Góc Phố Cà Phê

Tin trong và ngoài nước, tin Cộng Đồng ...
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Giới Thiệu Sách Mới.

Chiến Trường Xưa Của Vũ Uyên Giang


Nguyễn Mạnh Trinh
Có những tập thơ, mà sự ra đời như một duyên do tiền định của những bất ngờ kỳ thú. Như tập thơ của Vũ Uyên Giang "Chiến Trường Xưa" là một.

Nhà thơ Trần Hoài Thư khi sưu tập lại những bài thơ cũ in trước năm 1975 ở thư viện Trường Đại học Cornell để làm những tuyển tập thi ca như Thơ Miền Nam, Thơ Lục Bát đã tìm thấy một số bài của Vũ Uyên Giang mà chính tác giả cũng không còn nữa và tuyển chọn vài bài rồi gửi tất cả cho họ Vũ. Tự nhiên anh nảy ra ý định in tập thơ "Chiến Trường Xưa" và thực hiện ngay lập tức. Thế là, trong một thời gian ngắn, chúng ta có thêm một tập thơ mang lại một không gian, thời gian thuở nào.

Thơ, có khi là bước chân trở lại dĩ vãng. Thơ có khi là những hình dạng thân thuộc thoáng qua khi nhớ lại tấm lòng không khỏi bồi hồi cảm xúc. Thơ của quá khứ, nhưng một lúc trở thành hiện thực, của một phương trời nào mù xa nhưng vẫn còn hiển hiện.

Có người nói bây giờ mà còn đọc thơ thời chiến đã qua mấy thập niên có phải là biểu hiện của những người không bằng lòng với hiện tại và ngoái nhìn lại thuở vàng son của mình. Thơ như một chuyến tàu đi giật lùi vào những không tưởng đầy ắp lãng mạn nhưng bồng bềnh không thực tế. Nhưng với tôi, là một người yêu thơ và coi thơ như một phần đời sống của mình khi đọc những bài thơ trong thi tập này, tự nhiên thấy một phần đời của chính mình sống lại từ sự chia sẻ từ tâm thức đến ngôn ngữ. Những câu thơ chân thành như bàn tay lôi kéo về, như hồi tưởng chợt đến. Chiến Trường Xưa, ôi, đã bao nhiêu năm qua rồi mà sao cònn như ngày hôm qua… Nhớ sao là nhớ!!

Thơ của Vũ Uyên Giang không mới nhưng có nét chân thành, của những nét bộc trực nội tâm và của tấm lòng yêu mình, yêu đời tha thiết. Những tên bạn bè thân thuộc, những điạ danh đã đi qua, đã sống những thời điểm căng thẳng của chiến tranh, trong thơ anh, được nhắc đến như những sợi chỉ màu đan vào nhau để thành một bức tranh thêu sinh động của thực tế một đất nước chiến tranh.
Thơ Vũ Uyên Giang, có khi là giây phút nhớ bạn:

"Bạn mày rũ áo trận đêm qua
Nước mắt làm sao chẳng nhạt nhoà
Khóc cho thân phận đời chinh chiến
Và khóc những thằng chết trận xa

Lính chiến đi bao giờ trở lại
Thân trai trong khói lửa quê nhà
Bảo vệ quê hương, còn phải hỏi
Giữ cho yên ấm hậu phương xa

Cũ rót một ly cho bạn bè
Những thằng bạn chết chốn sơn khê
Tuyến đầu khói súng mù binh lửa
Quyết chí hy sinh giữ cõi bờ…"

Uống rượu không phải để vui, mà có khi là chuốc nỗi buồn.
Những người lính, có khi ngang tàng không quản tử sinh nhưng cũng có lúc bùi ngùi như câu thơ
"Ở thế giới nào cũng đắng cay" để kết luận cho một thời thế đầy bão giông khói lửa:

"… Mày hãy uống thêm nữa để say
Sống trên trận mạc được bao ngày
Anh hùng không rượu anh hùng nhát
Hào khí ngất trời ta cứ say

Tao cũng vào thêm dăm bảy chai
Cho dù sống chết, để mai hay
Uống giùm thằng bạn vừa nằm xuống
Ở thế giới nào cũng đắng cay"

Những điạ danh đi qua, những nơi chốn từng chiến đấu, dường như chẳng thể nào quên:

…Diệt giặc cỏ ở vườn thơm sáu mẫu
Phá trùng vây kinh Trà Cú, Bo Bo
Đám lá tối trời, ngủ bụi ngủ bờ
Sông Vàm Cỏ ngụy trang ta phá địch

Ôi Long An những đêm dài tịch mịch
Trong bóng đen ẩn náu những hình ma
Muỗi mòng thêm đỉa vắt quấy rầy ta
Vượt sông rạch về Đức Hoà, Đức Huệ

Tạm dừng quân nhậu vài chai lẻ tẻ
Xóm Bầu Trai ai bắc nhịp Cầu Duyên
Đi trên cầu lại nhớ Mã Sanh Nhơn
Tìm hình bóng em Tha La Xóm Đạo

Rời Lộc Giang, Trảng Bàng ta khờ khạo
Lỡ sa vào cô giáo trẻ sớm mai…"

Rồi mất nước, Vũ đau đớn với thân phận tù binh.
Với bạn bè như Dương Hùng Cường, như Trần Ngọc Tự… cùng chịu chung số phận,
Vũ đã tâm sự như chia sẻ những sốn phận hẩm hiu của ngưo072i bại trận với nhau.
Như bài thơ Gửi Trần Ngọc Tự:

"Mày đi nặng gánh lao tù
Gió Mưa Việt Bắc mịt mù từ đây
Còn tao heo hút chân mây
Khổ sai lao dịch dưới tay vượn người

Mày đi môi vẫm mỉm cười
Cỏ cây rũ rượi khóc lời chia xa"

Hay bài gửi Dương Hùng Cường:

"Heo hút đồi cao bụi phủ mờ
Những thân còm cõi dáng chơ vơ
Bốn vòng gai sắc như dao nhọn
Đâm suốt hồn ai nhát hững hờ?

Đã mấy mùa xuân trong đớn đau
Cao su vàng lá úa u sầu
Bọn ta chung kiếp tù tăm tối
Ngày tháng chừng trôi qua rất lâu…"

Rồi vượt biên tị nạn. Rồi hiu hắt xứ người.
Rồi nhớ thương về quê cũ nhà xưa. Tình cảnh và tâm cảm ấy, chúng ta ai cũng có.
Buổi chiều xứ người sao man mác buồn.
Giọt nắng quái như loang trong lòng người xa xứ một nỗi niềm tê tái. Bài "Chiều Trên Xứ Người":

"Những giọt nắng đã ngả màu cỏ uá
Phủ đời ta trên xứ lạ quê xa
Nưốc mắt nào vừa nghẹn đắng trên môi
Bỗng chợt tắt khi hồn ta dãy chết

Một mình ta ôm nỗi byồn trơ trọi
Phố đông vui như mở hôi ngày xuân
Chân bước đi lòng vẫn mãi bâng khuâng
Sầu trăm mối nghĩa trang hồn một cõi

Quãng đời ta, ôi! Chuỗi dài xa lạ
Sống lưu đầy trong biển cả hoang vu
Ta bơ vơ phiêu bạt giữa sa mù
Nghe trống vắng âm u trong đáy mộ…"

Có lúc phẫn chí, muốn lên núi ở cho tịch lặng đời, cho quên đi những eo sèo nhân thế:

Từ độ về đây sống vắng người
Bạn bè rặt những lũ đười ươi
Chập chùng phố núi leo lên xuống
Ma chẳng ra ma, chẳng giống người"

Lúc buồn thì ngứa miện như thế, nhưng thủy chung với bằng hữu, Vũ là người hào sảng có tình với bạn :

« Bằng hữu ngồi đây nói chuyện xưa
Chuyện xưa giờ cũng đã dư thừa
Chuyện đời thay đổi như cơm áo
Nào có khác gì buổi chợ trưa

Bằng hữu cùng ta chia nỗi đau
Nỗi đau nào cũng nhuốm u sầu
Mặc cho dâu bể thân vong kiếp
Ai nỡ nào khơi thêm nỗi đau ?

Giữa quán đông người nói rất hăng
Bạn ta vung vít chửi lung tung
Rồi cười khanh khách như hào kiệt
Một thuở tung hoành khắp núi sông

Hào kiệt tứ phương đầu đã bạn
Ngồi đây ôn lại chuyện thu phong
Rồi mai tiễn biệt nhau lần cuối
Ai kẻ mài gươm ở cuối đường ? »

Hay :

"Hãy uống cho say mới hết buồn
Cho quên, quên hết mọi đau thương
Uống luôn dăm chén cho thằng chết
Bằng hữu gặp nhau cuối đoạn đường

Những thằng bạn cũ của ta ơi!
Ta chỉ còn nhau ở cuối đời
Một tình chiến hữu từ bao kiếp
Hãy gặp nhau và hãy cứ vui…"
Mơ mộng và thực tế cho bao giờ gặp lại nhau? Hoạ chăng là những trang thơ lần giở. Tôi tưởng tượng, nếu đời người không có thơ u ám biết bao. Thơ, là để trái tim thầm thỉ với mình, để quá khứ trở về làm thúc đẩy cho hiện tại. Thơ, có khi là giọt nắng quái rơi rụng, tàn phai nhưng vẫn còn níu kéo tầm nhìn, còn níu kéo lúc chính ngọ rực rỡ.

Và, ó khi thơ chỉ là thơ, là những hiện thực của cuộc sống kết tinh, là những nỗi niềm chất chứa tìm người đồng cảm cùng chia sẻ. Với "Chiên Trường Xưa", thơ Vũ Uyên Giang, tôi đi vào những cuộc đời của một thế hệ chung mang niềm đau, mà cuộc sống là một đấu trường gay gắt. Đọc thơ để thấy cũng có ngường cùng ý nghĩ với mình. Cám ơn bạn, Vũ Uyên Giang!

Một câu tái bút của thông lệ vài dòng giới thiệu. Ai thích thơ Vũ Uyên Giang xin liên lạc Nhà xuất bản Đất Sống:

P.O.Box 3521
San Leandro, CA 94578-0521
Điện thoại: (510) 809-7044


Giá sách 18 MK kể cả cước phí Bưu điện


NGUYỄN MẠNH TRINH
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Những thành phố phong cách nhất thế giới

Tạp chí Forbes vừa công bố top 10 thành phố "Stylist" nhất thế giới. Phần lớn trong số đó là các thành phố quen thuộc ở châu Âu như London, Paris hay Roma.

Image
Thủ đô London của nước Anh đứng đầu danh sách bình chọn.

Image
"Kinh đô văn hóa" Paris xếp thứ hai.

Image
Vị trí thứ 3 thuộc về Sydney, thành phố cảng xinh đẹp với nhà hát Opera nổi tiếng.

Image
New York của nước Mỹ xếp vị trí thứ 4.

Image
Thành Rome, thủ đô của Italy ở vị trí thứ 5.

Image
Kể từ khi là chủ nhà của Olympic 1992,
Barcelona của Tây Ban Nha đã gây được nhiều sự chú ý của khách du lịch khắp nơi trên thế giới.
Thành phố này đứng ở vị trí thứ 6.

Image
Thành phố Melbourne, Australia xếp ở vị trí thứ 7.

Image
Vị trí thứ 8 thuộc về Berlin, thủ đô nước Đức.
Thành phố này ngày càng thu hút được nhiều người trẻ đến lập nghiệp.


Image
Thành phố cảng thơ mộng Amsterdam của Hà Lan ở vị trí thứ 9.


Image
Với những công viên đầy cây xanh và các bảo tàng,
thủ đô Madrid của Tây Ban Nha tỏ ra không hề kém cạnh các thành phố khác trong top 10.

Hoàng Trang (Theo Forbes)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Vợ cũ của tổng thống Pháp tiết lộ về hôn nhân
Gần 14 năm sau khi ly dị Nicolas Sarkozy, Marie-Dominique Culioli - người vợ đầu của tổng thống Pháp - đã tiết lộ về cuộc hôn nhân và lý do họ chia tay.

Trong cuốn sách mới có nội dung tập trung vào các mối quan hệ của Sarkozy, người phụ nữ 53 tuổi này đã chia sẻ về cuộc hôn nhân với tổng thống Pháp và lên án cô bạn Cecilia Ciganer-Albniz - vợ hai của Sarkozy.
Image

Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy (phải) và người vợ đầu Marie-Dominique Culioli (trái). Ảnh: Times.


Bà cho biết đã tha thứ cho sự không chung thủy của chồng - nguyên nhân khiến cuộc hôn nhân đổ vỡ, nhưng sẽ không bao giờ bỏ qua cho sự phản bội của Cecilia.

Culioli là con gái của một nhà hóa học. Bà gặp tổng thống tương lai vào năm 1980 khi ông là ủy viên hội đồng mới đắc cử tại Neuilly (ngoại ô thủ đô Paris), lúc đó bà đang là sinh viên tại Sorbonne. Trong mắt bà, Sarkozy là người đàn ông khiêm tốn và có tâm hồn phong phú.

Hai năm sau ngày cưới, với tư cách là thị trưởng của Neuilly, Sarkozy đã chủ trì hôn lễ của Cecilia và Jacques Martin. Sarkozy dần đem lòng yêu Cecilia từ đó.

Culioli phát hiện ra mối quan hệ của chồng vào năm 1988 khi hai gia đình cùng đi trượt tuyết tại khu nghỉ dưỡng Megve ở Alpine. Sau khi gọi cửa phòng Cecilia, bà nghe thấy tiếng động và nhìn thấy dấu chân của chồng trên tuyết.

"Cecilia là bạn tốt nhất của tôi. Cô ta làm tất cả để giành được tình bạn của tôi và để gần chồng tôi", Culioli tâm sự cùng Candice Ndlec - đồng tác giả cuốn sách "Sarkozy and the Women" (tạm dịch: Sarkozy và những người phụ nữ) sẽ phát hành trong tuần này.

"Nicolas là cha các con tôi. Rất nhiều người đàn ông phạm sai lầm và bị quyến rũ. Chính cô ta (Cecilia) là người khiến anh ấy chao đảo", bà nói.

Tuy nhiên Culioli không muốn ly dị và Sarkozy vẫn "đi đi, về về giữa hai người phụ nữ". Bà đã sinh cho Sarkozy hai con trai là Pierre và Jean. Bà từng nói với chúng rằng: "Một ngày nào đó cha con sẽ là tổng thống".

Cùng thời gian này Culioli phải chịu đựng căn bệnh ung thư và tám năm sau hai người mới chính thức ly dị.

Sarkozy kết hôn cùng Cecilia năm 1996 nhưng cũng chia tay bà năm ngoái và hiện chung sống cùng cựu người mẫu kiêm ca sĩ Carla Bruni.

Mai Nguyên (theo Times, Times of India)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

TIỀN NHÂN, THUYỀN NHÂN, VÀ PHI NHÂN

Chu Tất Tiến
Những năm 75 – 78 mà nói đến chuyện H.O. thì như chuyện Công Chúa ngủ trong rừng, bất ngờ có Hoàng Tử đến hôn một phát, tỉnh dậy, thơ thới hân hoan.Anh em trong tù, cứ nghĩ rằng đời mình rồi tàn như những người bị nhốt ở Lý Bá Sơ, nên an tâm ở tù. Nhưng mấy tay Cộng Sản đời nào chịu cho anh em yên thân, nên tung tin hỏa mù, sương khói dăng dăng. Tin thứ nhất: "Nguyên Soái Nguyễn Cao Kỳ đã tập trung vài Sư đoàn ở Long Khánh" làm một số anh em ồn lên, sung sức. Người viết thấy vô lý, và với tính thẳng thắn, phản đối luôn. Trước hết, là Nguyễn Cao Kỳ đã dọt, ai cũng biết. Nếu có trở lại, đâu có dễ về đến Long Khánh sớm thế! Thứ hai, khó mà có vài Sư Đoàn trong lúc ấy. Anh em Sĩ Quan tình nguyện đi tù hết trọi rồi, chỉ còn có Hạ Sĩ Quan và lính, lấy đâu ra chỉ huy mà lập thành Sư Đoàn? Trên hết, là danh xưng. Từ xửa từ xưa, Việt Nam Cộng Hòa không có danh xưng "Nguyên soái"! Sạo ke! Coi chừng mắc bẫy Việt Cộng, lộ mặt là dính chùm cả nút. Một số anh em hiểu biết, tin ngay.

Nhưng cái tin thứ hai, dù vô lý hơn, lại có một số anh em tin theo: "Phạm văn Đồng từ chức! Dinh Độc Lập đã treo cờ vàng!" Người viết lại phản bác. Lịch sử đảng Cộng Sản, từ Lê Nin đến Staline, rồi Mao Trạch Đông, chưa hề có vụ Thủ Tướng từ chức! Chỉ có thủ tiêu mà thôi. Tên nào bị loại, là đầu rơi, máu chẩy, làm gì có chuyện từ chức! Hơn nữa, cờ vàng sao lại treo dễ thế! Đánh nhau đổ máu, chưa thấy đâu, tự dưng Việt Cộng lại đầu hàng? Thế là bản "tin miệng" này tịt ngòi. Rồi đến tin thứ ba, do mấy bà thăm nuôi đưa lên: Mỹ đã thỏa thuận trao đổi mỗi đầu người cải tạo một chiếc máy cầy y như hồi Cuba. Hiện nay máy cầy đang trên đường tới cảng Sàigòn! Gần một triệu chiếc! Người viết lại phản đối. Mẹ kiếp! Có hơn 300 triệu viện trợ vào phút chót mà Mỹ không chịu tháo khoán, khiến anh em phải buông súng. Mỹ lại đi đêm với Trung Cộng, đổi Việt Nam lấy thị trường Trung Cộng cả hàng tỷ người, còn tha thiết gì với mấy trăm ngàn Sĩ Quan thất thế? Từ khi Nixon sang Trung Cộng được mời ăn mấy trăm món Tầu cả ba ngày ba đêm, rồi đến Ford, họ đều muốn nhắm mắt, bịt tai trước lời kêu cứu mong Mỹ tháo khoán đạn dược, thì làm gì có chuyện mang máy cày sang đổi mạng người như hồi Cuba? Hồi đó việc tấn công Cuba là hoàn toàn do Mỹ đạo diễn, lực lượng tấn công phát xuất từ Mỹ luôn, nên để gỡ thể diện, Mỹ phải trao đổi, còn mình, đâu phải là lính Mỹ, mà Mỹ phải vội vã chuộc mạng? Mấy điều trần tình ngược đời này, làm một số anh em nhiều dũng khí bị chạm tự ái, nổi giận, trong khi tin hỏa mù thì càng bùng lên.

Tình hình căng thẳng hơn, khi bàn giao tù từ quân đội sang công an, mấy tay công an coi tù cứ lờ đi mọi chuyện xung đột, thậm chí đánh nhau, mặc dù có báo cáo, nên anh em càng sôi nổi: "Thấy chưa? Đến rồi! Tới rồi! Sắp có máy cầy tới rồi!"Người viết thấy nguy quá, vội cản: "Coi chừng! Công an là chuyên viên mưu mẹo, chúng nó mới tiếp quản từ bộ đội, không biết tên nào ăng ten, người nào phản kháng, nên chúng nó để mấy người chống đối nổi lên, như bèo nổi trên nước, rồi lấy vợt, vớt một phát là xong! Anh em nên cẩn thận! Đừng mắc mưu Cộng Sản!" Giọt nước làm tràn ly, vài anh em nóng nẩy đè nguời viết ra, đục cho một trận phù mỏ. Mũi miệng sưng vều. Hết phân tích, lý luận! Hết cả kể chuyện "chưởng" cho anh em nghe (Hai bộ Cô Gái Đồ Long và Lộc Đỉnh Ký được kể từ Cà Tum đến Suối Máu.)

Nhưng sự thật rồi xẩy ra y trang. Ngay sau đó vài ngày, bọn công an bất thần làm một cuộc đàn áp tung người, ào ào vào từng trại, bắn súng đùng đoàng, lôi đi một số người chống đối, tống vào con-nếch. Võ Sư Trương H. bị chúng khảo tra, dùng báng súng nện vào bàn tay cho dập. Võ Sĩ H., Thiết giáp, bị nhốt vào con-nếch rồi biệt tích luôn. Chấm dứt tin đồn, và cũng chấm dứt hy vọng. Thôi thì chỉ còn chờ thời gian, năm hay mười năm, được tha rồi tính đường vượt biên sau.Suy nghĩ mãi về chuyện vượt biên, nên khi vừa được thả chừng một tháng, người viết tìm cách dọt liền, mặc dù bà xã đã mua được hai cái máy đầu bạc, bán đi một cái mua vỏ thuyền, nhờ ông em làm thuyền trưởng, chuẩn bị xin phép ra khơi. Không muốn chờ, chắc còn lâu mới có giấy tờ, rồi lại phải dò dẫm đường đi nuớc bước, nên người viết phóng ra Bà Rịa, kiếm ông chú họ, có tầu sẵn, nếu đi được thì đi liền. Ngày đi, chỉ có một cái áo sơ mi nâu, một cuốn sách "Mác Xít – Lê Nin nít" cầm tay làm cái bùa. Còn một cây vàng, chẻ nhỏ, khâu vào quần đùi. Ai dè lá bùa này hiệu nghiệm vô cùng. Vừa đến cầu Cỏ May, bất ngờ bị lục soát. Một lũ công an ào lên, la lối: "Xuống hết! Xét!" Nguy to! Giấy tờ đi đường không có, nhất định là bị tóm, đời tàn trong sương khói. Mọi người lục tục đi xuống hết, còn người viết vẫn ngồi ghế sau cùng. Khi tên công an tiến đến, hất hàm: "Anh này, xuống!" Người viết chẳng biết làm sao, tửng tửng lật ngửa cuốn sách trên tay, không nói một tiếng nào, chỉ cho tên công an cái tờ bìa có chữ "Mác Xít – Lê nin nít"! Tên này liếc vào trang bìa, giật mình một cái.. cúi chào rồi lùi xuống! Trên xe chỉ có một mình người viết ngồi lại, chân tay run rẩy! Chừng nửa tiếng sau, đoàn người lục tục lên xe, còn dư vài chỗ trống vì có một số phải ở lại Cầu Cỏ May! Ba tên công an thứ thiệt, ngồi ngay trước người viết, vừa lên xe vừa chửi ầm ĩ: "Đ.M. nó! Đã bảo là công an, mà nó cứ bắt trình giấy. Đ.M. Có ngày tao cho biết tay!" Nhưng cả lũ thấy người viết ngồi nghiêm nghị nhìn chúng, thì lập tức câm, liếc nhau, rồi im lặng! Chắc ông này là "cối" lớn! Ai biết đâu là tên cải tạo mới về, đang run như giẽ! Chuyến đi đó không thành công. Oâng chú bị bắt mất tầu rồi! Nên đành về, chờ vậy.

Lần thứ hai, nộp vàng cho một người quen, vì chiếc ghe của gia đình vẫn chưa xong giấy tờ. Hai vợ chồng, hai đứa con trai, và bà nội các cháu đi theo, cầm đồ. Đến Vũng tầu, vào địa điểm hẹn, thì chưa sẵn sàng, chới với, không biết ra sao, bà nội các cháu kéo vào nhà ông cậu, em của bà nội, ở đỡ. Vừa thấy một lũ kéo nhau vào, ông cậu cau mặt, lầm bầm chửi thề, nhưng cũng phải cho tá túc một đêm. Cả đêm không ngủ được vì mấy đứa em họ, ngày xưa quý hóa ông anh lắm, nay vì sợ hãi liên lụy, nên chửi thẳng vào mặt, không nể nang: "Đ.M. Tự dưng dẫn xác đến! Đ. M. chết đến nơi rồi!" Nghiến răng chờ sáng, đến chỗ hẹn. May sao vào được nhà, nhưng ở phía bếp. Chủ nhà dặn thật kín tiếng, không được ho, không được nói. Ỉa đái thì phải chờ đêm. Vậy mà cũng hết hồn hết vía. Bên cạnh nhà có một thằng nhóc khoảng 12 tuổi, thông minh ghê gớm. Nó qua hỏi thằng nhóc trong nhà: "Ê! Nhà mày hôm nay có người sao mà tao thấy chẻ củi nhiều qúa!" Chết bỏ bu rồi! May mà tên nhóc trong nhà cũng thông minh không kém: "Có gì đâu! Nghe nói mai mưa, hôm nay chẻ trước cho khô." Tên kia lại nói: "Sao tao thấy trong phòng mày nghe sột soạt?" Nhóc này trả lời liền: "Đ.M. Có con chuột to, tự dưng chạy từ nhà mày qua nhà tao. Tao đang tìm cách bắt mà chưa được!" Tên nhóc cháu ngoan bác Hồ già kia liền bắc ngay một cái ghế, ngồi chặn trước cửa. Trong nhà run lập cập. Thế là tiêu đời! Cũng may mà tên nhóc trong nhà thông minh hơn, hy sinh mấy đồng, rủ cháu ngoan Bác đi ăn đồ ngoài chợ. Nghe nói đến ăn chùa, tên nhóc khăn quàng đỏ kia đi liền, quên vụ canh gác. Còn trong nhà, nín thở chờ hai, ba ngày, vẫn chưa ra khơi được, liền rủ nhau về.

Trời còn lờ mờ sáng, đã phải ra trạm xe đò, ngồi chờ. Nhưng ôi thôi, khi mặt trời lên, từng đoàn người kéo nhau vào chật phòng vé, mà toàn cán bộ với bộ đội nón cối. Chúng xếp hàng dài từng lũ. Nguy rồi, làm sao về nhà đây? Bà nội các cháu, nói: "Để Me, con đừng lo!" Rồi bà cụ xăm xăm đi lên, vượt qua lũ bộ đội. Một tên nổi sùng, thò tay ra, nắm áo bà cụ lại: "Ê! Bà già! Đứng ra sau!" Bà cụ giật tay nó ra, chỉ vào mặt: "Mày câm cái mồm! Dám nói với mẹ mày như vậy hả! Tao tát cho một cái bây giờ!" Tên kia chưng hửng. Chắc là Mẹ chiến Sĩ rồi! Thôi nhịn! Bà cụ đi tiếp, vẹt mọi người ra. Đến đúng chỗ quầy vé, một tên bộ đội nón cối lại gạt cụ xuống: "Bà này! Đi xuống cuối hàng!" Bà cụ chỉ tay vào mặt hắn, quát lớn: "Mày biết thân mày đi! Lui ra! Cho mẹ mày mua vé!" Tên kia hoảng quá! Thôi đụng thứ dữ rồi! Mẹ cán bộ Bắc Kỳ rồi! Hắn lui ra ngay; bà cụ tỉnh bơ, nói với tên bán vé: "Cho tao năm cái vé về thành phố!" Năm cái vé được đưa ra cấp kỳ. Thế là cả nhà vượt biên về Sàigòn an toàn! (Bà cụ còn nhiều giai thoại chửi Cộng Sản te tua. Sau khi ba thằng con đi cải tạo hết, cụ lên Bảo Lộc, mua mấy mẫu đất, trồng cà phê. Một hôm, ba tên công an bước vào nhà. "Này! Nghe nói bà già là mẹ lính ngụy phải không?" Bà cụ trợn mắt: "Ai bảo mày thế? Nhà này không có ai là lính ngụy cả!" Ba tên công an ngẩn người: "Tôi nghe báo cáo nói bà cụ có ba thằng con đi lính ngụy mà!" Bà cụ quát liền: "Tao không có đẻ ra lính ngụy! Mày biết chưa! Tao đẻ ra ba thằng toàn là Sĩ Quan Cộng Hòa hết!" Rồi bà gào lên: "Chồng tao thì bị đấu tố chết! Thằng con lớn tao mới chết trong tù! Tụi mày còn muốn gì nữa? Muốn đưa tao vào tù luôn hả? Tao cũng muốn vào tù để chết chung với mấy đứa con tao? Mày đưa tao đi luôn đi!" Ba tên công an hãi quá! Gặp bà già giết giặc rồi! Chúng vội chuồn ngay, không bao giờ trở lại.)

Lần vuợt biên thứ hai và thứ ba cũng không thành công. Mất tiền và lo sợ. Đi hết nhà ém này đến nhà ém khác. Toàn di chuyển ban đêm bằng xe đạp. Ban tổ chức chở từng người bằng xe đạp qua các con đường âm u, sương mù mịt, chẳng nhìn thấy chi. Vợ chồng con cái chia tay nhau hết, nên sợ bị bắt thì ít, mà sợ lạc nhau thì nhiều. Nhưng khi gặp nhau thì phải nằm bẹp như cá hộp. Cả chục nguời đàn ông, đàn bà, con gái, thanh niên ép dí trong phòng kho, đi tiểu, đi cầu vào bô, có người nhà đem đổ, nên hoạt cảnh thiệt buồn cười. Chả có ai mắc cỡ, cứ tụt quần ra, ngồi bô ngay cạnh đầu người, dù là con gái, đàn ông…, vì nhịn không nổi. Mấy cô lúc đầu thì đỏ mặt, sau thì quen dần với tiếng tồ tồ, với mùi thối và khai. Được vài ngày lại chạy chỗ khác. Có hôm đang nằm ém, nghe báo động, "Công an tuần tra!" là cả bọn tung tóe chạy ra ngoài đồng, nằm rạp xuống đất, sau mấy cái bờ ruộng, không dám thở. Có lần, đang nằm bẹp xuống đất ruộng, núp mấy cái đèn pin công an đang rọi chiếu lung tung, thì một bà giáo nằm bên cạnh, cứ ngỏng cái đầu lên xem Công An đi đến đâu! Người viết phải dúi đầu bà xuống, nhưng bà này man man, cưỡng lại: "Để xem chúng làm cái gì!" Người viết nổi sùng, xáng cho một bạt tai, dúi đầu xuống. "Xem cái con khỉ! Ở giữa ruộng, mà ngỏng đầu lên như rắn lục thế, thì đứng xa cả cây số cũng thấy!" Bà này im re, nhưng sau khi bọn công an xa vừa bỏ đi, thì chạy vào nhà, ra phía sau hè, cởi quần áo ra múc nước xối lên người um sùm! Mọi người muốn điên luôn! Lần đó, đi trên xe đò về thành phố, quần áo ướt đầy bùn. Mấy tên lơ xe cười hì hì:"Dọt không thoát phải không?" Không thèm trả lời, cứ im như thóc.Lần vượt biên thứ tư cũng xui, ra "tắc xi" đến biển rồi, thì thấy tầu công ăn dăng đầy, đèn chớp lia chia. "Cá lớn" đã bị phát giác! Cả lũ thuyền con phải chạy tạt vào một đảo hoang, đúng vào ngày bão.

Đứng trên đảo, núp dưới mấy cây lớn, chịu trận với cơn bão giật đùng đùng suốt một ngày, không ăn uống gì. Ngày hôm sau, có mấy ghe của dân chài, biết là có đám vượt biên hụt, nên kéo tới, làm tiền. Cứ một mạng đổi lấy một "chỉ" vàng, đưa về tới Bà Rịa. Đành chịu, nếu không thì công an kéo đến..Lần chót, thì do chính ông em chủ động. Đã chạy biển được một thời gian, mua bãi bến đủ cả, thế là cả nhà lên đường. Ngày đi, hẹn nhau ở Sở Thú. Hai vợ chồng, hai đứa con ngồi trên ghế đá bên trái của cổng. Hai ông "bộ đội" tiến đến, nói mật khẩu, rồi một ông lãnh vợ và hai con, một ông lãnh tên chồng.

Lên xe đến Phước Hải, hai vợ chồng một nơi, hai đứa con một chỗ. Sợ quá chừng! Lỡ ra mất con thì làm sao sống nổi! Hai ngày chờ đợi như ở trong địa ngục. Đến tối ngày thứ hai, bỗng nhiên có một cô gái dẫn thằng anh đến, mếu máo: "Bố ơi! Em nó sốt! Nó khóc quá chừng!" Thế là bắt buộc cô kia phải dẫn bố đi kiếm con, và bằng mọi giá, phải đưa cả hai thằng vào một chỗ. Cháu nhỏ khóc lặng người, vừa nhớ bố mẹ, vừa sợ, vừa đau. Oâm con vào lòng, mà mừng quá đỗi, cả hai bố con đều khóc. Đến ngày thứ ba, mới có tin tối nay chuẩn bị đi. 12 giờ lên đường. Bãi đáp được mua từ 12 giờ đến 2 giờ sáng. Bất ngờ, đang chuẩn bị náo nức, tay bộ đội liên lạc với công an bãi đáp, chạy đến nhà ém, hớt hải: "Bỏ mẹ rồi, có thằng đổ bãi bậy, đánh nhau với công an. Chúng nó bắn chết ba tên công an của mình rồi! Bây giờ, công an tỉnh đang bao vây, khóa đầu chặn đuôi, phải dọt lẹ!" Mọi người kinh hoảng, tản hàng. Từ nhà ém ra đến đường cái, chó sủa kinh hồn. Đi một quãng lại ngừng cho bớt tiếng sủa mới đi tiếp. Đến đường cái, cũng phải vừa đi vừa núp, chờ xe đò về Sàigon. Một lúc sau, tay bộ đội đi xe "cúp" chầm chậm ngang qua từng nhóm người núp, dặn nho nhỏ: "Đừng lên xe thứ nhất! Đừng lên xe thứ nhất!" Vì câu dặn này, mà người viết thoát nạn. Chừng khoảng 2 giờ sáng, chiếc xe đò thứ nhất từ phía Bà Rịa đi ngang. Một số người không nhịn nổi, leo lên. Người viết vẫn kiên nhẫn chờ, không cử động cho bớt tiếng chó sủa. Đến chiếc thứ hai, mới chạy ra vẫy lại, và khi lên xe, thì tìm chỗ ngoài cùng, ngay cửa sau. Quả nhiên, khi xe đến gần Long Thành, nhìn thấy phía trước thấy lửa cháy từ một cái vỏ xe do công an đốt giữa đường để chặn xe. Đám người đi xe thứ nhất bị dính chấu toàn bộ. Công an chạy lăng xăng canh chừng. Chiếc xe thứ hai trờ tới, bọn công an chưa kịp phóng đến thì người viết nhẩy ngay xuống, cùng với một cô gái khoảng 20 tuổi. Cả hai lao vào rừng. Vừa chạy được mấy thước, một tên công an từ trong rừng chạy ra: "Chị kia! Chạy đâu?" Người viết chạy sau, hắn không thấy, nên kịp núp vào một thân cây. Người con gái hổn hển nói: "Tôi mắc đi cầu!" Tay công an quát: "Kiếm cớ dọt hả?" Người con gái gắt lên: "Tôi mắc thiệt mà!" Rồi không đợi tay công an nói thêm, cô gái tụt luôn quần ra, ngồi xuống, phô cái mông trắng bóc giữa bóng đêm. Tay công an mắc cở, phải quay lưng đi. Vừa thấy bóng hắn khuất nẻo, cô gái kéo quần lên, chạy tiếp. Hai người phóng sâu vào trong rừng rồi mới quành trở ra đường cái, xa hẳn phía cái bánh xe cháy.

Đứng núp bên đường đến khi thấy xe đò thiệt, người viết mới chạy ra chặn lại, leo lên, nhận cái giá đắt gấp ba lần, nhưng thoát về được Sàigòn, còn vợ con bị bắt hết. Chúng tống dân vượt biên hụt vào ngay trại Suối Máu, nơi người viết đã từ đó được thả ra! Giả tỷ mà trở lại, chắc không sống sót với những tên cai ngục đã nhẵn mặt mình! Về nhà, buồn bã, chơ vơ. Đến khoảng 10 ngày sau, quá buồn, tới nhà chị Đại Tá NVĐ (Anh vẫn còn ở tù), than: "Em buồn quá, chị ạ! Vợ con bị nhốt không biết bao giờ mới được thả ra!" Chị nghĩ một lúc rồi nói: "Chiều nay, em lại đây, chị có chuyện này hay lắm, có thể làm em bớt buồn!" Buổi chiều, đến gặp chị, thì thấy có hai ông đang ngồi đó. Chị giới thiệu một ông là chuyên viên coi Tử Vi, một ông coi Nham Độn. Chị nhờ hai ông xem giùm cho người viết một quẻ. Oâng Tử Vi coi cũng thường thôi, không có chi đặc sắc, nhưng ông Nham Độn mới thật là tiên tri! Sau khi hỏi xong tên tuổi, năm sinh, ông bấm đốt ngón tay: "Hừm! Hừm! Quẻ này khá lắm!..." Rồi, bấm ngón tay nữa. "Hừm! Không sao đâu! Sắp về rồi!" Một lúc sau: "Không phải sắp về, mà về rồi! Về nhà rồi!" Oâng lắc vai người viết: "Về nhà đi! Vợ con đang ở nhà đó!" Trời đất! Thiệt không? Thiệt mà! Về ngay đi, kẻo bà ấy mong! Quên luôn cả cám ơn, quên chị NVĐ, quên hết mọi sự, vội vàng chụp cái xe đạp, phóng ào như gió về đến nhà, thấy vợ con đang ngồi chờ đợi! Thiệt không tả nổi nỗi vui, nỗi khâm phục người tiên tri Nham Độn! Và đó cũng là chuyến vượt biên hụt cuối cùng, chấm dứt giấc mơ làm "Thuyền Nhân" vì đúng lúc đó, có chương trình H.O!

Nghe tin hôm sau, quận Phú Nhuận sẽ nhận đơn, người viết đi báo với bạn bè. Có ông tin, có ông không tin: "Lỡ ra, chúng rình, nhốt mình lại thì sao?"Kệ mẹ nó! Nếu chúng muốn nhốt, thì cần gì phải làm đơn đi Mỹ rồi mới nhốt! Chúng nhốt lúc nào chả được! Cứ làm đại! Và, 3 giờ sáng hôm sau, có mặt tại công an quận, tưởng sớm, ai dè có ông bạn đã chăng võng ngủ trước cửa từ 11 giờ đêm hôm trước. Như thế, số vào cửa của người viết là đúng số 50! Và, số 50 lên đường đi Mỹ theo diện H.O 1, ngày 5 tháng 1 năm 1990, chuyến bay thứ 2, khởi hành lúc 10 giờ sáng. Nhưng để chắc ăn, người viết buộc cả nhà phải lên đường lúc 4 giờ, lẳng lặng ra xích lô, đến phi trường cho chắc ăn. Quả nhiên, lúc 8 giờ sáng, hai tên Phường Đội đến gọi thằng con lớn đi Nghĩa vụ Quân Sự! Khi biết rằng cả nhà đã lên đường đi Mỹ, hai tên chửi nhau:" Đ.M. mày! Đã bảo đến từ hôm qua, lại lo nhậu! Nhậu cái con mẹ gì! Bây giờ chúng đi mất rồi!" Đi mất thật! Dù là ở ngay phi trường Tân Sơn Nhất, người viết trả lời phỏng vấn của David Jackson, phóng viên đài truyền hình số 9 tại Los Angeles, khi anh này đi lanh quanh, hỏi ai biết tiếng Mỹ không. Khi biết người viết có thể trả lời phỏng vấn, anh ta cho máy quay phim, đèn pha chiếu tùm lum, trước mắt công an, nói chuyện linh tinh, cảm tình cảm nghĩ.

Rồi cũng lên đường. Hát Ô Một tới Mỹ để bắt đầu cho một giai đoạn "phi nhân" (có mấy anh bạn đùa vui, gọi Hát Ô là Phi Nhân để khác với Thuyền Nhân). Nhóm Phi Nhân này khổ hơn Thuyền Nhân, vì đến nước Mỹ trễ tràng, vào đúng giai đoạn kinh tế xuống, nhà cửa rẻ như bèo. Kiếm việc công không ra, đành làm công cho Thuyền Nhân và nhất là "Tiền Nhân" là những người đi tiền phong từ năm 1975, nay đã thành các luật sư, bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, ông chủ, bà chủ khách sạn, nhà hàng, tiệm bán "fớ ni chơ", "neo", hay "xóp" may. Một số các ông bà chủ Tiền Nhân này (dù không nhiều lắm), cứ coi nhóm Phi Nhân toàn là "nhà quê", ít học, nên sai bảo như vặt lông vịt. Có bà Phi Nhân, cựu giáo sư, phải làm 10 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần, mà lương có 800 một tháng! Có ông Phi Nhân, cựu Bác sĩ, phải đi giao bánh mì từ 3 giờ sáng đến 2 giờ trưa, lương cũng 800 một tháng. Một Phi nhân, cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh bỗng biến thành Hành khất, làm 10 tiếng một ngày, sáu ngày một tuần, cũng 800 một tháng! Lạ lùng thay con số 800! Một nữ giáo sư chuyên dậy học sinh giỏi, đi làm cho một dược sĩ bạn học cùng trường, bị chủ mắng như tát nước, phải gạt lệ ra đi... Oi! Cuộc đời đã làm Tù Nhân, nay lại thành Phi Nhân, chán ngắt. Nhưng có lẽ nhờ chịu đựng gian khổ đã quen, nên chỉ một thời gian 10 năm sau, Phi Nhân đã lấy lại phong độ và quên đi dĩ vãng đau buồn, Câu chuyện Hát Ô có mở đầu, nhưng rồi cũng như câu hát: "lâu dần đời người cũng qua..", dù cho Tiền Nhân, Thuyền Nhân, hay Phi Nhân sẽ đều đến chung một điểm vĩnh hằng...

Chu tất Tiến.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image


“Cà phê bệt” và văn minh đô thị


Cà phê bệt” là phong cách uống cà phê độc đáo của giới trẻ. Kiểu uống cà phê này thể hiện tính trẻ trung, giản dị và phóng khoáng của đông đảo bộ phận thanh niên. Bạn trẻ Sài thành yêu “cà phê bệt” cũng như thanh niên Hà thành say sưa với mốt kem đứng, phở đứng. Họ chấp nhận sự bất tiện về chỗ ngồi để có được cái thoải mái, thú vị trong thưởng thức cà phê mà những quán cà phê sang trọng không có được.
Giới trẻ uống cà phê
Mỗi sáng, nhâm nhi ly cà phê cóc 5.000 đồng, lót tấm giấy báo thoải mái ngồi xem tin tức, hít thở không khí tương đối trong lành giữa công viên thoáng đãng ở cái thành phố nhiều bụi bặm này và cùng tán gẫu với bạn bè là niềm hứng khởi tuyệt vời để bắt đầu một ngày mới của nhiều bạn trẻ.


Một số người đã qua thời sinh viên hiện đang làm những công việc có thu nhập kha khá muốn tìm lại cảm giác thời sinh viên đã tìm đến với “cà phê bệt”, bởi theo họ, chính những góc phố này góp phần nuôi dưỡng tâm hồn giới trẻ và luôn nhắc để họ nhớ về một thời gian nan đã qua, trước những hối hả của cuộc sống vật chất đang cố kéo họ đi.

Đừng nghĩ “bệt” thu hút giới trẻ chỉ vì giá rẻ, nếu quan sát sẽ thấy những gương mặt quen thuộc đam mê “bệt” đa số là nam thanh nữ tú cả, vô số những đôi kiếng cận sáng láng, laptop hiện đại, xe tay ga, dế xịn… Họ tán gẫu, họp mặt, hẹn hò, bàn bạc công việc làm ăn, bình luận tình hình… Quan sát, lắng nghe và hòa mình vào không khí “cà phê bệt” sẽ giúp ta khám phá phần nào đời sống tâm tư, suy nghĩ của một bộ phận thanh niên thành phố hiện nay.

Mỗi ngày có khoảng 100 bạn trẻ đến uống cà phê tại khu vực công viên 30-4, kéo dài từ khoảng 6 giờ 30 đến 18 giờ, chủ yếu là sinh viên, nhân viên văn phòng khu vực Q1, Q3 và có cả một số nhà báo trẻ. Buổi sáng dòng người đông đúc chầm chậm lưu thông trên các trục đường Lê Duẩn, Phạm Ngọc Thạch, Nam Kỳ Khởi Nghĩa…, nhìn vào khuôn viên cây cối xanh ngắt, mát mẻ, các bạn trẻ người thì chăm chú bên trang báo hay chiếc máy tính, có bạn tư lự bên ly cà phê đen trông hơi… cụ non, có nhóm bạn cười sảng khoái, vô tư bên những người bạn… ai nhìn vào đều công nhận đó là nét lạ của giới trẻ thành phố, mà chỉ có ở TPHCM này mới có mà thôi.

Vui buồn cùng “cà phê bệt”

Mỗi người một cách, đang “chìm đắm” trong không gian “cà phê bệt”, bỗng nghe tiếng hét to: “Trật tự đô thị đến”, tiếp theo đó là cảnh tượng nháo nhào. Những chiếc xe máy nối đuôi nhau từ công viên ầm ầm phóng ra làm náo loạn khu phố, nhiều khách nước ngoài trông vào ngơ ngác, chẳng hiểu vì sao thanh niên VN sợ “police” đến thế. Các cô dâu đang làm dáng ở nhà thờ bị tiếng động cơ của những chiếc xe máy phóng nhanh sau lưng giật mình đánh rơi cả hoa. Lúp xúp chạy vào sát tường nhà thờ Đức Bà. Laptop không kịp “shutdown”, túi xách, báo chí, bao thuốc, hộp quẹt…, những ly cà phê vừa mới bưng ra chưa kịp uống rơi lả tả ở sân công viên.

Đó là những “cư dân bệt” lâu đời, còn nhiều cô cậu mới gia nhập “làng bệt” rất dễ bị phạt do xe đậu sai nơi quy định. Khi được hỏi tại sao không gởi xe để yên tâm, thoải mái thưởng thức cà phê thì nhiều người đưa ra lý do rất giống nhau - Trước hết là nơi giữ xe gần công viên không có (gần nhất là Nhà Văn hóa Thanh niên) chính vì thế nên lười và “thôi thì người đâu của đó cho tiện, ngồi khoảng tiếng đồng hồ mà gởi xe thì phiền quá?!”.

Một số bạn lại cho rằng thêm một chút phiêu lưu trong khi nhâm nhi cà phê rất thú vị! Chính suy nghĩ vô tư, vô tâm của một bộ phận thế hệ trẻ đã và đang gây ra những rắc rối không đáng có cho nếp sống đô thị vốn đã tồn tại quá nhiều bất cập, vướng mắc từng ngày.

Và nơi đến của các “cư dân bệt” không may, chính là chi nhánh kho bạc trên đường Trần Hưng Đạo nộp phạt, rồi phải đến Công an phường Bến Nghé trên đường Hồ Tùng Mậu nhận giấy tờ bị giam giữ hoặc nhận xe về.

Đôi điều muốn nói

Người bán “cà phê bệt” tâm sự, họ rất muốn xin giấy phép kinh doanh để yên tâm buôn bán theo đúng luật, nhưng nhiều lần xin giấy phép, chính quyền yêu cầu phải có cơ quan chủ quản đứng ra bảo lãnh thì mới được cấp. “Cà phê bệt” là loại hình bán “hàng rong cao cấp”, mỗi chủ xe là một chủ doanh nghiệp lưu động, đã có gánh hàng rong nào có giấy phép kinh doanh đâu!


Qua tìm hiểu, chúng tôi biết được phí đậu xe một lượt là 5.000 đồng, không kể đậu trong thời gian bao lâu. Phí đậu xe này do nhân viên thu phí Đội quản lý đô thị Công an phường Bến Nghé trực tiếp thu.

Chủ “cửa hàng cà phê” cho xe đậu bên hông công viên để phục vụ từ 6 giờ đến khoảng 18 giờ. Kết thúc một ngày buôn bán, họ bán được gần 200 ly nước uống, giá bình quân 6.000 đồng/ly, tổng thu khoảng 1 triệu/ngày. Phí thuê mặt bằng như vậy quả là quá rẻ.

Một chiếc xe 15 chỗ cũ kỹ, ngoài “nhiệm vụ” chuyên chở thùng sau xe cải tạo thành “khu chế biến”, khu chứa nguyên vật liệu… Trong không gian pha chế chật hẹp, trà đá được chứa trong những bình nước suối lớn, cà phê pha sẵn từ nhà đựng trong những chai nhựa và khi có khách gọi, chủ quán chỉ đổ cà phê ra ly và bốc nắm đá vô chiếc cốc nhựa là có ngay ly cà phê, trao nước cho khách là lấy tiền ngay, phòng khi công an tới còn chạy. Khi tôi tỏ ý thắc mắc về vệ sinh thức uống thì các “tín đồ bệt” cười khà bảo, họ thích đến đây vì họ cảm thấy vui và thoải mái. Còn chất lượng cà phê ư? Họ bảo uống “cà phê bệt” thấy vị... cũng đậm đà như uống trong quán sang trọng và uống trà đá “tàu nhanh” kia chưa bao giờ bị đau bụng!

Chức năng của công viên là địa điểm vui chơi, giải trí, thể dục thể thao lành mạnh. Công viên 30-4 với cảnh quan đẹp, hệ thống cây xanh và vệ sinh tốt là môi trường lý tưởng, đáp ứng tương đối hiệu quả cho các hoạt động trên. Đó là “công viên sống”, hữu ích, là lá phổi xanh mang lại bầu khí quyển trong lành cho thành phố và là niềm yêu thích của giới trẻ.

Buổi sáng tinh mơ, giữa một không gian ồn ào xe cộ ngược xuôi, một bộ phận thanh niên im lặng ngồi nhâm nhi cà phê trên quán cóc ở lề đường bên những trang báo là một nét sinh hoạt đặc trưng của Sài Gòn bao đời và “cà phê bệt” cũng là một nét lạ và đáng yêu trong sinh hoạt của giới trẻ thành phố. Tuy nhiên vẫn còn nhiều điều cần bàn. Đó là việc một nhóm thanh niên dễ gây náo loạn khi có trật tự đô thị đến, đó là xe cộ dựng ngổn ngang trên tuyến đi bộ của công viên và những vệt nước đọng trên một đoạn công viên, sau khi “quán cà phê lưu động” dọn đi. Đó là chưa kể đến việc kinh doanh trốn thuế của các xe bán cà phê lưu động tại công viên.

Cũng là hình thức kinh doanh như các quán cà phê khác, nhưng các “chủ quán” chỉ bỏ tiền thuê mặt bằng đậu xe vài ngàn đồng mỗi ngày, ngoài ra không nộp khoản thuế kinh doanh nào khác, có nghĩa là ngân sách nhà nước mất đi một khoản thu chính đáng.

Chúng ta đang chung sức vì một thành phố trong sạch, văn minh. “Cà phê bệt” có thể là nét văn hóa lạ (nhưng chưa đẹp) của bộ phận thanh niên ở một thành phố trẻ. Nếu có thể, nên có khu dành riêng cho “cà phê bệt” để nét sinh hoạt rất trẻ này tồn tại nhưng không đối lập với tính thẩm mỹ chung của văn minh đô thị thành phố.

Sao Ly
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Chị Cả Bống
Tác giả: Phạm Lưu Vũ


"...Làm người lương thiện bây giờ vất vả quá... biết đâu đến một lúc nào đó những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình"

Truyện ngắn Chị “Cả Bống” xuất hiện đầu tiên trên báo Người Hà Nội, số ra ngày 8/6/05. Lập tức toàn bộ số báo bị tịch thu. Ông phó tổng biên tập cho in bài "nổi loạn" này bị mất chức. Tác giả bị công an hạch sách. Giá chợ đen của số báo đăng truyện này lên gấp chục lần giá thường. Chuyện gì thế? Đấy là một họat cảnh xã hội chúng ta hiện nay được tác giả khắc họa bằng những hình tượng khá “điển hình” trong hiện thực xã hội ngày hôm nay. Điểm lõi của hiện thực xã hội đó là nạn tham nhũng. Tham nhũng mọc rễ chằng chịt, đan xen nhau, móc ngoặc nhau thành một vòng vây kín những con người bình thường, hiền lành và lương thiện. Nhân dân ta có cần phải chịu đựng số phận như thế? (Xin lỗi bạn đọc về câu hỏi nhức đầu này. Bạn đọc xứng đáng được thư giãn trong suốt ngày Chủ Nhật)

Chiều tà, một người đàn ông phóng như ngựa phi nước đại về phía tây thành phố, nơi ấy có nhà tù với cái tên rất đẹp là "Hoà khí". Tới cổng gác, ông ta trình thẻ căn cước cho lính canh. Sau khi xem chứng minh thư, lính canh dẫn ông vào văn phòng nộp hồ sơ. Một người đứng tuổi đeo kính trắng nhận hồ sơ rồi bảo:

- Dẫn tới khu nhà chờ, đợi thẩm tra hồ sơ, ba tuần sau có kết quả.

Lính canh lại dẫn ông ta đi, khu nhà chờ gồm vài dãy nhà cấp 4 sập xệ và rêu mốc, rất đông người ở kín các gian phòng, đàn ông, đàn bà, lớn bé, già trẻ, đủ cả... Điều kiện sinh hoạt rất tồi tệ song không ai ta thán, đơn giản họ chỉ ở lại đây có vài tuần. Từ khi lập ra khu nhà chờ này không lúc nào vơi người. Ngày nào cũng có người đi lại, ngày nào cũng có người đến. Giống như người đàn ông kia, mọi người chờ thẩm tra hồ sơ, nếu đủ tiêu chuẩn sẽ được vào tù. Tiêu chuẩn đơn giản nhưng không phải không kỹ càng, chỉ những người lương thiện không dính tý lưu manh nào mới được vào tù. Tất nhiên lũ bất lương đừng hòng bén mảng tới.

Chẳng ai lấy làm ngạc nhiên, ở xứ xở này, không có chuyện gì là không xảy ra kể cả những chuyện ngược đời, đơn giản mọi người không những thích đùa mà còn đùa rất dai. 5 giờ rưỡi sáng, kỹ sư Hoàng thức dậy, vợ và đứa con trai mười tuổi của anh đang ngủ say. Đứa con gái 17 tuổi của anh đêm qua không về, chị giúp việc cũng đã dậy từ lúc nào, đèn dưới bếp hắt lên mấy vệt sáng le lói qua khe cửa. Mười phút cho việc vệ sinh cá nhân, 25 phút cho việc mở các loại cửa. Như mọi nhà trong thành phố, từ lâu anh đã biến căn hộ của mình thành một pháo đài. Các cửa sổ ngoài việc lắp chấn song bằng thép dày, còn được giằng ngang ba ống thép to bằng cổ tay, chia đều từ trên xuống dưới. Cửa đi cũng bằng thép đúc, bên ngoài dán một lớp gỗ mỏng. Tính từ trong ra đến cửa, còn năm lớp cửa như thế, tất cả đều có khoá đặc biệt, mỗi cửa gồm ba chiếc khác loại nhau. Mở đến lần cửa cuối cùng thì vợ con anh cũng vừa trở dậy. Những việc chuẩn bị cho một ngày mới diễn ra đã thành nếp. Sau khi dặn dò kỹ lưỡng chị giúp việc hai vợ chồng dắt xe đi làm. Chị kiêm thêm nhiệm vụ đưa con tới trường, chiều về ghé qua chợ mua thức ăn cho ngày hôm sau. Trước khi ra cổng, anh một lần nữa kiểm tra trên người vợ con xem có đeo bất cứ loại trang sức nào không, nhắc vợ cẩn thận kẻo bị cướp... Anh lại lần lượt khoá tất cả các cửa từ trong ra ngoài, trong lúc vợ đứng giữ xe. Đứng bên ngoài thò tay qua các lỗ cửa thực hiện những thao tác của người mù, mười phút nữa cho công việc ấy, xong xuôi vợ chồng con cái chia thành hai ngả phóng xe đi.

Kỹ sư Hoàng làm việc tại một cơ quan thiết kế gần trung tâm thành phố. Mới ngoài 40 mà tóc anh đã gần như bạc trắng, thằng con trai lớn 19 tuổi đang ở trung tâm cai nghiện, đứa con gái thứ hai 17 tuổi đua đòi chúng bạn bỏ cả học đi vũ trường thâu đêm, suốt sáng. Không phải vợ chồng anh không biết dạy con mà là bất lực. Con đường đời biết bao nhiêu cạm bẫy, nó gài khắp mọi nơi, mọi chốn, gài trên mỗi bước chân. Già đời chững chạc như vợ chồng anh, ngày nào cũng phải nhắc nhau từng tí một mà vẫn ngay ngáy lo rằng không biết lúc nào, cái bẫy nào sẽ ụp xuống mình đây ?

Kỹ sư Hoàng chợt lạnh người. Có tiếng còi nghe rợn tai, một cảnh sát giao thông bước quả quyết từ trên vỉa hè xuống đường vừa tuýt còi, vừa chỉ thẳng cái dùi cui vằn vện vào mặt anh, một cảnh sát khác ngồi vắt vẻo trên yên xe máy phân khối lớn sơn màu trắng. Chưa kịp hiểu mình có sai luật hay không anh vội đạp phanh, chiếc xe dừng tắp lại.

- Kiểm tra giấy tờ! Người cảnh sát vừa rút chiếc còi ra khỏi miệng vừa giơ tay lên mũ chào như một cái máy, vừa ra lệnh cho anh. Cầm giấy tờ của anh đưa cho anh cảnh sát ngồi trên chiếc xe phân khối lớn, anh cảnh sát ấy lại tiếp tục đút còi vào miệng cầm gậy trỏ xuống đường chọn bắt xe khác. Anh cảnh sát ngồi trên chiếc xe phân khối lớn, lướt qua đống giấy tờ của một anh khác. Không nói năng anh ta đưa mắt ngó lơ đi chỗ khác như thể chờ ai đến đọc giùm. Cũng như một cái máy, kỹ sư Hoàng dựng xe, móc bóp, rút ra một tờ đẹp đẽ vuông vắn có in hình lãnh tụ, bước tới chỗ anh ta.

Đến cơ quan, vừa kịp giờ làm việc, chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia là một thẩm phán toà án, người đang xử lý vụ kiện đòi nợ của cơ quan anh. Bằng một giọng rất lễ phép anh thẩm phán nhắc khéo anh rằng vụ kiện của cơ quan anh sẽ có thể bị đình chỉ vì phía anh chưa nộp chi phí cho việc thẩm tra. Nhân tiện anh ta nhắn rằng bữa nhậu chiều qua vì điện thoại cho anh không được mà anh ta và đám chiến hữu bên viện kiểm soát phải ký nợ nhà hàng một khoản kha khá, lúc nào anh ghé qua thanh toán giùm...

Chiều hôm đó về nhà, kỹ sư Hoàng chưa kịp mừng vì tin cô con gái đã trở về đang nằm bẹp trên gác thì đã nghe vợ mếu máo báo tin chiếc xe máy của chị bị cướp, mẹ con phải đi bộ về. Thực ra chị đã dối anh, chiếc xe máy đó chị đã buộc phải thế chấp để chuộc cô con gái từ cái động của một mụ tú bà, vì cô còn nợ mụ một khoản tiền vay mua son phấn với mức lãi 40 % một ngày. Thế coi như của đi thay người. Kỹ sư Hoàng chưa kịp phát điên lên vì giận dữ thì may quá nhà có khách. Ông trưởng khu phố và mấy cán bộ của Uỷ ban lừng lững bước vào:

- Chúng tôi đến nhắc anh về khoản đóng góp xây nhà tù - Ông trưởng khu vào đề ngay, nhân tiện báo để anh biết tháng trước có xe chở vật liệu đến đây, anh đã thuê thợ sửa nhà mà không xin phép. Uỷ ban đã nắm được việc này, nếu anh không thu xếp ngay thì sẽ bị lập biên bản thu giữ giấy tờ nhà, giấy tờ đất.

Kỹ sư Hoàng ngớ ra, quả thật tháng trước anh có thuê thợ lắp thêm một lần cổng nữa, phải xây mấy mét vuông tường, tưởng việc nhỏ, không phải xin phép, ai ngờ... Thôi đành "thu xếp" cho mấy vị trong Uỷ ban, nhưng còn khoản đóng góp xây nhà tù ?

- Can phạm bây giờ nhiều quá ông trưởng khu phố giải thích. Đấy anh xem, trong nhà gặp lưu manh, ra đường đụng kẻ cướp, đủ các kiểu ăn cướp; rồi còn lũ ăn trộm, lừa đảo cho vay nặng lãi, nhà tù nào cũng chật ních, phải xây thêm. Ngân sách không kham nổi phải áp dụng phương pháp "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Phố ta được giao chỉ tiêu góp vốn xây 500 mét vuông nhà tù, thế mà ngẫm lại vẫn chưa đủ cho số tội phạm của chính phố ta đang nằm trong đó, chưa kể số sắp phải vào tù nay mai...

Đoàn cán bộ khu phố về được một lúc thì lão Tiến cụt giò đến, đó là một lão già vô tích sự nhà kế bên. Lão bị cụt một bên giò từ hồi chiến tranh, giờ sống bằng số tiền thương tật, thỉnh thoảng con cháu dấm dúi gặp chăng hay chớ cho thêm. Suốt ngày chẳng làm trò gì, chỉ hay la cà hết nhà này đến nhà khác kiếm câu chuyện làm quà. Nhà kỹ sư Hoàng là một trong những nơi lão hay mò đến. Lão dở hơi ấy liến thoắng như thể đã tỏ tường mọi chuyện:

- Họ đến đòi tiền đóng góp xây nhà tù phải không? Anh kỹ sư này tôi nói anh xem có đúng không nhé: - Làm người lương thiện bây giờ vất vả quá, phải góp tiền xây nhà tù cho bọn bất lương ở, lại còn phải nai lưng nuôi chúng nữa, trong khi bọn lưu manh ngày càng chiếm đa số, người lương thiện ngày càng giảm đi. Biết đâu đến một lúc nào đó, những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình. Khi ấy tất nhiên bọn lưu manh tha hồ ở ngoài, vì lương thiện bây giờ đâu có nhiều nhặn gì, vừa bắt chính bọn chúng phải nai lưng ra làm đề nuôi người lương thiện, như thế có phải là công bằng không ?

Kỹ sư Hoàng phì cười vì cái lý sự ấy của lão Tiến cụt, vừa lúc ấy, chuông điện thoại trong nhà đổ dồn, vợ anh nghe xong, mặt tái mét ra báo tin dữ:

- Anh tới ngay bệnh viện Chúng Sinh. Thằng Phúc con chị cả bị cướp giật té xe, chấn thương sọ não đang nằm cấp cứu trong ấy.

Chị Cả Bống là chị gái kỹ sư Hoàng ở dưới quê, anh chị có ba thằng con trai thì hai thằng lớn theo bố làm nghề xin đểu kiêm trấn lột ở bến đò Đuôi Cáo bị đâm lòi ruột, chết cả ba bố con từ năm kia. Cũng là cái số thôi. Làng khối người làm nghề ấy hoặc hao hao nghề ấy mà có sao đâu, chỉ thỉnh thoảng lại thấy đi ở tù, vài năm về còn lưu manh hơn trước. May còn lại một mình thằng út tên Phúc ngoan, hiền, học giỏi. Năm ngoái đỗ đại học lên ở ký túc xá. Nó thương cậu mợ Hoàng nghèo nên không muốn nhờ vả. Chị Cả bán hết mảnh vườn còn lại sắm cho nó cái xe máy cũ làm phương tiện đi lại. Hôm ấy đang làm cỏ ngoài đồng có người gọi về cái trạm điện thoại công cộng ở đầu làng báo tin nó bị nạn. Chị nghe nhắn lại mà muốn quỵ luôn xuống ruộng. Vội vã chạy về nhà, chị vét vội mấy bơ lạc, bơ gạo nếp cho vào mấy cái bao ruột tượng tất tả chạy ra bến đò Đuôi Cáo. Vừa mới mon men gạ bán ở các hàng quán quanh đó, bất ngờ gặp mấy anh quản lý thị trường, chị bị bắt vào trụ sở. Lạy van thế nào họ cũng không nghe, còn dẫn hết "nghị định 01" đến "thông tư 04" gì đó ra đọc sang sảng vào hai cái tai đã chỉ còn nghe thấy tiếng lùng bùng của chị. Kết quả mấy bơ lạc ấy bị tịch thu vì lý do bao bì không có nhãn hiệu hàng hoá!

Thật khốn khổ cho chị, chỉ do cuống lên vì đứa con cuối cùng còn sót lại đang gặp nạn, muốn bán tống bán tháo mấy món tài sản ít ỏi ấy cho thật nhanh để lấy tiền đi xe lên thành phố. Chứ có phải chị buôn gian bán lận gì đâu ? Còn tiền thuốc thang, nói dại, nếu nó bị nặng chị chưa biết sẽ trông vào đâu, một viên thuốc cảm bằng cái cúc áo bây giờ giá bằng ba bốn cân thóc. Giờ thì ngay đến việc lên nhìn mặt con cũng bị chặn đứng lại rồi. Không có tiền ai người ta cho chị đi xe hàng trăm cây số? Càng nghĩ chị càng quýnh quáng chân tay, cuống cuồng, đứng chôn chân một chỗ, đầu óc mụ đi, mắt ráo hoảnh, vô hồn nhìn phía trước như một bức màn sương... bỗng từ trong cái màn đục lờ ấy, một bóng trắng hiện ra quằn quại, máu bê bết hiện ra chập chờn lúc xa xa, lúc ập ngay trước mặt, gió lạnh quất gai người. Phảng phất màu tanh của máu tươi. Tai chị nghe rõ ràng tiếng kêu cứu của đứa con trai. Chị bàng hoàng nhận ra đó là tiếng rên từ địa ngục, tiếng của một âm hồn không còn ở cõi nhân gian này nữa:

- Mẹ ơi, con chết rồi. Họ đang mổ bụng con. Mẹ ơi...

Chị cả Bống hốt hoảng lao tới, giơ hai tay túm lấy bóng con, chợt cái bóng như có người giằng lấy, chập chờn quăng qua quăng lại trước mặt chị rồi mờ dần mờ dần, vẫn còn ri rỉ tiếng kêu cứu của oan hồn, rồi tất cả lịm đi. Cả tiếng kêu cứu lẫn cái bóng máu me chợt tắt ngấm bởi một tràng cười ré lên sằng sặc như của lũ ma quỷ nhưng không phải vọng lên từ địa ngục, tiếng cười ấy rõ ràng đang ở cõi nhân gian hiện hữu này...

Chị cả Bống sau này phát điên không về làng nữa, cứ lê la liếm láp ở quanh cái bến đò có cái tên rất ấn tượng là bến đò Đuôi Cáo ấy. Nhưng chị không điên ngay lúc đó, có người chứng minh là sau khi ra khỏi trụ sở ban quản lý thị trường chị vẫn còn tỉnh táo nhớ ra trong người còn sót mấy đồng tiền lẻ. Chị lần vào trạm điện thoại công cộng gọi điện báo cho cậu em trai. Đó là tất cả những gì chị làm được cho đứa con. Sau đó chị mới phát điên.

Kỹ sư Hoàng đến bệnh viện Chúng Sinh thì trời đã tối. Tìm tới phòng cấp cứu, anh hỏi thăm nạn nhân tên Phúc, cô hộ lý mặc blu trắng bảo:

- Biết ai là phúc với hoạ gì ở đây. Đi mà hỏi trực ban.

Phòng cấp cứu rộng mênh mông, đầy những giường là giường, giường nào cũng ít nhất hai người nằm trở đầu đuôi. Đủ các kiểu tai nạn, vỡ đầu, gãy chân, lòi ruột, lòi xương. Ánh đèn nê ông trắng bệch soi loang lổ những máu me bông gạc. Nồng nặc một thứ mùi vừa tanh tanh máu, vừa ngầy ngậy thuốc tây. Bóng những blu trắng đi qua lại giữa các giường như ma trơi. Làm sao nhận ra đứa cháu bây giờ ?

Kỹ sư Hoàng vội vã đến phòng trực ban. Phòng trực ban cấp cứu nằm cuối dãy hành lang đầy những kẻ nằm người ngồi vạ vật rất chi là bệ rạc. Trong phòng có mấy người cũng mặc blu trắng đang chụm đầu bàn bạc nhỏ to:

- Cái mật hôm trước bán vội quá. Ngay hôm sau có người tới trả cao hơn cả chục triệu, tiếc đứt ruột - một người nói

- Cái này đếch bán nữa, đem ngâm rượu. Hũ rượu trước hết con mẹ nó rồi. Mấy lão hen suyễn kinh niên uống vào là khỏi, để giành bán cho các lão ấy. Gớm họ vừa chi tiền vừa cám ơn rối rít ấy chứ - một người khác nói

- Thôi được rồi! Người thứ ba nói - các ông xuống làm ngay đi, thằng này căn cước ghi rõ ràng: - 19 tuổi. Đã kiểm tra, đảm bảo còn nguyên dương ( đàn ông chưa xuất tinh lần nào) chết do chấn thương sọ não vừa được mấy phút. Cái mật này mới tuyệt hảo, để quá hai tiếng có mà hỏng mẹ nó cả chì lẫn chài. Đã điện thoại cho bên công an rồi, họ bảo cứ mổ đi, có gì đừng "quên" họ là được.

Hai người kia vội vã đứng dậy lao nhanh ra khỏi phòng, vừa lúc ấy kỹ sư Hoàng bước vào:

- Bác sĩ làm ơn cho hỏi thăm nạn nhân tên Phúc, 19 tuổi, sinh viên năm thứ hai, nghe nói bị chấn thương sọ não có cấp cứu ở đây không, nằm giường số mấy? Tôi là cậu ruột cháu - kỹ sư Hoàng vừa hỏi vừa tự giới thiệu

Anh bác sĩ còn lại trong phòng thoáng một chút giật mình. Anh ta làm như nghĩ ngợi điều gì rồi ngập ngừng:

- Tên Phúc, sinh viên, 19 tuổi.. A... anh... à bác ngồi chờ cháu một lát.

Linh cảm thấy có gì nghiêm trọng xảy đến với đứa cháu, lại cứ tưởng anh bác sĩ kia vì thông cảm với nỗi đau của mình mà chưa nỡ nói ngay. Kỹ sư Hoàng vừa lo sợ vừa cảm động nhìn anh bác sĩ đang cúi gằm mặt, tay lần giở một cuốn sổ to tướng chậm rãi lần một hồi. Mồ hôi đã toát ra lấm tấm trên khuôn mặt đỏ như gà chọi, anh bác sĩ chợt ngẩng lên bảo:

- Trong sổ này không thấy có tên Phúc. Bác ngồi đây chờ cháu đi lấy sổ khác. Nhớ là đừng đi đâu đấy.

Nói xong anh ta gập sổ rồi vội vã ra khỏi phòng, không quên đóng sập cửa lại, còn một mình trong phòng, kỹ sư Hoàng lòng như lửa đốt. Bỗng chuông điện thoại reo vang, một hồi, hai hồi... chừng như người đầu dây bên kia có việc cần gọi cho bằng được. Kỹ sư Hoàng do dự giây lát rồi nhoài người với lấy cái ống nghe, định nói cho bên kia chờ lát nữa gọi lại. Vừa áp ống nghe lên tai, kỹ sư Hoàng chợt nghe ngay một giọng nói dằn từng tiếng:

- Trực ban cấp cứu phải không ? Bảo với pháp y rằng cái mật lần này tuyệt đối không được bán nghe chưa! Chú Sáu bên Uỷ ban đăng ký rồi đấy.

Kỹ sư Hoàng chưa kịp hiểu mô tê ra sao thì người đầu dây bên kia đã dập máy. Sau khi định thần suy nghĩ kết hợp với mấy câu cuối nghe được loáng thoáng lúc mới bước vào phòng, kỹ sư Hoàng chợt lạnh người với một nỗi nghi ngờ. Anh với cuốn sổ lúc nãy mở ra. Ngay giữa trang cuối cùng, rõ ràng có tên nạn nhân Nguyễn Hồng Phúc, 19 tuổi, sinh viên, té xe, nhập viện lúc... giờ... ngày - người đưa đến: Phạm văn A - bạn cùng lớp. Bỗng cánh cửa sịch mở, anh bác sĩ khi nãy ùa vào. Nhìn thấy cuốn sổ trên tay kỹ sư Hoàng, anh ta thoáng một giây bối rối rồi lập tức liến thoắng:

- Cháu quên không đọc trang cuối, đúng là có...

Anh ta chưa kịp nói hết câu kỹ sư Hoàng đã ngắt lời:

- Tôi biết hết rồi, anh không phải giải thích

Rồi chẳng muốn nói gì thêm, nữa kỹ sư Hoàng ném trả cuốn sổ, hấp tấp lao nhanh ra khỏi phòng, anh bác sĩ hé cửa ngó theo, hơi lắc đầu, mỉm một nụ cười ý nhị rồi đóng cửa lại, ung dung quay vào. Chuông điện thoại lại reo, anh ta cầm lấy ống nghe:

- Dạ... dạ... à thế ạ... Báo cáo, xong xuôi cả rồi ạ. Thế thì chú nói chú Sáu chuẩn bị rượu tốt để ngâm, cháu sẽ bảo anh em mang sang ngay bây giờ ạ.

Kỹ sư Hoàng xuống đến nhà xác thì Phúc đã nằm trong ngăn lạnh. Một không khí thê lương sặc mùi tử khí. Nền nhà vương đầy những bó nhang cụt, những cục nến gãy, những mẩu giấy tiền vàng mã... làm quang cảnh nơi đây giống như vừa xảy ra một vụ cướp. Viên quản lý nhà xác nghe trình bày, quan sát anh từ đầu đến chân bằng cặp mắt âm u như cặp mắt quỷ rồi chẳng nói chẳng rằng, ông ta lừ lừ tiến đến kéo một ngăn tủ ra. Kỹ sư Hoàng lạnh toát người nhìn trân trân cái xác... "Đúng thằng Phúc rồi, chị Cả ơi, khổ thân chị quá"... Không giữ nổi bình tĩnh, anh khuỵu xuống gục đầu vào ngăn tủ. Mùi máu tanh tưởi ập vào giác quan. Anh chợt tỉnh, ngẩng phắt lên, lấy tay lật manh áo trước bụng đứa cháu... một vết mổ cẩu thả còn chưa khít miệng với mấy mũi khâu vội vàng, dúm dó :

- Các người đã mổ cháu tôi... các người đã... Tôi sẽ kiện, kỹ sư Hoàng gào lên trong nước mắt

- Híc... viên quản lý nhà xác cất tiếng, giọng cũng âm u như phát ra từ bụng gã –

Tha hồ cho ông kiện, tất cả những cái chết bất đắc kỳ tử thế này đều phải mổ hết, luật pháp quy định như vậy. Hừ có mà điên mới đi kiện luật pháp. À mà tôi đã vi phạm nội quy khi cho ông xem xác, lấy gì chứng minh ông là người nhà bây giờ? Mời ông đi khỏi đây. Nói xong gã đưa tay đóng sập ngăn tủ lại

- Nhưng tôi... kỹ sư Hoàng chưng hửng... vậy còn cháu tôi?

- Trước hết phải có giấy tờ chứng minh ông là người nhà của nạn nhân đã, rồi sau đó phải làm đầy đủ thủ tục mới mang được lấy xác ra khỏi đây. Mà ông định cõng xác trên lưng mang về hay sao? Viên quản lý lạnh lùng phán.

Kỹ sư Hoàng có vẻ hiểu ra những việc cần làm, anh thất thểu bước ra khỏi nhà xác gọi điện về nhà bảo vợ chuẩn bị căn cước, sổ hộ khẩu lên phường xin giấy chứng nhận rồi tìm đến một tiệm bán quan tài. Ông chủ tiệm quan tài có tên "Nhân nghiã đường" hăng hái đón khách. Chỉ vào đống quan tài đủ các kiểu loè loẹt đang bày la liệt, bảo kỹ sư Hoàng:

- Tuỳ bác chọn cái nào thì chọn. Bác cho biết địa chỉ, số nhà, giờ khâm liệm... chúng tôi sẽ cho người đến lo liệu.

- Không phải liệm ở nhà mà là ở nhà xác bệnh viện chúng sinh. Kỹ sư Hoàng ngắt lời

- Thế thì không được rồi. Ông chủ Nhân nghiã đường lắc đầu - tôi không bán được cho bác đâu, cũng không làm gì được hết.

- Tại sao lại như thế ? Kỹ sư Hoàng kinh ngạc thốt lên ?

- Chắc đây là lần đầu tiên nhà bác có người chết ở bệnh viện - ông chủ Nhân nghiã đường giải thích - bệnh viên có luật của họ, muốn lấy được xác ra phải có cửa. Quan tài mua tiệm nào do họ chỉ, khâm liệm, ma chay... tất tần tật do người của họ làm hết. Có thế họ mới ăn chứ, độc quyền mà.

- Té ra phải như vậy. Kỹ sư Hoàng cay đắng nghĩ rồi rời khỏi tiệm "Nhân nghiã đường". Quay lại chỗ nhà xác chờ một lúc lâu thì vợ anh mang giấy tờ tới. Mấy đứa bạn học của Phúc biết tin cũng đã tìm đến, mang theo nhang hoa và trái cây. Lúc này đêm đã gần khuya, mắt đỏ hoe vợ anh mếu máo:

- Ối anh ơi, vẫn chưa thấy tăm hơi chị cả đâu, em đến nhà ông chủ tịch nói mãi ông ấy mới ký cho cái giấy chứng nhận, lại vừa đóng lệ phí, vừa bồi dưỡng hết mấy trăm. Cháu nó nằm đâu để em vào thắp nén nhang cho cháu.

Kỹ sư Hoàng dẫn vợ và đám bạn của Phúc vào, trình mớ giấy tờ cho viên quản lý.

Gã này săm soi một lát rồi lắc đầu:

- Không được, trường hợp này công an còn phải điều tra, vả lại khi nãy ông còn định kiện tụng gì nữa cơ mà? Sáng mai đến giải quyết

- Chẳng lẽ để đứa cháu lạnh lẽo qua đêm không một chút khói nhang an ủi linh hồn ? kỹ sư Hoàng lúc này đã mụ mẫm hết tinh thần, cụt què cả ý chí, anh chỉ còn biết vớt vát như một cái máy:

- Tôi xin ông, ấy là tôi chót nhỡ mồm. Tôi không kiện tụng gì đâu. Mọi việc giao cho các ông "lo" hết. Chỉ mong sao mang cháu về nhà...

- Vậy thì về viết cam đoan đi, viên quản lý hạ giọng - nhưng cứ phải sáng mai mới giải quyết. Không có giấy của công an thì bố tôi cũng không dám giao xác cho các người.

Sáng sớm hôm sau. vừa thò mặt đến cổng nhà xác bệnh viện Chúng Sinh đã có mấy kẻ mặt mũi rất chi là khả nghi túm lấy kỹ sư Hoàng.

- Xác của bác là xác tai nạn giao thông phải không ? Giá chót tám triệu, chúng em lo mọi thủ tục chiều lấy xác ra... quan tài khâm niệm 12 triệu nữa bao trọn gói - một người trong bọn bảo

- Tại sao lại phải đến chiều ? Làm ngay trong sáng nay không được sao ? kỹ sư Hoàng hỏi lại

- Hì các bác này đúng là chưa "chết" lần nào. Phải đợi công an người ta hoàn tất hồ sơ chứ... một người khác giải thích - mà chúng em phải đưa bác đến làm tờ khai, chiều lấy được là con nhanh, với điều kiện phải có bồi dưỡng... không thì cứ đợi đấy.

Đám người ấy quả là thạo việc, rốt cục chiều hôm ấy kỹ sư Hoàng cũng đưa được xác đứa cháu về nhà sau khi đã được khâm liệm cẩn thận. Vẫn không thấy bóng dáng chị cả đâu, linh tính xảy ra chuyện chẳng lành, kỹ sư Hoàng bàn với vợ cùng mấy đứa bạn của Phúc trông nom nhang khói, để anh về làng đón chị Cả lên:

- Có mấy kẻ lạ mặt lảng vảng ngoài cổng nghiêng ngó hỏi thăm, mấy đứa bạn của Phúc chạy ra nghe ngóng rồi vào bảo:

- Mấy thằng cò nghiã địa bác ạ. Nó bảo đất chôn mặt tiền lối đi là 12 triệu, phía trong tám triệu, chưa kể tiền lo giấy phép chôn và công đào huyệt lấp đất xây mộ, tuỳ theo to nhỏ tính riêng. Nếu túng tiền thì chôn đứng. Chôn đứng rẻ hơn một nửa, tất nhiên đất rộng chỉ bằng 1/3. Nghiã địa bây giờ khối người phải chôn như thế, thành ra đầy những ma đứng, linh hồn đứng, đứng vĩnh hằng.

Vội vã phóng về quê, kỹ sư Hoàng hoảng hốt lạnh người khi hàng xóm bảo chị Cả Bống đã lên thành phố từ chiều hôm qua, mấy nhà khác thấy anh về đổ đến hỏi thăm. Có người chợt nhớ ra bảo:

- Sáng nay đi chợ thấy ở bến đò Đuôi Cáo có ai nhang nhác bác Cả Bống ấy. Hay là bác sang tìm thử xem.

Không kịp suy tính, kỹ sư Hoàng vội vã lao sang bến đò, tìm khắp các hàng quán hỏi thăm, ai cũng lắc đầu. Chợt anh nhìn thấy dưới bờ sông sát mép nước, một người đàn bà đầu tóc rũ rượi đang ngồi ném những nắm cát xuống dòng sông... kỹ sư Hoàng vừa nghi hoặc, vừa thận trọng tiến lại gần... "Ai như chị Cả? Anh cất tiếng gọi... một tiếng, hai tiếng... Người đàn bà chợt quay phắt lại... Đúng là chị, chị nhìn anh với đôi mắt thất thần, khuôn mặt răn reo, lem luốc cát. Bỗng chị lảo đảo lao đến, ôm chầm lấy anh, gào lên nức nở:

- Ối! Con ơi, con về với mẹ đây rồi, người ta cướp cái gì của con, con chết có đau không? Con về đây báo oán mẹ... mẹ không đến được với con... con ơi

Cứ thế chị gào mãi, gào mãi, tiếng gào rợn cả một khúc sông. Kỹ sư Hoàng hai tay nâng khuôn mặt chị, miệng hoảng hốt nhắc đi nhắc lại: - Em đây mà, Hoàng đây mà!

Song chị đâu có nghe, đâu có thấy, chỉ một mực gào tên con... dần dần tiếng chị khản đặc chỉ còn như tiếng thở lào phào... Người chị bỗng lả đi, từ từ khuỵ xuống. Kỹ sư Hoàng quỳ xuống theo, hai chị em ôm nhau quỳ trên bãi cát, hoàng hôn bắt đầu buông, trăng chiều rực lên đỏ thẫm. Qua màn nước mắt, anh cảm thấy tất cả không gian như chìm trong biển máu, bên tai anh chợt vọng lên văng vẳng giọng nói của lão Tiến cụt hôm trước:

- Làm người lương thiện bây giờ vất vả quá... biết đâu đến một lúc nào đó những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình.


Phạm Lưu Vũ
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Những cô gái trở về từ vũ trường ở Malaysia
Lời hứa sang Nam Hàn lao động thành ác mộng, những cô gái trẻ bị đưa đến vùng hẻo lánh, khét tiếng giang hồ ở Malaysia. Họ bị nhốt trong phòng kính tại vũ trường để chờ khách.

Hương ở Gò Công (Tiền Giang) vừa trở về từ động mại dâm ở Malaysia vẫn thất thần không nhớ được đã bị lừa sang vùng đất nào. "Đầu tháng 4, tôi và Phạm (quê Đồng Tháp) đang làm công nhân Công ty Pong Chen bỗng nhận được lời đề nghị của một người tên Nguyên (là bà con xa của Phạm) sang Nam Hàn làm phục vụ quán ăn với mức lương 17 triệu đồng mỗi tháng. Thời gian làm việc trong sáu tháng, không cần chi phí thế chân và được bao ăn ở. Nguyên thúc giục chúng tôi trả lời nhanh vì ông chủ đang cần người gấp”, Hương nghẹn ngào kể.

Lời đề nghị hấp dẫn khiến Hương và Phạm bỏ việc, rủ thêm cả em chồng là Lê cùng nhau về quê làm hộ chiếu. Trước ngày đi, theo yêu cầu của Nguyên, cả ba lại vét hết tiền dành dụm mỗi người gần bảy triệu đồng để mua phấn son, quần áo đắt tiền chuẩn bị cho công việc sau này. Tất cả rất hí hửng khi được chính ông chủ gốc Hoa kiều mà họ không biết tên, chỉ thấy Nguyên gọi bằng “A Cơ” (anh) sang dẫn cả ba và hai cô gái khác đi Nam Hàn.

Ngày 27/4 họ đã lên máy bay xuất cảnh. Chưa từng ra nước ngoài nên cả nhóm không thắc mắc gì khi máy bay hạ cánh xuống phi trường Suvarnabhumi (Thái Lan), ngủ lại một đêm và sáng hôm sau lại bay qua một nơi lạ hoắc mà sau này mới biết đó là Kuala Lumpur. Sau đó, tất cả lên xe chạy hơn năm tiếng đồng hồ trên đường cao tốc và rẽ vào một con đường loằng ngoằng dọc theo biển để đến một đô thị nhỏ.

Cả nhóm được đưa vào một ngôi nhà đông phụ nữ người Việt, trạc tuổi nhau. Chưa kịp tò mò xem đây là đâu thì cả năm cô gái đã thất thần khi nghe những đồng hương hỏi thẳng: “Con Nguyên có nói với tụi em qua đây là để làm gái không?”.

Lúc này Nguyên và “A Cơ” mới lộ mặt. “Họ dọa chúng tôi là nếu không làm gái sẽ bị quẳng ra đường, không có ngày trở về Việt Nam”, Hương kể. Cùng đường, cả năm cô gái đành phải chấp thuận. Mỗi người còn bị gán cho một cục nợ 4.000 ringit (R) (gần 20 triệu VND) tiền đã mua vé máy bay. Mỗi tháng phải trả nợ, tiền nhà, tiền ăn.

Ngay đêm đầu tiên đến nơi, cả nhóm năm cô gái đã bị “A Cơ” bắt đi làm tại vũ trường. Trong nhà trọ còn có chín cô gái Việt Nam khác đang bị giam lỏng, độ tuổi từ 20 đến 25. Quản lý các cô là một phụ nữ gốc Hoa không rõ tên, chỉ thấy mọi người gọi là “Chè Ché” (mẹ).

Bị ép đi làm gái tại vũ trường, cả năm cô gái phản ứng nhưng đều được các đồng hương khuyên: “Mày không đi làm thì có nước chết đói, không có ngày về đâu!”. Khoảng 5h chiều 28/4, một chiếc taxi đã đến đón cả nhóm tới vũ trường của “A Cơ”. Một người trong nhà trọ đã mách cho các cô biết nếu không đi sẽ bị ốm đòn và khuyên họ nên đến đó kiếm chút tiền boa của khách để mua SIM gọi điện thoại về Việt Nam cầu cứu.

Vũ trường chỉ cách nhà khoảng mười phút taxi. Tại đây có tới 30 cô gái Việt Nam bị nhốt sẵn trong phòng kính để chờ khách đến lựa chọn. Hương và Phạm cho biết họ còn bị ép dùng thuốc lắc nhưng may mắn từ chối được. Sau khi tiếp rượu đến 2 giờ sáng Hương, Phạm và Lê mỗi người được bo 15 R, đủ để mua một sim điện thoại báo tin.

Xong buổi làm đầu tiên, “Chè Ché” thông báo, ngoài tiền nhà và tiền nợ cấn trừ, mỗi ngày còn phải đóng tiền để đi chợ nấu ăn chung. Cộng dồn các khoản chi phí khác, mỗi tháng mỗi cô phải đóng góp khoảng 10 triệu đồng tiền Việt. Tuy nhiên tiền đi khách đều bị “Chè Ché” lấy mất hơn một nửa và cái vòng luẩn quẩn nợ nần đã đẩy nhiều người qua hai năm vẫn chưa đủ tiền để thoát về nước.

Ngay sau khi biết Hương, Phạm và Lê báo tin về nhà, “A Cơ” đã ra giá thẳng thừng là nếu nộp đủ 2.800 USD thì mới mua vé máy bay cho các cô về nước. Số tiền A Cơ đòi chuộc quá lớn khiến gia đình Hương, Phạm và Lê choáng váng. Sau ba ngày thương lượng, ngày 2/5, “A Cơ” đồng ý hạ xuống 2.000 USD và phải giao ngay lập tức. Trong khi đó tại Malaysia, tất cả đều phải đi làm đều đặn tại vũ trường khi tiền chưa được gửi sang.

Sau mấy ngày chạy vạy, đến chiều ngày 3/5, số tiền 5.000 USD này được gia đình các nạn nhân nộp đủ cho ông Hợp, cha của Nguyên tại xã Đốc Binh Kiều (Tháp Mười, Đồng Tháp). Năm ngày sau đó, ba cô gái được “A Cơ” đưa ra sân bay về Việt Nam.

Trong khi đó, hai người cùng đi với họ vẫn chưa báo được tin cho gia đình và vẫn bặt tin cùng với gần 30 cô gái Việt Nam khác trong động chứa.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Hẹn Gặp Nhau ở "Thành Phố Không Bao Giờ Ngủ"...

Tác giả: HGT
Năm giờ sáng, một tiếng động nào đó khiến bạn thức giấc, bạn dụi mắt vì còn đang ngái ngủ, nhưng cũng chợt nhận ra hình như thành phố đã nhộn nhịp với tất cả mọi tiếng động ồn ào như nó đã dậy tự lúc nào. Thật ra thì nó chưa ngủ, không bao giờ ngủ…

Đó là một thành phố đông hơn 7 triệu người dân, và được ưa chuộng nhất trên thế giới, thu hút gần 45 triệu du khách mỗi năm, một thành phố mà khoảng 40% dân cư được sinh ra ở nước ngoài và nói 170 thứ tiếng khác nhau.

Đó là một thành phố hấp dẫn và sinh động vào bậc nhất trên quả địa cầu, nơi mà 12 giờ đêm còn náo nhiệt hơn 12 giờ trưa ở những thành phố khác. Một góc của thành phố này luôn lấp lánh với những ánh đèn muôn mầu, rực rỡ đến nỗi bên cạnh nó, Paris, nơi được mệnh danh là “Kinh Thành Ánh Sáng” bỗng trở nên lu mờ.

Đó cũng là một thành phố tích tụ bao vẻ đẹp của thiên nhiên, được bao quanh bởi sông, biển, vịnh và hải cảng. Đó là một thành phố có hơn 30,000 nhà hàng, trên 300 bảo tàng viện, hơn 200 hộp đêm, một thành phố đầy di tích lịch sử, và cũng là trung tâm tài chính, thời trang, giải trí và văn hóa của thế giới.

Bạn cùng tôi đi một vòng thành phố nhé? Chúng ta phải nhanh chân cơ! có nhiều thứ để xem lắm…

Này là “Quảng Trường Thời Gian” (Time Square), nơi hàng năm có cả triệu người tụ tập đến chào mừng năm mới vào đêm giao thừa. Này là trung tâm mua sắm Rockefeller Center nổi tiếng, nằm giữa đường số 42 và 57.

Từ đại lộ số 5 đến số 6, bách bộ trên Đại lộ số 5 – một trong những con đường nổi tiếng nhất của New York, ta có thể thấy cửa hàng của những nhà thiết kế thời trang nổi tiếng như Gucci, Chanel, Ferragamo, Coach, Luis, Vera Wang…, và nơi đây chúng ta có thể quan sát tận mắt những người giàu có, thanh lịch nhất và được ngắm Tòa Nhà Liên Hiệp Quốc…

Đi dọc theo đường Wall street, bạn sẽ nhìn thấy tòa nhà chứng khoán nổi tiếng của New York. Đến Ground Zero, bạn sẽ ngậm ngùi nhìn nơi có 2 tòa nhà Thương mại thế giới bị khủng bố làm sụp đổ sau ngày 11/09.

Mệt rồi phải không, chúng hãy ghé Khu phố Tàu nghỉ ngơi, ăn một tô mì, rồi tham quan và mua sắm. Buổi chiều, ta sẽ đi tàu sang đảo Tự Do (Ellis Island) - nơi có bức tượng Nữ Thần Tự Do nổi tiếng thế giới do Pháp trao tặng năm 1885, đặt đứng ngay cửa sông Hudson và cảng New York, như đón chào khách du lịch đến thăm, và đây cũng là biểu tượng tự do của nước Mỹ…
Image
Người Việt Tị Nạn cũng có thói quen kéo nhau về New York mỗi cuối tháng Sáu, vì với chúng ta, New York vào cuối tháng 6 còn có một lôi cuốn khác, mà không nơi nào khác trên thế giới có thể bì được, đó là cuộc DIỄN HÀNH VĂN HÓA QUỐC TẾ…

Diễn hành văn hóa quốc tế là một sinh hoạt văn hóa của tổ chức Liên Hiệp Quốc, phần hành di dân. Trong cuộc diễn hành này, tất cả di dân của nhiều quốc gia trên đất nước Hoa Kỳ này sẽ trình bày những nét tượng trưng cho văn hóa của dân tộc mình. Tổ chức di dân của Liên Hiệp Quốc đã tổ chức đến nay là 23 lần, lần nào cũng được rất nhiều các quốc gia tham dự. Vào lần thứ 15, tức là vào năm 2000, thì cộng đồng người Việt được mời tham dự. Năm nay là lần diễn hành thứ 23 dự trù vào ngày 21 tháng 6 năm 2008.

Bạn hãy tưởng tượng cảnh cả ngàn người Việt chúng ta từ khắp nơi trên thế giới kéo về New York như ngày trẩy hội, nam thanh nữ tú, ông già bà lão, sống xúm xít quây quần với nhau ở một khách sạn chia xẻ đủ mọi thứ sinh hoạt rất đậm tình dân tộc vài hôm trước ngày diễn hành…
Image
Rồi vào đúng ngày diễn hành, thế giới lại một lần nữa được chiêm ngưỡng mầu cờ vàng ba sọc đỏ của người Việt Nam Quốc Gia tung bay phất phới, hàng bao nam phụ lão ấu trong y phục cổ truyền, quốc hồn quốc túy của Việt Nam. Những cô gái Việt Nam yểu điệu đi giữa hai tà áo dài nũng nịu bước chân trước hàng trăm ống kính của các đài truyền hình trên thế giới, và những cặp mắt chan chứa thương yêu của đồng hương đứng xem hai bên đường…

“Gớm ở đâu ra mà cờ quạt nhiều thế!” Một cụ bảo…

“Kìa, mấy cô đàng kia mặc áo dài tứ thân trông hay quá!” Người khác chỉ trỏ.

“Có cả nón quai thao nữa đấy! Ôi sao nhớ đất Bắc quá! Một cụ “than phiền”...

Bạn chịu không thể hình dung ra được?

Bạn còn đợi gì nữa? Mua vé máy bay ngay đi!

À quên, bạn vào đây để tìm hiểu thêm về Ban Tổ Chức Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế, và tìm cách ủng hộ cho họ, họ rất cần sự tiếp tay của mọi đồng hương…

http://dienhanhvanhoaquocte.org/chao

Gấp lên nhé! Hẹn gặp bạn ở “Thành Phố không bao giờ ngủ”…

HGT
BỨC TÂM THƯ CỦA BTC DIỄN HÀNH VĂN HOÁ QUỐC TẾ
KỲ THỨ 23-2008 TẠI THÀNH PHỐ NEW YORK
Kính thưa Quý Ðồng Hương Người Việt Quốc Gia tại khắp mọi nơi trên thế giới:

Hằng năm Cơ Quan Di Dân QuốcTế (International Immigrant Foundation) tổ chức một cuộc Diễn Hành Văn Hóa QuốcTế trên một đại lộ ở trung tâm thành phố New York, Hoa Kỳ, đặc biệt dành cho các cộng đồng di dân ở Hoa Kỳ. Năm nay Ngày Diễn Hành Văn Hóa QuốcTế lần thứ XXIII-2008 sẽ được tổ chức vào 12 giờ sáng ngày 21 Tháng 6, 2008 trên đại lộ 6th Avenue (Avenue of Americas, khoảng giữa đường 34th St và 56th St).

Diễn Hành Văn Hóa QT đã được tổ chức hai mươi hai năm qua, mỗi năm một lần, với sự tham gia của nhiều cộng đồng di dân ở Hoa Kỳ như Ấn Độ, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản, Ðại Hàn, Brazil, Angola, Bosnia, Egypt v..v… đến năm thứ mười lăm thì Cộng Đồng Việt Nam được mời tham dự.
Image
Các cộng đồng di dân tham gia trình diễn văn hóa của nước mình qua cách trang trí xe hoa diễn hành, y phục cổ truyền, thời trang, âm nhạc và các điệu múa dân tộc v.v…

Năm 2000, CĐNVQG tham gia với chủ đề Hai Bà Trưng được ba giải nhất. Từ đó đến nay CĐNVQG tham gia mỗi năm một tích cực, mạnh mẽ, ý nghĩa hơn. Trong những năm gần đây đoàn diễn hành của người Việt Quốc Gia là đông nhất với hàng ngàn người, tay cầm cờ vàng ba sọc đỏ tung bay phất phới, trải dài nhiều blocks trên một đại lộ ở trung tâm thành phố New York.

Ngoài mục tiêu văn hóa thuần túy để giới thiệu với người Hoa kỳ, du khách ngoại quốc, nét đẹp văn hóa VN, đoàn diễn hành VN với đại biểu của nhiều cộng đồng từ nhiều nơi về như Âu Châu, Canada, Pháp, Washington DC, Virginia, Marryland, New Jersey, Pennsylvania, Ohio, Hawaii, Bắc Cali, Nam Cali, Texas, Georgia, v.v..., cùng biểu dương một lực luợng chính trị đoàn kết, hùng mạnh, thể hiện niềm hãnh diện lớn lao của tập thể Người Việt Quốc Gia ở hải ngoại.

Qua truyền hình ngoại quốc truyền đi khắp nơi trên thế giới, chúng ta cho người Hoa Kỳ, người ngoại quốc khắp nơi thấy dân tộc Việt Nam với truyền thống anh dũng, bất khuất, dù hơn ba mươi năm lưu vong, tản mác khắp phương trời, vẫn đoàn kết, vẫn yêu màu cờ Tổ Quốc và một lòng kiên trì tranh đấu cho quê hương VN thân yêu có một ngày mai tự do, dân chủ, nhân quyền và hạnh phúc.

Để đạt đuợc mục tiêu này, với tầm vóc quốc tế, chúng ta cần ngân khoản để thực hiện một xe diễn hành có ý nghĩa, chúng ta cần mua sắm rất nhiều cờ vàng cho hằng ngàn người, thêm vào đó chi phí đưa rước, ăn uống cho vài trăm người từ xa về. Trong những năm qua ngân quỹ cần để tổ chức cuộc diễn hành là từ hai mươi đến hai mươi lăm ngàn mỹ kim, do đồng bào khắp nơi nhiệt tình đóng góp.

Năm nay ông Trần Đình Truờng, chủ nhân khách sạn Carter, cũng tận tình giúp đỡ ban tổ chức DHVHQT bằng cách cung ứng phòng ở miễn phí cho các đồng hương ở xa về tham dự cuộc diễn hành kể từ ngày 19-6 đến hết ngày 22 tháng 6 năm 2008.

Điều đáng quan tâm là từ nhiều năm qua CSVN đã tranh chấp trước tòa án New York để giành quyền đại diện cho Việt Nam tham dự cuộc diễn hành này, nhưng không thành công, chỉ có CÐNVQG Hải Ngoại mới được quyền mà thôi.

Đồng hương, không tích cực tham dự, không hỗ trợ đủ tài chánh tổ chức, chúng ta không thể tiếp tục tham gia cuộc Diễn Hành Văn Hoá Quốc Tế này thì CSVN sẽ nhảy vào thực hiện thay thế. Lá cờ máu CSVN sẽ có mặt trên đại lộ 6th Avenue Of Americas của New York, một trung tâm thương mãi lớn nhất của Hoa Kỳ và thế giới.

Ý thức tầm quan trọng của cuộc diễn hành về mặt văn hóa cũng như chính trị, nhiều cá nhân, đoàn thể đã hy sinh rất nhiều để cùng chung sức tổ chức Diễn Hành Văn Hóa. Nhiều đồng hương ở xa như Âu Châu, Pháp, Canada, và Hawaii đã bỏ nhiều thì giờ và tiền bạc mua vé phi cơ về tham dự.
Bên cạnh diễn hành văn hóa, năm nay cũng là năm tranh đấu quyết liệt cho quê hương VN, trước âm mưu thôn tính 2 Quần Đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam mà nhà cầm quyền Trung Cộng đã cho sát nhập vào huyện Tam Sa của chúng. Các Nhà đấu tranh Dân Chủ trong nước đang bi nhà cầm quyền CSVN bách hại , bắt bớ và giam cầm phi pháp Đây cũng là cơ hội để nhiều đại diện đoàn thể chính trị và đồng hương ở xa về hội họp và biểu tình trước Liên Hiệp Quốc vào ngày 22 tháng 6 năm 2008, để tranh đấu cho Tự do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho đồng bào trong nước và đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải trả tự do cho những nhà đấu tranh dân chủ đang bị giam giữ phi pháp tại quê nhà.

Ban Tổ Chức Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế rất mong mỏi được sự tham gia và tiếp tay đóng góp nhiệt tình của đồng hương từ khắp nơi, để việc tổ chức được thành công tốt đẹp. Vì danh dự chung của dân tộc VN, chúng ta có trách nhiệm cùng chung lo, để chúng ta, người Việt Quốc Gia Hải Ngoại còn tiếp tục có mặt trong cuộc Diễn Hành Văn Hoá QuốcTế năm nay và những năm tiếp theo…

Chi phiếu ủng hộ xin đề NYVACA và gởi về:
NYVACA
1809 Paulding Avenue
Bronx, NY 10462-3117

Ban Tổ Chức sẽ Hân Hạnh Thăm Gặp Các Cơ Quan Truyền Thông Báo Chí Nam, Bắc Cali. Dallas, Houston Texas, Washington DC và Philadelphia vào đầu tháng 5-2008 để kính nhờ quí cơ quan phổ biến và kêu goi đồng hương về tham dự và ủng hộ Tài Chánh cho ngày Diễn Hành kỳ thứ 23-2008

Mọi chi tiết, xin quý vị liên lạc với:

Ông Nguyễn Trung Châu - Trưởng Ban Tổ Chức DHVHQT XXIII-2008
Cell phone (646) 867- 4744 * email: chaunewyork@yahoo.com

L.S. Nguyễn Thanh Phong - Đồng Trưởng Ban Tổ Chức DHVHQT XXIII-2008
Cell Phone (646) 867- 4555 * email: pnguyen@parknguyenlaw.com

Cô Nguyễn Thu Tara - Ban Tổ Chức DHVHQT XXIII –2008 (Phụ Trách Liên Lạc & Kế Tóan)
Cell Phone (646) 683- 1555 * email: tarathu@gmail.com

Trân trọng kính chào
L.S. Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Trung Châu
Đồng Trưởng Ban Tổ Chức DHVHQT XXIII-2008
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Bệnh khớp không còn là nỗi lo
D.S. J.J. Ðào



Cá mập là loài sinh vật biển được cấu tạo chủ yếu từ sụn. Hầu hết các bộ phận của cá đều do sụn cấu thành. Ðiều đặc biệt là lớp sụn này có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe con người.

Sụn cá mập rất giàu glucosamine và chondroitin. Hai chất này có tác dụng kích thích tế bào sụn sản xuất proteoglycans và collagen- các chất căn bản của sụn khớp; Ức chế các men phá hủy sụn, làm giảm hình thành các gốc tự do trong mô sụn; Cung cấp dinh dưỡng cho sụn, giúp tạo dịch khớp và tái tạo sụn khớp. Ngoài ra, chondroitin còn có tác dụng duy trì các hoạt động sinh lý của mắt. Bên cạnh đó, theo một số nhà khoa học thì cá mập rất ít bị ung thư và có khả năng đề kháng cao nên luôn có một lượng lớn tế bào miễn dịch thường trực trong máu. Vì vậy, sụn cá mập cũng có tác dụng ngăn chặn sự phát triển tế bào ung thư bằng cách hạn chế sự tăng trưởng các mạch máu nuôi dưỡng khối u.

Từ những công dụng diệu kỳ của nguyên liệu này, các nhà sản xuất đã nghiên cứu và chế tạo nên loại thuốc có thành phần chính là sụn cá mập. Một nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến từ rất lâu là Cartiligins (sản phẩm, với thành phần là bột sụn cá mập nguyên chất), được hấp thu như một protein, có chứa mucopolysaccharides, glucosamine sulfate, chondrointin sulfate, calcium, phosphor và các muối khoáng khác, đặc biệt có chứa protein chống tăng sinh mạch máu mới (ngăn chặn sự phát triển các tế bào ung thư).

Tại Hoa Kỳ, theo thống kê của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Chữa Bệnh năm 2007 (The Centers for Disease Control and Prevention - CDC), viêm thấp khớp là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tàn tật ở Hoa Kỳ. Dạng thường gặp nhất của viêm thấp khớp là viêm xương khớp, viêm khớp thấp khớp và bệnh thống phong. Viêm khớp được dự đốn tốn khoản $51 tỷ USD chi phí về y tế và $86 tỷ USD trên tổng chi phí. Viêm khớp ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày khoảng 8 triệu người Mỹ.

Khi bước vào tuổi trung niên trở đi, các bộ phận trên cơ thể như chân, tay, gối, cổ... có biểu hiện thoái hóa. Khi thoái hóa, các khớp bị khô, chất nhầy giảm, khi cử động sẽ rất khó khăn và đau đớn. Với người già, những cơn đau còn khiến họ vô cùng khổ sở, mệt mỏi và không thể đi lại được. Nhưng sự đau đớn này đã được giải quyết bởi Cartiligins. Trong Cartiligins chứa thành phần glucosamine sulfate, chondrointin sulfate có tác dụng bảo vệ, tái tạo sụn khớp, chống thoái hóa khớp, duy trì sự lành mạnh của sụn khớp, dây chằng và bao khớp; Ức chế men tiêu protein và các yếu tố gây viêm, giúp tăng cường hệ miễn nhiễm của cơ thể. Chất chondroitin sulfate được dùng hỗ trợ điều trị các chứng hư khớp, thoái hóa khớp... Thực tế cho thấy, có rất nhiều người khi sử dụng sản phẩm của Cartiligins trong việc điều trị thoái hóa khớp có hiệu quả rõ rệt: sự đau đớn giảm dần, đi lại cũng dễ dàng hơn.

Bên cạnh tác dụng điều trị, ức chế và ngăn ngừa viêm khớp, viêm đa khớp dạng thấp, gai xương, thoái hóa xương... thì Cartiligins còn có tác dụng ngăn ngừa viêm da, eczema, vảy nến, thoái hóa võng mạc; Làm chậm sự phát triển khối u; Giúp mau lên da non ở bệnh nhân ghép da do phỏng.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Đàn Ông Malaysia Được 4 Vợ
Một người đàn ông Malaysia có 3 vợ và 25 đứa con đang có kế hoạch kết hôn một lần nữa sau khi được sự chấp thuận của 3 bà vợ và một tòa án Hồi giáo.

Tòa án cấp cao Shariah tại miền đông Terengganu đã chấp thuận đơn xin của người môi giới nhà đất Abu Bakar Embong, 54 tuổi, về việc lấy vợ thứ 4, trẻ hơn ông này 29 tuổi, tờ The Star hôm nay đưa tin.

Tại Malaysia, đàn ông Hồi giáo có thể có 4 vợ nếu tòa án Shariah tin rằng người đó có thể chu cấp đầy đủ về tài chính và chu toàn về tình cảm cho toàn bộ các bà vợ lẫn những đứa con. Tuy nhiên, việc một người đàn ông lấy hơn 1 hoặc 2 vợ ở Malaysia là khá bất thường.

Tòa án Shariah đã cân nhắc trường hợp của Abu Bakar và ra phán quyết trên sau khi thấy rằng với thu nhập 6.250 USD/tháng và có thể chu cấp nhà, xe hơi cho từng bà vợ, Abu Bakar có thể tiếp tục lấy vợ 4.

Các bà vợ của Abu Bakar, lần lượt 46 tuổi, 45 tuổi và 25 tuổi không phản đối chồng kết hôn với cô Suhaili Alias, 25 tuổi vì ông này vẫn yêu họ, công bằng và có trách nhiệm, báo The Star cho hay.

"Chúng tôi thân thiện và hòa thuận. Mỗi cuối tuần chúng tôi đều ở bên nhau cùng các con", người vợ thứ 2 của Abu Bakar là Mazumi Ismail 45 tuổi nói. Các con của người đàn ông này từ 4 tháng tuổi tới 25 tuổi.

Abu Bakar cam kết đối xử công bằng với tất cả các bà vợ. "Chừng nào mà tôi còn có thể nuôi thêm một người vợ và tôi còn khỏe, tôi chẳng thấy có lý do gì để không thể kết hôn".

Lễ cưới dự kiến diễn ra vào cuối tuần này.

Tòa án Shariah ra phán quyết về các vấn đề cá nhân, gia đình và tôn giáo đối với người Hồi giáo, vốn chiếm gần 60% trong số 27 triệu dân ở Malaysia.

Gần đây, cũng tòa án trên ở Terengganu đã bác đơn xin cưới vợ 4 của một người lái xe tải tên là Mohamed Nor Awang, 57 tuổi, vì ông này không có khả năng nuôi thêm một người vợ nữa.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

THÁNG SÁU, NGÀY CỦA CHA, NGÀY CỦA NGƯỜI CHA QUÂN ĐỘI
Giao Chỉ, San Jose.
Cali Today News - Ngày Chủ Nhật 15 tháng 6 hàng năm, người Mỹ tuyên xưng là ngày vinh danh những người cha. Truyền thống Hoa Kỳ đã điều kiện hóa tình nghĩa theo trật tự, nên quanh năm lãnh vực nào cũng có dự phần. Ngày của ông bà, ngày của cô thư ký, ngày của cựu chiến binh, ngày của mẹ, ngày của cha và nhiều ngày trọng đại khác.

Các thương vụ thị trường cũng nhờ vậy mà phát triển. Trong khi đó, ngày Quân Lực của Hoa Kỳ vào cuối tháng 5 thì ngày Quân Lực VNCH là 19 tháng 6 hàng năm.

Hôm nay đề tài câu chuyện hàng tuần của chúng tôi là sự nối kết của Ngày Quân Lực và người Cha chiến sĩ Cộng Hòa.

Ba mươi mốt năm về trước, vào tháng 6-1977, chúng tôi đã có cơ hội tổ chức Ngày Quân Lực đầu tiên ở San Jose với đầy đủ câu chuyện vui buồn đời quân ngũ. Kỷ niệm về thời chinh chiến vừa mới rũ bỏ được vài năm. Kẻ chạy thoát mang đầy mặc cảm, ngồi nhắc nhở về đất nước quê hương với hàng ngàn bằng hữu tù đày. Đó là những Ngày Quân Lực hoài cảm đã mở đường cho các tổ chức nối tiếp hàng năm. Nhưng trong khi đó thì chúng ta chưa hội nhập đúng mức để lưu tâm đến ngày mà người Mỹ gọi là Father's Day.

Trên thực tế thì phần lớn các gia đình đều có cha đi học tập cải tạo, một thứ danh hiệu cách mạng gán cho những người bị tù đầy.

Sau những năm đầu tiên người Việt còn thưa thớt, đến đầu thập niên 80 những thuyền nhân vượt biển mới bắt đầu định cư. Và phải đến năm 1985 những sĩ quan tù lao cải được tha đợt đầu tiên mới bắt đầu vượt biên đến Mỹ. Một lần nữa những người chủ gia đình trải qua cả thập niên lao động cải tạo bắt đầu mở con đường mới. Trong công việc xã hội định cư, đón người mới đến tại San Jose chúng tôi có cơ hội chào mừng trung tá Nguyễn Đình Tạo với 9 năm tù ngục đến đất mới. Và trên con đường gian khổ ông Tạo đã mất đi một đứa con can trường mà ông yêu quý nhất.

Chúng tôi cũng có cơ hội đón bác sĩ Trần Xuân Ninh cũng là một thuyền nhân trên bể khổ. Và ông bà cũng mất đứa con thiên thần đẹp đẽ nhất trên biển Đông.

Cùng với bác sĩ Ninh và trung tá Tạo biết bao nhiêu người cha cựu tù lao cải đã mở đường tìm tự do với cái giá năm ăn năm thua để vội vã ra đi trước khi ánh sáng của chương trình định cư tù cải tạo ló rạng ở chân trời.

Cho đến cuối thập niên 80, bộ ngoại giao Hoa Kỳ bắt đầu mở hồ sơ đối thoại với Hà Nội và việc trả tự do cho các chiến binh Việt Nam Cộng Hòa. Người Mỹ lúc đó cũng chỉ muốn rằng các bạn đồng minh cũ của họ được tự do trở về nguyên quán. Thảo luận trải qua nhiều năm, nhì nhằng kéo dài như hội nghị Paris thời 70. Vì áp lực của Mỹ và thế giới, Hà Nội cũng muốn thả tù nhưng không muốn có hàng trăm ngàn cựu chiến binh Cộng Hòa về nằm vùng khắp mọi nơi. Lá bài được đặt ra. Nếu Mỹ muốn lãnh thì yêu cầu đem đi hết. Hoa Kỳ đồng ý. Đó là thời điểm của 1984.

Để chính phủ Mỹ có thể chấp thuận, bộ ngoại giao phải ra điều trần xin tiền Quốc Hội. Các phái đoàn cộng đồng Việt Nam thời kỳ 80, được bộ ngoại giao mời đến để bày hàng làm áp lực và khóc van với các dân biểu tại Hoa Thịnh Đốn.

Chúng tôi tại cơ quan IRCC và VIVO cùng với các bạn Nam Cali, Hoa Thịnh Đốn, chị Khúc Minh Thơ của Hội Gia Đình Cựu Tù Chính Trị, cùng các tù chính trị vượt biên đã tham dự và cố làm tròn nhiệm vụ.

Sau cùng thỏa ước định cư cựu tù chính trị được ký kết giữa ông Funseth phụ tá thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ và bộ ngoại giao Hà Nội. Những người Cha lao cải lần lượt được trả tự do và phái đoàn Mỹ bắt đầu công việc phỏng vấn suốt 10 năm tại Sài Gòn.

Tại San Jose, chúng tôi được tiếp đón những người Cha VNCH đến San Francisco trên chuyến bay đầu tiên vào đất Mỹ. Đó là ngày thứ Bẩy 13/1/1990 diện H01. Trung úy La Phước Hy về Oakland. Trung úy Hải Quân Bùi Thế Nguyên về San Francisco, Trung Úy Nguyễn Hữu Thức về San Jose. Rồi các đợt kế tiếp đến gia đình đông đảo của Đại tá Lại Đức Chuẩn, thuộc bộ TTM. Gia đình cô đơn với các con còn ở lại của Trung tá Nhảy dù Nguyễn Nghiêm Tôn.

Lần lượt từ 1990 đến 2000, suốt 10 năm đầu, hàng ngàn gia đình đã đến Mỹ. Có gia đình người Cha đi trước, có gia đình người Cha đi sau. Có những đơn vị toàn vẹn, có những đơn vị tổn thất nhưng phần lớn là các người chủ gia đình với trên 3 năm tù đều trở thành tấm vé thông hành tự do cho cả nhà. Cho đến ngày nay cũng vẫn còn những đợt H0 đến muộn.

Năm 1995, Tổng Nha Định Cư Di Dân Tỵ Nạn tại Hoa Thịnh Đốn sau khi phỏng vấn một nghìn gia đình HO đã có một vài kết luận. Hầu hết trả lời là họ ra đi vì tương lai con cái.

Luật định cư trước đây phán rằng nếu chủ gia đình mà qua đời thì hồ sơ cả nhà sẽ bị “xù.” Nhiều người cha đau yếu cố chống với từ thần từng giờ, từng phút để cho con cái được thấy cây cầu Golden Gate ở San Francisco.

Mấy năm trước, ở San Jose đã có những đứa con và những đứa cháu 10 năm chờ đợi, mới được bố điện về nói rằng "chúng mày phải đi chùa cầu nguyện để được McCain vớt".

McCain là tên ông Thượng Nghị Sĩ cựu HO Hoa Kỳ đã đệ trình dự luật nới rộng định cư tù cải tạo mà đa số người Việt đều nhớ ơn.

Tiếc thay văn phòng của ông có cho chúng tôi biết là thư yêu cầu can thiệp thì nhiều nhưng thư cảm ơn thì không có.

Vì vậy, nhân ngày Father's Day năm nay, có lẽ chúng ta cũng nên có đôi lời lịch sự với người bạn HO gốc Mỹ là ông cựu tù binh Hilton Hà Nội là Thượng nghị sĩ McCain. Chỉ cần gửi thank you note về Capitol Hill, Washington DC là thư sẽ đến nơi.

Tuy nhiên, nếu các bạn trẻ theo dõi chương trình Dân Sinh, thì đây là lời tôi muốn nói với các cháu. Trong suốt 10 năm qua, chúng tôi đã gặp khá nhiều cựu chiến binh VNCH, cựu tù cải tạo nhưng rất cô đơn. Các bác đến nhờ cơ quan xã hội giúp đỡ chuyện này chuyện nọ. Khi hỏi đến gia đình, các bác đều không muốn đề cập đến con cái.

Nếu gặng hỏi thì trên mặt cựu chiến binh Cộng Hòa nước mắt tuôn trào. Có người nói là tụi nó bận làm ăn. Hoặc là chán lắm, chẳng nhờ cậy gì được. Đôi khi thì nói rằng thằng con trai tôi thì cũng được, nhưng con vợ trời đánh không chết nên tôi coi như không có.

Hỏi chuyện về chuyến định cư mấy năm trước, ai nấy đều nói rằng gia đình lúc ra đi thì đông đảo về vui vẻ lắm. Tất cả đều nhờ vào cái giấy ra trại của ông già. Tờ giấy màu bụi đất chứng tích của 10 năm đói rét, tù đầy, chợt nhờ nước Mỹ ngó lại, bỗng chốc đưa cả bầu đoàn thê tử qua sống ở đất nước hùng cường. Chỉ mới có vài năm, bọn nhỏ bỏ ông già lang thang xe bus như vậy sao đành.

Đó là lý do tại sao, chúng ta cần liên kết ý nghĩa của Ngày Quân Lực VNCH và Father's Day của Hoa Kỳ. Những người chiến binh anh hùng của chúng ta, nếu quả thực không chiến thắng được trận cuối cùng nhưng cũng trả xong món nợ tù đày, và còn đem tấm thân làm cái vé cho cả nhà lên con tàu tự do đến miền đất mới. Bây giờ còn ai hơn được ông, để đứng ra nhận món qùa của Ngày Father's Day tại Hoa Kỳ.

Chỉ mong rằng những đứa con của ông biết đến lời nhắn nhủ này.

Giao Chỉ, San Jose.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image


Từ những cuộc chia tay
T.Vấn
● Gởi những người cha sắp tiễn con lên đường đi học xa

1.
Từ những cuộc chia tay, người ta học được điều gì ? Chắc không chỉ là giọt nước mắt lau vội, vòng tay ôm vội vã hay ánh mắt dõi theo cho đến khi người thân yêu đã khuất bóng.

Một lần đưa người bạn ra phi trường cho chuyến về thăm quê hương, tôi đã chứng kiến một cảnh hai cha con trong những giây phút cuối cùng bên nhau. Trên lối vào khu kiểm tra dành riêng cho hành khách sắp lên máy bay, giữa tiếng loa phóng thanh dồn dập thúc mọi người trình vé bước lên tầu, một ông gìa tóc bạc và một cô gái trẻ ôm lấy nhau quấn quýt. Đã đến lúc phải chia tay. Tôi nhìn họ, nói thầm trong bụng. Không thấy người mẹ của cô gái đâu, chỉ có hai cha con. Trước đó, quan sát cô gái với mớ hành lý ký gởi khá lỉnh kỉnh, tôi đóan cô đang làm một chuyến đi xa và lâu. Người bạn của tôi đã khuất sau lối đi vào bên trong phi trường, nên tôi rảnh rỗi để tiếp tục cái méo mó nghề nghiệp của mình. Cuối cùng, cô gái cũng đã buông lỏng vòng tay trên vai ông già và nói. I love you, Daddy ! Tôi nhìn thấy miệng ông già lẩm bẩm điều gì không rõ. Có lẽ cũng đại khái những lời dặn dò con lần cuối cùng, cố gắng giữ gìn sức khỏe, gọi điện thọai cho bố khi nào rảnh để bố an tâm v..v.. Cô gái quày quả bước đi. Cô chỉ ngóai lại nhìn cha một lần, đưa tay lên vẫy vẫy, rồi biến mất trong đám đông hành khách phía bên trong. Ông gìa chậm chạp bước ra khỏi phi trường. Tôi thóang thấy đôi mắt ông đỏ hoe. Có lẽ ông khóc. Tôi cảm thấy thật xúc động. Một người cha, một người đàn ông, gìa nua tóc bạc, khóc khi nói lời tạm biệt với con gái của mình. Biết đâu, đây là lần cuối cùng họ nói chia tay với nhau. Chiếc máy bay đã đem con ông đi một phương trời nào đó, thật xa với tổ ấm mà cô đã sinh sống bao năm với cha, với mẹ. Bây giờ, ông già đang lê từng bước mệt nhọc để về lại tổ ấm ấy, nay hẳn là quạnh quẽ, vì thiếu vắng một thành viên đã từng được sinh ra, trưởng thành từ đó. Biết đâu, lần tới con gái ông về, cũng chỉ kịp đưa tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Và căn nhà cũ kỹ, cái tổ ấm của họ, cùng với biết bao kỷ niệm, hẳn cũng sẽ được dựng bảng For sale.

Nhìn ông già lụ khụ, tôi hiểu hơn lúc nào hết ý nghĩa của câu tuổi gìa nước mắt như sương. Nó mong manh như những ngày tháng cuối cùng của một đời người. Và thứ nước mắt mong manh ấy, chỉ có thể là giọt nước mắt tiễn con lên đường của người cha, giọt nước mắt níu kéo chân con để chúng, dù bao mải mê với cuộc sống mới mẻ trước mặt, cũng đừng quên rằng, nơi căn nhà kỷ niệm xưa, vẫn còn những người thân yêu nhất đời, đang dõi theo mỗi bước chân con với biết bao nhiêu thương yêu, lo lắng.

Trong đời sống, có nhiều lắm những cuộc chia tay. Và tất nhiên, không có cuộc chia tay nào là không mang đến những nỗi buồn. Dù là cuộc chia tay ngắn ngày vì một công việc nào đó, hay cuộc chia tay dài ngày cho những bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời.

Và, bất cứ cuộc chia tay nào cũng có thể là cuộc chia tay cuối cùng.

Ai biết được những bất trắc của đời sống.


2.
Tháng 6, có ngày lễ Nghiêm Phụ (Father’s Day). Rất nhiều người cha nhận được những món quà quý giá nhất của con cái. Đó là những thành tích học vấn nơi trường trung học, đại học. Có lẽ, đối với người làm cha mẹ, không có món quà nào quý hơn sự thành đạt của con cái của mình. Nhưng đồng thời với niềm vui ấy, sẽ là nỗi buồn của những cuộc chia tay sẽ xảy ra khi mùa hè qua đi. Ngay từ bây giờ, chưa kịp hưởng trọn vẹn niềm vui do sự cố gắng học hành của con cái mang đến, nhiều người cha đã bắt đầu lo lắng đến việc chuẩn bị cho con đi học xa nhà. Nhưng trên hết, là nỗi buồn.

Tôi đã có dịp ngồi chuyện trò tâm tình với một cô gái, con người bạn học cùng trường hồi trẻ. Cô vừa tốt nghiệp xong 4 năm đại học, ngành Sinh học. Bước kế tiếp, cô không có lựa chọn nào khác ngòai việc phải đi học xa nhà. Vì nơi thành phố gia đình cô sinh sống, không có trường cho ngành học cô theo đuổi. Để hòan thành chương trình huấn luyện của một bác sĩ y khoa, cô gái sẽ phải học tiếp từ 3 đến 4 năm nữa, sau đó, cô phải đi thực tập (Residence – Nội trú) ở một nơi nhà trường sẽ chỉ định. Và sau khi hòan tất xong việc học, có lẽ cô sẽ phải chọn nhiệm sở ở một nơi không gần nhà. Nói cách khác, sau mùa hè này, cô gái sẽ bước ra khỏi nhà cho cuộc hành trình mới mẻ. Và hầu như, cô không có dịp quay trở lại nhà để sinh sống như hơn 20 năm nay cô đã sinh sống dưới sự đùm bọc của cha mẹ. Nếu có trở về chăng, cũng chỉ như một người tạm trú, dẫu cho căn phòng quen thuộc vẫn còn để đó dành riêng cho cô gái. Hơn ai hết, cô gái nhỏ hiểu điều đó. Dẫu cho bao háo hức của một con chim sắp được sổ lồng, sắp được nhìn thấy những vùng trời bao la mới lạ, cũng vẫn không làm cô gái nguôi được nỗi buồn của cuộc chia tay sẽ xẩy ra.

Với người cha (và người mẹ), hẳn nỗi buồn còn lớn hơn thế. Họ nhìn thấy những bất trắc mà con chim bé nhỏ chưa bao giờ hình dung ra được. Vì thế, ngòai nỗi buồn, còn là sự lo lắng.

Không có cuộc chia tay nào là dễ dàng cả. Có lẽ, cách duy nhất để xoa dịu nỗi buồn chia tay là tạo ra những kỷ niệm ngọt ngào khi còn có cơ hội gần gủi bên nhau. Những chuyến nghỉ hè vui vẻ của gia đình. Những buổi xum họp đầm ấm bên bữa cơm hiếm hoi của một ngày bận rộn. Những buổi sáng chủ nhật cả nhà mặc những bộ quần áo đẹp nhất đi dự lễ hàng tuần ở nhà thờ hay đi vãn chùa, thắp nén nhang cầu cho người thân khuất mặt.


3.
Tôi đã được dịp đọc lại một tác phẩm gối đầu giường gần 40 năm về trước. Đó là quyển “Câu chuyện dòng sông“ (Siddhartha) của nhà văn đọat giải Nobel Văn Chương người Đức thế kỷ 20 Hermann Hesse, qua bản chuyển ngữ tiếng Việt tuyệt vời của Phùng Khánh, Phùng Thăng.

Ở đọan cuối, khi nhân vật chính là Tất Đạt đã nếm trải đủ mọi vui sướng, khổ ải, đau đớn của cuộc đời, ông về lại dòng sông mà khi xưa, lúc còn trẻ, ông đã một lần được người chèo đò đưa qua sông. Mấy chục năm sau, vẫn người chèo đò ấy. Vẫn dòng sông êm đềm, vị tha, biết lắng nghe nỗi đau khổ của con người. Tất Đạt quyết định xin cùng người chèo đò được ở lại, cùng ngày ngày đưa khách qua sông và lắng nghe dòng sông thì thầm tiếng cuộc đời, tiếng của thực tại, tiếng của sinh thành vĩnh viễn. Một hôm, có người đàn bà quý phái, tuy ăn mặc đơn sơ nhưng vẫn không giấu được vẻ kiều diễm một thời, đã ghé bến đò cùng với đứa con trai của mình. Bà và con trai đang trên đường đi thăm Đức Phật vì nghe tin ngài sắp viên tịch. Đến bến đò, đứa con trai, vì quá mệt mỏi, nài van mẹ xin được nghỉ lại. Trong lúc ngồi nghỉ, chẳng may bà mẹ bị rắn độc cắn, không cứu chữa được. Đứa con la lên xin mọi người cầu cứu. Ông lái đò chạy lại ẵm người đàn bà về thuyền. Lúc ấy, Tất Đạt đang nhóm lửa nấu bếp, nhìn lên, ông nhận ra ngay ngừơi đàn bà ấy trước đây là người tình của mình và đứa con trai đang hốt hỏang ấy, chính là con mình. Bà mẹ qua đời, đứa con phải ở lại với người đàn ông mà mẹ nó, trước khi chết, đã cho biết ông chính là cha nó. Nhưng đứa bé, vốn quen với nhung lụa thành phố, nên không thể chịu đựng được sự kham khổ, thiếu thốn nơi bến đò. Nó đã tìm cách bỏ đi, dù biết rằng người đàn ông, là cha nó, đã hết sức yêu thương, chiều chuộng. Dĩ nhiên, Tất Đạt đau khổ, lang thang khắp nẻo để tìm con. Và khi đã tuyệt vọng, ông về lại dòng sông, ngồi soi bóng dáng gầy gò thất thểu của mình, và lắng nghe tiếng rì rào quen thuộc của nó. Bỗng nhiên, Tất Đạt nghĩ về người cha, mà từ ngày bỏ đi đã mấy chục năm trời, ông chưa một lần về lại để thăm viếng. Dạo ấy, ông cũng đã khiến cha của mình phải chịu đựng một nỗi đau đớn giống hệt như nỗi đau ông đang phải chịu đựng như bây giờ. Có thể, giờ này cha của ông không còn sống ở trên cõi đời này nữa, đã lặng lẽ ra đi trong cô quạnh và không được nhìn thấy mặt đứa con trai rất mực yêu thương một lần cuối. Tất Đạt nhìn xuống dòng sông, và bừng tỉnh ngộ. Vòng định mệnh của con người phải được khép kín. Và đứa con trai yêu quý đã bỏ ông mà đi, chỉ làm công việc hòan tất cái vòng định mệnh ấy.

Câu chuyện truyền đạt quan niệm đời là bể khổ của Phật giáo, nhưng qua hình ảnh nhân vật chính Tất Đạt và cuộc đời của ông, tác giả cũng cho thấy, để tạo ra được những chân trời mới của cuộc đời mỗi con người, người ta phải chấp nhận những cuộc lên đường, nghĩa là những cuộc chia tay với những gì quen thuộc nhất, thân thương nhất. Mỗi người, sẽ phải có ngày tạo dựng riêng cho mình một mái nhà, tách biệt hẳn với mái nhà cha mẹ.

Gần 40 năm trước, là một thanh niên vừa lớn, tôi đọc Câu chuyện dòng sông với niềm khao khát được sớm lên đường, lìa bỏ mái nhà cha mẹ, đi tìm những chân trời mới cho cuộc đời mình. Tôi chưa kịp lên đường, nói lời chia tay với gia đình, thì bố tôi đã nằm xuống sau một cơn bạo bệnh. Thế là lời chia tay cuối cùng đã được thốt lên. Và cái háo hức trong tôi cũng tan biến như bong bóng xà phòng.

40 năm sau, đọc lại Câu chuyện dòng sông, với bao băn khoăn, e ngại về những bất trắc đầy đe dọa ở cuối chân trời đang chờ đợi những người trẻ tuổi đang háo hức lên đường (như khi xưa tôi háo hức), trong đó có các con cháu của tôi.

Tôi đã nhìn thấy những gì tôi không nhìn thấy 40 năm trước, và những người trẻ bây giờ thì chưa nhìn thấy.

Nhưng, như trong Câu chuyện Dòng Sông, đứa trẻ phải lên đường, làm cuộc chia tay với cha của nó, để hòan tất định mệnh làm người.

Chúng ta, những người làm cha mẹ, không có lựa chọn nào khác, ngoài chúc phúc cho những cuộc chia tay. Và xin cố đừng làm rơi những giọt nước mắt.

Nhất là giọt nước mắt của người cha gìa, vốn hiếm hoi và mong manh như sương khói.

T.Vấn
http://t-van.net/
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Bush ca ngợi đệ nhất phu nhân Pháp
Image
Đệ nhất phu nhân Pháp Carla Bruni-Sarkozy. Ảnh: AFP.

Tổng thống Mỹ George W. Bush hôm qua ca ngợi đệ nhất phu nhân Pháp Carla Bruni, và nói với đồng nhiệm Nicolas Sarkozy rằng nàng "thực là thông minh, tài giỏi và tôi hiểu vì sao ngài lấy nàng làm vợ".


"Và tôi cũng hiểu tại sao nàng lấy ngài", Bush nói thêm tại cuộc họp báo chung với tổng thống Pháp.

Sarkozy và vợ - một người mẫu chuyển sang nghề ca sĩ - đã thết đãi ông Bush và bà Laura tiệc tối vào thứ sáu.

Tại cuộc họp báo chung, Bush nhấn mạnh rằng ông "thực vui lòng" được gặp Bruni. Đệ nhất phu nhân Pháp đang chuẩn bị tung ra album nhạc pop mới của nàng mang tên "Comme Si De Rien N'Etait" (tạm dịch: Như chưa hề xảy ra) được nóng lòng chờ đợi.

Mai Trang (theo AFP)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Little Saigon ở San Francisco .
T.L

Đến các ngã tư từ đường O'Farrell tới Eddy, du khách dễ dàng nhận ra với một loạt các bảng hiệu: "Welcome to Little Saigon - San Francisco - Sài Gòn Nhỏ" treo cao trên các cột đèn dọc theo đường Larkin. Đúng là "Sài Gòn nhỏ" nếu không nói là "quá nhỏ" vì chỉ chiếm có 3 khối phố trong khu Tenderloin nhưng đã được thành phố công nhận kể từ năm 2004 như là việc thừa nhận sự đóng góp của cộng đồng người gốc Việt vào nền kinh tế, văn hóa địa phương.

Trở lại lịch sử hình thành khu vực này. Sau trận động đất năm 1906 mà cả thành phố San Francisco gần như trở thành bình địa, dân chúng địa phương bắt tay vào việc tái xây dựng. Khu vực Tenderloin đã có một thời kỳ cực thịnh với những nhà hát và cửa hiệu quyến rũ. Cư dân quanh vùng Bay Area đổ xô đến đây vào chiều tối để xem ca nhạc, ăn tối và ngủ nghỉ tại các khách sạn dễ thương trong vùng. Thế nhưng, các đề án phát triển đô thị của những năm sau Thế chiến II đã biến Tenderloin thành hoang vắng khi các cơ sở kinh doanh lần lượt dọn đi. Mãi đến những năm đầu thập niên 1980, những người nhập cư gốc châu Á bắt đầu mon men tới đây lập nghiệp nhờ giá cả nhà đất cũng như thuê mướn cơ sở tương đối rẻ. Khu Tenderloin như được hồi sinh và chỉ trong vòng 3 thập niên, các khu phố với diện tích chỉ hơn 1,5 km2 mà đã có gần 30.000 người cư ngụ, bao gồm cư dân châu Á, người Trung Đông, người gốc Mỹ La-tinh, gốc châu Phi... Theo ước lượng khi Little Saigon được thành phố công nhận vào tháng 9.2004 thì có khoảng 3.000 cư dân gốc Việt sinh sống tại Tenderloin. Họ làm chủ 255 doanh nghiệp, phần lớn tập trung ở 3 khu phố trên đường Larkin, nơi được gọi là Little Saigon in San Francisco,
Tiệm bánh mì Lee's Sandwiches ở Little Saigon - Ảnh: T.L

nghĩa là Sài Gòn Nhỏ ở San Francisco.

Khi chúng tôi đến thăm Little Saigon một ngày cuối tháng 5.2008, miền bắc California đang chuyển qua mùa hè nhưng mấy hôm nay trời bỗng nhiên trở lạnh. Gió từ biển thổi vào khiến ai nấy đều nép sát vào vách tường trong khi chờ đợi để được sắp xếp chỗ ngồi trong một quán phở có tên Tháp Rùa, nơi một người bạn giới thiệu là ngon nhất . Anh Steven Nghia, chủ quán Tháp Rùa cho biết, tiệm của anh khai trương từ năm 1999 và bán toàn món Bắc, đặc biệt là phở, rất được dân địa phương ưa chuộng, không chỉ người gốc Việt, mà cả người Mỹ, người Mễ... Chỉ vào tất cả các bàn đều đang có khách ngồi ăn, anh nói: "Chị thấy đó, đông nhất là người Việt, nhưng thực khách thuộc các sắc dân khác cũng rất thích món phở". Phở ở đây không ăn kèm với rau, mà chỉ có hành trắng xắt lát mỏng, có lẽ để cho tiện phục vụ nhanh chóng. Quán đông vì khá nổi tiếng. Mọi người vừa ăn vừa hít hà. Biết chúng tôi là khách phương xa, anh David Phan, một người cư ngụ ở phía Bắc Golden Gate cho biết, anh thường đưa cả gia đình đến ăn phở ở quán Tháp Rùa vào dịp cuối tuần. Anh cũng nhắc đến những dịp lễ hội mà nhớ nhất là dịp đón Tết cách nay mấy năm với cả mấy chục ngàn đồng hương sống quanh vùng Bay Area tập trung về đây đón Xuân.

Tuy chỉ 3 khu phố nhưng Little Saigon có đủ các dịch vụ. Đây, tiệm Phở Tàu Bay quảng cáo phở chính gốc Sài Gòn, nào bò 7 món Pagolac, Hải Ký mì gia, Hoa Phát chuyển tiền, bánh mì Lee's Sandwiches, Hà Tiên Studio, Little Saigon Hair&Nails Salon, Quốc Long Jewelry, Jewelry Kim Cương, Hiệp Thành Food Market Corp., Mỹ Mỹ Gift Shop... "Phố nhỏ" chỉ mới nhộn nhịp, khởi sắc hẳn lên vài năm trở lại đây. Những e ngại trước đây về sự việc nhiều người gốc Việt chỉ xem "phố nhỏ" như là nơi sinh sống tạm bợ, sau khi ăn nên làm ra ở Little Saigon này thì lại có xu hướng mua nhà ở San Jose hay các vùng phụ cận cho con cái ăn học nay hầu như không còn nữa.

Người gốc Việt ở đây tự hào là mình đã tạo lập được "một thành phố trong một thành phố". Một Chinatown cơ ngơi hoành tráng nằm trong lòng San Francisco vì người gốc Hoa đã có lịch sử phát triển tại đây gần 200 năm. Người gốc Việt mới chỉ định cư khoảng thập niên nay mà đã hình thành được một Little Saigon như thế có thể xem là một nỗ lực đáng trân trọng. Tuy nhiên, như một số người Việt đến đây tham quan và có nhận xét, so với Little Saigon ở Westminster, miền nam California thì chỉ nên gọi nơi đây là một "Very" Little Saigon, tức "Sài Gòn rất nhỏ". Anh Steven Nghia bày tỏ mong muốn ngày càng có nhiều người Việt đến đây làm ăn sinh sống, ngày càng có nhiều cửa hiệu kinh doanh của người Việt mở cửa hoạt động tại đây để biến khu vực này thật sự là Little Saigon, cạnh tranh được với khu vực cùng tên ở miền nam California.

T.L
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image


Chuyện Nhỏ... Chuyện Lớn

Người Sàigòn
Anh Tư thân mến,

Trong cơn bão giá, thịt heo, thịt bò, thịt gà, thịt vịt đều giá trên trời, dân nhậu Sài Gòn phát minh ra món nhậu mới: Thịt chuột. Mà lại không phải chuột thường, chuột kiểng hẳn hoi: Chuột Hamster nhập cảng lậu từ Thái Lan, Hồng Kông... không qua kiểm dịch.

Chính vì không qua kiểm dịch nên thú y thành phố ra lệnh tiêu hủy bằng hết số chuột bạch này vốn dĩ từ tết Mậu Tý đã sinh sôi nảy nở nhiều vô kể. Thế là chuột Hamster thoát kiếp đánh vòng để... lên đĩa với giá 40 ngàn đồng/con. Ngoài chuột Hamster, người ta còn bắt cả... chuột cống giả làm chuột đồng để bán trong các quán nhậu. Chèn đéc ôi, cơn bão giá đang hoành hành sẽ còn gây thêm những vấn nạn nào nữa đây?

Sáng nay mọi người đang ngồi trong quán, bà bán dạo đẩy xe đạp qua rao ời ời: “Ai xôi đậu đen đơ...ơi...ơi...”. Thằng Bảy Xe Ôm đang nhâm nhi li cà phê, nhảy ba bước theo bà bán xôi, lát sau nó quay về giơ lên cái gói xôi nắm lại chỉ bằng quả trứng vịt. Nó rền rĩ:

“Ối ông Nguyễn Tấn Dũng ôi... ối ông Nông Đức Mạnh ôi... 5 ngàn xôi đậu đen nắm lại vừa bằng cái chim của thằng cu con nhà bà Tư gà Nướng vầy thì giai cấp công nhân làm sao sống?”

Ông đại tá hưu đập bàn:

“Thằng Bảy Xe Ôm kia, sao mày đi mua có 5 ngàn xôi mà mày réo tên lãnh tụ với giai cấp công nhân ra làm cái gì?”

Thằng Bảy Xe Ôm cười hề hề:

“Chú Ba gỏi giùm con hòn xôi này cùng với một ly trà đá cho ông Nông Đức Mạnh để ổng biết lương công nhân bây giờ chỉ vừa đủ ăn một bữa như vầy thôi. Vậy làm sao trở thành lực lượng tiên phong lãnh đạo cách mạng?”

Cô Phượng Cave cười rinh rích:

“Mày gỏi hòn xôi với ly trà đá vậy chưa đủ, mày phải gởi...”

Cô Phượng Cave ngừng lại cười tủm tỉm làm thằng Bảy Xe Ôm sốt ruột giục:

“Gởi gì nữa chị Phượng?”

Cô Phượng Cave:

“Gởi cái cặp sách của con nít cho ổng thấy là hiện có hơn trăm ngàn cái cặp con nít nó vứt đi hổng chịu cắp tới trường nữa!”

Ông đại tá hưu trề môi:

“Trời đất ơi, tưởng chuyện gì, giá cả tăng cao làm con nít bỏ học hả? Chuyện nhỏ!”

Gã Ký Quèn lúc này mới lên tiếng:

“Vậy chú Ba đọc báo sáng nay chưa? Báo vừa đăng tin một học sinh lớp 4 vừa uống thuốc rầy tự tử vì sợ tới lớp học kìa...”

Ông đại tá hưu cao giọng:

“Chuyện nhỏ! Chuyện học sinh tự tử thì có gì mới? Đầu năm nay báo cũng đăng ở Sài Gòn có hai học sinh lớp 8 tự tử vì học kém kìa. Rồi năm ngoái, cũng ở thành phố Hồ Chí Minh có 3 học sinh lớp 7 và lớp 9 tự tử vì áp lực học tập kìa. Rồi ngay ngoài Hà Nội cũng có 5 nữ sinh lớp 7 tự tử vì học hành căng thẳng kìa. Hiện tượng này đã xảy ra lai rai trên cả nước từ nhiều năm rồi, đâu có gì mới?”

Gã Ký Quèn lại hỏi:

“Chú Ba đọc báo có thấy hiện tượng hàng vạn học sinh trên cả nước phải bỏ học vì chương trình sách giáo khoa quá nặng, vì đã ngồi nhầm lớp do người lớn chạy theo thành tích nên đã dối trá xếp lớp bừa bãi?”

Ông đại tá hưu cười khà khà:

“Chuyện nhỏ... Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo Dục đã phát biểu rồi. Hiện tượng học sinh bỏ học không phải là chuyện mới mà kéo dài từ nhiều năm nay rồi...”

Thằng Bảy Xe Ôm vào cuộc:

“Vậy chú Ba có thấy báo đăng ngân sách dành cho giáo dục năm qua còn thừa nhiều tỷ đồng mà chẳng hiểu sao các địa phương lại nợ lương và phụ cấp giáo viên lên đến cả ngàn tỷ đồng không? Chỉ riêng ở Quảng Nam tỉnh đã nợ giáo viên hơn hai trăm tỉ. Lương giáo viên đã thấp lại không cho người ta lãnh, vậy sao mà dậy học cho tốt được?”

Ông đại tá hưu trợn mắt:

“Chuyện nhỏ... Nợ rồi sẽ trả, chỉ trả chậm thôi chớ Nhà nước có giật lương của giáo viên đâu mà lo?”

Cô Phượng Cave lên tiếng:

“Hôm nay báo cũng đăng hầu hết các sinh viên tốt nghiệp đại học đều khó kiếm việc làm vì chất lượng đào tạo quá kém và đành phải đi làm nghề tay trái như tiếp thị, giao hàng, phát tờ rơi quảng cáo...”

Ông đại tá hưu ngẩn người. Câu hỏi này không dễ gì trả lời làm thằng Bảy Xe Ôm phải trả lời thay:

“Sinh viên tốt nghiệp đại học không kiếm được việc làm hả? Chuyện nhỏ. Không làm được việc ở các ngành nghề đã học thì kiếm việc ở các ngành không cần đào tạo như “cò đất”, “cò nhà”, “cò công chứng”, “cò dịch vụ”... Thiếu gì việc mà lo? Chuyện nhỏ?”

Ông Tư gà Nướng từ nãy ngồi nghe tức như bò đá, bật lên tiếng:

“ĐM... nãy giờ bao nhiêu chuyện nhức nhối trong ngành giáo dục mà chuyện nào cũng là chuyện nhỏ, vậy thì chuyện gì mới là chuyện lớn?”

Ông đại tá hưu hùng hồn:

“Chuyện lớn trong ngành giáo dục hiện nay là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để đảm bảo xây dựng thanh niên Việt Nam thành những con người mới xã hội chủ nghĩa, có tri thức tiên tiến và hiện đại, tuyệt đối trung thành với Đảng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư theo gương bác Hồ vĩ đại...”

Cả quán cười ầm ầm làm ông đại tá hưu tức quá quát to:

“Tao nói vậy không đúng sao mà chúng mày lại cười?”

Gãõ Ký quèn xua xua tay:

“Đúng đúng... chú Ba nói rất đúng nhưng mà chưa trúng...”

Ông đại tá hưu tức mình:

“Sao lại đúng mà chưa trúng, vậy tao nói trật ở chỗ nào?”

Gã Ký Quèn cười cười:

“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để bảo đảm ngành giáo dục xây dựng thành công con người mới xã hội chủ nghĩa thì nhất định là đúng rồi... nhưng đấy là chuyện đường xa... trước mắt chuyện lớn trong ngành giáo dục là chuyện khác kìa...”

Ông đại tá hưu ngớ người:

“Mày nói chuyện khác là chuyện gì? Học tập theo gương bác Hồ vĩ đại không phải là chuyện lớn sao?”

Gã Ký Quèn lại cười:

“Học tập theo gương bác Hồ vĩ đại là chuyện lâu dài còn chuyện lớn hiện nay trong ngành giáo dục lại là chuyện khác... lớn ghê lắm kìa...”

Cô Phượng Cave sốt ruột:

“Chuyện lớn đó là chuyện gì, nói cha nó ra, cứ lòng vòng hoài...”

Gã Ký Quèn cao giọng:

“Thì báo mới đăng đó. Tại Hà Nội, đại diện Đại Học Quốc Gia Hà Nội và Tập Đoàn Dầu Khí Quốc Gia Việt Nam đã ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, với sự tham dự của Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo Dục – Đào Tạo Nguyễn Thiện Nhân...”

Gã Ký Quèn nói tới đó ngưng lại cho mọi người thêm tò mò. Quả nhiên thằng Bảy Xe Ôm sốt ruột giục:

“Thỏa thuận cái gì mà quan trọng vậy anh Ký quèn?”

Gã Ký Quèn cười cười:

“Theo thỏa thuận, hai bên cam kết xây dựng và triển khai thực hiện đề án chiến lược để Việt Nam có được giải thưởng Nobel và các giải thưởng quốc tế uy tín khác...”

Cô Phượng Cave la chói lói: “Việt Nam có được giải Nobel? Chuyện thực hay giỡn đó anh Ký?”

Gã Ký Quèn trợn mắt: “Thực chớ sao giỡn? Vậy mới nói chuyện lớn nhất trong ngành giáo dục Việt Nam hiện nay là phấn đấu cho sinh viên giật giải Nobel mà...”

Thằng Bảy Xe Ôm cười cười:

“Vậy còn chuyện học sinh đang bỏ học hàng loạt...”

Gã Ký Quèn trề mồi: “Xì... chuyện nhỏ...”

Cô Phượng Cave vỗ tay: “Đúng rồi... đúng rồi... học sinh bỏ học hàng loạt là chuyện nhỏ, đoạt giải Nobel mới là chuyện lớn. Vậy mới xứng tầm thời đại của Đảng ta chớ...”

Cả quán cười ồ, trừ ông đại tá hưu.

Chúc anh Tư vui vẻ và mạnh khỏe.

NGƯỜI SÀIGÒN
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests