vị “chỉ huy.” Anh thấp hơn tôi chút ít, da ngăm đen vì sương gió chiến trường. Dưới chiếc mũ sắt mà chiếc quai vải bỏ không cài, gương mặt anh rắn đanh. Ðôi mắt thật sáng. Dưới bộ quân phục hoa Dù, vẻ người của anh vẫn không hết những nét chân chất của người nông dân miền Nam.

Tôi chợt nhận ra nơi ve áo ngực anh cái lon thượng sĩ nhất. Vội sờ lên cổ áo, tôi mừng thầm nhớ ra là đã tháo bỏ lon đại úy của mình. Tò mò tôi nhận xét người chiến binh đi cạnh tôi. Trên ve áo ngực anh có 2 lỗ thủng nơi chỗ thường gắn cấp bực. Phải là 1 sĩ quan. Tôi tin thế và hỏi:

- Anh ở đơn vị nào?

- Sư Ðoàn 1.

Anh tiếp luôn:

- Sư đoàn tập trung ở Vũng Tầu nhưng tôi bỏ, tính về Saigon tìm xem vợ con ra sao thì lại kẹt. Còn anh?

- Tôi đang công tác ở Ðà Nẵng.

Anh giải thích thêm:

- Anh em ở đây đủ sắc phục, đủ các đơn vị. Chiều qua tụi tôi tình cờ tụ lại với nhau khi chiến đấu ở dọc xa lộ. Trên cùng một chiến tuyến mà tôi chẳng biết thuộc đơn vị nào. Ðến lúc thưa tiếng súng, hỏi nhau mới rõ chẳng có ai biết đơn vị mình đang chiến đấu là đơn vị nào và cũng chẳng có ai là chỉ huy cả. Thế nhưng, anh em vẫn cứ tiếp tục cầm súng mà không ai bỏ hàng ngũ cả. Thật lạ.

- Bây giờ thì có “chỉ huy” rồi đó.

Người chiến binh đi bên tôi, nghiêm chỉnh trả lời:

- Rất tiếc là anh không dự 1 trận phá vòng vây chiều qua của tụi tôi ở Ngã Ba Long Thành. Vị “chỉ huy” này đã một mình ôm cây trung liên yểm trợ cho mười mấy anh em vượt ngã ba phía Bắc xuống phía Nam vì bên quận Tân Uyên chúng dầy đặc không còn lối nào thoát. Ai cũng sợ phải vượt Ngã Ba vì lộ trống quá mà. Nhưng nhờ có khẩu trung liên mà 1 đơn vị có dễ đến cả đại đội địch không tiến lên được. Có nhìn thấy anh nằm khơi khơi ôm khẩu trung liên ở bến xe đầu ngã ba mới thấy phục. Ai cũng lên tinh thần cả nên mới cùng nhau tiếp tục chiến đấu đấy chứ.

Một chiến binh đi phía sau cũng góp tiếng:

- Chiến đấu không phải để chạy đâu mà chiến đấu để tìm 1 đơn vị bạn, rồi sẽ nhập vào chiến đấu qui mô.

Tôi quay lại. Người vừa nói hất đầu hỏi tôi.

- Phải vậy không?

Tôi gật, anh định nói tiếp vừa lúc vị “chỉ huy” reo khẽ:

- Cầu xa lộ.

Chúng tôi theo “lệnh,” đi về hướng bờ sông Saigon tránh hướng cầu. Dự định tới bờ sẽ đi ngược lên tới chân cầu để tìm 1 đơn vị lớn nào đó đang trấn cầu ngăn đà tiến của địch.

Buổi sáng một ngày như mọi ngày. Hướng xa lộ vẫn có tiếng xe chạy rào rạt. Người đi lại có vẻ đông đúc. Có lẽ dân chạy di tản về Saigon. Vậy chúng sẽ tiến quân lối nào, chúng có dùng xa lộ không. Anh em chúng tôi đang bàn hỏi nhau thì chợt nghe tiếng máy nổ dồn dập rồi chiếc T.54 đầu tiên nhô cái nòng lên trước. Mạch máu anh em chúng tôi căng thẳng. Ôi! Chúng kiêu ngạo quá! Chúng dám tiến quân lẫn trên đường di tản của dân. Vị “chỉ huy” thúc chúng tôi tiến nhanh về phía cầu, bỏ không đi về hướng bờ sông nữa. Trên xa lộ, một chiếc T.54 bắt đầu rẻ xuống bên đường quay nòng về cánh đồng. Chúng đang yểm trợ cho bộ binh qua cầu.

Một tiếng nổ từ phía cầu. Một cụm khói bốc lên từ chiếc T.54. Thế là đạn trên tăng vã ra như mưa rào về phía cầu. Chúng tôi quan sát trên cầu. Từng ụ cát trải dài nhưng tiếng súng vẫn không có. Quân bạn đã rút rồi chăng. Trên mặt lộ lúc này vắng tanh. Phía sau 3 chiếc T.54 là từng đoàn địch quân đang mở rộng vòng tiến lên cầu. Bọn chúng chạy lúp xúp. Có đứa chạy rơi cả mũ, vội quay lại nhặt. Những chiếc nón cối mới tinh và những bộ quân phục cũng mới tinh. Chúng tự tin là vào Saigon tiếp thu ư? Có thế, chúng mới mặc quân phục mới khi còn phải chiến đấu.

Bây giờ thì chúng đang mở rộng trận tuyến. Có thể như 1 trung đội đang tiến về phía chúng tôi. Vị “chỉ huy” làm hiệu tay triển khai chiến tuyến. Chúng tôi, 3 người một, nhanh chóng tìm các ụ chiến đấu. Chúng đã tới gần. Chúng định làm hai gọng kìm bẻ vào chân cầu tiêu diệt quân bạn trên cầu. Vị “chỉ huy” khai hỏa. Chúng tôi đồng loạt nổ ròn vào những cái bia sống rất rõ. Lúng túng mất một lúc tôi mới sử dụng được khẩu A.K. Tôi cố điều chỉnh để đạn không ra liên thanh, quên hẳn nút điều chỉnh. Từng loạt người đổ rập, nhưng vẫn là những bóng người nhấp nhô tiến lại. Có 1 lúc tôi tự hỏi không biết chúng có được học chiến thuật không mà chúng - chiến đấu kỳ lạ thế. Cứ xồng xộc xông vào lưới đạn, đội hình lung tung. Tôi chợt nhận ra một qui luật của chúng. Cứ khoảng 5 phút là một đợt tiến lên rồi lại nằm xuống ngay giữa cánh đồng. Như một cái máy. Khẩu trung liên của chúng tôi như cũng tìm ra được khuyết điểm đó của chúng nên cũng cứ 5 phút một lại quạt một tràng. Cuộc chiến đấu căng thẳng. Sức tiến của địch chậm hẳn lại. Trên cầu súng của bạn lúc này cũng nã xuống như mưa. Hai chiếc T.54 đã bốc cháy. Nhấp nhô trùng điệp phía xa, địch quân đang dồn lên. Trên tuyến chiến đấu của chúng tôi đã thủng, cắt rời ba chúng tôi với anh em cùng vị “chỉ huy.”

Khẩu A.K. của tôi đã hết đạn. Tôi quăng súng nhìn 2 chiến hữu. Một người ngoắc đầu bảo tôi rút. Tôi thấy anh nạp băng đạn kép vào khẩu M.16 của anh và say sưa bắn tỉa như muốn yểm trợ cho tôi rút xuống bờ sông.

Không để lỡ cơ hội. Tôi lăn mình vào một bụi rậm sau lưng rồi cứ len theo các bụi lau sậy trườn xuống. Tiếng súng mỗi lúc mỗi xa dần. Ðến khi nhìn thấy bờ nước thì tôi đã cách xa hẳn tuyến chiến đấu rồi. Tìm được một bụi lau lớn, tôi để ngập mình trong làn nước, nhìn trở lại phía các bạn đang chiến đấu. Phía đó, không còn tiếng súng nữa. Phía cầu, khói bốc mù mịt. Nhiều tiếng nổ lớn dội lên. Tôi mong chiếc cầu sập xuống. Nhưng không, nó vẫn đó, vẫn vắt qua hai bờ, lưng cầu uốn lên vạch một đường cong trên bầu trời xanh ngắt. Mặt trời đã cao. Nước trên mặt đã ấm nhưng ở dưới chân vẫn còn buốt. Tôi nhìn về phía bờ bên kia. Tân Cảng - New Port. Hai chiếc tầu Hải Quân nhỏ vẫn còn đó. Tầu thuyền san sát. Người đen nghẹt trên bến.

Tôi ước ao bơi được qua sông. Sông quá rộng.

Lúc này tiếng súng phía cầu chỉ còn thưa thớt. Nhưng bầu trời bỗng rền vang tiếng trực thăng. Tôi mừng thầm. Quân ta đang được trực thăng vận phản công. Một chiếc Chinook rồi 2, rồi 3 lượn vòng về phía thành phố. Không có một cuộc đổ quân nào cả. Trên cầu đã có bóng nón cối qua lại.

Tôi ngậm ngùi nhớ vị “chỉ huy,” nhớ các chiến hữu trong mấy tiếng đồng hồ vừa qua. Họ còn sống không.

Bây giờ, 18 năm sau, tôi vẫn nghĩ họ còn sống, những người chiến binh không còn binh chủng.

***

Người kể chuyện vuốt mặt, đứng dậy đi về phía cửa sổ phòng khách. Anh kéo cánh cửa kính. Tiếng rào rạt liên tu bất tận của dòng xe cộ trên đường phố Cali ào vào phòng phá vỡ cái không khí trầm mặc của câu chuyện anh vừa kể.

Cả 4 người chợt nghĩ, “Sắp hết ngày Chủ Nhật. Lại sắp bắt đầu một tuần lễ ‘đi cầy.’”
(Tháng Tư, 1993)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Kể Từ Ngày Ấy

1.

Năm nay ba đã 74 tuổi rồi. Món quà sinh nhật bất ngờ của Ngữ tặng ba là quyển gia phả hai họ Lê-Trần nhà anh. Ngữ biết đây là một ước mơ ba muốn thực hiện từ lâu vì ba hằng lo âu con cháu sẽ quên đi gốc gác. Quyển gia phả sẽ là đầu dây về nguồn của chúng sau này. Mấy năm nay ba đã âm thầm ghi chép, vẽ sơ đồ gia tộc bằng tay, viết lại những kỷ niệm gia đình và cất chúng trong một hộp plastic mua ở Walmart. Năm kia Ngữ có mua tặng ba một máy vi tính xách tay nhưng ba chỉ dùng để liên lạc điện thư với bạn bè mà thôi. Ba cố gắng dùng Word nhưng không xong vì mấy ngón tay của ba ít khi chịu nghe lời: ba gõ từng chữ một, bỏ dấu tiếng Việt sai lên sai xuống. Đánh máy xong một bài, tuy đã cất (save) nó rồi nhưng ba tìm mãi không ra. Thiệt là uổng công! Mỗi lần nghe ba than phiền như vậy, má cười, ghẹo rằng tay ba là tay bóp cò, tay vặn ốc! Đúng vậy, ngày xưa ba là lính đi đánh giặc, rồi ở tù cải tạo gần 10 năm; ra tù ba làm nghề vá vỏ xe đạp, qua Mỹ ba cầm mỏ-lết trong xưởng hết mười mấy năm mới nghỉ hưu. Lần nào nghe má ghẹo ba như vậy, Ngữ cũng ngậm ngùi nghĩ đến cậu tư. Hồi đó, cậu thương Ngữ như con.

2.

Cậu tư là một người bạn thời trung học, một bạn đồng đội với ba trước khi tơ duyên của ba má biến cậu thành một người ruột thịt trong gia đình. Ngữ không biết nhiều về thời tuổi trẻ của cậu vì khi anh lên ba tuổi thì cậu và ba đã vào tù cải tạo rồi. Anh chỉ nghe ba má kể rằng cậu gan lì và bướng bỉnh lắm. Nhập ngũ một lượt với ba mà năm ba lên đại úy cậu còn mang lon thiếu uý vì cậu thường hay bị phạt kỷ luật (ba gọi là “ký củ”). Cũng vì cái tánh này mà trong suốt đời lính cậu luôn ở ngoài mặt trận, còn ba thì được về làm tham mưu. Nhưng cái may vào thời chiến lại thành cái rủi ở thời bình. Công việc tham mưu đã cất thêm nhiều năm tù khổ cực trên hai vai của ba. Cậu tư ra tù trước, chạy xe đạp ôm phụ má nuôi anh em của Ngữ. Vài năm sau cậu mới lập gia đình, mợ sanh được hai em, Hòa và Hiền. Đến lúc có chương trình HO, cái may không bị ở tù lâu năm lại thành cái rủi của cậu. Là lính tác chiến, ở tù cải tạo dưới ba năm, nên cậu tư không đủ điều kiện đi Mỹ. Mấy năm sau, cậu qua đời.

3.

Trước khi bắt tay vào việc Ngữ tưởng đây là một chuyện dễ làm: anh chỉ phải đánh máy các bài viết của ba, vẽ các sơ đồ gia phả, trình bày quyển sách trên máy vi tính, rồi gởi đến nhà in trên mạng. Thời buổi này, với kỹ thuật số, khách hàng đặt một quyển sách họ cũng nhận in, giá không mắc lắm, khoảng 20 đô-la một quyển. Tuy nhiên, thực hiện một quyển gia phả không đơn giản như vậy. Điều cốt yếu của gia phả là những chi tiết như tên họ, ngày sanh/tử, sinh quán, trú quán và mối dây liên hệ huyết thống của thân tộc. Vậy mà, ngày tháng, tên họ của ông bà, cô bác ba nhớ đến đâu, ghi đến đó; má cũng không khá hơn, hỏi thì má nói nhớ như vậy, chứ không chắc lắm. Vì thế, quyển gia phả hai họ Lê-Trần có nhiều chi tiết cần được cập nhật. May sao nhờ có Hòa và Hiền hăng hái giúp Ngữ trong công việc này. Hòa về làng viếng các ngôi mộ ông bà, thân tộc, chụp hình mộ bia và gởi cho Ngữ. Hiền tìm gặp, hỏi thăm các cô bác để biết thêm nhiều chi tiết và xin được một số hình ảnh xưa. Nhờ vậy mà quyển gia phả của ba đã được thành hình khá hoàn hảo. Ngữ đặt in và nhận được nó một tuần lễ trước ngày sinh nhật của ba. Anh mường tượng đến vẻ mặt sung sướng của ba khi cầm trong tay ‘tác phẩm’ của mình là quyển gia phả hai họ Lê-Trần in đàng hoàng trên giấy trắng mực đen.

4.

Đúng vậy, hôm sinh nhật ba lộ vẻ ngạc nhiên khi nhìn hình bìa quyển gia phả, rồi ba nở một nụ cười mãn nguyện, tay run run lật từng trang sách. Má ngồi bên ngó từng tấm hình người thân, nhắc tên từng người. Lũ con cháu im lặng nhìn hai ông bà hạnh phúc trở về dĩ vãng.

Bỗng ba lên tiếng:

“Sao kỳ vậy cà?! Mộ bia cậu tư của con ghi ngày tử là 30 tháng 4, 1975. Mình qua đây mấy năm sau cậu con mới mất mà!”

Nghe ba hỏi, Ngữ giật mình, trả lời:

“Dạ, khi nhận được hình con cũng có email hỏi Hòa rồi. Nó nói cậu tư trối với mợ rằng cậu muốn mộ bia của cậu đề ngày tử là 30 tháng 4. Cậu nói kể từ ngày ấy cậu coi như đã chết rồi...”

Ba đóng quyển gia phả lại, ngồi thừ người như tượng gỗ, lặng thinh. Má mở lại trang có hình mộ bia cậu tư, chép miệng nói:

“Cái thằng...! Cậu tư của tụi con sao chứng nào tật nấy, đến chết vẫn còn ba gai. Coi nè:

Lính Cộng Hòa
Trần Văn Nam
Sanh 22/9/1942
Tử 30/4/1975


Nghe má nói đến đó, Ngữ thấy ba gỡ cặp kiếng, vuốt nhẹ qua đôi mắt. Anh bỗng nhận ra đôi mắt ấy ươn ướt, mang một nỗi buồn thăm thẳm. Và, anh tự hỏi, phải chăng trong lòng ba cũng đã chết kể từ ngày ấy...

Đào Anh Dũng

http://www.daoanhdungwriter.blogspot.co ... hdung.html
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Tâm tình những người lính cũ

Chính Biên

Tháng Tư về!

Mỗi năm vào dịp này, những người lính cũ lại trào dâng những nỗi niềm trăn trở khôn nguôi. Một thời tuổi trẻ đã qua. Một thời chinh chiến cũng đã khuất. Nhưng những mất còn trong đời lính thì vẫn mãi cô đọng trong lòng.

Có người lính cũ như “lính già” Lương Duyên Nhạ, khóa 12 Thủ Ðức đã cậy đăng trên một nhật báo ở Nam California tâm tình của mình “Nghĩ về đời lính” để tưởng nhớ đến những đồng ngũ đã hy sinh mất tích trong các cuộc chiến tại VN.

Người Lính Già kể đến đồng ngũ Nguyễn Song Ba thất tung năm 1945 tại Thái Nguyên VN, đến Trung Tá Lâm Văn Sửu đã thất lộc năm 2013 trên phần đất tị nạn O.C., đến Ðại Úy Trịnh Quốc Côn, tuẫn tiết vào Tháng Tư năm 1975 tại Saigon, đến Binh Nhì Nguyễn Văn Hên thuộc tiểu đoàn 334 Ðịa Phương Quân tiểu khu Long An, đến Trung Tá Quân Y Võ Khắc Tuy, tử tiết tại Lò Gạch Xuân Trung Liên Trại 7, Hoàng Liên Sơn Tuyên Quang.

Năm đồng ngũ đó được Người Lính Già Lương Duyên Nhạ tưởng niệm trong dịp Tháng Tư này, chắc hẳn chỉ là một số tiêu biểu trong số những đồng ngũ của Người Lính Già đã hy sinh, đã tuẫn tiết, đã mãn phần trong nỗi cô đơn tị nạn hay còn vất vưởng sống tại VN hiện nay.

Chiến tranh Việt Nam nếu ta muốn gọi theo người Mỹ, còn gọi theo những người muốn tỏ ra là khách quan, trí thức, hiểu biết, đứng ngoài chính trị thì đó là Chiến Tranh Cốt Nhục Tương Tàn. Nhưng với những người lính của Quốc Gia VN thời Cựu Hoàng Bảo Ðại, của QLVNCH thời đệ I và đệ II Cộng Hòa thì cuộc chiến tranh ấy phải gọi là Chiến Tranh Xâm Lăng của cộng sản quốc tế Nga Tầu mà cộng sản VN cam tâm làm con chốt qua sông.

Cốt nhục tương tàn sao không diễn ra ở miền Bắc, phần đất của CS chiếm được sau Hiệp Ðịnh Geneve 1954, mà chỉ ở miền Nam. Cốt nhục tương tàn mà sao chiến tranh chấm dứt vào năm 1975 thì hàng trăm ngàn người phải vào tù, hàng trăm ngàn người phải bị đày đi “kinh tế mới” khai hoang, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi và những người thắng cuộc đã tận thu “chiến lợi phẩm” trong vùng đất mới chiếm được không khác một đoàn quân đi xâm lược. Ðiều này người dân miền Nam đã mô tả thật ai oán qua câu nói cửa miệng vào những năm sau 30 Tháng Tư 1975 rằng, “Miền Bắc nhận hàng miền Nam nhận họ” hoặc “tự nhiên như người Hà lội.”

Một cuộc đổi đời thật tệ hại cho người dân miền Nam. Một thất vọng não nề cho người dân miền Bắc khi cộng sản reo hò “Ðại Thắng Mùa Xuân” để rồi chỉ ít năm sau, chính những người cộng sản cũng cảm thấy đó chỉ là cuộc “chiến thắng rã rời.” Vì, sau những ngày hốt hoảng lãnh nhận chiến thắng, người cộng sản đã bị lột mặt nạ yêu nước, giải phóng dân tộc trước người dân miền Bắc từng đã phải cam chịu hy sinh, chia sớt từng hạt muối, chén cơm vào cuộc chiến được gọi là “giải phóng miền Nam.” Thực tế đã bóc trần cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa của cộng sản, để đến lúc nhận ra thì đã quá muộn rồi như nhà văn Dương Thu Hương đã ngồi trên vỉa hè ngắm đoàn quân chiến thắng tiến vào một thành phố huy hoàng, giầu sang phú quý, văn minh trong khi trong tâm trí nhà văn vẫn nghĩ đó là một thành phố của người dân Việt nghèo đói, bị bóc lột, đàn áp, nô lệ dưới gót giầy của “Mỹ Ngụy.” Và nhà văn đã sớm tỉnh ngộ nhất nên phải bật khóc (Dương Thu Hương viết trong tiểu thuyết của mình sau đó).

Tháng Tư về, tâm tình những người lính cũ lại tràn về thác lũ đầy những suy tư, dằn vặt tự tìm xem những người lính VNCH phải có những trách nhiệm gì trong sự mất mát lớn lao của đất nước và dân tộc vào Tháng Tư năm ấy!

Có lẽ cũng trong tâm ý này mà Hội Cựu SVSQ Trừ bị Thủ Ðức Nam California tổ chức một buổi “Tâm Tình Hội Ngộ” vào chiếu tối Thứ Bảy cuối tuần này 10 Tháng Năm để “nói cho nhau nghe tâm tình, ký ức của những người trai thời loạn trong thảm cảnh 30 Tháng Tư 1975, trong các trại tù cộng sản, trong cuộc sống lưu vong trên xứ người và hiện nay vẫn còn mang nặng nỗi ưu tư về đất nước, dân tộc VN đang chìm ngập trong khổ đau, uất ức dưới ách thống trị của Tập Ðoàn Việt Gian Cộng Sản bán nước.”
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Vai trò lịch sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Lê Quế Lâm
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà tiền thân là Quân đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập sau khi người Việt Quốc gia tranh thủ được nền độc lập cho đất nước. Ngày 8/3/1949 cựu hoàng Bảo Đại và tổng thống Pháp Vincent Auriol ký Hiệp ước Elysée. Pháp chính thức nhìn nhận VN là một quốc gia độc lập, thống nhất thuộc khối Liên Hiệp Pháp, có chủ quyền ngoại giao và nội trị, có quân đội và tư pháp riêng. Quân đội Quốc gia VN với danh xưng đầu tiên là Vệ binh Quốc gia VN chính thức ra đời ngày 11/5/1950 với quân số khoảng 60 ngàn.

Lúc bấy giờ Mao Trạch Đông vừa chiến thắng ở Hoa Lục, thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (10/1949), ông Hồ Chí Minh liền sang Bắc Kinh cầu viện. Mao cử tướng Vi Quốc Thanh và Lã Quí Ba làm cố vấn quân sự và chính trị sang giúp Việt Minh tổ chức lại lực lượng vũ trang để chống Pháp. Các đơn vị VM như các Đại đoàn (Trung Đoàn) 304, 308, 316 và 320 được lịnh sang lãnh thổ TQ để tái huấn luyện và nhận trang bị những loại vũ khí mới. Vì thế, cuối năm 1950 Pháp bàn giao một số đơn vị lính Việt trong quân đội Pháp trú đóng ở VN cho chính phủ Quốc gia để thành lập Quân đội Quốc Gia VN với quân số dự trù 120 ngàn do sĩ quan VN chỉ huy. Sau đó Quân đội Quốc Gia gia tăng quân số lên đến 200 ngàn để phối hợp với quân Viễn chinh Pháp chiến đấu bảo vệ nền độc lập quốc gia, chống lực lượng Việt Minh được Trung Cộng yểm trợ mạnh mẽ.

Pháp và Trung Cộng đều tận lực giúp hai bên VN: Quốc gia và Cộng sản. Theo thống kê, để bảo vệ nền độc lập còn non trẻ của ba nước Đông Dương, tính đến cuối năm 1952, con số quân viễn chinh Pháp bị thương vong và mất tích ở Đông Dương đã lên đến 90 ngàn, và đã chi cho cuộc chiến này gấp hai lần số tiền mà họ đã nhận của HK qua kế hoạch Marshall để tái thiết nước Pháp thời hậu chiến (Stanley Karnow, Vietnam: A History, Penguin Books, Victoria, 1985, P.188). Về phần Trung Cộng, họ thấy không đủ sức đương đầu với Pháp được HK yểm trợ, nên cần phải chấm dứt sớm cuộc chiến này, để dồn sức củng cố TQ sau nội chiến và hai cuộc chiến ở Triều Tiên và Đông Dương (1950-1953). Do đó, TC và Pháp vận động hai đồng minh thân cận là Liên Xô và Anh Quốc đứng ra làm đồng chủ tịch Hội nghị Genève 1954 để chia đôi Việt Nam. Một bên thuộc ảnh hưởng Thế giới tự do, bên kia thuộc khối Cộng sản.

Một tháng sau khi hội nghị Genève khai mạc, ngày 4/6/1954 Thủ tướng Pháp Joseph Laniel và Thủ tướng Quốc gia VN Bửu Lộc ký Hiệp ước về Độc lập (Traité d’Independance): Việt Nam là một quốc gia hoàn toàn độc lập có đầy đủ chủ quyền và thẩm quyền do quốc tế công pháp công nhận.

Do tình thế đòi hỏi, HK lãnh đạoThế giới Tự do đã chia ảnh hưởng với Thế giới CS tại VN theo tinh thần hòa giải các cuộc xung đột thế giới. Ngày 20/8/1954 TT Eisenhower chấp nhận kế hoạch của Hội đồng An ninh Quốc gia về việc giúp Miền Nam VN gồm 3 điểm: Về quân sự, tạo dựng một quân đội quốc gia đủ mạnh để bảo vệ nền an ninh quốc gia. Về kinh tế sẽ viện trợ giúp MN phát triển. Về chính trị hợp tác với chính quyền Ngô Đình Diệm thiết lập các cơ cấu dân chủ và mở rộng thành phần chính phủ có sự tham gia của các đảng phái chính trị. Tháng 9/1954 HK triệu tập hội nghị Manila thành lập khối Liên phòng ĐNÁ tức SEATO. Sau đó HK mới chính thức cam kết với Nam VN qua lá thư đề ngày 23/10/1954 của TT Eisenhower gởi TT Diệm xác nhận những mục tiêu của HK giúp MNVN như đề cập trên.

Tháng 4/1955 Pháp chính thức chấm dứt vai trò ở VN. 342 cố vấn quân sự Mỹ thuộc phái bộ Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự (Military Assistance Advisory Group -MAAG) có mặt ở VN từ trước 1954 thay thế Pháp đảm nhận việc huấn luyện quân sự cho Quân đội Quốc gia VN. Theo tinh thần HĐ Genève 1954 phái bộ MAAG được ở lại MN sau khi VN bị chia cắt. Quân đội Quốc gia trở thành Quân đội Cộng Hòa từ tháng 10/1956 khi TT Diệm khai sáng nền Cộng hòa.

Tháng 9/1960 CSVN triệu tập Đại hội Đảng lần III, ban hành nghị quyết thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam nhằm “giữ vững tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á và ra sức góp phần tăng cường lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa” (Văn kiện Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1960, Tập 1, Tr.34-35). Đến giữa năm 1961, mặc dù tình hình an ninh ở miền Nam VN ngày càng tồi tệ do sự khuấy động của CS, song HK vẫn không gia tăng số cố vấn quân sự thuộc phái bộ MAAG. Sau đó TT Diệm kêu gọi HK giúp thêm viện trợ để Quân đội Cộng hòa tăng từ 170 ngàn quân lên 270 ngàn. TT Kennedy chấp nhận giúp VNCH tăng thêm 30 ngàn quân hồi cuối năm 1961. Đồng thời gởi thêm một số cố vấn quân sự và binh sĩ thuộc Lực lượng Đặc biệt để huấn luyện chiến thuật chống du kích cho Quân đội Cộng hòa. Tháng 2/1962 HK thành lập Bộ Tư Lịnh Viện trợ Quân sự Mỹ ở VN (MAC-V)

Từ giữa năm 1964, Hà Nội tăng cường xâm nhập các lực lượng chính qui để xây dựng các trung đoàn, sư đoàn chủ lực. Cộng quân bắt đầu tập trung lực lượng mở các chiến dịch lớn. Đến thời điểm này, như lời nhận xét của một ký giả Mỹ “thì còn một khả năng có thể ngăn chận sự sụp đổ của chế độ Sàigòn... đó là sự can thiệp của các lực lượng quân sự Mỹ. Một cuộc chiến tranh lớn trên bộ và trên không của Mỹ ở VN không thể nào tránh được”. (Neil Sheehan, A Bright Lie, Picador, London, 1990, P.382)


Để MN tự do khỏi rơi vào tay CS và do yêu cầu của thủ tướng Phan Huy Quát, đầu tháng 3/1965 HK bắt đầu can dự trực tiếp vào cuộc chiến. Họ dùng hai gọng kềm: từng bước tăng quân vào MN và mở rộng diện dội bom Miền Bắc để áp lực Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán. Ba tháng sau, chính phủ dân sự từ chức, giao quyền lại cho quân đội lãnh đạo quốc gia trong giai đoạn mới: quân đội Đồng minh tham chiến. Ngày 19/6/1965, Nội các chiến tranh do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch ra đời và 19/6 trở thành Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. QLVNCH có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Đồng minh để kết thúc chiến tranh VN, góp phần xây dựng một Đông Nam Á hòa bình và phát triển.. Mục tiêu này được đề ra trong hội nghị thượng đỉnh các quốc gia có quân tham chiến ở VN, diễn ra tại Manilla hồi cuối tháng 10/1966. Trong giai đoạn 1965-1968, quân đội Đồng minh chủ yếu là HK, Đại Hàn và Úc Đại Lợi phụ trách các chiến trường trọng điểm ở các tỉnh địa đầu giới tuyến, ở Pleiku, Kontum, các tỉnh thuộc Quân khu 5 CS và miền đông Nam bộ.

Trước khi nhượng bộ HK, ngồi vào bàn hội nghị, cộng quân mở cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968. Trong biến cố này, quân đội Đồng minh gần như án binh bất động, để cộng quân đọ sức với QLVNCH. Lợi dụng đồng bào đang nô nức đón mừng năm mới, lực lượng VNCH chỉ còn 50% quân số cấm trại, lơ là trong việc phòng thủ vì đang có lịnh hưu chiến, Cộng quân mở cuộc tổng tấn công toàn bộ các tỉnh thành MN, hy vọng đánh tan quân đội VNCH, sách động đồng bào tổng nổi dậy lật đổ chính quyền quốc gia. Cộng quân bị tổn thất nặng nề, chỉ trong vòng 10 ngày đầu đã có 30 ngàn cộng quân bị loại khỏi vòng chiến đấu. Vì thất bại này cộng quân không còn lực lượng trở về giành lại nông thôn, nơi đây đã bị QLVNCH án ngữ, phải rút về các mật khu ở biên giới Việt Miên. Mất địa bàn chiến lược nông thôn, cộng quân không thể tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ, phải ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ từ tháng 5/1968. Đây là thời kỳ quật khởi của QLVNCH, chính phủ ban hành lịnh tổng động viên, tăng cường lực luợng diện địa, phản công tái chiếm các vùng bị du kích CS chiếm đóng trước đây.

Từ tháng 7/1969 HK bắt đầu rút quân khỏi VN. Trong kế hoạch Việt Nam Hóa chiến tranh, QLVNCH ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng để đảm nhận trách nhiệm phòng thủ. Đồng thời mở các cuộc hành quân vào Cam Bốt, triệt hạ các an toàn khu của cộng quân trú đóng ở đây (1970) và tiến quân vào Hạ Lào phá hủy tổng kho hậu cần tiền phương của CSBV ở Tchépone (1971). Ngoài ra QLVNCH còn yểm trợ chương trình bình định nông thôn, giúp chính phủ thực hiện chương trình Người cày có ruộng. Trong thời gian này, HK xúc tiến công trình điện khí hóa nông thôn, tái thiết và canh tân toàn bộ hệ thống xa lộ toàn MN. Xa lộ nối liền Sàigòn với các tỉnh miền Trung kéo dài tới Quảng Trị. Xa lộ nối liền Sàigòn với Bình Long, Tây Ninh, Vũng Tàu và các tỉnh Hậu giang đã hoàn tất. Các khu kỹ nghệ, các công trình đầu tư xây dựng mọc lên khắp nơi. Tất cả những nổ lực trên minh chứng cho sức mạnh và chính nghĩa của người quốc gia nhằm phục vụ cho cuộc tuyển cử thực hiện quyền tự quyết của nhân dân MN sẽ được đề cập đến trong hiệp định Paris và xa hơn nữa trong cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Năm 1972, lợi dụng việc quân đội Mỹ rút đi gần hết, chỉ còn các đơn vị không tác chiến, Hà Nội xua quân vượt vĩ tuyến 17 mở cuộc tấn công Mùa Hè với hy vọng giành chiến thắng cuối cùng, nhưng mưu đồ này đã bị QLVNCH bẻ gãy. Trong khi đó, TT Nixon lên án Hà Nội đã vi phạm thỏa hiệp với Mỹ năm 1968, ông ra lịnh tái oanh tạc Miền Bắc, áp lực Hà Nội phải kết thúc chiến tranh. Tháng 8/1972 QLVNCH đã tái chiếm Quảng Trị, trước khi bản dự thảo HĐ Paris ra đời hồi cuối tháng 10/1972.

Cuối tháng Giêng 1973 HĐ Paris ra đời, chiến tranh chấm dứt. QLVNCH với gần một triệu quân vẫn còn nguyên vẹn với nguồn quân viện của Mỹ tài khóa 1973 ở mức 2260 triệu đôla. Hình ảnh cuộc diễn binh vĩ đại Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19/6/1973 đã để lại cho hậu thế thấy được sự hùng mạnh của QLVNCH sau khi họ đã thực hiện xong vai trò lịch sử, đưa dân tộc bước vào giai đoạn đấu tranh chính trị với CS. Trong giai đoạn mới này, VNCH có nhiều ưu thế: Chính quyền quốc gia từ trung ương xuống đến xã ấp, các cơ quan Hiến định và lực lượng Cảnh sát quốc gia vẫn còn đầy đủ. Chính phủ VNCH kiểm soát 80% đất đai và 90% dân số.

Theo điều 12 của HĐ Paris, nhân dân MNVN được quyền quyết định tương lai chính trị của MN thông qua một cuộc tuyển cử dân chủ tự do có giám sát quốc tế. Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc, gồm ba thành phần ngang nhau: VNCH, Cộng hòa Miền Nam VN (MTGPMN) và Thành phần thứ ba, sẽ đứng ra tổ chức cuộc tuyển cử. Do đó từ 19/3/1973 phái đoàn hai bên miền Nam VN là VNCH và Cộng hòa MNVN (MTGP) đã gặp nhau tại hội nghị La Celle Saint Cloud (Paris) để thảo luận vấn đề này. Chính phủ VNCH vẫn khăng khăng đòi quân Bắc Việt phải rút khỏi MN. Sau đó tổ chức cuộc tuyển cử để nhân dân bầu tổng thống và Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp dân tộc. Tổng thống và Hội đồng sẽ quyết định thể chế mới cho miền Nam. Chính phủ Cộng hòa MNVN bác bỏ đề nghị này, họ không chịu thảo luận những vấn đề nào không được ghi trong văn bản ký kết. Họ đòi Thành phần thứ ba do hai bên MN chỉ định chớ không bầu. Sau đó HĐ/QGHGDT đứng ra tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến và Quốc hội này sẽ soạn thảo hiến pháp cho MNVN (- Nguyễn Khắc Ngữ, Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, Nhóm nghiên cứu Sử Địa Việt Nam xuất bản, Gia Nã Đại, 1979, Tr. 155)
TT Nguyễn Văn Thiệu dựa vào lý do HK không áp lực được Hà Nội rút quân về Bắc, nên không thi hành hiệp định, trong khi CSVN không bao giờ chịu rút quân, còn HK đã chuyển đấu trường VN từ quân sự sang chính trị. TT Thiệu yêu cầu Mỹ tiếp tục quân viện đầy đủ để QLVNCH tiếp tục chiến đấu. Đòi hỏi này không được Quốc hội Mỹ đáp ứng. Vã lại, VNCH còn chiến đấu, CS Bắc Việt còn nêu ra nghĩa vụ dân tộc, thống nhất đất nước. Hà Nội tiếp tục tố cáo Mỹ biến MNVN thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, chống lại khát vọng thống nhất đất nước của nhân dân VN. Đây là nổi bất hạnh của dân tộc. Tiếp tục chiến đấu chỉ đổ máu thêm, vì cuộc chiến này chỉ được giải quyết bằng chính trị.

Ngày 21/4/1975, TT Thiệu tuyên bố “Nếu tôi là nhân tố cản trở hòa bình, tôi xin từ chức”. Sau khi TT Thiệu từ chức, tân TT Trần Văn Hương mời cựu đại tướng Dương Văn Minh thành lập chính phủ thương thuyết với CS. Ông Minh yêu cầu được trao trọn quyền tổng thống, ông sẽ thành lập ngay nội các hòa giải, kêu gọi CS ngưng bắn để khởi đầu việc thương thuyết, thành lập Hội đồng Quốc gia hòa giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần. Thu xếp với Dương Văn Minh không xong, TT Hương tự mình lo việc điều đình với CS. Chiều ngày 24/4/1975 ông chỉ thị Quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm Nguyễn Xuân Phong và Xử lý thường vụ Bộ Ngoại giao Lê Quang Giảng soạn thảo đề nghị ngưng bắn gồm ba điểm để Nguyễn Xuân Phong và đại sứ Pháp Merrillon mang đi Hà Nội thảo luận. Ba đề nghị đó là: Thỏa thuận một cuộc ngưng bắn tại chỗ. Mời đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa MNVN vào Sàigòn thành lập chính phủ liên hiệp. Thành lập ngay Hội đồng Quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc để đi đến tổ chức tổng tuyển cử thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN.

Hà Nội bác bỏ đề nghị của ông Hương, không tiếp phái đoàn Nguyễn Xuân Phong vì họ xem chính phủ Hương chỉ là chính phủ Thiệu không có Thiệu. Ngay chiều hôm đó, Đài phát thanh Hà Nội cho biết họ chỉ chấp nhận nói chuyện với ông Dương Văn Minh và đưa ra hai điều kiện tiên quyết là ông Hương và HK phải ra đi. Các đòi hỏi trên đều được đáp ứng. Sáng ngày 30/4/1975, sau khi Đại sứ Martin và những người Mỹ cuối cùng rời VN, MTGPMN cho rằng thời kỳ thương thuyết chính trị đã qua, hiện giờ 4 quân đoàn cộng quân đang siết chặt vòng vây Sàigòn. Ông Minh hy vọng biện pháp sau cùng của ông có thể góp phần hòa giải với CS, 10 giờ sáng ông lên tiếng trên Đài phát thanh kêu gọi toàn thể QLVNCH ngưng bắn, ở nguyên tại chỗ và mời đại diện chính phủ Cộng hòa MNVN vào Sàigòn nhận bàn giao chính quyền trong vòng trật tự để tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào.

Không một nhân vật nào của MTGPMN xuất hiện, người ta chỉ thấy xe tăng của CS Bắc Việt húc đổ cổng chánh và tiến thẳng vào tiền đình Dinh Độc Lập. Sau đó, bộ đội CS miền Bắc kè súng đưa đưa ông Minh đến đài phát thanh đọc lịnh đầu hàng, nguyên văn như sau: “Nhân danh tổng thống VNCH, tôi, đại tướng Dương Văn Minh, kêu gọi toàn thể Quân lực VNCH hãy bỏ súng và đầu hàng vô điều kiện với Quân đội giải phóng Miền Nam. Tôi tuyên bố giải tán tất cả các cơ quan chính quyền từ trung ương đến địa phương”.

Quyết định của ông Dương Văn Minh, vị lãnh đạo cuối cùng của VNCH (dù không hợp hiến) nhưng được các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú chấp hành. Họ buông súng, bàn giao chính quyền cho phía bên kia của miền Nam là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà MN quyết định công việc của miền Nam. Nhưng vì bộ đội CS Bắc Việt dùng vũ lực buộc ông Minh ra lịnh QLVNCH “đầu hàng vô điều kiện với quân giải phóng Miền Nam”. Đó là quân xâm lược miền Nam, nên 5 vị tướng kể trên cùng một số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ không đầu hàng. Họ tự sát vì Danh Dự và Trách Nhiệm của QLVNCH, họ chết vì Tổ Quốc VN.

Trên 250 ngàn chiến sĩ QLVNCH đã hy sinh cùng trên nửa triệu thương binh, nhưng không bảo vệ được MN tự do. Đó là nổi đau chung của những người lính VNCH. Một số chiến hữu lại có cái nhìn khiếm diện và cục bộ nên cho rằng QLVNCH đã bại trận. Do tình thế đòi hỏi, ngày 30/4/1975 họ đã hạ vũ khí để chấm dứt chiến tranh, giúp đất nước sớm thống nhất. Hy sinh vì đại nghĩa dân tộc lại bị mang tiếng là bại trận. Nhiều người lại biện minh cho sự thất trận là bị đồng minh phản bội. Đồng minh đã đến giúp VN, hơn 60 ngàn thanh niên của họ đã vĩnh viễn nằm xuống tại quê hương chúng ta. Sau khi dàn xếp xong thế trận mới nhằm giúp chúng ta thắng cuộc chiến bằng chính trị, họ rút lui. Làm sao có thể gọi họ là phản bội? Tự hào là một quân đội từng đứng hàng thứ tư, thứ năm trên thế giới, không cho phép chúng ta đổ lỗi, đổ thừa cho người khác. Vã lại, một cá nhân hay tổ chức “bị phản bội” thường mang ý nghĩa xấu của đối tượng đó. Vì thế, cho rằng mình bị phản bội, chính là mình tự hạ nhục, làm giảm giá trị của mình.

Sau khi HK chấm dứt cuộc chiến VN hồi năm 1975, chiến tranh lại xảy ra giữa các nước CS. Có phải đây là thủ đoạn của HK? Và vì mục đích gì? Đầu tiên là cuộc xung đột giữa Khmer Đỏ và CSVN. Sau đó, CSVN ký hiệp ước hợp tác toàn diện với Liên Xô và đưa quân sang Miên lật đổ chế độ Pol Pot được Bắc Kinh hậu thuẫn. Đặng Tiểu Bình thiết lập ngay bang giao với Mỹ. Đặng lên án CSVN là vong ân bội nghĩa, ra lịnh tấn công, dạy cho CSVN một bài học hồi tháng 2 năm 1979 và thề trừng phạt CSVN cho đến chết. Nhưng CSVN không chết, nhờ biết luồn lọt quay về thần phục Bắc Kinh. Còn khối CS Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, kết thúc chiến tranh lạnh. VN là chiến trường chính kéo dài suốt cuộc chiến tranh lạnh từ 1946 đến 1990. Người viết tin rằng đó là sự đóng góp của QLVNCH cùng các nước đồng minh chiến đấu cho lý tưởng tự do trong chiến tranh lạnh vừa qua, đưa LX đến chỗ cáo chung.

Vì quyền lợi sinh tử của mình và nhiều nước khác, từ năm 2009 HK tuyên bố trở lại ĐNÁ. Tại diễn đàn đối thoại Shangri-La ở Singapore hồi cuối tháng 5/2013, TT Nguyễn Tấn Dũng đã coi trọng vai trò của Mỹ trong việc ổn định khu vực Á châu/Thái Bình Dương. Hai tháng sau, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Mỹ hội kiến với TT Obama. Vì quyền lợi chiến lược của Mỹ, vì lợi ích phát triển của VN, lãnh tụ hai nước đồng ý thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược và cùng nổ lực tham gia tổ chức Tự do Mậu dịch Xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là TPP. Nếu HK không đòi hỏi giới lãnh đạo CSVN phải tôn trọng nhân quyền, dân chủ tự do cho người dân, lúc đó mới lên án HK phản bội.

Năm 1954 HK đã đến VN thành lập khối Liên phòng ĐNÁ (SEATO). Nhờ chiến tranh VN, kế hoạch ngăn chận sự bành trướng của TC đã thành công. SEATO giải tán (1976). Nay HK trở lại cũng vì mưu đồ bành trướng của TC. Sự kiện này giúp đồng bào, nhất là giới lãnh đạo CSVN “ôn cố tri tân” nhớ lại những gì mà HK và QLVNCH đã hoàn thành hồi tháng Giêng 1973. Chỉ có dân chủ, tự do, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân qua các cuộc bầu cử tự do là con đường duy nhất giúp VN thoát hiểm họa bị Hán hóa, đất nước thực sự độc lập tự chủ để phát triển.

Đầu năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bài viết được coi là thông điệp đầu năm của lãnh đạo nhà nước, đề cập đến việc Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân và “mở rộng dân chủ trực tiếp”. Sau đó, nhân kỷ niệm ngày 30/4 năm nay, trên website của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bài viết tựa đề Non sông nối liền một dải (30/4/1975 - 30/4/2014) Làm gì để thống nhất được lòng dân khi an ninh, chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc đang bị đe dọa? Kỷ niệm ngày 30/4 vừa chấm dứt, hôm sau ngày 1/5/2014 TQ ngang nhiên đưa giàn khoan HD-981 vào khu vực thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN.

Hai tuần sau, trong chương trình phát thanh tiếng Việt của đài Tiếng Nói Nhân dân Trung Hoa nghe được trên mạng lưới internet toàn cầu ngày 15/5/2014 có đề cập đến bản thông báo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đăng trên tờ Thời Báo Hoàn Cầu của TQ, có đoạn nguyên văn như sau: “Hoàng Sa, Trường Sa và bờ biển sẽ không thể chối cãi là thuộc về chủ quyền của TQ mà CSVN do TT Phạm Văn Đồng đã ký kết vào năm 1958. Chúng tôi có đầy đủ những bằng chứng để đem ra LHQ và buộc CSVN phải rút hết tất cả những tầu chiến của họ và để cho tầu Hải Dương 981 được tiếp tục làm nhiệm vụ để thăm dò và khai thác dầu khí…Chúng tôi sẽ lấy được bờ biển của VN và chúng tôi sẽ lấy tất cả những gì mà VN phải trả giá cho bài học giống như năm 1979.

Hỡi những người lãnh đạo trong Bộ CT đảng CSVN, các người đã ăn cháo đá bát. Các người đã thiếu nợ của TQ trên 870 tỷ về chiến tranh Điện Biên Phủ và chiến tranh chống Mỹ. Thì bây giờ các người đã nhượng đảo và biển cho Cộng hòa Nhân dân TH thì không có lý nào các người không công bố cho tất cả mọi người dân biết để mà tiếp tục chống TQ. Thì đó là hành động ngang ngược của VN. Và chúng tôi sẽ cực lực lên án và chúng tôi sẽ dạy cho VN một bài học”.

Từ hơn một tháng nay, dư luận trong và ngoài nước chú ý đặc biệt đến biến cố này. Người ta cố tìm hiểu động lực nào khiến TQ hành động như vậy? Chả lẽ TQ gây sự với CSVN để đẩy nước này trở thành đồng minh của Mỹ? Người viết nghĩ rằng TQ đưa giàn khoang HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của VN là có chủ đích. Họ muốn tạo cơ hội giúp nhân dân VN lật đổ chế độ CS khi vạch trần Đảng CSVN đã bán nước cho họ. Hành động đó cho thấy TQ không ủng hộ CSVN nữa, đồng bào sẽ đòi nhà nước bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. Giới nhân sĩ trí thức, sinh viên học sinh và các tập thể xã hội dân sự đòi dân chủ đa đảng, nhà nước pháp quyền, tam quyền phân lập. Còn đồng bào, dân oan đòi quyền sở hữu đất đai. Chả lẽ Quân đội Nhân dân và Lực lượng công an lại đàn áp đồng bào để bảo vệ Đảng CSVN đã bán nước, vừa độc tài, lại tước quyền tư hữu của dân. CSVN cũng chưa bao giờ hợp tác thực sự với ASEAN để xây dựng một ĐNÁ hòa bình, trung lập, ổn định và phát triển, họ chỉ hợp tác với các cường lực CS để duy trì quyền độc tôn lãnh đạo. Đàn áp nhân dân, đảng viên CS sẽ không còn cơ hội để có visa vào HK và các nước dân chủ tự do.

Năm 1979 TQ dạy cho VN một bài học, vì CSVN là nguyên nhân tạo ra sự mất ổn định ở ĐNÁ. Với HĐ Paris 1973, chiến tranh VN chấm dứt sẽ mang lại hòa bình và ổn định cho khu vực. Nhưng vì CSVN xé bỏ HĐ Paris 1973, cưỡng chiếm miền Nam, mà còn muốn chiếm cả Lào và Cam Bốt để thành lập Liên bang Đông Dương CS. Để thực hiện mưu đồ này, CSVN đã ký hiệp ước hợp tác toàn diện với LX. TQ không chấp nhận một Đông Dương CS theo LX hiện diện ở sát nách mình, nên trừng phạt đàn em phản bội Hậu quả là LX sụp đổ.

Năm nay 2014 TQ lại hăm dọa dạy cho VN một bài học nữa là để tiêu diệt tận gốc cái đuôi của LX còn sống sót. Thà mất nước chớ không để mất đảng, nên CSVN khó thể hợp tác với Mỹ để bảo vệ biển Đông, nhưng có chiều hướng muốn hợp tác với Nga. Mấy tháng trước, trên website của TT Nguyễn Tấn Dũng xuất hiện bài viết với tựa đề “VN có cần một Putin?” Bài viết đánh giá Putin cao hơn Tập Cận Bình. Có thể CSVN sẽ lại phản bội CSTQ một lần nữa? Nhưng đó cũng chưa phải là lý do để triệt hạ Đảng CSVN, mà vì một hiểm họa mới đang đe dọa TQ. HK đã giải quyết xong Afghanistan và chuyển trục về châu Á và mới vừa đây họ phóng thích 5 lãnh tụ cao cấp của Taliban mà họ bắt được trong những ngày đầu tấn công Afghanistan.Họ đang bị giam giữ ở nhà tù kiên cố Guantanamo, nay được trả tự do chỉ để Taliban phóng thích một trung sĩ Mỹ! Phải chăng, đây là ngọn đòn độc của TT Obama, hòa hoãn với Taliban, để nhóm khủng bố Hồi giáo nguy hiểm này chuyển hướng hoạt động sang châu Á mà mục tiêu trước mắt là Tân Cương?

Để đối đầu với hiểm họa mới có nguy cơ làm đất nước TQ tan rả, bắt buộc Tập Cận Bình sẽ phải hòa hoãn với Mỹ, Nhật, Đại Hàn và các nước ASEAN ở biển Đông. Tranh chấp hiện nay, chủ yếu là giữa CSVN và TQ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. TQ dựa vào Công hàm năm 1958 của TT Phạm Văn Đồng cũng như sách sử địa do Hà Nội xuất bản năm 1974 thừa nhận hai quần đảo trên thuộc TQ. Họ đã trình bày những chứng cớ này trước LHQ để minh chứng chủ quyền của họ. Còn CSVN ở thế kẹt, còn lúng túng nên chưa hoàn tất hồ sơ để khiếu kiện trước LHQ. Trong khi đó, nhân dân VN đã biểu tình chống TQ và phá hoại các xí nghiệp của họ ở VN. Tình thế này sẽ kéo dài làm mất ổn định ở biển Đông, đòi hỏi TQ phải sớm chấm dứt sự tồn tại của Đảng CSVN, tạo sự ổn định ở biển Đông, để dồn nổ lực đối phó với Taliban ở hướng Tây. Đó cũng chỉ vì quyền lợi của TQ, vừa tranh thủ nhân dân VN. Một chính quyền hậu CS do nhân dân VN bầu chọn vẫn giữ được tình hữu nghị với TQ mà hai dân tộc đã duy trì trong suốt 10 thế kỷ qua. Và sẽ cùng TQ giải quyết vấn đề tranh chấp ở biển Đông theo Luật biển 1982 của LHQ.

Quyền dân tộc tự quyết, các quyền tự do của công dân và các quyền cơ bản của dân tộc: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đã được ghi ngay trong phần mở đầu của HĐ Paris 1973. Đó là đóng góp của QLVNCH đối với quốc gia, dân tộc. Năm 1973 QLVNCH đã góp phần chấm dứt cuộc chiến đau thương, đẫm máu kéo dài non một phần ba thế kỷ. Ngày 30/4/1975, QLVNCN vì đại nghĩa dân tộc buông súng để đất nước thống nhất. Ngày nay, những đóng góp của QLVNCH về dân chủ, tự do, quyền tự quyết dân tộc...là những yếu tố giúp triệt hạ đảng CSVN đưa đất nước hội nhập với thế giới văn minh.

Với vai trò lịch sử của mình, QLVNCH không những là Quân đội của Miền Nam tự do, Quân đội của Quốc gia VN mà còn là Quân đội của Dân tộc VN đã hoàn thành trách nhiệm đối với đất nước .


Lê Quế Lâm
(Kỷ niệm ngày QLVNCH 19/6 năm 2014)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Nhân Ngày Quân Lực 19.6: Nhớ đến anh, người lính VNCH
Nguyễn Phú
Người chiến sĩ QLVNCH với trọng trách mà Tổ quốc đã giao phó cho họ qua ba điều tâm niệm: Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm như chiếc ghe nhỏ đang cố gắng đẩy chiếc sà lan nặng nề đầy cát giữa dòng sông nước chảy cuộn, tìm cách tránh né những cụm lục bình trôi theo dòng nước lũ, mà hầu như lúc nào những cụm lục bình trôi không định hướng ấy cũng muốn bám chặt vào cánh quạt máy chân vịt của chiếc ghe đó...

Thế rồi dòng đời trôi qua, trong mọi bối cảnh, bất chấp gian nan, sự khổ cực, sự ngược đãi và bất công mà anh phải trải qua hằng ngày, người chiến sĩ QLVNCH đó vẫn kiên trì chiến đấu, bởi vì anh chỉ có biết thực thi những điều nhắn nhủ mà vị tổng tư lệnh QLVNCH đã nói với anh và các đồng đội: “hãy kiên trì chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc chống lại cuộc xâm lăng trắng trợn của bè lũ Cộng Sản Bắc Việt.”

Người chiến sĩ QLVNCH đó có thể là người lính thuộc SÐ21BB đã phơi thây trên những tuyến đầu của Quốc Lộ 13 để mở đường cho cuộc phản công giải tỏa các đồng đội họ trong chiến trường An Lộc.Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh cựu Biệt Kích Quân được đồng hóa ra phục vụ trong TÐ92/ BÐQ/ BP, mà dưới sự đàn áp tấn công liên tục của Cộng Quân thuộc Trung Ðoàn 274 Bắc Việt, anh đã kiên trì giữ vững trại Tống Lê Chân đến hơi thở cuối cùng.Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính thuộc Trung Ðoàn 43/SÐ18BB, mặc dầu bị tràn ngập và áp đảo dưới hỏa lực dữ dội của Cộng Quân thuộc công trường 6 và Sư Ðoàn 341 Bắc Việt, anh đã làm tròn nhiệm vụ mà Hằng Minh đã trong đợi nơi anh: ngăn trở và làm chậm lại những toán quân tiền phương của Cộng quân Bắc Việt, mua thêm thời gian cho sự bố trí chiến đấu của SÐ18BB và các đơn vị bạn trong cuộc phòng thủ tuyến thép Long Khánh.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính ÐPQ còn lại của chi khu Ðịnh Quán, mặc dầu đơn vị anh đã tan rã đêm 16 tháng 3, 1975, anh và một vài đồng đội của anh đã hăng hái tình nguyện giúp đỡ chi đội thiết giáp M-113 võ trang và tái thiết bị để chống chọi lại với chiến xa T-54 của địch tại tuyến thép 2/52, để rồi ngày 12 tháng 4, 1975, anh lại cùng toán quân đặc nhiệm của Trung Ðoàn 43, phục kích và tảo thanh Cộng quân trong thị xã Xuân Lộc.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh chị cán bộ Xây Dựng Nông Thôn thuộc Tiểu Khu Long Khánh đã can đảm, kiên trì trong gian nan, hy sinh thân mình cùng với các anh lính của chiến hữu Vương Mộng Long, giữ vững phòng tuyến tại khách sạn Long Khánh cũ trong đợt tấn công ào ạt lần thứ hai của Cộng quân vào 5 giờ sáng ngày 9 tháng 4, 1975.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính thuộc Tiểu Ðoàn 82/ BÐQ/ BP đã gian nan chiến đấu, mà cho đến giây phút cuối cùng, anh đã can đảm từ chối, không nhận di tản bằng trực thăng Chinnook CH-47 mặc dầu đang bị thương nặng, bởi vì anh cảm thấy rằng anh đã làm tròn nhiệm vụ của anh và hơn nữa cái chỗ của anh trên chiếc trực thăng ấy có thể dành di tản thêm một người dân vô tội.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính Pháo Binh thuộc TÐ3/PBD, mặc dầu Cộng quân đang trên đồi xung phong xuống tại gần quân trường Long Giao cũ, và mặc dầu anh đang bị thương ôm mặt máu me tùm lum, anh vẫn can đảm và bình tĩnh hủy diệt ngòi cơ bẩm của khẩu 105 ly do anh trọng trách, bởi vì anh đã được huấn luyện như vậy.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính vì tuân lệnh của vị tân “tổng tư lệnh” QLVNCH, buông súng ống mà đã cùng theo anh chiến đấu nhiều năm trong khói lửa chiến tranh, chán chường dìu dắt đồng đội bị thương của anh từ cầu New Port, theo ngã ba Hàng Xanh, qua ngã tư Bình Hòa, ngã ba Cây Thị, chợ Gò Vấp, đến ngã năm Chuồng Chó, mệt mỏi và kiệt sức quẹo trái xuống Tổng Y Viện Cộng Hòa với hy vọng được điều trị vết thương một cách nhân đạo, để rồi đã bị xua đuổi đi một cách vô nhân đạo bởi những kẻ chiến thắng mà đối với họ chỉ có Bác và Ðảng là trên hết.

Và rồi người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính QLVNCH ngày đó, trên quê hương lần thứ hai này, can đảm, mặc kệ những sự bất công, ngược đãi, và gièm pha như những cụm lục bình vô định hướng trong dòng sông nước chảy cuộn, đang cố gắng chiến đấu với những kẻ chiến thắng vô thần đó, tranh giành sự tự do thật sự, tìm mọi cách hữu hiệu xoa dịu vết thương lòng và vết thương thân thể của những đồng đội đã kém may mắn hơn anh còn đang kẹt lại trên quê hương yêu dấu của anh...

Kính tặng các anh chiến hữu yêu dấu QLVNCH tại chiến trường Long Khánh, 1975.

Nguyễn Phú
Trung Ðội Trinh Sát/Tiểu Ðoàn 2/43 - SÐ18BB
Rochester, New York
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa


Ngày quân lực 19-06


VIẾT CHO NGÀY QUÂN LỰC 19-6
Hàng năm, chúng ta làm lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19-6. Ngày Quân Lực năm nay đánh dấu 30 năm kể từ biến cố bi thảm 30-4-75, ngày miền Nam thân yêu của chúng ta rơi vào tay cộng sản. Hơn ba mươi năm trôi qua trong đau hận không nguôi của tâm trạng…


Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua ( thơ Thanh Nam)

30 tháng Tư, ngày chúng ta không ai quên được. Ngày mà nhiều người mệnh danh là ngày Quốc Hận, ngày Ly Hương, ngày Tang của Dân Tộc… Nhưng dù cho gọi là ngày gì đi nữa, 30-4-75 chính là cái mốc thời gian đánh dấu một khúc quanh đau thương của lịch sử. Đánh dấu đọan đời lưu lạc chia lìa của mỗi chúng ta. Đánh dấu nền Tự Do Dân Chủ của miền Nam bị âm mưu bức tử.

Ngày 30-4 do đó mang một ý nghĩa rất lớn lao. Nhất là đối với những người tị nạn chúng ta – những ai không coi nước Mỹ này là chốn thiên đường, không coi ngày 30-4-1975 là cái "cơ may" thực hiện được giấc mộng lớn trong đời là được đặt chân lên đất Mỹ, hưởng thụ những tiện nghi vật chất của nước Mỹ - thì ngày đó càng mang ý nghĩa ngậm ngùi đau đớn hơn, như nhà thơ Thanh Nam đã buông lời thống thiết:

Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài một tháng Tư…

Tháng Tư là tháng đau buồn. Ngày 30 tháng Tư là ngày tủi nhục, tang thương, đen tối của chung người Việt Quốc gia. Ngày ta muốn quên không được. Ngày ta phải khắc cốt ghi tâm. Phải nhớ. Phải lấy làm dấu mốc để đếm đời ta từ buổi đó bao năm trôi nổi? Ngày này là ngày tang tóc u buồn vận hạn của toàn khối dân tộc. Ngày người phải xa người, gia đình đang sống bình yên bỗng lâm cảnh xẩy đàn tan nghé…

Sau 30 tháng 4, những người cựu chiến binh VNCH lại có ngày Quân Lực 19 tháng 6 để buồn rầu hoài niệm và suy tư, tiếc nhớ một thời đã góp phần tích cực trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam, tiếc nhớ một đời đã đem tuổi thanh xuân hiến dâng cho lý tưởng quốc gia, dân tộc. Thế hệ chúng ta đã đi những bước truân chuyên trên con đường quá khổ và quá nhọc nhằn mong đem lại thanh bình, hạnh phúc cho dân Việt nhưng vì vận số hẩm hiu đất nước, chúng ta cặm cụi đi hoài vẫn không tới đích và cuối cùng, đem thân phiêu bạt...

Bình luận gia quá cố Phạm Kim Vinh cho rằng "Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến kéo dài, đẫm máu và tàn khốc nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại". Cuộc chiến mang nhiều tính chất bi thảm và hài hước, cho tới bây giờ vẫn được nói tới và gây nhiều tranh cãi sôi nổi. Nó bi thảm, bởi thế giới có ý muốn phủ nhận chính nghĩa cuộc chiến đấu để tự vệ của nhân dân Nam Việt Nam. Nó hài hước, bởi sau khi cộng sản đánh chiếm miền Nam, cái đám nhân loại khiếp nhược đó đã cúi đầu trước bạo lực, phụ hoạ với cộng sản, bôi nhọ VNCH, quốc gia đã từng được họ tuyên dương là "Tiền Đồn Chống Cộng" của Thế giới Tự do.

Dư luận đó đã nhục mạ Quân lực VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu, VNCH hoàn toàn lệ thuộc nơi người Mỹ nên miền Nam mới sụp đổ dễ dàng và nhanh chóng như vậy. Đây là thứ dư luận ngu xuẩn, thiếu lương tri, vô trách nhiệm và đầy ác ý. Họ đã nhắm mắt, cố tình không chịu tìm hiểu tường tận sự hy sinh cùng khả năng chiến đấu tuỵệt vời của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, không chịu hiểu một điều giản dị, rằng "Nếu quân lực VNCH nhát hèn, không chịu chiến đấu, thì ai, sức mạnh nào, binh lực nào, phép mầu nào đã giữ được miền Nam trong bao nhiêu năm đất nước sôi bỏng bởi chiến tranh tàn khốc, từ 1954 tới 1975? Trong suốt hơn hai mươi năm dài đó, nếu không có sự chiến đấu dũng cảm, khắc khổ và kiên trì của người lính VNCH, chắc chắn miền Nam Việt Nam đã bị cộng sản thôn tính từ lâu rồi, ngay từ cái gọi là "tổng công kích, tổng khởi nghĩa" Tết Mậu Thân 1968, hay từ những trận đánh khốc liệt làm rúng động thế giới vào mùa hè binh biến 1972. Nếu không có sự chiến đấu đầy dũng cảm, hữu hiệu và kiên trì của người lính VNCH, làm sao quân đội Mỹ có thể rút ra khỏi cái gọi là "vũng lầy Việt Nam" một cách dễ dàng và an toàn như vậy?

Trong lịch sử Việt Nam cũng như trong lịch sử nhân loại cũng đã có những cuộc nội chiến. Nhưng không có cuộc tương tàn nào kéo dài quá lâu, liên tục và đẫm máu, cường độ tàn phá khốc liệt cùng sự tổn thất về nhân mạng cho cả hai miền lên đến con số kinh khủng như chiến tranh Việt Nam. Kể cả trong hai kỳ thế chiến, chưa một thời đại nào trong lịch sử, người dân Việt nam ở cả hai miền Nam Bắc phải nhận chịu những nỗi đau thương bất hạnh như trong cuộc chiến vừa qua.

Chúng ta, những người lính VNCH đã từng trực tiếp lăn mình vào binh lửa, những người lính đã thực sự cầm súng và chiến đấu, đều có thể khẳng định rằng, quân lực chúng ta không hề thua vì kém tinh thần chiến đấu. Sự sụp đổ về quân sự là do những quyết định sai lầm và suy yếu về chính trị. Nếu gọi là "thua", chúng ta đã thua trận từ những nguyên nhân sâu ẩn khác. Chúng ta đã bị cái đám nhân loại hèn nhát và ngu xuẩn đó bất công trút đổ lên đầu chúng ta trách nhiệm. Những nguyên nhân khởi từ sau hai cuộc thế chiến, toàn thế giới run rẩy phục hồi, bắt tay xây dựng lại những công trình bị tàn phá. Thế giới từ ngày đó, mệt mỏi và sợ hãi chiến tranh, sợ bị nhiễm vi trùng cộng sản, đã trở nên ươn hèn, ích kỷ, ve vuốt cộng sản, đối xử bất công, nhòm ngó, dè bỉu, chê trách, quy kết tất cả mọi lỗi lầm về phía chúng ta, trút đổ tất cả gánh nặng lên đôi vai người lính VNCH, bắt chúng ta phải trách nhiệm ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản.

Trong khi đó, nước Việt Nam bất hạnh đã nẩy sinh ra gã họ Hồ, một thứ "nhân tài chết tiệt" của dân tộc, cuồng tín và tàn độc, tham vọng và mưu mô, bất lương và hiếu sát, vong bản và phi nhân, vô luân và vọng ngoại, tận tụy tôn thờ chủ nghĩa của gã Mác, gã Lê, xô đẩy dân tộc Việt Nam vào cuộc tương tàn thảm khốc.

Từ cái thời điểm phải ghi nhớ và đáng nguyền rủa đó, nhân dân Việt Nam ở cả hai miền đã phải còng lưng chịu đựng, không ngóc đầu lên được để thấy ánh mặt trời, để đi và đứng song hàng, hưởng cơn gió lành thịnh vượng cùng mọi dân tộc tự do trên thế giới. Dân tộc Việt Nam là nạn nhân thảm khổ trong cuộc chiến tranh phá-hoại-tận-tình-và-tuyệt-kỹ của bọn người ngu dốt. "Chính vì sự cương-quyết-ngu-dốt và ngu-dốt-kiên-trì mà chúng đã bán đứng đất nước, bán đứng cả linh hồn đất nước", như cách nói của nhà văn Doãn Quốc Sĩ.

Nhà văn Phan Nhật Nam cũng đã kêu lên tiếng kêu ai oán, "Chiến tranh nào cũng đem lại những đổ vỡ, tan hoang, gieo mầm độc ác và gây nên bao sự hủy diệt. Nhưng đây là cuộc chiến thê thảm, tồi tệ và tủi hổ nhất của dân tộc Việt Nam". Trong cuộc chiến vô nghĩa, dai dẳng và tàn bạo tột độ này, người lính VNCH đã gánh chịu trọn vẹn cái phần nặng nề, bất công, thua thiệt và đau đớn nhất. Cuộc tương tranh rõ ràng không đồng cân đồng sức và bị bội phản trắng trợn nhưng người lính Việt Nam vẫn thản nhiên chấp nhận. Những đời trai trẻ quên bỏ hạnh phúc, tình yêu, tương lai, sự nghiệp cùng những thú vui riêng để bước vào chốn cùng hung cực hiểm, đầy rẫy gian lao khổ nhọc và bị vô ơn, bạc đãi nhưng họ vẫn lầm lì chịu đựng và dũng cảm xông pha trận mạc, trực diện kẻ thù, đổ mồ hôi, xương máu, lao thẳng vào lửa đạn, phóng mình vào nỗi chết cho giải đất miền Nam được tồn tại và người dân miền Nam được sống còn.
Lính và vợ con lính. Vợ con lính và những người lính VNCH là hiện thân của những hy sinh quá sức lớn lao. Lòng quả cảm và những hy sinh kỳ vĩ đó chứng minh được bằng những chiến thắng cụ thể, nhiệm mầu, vượt cao, vượt xa và ở trên tất cả mọi suy nghĩ tầm thường của những con người không có chiều dài lịch sử bốn ngàn năm để hiểu thế nào là tình yêu thương đất nước cùng mối tự hào dân tộc.

Như Mậu Thân ở Huế. Một đại đội Hắc Báo quân số 270 người, còn lại vỏn vẹn 19 người sau nhiều ngày giao tranh, đã anh dũng chiếm lại Kỳ Đài, đưa lá cờ vàng ngạo nghễ tung bay trên đỉnh ngọn. Như An Lộc, với 52 ngày tử thủ, thịt da đất nước từng phân vuông quằn quại nẩy tung dưới cơn mưa pháo, ngày và đêm. Không một nơi nào trên thế giới nhận chịu một cuộc tấn công ác liệt, kinh hoàng như An Lộc. Chỉ trong đêm 11 rạng 12 tháng 5, 1972, từ 3 giờ đến 6 giờ sáng, An Lộc co quắp run rẩy hứng chịu liên tục 8 ngàn trái pháo và hỏa tiến của cộng sản… Thế mà An Lộc vẫn đứng vững, vẫn tồn tại. Cái quận lỵ nhỏ bé đó đã dược ghi danh trong quân sử Việt Nam và trong chiến sử Thế giới.

Vào những giờ phút hấp hối của miền Nam, trận chiến cuối cùng ở Xuân Lộc cũng là một kỳ tích để nhân loại ngưỡng phục.

Sư đoàn 18 Bộ Binh, một Sư đoàn được coi là không mấy xuất sắc của quân lực, đã anh dũng giữ vững tuyến phòng ngự, chặn đứng được sự tấn công ào ạt của 5 sư đoàn cộng sản với xe tăng và đại pháo 130 ly hùng hậu. Nhưng biển người của Văn Tiến Dũng đã phải đứng khựng lại, phải bỏ rơi Xuân Lộc, đi đuờng khác vòng về Saigon, để lại hàng ngàn xác chết.
Jean Lacouture, một nhà báo Pháp có lương tâm đã nhỏ rơi nước mắt khi tường thuật trận Xuân Lộc và thảng thốt kêu lên, "Cái Quân lực đó quả thật là gan dạ và anh hùng. Họ chiến đấu vô cùng ngoạn mục và tôi thật lòng kính phục…"

Nhiều ký giả Tây phương cũng hết lời ca ngợi những cuộc chiến đấu đơn lẻ, tạo nên thiên anh hùng ca bi tráng trong ngày cuối cùng của Tháng Tư Đen. Như cuộc chống cự của Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tầu. Của những đơn vị Nhảy Dù ở khu Lăng Cha Cả. Của anh em Biệt Kích 81 ở Bộ Tổng Tham Mưu. Của các chiến sĩ Biệt Động Quân ở dốc Cầu Xa Lộ. Của những Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt trong quân phục đại lễ nơi một góc phố thủ đô… rất nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ QLVNCH và Cảnh sát Quốc gia đã tự sát tập thể vì tuyệt vọng và phẫn nộ trước cuộc đầu hàng nhục nhã của Dương Văn Minh. Chưa kể đến sự tuẫn tiết của các tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Lê Văn Hưng, tướng Phạm Văn Phú, tướng Trần Văn Hai, tướng Lê Nguyên Vỹ và những sĩ quan chỉ huy các đơn vị tác chiến khác…

Ba mươi năm đã trôi qua. Người ta nói hoài đến con số 58 ngàn lính Mỹ chết và mất tích trên chiến trường Việt Nam. Việt cộng đưa ra con số tổn thất nhân mạng là một triệu 400 ngàn bộ đội của chúng. Phía Việt Nam Cộng Hòa, không ai truy cứu để đưa ra một con số chính xác, bao nhiêu binh sĩ của chúng ta tử trận, bao nhiêu đồng bào, cán bộ chính quyền của chúng ta bị sát hại trong cuộc chiến? Chúng ta bị thế giới cố tình bỏ quên. Bị cộng sản đê tiện trả thù, đầy đọa người sống trong trại tù cải tạo và quật mồ người chết để thỏa mãn cái tâm địa man rợ của loài lang sói.

Nhân kỷ niệm Ngày Quân Lực, chúng ta, những người lính chiến VNCH cũ, hãy cùng nhau chiêm nghiệm, không phải để "tự cho mình là những người mất nước tìm cách phục quốc, hay để tự nhận là những người thất trận tìm cách trả thù, phục hận.." Và càng không thể là "những người Quốc gia đã được "điều kiện hóa" để xem chống cộng là cứu cánh…" như một số người trong chính hàng ngũ chúng ta – đau đớn thay – đã hòa nhịp với kẻ địch, công khai sỉ nhục quân đội.

Chúng ta hãy dõng dạc nói thẳng cho những con người đó, thù cũng như bạn, biết rằng lý tưởng và cứu cánh của người lính chúng ta không phải là thù và oán. Lý tưởng Quốc gia Dân tộc là một tình cảm tự nhiên, thiêng liêng cao cả trong trong trái tim con người, không thể đem "điều kiện hóa" như thí nghiệm vào loài chó của Palov, như thủ đoạn tẩy não phi nhân của cộng sản. Lý tưởng và cứu cánh đó bao giờ cũng là chu toàn ước vọng đem lại đời sống thanh bình an lạc, đem lại tự do dân chủ, no ấm và hạnh phúc cho toàn dân. Kẻ nào xâm phạm đến phúc lợi và ước vọng đó của dân tộc, chúng ta có bổn phận ngăn chặn, dù đó là cộng sản hay bất cứ một thế lực nào khác.

Chúng ta, những người lính VNCH sống còn sau cuộc chiến và thoát khỏi bàn tay đê tiện của kẻ thù, xin hãy nghĩ nhớ đến anh em đồng đội, hồi niệm và tri ơn những người đã nằm xuống cho chúng ta được sống. Hãy cùng nhau đốt lên một ngọn lửa, soi sáng một niềm tin, giữ vững tinh thần và ý chí, làm sánh danh Quân lực, làm rõ ràng Chính nghĩa Quốc gia và hãy vẽ lại chân dung đích thực của người lính VNCH, những người con yêu của đất nước, dù đã đi vào miền Vĩnh cửu nhưng hình ảnh cùng những chiến công vẫn hằng hằng sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam ta.

Chúng ta hãy cùng nhau chiêu niệm quê hương, chiêu niệm hồn tiên liệt và khí thiêng sông núi, cầu mong sớm có một ngày vinh hiển trở về nhìn lại quê cha đất tổ, như trong lời Hịch Bình Ngô:

"…Giang sơn từ nay mở hội
Xã tắc từ nay vững bền
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Kiền khôn bỉ rồi lại thái
Nền vạn thế xây nên chăn chắn
Thẹn nghìn thu rửa sạch làu làu
Đó là nhờ trời đất tổ tiên khôn thiêng che chở
Và giúp đỡ cho chúng ta vậy…"


Đào Vũ Anh Hùng
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 8 thành công với 520 ngàn USD quyên góp

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8 nhằm giúp đỡ Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa còn kẹt lại tại quê nhà đã diễn ra vào ngày Chủ Nhật 3 tháng 8, 2014 từ lúc 12 giờ trưa và kết thúc lúc 8 giờ tối tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, Garden Grove, California. Số tiền quyên được tính cho đến 8 giờ tối là 520 ngàn mỹ kim gồm thu tại chỗ và đồng hương khắp nơi gọi điện thoại về để yểm trợ cho chương trình.

Nhạc sĩ Trúc Hồ, Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình SBTN và Trưởng Ban Tổ Chức Đại nhạc hội cho biết hi vọng con số này sẽ tăng thêm trong thời gian tới vì khi đài truyền hình SBTN chiếu lại chương trình này thì khán giả sẽ yểm trợ thêm và theo kinh nghiệm những năm trước thì con số tăng thêm khoảng thêm hai trăm ngàn mỹ kim.

Và như vậy có thể kết luận rằng kết quả tài chánh của Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8 cũng thành công giống như mấy năm trước.

Đây là một công tác được phối hợp tổ chức giữa Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ Việt Nam Cộng Hòa, đài SBTN, đài truyền hình SET 57.4, Trung Tâm Asia, và Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Chương trình văn nghệ thật phong phú với sự góp mặt của hơn một trăm ca nhạc sĩ nổi tiếng của cộng đồng văn nghệ hải ngoại, trong đó có nhiều ca sĩ của Trung Tâm Asia cùng các ban nhạc Trung Nghĩa, ban nhạc Trúc Sinh, và ban nhạc Moon Flower.

Tối Thứ Bảy Quận Cam mưa nhẹ, tin thời tiết loan báo có thể mưa nhẹ vào Chủ Nhật làm Ban Tổ Chức lo lắng nhưng trời không mưa và thời tiết mát dịu hơn mấy ngày trước làm cho khán giả thoải mái thưởng thức chương trình văn nghệ phong phú. Chương trình càng về cuối buổi càng đặc sắc.

Cựu Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, Hội Trưởng Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH nói rằng khí thế của Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8 năm nay hùng mạnh hơn bao giờ hết.

Một số nghệ sĩ trình diễn và một số khán giả đã đến từ San Jose đã phải về sớm vì đường dài sáu trăm cây số bày tỏ sự thích thú được tham dự buổi nhạc hội đầy ý nghĩa này. Năm ngoái 2013, đại nhạc hội Cám Ơn Anh Kỳ 7 đã tổ chức tại San Jose cũng thành công thu được 735 ngàn mỹ kim.

Các ca sĩ sau khi trình diễn đã ôm thùng quyên tiền đến với khán giả để xin ủng hộ và bà con đã nồng nhiệt bỏ vào những tờ giấy đô la đầy tình nghĩa dành cho những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh một phần thân thể cho tổ quốc.

Hàng ngàn khán giả đến tham dự, ngồi trong căn lều che nắng để thưởng thức chương trình văn nghệ được truyền hình trực tiếp trên đài SBTN và đài SET 57.4 đến với nhiều đồng hương tại các thành phố xa. Cũng không quên một một ban thiện nguyện viên ngồi hàng giờ để nhận điện thoại khán giả khắp nơi gọi về để yểm trợ cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, nhờ vậy mà số tiền thu được cao như vậy.

Ban Tổ Chức vẫn tiếp tục nhận sự ủng hộ của đồng hương dành cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8.

Mọi chi phiếu xin ghi ĐNH CÁM ƠN ANH KỲ 8 và gởi về địa chỉ:

Hội H.O Cứu Trợ TPB&QP/VNCH: PO BOX 25554, Santa Ana, CA 92799

SBTN & TT Asia: PO BOX 127, Garden Grove, CA 92842. (P. Thy)
Image

Image

Image

Image
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »



Những Vì Sao Của Một Thời Tuổi Thơ


Phạm Tín An Ninh

Thời học trung học, tôi có người bạn thân, không những tướng tá mà cả cái tên cũng đẹp: Phan Ái Minh. Hai đứa học chung trường. Minh học Ban B và trước tôi một lớp, còn tôi dốt toán nên học Ban C. Vì vậy mà bạn còn là “ông thầy” kèm toán cho tôi. Nhà Minh ở trên Thành (Diên Khánh), cách thành phố Nha Trang, nơi có ngôi trường Võ Tánh của bọn tôi hơn mười cây số. Minh cùng người anh thuê căn nhà nhỏ trong một con hẻm ở gần đình Phương Sài để trọ học. Mỗi chiều Thứ Sáu, sau khi tan trường, hai anh em đạp xe về thăm nhà đến chiều Chủ Nhật lại ca bài đường trường xa trở lại Nha Trang, mang theo thức ăn cho một tuần sau đó. Tôi cũng từ một vùng quê khác vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, một tiệm buôn giữa trung tâm thành phố. Để tránh ồn ào và khỏi bị sai vặt, tôi thường đạp xe lên nhà Minh vừa chơi vừa học. Có khi tôi ngủ lại hoặc cuối tuần theo anh em Minh về thăm quê bên kia Cổ Thành Diên Khánh.

Minh luôn hãnh diện khoe với bọn tôi về quê hương “Cổ Thành”. Anh thường gọi đó là “la Citadelle” và gần như thuộc lòng sử tích: “được chúa Nguyễn Phúc Ánh xây từ thế kỷ 17 và lần lượt do các ông Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh trấn thủ. Võ Tánh là một dũng tướng bất khuất, sau này đã tự thiêu tuẫn tiết trước khi thành Bình Định lọt vào tay tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn. Có lẽ vì vậy mà ngôi trường trung học lớn nhất miền duyên hải của chúng ta mang tên Võ Tánh, để nêu gương sĩ khí cho đám học trò.” Minh còn đọc đi đọc lại bài thơ của công chúa Ngọc Du khóc phu quân tướng công Võ Tánh, làm bọn tôi thuộc nằm lòng cho đến mãi bây giờ:

Những tưởng ra tay giúp nước nhà
Ai dè binh địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!

Có lẽ chính quê hương Cổ Thành và hình ảnh dũng tướng Võ Tánh in rất đậm trong trí óc và tâm hồn Minh từ thuở ấu thơ, đã hun đúc trong Minh một mẫu người lý tưởng sau này.

Vào những mùa thi, căn nhà trọ khá oi bức và đèn điện không đủ sáng, bọn tôi thường rủ nhau đạp xe xuống bờ biển, nơi có các trụ đèn tỏa sáng, vừa học bài vừa nhìn biển trời mênh mông mà xây mộng tương lai. Có lần Minh bảo“ sau này nhất định tao sẽ chọn binh nghiệp để đọ sức cùng nắng mưa và tha hồ xông pha trận mạc”. Tôi cười đùa: “Mày nói hay như đang hát tuồng Thuyền Ra Cửa Biển!” (lúc ấy gánh hát Thanh Minh Thanh Nga đang diễn vở tuồng này tại rạp Minh Châu - Nha Trang)

Là bạn, nhưng dường như tất cả mọi thứ trên đời ông trời đã dành cho Minh nhiều hơn tôi: đẹp trai hơn, to con hơn, võ nghệ, đàn hát và nhất là học hành cũng giỏi hơn. Chơi đàn và đọc sách là hai món tiêu khiển của Minh. Anh đọc rất nhiều sách, từ truyện Tam Quốc Chí đến Đệ Nhi Thế Chiến, từ các sách nghiên cứu Khoa Học đến Thiên Văn Học. Trí nhớ của Minh rất tốt, anh nhớ từng chi tiết và làm bọn tôi mê mẩn mỗi lần ngồi nghe anh kể lại. Ngoài ra Minh rất tư cách, tính tình bộc trực, thẳng thắn. Một lần có tay “anh chị” ở đầu hẻm hiểu lầm, tưởng tôi làm ngã cái xe gắn máy của y, lớn tiêng ăn hiếp, Minh bênh vực tôi, ôn tồn nói điều phải trái, nhưng gã kia hung hăn ra tay trước, Minh không đánh lại, chỉ đỡ vài đòn mà hắn đã té nhào không đứng lên được. Minh đưa tay kéo hắn lên và phủi bụi đất bám trên mặt hắn. Thấy Minh võ nghệ cao cường, có khí phách và lòng hào hiệp, hắn ta phục, bắt tay xin làm bạn, đãi bọn tôi một chầu phở Hợp Lợi. Sau lần ấy, tôi mới biết bạn tôi “văn võ song toàn”.

Cứ đến mùa Hè, tôi đạp xe lên quê Minh ở chơi một vài tuần. Nhà Minh ở gần con sông chảy uốn khúc qua một vài khu xóm làng và ruộng đồng tĩnh mịch. Ban đêm, tôi theo Minh và đám bạn bè, ra cắm lều, đàn hát, câu cá và ngủ lại bên bờ sông. Khung cảnh êm đềm thơ mộng. Đêm mùa Hè, trời trong vắt, bọn tôi thường đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm trong các dải ngân hà, xem nơi nào có cái cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Minh biết tên khá nhiều các ngôi sao, và lúc ấy Minh đã dạy bọn tôi biết cách nhìn sao trời để định hướng và dự đoán cả thời tiết nữa. Minh còn giải thích về các thiên hà, tinh tú trong vũ trụ mênh mông, có những vì sao mang cái tên kèm theo một huyền thoại, rồi kể cho bọn tôi nghe truyện Les Étoiles của nhà văn Alphonse Daudet mà thầy Cung Giũ Nguyên có nói qua trong giờ Văn Học Sử Pháp. Có những vì sao sáng lấp lánh, bọn tôi đua nhau giành lấy. Ai “xí” được ngôi sao nào lóe lên trước nhất sẽ được đặt tên mình và tên một cô bạn học trò đã từng khuấy động trái tim. Trong bọn, Minh là người tìm được cho mình nhiều ngôi sao nhất. Nhưng có một điều lạ, là ngôi sao nào anh giành được và đặt tên mình, đều lóe sáng lên, nhấp nháy vài lần rồi bỗng dưng vụt tắt, biến mất trên bầu trời, giữa hằng hà tinh tú khác. Nằm chờ mãi không thấy hiện lên, Minh bèn phân tích hiện tượng này, nhưng rồi cả anh và bọn tôi đều xuýt xoa nuối tiếc.

Ngày ấy, chúng tôi đều con nhà nghèo lo đi học, chưa có người yêu và cũng không dám mơ tưởng tới chuyện yêu đương, nhưng dường như trong trái tim khờ khạo của đứa nào cũng phảng phất bóng hình một cô bạn học trò cùng lớp hoặc chung trường. Trong những lần tâm tình, hay lúc đặt tên cho những vì sao, Minh cũng thường nhắc tên một cô học trò cùng quê, học sau Minh hai lớp. Cô bé có làn da trắng, đôi môi mọng đỏ, hiền hậu dễ thương, mà bọn tôi đã gặp một đôi lần.

Xong tú tài, đang học ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn thì Minh tình nguyện vào Khóa 20 Võ Bị. Con đường võ nghiệp mà Minh đã từng nhiều lần tâm tình với đám bạn bè là anh sẽ chọn, mặc dù với khả năng, anh còn có thể tiến xa trên đường học vấn. Bạn bè có người khuyên Minh vào Trường Hải Quân ở ngay Nha Trang để được gần nhà và sau này trong các chuyến hải hành tha hồ ngắm sao trời mà đặt tên cho người tình trong mộng. Nhưng Minh nhất quyết chọn Trường Võ Bị. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, một người có khả năng, phong độ và tư cách như Minh, lại được đào tạo bởi một quân trường danh tiếng, chắc chắn sẽ trở thành một sĩ quan, một cấp chỉ huy đảm lược và mẫu mực sau này.

Đúng vào một ngày Giáng Sinh, đám bạn bè chúng tôi tiễn Minh lên Đà Lạt. Cùng nhập học Khóa 20VB với Minh còn có một số các anh cựu học sinh xuất sắc khác của trường Võ Tánh: Phạm Cang, Hoàng Văn An, Hồ Đắc Tùng, Cao Đình Phú, Quách Giám, Võ Anh Tuấn, Nguyễn Công Lắm vv. Chia tay Minh, bọn tôi cũng mỗi thằng mỗi ngã. Sau đó hơn tám tháng, tôi và hai thằng bạn khác vào quân trường Thủ Đức.

Những ngày đầu năm 1965, khi chúng tôi đang thực tập hành quân tại bãi tập bên bờ sông Đồng Nai, thì nghe các sĩ quan cán bộ và anh em SVSQ bàn tán về trận chiến Bình Giã rất khốc liệt. Tiểu Đoàn 30, 33 BĐQ và nhất là Tiểu Đoàn 4 TQLC bị tổn thất rất nặng nề. Cả tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, y sĩ trưởng và gần 20 sĩ quan khác đã hy sinh. Chúng tôi bàng hoàng khi biết được trong số các sĩ quan tử trận có ba thiếu úy tân khoa vừa mới tốt nhiệp Khóa 19VB Đà Lạt, 1 BĐQ (Nguyễn Thái Quan) và 2 TQLC (Võ Thành Kháng, Nguyễn Văn Hùng). Họ đã hy sinh ngay trong trận đánh đầu đời, chỉ sau hơn hai tuần trình diện đơn vị. Đặc biệt trong số này có vị thủ khoa Võ Thành Kháng. Người sĩ quan tân khoa ưu tú đã bắn bốn mũi tên đi bốn phương trời trong ngày lễ ra trường, và mang theo rất nhiều hào quang cho con đường binh nghiệp. Bọn tôi không ai quen biết anh Võ Thành Kháng cũng như các anh cùng khóa 19 VB vừa tử trận, nhưng tất cả đều ngậm ngùi tiếc thương những sĩ quan rất trẻ, chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn, nhưng vừa được đào tạo văn võ song toàn mà đã hy sinh khi chưa kịp thi thố tài năng, chưa có cơ hội để “đem hết sở tồn làm sở dụng”, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành những cấp chỉ huy tài giỏi sau này. Khi ấy, bỗng dưng tôi nhớ tới Phan Ái Minh, người bạn thân tài hoa của tôi đang theo học Khóa 20 Đà Lạt, và tất nhiên cũng thoáng một chút âu lo cho số phận của chính mình. Cuộc chiến đang có dấu hiệu bắt đầu khốc liệt.

Một sự kiện trùng hợp đặc biệt khác làm tôi không thể nào quên. Người kể cho chúng tôi nghe chi tiết trận Bình Giã và danh tánh các sĩ quan hy sinh trong trận chiến khốc liệt này là anh Dương Văn Chánh, người bạn cùng trung đội SVSQ Thủ Đức với tôi. Nhờ có người thân quen ở TQLC nên anh biết rõ từng chi tiết một. Chánh đang học ở đại học luật khoa thì nhận lệnh động viên. Tướng tá phong trần, nước da sạm đen, giọng nói khàn khàn, đôi mắt sáng, tính tình hiền lành và trầm ngâm, ít nói. Ra trường, anh là một trong số rất ít (hình như chỉ có bốn người) được chọn về binh chủng Nhảy Dù. Sau ngày mãn khóa, khi chúng tôi đã ra đơn vị và tham dự nhiều cuộc hành quân, thì Dương Văn Chánh vẫn còn đang học nhảy dù. Vậy mà đến giữa tháng 6/65, tôi bất ngờ được tin Chánh vừa hy sinh trong trận Đồng Xoài. Có lẽ đó cũng là trận đánh đầu đời của Chánh. Và cũng khi ấy, chúng tôi mới biết Chánh được bổ sung về Tiểu Đoàn 7 thuộc Chiến Đoàn 2 ND mà vị Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Trương Quang Ân, là anh rể của Chánh. (Ba năm sau ông là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn của tôi).

Là một sĩ quan trừ bị, khi bước chân vào quân trường, Chánh không phải là người chọn binh nghiệp, nhưng với một người có nhiều khả năng và cá tính như Chánh, nhất định phải là một người lính can trường, được hầu hết bạn bè cùng khóa kỳ vọng trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi sau này, nhưng anh đã hy sinh quá sớm. Cái chết của Chánh làm tôi lại nhớ đến bầu trời tuổi thơ ngày xưa của bọn tôi ở quê Minh, bên kia Cổ Thành Diên Khánh và mơ hồ như nhìn thấy một vì sao nữa vừa mới lóe lên rồi vụt tắt!

Khi đang hành quân ở Phú Yên, tôi nhận được thư Minh báo tin anh chuẩn bị làm lễ ra trường. Minh bảo sẽ cố gắng để được đi Nhày Dù hay TQLC, còn nếu ra Bộ Binh thì sẽ chọn về Sư Đoàn 23 để được gần tôi cùng một số bạn bè khác cho vui.

Tôi vào quân trường Thủ Đức sau hơn nửa năm nhưng lại ra đơn vị trước Minh. Vì thời gian học ở Võ Bị lúc ấy gấp ba lần ở Thủ Đức. Hơn nữa, đặc biệt so với các khóa trước, Khóa 20 VB, sau khi tốt nghiệp,còn phải theo học khóa Rừng Núi Sình Lầy tại TTHL/ BĐQ Dục Mỹ thêm 42 ngày.

Khoảng đầu tháng 2 năm 1966, hình như ngay sau Tết nguyên đán, tôi rất vui mừng được tin Minh bổ sung về cùng Trung Đoàn với tôi. Minh về Tiểu Đoàn 4, còn tôi đang ở Tiểu Đoàn 3. Lúc ấy, đơn vị tôi đang hành quân ở Di Linh (Lâm Đồng) còn tiểu đoàn của Minh thì hành quân ở Lạc An (Khánh Hòa). Hai đứa hẹn gặp nhau sau cuộc hành quân, uống một chầu mừng cho cuộc trùng phùng. Nhưng rồi cuộc hẹn đã không thành và tôi không bao giờ có cơ hội để được gặp lại Minh, người bạn đa tài mà tôi hằng mến mộ cả một thời đi học.

Cuộc hành quân dài hạn ở Di Linh vừa kết thúc, tiểu đoàn tôi không trở lại Nha Trang như dự trù mà lại nhận lệnh di chuyển đến Phan Thiết, tăng phái cho TK Bình Thuận, phối họp với một đơn vị Thiết Kỵ của Hoa Kỳ, hành quân giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong. Một mât khu rộng lớn và địa thế hiểm trở bị Cộng quân chiếm cứ khá lâu. Tại tuyến xuất phát, tôi được anh sĩ quan truyền tin Tiểu Đoàn, cùng quê với Minh, cho biết Phan Ái Minh đã hy sinh tại Lạc An trước đó hai ngày, khi đang điều động trung đội tiến chiếm mục tiêu. Tôi bàng hoàng, xót xa khi vừa mất một người bạn mà mình hằng mến phục, quân đội cũng vừa mất đi một sĩ quan ưu tú, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi sau này. Tôi mang hình ảnh của Minh theo suốt cuộc hành quân cam go hôm ấy. Cuộc hành quân kết thúc toàn thắng. Tôi nghĩ, có thể hình ảnh của Minh đã tạo thêm sức mạnh cho tôi để đơn vị tôi có được chiến thắng vẻ vang này.

Mấy đêm liền sau đó, tôi nằm trằn trọc nghĩ tới Minh, nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Nhớ những đêm cùng Minh và đám bạn bè nằm bên bờ con sông quê dưới bầu trời lung linh những vì sao, mầu nhiệm. Bỗng tôi giật mình khi nghĩ tới một điều kỳ lạ: các vì sao mà Minh đã chọn để đặt tên mình, tất cả chỉ vừa lóe sáng lên rồi vụt tắt. Và nhớ tới người con gái nào đó, được Minh trầm trồ tha thiết đặt tên, không biết nếu nghe được câu chuyện thơ mộng này lòng cô có nhiều xúc động? Tôi (và chắc có cả Minh nữa) thầm cầu mong cho cô được tròn hạnh phúc sau này.

Khóa 20VB được bổ sung về đơn vị tôi còn có các anh Vũ Phúc Sinh, Hoàng Văn An, Cao Đình Phú, Bùi Hữu Kiệt, Dương Đình Chính, Hồ Đắc Tùng, sau này đều là những cấp chỉ huy giỏi. Anh Vũ Phúc Sinh, người cùng về TĐ 4 với Minh, đã được đặc cách lên trung úy chỉ 9 tháng sau ngày ra đơn vị, Anh Hoàng Văn An là sĩ quan đẹp trai nhất Trung Đoàn, tính tình vui vẻ, cương trực, được mọi người từ quan tới lính yêu thương. Rất tiếc là các anh đã thuyên chuyển, rời khỏi đơn vị khá sớm, sau khi nắm đại đội và đánh thắng vài trận, để lại bao luyến thương và tiếc nuối cho tất cả mọi người. Dương Đình Chính đã tử trận (mất tích) tại chiến trường Kontum đầu năm 1973, khi vừa lên nắm Tiểu Đoàn 1. Bùi Hữu Kiệt thuyên chuyển về TK Ninh Thuận, nắm một tiểu đoàn ĐPQ và hy sinh tại Bình Định cuối năm 1972 khi dắt tiểu đoàn tăng cường cho mặt trận này. Người cuối cùng còn ở lại đơn vị là anh Hồ Đắc Tùng, sau này là một tiểu đoàn trưởng đã đóng góp nhiều chiến công trong chiến thắng Kontum mùa Hè 1972.

Khóa 20 VB đã có rất nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc ở các quân, binh chủng, làm rạng danh quân lực. Một số đã thăng tiến rất nhanh, giữ các chức vụ trung đoàn trưởng BB, liên đoàn phó BĐQ. Sau này khi biết được một số trong những tên tuổi của Khóa 20 VB từng nổi danh trên các chiến trường: các anh Hoàng Mão, Lại Thế Thiết, Huỳnh Bá An, Vương Mộng Long, Phạm Cang, Quách Vĩnh Trường, Nguyễn Thái Bửu, Trương Phúc, Đoàn Minh Phương, Trương Dưỡng, Nguyễn Văn Măng, Phạm Văn Tiền…tôi luôn nghĩ đến Phan Ái Minh, người bạn đa tài của tôi, và nhớ tới những vì sao sớm vụt tắt trên bầu trời tuổi thơ của chúng tôi thuở trước.

Phạm Tín An Ninh
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Lương Xuân Việt, từ cậu bé tị nạn thành tướng quân đội Mỹ
Hà Giang (Người Việt) - Fort Hood, Texas (NV) - Ðại Tá Lương Xuân Việt, phó tư lệnh đặc trách hành quân Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ được vinh thăng Chuẩn Tướng sáng 6 Tháng Tám, 2014, trở thành người gốc Việt đầu tiên được thăng cấp tướng trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.


Giây phút lịch sử


Từ 8 giờ sáng, với sự xuất hiện đông đảo của giới truyền thông báo chí, trong đó, hơn một nửa là người gốc Việt, trung tâm tiếp khách của Fort Hood đông đảo và nhộn nhịp khác thường.


Từ khắp nơi trên nước Mỹ, California, Arizona, Washington D.C, họ tề tựu về đây để chờ được đưa vào Cooper Field, trong khuôn viên Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ, đưa tin tức về buổi lễ thăng cấp Chuẩn Tướng cho Ðại Tá Lương Xuân Việt.

Lễ thăng cấp của tân Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt có một ý nghĩa đặc biệt đối với cộng đồng gốc Việt trên khắp Hoa Kỳ. Và cũng là niềm hãnh diện của quân đội trong đó binh sĩ mọi cấp không tuyên thệ trung thành với một lãnh đạo nào, một thể chế nào; họ chỉ có một lý tưởng: Bảo vệ tự do - tự do cho người dân Hoa Kỳ và cho cả thế giới.
Image
Trung Tướng Mark Milley (trái) giúp Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt
cử hành nghi thức lập lại lời tuyên thệ trung thành với lý tưởng tự do,
một thông lệ sau khi thăng cấp của quân đội Hoa Kỳ.
(Hình: Hà Giang/Người Việt)
Ðặc biệt hơn nữa, Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, với nhiều dấu tích còn được trưng bày tại Bảo Tàng Viện có tên “1st Calvary Division Museum.”

Sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, rồi theo gia đình bỏ tất cả để ra đi, tìm tự do từ lúc còn là cậu bé chưa tròn mười tuổi, lý tưởng tự do có lẽ là một trong những nguyên nhân thúc đẩy Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt gia nhập quân đội Hoa Kỳ sau khi ông tốt nghiệp đại học University of Southern California (USC).

Niềm vui và ký ức

Với sự hỗ trợ của cảnh sát thành phố Austin, đúng 8:30 sáng, phòng giao tế của Fort Hood tránh dòng xe cộ đông đúc, đưa được đoàn xe hơn mười chiếc của giới truyền thông vào đến Cooper Field.

Nhộn nhịp, từng bừng hơn những buổi lễ thăng cấp khác, sân khấu lộ thiên của Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ hôm nay chật kín người.

Bên trái khán đài, ở ghế hàng đầu là gia đình vị tân chuẩn tướng, gồm mẹ, vợ, ba người con của ông, cùng bảy chị em gái. Phía sau là rất nhiều cựu quân nhân, sĩ quan của đủ mọi binh chủng trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có cậu, có bác của ông, cũng như một số đồng đội của thân phụ Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt trước đây.
Image
Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt xúc động trong lời cảm tạ
sau nghi lễ thăng cấp tại Fort Hood, Texas. (Hình: Hà Giang/Người Việt)
Bên phải khán đài là không biết bao nhiêu binh sĩ các cấp trong Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ, chen vai thích cánh chứng kiến giây phút quan trọng trong quân nghiệp của bậc chỉ huy mà họ quý mến. Một số sĩ quan cao cấp đã về hưu trong quân đội Hoa Kỳ, trước đây từng làm việc với Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, cũng có mặt, để chung vui và chứng kiến một sự kiện mang nhiều ý nghĩa. Nhưng cảm động nhất phải kể đến sự hiện diện của một số cựu quân nhân Hoa Kỳ từng phục vụ tại Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam.

Xa xa, trên bãi cỏ phía trái, đối mặt với khán đài, các thành viên trong ban quân nhạc hùng hậu của Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ chuẩn bị cho phần trình diễn. Ðối diện ban nhạc, mọi người trong giới truyền thông bận rộn chỉnh lại máy móc dụng cụ, sẵn sàng làm việc. Một đội ngũ đông đảo các binh sĩ có nhiệm vụ lo trật tự được điều phối rải rác khắp nơi, và những viên chức trong phòng giao tế tất bật qua lại lo mọi chi tiết cho buổi lễ.

Niềm hãnh diện tràn trề trên khuôn mặt những người tham dự, đặc biệt là giữa những cựu quân nhân sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Ông Bùi Quang Thống, từng thuộc Tiểu Ðoàn 9, Sư Ðoàn Nhảy Dù, quân lực VNCH, chia sẻ: “Chúng tôi rất hãnh diện đến đây để hoan nghênh tinh thần của tuổi trẻ.”

Ông Ðinh Thạch On, thuộc binh chủng Không Quân, quân lực VNCH, xúc động bày tỏ: “Tôi đến để mừng ngày vinh thăng Chuẩn Tướng của Ðại Tá Lương Xuân Việt, là người trẻ tôi hằng ngưỡng mộ. Người được nhiều tiếng tốt và tài giỏi trong quân lực Hoa Kỳ. Ông Lương Xuân Việt cũng là người tôi thương mến, vì có tinh thần phục vụ và nhất là muốn noi gương người bố.”

Ông Bùi Ðức Lạc, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, Pháo Binh Nhảy Dù, vai bác của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, khiêm tốn: “Tôi đến đây với tâm trạng một người Việt Nam mừng cho một người trẻ Việt Nam được lên cấp bậc cao nhất từ trước đến giờ trong quân đội Hoa Kỳ. Chúng tôi rất kỳ vọng vào giới trẻ gốc Việt ở đây, và mong giới trẻ mỗi ngày một tiến hơn. Tôi kỳ vọng vào các cháu.”

Từ San Antonio, Texas, đến dự lễ thăng cấp, đại tá về hưu Michael Kershaw, trước kia là cấp trên của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, từng phục vụ bên ông tại Iraq, nói về ông như một người tận tụy với gia đình, có tinh thần thẳng thắn, trung trực, và nhất là tinh thần trách nhiệm với đất nước. Cựu Ðại Tá Michael Kershaw nói: “Tôi lấy làm vinh dự đã được phục vụ với Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, tôi có thể ngồi đây hàng tuần để kể về những kỷ niệm của mình, nhưng quan trọng nhất là ông là người đã cho tôi những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ về một gia đình Việt Nam.”
Image
Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt chụp hình lưu niệm cùng gia đình
sau lễ thăng cấp chuẩn tướng tại Fort Hood, Texas.
(Hình: Hà Giang/Người Việt)
Ông Geary Willis, một cựu chiến binh Việt Nam, nay là giám đốc tổ chức “Society of the Vietnamese Airborne,” một hội ái hữu của những cựu cố vấn Không Quân Hoa Kỳ đã hỗ trợ cho Không Quân Việt Nam trước năm 1975, cho biết ông rất vui dù “lòng đầy xúc động.”

“Thật là tuyệt vời. Thật tuyệt vời. Hơn 50 năm trước, chúng tôi đã chiến đấu cho đất nước Việt Nam; và giờ đây, con em của một người ngày xưa chúng tôi đã giúp đang xả thân làm cho đất nước này mạnh hơn.” Ông Willis xúc động.

“Nhìn những khuôn mặt lớn tuổi trong bộ đồng phục ngày xưa của quân lực VNCH, tôi nhớ lại lòng tử tế và sự can đảm của những người Việt tôi đã gặp khi tôi đóng quân ở Việt Nam vào những năm 69 và 70. Tôi nhớ mình đã buồn hết sức buồn khi Sài Gòn thất thủ, và lo lắng không biết bạn bè người Việt của mình có được an toàn không. Thời đó tôi cũng là một huấn luyện viên cho các phi công Việt Nam, và tôi nhớ nỗi vui của mình khi cách đây hai năm, tôi biết được là người phi công Việt Nam đầu tiên mà tôi huấn luyện đã thoát khỏi Việt Nam, và giờ đây đang sống với gia đình tại Arlington, Texas. Ông ấy đã có 5 người con, người nào cũng tốt nghiệp đại học. Ông ấy cũng giống như Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, thành công ở đây và đóng góp nhiều cho đất nước này.”

Từ California, Dân Biểu Liên Bang Alan Lowenthal gửi thông điệp: “Tôi rất vui mừng khi nhận được tin về việc thăng cấp của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt. Là vị tướng gốc Việt đầu tiên trong quân đội Hoa Kỳ, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt là một hình ảnh nổi bật không chỉ về nét đa dạng trong văn hóa, truyền thống và sắc tộc của nước Mỹ nói chung mà còn trong hàng ngũ các quân nhân nam nữ đang anh dũng phục vụ trong Quân Lực Hoa Kỳ. Tôi xin chúc Chuẩn Tướng Việt những điều tốt đẹp nhất trên con đường phục vụ quốc gia trong danh dự, anh dũng, và lòng can đảm.”

Bảy chị em gái nổi danh như một “huyền thoại” của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, mà ai cũng từng nghe nói đến, nhưng chưa bao giờ gặp mặt họ cùng một lúc, hôm nay ngồi theo đúng thứ tự, chị cả ngồi cạnh mẹ, rồi đến chị Hai, chị Ba...

Bà Lương Minh Hạnh, chị thứ ba của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, cho biết “rất hãnh diện là Việt đã tạo được dịp cho tất cả mọi người trong gia đình cũng như cộng đồng quây quần, em nghĩ rằng cả cộng đồng chứ không riêng gì gia đình chia sẻ niềm vui và hãnh diện chung.”

Bà Lương Minh Dung, người chị thứ hai của Tướng Lương Xuân Việt cho biết “cảm thấy bị áp đảo vì xúc động” và nhìn thấy các quân nhân Việt Nam ngày xưa mặc mũ đỏ mũ xanh tới đây, rồi các em nhỏ hơn mặc đồng phục quân đội Hoa Kỳ, thì trong lòng “cảm động, và vô cùng nhớ bố.”

Người chị cả Lương Minh Tâm ngậm ngùi: “Hôm nay là một ngày vui cho gia đình mình và cho mọi người trong cộng đồng. Rất tiếc là ngày hôm nay bố chúng tôi không còn sống nữa để thấy người con trai của mình đã chọn con đường và đi đến nơi mà ông đã muốn con mình đến. Bố chúng tôi ngày xưa ấp ủ trong lòng nhiều hoài bão cho Việt, giờ nhìn Việt thì tôi cứ nhớ hình ảnh của bố, chỉ tiếc là bố không còn sống để thấy được ngày hôm nay.”

Cậu bé tị nạn thành vị tướng

Sau nghi thức chào quốc kỳ và bài quốc ca trầm hùng do ban quân nhạc của Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ trình tấu, Trung Tướng Mark Milley, người cử hành nghi lễ, nhắc đến kỷ niệm 40 năm sắp đến của Tháng Tư Ðen, để giới thiệu nguyên nhân tại sao Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt và hơn một triệu đồng hương của ông hôm nay có mặt tại Mỹ.

Trung Tướng Mark Milley hoàn toàn chiếm lấy sự chú ý của cử tọa, nhất là giới truyền thông Hoa Kỳ, khi ông kể lại cuộc đời cậu bé tị nạn Việt Nam 9 tuổi thành vị tướng trong quân đội Mỹ.

Tất cả bắt đầu vào Tháng Hai, 1975, Trung Tướng Milley kể, sau khi thân phụ của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt là ông Lương Xuân Ðương, lúc đó là thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến trở về nhà sau khi đi một vòng thanh tra khắp các chiến trường.

Thiếu Tá Lương Xuân Ðương buồn bã báo cho gia đình biết ông nghĩ có lẽ Sài Gòn sẽ thất thủ vào Tháng Tư, và bắt đầu tính đến chuyện tìm cách đưa gia đình rời khỏi Việt Nam.

Nhưng đi bằng cách nào?

Trung Tướng Milley đặt câu hỏi, rồi tự trả lời: “Thoạt đầu ông (Lương Xuân Ðương) nghĩ sẽ đưa cả gia đình cùng đi, rồi lại nghĩ làm sao có thể đưa được gia đình 10 người đi cùng một lúc cho an toàn, chắc ông chỉ có thể mang được hai người con gái và cậu con trai duy nhất. Một lúc nào đó, ông lại nghĩ chắc rút vào rừng một mình để tìm cách thu góp binh sĩ, tạo lực lượng đánh lại cộng sản.”

Rất may, trong những giờ cuối của chiến tranh Việt Nam vào cuối Tháng Tư, cả gia đình Thiếu Tá Lương Xuân Ðương được quân đội Hoa Kỳ giúp đỡ an toàn thoát khỏi Việt Nam.

Những năm sau này, nhớ lại những ngày hoảng loạn cuối Tháng Tư, 1975, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt thường nhắc đến việc được bố trao cho chiếc samsonite màu nâu và bắt “phải bảo vệ nó bằng tính mạng.” Chiếc samsonite này, “mà giờ này tôi vẫn còn nhớ như in trong óc,” chứa tất cả giấy tờ của gia đình, tài sản duy nhất mà gia đình họ Lương mang đi theo được.

Thắm thoát đã hơn 39 năm

“Việt và bảy chị em của ông giờ đây tự nguyện là công dân Mỹ.” Trung Tướng Mark Milley nói, và khẳng định: “Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt đã phục vụ đất nước vĩ đại này trong danh dự từ nhiều thập niên qua. Ngày hôm nay, không có ai trong bộ quân phục... Không có ai trong bộ quân phục ngày hôm nay có thể là biểu hiện cho những tính cách cần có của một sĩ quan quân đội Hoa Kỳ thích hợp hơn Việt.”

Trong phần phát biểu đầy cảm xúc, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt ngỏ lời cảm ơn gia đình, mẹ, các con, người vợ thân yêu, bảy người chị em “huyền thoại” của mình, và tỏ lòng biết ơn các chiến sĩ trong quân lực VNCH, trong đó nhiều người là đồng đội với thân phụ ông, rằng: “Nếu không có sự hy sinh bảo vệ cho chính nghĩa tự do của quý vị, chúng ta không có ngày hôm nay.”

Về thân phụ, ông nói: “Trong ngày vui này, tôi chỉ biết thầm cám ơn bố tôi. Ông là người đã cho tôi hiểu thế nào là ba chữ Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm.”

Về câu hỏi của phóng viên nhật báo Người Việt sau buổi lễ, là nếu giờ đây được ngồi trước mặt thân phụ, ông sẽ nói gì với cha, vị tân chuẩn tướng đáp trong nụ cười, dù mắt long lanh xúc động: “Thật sự thì tôi rất gần với Bố tôi. Tất cả những ảnh hưởng về quân sự, về lãnh đạo thì đều của thân phụ tôi, và tôi rất gần với ông. Và tôi nghĩ là nếu bây giờ tôi được gặp bố, thì tôi chỉ muốn được ôm lấy bố một lần.”

Hà Giang
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Trung Sĩ VŨ TIẾN QUANG

Cái Bóng Của HOÀI VĂN VƯƠNG TRẦN QUỐC TOẢN
hay Truyện Người Lính Nhỏ Mà Chính Khí Lớn VŨ TIẾN QUANG


(Trích trong bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam)
Vũ Tiến Quang sinh ngày 10 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là hạ sĩ địa phương quân Vũ Tiến Đức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an ninh của quận, Hạ Sĩ Đức bị trúng đạn tử thương khi tuổi mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với hai con. Con trai lớn, Vũ Tiến Quang 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tròn một năm. Vì có học, lại là quả phụ tử sĩ, bà Đức được thu dụng làm việc tại Chương Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư ký tòa hành chánh. Nhờ đồng lương thư ký, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn.

Quang học tại trường tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung bình trong lớp. Cuối năm 1967, Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hoà có đăng bài: “Ngôi sao sa trường: Thượng-sĩ-sữa Trần Minh, Thiên Thần U Minh Hạ”, bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Sau khi ra trường, Minh về phục vụ tại tiểu đoàn Ngạc Thần (tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, sư đoàn 21 Bộ Binh) mà tiểu đoàn đang đồn trú tại Chương Thiện. Quang nảy ra ý đi tìm người hùng bằng xương bằng thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở, bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu Sinh Quân. Quang suýt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng, trong ước mơ của Quang. Quang nghĩ: “Mình phải như anh Minh”.

Chiều hôm đó Quang thuật cho mẹ nghe cuộc gặp gỡ Trần Minh, rồi xin mẹ nộp đơn cho mình nhập học trường Thiếu Sinh Quân. Bà mẹ Quang không mấy vui vẻ, vì Quang là con một, mà nhập học Thiếu Sinh Quân, rồi sau này trở thành anh hùng như Trần Minh thì…nguy lắm. Bà không đồng ý. Hôm sau bà gặp riêng Trần Minh, khóc thảm thiết xin Minh nói dối Quang rằng, muốn nhập học trường Thiếu Sinh Quân thì cha phải thuộc chủ lực quân, còn cha Quang là địa phương quân thì không được. Minh từ chối:

- Em không muốn nói dối cháu. Cháu là Quốc Gia Nghĩa Tử thì ưu tiên nhập học. Em nghĩ chị nên cho cháu vào trường Thiếu Sinh Quân, thì tương lai của cháu sẽ tốt đẹp hơn ở với gia đình, trong khuôn khổ nhỏ hẹp.

Chiều hôm ấy Quang tìm đến Minh để nghe nói về đời sống trong trường Thiếu Sinh Quân. Đã không giúp bà Đức thì chớ, Minh còn đi cùng Quang tới nhà bà, hướng dẫn bà thủ tục xin cho Quang nhập trường. Thế rồi bà Đức đành phải chiều con. Bà đến phòng 3, tiểu khu Chương Thiện làm thủ tục cho con. Bà gặp may. Trong phòng 3 Tiểu Khu, có Trung Sĩ Nhất Cao Năng Hải, cũng là cựu Thiếu Sinh Quân. Hải lo làm tất cả mọi thủ tục giúp bà. Sợ bà đổi ý, thì mình sẽ mất thằng em dễ thương. Hải lên gặp Thiếu-tá Lê Minh Đảo, Tiểu Khu trưởng trình bầy trường hợp của Quang. Thiếu Tá Đảo soạn một văn thư, đính kèm đơn của bà Đức, xin bộ Tổng Tham Mưu dành ưu tiên cho Quang.

Tháng 8 năm 1968, Quang được giấy gọi nhập học trường Thiếu Sinh Quân, mà không phải thi. Bà Đức thân dẫn con đi Vũng Tàu trình diện. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quang trở thành một Thiếu Sinh Quân Việt Nam.

Quả thực trường Thiếu Sinh Quân là thiên đường của Quang. Quang có nhiều bạn cùng lứa tuổi, dư thừa chân khí, chạy nhảy vui đùa suốt ngày. Quang thích nhất những giờ huấn luyện tinh thần, những giờ học quân sự. Còn học văn hóa thì Quang lười, học sao đủ trả nợ thầy, không bị phạt là tốt rồi. Quang thích đá banh, và học Anh văn. Trong lớp, môn Anh văn, Quang luôn đứng đầu. Chỉ mới học hết đệ lục, mà Quang đã có thể đọc sách báo bằng tiếng Anh, nói truyện lưu loát với cố vấn Mỹ.

Giáo-sư Việt văn của Quang là thầy Phạm Văn Viết, người mà Quang mượn bóng dáng để thay thế người cha. Có lần thầy Viết giảng đến câu :

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”
(Người ta sinh ra, ai mà không chết.
Cần phải lưu chút lòng son vào thanh sử).

Quang thích hai câu này lắm, luôn miệng ngâm nga, rồi lại viết vào cuốn sổ tay.

Trong giờ học sử, cũng như giờ huấn luyện tinh thần, Quang được giảng chi tiết về các anh hùng : Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, thánh tổ của Thiếu Sinh Quân, giết tươi Toa Đô trong trận Hàm Tử. Quang cực kỳ sùng kính Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, từ chối công danh, chịu chết cho toàn chính khí. Quang cũng khâm phục Nguyễn Biểu, khi đối diện với quân thù, không sợ hãi, lại còn tỏ ra khinh thường chúng. Ba nhân vật này ảnh hưởng vào Quang rất sâu, rất đậm.

Suốt các niên học từ 1969-1974, mỗi kỳ hè, được phép 2 tháng rưỡi về thăm nhà, cậu bé Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang tìm đến các đàn anh trấn đóng tại Chương Thiện để trình diện. Quang được các cựu Thiếu Sinh Quân dẫn đi chơi, cho ăn quà, kể truyện chiến trường cho nghe. Một số ông uống thuốc liều, cho Quang theo ra trận. Quang chiến đấu như một con sư tử. Không ngờ mấy ông anh cưng cậu em út quá, mà gây ra một truyện động trời, đến nỗi bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam, bộ Tư-lệnh MACV cũng phải rởn da gà! Sau trở thành huyền thoại. Câu chuyện như thế này:

Hè 1972, mà quân sử Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, giữa lúc chiến trường toàn quốc sôi động. Bấy giờ Quang đã đỗ chứng chỉ 1 Bộ Binh. Được phép về thăm nhà, được các đàn anh cho ăn, và giảng những kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm đời. Quang xin các anh cho theo ra trận. Mấy ông cựu Thiếu Sinh Quân, trăm ông như một, ông nào gan cũng to, mật cũng lớn, lại coi trời bằng vung. Yêu cậu em ngoan ngoãn, các ông chiều…cho Quang ra trận. Cuộc hành quân nào mấy ông cũng dẫn Quang theo.

Trong môt cuộc hành quân cấp sư đoàn, đánh vào vùng Hộ Phòng, thuộc Cà Mau. Đơn vị mà Quang theo là trung đội trinh sát của trung đoàn 31. Trung đội trưởng là một thiếu úy cựu Thiếu Sinh Quân. Hôm ấy, thông dịch viên cho cố vấn bị bệnh, Quang lại giỏi tiếng Anh, nên thiếu úy trung đội trưởng biệt phái Quang làm thông dịch viên cho cố vấn là thiếu úy Hummer. Trực thăng vừa đổ quân xuống thì hiệu thính viên của Hummer trúng đạn chết ngay. Lập tức Quang thay thế anh ta. Nghĩa là mọi liên lạc vô tuyến, Hummer ra lệnh cho Quang, rồi Quang nói lại trong máy.

Trung đội tiến vào trong làng thì lọt trận điạ phục kích của trung đoàn chủ lực miền, tên trung đoàn U Minh. Trung đội bị một tiểu đoàn địch bao vây. Vừa giao tranh được mười phút thì Hummer bị thương. Là người can đảm, Hummer bảo Quang đừng báo cáo về Trung-tâm hành quân. Trận chiến kéo dài sang giờ thứ hai thì Hummer lại bị trúng đạn nữa, anh tử trận, thành ra không có ai liên lạc chỉ huy trực thăng võ trang yểm trợ. Kệ, Quang thay Hummer chỉ huy trực thăng võ trang. Vì được học địa hình, đọc bản đồ rất giỏi, Quang cứ tiếp tục ra lệnh cho trực thăng võ trang nã vào phòng tuyến địch, coi như Hummer còn sống. Bấy giờ quân hai bên gần như lẫn vào nhau, chỉ còn khoảng cách 20-30 thước.

Thông thường, tại các quân trường Hoa-kỳ cũng như Việt Nam, dạy rằng khi gọi pháo binh, không quân yểm trợ, thì chỉ xin bắn vào trận địa địch với khoảng cách quân mình 70 đến 100 thước. Nhưng thời điểm 1965-1975, các cựu Thiếu Sinh Quân trong khu 42 chiến thuật khi họp nhau để ăn uống, siết chặt tình thân hữu, đã đưa ra phương pháp táo bạo là xin bắn vào phòng tuyến địch, dù cách mình 20 thước. Quang đã được học phương pháp đó. Quang chỉ huy trực thăng võ trang nã vào trận địch, nhiều rocket (hoả tiễn nhỏ), đạn 155 ly nổ sát quân mình, làm những binh sĩ non gan kinh hoảng. Nhờ vậy, mà trận địch bị tê liệt.

Sau khi được giải vây, mọi người khám phá ra Quang lĩnh tới bẩy viên đạn mà không chết: trên mũ sắt có bốn vết đạn bắn hõm vào; hai viên khác trúng ngực, may nhờ có áo giáp, bằng không thì Quang đã ô-hô ai-tai rồi. Viên thứ bẩy trúng…chim. Viên đạn chỉ xớt qua, bằng không thì Quang thành thái giám.

Trung-tá J.F. Corter, cố vấn trưởng trung đoàn được trung đội trưởng trinh sát báo cáo Hummer tử trận lúc 11 giờ 15. Ông ngạc nhiên hỏi:

- Hummer chết lúc 11.15 giờ, mà tại sao tôi vẫn thấy y chỉ huy trực thăng, báo cáo cho đến lúc 17 giờ?

Vì được học kỹ về tinh thần trách nhiệm, Quang nói rằng mình là người lạm quyền, giả lệnh Hummer, thay Hummer chỉ huy. Quang xin lỗi Corter. Trung-tá J.F. Corter tưởng Quang là lính người lớn, đề nghị gắn huy chương Hoa Kỳ cho Quang. Bấy giờ mới lòi đuôi chuột ra rằng các ông cựu Thiếu Sinh Quân đã uống thuốc liều, cho thằng em sữa ra trận.

Đúng ra theo quân luật, mấy ông anh bị phạt nặng, Quang bị đưa ra tòa vì “Không có tư cách mà lại chỉ huy”. Nhưng các vị sĩ quan trong sư đoàn 21, trung đoàn 31 cũng như cố vấn đều là những người của chiến trường, tính tình phóng khoáng, nên câu truyện bỏ qua. Quang không được gắn huy chương, mà mấy ông anh cũng không bị phạt. Hết hè, Quang trở về trường mang theo kỷ niệm chiến đấu cực đẹp trong đời cậu bé, mà cũng là kỷ niệm đẹp vô cùng của Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Câu truyện này trở thành huyền thoại. Huyền thoại này lan truyền mau lẹ khắp năm tỉnh của khu 42 chiến thuật : Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Chương Thiện. Quang trở thành người hùng lý tưởng của những thiếu nữ tuổi 15-17 !

Năm 1974, sau khi đỗ chứng chỉ 2 Bộ Binh, Quang ra trường, mang cấp bậc trung sĩ. Quang nộp đơn xin về sư đoàn 21 Bộ Binh. Quang được toại nguyện. Sư đoàn phân phối Quang về tiểu đoàn Ngạc Thần tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, tiểu đoàn của Trần Minh sáu năm trước. Thế là giấc mơ 6 năm trước của Quang đã thành sự thực.

Trung đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện. Bấy giờ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tham mưu trưởng tiểu khu là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời. Cả hai đều là cựu Thiếu Sinh Quân. Đại-tá Cẩn là cựu Thiếu Sinh Quân cao niên nhất vùng Chương Thiện bấy giờ (36 tuổi). Các cựu Thiếu Sinh Quân trong tiểu đoàn 2-31 dẫn Quang đến trình diện anh hai Cẩn. Sau khi anh em gặp nhau, Cẩn đuổi tất các tùy tùng ra ngoài, để anh em tự do xả xú báp.

Cẩn bẹo tai Quang một cái, Quang đau quá nhăn mặt. Cẩn hỏi:

- Ê ! Quang, nghe nói mày lĩnh bẩy viên đạn mà không chết, thì mày thuộc loại mình đồng da sắt. Thế sao tao bẹo tai mày, mà mày cũng đau à?

- Dạ, đạn Việt-cộng thì không đau. Nhưng vuốt anh cấu thì đau.

- Móng tay tao, đâu phải vuốt?

- Dạ, người ta nói anh là cọp U Minh Thượng…Thì vuốt của anh phải sắc lắm.

- Hồi đó suýt chết, thế bây giờ ra trận mày có sợ không?

- Nếu khi ra trận anh sợ thì em mới sợ. Cái lò Thiếu Sinh Quân có bao giờ nặn ra một thằng nhát gan đâu ?

- Thằng này được. Thế mày đã trình diện anh Thời chưa?

- Dạ anh Thời-thẹo không có nhà.

Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, tham mưu trưởng Tiểu-khu, uy quyền biết mấy, thế mà một trung sĩ 18 tuổi dám gọi cái tên húy thời thơ ấu ra, thì quả là một sự phạm thượng ghê gớm. Nhưng cả Thời lẫn Quang cùng là cựu Thiếu Sinh Quân thì lại là một sự thân mật. Sau đó anh em kéo nhau đi ăn trưa. Lớn, bé cười nói ồn ào, như không biết tới những người xung quanh.

Bấy giờ tin Trần Minh đã đền nợ nước tại giới tuyến miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh, của người hùng lý tưởng làm Quang buồn không ít. Nhưng huyền thoại về Trần Minh lưu truyền, càng làm chính khí trong người Quang bừng bừng bốc lên.

Tại sư đoàn 21 Bộ Binh, tất cả các hạ sĩ quan cũng như các Thiếu Sinh Quân mới ra trường, thường chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Đợi một vài tháng đã quen với chiến trường, rồi mới được chỉ định làm tiểu đội trưởng. Nhưng vừa trình diện, Quang được cử làm trung đội phó ngay, dù hầu hết các tiểu đội trưởng đều ở cấp trung sĩ, trung sĩ nhất, mà những người này đều vui lòng. Họ tuân lệnh Quang răm rắp!

Sáu tháng sau, đầu năm 1975 nhờ chiến công, Quang được thăng trung sĩ nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa được gửi đi học sĩ quan. Quang trở thành nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại Thới Lai, Cờ Đỏ. Trong ngày hôm ấy, đơn vị của Quang chạm phải tiểu đoàn Tây Đô. Đây là một tiểu đoàn được thành lập từ năm 1945, do các sĩ quan Nhật Bản không muốn về nước, trốn lại Việt Nam…huấn luyện. Quang đã được Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh nghiệm chiến trường:

“Tây Đô là tiểu đoàn cơ động của tỉnh Cần Thơ. Tiểu đoàn có truyền thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác chiến cấp đại đội, tiểu đoàn chúng không hơn các đơn vị khác làm bao. Nhưng tác chiến cấp trung đội, chúng rất giỏi. Chiến thuật thông thường, chúng dàn ba tiểu đội ra, chỉ tiểu đội ở giữa là nổ súng. Nếu thắng thế, thì chúng bắn xối xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai tiểu đội hai bên xung phong. Nếu yếu thế, thì chúng lui. Ta không biết, đuổi theo, thì sẽ dẫm phải mìn, rồi bị hai tiểu đội hai bên đánh ép. Vì vậy khi đối trận với chúng, phải im lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta tê liệt. Khi chúng bắt đầu xung phong, thì dùng vũ khí cộng đồng nã vào giữa, cũng như hai bên. Thấy chúng chạy, thì tấn công hai bên, chứ đừng đuổi theo. Còn như chúng tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng tới gần rồi mớí phản công”.


Bây giờ Quang có dịp áp dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân xuống. Cả đại đội của Quang bị địch pháo chụp lên đầu, đại liên bắn xối xả. Không một ai ngóc đầu dậy được. Nhờ pháo binh, trực thăng can thiệp, sau 15 phút đại đội đã tấn công vào trong làng. Vừa tới bìa làng, thiếu úy trung đội trưởng của Quang bị trúng đạn lật ngược. Quang thay thế chỉ huy trung đội. Trung đội dàn ra thành một tuyến dài đến gần trăm mét. Đến đây, thì phi pháo không can thiệp được nữa, vì quân hai bên chỉ cách nhau có 100 mét, gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời giảng của Cẩn, Quang ra lệnh im lặng, chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược lại ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước là một cái hầm lớn, ngay trước hầm hai khẩu đại liên không ngừng nhả đạn. Quang ghi nhận vị trí hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra lệnh:

” Lát nữa khi chúng xung phong thì dùng M79 diệt hai khẩu đại liên, B40, rồi hãy bắn trả “.

Sau gần 20 phút, thình lình địch xả súng bắn xối xả như mưa, như gió, rồi tiếng hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có thế, M79 của Quang khai pháo. Đại liên, B40 bị bắn tung lên, trong khi địch đang xung phong. Bấy giờ trung đội của Quang mới bắn trả. Chỉ một loạt đạn, toàn bộ phòng tuyến địch bị cắt. Quang ra lệnh xung phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại gần, vì bị lựu đạn từ trong ném ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn yểm trợ, rồi cho một khinh binh bò lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn cay. Trong khi Quang hô :

- Ra khỏi hầm, dơ tay lên đầu ! Bằng không lựu đạn sẽ ném vào trong.

Cánh cửa hầm mở ra, mười tám người, nam có, nữ có, tay dơ lên đầu, ra khỏi hầm, lựu đạn cay làm nước mắt dàn dụa.

Đến đây trận chiến chấm dứt.

Thì ra 18 người đó là đảng bộ và ủy ban nhân dân của huyện châu thành Cần Thơ. Trong đó có viên huyện ủy và viên chủ tịch ủy ban nhân dân huyện.

Sau trận này Quang được tuyên dương công trạng trước quân đội, được gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu. Trong lễ chiến thắng giản dị, Quang được một nữ sinh trường Đoàn Thị Điểm quàng vòng hoa. Nữ sinh đó tên Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi, học lớp đệ ngũ. Cho hay, anh hùng với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau. Quang, Châu yêu nhau từ đấy. Họ viết thư cho nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần Thơ, thế nào Quang cũng gặp Châu. Đôi khi Châu táo bạo, xuống Chương Thiện thăm Quang. Mẹ Quang biết truyện, bà lên Cần Thơ gặp cha mẹ Châu. Hai gia đình đính ước với nhau. Họ cùng đồng ý : Đợi năm tới, Quang xin học khóa sĩ quan đặc biệt, Châu 17 tuổi, thì cho cưới nhau.

Nhưng mối tình đó đã đi vào lịch sử…

Tình hình toàn quốc trong tháng 3, tháng 4 năm 1975 biến chuyển mau lẹ. Ban Mê Thuột bị mất, Quân Đoàn 2 rút lui khỏi Cao Nguyên, rồi Quân Đoàn 1 bỏ mất lãnh thổ. Rồi các sĩ quan bộ Tổng Tham Mưu được Hoa Kỳ bốc đi. Ngày 29-4, trung đội của Quang chỉ còn mười người. Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng bỏ ngũ về lo di tản gia đình. Quang vào bộ chỉ huy tiểu khu Chương Thiện trình diện Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Cẩn an ủi :

- Em đem mấy người thuộc quyền vào đây ở với anh.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, viên tướng mặt bánh đúc, đần độn Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng-hòa buông súng đầu hàng. Tất cả các đơn vị quân đội miền Nam tuân lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với gia đình. Một vài đơn vị lẻ lẻ còn cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sài-gòn ngừng lúc 9 giờ 7 phút.

Đúng lúc đó tại Chương Thiện, tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu trưởng là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của Cộng quân. Phần thắng đã nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các quận trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh:

“Dương Văn Minh lên làm Tổng-thống trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng Tư Lệnh. Hãy tiếp tục chiến đấu”.

Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần bị tràn ngập, vì quân ít, vì hết đạn vì mất tinh thần. Chỉ còn lại bộ chỉ huy tiểu khu. Trong bộ chỉ huy tiểu khu, có một đại đội địa phương quân cùng nhân viên bộ ham mưu. Đến 13 giờ, lựu đạn, đạn M79 hết. Tới 14 giờ 45, thì đạn hết, làn sóng Cộng quân tràn vào trong bộ chỉ huy. Cuối cùng chỉ còn một ổ kháng cự từ trong một hầm chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im bặt. Quân Cộng Sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng và một trung sĩ mớí 19 tuổi. Trung sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang.

Bấy giờ đúng 15 giờ.

Kẻ chiến thắng trói người chiến bại lại. Viên đại tá chính ủy của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương Thiện hỏi:

- Đ.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh?

Đại Tá Cẩn trả lời bằng nụ cười nhạt.

Trung sĩ Quang chỉ Đại Tá Cẩn:

- Thưa đại tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. Vì anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến đấu, thì tôi không thể cãi lệnh.

Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài bộ chỉ huy tiểu khu. Viên chính ủy chỉ những xác chết nói với Đại Tá Cẩn:

- Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M. Chúng mày sẽ phải đền tội.

Đại Tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung sĩ Quang ngang tàng:

- Đại tá có lý tưởng của đại tá, tôi có lý tưởng của tôi. Đại tá theo Karl Marx, theo Lénine; còn tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn giữ lý tưởng của tôi. Tôi không gọi đại tá là tên Việt Cộng. Tại sao đại tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của đảng Cộng-sản ?

Viên đại tá rút súng kề vào đầu Quang:

- Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ thì mày có chính nghĩa hay tao có chính nghĩa?

- Xưa nay súng đạn trong tay ai thì người đó có lý. Nhưng đối với tôi, tôi học trường Thiếu Sinh Quân, súng đạn là đồ chơi của tôi từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại tá đừng dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, còn đại tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản mà.

- Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên ngụy không?

- Tôi có chính nghĩa thì tôi không thể là ngụy. Còn Cộng quân dùng súng giết dân mới là ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, như Nguyễn Biểu.

Quang cười ngạo nghễ:

- Nếu đại tá có chính nghĩa tại sao đại tá lại dùng lời nói thô tục vớí tôi? Ừ! Muốn mày tao thì mày tao. Đ.M. tên Cộng Sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Đ.M.Mày có nhận mày là tên Việt Cộng không? Thì mày trả lời sao?

Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên còn nở nụ cười. Tôi không có mặt tại chỗ, thành ra không mường tượng ý nghĩa nụ cười đó là nụ cười gì? Độc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cưòi đó mang ý nghĩa nào? Nụ cười hối hận ? Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa mãn?

Ghi chú :

Nhân chứng quan trọng nhất, chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Hiện (1999) cô là phu nhân của bác sĩ Jean Marc Bodoret, học trò của tôi, cư trú tại Marseille.


Cái lúc mà Quang ngã xuống, thì trong đám đông dân chúng tò mò đứng xem có tiếng một thiếu nữ thét lên như xé không gian, rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra ôm lấy xác Quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng Châu. Em gái Quang là Vũ thị Quỳnh Chi đã thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi bọc xác Quang bằng cái Poncho, đem chôn.

Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh Chi, trở về Cần Thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi sáng sớm Quỳnh-Chi đem vàng hương, thực phẩm ra cúng mộ anh, thì thấy Châu trong bộ y phục trắng của nữ sinh, chết gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn đẹp như lúc sống. Đích thân Quỳnh Chi dùng mai, đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.


Năm 1998, tôi có dịp công tác y khoa trong đoàn Liên Hiệp các viện bào chế Châu Âu (CEP= Coopérative Européenne Pharmaceutique) , tôi đem J.M Bodoret cùng đi, Quỳnh Chi xin được tháp tùng chồng. Lợi dụng thời gian nghỉ công tác 4 ngày, từ Sài-gòn, chúng tôi thuê xe đi Chương Thiện, tìm lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ thuộc loại vùi nông một nấm dãi dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó mà biết đó là ngôi mộ. Nhưng Quỳnh-Chi có trí nhớ tốt. Cô đã tìm ra. Cô khóc như mưa, như gió, khóc đến sưng mắt. Quỳnh-Chi xin phép cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, cuối cùng có tiền thì mua tiên cũng được. Giấy phép có. Quỳnh-Chi cải táng mộ Quang-Châu đem về Kiên Hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ Tiến Đức. Quỳnh-Chi muốn bỏ hài cốt Quang, Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người lãng mạn. Tôi đề nghị xếp hai bộ xương chung với nhau vào trong một cái hòm. Bodoret hoan hô ý kiến của sư phụ.


Ngôi mộ của ông Đức, của Quang-Châu xây xong. Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ:

“Nơi đây AET Vũ Tiến Quang, 19 tuổi,
An giấc ngàn thu cùng
Vợ là Nguyễn Hoàng Châu
Nở nụ cười thỏa mãn vì thực hiện được giấc mộng”


Giấc mộng của Quang mà tôi muốn nói, là: được nhập học trường Thiếu Sinh Quân, rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu là được chết, được chôn chung với người yêu. Nhưng người ta có thể hiểu rằng: Quang thỏa mãn nở nụ cười vì mối tình trọn vẹn.

Paris ngày 13 tháng 4 năm 1999.
Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Đại hội Nhảy Dù Việt Nam lần thứ 34 -

Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập
binh chủng Nhảy Dù Việt Nam (1954-2014).

Phương Mai.


Họ là ai! Sống đời dũng cảm
Áo trận giày saut đi trên mây gió ...


Nhiệm vụ sắt son một lòng vì nước, vì dân không hề sờn tấc dạ.
Image
Austin, thủ đô của tiểu bang Texas trong những ngày cuối hạ, cái nóng hừng hực đốt cháy da người, không làn gió, không tiếng chim kêu vượn hú của vùng Nam Vương quốc Ai lao, không tiếng pháo nổ của quân thù, đoàn quân Mũ đỏ của một thời ngày xưa đã rộn rập kéo về trước tiền đình Quốc Hội của thủ đô Texas, hân hoan dựng lại lá cờ vàng 3 sọc đỏ, trước sự ngỡ ngàng, rồi đến ngưỡng mộ của dân bản xứ, tất cả đám đông cùng hòa nhịp con tim với đồng bào ruột thịt của chúng ta, cùng tôn vinh lá cờ linh thiêng của Tổ Quốc, cùng nhấp miệng theo lời ca hùng hồn Tiếng Gọi Công Dân, Tất cả cùng một lòng nhớ ơn các Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và Ðồng Minh đã hy sinh cho cuộc chiến che chở đồng bào, tôn vinh chính nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, giữ gìn giang san gấm vóc mà Tiền Nhân đã dầy công xây dựng và bảo vệ.

Với một nghi thức khai mạc, chào cờ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa rất long trọng và trang nghiêm lúc 8 giờ 30 sáng thứ Bảy, đã làm ngỡ ngàng, cho biết bao du khách viếng thăm dinh thự của thủ phủ bang Texas.
Image

Image

Trong dịp này chúng tôi cũng được biết thêm: Mũ đỏ Chi hội trưởng Austin Nguyễn Thành Thiện đã phải làm việc chặt chẽ và kiên nhẫn với văn phòng Thống đốc và Dân biểu tiểu bang Hilbert Võ; nên kết quả là Thống đốc tiểu bang Texas và Dân biểu Hilbert Võ đã đồng một lòng quí mến, cũng như ca ngợi lòng dũng cảm của các quân nhân phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù Việt Nam, đây là một đơn vị, bao gồm những quân nhân xuất sắc và gan dạ chiến đấu trong suốt chiều dài cuộc chiến 21 năm chiến tranh Việt Nam. Nên đã ngưỡng mộ, cùng hân hoan ban hành Nghị quyết:

Chọn ngày 16/8 hằng năm là ngày Nhảy Dù Việt Nam để vinh danh Binh Chủng mà họ đã thương mến.

Sau buổi chào cờ và phát biểu của Ban tổ chức, tất cả trở về hội trường của nhà thờ Holy Vietnamese Martyrs Church, để dự đại hội lần thứ 34 của Gia đình Mũ đỏ Việt Nam, riêng những thân nhân và thân hữu khác ngoài Mũ Ðỏ được đưa đón thăm viếng thắng cảnh vùng thủ đô. Được biết năm nay đại hội lần thứ 34 với nội dung về hiện tình Việt Nam và người lính Nhảy Dù phải làm gì ? trước thảm họa mất nước vào tay Tàu cộng ! Ðồng thời bàn thảo phải xây dựng nền tảng căn bản, giúp thế hệ trẻ chuẩn bị cho tương lai của đất nước.

Image
Buổi đại hội diễn ra trong ngày và được chấm dứt lúc 4:00PM, sau đó một nghi lễ tôn giáo tôn vinh vị Thánh Tổ của Binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam, đồng thời cũng là thánh tổ Nhảy Dù của nhiều quốc gia tiên tiến: Như Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ ..v.v... Buổi lễ trang nghiêm này do Linh Mục Tuyên Ủy Vũ Minh đảm trách. Sau đó tất cả được xe Bus đón về nhà hàng Fortune để dự tiệc mừng kỷ niệm 60 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Việt Nam, cũng chính là tiệc liên hoan mừng Đại hội 34 thành công.

Theo chương trình của Ban tổ chức cho biết sẽ khai mạc đúng 7:00PM nhưng 6 giờ PM quan khách đã đông đủ tại nhà hàng. Chúng tôi, nhận thấy ngoài Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam về tham dự từ khắp 5 Châu, đặc biệt có sự hiện diện của Chuẩn tướng Lương Xuân Việt và Phu nhân, tư lệnh phó Sư đoàn 1 Thiết kỵ của Hoa Kỳ, đồn trú tại Fort Hood, đại diện văn phòng Thống đốc Rick Perry và Dân biểu Hilbert Võ, Nghị viên thành phố Haltom ông Trương Minh Ẩn và Phu nhân, Ban chấp hành cộng đồng Austin, Liên hội Chiến sĩ Việt nam Cộng hòa Dallas/Fort Worth, hội Cựu SVSQ Thủ đức Austin, hội Cựu SVSQ Thủ đức Dallas, hội Văn Hóa Khoa Học Austin, hội đồng Mục vụ Giáo xứ Austin, Ủy ban xây dựng tượng đài Dallas/Fort Worth Bác sĩ Đàng Thiện Hưng, Báo Bút Việt News ông Mai Văn Đức, Báo Đoàn Kết ông Trần Đỗ Cẩm và Phu nhân, đài phát thanh DFW 870AM Chí Nhân & Liên Bích Đào, SBTN- Austin, SGN 51.3 đến từ Houston, và nhiều hội đoàn bạn khác về tham dự.

Sau phần nghi lễ chào cờ và phút mặc niệm, chúng tôi lắng nghe tiếng trầm bổng của bài truy điệu các Chiến Sĩ Nhảy Dù đã vị quốc vong thân, nêu danh các Mũ đỏ và các Cố vấn Team 162 đã giả từ anh em trong năm qua.
Image
Mũ đỏ Nguyễn Thành Thiện thay mặc ban tổ chức đại hội lần thư 34 và kỷ niệm 60 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Việt Nam. Từ tốn cảm ơn quan khách về tham dự trong tinh thần “ một ngày Mũ đỏ, một đời Mũ đỏ ”, tổ chức nào cũng có khó khăn nhưng sự hiện diện quá đông đủ của quý Niên trưởng, quý anh chị em Mũ Ðỏ và Gia đình về tham dự đã là món quà tinh thần, giúp cho Ban tổ chức quên đi những vất, trong suốt năm qua để chuẩn bị, ngoài ra Mũ Đỏ Thiện còn nhấn mạnh bên cạnh anh còn có những Mũ đỏ khác tuy ở xa xôi nhưng rất năng nổ phụ giúp trên nhiều khía cạnh để đại hội được thành thành công. Đặc biệt lần đầu tiên đại hội Nhảy dù Việt Nam được sự tiếp tay nồng nhiệt của thế hệ trẻ đó là Ban văn nghệ Lưu Gia và bạn trẻ Austin đã sốt sắng, trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, như trang trí, văn nghệ..v.v... Ðể giúp cho đại hội được diễn ra tốt đẹp. Qủa đúng như vậy, từ những ngày đầu, chúng tôi đã chứng kiến việc làm đầy thiện chí ấy.
Image
Nhìn chung, của người tham dự trong kỳ đại hội lần thứ 34 và kỷ niệm 60 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Việt Nam tại Austin thủ đô Texas, mọi người đều nhận thấy trên phương diện tổ chức có những điểm đáng ghi nhận:

- Một lễ chào cờ tại tiền đình Quốc Hội của thủ phủ Texas là một vinh dự lớn lao cho người Việt tỵ nan cộng sản nói chung và Quân lực Việt Nam Cộng hòa nói riêng, đặc biệt binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam rất hãnh diện.

- Thống đốc Texas, Rick Perry và Dân Biểu Hilbert Võ đã ra Nghị quyết chọn ngày 16/8 là ngày vinh danh Nhảy Dù Việt Nam, cũng nên nhắc lại ngày này cũng là ngày Tổng Thống Hoa Kỳ đã vinh danh Binh Chủng Nhảy Dù Hoa Kỳ.

- Gạch nối giữa thế hệ trẻ và người lính Việt Nam Cộng Hòa đặc biệt là binh chủng Nhảy Dù Việt Nam đã có được mối tình thân thiện mật thiết giữ hai thế hệ để hiểu rỏ hơn về thân phận người lính VNCH nói chung và Binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam nói riêng, trong cuộc chiến vừa qua.

- Đặc biệt có sự hiện diện của Chuẩn tướng Lương Xuân Việt và Phu nhân với những lời ngắn gọn của ông như một con cháu của người lính Việt Nam Cộng Hòa luôn biết ơn những tinh thần can đảm ấy “Tôi không mê nhảy dù nhưng rất mến mộ tinh thần tự nguyện và đức tính dũng cảm của người lính Nhảy Dù Việt Nam vì vậy tôi đã chọn binh chủng Nhảy Dù ...”

Là người Việt nam đã từng sống và trưởng thành trong chiến tranh chắc chắn phải công nhận, quí mến câu thành ngữ “Nhảy Dù Cố gắng” của người lính Nhảy Dù Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Họ là những Thiên Thần sát Cộng; từ Bến Hải đến Cà Mâu không nơi nào thiếu dấu chân của đoàn quân Mũ Ðỏ.

Ngày xưa nơi tuyến đầu của vùng Trị Thiên, người lính Nhảy dù được đồng bào mến mộ, sau những ngày chiến đấu với quân thù giành từng tấc đất, đến lúc bình an họ còn là những quân nhân giúp đồng bào xây dựng nhà cửa, trường học...... Chăm sóc sức khỏe cho con em, khuyến khích con em cắp sách đến trường. Ngày hôm nay chúng ta phải thừa nhận có khá đông những tên tuổi đã làm nên công danh sự nghiệp nơi quê hương này, đã xuất thân từ khói lửa, chiến tranh Việt Nam.



Cảm ơn người lính Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi tuy sinh sau đẻ muộn nhưng lúc nào trong trái tim cũng hướng về các anh, các anh đúng là những Thiên thần. Tổ Quốc, Quê Hương và Ðồng Bào Việt Nam luôn luôn và mãi mãi nhớ ơn các anh ...

Sau đây, hai bản NGHỊ QUYẾT của TIỂU BANG TEXAS :
Image

Image
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest