Bình Luận , Quan Điểm

khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tiền và máu! -

Tạp ghi Huy Phương
“Ưu điểm” của chế độ CHXHCN hôm nay:
Cái gì cũng có thể bán và không có gì không mua được!


Trong nghìn chuyện quái đản xảy ra ở Việt Nam lâu nay, bây giờ lại có thêm một chuyện quái đản nữa, là có lẽ rồi đây, thanh niên có thể tránh chuyện đi lính bằng cách đóng tiền, nói rõ là từ nay thanh niên Việt Nam sẽ góp đồng tiền thay việc góp máu cho quốc gia. Một trung tướng CSVN, cũng là dân biểu Quốc Hội, chủ nhiệm Ủy Ban Quốc Phòng-An Ninh, ông Trần Ðình Nhã, đã có dự thảo như thế để sửa đổi “Luật Nghĩa Vụ Quân Sự”.


Phải chăng đây là một hình thức hợp thức hóa cho những tệ nạn lo lót tiền để khỏi phải đi “nghĩa vụ” cho phường đội, huyện đội và những người trong hội đồng tuyển “nghĩa vụ quân sự” lâu nay, cũng như người ta đã có ý kiến đề xuất cho hợp thức hóa nghề mãi dâm.


Chuyện này hẳn có lợi cho một lớp người có đặc quyền, đặc lợi tham ô có tiền, lớp người làm thương mãi buôn bán, mánh mung trục lợi từ nhân dân, sẽ dùng tiền để che chở cho con cháu họ khỏi ra chiến trường. Số phận “anh hùng” từ nay sẽ dành cho đám quần chúng nghèo hèn, hẩm hiu này, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, không có tiền đóng cho đảng và chính phủ, chỉ có phần máu và thân xác nhỏ nhoi, cống hiến cho tổ quốc thay cho lớp có tiền. Cuối cùng chỉ có nhân dân khốn khổ phải phơi thây, còn nơi ấm cúng và chỗ ngồi tốt lành dành cho con cái đảng.


Dù chính sách của Cộng Sản lâu nay vẫn tìm cách chỉ trích, bôi xấu chế độ tư bản, thực dân xâm lược hay chế độ tự do miền Nam thế nào đi nữa, nhưng đứng trên cương vị của một công dân phục vụ cho tổ quốc, chế độ CSVN hiện nay còn phải mở mắt học hỏi thêm nhiều bài “công dân giáo dục” và đạo làm người của những phe mà họ cho là kẻ thù.
Tôi xin kể chuyện hai gia đình “kẻ thù” điển hình mà có lẽ chiến sử Cộng Sản ghi rõ hơn ai hết về tư cách phục vụ cho tổ quốc của những thanh niên “anh hùng” không hề núp bóng ô dù, không hề có chuyện “hy sinh đời bố, củng cố đời con!”


Chúng ta đã biết mặc dù mang cấp bậc đại tướng trong quân đội Pháp, Jean de Lattre de Tassigny có con trai là Thiếu Úy Bernard, được đưa đến chiến trường Ðông Dương năm 1949, một nơi được xem là có những trận chiến ác liệt, và đã tử trận tại Ninh Bình trong một cuộc tấn công của Việt Minh, năm 1951, khi mới 23 tuổi. Ông nội và cha của Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ John McCain đều từng là đô đốc bốn sao của Hải Quân Hoa Kỳ, nhưng gia đình này không phải là cái dù, để cho Thiếu Tá McCain khỏi phải bay dưới hỏa lực phòng không của Hà Nội và bị bắn rơi năm 1957.


Nhìn về phía VNCH, Ðại Úy Phi Công Phan Quang Tuấn bị bắn rơi tại mặt trận Quảng Trị, trong khi thân phụ ông, Bác Sĩ Phan Quang Ðán, một thời là quốc vụ khanh và bộ trưởng, thừa quyền lực để mang con trai về một nơi an toàn. Phan Xuân Hiệp, sĩ quan Nhảy Dù, rồi Biệt Ðộng Quân, đụng trận, bị thương ở chiến trường Cheo Reo, Phú Bổn, là con trai của con trai Tướng Phan Xuân Nhuận, chỉ huy trưởng BÐQ.


Về phía Cộng Sản miền Bắc, nơi mà “ra ngõ gặp anh hùng,” “danh tướng” Võ Nguyên Giáp, có hai người con trai đều không dính líu gì đến súng đạn. Con trai trưởng tên Võ Ðiện Biên, một cái tên rất “ấn tượng,” sinh năm 1954, nhưng xong trung học phổ thông, khoảng năm 1971, trong khi thanh niên miền Bắc đang đổ máu, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” ông con này đã được bố gửi sang học ở Học Viện Kỹ Thuật Hàng Không Giucopxki ở Liên Xô.


Học viện này là trung tâm hàng đầu đào tạo cán bộ cho ngành khoa học hàng không và nghiên cứu hàng không vũ trụ. Ra trường, trở về phục vụ cho quân đội, nói cho oai, nhưng lại nằm trong một cái vỏ bọc bằng nhung được gọi là ngành khoa học công nghệ... Bây giờ Võ Ðiện Biên là giám đốc công ty cổ phần Ðông Sơn, chuyên cung cấp các thiết bị máy móc kỹ thuật cho các cơ quan, doanh nghiệp.

Con trai út là Võ Hồng Nam (1956), tốt nghiệp Ðại Học Bách Khoa, hiện là giám đốc công ty cổ phần máy tính truyền thông Hồng Nam. Năm 1984, ông Võ Hồng Nam sang Hungary làm thực tập sinh kỹ sư công nghệ ở liên hiệp vi điện tử MEV, Buddapest, rồi kỹ sư lập trình ở viện nghiên cứu máy tính và tự động hóa Buddapest. Về nước, ông trở thành giám đốc công ty này, một doanh nghiệp làm ăn phát đạt.


Chính vì điều gì cũng nhân danh nhân dân, nhất là nhân dân thuộc loại bần cùng, đói khổ nên nhân dân phải chịu nhận vinh dự chết cho tổ quốc, để những “con ông, cháu cha” những kẻ quyền lực và có tiền ung dung ra ngoại quốc hay được điều động về trung ương, giữ những chức vụ béo bở.


Nếu đóng tiền để khỏi đi lính, thì rồi đây chính phủ sẽ ấn định bao nhiêu cho mỗi người để gọi là đủ: $500, $1,000 hay $10,000 cũng là quá rẻ để nằm trong chăn ấm, nệm êm, tránh được chuyện xa nhà, nỗi nhọc nhằn tập luyện tại quân trường, và những nguy hiểm lúc đất nước có chiến tranh. Chỉ còn lại là đám “nhân dân anh hùng” đi bộ đội cho có cơm ăn và sẵn sàng chết cho đứa có tiền.


Chúng ta thường mỉa mai lên án những lực lượng lính đánh thuê cho một đất nước không phải của mình, như Quân Ðoàn Lê Dương Pháp (FFL) mà toàn bộ binh lính được tuyển mộ từ nước khác, như 400 người Nga đang chiến đấu như lính đánh thuê ở Syria, như Blackwater, đoàn lính đánh thuê thiện chiến của Mỹ...


“Quân đội Cụ Hồ” rồi đây sẽ là một đoàn quân đánh thuê: Không phải là thứ đánh thuê cho một quốc gia khác, mà đây là đánh thuê cho giai cấp, giai cấp bần cố nông đánh thuê cho giai cấp cầm quyền, tư bản, là những kẻ bỏ tiền ra để mua máu người khác thay vì phải đổ máu của mình ra. Những người nghèo không có tiền đóng cho chính phủ sẽ cầm súng đánh thuê cho những kẻ có tiền bỏ ra thuê!


Ðó là “ưu điểm” của chế độ hôm nay: Cái gì cũng có thể bán và không có gì không mua được!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Chính trị và truyền thông
Tổng thống Barack Obama thường bị xem là khá khép kín. Ông có vẻ không thích các phóng viên. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ông không quan tâm đến báo chí, đặc biệt, các nhà bình luận chính trị, kể cả những người thuộc phái hữu, vốn ít khi là đồng minh của ông.

Các nhân viên thân cận với ông trong Nhà Trắng kể, mỗi tối, trước khi đi ngủ, Obama thường vào internet, đọc các bài bình luận chính trị của những người ông đánh giá cao. Những lúc không có nhiều thì giờ, ông thường yêu cầu nhân viên đọc và tóm tắt cho ông ý kiến của các nhà bình luận về các vấn đề quan trọng của đất nước hoặc có ý nghĩa chính trị lớn. Hơn nữa, ông còn thường mời các nhà bình luận chính trị nổi tiếng và có uy tín, như David Brooks của tờ The New York Times, Joe Klein của tờ Time Magazine, Paul Gigot của tờ Wall Street Journal, E.J. Dionne, Eugene Robinson, Ezra Klein, Charles Krauthammer và Fred Hiatt của tờ The Washington Post, những người ông thích đọc và thường đọc, bất kể họ thuộc thành phần cấp tiến hay bảo thủ, đến văn phòng của ông để chuyện trò, có khi kéo dài cả mấy tiếng đồng hồ.

Xin lưu ý: Đối với lịch trình làm việc hằng ngày bình thường vốn dày đặc của Tổng thống Mỹ, mấy tiếng đồng hồ không phải là ít. Nhiều vị nguyên thủ quốc gia chỉ muốn gặp Obama vài chục phút cũng không được. Lý do: ông không có thì giờ. Vậy mà ông lại không ngại ngần trong việc ngồi chuyện trò với các bình luận gia một thời gian dài như thế. Mà không phải hiếm hoi. Những cuộc gặp gỡ như vậy diễn ra khá thường xuyên. Hằng tháng. Hoặc vài tháng một lần.

Có hai lý do chính để Tổng thống Obama làm việc ấy: Thứ nhất, ông cố thuyết phục các bình luận gia là chính sách của ông về một số vấn đề nào đó đúng và đối thủ của ông sai. Dĩ nhiên, trong số các nhà bình luận ấy, có người không đồng ý với ông. Trong mọi trường hợp, ông đều kiên nhẫn giải thích và chứng minh sự đúng đắn trong các chính sách do ông đề xướng. Thứ hai, ngay cả khi không có vấn đề gì để bàn cãi, ông cũng muốn, qua các cuộc gặp gỡ ấy, trình bày những suy nghĩ của ông về tình hình chính trị quốc nội cũng như quốc tế, để các nhà bình luận ấy hiểu ông rõ hơn và khi cần phân tích về bất cứ điều gì, họ có thể diễn đạt quan điểm của ông một cách chính xác.

Theo thỏa thuận, các cuộc gặp gỡ ấy đều không được thu âm và sẽ không được tường thuật trực tiếp và nguyên văn trên các phương tiện truyền thông đại chúng (off the record meeting). Thậm chí, việc gặp gỡ cũng như danh sách của các bình luận gia cũng không được công khai hóa. Nhưng các nhà bình luận vẫn có thể sử dụng tất cả những lời phát biểu của Tổng thống để bình luận, hoặc ít nhất, để định hướng cách suy nghĩ của mình, về một vấn đề nào đó.

Việc gặp riêng các nhà bình luận chính trị như vậy đã có truyền thống lâu đời tại Mỹ. Có người cho dấu mốc đầu tiên có lẽ là vào thập niên 1830 khi Tổng thống thứ 7 của Mỹ, Andrew Jackson, mời Francis Preston Blair đến văn phòng để chuyện trò. Truyền thống này đặc biệt phát triển dưới thời Tổng thống Bill Clinton, người thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ với báo giới để, nói theo lời của phát ngôn viên báo chí Mike McCurry, giúp các phóng viên và bình luận gia biết Tổng thống đang nghĩ gì.

Tổng thống Obama, khi gặp riêng các bình luận gia, không làm gì khác ngoài một tiền lệ đã có sẵn từ trước. Chỉ khác là ông có vẻ không thích bàn luận về các sự kiện hàng ngày trong đời sống chính trị. Ông chỉ thích bàn về những khái niệm lớn, những ý tưởng có tính chiến lược lâu dài đối với nước Mỹ cũng như thế giới. Theo ông, những điều đó quan trọng và cần thiết hơn. Có lẽ đó là lý do tại sao ông thích chuyện trò với các nhà bình luận hơn là với các ký giả chỉ biết tường thuật.Thói quen khác nhau, cách thức tổ chức chuyện trò khác nhau, những người được mời đến để chuyện trò cũng khác nhau, nhưng tất cả các cuộc gặp gỡ riêng giữa Tổng thống Mỹ và giới phóng viên cũng như các nhà bình luận chính trị ấy cũng đều tiết lộ một điểm chung: các nhà lãnh đạo Mỹ rất coi trọng giới truyền thông và muốn qua giới truyền thông, tác động lên quần chúng, thu phục quần chúng, nhận được sự ủng hộ của quần chúng, để các chính sách của họ được thực hiện dễ dàng.

Tất cả đều hiểu rõ: Sức mạnh của họ đến từ quần chúng, đó là sự ủy thác của quần chúng, do đó, thiếu sự ủng hộ của quẩn chúng, họ sẽ không làm được gì cả, ngay cả chiếc ghế của họ, cuối cùng, cũng chưa chắc đã giữ được. Vì vậy, bằng nhiều cách, họ luôn luôn cố gắng giữ liên hệ với quần chúng. Liên hệ ấy được tiến hành dưới hai hình thức chính: Một, trực tiếp, bằng các cuộc gặp gỡ đây đó hay các lời phát biểu chính thức trên các phương tiện truyền thông đại chúng; và hai, qua trung gian của giới truyền thông: với giới truyền thông, họ thường xuyên tổ chức các cuộc họp báo chính thức và, ít hơn, gặp riêng để chuyện trò một cách thân mật và thẳng thắn.

Thật ra, ở đâu các chính khách, nhất là những người đang nắm vai trò lãnh đạo, cũng đều sử dụng hai cách thức ấy. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy có sự khác biệt rất lớn giữa các nhà lãnh đạo độc tài so với các nhà lãnh đạo dân chủ.

Thứ nhất, khác với các nhà lãnh đạo dân chủ, các nhà lãnh đạo độc tài thường rất hiếm tổ chức các cuộc họp báo công khai để đối đầu với các phóng viên, hoặc nếu có, người ta cũng tìm mọi cách để hạn chế, hoặc hạn chế người tham dự hoặc hạn chế trong việc đặt câu hỏi (phải nộp trước các câu hỏi và các câu hỏi ấy phải được xét duyệt). Hiếm, nếu không muốn nói là không, có ai dám để các phóng viên trong cũng như ngoài nước được tự do, hoàn toàn tự do, đặt mọi câu hỏi mà họ quan tâm.

Thứ hai, trong khi ai cũng tìm cách gặp gỡ và tác động lên báo giới, cách thức gặp gỡ và tác động ở các nước dân chủ và các nước độc tài khác nhau. Trong khi ở các nước dân chủ, người ta tìm cách thuyết phục, và khi thuyết phục, người ta sử dụng lý lẽ và lý trí; ở các nước độc tài, người ta chỉ ra lệnh, và khi ra lệnh, người ta chỉ sử dụng các biện pháp hành chính, thậm chí, bằng cách răn đe hay hối lộ (bằng sự khen thưởng). Trong khi các tổng thống Mỹ mời các phóng viên và bình luận gia đến văn phòng chuyện trò, giới lãnh đạo ở các nước độc tài - ví dụ, Việt Nam -, chỉ gặp các phóng viên trong các buổi giao ban hàng tuần, ở đó, người ta ra lệnh chỉ được viết về chuyện này và không được viết về những chuyện khác, v.v.. Nói cách khác, ngay trong quan hệ với giới truyền thông, ở các nước dân chủ, người ta chỉ sử dụng quyền lực mềm; ở các nước độc tài, người ta chỉ sử dụng loại quyền lực cứng.

Ở các nước dân chủ, dù được gặp riêng giới lãnh đạo hay không, các ký giả và bình luận gia vẫn giữ được sự độc lập trong quan điểm và cách đánh giá; ở các nước độc tài, mọi người cầm bút chính thống, nằm trong guồng máy truyền thông chính thức do nhà nước kiểm soát, đều là những công cụ tuyên truyền. Chính tính độc lập của truyền thông và của những người hoạt động trong ngành truyền thông là yếu tố quan trọng nhất tạo nên uy tín của truyền thông dưới mắt quần chúng. Và chính uy tín ấy mới có khả năng tác động lên lý trí của quần chúng, từ đó, hướng dẫn dư luận.

Không phải ngẫu nhiên mà ở Tây phương, giới truyền thông thường xem tính chất độc lập là một trong những nguyên tắc hàng đầu của mình. Mở trang báo The Age (Melbourne) hay The Sydney Morning Herald (Sydney) trên mạng, bạn sẽ thấy ngay, ngay dưới nhan đề tờ báo, hai chữ “Độc lập. Lúc nào cũng độc lập” (Independent. Always.) in thật lớn, đập vào mắt mọi người, vừa như một cương lĩnh vừa như một phương châm.

Không có nhà cầm quyền nào thích thú với việc truyền thông được hoàn toàn độc lập. Nhưng ở các quốc gia dân chủ, người ta luôn luôn tìm cách bảo vệ tính chất độc lập ấy, một phần, vì đó là nguyên tắc và là lý tưởng dân chủ mà họ nhắm tới; phần khác, có tính chất thực dụng hơn, họ biết chỉ khi được độc lập, truyền thông mới giữ được uy tín; và khi truyền thông giữ được uy tín, vai trò hướng dẫn dư luận của nó mới thành hiện thực được.
Ngày nay, trình độ dân trí đã cao đủ để không còn mấy ai dễ dàng nghe và tin lời của những con vẹt nữa.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

VOA
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Phong Trào Bỏ Đảng

Tác giả : Trần Khải

Có thể xảy ra hiện tượng dây chuyển bỏ Đảng hay không? Nếu hàng chục ngàn đảng viên CSVN, hàng trăm ngàn đảng viên CSVN cùng tuyên bố rời bỏ Đảng CSVN... tất nhiên là Đảng này sẽ sụp đổ.

Nhưng hiện tượng này có thể tới bây giờ chưa? Và nếu chưa, thì bao giờ?

Một ngày sau khi Luật gia Lê Hiếu Đằng tuyên bố rời bỏ Đảng CSVN, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng cũng tuyên bố tương tự.

Có một điều chúng ta biết rằng, đã có nhiều người rời bỏ đảng CSVN một cách lặng lẽ, từ lâu rồi.

Nhưng việc hai nhà tư tưởng này, những người đã từng viết các bài viết phân tích về nhu cầu dân chủ hóa đất nươc, là một vết rạn nứt lớn trên bức trường thành của CSVN. Vấn đề là, bao giờ thành trì CSVN sẽ sụp đổ?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng trả lời trên đaì RFA về việc ông rời bỏ Đảng CSVN, nói rằng ôngs uy nghĩ việc này lâu rồi, và Việt Nam có thể đi theo Myanmar (Miến Điện) để chính phủ tự đề ra lộ trình dân chủ hóa một cách hòa bình:

“Gia Minh (RFA): Như ông nói cái việc này cũng đã được ấp ủ suy nghĩ từ lâu nay và cần phải có một cơ chế mới thay thế cho cái cũ. Theo ông thì cơ chế như thế nào có thể đáp ứng được cho tình hình hiện nay mà mọi người cần nên theo ạ?

Ông Phạm Chí Dũng (từ Sài Gòn): Dứt khoát là phải có đối trọng về mặt chính trị. Có điều là đối trọng như thế nào, đó là cơ chế hoàn toàn sương mù trong thời điểm hiện nay tại Việt Nam. Cho đến lúc này thì nhà nước Việt Nam mới đặt ra vấn đề nhà nước pháp quyền nhưng vẫn chưa thừa nhận chuyện tam quyền phân lập. Không tam quyền phân lập thì làm sao có được nhà nước pháp quyền. Thực ra chỉ là trò chơi chữ để người ta kéo dài thời gian. Kéo dài thời gian thì được lợi cho ai? Chẳng được lợi cho ai cả, lẫn nhà nước và người dân. Tất cả đều khủng hoảng từ xã hội đến kinh tế trong những năm sắp tới. Tất cả đều bị kéo theo. Vì vậy vấn đề là cần phải hành động ngay, cần phải giải quyết ngay. Rất may mắn là Việt Nam đã có một tiền lệ đó là kịch bản Myanmar.

Vấn đề đặt ra là Myanmar có thuận tiện, thuận lợi và những ứng lợi nào đối với Việt Nam trong thời gian tới. Chính lãnh đạo nhà nước Việt Nam cần rút ra điều đó vì kết quả của Myanmar đã thấy rõ rằng chính quyền tổng thống Thein Sein gần như không mất gì cả. Họ giữ nguyên được quyền lực, quyền lợi và những chiến công mà không gặp phải sự phản đối của cộng đồng Myamar ở nước ngoài.

Họ chỉ cần thêm một chút dân chủ và nhân quyền cho người dân mà thôi. Những người lãnh đạo Việt Nam nên nhìn đó để có được phương án và giải pháp tối ưu cho Việt Nam trong thời gian sắp tới. Còn lại như thế nào thì tùy thuộc vào bản lĩnh và trí khôn của họ. Tuy nhiên tôi e rằng trong hoàn cảnh này thì khó có thể có được sự sáng tạo đột biến nào trong giới lãnh đạo chính trị của Việt Nam...”(hết trích)

Tuy nhiên, bao giờ có ánh sáng dân chủ?

TS Phạm Chí Dũng nói trên RFA: “Nếu những cơn sóng nhỏ kết tụ lại với nhau thì có thể dẫn đến một cơn sóng lớn và nó sẽ tốt hơn cho xã hội dân chủ của Việt Nam trong tương lai. Theo tôi thì ít nhất là hai năm nữa mới có thể nhìn ra được ánh sáng.”

Hai năm? Cần tới 2 năm?

Lúc đó, sẽ có thêm nhiều tù nhân lương tâm chết trong trại giam. Ai sẽ chịu trách nhiệm về những cái chết này, trong khi lẽ ra họ từ bây giờ đã xứng đáng được đưa ra thế giới để vinh danh như những Lech Walesa, như những Nelson Mandela...

Và một ngày sau khi Tiến sĩ Phạm Chí Dũng tuyên bố bỏ Đảng, Bác sĩ Nha khoa Nguyễn Đắc Diên cũng thông báo trên trang Bauxiet VN qua bản văn tưạ đề “Thông Báo Công Khai Từ Bỏ Đảng,” trong đó, Bác sĩ Nha khia Nguyễn Đắc Diên viết:

“Xuất thân trong một gia đình có truyền thống chống các kiểu thực dân và áp bức, sau 1954 tuy sống ở đô thị miền Nam nhưng gia đình tôi là cơ sở CM nội thành, đã được tặng thưởng Huân Chương Kháng Chiến Hạng Nhất theo QĐ số 801/HĐNN, có Giấy Chứng Nhận Người Có Công Với Cách Mạng. Thế nên đã một thời, tôi cũng từng tràn đầy nhiệt huyết với khát vọng đồng hành cùng Đảng xây dựng một đất nước công bằng dân chủ và văn minh.

Song tất cả những gì mà Đảng Cộng sản đã thể hiện từ ngày Bắc Nam thống nhất khiến tôi đi từ thất vọng đến thất vọng khác.

Tôi không tin Đảng sẽ dẫn dắt dân tộc cập được bến bờ vinh quang bằng các cương lĩnh kiểu như cương lĩnh 1991, hiến pháp 2013. Bởi đó là những cương lĩnh u ám, những hiến pháp tiểu xảo.

Với thỏa ước Thành Đô 9/1990, Đảng đã đánh mất cơ hội ngàn vàng trong sự nghiệp bảo toàn chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ khi sống cạnh một nước lớn có tiền sử hàng ngàn năm áp chế dân tộc Việt...”(hết trích)

Tuy nhiên, bản tin BBC đã ghi lời phỏng vấn một chuyên gia, cho thấy một khía cạnh mới, rằng Đảng CSVN là phi pháp.

BBC viết:

“Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ nói:

"Cho đến nay vẫn chưa có luật về thành lập và đăng ký các đảng, còn Đảng viên Đảng CSVN muốn rời khỏi đảng thì đó là quyền mà trong điều lệ Đảng CSVN cũng đã cho phép, cho nên cái điều ấy là điều bình thường. Còn việc họ có lập được đảng hay không thì đấy lại là một vấn đề khác...

Tuy nhiên, theo Tiến sỹ Doanh, chính Đảng Cộng sản đã được thành lập mà chưa hề đăng ký ở đâu cả.

Ông nhấn mạnh: "Việt nam chưa có luật về đảng và bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không hề có đăng ký, và cũng chưa hề có một cái luật về Đảng Cộng sản Việt Nam."...”(hết trích)

Cũng có một thực tế: Chế độ CSVN dựa vào bạo lực công an và quân đội, bao giờ làn sóng bỏ đảng lan rộng được trong 2 lực lượng này, lúc đó mới có thể chuyển hướng VN nhanh chóng được.

Hãy nhớ, cáng để trễ bước đi dân chủ, sẽ có thêm nhiều tù nhân lương tâm ngã bệnh, và có thể sẽ mất mạng trong tù. Đó là điều tiếc nhất, vì họ vẫn luôn luôn là những đứa con ưu tú của dân tộc.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Thế đứng Nhân Quyền vững chãi
Monday, December 09, 2013 2:00:30 PM

Bùi Tín (Blog VOA)
Ngày 10 tháng 12, 2013 năm nay là kỷ niệm lần thứ 65 ngày lịch sử ra mắt bản “Tuyên Ngôn Nhân quyền Quốc tế” 10 tháng 12, 1948.

Năm nay cuộc kỷ niệm ở nước ta diễn ra khác hẳn trước, mang nhiều nét mới.

Ngay từ giữa năm các bạn thanh niên, sinh viên nam nữ đã in, sao chép bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế (TNNQQT) gồm 30 điều để giới thiệu rộng rãi trong xã hội. Nhiều bạn đã gửi cho nhau những bản TNNQQT in đẹp coi như món quà quý để chuyền tay nhau đọc và nghiên cứu. Nhiều bạn thanh niên còn in các bản TNNQQT bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Ðức, Nhật, Trung Hoa... để phổ biến trong nước và gửi ra nước ngoài.

Ở Hà Nội, Sài Gòn... nhiều bạn trẻ còn in thêm bản “Công ước Quốc Tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” cũng như bản “Công ước Quốc tế về những quyền dân sự và chính trị” được ban hành năm 1966.

Trong cả năm 2013 đã có nhiều cuộc xuống đường, dã ngoại, nhóm họp của công dân nam nữ để công khai trao đổi, thảo luận về ý nghĩa và vận dụng các văn kiện quốc tế quan trọng này.

Ðặc biệt năm nay chính quyền Việt Nam tự nguyện xin được vào Hội Ðồng Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc sau khi đưa ra lời hứa danh dự và 14 điều cam kết về nhân quyền. Do đó, việc thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ nội dung TNNQ ở nước ta có thêm nhiều thuận lợi mới. Ai cũng biết chính quyền độc đảng là tối kỵ với nhân quyền, họ đối lập với nhân quyền như nước với lửa, họ chỉ chịu lùi trên văn kiện để hòng được nhận tiếp những nguồn chi viện tài chính FDI và ODA nhằm kiếm lợi cho phe nhóm. Họ rất lo khi cuộc kiểm điểm về “hạnh kiểm nhân quyền” theo định kỳ (Universal Periodic Review) lần 2 sắp diễn ra trong tháng 1 năm 2014. Ðây là một cuộc kiểm điểm rất nghiêm túc. Chắc chắn nhà cầm quyền Hà Nội sẽ bị chất vấn: Từ khi hứa và cam kết, họ có tiến bộ thật hay không? Có còn bắt người tùy tiện không? Có còn xử án kín không? Có còn tuyên án bỏ túi theo lệnh đảng hay không? Có còn đánh đập chửi bới công dân, tra tấn làm chết công dân trong trụ sở công an hay trong trại giam không?

Một nét mới về ngày TNNQ năm nay là tổ chức “Mạng lưới Blogger Việt Nam” đã chính thức hoạt động, cùng với “Diễn đàn Xã hội Dân sự”, thực hiện quyền tự do ngôn luận theo TNNQQT mà chính quyền Việt Nam đã cam kết thi hành.

Cũng một nét mới không kém phần quan trọng nữa là trên các mạng Dân Làm Báo, Dân Luận, Chân Trời Mới tuần qua (28/11 đến 4/12) đã đăng tuyên bố của nhiều công dân coi bản Hiến pháp 2013 vừa được Quốc Hội thông qua là cưỡng ép, vì không hề coi trọng các ý kiến đóng góp của công dân, chỉ tuân theo cương lĩnh của đảng, là Hiến pháp của đảng Cộng Sản, do đảng Cộng Sản, vì đảng Cộng Sản, không mảy may là của dân, do dân, vì dân, nên bị nhân dân coi là vô giá trị; nhân dân sẽ thực hiện “bất tuân dân sự “ và đòi làm bản Hiến pháp khác. “Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam” cũng đã chính thức ra mắt vào dịp này.

Theo các mạng Dân Làm Báo và Dân Luận ngày 2 tháng 12, các luật sư đang làm việc cũng như luật sư đang ở trong tù như ông Cù Huy Hà Vũ đều cho rằng bản Hiến pháp 2013 vi phạm nghiêm trọng bản TNNQQT khi khẳng định điều 4, vị trí toàn trị độc quyền của đảng Cộng Sản, hạn chế tự do báo chí bằng những luật lệ trái Hiến pháp, và khi khẳng định kinh tế nhà nước là chủ đạo, tước bỏ quyền tự do bình đẳng cạnh tranh trong kinh doanh.

Gần đến ngày kỷ niệm TNNQQT, theo tường thuật của mạng Dân Làm Báo ngày 3 tháng 12, bí thư thứ nhất của sứ quán Pháp Jean Philippe Gavois đã có dịp tận mắt thấy cảnh nhiều tốp công an hung hãn hành hung Luật Sư Nguyễn Văn Ðài và bạn bè ông, phá phách cửa hàng cà phê ở đường Ðại Cồ Việt (Hà Nội), chửi bới đánh đập công dân. Theo Luật Sư Ðài, ông J.P.Gavois xúc động ghi âm, chụp ảnh các cảnh này và thốt lên: “Tôi không cần tìm hiểu gì thêm nữa, thế là quá đủ, những bằng chứng rõ rệt nhất”.

Thử hỏi ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh ông và đồng sự sẽ chống chế ra sao khi những tin tức và hình ảnh như thế được trưng ra trong cuộc kiểm điểm định kỳ về tôn trọng nhân quyền sắp đến tại Liên Hiệp Quốc, khi đại diện Việt Nam được lên mâm, buộc phải trả lời từng điểm một những chất vấn của người tham dự.

Những điều mới, rất mới nhân dịp kỷ niệm TNNQQT năm nay là như thế.

Ðiều mới nhất là các công dân yêu quý nhân quyền đang ngày càng đông đảo, do nhận thức được rằng thế đứng nhân quyền của nhân dân ta đang ngày càng vững chãi và rất có hiệu quả.

Thêm nữa sự phối hợp quốc tế ngày cũng chặt chẽ và thuận lợi.

Và chính quyền bị đứng ở thế bị cáo, hạnh kiểm xấu, hứa tu tỉnh thành người tốt, có tiến bộ.

Với thế vững chãi trong đấu tranh như thế, nhất định năm 2014 tới sẽ là năm gặt hái bội thu về nhân quyền. Một xã hội dân sự tiếp tục tiến bước, đông đảo hơn, tự tin hơn, có hiệu quả hơn. Xã hội dân sự đầy sức trẻ của thời đại thừa sức đẩy lùi một chế độ sang thế kỷ XXI rồi mà vẫn còn mơ màng suy tôn chủ nghĩa Mác-Lênin tai quái làm nền tảng cho chế độ, ghi đậm trong Hiến pháp 2013, sau khi nó đã bị đào thải bởi toàn thế giới, coi đó là cội nguồn tội ác chống nhân loại trong thế kỷ XX, còn tệ hại hơn cả chủ nghĩa phát xít.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Những cơ chế của sự nhầm lẫn
Dương thu Hương

Sự thất vọng của con người thường được biểu đạt bằng hai danh từ: Giải ảo và Vỡ mộng.

Các dịch giả Việt Nam dùng hai danh từ này tuỳ theo ngữ cảnh của nhóm từ Pháp: désillusionné, désenchanté, désabusé, déçu.

Tôi chọn hai từ désenchanté và désabusé để làm bệ đỡ cho sự Giải ảo và Vỡ mộng của người Việt Nam sau cuộc chiến.

Xét trên phương diện tâm lý, cuộc chiến tranh Việt-Mỹ có thể ví như một cơn nhập đồng tập thể. Một cá nhân, trong trạng thái nhập đồng, có thể làm được những điều mà bình thường họ không thể nào làm nổi. Khi trạng thái nhập đồng chấm dứt, con người cũng đánh mất khả năng ấy.

Ví dụ rõ ràng nhất là trường hợp anh hùng Ngô thị Tuyển.Trong một cuộc máy bay Mỹ oanh tạc, để tiếp đạn cho các pháo thủ, Ngô thị Tuyển đã vác những hòm đạn nặng hơn trọng lượng thân thể của chị nhiều. Bởi vì cuộc chiến đấu kéo dài, hành động anh hùng của Ngô thị Tuyển diễn ra trước mắt tất cả mọi người, từ dân chúng, đồng đội đến các chiến sỹ pháo binh. Thế nhưng, khi các nhà báo Hà Nội yêu cầu chị diễn lại để quay phim, chị Tuyển không làm được nữa. Trước hết, cần phải nói rằng các nhà báo lúc ấy hoặc ấu trĩ hoặc hồ đồ vì không hiểu điều này: Cốt lõi hành động của Ngô thị Tuyển là lòng yêu nước cộng với bản năng tồn sinh. Vào lúc bom đạn tơi bời như thế, máy bay giặc quần thảo trên trời, tiếng rú rít của máy bay, tiếng nổ của đạn pháo, tiếng kêu thét của những người chết và bị thương tạo thành một bối cảnh tột độ căng thẳng, tình thế ấy đòi hỏi con người phải có những nỗ lực bất thường để vượt qua những nguy hiểm bất thường. Khi phải đối mặt với cái chết, không những của bản thân mà của đồng bào, đồng đội, mà phía sau những cái chết cụ thể ấy, là một cái chết vô hình hơn, cái chết của tổ quốc, những người dân yêu nước đều có khả năng làm một điều gì đó: lớn hơn bản thân họ, mạnh hơn sức lực của họ, vượt lên trên những toan tính thông thường của đời họ. Đó chính là những giây phút tạo ra các anh hùng.

Đó là sự siêu tuyệt thuần tuý (Une pure transcendance).

Khi trạng thái hưng phấn cao độ, sự siêu tuyệt qua đi, con người trở lại với chính bản thân họ, với các khả năng hữu hạn của họ mà yêu cầu họ “diễn lại như thật” các hành vi lúc nhập đồng thì hoàn toàn là điều ngu ngốc, thậm chí điên rồ. Thử hỏi các đạo diễn điện ảnh xem, nếu các diễn viên của họ phải vác một cái chuỳ thật sự nặng ba chục cân chứ không phải chuỳ bằng nhựa, liệu họ còn sức diễn nữa hay không? Những nhà báo này cũng thiếu kiến thức và sự từng trải để hiểu con người: Phàm đã là người đứng đắn, không ai đủ trơ trẽn để “diễn một màn tự khoe mình”; chỉ có những kẻ vô liêm sỉ và cơ hội mới làm điều đó. Nhìn ảnh thì biết Ngô thị Tuyển là một thôn nữ thật thà, chất phác, chị ấy từ chối diễn cũng không có gì là lạ. Lúc đó, để biểu diễn những màn “chiến thắng” nhằm tuyên truyền với báo chí trong và ngoài nước đã sẵn có cô Nguyễn Thị Hằng, người nhờ nhan sắc, nhờ ôm ấp kỹ ông Quang, chỉ huy quân khu tả ngạn, được đưa lên thủ đô. Ở thủ đô, sau khi trở thành bồ non của ông Lê Đức Thọ, cô lại được ông Lê khả Phiêu tổng bí thư đảng bổ nhiệm vào chức Bộ trưởng bộ thương binh xã hội. Dân Thanh hoá có câu: “Cô Tuyển vác đạn, con đĩ Hằng lên ngôi ”

Trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ, có vô số Ngô thị Tuyển. Cả dân tộc sống trong trạng thái Nhập đồng. Làm sao có thể khác được khi phải đối mặt với một địch thủ mạnh hơn mình cả ngàn lần? Hoặc là chết một cách bị động, hoặc phải chịu đựng sự thách thức của lịch sử bằng những nỗ lực vượt lên bản thân và phải biết chấp nhận cái chết một cách chủ động. Có lẽ, nghịch lý này cũng có tính phổ biến nếu ta đọc lại các cuộc chiến tranh từ thời thượng cổ đến ngày nay. Dân tộc Việt Nam không phải dân tộc duy nhất có khả năng tiến hành những cuộc chiến tranh không cân sức, và lòng yêu nước cũng không phải đặc tính riêng biệt của những người cộng sản Việt Nam như ông Tố Hữu tự nhận. Thói tự khoe khoang là biểu hiện của sự vô văn hoá hoặc tính mù quáng. Đáng tiếc thay, trong một thời gian dài, cả xã hội Việt Nam đã tiêm nhiễm thói tự ngạo mù quáng này. Đóng góp đáng kể nhất để tạo nên cái tâm lý ấy là những bài viết của lớp “nhà báo tinh hoa của Đảng” kiểu như ông Thép Mới, và đặc biệt là các câu thơ đầy tính hào nhoáng của ông Tố Hữu:

“Ta đang đứng trên đỉnh cao thời đại”
“Lương tâm nhân loại kí thác vào ta”
“Sứ mệnh của ta là thức tỉnh lương tâm nhân loại”…
Những câu thơ kêu như cả đội kèn nhà binh thổi to hết cỡ, đầy ngập những tính từ như hùng tráng, chói lọi, cao cả… Tôi vốn không thích thơ Tố Hữu nhưng ít nhất, tôi cũng ngỡ những điều ông ta nói có đôi ba phần sự thật. Ai có thể ngờ được khả năng phét lác của “nhà thơ Lớn”, một trong số các rường cột quốc gia? Cuối hè năm 1984, tôi đến Mạc Tư Khoa, thủ đô Liên bang Xô viết, trong phái đoàn gọi là điện ảnh trẻ nhưng trên thực tế toàn những người xấp xỉ sáu mươi, tôi được coi như trẻ nhất cũng sắp 40 rồi. Đó là lần đầu tiên tôi đặt chân đến một xứ sở khác. Đứng trong khách sạn, nhìn xuống đường, gặp đúng lúc một đoàn Việt Nam khoảng ba, bốn chục người đi thành hàng ba bên vỉa hè đối diện. Chắc chắn đó là một đoàn cán bộ được đảng và nhà nước cho phép đi tham quan. Lần đầu tiên tôi bắt gặp hình ảnh thật của đồng bào mình: đó là những con người nhếch nhác, gầy guộc, ngơ ngác, rúm ró trong những bộ complet đen của bộ tài chính cho mượn. Vì phải mặc những thứ quần áo không phải của chính mình, trông họ khổ sở và ngượng nghịu. Vì bước tới một nơi xa lạ, lại không biết tiếng, họ có bộ mặt hoảng hốt, thất thần. Người đi sau phải níu vạt áo người đi trước vì sợ lạc, những người ở hàng trên cùng thì bám sát gót một người Nga, hẳn là người hướng dẫn và cũng là phiên dịch.

Vừa nhìn đám đồng bào khốn khổ của mình, tôi vừa tự nhủ:

“Đây là những người ở rừng ra, những người bị rút kiệt máu sau một cuộc chiến tranh lâu dài và cam khổ. Những người không biết đến sự sống mà chỉ quen đối mặt với cái chết. Giờ đây, giữa ban ngày, giữa đô thị, ở một phương trời khác, họ hiện hình như các bóng ma đi ra từ những miền u tối. Họ là sự cụ thể hoá bộ mặt tàn bạo của chiến tranh. Hình ảnh của họ là hình ảnh tượng trưng cho dân tộc chúng ta, một dân tộc chưa bao giờ được sống thực sự. Một dân tộc sống sót. Một dân tộc kiên trì mơ ước sống, chuẩn bị sống, nhưng cuộc sống với đúng nghĩa của nó chưa đi tới. ”

Và tôi nhớ lại những câu thơ của ông Tố Hữu. Lúc này, những câu thơ ấy vang trong óc tôi như tiếng rít ghê tai của bánh xe lửa nghiến trên đường ray. Lẽ ra, thay vì khoe khoang hão, nhà nước Việt Nam phải chú ý đến đời sống các chiến binh của họ, ít ra lo cho họ được đôi giầy vừa cỡ, được tấm áo vừa lưng, trước khi đưa họ lên tầu. Như thế, không chỉ riêng ông Lê Duẩn mà ông Tố Hữu và rất nhiều lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác cũng mắc bệnh vĩ cuồng, họ ngửa mặt nhìn lên mặt trăng, tưởng mình đang đứng trên mặt trăng trong khi công dân của họ diễu hành trên các hè phố Mạc Tư Khoa như một đám ăn mày. Tôi ngồi chết dí trong khách sạn, khóc. Ông Tô Hoàng, một sinh viên Việt Nam đang theo học tại trường điện ảnh VGIC đến thăm, liền bảo:

“Con mụ này, người ta đi Liên xô thì cười tươi như hoa, mụ thì khóc như bị đi đầy ở Nghệ Tĩnh. Đúng là rồ.”

Tôi không trả lời. Ông Tô Hoàng cũng đã từng đi lính nhưng rất nhanh đã được quay về hậu phương và được chọn ra nước ngoài học. So với thân phận hàng triệu thanh niên thời ấy, ông là kẻ may mắn. Ông chưa từng chứng kiến cảnh những bầy kiền kiền no nê xác lính đến mức không bay lên nổi. Ông cũng không chứng kiến cảnh dân thường chết dưới bom B52 Mỹ. Ông cảm thấy sung sướng khi ở nước Nga là dễ hiểu. Nước mắt của tôi là điều bất khả tri đối với ông.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi thuộc số những người vỡ mộng sớm nhất. Nhưng chỉ vài năm sau, con số những kẻ vỡ mộng tăng lên một cách không ngừng. Đầu những năm 80 sự đói khổ về vật chất là con quỷ hiện hình cả ngày lẫn đêm trên toàn cõi. Đói khổ là món quà chia đều cho toàn dân, trừ một số người nắm quyền. Sự giàu có và xa hoa của một thiểu số cộng sản giống như vòi nước lạnh hắt vào mặt dân chúng. Hiển nhiên là trong dân chúng, có vô số kẻ từ chiến trường cởi áo lính trở về. Như cuốn “Bên thắng cuộc” của ông Huy Đức đã nêu, những người anh hùng lái xe tăng 390 “cắm lá cờ lên dinh độc lập” sau khi giải ngũ, một anh đánh giậm, một anh cắt tóc, một anh lái xe lam, một anh gác đầm cá, sống trong cảnh lam lũ. Tuy nhiên, họ còn cơ may được nhà báo và nhiếp ảnh Pháp Françoise De Mulder trả lại lẽ công bằng vào năm 2003. Nhưng họ chỉ là bốn người, một tuyệt đại thiểu số. Còn hàng triệu người lính khác, khi trở về cuộc sống của dân thường, đối mặt với nỗi đói khổ và sự áp bức của hệ thống cường hào địa phương, lúc đó họ nghĩ gì?

“Chúng ta đổ máu để cho ai?”
Khi ra đi, ai cũng nghĩ là chiến đấu cho độc lập dân tộc nhưng dần dà, mọi người đều ngờ ngợ rằng mình lầm. Người Mỹ không đến chiếm đất đai, không thu hải sản, không bắt dân mò ngọc trai, nộp đá quý. Tóm lại, hoàn toàn không giống cái sơ đồ quen thuộc mà họ đã hình dung về quân Minh, quân Nguyên và quân Thanh. Khi ra trận, ai cũng có ý định ngầm ẩn là thích vào trán hai từ “Sát Thát”. Bây giờ nghĩ lại, cảm thấy có gì đó bất ổn và danh từ “quân xâm lược Envahisseurs” có vẻ như không thích hợp trong trường hợp này.

“Vậy ta chiến đấu để làm gì?”
Để cho chủ nghĩa cộng sản chiến thắng và cụ thể hơn, để mấy ông lớn cộng sản cầm quyền, đó là điều hiển nhiên ai cũng thấy.
Các ông lớn cộng sản giờ nắm trong tay tất thảy chiến lợi phẩm mà xương máu hàng chục triệu người đổi lấy: Trước hết họ nắm trong tay mười sáu tấn vàng của kho Long Thành. Họ nắm trong tay toàn bộ số vàng, kim cương cũng như ngoại tệ của dân miền Nam kẹt trong các nhà băng. Nhưng sau rốt, nguồn tài sản sau đây mới là quan trọng: Họ biển thủ toàn bộ số vàng mà lính áp tải về sau cuộc giải phóng Căm-pu-chia, số lính này quá đông nên họ không thể xử lý biện pháp quen thuộc của vua chúa xưa kia là chôn sống. Những người lính này sau khi giải ngũ đã cất tiếng thở dài:

“Biết thế hồi đó thủ một nắm cho vào túi thì giờ đây đỡ khổ!”
“Bây giờ mới biết mình ngu. Lẽ ra hồi ấy…”
Biết thế! Lẽ ra! Nếu như … Toàn những lời than thở muộn màng.
Tiếng Pháp có một thành ngữ khá hay: Après coup! Người ta chỉ hiểu được sự thật khi mọi sự đã lỡ làng.
Năm 1991, những vụ hoá giá biệt thự xảy ra và khá nhiều người biết đám quan lại như Lê Hãn (con trai trưởng Lê Duẩn), Trần Bạch Đằng, Trần Văn Giàu, Dương Quang Đông… cùng nhiều ông lớn khác bán mỗi biệt thự trên hai ngàn cây vàng bỏ túi. Lúc đó, bà Ngô Bá Thành, đại biểu quốc hội đã kêu lên:

“Thành phố tham nhũng tập thể, cướp công trình của cả dân tộc, chia chác xương máu của cả nước”.

Nhưng bà Ngô Bá Thành cũng như đa phần dân chúng còn không biết đến những nguồn vàng to lớn hơn, quan trọng hơn, mà kẻ cầm quyền đã chia chác trong bóng đêm.

Nỗi đau khổ chiến tranh, toàn dân phải gánh chịu, nhưng bộ phận chịu đựng sự mất mát lớn nhất vẫn là những người cầm súng và gia đình họ. Vào khoảng 2004, 2005, một tờ báo công nhận con số mất tích trong chiến tranh là trên 900.000, có nghĩa là ngót nghét một triệu. Nhà cầm quyền có thể công bố con số giả về sự tử vong nhưng con số mất tích thì khó bôi xoá vì sau chiến tranh hai, ba chục năm, những gia đình có con em mất tích vẫn tiếp tục khiếu kiện và đi tìm thân nhân của họ. Trong lúc đó, khoảng cách giữa các ông lớn cầm quyền với dân chúng càng ngày càng xa, giống như bờ đất lở.

Từ xưa đã có câu: “Tình đời thay trắng đổi đen.”

Không có gì cũ hơn và cũng chẳng có gì mới hơn là sự bội phản của người với người.

Lúc cần làm cuộc chiến tranh, ban tuyên huấn trung ương đảng tìm được cả một đội quân tuyên truyền để ngợi ca người lính. Thêm vào đó, không kể những người ăn lương để làm “tâm lý chiến” còn vô số người sáng tác theo chính cảm hứng và nhận thức của mình. Ý chí chống ngoại xâm vốn là nguồn cảm hứng cỗi rễ của một dân tộc không ngừng tranh đấu để giành quyền tự chủ như dân Việt Nam. Cố nhà văn Nguyễn Minh Châu viết cuốn “Dấu chân người lính”, cuốn sách thuộc loại best-seller đầu bảng lúc ra lò. Nhạc sĩ Vũ trọng Hối viết ca khúc tuyệt đẹp:

“Ta vượt trên triền núi cao Trường sơn.
Núi mòn mà đôi gót không mòn…”
Nguyễn Minh Châu, Vũ Trọng Hối không phải bị cưỡng chế mà viết, họ viết với tất cả sự chân thành và niềm cảm hứng. Cũng như những người lính khác bước vào chiến đấu, họ sáng tác trong trạng thái Nhập đồng, hoặc nói văn vẻ hơn, trạng thái Siêu tuyệt (Transcendance). Lúc đó, chưa ai có đủ từng trải lẫn thông tin để hiểu sự thật.

Hơn một thập kỷ sau, vào năm 1985, Nguyễn Minh Châu (sinh năm 1930) hẳn đã vỡ mộng nên đã nói với tôi trên trại sáng tác Đại Lải của Hội nhà văn:

“Mình xui con người ta đi vào chỗ chết. Biết đâu sự thể nó lại ra thế này?…”

Rồi anh thở dài và im lặng. Nguyễn Minh Châu vốn là người kín đáo, thường tự nhận một cách công khai trước đồng nghiệp:

“Tôi nhát lắm, tôi sợ chết lắm. Vua chúa châu Á vốn coi nhà văn ngang với bọn ăn mày. Chúng ta phải biết thân biết phận.”

Tuy sợ chết, anh vẫn không tránh được cái chết. Chừng vài năm sau ngày gặp tôi trên trại viết văn Đại Lải, anh chết vì ung thư máu, do nhiễm chất độc màu da cam trong chiến trường Quảng trị. Đó là một nhà văn quân đội, đã từng sống khá lâu với lính Trường sơn. Tuy nhiên, anh chết sớm còn là may, nếu sống thêm một vài năm nữa, anh sẽ phải chứng kiến sự phản bội tàn độc của những kẻ cầm quyền đối với binh lính, và con tim nhút nhát của anh sẽ phải dày vò quằn quại một cách dữ dội hơn nếu anh thấy những người anh hùng năm xưa “Xẻ dọc trường sơn đi đánh Mỹ” đã biến thành “Những thằng tù không số, bị giết dần trong các nhà giam”.

Đó là sự kiện xẩy ra cuối thập kỷ 80, gần như cùng lúc với vụ Thiên An Môn ở Trung quốc.

Tôi tạm gọi là Thiên An Môn Việt Nam.

Vì sao lại là Thiên An Môn?
Vì bản chất sự việc cũng là một cuộc tàn sát dân chúng để bảo vệ nền chuyên chính và số lượng người thiệt mạng cũng ngang ngửa với vụ Thiên An Môn xẩy ra ở Tầu.
Thời đại của chúng ta là thời đại truyền thông.
Thiên An Môn Trung quốc có cơ may được biết đến vì nó xảy ra giữa ban ngày, tại Bắc kinh, nơi báo chí thế giới làm việc. Nhà cầm quyền Trung quốc vốn cứng rắn, không thèm đếm xỉa tới dư luận nước ngoài nên họ không che giấu hoặc nguỵ trang cuộc tàn sát dân chúng. Như thế, nhân loại biết được sự kiện này nhờ thói ngạo mạn của ông vua Đặng tiểu Bình.

Ngược lại trăm phần trăm, Thiên An Môn Việt Nam xẩy ra trong bóng đêm, tại các tỉnh, trước hết là Thái Bình, nơi các phóng viên báo chí thế giới bị ngăn cấm đi tới. Nhà cầm quyền Việt Nam không dám ngỗ ngược thách thức dư luận thế giới như các bậc đàn anh Trung Hoa, họ chọn con đường mềm dẻo hơn, khôn ngoan hơn và hiệu quả hơn. Số người bị chết trong cuộc tàn sát này là khoảng giữa một ngàn với hai ngàn, có nghĩa là bằng số người bị bắn chết trên quảng trường Thiên An Môn nhưng sự giết chóc diễn ra từ từ, lặng lẽ, trong các trại giam khác nhau, không một tiếng kêu nào lọt được ra ngoài, không một ống kính thu hình nào ghi lại được. Nhà cầm quyền Việt Nam, hành động theo truyền thống du kích, có nghĩa là ẩn mình trong bóng tối, nói cách khác, họ thực thi các biện pháp độc ác một cách uyển chuyển của loài rắn rết (à la façon reptilienne). Họ thành công tuyệt đối. An toàn tuyệt đối. Tuy nhiên, cũng vì không thể giết hết gia đình của các cựu chiến binh nên những người như chúng tôi mới có thể điều tra về cuộc tàn sát này.

Tôi xin kể vắn tắt:
Thời gian ấy, tôi vẫn thường gặp gỡ các ông Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang. Một bữa, ông Độ bảo:
- Mấy hôm nay họ tăng cường số công an gác cửa nhà tôi. Họ nghi cô với tôi chỉ đạo cuộc nổi dậy của các cựu chiến binh ở Thái Bình.
- Vì sao? Tôi hỏi.
Ông Trần Độ trả lời:

- Tại vì cô là dân Duyên hà còn tôi là dân Tiền hải. Chúng ta đều có gốc ở tỉnh Thái lọ. Thêm nữa, tôi là tướng còn cô cũng là dân từ Quảng bình khói lửa trở về. Họ cho rằng chúng ta xúi giục cựu chiến binh.

Tôi nói:
- Tôi có biết gì đâu. Đã gần một tháng nay tôi ngồi viết, không tiếp xúc với ai, không rời khỏi nhà quá một trăm mét. Hành trình của tôi chỉ bao gồm từ tầng ba khu chung cư xuống mặt đường rồi lại leo lên. Vài ngày một lần tôi xuống đường mua thực phẩm. Tuy nhiên, nếu họ đã ngờ vực tôi xúi giục cuộc khởi dậy này, tôi sẽ điều tra sự thật về nó, như thế, để khỏi phụ lòng bộ nội vụ Việt Nam.

Ông Độ bảo:
- Nhưng cô cũng bị theo rõi mà.
Tôi đáp:

- Đương nhiên. Nhưng bọn công an không thể theo rõi tôi 24 trên 24, buổi tối chúng nó phải về chăm con và ngủ với vợ. Vả chăng, trước kia Việt minh hoạt động du kích ra sao thì bây giờ tôi cũng hoạt động du kích đúng như vậy. Thêm nữa, tôi không phải một mình cho dù các nhà báo Pháp đặt cho tôi biệt danh “Con sói cái đơn độc”. Không ai có thể chiến đấu một mình trừ các vị thánh. Tôi không phải là thánh, tôi là người.

Phong trào đấu tranh của các cựu chiến binh tỉnh Thái Bình khởi dậy ở Quỳnh Lưu, một trong các xã nghèo nhất tỉnh. Ở đây, chính các cựu chiến binh là những người đầu tiên phát hiện ra các vụ “thu thuế đểu” của bọn hào lý. Họ phát động dân chúng lên thành phố biểu tình, yêu cầu tỉnh uỷ trả lại dân các món tiền thu khống. Dường như ở tất cả các xã, cựu chiến binh đều là lực lượng đầu tầu hướng dẫn dân chúng đấu tranh. Phong trào nhanh chóng lan sang các huyện khác. Rồi từ tỉnh Thái Bình, cuộc biến động lan sang Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định và một phần Quảng Ninh. Lúc đó, có khá nhiều nhà báo nước ngoài đòi xuống các tỉnh để xem xét tình hình. Công an Hà Nội trả lời một cách mềm mỏng:

“Xin các vị chờ một vài ngày để chúng tôi sắp xếp phương tiện đi lại. Nếu các vị đi bây giờ e rằng mất an toàn.”

Họ khất lần như vậy. Ngày nọ qua ngày kia, đám nhà báo mất kiên nhẫn. Việt Nam đã bị lãng quên, chẳng có gì đáng làm một cuộc đầu tư lớn, kể cả thời gian lẫn tiền bạc. Các điểm nóng của hành tinh đã chuyển sang vùng đất khác. Vậy là, các phóng viên nước ngoài, sau một hồi chờ đợi mỏi mệt, người nọ theo người kia lần lượt leo lên thang máy bay. Một khi, không còn ống kính báo chí nào ở Hà Nội, chính quyền lập tức tổ chức một cuộc bắt bớ rầm rộ ở khắp các địa phương. Đương nhiên, số lượng người bị bắt nhiều nhất vẫn là ở Thái Bình. Nửa đêm, xe hòm thép của công an ập vào từng làng, dưới sự dẫn đường của cán bộ xã, lôi những “kẻ đầu sỏ” các cuộc biểu tình lên xe, trước tiếng kêu la gào thét của thân nhân lẫn láng giềng. Không cần tuyên bố, cũng chẳng có cáo trạng, các cuộc bắt bớ này diễn ra giống hệt các cuộc vây ráp, khủng bố của thực dân Pháp trước đây nếu không muốn nói là còn tàn bạo hơn. Sau đêm ấy, gia đình các cựu chiến binh không có cách nào liên lạc được với thân nhân của họ. Những ông bố, bà mẹ, những người vợ hội họp nhau để đi kêu cứu. Nếu ai sống ở Hà Nội vào thời gian đó, sẽ nhớ rằng có những ngày đột nhiên con phố Trần Bình Trọng bị bít kín hai đầu, ngăn xe qua lại. Ấy là vì thân nhân các cựu chiến binh biểu tình ở cổng bộ nội vụ (số 15 Trần bình Trọng), đòi trả lời về những người bị bắt. Không ai đánh đập họ nhưng cũng không ai tiếp họ. Đám dân khốn khổ ngồi giãi nắng qua trưa, được các quan lớn phát một chiếc bánh mì rồi tống lên xe tải chở về Thái Bình. Nhưng đến nửa đường, lái xe dừng lại (đương nhiên là theo lệnh bề trên), đuổi đám dân quê xuống, bắt buộc họ phải đi bộ bốn năm chục cây số mới về đến làng. Tình trạng giao thông ở Việt Nam thời ấy vô cùng tồi tệ và khoảng cách là một trở ngại mà con người, trước hết là các nông dân, không đủ phương tiện, không có tiền nong, khó có thể vượt qua. Như thế, qua vài lượt, những người dân quê cạn kiệt hơi sức, cũng chẳng còn tiền mua vé xe lên Hà Nội tranh đấu nữa. Họ đành phải câm lặng chịu đựng. Chịu đựng, vốn là thói quen cố hữu của dân Việt Nam.

Trong lúc ấy, số phận những cựu chiến binh ra sao?


Vỡ mộng. Nguồn: Orangeya’s photostream
Họ bị phân bố vào các nhà tù khác nhau nằm rải rác trên toàn quốc, người nọ không còn liên lạc được với người kia. Sau vài tuần, họ bị chuyển đến sống trong các trại giam dành cho bọn tội phạm đặc biệt, những kẻ mang án chung thân hoặc ít nhất hai mươi lăm năm tù, những kẻ hung hãn, giết người không ghê tay. Ở đó, họ được thanh toán một cách dần dà bởi chính đám tù này. Giết một cựu chiến binh, án được giảm hai năm. Giết hai, án được giảm bốn năm. Tỷ lệ cứ theo thế mà nhân lên, càng giết được nhiều, càng nhanh được giải phóng. Vì thế, cuộc tàn sát trở thành một “sự nghiệp quan trọng” một cuộc “đua tranh” của bọn tội đồ. Chúng giết họ theo nhiều kiểu khác nhau. Nhưng cách được xử dụng nhiều nhất là “cắm đũa”. Vì trong trại giam, những vật được coi là vũ khí đều bị cấm nên đám quản giáo chỉ thị ngầm cho bọn phạm là chỉ sử dụng các vũ khí đặc biệt “tiện lợi, nhẹ gọn”. Phương tiện hữu hiệu nhất là đũa tre. Những chiếc đũa được vót bằng tre đực già, cứng như sắt, một đầu được mài nhọn như kim, đầu kia để tù kiểu như đầu một que đan. Khi đã có được thứ “kiếm tre” này, bọn tội phạm rình lúc các cựu chiến binh ngủ say, ấn đầu đũa nhọn vào lỗ tai họ đồng thời dùng mu bàn tay hoặc một hòn đá quả xoài thay cho chiếc búa, đóng thật mạnh vào đầu tù của chiếc đũa cho nó xuyên từ tai nọ sang tai kia. Người bị hại chết ngay tức khắc, chết không một tiếng kêu. Kiểu chết này là thứ sáng tạo vô cùng độc đáo của công an Việt Nam đáng được ghi vào sử sách. Những người cựu chiến binh, đám anh hùng Trường Sơn năm xưa, những chàng trai “vừa ca hát vừa đi vào chiến trường” đã được Đảng thân yêu của họ xử lý theo cách đó.
Trong nhóm đấu tranh của tôi có một người cũng là cựu chiến binh, trong chiến tranh Việt-Mỹ đã hai lần được đề bạt là anh hùng và cả hai lần đều trượt vì mắc tội chửi cấp trên là: “Lũ chó, chúng mày ham thành tích, chúng mày giết lính”.

Lúc xảy ra vụ Thiên An Môn Việt Nam, anh rất lo cho số phận một người đồng đội cũ nên đến Quảng Ninh tìm. Anh bạn Quảng Ninh nổi tiếng là một tay thiện xạ trong chiến tranh, ngực treo đầy huân chương, may mắn không bị bắt vì suốt thời gian xảy ra cuộc biến động phải ở trong bệnh viện nuôi đứa con bị bệnh nặng. Nhưng hai người bạn thân nhất của anh đã chết trong tù. Người cựu chiến binh này đã để nước mắt rơi lã chã và nghiến răng nói:

“Những viên đạn của tôi bay lạc. Đáng lẽ chúng phải găm vào đầu những thằng khác.”

Đáng lẽ!…
Đây là sự vỡ mộng của một người lính bị phản bội. Sự vỡ mộng ấy kèm theo ước muốn trả thù, nó bạo liệt hơn hơn tất thảy các trạng thái vỡ mộng thông thường, chỉ bộc lộ bằng những tiếng thở dài ảo não.
*****
Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ là cuộc chiến tranh mà truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã bị lạm dụng ở mức tối đa.

Xương máu của lính và dân đổ xuống đã xây nên bức tường thành theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa thực.

Bức tường thành đồ sộ ấy có thể là khải hoàn môn cho người này và là cổng vào địa ngục cho người kia, tuỳ theo cách nhìn của họ.

Đối với tôi, đó là bằng chứng kinh khủng nhất cho sự nhầm lẫn của con người.

Paris ngày 11 tháng 2 năm 2013.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

TC: Gậy Ông Đập Lưng Ông

Tác giả : Vi Anh

Trung Cộng - cái kiểu đánh võ mồm đơn phương tuyên bố vùng nhận dạng phòng không ở Đông Bắc Thái Bình Dương và tung chiếc hàng không cổ lổ sỉ duy nhứt Đông Nam Thái Bình Dương của TC - vô tình là một đòn gậy ông đập lưng ông đối với TC.

Sự kiện này giúp cho Mỹ củng cố và tăng cường mặt trận của Mỹ bao vây TC, và mặt khác các nước Á châu Thái Bình Dương tăng cường võ trang phòng chống TC, biến TC trở thành một siêu cường võ biền, cô đơn chuyên gây hấn trên thế giới.

Sưu tầm lịch sử cho biết chiến thuật và khái niệm nhận dạng phòng không là sáng kiến quân sự của Mỹ, do chính Mỹ sáng chế ra. Ban đầu bao gồm không gian Bắc Mỹ và chánh yếu nhắm vào Liên Xô. Sau đó từ năm 1950 trở đi Mỹ kiểm soát luôn các khu vực Tây Thái Bình Dương, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Mỗi nước trong vùng đã tự tạo vùng phòng không riêng cho mình nhưng dưới sự kiểm soát chung của Mỹ.

Bây giờ TC tính dùng cây gậy mây của Mỹ để giành quyền kiểm soát trên biển và trên không đối với các nước nằm trong vùng bánh trướng của “giấc mộng Trung Hoa’” mà Ô Tập cận Bình muốn tô lục chuốt hồng cho thời đại CS của mình, như Ô Mao trạch Đông đã dùng quyển sách ‘Đông Phương Hồng’ đẫm máu của mấy chục triệu người Trung Hoa, hàng chục triệu người sắc tộc bị thôn tính đất nước để xây dựng triều đại Mao.

Nhưng lực bất tòng tâm, chưa nắm vững bí quyết, chưa đủ thần công lực, TC bị tẩu hoả nhập ma, nên bị phản tác dụng. Gậy TC định dùng đánh người khác bị tác dụng boomerang trở lại đập vào lưng TC, như tục ngữ VN nói ‘gậy ông đập lưng ông’.

Phản tác dụng của trận võ mồm của TC có thế thấy rõ qua phản ứng của Mỹ và các nước Á châu Thái Bình Dương. Phủ Tổng Thống Mỹ tuyên bố Mỹ không chấp nhận, không thừa nhận vùng nhận dạng phòng không của TC. Nhựt, Nam Hàn cũng thế. Trên trời Mỹ cho hai pháo đài bay chiến lược B52 bay qua vùng phòng không TC vừa tuyên bố, sau đó cả chục chiếc chiến đấu cơ của Nhựt và Nam Hàn bay theo, mà không nói một tiếng nào với TC. Dưới biển Mỹ cho hàng không mẫu hạm nguyên tử tập trận cách vùng này khong bao xa.

Quá mất mặt trước áp lực của các công dân TQ theo chủ nghĩa thượng tôn dân tộc của Trung Quốc, TC cho báo bán chính thức của Đảng Nhà Nước là Hoàn Cầu Thời Báo loan tải, rằng không quân TC giám sát các chuyến bay trong vùng phòng không. Và còn chia rẽ Mỹ và Nhựt với câu thòng rằng kế hoạch nhận dạng phòng không của TQ là nhắm vào Nhựt.

Phó Tổng Thống Mỹ nhơn chuyến công du Á châu đã sắp đặt trước, ghé Nhựt tái khẳng định lập trường của Mỹ rằng vùng đảo Senkaku mà TC tranh chấp là thuộc lãnh thổ Nhựt, Mỹ sẽ bảo vệ Nhựt khi có xung đột trên vùng này.

Đây là một cuộc phối hợp nhịp nhàng của Mỹ và hai đồng minh chánh yếu của Mỹ là Nhựt và Nam Hàn, hai nước Mỹ có hàng mấy chục ngàn quân đang hiện hiện. Ngay sau chuyến đi của Phó TT Mỹ Biden, người ta thấy Nam Hàn tuyên bố vùng nhận dạng phòng không mới, được nới rộng, chồng lấn với khu vực phòng không mà Trung Quốc mới loan báo, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 12.Trong đó có bãi đá ngầm trong các vùng biển ngoài khơi bờ biển miền Nam của Bắc Hàn, mà Trung Quốc gọi là Suyan.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết, chính phủ Nam Hàn đã tham khảo ý kiến của Washington về quyết định này, kể cả một cuộc họp hôm thứ Sáu, giữa Phó Tổng Thống Joe Biden và Tổng Thống Nam Hàn Park Guen Hye ở Seoul.

Nhựt tuyên bố quyết định của Hàn Quốc không phải là một vấn đề ở Nhật Bản. Lý do là theo ông Yoshihide Suga, Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản, thì vùng phòng không của Hàn Quốc là “một trường hợp hoàn toàn khác biệt với vùng mà Trung Quốc mới thành lập vì nó không xâm phạm không phận, lãnh hải và lãnh thổ” của Nhật Bản.

Còn Đài Loan, Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cữu lâu nay có tương quan khá hữu hảo với TC, ít khi chống đối đà bành trướng của TC, nhưng trong vụ này Ông lên tiếng vùng nhận dạng phòng không do Đài Loan phân định vào những năm 1950, và vùng nhận dạng phòng không do Trung Quốc đại lục tuyên bố chồng lấn nhau 23,000 km vuông.

Tổng thống Mã cho biết, những hoạt động diễn tập quân sự của Đài Loan trong khu vực này, sẽ không bị ảnh hưởng bởi quyết định của Trung Quốc.

Còn về phía TC trước những phản ứng không khoang nhượng của Mỹ và Nhựt cùng Nam Hàn, TC dịu giọng. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Ông Hồng Lỗi tuyên bố: “Trung Quốc lấy làm tiếc về quyết định mở rộng vùng phòng không của Hàn Quốc. Trung Quốc sẽ duy trì liên lạc với Hàn Quốc, dựa trên nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Hy vọng rằng Hàn Quốc cũng sẽ có hành động tương tự”.

Đến đây có thể thấy chính chiến thuật mở rộng vùng nhận dạng phòng không của TC làm cho các nước đồng minh và thân thiện với Mỹ đoàn kết hơn, củng cố chặt hơn trong mặt trận Mỹ bao vây TC trên bờ đông Thái Bình Dương. Và dư luận ngoài vùng như Tây Âu, Úc kể cả Nga tỏ ra rất bất bình và đề phòng tính hiếu chiến và ngang ngược của TC.

Các nước Á châu Thái Bình Dương đã đang chạy đua võ trang phòng chống TC, sẽ thêm lý do tăng cường quân sự, mua thêm vũ khí biến Á châu Thái bình Dương rơi vào tình trạng “hoà bình võ trang” (paix armée) như ở Âu châu trong những năm 1871- 1914, chuẩn bị cho Đệ Nhứt Thế Giới Đại Chiến.

TC đặt các nước láng giềng vào cái thế phải chạy đua võ trang để phòng thủ. Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Thế giới Stockholm (SIPRI), Á châu là khu vực nhập cảng võ trang lớn nhất từ năm 2007 – 2011.

Mỹ là nước chạy đua võ trang ở Á châu Thái Bình Dương nhiều nhứt. Nhưng Mỹ không phải mua sắm. Mỹ chỉ chuyễn trục quân sự, chuyển 60% hải lực và không lực trên thế giới về đây. Mỹ không tốn kém hụt hơi như TC. Mỹ không cần tăng ngân sách vì đó là quân cơ hữu, chỉ chuyển vùng thôi, ở đâu cũng tốn kinh phí điều hành. Trái lại Mỹ rất có lợi kinh tế chánh trị và quân sự. TC với hành động bành trướng ngang ngược, đã đẩy các nước Á châu Thái bình Dương vào vòng tay Mỹ. Đa số các nước này coi sự trở lại và hiện diện của Mỹ như một lá chắn, một bảo đảm an ninh, trật tự trong vùng, nhưng Mỹ không có tham vọng đất đai như TC.

Ngoài ra Mỹ còn bán được vũ khí rất nhiều cho các nước này trước mối lo đối với TC. Vô tình TC giúp cho Mỹ trở lại Á châu trong cảm tình, mong mỏi của các nước Á châu Thái bình Dương.

Theo các nhà quan sát chiến lược, TC phô trương sức mạnh quân sự ra Á châu Thái Bình Dương, một là để tuyên truyền quốc nội với xã hội quá nhiều bất ổn định, bất công, chia rẽ có thể nổ bùng hay nổ chụp tan tành chế độ CS. Hai là để hù doạ các nước nhỏ trong vùng Đông Bắc Á, Đông Nam Á mà thôi.

Cái kiểu giương oai diệu võ đó không làm các nước nhỏ này sợ mà thúc đẩy các nước này kiện toàn phòng thủ quân sự, liên minh chặt chẽ với Mỹ hơn. Còn muốn đối đầu với Mỹ về không quân và hải quân, có lẽ TC cần nửa thế kỷ nữa hoạ may mới dám đụng chạm Mỹ về quân sự./.(Vi Anh)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Nụ cười Dương Chí Dũng

Lê Diễn Đức

Khi nhận chức thủ tướng vào ngày 27/06/2006, ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố nếu không ngăn chặn được tham nhũng thì ông ta sẽ từ chức.

Image
Dương Chí Dũng ngày 14/12/2013 - Ảnh: Vietnamnet
Lời tuyên bố đó trở thành sự dối trá, vô liêm sỉ vào loại thượng thừa. Tham nhũng không những chẳng giảm đi mà còn phát triển mạnh mẽ, tinh vi và xảo quyệt hơn nhiều. Ông Dũng chẳng những không từ chức mà còn làm tiếp nhiệm kỳ thứ hai vì được "đảng phân công", chứ ông ta không xin xỏ ai cả! Những vụ tham nhũng nặng nề nhất, rõ ràng nhất, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế đât nước đều rơi vào hai nhiệm kỳ của ông Nguyễn Tấn Dũng.

“Tham nhũng nguy hiểm và khó chịu vì đã thành khá phổ biến. Nó thành đường dây có tổ chức rồi, chứ không còn từng người một người ăn mảnh nữa", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thú nhận như vậy, theo tờ Thanh Niên Online 6/12/2013.

"Tất cả cũng do đồng tiền, chạy theo lợi nhuận, coi thường giá trị con người. Đồng tiền chà đạp xuyên cả vào giáo dục, y tế, công tác đào tạo cán bộ. Cái gì cũng phải bôi trơn, cái gì cũng phải lót tay", cũng lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trên tờ Infonet ngày 7/12/2013.

Tham nhũng là tội phạm kinh tế. Đã thành một "đường dây có tổ chức" thì cả hệ thống chính trị tất nhiên phải là một băng đảng tội phạm có tổ chức. Điều này đã được tôi đề cập tới trong bài viết "Đảng Cộng sản Việt Nam không khác một băng đảng tội phạm có tổ chức" khi nói về sự đàn áp dân chúng của nhà cầm quyền đã được côn đồ hoá.

Tội phạm từ lĩnh vực hình sự chuyển qua kinh tế, nó là sự kết gắn tất yếu, là hành vi không tách rời nhau, liên kết hữu cơ với nhau trong một bộ máy mà tất cả quyền lực tập trung vào những nhóm lợi ích, thân hữu của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN).

Một bộ máy cai trị như thế sẽ phá nát các chuẩn mực đạo đức xã hội, huỷ diệt lòng tin vào cơ quan nhà nước, hướng dân chúng tới việc xử lý các tình huống theo luật giang hồ, bất chấp pháp luật. Các vụ dân đứng ra tự xử như đánh chết người chỉ vì ăn trộm chó, hay bao vây bệnh viện vì bác sĩ tắc trách làm chết người do không có phong bì, là những kết quả thực tế của bộ máy ấy.

Trong đề tài nghiên cứu hồi tháng 4/2013, Ủy ban Kiểm tra Trung ương ĐCSVN đã thừa nhận:

"Nhóm lợi ích và lợi ích nhóm theo xu hướng tiêu cực như một hiện tượng bùng nổ không chỉ thuần túy xuất hiện rất "nóng" về ngôn ngữ, mà là sự phản ánh thực tiễn có vấn đề như hiện tượng giàu lên rất nhanh, có nhiều nhà đất và có khối lượng lớn về tài sản, tiền bạc của một số cán bộ có chức, có quyền trong một số cơ quan nhà nước".

"Nhóm lợi ích và lợi ích nhóm là hiện tượng gắn kết giữa một số doanh nghiệp với những người có quyền lực tạo thành mối quan hệ ngầm chi phối xã hội, làm méo mó chính sách. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay phải dành nhiều tiền bạc và thời gian để chăm sóc cho các mối quan hệ với quan chức nên tạo ra một môi trường kinh doanh không lành mạnh".

Vinashine, Vinaline nằm trong số gần 20 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh dưới sự quản lý trực tiếp của ông Nguyễn Tấn Dũng. Các vụ lạm quyền, tham nhũng, mua những con tàu nát, ủ nổi xài rồi của hai công ty này nằm vào thời kỳ khi Nguyễn Sinh Hùng còn làm Phó Thủ tướng thường trực, Bộ trưởng tài chính. Mọi chi tiêu từ ngân sách, vay tiền, phát hành trái phiếu cho các dự toán đều được trình và duyệt qua hai ông này. Những ngày khởi công xây dựng hoành tráng các công trình đều có sự tham dự của ông Nguyễn Tấn Dũng, cổ cồn ca-vát, chén tạc chén thù.

Từ một thông tin nội bộ, tôi được biết rằng, trong các ghế của nội các Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, ghế Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có giá cao nhất, lên tới hàng chục tỷ đồng. Cũng không có gì ngạc nhiên khi biết rằng, Bộ Giao thông là nơi thực hiện những dự án công cộng quan trọng nhất, nhiều tìền nhất từ ngân sách và chiếm hầu hết vốn viện trợ phát triển ODA. Những đại lộ, đường cao tốc, cầu cống, bến cảng, sân bay đều thuộc danh mục đầu tư của Bộ Giao thông.

Trong ngày 31/10/2013, Bộ Giao thông - Vận tải chính thức thông báo việc chuyển Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) thành Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC), trên cơ sở tổ chức lại công ty mẹ và một số đơn vị thành viên.

Từ một doanh nghiệp thua lỗ chồng chất, nợ trên 80.000 tỷ đồng (khoảng 4 tỷ USD), Vinashin lột xác thành một doanh nghiệp hoàn toàn mới, không có lỗ lũy kế, có vốn điều lệ 9.520 tỷ đồng. Ngành nghề chính vẫn là đóng mới tàu thủy, hoán cải tàu thủy, tư vấn, thiết kế tàu thủy… 600 triệu USD nợ Thuỵ Sĩ của Vinashine biến thành trái phiếu có bảo lãnh của chính phủ là một ví dụ quăng phao cứu bồ và tránh kiện tụng quốc tế. Thế mới thấy mối quan hệ mật thiết như thế nào giữ ekíp của ông thủ tướng với toàn bộ phần còn lại. Một phép thuật ma quái cho "ve sầu thoát xác"!

Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) hiện đang gánh khoản nợ 321 triệu USD và lên tới hàng tỷ USD nếu tính cả các công ty thành viên. Mà phải tính cả các thành viên chứ, tập đoàn mà! Tiền nợ chủ yếu rót vào đầu tư các dự án cảng, mua sắm tàu, đặc biệt trong giai đoạn phát triển nóng (2007 - 2008).

Cái ụ nổi 83M mà Vinalines mua đã qua sử dụng 43 năm, vượt 28 năm so với quy định. Giá mua ụ nổi và chi phí sửa chữa hai lần tại Việt Nam là 489,6 tỉ đồng (khoảng 26,3 triệu USD), tương đương 70% giá đóng ụ nổi mới.

Ăn chặn từ khoản chênh lệch của ụ nổi khoảng 10 tỷ đồng, lấy tiền mua căn hộ tặng gái chân dài, mới chỉ là một mặt xích nhỏ, còn hàng chục, thậm chí trăm triệu đô la khác biến thành nước khi rót vào những con tàu nát, những dự án cảng không hiệu quả, v.v... đã không được đề cập tới.

Tham nhũng là loại tội phạm khó có nhân chứng và bắt được quả tang, bởi vì nó là thứ luật bắt buộc bất thành văn, được thực thi dưới gầm bàn, ở cổng sau nhà riêng, trong dinh thự thông qua vợ con, được đưa vào các tài khoản hay bất động sản ở nước ngoài sau khi được rửa sạch sẽ.

Phiên toà xử Dương Chí Dũng, cựu chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines, và các đồng phạm, có vẻ ầm ĩ nhưng chỉ là màn kịch xoa dịu dư luận, mị dân. Một phiên toà chỉ nhìn thấy công an, không có dân thường tham dự. Con rắn vẫn không mất đầu. Dù án tử hình cho Dương Chí Dũng được công bố thì ra toà phúc thẩm cũng sẽ giảm xuống chung thân và sẽ giảm nhanh chóng nữa theo chiều thẳng đứng qua các dịp lễ, tết. Cuộc sống của các "đại gia" trong tù chỉ mất tự do, nhưng có thể xem như kỳ đi nghỉ mát, mọi điều kiện ăn ở, vật chất đều được cung cấp đầy đủ.

Thế nhưng trong ngày 14/12, Dương Chí Dũng đã đề nghị gặp đích danh ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban Nội chính Trung ương, Phó ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, để cung cấp các bằng chứng bí mật liên quan đến một vị lãnh đạo cao cấp trong việc trực tiếp chỉ đạo các hành vi tham nhũng tại Vinalines.

Tình thế này rất có thể làm đảo ngược kịch bản, ăn thua ông Nguyễn Bá Thanh nắm được cái gì và có đủ bản lãnh và thực lực để "hốt" hay không! Qua hai hội nghị Trung ương ĐCSVN lần thứ 6 và 7, cho thấy ông Thanh không đủ sức trước một đối thủ nặng ký.

Và cũng rất có thể, sự việc này càng thúc đẩy bản án tử hình và sẽ được thi hành nhanh hơn như của Phạm Huy Phước trong vụ án Tamexco năm 1998, nhằm bịt đầu mối. Trong thực tế, khui ra đầu mối không dễ dàng vì rất khó chứng minh bằng tư liệu. Có ai là người định đoạt số phận của người khác lại tin lời của kẻ phạm tội?

Tuy nhiên, nhìn nụ cười vui vẻ của Dương Chí Dũng khi nói chuyện với sĩ quan công an tại toà, chúng ta có thể hình dung được toàn bộ bối cảnh của một màn trình diễn lố bịch.


Dương Chí Dũng cười đọc thơ - Ảnh: TT Online


Mấy câu thơ mà Dương Chí Dũng nổi hứng, bình thản đọc trước toà như một trò đùa, hài hước, nhạo báng công lý:

"28 năm qua lại trở về
Với người hàng hải nặng thề năm xưa
Dưới cờ Đảng nguyện cùng đưa
Con tàu hàng hải đến bờ vinh quang"
Sửa lại cho đúng:

Dưới cờ Đảng đã cùng đưa
Con tàu hàng hải xuống mồ diệt vong!


© Lê Diễn Đức
Theo blog RFA
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Để tưởng nhớ một ngôi sao vừa tắt Nghệ sĩ Việt Dzũng
Suốt hơn ba mươi năm nay, Việt Dzũng là một cái tên quen thuộc với hầu hết mọi người Việt đang sinh sống ở hải ngoại, kể cả rất nhiều người dân trong nước cũng biết đến tên anh..Nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai viết cho thật đầy đủ về người nghệ sĩ đa tài này và những đóng góp to lớn của anh trên nhiều lãnh vực khác nhau, nhứt là trong địa hạt ca nhạc và truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, anh cũng thường xuyên là đề tài cho các tờ báo trong nước tấn công từ hơn hai chục năm nay, với những lời vu cáo, mạ lỵ nhằm dìm anh xuống đáy vực sâu.

Nhưng người nghệ sĩ và chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền này vẫn mane dạn vượt qua tất cả những khổ nạn chập chùng, oan khiên chất ngất và càng ngày anh càng được nhiều người yêu mến anh thêm. Cũng chính biến cố 30 tháng tư năm 1975 cùng với sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đưa Việt Dzũng rời xa quê hương mà cho đến nay chưa một lần nào anh đặt chân trở lại. Cùng với 36 người chen chúc nhau trên một chiếc tàu nhỏ bé, mong manh, Việt Dzũng và bà ngoại của anh đã vĩnh viễn rời xa gia đình và đất nước Việt nam. Sau 22 ngày trên biển khi không còn thức ăn, nước uống, cũng như phải chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đau thương trên biển cả, tàu của họ mới cập được bến Singapore. Nhưng liền sau đó, tất cả lại bị chuyển qua một chiếc tàu khác và thẳng đường tới trại tị nạn Subic ở Phi Luật Tân.

Chính những kinh nghiệm sống trên đường vượt biển tìm tự do này đã khiến cho anh sáng tác rất thành công các ca khúc để đời sau này, mà tiêu biểu nhất vẫn là “Lời Kinh Đêm” với những câu ca: … “Thuyền trôi xa … về đâu ai biết ? Thuyền có về …ghé bến tự do ? Trời cao xanh … hay trời oan nghiệt Trời có buồn … hay trời vẫn làm ngơ ?… … Người buông xuôi về nơi đáy nước Người có mộng một nấm mồ xanh ? Biển ngây ngô hay biển man rợ Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ …?” Chưa đầy 17 tuổi mà đã rời xa mái ấm gia đình, bỏ lại sau lưng tất cả những người thân yêu, bè bạn, mái trường yêu dấu với những sinh hoạt vui tươi của tuổi học trò.

Chắc chắn là có những khoảnh khắc anh Nguyễn Ngọc Hùng Dũng chợt nhớ lại quãng đời niên thiếu ngập tràn kỷ niệm của mình, đã bỏ lại sau lưng tận bên kia bờ Thái Bình Dương. Từ nhỏ anh đã là một học sinh xuất sắc của trường Lasalle Tabert ở Sài Gòn, cũng như anh trai và đứa em trai kế của anh. Người chị lớn của anh thì đang du học bên Nhật Bản về ngành giáo dục. Ba của anh là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, cựu Dân Biểu của nền đệ nhị cộng hoà Việt Nam và cũng là Thiếu Tá Y sĩ trưởng Bộ Tổng Tham Mưu và Sư đoàn 5 QLVNCH. Mẹ của anh là giáo sư trường nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn.

Việt Dũng đã yêu thích âm nhạc từ khi còn rất trẻ và được các sư huynh ở trường Lasalle Tabert chỉ dạy rất tận tình. Trong lúc gia đình mong cho anh sau này trở thành Bác sĩ để nối nghiệp cha, thì Việt Dzũng lại đam mê ca hát, văn nghệ văn gừng. Anh thường cùng các bạn học trình diễn ca nhạc ở những buổi văn nghệ liên trường. Việt Dzũng đã từng chiếm giải nhất ở cuộc thi văn nghệ của trường Tabert và đại diện trường đi tham dự các buổi hát ủy lạo chiến sĩ VNCH, cũng như tham dự vào những đại hội nhạc trẻ khắp nơi bên cạnh những tên tuổi nổi danh thời bấy giờ như Trường Kỳ, Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang, Đức Huy, Elvis Phương.v.v..

Đó là khoảng thời gian từ năm 1971 cho tới tháng tư năm 1975. Giờ đây (tháng 6-1975), tại trại tạm cư Subic, chàng thanh niên trẻ Việt Dzũng tạm quên đi những kỷ niệm thật đẹp ở quê nhà mà bắt tay ngay vào đời sống mới. Với số vốn Anh ngữ học được ở trung học và tính tình hoạt bát, Việt Dzũng liền tham gia hoạt động trong ban tổ chức và điều hành trại, đón tiếp và giúp đở nhiều chuyến tàu tị nạn lần lượt cặp bến Subic cho đến khi trại này đóng cửa. Rời trại tị nạn này, Việt Dzũng cùng bà ngoại được đưa sang đảo Guam, rồi chuyển sang trại Ft. Chaffee ở tiểu bang Arkansas.



Trong thời gian này Việt Dzũng hoạt động không ngừng nghỉ, từ việc đón tiếp đồng bào tị nạn mới tới, sinh hoạt trong hội Hồng Thập Tự, hội USCC, cộng tác với tờ báo của trại, chương trình phát thanh của trại, làm thông dịch viên giúp đỡ rất nhiều người chung quanh. Ở lại trại gần đến ngày cuối cùng trước khi trại đóng cửa, anh được Đức cha Bernard Law, Giám Mục địa phận Springfield, Missouri, bảo trợ và gởi đến tạm trú trong một gia đình người Mỹ. Năm 1976, Việt Dzũng tiếp tục học lớp 11 ở trường trung học St. Agnes, Missouri và tự trau dồi thêm về âm nhạc theo như sở thích và đam mê từ nhỏ của anh. Tại đây, anh bắt đầu sinh hoạt ca hát với các anh chị em thuộc cộng đồng Việt Nam. Anh cũng từng xuất hiện trên đài truyền hình KOZK21 ở Springfield.

Một năm sau (1977), Việt Dzũng được đoàn tụ với gia đình ở Wood River, tiểu bang Nebraska. Năm đó anh tốt nghiệp trung học tại trường Wood River. Năm 1978, Việt Dzũng chính thức bước vào lãnh vực âm nhạc khi cùng một người bạn học chung trường tên là Vernon Larsen lập ban song ca để hát theo lối du ca (troubrador) của Mỹ, tên “Firebirds” (Chim Lửa). Đôi song ca này chuyên hát nhạc đồng quê của Hoa Kỳ (American country music). Việt Dzũng sử dụng tây ban cầm và cùng người bạn Mỹ đi trình diễn khắp nơi ở vùng Trung Mỹ, kể cả các club nhạc của dân địa phương. Nhiều người Mỹ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi thấy một thanh niên Á châu hát nhạc đồng quê rất thành thạo, trôi chảy nên đã dành cho anh thật nhiều thiện cảm.

Cũng năm 1978 này, Việt Dzũng đoạt giải nhất về sáng tác nhạc country music tại cuộc thi Iowa Grand Old Orphy. Thật ngạc nhiên khi anh là người Việt Nam đầu tiên, mà cũng là người Á châu đầu tiên chiếm giải nhất về bộ môn sáng tác country music với bài hát hoàn toàn bằng Anh ngữ. Ngay sau đó, một hãng dĩa về country music đã mời anh cộng tác để thực hiện một Album nhạc đồng quê, nhưng anh đã từ chối vì muốn tiếp tục học ở Đại học theo ý muốn của song thân. Cũng trong năm này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt với bài hát đầu tiên là “ Sau Ba Năm Tỵ Nạn Tại Hoa Kỳ”, viết về thân phận người dân xa xứ với những đau đớn chia lìa. Bài hát thứ hai là “Một Chút Quà Cho Quê Hương” đã trở thành một ca khúc lẫy lừng nhất của Việt Dzũng, được mọi người yêu thích cho đến tận hôm nay.

Đó là thời gian người Việt tỵ nạn bắt đầu gửi quà về cho thân nhân ở quê nhà, chia sẻ những khổ đau chất ngất, đọa đày dưới chế độ mới như những lời ca sau đây: “Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay … Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đày … Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương Gởi về cho mẹ dăm gói trà xanh Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn …. Con gởi về cho cha một manh áo trắng Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình …”

Nhớ lại những ngày đầu tiên làm quen với sinh hoạt văn nghệ của người Việt tha hương, khi Việt Dzũng theo người chú họ về San Antonio, Texas thăm gia đình người bạn nhân dịp tết Nguyên Đán 1979. Tại Hội Chợ Tết nơi đây, anh đã lên sân khấu, ôm đàn guitar trình bày hai ca khúc mà anh vừa sáng tác. Hát xong, nhìn xuống khán giả thì mọi người đã đầm đìa nước mắt và túa ra ôm ấy anh khi anh rời sân khấu.


Việt Dzũng đã chinh phục bà con đồng hương nơi đây kể từ lúc này. Năm sau 1980, Việt Dũng trình diễn tại một đại nhạc hội ở Omaha, Nebraska với Sĩ Phú và Mai Lệ Huyền. Sau đó anh đã hát với Khánh Ly, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh ở Denver, Colorado những bài hát do anh sáng tác. Ngay lúc đó, Khánh Ly đã chọn ba bài hát của anh là: “Lời Kinh Đêm, Mời Em Về, Một Chút Quà Cho Quê Hương” đem về California thâu vào băng nhạc “Một Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa” (nhà văn Mai Thảo viết lời giới thiệu). Ba bài hát này đã là những bài hát nằm lòng của hàng triệu người Việt nhiều năm sau đó (kể cả ở trong nước).

Năm 1980, là năm mà số người Việt bỏ nước ra đi cao nhất, Việt Dzũng đã cho ra mắt cuồn băng nhạc đầu tay “Kinh Tỵ Nạn” do Trung Tâm Nhã Nhạc tại Houston, Texas thực hiện. Ngay tuần lễ đầu băng nhạc này đã được đón nhận nhiệt liệt từ California đến tận Canada, số bán sau đó đã lên đến cả trăm ngàn ấn bản. Lúc đó, Việt Dzũng đã quyết định chính thức di chuyển qua California sinh sống và sinh hoạt văn nghệ để có thể phát triển tài năng của anh nhiều hơn. Đầu tiên, anh được nhạc sĩ Ngọc Chánh mời hát cho đại nhạc hội ở Orange County và tiếp tục lưu diễn khắp nơi.

Anh cũng đã hoàn thành cuồn băng nhạc thứ nhì tên là “Lưu Vong Khúc” vào giai đoạn này. Trước đó, vào năm 1978 anh đã gặp ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh tại Đại Hội Thanh Niên Cách Mạng Việt tại thủ đô Washington DC và hai người liền kết nghĩa chị em. Cả hai cùng sáng tác chung một đường lối và họ đã kết hợp thành một đôi song ca trình diễn khắp nơi trên thế giới, chỉ trừ các nước cộng sản mà thôi. Tại Mỹ, họ đã lưu diễn hầu hết 50 tiểu bang, kể cả những tiểu bang có rất ít người Việt sinh sống.

Tại Á châu, họ đã hát ở Nhật hơn ba lần, hát cho các phái đoàn ngoại giao, tòa tổng lãnh sự, sứ quán Mỹ ở nhiều nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, v.v…Nhưng chuyến lưu diễn ở Âu Châu của Việt Dzũng và Nguyệt Ánh phải coi là một chuyến lưu diễn lịch sử. Đã có hàng ngàn người Việt từ khắp nơi đón xe lửa đến gần địa điểm trình diễn, cắm trại nằm chờ trước hai ba ngày khai mạc để gặp hai thần tượng của họ. Ở Úc Châu khán giả cũng nhiệt liệt đón chào Việt Dũng và Nguyệt Ánh. Họ đã đi hết những thành phố có người Việt cư trú kể cả những nơi hẻo lánh như Perth và Darwin.



Đã có nhiều bài báo và cả hai cuốn sách xuất bản ở Úc được viết ra để ca tụng cho lý tưởng đấu tranh chống cộng và ước mơ ngày về quang phục quê hương của đôi nghệ sĩ này. Ngay lúc đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam liền lên án Việt Dzũng và Nguyệt Ánh là hai kẻ phản động số một, tuyệt đối cấm phổ biến tất cả các nhạc phẩm của họ trong nước. Trong một phiên tòa sau đó, CSVN đã kết án tử hình khiếm diện hai nghệ sĩ này. Ngày 1 tháng Tư năm 1985, hai nghệ sĩ này đã kết hợp với những ca nhạc sĩ khác để thành lập Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, dùng âm nhạc làm vũ khí đấu tranh chống lại kẻ thù.

Cho đến nay, Phong Trào Hưng Ca Việt Nam vẫn còn hoạt động đều đặn với những tên tuổi khác như Huỳnh Lương Thiện, Trương Sĩ Lương, Xuân Nghĩa, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Lưu Xuân Bảo..v.v..Trong suốt thời gian hơn 25 năm này, Việt Dzũng vẫn tiếp tục có những hoạt động đều đặn, liên tục và bền bỉ để tranh đấu cho người tị nạn Việt Nam. Từ những buổi văn nghệ gây quỹ cho các con tàu với người vượt biển như Cape D’Anamur, chương trình SOS Boat People, vận động chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương người tị nạn, tranh đấu với quốc tế tại Genève, Thụy Sĩ, tại Liên Hiệp Quốc…

Có thể nói, bất cứ nơi nào có người tị nạn Việt Nam là có bước chân Việt Dzũng mang tiếng đàn, tiếng hát của anh để binh vực cho họ, sưởi ấm tấm lòng của họ, mang niềm tin yêu và hy vọng cho họ vượt qua những khổ cực, đau buồn và mất mát trên đường vượt biên. Anh đã có mặt hầu hết các trại tị nạn ở vùng Đông Nam Á để thăm viếng, ủy lạo đồng bào, giúp đở trẻ em không thân nhân và hàng ngàn công tác xã hội khác mà không hề biết mệt.



Cũng trong năm 1985 này, Việt Dzũng đã cho ra đời một băng nhạc hoàn toàn bằng Anh ngữ “Children of the Ocean”. Đây cũng là album nhạc đầu tiên của người Việt hải ngoại bằng tiếng Anh. Các tờ báo Orange County Register, Los Angeles Times, Washington Post đều có những bài viết khen ngợi cuốn băng này. Riêng tờ Austin-American- Stateman đã gọi Việt Dzũng là “người nghệ sĩ nổi tiếng nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và là một tấm gương sáng giá, chứng tỏ là người tỵ nạn có thể hội nhập vào đời sống mới, trong khi vẫn giữ được nguồn gốc của quê hương mình.”

Về truyền thông, Việt Dzũng đã mở ra một cánh cửa khác để cho thấy một tài năng thiên phú và đa dạng ở anh. Sau một thời gian dài làm báo, tháng 7 năm 1993 Việt Dzũng được mời làm xướng ngôn viên chính cho chương trình phát thanh tiếng Việt đầu tiên ở Nam California, phát thanh 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày là đài Little Saigon.

Cũng cần nhắc lại là trước đó các đài phát thanh đều làm chương trình theo kiểu ngày xưa, nghĩa là thâu thanh trước đàng hoàng, kỹ càng từng tiết mục và tới giờ là cho phát thanh lên. Nhưng lần đầu tiên, Việt Dzũng đã tạo ra một phong cách mới: anh đưa ra những chương trình trực tiếp truyện trò cùng thính giả (talk back) trong buổi phát thanh. Nên không khí rất vui nhộn và hào hứng, náo nhiệt vô cùng. Sau này các đài phát thanh ở Mỹ và ngay cả ở bên Việt Nam cũng bắt chước theo lối này.

Kể cả các đài BBC, VOA phát thanh về Á Châu, cũng thay đổi cách làm việc như cho xướng ngôn viên được phép đùa giỡn với thính giả chớ không đọc tin một cách nghiêm trang như ngày xưa. Ngoài việc phổ biến tin tức, âm nhạc, thể thao cuối tuần, giải trí cuối tuần, tin tức Hollywood …VD còn thực hiện chương trình đặc biệt nhất là chương trình “Tâm tình với nghệ sĩ” được rất nhiều thính giả ưa thích. Chương trình này lúc đầu phát từ 11 đến 12 giờ trưa hàng ngày trên làn sóng 967 FM của đài KWIZ. Sau đó mỗi tuần phát hai ngày thứ hai và thứ tư.



Trong vòng hơn hai năm, mà Việt Dzũng đã phỏng vấn trên 350 nghệ sĩ. Từ những ca sĩ nổi tiếng như Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Chế Linh, Lệ thu, Ý Lan, Vũ Khanh …cho đến những ca sĩ mới xuất hiện ở hải ngoại sau này như Mạnh Đình, Dạ Nhật Yến, Thanh Trúc, Phi Nhung … Những nghệ sĩ đến từ các tiểu bang xa cũng được mời phỏng vấn như Hà Thanh, Từ Công Phụng, Trường Kỳ, Châu Hà, Văn Phụng .v.v…Trong tất cả các chương trình phỏng vấn này, nóng bỏng nhất và đặc biệt nhất phải nói là chương trình phỏng vấn nữ ca sĩ Ngọc Lan. Vì từ trước tới nay, Ngọc Lan không nhận lời cho ai phỏng vấn cả (vào thời điểm đó), chỉ có một lần cô trả lời trên đài VOA; và Việt Dzũng là người duy nhất phỏng vấn được Ngọc Lan vào tháng 10 năm 1994.

Bốn năm sau( 1996), Việt Dzũng cùng các bạn đứng ra thành lập một chương trình phát thanh độc lập, đó là đài Radio Bolsa, phát thanh trên ba làn sóng khác nhau ở Nam California, Bắc California và Houston, Texas. Hiện nay (2006), Radio Bolsa đang phát sóng trên 106.3 FM, 1190 AM (Nam California) và 1430 AM (San Jose) với Việt Dzũng và Minh Phương là hai xướng ngôn viên chủ lực cùng với các xướng ngôn viên khác như Khúc Minh, Nguyễn Phú, Uyên Thy, Mai Trang…

Việt Dzũng đã tạo sự gần gũi, thân mật giữa xướng ngôn viên với thính giả từ trẻ đến già, ở nhà cũng như đang lái xe đi làm với những chương trình đa dạng và phong phú hàng ngày. Dĩ nhiên là với kỷ thuật phát thanh digital, mọi người trên khắp thế giới cũng có thể nghe được các chương trình phát thanh này trên mạng thông tin toàn cầu bất cứ lúc nào. (http://www.radiobolsa.com/)

Tuy công việc hàng ngày của anh thật bận rộn như vậy, nhưng ngoài thời gian làm việc ở đài phát thanh, Việt Dzũng còn chứng tỏ là anh có khả năng làm báo rất thành công. Kể từ năm 1980, anh đã cộng tác với tờ Người Việt (trang song ngữ Tuổi Trẻ). Sau đó anh về làm Tổng Thư Ký cho tờ Nhân Chứng năm 1982. Tờ Tay Phải (của Du Tử Lê) năm 1983. Về Houston làm Tổng Thư ký cho tờ Việt Nam Thương Mại năm 1988. Trở lại California làm thư ký cho tờ Sài Gòn Nhỏ một thời gian và sau đó cộng tác với tờ tuần báo Diễm từ năm 1990. Năm 1992 trở thành Thơ ký toà soạn cho tờ nguyệt san Hồn Việt cho đến bây giờ.

Việt Dzũng cũng là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông khắp nước Mỹ như tờ Phố Nhỏ (Washington DC), Thế Giới Mới (Dallas, PL), Phương Đông (Seattle, WA), Mõ Magazine (San Jose, Sacramento, San Francisco & Oakland), Làng Văn (Canada), Nhân Quyền (Úc), Tin Điển (Đức) .v.v. Hầu như lúc nào Việt Dzũng cũng có những dự tính và dự án trước mặt, nhưng không làm sao có đầy đủ thời giờ để lo cho xuể. Chỉ nói riêng về mặt sáng tác âm nhạc thì cho đến nay Việt Dzũng đã sáng tác hơn 450 bài hát về đủ mọi thể loại. Những bài hát về tỵ nạn đã được phổ biến rộng rãi trong hai tập nhạc “Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982).

Những bài hát này được viết ra như một thôi thúc về những điều phải nói ra trong những năm lạc lõng của đời lưu vong nơi xứ người. Sau đó là các ca khúc đấu tranh, quang phục quê hương. Nhưng nhiều nhất vẫn là tình ca, sáng tác rất nhiều nhưng chưa phổ biến hết.

Những bản tình ca nổi tiếng của Việt Dzũng có thể kể ra như Bài Tango Cuối Cùng, Thung Lũng Chim Bay, Khóc Ru Đời Trinh Nữ, Bên Đời Hiu Quạnh, Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Và Em Hãy Nói Yêu Anh, Tình Như Cây Cà-Rem… Năm 1990, Việt Dzũng thành lập riêng cho mình Trung Tâm Việt Productions, chuyên sản xuất các CD nhạc với tiếng hát của anh và bằng hữu như các CD: Ru Em Sông Núi Đợi Chờ, Thánh Ca Vào Đời, Hùng Ca Quật Khởi, Quê Hương Và Em, Mình Ơi Đưa Em Về Quê Hương, Thắp Lửa Yêu Thương, Lên Đường, Bên Em Đang Có Ta, Tuổi Trẻ Về Nguồn, Hát Cho Tự Do, Thắp Lửa Tự Do, Trái Tim Ở Lại, Anh Vẫn Còn Thương, Vuốt Mặt, Bên Bờ Đại Dương …



Sau hai mươi năm hoạt động không ngừng nghỉ trên mọi lãnh vực và được nổi danh khắp nơi, được hàng triệu người ái mộ (nhứt là giới trẻ ở hải ngoại), nhưng cũng có lúc Việt Dzũng cảm thấy rất cô đơn. Anh đã từng bày tỏ cảm nghĩ của riêng anh trong một lần phỏng vấn năm 1995 với nhà báo Trường Kỳ như sau: “Nhìn vào đời sống nghệ sĩ, ai cũng cũng chỉ thấy những rực rỡ của ánh đèn sân khấu, của những tràng pháo tay và của những rộn rịp âm thanh. Đời sống của nghệ sĩ không phải chỉ có vậy. Còn có những giọt nước mắt âm thầm mỗi đêm, những đắng cay tủi nhục và những cám dỗ chập chùng đi kèm.

Cá nhân Việt Dzũng không bao giờ muốn trở thành ca sĩ. Chỉ muốn làm một nhạc sĩ ghi lại những nỗi suy tư của một đời người, và những rung động mà mình bất chợt tìm thấy. Vì thế, nên khi nghe một ca khúc, khi thưởng thức một nhạc phẩm nào, hãy nghe bằng sự rung động của chính tâm hồn mình. Bạn sẽ thấy người nhạc sĩ đó đang mang trái tim của họ trải rộng cho bạn nhìn, như một tấm tranh vẽ. Có thể bạn sẽ bắt kịp những nét chấm phá trong tranh. Có thể bạn chỉ ơ hờ lướt mắt qua rồi thôi. Nhưng dù gì đi nữa, mỗi ca khúc hay mỗi bức tranh vẫn là một hiện diện trong đời sống. Và hãy cảm ơn sự hiện diện đó, vì nếu không cuộc đời sẽ chỉ là những vô nghĩa kéo dài. (Việt Dzũng trong “Tuyển Tập Nghệ Sĩ”, 1995) Thực ra, nỗi cô đơn ấy cũng chỉ thoáng qua mà thôi. Những dự án, kế hoạch vẫn được anh theo đuổi càng lúc càng nhiều, choáng ngộp.



Việt Dzũng tâm sự là anh mong cho một ngày dài thêm 48 tiếng đồng hồ, thay vì chỉ có 24 giờ để anh có thể hoàn thành bao nhiêu công việc đang vây bủa lấy anh. Ngày tháng vẫn trôi nhanh, trôi nhanh. Những hoạt động của anh gần đây thì nhiều vô số kể. Chỉ nói riêng về sinh hoạt với Phong Trào Hưng Ca Việt Nam thôi, thì những lần công tác nổi bật nhất là: Phát động chiến dịch “Tưởng Niệm 50 năm Hiệp Định Genève (1954-2004)”, biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Genève (Thụy Sĩ) ngày 3-4-2004 Đại nhạc hội Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Katrina tổ chức ở Houston (17.9.2005), sau chương trình “Chén Gạo Tình Thương” do Phong Trào Hưng ca phát động từ ngày 9.9.2005.


Đại nhạc hội “Đêm Tình Thương” phối hợp với cộng đồng người Việt ở Dallas Fortworth va Trung Tâm ca nhạc Asia (tháng 9-2005) Chương trình văn Nghệ gầy quỹ cứu trợ nạn nhân cơn bão Katrina tổ chức ở Wichita. Những chương trình Đại Nhạc Hội gây quỹ giúp Thương Phế Binh VNCH ở khắp nơi …. Trong những chương trình gây quỹ từ thiện và văn nghệ đấu tranh đó, Việt Dzũng đã đến với đồng hương bằng cung cách rất bình dị thân thương. Luôn luôn có những bạn trẻ vây quanh, tíu tít thăm hỏi, chụp hình chung với anh. Có những bà mẹ già vẫy tay gọi anh lại gần chỉ để được nắm tay anh, nói vài ba câu thăm hỏi với niềm rưng rưng cảm xúc.

Nhưng tài năng đặc biệt nhất và nổi bật của anh là kể từ năm 1996 khi anh cộng tác với Trung Tâm Ca Nhạc Asia để làm MC hướng dẫn các chương trình video và đại nhạc hội trực tiếp thu hình. Anh cũng cộng tác với đài truyền hình SBTN trong việc soạn và đọc tin tức hàng ngày, cùng nhiều tiết mục khác cho chương trình phát hình liên tục 24 giờ mỗi ngày. Trước đó anh cũng đã từng nhiều lần làm MC cho các buổi đại nhạc hội, các buổi biểu tình, những lần gây quỹ từ thiện …

Riêng ở các chương trình của Trung Tâm Asia thì anh đã hợp tác viết thuyết minh và giới thiệu cho các chủ đề, các tài năng mới trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Vì từ lâu nay Trung Tâm Asia là một trong hai trung tâm hàng đầu về ca nhạc ở hải ngoại được tiếng là luôn luôn có nhiều sáng kiến mới lạ và nâng đở cho những tài năng trẻ tuổi trong lãnh vực ca hát. Rất nhiều chương trình Video của Asia có các chủ đề đầy tình người, không nhằm mục đích thương mại, nhưng rất thành công như “Người Lính”, “Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến”, “Tình Ca Anh Bằng”. Vài năm gần đây lại có những chương trình Asia video thật giá trị như “Âm Nhạc Vòng Quanh Thế Giới” (phát hành 27/2/2004), “Tiếng Hát Trái Tim” (thu hình 20/3/2004), “Mùa Hè Rực Rỡ 2005″ (thu hình 22/7/2005).

Nhưng đặc biệt nhất là video “Hành Trình Tìm Tự Do”( phát hành 24/6/2005), khán giả đã thực sự xúc động khi thấy Việt Dzũng trở lại các đảo tị nạn ở Đông Nam Á để làm phóng sự video, gợi nhớ cảnh vượt biển của những thuyền nhân tỵ nạn liều chết ra đi tìm tự do ngày xưa. Cũng chính những chương trình video này, khi được chuyển về Việt Nam cùng với các DVD khác như “Cuộc Đổi Đời Bi Thảm, Triệu Đóa Hồng Cho Người Phụ Nữ VN, Cuộc Khổ Nạn của Người VN (Dạ Lan), và gần đây là Asia 50 “Vinh Danh Nhật Trường” và Asia 51 “Nhạc Vàng, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến” … đã khiến nhà cầm quyền Việt Nam vô cùng tức tối, khi nhìn thấy Việt Dzũng vẫn tiếp tục xuất hiện trong vai trò làm MC.


Nên vào ngày 18/9/2006 tờ báo Công An Thành Phố HCM đã bắt đầu đăng hai bài viết với đủ thứ ngôn từ hạ cấp nhằm mạ lỵ, phỉ báng và bôi nhọ cá nhân Việt Dzũng thật nặng nề. Có thể nói lần này là lần anh bị những người Cộng Sản VN “đánh” nặng nhứt từ trước đến nay. Nhưng cũng chính những bài báo này đã khiến cho mọi người càng thấy rõ bộ mặt nham hiểm, quỷ quyệt của Cộng Sản VN như thế nào và cũng làm cho nhều người thông cảm, yêu mến và chia sẻ nhưng oan khiên, thống khổ của người nghệ sĩ này nhiều hơn.

Với tất cả những mũi tên tẩm thuốc độc bắn thẳng vào anh, Việt Dzũng chỉ im lìm, không lên tiếng biện minh hay viết bài đính chính. Anh vẫn âm thầm tiếp tục thực hiện những dự án và càng hăng say hoạt động, cống hiến tài năng của mình cho đồng hương như anh đã làm suốt hơn ba mươi năm nay. Lúc nào cũng vậy, anh vẫn luôn luôn là một đứa con cưng của tổ quốc và quê hương Việt Nam. Anh vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho nhân quyền và quang phục quê hương trong niềm tin rằng chế độ Cộng sản sẽ cáo chung trong một tương lai rất gần.

Duy-Khiêm Vũ Xuân Tráng
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Kẻ sỹ, Tuổi trẻ và cuộc chiến truyền thông.
Bảo Giang

Viết cho Tuổi trẻ và Mạng lưới Bloggers Việt Nam.

Có một điều rất lạ, đến nay vẫn còn nhiều người chưa bươc ra khỏi cái vỏ ốc nệ cổ. Khi thấy bước chân của những người trẻ vững chải vươn lên vì tương lai của đất nước. Họ như thờ ơ, không hay, không biết, rồi nhắm mắt bảo là: Đất nước thời tang thương, dân tình khốn khổ như nô lệ, nhưng tìm không ra kẻ sỹ. Trái lại, bước ra khỏi nhà thì không biết làm cách nào để có thể tránh mặt được những Ngụy Diên, (đảng viên) tráo trở và bất lương. Chúng như bụi trên đường.!

Tôi cho rằng, cái quan niệm này là không chỉnh. Nó hoàn toàn sai ở nửa đầu và chỉ đúng ở nửa phần sau. Đành rằng, ngày này trong bước đường tranh đấu cho quê hương, chưa hề có những “đại” trí thức, ông quan to, chức lớn, quyền hành lắm, bổng lộc nhiều, dấn thân, bỏ mũ từ quan, về với dân, tranh đấu cho đất nước như những Phan dình Phùng, Nguyễn thái Học, thủ khoa Huân… và gần đây là Cụ Ngô đình Diệm đã rũ áo, bỏ chức quan trưởng bộ lại khi mới 31 tuổi vì lý do: Triều đình không thể cải tổ được gì vì bị thực dân Pháp ức chế như lời ông trình bày với vì vua cuối cùng của nhà Nguyễn:. “Ở lại chức vụ này, quả nhiên là một trò hề đau khổ cho kẻ hạ thần, mà hạ thần không thể nào kham nổi. Người Pháp đã nắm lấy hết quyền hành, họ đã cai trị trực tiếp, luôn luôn nhân danh hòa ước bảo hộ nhưng họ không lúc nào không vi phạm từng ngày, từng giờ.” Nhưng không vì thế mà thiếu kẻ sỹ vì dân vì nước. Trái lại, kẻ sỹ luôn hiện diện trong bước đi của dân tộc. Có chăng là chúng ta nệ cổ, hẹp hòi, đôi khi là ích kỷ để không nhìn ra những hy sinh của họ trước vận nước điêu linh mà thôi.

Dĩ nhiên, chẳng ai nỡ trách ai trong cái nhìn thụ động bi quan ấy. Nhưng đến lúc mọi người phải thay đổi cách nhìn tiêu cực này. Bởi vì, cái quan niệm hẹp hòi, nệ cổ ấy, xem ra là không còn hợp thời nữa. Nó không còn hợp thời vì kẻ sỹ không phải là ông quan to, quyền nhớn bỏ quan về ở ẩn, hay tìm cách phục hưng cho dân cho nước. Nhưng chính là cái sỹ khí của một con ngưòi dám đứng thẳng và nói lên lời công lý trước mặt bạo quyền! Là ngườì dám hy sinh cả sự nghiêp, tương lai đang có của mình vì lý tưởng của đồng bào. Đó mới chính là tinh thẫn của kẻ sỹ. Họ sống trong sự sống của dân. Và chết vì sự sống của đồng bào mình.

Mầu người lý tưởng này không thể có ở trong lòng chế độ cộng sản. Nghĩa là không thể có ông cán to, quyền lớn dám bỏ địa vị. danh vọng. để quay trở về với đồng bào, đề đấu tranh cho một Việt Nam Độc Lập, Tự Do, Công Lý và Nhân Quyền. Cũng chẳng có một Ngô Quyền trong hàng quân này đứng dậy chém những Kiều công Tiến, phất cờ diệt Hán để đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Lão Sơn, Bản Giốc và trục xuất tất cả những thành phần cư trú bất hợp pháp ra khỏi đất nước, đem lại thái bình ấm no cho dân cho nước. Trái lại, chỉ có những lớp ruồi trâu, chỉ có bầy đỉa bám vào đảng, vào chế độ để rúc riả máu xương người dân mà tìm sống riêng. (may ra có vài ba trường hợp bị thất sủng, cuối đời, vô quyền thì quay lại chống đảng cộng vì tiêu cực, nhưng vẩn tung hê tội đồ của dân tộc là Hồ chí Minh).

Thật ra, họ sống và chết như thế cũng không có gì lạ. Bởi vì, cộng sản sau sáu mươi năm đã xây đựng được một đế chế đảng quyền độc trị, ngồi trên đất nước, trên luật pháp, trên công quyền. Nên tất cả những thành phần nhân sự do CS đào tạo, từ trí thức, chuyên viên các ngành cho đến bần nông, chỉ biết phục dịch một cách nô lệ cho đảng quyền để được hưởng bổng lộc, quyền lợi. Ngoài ra, không hề biết đến công quyền, luân lý, nhân phẩm và phúc lợi của dân nước là gì.

Có thề nói, đó là một tập hợp bao cấp đồng sàng, giống như một công cụ là cái ống cống vô tri vô giác để chuyển nước thải. Nó chạy theo hàng ngang, hàng dọc. Phủ kín từ trên xuống dưới. Từ trung ương xuống tời tận thôn xóm, làng xã, phường khóm. Chui luồn vào trong tất cả mọi cơ sở cộng cộng, ngoài xã hội cho đến học đường, không nơi nào không có. Đặc biệt, đan kín trong hàng ngũ quân đội, công an. Ở nơi đó. họ dùng những mỹ từ “quân đội nhân dân”, “công an nhân dân” để che khuất một phương cách đào luyện, biến những người trong biên chế này thành một tập thể tuyệt đối trung thành với dối trá, với vô đạo của đảng. Sẵn sàng bán nước, tàn xát chính đồng bào của mình theo lệnh của mẫu quốc Trung cộng như HCM, PvD, TC, LD đến NVL, ĐM, LKP, LDA, NĐM… và nay là Trọng, Sang, Hùng, Dũng. Tiếp theo là những kẻ tranh công đang xếp theo thứ tự chờ thời như Hải, Nhân, Luận, Nghị, Lưu, Vịnh, Thanh, Quang, Huynh, Rúa….thì tìm đâu ra những Ngô Quyền, Ngô đình Diệm?

Trước mắt, rõ ràng là một thất vọng ghê gớm. Tuy nhiên, vận nước sẽ không mãi đi theo cái nhìn bi quan ấy. Trái lại, đất nước này không thể mãi lệ thuộc vào những thành phần “đảng sỹ” gía áo túi cơm, vô tri giác này. Trái lại, tương lai là ở trong tay người dân, những ngưòi áo vải, những kẻ sỹ sống chết vì tiền đố của đất nước. Như thế, những rào cản, những ống cống kia sớm muộn cũng bị phá vỡ, đào thải. Có còn lại, chỉ là một khối kiêu hùng Việt Nam, vĩnh viễn không bao giờ chấp nhận làm nô lệ cho CS, cho ngoại bang. Dù cái ngoại bang ấy là Tầu hay là Tây!

Thật vậy, nếu giới được gọi là sỹ phu, trí thức hôm nay chỉ là những chuyên viên nô dịch cho hệ thống đảng cộng và hoàn toàn im lặng, ăn no, ngủ yên trước những khổ đau của người dân, trước những cảnh bị Tàu răn đe, xâm lấn cõi bờ. Hay giả làm ngở trước cảnh ngoại bang giành giật thuê bao, mua đất đai, bờ biển trong nội địa Viêt Nam do chính nhà nước mà họ đang phục vụ vẽ đường, tạo ra, thì giới trẻ xem ra lại là những tinh hoa, là sức sống, đem lại nguồn an ủi, niềm tin và sức sống vào tương lai cho dân tộc Việt.

Đến nay, tuy chưa có ngày hội lớn của những người trẻ đi vì quê hương. Nhưng bóng dáng của họ đã luôn có mặt trong những sự kiện cần đến một tiếng nói trừ diệt gian dối. Nơi họ đã luôn có những tiếng “kèn loa, trống dục” như Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, Hà Vũ , Duy Thức, Công Định, Nguyễn văn Hải, Minh Hạnh, Phong Tần, Việt Khang, Nguyễn quốc Quân, Nguyên Kha, Phương Uyên, hay 14 kiệt sỹ ở Vinh, và còn nhiều nữa. Hào khí của những ngưòi trẻ này đã tạo thành một nguồn sống rộn ràng và đáng tự hào cho đất nước. Hơn thế, từ điểm phát xuất ban đầu ấy, những Bloggers, những thế hệ trẻ Việt Nam ngày một trưởng thành trong ý thức nhân bản. Họ đi và sống vì sức sống Độc Lập của tổ quốc. Đi và sống cho sự Tự Do, Nhân Quyền, Công Lý cho đồng bào của mình. Sống và truyền đi những tiếng nói của sự thật. Đi và làm thay đổi tư duy của dân tộc sau mấy chục năm chán chường, rời rã. Đi và mở đường cho một tương lai mớí cho Việt Nam. Chính lòng hăng say, quả quyết vì quê hươg, vì dồng bào của họ là hình ảnh những kẻ sỹ của thời đại, là những tiếng nói tạo nên nghiệp cả cho quê hương mai sau. Chứ kẻ sỹ không phải là ở vài ba tiếng kêu xương ù ơ của qúy “nhà” chính trị hàng thịt!

Nói thế, không có nghĩa là chúng ta phủ nhận tinh thần kẻ sỹ trong vác vị tiền bối xưa kia. Trái lại, họ vẫn như một tấm gương còn ngàn đời soi sáng cho tuổi trẻ noi theo. Noi theo trong tinh thần phục vụ dân tộc. Nhờ họ mà những lớp ngưòi trẻ hôm nay vững chãi hơn, bền gan hơn. Nếu như không muốn nói là can trường hơn, dũng mãnh hơn trong sự nghiệp cứu quê hương thoát nạn cộng sản, thoát khỏi bàn tay xâm lược từ bắc phương.

Thật vậy, họ được sinh ra vào thời hậu chiến, trong hoàn cảnh đất nước còn đầy dẫy những tang thương, những đổ vỡ. Những đổ vỡ, tưởng rằng mau qua. Kết quả, hầu như không thể hàn gắn sau chiến tranh. Trái lại, vết thương ấy như mỗi lúc một làm cho hình ảnh Việt Nam trở nên tồi tệ hơn. Và nhân bản đạo lý Việt Nam dưới sự thống trị của CS mỗi ngày một ngày một thêm suy đồi, lụn bại. Từ đó, cuộc sinh hoạt của xã hội đã tạo ra những hướng đi như đối nghịch nhau giữa nhà cầm quyềm và dân chúng. Một bên đi theo đưòng gian trá của đảng để hôi của. Một bên thì lặng lẽ chán nản, buông xuôi, chẳng còn thiết tha gì đến ngày mai.

Chuyện nhà nước cộng sản tự tạo ra hai hướng đi nghịch chiều nhau trong xã hội Việt Nam, và làm cho nền đạo lý, nhân bản của xã hội Việt Nam bị phá sản không có gì lạ, khó hiểu. Từ sáu, bảy mươi năm trước, cộng sản đã chủ trương giáo hóa ngưòi dân, đặc biệt là các đoàn đảng viên của họ bằng sự dối trá, bá đạo qua những cái loa rỉ xét ở đầu đường, xó chợ và tin đồn. Người dân hầu như không có bất cứ một nguồn thông tin nào khác để mà xo sánh xem những lời tuyên truyền kia là gian trá hay đứng đắn. Suốt một quãng đường dài của đời người, người dân, đoàn đảng viên CS chỉ được nghe tuyên truyền về đạo đức Hồ chí Minh, mà không hề hay biết cái đạo đức ấy là đạo đức gì. Nó tử tế hay là vô đạo bất nhân? Nghe riết, nghe mãi về cái bánh vẽ của Hồ nên nhiều người lầm tưởng đó là những sự thật. Tệ hơn, có nhiều kẻ còn điên cuồng để bảo vệ những gian trá bất lương ấy bằng cách này hay cách khác.

Nếu như không có những thông tin điện toán hiện đại và nhanh chóng từ hải ngoại, từ các bloggers ( không phải là của nhà nước) từ những tấm lòng trong sáng của những người trẻ vì đất nước truyền đi, hẳn nhiên là người dân vẫn chẳng biết gì nhiều về những hệ thống bịp bợm này cua CS. Đây, quả là một điều may mắn cho vận nước, nhưng lại là điều bất hạnh cho chế độ cộng sản. Bởi vì, với trào lưu thông in mở rộng của cá nhân, blơggers, không có một gian trá, tàn ác nào của Hồ chí Minh của Trường Chinh, Lê Duẩn, của tập đoàn cộng sản đã làm trên đất nước Việt Nam trong 80 năm qua mà người dân không biết đến. Không có một hiệp ước, hiệp thương, công hàm bán nước, hay khế ươc nhưọng biển, nhượng đất hay cho ngoại bang thuê đất, thuê biển, khai thác đất rừng, hầm mỏ nào ở Việt Nam do tập thể này thực hiện, mà ngưòi dân không hay. Từ đó, dẫu chưa nói ra, người dân đã lên àn những hành động tồi bại này. Chẳng một ai còn muốn chúng tồn tai trên phần đất này. Họ chưa đồng loạt đứng dậy và Chôn Nó Đi là vì thời cơ chưa tới mà thôi. Trong khi đó, nhà nước CS vẫn tự dành cho mình quyền lãnh đạo, trâng trâng tráo tráo. Vênh vang nói đến đạo đức Hồ chí Minh và coi đó là khuôn vàng thước ngọc, là thành qủa vĩ đại nhất của nhà nước. Rồi tiếp tục dùng bạo lực, buộc người dân phải tuân phục theo cái dối trá trong hành động và lời nói của họ. Kết quả:

Từ trong lối giáo hóa bá đạo ấy của cộng sản đã tạo ra hai lối đi, hai lối sống đối nghịch nhau giữa công chúng và nhà cầm quyền. Chắc chắn hai lối đi này phải có một ngày đến điểm hẹn, một mất một còn. Bởi vì, cán đi theo đường gian trá của bác đảng, dùng thủ đoạn quyền lực, kiếm miếng ăn ngon từ máu và nước mắt của đồng loại. Dân đi theo lề yên lặng, đau đớn, uất hận vì tan nhà mất cửa. Khổ đau vì nền luân lý, đạo đức của xã hội bị suy đồi. Phần Công Lý của xã hội, Nhân Quyền nhân phẩm của con người chỉ như cái lưỡi câu với sợi cước thật chắc, thật bền, đã được cộng sản gài sẵn vào trong từng cửa miệng. Bất cứ ai, khi nói lên lời công lý, thì chẳng khác gì con cá cắn câu. Cộng sản chỉ cần kéo căng sợi dây ra là người đó không thể nào vùng vẫy, thoát khỏi bầm dập vì đòn thù của chúng. Sở dĩ có sự việc này là vi, ở dười chế độ CS, Công Lý, Nhân Quyền, Tự Do chỉ là những từ ngữ để cho đảng và nhà nước tuyên truyền, đánh bóng. Không phải là một thực tế quyền lợi để người dân “ được sinh ra trong bình đẳng” là có quyền được hưởng! Nên người đi đòi công lý ở dưới chế độ này chẳng khác gì việc tự cắn lưỡi câu độc ác của nhà nước mà chờ chết!

Theo đó, nếu đem so với người đi trước, xem ra bước đi của những bạn trẻ hôm nay khó khăn hơn xưa gấp bội phần. Trước hết, những người trí thức, những ông quan to, chức quyền lớn xưa kia luôn được đào tạo trong một nền giáo dục nhân bản, trọng lễ nghĩa, đạo lý, để biết tôn trọng nhân quần xã hội khi ra phục vụ. Họ không hề bị giáo dục trong gian dối để phục vụ cho gian dối và bất lương. Nên khi họ bỏ mũ áo từ quan, vì gặp thời vua quan bạc nhược, khiếp đảm vì sức mạnh của ngoại bang. Họ vẫn ung dung tự tại trong cuộc sống. Nếp nhà, danh dự của họ không thể bị cường quyền bôi nhọ, lấn áp. Nói trắng ra là, có từ quan như cụ Ngô đình Diệm, Phan đình Phùng thì thực dân Pháp và triều đình của An Nam cũng không thể bắt, kết án, bỏ tù hay thủ tiêu họ.

Nhưng nay, dưói chế độ “ưu việt” Việt cộng của Hồ chí Minh, xem ra chuyện luân lý ấy đã hoàn toàn bị đảo ngược, không có chỗ đứng. Qúy cụ Ngô đình Diệm, Phan đình Phùng… nếu là cán nhớn của chế độ, dám công khai cởi bỏ mũ áo, chống lại chúng giữa chốn công đường thì có khi chẳng về đến nhà. Hoặc gỉa, có về đến nhà thì cũng không ngủ qua đêm, Ấy là chưa kể đến viêc người thân của họ cũng đều bị vạ lây! Chỉ riêng về điểm này, xem ra bước đi của tuổi trẻ Việt Nam ngày nay là rất khó khăn, đầy những gian nan, trắc trở.

Trước hết, họ biết khi nói lên lời Công Lý, đòi nhà nước tôn trọng Nhân Quyền của người dân là nhà tù và đòn thù của cộng sản sẵn sàng ập xuống trên bản thân họ bất cứ lúc nào. Kế đến là phải đối diện với cuộc sống bị rình rập từng giờ từng phút. Bước ra đường là từng bầy đàn gọi là công an, nghiệp vụ, kể cả nhóm gọi là dân phòng theo đuôi. Thành phần này có thể tự ý cắn người để tranh công trưóc khi chủ nuôi ra lệnh! Khi vê nhà thì lặng lẽ, tay mở khóa cửa mà đôi mắt không ngừng dòm chừng bên phải, bên trái, bụi rậm bên hè, xem bầy quái thú có lẩn khuất rình nấp ở đâu đây không? Rồi khi lên giường, đèn vừa tắt là những lo sợ ập đến. Giấc ngủ đôi khi vì mệt mỏi hơn là một khoảng thời gian để nghỉ ngơi. Đã thế, họ còn phải đối diện với cuộc sống cô đơn. Cô đơn khi ở trong nhà tù. Cô đơn tại nơi làm viêc, trong học đướng, hay ngoai xã hội.

Bạn bè, thân nhân ư? Tự nhiên là vắng lặng, chẳng được mấy tiếng hỏi thăm nếu như không muốn nói là “người ta” đã âm thầm rút lui vì sợ “cháy thành vạ lây” từ lúc nào! Ấy là chưa kể đến những “ trỏ chơi” áp lực đốn mạt, ném bùn từ các cơ sở truyền thông cũa nhà nước. Chúng buộc cơ quan, công sở, học đường, nơi họ đang sinh hoạt, làm việc với, phát cho họ tấm giấy… thôi việc, đuổi học như trường hợp của Nguyễn đắc Kiên, Nguyễn phương Uyên. Hoặc giả, những người như Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, Lê Công Định… sau khi bị nhà nước bức hại bằng những bản án “ chống phá và âm mưu lật đổ chính quyền” là cả đời (nếu chúng còn tồn tài) thì khó có cơ hội kiếm đưọc công ăn việc làm hợp với khả năng, tri thức của họ! Với trăm nghìn thiệt thòi cho bản thân như thế, mà họ vẫn đi. Vẫn hiên ngang mãnh liệt tranh dấu cho Tự Do, cho Công Lý cho Độc Lập của Tổ Quốc. Vẫn quyết tâm tranh đấu, ngõ hầu đem lại cho đồng bào một cuộc sống tốt đẹp hơn. Vẫn tiếp tục lên án cái bạo quyền của cộng sản. Công khai đưa ra những nhận định, đưa ra những đáp số như chỉ dẫn trước về sự kết liễu cho số phận của tập đoàn CS phải đến là:

- Họ xuất phát từ một cái văn hoá thấp kém,dùng một phương pháp đấu tranh hoàn toàn phi nhân đạo, phi nhân bản, là chuyên chính, bạo lực, vô sản để đàn áp, để trấn áp con người với một mục tiêu hoàn toàn phi đạo lý, vô chính trị và có thể nói là phi pháp nữa ( Lê thị Công Nhân)

- Phần Nguyễn Phương Uyên, như một quan toà lẫm liệt, dõng dạc, công minh, dứt khoát khi công bố bản án kết liễu cho cái chế độ và tập đoàn CS là: “Đảng cộng sản đi chết đi. Tàu khựa cút khỏi biển đông”!

- Trong khi đó, Việt Khang lịch thiệp, như kẻ trên, hỏi thẳng những tên cộng sản bán nước hại dân là: “ Xin hỏi, anh là ai, anh ở đâu sao lại ngăn bước tôi chống giặc Tàu ngoại xâm… Dân tộc anh ở đâu, sao đang tâm làm tay sai cho Tàu…”

Tôi không cho đây là những lời họ mạt xát, phỉ báng tổ chức đảng và nhà nước cộng sản, Nhưng là những nhận dịnh, những kết luận vững chắc để cho mọi ngưòi nhìn rõ bộ mặt thật của tập thể gian dối cộng sản. Không phải biết để ma xa lánh, yên lặng. Nhưng là cùng nhau đào thải nó ra khỏi xã hội. Rồi cùng nhau khơi dậy niềm tin và sức sống cho mọi ngưòi bước vào tương lai. Bởi vì, khi xã hội đã được giải phóng, thoát khỏi mọi gian dối của cộng sản, nó cũng đồng thời giải phoáng xã hội ra khỏi nhiều tai họa do sự gian dối gây ra. Đặc biệt là cứu xã hội ra khỏi cơn khủng hoảng của tội ác. Ngày nay, khi nhìn vào tờ báo, nhìn vào các bảng thống kê, ai cũng rùng mình khiếp sợ vì các loại tội phạm thuộc hàng đại ác đã tăng vọt theo việc học tập theo gương đạo đức Hồ chí Minh.

- Tại sao thế?
- Dễ hiểu thôi.

Thứ nhất về bản chất. Đúng như nhận định của Lê thị Công Nhân. Nhà cầm quyền cộng sản chỉ nhắm đến một điểm tuyên truyền chính trị cục bộ. Họ muốn khoác áo bào cho HCM làm một lãnh tụ, đưa HCM lên làm một thứ thần hoàng gỉa tạo và bấu víu vào đó để kiếm miếng lợi nhuận. Nhưng lại qúa kém cõỉ trong việc không biết phân biệt cái nào là của HCM đáng là gương mẫu cho tuổi trẻ, cái nào là tội ác đáng lên án tử hình cho Y? Nên họ đã thay nhau tạo ra một ngôn từ chung chung, gom vào một cái từ ngữ “đạo đức Hồ chí Minh” để làm tuyền truyền. Kết qủa bài tuyên truyền này phản tác dụng. Ngày nay, với những thông tin điện toán, nhanh chóng truyền đi sự thật, mọi người đều thấy được cái hình ảnh lớn nhất, vỹ đại nhất của Hồ chí Minh là:.

a. Việc nưóc. Hồ chí Minh ngay rừ năm 1919, Y đã biết đánh tráo công sức và cái tên chung của những trí thức Việt Nam như các cụ Phan chu Trinh, Phan văn Trường, Tạ thu Thâu và Nguyễn an Ninh làm của riêng mình. Khi về Việt Nam thì giải phóng chưa thấy đâu, Y đã tổ chức cuộc tổng đấu tố trên toàn đất bắc theo khuôn mẫu và xếp đặt của hai viên cố vấn Trung cộng để giết hại hơn 270000 ngàn ngưòi Việt Nam. Và làm ly tán hàng triệu gia đỉnh khác với mục đích tạo ra sợ hãi triền miên trong dân chúng để nắm quyền lực. Ấy là chưa kể việc gây ra cuộc chiến sau 1954 tại miền nam, đưa đến cái chết của hơn 3 triệu con dân Việt Nam và đậy cả nước vào đường khố đáy điêu linh, làm nô lệ cho cộng sản, phục dịch, nô lệ, xin làm chư hầu cho Trung cộng.

b. Việc nhà. Với cha mẹ, một đời Y không đốt cho họ được một nén nhang gọi là đền ơn nghĩa sinh thành? Chữ đạo hiếu của con người ở đâu? Chuyện vợ con. Y không có vợ chính thức trên giấy tờ. Nhưng thực tế lại sống vợ chồng với một thiếu nữ chưa đủ mười tám tuổi là Nông thị Xuân nhiều năm. Rồi sau khi Nông thị Xuân sinh con thì chính Y là ngưòi lệnh cho Trần quốc Hoàn xiết cổ Xuân và quăng xác ra đường, gỉa làm một tai nạn giao thông. Vậy là đạo nghĩa ư? Thú cũng không cắn xé bạn tình mình như thế! Một kẻ vô gia đình, vô tổ quốc từ bản chất và tàn độc với dồng bào như thế mà đáng được coi là gương mẫu đạo đức để buộc ngưòi khác phải noi theo ư?

Lý do thứ hai về phương thế áp dụng. Từ nền văn hóa vô đạo và lối tuyền truyền thô bạo bất lương ấy, CS đã đẫy nhiều tầng lớp tuổi trẻ Việt Nam vào đường cùng, không lối thoát, không tương lai. Trước mắt họ chỉ là một cuộc xát phạt, tranh đoạt, cậy thế lực, bao che từ tấm thẻ đoàn, thẻ đảng để có chỗ ngồi tốt, bát cơm tốt, cuộc sống phủ phê trong quyền lực. Từ một tên cán nhỏ nhất ở xóm thôn, phường khóm đã có đủ uy quyền, muốn nắng được nắng, muốn mưa có mưa. Tự tiện ra luật hành luật và mặc tình cho xã hội rên xiết trong thống khổ. Kết quả, phản ảnh từ nền văn hóa và đạo đức vô gia đình, vô tổ quốc của Hồ chí Minh sau khi được áp dụng vào xã hội là. Lớp trẻ khi lớn lên, tương lai thì không có, lối thoát cũng không, Cuộc sống là một sự khủng hoảng lớn từ công ăn cho đến việc làm. Đã thế, luân lý đạo đức nền tảng của xã hội bị phá sản, nên càng ngày càng có nhiều kẻ phạm vào tội đại ác, giết cha giết mẹ, giết vợ giết con, giết bằng hữu thân nhân theo gương HCM.

Khi thấy họa, Công sản chữa cháy, đem ra xử với những bản án tử hình thì phỏng có ích lợi gì? Có làm cho các tội phạm giảm bớt hay không? Hãy mở thống kê ra xem thế nào? Hình như càng ngày càng có nhiều tội ác nghiêm trọng xuất phát từ tuổi thanh thiếu niên. Trẻ có thể tặng cho nhau con dao mã tâu của HCM chỉ vì một cái nhìn, một câu nói thách, hay vì năm, ba chục ngàn bạc, (vài đồng đô la). Tại sao thế? Tại vì họ không được giáo hóa theo nhân bản thiện. Khi con người không còn lý tưởng sống. Chỉ nhìn cuộc sống qua cung cách hưởng thụ vội vã, chụp giựt qua ngày thì tội ác sẽ dẫn đường. Tội cho họ mà cũng là thảm họa cho đất nước!

Theo đó, những lời lẽ của những ngưòi trẻ hôm nay, điển hình là của Công Nhân, Phương Uyên, Việt Khang… phải đưọc trân trọng như một cuộc vận động lớn để kết liễu, để giải trừ gian trá ra khỏi xã hội. Việc vận động này, trước hết ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và sự giáo hoá trong một nền văn hóa nhân bản cho con người. Giúp cho con ngưòi nhìn ra được lẽ sống khi sống, Và sống với nhân phẩm cách của mình. Một khi tuổi trẻ và những thế hệ nối tiếp sau, nhìn ra được tương lai của đất nước, của dân tộc thì họ cũng nhìn ra được tương lai của chính mình. Vì ở đó, con ngưòi được đối xử một cách công bằng, bình đẳng. Cuộc sống không còn nằm trong hay lệ thuộc vào tấm thẻ đoàn, thẻ đảng để có được địa vị, miếng ăn, thì việc tự phát triển nhân cách và đời sống sẽ đổi thay, thăng hoa. Từ đó, việc phạm những tội đại ác theo gương Hổ chí Minh, tự nhiên sẽ giảm và đi đến triệt tiêu. Triệt tiêu từ giáo hóa hơn là hình phạt (dẫu hình phạt cũng rất cần để răn đe) nhờ đó dời sống luân lý và đạo đức của xã hội được bảo đảm, an toàn giúp mọi người có thêm nhiều phương tiện để tổ chức và mưu cầu phúc lợi cho cuộc sống của riêng mình.

Đó chính là chủ đích lớn nhất, vững nhất và cao cả nhất mà tôi tin rằng những người trẻ hôm nay đang mang ở trong người khi họ đương đầu với cuộc chiến truyền thông dốt trá của cộng sản. Đây không chỉ là cuộc đối đầu, thách thức giữa những đôi tay trắng với hàng triệu triệu súng đạn bạo lực của cộng sản, Nhưng là cuộc đối đầu giữa những tâm hồn trong sáng vì đất nước vì đồng bào với những con thuồng luồng bỉ tiện cộng sản. Giữa sự thật, Công Lý với gian dối. Nói cách khác, đây là một chiến lược lâu dài nhằm tẫy xóa mọi hình ảnh giả tạo, gian dối của Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản đã tuyên truyền trên đất nước này từ mấy chục năm qua ra khỏi xã hội. Rõ ràng, đây không phải là công việc của một vài người và làm trong vài bữa nửa tháng, Nhưng là của mọi người cùng nỗ lực trong vài ba thế hệ mới khả dĩ hoàn tất. Như thê, bước đi của họ hôm nay chỉ là cuộc khởi đầu. Lẽ nào người Việt Nam muốn có một đất nưóc Độc Lập, ở đó, người dân có được sự Tự Do, Bình Đẳng để xây dựng đời sống và phúc lợi riêng, Và ở đó, Công Lý, Nhân Quyền của con người được bảo đảm và tôn trọng, lại thờ ơ không thể tiếp tay, dấn bước theo những bước khởi đầu của tuổi trẻ hôm nay hay sao? Tôi tin rằng, đã đến lúc mọi người phải thay đổi tư duy và hành động của mình để bắt kịp nhịp đi của những người trẻ vì đất nước hơn là ngồi chờ sung rụng.

Cách riêng, với các bạn trẻ, tôi thành thật muốn nói rằng: Các bạn đã thành nhân trên con đường tranh đấu cho Công Lý, cho Nhân Quyền của dân tộc. Đường các bạn đi, vị trí các bạn đứng trên cả những tổ chức chính trị, đảng phài. Bởi vì, khi họ nói là ra sức tranh đấu vì nhân dân, vì đất nước thì cũng là lúc họ lo cho chỗ đứng, chỗ ngồi và cả chỗ… nằm của họ nữa. Đặc biệt, các bạn đứng hẳn trên một đỉnh cao nhân bản, hoàn toàn khác biệt và đối nghịch với tập thể bá đạo cộng sản. Vì đó là một tập thể mà chính Mark, cha đẻ của thuyết cộng sản đã nhìn thấy và định nghĩa về những “đồng chí” của Mark như sau “ chỉ có loài thú mời ngoảnh mặt quay đi trước những thống khổ của đồng loại”. Quả thật, không có nhiều định nghĩa về con người, đặc biệt, về các đảng viên Việt cộng hay hơn định nghĩa Mark. Bời vì các đảng viên Cộng sản của Mark không những chỉ đáp ứng trọn vẹn định nghĩa của Mark, mà còn đi xa hơn thế nhiều. Chúng không chỉ ngoảnh mặt trước những nỗi thống khổ của đồng loại, nhưng còn quay lại cắn xé, nuốt tươi đồng loại, trong đó có cả cha mẹ, anh em, thân nhân và bằng hữu của chúng nữa!

Hỡi các bạn trẻ Việt Nam! Đừng bao giờ trông chờ cộng sản đổi thay, vì bản chất của cộng sản là gian trá và tạo ra gian trá. Cộng sản sẽ mãi mãi là cộng sản. Như gian dối sẽ mãi mãi là gian trá. Sự thay đổi của CS nếu có, thì nó chỉ đổi từ gian trá này sang một gian trá khác mà thôi. Cộng sản cũng sẽ không bao giờ có thể nhân danh gian dối để trừ gian dối. Nghĩa là, người ta không thể lấy danh nghĩa của Qủy để mà trừ qủy. Trái lại, chỉ có sự thật mới có thể diệt trừ được gian trá. Điển hình, chính Yelsin, Gobachev cũng đã nhân danh Công Lý, và Tự Do để tiêu diệt cộng sản và gian dối. Một tấm gương đáng trân trọng và cho chúng ta noi theo.

Nay các bạn đã đi vì Công Lý. Đã hành xử như những chính nhân trọng Nhân Quyền. Cả đất nước này đang trông chờ vào sự trổi vượt của các bạn. Tôi tin rằng, nền Độc Lập thịnh trị của dất nước. Sự hạnh phúc trong Tự Do, Công Lý của đồng bào đang trông chờ vào những bước đi can trường và quảng đại của các bạn.

(Bảo Giang, baogiang.wordpress.com, 12.2013)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Một con người tài hoa, suốt đời đấu tranh cho nhân quyền
Linh Nguyễn & Ðỗ Dzũng/Người Việt

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) - Ca nhạc sĩ Việt Dzũng đột ngột qua đời vì bệnh tim tại bệnh viện Fountain Valley
sáng Thứ Sáu, 20 Tháng Mười Hai, hưởng dương 55 tuổi, làm nhiều người, cả đồng hương, đồng nghiệp và bạn bè, bàng hoàng,
thậm chí nhiều người không tin là sự thật.

Có thể nói, sự ra đi của người nhạc sĩ tài hoa này làm chấn động cộng đồng người Việt tị nạn không chỉ tại Little Saigon mà còn ở khắp nơi trên thế giới.

Image
Cố ca nhạc sĩ Việt Dzũng. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

“Ðây là một mất mát lớn lao cho đài Radio Bolsa, giới truyền thông, giới nghệ sĩ, nói riêng, và cho cộng đồng người Việt tị nạn, nói chung,” ông Nguyễn Chí Thiện, giám đốc đài phát thanh Radio Bolsa, nơi nhạc sĩ Việt Dzũng làm việc hàng ngày từ gần 20 năm qua, nói với phóng viên nhật báo Người Việt.

“Mới hôm qua, Việt Dzũng gọi điện thoại xin nghỉ bệnh. Hôm nay mẹ của Việt Dzũng gọi vào đài, không gặp anh và bà đến nhà anh thì được biết anh đã được đưa vào bệnh viện cấp cứu từ sáng,” ông Thiện nói thêm.

Ngoài Bolsa Radio, nhạc sĩ Việt Dzũng còn làm việc cho đài truyền hình SBTN và Trung Tâm Asia trong gần 20 năm qua.

Nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN kiêm giám đốc nghệ thuật Trung Tâm Asia, không cầm được nước mắt, nói với nhật báo Người Việt bằng giọng xúc động: “Khi nhận hung tin, tôi chưa chấp nhận sự thật. Cho tới khi vào bệnh viện, thấy Việt Dzũng nằm đó, mới biết bạn mình thật sự đi rồi. Trong gần 20 năm qua, phải nói rằng nếu không có Việt Dzũng thì SBTN và Asia không được như ngày hôm nay. Ðối với tôi, Việt Dzũng vừa là người bạn, người anh, và đồng nghiệp. Sự ra đi của anh quá đột ngột. Chúng ta mất một người rất tài hoa.”

“Ðiều mà tôi nhớ nhất là Việt Dzũng rất thương 'đàn em' như ca sĩ và xướng ngôn viên, những người được anh đào tạo khi mới vào nghề,” nhạc sĩ Trúc Hồ nói tiếp. “Anh làm cho người khác nhiều và sống vì người khác nhiều lắm. Tôi nhớ anh nhất là những lần sang trại tị nạn quay phim, dù chân anh bị tật, đi lại khó khăn, nhưng anh vẫn cứ lướt tới, không bao giờ chùn bước.”

Nhà báo Khanh Nguyễn, giám đốc Ban Việt Ngữ đài phát thanh Á Châu Tự Do, chia sẻ: “Trong 30 năm làm việc chung với Việt Dzũng, qua các chương trình trên hai đài phát thanh Little Saigon Radio và Radio Bolsa, phải nói là chúng tôi thân nhau như anh em ruột. Tôi nhớ gặp Việt Dzũng lần đầu năm 1980 ở Washington, DC. Trước đó, tôi từng nghe những bản nhạc do anh sáng tác. Tôi nhớ hôm đó Việt Dzũng nói với tôi: 'Trước giờ anh nghe những bản nhạc của em rồi, nhưng do người khác hát. Hôm nay anh sẽ được nghe những bản nhạc đó, nhưng bằng chính giọng của em.'”

“Khi rời đài Little Saigon Radio và ra mở đài Radio Bolsa, Việt Dzũng có mời tôi cộng tác tiếp và nói 'anh đừng bao giờ bỏ em nhé.' Nhưng hôm nay, thì Việt Dzũng đã bỏ tôi rồi,” nhà báo Khanh Nguyễn chia sẻ tiếp. “Rất nhiều người hôm nay đến bệnh viện hỏi tôi 'Có thật là Việt Dzũng ra đi?' Nhiều người không tin vào hung tin này.”

Ông Nguyễn Hữu Công, giám đốc chương trình của Little Saigon Radio ở Westminster, từng làm việc chung với cố ca nhạc sĩ Việt Dzũng trong những năm đầu tiên khi đài mới thành lập.

Ông chia sẻ: “Phải nói đây là một mất mát lớn cho cộng đồng, cho phong trào nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam. Việt Dzũng rất tích cực, một tiếng nói được nhiều người tin cậy.”

“Về mặt phát thanh, anh là một người đa tài, và là người đầu tiên trình bày tin tức theo phong cách của người Mỹ,” ông Công nói tiếp. “Hồi bên Việt Nam, thế hệ chúng tôi được huấn luyện đọc tin rất trịnh trọng. Nhưng khi Phạm Long, Minh Phượng và Việt Dzũng ngồi chung, thì chính Việt Dzũng là người trình bày bản tin thoải mái, có tiếng cười, từ đó, ngành phát thanh có thay đổi.”
Image
Cố nhạc sĩ Việt Dzũng và xướng ngôn viên Minh Phượng trên trang báo OC Register ngày 1 Tháng Sáu, 1997. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Ông Nguyễn Hữu Công cho rằng, trong ngành truyền thông, ca nhạc sĩ Việt Dzũng là một nhà báo hơn là một xướng ngôn viên đọc tin tức, vì “anh biết tìm tòi tin tức và gởi đến thính giả một cách nhanh nhất.”

Nhà báo Phạm Long, hiện đang làm việc cho đài truyền hình Vietnam America 57.3, tâm sự: “Tôi rất ngậm ngùi khi hay tin, vì Việt Dzũng là một người làm việc rất chuyên nghiệp. Dù tôi ở trong nghề lâu hơn anh, nhưng chính anh là người luôn có những sáng kiến và đánh máy rất nhanh, từ tiếng Anh sang tiếng Việt và từ tiếng Việt sang tiếng Anh.”

“Kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi với anh là khi chúng tôi bắt đầu làm chương trình 'Niềm Mơ Ước Mùa Giáng Sinh.' Chương trình hôm đó rất cảm động, ngày nào chúng tôi cũng nhận được thư từ và đóng góp tài chánh, để có thể mua quà Giáng Sinh cho các em nhỏ.”

Tại Trung Tâm Asia, nhiều ca sĩ vẫn còn ngỡ ngàng khi hay tin “người anh” của họ ra đi.

Ca sĩ Ðoàn Phi kể: “Sáng thức dậy, tôi nhận được rất nhiều tin nhắn. Khi mở ra nghe, không thể tin đó là sự thật, vì tôi mới nói chuyện với anh hôm tham gia chương trình Viet Love for Philippines. Cho đến khi biết sự thật, tôi đi lang thang, thẫn thờ ngoài đường, suy nghĩ về anh, một người tôi coi như anh của mình.”

“Rồi tôi đến Asia để hỏi thăm việc hậu sự, rồi đến nhà thờ cầu nguyện cho anh,” ca sĩ Ðoàn Phi nói tiếp. “Anh là một người tài hoa, đóng góp rất nhiều cho cộng đồng. Hầu như cả cuộc đời anh cống hiến cho nhân quyền Việt Nam. Trong nghề nghiệp, anh là một người bạn, người anh, và người thầy của tôi.”

Ca sĩ Hoàng Anh Thư không nén nổi nỗi xúc động, nói chầm chậm: “Em chỉ biết khóc và cầu nguyện cho linh hồn anh thanh thản. Anh là một người rất tốt. Khi em mới tới Mỹ, anh chính là người nâng đỡ em, dạy dỗ từng lời, nhiệt tình và thật thà. Em chắc chắn anh sẽ lên Thiên Ðàng.”

“Em có rất nhiều kỷ niệm với anh. Mỗi lần đi show chung, em là người đẩy xe lăn cho anh, từng ăn cơm chung với vợ chồng anh tại nhà, rất là vui. Nhưng bây giờ, những ngày vui như vậy không còn nữa,” nữ ca sĩ này nói tiếp.

Từ 10 giờ sáng, một số thân hữu nghe hung tin và đến đài Radio Bolsa để hỏi thăm, như nhà báo Du Miên, ông Nguyễn Bá Thành, ký giả Khúc Minh, nữ sĩ Bích Huyền, Giám Sát Viên Janet Nguyễn, ông Lê Công Tâm, ca sĩ Chung Tử Lưu và một số bạn khác.

Khuôn mặt mọi người buồn rười rượi, có người mắt đỏ hoe.

“Mới gặp đó mà nay Dzũng đã đi rồi,” bà Bích Huyền nói trong cơn xúc động.

Trên tường, trước cửa phòng thu âm có treo bức ảnh cố nhạc sĩ Việt Dzũng và xướng ngôn viên Minh Phượng trong một bài viết của báo OC Register ra ngày 1 Tháng Sáu, 1997, nhân dịp khai trương đài Radio Bolsa.

Một tấm ảnh khác trên bức tường đối diện cũng là hình hai người trên trang “Show Saturday” với tựa đề “Tuning In To Little Saigon.”

Ông Nguyễn Bá Thành đến đài để quảng bá chương trình “Niềm Mơ Ước Mùa Giáng Sinh” cho biết: “Tưởng như mới ngày hôm qua thôi, vì tôi và Việt Dzũng cùng làm MC trên sân khấu ngày 15 Tháng Mười Một trong lần gây quỹ ở Dallas cho nạn nhân Philippines.”

“Chính Việt Dzũng và chị Minh Phượng đặt tên cho chương trình 'Niềm Mơ Ước Mùa Giáng Sinh” 21 năm trước trên đài Little Saigon Radio và Little Saigon Foundation. Việt Dzũng là một 'ông già Noen của thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại,'” ông Thành nói thêm.

Trên trang mạng của Người Việt Online, bản tin ca nhạc sĩ Việt Dzũng qua đời có tới hơn 50,000 lượt người vào đọc.

Trên các diễn đàn Internet, mở ra chỗ nào cũng thấy email “Vô cùng thương tiếc ca nhạc sĩ Việt Dzũng” chuyển đi khắp thế giới.

Tất cả các cơ quan truyền thông Việt Ngữ ở hải ngoại đều đưa tin sự ra đi của ca nhạc sĩ được nhiều người biết đến, từ khi còn ở trong nước, cho tới khi ra hải ngoại, nhất là ca khúc do ông sáng tác, “Một Chút Quà Cho Quê Hương.”

Tại hải ngoại, ca nhạc sĩ Việt Dzũng gần như không bao giờ vắng mặt trong các chương trình văn nghệ đấu tranh, nhất là cùng với ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh.
Image
Nữ sĩ Bích Huyền bật khóc trước hung tin khi nói chuyện với ca sĩ Chung Tử Lưu tại đài Radio Bolsa. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Trong một thông cáo báo chí, nữ Dân Biểu Loretta Sanchez (Dân Chủ-Ðịa Hạt 46) chia sẻ: “Hôm nay, chúng ta mất ca nhạc sĩ Việt Dzũng, một người đóng góp trong hơn 30 năm cho cộng đồng Việt Nam ở Orange County cũng như tại hải ngoại. Ông được biết là một nhạc sĩ, ca sĩ, nhà tổ chức, nhà thiện nguyện, nhà báo, MC và xướng ngôn viên Radio Bolsa.”

“Cá nhân tôi được biết ca nhạc sĩ Việt Dzũng trong vai trò một nhà hoạt động nhân quyền, một người bỏ cả cuộc đời đấu tranh cho tự do và dân chủ tại Việt Nam,” bà Sanchez cho biết tiếp. “Tôi xin chia sẻ sự mất mát này với cộng đồng Việt Nam, gia đình cố ca nhạc sĩ Việt Dzũng, và nhất là những người ngưỡng mộ ông. Mọi người sẽ không bao giờ quên ông.”

Ký giả Khúc Minh, một đồng nghiệp của ca nhạc sĩ tại Bolsa Radio, cho biết: “Việt Dzũng qua Mỹ ngày 30 Tháng Tư trên tàu Trường Xuân của cụ Phạm Ngọc Lũy, khi ấy là thuyền trưởng. Anh tốt nghiệp cử nhân Toán và Âm Nhạc đại học Oklahoma. Sau về làm việc chung với thi sĩ Du Tử Lê ở Houston, Texas, và được nhiều người biết đến qua tuyển tập nhạc 'Kinh Tị Nạn' năm 1983, trong đó có bài 'Một Chút Quà Cho Quê Hương.'”

Cũng theo ông Khúc Minh, cuối năm 1984, cố nhạc sĩ Việt Dzũng dọn về California và tham dự nhiều sinh hoạt văn hóa như cộng tác với báo Diễm (Trần Thị Diễm Phúc), báo Hồn Việt (Ngọc Hoài Phương). Anh từng sinh hoạt trong Phong Trào Hưng Ca Việt Nam với ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh, và tham dự nhiều sinh hoạt từ thiện, đấu tranh cho tự do và nhân quyền Việt Nam với các đoàn thể trong cộng đồng. Sau khi làm việc cho đài phát thanh Little Saigon Radio từ năm 1992 đến năm 1996, ông cùng Minh Phượng sáng lập Radio Bolsa ở Westminster từ đó đến nay.

Ngoài ra, ông cũng cộng tác với đài truyền hình SBTN ở Garden Grove và là MC trong nhiều băng nhạc của Trung Tâm Asia.

Hiền thê của ông là nhiếp ảnh gia Bébé Hoàng Anh.

Việt Dzũng tên thật Nguyễn Ngọc Hùng Dũng, sinh năm 1958 tại Sài Gòn.

Thân phụ của ông là Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, và mẹ là cựu giáo sư trung học Gia Long.

Ca nhạc sĩ Việt Dzũng sáng tác nhiều ca khúc, bao gồm nhạc đấu tranh và tình ca. Những ca khúc nổi tiếng của ông, ngoài “Một Chút Quà Cho Quê Hương,” còn có “Lời Kinh Ðêm,” “Mời Em Về,” “Tình Ca Cho Nguyễn Thị Sài Gòn,” “Tình Như Cây Cà Rem,” “Và Em Hãy Nói Yêu Anh,”...
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Làm cách nào để tin được nhau

Ngô Nhân Dụng

Bài trước trong mục này kết luận, “Nước Việt Nam cần có nhiều người như Preet Bharara trong ngành tư pháp.” Bharara là một ông biện lý đang nổi tiếng ở thành phố New York, ông muốn bắt “những người phạm luật phải chịu hậu quả về những việc họ làm, dù họ là những người giầu sang, quyền lực, hay có liên hệ lớn như thế nào.”

Bài báo được một bạn đọc gửi đăng trên mạng Bauxite Việt Nam. Ban chủ biên mạng đã góp thêm ý kiến: “Trong một xã hội quan chức ngày càng giàu sụ như ở Việt Nam, 'sâu' thì bò lổm ngổm mà những kẻ có chức năng 'nhặt sâu' đều làm lơ đâu có ai dám bắt; vậy mà lại nảy nòi ra những vị biện lý công minh như ông Preet Bharara của nước Mỹ thì để mà chết cả nút à!” Và nhận xét, “Có lẽ tác giả ở nước ngoài lâu quá” cho nên mới viết như thế.

Quả thật tác giả ở nước ngoài từ năm 1975 đến nay. Ngỏ ý mong ngành tư pháp nước Việt Nam có nhiều vị biện lý công minh quả là ý kiến rất ngây thơ, mơ mộng. Thật tình, ai cũng biết tình trạng “sâu bọ” bò lổm ngổm ở nước Việt Nam bây giờ. Nhưng sẽ tới ngày chúng ta xây dựng lại một nước Việt Nam của mình, không phải của bọn sâu bọ, thì ước mong đó sẽ thực hiện được.

Dân Việt Nam có thể sinh ra những vị biện lý cương trực như Preet Bharara hay không? Tôi xin kể một kinh nghiệm bản thân. Tháng Tư năm 1975, bà mợ tôi đến nhà, khóc lóc với mẹ tôi, báo tin cậu con út của bà bị cảnh sát tỉnh Gia Ðịnh bắt giam. Thằng bé 15, 17 tuổi theo bạn bè đi phá làng phá xóm. Mợ tôi thấy ông biện lý tỉnh Gia Ðịnh cùng họ với nhà tôi, hỏi tôi có quen không, cách nào đến xin ông tha cho thằng bé hay không. Vì cô con gái của mợ đang làm cho tòa đại sứ Mỹ, đang được sở (DAO) thông báo họ có thể đưa cả gia đình cô di tản, gọi lúc nào đi lúc đó.

Cậu mợ đã nuôi tôi như cha mẹ nuôi con. Vợ chồng tôi đến tìm ông biện lý, trình bày hoàn cảnh đứa trẻ hư, ham chơi lêu lổng, theo bạn bè xấu, vì thời loạn lạc nhiễu nhương, xin ông thông cảm. Ông em họ lắng nghe, rồi hứa sẽ chú ý. Nhưng ông nói thẳng rằng chỉ vì cảm tình nên ông sẽ đích thân coi lại hồ sơ, để không ai bị oan ức. Ngoài điều đó ra, ông sẽ theo đúng luật lệ và thủ tục. Ngày hôm sau đó, ông cho biết không thể tha, vì hồ sơ cảnh sát ghi mấy cậu thanh niên bắt tại trận lúc đang phá nhà người ta. Có tang chứng, phải giam lại, chờ ngày ra tòa.

Vì cậu con út đang bị giam, bà mợ tôi đã ở lại Sài Gòn trong khi chồng và các con khác lên máy bay ra đi, rồi định cư ở Canada. Tôi không buồn, không giận ông biện lý Gia Ðịnh. Ông không vì tình riêng mà vượt qua luật pháp. Tên ông là Hà Dương Vĩ. Ở nước Việt Nam Cộng Hòa lúc đó có rất nhiều vị biện lý như ông. Họ không nổi tiếng như Preet Bharara, người đã tấn công cả đám tài phiện lẫn bọn mafia, một nhân vật xuất chúng được dư luận biết đến.

Nhưng một dân tộc không cần nhiều người nổi danh, đóng vai anh hùng trừ gian, dẹp bạo như vậy. Làm sao trong đất nước có rất nhiều vị biện lý hiền lành, thực thà, chăm chỉ, sống tầm thường nhưng thuộc lòng câu “Pháp bất vị thân,” và áp dụng hàng ngày, không thắc mắc, điều này còn quan trọng hơn nữa. Kinh nghiệm thấy ở nước mình đã có những người như vậy cho nên tôi tin chắc trong tương lai nước ta sẽ có rất nhiều vị biện lý chính trực, quang minh. Ngành tư pháp nước ta nếu có người như Preet Bharara thì quý lắm, nhưng chỉ cần dăm ba người như Bharara cũng đủ rồi. Ngược lại, mỗi dân tộc cần có nhiều người làm việc tư pháp bình thường như Hà Dương Vĩ. Trước năm 1975 đó không phải là ước mơ mà là sự thật. Cho nên có thể tin trong tương lai đất nước chúng ta sẽ thực hiện được ước mong này.

Nói đến niềm tin ở tương lai trong lúc này khó lọt tai người nghe. Nhiều người ở trong nước rất bi quan, có khi tuyệt vọng, trước cảnh quan chức gian tham, đạo lý suy đồi. Có lẽ vì hàng ngày quý vị đó thấy trước mắt những thứ mà người ở bên ngoài không thấy. Người ta không tin có công lý, vì đã chứng kiến cán cân công lý bị bẻ cong. Như phiên tòa phúc thẩm ở tỉnh Phú Yên ngày 23 tháng 12, 2013, xét xử ông Ngô Hào vì “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền Nhân Dân.” Các quan tòa xuất hiện lúc 8 giờ sáng, chưa tới 10 giờ họ đã tuyên án, ông Ngô Hào vẫn bị 15 năm tù và 5 năm quản chế. Làm sao người ta có thể tống giam một người suốt 20 năm, trong vòng chưa đầy hai tiếng đồng hồ đã quyết định xong? Có nền tư pháp một nước văn minh nào giống như vậy hay không? Theo lời kể của anh Ngô Minh Tâm, con ông Hào, gia đình bị cáo không hề được tòa thông báo phiên xử. Nhờ luật sư, họ mới biết. Không thân nhân, bạn hữu nào được được vào, phiên tòa chỉ có ba mẹ con anh dự nhưng lại có tới hơn 50 công an mặc sắc phục! Anh Ngô Minh Tâm thuật lại: “Phiên tòa diễn ra rất là chóng vánh” vì cả ông Ngô Hào và luật sư của ông không được nói câu nào cả, cũng không chấp nhận cho đưa ra các bằng chứng.

Một nền tư pháp như vậy, chẳng trách nhiều anh chị em trong nước rất bi quan. Nỗi bi quan rộng lớn hơn nữa khi tình trạng xã hội bên ngoài tòa án cũng xuống dốc, nếu không nói là sa đọa. Tết sắp tới, lại khó quên cảnh dân ta đi xem hội Xuân hoa đào rồi đua nhau hái trụi hết hoa! Không phải một lần mà hai năm liên tiếp! Tòa Ðại Sứ Hà Lan đem phát áo che mưa, bao nhiêu người nhẩy lên cướp. Tiệm ăn Nhật Bản mời ăn miễn phí, hàng ngàn người chen lấn giành giật. Người ngoại quốc họ không hiểu nổi dân Việt Nam là cái giống người gì. Vụ “hôi bia tập thể” ở Biên Hòa thì mới xẩy ra mấy tuần trước.

Nhưng có nên tuyệt vọng hay không? Chắc không nên tuyệt vọng. Người Việt Nam vẫn là người Việt Nam. Chế độ cai trị có tham ô, tàn ác và gian xảo đến mấy cũng chỉ tác hại được một thời gian, trên một thiểu số người Việt. Họ không thể phá hủy tất cả di sản tinh thần ông cha đã xây dựng mấy ngàn năm trong lòng dân tộc. Chúng ta có thể tin tưởng như vậy. Sau vụ“hôi bia” ở Biên Hòa, Blog Song Chi đã kể lại những phản ứng của đồng bào trong nước, nghe thấy ấm lòng. Một nữ sinh viên và người cha đã viết rồi treo tấm biểu ngữ tại nơi vụ cướp diễn ra: “Là dân Biên Hòa, là người Việt Nam, tôi thấy xấu hổ thay cho những ai đã ‘cướp vài lon bia’ ở đây...” Nhiều người đã quyên góp tiền tặng anh tài xế chiếc xe chở bia bị lật để bồi thường số bia bị cướp, nhưng sau cùng anh tài xế trả lại hết. Anh nói, vì công ty bia không bắt anh bồi thường, lẽ nào anh lại tham lam lấy của người ta cho.

Quả thật, trong dân tộc Việt Nam vẫn còn giữ những nền nếp tốt, không bao giờ mất. Công dậy dỗ của tổ tiên suốt mấy ngàn năm đám đệ từ của một ông Stalin hay ông Mao Trạch Ðông không thể nào phá hủy được. Chúng ta không nên quá bi quan.

Nhưng chắc cũng không nên lạc quan quá, không nên lạc quan đến mức cứ để mặc cho sự thế chuyển vần. Khi chế độ cộng sản tan rã, công việc khó khăn nhất của dân tộc mình sẽ là làm sao phục hồi được đạo lý, xây dựng được niềm tin giữa người Việt với người Việt. Không thể nghĩ mình chỉ cần cầu nguyện tổ tiên phù hộ, mọi nền nếp sẽ trở về tốt đẹp như xưa.

Một cách cụ thể, chúng ta phải làm gì để phục hồi đạo lý? Làm cách nào cho người Việt Nam tin nhau? Blog Song Chi có nhắc đến vai trò giới truyền thông tác động tâm lý đồng bào, khiến người ta biết những gì đáng hổ thẹn mà tránh. Báo chí, cũng như trường học, đều đóng vai trò giáo dục, từ người lớn đến trẻ em. Có thể nói, chúng ta đều là “dòng dõi nhà Nho,” coi giáo dục là cây đũa thần. Cũng vì thế, không kính trọng Pháp Gia lắm; ngay cả khi nói đến chống tham nhũng, người Việt cũng nói ngay đến chuyện “giáo dục” và “học tập.” Chúng ta có thể tin như ông Khổng Tử, rằng giáo dục là nền tảng xây dựng quốc gia. Nhưng còn một biện pháp khác, là tập luyện thói quen cho con người, qua hệ thống luật pháp. Giáo dục, người ta có thể gật gù nghe, rồi thấy khó quá, không theo được. Nhưng với luật pháp, không theo không được.

Chỉ khi sống trong một xã hội tự do dân chủ người ta mới có cơ hội tập luyện theo phương pháp này. Trong thế giới hiện đại, niềm tin giữa người với người có thể thành hình nhờ pháp luật. Thomas Schelling, nhà kinh tế học nổi tiếng (Nobel năm 2005) đã nêu lên mối liên hệ giữa niềm tin với kiện cáo! “The right to be sued is the power to make a promise: to borrow money, to enter a contract, to do business with someone who might be damaged.” (Quyền bị kiện cũng là quyền năng cho phép mình có thể hứa hẹn: Như khi đi vay tiền, ký hợp đồng, làm thương mại với một người mà mình có thể gây thiệt hại nếu không giữ lời hứa.) Tức là, muốn được người khác tin thì phải làm sao họ thấy họ có thể kiện mình ra tòa, nếu mình không giữ Chữ Tín.

Chế độ dân chủ tự do không bảo đảm sẽ xây dựng được lòng tin chung cho cả xã hội. Nhưng các chế độ độc tài chắc chắn phá vỡ niềm tin chung, vì họ đều đi kèm với các thủ đoạn gian trá. Mất niềm tin đưa tới tình trạng phi luân lý, tức là người ta không còn tin có những quy tắc đạo đức nên theo nữa. Ngược lại, sống trong chế độ dân chủ ít nhất mỗi người biết mình phải tôn trọng luật pháp. Vì luật pháp do các đại biểu thực sự của mình soạn ra chứ không do các nghị gật, mà guồng máy tư pháp được độc lập đáng tin cậy hơn. Tập sống theo pháp luật dần dần tạo thành thói quen, nhìn người khác thấy có thể tin rằng họ cũng tôn trọng luật pháp như mình. Một niềm tín nhiệm chung bắt đầu nẩy nở tự nhiên; mà nếu không có thì xã hội không tiến được.

Cho nên, như lời chúc cho đất nước nhân ngày Lễ Giáng Sinh, chúng tôi xin nhắc lại một điều mong ước chung cho nước Việt Nam: Nước ta cần những ông bà biện lý và các thẩm phán độc lập, chính trực quang minh.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Những nấm mộ đi tù

Nguyễn Lân Thắng
(Blog Nguyễn Lân Thắng)

Tôi vào Nam thăm gia đình và bạn bè một ngày cuối năm rực nắng. Sài Gòn vẫn hối hả như bao lần tôi đã đến. Gia đình tôi bên nội là dân Bắc, bên ngoại là dân Nam, thế nên từ bé đến giờ tôi chẳng xa lạ gì với mảnh đất này. Mọi lần đến Sài Gòn, tôi thường cố gắng bỏ thời gian về nghĩa trang thành phố để thăm mộ ông ngoại tôi. Lần này đi, tôi chợt nhớ đến đã đọc đâu đó về nghĩa trang quân đội VNCH cũng nằm tại Biên Hòa. Gia đình tôi không có người thân nào nằm ở nghĩa trang này, nhưng tôi rất tò mò muốn đến đây để mắt thấy tai nghe mọi chuyện và để thắp dù chỉ một nén nhang cho những người đã khuất.

Trên đường đi, mặc dù được bạn bè hướng dẫn tận tình qua điện thoại mọi “thủ đoạn” để có thể lọt vào nghĩa trang này dù không có người thân bên trong, nhưng tự dưng tôi nổi lên nỗi tự ái rất lớn. Tại sao chiến tranh đã qua lâu mà vào nghĩa trang này lại phải trình chứng minh thư, phải chứng minh được mình có người thân nằm trong đó, và tệ nhất là không được chụp ảnh đàng hoàng. Tôi quyết định sẽ chỉ đi vòng ngoài để quan sát và nhất là lên Ðền Tử Sĩ, một nơi hoang tàn chẳng có ai canh gác. Dù đã biết những điều tệ hại nơi đây qua Internet, nhưng quả thật chỉ khi chứng kiến tận mắt những gì ở Ðền Tử Sĩ tôi mới thấu hiểu phần nào nỗi đau của biết bao gia đình có người thân nằm lại nơi này. Ðền nằm trên một gò đất cao án ngữ ngay trước nghĩa trang, phía trước là cổng tam quan vẫn còn mờ mờ dòng chữ gì đó không đọc được nữa. Tôi về tra lại trên mạng mới biết đó là dòng chữ “Vì nước hy sinh” và “Vì dân chiến đấu”. Theo những ảnh chụp trước 1975 còn lại trên mạng thì cảnh quan nơi này thay đổi thật nhiều. Cả khu gò phủ kín một rừng cây được trồng chắc mới gần đây thôi. Lần theo những bậc bê tông phủ dày lá khô, tôi bước lên khu đền mà lòng thầm kinh ngạc vì sao những cấu trúc xây dựng này có thể bền bỉ tồn tại đến bốn mươi năm dù không có người chăm sóc.
Image
Tác giả, chụp tại Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. (Hình: Facebook Nguyễn Lân Thắng)

Bên trong đền, ngoài một cái bàn gỗ dựng tạm làm bàn thờ là đống chăn chiếu bẩn thỉu, chắc của một người vô gia cư nào đó tá túc qua ngày. Ngày xưa nơi đây từng là chỗ cử hành những nghi lễ trọng thể để tưởng nhớ người đã khuất, giờ bẩn thỉu hoang tàn không khác xó chợ hoang.

Tôi và người bạn đi cùng không dám dọn dẹp kê đặt lại gì nhiều, chỉ dâng hoa và thắp tạm nén hương mong những người còn nằm lại ngậm cười nơi chín suối.

Dẫu biết chỉ là hành động tượng trưng, nhưng thôi thì quét chút lá quanh đền cho mát lòng những người đã khuất.
Image
Thắp nhang tại Ðền Tử Sĩ, Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. (Hình: Facebook Nguyễn Lân Thắng)

Rời khỏi khu đền, chúng tôi đi một vòng vào sâu phía trong nghĩa trang. Người ta đã xây chặn giữa Ðền Tử Sĩ và khu chôn cất một nhà máy nước có tên là Bình An. Cả khu nghĩa trang được xây kín tường cao 3m, bên trên có hàng kẽm gai lởm chởm trông không khác gì trại tù. Xe đưa chúng tôi lướt qua khu kiểm soát, ngoài cổng đề tên là Nghĩa Trang Nhân Dân Bình An, phía trong thấp thoáng vài ngôi mộ. Nếu tôi cố vượt qua cổng này vào bên trong thì chắc chắn phải trình chứng minh thư, phải ghi tên vào sổ, phải chịu sự giám sát của nhân viên an ninh và sẽ không thể nào đàng hoàng nâng máy lên chụp bất cứ thứ gì. Ðó là điều tôi đã được bạn bè cảnh báo trước và tôi không thể chấp nhận được! Tôi đi thăm nghĩa trang chứ có phải đi thăm tù đâu mà phải như vậy!
Vậy mà bao năm qua, gia đình những người đã khuất vẫn phải nín nhịn, vẫn phải xin xỏ chính quyền để thực hiện những quyền rất chính đáng của mình là được ra vào để thăm nom săn sóc phần mộ người thân nằm lại nơi này. Những người nằm xuống trong nghĩa trang này dù lý tưởng của họ là đối lập với nhà nước hiện nay, nhưng họ cũng là người Việt Nam, cũng là cha là ông của biết bao gia đình, mộ phần của họ đáng được hưởng sự chăm sóc của người thân. Tôi tự hỏi một chính thể với đầy đủ sức mạnh trong tay mà sao lại sợ họ thế? Sao nỡ cầm tù kể cả khi họ đã chết? Ðến ngay cả những lính Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc năm 1979, khi chết vô danh trên đất Việt cũng được quy tập chôn cất trong bao nghĩa trang đàng hoàng khắp miền núi phía Bắc? Sao người Việt với nhau mà nỡ đối xử tàn tệ đến mức kinh hoàng như vậy? Còn nhiều câu hỏi nữa cứ luẩn quẩn trong đầu tôi trên đường về, nhưng chắc chắn một điều là chính sách hòa giải dân tộc sẽ không thể thành công nếu nhà nước cứ hành xử như thế này.
Image
Quét lá tại Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. (Hình: Facebook An Ðỗ Nguyễn)

Chiến tranh đã lùi qua lâu mà vết thương trong lòng dân tộc hình như vẫn chưa khép lại. Khi tôi đăng một số bức ảnh chuyến đi thăm nghĩa trang này lên Facebook cách đây mấy hôm thì lập tức nhận được vô số phản hồi trái chiều. Người thì rất hoan nghênh, người thì lại phê phán cho rằng tôi là thằng cộng sản con, là kẻ cơ hội làm chuyện chính trị. Tôi nghĩ các bạn có ý phản đối tôi không cần phải nặng nề như vậy. Chính thể Việt Nam Cộng Hòa dẫu gì cũng đã là quá khứ. Chiến tranh đã kết thúc gần bốn mươi năm và chúng ta vẫn phải chung sống với nhau. Ðiều quan trọng cần làm là nhìn nhận quá khứ, giải quyết tồn tại và hướng tới tương lai. Một mặt cứ sống trong hận thù, phân biệt Nam Bắc thì không thể cùng chấn hưng đất nước được. Mặt khác, phải dũng cảm bỏ qua khác biệt để bắt tay nhau cùng phá bỏ tất cả những điều phi lý, những điều đi ngược lại giá trị nhân bản của dân tộc này. Hãy đi từng bước nhỏ, từng việc cụ thể như việc phá bỏ chế độ kiểm soát nghĩa trang quân đội Biên Hòa giống một trại tù. Hãy lên tiếng, hãy làm trong khả năng mà bạn có thể chịu đựng được. Không bắt đầu thì mãi mãi chẳng bao giờ có đổi thay.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Bỏ đảng hay xóa đảng
Ngô Nhân Dụng

Lev Tolstoi mở đầu cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Anna Karenina với một câu vẫn được các người yêu văn chương nhắc lại hơn một thế kỷ qua: “Các gia đình hạnh phúc đều giống nhau, mỗi gia đình bất hạnh thì bất hạnh theo cách riêng.” Các chế độ cộng sản chiếm được chính quyền cùng một cách, nhưng khi suy tàn thì mỗi đảng tan rã theo một cách khác nhau.

Các đảng cộng sản lên nắm quyền đều dùng bạo động và thủ đoạn bất chấp đạo lý, trong khi các đối thủ của họ đều còn sống trong những quy tắc luân lý quen thuộc của cả xã hội. Giữa một đám nhiều người đang tranh đấu với nhau, kẻ nào xảo quyệt và tàn bạo nhất sẽ tiêu diệt những người thành thật và lương thiện, những người bị gọi là “ngây thơ”. Hoặc Mao nêu khẩu hiệu: “Súng đẻ ra quyền.” Lenin nói, “Chiến tranh là bà mụ đỡ cho cách mạng.”

Nhưng khi các chế độ cộng sản ở Liên Xô và Ðông Âu sụp đổ thì mỗi nơi tan hàng theo một kiểu riêng. Ðảng Cộng Sản Ba Lan tự chuyển giao chức thủ tướng cho một luật sư của Công Ðoàn Ðoàn Kết sau khi cả bộ chính trị hoàn toàn bế tắc trong cảnh kinh tế suy sụp. Cộng sản Ðông Ðức chịu thua để bức tường Berlin bị phá sập sau khi dân chúng hàng loạt kéo nhau vượt biên qua phía Tây; dân thành phố Leipzig từ nhà thờ đi ra diễn hành trong im lặng liên tiếp; cảnh sát công an ở, Dresden từ chối không bắn vào những đồng bào đi biểu tình. Cộng sản Tiệp Khắc phải nhượng bộ ý nguyện của người dân, sau các cuộc biểu tình thủ đô. Hungary đã bắt đầu thay đổi từ thời năm 1980, đợi đến năm 1989 chế độ sụp đổ một cách ôn hòa. Cộng sản Rumania hoàn toàn nhắm mắt bịt tai, cưỡng lại đến cùng; đưa tới cái chết thảm khốc của vợ chồng Nicolae Ceau escu, nhà lãnh tụ sau cùng. Tại Bulgaria, vừa nghe tin tường Berlin sập Bộ Chính Trị bèn họp nhau cách chức Tổng Bí Thư Todor Zhivkov, cầm quyền suốt 35 năm, rồi giải tán đảng, sửa hiến pháp, tổ chức bầu cử để vẫn được nắm chính quyền. Cộng Sản Nga tự ý bắt đầu thay đổi từ thời Gorbachev để tự cứu vãn, hy vọng nhờ thế đảng sẽ cai trị lâu dài hơn. Nhưng cuối cùng không tự cứu nổi, vì đã hết thuốc chữa. Một yếu tố quyết định tình trạng sụp đổ của các chế độ cộng sản trên là trình độ nhận thức của người dân trong các nước đó được nung nấu đến mức chín mùi. Khi chế độ sụp đổ, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, kể cả các đảng viên. Không một chi bộ đảng nào đưa một ngón tay ra để cứu đảng.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ tan rã như thế nào? Cần nêu lên câu hỏi này, càng sớm càng tốt. Thứ nhất, vì điều đó chắc chắn xảy ra. Tình trạng nội bộ của họ đang tan rữa, ung thối, không thấy cách cứu chữa. Trong khi đó trình độ nhận thức của người dân Việt Nam đang dâng cao. Một cô sinh viên ngoài 20 tuổi Nguyễn Phương Uyên, đứng trước tòa án giữa đám công an chìm nổi vẫn thảnh nhiên nói: “Tôi chống đảng chứ không chống nước Việt Nam”.

Thứ hai, cần nhìn thấy trước cảnh đảng Cộng Sản tan rã để người Việt cùng nhau chuẩn bị sẵn sàng việc xây dựng chế độ dân chủ tự do sắp tới. Phải chuẩn bị sớm, nếu không sẽ lúng túng trong thời gian chuyển tiếp, càng kéo dài quá lâu càng tai hại cho tương lai dân tộc. Kinh nghiệm ở Ðông Âu và tại các nước thuộc Liên Bang Xô Viết cũ cho thấy: Thay đổi nhanh chóng thì trong 20 năm kinh tế phồn thịnh, xã hội ổn định xong rồi; còn nếu để thời kỳ chuyển tiếp kéo dài thì 30 năm sau vẫn lúng túng. Bây giờ, việc xóa bỏ chế độ cộng sản không phải là điều khó nữa, vì trước sau chính họ sẽ tan rã. Nhưng công việc xây dựng lại nền tảng mới cho đất nước sau đó sẽ khó gấp bội. Khó nhất là vì cả nền móng xã hội đã bị phá hư nát từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Cho nên người Việt Nam cần thảo luận với nhau ngay từ bây giờ những chuẩn bị tương lai, khi đảng Cộng Sản vẫn chưa tan hàng.

Dù đảng Cộng Sản sẽ đến ngày tan rã, nhưng chắc sẽ tan hàng theo một cách khác với các chế độ Ðông Âu hay Nga. Người Việt Nam sống trong một nền văn hóa khác các nước Âu Châu mà lại giống với dân các nước ở Á Ðông. Các nước Nam Hàn, Ðài Loan đã từng chuyển từ các chế độ độc tài sang dân chủ sau những cuộc biểu tình của sinh viên và công nhân, nhiều lần bị đàn áp đẫm máu nhưng cuối cùng vẫn thắng lợi. Nhưng Việt Nam cũng khác với hai nước này; vì chính quyền nước họ không chịu nhục khi bị ngoại bang khống chế, như ảnh hưởng của Trung Cộng đang đè nặng trên nước ta. Gần đây nhiều người đã coi Miến Ðiện như một tấm gương mà Việt Nam có thể noi theo. Nhưng nếp sống của người Miến Ðiện cũng ôn hòa hơn người Việt, mà chế độ độc tài ở đó không tàn ác và gian dối tinh vi như các chế độ cộng sản trên thế giới. Những lãnh tụ độc tài ở cả ba nước Nam Hàn, Ðài Loan và Miến Ðiện đều được giáo dục và sống theo đạo lý cổ truyền của dân tộc họ, không ai nhắm mắt theo một “tín ngưỡng” mới như các lãnh tụ cộng sản ở Châu Âu hay Châu Á. Cho nên, khó tưởng tượng Cộng sản nước ta sẽ tan theo “kịch bản” nào khi biến chuyển xảy ra, mà cũng không nên phí thời giờ ngồi tưởng tượng.

Chính trong đảng Cộng sản hiện nay cũng nhiều người nói đến một cuộc “thay máu” cho đảng, để tự cứu vãn. Nhưng một đảng đang nắm quyền với những nhóm trong nội bộ đang hưởng đủ thứ lợi lộc nhờ khai thác quyền hành thì rất khó thay máu. Nhiều đảng viên muốn thay đổi không được, đã âm thầm ngưng hoạt động hoặc rút ra khỏi đảng. Một số người còn làm đơn xin ra đảng, như vào năm 2009, nhà văn Phạm Ðình Trọng xin ra đảng, rồi sau đó bị đảng tuyên án khai trừ để triệt hết các quyền lợi của đảng viên mà ông đại tá này được hưởng. Năm nay ông Lê Hiếu Ðằng đã “tính sổ đời mình” từ lúc gia nhập đảng Cộng sản cho tới những ngày nằm trong bệnh viện có thời giờ suy nghĩ lại. Ngày 4 Tháng Mười Hai 2013 khi anh Lê Hiếu Ðằng tuyên bố rời đảng, thành lập đảng mới. Lời tuyên bố công khai bỏ đảng của Lê Hiếu Ðằng có thể tạo nên một làn sóng bỏ đảng trong thời gian tới. Sau ông Ðằng tới lượt Bác Sĩ Nguyễn Ðắc Diên. Nhà báo Phạm Chí Dũng đã nối gót hai người này. Phạm Chí Dũng đã từng đậu tiến sĩ, từng là nhân viên ngành an ninh, đã công bố việc từ bỏ đảng của mình để gây tiếng vang, và anh đã thành công. Khi đảng ủy Viện Nghiên Cứu Phát Triển họp yêu cầu anh xét lại, Phạm Chí Dũng từ chối. Ðến khi họ bỏ phiếu có 60% đảng viên dự phiên họp không đồng ý khai trừ, cho thấy họ hiểu hành động của anh có lý do chính đáng; nhưng cuối cùng nhóm lãnh đạo vẫn tuyên bố khai trừ.

Hiện tượng trên cho thấy đảng cộng sản thực sự đang tan rã, không cách nào tránh được. theo Phạm Chí Dũng, hiện nay trong ba triệu đảng viên cộng sản có chừng 30% còn gắn bó với đảng vì các quyền lợi họ đang hưởng nhờ nắm các chức vụ. Ngoài ra, một nửa là những người không dám bỏ đảng nhưng chỉ xu thời, gió chiều nào xoay chiều đó. Nếu một biến cố lớn xảy ra, họ sẽ tự tan hàng mà không nuối tiếc. Một số nhỏ đảng viên cũng muốn đảng Cộng sản trả lại quyền tự do cho người dân, chấp nhận các đảng chính trị khác, bỏ độc quyền cai quản đất nước. Những họ có khả năng làm cho đảng Cộng sản tự thay đổi để dân Việt Nam được sống trong dân chủ tự do hay không?

Những người này có thể học kinh nghiệm của Mikhail Sergeyevich Gorbachev, tổng bí thư sau cùng của Cộng Sản Liên Xô. Trong một cuộc phỏng vấn bởi phóng viên Jonathan Steele, báo The Guardian, Anh Quốc hai năm trước đây, Gorbachev nói điều ông hối hận nhất là vào những năm 1990, 91 ông vẫn cố gắng cải tổ cơ cấu chế độ, nấn ná quá lâu nhưng vô ích. Ông nói, đáng lẽ phải nhất quyết từ chức vào Tháng Tư năm 1991, rồi cùng một số người trong Trung Ương Ðảng thành lập một đảng chính trị mới.

Vào Mùa Xuân năm đó, trong nội bộ đảng Cộng Sản Liên Xô cũng có hai khuynh hướng, nhóm bảo thủ muốn ngưng ngay các chính sách đổi mới, nhóm cấp tiến muốn bước vào đường dân chủ hóa. Trong một cuộc họp của Trung Ương Ðảng, phe bảo thủ yêu cầu tuyên bố tình trạng khẩn cấp, chấm dứt chính sách cởi mở, kiểm duyệt báo chí gắt gao hơn, Gorbachev đã phản ứng lại rất mạnh, ông nói: “Tôi đã mỵ dân quá đủ rồi. Tôi sẽ từ chức.”

Trong cuộc phỏng vấn với báo The Guardian Gorbachev kể lại rằng, “Bộ Chính Trị triệu tập một phiên họp trong 3 giờ đồng hồ mà không có tôi. Ba giờ đồng hồ sau họ đến mời tôi trở lại và yêu cầu tôi rút lại quyết định từ chức.” Sau đó Gorbachev bèn rút lại quyết định từ chức và cũng không có ai muốn đưa vấn đề này ra biểu quyết. Bây giờ ông hối hận, đáng lẽ ông phải cương quyết rút lui để thành lập một đảng mới, với chủ trương tự do dân chủ. Vì trong thời gian đó đã có hàng trăm ủy viên Trung Ương Ðảng đang bàn nhau, đồng ý tách ra lập một đảng mới rồi. “Nhưng lúc đó tôi lại cảm thấy mình không có quyền ‘từ bỏ đảng,’” ông thú nhận. “Bây giờ thì tôi nghĩ là đáng lẽ tôi phải lợi dụng ngay cơ hội đó để thành lập một đảng mới và phải kiên quyết từ bỏ đảng Cộng sản bằng được.”

Trong thời gian Gorbachev đang phân vân giữa hai con đường như trên, đảng Cộng Sản Việt Nam cũng bỏ mất một cơ hội khi họ gạt bỏ các đề nghị cải cách của Trần Xuân Bách, người rút ra bài học Ðông Âu sớm nhất. Họ đã theo Nguyễn Văn Linh, quay đầu xin Trung Cộng che chở, để cùng tiếp tục “tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Hậu quả là mối nhục Thành Ðô sẽ ghi mãi trong lịch sử.

Hiện nay trong đảng Cộng sản cũng không có người nào có tư thế và khả năng như Gorbachev. Chỉ có những đảng viên như Lê Hiếu Ðằng mới can đảm tuyên bố công khai từ bỏ đảng, và thành lập đảng mới. Khi số người can đảm như Lê Hiếu Ðằng, Phạm Chí Dũng, Phạm Ðình Trọng, vân vân, đông đúc hơn, họ sẽ không chỉ từ bỏ đảng một mình mà còn góp công xóa bỏ ách độc tài đang đè lên đầu lên cổ đồng bào.

Tháng Bảy năm 2012, mục này đã kêu gọi các đảng viên cộng sản hãy tạo một phong trào từ bỏ đảng. Khi rất nhiều đảng viên công khai bỏ đảng, guồng máy trừng phạt và trả thù sẽ hết hiệu lực. Các đảng viên khác sẽ hết sợ. Khi số đảng viên công khai bỏ đảng lên cao, đến lượt dân chúng được giải phóng về tâm lý. Người dân bị xử oan ức không còn sợ nữa, giới thanh niên, phụ nữ, trí thức, các người lãnh đạo tôn giáo, người lao động sẽ cùng mạnh dạn đứng lên đòi các quyền tự do căn bản của mình. Một phong trào phản kháng bất bạo động như thế chắc chắn sẽ làm cho guồng máy cường quyền phải chịu thua.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

2014: Mời các hiệp sĩ Dân chủ và Nhân quyền lên ngựa

Bùi Tín

(Nguồn: VOA)

Năm 2013 là một năm đặc sắc về dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. Một xã hội dân sự được hình thành từ những năm trước bỗng lớn mạnh hẳn, lừng lững đi tới phía trước. “Diễn đàn Xã hội Dân sự” đàng hoàng ra mắt để mọi công dân bàn luận góp sức mình và sự nghiệp trung tâm của xã hội hiện nay là thúc đẩy từ hệ thống cai trị độc đảng lẻ loi lạc hậu có hại chuyển sang hệ thống dân chủ đa nguyên trên nền tảng pháp trị công bằng và bình đẳng.

“Mạng Lưới Blogger Việt Nam” gồm hơn 100 dũng sĩ khỏe khoắn tinh nhạy đi tiên phong trên mặt trận thông tin loan truyền sự thật cho quần chúng, làm cứng họng hàng vạn tuyên truyền viên ăn lương nhà nước chuyên nghề nói lấy được, đổi trắng thay đen, dần dà đã cạn vốn, hết thiêng.

Biết bao nhiêu nét mới mẻ làm nức lòng bà con ta ngay thẳng và lương thiện. Ðó là cảnh các chiến sĩ dân chủ chào đón Phương Uyên ra khỏi nhà tù trong tư thế chiến thắng của lẽ phải, của tình nghĩa yêu thương bảo vệ lẫn nhau còn hơn cả tình nghĩa ruột thịt. Tình nghĩa keo sơn hiếm có như thế chỉ có được khi ta có chính nghĩa, khác hẳn với cảnh cắn xé nhau giữa các tứ trụ của triều đình Cộng sản.

Một nền ngoại giao trẻ, khỏe của dân chủ và nhân quyền ra đời, năng động sáng tạo, đàng hoàng ra vào các sứ quán Hoa Kỳ, Thụy Ðiển, Anh, Pháp, Ðức, Hòa Lan, đi Bangkok, Manila trực tiếp vận động cho dân chủ và nhân quyền. Ðã xuất hiện một số nhà ngoại giao trẻ, tự tin, bạo dạn, nói lưu loát đủ các thứ tiếng Anh, Pháp, Ðức, Hoa, Nhật... dịch ngon lành các văn kiện cần tán phát cho thế giới, khác hẳn với một số nhà ngoại giao nhà nước đi buôn sừng tê giác, chuyển tiền phi pháp, bôi nhọ quốc thể.

Một nét mới lý thú là cuối năm 2013, trong cơn bỉ cực, chính quyền chuyên chà đạp nhân quyền đã buộc lòng phải cam kết tôn trọng nhân quyền, thề thốt hoàn lương về mặt này, tự mình giăng bẫy cho chính mình, từ đó họ không còn dễ dàng bỏ tù người yêu nước, đánh đập tra tấn người bị họ bắt, xử án công khai mà không cho người dân vào dự, đối xử tàn ác, trả thù những người tù trong các trại giam. Họ buộc lòng phải để cho các phái đoàn và phái viên quốc tế tham dự các phiên tòa, thăm các trại giam, gặp gỡ các chiến sĩ dân chủ. Trước mắt LHQ và thế giới, trước mắt các chiến sĩ dân chủ và nhân quyền VN, chính quyền như anh học trò hạnh kiểm xấu xin hứa hẹn tu tỉnh để được tiếp tục có mặt trong Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ, nhất là được sớm vào khối TPP (Trans-Pacific Partnership) béo bở, điều hiện nay chưa có gì là chắc chắn, vì chính quyền và Quốc Hội các nước, đặc biệt là Hoa Kỳ, đòi hỏi những việc làm cụ thể rõ ràng chứ không phải lời hứa suông. Họ nói thẳng rằng nếu không từ bỏ chủ trương “quốc doanh là chủ đạo,” không cho lập công đoàn tự do, không trả lại quyền sở hữu cá nhân về ruộng đất trong chế độ đa sở hữu, không trả tự do cho các tù nhân lương tâm, không thả hết thì cũng phải thả một số đáng kể... thì có thể đến Tết Congo Việt Nam mới được vào TPP.

Năm 2013, hàng vạn bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền được in và tán phát công khai rộng khắp là món quà quý cho toàn xã hội, được bàn luận khắp nơi mà chính quyền đành phải cay đắng đứng nhìn.

Trong năm 2013 bản kiến nghị bác bỏ dự thảo Hiến Pháp đạt kỷ lục 14.785 người ký. Ðây là một cuộc tập họp lực lượng quy mô đáng kể, một cuộc tập dượt đấu tranh công luận từ thấp lên cao, một cuộc ra quân biểu dương lực lượng đầy khí thế tự tin. “Hội những người không tán thành Hiến Pháp 2013” hình thành. Chắc chắn một cuộc trưng cầu dân ý về Hiến Pháp 2013 sẽ cho thấy rõ đa số nhân dân VN mong muốn một chế độ chính trị và một Hiến Pháp thật sự dân chủ ra sao. Không thể nói bừa là Hiến Pháp 2013 được nhân dân tán đồng.

Năm 2013, Ðảng Cộng Sản rơi tự do. Ðây không phải là nói quá. Sự suy thoái của đảng là rõ ràng, chính lãnh đạo của đảng cũng đã phải thú nhận. Nạn tham nhũng lan tràn rộng hơn, nặng hơn. Chống tham nhũng không mảy may quyết liệt, mà hầu như tê liệt. Hai án tử hình được tuyên bố với nụ cười bí hiểm của kẻ tội phạm được coi như trò đùa của ngành tư pháp do đảng cầm cân nảy mực. Theo Luật phòng chống tham nhũng, kẻ tham nhũng 1 tỷ đồng (bằng $50,000), tương đương tiền lương tối thiểu 1 trăm năm của 1 người lao động, là có thể bị tử hình. Thử hỏi trong Ban Chấp Hành Trung Ương đảng 200 vị có ai tránh khỏi tội đó khi đảng nắm ngân sách thu chi của quốc gia, không có ai làm trọng tài kiểm soát, bộ trưởng tài chính, tổng kiểm toán nhà nước, Ủy Ban Kiểm Tra, Ban Kinh Tế Tài Chính của Quốc Hội đều là của đảng hết, tha hồ chia chác cho nhau từng mảng tiền cực lớn của nhân dân cho ngân sách riêng của đảng, không cần báo cáo cho ai hết. Ăn cắp hay là ăn cướp cỡ quốc gia? Ngang nhiên ngoài vòng pháp luật. Vậy mà cứ thề thốt khi vào đảng “hy sinh tất cả vì nhân dân”, “chống mọi hình thức bóc lột”, “hy sinh thì đi trước, hưởng thụ thì đi sau nhân dân“, toàn là đạo đức giả, tự phản bội lý tưởng, lời thề danh dự ban đầu không biết ngượng.

Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập, thông tin công khai nhanh nhạy, sự minh bạch lên ngôi, dối trá bị đẩy lùi, niềm tin ở đảng tan ra như khói, thay vào đó là sự khinh thị của nhân dân đối với những kẻ trọc phú mới, sa đọa bởi lòng tham không giới hạn, thành triệu phú, tỷ phú phất lên không do tài năng mà do phe nhóm chia chác quyền hành và bổng lộc, nói hay nhưng toàn làm ngược lại, chuyên phá nát từng núi của do mồ hôi nước mắt của nhân dân tạo nên. Do đó có hàng triệu đảng viên không còn muốn sinh hoạt trong chi bộ đảng, nhạt đảng, thoát đảng, yên lặng ngừng sinh hoạt, ra tuyên bố từ biệt đảng vì đảng không còn xứng đáng với mình.

Một số đảng viên còn kêu gọi thành lập tổ chức chính đảng khác vì cái danh nghĩa đảng CS đã bị ô uế là tội ác trên toàn thế giới, hàng trăm đảng CS nối đuôi vào nghĩa địa. Ở VN đảng CS cũng tha hóa biến chất đến độ cùng cực, chưa thấy có một khả năng nào cứu vãn được nó, vì đây là sự tự tha hóa bắt nguồn từ nội tâm rữa nát hư hỏng, càng ở cấp trên càng tệ. Cứ xem kỹ cái trò tự phê và phê nhơ nhớp và cái tuồng kê khai tài sản vờ vĩnh là đủ biết. Ðảng CS Việt Nam đã thực sự chết trong lòng người dân.

Cho nên sứ mạng của các hiệp sĩ dân chủ và nhân quyền càng thêm nặng nề cấp bách và vẻ vang. Tình hình còn lắm khó khăn nhưng chưa bao giờ thuận lợi như lúc này.

Chúng ta đang nắm quyền chủ động trong đấu tranh. Chúng ta có chính nghĩa và lòng dân. Chúng ta có sự đồng tình ủng hộ của LHQ, của cả thế giới dân chủ, văn minh. Tất cả đảng viên CS lương thiện sớm muộn đứng về phía chúng ta, người trước kẻ sau sẽ theo con đường sáng của dân chủ và nhân quyền, không thể khác.

Những kinh nghiệm và sáng kiến vừa qua là những hành trang quý để phát huy trong năm 2014 mang nhiều triển vọng. Mọi chế độ độc đoán, vô đạo đức, phản nhân dân đều thuộc về dĩ vãng, thuộc các thế kỷ đã qua.

Trên con ngựa dũng mãnh của thời đại, yên cương đã sẵn sàng, xin mời các dũng sĩ dân chủ và nhân quyền lên yên cùng phi tới trước trong cuộc đấu tranh không bạo lực, bằng trái tim yêu thương nhân dân thật lòng, bằng trí tuệ dân tộc tỏa sáng, để năm 2014 chắc chắn là năm gặt hái nhiều thành tích, tự do và nhân quyền sớm trở về trọn vẹn với toàn thể nhân dân.
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Image

Cộng sản Việt Nam đi về đâu?

Đại Nghĩa
(Danlambao) - Đứng trước sự tan rã của khối XHCN, những áp lực ngoài thì của bọn bành trướng Bắc Kinh, trong thì nhân dân ngày càng chống đối, đảng CSVN thấy nguy cơ mất quyền lãnh đạo và không biết làm sao để “hạ cánh mềm” nên đảng cố tìm lấy một cái phao hầu cứu vãn tình thế, nhưng họ đang: “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước / Chọn một dòng hay để nước trôi”. (Thơ Tố Hữu). Nếu ngã sang Mỹ thì mất đảng; còn ngã sang Tàu thì mất nước. Cộng sản Việt Nam đang giở trò bắt cá hai tay.


83 năm qua, Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam theo con đường của học thuyết của Karl Marx - Lenin đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản vô thần, nhưng chủ nghĩa ấy đã phá sản ngay trên quê hương của nó và thần tượng Marx - Lenin đã bị hạ bệ từ lâu.

Chính cái học thuyết này đã gây tang tóc cho nhân loại suốt gần một thế kỷ qua, những dân tộc vận dụng nó phải gánh lấy tai ương, nhất là sự chia rẽ và hận thù dân tộc cho đến ngày hôm nay vẫn chưa hàn gắn được.

Ở Việt Nam, hậu quả của đấu tranh giai cấp, Hồ Chí Minh đã nghe lời quan thầy Nga-Tàu tàn sát nhân dân mình qua phong trào “cải cách ruộng đất”, cuộc thanh trừng đẫm máu trong vụ “nhân văn giai phẩm” cũng như vụ “xét lại chống đảng”, cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, còn nhiều... và nhiều nữa. Biết bao nhiêu xương máu của nhân dân Việt Nam đã đổ, biết bao nhiêu tài nguyên của đất nước đã bị hủy diệt. Những dân tộc tiến bộ đã nhận thức được sự tàn hại của chủ nghĩa cộng sản nên đã vứt đi và đoạn tuyệt duy chỉ còn vài con nhạn lạc lõng tham quyền cố vị bám trụ như Việt Nam.

Học thuyết Mac-Le:

Mác - Lenin đã lợi dụng thời cơ “mạt vận” của xã hội phong kiến và tư bản man rợ gây ra đời sống bất công đau khổ cho lớp người bị trị nên họ đã hô hào, cổ võ cho cuộc đấu tranh với chiêu bài giải phóng qua ảo tưởng giành quyền “làm chủ tập thể” những gì họ cướp được và “tiến lên” thiên đàng XHCN. Một thiên đàng mà cho đến ngày hôm nay TBT đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng cũng không biết đến bao giờ nó mới được “hoàn thiện”(?).

Đảng CSVN đã vận dụng học thuyết Mac-Lenin một cách mù quáng để rồi cả dân tộc nhận lấy hậu quả bi thương nên Đại tá công an Lê Hồng Hà, nguyên Chánh văn phòng bộ Công an CSVN nói rõ cái sai lầm và tác hại của học thuyết “lẩm cẩm” ấy như sau:

“Đối với dân tộc Việt Nam, học thuyết Mac là học thuyết ngoại nhập... không lý giải được xã hội Việt Nam với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng hoàn toàn khác với Tây Âu, rất dễ mang cách mạng Việt Nam đi chệch đường và do đó gây nên tổn thất, gây đổ vỡ, gây kìm hãm sự phát triển”. (Người Việt ngày 28-1-2001)

Bằng vào thực tế, sau bao nhiêu năm sống dưới chế độ cộng sản, tiến sĩ Hà Sĩ Phu nhận thức được đảng CSVN đã đi theo một học thuyết hoang đường nên ông đã sớm “Chia tay ý thức hệ” và ông đã nói rõ:

“Học thuyết Mac-Lenin không phải là cái gì cao xa chưa tới mà chỉ là hoài vọng đã bị vượt qua, chỉ là biến tướng mới mang cái mốt công nghiệp của chủ nghĩa phong kiến đã bị lịch sử vượt qua trước đây nhiều thế kỷ. Nó không phải là thứ cẩm nang dẫn đường đầy tính súc tích huyền bí đến mức hàng thế kỷ sau chưa có ai hiểu đúng, mà chỉ là những dự đoán lẩm cẩm không bao giờ có thực trên đời”. (Tuyển tập HSP trang 117)

Những nhà cách mạng trí thức lão thành của Việt Nam đã vạch ra sự sai lầm của chủ thuyết Mac- Lenin thì những người lãnh đảng CSVN khéo ngu ngơ cố bám và giữ lấy như là “cẩm nang dẫn đường” trong khi các dân tộc tiến bộ đã quăng nó vào sọt rác. Đảng CSVN vẫn phải bám nó như một cái phao để bảo vệ quyền lực, bảo vệ đảng dù đã gây tác hại cho dân tộc biết bao nhiêu. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang đã mạnh mẽ kêu gọi đảng CSVN:

“Ba mươi năm qua, chủ nghĩa Mac-Lenin tàn phá đất nước này về mặt kinh tế, và tàn phá về mặt văn hóa và tư tưởng...

“Phải bỏ chủ nghĩa Mac-Lenin và phải rút ra được những nhận định một cách khách quan thẳng thắn về sự tàn hại của cái ứng dụng sai lầm chủ nghĩa Mac-Lenin”. (Người Việt ngày 11-7-2005)

Ở Liên xô, cái nôi của phong trào với chiêu bài “cách mạng giải phóng”, đã khởi xướng một cuộc chiến tranh đẫm máu dai dẳng đã giết hại cả trăm triệu mạng người trên thế giới. Dân Liên xô và các nước Đông Âu đã thức tỉnh và đã ra khỏi quỷ đạo của học thuyết diệt chủng này, họ đã lôi ngã đầu những “thần tượng” mà đảng CSVN còn tôn thờ. Mới đây nhân dân Ukraina đã làm một việc mà đài phát thanh Quốc tế RFI đã chua chát viết bài đưa tin với tựa đề: “Ukraina: Ai chặt đầu tượng Lênin?” và bức tượng này đã bị chính người dân đè đầu cỡi cổ.

“Một sáng đầu tháng 12, tin về bức tượng Lenin, nằm tại công viên “Công nhân viên ngành đường sắt” ở Kotovsk, bị cắt đôi được thông báo. Ngày hôm trước, một bức tượng Lenin tương tự tại Kiev cũng chịu cùng số phận…

“Kể từ sau vụ bức tượng Lenin đầu tiên bị lật nhào vào năm 1989, hai năm trước khi Liên xô tan rã và Ukraina tuyên bố độc lập, gần như tất cả tượng Lenin tại miền Tây Ukraina bị xóa sổ”. (RFI online ngày 27-12-2013)

Chủ nghĩa Xã hội:

Ngày nay, sau bao nhiêu năm “tiến lên” CNXH nhân loại đã nếm mùi đau thương và đã nhận lấy hậu quả nghiêm trọng về sự tác hại của nó như thế nào rồi, họ không còn bị ru ngủ với cái “thiên đường mù” ấy nữa.

Giáo sư Trần Phương, nguyên Phó thủ tướng và là Chủ tịch hội Khoa học kinh tế Việt Nam phát biểu trong lần thảo luận về cương lĩnh của đảng CSVN, ông nói:

“...những dự đoán của Mac và Lenin về cái gọi là CNXH, sai rồi, mà rõ ràng là thực thi 70 năm đã thất bại rồi”. (RFA online ngày 17-12-2010)

Hôm sau giáo sư Phương trình bày tiếp:

“Thế bây giờ CNXH của ông là cái gì đây? Thật ra mà nói, chúng ta nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác. Đến tôi bây giờ, tôi cũng không biết CNXH mà chúng ta sẽ đi là CNXH gì đây?” (RFA online ngày 18-12-2010)

Trung tướng Trần Độ, một vị tướng khai quốc công thần, sớm “giác ngộ cách mạng” nhưng cũng là vị tướng sớm “thức tỉnh” cho nên ông đã bị đảng của ông khai trừ một cách nghiệt ngã, đến nỗi khi chết ông không có được một vòng hoa mang chữ “vô cùng thương tiếc” cũng như bị tước đi chữ quân hàm “trung trướng” ngay cả trên vòng hoa của “ông Võ Nguyên Giáp”. Cùng một nhận định với PTT Trần Phương, trung tướng Trần Độ đã xác nhận rằng:

“CNXH chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, chỉ mới có sự chứng thực của sự thất bại và đổ vỡ sau 70 năm tưởng rằng đã thành công”. (Nhật ký Rồng Rắn trang 21-22)

Trong khi toàn dân muốn sửa đổi Hiến pháp một cách một cách rốt ráo, thì Quốc hội (Đảng CSVN) lại chỉ “tráo bài ba lá” cho lấy lệ rồi thì vẫn y như cũ, trong khi Hiến pháp năm 2013 vẫn cố duy trì XHCN thì TBT đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố một cách ngu xuẩn rằng:


“Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng XHCN còn lâu lắm, đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. (Thanh Niên online ngày 26-10-2013)

Đảng CSVN:

Gần 70 năm qua vận mạng dân tộc Việt Nam bị đặt dưới sự thống trị của một tổ chức nhân danh là Đảng Cộng sản, vậy chúng ta cần biết qua cái sự hình thành của cái tổ chức này để biết tương lai sẽ đưa dân tộc đi về đâu. Trung tá Trần Anh Kim, nguyên Chính ủy tỉnh đội Thái Bình, người hiện đang ngồi tù cộng sản cho chúng ta biết rõ chân tướng của họ ra sao:

“Khi hình thành, họ thu nạp phần lớn kẻ khố rách áo ôm, kém học vấn, rất vô văn hóa, rồi đảng dạy cho lũ cốt cán “vu oan giá họa”, “ngậm máu phun người”... Những thành phần trên được hợp lại thành một tổ chức gọi là “đảng CSVN”. (Thời Luận ngày 8-8-2008)

Vì đảng cộng sản chỉ hình thành và tập hợp những con người như thế cho nên họ đã ngu muội trung thành theo sự lừa dối mà hy sinh, quá khích nên họ đã thành công trong đấu tranh, bắn giết; nhưng đã thất bại trong xây dựng và phát triển đất nước. Họ đã không đem lại độc lập, tự do dân chủ và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, mà chỉ đem lại sự phồn vinh giả tạo cho bọn tư bản đỏ và nhóm “lợi ích”, gây bất mãn cho những người trước đây đã lầm nghe theo lời khuyến dụ của cộng sản. Ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc hội đã phát biểu qua lời kể lại trong bài: “Đa nguyên, đa đảng là tất yếu” của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang như sau:

“Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán đảng đã biến chất để xây dựng đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu”. (Đàn Chim Việt online ngày 11-1-2011)

Sau hơn 38 năm hòa bình, thống nhất đất nước, cả nước Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN qua sự đánh giá thành quả của nhà báo đại tá Phạm Đình Trọng, người đã bỏ đảng nhận định như sau:

“...đảng CSVN, một tổ chức chính trị đã dùng bạo lực tàn nhẫn ứng xử với dân tộc Việt Nam văn hiến và đã đem lại cho nhân dân Việt Nam một thế kỉ cách mạng, chiến tranh đẫm máu, li tán dân tộc, tan hoang đất nước.

“Đảng cộng sản tồn tại bằng độc quyền quyền lực. Xóa bỏ độc quyền quyền lực là xóa bỏ sự tồn tại của đảng cộng sản. Hiện nay đảng cộng sản đã là một sản phẩm lỗi thời của lịch sử...

“Đảng cộng sản tự đặt vào thế đối lập với nhân dân, trở thành vật cản của dòng chảy lịch sử, kìm hãm đất nước trong trì trệ, đưa đất nước vào khủng bố, đàn áp đẫm máu, vào bạo loạn, rối ren, giam cầm nhân dân trong ngục tù, nhục hình của chuyên chính vô sản, đày ải, vô hiệu, thủ tiêu nhiều tài năng, trí tuệ và khí phách dân tộc”. (Đàn Chim Việt online ngày 7-2-2012)

Một làn sóng bỏ đảng đang gia tốc theo sau luật gia Lê Hiếu Đằng có tiến sĩ Phạm Chí Dũng, bác sĩ Nha khoa Nguyễn Đắc Kiên..., bỏ đoàn Thanh niên cộng sản như nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên và bỏ Hội cựu Chiến binh như nhà báo Nguyễn Tường Thụy... Mặc dù tiến sĩ Phạm Chí Dũng làm đơn “xin ra đảng”, nhưng ông đã được đảng ân huệ “cho Khai trừ” và ông nhận định:

“Nếu đảng không tự thay đổi bằng cách tự làm sạch mình và ngó ngàng tới dân chúng, người nghèo nhiều hơn, không chấp nhận những tiếng nói và chính kiến đa chiều, trái chiều, đảng sẽ bị chính dân chúng phủ nhận và thay đổi trong không bao lâu nữa...

“…một làn sóng thoái đảng và bỏ đảng công khai trong những năm tới, đảng sẽ làm sao có thể “hạ cánh mềm” nếu họ không tự thay đổi, và hơn nữa phải “thay máu” một cách ghê gớm. Mà thời gian để tự đổi thay lại không còn nhiều, chỉ có thể được tính theo năm...” (Bauxite Việt Nam online ngày 19-12-2013)

Theo tiến sĩ Phạm Chí Dũng thì thực trạng hiện tình của đảng CSVN đang “tan rã từ bên trong” cho nên một số đông đảng viên đã nhanh chân “bỏ đảng chạy lấy người”.

“Theo một báo cáo năm 2012 của một cơ quan đảng có tới 36-40% các đảng viên không sinh hoạt đảng. Đó là một thực trạng mà đảng phải đối phó. Bị mất lòng tin và có dấu hiệu tan rã từ bên trong”. (BBC online ngày 26-12-2013)

Ông Đào Văn Tùng (Thiện Tùng), gia nhập đảng Lao Động từ năm 1959 nhưng ông lại sớm “từ bỏ đảng” về làm dân...

“Ngay từ đầu năm 1980, tôi là một trong những người bất đồng chính kiến với đảng trong đường lối cải tạo XHCN, khi ấy không thể nào cưỡng nổi ý định của đảng, dầu đang là Phó trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy tỉnh Tiền Giang, được lãnh đạo trọng dụng, tôi đã tự ý từ nhiệm, sau đó trả thẻ đảng. Tiếp theo tôi, bốn ông...

“Theo quan sát của tôi, từ đảng không còn là cá biệt, đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra. Tùy nhận thức và tình cảm của từng người, từ đảng có nhiều cách, độ “đậm đặc” không thể giống nhau...

“Điều quan trọng mà tôi nhận thấy, gần như hầu hết những người từ đảng là họ không chấp nhận thể chế độc tài toàn trị của đảng, họ “nặng nợ” với nước với dân, muốn đảng thực hiện thể chế Dân chủ Đa nguyên về mọi mặt, nhưng đảng luôn từ chối, khiến họ phải ly khai (từ đảng)”. (Bauxite Việt Nam online ngày 22-12-2013)

Khi xưa đảng cộng sản khởi đầu dựng bá nghiệp, lúc còn phôi thai thì cần sự trợ giúp của nhân dân cho nên đảng phải tỏ ra hiền lành, dễ thương nên đảng nói dân nghe, nay bá nghiệp đã thành, đảng không còn cần dân mà trị dân bằng chính sách độc tài và do đó mà ngày nay đảng nói đảng nghe, dân không nghe. Dân với đảng trở nên đối lập, nhưng đảng CSVN nên nhớ câu nói của cụ Nguyễn Trãi “Chèo thuyền cũng là Dân, lật thuyền cũng là Dân”.

Cụ Hoàng Minh Chính đã chứng minh cho đảng CSVN thấy rằng đảng cộng sản Liên xô đã phạm vào qui luật tự nhiên mà cụ Nguyễn Trãi dạy nên đã nhận lãnh hậu quả của sự đào thải và đảng CSVN hãy lấy đó “rút kinh nghiệm” mà hành xử trước khi quá muộn.

“Liên xô đàn áp nhân dân như thế, Liên xô đi theo chủ nghĩa Mac- Lenin xây dựng một chính đảng toàn trị, thì chính nhân dân đã nổi dậy lật đổ chính cái đảng đó”. (Việt Tide số 55 ngày 2-8-2003)

Vì muốn bảo vệ XHCN, bảo vệ đảng CSVN nên những nhà lãnh đạo đảng CSVN vội vã kéo nhau sang Trung cộng tìm chỗ dựa, nhưng họ đã trao duyên lầm cho tướng cướp. Trung tướng Trần Quốc Bảo đã nói rõ như sau:

“Trung quốc tham vô đáy, không khéo ta sẽ từng bước trở thành bộ phận Trung quốc. Vì nói phải ngã về Trung quốc để được yên là chủ nghĩa đầu hàng, chủ nghĩa thất bại. Ngã theo Trung quốc thực chất là bán nước”. (Đàn Chim Việt online ngày 3-9-2009)

Đứng trước sự tan rã của khối XHCN, những áp lực ngoài thì của bọn bành trướng Bắc Kinh, trong thì nhân dân ngày càng chống đối, đảng CSVN thấy nguy cơ mất quyền lãnh đạo và không biết làm sao để “hạ cánh mềm” nên đảng cố tìm lấy một cái phao hầu cứu vãn tình thế, nhưng họ đang:


“Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước
Chọn một dòng hay để nước trôi”. (Thơ Tố Hữu)

Nếu ngã sang Mỹ thì mất đảng; còn ngã sang Tàu thì mất nước.

Cộng sản Việt Nam đang giở trò bắt cá hai tay.

Đại Nghĩa 2014
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest