Bình Luận , Quan Điểm

dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Chỉ có người Việt mang hồn Việt mới sống chết với Tổ Quốc Việt Nam

Le Nguyen
Chỉ có những người bị hội chứng hoang tưởng, bị các loại tâm thần phân liệt hay nói theo ngôn ngữ bình dân là điên nặng mới mất khả năng nhận thức, tư duy theo lý lẽ thông thường của cuộc sống đời thường và những người phát triểntự nhiên với bộ óc bình thường, ai cũng có thể nhận ra một điều rất đơn giản, là không ai hiểu ta, thương ta bằng chính bản thân ta. Từ đó suy rộng ra, mọi người lương thiện đều tương đối ít nhiều có thể hiểu được mức độ năng lực, khả năng cũng như chiều sâu tâm lý yêu thương, giận ghét thật sự của cá nhân mình, và đương nhiên nếu mình không yêu thương mình, không yêu thương người thân cật ruột, bạn bè lối xóm, những người anh em đồng bào cùng khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…không thương nhớ cây đa cũ, bến đò xưa, con đường quê ngày hai buổi đến trường với nhiềukỷ niệm vui buồn, nhục vinh gắn bó…thì những điều đại loại như chuyện sống chết vì lý tưởng độc lập, tự do…vì thế giới đại đồng hay bài tỏ lòng thương yêu tổ quốc xa xăm, nhớ thương khóc lóc ông tây bà xẩm xa lạ không quen biết…hẳn ai cũng thấy rõ “ý đồ”, thấy có cái gì đó trái lẽ tự nhiên thiếu lương thiện, nếu không nói là gian manh, giả tạo!

Cách lý giải về hiểu biết, về yêu thương của bản thể lẫn khách thể vừa diễn giải chỉ ra rằng, chắc không ai hiểu cộng sản Việt Nam bằng người Việt Nam và không người Việt Nam nào hiểu cộng sản bằng những người cộng sản đã rời bỏ hàng ngũ cộng sản. Cũng như để vạch trần dối trá, tội ác cộng sản Việt Nam một cách chính xác, thuyết phục không ai làm hay hơn người Việt Nam, những người đã từng là nạn nhân, đã từng tin, nghe theo cộng sản, phục vụ cho đảng, chochế độ cộng sản và không ai yêu thương, sống chết với đất nước Việt Nam hơn con người Việt Nam. Vì thế muốn giải trừ kiếp nạn cộng sản, muốn xây dựng phát triển Việt Nam hiệu quả, không ai khác là phải do chính con người Việt Nam, những người đủ trải nghiệm hiểu biết cộng sản, đủ tâm huyết yêu thương, khao khát, cống hiến cho đất nước Việt Nam.

Nội dung bài viết này sẽ không bàn đến chuyện quá khứ bởi không ai thay đổi được quá khứ, dù biết rằng quá khứ là bài học hữu ích, là nền tảng điều chỉnh hành vi hiện tại để hoàn thiện, định hình cho cuộc sống tương lai và nội dung bài viếtchỉ bàn đến một số điểm then chốt về xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn được gọi là đổi mới của đảng cộng sản Việt Nam.

Phải nói rằng trong giai đoạn được gọi là đổi mới về phương diện kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thựcchất chỉ là bắt chước, mô phỏng làm theo cái cũ của nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam trước năm 1975 nhưng được lãnh đạo cuồng tín, trí tuệ có vấn đề, ngờ ngệch bảo rằng “có đảng cộng sản mới có đổi mới” (?) và đổi mới song song tồn tại cả hai mặt tiêu cực lẫn tích cực - mặt tích cực được đảng, nhà nước thổi phồng phô trương, tuyên truyềnkhông tiếc lời nhằm làm giảm nhẹ lẫn che dấu những mặt tiêu cực gây hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục cho nhu cầuphát triển quốc gia theo hướng giàu đẹp, bền vững và cho cuộc sống người dân được tự do, ấm no, hạnh phúc.

Chẳng hạn như khi hô hào đổi mới, cộng sản Việt Nam tháo gở được cấm vận, thoát khỏi vòng vây cô lập của thế giới tự do, thu hút đầu tư nước ngoài, nhận viện trợ tài chánh không hoàn lại, nhận được hỗ trợ nguồn vốn ưu đãi với lãi suấtthấp, giao lưu thương mại thuận lợi, tiếp cận nền khoa học kỹ thuật hiện đại của các nước dân chủ giàu mạnh…giúp chobộ mặt Việt Nam sáng sủa hơn, cuộc sống vật chất có phần khá lên, nhất là thuận lợi trong công tác tuyên truyền, quabộ mặt hào nhoáng phồn vinh giả tạo thiếu thực chất, không bền vững nhằm che dấu, khỏa lấp những công trình, dự án, chính sách xây dựng, phát triển thiếu tầm nhìn chiến lược lẫn chiều sâu thực chất, khó nhận ra với cái nhìn hời hợt, lạc quan tếu của không ít người, rằng đảng lãnh đạo “tài tình, sáng suốt...”

Bên cạnh bộ mặt hào nhoáng tích cực của đổi mới là những tiêu cực như nợ nần nước ngoài chồng chất trên đầu người dân ngày càng cao, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa và các quan tham vô đạo đức cấu kết, tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích hình thành xâu xé các nguồn viện trợ nước ngoài, xẻ thịt tài nguyên quốc gia vô tội vạ, tạo nên bất công trong xã hội, bất bình trong nhân dân là nguồn gốc của bất ổn kinh tế – xã hội, là nguyên nhân của bạo động lật đổ, làm cách mạng như lịch sử cách mạng của loài người đã từng diễn ra chứ không có thế lực thù địch nào gây ra mối đe dọa cho chế độ!

Hiện nay với những bất cập, lạc hậu, tồi dở do nhiều nguyên nhân hiện hữu, tồn tại trong nhà nước cộng sản Việt Nam và trong thời gian dài mấy mươi năm đã có rất nhiều chuyên gia quốc tế ở mọi lãnh vực ngành nghề bày tỏ thiện chí phân tích tình hình, tích cực đóng ý kiến cải cách thiết thực hữu ích cho đất nước, con người Việt nam. Có người tìnhnguyện làm cố vấn không công bán thời, có người làm việc toàn thời có nhận lương làm việc cho đảng, nhà nước cộngsản nhưng vẫn chưa có dấu hiệu tiến bộ khả quan. Bộ máy nhà nước Việt Nam vẫn như con tàu rệu rã đắp vá chỗ này lại gặp phải thủng vỡ chỗ khác nghiêm trọng hơn, vẫn lững lờ chìm nổi giữa giòng xoáy “luẩn quẩn” khủng hoảng, suy thoái không lối thoát.

Có thể những chuyên gia tài năng, hàng đầu của quốc tế “cố vấn” không hiệu quả trong hệ thống tổ chức chính trị ViệtNam, là bởi họ chưa hiểu được, chưa hiểu hết bản chất không trong sáng, thiếu thiện chí đổi mới, thậm chí đổi mới chỉ là chiêu trò giả vờ, mang tính đối phó để nhận được viện trợ, đầu tư nước ngoài của đảng cộng sản - đảng cầm quyền lãnh đạo toàn diện kinh tế, xã hội và các chuyên gia quốc tế với đầu óc quen nếp suy nghĩ trung thực, ngây thơ trong xã hội trong sáng, minh bạch đã chết ngộp với các bản báo cáo láo của các quan chức vừa gian, vừa bất tài của đảng cộng sản thì làm gì họ có được những lời cố vấn, những bản văn nghiên cứu chính xác để hoạch định những kế hoạch hữu hiệucho cải cách, đổi mới kinh tế - xã hội Việt Nam?

Hẳn ai cũng thấy trong những năm đầu đổi mới đã thu hút đầu tư lẫn viện trợ nước ngoài ồ ạt đổ vào Việt Nam giúp nâng cao mức sống tạo niềm tin, niềm hy vọng không nhỏ trong lòng người dân Việt Nam nhưng rồi sau một thời gian hứng khởi của đổi mới thì trong lòng kinh tế - xã hội, xã hội chủ nghĩa phát sinh các liên minh ma quỷ chằng chịt, chồngchéo lên nhau như: quan tham cấu kết với nhóm lợi ích; nhóm lợi ích hợp tác với băng đảng xã hội đen; băng đảng xãhội đen bắt tay với tham quan. Và chuỗi tam giác “tham quan – nhóm lợi ích – xã hội đen” như vòng tròn khép kín dựadẫm vào nhau cùng tồn tại, cùng ra tay tàn phá đất nước, cùng gây tội ác kinh hoàng hơn những gì đổi mới đem lại cho mặt bằng chung của đời sống người dân, cho đất nước tiến lên hùng cường, thịnh vượng.

Đã hơn hai mươi năm được gọi là đổi mới, bộ mặt vật chất bề nổi của đất nước Việt Nam có sáng sủa hơn như đường xá cầu cống, nhà ở sang trọng, chung cư cao tầng, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí phục vụ du lịch “hoành tráng”, đằng sau nó là những thân phận của không ít con người Việt Nam sống vô gia cư, chết vô địa táng…và các khu công nghiệp, vùng nông nghiệp nhà máy, công trường thi nhau mọc tràn lan vô tổ chức của những kẻ chân mang dép lốp, tóc còn bốc phèn, mộng mơ bay vào vũ trụ! Song song với lớp son chưng diện bề ngoài của nền kinh tế phát triển trên hoang mạc cát không thực chất, là những món nợ nước ngoài không hề nhỏ và chính sách phát triển kinh tế, xã hội thiếu chiều sâu, chỉ nhờ vào các khoản viện trợ không hoàn lại lẫn vốn vay ưu đãi có thời hạn cùng với những mục tiêu, chương trình phát triển được Liên Hiệp Quốc hổ trợ.

Có lẽ không ít người biết viện trợ, hổ trợ của nước ngoài, kể cả của người Việt hải ngoại gởi về giúp thân nhân hơn hai mươi năm qua không hề nhỏ nhưng không có thống kê công bố chính thức của nhà nước cộng sản nên tạm sử dụng nguồn tính toán không chính thức của một chuyên gia ẩn danh ước chừng như sau:

- ODA không hoàn lại: 6,67 tỷ đô la Mỹ.

- Vay ODA ưu đãi: 30,83 tỷ đô la Mỹ.

- Các khoản vay ưu đãi từ nước ngoài: 21,27 tỷ đô la Mỹ.

- Các khoản vay được chính phủ bảo lãnh: 14 tỷ đô la Mỹ.

- Trái phiếu địa phương: 0,7 tỷ đô la Mỹ.

- Tổng dư nợ của doanh nghiệp nhà nước: 62 tỷ đô la Mỹ.

- Tổng đầu tư nước ngoài FDI: 222 tỷ đô la Mỹ.

- Đầu tư gián tiếp của nước ngoài: khoảng 30 tỷ đô la Mỹ.

- Người Việt hải ngoại: trên dưới 200 tỷ đô la Mỹ.

Tất cả trợ giúp gián tiếp hay trực tiếp đều có nguồn gốc từ việc ký kết các công ước quốc tế, hứa hẹn tuân thủ về nhân quyền, về thương mãi minh bạch công bằng, về bảo vệ môi sinh môi trường, về phục vụ mục tiêu hòa bình, về lợi ích chung của cộng đồng nhân loại…Thế nhưng sau hơn hai mươi năm đổi mới, với nguồn vốn khổng lồ, với sự giúp đỡ nhiệt tình của các nước dân chủ tiến bộ, giàu mạnh tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hội nhập vào đời sống chính trị văn minh nhưng nhà nước cộng sản Việt Nam không những không tiến bộ mà còn thực hiện những bước lùi đáng lo ngại, đáng thất vọng, là củng cố độc tài, gia tăng đàn áp, phát triển tội ác và quyền con người cơ bản không được cải thiện trong thực tế đời sống, ngày càng đi xuống cuối bảng danh sách hạng mục kém “chất lượng sống” của thế giới.

Thời gian hơn hai mươi năm đủ dài cho thực hiện đổi mới, giờ nhìn lại kết quả đổi mới hay nói cách khác là tổng kết thực trạng đổi mới phơi ra trần trụi những bước lùi đáng sợ như: chính trị đầy dẫy bạo lực khủng bố; kinh tế hiển hiện dấu hiệu chết lâm sàng; văn hóa nằm dưới vùng trũng vô hồn mất dần bản sắc; xã hội băng hoại bất công tràn lan đáng kinh sợ…Tất cả đã đủ cơ sở để kết luận rằng, đảng cộng sản Việt Nam không thực tâm đổi mới cũng như không có khả năng tự đổi mới mà phải cần có lực đẩy tác động mạnh từ bên ngoài mới có thể tạo được chuyển đổi tích cực để đổi mới tốt đẹp hơn cho Việt Nam.

Hơn hai mươi năm, thiện chí của các chuyên gia quốc tế, các tổ chức lợi nhuận phi lợi nhuận, các tổ chức chính phủ phi chính phủ dần dần nhận ra bản chất đổi mới với nhiều cam kết quốc tế của đảng cộng sản Việt nam chỉ là “hứa hẹn”, là lừa đảo khiến nhiệt tình hợp tác, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Việt Nam xây dựng, phát triển đổi mới phai nhạt, không còn hăm hở như lúc ban đầu, dù trong thực tế vẫn còn một số không nhiều cá nhân, tổ chức, chính phủ ngoài Việt nam bám vào mục tiêu hô hào “đổi” nhưng không tạo ra điều gì “mới” có thực chất trên mọi phương diện tổ chức đổi mới để làm bệ phóng cho bước chuyển đổi từ độc tài sang dân chủ của đảng cộng sản Việt Nam. Qua đó, không loại trừ khả năng, các cá nhân, tổ chức có yếu tố nước ngoài đến thời điểm này vẫn còn ủng hộ, đi theo phục vụ đổi mới giả tạo của chế độ độc tài cộng sản, không có lý do nào khác là vì quyền, lợi ích cá nhân, tổ chức lẫn tổ quốc của họ, cũng là hợp lẽ tự nhiên không có gì đáng chê trách?

Điều quan trọng khác cũng cần nên hiểu là chính trị dân chủ phải đi đôi với kinh tế tự do, thị trường tự do và kinh tế thị trường là vùng tự do cạnh tranh, là nơi thi thố tài năng, là chỗ thể hiện năng lực lành mạnh của cá nhân tập thể, của địa phương vùng miền, của quốc gia quốc tế...Tâm lý chung của mọi người thường theo thứ tự ưu tiên là ai cũng nghĩ đến mình, gia đình mình, làng xóm mình, quốc gia mình rồi mới đến thế giới, đến vũ trụ bao la.

Do đó, những người nước ngoài, những quốc gia văn minh sống trong cộng đồng nhân loại có thiện tâm muốn giúp Việt Nam thay đổi tốt đẹp hơn nhưng những “yếu tố nước ngoài” không ai sống chết với đổi mới Việt Nam và thiện chí cùng với lòng thương người có mức giới hạn của nó nên người ta cũng không ngần ngại buông tay, bỏ mặc những kẻ ngoan cố ngu dốt, cứ tự cho mình là khôn ngoan và với lối sống, nếp nghĩ khoa học, thực dụng trong nền kinh tế thị trường, người ta cũng không ngần ngại sử dụng ngôn ngữ cầu an cầu tài, nghi thức ngoại giao để chôn đối thủ cạnh tranh tiềm năng trong hoang mộ ảo tưởng chủ nghĩa, để “đối thủ” tự sướng ra miệng “...mình như thế nào ngưòi ta mới mời mình chứ...vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng đuợc nâng cao...” để khuyến khích “đối thủ” ngây thơ bám giữ độc tài như lời nói dối ngọt ngào đẩy đối thủ cạnh tranh vào tử địa.

Cũng nên hiểu thêm rằng tự do, dân chủ, nhân quyền là giá trị chung của nhân loại và thể chế chính trị dân chủ qua thực tế tổ chức cai trị được chứng minh là công cụ hữu hiệu, là nền tảng xây dựng, phát triển có khả năng mang đến dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh trong thời hiện tại. Cũng như theo cách lý giải về hiểu biết, về yêu thương của bản thể lẫn khách thể ở phần mở đầu của bài viết này, thì không có người nước ngoài hay tư tưởng ngoại lai nào hiểu rõ thủ đoạn xảo quyệt của cộng sản Việt Nam hơn người Việt nam và không có yếu tố nước ngoài hay kẻ lai căng nào thánh thiện, cao cả đến mức hy sinh thân mình cho dân tộc, đất nước Việt Nam. Thực tế cuộc sống cho thấy, chỉ có người Việt Nam mới hiểu rõ bản chất lưu manh lẫn gian manh của đảng cộng sản Việt Nam, chỉ có người Việt Nam mới giải thoát được kiếp nạn cộng sản và chỉ có người Việt Nam mang hồn Việt Nam mới sẵn sàng chiến đấu “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” vì giá trị chung tự do, dân chủ, nhân quyền của nhân loại cũng chính là tương lai, là niềm hy vọng vươn lên của đất nước, dân tộc Việt Nam.

Le Nguyen
danlambaovn.blogspot.com
huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »

TC Không Bất Khả Xâm Phạm

Tác giả : Vi Anh

TC khai trừ khỏi Đảng và cất chức Tướng Bành Dũng (Peng Yong), tư lệnh Quân khu Tân Cương chỉ 6 ngày sau xảy ra vụ tấn công ở Thiên An Môn vào 28/10/2013, làm 5 người chết và 40 người bị thương tại nơi được xem là biểu tượng quyền lực của Đảng Nhà Nước TC.

Thế là người dân Duy ngô nhĩ của nước Cộng Hoà Turkestan, theo đạo Hồi, nói tiếng Thổ nhĩ kỳ bị TC thôn tính, sáp nhập và Hán hoá quốc gia dân tộc thành một tỉnh, tỉnh Tân Cương của Trung Quốc, đã đánh đổ huyền thoại TC là bất khả xâm phạm. Người dân Duy ngô nhĩ đã tấn công cảm tử trực tiếp vào công trường Thiên An Môn. Hy sinh cả nhà, người lái chiếc xe sử dụng như bom xăng là Ousmane Hassan cùng với mẹ và vợ đều hy sinh. Tấn công làm sập lan can, ngay cây cầu Kim Thuỷ bắt qua cửa Tử Cấm Thành. Ngay dưới tấm hình rất lớn của người khai nguyên ra TC là Mao Trạch Đông.

Thiên An Môn là một ‘quảng trường’ theo từ CS, tức công trường lớn theo chữ Quốc Ngữ VN, là một yếu khu vô cùng nhậy cảm về nội chính. Đảng Nhà Nước TC liên tục tăng cường công an, mật vụ canh gác, theo dõi kiểm soát vô cùng chặt chẽ, nghiêm nhặt vì đây là nơi diễn ra vụ đàn áp đẫm máu do Quân đội CS dùng xe tăng, súng máy tàn sát phong trào sinh viên đòi dân chủ năm 1989. Đó là một công trường nhiều khách du lịch nhưng TC không đặt một ghế đá nào cho du khách ngồi, tránh tụ tập khó kiềm soát. Ngay trên không gian ão, trên Internet, TC cũng khoá chặc chữ Thiên An Môn, người TQ không thể tìm tài liệu gi về địa danh lịch sử nơi sinh viên TQ lần đầu tiên đứng lên đòi dân chủ bị thảm sát này.

Thế nhưng TC cũng không làm Thiên An Môn trở thành bất khả xâm phạm đối với sắc tộc thiểu số bị TC cướp mất quê hương xứ sở và sáp nhập vào TC, biến người dân Duy ngô nhỉ mất quê hương ngay trên quê cha đất tổ của mình. Người dân Duy ngô nhỉ đấu tranh, chiến đấu “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh’, cảm tử hy sinh lấy cái chết của mình để đánh động lương tâm đồng bào Duy ngô nhĩ đang bi mất nước, bị Hán hoá và đánh động lương tâm nhân dân và chánh quyền trên thế giới tội ác diệt chủng, diệt văn hoá Duy ngô nhĩ, một cách có hệ thống và có tính toán của TC.

Như đã biết trong cuộc chiến cho sự tồn vong, sự độc của một quốc gia dân tộc, mỗi dân tộc có chiến lược, chiến thuật của mình. Nhưng phương tiện đấu tranh, vũ khí chiến đấu căn bản là phải vì nước hy sinh, vì dân chiến đấu.

Nước này không thể chê chiến thuật, chiến lược nước kia được. Giai đoạn này không chê giai đoạn kia được vì tình hình mới thì chiến thuật mới, nhiệm vụ mới. Cây dao ăn trầu của bà giá trầu VN, cây phảng phác cỏ của người nông dân, biểu tình, lãng công của công nhân, blog chánh trị, -- tất cả là phương tiện chiến đấu tranh đấu của người dân yếu chống nhà cầm quyền mạnh.

Người Phật Giáo ở Tây Tạng cũng dùng vũ khí tự thiêu để chiến đấu cho nền độc lập của đất nước và tự do tôn giáo, chống lại TC thôn tính, sáp nhập, cào bằng văn hoá, ngôn ngữ của người thiểu số.

Nếu người Mỹ, người Trung Quốc rơi vào trường hợp quốc gia bị ngoại bang thôn tính, sáp nhập, cào bằng văn hoá, áp bức bóc lột, không một tấc sắt trong tay, thì người Mỹ, người Trung Hoa cũng không còn sự chọn lựa nào khác, cũng sẽ phải chống quân xâm lược. Phải chiến đấu cảm tử, bằng mọi cách với bất cứ giá nào, quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh.

Còn nhớ những nông dân của quân đội đầu tiên của Mỹ trong chiến tranh Độc Lập chống lại chế độ thuộc địa của Anh, dắt con ngựa cày ruộng rẫy theo, mùa đông thiếu vớ, thiếu giày, máu chân chảy thấm đỏ tuyết trắng trên đường hành quân. Thế mà những người yêu nước này đã chiến thắng đội quân tinh nhuệ của Đế Quốc Anh, biến xứ sở này thành một quốc gia hùng mạnh.

Lúc đó người Mỹ đâu có giả đạo đức như một số chánh tri gia bây giờ, sống trong phòng lạnh, ăn cao lương mỹ vị, là những người ngoài cuộc lại lên tiếng “đề nghị, giáo dục” thiên hạ phải đấu tranh ôn hoà, không nên bạo dộng, bạo lực.

Chắc chắn nếu người Trung Quốc và người Mỹ cũng sẽ tấn công cảm tử, chiến đấu sanh tử, mạng đổi mạng với nhà cầm quyền ngoại bang thống trị đang chiếm đóng thủ đô Washington DC, Bắc Kinh. Để đánh động lương tâm công chính của Loài Người, để đánh động lương tâm đồng bào trước cảnh nước mất nhà tan. Để chứng tỏ cho đồng bào biết phong trào kháng chiến, lực lượng kháng chiến hãy còn. hiện hữu. Để báo cho kẻ thù biết họ không bất khả xâm phạm, yếu khu, yếu điểm nào của họ cũng có thể bị tấn công, ngày đêm phải lo sợ.

Như trước cuộc tự thiêu của cả trăm tăng ni Phật tử Tây Tạng. Như vụ người dân Duy ngô nhĩ đã dùng xe mô tô tấn công công an TC gần đây ở Tân Cương. Báo chí Pháp có người tìm cách làm phóng sự tìm hiểu sự tình ở Tân Cương, ở Thanh Hải được cho biết cán bộ, đảng viên, công an mật vụ TC nào bị ‘điều’ về những vùng có những cuộc chiến đấu cảm tử đó của người Tây Tạng, Duy ngô nhĩ là họ sợ, họ chạy chọt để khỏi vào cõi chết.

Ngay trong vụ Thiên an môn mới đây, nhà cầm quyền trung ương cũng vậy, họ rất lo sợ. Họ cố gắng dấu diếm, bao che vụ xe thực dụng SUV tấn công vào Thiên An Môn. Họ nhanh chóng phong tỏa khu vực và dựng một vách rào bao quanh chiếc xe hơi. Bắt, buộc nhà báo xoá bỏ những hình ảnh đó.

Chính người đứng đầu ngành an ninh nội chính của TC, Bộ trưởng Công an, Uỷ viên Bộ Chánh trị Đảng CS/TQ Mạnh Kiến Trụ (Meng Jianzhu), ngày 01/11/2013 lên tiếng chụp mũ phong trào ly khai Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương đứng sau vụ tấn công.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu của TC báo động và hăm doạ bình luận: «Những kẻ khủng bố Tân Cương mở rộng phạm vi hoạt động của chúng. Chúng ta phải quyết tâm mạnh hơn chúng» hay «Những kẻ khủng bố bạo lực là kẻ thù chung của toàn Trung Quốc. Người dân vùng Tân Cương, đặc biệt là người Duy Ngô Nhĩ sẽ là những nạn nhân đầu tiên».

Hình ảnh trên các trang web xã hội của Trung Quốc bị nhanh chóng tháo gỡ. Chỉ còn những trang web của làng dân báo nằm ngoài sự khống chế của giới hữu trách Trung Quốc vẫn tiếp tục được đăng.

Và mấy ngày sau cất chức Tư Lịnh Quân Khu Tân Cương, là giang sơn gấm vóc của người Duy ngô nhĩ bị TC cưỡng chiếm, sáp nhập thành tỉnh Tân Cương. Và TC cấp tốc cử Chính ủy Lưu Lôi, một sĩ quan quân đội kỳ cựu ở quân khu Tân Cương thay thế./. (Vi Anh)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Lời dặn nhau
Sunday, November 10, 2013 2:40:22 PM

Nguyễn Lân Thắng
(Nguồn: RFA)

Trở về nhà trên xe của bộ Công an sau 18 tiếng “làm việc” cùng cơ quan an ninh, tôi đã có một cuộc tranh luận nho nhỏ ngoài biên bản
với các chiến sỹ an ninh về tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, chuyện trao Tuyên bố 258...
Chuyện thì cũng vui vui thôi, nhưng đến cuối cùng chị T cục A67* nhắc nhẹ: “...Anh lưu ý, nói là một chuyện, làm là một chuyện khác nhé...”

Image
Blogger Nguyễn Lân Thắng. (Hình: Facebook)


Lời dặn dò cuối cùng cứ văng vẳng trong đầu làm tôi suy nghĩ mãi, không biết lời dặn này có phải là có ý cho phép tôi cứ nói đi, còn làm nên dè chừng...??! Có một câu chuyện vui thế này: “Cả thế giới đều phải kiêng nể người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm. Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm rồi mới nói. Người Nhật lại sợ Trung Quốc vì Trung Quốc không nói mà làm. Nhưng rồi tất cả chúng nó sợ ai??? Xin thưa, sợ nhất Việt Nam vì Việt Nam nói một đằng làm một nẻo...”

Nói đùa thì là như vậy, nhưng nói thật, tôi vẫn nhớ như in khẩu hiệu “Người cày có ruộng” năm xưa và hình ảnh đám lính mờ mờ cầm khiên đi cưỡng chế đất trên cánh đồng Văn Giang năm 2012. Tôi không thể quên lời hát “có sách mới áo hoa đây là nhờ ơn...” và hình ảnh đám trẻ con dân oan nheo nhóc ngoài vườn hoa hôm nay. Hôm trước thì trên Facebook có bạn nào đó nhắc lại chuyện năm 2010, một vị “tứ trụ” khẳng định tập đoàn Vinashin năm 2013 sẽ có lãi. Cách đây mươi ngày, tập đoàn này lặng lẽ quay về mô hình tổng công ty, và nợ thì chưa biết sẽ thế nào!

Tôi bối rối lắm, trả lời phỏng vấn mấy đài quốc tế rõ ràng rồi mà nhiều bạn bè Facebook cứ trách móc, sao ông chẳng lên tiếng gì nữa, hay là ông đã có thỏa thuận gì chăng? Hình như họ muốn tôi phải hô to lên để tố cáo chế độ, hét to lên để buộc tội chính quyền cầm tù tôi 18 tiếng đồng hồ. Chuyện của tôi nhỏ lắm, đâu đáng nói bằng bao nhiêu việc oan trái trên đất nước này.

Dù thế nào thì một điều rõ ràng là họ đã sợ. Họ sợ cả những điều tôi và bạn bè đã nói và những việc chúng tôi đã làm. Họ rất quan tâm xem tôi gặp ai, ở đâu, làm gì. Họ có thể tạm chấp nhận thả cho tôi tự do một thời gian vì sức ép của truyền thông quốc tế và hoàn toàn có thể bắt tôi trở lại bất cứ lúc nào mà họ muốn bằng những bản án nặng nề. Vâng, tôi biết. Tôi biết quá rõ những bản án trước đây cho những con người, chỉ vì muốn nói, muốn hát, hay muốn gửi gắm khát vọng vào thơ ca mà phải trả giá bằng cả cuộc đời trong tù ngục. Tôi biết quá rõ những điều tôi nói, những việc tôi làm mà chỉ bị câu lưu thế này là một sự “nhân nhượng” không hề nhẹ. Cảm ơn các anh chị đã lắng nghe và ghi chép tỉ mỉ từng lời nói của tôi, ít ra ta đã được nói với nhau một lần sòng phẳng. Nhưng có lẽ các anh chị vẫn tiếc là bằng ngần ấy thời gian, nhưng chẳng thể thuyết phục gì ở tôi, và tôi thì cũng tiếc, tiếc là tôi nói còn kém quá, chắc là anh chị cũng chẳng thay đổi được chút gì. Tôi biết công việc của các anh chị vất vả vô cùng, phải có một tình yêu và niềm tin mãnh liệt thế nào thì các anh chị mới ngày đêm làm việc như thế được. Nhưng xin các anh chị hãy hiểu, những gì tôi nói, những việc tôi đã làm cũng chỉ vì có những kẻ đáng ra phải làm được những gì như đã nói, đáng ra phải biết xấu hổ trước nhân dân... họ đã tự tước bỏ niềm tin từ tôi và bao nhiêu người khác nữa mất rồi.

Là những người có trọng trách trong ngành an ninh, chắc hẳn các anh chị được đào tạo bài bản và biết rất rõ về Karl Marx. Mộ của Karl Marx nằm trong nghĩa trang Highgate tại London vì ông đã sống lưu vong và qua đời tại đây. Ðó là một nghĩa trang rất thanh bình với những kiến trúc Gothic tuyệt đẹp thời Victoria. Là cha đẻ của chủ nghĩa xã hội, trên bia mộ của ông có khắc một dòng chữ rất nổi tiếng: Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!** Nhưng ít người để ý bên dưới tấm bia này còn khắc một dòng chữ khác: Nhà triết học chỉ cố gắng kiến giải thế giới theo nhiều cách khác nhau, nhưng điều quan trọng là phải cải tạo nó.***

Tôi thì không có tham vọng cải tạo thế giới. Tôi chỉ muốn làm gì đó để người nông dân mình không còn bị mất đất, trẻ em chúng ta không bị tiêm chủng nhầm thuốc co giãn tử cung và ngư dân ra biển của mình đánh cá mà không phải lạy thằng Tàu... Tôi không đánh giá cao kết quả thực tiễn những lý thuyết của ông Marx, nhưng tôi sẽ nghe ông ấy về chuyện là phải hành động. Chỉ nói không thôi chưa đủ giải quyết vấn đề.

Tôi là người vô thần, tôi tôn trọng niềm tin hay tín ngưỡng của người khác. Nhưng nếu bắt tôi phải tin vào những điều mà tôi không phục, bắt tôi phải yêu những điều mà tôi ghét thì không bao giờ các anh chị nhé!

Chú thích:
* A67: Cục Bảo vệ chính trị VI (Chống khủng bố, phản động trong nước).
** Workers of all lands, unite.
*** The philosopher have only interpreted the world in the various ways. The point however is to change it.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Nhà nước bỏ trống

Ngô Nhân Dụng

Tuần trước có một một blogger dân Hà Nội bị nhà công an bắt giữ ở phi trường Nội Bài, sau một chuyến đi ra ngoại quốc dài mấy tháng, được coi là để vận động cho dân quyền. Anh Nguyễn Lân Thắng cho biết đã đem bản Tuyên Bố 258 của các mạng lưới, blogger Việt Nam đưa cho nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới. Bản Tuyên bố 258 tố cáo điều số 258 trong Luật Hình Sự, một điều luật vẫn được dùng để ngăn cấm quyền tự do ngôn luận của dân Việt.

Anh Thắng đã thu sẵn lời tuyên bố “Tôi bị bắt” gửi cho một người bạn; với lời dặn dò nếu anh bị bắt giữ thì đem công bố. Người bạn làm đúng lời, cho nên trong lúc anh đang bị công an giữ thì hình ảnh của anh vẫn xuất hiện trên facebook, nói rằng: “Khi các bạn xem video này, thì chắc chắn tôi đã bị an ninh bắt giữ...” Kỹ thuật thông tin hiện đại khiến câu chuyện một người bị bắt ở Hà Nội thì trong mấy phút cả thế giới được nghe tin! Mà tin tức lại do chính nạn nhân loan báo, hiệu quả càng mạnh hơn.

Câu chuyện rất đáng nhớ trong vụ bắt anh Nguyễn Lân Thắng một ngày rồi lại thả, là cảnh các bạn bè và gia đình anh đến đón anh ở sân bay (ngày 30 tháng 10 năm 2013). Họ đã giúp anh loan báo cho cả thế giới biết tin chính anh anh bị bắt. Sau đó, ông Nguyễn Tường Thụy, một người bạn của anh Thắng, là một trong những người thân đến Nội Bài đón anh, kể lại thái độ và hành động của đám công an ở phi trường như thế nào. Theo ông Thụy kể, các bạn bè và vợ anh Thắng chờ mãi không thấy anh đi ra, đã “tìm cách vào được phòng hướng dẫn thủ tục xuất nhập cảnh ở sân bay Nội Bài” để trực tiếp hỏi họ rằng “An ninh sân bay có giữ anh Thắng hay không?” Họ cũng muốn biết anh bị bắt vì lý do nào, và bao giờ hy vọng được thả.

Phản ứng của các nhân viên an ninh rất nhậy bén. Họ trả lời ngay, bảo nhóm của ông Thụy ra ngoài chờ mươi phút, họ sẽ tìm thêm tin tức rồi sẽ trả lời. Sau khi các công dân ngoan ngoãn ra ngoài chờ, mười phút, hai mươi phút, họ sốt ruột đi vào phòng xuất nhập cảnh. Lúc đó họ mới khám phá ra: Văn phòng bỏ trống. Không có nhân viên nào để trả lời các thắc mắc; vì không có ai ở đó cả. Nguyễn Tường Thụy, một người ký tên trong Tuyên Bố 258, thuật lại chuyện trên với lời chú thích: Cảnh trốn mặt của các quan chức nhà nước vẫn thường xuyên xảy ra. Mỗi lần các cơ quan bị dân đến chất vấn, họ không biết làm sao trả lời, bèn trốn biệt! Họ để mặc cho khách vào, “làm chủ cái văn phòng làm việc của họ!”

Bây giờ người ta mới hiểu ý nghĩa sâu xa của cái khẩu hiệu “Nhân dân làm chủ!” Nó nghĩa là có lúc nhà nước vắng mặt, hoàn toàn vắng mặt; mời nhân dân vào các gian phòng bỏ trống, cứ tự nhiên như người Hà Nội! Ai có thắc mắc gì cứ việc hỏi và trả lời lẫn cho nhau nghe!

Cảm ơn ông Nguyễn Tường Thụy cho biết hiện tượng “nhà nước bỏ trống” trên đây. Biết một câu chuyện lý thú như vậy, tuần trước tôi đem kể ngay cho một người bạn mới từ Huế qua chơi nước Mỹ. Tôi đoán chị nghe cảnh “nhà nước bỏ trống” sẽ “ấn tượng” lắm! Không ngờ, nghe xong chị còn cười lớn, nói thêm: “Ðó là chuyện bình thường!” Chị giải thích, đó không phải chuyện hàng ngày ở huyện đâu. Nó lan tràn khắp nơi, lên cấp tỉnh, lên tới trung ương, lên cấp toàn quốc!

Nhà nước của nhân dân ta hiện nay đang hoàn toàn bỏ trống!

Cảnh nhà nước bỏ trống này thể hiện trong công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng năm. Người bạn tôi nêu lên một số câu hỏi để gợi cho mọi người nhìn thấy rõ. Có ai biết việc phát triển công nghiệp hiện nay có gì mới hay không? Những biện pháp cải tổ kinh tế sắp tới là cái gì, có nghe nói không? Nhà nước sẽ làm gì để giảm bớt nạn thất nghiệp ở nông thôn, họ đã công bố chưa? Có ai biết hiện nay Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo nước ta có chương trình nào để cung cấp nhân lực theo nhu cầu phát triển kinh tế trong mười năm tới hay không? Có chương trình xã hội nào để giảm bớt chênh lệch về thu nhuận, bất công trong xã hội hay không? Với hàng trăm câu hỏi như vậy, càng hỏi càng thấy câu trả lời chung là: Không biết. Không rõ. Thấy có nói nhưng chưa rõ ràng. Ðể chờ coi các nghị quyết, chỉ thị xem có gì mới không! Nếu không, tức là vẫn như cũ! Ðồng chí Vũ Như Cẩn lúc nào cũng có mặt để tiếp chuyện nhân dân! Mà nhân dân cũng biết nếu mình có thắc mắc, có hỏi han điều gì thì cuối cùng cũng chỉ được gặp đồng chí Vũ Như Cẩn! Cho nên nhân dân cũng “buông xuôi” cho nó đỡ “rách việc.”

Trong tình trạng không ai biết mình phải làm cái gì mới, hành động tự nhiên của tất cả các cỗ xe là cứ chạy trên con đường cũ, theo tốc độ cũ, tới đâu hay đó. Người bạn tôi mô tả cảnh tượng guồng máy cai trị ở nước ta, từ trên xuống dưới, là “buông xuôi.” Không ai dám, mà cũng không ai muốn làm cái gì ngoài những thói quen hàng ngày vẫn làm. Cứ coi như chung quanh chẳng có vấn đề nào đáng lo ngại hết. Nếu có gì bất thường, cứ theo chủ nghĩa Mặc kệ. Các ông trên chóp bu mở miệng ra là hùng hôn nói phải “đột phá,” nhưng tay chân họ thì cứng đơ, không ngó ngoáy! Ở dưới, không ai chờ đợi cái gì khác, cũng không ai hy vọng gì mới cả.

Người bạn tôi nêu một thí dụ: Giữa Tháng Sáu năm ngoái, ông Nguyễn Phú Trọng ban hành một bản “Kết luận Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.” Ðể chống tham nhũng cho mạnh, ông tổng bí thư chính thức loan báo: “Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí tổng bí thư làm trưởng ban.” Thế bây giờ có ai còn nhớ có một cái Ban Chỉ đạo Trung ương đó hay không? Ai cũng quên rồi. Không cần ngó vô coi, cũng thấy một cảnh tiêu điều như một căn phòng hoàn toàn bỏ trống. Dân chúng chẳng ai thắc mắc!

Một thí dụ khác: Năm ngoái, ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lên tiếng than rằng hiện nay “không chỉ có một bầy sâu đang lũng đoạn triều đình mà ở đó còn có kẻ âm mưu cõng rắn cắn gà nhà, rước voi dày mả tổ.” Nhưng tới năm nay, đã có ai bắt được con sâu nào chưa? Rồi chính ông Sang đã đi Bắc Kinh ký một loạt các hiệp ước với các đồng chí anh em, rước về nước cả một đàn voi. Khi thực hiện các hiệp ước do ông ký, trong nhiều năm sắp tới các đàn voi lớn voi nhỏ sẽ còn tiếp tục kéo sang nước ta. Chẳng thấy ai thắc mắc chi hết! Ðiều này cho thấy không những cả căn nhà đang bỏ trống mà đầu óc của con người cũng bị bỏ trống nữa! Người dân được tập thói quen chứng kiến và chịu đựng không có phản ứng. Tình trạng chung là “tê liệt,” trong hành động cũng như trong ý tưởng.

Vì vậy, chúng ta phải biết ơn và cổ võ những nhà trí thức đang bày tỏ những ý kiến phản kháng trước tất cả các bất công xã hội và trước các hành động thiệt hại cho quyền lợi của dân tộc. Giới trí thức Việt Nam, đặc biệt là các công dân mạng, đang giúp cho ngôi nhà Việt Nam bớt trống vắng. Họ khuấy động cả những cái đầu bỏ trống, giúp cho nhiều người tập thói quen suy nghĩ, phán đoán. Họ gây lòng can đảm bằng cách làm gương, dám có ý kiến và dám nêu ý kiến. Nhờ hoạt động của các công dân mạng, người Việt Nam sẽ bớt sợ hãi.

Ngày xưa Mạnh Tử sống vào thời nhà Chu phong kiến nhưng vẫn khuyên người ta đừng sợ hãi, đừng chịu nhục. Ông đề nghị một quy tắc cư xử của kẻ sĩ: “Không sợ hãi các vua chư hầu; hễ nghe họ nói điều sai quấy thì phản đối ngay.” - Vô nghiêm chư hầu, ác thính chí tất phản chi. (Chương Công Tôn Sửu, thượng). Vào thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên mà có Internet thì chắc ông thầy Mạnh này cũng là một blogger chứ không tránh được!

Tại sao Mạnh Tử, một người từng đi thăm viếng, dạy dỗ hết vua chư hầu này đến vua khác, để mong họ dùng ý kiến của mình, mà lại dám mạnh miệng nói năng như vậy? Có thể ông là người dũng cảm, xứng đáng bậc đại trượng phu “uy vũ bất năng khuất.” Cũng có thể là vì chế độ phong kiến thời ông sống nó không đến nỗi ác như bây giờ. Chế độ phong kiến còn cho phép người ta suy nghĩ tự do, nó không đặt ra những điều luật như điều 258, kết “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.” Guồng máy nhà nước đời nhà Chu chưa bị bỏ trống. Mà đầu óc con người thời đó còn được phép suy nghĩ, không bị bắt buộc phải bỏ trống như trong chế độ cộng sản bây giờ.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nga trở lại Việt Nam

HÀ TƯỜNG CÁT

Chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng Thống Nga Vladimir Putin đầu tuần này đánh dấu sự phục hồi quan hệ hữu nghị giữa hai nước
đã lơi lỏng trong 20 năm không phải vì lý do chính trị mà vì điều kiện kinh tế sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ.

Image
Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta (đứng giữa) nói chuyện với thủy thủ đoàn trên chiến hạm USNS Richard E. Byrd (T-AKE-4)
khi chiến hạm đa dụng thuộc hạm đội 7 Hoa Kỳ này vào thăm vịnh Cam Ranh năm ngoái. (Hình: Jim Watson/AFP/Getty Images)


Đối với Nga, đông thái này chỉ là một phần trong chiến lược khôi phục vai trò cường quốc hàng đầu trên thế giới mà Tổng Thống Putin đã muốn thực hiện từ nhiều năm qua. Xác định được vai trò của mình trong vấn đề Syria, nước đồng minh duy nhất của Nga ở Trung Đông, Tổng Thống Putin đang có thể nương đà thành công về ngoại giao ấy đẩy mạnh quan hệ với những quốc gia khác, trong đó Việt Nam là trường hợp tốt nhất để khởi sự tạo lập một đầu cầu vững chắc.

Cùng với chuyến thăm Việt Nam, ông cũng tới Nam Hàn và đề xướng việc tái lập “Con Đường Tơ Lụa”, tên của con đường buôn bán xuyên Trung Á từ nhiều trăm năm lịch sử, bằng một thiết lộ xuyên Tây Bá Lợi Á nối liền Âu Châu với Đông Á. Theo tin của các cơ quan truyền thông quốc tế, đường sắt này sẽ đi ngang Bắc Hàn đề chấm dứt ở cảng Busan, Nam Hàn. Phần đóng góp của ba nước cho dự án là: Nga 36%, Nam Hàn 34% và Bắc Hàn 30%. Mặc dầu còn rất nhiều trở lực về chính trị cũng như kinh tế nhưng hai nhà lãnh đạo Nga – Hàn đều đồng ý ký kết bản thỏa thuận sơ bộ cho kế hoạch có viễn tượng giá trị lớn lao này.

Đồng thời Nga cũng đang vươn cánh tay tới Ai Cập trong tình hình bang giao Mỹ - Ai Cập đang gặp rắc rối vì vụ đảo chính quân sự lật đổ Tổng Thống dân cử Mohammed Mursi. Ngoại Trưởng Sergei Lavrov và Bộ Trưởng Quốc Phòng Sergei Shoigu hôm Thứ Tư cùng lúc đến Cairo thảo luận về việc gia tăng mối quan hệ và có thể cả việc bán vũ khí cho Ai Cập. Tuần dương hạm mang hỏa tiễn Variag, soái hạm của hạm đội Thái Bình Dương, là chiến hạm Nga đầu tiên từ 20 năm đến bến Ai Cập và được nổ súng đón chào tại cảng Alexandria.

Trong Chiến Tranh Lạnh, Ai Cập là đồng minh chính của Liên Xô ở Trung Đông, nhận được sự ủng hộ về ngoại giao, giúp cố vấn quân sự, và cung cấp vũ khí, hỗ trợ trong 3 cuộc chiến tranh với Israel. Nhưng sau đó năm 1972 Tổng Thống Anwar Sadat đã trục xuất toàn bộ phái đoàn 20,000 cố vấn quân sự Liên Xô, mở đường đi đến hiệp ước hòa bình với Israel và trở thành đồng minh của Hoa Kỳ.

Ngoại Trưởng Lavrov tuyên bố với nhật báo Al-Ahram rằng phát triển quan hệ với Ai Cập là ưu tiên hàng đầu của điện Kremlin bây giờ. Sergei Markov, cố vấn đối ngoại của Tổng Thống Putin nói rằng: “Nga trở lại với Thế Giới Á Rập vì các quốc gia Á Rập yêu cầu chúng tôi như thế. Họ muốn có một nước bạn tin cậy hơn là Hoa Kỳ và Saudi Arabia”.

Nhiều người Việt Nam chống Cộng Sản cho đến bây giờ vẫn không có thiện cảm với nước Nga và hãy còn gọi là Liên Xô, mặc dầu mọi hoàn cảnh và tình thế đã không còn như cũ qua hơn 20 năm. Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ năm 1991, một số nước Cộng Hòa Xô Viết cũ trở thành những quốc gia độc lập. Phần còn lại là Công Hòa Liên Bang Nga với diện tích 17 triệu km2, lớn nhất thế giới, trải rộng từ Âu Châu qua Viễn Đông trên 9 múi giờ, dân số 143 triệu gồm nhiều sắc dân phức tạp. Liên Bang Nga là một tập hợp 21 nước cộng hòa và 62 vùng lãnh thổ với nhiều quy chế khác nhau, trong đó Cộng Hòa Nga giữ vị trí và vai trò trung tâm. Thông thường người ta khó có thể phân biệt được Nga và Liên Bang Nga, ngoại trừ khi nói đến sinh hoạt của một số cơ chế chính trị.

Tổng Thống Boris Yeltsin là người đã có công xóa bỏ thể chế cộng sản, dân chủ hóa nước Nga và áp dụng đường lối kinh tế thị trường. Nhưng việc mau chóng tư hữu hóa đã tạo nên một nhóm “đại gia” quá giầu có và nắm quyền lực thao túng trong nhiều ngành hoạt động, đất nước Nga trở nên hỗn loạn và nền kinh tế suy sụp. Chính trong giai đoạn này Nga đã giảm dần hoạt động tại căn cứ quân sự ở vịnh Cam Ranh và cuối cùng hoàn toàn rút khỏi đây năm 2002 khi không đồng ý đòi hỏi trả tiền thuê của Việt Nam mỗi năm $200 triệu.

Tổng Thống Vladimir Putin tái lập được trật tự, ổn định và hồi phục kinh tế cho nước Nga, tuy nhiên chính sách độc đoán của ông bị Tây Phương chỉ trích, nhất là từ khi ông tái ứng cử nhiệm kỳ thứ ba. Trong thực tế nước Nga không còn là chế độ cộng sản nhưng cũng chưa bao giờ trở thành một xã hội dân chủ và một nền kinh tế tư bản theo mẫu mực Tây Phương.

Bang giao Nga – Việt Nam qua một thời gian xuống tới mức rất thấp, cả về chính trị cũng như kinh tế, liên hệ đáng kể duy nhất còn tồn tại là Việt Nam vẫn còn phải trông cậy vào Nga trong ngành khai thác và sản xuất dầu khí. Tình trạng đối đầu tranh chấp biển đảo với Trung Quốc đưa Việt Nam tới chính sách mở rộng quan hệ với tất cả các quốc gia khu vực và trên thế giới. Thực thi chính sách này, Việt Nam tìm thấy ở Nga những điều kiện phù hợp cũng như vai trò thích ứng hơn là Hoa Kỳ trên nhiều mặt. Nga không bỏ qua cơ hội này, mở đầu bằng việc bán một số vũ khí cho Việt Nam, tiếp theo là đề nghị một hình thức trở lại căn cứ Cam Ranh.

Từ lâu Nga muốn phục hồi vị trí cường quốc hải quân, dù chỉ tới hạng nhì sau Hoa Kỳ. Khi Hoa Kỳ đề ra chiến lược chuyển trục về châu Á, Nga cũng thấy rằng họ cần và có thể làm như vậy. Hải quân Nga được phân bổ trong 4 hạm đội, Bắc Đại Tây Dương là hạm đội quan trọng nhất; hạm đội Baltic, hạm đội Hắc Hải. Hạm đội Thái Bình Dương đặt căn cứ ở cảng Vladivostok có thường trực 10 chiến hạm chủ lực bao gồm tuần dương hạm và khu trục hạm phóng hỏa tiễn, tàu đổ bộ và khoảng 20 chiến hạm các loại khác.

Tháng 7 vừa qua, Phó Đô Đốc Sergei Avakyants, tư lênh hạm đội Thái Bình Dương, trong một cuộc phỏng vấn của truyền hình Nga, cho biết từ 2014 hạm đội này sẽ được tăng cường thêm nhiều chiến hạm, lần đầu tiên kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Theo ông trong số các chiến hạm mới có cả chiến hạm xung kích thủy bộ lớp Mistral mà Nga đã ký hợp đồng liên doanh với Pháp sản xuất 4 chiếc năm 2011, tàu ngầm nguyên tử thế hệ mới, lớp Borey mang hỏa tiễn.
Nhưng hạm đội này không có căn cứ tiếp liệu nào khác trở thành cô lập trong vùng biển Tây Bắc Thái Bình Dương và như thế căn cứ Cam Ranh trở thành nhu cầu thiết yếu nếu hải quân Nga muốn đóng một vai trò trên tất cả các đại dương.

Hồi tháng 3, trong chuyến thăm viếng Việt Nam, bộ trưởng quốc phòng Sergei Shoigu đã thảo luận về kế hoạch tái tạo Cam Ranh thành một căn cứ sửa chữa và tiếp vận. Việt Nam dễ dàng chấp thuận để Nga trở lại Cam Ranh hơn là Hoa Kỳ vì không muốn trở thành sự khiêu khích đối với Trung Quốc. Hơn nữa Hoa Kỳ ở trong tình thế phải dè dặt cân nhắc và có thể phải chậm trễ mới đi tới quyết định. Nga không ở hoàn cảnh tế nhị đó và sự hiện diện của Nga không thể bị Trung Quốc ngăn trở dù hiểu rằng sẽ trở thành cái gai đối với họ. Nói cách khác, Nga có thể đem lại cho Việt Nam những gì khó tìm từ Hoa Kỳ.

Như thế, chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng Thống Putin, bên cạnh việc ký kết thỏa hiệp hợp tác toàn diện giữa hai nước và những thỏa thuận về trợ giúp quân sự, khai thác dầu khí, phát triển điện nguyên tử, còn có giá trị bảo đảm cho Việt Nam về mặt ngoại giao cũng như thực tế nếu xảy ra va chạm với Trung Quốc.

Cũng nên ghi nhận rằng trong lịch sử, Việt Nam đã từng xung đột quân sự với tất cả các nước lớn từ Trung Quốc tới, Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, nhưng chưa bao giờ có chiến tranh với Nga. Ở cách xa nhau về mặt địa lý là một điều kiện thuận lợi để giữa hai quốc gia không xảy ra những tranh chấp. (HC)


Chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng Thống Nga Vladimir Putin đầu tuần này đánh dấu sự phục hồi quan hệ hữu nghị giữa hai nước đã lơi lỏng trong 20 năm không phải vì lý do chính trị mà vì điều kiện kinh tế sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ.


Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta (đứng giữa) nói chuyện với thủy thủ đoàn trên chiến hạm USNS Richard E. Byrd (T-AKE-4) khi chiến hạm đa dụng thuộc hạm đội 7 Hoa Kỳ này vào thăm vịnh Cam Ranh năm ngoái. (Hình: Jim Watson/AFP/Getty Images)


Đối với Nga, đông thái này chỉ là một phần trong chiến lược khôi phục vai trò cường quốc hàng đầu trên thế giới mà Tổng Thống Putin đã muốn thực hiện từ nhiều năm qua. Xác định được vai trò của mình trong vấn đề Syria, nước đồng minh duy nhất của Nga ở Trung Đông, Tổng Thống Putin đang có thể nương đà thành công về ngoại giao ấy đẩy mạnh quan hệ với những quốc gia khác, trong đó Việt Nam là trường hợp tốt nhất để khởi sự tạo lập một đầu cầu vững chắc.

Cùng với chuyến thăm Việt Nam, ông cũng tới Nam Hàn và đề xướng việc tái lập “Con Đường Tơ Lụa”, tên của con đường buôn bán xuyên Trung Á từ nhiều trăm năm lịch sử, bằng một thiết lộ xuyên Tây Bá Lợi Á nối liền Âu Châu với Đông Á. Theo tin của các cơ quan truyền thông quốc tế, đường sắt này sẽ đi ngang Bắc Hàn đề chấm dứt ở cảng Busan, Nam Hàn. Phần đóng góp của ba nước cho dự án là: Nga 36%, Nam Hàn 34% và Bắc Hàn 30%. Mặc dầu còn rất nhiều trở lực về chính trị cũng như kinh tế nhưng hai nhà lãnh đạo Nga – Hàn đều đồng ý ký kết bản thỏa thuận sơ bộ cho kế hoạch có viễn tượng giá trị lớn lao này.

Đồng thời Nga cũng đang vươn cánh tay tới Ai Cập trong tình hình bang giao Mỹ - Ai Cập đang gặp rắc rối vì vụ đảo chính quân sự lật đổ Tổng Thống dân cử Mohammed Mursi. Ngoại Trưởng Sergei Lavrov và Bộ Trưởng Quốc Phòng Sergei Shoigu hôm Thứ Tư cùng lúc đến Cairo thảo luận về việc gia tăng mối quan hệ và có thể cả việc bán vũ khí cho Ai Cập. Tuần dương hạm mang hỏa tiễn Variag, soái hạm của hạm đội Thái Bình Dương, là chiến hạm Nga đầu tiên từ 20 năm đến bến Ai Cập và được nổ súng đón chào tại cảng Alexandria.

Trong Chiến Tranh Lạnh, Ai Cập là đồng minh chính của Liên Xô ở Trung Đông, nhận được sự ủng hộ về ngoại giao, giúp cố vấn quân sự, và cung cấp vũ khí, hỗ trợ trong 3 cuộc chiến tranh với Israel. Nhưng sau đó năm 1972 Tổng Thống Anwar Sadat đã trục xuất toàn bộ phái đoàn 20,000 cố vấn quân sự Liên Xô, mở đường đi đến hiệp ước hòa bình với Israel và trở thành đồng minh của Hoa Kỳ.

Ngoại Trưởng Lavrov tuyên bố với nhật báo Al-Ahram rằng phát triển quan hệ với Ai Cập là ưu tiên hàng đầu của điện Kremlin bây giờ. Sergei Markov, cố vấn đối ngoại của Tổng Thống Putin nói rằng: “Nga trở lại với Thế Giới Á Rập vì các quốc gia Á Rập yêu cầu chúng tôi như thế. Họ muốn có một nước bạn tin cậy hơn là Hoa Kỳ và Saudi Arabia”.

Nhiều người Việt Nam chống Cộng Sản cho đến bây giờ vẫn không có thiện cảm với nước Nga và hãy còn gọi là Liên Xô, mặc dầu mọi hoàn cảnh và tình thế đã không còn như cũ qua hơn 20 năm. Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ năm 1991, một số nước Cộng Hòa Xô Viết cũ trở thành những quốc gia độc lập. Phần còn lại là Công Hòa Liên Bang Nga với diện tích 17 triệu km2, lớn nhất thế giới, trải rộng từ Âu Châu qua Viễn Đông trên 9 múi giờ, dân số 143 triệu gồm nhiều sắc dân phức tạp. Liên Bang Nga là một tập hợp 21 nước cộng hòa và 62 vùng lãnh thổ với nhiều quy chế khác nhau, trong đó Cộng Hòa Nga giữ vị trí và vai trò trung tâm. Thông thường người ta khó có thể phân biệt được Nga và Liên Bang Nga, ngoại trừ khi nói đến sinh hoạt của một số cơ chế chính trị.

Tổng Thống Boris Yeltsin là người đã có công xóa bỏ thể chế cộng sản, dân chủ hóa nước Nga và áp dụng đường lối kinh tế thị trường. Nhưng việc mau chóng tư hữu hóa đã tạo nên một nhóm “đại gia” quá giầu có và nắm quyền lực thao túng trong nhiều ngành hoạt động, đất nước Nga trở nên hỗn loạn và nền kinh tế suy sụp. Chính trong giai đoạn này Nga đã giảm dần hoạt động tại căn cứ quân sự ở vịnh Cam Ranh và cuối cùng hoàn toàn rút khỏi đây năm 2002 khi không đồng ý đòi hỏi trả tiền thuê của Việt Nam mỗi năm $200 triệu.

Tổng Thống Vladimir Putin tái lập được trật tự, ổn định và hồi phục kinh tế cho nước Nga, tuy nhiên chính sách độc đoán của ông bị Tây Phương chỉ trích, nhất là từ khi ông tái ứng cử nhiệm kỳ thứ ba. Trong thực tế nước Nga không còn là chế độ cộng sản nhưng cũng chưa bao giờ trở thành một xã hội dân chủ và một nền kinh tế tư bản theo mẫu mực Tây Phương.

Bang giao Nga – Việt Nam qua một thời gian xuống tới mức rất thấp, cả về chính trị cũng như kinh tế, liên hệ đáng kể duy nhất còn tồn tại là Việt Nam vẫn còn phải trông cậy vào Nga trong ngành khai thác và sản xuất dầu khí. Tình trạng đối đầu tranh chấp biển đảo với Trung Quốc đưa Việt Nam tới chính sách mở rộng quan hệ với tất cả các quốc gia khu vực và trên thế giới. Thực thi chính sách này, Việt Nam tìm thấy ở Nga những điều kiện phù hợp cũng như vai trò thích ứng hơn là Hoa Kỳ trên nhiều mặt. Nga không bỏ qua cơ hội này, mở đầu bằng việc bán một số vũ khí cho Việt Nam, tiếp theo là đề nghị một hình thức trở lại căn cứ Cam Ranh.

Từ lâu Nga muốn phục hồi vị trí cường quốc hải quân, dù chỉ tới hạng nhì sau Hoa Kỳ. Khi Hoa Kỳ đề ra chiến lược chuyển trục về châu Á, Nga cũng thấy rằng họ cần và có thể làm như vậy. Hải quân Nga được phân bổ trong 4 hạm đội, Bắc Đại Tây Dương là hạm đội quan trọng nhất; hạm đội Baltic, hạm đội Hắc Hải. Hạm đội Thái Bình Dương đặt căn cứ ở cảng Vladivostok có thường trực 10 chiến hạm chủ lực bao gồm tuần dương hạm và khu trục hạm phóng hỏa tiễn, tàu đổ bộ và khoảng 20 chiến hạm các loại khác.

Tháng 7 vừa qua, Phó Đô Đốc Sergei Avakyants, tư lênh hạm đội Thái Bình Dương, trong một cuộc phỏng vấn của truyền hình Nga, cho biết từ 2014 hạm đội này sẽ được tăng cường thêm nhiều chiến hạm, lần đầu tiên kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Theo ông trong số các chiến hạm mới có cả chiến hạm xung kích thủy bộ lớp Mistral mà Nga đã ký hợp đồng liên doanh với Pháp sản xuất 4 chiếc năm 2011, tàu ngầm nguyên tử thế hệ mới, lớp Borey mang hỏa tiễn.
Nhưng hạm đội này không có căn cứ tiếp liệu nào khác trở thành cô lập trong vùng biển Tây Bắc Thái Bình Dương và như thế căn cứ Cam Ranh trở thành nhu cầu thiết yếu nếu hải quân Nga muốn đóng một vai trò trên tất cả các đại dương.

Hồi tháng 3, trong chuyến thăm viếng Việt Nam, bộ trưởng quốc phòng Sergei Shoigu đã thảo luận về kế hoạch tái tạo Cam Ranh thành một căn cứ sửa chữa và tiếp vận. Việt Nam dễ dàng chấp thuận để Nga trở lại Cam Ranh hơn là Hoa Kỳ vì không muốn trở thành sự khiêu khích đối với Trung Quốc. Hơn nữa Hoa Kỳ ở trong tình thế phải dè dặt cân nhắc và có thể phải chậm trễ mới đi tới quyết định. Nga không ở hoàn cảnh tế nhị đó và sự hiện diện của Nga không thể bị Trung Quốc ngăn trở dù hiểu rằng sẽ trở thành cái gai đối với họ. Nói cách khác, Nga có thể đem lại cho Việt Nam những gì khó tìm từ Hoa Kỳ.

Như thế, chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng Thống Putin, bên cạnh việc ký kết thỏa hiệp hợp tác toàn diện giữa hai nước và những thỏa thuận về trợ giúp quân sự, khai thác dầu khí, phát triển điện nguyên tử, còn có giá trị bảo đảm cho Việt Nam về mặt ngoại giao cũng như thực tế nếu xảy ra va chạm với Trung Quốc.

Cũng nên ghi nhận rằng trong lịch sử, Việt Nam đã từng xung đột quân sự với tất cả các nước lớn từ Trung Quốc tới, Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, nhưng chưa bao giờ có chiến tranh với Nga. Ở cách xa nhau về mặt địa lý là một điều kiện thuận lợi để giữa hai quốc gia không xảy ra những tranh chấp. (HC)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Lệnh đảng hay lòng dân?

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Quốc Hội Việt Nam sắp bỏ phiếu thông qua bản Hiến pháp 2013.

Cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lẫn Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đều quảng cáo cho văn kiện này.
Tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) Ông Trọng tuyên bố rằng bản Dự thảo Hiến pháp mới đã được Trung ương xem xét kỹ và hoàn thiện
để đưa ra Quốc hội thông qua, sau khi công dân toàn quốc đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị.
Ngày 21 tháng 10, khi tuyên bố khai mạc kỳ họp Quốc hội, Ông Nguyễn Sinh Hùng cũng tỏ ý tin tưởng rằng bản Dự thảo Hiến pháp cũng như
Luật Ðất đai (sửa đổi) sẽ được thông qua thuận lợi, “đánh dấu một bước hoàn thiện quan trang của thể chế chính trị của Nhà nước ta.”

Image
Một phiên họp Quốc Hội Việt Nam ở Hà Nội hôm 21 Tháng Mười. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Ban biên tập bản Dự thảo Hiến pháp cũng đã thảo ra bản giải trình dày 150 trang quảng cáo cho công trình của mình, nêu rõ một số vấn đề được trao đổi, tranh luận, như về danh xưng của nước Việt Nam (vẫn giữ danh hiện nay), Ðiều 4 vẫn được giữ với cách thể hiện khác trước ra sao, kinh tế vẫn theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sở hữu nhà nước là chủ đạo, tài nguyên quốc gia trong đó có ruộng đất vẫn đều thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý. Bản giải trình huênh hoang rằng đã tiếp nhận được 26,090,828 ý kiến của cử tri, đã cân nhắc lựa chọn đưa vào dự thảo những ý kiến có giá trị nhất. Vẫn là kiểu quảng cáo kiểu đại ngôn!

Ðể làm yên lòng các ông bà nghị còn phân vân, theo báo Tuổi Trẻ ngày 24 tháng 10, trong cuộc gặp cử tri thủ đô, rồi sau đó trong cuộc họp ở tổ đại biểu Quốc hội sáng 23 tháng 10, ông Nguyễn Phú Trọng còn lên giọng quảng cáo rằng, “Bản dự thảo đã tiếp cận đến chân lý, đã thể hiện khát vọng, hào khí của nhân dân.”

Thế nhưng 14,785 công dân, phần đông là trí thức, sinh viên, đã ký kiến nghị không những bác bỏ dứt khoát những nội dung chủ yếu của bản dự thảo mà còn đưa ra một bản dự thảo khác để so sánh và đối chiếu, nhưng lãnh đạo đã cố tình làm ngơ, không mảy may đếm xỉa đến, cao ngạo phủ định toàn bộ, còn coi là tài liệu phản động, không được phổ biến công khai, chính thức.

Ngay trong ban biên tập bản dự thảo cũng có những tiếng nói không đồng tình với bản dự thảo. Theo Tuổi Trẻ số ra ngày 24 tháng 10, 2013, Ðại biểu Trần Du Lịch nói rõ với phóng viên báo này rằng “quả thật dự thảo đã thay đổi đến 140 điều trong Hiến pháp 1992, chỉ giữ nguyên có 7 điều, nhưng đó chỉ là hình thức, vì một số vấn đề quan trọng nhất cần thay đổi lại bị gác lại.” Ông Lịch tỏ ra nghi ngờ con số hơn 20 triệu ý kiến của cử tri, cho đó là con số bịa đặt vụng về. Theo đài phát thanh Hà Nội ngày 25 tháng 10, đại biểu Dương Trung Quốc tỏ ý còn bức xúc hơn, cho rằng: “Thay Hiến pháp là việc hệ trọng, vài chục năm mới có một lần, cần làm thật chu đáo, cứ nên lấy thêm ý kiến toàn dân đến cuối năm nay, không nên vội vã, nhiều vấn đề chính trị-kinh tế-ngoại giao cần trao đổi sâu sắc thêm. Lại một cơ hội hiếm có bị bỏ qua.”

Vậy xin được hỏi các vị lãnh đạo đảng và nhà nước, bản Dự thảo Hiến pháp lần này “đã tiếp cận đến chân lý” ở chỗ nào? Phải chăng là ở chỗ vẫn khẳng định học thuyết Mác-Lênin là cơ sở lý luận của nhân dân ta, cả khi toàn thế giới đã lên án, vứt bỏ nó, lại được ghi ở ngay nhưng dòng mở đầu của Hiến pháp mới. Phải chăng nó đã tiếp cận đến chân lý khi vẫn khẳng định con đường quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong khi cái chủ nghĩa bí hiểm ấy đến cuối thế kỷ này vẫn chưa thể thành hiện thực, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định.

“Bản dự thảo thể hiện khát vọng và hào khí của nhân dân” ở những chỗ nào? Phải chăng ở chỗ vẫn không cho nhân dân quyền phúc quyết Hiến pháp, vì bản dự thảo ghi rõ “trưng cầu dân ý phải do Quốc hội quyết định,” nghĩa là ban phát, theo đúng hướng suy nghĩ Hiến pháp là văn kiện quan trọng đứng sau cương lĩnh của đảng CS? Cho đến nay đảng CS vẫn khinh miệt nhân dân, cho rằng nhân dân không đủ trình độ để có quyền phúc quyết. Như vậy là thể hiện hào khí của nhân dân ư?

Ðối với nông dân chiếm gần 70% số dân ta, đảng CS vẫn khẳng định ruộng đồng đất đai là thuộc quyền sở hữu của toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý và có quyền thu hồi, điều này chỉ khơi dậy thêm khát vọng và hào khí của nông dân đang công khai đứng dậy đòi lại quyền sở hữu tư nhân chính đáng bên cạnh sở hữu công và sở hữu tập thể. Nông dân Hà Ðông, Thái Bình, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Dương, Cần Thơ, Sóc Trăng đã tỏ rõ khát vọng và hào khí ấy, các vị đại biểu của dân có nhìn thấy và nghe rõ hay không?

Thật tội nghiệp cho gần 500 ông, bà nghị đang bị kẹt cứng giữa kỷ luật nghiêm của đảng và quyền tự do cùng trách nhiệm là đại biểu của nhân dân, bị xâu xé trong nội tâm bởi cảm giác theo đảng là trái ý nhân dân, mà theo đúng nguyện vọng của nhân dân thì ắt phải chống đảng, chống lại bản dự thảo rõ ràng là lạc hậu, là giáo điều, là xa rời thực tế, xa rời chân lý và thời đại này.

Những ngày tới, trước khi bấm vào máy bỏ phiếu tán thành hay bác bỏ bản dự thảo đã bị cả một tập thể trí thức có chất lượng cao nhất bác bỏ với đầy đủ lý lẽ, mỗi đại biểu hãy suy tính cho thật kỹ, đứng về phía những người lãnh đạo đuối lý, nói lấy được, tham quyền tham nhũng quay lưng lại với dân, hay là chọn con đường của lương tâm và trí tuệ, con đường sáng đẹp để làm lại từ đầu, bắt tay thảo ra một Hiến pháp thật sự mới, mang bản chất nhân văn, dân tộc và thời đại.

Ðây là một thử thách nghiêm cách trong cuộc đời mỗi con người. Toàn dân, đông đảo cử tri, đặc biệt là cử tri từng bỏ phiếu bầu cho các vị, đang chăm chú quan sát từng vị trong cuộc bỏ phiếu này.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

Đồng Minh Can Trường

Harry F. Noyes III

Tác giả là cựu chiến binh HK tại Việt Nam trong quân chủng Không Quân Hoa Kỳ. Sau cuộc chiến trở về, ông lấy được văn bằng cao học về Nghiên Cứu Á Châu từ trường Ðại Học Hawaii. Bài này (Heroic Allied ) được đăng trong tạp chí Vietnam, số tháng 8, 1993.


Họ (người lính VNCH) vóc dáng nhỏ con, nói chuyện líu lo như chim hót, ưa thêm nước mắm vào mọi món ăn, và thường hay nắm tay nhau.

Không lạ gì lính Mỹ khi qua viễn chinh ở vùng Ðông Nam Á – hầu hết đều là trai trẻ, học thức bình thường, được rập khuôn trong một xã hội quá cao ngạo và quá ít hiểu biết về những nền văn hóa khác – khó lòng cảm thông được với những người chiến binh VNCH.

Ðiều đáng tiếc hơn nữa là nhiều cựu chiến binh lúc trở về lại đi gia nhập vào hàng ngũ của những nhóm gây rối, trốn lính và hoạt đầu chính trị để bêu xấu danh dự của một đạo quân nay không còn có thể tự đứng ra bào chữa được cho mình. Nhục mạ một đạo quân đã mạng vong trong chiến trận do nước Mỹ bỏ rơi là một hành vi đê tiện, không xứng danh là người chiến binh Hoa Kỳ.

Chắc một số người sẽ cho rằng điều khẳng định của tôi là quá đáng. Vậy chứ tôi phải làm thế nào để bào chữa cho họ đây? Mọi người đều ‘cho’ họ là một lũ bất tài, phản trắc và hèn nhát, phải như vậy không?

Không, hoàn toàn sai. Bài viết này sẽ trưng ra một vài chứng cớ hùng hồn để đánh đổ cái huyền thoại thô bỉ này, đồng thời cũng sẽ khảo sát xem do đâu phát sinh ra huyền thoại ấy.

Dĩ nhiên phải công nhận là quân lực VNCH không toàn hảo. Người chiến binh của họ phải chiến đấu với những kẻ lãnh đạo tồi, những quân nhân hèn nhát, chịu đựng những cuộc khủng hoảng, những biến cố tai ương, bất lợi. Quân lực Mỹ ở Ðông Nam Á cũng không hơn gì đâu.

Trên một số phạm vi như cơ cấu tổ chức, tiếp liệu, quản trị và lãnh đạo, quân lực VNCH thua bên phía Mỹ. Nhưng có ai trông mong gì khác hơn từ một quốc gia đang phát triển, mới vừa thoát khỏi ách thuộc địa lại phải lao đầu vào một cuộc chiến sinh tử với một quân thù hùng mạnh được cả một khối Cộng Sản hỗ trợ?

Thực tế mà nói, những nhược điểm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng hệt như của quân Mỹ thời chiến tranh Ðộc Lập của Hoa Kỳ (American War of Independence) , dù rằng nước Mỹ hồi cuối thế kỷ thứ 18 có nhiều điểm thuận lợi như: cái qui mô của cuộc Chiến Tranh Cách Mạng (Revolutionary War) nhỏ hơn và dễ chi phối hơn; quá trình thuộc địa Hoa Kỳ đã giúp hình thành được những chính quyền tự phát địa phương, cho phép đất nước này hun đúc nên những vị lãnh tụ tài ba thật sự; quân Anh không quá ngoan cố như quân BV; và quân đồng minh Pháp thời bấy giờ đã không bỏ rơi nước Mỹ non trẻ như kiểu người Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa.

Nhưng dù sao chăng nữa, cơ cấu tổ chức, tiếp liệu, quản trị và ngay cả lãnh đạo đi chăng nữa vẫn chưa phải là những phẩm chất để dựa vào đó mà phỉ báng quân lực VNCH.

Có hai câu hỏi đánh động đến đề tài tranh cãi. Phải chăng người chiến binh VNCH thiếu chí khí, lòng quả cảm, sự can trường và lòng ái quốc mà người Mỹ đã nêu ra trong lời miệt thị và gán lên đầu họ mọi trọng tội vì đã đánh mất cái giá tự do của vùng Ðông Nam Á?

Quân Mỹ có khá gì hơn đồng minh của mình để dám khinh khi họ như vậy? Trả lời cho cả hai câu hỏi, tôi xin trân trọng khẳng định là ‘Không!’

Chứng cớ quá rõ ràng. Trận Tổng Công Kích Tết 68 coi như sẽ đập tan được ý chí chiến đấu của VNCH. Thay vì bỏ cuộc, quân VNCH đã kháng cự mãnh liệt và hữu hiệu: không một đơn vị nào tan rã hay tháo chạy. Ngay cả cảnh sát cũng chiến đấu, họ đương đầu với quân chính qui đối phương trang bị bằng vũ khí hùng hậu với chỉ bằng những khẩu súng Colts. Dựa theo báo cáo, sau trận này số người xin đăng lính cao đến nỗi chính quyền của quốc gia này phải đình hoãn bớt việc thu nhận thêm tân binh.

Trong cuộc Tổng Tấn Công năm 72, quân trú phòng VNCH bị vây hãm tại An Lộc đã giữ vững được vị trí của mình trước một lực lượng ghê gớm của quân thù cả về người lẫn hỏa lực kinh hồn của đại pháo và hỏa tiễn. Sau trận này tôi được tiếp xúc với một cố vấn Mỹ để nghe tường thuật lại mẩu chuyện một tiêu đội lính VNCH trong vùng được cử công tác thanh toán ba chiến xa, đã hành động như thế nào. Họ chu toàn nhiệm vụ hạ được một chiếc, rồi quyết định tìm cách bắt sống hai chiếc còn lại. Theo tôi nhớ thì họ chộp được một chiếc còn một chiếc bỏ chạy, thế là mấy người lính chạy bộ rượt theo đến cuối đường.

Việc thi hành thượng lệnh của mấy người lính này có thể không đúng tác phong quân kỷ, nhưng lối hành xử cho thấy tinh thần chiến đấu cao và thế chủ động mà mọi binh sĩ VNCH đều có. Dĩ nhiên điều tôi kể chưa đủ để bào chữa được cho lời tố giác tội hèn nhát.

Ðể minh chứng hơn, hãy nhìn vào Việt Nam Cộng Hòa ở thời điểm cuối cùng vào năm 1975 khi đất nước này đang trong tình trạng tuyệt vọng khi biết rõ Mỹ không ra tay cứu giúp nữa (cả nhiên liệu lẫn đạn dược).

Thế mà một đơn vị VNCH tầm cỡ một sư đoàn đã cầm chân được bốn sư đoàn BV trong suốt hai tuần giao tranh ác liệt tại Xuân Lộc. Chỉ riêng một trận này thôi sự anh dũng còn nổi bật hơn bất kỳ một chiến công nào có thể tìm thấy trong chiến sử Hoa Kỳ. Quân VNCH sau đó đành phải lui binh vì Không Quân của họ không còn bom để yểm trợ chiến đấu.

Có lần tôi xem được một phim tài liệu truyền hình do một phóng viên người Úc quay tường thuật về cuộc chiến. Khác với các phóng viên HK, anh ta dành hết thời gian bên cạnh các binh sĩ VNCH. Anh ta ghi rõ tinh thần chiến đấu của quân đội VNCH bằng những thước phim của mình. Anh còn kể rằng anh từng ghé qua một làng do địch kiểm soát và nghe nói lại rằng lính CS còn sợ lính VNCH hơn cả lính Mỹ. Lý do chính là lính Mỹ bao giờ cũng ồn ào, nên khi nào lính Mỹ đến là họ biết ngay. Chỉ vậy thôi, thì có gì họ phải kinh sợ nếu quân đội VNCH không là những chiến binh nguy hiểm.

Tuy vậy, chứng cớ quan trọng nhất chứng tỏ ý chí chiến đấu của quân đội VNCH đến từ hai sự kiện hiển nhiên, những sự kiện vốn thường hay bị lãng quên hoặc che giấu để che đậy sự thất bại của người Mỹ ở Việt Nam.

Sự kiện thứ nhất: Chiến tranh VN đã khởi sự đâu đó bảy năm trước khi lực lượng chính của Hoa Kỳ đổ đến và sau đó lại tiếp tục thêm chừng 5 năm sau khi quân Mỹ rút ra. Trong khoảng đó phải có ai đó đang chiến đấu mà kẻ đó là người miền Nam chứ còn ai khác hơn.

Sự kiện thứ hai: Quân đội VNCH thiệt mất một phần tư triệu binh sĩ trên chiến trường. Theo tỉ lệ dân số thì tương đương hai triệu lính Mỹ chết (một con số gấp đôi tổn thất của Mỹ trong tất cả các chiến tranh gộp lại). Cho rằng người ta không chịu chiến đấu thì sao họ lại chết nhiều như vậy.

Vậy thì do đâu mà VNCH phải chịu mang tai tiếng xấu?

Dĩ nhiên có lúc họ tỏ ra bất tài và hoảng loạn. Lính Mỹ cũng vậy thôi. Tôi biết một câu chuyện qua một đơn vị trưởng pháo binh HK rằng khi hay tin đại đội bộ binh bảo vệ mình bị địch đánh tan tành, các pháo thủ đâm hốt hoảng bắn loạn xạ khiến đám quân yểm trợ này hoảng loạn chạy có cờ giữa hai lằn đạn.

Một biến cố đơn thuần đó không thể đem ra mà gán cho cả quân lực HK là hèn nhát thì thỉnh thoảng có sự tan hàng của người đồng minh của nước Mỹ cũng không có nghĩa là tất cả chiến binh VNCH là hèn nhát. Thế mà có kẻ lại suy nghĩ như vậy, qua cách nói bởi một số cựu chiến binh, bởi những chính trị gia muốn bào chữa cho một chính quyền Mỹ đã để cho VNCH bị suy vong.

Sự thật được minh bạch hơn qua mẫu đối thoại sau đây phát xuất từ hai thế kỷ trước, khi một phụ nữ Anh hỏi viên công tước xứ Wellington rằng lính Anh có bao giờ bỏ chạy trên chiến trường không.

Viên công tước đáp, “Ngoài chiến trường người lính nào cũng có bỏ chạy cả, thưa bà.”

Một nghiên cứu qua loa trong quân sử cũng xác minh được điều này.

Những trận đánh thời Nội Chiến (Civil War) cho thấy sự can trường lẫn sợ hãi liên tục khi lên khi xuống, cả những đơn vị phe Confederate lẫn Union thoạt đầu xông pha rất hăng hái, sau đó co cụm lại rồi bỏ chạy trước hỏa lực kinh hồn trước khi tập hợp lại tiếp tục chiến đấu.

Chưa có đạo quân nào tự cho mình có nhiều hành động hy sinh anh hùng bằng hai đạo quân này, tuy nhiên họ cũng có lúc chạy tán loạn nơi một chiến trường quá đẫm máu.

Văn sĩ S. L. A. Marshall mô tả sự hoảng hốt bỏ chạy của một đơn vị bộ binh HK thời Ðệ Nhị Thế Chiến khi quân cảm tử Nhật vừa tấn công vừa hò hét. Ðơn vị thứ hai nằm lại quyết chiến và nhanh chóng tiêu diệt hết đám quân Nhật (chừng 10 tên) và vỡ lẽ ra là đa số bọn chúng không có võ khí.

Nếu sự việc tương tự xảy đến với một đơn vị VNCH, những tên tự xưng là học giả uyên thâm lập tức ra rả lập đi lập lại rằng ấy là chứng cớ rành rành về hành động khiếp nhược của quân đội VNCH.

Tại sao vậy? Chúng ta ắt đã ngầm có câu trả lời rồi. Mọi sự còn tùy là cái quân đội đó thuộc chủng tộc gì, nói thứ ngôn ngữ nào. Sự thật đốn mạt là cái quân đội VNCH phải chịu mang tai tiếng xấu bắt nguồn từ lòng kỳ thị chủng tộc lẫn tinh thần sô-vanh nước lớn của người Mỹ.

Tôi xin tự minh chứng về khuynh hướng bóp méo sự thật vốn tràn lan rộng khắp. Lúc vừa mới đặt chân đến VNCH vào Tháng Sáu năm 1969, lập tức tôi được chứng kiến những trường hợp bày tỏ thái độ ngu dốt và khinh miệt của một số người Mỹ dành cho người dân cũng như quân đội quốc gia này.

Các binh sĩ Mỹ trắng cũng như đen, luôn cả những người trong các dịch vụ thuộc dân sự như truyền thông báo chí thẩy đều như nhau.

Thái độ căm ghét này dành cho xứ sở cùng dân tộc VN kinh khiếp thay lại có một sức mạnh truyền nhiễm kinh hồn.

Một viên đại úy Mỹ tôi được biết có trình độ tốt nghiệp đại học về ngành điện ảnh từ một trường có tiếng tăm (coi như họ được đào tạo để có cái nhìn chuyên môn hơn người thường). Có lần anh ta sau công tác tạm thời ở Thái Lan trở lại VN đã hết lời ca ngợi dân Thái.

“Dân Thái người ta cho con họ đi học đàng hoàng,” anh ta nói, “khác với tụi nhỏ con của người Việt ở đây.” Khi tôi chỉ cho anh ta thấy không đâu xa mà ngay kế bên căn cứ còn có một trường học thì anh ta ngạc nhiên nhưng không hề tỏ ra ân hận về nhận xét của mình. Hằng trăm trẻ nhỏ trong đồng phục quần xanh áo trắng cắp sách đến trường mỗi ngày mà bất cứ ai có mắt đều nhìn thấy. Vậy mà tên làm phim này lại không.

Chua chát thay, dân VN vốn quí trọng sự học còn hơn dân Mỹ, họ đã nâng trình độ người đi học từ 20 lên đến 80 phần trăm dù chiến tranh đang dày xéo chung quanh (dù ngay cả các giáo viên vẫn thường xuyên bị sát hại bởi đối phương). Vậy mà vẫn còn bị tên làm phim này gán cho cái tội là một xứ sở không trường không lớp.

Vì phải viễn chinh nơi một xứ sở xa lạ, xa gia đình, người Mỹ này đã tự hun đúc cho mình một lòng thù ghét đất nước VN, hắn muốn tin rằng người Việt là đáng khinh. Do vậy, điều quan trọng đối với hắn là phải tin tưởng rằng người Việt không có trường học dành cho con cái của họ; và chính cảm xúc đó làm mù đi thị giác của hắn.

Hãy nghĩ đến cảm tưởng của khối quân Mỹ ít học thức hơn khi phải trực diện với nền văn hóa xa lạ trong một môi trường đầy căng thẳng! Có lẽ ta không nên đổ lỗi cho các binh sĩ ấy về thái độ kém cỏi của mình. Trời đất còn biết là giới chỉ huy HK chỉ nỗ lực qua loa để giáo dục cho binh sĩ mình về đất nước VN và tính chất của cuộc chiến.

Tuy vậy, đó không phải là lý do để bào chữa cho các cựu chiến binh giả vờ cho là mình hiểu về những gì mình thấy ở VN. Ta phải tri ân các cựu chiến binh chiến tranh VN về đức tính quả cảm, sự hy sinh và lòng trung thành đối với tổ quốc. Nhưng tính quả cảm và sự hy sinh không đi đôi với sự hiểu biết. Chiến đấu ở VN không làm cho người lính thành những chuyên gia về đất nước hay cuộc chiến đó, cũng như có con không phải làm cho người mẹ trở thành một chuyên gia về khoa phôi thai (embryology) .

Những gì người lính Mỹ làm ở VN không dạy cho họ chi hơn về nền văn hóa, xã hội, chính trị, vân vân và vân vân của VNCH. Một ít người Mỹ có học lỏm bõm được vài tiếng Việt; ngay cả có một vài người đọc được sách báo VN; và chẳng bao nhiêu người đọc sách vở viết về xứ sở Việt Nam bằng Anh ngữ.

Ngoại trừ các cố vấn, ít người Mỹ nào làm việc gần gũi với những người Việt, có chăng họ có chung đụng với những người làm thư ký, giặt giũ, và nữ hầu bàn do quân đội HK mướn.

Ðiều quan trọng hơn cả là ít quân nhân HK nào từng chứng kiến sự chiến đấu của binh sĩ VNCH. Ít ai có bao giờ xét đến thái độ khác biệt hiện hữu trong tâm tư những chiến binh nơi chiến trường ấy, quân Mỹ sang chiến đấu một năm rồi về, họ yên tâm là gia đình họ đều đang bình yên ở nơi chính quốc; trong khi người lính VNCH thì khác, hằng ngày họ phải lo lắng cho sự an nguy của gia đình mình, họ thừa hiểu rằng chỉ có cái chết hay chỉ có bị thương ở mức độ tàn phế họ mới ra khỏi được đời sống quân ngũ. Ðương nhiên người Việt ắt phải dùng một thước đo riêng để quyết định cái gì là quan trọng hơn để chiến đấu.

Giới nhà báo không khá gì hơn. Thử xét xem về một cuộc tường thuật truyền hình thiên vị mà tôi đã được xem trong đó người phóng viên tố giác Không Quân VNCH mặc dù đã Việt Nam Hóa chiến tranh, đã không chịu bay, để cho KQ HK phải lãnh những sứ mạng nguy hiểm chống lại BV.

Nói cho đúng thì chính HK không chịu để cho VNCH bay ra miền Bắc (ngoại trừ một vài phi vụ trong thời gian mở màn của các cuộc giội bom). Giới lãnh đạo HK muốn kiểm soát việc ném bom vì có thế HK mới có thể dùng nó như một công cụ để mặc cả trong bàn thương thảo.

Bởi không muốn VNCH xen vào việc ném bom, HK cố ý chuyển giao cho VNCH những trang bị không thích hợp cho các phi vụ đánh phá miền Bắc. VNCH không có phi cơ chiến đấu, vũ khí, máy bay tiếp tế nhiên liệu trên không, hoặc cả những thiết bị điện tử cần thiết cho những phi vụ ấy. Chính người Mỹ đã quyết định làm như vậy.

Người phóng viên nêu thắc mắc kể trên hoặc đã quá khờ khạo hoặc đã chọn sự tảng lờ để thực thi hành động báng bổ người đồng minh của HK. Căn cứ vào những lời lẽ vu khống cùng giọng điệu om sòm, tôi đi tới kết luận là sự thiếu kiến thức của anh ta hoàn toàn do cố ý.

Một dẫn dụ khác về tính thiên vị của giới truyền thông là vào thời điểm Khe Sanh bị bao vây. Nếu ta hỏi một ngàn người Mỹ có đơn vị tham chiến ở Khe Sanh, hầu hết ai nghe nhắc đến trận ấy hẳn đều biết TQLC Mỹ chiến đấu ở đó. Nhưng nếu có hơn một người trong số một ngàn người đó biết có một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân VNCH cũng đã san sẻ sự cam khổ ấy thì quả là điều đáng ngạc nhiên. Trong khi ấy còn có những đơn vị VNCH khác cũng dự phần vào những cuộc hành quân yểm trợ bên ngoài căn cứ đang bị vây hãm này. Báo chí Mỹ coi đồng minh của HK như không đáng để tường thuật đến trừ khi họ phạm điều gì ô nhục, vì thế những chiến sĩ chiến đấu can trường kia trở nên những người hùng vô hình tại Khe Sanh.

Sự thiên vị này, lính Mỹ lẫn giới truyền thông HK đã đồng ca rõ rệt khi tường thuật về cuộc hành quân bất ngờ vào lãnh thổ Lào năm 1972.

Thử xem lại một tài liệu truyền hình được đưa ra một thập niên trước đây. Tài liệu này bao gồm cuộc phỏng vấn một số binh sĩ Mỹ trong khi chiến trận tại Lào đang diễn ra. Những quân nhân HK này, đứng bình yên bên lãnh thổ VNCH, có những lời nhận xét cay độc, kỳ thị dành cho các binh sĩ VNCH đang chiến đấu ở bên kia biên giới. Người phóng viên truyền hình này bày tỏ rằng lính Mỹ hiểu rõ tình hình hơn các tướng lãnh của họ.

Cuộc tấn công lên đất Lào dĩ nhiên là nguồn gốc của bức hình nổi tiếng cho thấy hình ảnh một người lính VNCH đang đeo trên càng một phi cơ trực thăng để tìm cách vượt thoát. Hình ảnh này được liên tục tung ra trước công chúng Mỹ như là ‘chứng cớ cho thấy người miền Nam là đáng khinh tởm.

Quả thực đây là một thủ thuật xưa như trái đất để xuyên tạc sự thật bằng sức mạnh của hình ảnh. Những gì xảy ra bấy giờ đúng ra là như vầy: Quân Lực VNCH gặp phải lực lượng đông đảo của đối phương trong khi quân Mỹ không yểm trợ được như đã hứa vì hỏa lực phòng không của địch quá mạnh. Có nhiều báo cáo cho biết phi hành đoàn trực thăng phải đạp những két đạn đại bác xuống đầu các đơn vị VNCH từ độ cao 5,000 bộ trở lên chỉ với hy vọng quân đội VNCH sẽ nhận được. Các phi cơ này quả tình là không dám xuống thấp hơn.

Trong phạm vi vấn đề này, thử xem nhận xét của một sĩ quan HK, Ðại Tá Robert Molinelli, người đã mục kích tận mắt, được đăng tải trong Armed Forces Journal (Tập San Quân Ðội) số ngày 19 Tháng Tư, 1971 như sau: “Một tiểu đoàn VNCH gồm 420 người bị bao vây bởi một trung đoàn đối phương đông đến từ 2,500 đến 3,300 quân trong suốt ba ngày ròng. Phía HK không thể nào tăng viện cho đơn vị này. Họ phải chiến đấu đến gần cạn kiệt hết đạn dược mới bắt đầu phá vòng vây với vũ khí và đạn dược thu được của địch quân. Ðơn vị này còn mang theo những đồng đội bị thương cũng như đã chết. Hình ảnh phi cơ trinh sát chụp được cho thấy rải rác chung quanh đơn vị này là xác của 637 quân địch.

Ðơn vị này chỉ còn 253 người trong tình trạng khả thi chiến đấu khi họ chạy đến được một đơn vị VNCH khác. Một số ít trong số 17 kẻ hoảng sợ đã bám càng trực thăng để thoát thân. Số còn lại, tất cả đều không.”

Giờ đây, chắc có người cho rằng đeo càng trực thăng để thoát cho nhanh, dù rằng dễ làm mồi cho hỏa lực phòng không mà phi cơ lại bay cao và nhanh. Nhưng ngoài chuyện ấy ra, một trường hợp cá biệt, việc lui binh trong khi đang giao chiến ác liệt (một chiến thuật khó khăn nhất trong binh pháp) lại bị phóng đại thành một lời buộc tội cho cả một quân đội, một quốc gia và tệ hơn nữa cả một dân tộc?

Câu trả lời rằng đó là do chính lòng kỳ thị chủng tộc. Vì lẽ những người bám càng trực thăng là người ngoại chủng. Thử hỏi kẻ đó là người Mỹ hay người Anh thì sao, cam đoan không sai rằng ta sẽ cảm thông cho là người đó đang phải chịu hoàn cảnh nghiệt ngã.

Minh chứng cho điều này có thể thấy người Mỹ đã phản ứng như thế nào đối với lính Anh trước cuộc triệt thoái của họ hồi thời gian đầu Thế Chiến Thứ Hai.

Nơi đây cũng có những hình ảnh tủi hổ xảy đến cho lính Anh ở Dunkirk cũng như tại một số nơi khác. Ở Dunkirk một hạ sĩ quan để tái lập trật tự phải chĩa súng đại liên vào đồng ngũ của mình đang hốt hoảng trèo lên tàu. Trên một tàu khác, các binh sĩ dùng báng súng dộng liên hồi vào người một sĩ quan để ngăn không cho ông này leo lên tàu qua ngỏ tháp súng. Tại đảo Crete, một lữ đoàn quân Tân Tây Lan đã tạo một vòng đai an toàn với lưỡi lê chĩa ra ngoài ngăn không cho các quân Anh đang hoảng loạn tràn ngập lên được tàu mình.

Tuy thế, hình ảnh nước Anh đơn độc chống lại Hitler năm 1940 lại là một hình ảnh hào hùng. Ðiều này được minh chứng bởi sự kiện hoàn toàn hiển nhiên, ngay cả những biến cố đơn lẻ như vừa nêu bật ở trên vẫn không làm lu mờ được cái hình ảnh toàn cảnh về đức tính can trường và xả thân cứu nước của dân tộc này.

Quả thật, quân đội VNCH đã tỏ ra xuất sắc vào những ngày cuối cùng của miền Nam qua sự bảo vệ Xuân Lộc vô cùng anh dũng.

Tuy rằng có nhiều lý do như vậy. Thảng hoặc có nhiều lý do để tin rằng, nếu có sự ủng hộ trung thành của phía người Mỹ ắt quân đội VNCH sẽ chứng tỏ cho thế giới thấy thêm nhiều Xuân Lộc khác nữa, và có lẽ họ cũng đã cứu được đất nước họ không bị mất.

Vấn đề được nêu ra không phải là khả năng chiến đấu của quân đội VNCH như thế nào, nhưng mà xét xem người Mỹ sẽ hành xử ra sao nếu tình huống tương tự xảy đến với họ.

Sự thật là quân Mỹ nếu bị HK bỏ rơi như chính VNCH đã phải chịu, có lẽ họ cũng sẽ không khá chi hơn.

Hãy nhớ rằng: năm 1974, Hoa Kỳ đã cắt viện trợ cho VNCH một cách thê thảm một vài tháng trước, khi đối phương mở cuộc tấn công sau cùng. Kết quả của sự cắt viện trợ là chỉ một ít nhiên liệu và đạn dược gửi sang cho miền Nam. Các phương tiện để vận chuyển cả trên không lẫn trên bộ đều phải bị bỏ xó vì không có cơ phận thay thế. Quân lính VNCH đi hành quân không có bình điện để liên lạc vô tuyến, y tá trên chiến trường không có đủ y dược cụ căn bản. Trong những ngày tháng sau cùng của cuộc chiến, quân đội VNCH phải chiến đấu thắt lưng buộc bụng, họ được phép bắn ba viên mỗi ngày, tiêu chuẩn này áp dụng cho cả súng trường lẫn đại bác.

Tình trạng tồi tệ đến nỗi ngay chính Văn Tiến Dũng, người chiếm được miền Nam cũng chấp nhận sự thật là khả năng lưu động và hỏa lực của đối thủ của mình chỉ còn phân nửa trước đây. Vậy thì ngoài sự thiếu thốn vật chất này ra, sự chiến đấu kiểu nhà nghèo này cũng tác động lớn lên tinh thần chiến đấu của người lính VNCH.

Quân BV với trang bị đầy ắp, với những chiến xa tối tân, với những xe cơ giới chở quân hiện đại, họ đã đánh thẳng vào miền Nam suy sụp này bằng cuộc tấn công phủ đầu.

Đúng, quân đội VNCH đã gác lại, đã vứt bỏ chiến cụ (không vứt cũng coi như vứt vì có cơ phận đâu mà thay), cả đạn dược cũng bị bỏ lại (số lượng mà họ đã chắt chiu dành dụm được, mang theo đến phút cuối cho tới lúc biết là đã quá muộn màng rồi không có cơ hội để bắn hay mang theo được nữa, họ thừa biết họ sẽ không bao giờ có thêm để mà bắn). Vậy thì lỗi nơi ai? Họ hay người Mỹ?

Đúng, quân đội VNCH đã triệt thoái khỏi các tỉnh phía Bắc một cách vụng về và khá muộn màng, đưa đến tình trạng hỗn loạn và suy sụp. Nhưng làm thế nào chính quyền miền Nam có thể bỏ mặc dân chúng sớm hơn được, trước khi áp lực địch quá lớn buộc họ phải làm thế?

Ðã có lúc, VNCH hy vọng B-52 trở lại để giúp họ chặn bớt làn sóng xâm lăng của Cộng Sản. Khi biết rằng điều ấy sẽ không xảy đến, tinh thần chiến đấu của họ bị suy sụp cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Không còn nhuệ khí chiến đấu, nhiều binh sĩ quay ra đào ngũ – làm thế không phải vì họ hèn nhát hay không có tinh thần hy sinh để bảo vệ đất nước mình, nhưng vì họ không muốn xả thân cho một sự nghiệp biết chắc là đang trên đà phá sản trong khi gia đình họ đang khẩn thiết cần đến mình.

Quân Mỹ liệu sẽ làm gì khá hơn được, nếu cũng lâm vào tình huống như VNCH hồi 1975? Liệu quân Mỹ có chiến đấu ngon lành với quân xa, truyền tin đều hỏng, hệ thống quân y què quặt, thiếu thốn nhiên liệu và đạn dược, và không yểm thì nhỏ giọt hoặc hầu như không có. Với một tình trạng bết bát như thế mà phải đối đầu với một kẻ địch có quyết tâm cao, hùng mạnh, trang bị tối tân, sung mãn. Tôi e là không thắng nổi.

Liệu VNCH có thắng được trận 1975 nếu chính phủ Mỹ vẫn giữ vững sự cam kết, và tiếp tục chi viện cho VNCH không kém với chi viện mà khối CS dành cho miền Bắc?

Câu trả lời là không biết được. Ít ra họ có một cơ hội để đọ sức, cái cơ may mà người Mỹ phản trắc đã tước mất của họ. Hiển nhiên là họ có thể chiến đấu hữu hiệu hơn. Cho dù họ có bại trận họ cũng ngã gục một cách hào hùng trong một trận đánh lưu danh muôn thuở cho hậu duệ, để tiếp tục chiến đấu dưới hình thức du kích chiến rập khuôn theo kiểu Afghanistan.

Cho dù VNCH có đại bại, sự ủng hộ hết mình của Hoa Kỳ ít ra cũng khiến họ có thể nhún vai mà nói rằng dù sao họ cũng đã giúp đỡ hết mình rồi. Ðằng này người Mỹ chưa có hết mình giúp đỡ. Những kẻ nào muốn trốn tránh sự thật ấy bằng cách quay ra báng bổ VNCH và quân đội ấy là không phải lẽ.

Trước một tội ác tày trời bỏ mặc cho nhân dân miền Nam rơi vào tay CS, người Mỹ sau này quay ra đi làm điều tốt kể ra đã quá muộn màng.

Nhưng nếu biết nhìn lại và công nhận mình đã sai lầm, khi sỉ nhục lương tâm của quân dân VNCH ấy, thì chưa có muộn đâu. Cũng chưa muộn màng gì, nếu ta biết khởi đầu vinh danh đúng mức những thành tích họ đã đạt được, cùng những hành động hào hùng mà họ đã tạo nên, để bảo vệ cho lý tưởng tự do.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Kính gửi ông ăn trộm

Ngô Nhân Dụng

Một điều tôi vẫn tin tưởng là con người ta có thể sống tử tế với nhau. Ông Mạnh Tử nổi tiếng khi tuyên bố loài người có tính lành (thuyết tính thiện). Nhưng không cần đọc sách ông; mình chỉ cần nhìn chung quanh cũng nghiệm thấy không sai.

Hãy cứ tự hỏi như thế này: Nếu không có tính lành thì làm sao loài người đạt được những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, cả đến văn chương, nghệ thuật; trong trăm ngàn năm ở trên trái đất, từ thủa ăn lông ở lỗ cho đến bây giờ? Lắm lúc đi máy bay tôi lại nghĩ đến người đầu tiên chế ra cái máy nổ, không có ông ấy thì mình đâu có thể ngủ một giấc, thức dậy bỗng thấy mình đang ở London, hay Moskva? Nhưng sau nhà phát minh đó, còn biết bao nhiêu người nghĩ ra những thứ lặt vặt khác, để cho cái máy bay có tốc độ nhanh mà đi lại êm như thế! Mọi tiến bộ đều là kết quả của những cộng tác giữa người với người, giữa những người hoàn toàn xa lạ, có khi sống cách nhau mấy thế kỷ! Chắc hẳn loài người phải rất tử tế; những người không tử tế ít lắm, không đáng kể.

Nói chuyện triết lý như vậy, để kể chuyện ăn trộm. Tôi chắc số người đi ăn trộm trên thế giới này rất ít. Cả đời tôi, sống đã 74 năm, bị ăn trộm chỉ có hai lần, cách nhau mươi năm, vụ sau cùng đã năm bảy năm nay rồi. Sự kiện xảy ra hiếm như vậy chứng tỏ số các người làm nghề ăn trộm chẳng có bao nhiêu. Tội nghiệp những anh chị em đã bẻ khóa cửa để vào nhà tôi ăn trộm; cả hai lần chẳng ai lấy trộm được cái gì cả. Phải nói lại: Chẳng lấy được thứ gì ráo trọi. Vì trong nhà không có gì có thể lấy đem bán được vài chục đô la hết. Tội nghiệp họ lắm chứ. Họ làm việc suốt mấy tiếng đồng hồ, một công việc khá nặng nhọc. Công việc căng thẳng (stressful) hơn cả việc viết báo bị chủ bút giục nộp bài (trước sáu giờ chiều và phải từ 1500 tới 2000 chữ). Có ông ăn trộm vào nhà tôi mở toang các cửa tủ, kéo hết các thứ hộp, thứ lọ chứa trong đó ra lục soát; rồi lôi tất cả các ngăn kéo ném xuống đất; thấy cái bao thư, cái gói vải, túi ni lông nào cũng banh ra coi. Họ đi khắp các phòng, trong bếp, trong hành lang, phòng sách, cho đến các kệ tủ trong garage. Mấy tấm đệm nặng trịch trên giường, như sức tôi phải hai người khiêng, cũng được lôi xuống đất. Công việc chắc phải mất vài ba tiếng. Thế mà chẳng lấy về được một thứ gì cả. Nếu đi làm, lương tối thiểu, cũng được mấy chục đô la, ăn được ba tô phở, mà lại đỡ bị “stress.”

Không những căng thẳng mà còn làm mình chán đời nữa. Khi nhìn thấy mấy món nữ trang giả ném bừa trên mặt đất, càng thấy tội nghiệp. Chắc họ phải thất vọng kinh lắm. Còn chúng tôi thì nhân khi dọn dẹp lại có dịp lựa ra những món đáng lẽ phải vứt đi từ 20 năm trước mà vẫn chất trong nhà, đem cho hay vứt vào thùng rác.

Khi cảnh sát đến, họ hỏi có nghi ngờ ai không, tôi nói không nghi ngờ ai cả. Nghi oan thì có tội, nghi đúng rồi để cảnh sát điều tra, bắt được người ta thì cũng tội, vì các thủ phạm có lấy được gì đâu? Nhưng cảnh sát họ nhận xét rằng đây có vẻ là người Á Châu (Họ không nói người Việt Nam). Vì di dân gốc Châu Á hay cất tiền mặt ở trong nhà, và cũng thích trưng diện đồ trang sức đắt tiền; tâm lý này thường chỉ dân gốc Á biết với nhau chứ bọn ăn trộm người Mỹ hay Mễ không biết.

Nghe cũng có lý. Một chị bạn chúng tôi bữa rồi mới đem cho một thúng đầy trái hồng. Chị hẹn đến ngày nhãn chín sẽ đem cho thúng nữa. Chị kể, hai cây trồng ở vườn sau nhà chị sai trái quá đi. Nhưng cứ đến mùa trái chín là có người vào ăn trộm. Tôi hỏi: Ðâu phải kẻ trộm nào cũng biết ăn hồng với ăn nhãn? Chị nói ngay: Khu nhà em ở nhiều người Việt mình lắm. Ðồng bào mình cả, có thế chứ! Chị lại than: Không những họ lấy trái ăn mà còn vứt rác ra đầy cả vườn cho mình phải dọn nữa! Thế thì không tốt. Tôi đề nghị nếu bà con đến ăn trộm thường xuyên như vậy chị viết tấm bảng treo lên cây.
Viết: Xin ai hái trái cây ăn xong thì làm ơn đem vỏ và hạt bỏ vô thùng rác, thứ thùng mầu xanh lá cây dành cho rác thảo mộc. Nếu lễ phép thì trên cùng viết: Kính gửi các ông bà ăn trộm.

Cách cư xử này không có gì mới lạ. Nhiều người bị trộm đã từng viết thư hay lời nhắn gửi cho kẻ trộm. Ở Toronto, nước Canada, có một anh bị mất chiếc xe đạp khá đắt tiền. Sau nhờ một người bạn chỉ cho, anh tìm thấy lại xe mình khóa, dựng ở ngoài đường, anh đã nhờ anh bạn cắt cả dây khóa sắt, lấy về. Rồi anh vẽ hình một cái xe đạp trên bìa cứng lớn bằng cái xe thật để lại chỗ cũ. Anh viết lá thư cho người ăn trộm như thế này: “Ðồ chó! Anh cầm nhầm cái xe đạp của tôi hôm đầu tuần mà quên không nói tôi biết anh để nó ở đâu. May là có người bạn tôi thấy nó ở đây. Thôi, tôi rất cần cái xe này, tôi lấy lại. Hãy dùng tạm cái xe đạp vẽ này, cho tới khi anh có tiền mua xe thật!” Ký tên: metrocycleto. Tái Bút: Cái xe bên trái này cũng khóa bằng cái dây khóa giống hệt, có phải anh cũng ăn trộm nó không? Người bạn anh chụp hình, đưa lên mạng, cả thế giới ai cũng biết được.

Báo Telegraph ở bên Anh mới kể một câu chuyện bữa Chủ Nhật tuần này. Có hai vợ chồng trên 30 tuổi ở Northampton, Anh quốc, đi vắng buổi tối, về nhà thấy trộm đã phá cửa kính vào lấy đồ và làm nhà cửa tung tung lên. Thay vì than thở với nhau, họ đã viết cho bọn ăn trộm một lá thư, gắn trước cửa và đưa lên mạng. Thư viết:

Các bạn ăn trộm thân mến,
Cảm ơn các bạn đã ghé thăm hôm rồi và chúng tôi rất tiếc không có gì nhiều hơn để bạn lấy. Bạn thấy đó, chúng tôi không xài sang, cho nên xin đừng tới nữa; trừ khi bạn muốn lấy bộ băng video VHS và các cassettes của tôi - Dan rất buồn vì các bạn coi thường không lấy mấy cái băng đó. Nếu bạn thích chúng thì cứ đến gõ cửa mà hỏi - không cần phải phá cửa ra vườn sau, vì phải dọn đống kiếng bể cực lắm. Cảm ơn bạn đã để lại các dấu ngón tay - chúng tôi rất vui khi được thấy những dấu tay này.”

Ký tên Kate và Dan sau hàng chữ “Thương nhiều”(Lots of love).

Dan kể với nhà báo, Kate rất thích mấy cuốn băng VHS và các cassettes nên chất đầy nhà làm anh phát chán chỉ muốn tống khứ hết, mà bọn trộm lại không giúp anh!

Hồi Tháng Tám năm 2013 vừa rồi, có một cô ở thành phố Vancouver bên Canada đã làm như vậy. Cô Kayla Smith mất một cái xe đạp, giá tới cả ngàn đô la. Hôm sau có người bạn mách cô rằng trên mạng bán đồ cũ Craigslist có đứa rao bán một cái xe đạp mô tả giống hệt xe của cô. Thứ xe đắt tiền này không nhiều người mua. Cô Kayla bèn viết cho người bán xe đạp theo địa chỉ email trên Craigslist, hẹn gặp nhau để coi xe. Hai người gặp nhau ở chỗ đậu xe ngoài một quán ăn.

Nhìn cái xe, Kayla nhận ra ngay đây là xe mình. Cô hỏi: Cho đạp đi thử nhé? Sau giây lát ngần ngừ, anh ta bằng lòng, còn dặn: Cô không đi luôn nghe! Nhưng chạy xe một quãng rồi Kayla đạp đi luôn không sợ hắn rượt theo. Cô đã gọi điện thoại cho mấy người bạn, nhờ đến chỗ hẹn để canh chừng. Anh bán xe ngó quanh thấy có biến, tự động co giò chạy.

Craigslist là thứ Chợ Giời thời mạng máy vi tính, Internet. Tại thành phố New Haven, tiểu bang Connecticut hôm rồi, vợ chồng anh Rabbi Noah Muroff đi mua một cái bàn giấy trên Craigslist. Không đưa được cái bàn vô phòng, họ tháo gỡ để sau ráp lại. Khi mở ra, họ khám phá sau cái ngăn kéo có một gói, đựng 98,000 đô la. Hai vợ chồng nhìn nhau; quyết định phải đem trả. Họ tìm được chủ nhân cái bàn, đem tiền đến tận nhà, mang theo cả bốn đứa con cho chúng được học phải giữ đức lương thiện và thành thật.

Ở Việt Nam cũng nhiều người lương hảo như thế. Hai năm trước có chuyện cô Phạm Thị Lành, 29 tuổi, ở Bến Lức, tỉnh Long An, đi bán vé số. Ðến ngày sắp mở số còn một sấp vé chưa bán được, đã gọi điện thoại cho một khách mua quen thuộc, nài nỉ ông mua giùm. Ông Ðỗ Ngọc Tuấn, 41 tuổi, làm nghề chạy xe ba gác đã từng hứa mua như vậy nhiều lần và sau ngày mở số vẫn trả tiền sòng phẳng dù không vé nào trúng. Lần này, ông Tuấn hứa mua cả sấp 20 cái vé. Ðến khi mở số, cô Lành thấy trong sấp vé đó có 10 vé vừa trúng độc đắc vừa giải an ủi tổng cộng 6.6 tỉ đồng (khoảng 330,000 đô la).

Cô Lành gọi điện thoại nói, “Anh cầm 200,000 đồng tới quán cà phê Cây Mai trả cho tui đi. Mấy tờ anh mua trúng độc đắc rồi nè!” Rồi cô đem trả sấp vé cho ông Tuấn.

Tóm lại, trong thế giới này ở đâu cũng đầy những người tử tế. Nếu mình ăn ở tử tế, thế nào cũng sẽ gặp nhiều người tử tế. Không những thế, mình có thể giúp những người chưa tử tế sẽ trở về với lối sống tử tế. Tổ tiên người Việt mình còn tin rằng ai ăn ở tử tế sẽ giúp cho con cháu sau này sẽ được gặp những người tử tế. Niềm tin đó gọi là “Phúc đức ông bà.” Tôi vẫn tin nhờ phúc đức ông bà để lại nên trong đời mình đã gặp nhiều may mắn. Cho nên trong cuốn sách Ðứng Vững Ngàn Năm mới xuất bản, ở bài chót tôi đã đề nghị người Việt mình hãy sống tử tế với nhau đi, để xây dựng tương lai. Có người bạn hỏi tại sao lại kết thúc một cuốn sách về ngàn năm Bắc thuộc như vậy. Tôi viết bài này để trả lời bạn. Nếu mình không tin người Việt Nam có thể sống tử tế với nhau thì còn tin cái gì nữa?
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Kinh tế củ mài ăn xuông
Ngô Nhân Dụng

Trong hai tuần rồi, mục này trình bày những bước cải tổ kinh tế mới của đảng Cộng sản Trung Quốc. Chúng ta đã thấy, Tập Cận Bình đang cố thay đổi cơ chế để “thị trường hóa” nền kinh tế nhiều hơn. Còn ở Việt Nam thì họ thấy sao?

Hãy nghe ông Bùi Quang Vinh, bộ trưởng Kế hoạch và Ðầu tư nói chuyện ở Quốc hội vào cuối tháng Mười, năm 2013.

Ông Vinh tuyên bố: “Việt Nam phải đổi mới, không đổi mới thì không tiến lên được. Tôi đã báo cáo trước chính phủ...

Nhiều thứ lộn xộn, mệt mỏi lắm, nên tôi nói với các đồng chí là nếu chúng ta không đổi mới thì chúng sẽ chết thôi, chúng ta sẽ củ mài ăn xuông thôi.” Nghe ông Vinh nói, thấy là ở nước ta cũng có nhiều người đồng ý phải thay đổi cơ chế. Nhưng không làm được. Tại sao? Cũng ông Bùi Quang Vinh nói: “Bộ máy nhà nước xây dựng chính sách mà dốt thì làm sao có chính sách tốt được.”

Ông Bùi Quang Vinh đã thành khẩn khai báo với Quốc hội về công việc của ông kể từ khi lên làm bộ trưởng, cuối năm 2011. Nói chung: Bi đát. Ông cũng biết rằng: “Chúng ta phải đổi mới căn bản, triệt để thể chế kinh tế của chúng ta... Thể chế kinh tế ở đây là gì, là tạo ra môi trường cho tất cả mọi thành phần kinh tế để người ta có điều kiện thuận lợi nhất để phát huy tất cả những gì trong khả năng người ta có thể làm được, để cho mỗi một chủ thể kinh tế mang toàn bộ tài năng, tâm huyết của mình ra làm cho đất nước phát triển.” Nhưng đảng Cộng sản Việt Nam chưa dám đổi mới như vậy. Chính ông Vinh thú nhận: “Nền kinh tế của chúng ta chưa thể thay đổi được. Gọi là tái cơ cấu nhưng đã làm được gì đâu mà tái cơ cấu, mới loe hoe thôi.”

Vì tình trạng “cải tổ loe hoe” như thế, cho nên ông Vinh cũng báo động: “Chúng ta sẽ tụt hậu rất nhanh so với các nước bên cạnh. Chúng ta còn đang lo lắng là chúng ta tụt hậu so với những nước mà trước đây, bây giờ không dám so với Thái Lan, Indonesia, Malaysia đâu, tôi đang lo rằng là (sẽ tụt hậu) cả với những nước Campuchia, Lào...”

Cơ chế kinh tế Việt Nam hiện vẫn bị đảng Cộng sản kìm hãm theo lối kinh tế chỉ huy từ thời chịu ảnh hưởng của Stalin và Mao Trạch Ðông; tức là “bao cấp.” Thí dụ, giá điện được bao cấp cho nên rẻ, chỉ bằng 70% giá trên thị trường thế giới.

Cho nên người nước ngoài không ai bỏ tiền đầu tư vào ngành điện. Nhưng, “những ngành như xi măng, thép nó nhảy vào ào ạt, không cản được,” lời ông Vinh nói. Tại sao: Vì các xí nghiệp này đều dùng điện trong công việc sản xuất. Họ kiếm được lời chính là vì họ được hưởng giá điện rẻ. Ông Vinh phân tích: “Nhà nước bù cho điện thì doanh nghiệp nước ngoài và trong nước lấy tất. Nhân dân không được gì, nhà nước thì mất đơn mất kép. Ông hỏi: “Vậy xã hội chủ nghĩa ở đâu?”

Và ông tự trả lời: “Hội đồng lý luận cứ tranh luận mãi, cứ muốn tìm ra mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cứ loay hoay mãi mà có tìm ra đâu.”

Làm bộ trưởng lo chuyện đầu tư, nhưng ông Vinh thú thật rằng số vốn đầu tư ở nước ta đang tụt dần, tụt dần. Vì nhà nước cạn tiền! Ông Vinh nói: “Ngân sách đang thâm hụt một cách nghiêm trọng, chưa từng có.” Ông cho các con số. Trong những năm từ 2006 đến 2010, tổng chi đầu tư phát triển chiếm khoảng 37% đến 40% của GDP (Tổng sản lượng nội địa).

Nhưng “năm 2013 chỉ còn 29,1% tổng đầu tư toàn xã hội, tức là mọi nguồn vốn huy động của dân, tư nhân, nhà nước, đầu tư nước ngoài chỉ có được như thế.” Không có tiền, cho nên, “Từ lúc tôi lên bộ trưởng,... toàn là đi chữa cháy cái cũ đang làm dở...” Ông Vinh nhậm chức đã được hai năm, mà chính phủ không có mục đầu tư nào mới cả. Trong khi đó những “dự án đầu tư từ những năm trước để lại thì suốt nhiệm kỳ của tôi gánh vác cũng không hết.”

Khi chính quyền Việt Nam không có tiền góp làm vốn, thì cũng mất luôn không hưởng được những món tiền do các nước khác giúp để đầu tư, gọi là ODA, cho vay với lãi suất rất thấp. Việt Nam không có tiền góp vốn đối ứng, khoảng hai đến ba phần mưới của tổng số vốn, thì sẽ không thể rút số tiền mà họ đã hứa cho! Hậu quả là có thể sẽ mất 16-17 tỷ đô la Mỹ, vi người ta cho mà không được dùng.

Ông Vinh hỏi: Mà đây là những công trình đầu tư nào? Trả lời: “Ðó là cầu Cao Lãnh, cầu Vàm Cống, cầu Nhật Tân, sân bay Nội Bài, sân bay Long Thành... Những công trình khổng lồ.” Nếu chính phủ Việt Nam không thể góp 20%, 30% tiền vốn thì các công trình đó sẽ không được bắt đầu. Ông Vinh nói thêm: “Cả đất nước có mỗi cái đường Quốc lộ 1 và quốc lộ 14 nói mãi mà không làm được.” Mà các con đường đó, “thật ra đến hôm nay phải xong rồi.”

Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chấp nhận mục tiêu tăng trưởng kinh tế cho năm 2014 chỉ là 5.8%. Nhưng ông Vinh lo rằng tỷ số khiêm tốn này cũng không đạt được; vì tổng số đầu tư thấp quá. Vì “mức 5,8% thì cũng chỉ đạt trong điều kiện tổng vốn đầu tư toàn xã hội phải đạt từ 30% trở lên,” ông Vinh giải thích. Với “dự báo tổng mức đầu tư toàn xã hội (năm 2014) chỉ còn 26-27% thôi... như vậy thì không bao giờ chúng ta có thể đạt được mức tăng trưởng 5.8%. Chúng tôi đã tính ra là cố gắng lắm thì chỉ đạt được 5%.”

Ông Vinh nhắc đến những thứ cần đầu tư nhiều nhất ở Việt Nam: giáo dục, y tế; cả hai đều là đầu tư vào con người. Ông nhận xét rất đúng: Trong đời sống kinh tế hiện nay, tài nguyên quan trọng nhất là con người. Nhân đó, ông cũng cho biết:

“Tôi nói thật 5 năm nữa hết dầu khí là không còn cái gì để bán mà thu tiền vào. Chúng ta đào bới tài nguyên thô đi bán hết rồi. Dầu khí từ 18 triệu tấn, xuống dần 17, 15, 14 rồi 1 triệu và cuối cùng là (sẽ) đóng cửa. Và chúng ta sẽ tụt hậu.”

Nhưng trong nền kinh tế Việt Nam bây giờ, hai ngành giáo dục và y tế đang xuống, cũng vì đảng Cộng sản chủ trương can thiệp, không cho thị trường tự do điều chỉnh. “Vậy thì làm sao mà thu hút và sử dụng nhân tài” và kết luận: “Một nền kinh tế như thế thì không bao giờ có thể phát triển được.”

Khi ông Bùi Quang Vinh chê bộ máy nhà nước làm chính sách dốt, cho nên không làm sao có chính sách tốt được, chắc ông cũng gồm cả một bánh xe trong bộ máy làm chính sách đó, là quốc hội. Ông Vinh nhắc nhở các đại biểu quốc hội họ đã nhầm lẫn dốt nát như thế nào. Năm ngoái, ông Vinh đưa sang quốc hội một dự thảo nghị quyết phát hành trái phiếu chính phủ; nhưng “Ðến khi Quốc Hội thông qua chả hiểu thế nào nó lại (biến) thành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh” (thêm có hai chữ, bảo lãnh). Chỉ có thể giải thích là các ông bà ở quốc hội nghị gật chẳng thấy hai thứ đó khác nhau thế nào. Ông Bùi Quang Vinh phải dạy cho họ một bài học tại chỗ: Một bên là các trái phiếu phính phủ, do chính phủ đứng tên vay tiền. Bên kia là trái phiếu phính phủ bảo lãnh, tức là do các công ty đứng vay, nhưng được chính phủ bảo đảm sẽ đền nếu người vay không trả được nợ. Các ông bà quốc hội không phân biệt được hai thứ, cho nên trông gà hóa quốc! Bùi Quang Vinh kể, “Tôi bảo anh Giàu là ông đọc thế nào mà nó lại sửa mẹ nó thành trái phiếu chính phủ bảo lãnh. Hai cái khác nhau hoàn toàn!... Vậy mà Quốc hội thống nhất 90% chả mấy ai phản đối.”

Một ông bộ trưởng nói trước Quốc hội mà lại văng tục “nó lại sửa mẹ nó thành...” thật là cảnh hiếm khi xảy ra. Nhưng đứng trước cái dốt nát của con người, rất đông người, lắm lúc cũng đáng nổi giận mà văng tục thật! Ông Giàu kể trên chắc là ông Nguyễn Văn Giàu, đại biểu tỉnh An Giang, chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Ông Giàu được nghe văng tục; vì các dự luật về kinh tế phải đi qua bàn giấy của ông trước. Nhưng chính ông Giàu này đã từng làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam! Không lẽ một thống đốc Ngân hàng Nhà nước mà không phân biệt được hai loại trái phiếu đó khác nhau hay sao?

Cái dốt của bộ máy chính quyền không nằm riêng trong quốc hội mà ở khắp mọi nơi. Như ông Vinh kể, bây giờ họ bầy đặt sẽ bỏ phiếu tín nhiệm các bộ trưởng. Ðiều mâu thuẫn là “thể chế thì một đảng, lại học bỏ phiếu theo kiểu phương Tây đa đảng!”

Trở lại câu hỏi trên đầu bài: Trung Cộng tiến thêm một bước trên đường cải tổ kinh tế, còn Việt Nam thì sao?
Ông Bùi Quang Vinh có câu trả lời. Ông than rằng ông không có quyền quyết định: “Mình có quyết được cái quái gì. Mình đề xuất bao nhiêu chế độ, chính sách nhằm đổi mới đất nước, cuối cùng chả thấy đâu. Vậy thì quyết cái gì? Làm sao mà chịu được, làm sao mà đổi mới được.”

Nếu không đổi mới ngay bây giờ thì trong tương lai, nước Việt Nam sẽ chịu thua kém không những các nước Thái Lan, Malaysia, Indonesia mà còn lẹt đẹt đi sau cả Lào và Campuchia. Ðất nước đang tiến tới nền Kinh tế Củ mài Ăn xuông, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ông Bùi Quang Vinh đã báo trước.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Chúng ta đang sống trong thời đại nào?
Nguyên Anh
(Danlambao) - Thế kỷ 21 là một kỷ nguyên toàn cầu, với sự phát minh ra internet trái đất đã không còn hình tròn mà đã là một đường thẳng kết nối những ý nghĩ của mọi người. Thế giới không còn biên giới với các vùng lãnh thổ quốc gia khác và để mặc cho nhà cầm quyền độc tài tiếp tục chính sách bưng bít thông tin bằng bức màn sắt ở thế kỷ 20 - nay đã bị xuyên thủng tan nát. Những luận điệu tuyên truyền một chiều chỉ còn sót lại trên miệng những người thân cộng hoặc các dư luận viên sống nhờ nói láo, lấy dối trá làm phương tiện dù trong thâm tâm thực sự họ cũng không tin đó là sự thật vì thực tế đã chứng minh điều đó hàng ngày trong cuộc sống...

Những thực tế đó cho thấy dưới sự cai trị sắt máu của đảng CS dân tộc Việt Nam tiếp tục sống như một loài động vật dật dờ không còn sinh khí khi ban tuyên láo ra rả hàng ngày:

- Mọi việc đã có đảng và nhà nước lo! Đảng ơi, đảng thật là vĩ đại quá đấy...

Về quốc phòng dưới sự điều hành hèn nhát của đảng, các chiến sỹ trong mọi binh chủng chỉ có một nhiệm vụ tối quan trọng:

Đàn áp người dân dưới các mệnh đề phòng chống bạo loạn, khủng bố, phản động nhưng thật ra là chiếm đoạt đất đai, tước đoạt quyền tư hữu hợp pháp của người dân. Những ý kiến phản biện, tranh đấu cho một nước Việt Nam Dân chủ Đa nguyên đã bị đảng bóp nghẹt thẳng tay. Ngoài ra cái sự hèn hạ của đảng còn lây lan qua đội ngũ tướng lĩnh chỉ huy quỵ lụy van xin cái lòng hữu hảo thương hại của bọn bạn vàng khốn nạn, qua những thế lực đã giúp đảng thôn tính Việt Nam. Một số khác lôi thôi lếch thếch nói nhăng nói cuội như tướng Nguyễn Chí Vịnh hết đi chỗ này đến đi chỗ khác cầu mong tìm kiếm được một sự hậu thuẫn của các quốc gia văn minh hùng mạnh, nhưng tiếc thay cái chủ nghĩa CS ngày nay trên thế giới ai cũng biết khuôn mặt thật bạo tàn cho nên không ai dại gì giúp cho một tên độc tài vũ khí, phương tiện để đàn áp ngay chính người dân của mình!

Chỉ còn có cách đi mua và cái giá đã được đội lên nhằm tư lợi các viên chức có thẩm quyền với các hạm đội tàu ngầm lạc hậu so với thế giới, máy bay thì cũng chỉ thuộc loại xoàng xoàng đánh đâu thua đấy!

Về kinh tế thì chỉ có những cái đầu nói láo như vẹm mới có cái phát minh ra một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, một cách nói láo không biết ngượng mồm bằng ngụy từ nhằm biện minh cho con đường đi theo tư bản chủ nghĩa của chế độ CS, kết tinh đó là các tập đoàn, quả đấm thép đã tan chảy vào không khí chỉ còn lại những cái xác không hồn và số nợ không tưởng!

Đội ngũ doanh nhân ngoài quốc doanh chịu không nổi các sắc thuế hút máu của đảng mạnh ai nấy dẹp, chỉ còn lại các công ty với danh xưng vang như sấm nhưng thực chất chỉ là cho vay cắt cổ, bán hóa đơn ăn lời thuế VAT, lừa đảo, móc ngoặc, tham nhũng, đảng cứ thử nhìn các công ty của mình điều hành theo công thức cha truyền con nối cho đến các dự án có cái nào không có hoa hồng? thậm chí muốn mua hàng đảng hóa giá sau khác vụ án cũng phải biết làm hai giá điều đó chứng tỏ cho toàn dân được thấy cái mệnh đề sống, học tập làm theo tấm gương đạo đức HCM trong tầng lớp cán bộ đảng viên đã băng hoại đến như thế nào.

Chỉ còn những mặt hàng thiết yếu đảng độc quyền như xăng dầu, điện nước, phân bón, hóa chất, thuốc men là còn mãi lực nhưng đảng lại quá điếm đàng khi bán cho người dân với cái giá thắt cổ hòng đem lại lợi nhuận cao nuôi sống băng đảng của mình, có cái đảng cầm quyền quốc gia nào hành xử với dân như đảng?

Về xã hội càng buồn hơn khi dưới sự dẫn dắt của cái đảng tự hào quang vinh đạo đức người dân đã xuống cấp nghiêm trọng!

Những con người chạy ngược chạy xuôi trên các nẻo đường hàng ngày chỉ mong mỏi một điều duy nhất:

Tiền!

Trong đầu họ chỉ mong có tiền, để có bữa cơm chén cháo đạm bạc cho gia đình, tiền học cho con, tiền đi khám bệnh, tiền để đóng mọi thứ tiền tháng mà đảng đòi và họ dần trở nên chai sạn trước đồng loại, cứ nhìn những vụ việc trên báo chí loan tin hàng ngày, một kẻ bị nạn trên đường mọi người xúm vô đen nghẹt, nhưng không phải họ xúm vô vì muốn giúp đỡ mà là hôi của, lượm tiền, ăn cắp công khai trước mặt nạn nhân hoặc tồi tàn hơn các thanh niên trộm chó bị đánh đến chết đã cho thấy đảng đã không còn tính người trong việc điều hành quốc gia, đảng chỉ mong muốn đem đến một điều duy nhất cho người dân:

Đói!

Chỉ có đói họ mới bôn ba kiếm tiền mà lãng quên các bất cập trong cuộc sống, làm ngơ trước tầng lớp quan tham tư bản đỏ dòi bọ và nhủ thầm đó là do số phận.

Số phận con người khi sinh ra đời ai cũng như ai đảng ạ, nhưng chỉ vì nhờ có đảng gồm những tên xuất thân từ tầng lớp thất học dẫn dắt nên chúng ta mới có một xã hội như ngày hôm nay.

Đảng sẽ lại lý luận cùn là nước ta còn nghèo, dân tộc ta mới chấm dứt chiến tranh có... 38 năm cho nên còn nhiều khó khăn để tiếp tục lừa mị toàn dân tộc sự trị vì của mình và lại tiếp tục con đường nhồi sọ thế hệ trẻ trong nước về những vinh quang giả tạo, những anh hùng ma mị, những đường lối chính sách xây nhà tình nghĩa cho những kẻ theo đảng năm xưa, điện đường trường trạm đảng chỉ show mặt trái còn mặt thật thì đảng dấu biệt cái sự thật là đảng phải có trách nhiệm làm việc đó như chính phủ các quốc gia khác.

Những gì đảng làm được ít thì nhưng nhờ có cái ban tuyên láo bốc phét lên thì nhiều còn đến khi sự cố nghiêm trọng xảy ra như thủy điện, tai biến ngành y thì các quan nhà đảng trốn biệt hoặc đưa cái mặt lên cơ quan truyền thông ba hoa chích chòe theo cái cách lý luận bại não của mình, mạng người vô tội của Việt Nam rẻ rúng đến thế sao đảng?

Ở thế kỷ này cho dù đảng có bưng bít cũng vô ích thôi vì thời gian để đảng chứng minh đã hết, cứ nhìn các trẻ em vùng sâu vùng xa thiếu đói, thiếu chữ, thiếu tất cả những gì mà loài người được hưởng thì ai cũng biết cái uy tín của đảng đã tuột dốc không phanh...

Đừng nhìn các quốc gia khác mà mắc cỡ đảng ạ!

Cứ nhìn miền Nam trước năm 1975 chưa có sự giải phóng của đảng trên các góc cạnh dân trí, dân sinh an sinh xã hội thì người dân hôm nay đã thụt lùi so với thời điểm đó hàng thế kỷ, các giá trị nhân văn đã mai một, đạo đức không còn hiện diện trong đời sống Việt Nam thì tình đồng loại nghĩa đồng bào ở đâu mà ra?

Lấy đâu mà người với người không sẵn sàng giết nhau chỉ vì những lý do vụn vặt đời thường?

Đảng không đồng thuận với bài viết ư?

Cứ đưa bàn tay mình lên mà nhìn xem, từ người cao nhất cho đến kẻ thấp nhất xem có ai sạch không?

Tiếc thay tay người nào người nấy đều trót nhúng chàm hết rồi nhưng đảng vẫn đeo cái khuôn mặt mo vào leo lên thuyết giảng về chế độ ưu việt, quang vinh và như các loài thú hoang dã đảng tỉa tót bộ cánh của mình thật sạch sẽ bước vào ánh đèn chói lòa mà đảng nghĩ là ánh hào quang của mình tươi tỉnh ngồi nghe lại những nhạc phẩm xa xưa, sản phẩm của một nền văn hóa một thời được đảng cho là đồi trụy phản động cần phải tiêu diệt loại trừ và tấm tắc khen hay...

Quá tồi đảng nhỉ?

Đi chết đi đảng, sống làm gì cho chật đất và bẩn mắt người dân!

Nguyên Anh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Món nợ không thể quịt

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Thế là Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội Ðồng Nhân Quyền của LHQ. Nhân dân ta vui hay buồn? Tùy lập trường chính trị, cách suy nghĩ, trên tư cách công dân.

Có người thông tin cho nhau, ngỡ ngàng, khó hiểu. Có bạn còn bực bội, “không sao hiểu nổi,” nước nổi tiếng chà đạp nhân quyền bỗng nhiên được khen thưởng, vinh dự gia nhập cơ quan có sứ mệnh cao quý là phổ cập quyền sống có nhân phẩm khắp nơi trên trái đất. Cứ như một học sinh kém, xếp loại cuối lớp được bằng khen. Có bạn trách móc LHQ với uy tín quốc tế lớn để xảy ra một việc bất xứng, phi lý, ngược ngạo ngay giữa một phiên họp của Ðại Hội Ðồng.

Rất cần bình tâm để đánh giá đúng tình hình, không rơi vào bi quan nản chí, thậm chí hoang mang, cay cú.

Vì sao báo chí chính thức trong nước lại không tỏ ra vui mừng, hồ hởi như thường lệ? Vì sao những báo Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Tiền Phong, Lao Ðộng... lại chỉ đưa tin một cách hình thức, qua loa, nhạt nhẽo, ở vị trí rất thấp, thậm chí không một lời bình.

Chỉ có mỗi một ông đại biểu Quốc Hội Trần Văn Hằng cao hứng, huênh hoang với phóng viên đài Hà Nội ngày 17 tháng 11 vừa qua rằng “đây là đòn đánh mạnh mẽ vào các đối tượng bấy lâu cố tình bôi nhọ chúng ta.” Ông Hằng là chủ nhiệm Ủy Ban Ðối Ngoại của Quốc Hội, vẫn giữ kiểu ăn nói lấy được, vẫn theo kiểu cách dọa nạt, vu cáo các công dân đứng dậy đòi lại nhân phẩm cho toàn dân. Ông hý hửng hơi bị sớm quá đấy!

Thật ra Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng, Ban Thường Vụ Quốc Hội vừa mừng vừa lo khi được tin Việt Nam vào được Hội Ðồng Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Nếu họ biết điều, tỉnh táo, họ sẽ vui một, lo đến mười phần.

Nếu như hàng ngũ anh chị em công dân trong ngoài nước hiến thân cho tự do, dân chủ và nhân quyền tỉnh táo nhìn rõ tình hình một cách chân thực, sẽ thấy nhiều điều kiện thuận lợi mới chưa từng có đang mở ra cho chúng ta, chỉ cần chúng ta biết tận dụng một cách sáng tạo và sâu rộng.

Bởi lẽ chính quyền đảng trị trong nước đã buộc phải đưa ra một loạt lời hứa và cam kết với Liên Hiệp Quốc, với Hội Ðồng Nhân Quyền mà Việt Nam nay là một thành viên, nghĩa là với toàn thế giới và với toàn dân Việt Nam. Ðây là lời hứa danh dự của một chính quyền của một nước gần 100 triệu dân, long trọng cam kết thực thi không chậm trễ một loạt việc làm, bước đi, cải cách, đổi mới, dưới sự kiểm soát, thanh tra, quan sát thường xuyên tại chỗ của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế liên quan, cũng như dưới sự theo dõi, quan sát, kiểm tra của toàn dân VN.

Ðiều cực kỳ hệ trọng là tất cả 14 điều “hứa hẹn và cam kết” (Pledges and Commitments) đều là những vấn đề chính quyền toàn trị xưa nay cố tình tránh né, trì hoãn, khi thì viện cớ chủ quyền quốc gia bất khả xâm phạm, khi thì vin vào điều kiện kinh tế xã hội chưa chín. Cho đến nay nhờ sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức Liên Hiệp Quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế với các chiến sĩ dân chủ và nhân quyền VN, đã tạo nên sức ép đủ mạnh buộc chính quyền trong nước không thể nào không lùi bước, nhượng bộ, chịu hứa hẹn và cam kết công khai long trọng trên giấy trắng mực đen.

Xin kể ra dưới đây những lời hứa và cam kết quan trọng nhất.

Trước hết Việt Nam hứa và cam kết thúc đẩy việc thực thi và bảo vệ những giá trị nhân quyền do Liên Hiệp Quốc đề xướng, và tuyên bố tự nguyện ứng cử để thành một thành viên của Hội Ðồng Nhân Quyền.

Do đó, Việt Nam cam kết thực hiện những điều sau:

1-Tuân theo và áp dụng những chuẩn mực phổ cập về nhân quyền của LHQ trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và quan hệ quốc tế.

2-Thực thi những mục tiêu được LHQ đề ra cho thiên niên kỷ.

3-Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tư pháp theo tiêu chuẩn của Nhà nước pháp quyền, trong đó có nội dung tôn trọng nhân quyền.

4-Bảo đảm an ninh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo đảm công lý cho những người dễ bị tổn thương như: phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật, dân tộc thiểu số.

5-Quan tâm tuyên truyền, giáo dục, đào tạo cán bộ, nhân viên về thực thi nhân quyền trong xã hội.

6-Thực hiện các khuyến cáo về mục tiêu nhân quyền theo các chu kỳ kiểm điểm 1 và chu kỳ 2 của UPR ( Universal Periodic Review). Chu kỳ 1 đã thực hiện năm 2009, chu kỳ 2 sắp tới.

7-Thực hiện nền dân chủ từ cơ sở, huy động toàn dân tham gia cùng các tổ chức xã hội trên tinh thần chủ dân nhằm phổ cập nhân quyền sâu rộng.

8-Tích cực hoạt động có trách nhiệm trong Hội Ðồng Nhân Quyền nhằm thúc đẩy việc tôn trọng nhân quyền trên thế giới, với tinh thần minh bạch, trong sáng, khách quan.

9-Mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác, đối thoại với LHQ, với các cơ quan của LHQ, với Cao ủy Nhân quyền của LHQ, kể cả việc mời thăm Việt Nam để quan sát.

10-Thực hiện sự hợp tác liên chính phủ nhằm tôn trọng và bảo vệ nhân quyền.

11-Thực hiện hợp tác với các nước ASEAN trên lĩnh vực nhân quyền, thúc đẩy việc thực thi Tuyên bố về nhân quyền của ASEAN.

12-Mở rộng hợp tác song phương với các đối tác nhằm thực thi nhân quyền rộng rãi.

13-Sớm tham gia Công ước Chống tra tấn.

14-Tham gia việc hoàn thành Công ước về Quyền của người khuyết tật.

Có thể nói từ nay, theo lý lẽ và pháp lý, sau khi nhà cầm quyền CS tuyên bố tự nguyện tích cực truyền bá, bảo vệ nhân quyền một cách có trách nhiệm, họ phải nhận ngay các chiến sĩ bảo vệ nhân quyền đang bị cầm tù là đồng minh, đồng chí của họ.

Nếu họ tự trọng, giữ đúng lời hứa và cam kết, họ phải nhận những Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Ðinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên cùng biết bao chiến sĩ nhân quyền khác là bạn thân, là bạn đồng minh, mới phải lẽ.

Ai cũng biết họ không làm thế. Vì họ không thật lòng. Họ chỉ hứa và cam kết để tiếp tục được nhận những khoản tiền FDI và ODA cực lớn, không thì chết cả nút. Vì họ không thể sống một mình, quay lưng với LHQ. Họ sẽ giở nhiều thủ đoạn, ù lì, ngụy biện, có khi trâng tráo, như ông Trần Văn Hằng nói trên, mua thêm thời gian để hưởng đặc lợi.

Nhưng lần này họ bị kẹt đủ thứ. Việc thông qua Hiến Pháp mới khó bề trôi chảy. Bởi lẽ học thuyết Mác-Lênin, chủ nghĩa CS, khái niệm kinh tế nhà nước là chủ đạo đều đi ngược với nhân quyền. Luật đất đai sửa đổi cũng đầy vướng mắc. Nợ quốc gia chạm đáy. Xã hội băng hoại do quan chức mọi cấp bất tài tham nhũng hư hỏng tận cùng. Có tử hình vài tên chỉ càng lộ là nước cờ hạ sách, thí tốt đen, vì những vụ to hơn nhiều, khủng hơn nhiều vẫn ở ngoài pháp luật. Họ thí vài tên làng nhàng, chừa ra khối kẻ tham ô loại bự, không bận tâm đến bầy sâu lúc nhúc khắp nơi.

Ðặt bút ký lời thề và cam kết về nhân quyền, chế độ toàn trị đã sa vào bẫy tự hủy diệt, nếu không tự thay đổi về bản chất, để trở thành một chính quyền dân chủ, lương thiện, tôn trọng nhân quyền một cách tự giác.

Ðã thành quy luật nhân quyền càng mở rộng, chế độ độc đảng toàn trị càng teo quắt lại. Ðã hứa, đã cam kết phải giữ lời hứa, phải tôn trọng 14 lời cam kết. Ðó là món nợ không thể quịt được.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Xung đột Hồi Giáo Sunni-Shia đe dọa hòa bình thế giới
Hà Tường Cát


Tranh chấp giữa hai phái Hồi Giáo Sunni và Shia (hay Shi’ite khi nói về người) hiện nay trở thành mối đe dọa lớn nhất cho hòa bình thế giới,
vì không chỉ giới hạn trong vấn đề tín ngưỡng mà còn được thúc đẩy bởi những yếu tố chính trị và lôi cuốn vào đó
tất cả các dân tộc và quốc gia Trung Đông.

Image
Một ông đạo Hồi Giáo Shia đi ngang tòa nhà bị tấn công bằng lối đánh bom tự sát làm 23 người chết,
150 người bị thương, ở Beirut, thủ đô Lebanon, hôm Thứ Tư. (Hình: Anwar Amro/AFP/Getty Images)


Lý tưởng dân chủ tự do không phải là động lực căn bản trong những biến chuyển tại các quốc gia Trung Đông như người ta có thể lầm hiểu, vì trong lịch sử lâu dài tình hình khu vực này vẫn luôn luôn chịu sự chi phối từ nhiều nguồn gốc phức tạp khác.

Hai biến cố mới xảy ra trong tuần này: vụ bạo động ở Rawalpildi, Pakistan, và vụ nổ bom tấn công vào tòa đại sứ Iran ở Beirut, Lebanon, chứng minh tính cách trầm trọng của tình thế ấy.

Sự đối đầu giữa Saudi Arabia theo Hồi Giáo Sunni và Iran theo Hồi Giáo Shia là một yếu tố chính trong cuộc nội chiến ở Syria và lôi cuốn sự can dự của các lực lượng khác từ Lebanon, Iraq cho tới al-Qaeda. Trong khi đó thì Pakistan và Afghanistan là một mặt khác của cuộc xung đột, cuộc chiến tranh “ủy nhiệm”.

Sự phân giáo trong đạo Hồi bắt đầu từ năm 632 khi Thiên Sứ Muhammad (hay Mahomet) qua đời. Tranh chấp nổi lên ngay sau đó do vấn đề ai sẽ là người kế tục đấng Tiên Tri để lãnh đạo. Abu Bakr, ông bố của Aisha – người vợ cuối cùng của Muhammad – được bầu làm caliph (nhà lãnh đạo tôn giáo) đầu tiên. Nhưng Fatimah, con gái bà vợ thứ nhất của Muhammad, cho rằng chồng mình, Ali Ibn Abi Talib, mới là người chính danh ở vị trí ấy, vì Ali vừa là em họ vừa là con rể và bố các đứa cháu của Muhammad. Nội chiến trong đạo Hồi đã xảy ra giữa nhiều phe phái và tiếp tục cho đến sau khi Ali bị ám sát năm 661.

Ngưới con thứ của Ali, Hussein bin Ali, nghĩa là cháu ngoại của Thiên Sứ Muhammad, được những người theo Ali tôn lên làm lãnh đạo. phe Shia, tới năm 680 bị phe phái Sunni phục kích giết chết trong trận chiến Karbala tại Iraq ngày nay và chặt đầu đưa về để một tháng tại Damascus, Syria. Phái Shia coi Hussein là thánh tử đạo và cho đến nay hàng năm vẫn tổ chức ngày lễ tưởng niệm thiêng liêng này, gọi tên là hội Ashura.. Trận Karbala được coi như dấu mốc phân chia giữa hai phái Hồi Giáo Sunni và Shia.

Giáo phái Sunni chiếm đa số trong dân Hồi Giáo, trên dưới 80%, ở hầu hết các nước Hồi Giáo bao gồm Trung Đông, Bắc Phi và Nam Á như Indonesia, Malaysia, Pakistan. Dân Hồi Giáo Shia chiếm khoảng từ 10% đến 20%, nhiều nhất ở Iran, khoảng 70 triệu (90-95% dân số); Iraq 20 triệu (65-70%), cùng nhiều quốc gia khác nhưng đáng chú ý là Syria 4 triệu (15% dân số) và Lebanon 1.5 triệu (35% dân số) – hai quốc gia đang là trung tâm của sự xung đột đề cập tới trong bài viết này.

Cuộc tranh chấp giáo lý giữa hai phái Hồi Giáo với lịch sử đẫm máu từ 1400 năm vẫn cón tiếp tục đến nay và tăng cường trong bối cảnh xung đột chính trị nội bộ một quốc gia hay giữa các quốc gia. Tại những nước mà người Shi’ites không nắm được quyền cai trị, họ thường bị đàn áp. Đó là trường hợp khi Saddam Hussein cầm quyền ở Iraq. Cuộc chiến tranh Iran – Iraq (1980-1988) ngoài những nguyên nhân khác, là cuộc xung đột giữa Hồi Giáo Sunni ở Iraq và Shia ở Iran.

Nhưng ngược lại khi người Hồi Giáo Shia nắm quyền lực thì dân Hồi Giáo Sunni lại phải chịu sự trấn áp bất công. Tổng Thống Bashar al-Assad là người Hồi Giáo Alawite, một phân chi nhỏ chỉ chiếm 12% trong Shia tức là khoảng 12% dân số Syria. Khi dân chúng nổi dậy, Iran là nước đứng về phía chính quyền của Tổng Thống al-Assad. Ngược lại Saudi Arabia cùng các nước Hồi Giáo Sunni vùng Vịnh trợ giúp tài chính và vũ khí cho phe nổi dậy. Thêm nữa Hồi Giáo Sunni ở Iraq và cả al-Qaeda cũng tham gia cuộc nội chiến chống chính quyền Syria.

Hồi Giáo Shia chỉ chiếm 35% dân Lebanon và là thành phần bị trị. Hoàn cảnh xã hội ấy tạo điều kiện cho nhóm thiểu số quá khích Hezbollah phát triển và trở thánh một tổ chức khủng bố có lực lượng đáng kể nhận sự trợ giúp của Iran. Nhóm này cũng can dự vào nội chiến Syria đứng về phía chính quyền trong khi dân Hồi Giáo Sunni ở Lebanon ủng hộ phe nổi dậy. Xung khắc giữa các phe ở Lebanon có lẽ là lý do đưa tới sự bất bình thể hiện qua vụ nổ bom tự sát đánh vào tòa đại sứ Iran ở Beirut mới đây. Một nhóm có liên hệ với al-Quada nhận đã gây ra vụ này, làm ít nhất 23 người chết trong số có một tùy viên ngoại giao Iran.

Cũng nên lưu ý rằng chỉ trước vụ nổ bom ở Beirut, Ngoại Trưởng Iran Javad Zarif trong một cuộc phỏng vấn, đã nhìn nhận rằng xung đột Hồi Giáo Sunni-Shia là mối đe dọa cho hòa bình thế giới. Không chỉ trong cuộc nội chiến Syria, xung đột giữa hai giáo phái ở Iraq đã làm hơn 6,000 người thiệt mạng trong năm 2013. Tại Pakistan, hành động bạo lực chóng Shia cũng đã gia tăng đáng kể. Tại Ai Cập, chính quyền quân sự đàn áp đẫm máu Muslim Brotherhood, tổ chức Hồi Giáo thân Iran.

Tất cả những sự kiện ấy cho thấy tính cách phức tạp của tình hình Trung Đông. Riêng trong cuộc nội chiến Syria, người ta thấy có sự tham gia của những tổ chức khủng bố Hồi Giáo vào cả hai phía. Nếu Nga đã biện hộ cho hành động bênh vực chính quyền al-Assad và không muốn can thiệp vào cuộc nội chiến với lý do không thể trợ lực khủng bố thì lập luận ấy cũng không phải là sai. Robert Fisk, ký giả thướng trú của tờ báo Anh The Independent ở Trung Đông, đưa ra lời cảnh cáo các nhà lãnh đạo Tây Phương là phải lưu ý tới khía cạnh cực đoan quá khích trong cuộc nội chiến đó. Ông cũng nhắc nhở rằng không thể hy vọng là xung khắc từ 1400 năm trong nội bộ Hồi Giáo, ngày nay có thể dàn xếp trong một sớm một chiều.

Nhưng như đã từng thấy xảy ra nhiều lần qua lịch sử, tình thế phức tạp ấy có thể làm nảy sinh ra những chuyện trớ trêu, chẳng hạn như hai nước thù nghịch có thể một lúc nào đó trở thành đồng minh, và ngược lại. Chẳng hạn Israel với Saudi Arabia và các vương quốc Hồi Giáo vùng Vịnh dường như đang càng ngày càng tìm thấy ở nhau những điểm chung. Họ đều nhìn thấy Iran là một mối đe dọa chung cho toàn khu vực và ít nhiều không tán thành đường lối tiếp cận cởi mở dùng ngoại giao của Hoa Kỳ đối với vấn đề quốc gia Hồi Giáo này phát triển nguyên tử. Ngạn ngữ “kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta” có thể đang được thể hiện trong trường hợp này.

Sau vụ đánh bom khủng bố ở Beirut, bộ ngoại giao Iran nói là có sự tiếp tay của tình báo Israel. Còn Syria và Hezbollah thì hướng sự nghi ngờ về Saudi Arabia, vương quốc cùng với Qatar là hai nước yểm trợ mạnh mẽ nhất cho quân nổi dậy ở Syria. Thông tấn xã chính thức của vương quốc, Saudi Press Agency, đưa ra một tuyên cáo cực lực bác bỏ một tin tức loan tải trên tờ Sunday Times ở London rằng Israel và Saudi Arabia đang hợp tác chuẩn bị một cuộc tấn công quân sự vào Iran nếu giải pháp ngoại giao thất bại trong việc buộc Iran cắt giảm chương trình phát triển vũ khí nguyên tử.

Cả hai phái Hồi Giáo đều chống Israel, mặc dầu Hồi Giáo Shia không coi Jerusalem là thánh địa, có nghĩa là sự chống đối có thể ít mạnh mẽ hơn. Nhưng trong thế chính trị hiện đại, hai phái đều muốn đoạt danh nghĩa chính thống về tôn giáo và muốn là những thành phần thánh chiến kiên quyết chống Do Thái, cho nên Israel không thể đặt hy vọng về hòa bình với bất cứ phái nào trong khi xung đột giữa họ vẫn là một thực tế khác. (HC)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tại sao cộng sản không thể tự thay đổi
Ngô Nhân Dụng
Bài trước trong mục này đã trích dẫn nhiều câu của ông Bùi Quang Vinh, nói với các đại biểu Quốc hội. Ông bộ trưởng bộ Kế hoạch và Ðầu tư nói thẳng rằng số đầu tư đang xuống thê thảm. Ông Bùi Quang Vinh công nhận: Phải thay đổi thể chế tất cả nền kinh tế, thay đổi triệt để.

Ông Bùi Quang Vinh nói, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Nhưng bây giờ rạch ròi ra, thị trường là thế nào và định hướng xã hội chủ nghĩa là thế nào?” Ông nêu ra thí dụ cụ thể trong ngành sản xuất điện; nó không theo thị trường, mà cũng không theo định hướng xã hội chủ nghĩa! Ông báo cáo rằng ở các nước tiên tiến tư nhân đóng vai chính trong việc đầu tư vào ngành sản xuất điện, một thứ mà người dân nào cũng tiêu thụ. Ở Việt Nam, nhà nước nắm vai trò quyết định, để “sản xuất ra một sản phẩm bán dưới giá thành.” Tức là hoàn toàn phản lại quy tắc kinh tế thị trường.

Vậy chính sách đó có theo chiều hướng xã hội chủ nghĩa hay không? Ông Vinh lại vạch ra: Nó chỉ giúp cho các nhà tư bản bỏ tiền làm các nhà máy xi măng và thép. Họ chỉ cần hưởng giá điện rẻ cũng đủ kiếm lời rồi. Tức là các nhà tư bản được công quỹ trợ cấp dưới hình thức giá điện rẻ, mà công quỹ là tiền của toàn dân chứ không phải của riêng ông nhà nước. Ông nhà nước lấy tiền của dân nghèo trợ cấp cho giới tư bản. Ông Bùi Quang Vinh hỏi: “Vậy xã hội chủ nghĩa ở đâu?” Ông Vinh còn nhìn sang nước Mỹ, nói thêm: “Không phải chỉ có chúng ta xã hội chủ nghĩa mới lo cho dân. Thằng (sic) Obama nó (đưa ra) chính sách hỗ trợ bảo hiểm y tế cho dân nghèo. Ðấy người ta lo cho dân nghèo như vậy, đâu chỉ có mình lo cho dân nghèo.”

Cho nên, đây là lời ông Vinh: “Chúng ta phải đổi mới căn bản, triệt để thể chế kinh tế của chúng ta.” Ông cũng nói việc đổi mới thể chế cần làm gì: “Phải nói rằng chúng ta phải (theo đúng) kinh tế thị trường, phải thị trường hơn nữa.”

Phải công nhận ông Bùi Quang Vinh là một người sáng dạ. Ông được phong làm bộ trưởng Kế hoạch và Ðầu tư mặc dù không được huấn luyện ngày nào về môn kinh tế học. Ông xuất thân là sinh viên trồng cây ở trường Ðại học Nông nghiệp.

Lớn lên, chỉ làm công tác thực tế tại nông trường quốc doanh Phong Hải, tỉnh Hoàng Liên Sơn, từ chức đội trưởng sản xuất lên tới giám đốc nông trường; hoàn toàn sống trong lề lối kinh tế chỉ huy. Ông có đi học hai năm ở Học viện Quản lý Kinh tế Nông nghiệp cao cấp Mátxcơva, Liên Xô trước năm 1984. Nhưng ai cũng biết thời đó người ta dạy quản lý hoàn toàn theo lối cộng sản, bây giờ là thứ kiến thức hoàn toàn vô ích. Vậy mà, mới hai năm, leo từ chức bí thư Tỉnh ủy Lào Cai lên làm bộ trưởng lo làm kế hoạch cho cả nước Việt Nam, ông Bùi Quang Vinh đã biết nói những câu rất sáng. Ông Vinh lập đi lập lại mấy lần: “Phải tiếp tục thị trường hóa, thị trường một cách mạnh mẽ.” Phải công nhận ông Vinh đã học rất nhanh, đã nhìn rất đúng: Phải thị trường hóa nền kinh tế.

Câu hỏi kế tiếp là muốn “thị trường hóa” thì phải làm gì?

Ðến đây thì chúng ta không thấy ông Bùi Quang Vinh nói đến giải pháp “thị trường hóa” nào cả. Ðiều đáng lo ngại là chính ông Vinh và những người cùng ngồi trong chính phủ với ông thực sự họ không biết muốn thị trường hóa phải làm gì. Ông biết rằng kinh tế thị trường có thể “tạo ra môi trường cho tất cả mọi thành phần kinh tế để người ta có điều kiện thuận lợi nhất để phát huy tất cả những gì trong khả năng người ta có thể làm được... cho đất nước phát triển.”

Nhưng muốn tạo ra thứ môi trường tốt như thế, chúng ta phải làm gì? Ông Vinh có thể biết, nhưng không nói một tiếng nào cả. Muốn biết “thị trường hóa” phải làm gì, chỉ cần nhìn qua các nước cộng sản cũ ở Ðông Âu coi người ta đã làm gì.
Phải tư nhân hóa các xí nghiệp quốc doanh. Phải sửa luật lệ cho các doanh nghiệp tư được đối xử ngang hàng với doanh nghiệp nhà nước. Phải tôn trọng luật pháp. Các luật lệ và chính sách kinh tế phải công khai, minh bạch, và giản dị hóa để chính quyền từ trung ương tới địa phương không tạo ra những hàng rào ngăn cản các doanh nhân tư rồi đòi hối lộ. Phải tư nhân hóa cả hệ thống tài chánh, ngân hàng. Ở các nước Ðông Âu, nước nào thay đổi được môi trường kinh tế nhanh chóng nhất, toàn diện và đồng nhịp với nhau nhất, cũng là những nước kinh tế tiến bộ sớm nhất. Ở Trung Quốc, ông Tập Cận Bình cũng bắt đầu thị trường hóa mạnh hơn trong việc phân bố tài sản, vốn liếng của nước ông. Và ông ta cũng nói ngay đến việc trao quyền làm chủ ruộng đất về cho nông dân, cho các ngân hàng cạnh tranh trong việc định lãi suất, khuyến khích các ngân hàng tư để giảm bớt tầm quan trọng của các ngân hàng công do các cán bộ điều khiển, vân vân.

Những người ngồi trong các ghế lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam họ có biết những điều này hay không? Chắc hẳn là họ có đọc báo. Nhưng tại sao họ không làm gì cả? Bởi vì họ đang được hưởng lợi trong tình trạng không thay đổi. Khi nào cần lắm, “không đổi mới thì chết;” thì họ cũng chỉ thay đổi chút ít. Ðang được hưởng các quyền lợi, ai muốn thay đổi? Bảo họ nhúc nhích, động đậy một chút, thì câu hỏi đầu tiên họ sẽ đặt ra là: Có lợi gì không? Nói rõ hơn: Có lợi gì cho bản thân tôi không?

Bùi Quang Vinh xuất thân là một cán bộ nông trường, rồi leo lên làm giám đốc một nông trường quốc doanh. Quyền lợi của ông ta khác hẳn quyền lợi của giới kinh doanh tư. Ngay tại Trung Quốc, một nước mới cải tổ kinh tế nửa vời, người ta cũng biết rằng cả nền kinh tế phát triển được là nhờ các nhà tư doanh. Nếu không có các tư nhân hoạt động năng nổ thì không có phép lạ kinh tế nào cả. Nhưng giới lãnh đạo cộng sản vẫn luôn luôn kỳ thị, chèn ép giới kinh doanh tư, ở bên Tàu cũng như ở nước ta. Chính sách của nhà nước cộng sản trước sau như một vẫn là nuôi béo các xí nghiệp quốc doanh.

Hiện ở Việt Nam các doanh nghiệp nhà nước được quyền sử dụng 70% số vốn đầu tư của xã hội, chiếm 70% số vốn ngoại quốc cho vay với lãi suất thấp, nhưng họ chỉ đóng góp 38% vào Sản lượng Quốc gia (GDP). Nói giản dị, các doanh nghiệp nhà nước cứ nhận được 70 đồng thì sản xuất ra thêm được 38 đồng. Cái vốn chung của cả nước bị lỗ mất 32 đồng! Khi nói một phần ba các doanh nghiệp nhà nước lỗ lã, người ta tưởng chỉ có họ bị lỗ thôi, không liên can gì đến người dân hết. Nhưng sự thật là tất cả mọi người dân trong nước lỗ, mất tiền, mất gần một nửa số tiền đóng góp cho nhà nước! Tại sao chính sách đảng Cộng sản vẫn cứ bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước như vậy? Lý do vì dân chúng cả nước bị lỗ nhưng các cán bộ, các quan chức lại kiếm lời, lời to!

Ông Bùi Quang Vinh ra Quốc hội bảo các ông bà nghị gật nâng số nợ của chính phủ lên thêm 170 ngàn tỷ đồng, tức gần 8 tỷ đô la nữa. Ông giảng cho quý ông bà nghị gật hay rằng vay nợ bằng cách phát hành trái phiếu như thế tức là chính phủ không cần in thêm tiền; tiền đang có sẵn trong dân chúng sẽ được đem đổi lấy trái phiếu mà thôi; cho nên không lo tạo áp lực làm tăng lạm phát. Nói như thế cho thấy quả thật ông Bùi Quang Vinh không được học về môn kinh tế một ngày nào.

Vì một số tiền có sẵn nếu nằm yên trong các ngân hàng thì không làm lạm phát tăng lên. Nhưng nếu khi ngân hàng bị bắt buộc lấy số tiền đó đưa cho chính phủ đổi lấy tờ giấy nợ gọi là trái phiếu, rồi chính phủ đưa tiền cho các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp này đem tiêu xài, thì vòng quay của đồng tiền sẽ tăng lên ngay lập tức. Cùng một số tiền có sẵn trong nền kinh tế, nếu vòng quay tăng lên thì lạm phát sẽ tăng. Nói chung, cứ đổ tiền vào các xí nghiệp quốc doanh, bỏ vô 70 đồng, họ sản xuất được hàng hóa trị giá 38 đồng. Khi số tiền lưu hành tăng lên nhiều mà số hàng hóa tăng ít hơn, theo định nghĩa nó sinh ra lạm phát! Chỉ khi nào xóa bỏ những xí nghiệp quốc doanh ăn hại này, để tài sản vốn liếng chung của xã hội được trao vào tay những doanh nhân làm việc có hiệu quả, tức là số hàng sản xuất ra nhiều hơn số tiền lưu hành tăng lên, thì mới giảm được lạm phát! Làm như vậy chính là “thị trường hóa” đấy!

Nhìn sang Cộng sản Trung Quốc thì thấy họ còn đi xa hơn Cộng sản Việt Nam trên đường thị trường hóa. Ở Trung Quốc có nhiều nhà kinh doanh tư thành công, phần lớn những người này được lôi vào làm đảng viên cộng sản, nhiều người leo lên ghế đại biểu Quốc hội, có người được vào Trung Ương Ðảng nữa. Nhưng họ có kinh doanh, có làm việc, và có thành công. Ở Việt Nam, một người đã thành công trong kinh doanh là Trần Huỳnh Duy Thức; nay anh đang ngồi tù với bản án 14 năm!

Cộng sản Trung Quốc vừa mới đưa ra chính sách mới, thúc đẩy “thị trường hóa” mạnh hơn, giống như ông Bùi Quang Vinh mới hô hào. Nếu thi hành đúng chương trình cải tổ đợt thứ hai này thì trong 10 năm tới Trung Quốc hy vọng thoát cảnh kinh tế đình trệ. Nhưng liệu họ có thi hành đúng được hay không, là chuyện khác. Một nhà tranh đấu dân chủ Trung Hoa, ông Ngụy Kinh Sinh tỏ ý bi quan; lo rằng Trung Cộng sẽ không thoát khỏi ngõ bí hiện nay. Thứ nhất, ông thấy giới lãnh đạo Trung Quốc như Tập Cận Bình hoàn toàn nằm trong vòng vây của các quan chức và cán bộ cao cấp; không thể làm mất quyền lợi của đám này. Thứ hai, đối với những cán bộ cao cấp đang hưởng thụ nhờ chế độ hiện nay thì việc cải tổ triệt để chỉ mang lại cho họ những điều thiệt hại, rất ít điều lợi lộc mới. Ông Ngụy Kinh Sinh có lần đã đến trò chuyện tại báo Người Việt. Ông vẫn bi quan như thế; vì ông không tin rằng đảng Cộng sản Trung Quốc có khả năng tự thay đổi.

Năm nay, ông nói rõ hơn: Cộng sản Trung Quốc đã bỏ lỡ cơ hội tự thay đổi, từ thời Hồ Diệu Bang làm tổng bí thư. Bỏ qua cơ hội đó, chính họ đã tạo ra một giai cấp mới mà quyền lợi hoàn toàn dựa vào tình trạng cải tổ nửa chừng như bây giờ. Giai cấp mới này sẽ bám chặt lấy cái ghế đang ngồi, với các quyền lợi đi kèm; cho nên khó lòng bắt được họ đứng lên!

Cuối cùng, muốn các đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam thay đổi thì phải có một cuộc cách mạng thật sự. Cuộc cách mạng có thể bùng nổ ngay từ trong nội bộ đảng. Ngụy Kinh Sinh cho biết hiện nay ở Trung Quốc có người con của Hồ Diệu Bang là Hồ Ðức Bình đang hô hào thay đổi triệt để hơn. Ở nước ta chưa thấy ai như vậy. Cho nên chúng ta sẽ được nghe thêm nhiều người nói rất sáng sủa như ông Bùi Quang Vinh, nhưng làm thì chẳng thấy ai làm được cái gì cả!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam
Ngô Nhân Dụng

Chính quyền cộng sản nước ta mới được vào ngồi trong Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc; mặc dù cả thế giới biết họ vẫn liên tục vi phạm tất cả những quyền làm người trong những năm qua. Nhưng khi biết các chính quyền cộng sản độc tài ở Cu Ba, Trung Quốc cũng được vào ngồi trong đó, thì chúng ta có thể hiểu.

Theo quy tắc của Liên Hiệp Quốc, Châu Á được cử 13 nước vào trong hội đồng gồm 47 nước, các nước Á Châu cứ thế thay phiên nhau, mua bán và trao đổi lá phiếu với nhau, chính quyền nước nào cũng đến lượt được vô ngồi trong hội đồng này, sau khi đã ký giấy cam kết sẽ thi hành các điều khoản trong những tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.

Vì vậy, nhiều người Việt trong nước thấy đây là một cơ hội để công khai đòi hỏi chính quyền cộng sản phải tôn trọng quyền làm người, thực hiện đúng các điều họ đã cam kết. Tại Sài Gòn, một nhóm 40 nhà trí thức đã ký kiến nghị yêu cầu thành lập những hội đồng để thúc đẩy nhân quyền. Ngoài những tên tuổi quen thuộc hay ký tên trong các bản tuyên bố, có nhiều người tư cách đáng kính trọng mà ít khi thấy ký kiến nghị, như nhà báo Huy Ðức và Giáo Sư Ðào Công Tiến. Họ đề nghị hãy lập những “hội đồng nhân quyền,” lập ngay trong guồng máy nhà nước, trong các tổ chức được nhà nước bảo trợ hoặc cho phép. Ðặc biệt họ còn đề nghị tổ chức những nhóm bảo vệ nhân quyền của nhân dân nữa. Họ muốn các nhóm đó sẽ lo phổ biến, truyền đạt kiến thức, tổ chức hội thảo về nhân quyền cho dân Việt Nam hiểu; đồng thời, “cập nhật và quảng bá thông tin về tình hình thực thi nhân quyền tại Việt Nam, dựa vào “14 điều cam kết” mà chính quyền đã ký kết khi nộp đơn ứng cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền. Ðây là một ý kiến đáng hoan nghênh; nếu nó được thực hiện mà không để chìm vào quên lãng như bao nhiêu sáng kiến đã đưa ra trong mấy năm qua.

Nhưng một nhóm phụ nữ Việt Nam còn tiến bộ hơn 40 nhà trí thức ở Sài Gòn. Họ không viết kiến nghị xin cho tổ chức những nhóm bảo vệ nhân quyền. Chính họ đứng lên tổ chức lấy; 34 người họp lại, tự đặt lấy danh hiệu là Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam!

Những vị trong nhóm 40 nhà trí thức có tên tuổi đã làm kiến nghị trên đây chắc chắn phải hoan nghênh sáng kiến mới này. Phải hoan nghênh ngay lập tức và ủng hộ hết mình. Bởi vì khi đề nghị tổ chức những nhóm bảo vệ nhân quyền của nhân dân, thì chính họ cũng là nhân dân, chứ có ai không phải là nhân dân đâu? Toàn là những người đã trưởng thành, có trí tuệ và tin tưởng vào giá trị của những quyền con người; chính mình là nhân dân. Tự mình tổ chức được thì tại sao phải xin ai cho phép, hay chờ coi có ai làm giúp cho mình? Hồi còn sống, Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ đã nói một câu đầy ý nghĩa, rằng người dân không thể xin ai ban cho tự do dân chủ mà phải tranh đấu đòi tự do dân chủ. Ông Nguyễn Hữu Thọ hồi đó chỉ nói mà không thấy làm gì. Ông đang làm phó chủ tịch nhà nước, tức là làm quan chứ không còn làm dân nữa; cho nên ông chỉ cổ động người khác thôi. Bây giờ chính các bà, các cô trong nhóm Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam đang thực hiện câu nói của ông Thọ.

Cô Huỳnh Thục Vy là một trong chín người đầu tiên vận động thành lập Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Cô nói rằng những nhà đấu tranh bảo vệ nhân quyền trong nước luôn đóng vai thụ động, bị động trước những việc đàn áp của chính quyền. “Từ nay, chị em chúng tôi muốn chủ động.” Rất nhiều người đã tự đóng vai chủ động trong việc bảo vệ quyền làm người của họ, trong đó có hai phụ nữa. Mẹ con Bà Phạm Thị Lài đã khỏa thân để ra đứng giữa mảnh đất đang bị chính quyền cướp chiếm giao cho nhà đầu tư khai thác. Họ đau đớn sau khi chồng bà phải tự tử vì không giữ được mảnh đất sinh nhai. Bà Ðặng Thị Kim Liêng đã tự thiêu khi quyền sống, quyền cư trú bị xâm phạm chỉ vì cô con gái bà là Tạ Phong Tần chống Trung Cộng xâm lăng và bị đàn áp. Ông Ðoàn Văn Vươn tự mình bảo vệ đất đai và công lý cho gia đình mình, dù phải bạo động, khi bị đám tham quan chiếm đoạt. Các bà Phạm Thị Lài, Ðặng Thị Kim Liêng không có khả năng dùng chất nổ, nhưng họ chứng tỏ tinh thần bất khuất không khác gì. Nếu tất cả mọi người dân Việt Nam đều can đảm, không chịu khuất phục như hai bà, thì chắc chắn nước ta không lo sẽ bị nước láng giếng phương Bắc bắt nạt mãi.

Người Việt Nam không quên rằng những cuộc khởi nghĩa đầu tiên “chống Trung Quốc xâm lược” đều do phụ nữ lãnh đạo. Hai Bà Trưng ở Mê Linh cầm đầu cuộc dấy binh kéo theo 65 thành cùng nổi dậy chống quân Hán. Hai thế kỷ sau, bà Triệu Thị Trinh ở Cửu Chân được quân và dân suy tôn là Bà Vua, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô. Hai Bà Trưng và Bà Triệu là những phụ nữ dưới 30 tuổi; riêng Bà Triệu tuổi mới ngoài 20. Các cô Huỳnh Thục Vy, Lê Thị Công Nhân, Trịnh Kim Tiến cũng bắt đầu biết tranh đấu cho quyền làm người vào lớp tuổi đó. Các nữ tướng của Hai Bà Trưng ngày nay còn được dân thờ làm thần trong các làng, thần phả ghi lại sự tích cho biết đa số họ còn trẻ dưới 20 tuổi; trẻ hơn cả cô Nguyễn Phương Uyên.

Cho nên chúng ta có thể tin tưởng vào vai trò đứng đầu sóng ngọn gió của 35 người phụ nữ mới thành lập Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Họ đủ trí sáng suốt, thông minh, và thừa can đảm để lãnh đạo công cuộc tranh đấu cho quyền làm người của dân Việt Nam.

Bà Dương Thị Tân, vợ của nhà báo tự do Ðiếu Cày đang bị tù, đã nhắn với các quốc gia trong Liên Hiệp Quốc, qua một nhân viên Tòa Ðại Sứ Úc tại Hà Nội, bà nói rằng: “Quý vị biết Việt Nam có một hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhưng quý vị đã bỏ phiếu cho Việt Nam vào Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc thì quý vị phải chịu trách nhiệm về lá phiếu của mình. Từ nay trở đi, nếu có một trường hợp người Việt Nam nào, đặc biệt và phụ nữ Việt Nam, bị sách nhiễu hoặc bỏ tù thì người đó chính là nạn nhân của Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.” Câu nói này cần được dịch sang đủ các ngôn ngữ trên thế giới để phổ biến.

Cô Huỳnh Thục Vy biết sẽ phải vận dụng các phương pháp đấu tranh như thế nào. Trước hết là phải quảng bá cho thế giới biết tổ chức mới này. Cô nói: “Chúng tôi đã có những kênh liên lạc cần thiết với các tổ chức phi chính phủ (NGO) bảo vệ Nhân quyền quốc tế, với các tòa đại sứ và các báo đài. Việc lên tiếng với giới truyền thông và các nhà ngoại giao là việc vô cùng quan trọng.” Vận động ngoại giao quan trọng thật. Bởi vì chính quyền cộng sản Việt Nam không sợ dân chúng mà chỉ sợ dư luận thế giới tạo áp lực cắt bớt viện trợ hoặc đầu tư. Dùng công an chó săn đánh đập, bắt bớ người dân thì dễ, nhưng không thể đánh hay bắt những người cho tiền hoặc đem tiền đến nước ta làm ăn! Nếu thiếu viện trợ và bị giới đầu tư tẩy chay thì công cuộc kiếm tiền, làm giầu cho gia đình các quan chức sẽ bị đình trệ!

Khác với 40 nhà trí thức Sài Gòn chỉ viết kiến nghị xin lập ra các hội đồng nhân quyền mà không nói rõ các hội đồng này phải làm gì nếu chính quyền không tôn trọng quyền làm người của dân; 35 phụ nữ biết công việc của họ là phải làm gì. Và họ nêu lên những việc rất cụ thể và hữu ích.

Cô Huỳnh Thục Vy nói đến những việc làm như: “Trợ giúp tài chính, viếng thăm thân nhân của người bị đàn áp là việc tiếp theo. Cuối cùng nếu một người bị bắt, chúng tôi sẽ tìm kiếm luật sư và vận động các nhà ngoại giao các quốc gia tự do tạo áp lực chính quyền trả tự do cho người bị bắt.”

Những công việc trên đây là việc chung của tất cả mọi người dân Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Cộng sản ở bên Nga, bên Tàu đều phải hỗ trợ những nhà tranh đấu đòi dân chủ tự do ở trong nước và gia đình họ. Phải tạo dư luận trên trường ngoại giao khắp thế giới để đòi chính quyền cộng sản tôn trọng những điều họ cam kết khi xin vào ngồi trong Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.

Vì vậy, chúng ta cần nhiệt liệt hưởng ứng những người đang đi tiên phong, Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Họ là những bà Aung San Suu Kyi của nước Việt Nam.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Ngày phán xét sẽ đến
Tuổi 20

Bao năm rồi không còn nhớ, nhưng quê hương tôi cứ mỗi độ xuân về thì cụ đồ râu tóc bạc phơ ngồi viết câu đối đỏ bên đường nay đã vắng bóng, thay vào đó người ta trơ trẽn, đem ra treo đầy đường, vẽ đầy phố những khẩu hiệu tuyên trunyền mà chẳng ai thèm để ý: “Mừng Xuân, mừng đảng quang vinh.”

Những năm trước họ còn kệch cỡm vô học đến độ dám để cả đảng đứng trên mùa xuân của đất trời, dân tộc. Năm nay, những đỉnh cao sở thú học làm người đôi chút đã biết đưa xuân lên hàng đầu, nhưng cũng chỉ đến đó thôi, trình độ văn hoá bổ túc công nông cả mà.

Chẳng may phải sống trong môi trường ô nhiễm cực kỳ của cái gọi là cnxh. Chẳng may mỗi khi ra đường phải nhìn thấy khắp nơi cờ đỏ búa liềm và một ngôi sao vàng chìm ngập trong biển máu của mầu cờ đỏ. Chẳng may cứ mỗi khi mở TV lại thấy xuất hiện những khuôn mặt no căng béo mỡ, húp híp mắt mở không ra của các Uỷ viên Bộ chính trị, của ngài Thủ tướng “Vinashin”. Ôi tuổi trẻ Việt Nam, chúng tôi bị đầu độc, nhồi nhét trong gần 70 năm nay nơi ao tù xhcn, biết bao giờ chúng tôi mới bơi được ra biển khơi đây?

Trong đêm giao thừa 2012, khai bút đầu năm, trước tiên tôi xin cám ơn nhân loại, và đặc biệt cám ơn những người đã sáng tạo ra hệ thống Internet nhờ đó mà thế hệ trẻ Việt Nam không còn bị giam giữ trong ngục tù ngu dốt của đảng csVN nữa. Cám ơn Bill Gates, Steve Jobs nhờ quý vị mà ngày hôm nay chúng tôi thênh thang lướt mạng ngay trước mũi bọn công an. Những bức màn tre, màn sắt trước đây giam giữ cha anh chúng tôi bây giờ chỉ là trò cười cho thế hệ @. Khi những hàng rào ngăn cấm tư tưởng con người bị phá bỏ bằng công nghệ thông tin, khi những bức tường lửa (firewall) trở thành bất lực trước khát vọng tự do, đấy là lúc dân chủ khai sinh. Tuổi trẻ Việt Nam sẽ đồng khởi vùng lên để trả lại tên đường TỰ DO, chúng tôi sẽ nam kỳ khởi nghĩa để đem lại CÔNG LÝ, cái gì của Cesar hãy trả lại cho Cesar.
Chúng con xin cám ơn cha mẹ đã cho con khối óc chắp cánh bay lên những vì sao cao nhất, và nhận thức được sự giẫy chết của cnxh thay vì chủ nghĩa tư bản như người ta nói. Cha mẹ đã dậy chúng con biết thế nào là dân chủ thực sự khi cho phép chúng con nói lên những điều khiến cha mẹ lo nhiều, sợ hãi nhiều, cha mẹ không bịt miệng chúng con và bắt chúng con phải suy nghĩ một chiều như đảng vẫn làm. Chúng con biết tóc cha mẹ đang bạc đi vì sợ hãi để cho tuổi xanh chúng con vươn lên dưới ánh mặt trời. Xin cha mẹ yên tâm, nếu một mai con phải vào tù thì chế độ hôm nay cũng sẽ chẳng còn bao nhiêu thời gian nữa để giam giữ con, bạn bè, và anh chị em chúng con sẽ hàng hàng lớp lớp như thác đổ triều dâng phá đi khung cửa ngục tù, và ngày đó cũng không xa. Tại Việt Nam hôm nay làm gì có tự do, chỉ có nhà tù lớn hay nhà tù nhỏ mà thôi. Sợ hãi chính là tên cai tù nguy hiểm nhất cho mỗi người chúng ta, nhưng khi vượt qua được nỗi sợ hãi thì chính là lúc kẻ thù của chúng ta lo sợ. Con không còn sợ nữa, bạn bè con không còn sợ nữa, chúng con đang tỉnh thức sau đêm dài u mê. Bây giờ là lúc đảng csVN sợ hãi, chính vì sợ hãi nên chúng ra tay bắt bớ giam cầm bất cứ ai, như con chó điên cắn càn trước khi nhận viên đạn thi ân và bị vất xuống cống.

Các đỉnh cao Bắc bộ phủ cứ bắt hết đi, nhớ mà giữ Bùi Thị Minh Hằng thêm vài chục năm nữa, cho cái gan dũng khí của cô ta phải héo hon trong lao tù – Hãy giam Cù Huy Hà Vũ cho đến ngày mọt gông – Hãy bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý cho đến khi không còn hơi thở để cả thế giới thêm ghê tởm cái chế độ - Hãy cô lập Hoà thượng Thích Quảng Độ để cho nhân loại biết thế nào là tự do tôn giáo tại Việt Nam – Trí thức như Trần Huỳnh Duy Thức là cái gai đâm vào mắt đảng hãy nhổ tận gốc, diệt tận ngọn – Và hằng ngàn tiếng nói bất khuất khác đang bị đảng cô lập! Nhà báo Hoàng Khương là kẻ bôi bác cách mạng chưa kể tội cả gan gài bẫy công an đảng, cần phải biệt giam. Đêm giao thừa năm nay, hoà cùng niềm vui xuân của dân tộc, qua mạng Internet, qua Dân Làm Báo tôi đã thấy ngọn lửa sấm sét từ nòng súng của anh hùng Đoàn Văn Vươn, những phát súng, những viên đạn, những quả mìn tự chế bằng uất hận đã làm rung chuyển thành trì xhcn. Tôi đã thấy từ đầu que diêm uất hận của mỗi người dân Việt bay lên màn đêm góp lại cùng nhau thành đám cháy rừng quét sạch cái đảng bán nước, hại dân. Hãy nhóm lên hằng triệu que diêm khác, súng hãy nổ khắp nơi, một cánh chim không thể nào bay xa được, cả triệu cánh chim chúng ta sẽ đủ sức quét đảng cộng sản “Hèn với giặc, ác với dân” này ra biển Đông. Trong quá khứ, đảng đã đẻ ra một anh hùng Lê Văn Tám giả tạo lịch sử sẽ phán xét, nhưng trong hiện tại đảng đang tạo ra những Thánh tử đạo cho đất nước oai hùng, bắt thêm nữa đi, nhốt cho chật nhà tù, tuổi trẻ chúng tôi cần thần tượng để tôn thờ.
Hỡi bạn bè yêu thương của tôi, hỡi tuổi trẻ kiêu hùng Việt Nam, hỡi những ai không còn sợ hãi nữa, tôi cảm phục vô cùng khi hằng tuần thấy các bạn rủ nhau với laptop bên cạnh và đọc Dân Làm Báo trước mũi bọn công an nguỵ quyền cộng sản. Tôi ngưỡng mộ vô cùng khi các bạn dõng dạc đọc tuyên ngôn Hoàng Sa, Trường Sa ngay giữa thủ đô Hà Nội, xin cho tôi được ngả mũ kính phục tất cả. Các bạn là Việt Nam và Việt Nam là các bạn. Tôi xin cúi đầu trước lòng dũng cảm của chị Trần Thị Nga và cháu bé còn trên tay mẹ đi biểu tình chống Trung Quốc, chị oai hùng gấp vạn lần Nguyễn Chí Vịnh, Phùng Quang Thanh.

Hỡi đám công an ngu dốt, mặt mày vênh váo ngồi thành từng nhóm với điện đàm quấn trong những tờ báo, có gì đâu sợ hãi mà phải dấu diếm, chỉ cần nhìn cái khuôn mặt lấm la lấm lét như chó ăn vụng bột các ông đã tự giới thiệu mình là ai rồi. Không cần phải đem máy phá sóng đến để ngăn ngừa chúng tôi dùng điện thoại liên lạc rủ nhau đi biểu tình, qua Internet chúng tôi đang gửi thông điệp cho cả nước, cho cả thế giới là tuổi trẻ Việt Nam đang đứng lên và chúng tôi sẽ là sóng thần quét sạch chế độ cộng sản Việt Nam. Chúng tôi hiên ngang làm việc đó ngay trước mũi các ông đấy, mở mắt ra, thông minh một chút cho vợ con đỡ tủi thân. Các ông dùng bộ đàm tầm sóng không quá vài cây số để liên lạc, xin chỉ thị, chúng tôi xử dụng iPhone, iPad gửi thông điệp đi toàn cầu qua vệ tinh. Chúng tôi đọc báo phản động ngay trước mũi các ông, nhiều khi còn dễ hơn đọc ở nhà vì sợ cha mẹ không cho. Các ông lù lù ngoài ánh sáng, khệnh khạng coi trời bằng vung, chúng tôi âm thầm làm giòng nước ngầm xoáy đổ chế độ, đố các ông giữ được nước trong lòng bàn tay. Các ông mù quáng bảo vệ một chế độ giẫy chết, chúng tôi nhìn xa trông rộng hướng về một ngày mai đất nước không còn cộng sản. Các ông ăn lương của dân chúng nhưng quay lại cắn chủ, chúng tôi được cha mẹ nuôi và dậy cho đâu là bạn đâu là thù. Các ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, chúng tôi là Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Bà Triệu, Hai Bà Trưng. Các ông quỳ lạy trước bá quyền Đại hãn, chúng tôi chuẩn bị ống đồng cho con cháu Tôn Sĩ Nghị. Các ông cắn cỏ ngậm rơm xin gắn thêm một sao vào cờ Trung Quốc, chúng tôi sẽ quét sạch những sao trên mầu cờ đỏ. Các ông ức hiếp dân, tịch thu nhà cửa đất đai, đào mồ mả gia tiên, chúng tôi nổ súng ở Tiên Lãng, đặt bom nhà Đại tá công an tại Thái Nguyên. Các ông ở nhà cao cửa rộng, con cái đi xe hơi vênh váo cập kè chân dài cổ cao, chúng tôi là hằng triệu triệu xe gắn máy, đi bộ có, chen chúc trên xe buýt có và chúng tôi đông như ong như kiến... tất cả đang hướng về các ông cho ngày phán xét. Các ông ngu đần tin là đảng muôn năm, chúng tôi sáng suốt tin là DÂN VẠN ĐẠI. Các ông là thuyền, là Vinashin, Vinalines, chúng tôi là sóng và sóng đã đánh chìm thuyền. Các ông tình nguyện làm khuyển mã cho 14 con khỉ đột, chúng tôi là con cái của 90 triệu dân. Các ông nhìn trước mắt “còn đảng, còn mình” hoặc trung với đảng trước cả hiếu với dân, chúng tôi nhìn lâu dài, đất nước quê hương là muôn năm muôn đời và đảng là một bọn thảo khấu cướp ngày không hơn không kém. Các ông là những con lừa bị che mắt chỉ thấy một hướng, chúng tôi là cánh hạc bay trên trời cao nhìn thấy năm châu bốn bể. Hãy tỉnh thức trước khi chúng tôi phải hành động, hãy đứng về chính nghĩa thay vì bạo quyền, hãy trả thẻ đảng và về với nhân dân. Khi sóng nổi, khi bão đến chớ có dại dột mà chống lại ý trời và lòng dân.
Hãy dẹp ngay đám dân phòng vô học, thất nghiệp, đeo băng đỏ ngang tay. Bọn cỏ đuôi chó đó chỉ khiến chúng tôi khinh bỉ chế độ và nuôi căm hờn dâng cao mà thôi. Một cú đấm vào mặt người dân, một điếu thuốc ngậm miệng, ngạo mạn của tên dân phòng già sắp chết hùng hổ trên cung Thánh nhà thờ Thái Hà sẽ được trả lời bằng trăm bài viết trên Dân Làm Báo với hằng triệu người khắp thế giới xem và họ sẽ chuyển tin đến hằng triệu người khác. Chúng tôi liệu có thông minh hơn các ông không, hỡi những đỉnh cao trí tuệ. Các ông theo ý đảng, chúng tôi vâng ý trời toại lòng dân. Các ông là thiểu số, chúng tôi là toàn dân.

Tuổi trẻ chúng tôi bị che mắt bằng khăn quàng đỏ đã bao nhiêu năm rồi, chúng tôi bị tẩy não bằng một chủ nghĩa ngoại lai đã và đang bị cả nhân loại ném vào sọt rác. Chúng tôi bị bắt phải ca ngợi một xác chết, vâng nếu đêm qua em mơ gặp bác Hồ thì sáng nay, ngày mùng một Tết 2012 xin cho chúng tôi được đồng ca bài hát ân tình “Làm sao giết được người trong mộng”. Đừng ảo tưởng mà bắt 90 triệu người sống phải tôn thờ một xác chết!
Một nhạc sĩ gia nô nào đó viết: “Đảng đã cho ta một mùa xuân...” và nhiều bạn trẻ chúng tôi phải công nhận là bài hát này đã trở thành một liều thuốc sổ công hiệu nhất cho những ai bị táo bón, cứ nghe đến thì trong cơ thể chỗ nào có đường thoát là mọi thứ trong người đều tuôn ra như ba giòng thác cách mạng không cách nào kềm hãm được. Gía mà đảng đừng mộng mơ cao làm chính trị, thay vào đó đi bán thuốc sơn đông, cao hổ cốt, thuốc trị táo bón thì lời to.

Năm mới, nói chuyện xuân, cho phép tôi được chia xẻ cùng các bạn những mùa xuân tù ngục “Gulag” mà đảng đã cho chúng ta và mỗi người hãy tự suy nghĩ xem liệu có còn ai muốn những mùa xuân kinh hoàng đó không?
Mùa xuân CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Chế độ csVN có thể che dấu những tội ác tầy trời của họ qua sự kiểm soát chặt chẽ báo chí, thông tin và tuyên truyền. Nhưng họ không thể nào che nổi ánh sáng mặt trời mang tên lịch sử. Xin mời các bạn trẻ hãy vào Google và đánh hàng chữ cải cách ruộng đất các bạn sẽ thấy đảng quang vinh như thế nào trong việc chôn sống đồng loại. Hitler, nhà độc tài Đức Quốc Xã đi vào lịch sử là tên đồ tể của nhân loại, nhưng Hitler chỉ giết người Do thái chứ hắn không giết người cùng chủng tộc. Bác Hồ noi gương bác Mao quay về giết ngay chính đồng loại, dậy con đấu tố cha mẹ, bắt người làm công đem chủ ra chôn sống, thậm chí giết chính những người đã giúp đỡ, nuôi nấng, che dấu mình khi còn hoạt động trong bí mật như câu chuyện bà Nguyễn Thị Năm. Cho đến nay, vẫn chưa có con số chính thức nào cho biết có bao nhiêu nạn nhân bị đấu tố và chôn sống trong cuộc cách mạng ccrđ ô nhục này, nhưng ước lượng không dưới 250,000 người, khi mà dân số miền bắc vào thời điểm đó chỉ 16 triệu người. Ông Hồ quả là vĩ đại hơn Hitler trong thành tích giết người đồng chủng!

Ngày hôm nay, chính quyền Cambodia và Toà án quốc tế đem ra xử bè lũ Pol Pot với tội danh diệt chủng. Trong khi đó, đảng csVN vẫn tiếp tục cưỡng bức cả nước phải thờ cái xác chết Hồ Chí Minh. Vâng, lịch sử cũng ghi là ông Hồ đã khóc và xin lỗi toàn dân về sai lầm của một số cán bộ trong khi thi hành chính sách ccrđ. Có thế thôi sao, trên dưới ¼ triệu người chết đưa đến hằng triệu gia đình tan nát và chỉ một lời xin lỗi của lãnh tụ là xoá đi tất cả! Ôi mùa xuân tuyệt vời đảng đã cho ta! Ôi sinh mạng người Việt dưới chế độ xhcn rẻ hơn cả bèo, hơn một phần tư triệu xác chết đổi lấy vài giọt nước mắt cá sấu của tên già đồ tể.

Mùa xuân TRĂM HOA ĐUA NỞ. Không la hét đấu tố ồn ào như ccrđ, lần này bác và đảng thâm hiểm, mưu mô và quỷ quyệt hơn rất nhiều. Hãy khuyến khích cho trăm hoa đua nở cho trăm nhà lên tiếng. Từ đó, một Trần Dần xuất hiện, “Tôi đi không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ”, cứ thế hằng trăm văn nghệ sĩ ưu tú của miền bắc lần lượt xếp hàng vào trại cải tạo, để học tâp để thấm được thế nào là “mưa sa trên mầu cờ đỏ”. Đảng đã bước đầu thành công trong chiến dịch triệt hạ tư tưởng con người. Những cha ông chúng tôi ở miền bắc vào thăm gia đình sau năm 1975 kể lại cuộc sống sau mức màn sắt là mọi người sợ hãi, nghi kỵ lẫn nhau, gia đình có làm thịt một con gà cũng phải đóng kín cửa và chôn dấu lông gà nếu không muốn bị hàng xóm tố cáo. Ngồi tròn mắt nghe các cụ kể chuyện mà người tôi nổi cả da gà và từ đó tôi mới nhận thức được không phải chỉ có riêng miền nam khổ cực trong 37 năm qua đâu, mà người dân miền bắc đã phải cắn răng chịu đựng gần 70 năm nay rồi. Thành quả lớn nhất mà đảng đã đạt được trong chiến dịch trăm hoa đua nở này là tạo ra một sự phân hoá, nghi kỵ, bất tín giữa người dân với nhau.

Khi dân chúng không còn ai tin ai thì họ sẽ không còn sức kháng cự nữa và họ sẽ bị đảng “thuần thục”, xin lỗi khi phải dùng từ “thuần thục” là ngôn ngữ chỉ dùng cho loài vật được người huấn luyện, tôi chỉ mượn hai chữ này từ cửa miệng ông Đại tá, Đỗ Hữu Ca, Giám đốc công an Hải phòng vừa phát biểu về vụ anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng đã dùng súng bắn vào công an, bộ đội khi đám thảo khấu bu đến cưỡng đoạt đất đai mà mồ hôi và nước mắt của anh Vươn và gia đình đã đổ ra trong hằng chục năm qua để chiến đấu với biển với sóng. Viên Đại tá công an nói: "Khi chúng tôi cưỡng chế, người dân nơi đây rất đồng tình. Tuy nhiên vụ việc có cái dở đó là tổ công tác khá chủ quan, không lường hết được các tình huống. Từ sau hòa bình đến nay, người dân Tiên Lãng khá thuần nên huyện nghĩ rằng không có việc chống đối như thế". 70 năm tư duy người cộng sản có khác gì đâu, họ vẫn xem dân không phải là người mà chỉ cần thuần hoá như những đàn súc vật không hơn không kém.

Đảng đã cho ta gần 70 mùa xuân “khá thuần” cho nên khi những anh chị em ngư dân của chúng ta bị Trung Quốc đem tầu hải giám xâm phạm lãnh hải, bắt cóc đòi tiền chuộc và giết hại, đa số chỉ biết lặng câm khi đọc trên báo hoặc nghe những người phát ngôn của chính phủ gọi là “tầu lạ”. Đảng đã thuần hoá chúng ta giống như những con đà điểu chỉ biết vùi đầu trong cát khi gập giông bão. Đảng hèn hạ không dám đối đầu với bọn bá quyền Trung Quốc thì cũng hiểu đươc, nhưng cả 90 triệu người trong nước đều im lặng trước lối giải thích “lạ” về “tầu lạ” thì không thể nào không khen cuộc cách mạng xhcnVN đã thành công trong mức độ thuần hoá con người như thế nào? Đảng đã thuần hoá người dân để mọi người chấp nhận những sự “phi lý” từ nay trở thành “có lý”, đảng thành lập Dân quân biển để cùng nhau bảo vệ khi bị tầu lạ quấy rối, thế thì lực lượng hải quân, không quân với tầu ngầm Kilo và máy bay hiện đại để làm gì? Đảng dùng ống đu đủ thổi vào hậu môn của những Hiệp sĩ đường phố ở Bình Dương và lợi dụng nhiệt huyết của họ để chống tội phạm, trong khi đó thì sử dụng công an đi hiếp dân, bắt chẹn, ăn hối lộ. Quân đội nhân dân thì lo xây sân golf trong phi trường, đi làm kinh tế thậm chí mở nhà nghỉ, khách sạn, phòng massage nuôi béo bọn tướng tá. Công an thì nay bẻ cổ dân, mai giải toả nhà, đi đến đâu ngửa tay xin tiền đến đó. Công chức phường khóm thì hậm hoẹ khó dễ cho đến khi lòi ra phong bì. Ôi những mùa xuân vắng bóng công lý đảng đã cho ta! Mùa xuân nào cũng chỉ ở cùng chúng ta vài ba tháng, nhưng mùa xuân của trăm hoa đua nở, trăm nhà lên tiếng đã bắt chúng ta phải ngậm miệng đến gần 70 năm qua.

Độc lập ở đâu khi mà mảnh đất quê hương đang bị người nước lạ hằng ngày đào phá beauxit, độc lập chỗ nào khi lòng dân sôi sục vì biển đảo bị chiếm đoạt bởi một lũ lạ người lạ ngợm, nói thẳng ra là bè lũ Đại hán Trung Quốc, ấy thế mà viên chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao Việt Nam lại nói rằng “Yêu cho roi, cho vọt”, yêu kiểu đó thì tại sao quân đội nhân dân Việt Nam lại không dám “yêu lại” nhỉ? Hải quân Việt Nam Cộng Hoà họ có sợ đâu? Hay chính sách của đảng cs bây giờ là độc lập bằng miệng còn đất đai thì cứ từ từ bán, chẳng ma nào biết. Bọn Trung Quốc đã ở khắp đất nước rồi đó, chúng có mặt ở cao nguyên, chúng nằm ngay Lâm Đồng, chúng ngồi chồm hổm trong Bộ Chính Trị. Hàng hoá made in China ngự trị từ Mống Cái đến Cà Mâu, phim Tầu chiếu hết bộ này qua bộ khác trên TV do nhà nước kiểm soát. Có độc lập không khi đảng bắt những em bé gái mặc quần áo tầu đứng dưới trời giá lạnh cầm cờ sáu sao đón quan Thái Thú Tập Cẩn Bình?

Tự do theo nghĩa nào mà người dân chỉ mới nói đến hai tiếng thân yêu Hoàng Sa và Trường Sa là đủ để công an đạp vào mặt, bắt bỏ tù, lôi kéo trên đường phố như súc vật. Tự do đâu mà Điếu Cày, người đã từng phục vụ chế độ trong hàng ngũ quân đội nhân dân bị giam quá hạn tù và cho đến nay vợ con vẫn không biết sống hay chết! Ấy thế mà bà Giáo sư, Phó Chủ tịch nước người có nhan sắc làm nhục tất cả phụ nữ Việt Nam lại còn nhe hàm răng vẩu cho rằng đất nước ta dân chủ gấp vạn lần bọn tư bản giẫy chết. Liêm sỉ là điều không bao giờ có ở bọn đứng đầu nguỵ quyền cộng sản Việt Nam . Tự do ở chỗ nào mà cả nước có 700 nhật báo, tuần báo, đài phát thanh, đài truyền hình và tất cả đều nằm trong tay đảng? Cái thứ tự do trong tù ngục, tự do giữa bốn bức tường giam, tự do được kiểm soát bởi bọn cai ngục.

Hạnh phúc, có thật là chúng ta được hạnh phúc không? Còn tùy theo cái nhìn của mỗi người, nhưng tại sao chúng ta không hỏi Trịnh Kim Tiến về mảnh khăn tang chị quàng trên đầu bên di ảnh người cha ông Trịnh Xuân Tùng đã bị tên Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh chết, chxhcnVN quả là ưu việt, công an đánh chết người chỉ bị tuyên án 4 năm (tôi dùng chữ chỉ ở đây có nghĩa là tên Ninh rất có nhiều cơ hội được giảm án sau một hai tháng tù, và được tha sau một năm vì có hành vi tốt) chưa biết chừng hắn sẽ được âm thầm chuyển công tác về một địa phương khác với chức vụ cao hơn, những tên đao phủ như Nguyễn Văn Ninh là vốn quý của đảng! Muốn biết rõ hơn nữa, hãy hỏi chị Thanh Tuyền và câu chuyện đau thương về người chồng bị giết chết ngay trong đồn công an Bình Dương. Hạnh phúc hay không cứ nhìn vào gia đình nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn và nữ anh thư đất Việt Huỳnh Thục Vy, họ chỉ có một tội là dám viết lên sự thật và đảng thì chỉ thích nói dối quanh co. Tôi không thể nào quên được hình ảnh chị Trần Thị Nga tay bồng con nhỏ đi biểu tình chống Trung Quốc và cái đảng hèn hạ này đã nhanh chóng xù lông nhe nanh vuốt, đưa công an đến khoá trái cửa nhà chị Nga, chúng nhốt người ngay tại nhà như nhốt con vật trong sở thú. Hạnh phúc như thế nào khi người vợ anh Đoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng nghẹn ngào trong nước mắt “Gia đình tôi năm nay không có Tết” vì nhà cửa đã bị chính quyền địa phương giật sập. Hạnh phúc trên vành khăn tang đảng đã đem lại mùa xuân cho Trịnh Kim Tiến & Thanh Tuyền, một mùa xuân uất nghẹn vắng cha mất chồng. Hạnh phúc được sống cảnh màn trời chiếu đất, đảng đã mang lại mùa xuân cho gia đình người kỹ sư Đoàn Văn Vươn. Hạnh phúc trong bốn bức tường lao lý là quà của đảng gửi cho Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Lý. Hạnh phúc được tự nhiên vào trại phục hồi nhân phẩm hai năm không cần ra toà đảng đã tặng cho Bùi Thị Minh Hắng. Những hạnh phúc đắng như thuốc bắc và cay gấp vạn lần ớt hiểm.

Ôi dân tộc tôi và những uất hận của 70 mùa xuân đảng đã đem về!
Mùa xuân MẬU THÂN 1968. Lịch sử Việt Nam sẽ không thể nào quên mùa xuân tang tóc 1968. Chúng tôi được nhồi nhét tại học đường về nhà thơ vĩ đại Hồ Chí Minh, khi nghe thầy cô chính trị khen thơ đầy mùi nước mắm con thuyền Nghệ An của ông cả bọn chúng tôi chỉ biết nhìn nhau với ánh mắt cười đểu. Nhưng khi nghe thế hệ cha anh và đặc biệt là mấy bác người Huế bạn của ba mẹ tôi kể về biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế và các tỉnh thành miền nam. Kể về hình ảnh những sinh viên dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà như Nguyễn Đắc Xuân, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan đi theo cách mạng và quay về đeo súng chạy trên đường phố Huế giết người không gớm tay (theo tôi, những tên này cần phải đem ra Toà án Quốc tế Nuremberg để xử như bè lũ Pol Pot). Nhưng có lẽ tên tội phạm lớn nhất của đất nước Việt Nam sẽ không ai khác hơn là nhà thơ và đồng thời là cái xác chết ở Ba Đình hôm nay. Hy vọng lịch sử sẽ công minh và chắc chắn sẽ phải là như thế thôi. Năm 1968, ông Hồ đã gửi đi mệnh lệnh giết người qua đài phát thanh Hà Nội với bốn câu thơ:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”

Lịch sử văn chương thế giới chưa có bài thơ nào mà lại giết nhiều người như thơ ông Hồ. Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy uất nghẹn, đó là mùa xuân 1968 khăn tang phủ trùm trên một nửa đất nước. Hãy tạm cất trái tim vào ngăn kéo vài giây và thử đếm xem số nạn nhân bị quân Mỹ thảm sát ở Mỹ Lai so với thành quả đảng csVN giết người năm Mậu Thân 1968, Mỹ Lai sẽ chẳng thể nào so sánh bằng và đó là sự thật. Hơn 5,000 người dân Huế đã bị vùi dập trong những ngôi mộ tập thể, tiếng khóc vang tận trời xanh.

Năm 1968 đã mở màn cho cả thế giới thấy một hình ảnh thật của bộ đội cụ Hồ chân đi dép râu, đầu đội nón tai bèo điên cuồng lùng diệt những người họ đi giải phóng, và giải phóng thật sự cho họ về thế giới bên kia. Nói cho công bằng thì bộ đội miền bắc vào đánh miền nam năm Mậu Thân 1968 cũng tử trận với một con số cực kỳ cao, chiến thắng đã không đứng về phía kẻ xâm lăng nhưng vết thương hằn mãi trong lòng dân tộc.

Đêm 28 Tết mới đây, tôi cùng bạn bè đi chợ hoa trên đường Nguyễn Huệ, Sàigòn và tôi không khỏi uất hận khi thấy xuất hiện trên đường phố những bảng tuyên truyền về chiến thắng Mậu Xuân 44 năm trước. Cho đến nay, 2012 đảng vẫn còn say men trong tiệc máu đồng loại, tại sao đảng lại không kỷ niệm cuộc đại cách mạng cải cách ruộng đất nhỉ? Trưng bầy những biểu ngữ ca ngợi chiến thắng Mậu Thân cho chúng ta thấy rất rõ ràng là đảng chưa bao giờ đứng về phía nhân dân cả. Bất cứ người Việt có tâm hồn nào ở hai miền bắc và nam nếu còn lương tâm chắc sẽ phải hổ thẹn về thành tích Mậu Thân, anh em cùng cha cùng mẹ, cùng máu đỏ da vàng giết nhau. Tôi được biết qua tìm hiểu, tại Hoa Kỳ sau trận nội chiến Bắc Nam người Mỹ đã chôn chiến sĩ hai miền chung một nghĩa trang Arlington xoá đi hận thù, quên đi quá khứ. Tại Việt Nam cái đảng cầm thú 44 năm sau Tết Mậu Thân vẫn còn hô hào chiến thắng người miền bắc giết người miền nam và nghĩa trang Quân đội Biên Hoà của chế độ Việt Nam Công Hoà vẫn còn trong hoang phế, với hình ảnh trên bia mộ người đã khuất bị đục mắt, đục tên. Cầm thú cũng chưa bao giờ thù xác chết và việt cộng còn cao hơn cả cầm thú trên ý nghĩa này.

Máu anh em hai miền đã thấm vào đất Mẹ, xương đã khô trên đồi quê hương. Nhưng cho đến ngày hôm nay giải khăn tang vẫn còn trắng xoá trên đầu Trịnh Kim Tiến & Thanh Tuyền và nước mắt vẫn còn tuôn trong hằng ngàn trại tù cải tạo khắp nơi trên cả nước cùng thân nhân và gia đình họ. Tội ác diệt chủng.

Mùa xuân GIAN DỐI 1976. Ngày 30/4/1975 khi những chiếc xe tăng Nga và các anh bộ đội chân dép râu dẫm nát đời son trẻ, nón tai bèo che khuất nẻo tương lai tiến vào thành phố Sàigòn niềm vui đâu chưa thấy, chỉ nửa tháng sau một thông báo ngắn gọn của Uỷ ban Quân quản được ký bởi tên Đại tá công an Cao Đăng Chiếm kêu gọi các sĩ quan, binh sĩ, nhân viên chế độ VNCH đi trình diện học tập cải tạo 3 ngày, 10 ngày, hoặc một tháng tuỳ theo cấp bậc và chức vụ. Người miền nam chưa bao giờ sống và hiểu cộng sản cả, gần một triệu thành viên quân cán chính VNCH đã ra trình diện và cái 10 ngày đã trở thành 10 năm hoặc hơn thế nữa, chưa kể nhiều người đã chết trong tù.

Đây là vết nhơ lịch sử, là sự gian dối vĩ đại nhất mà không một chính quyền có lương tâm và đạo đức nào làm. Nhưng đây cũng là đạo đức thật của Hồ Chí Minh. Đất nước Việt Nam sau 37 năm đến nay vẫn còn anh em bắc nam hận thù nhau cũng chỉ vì vậy. Mẹ tôi kể, một người bà con bên ngoại gia đình ở bắc vào nam thăm và được biết bố tôi phải đi học cải tạo, người dì ngoài bắc đã khóc thật to giữa nhà và nói: - “Sao bố mày dại thế, tin được chúng nó à. Tao ở ngoài đó năm 1972 khi Mỹ đánh bom 12 ngày đã tưởng quân Sàigòn ra giải phóng rồi, khổ thân, sao lại để chúng nó vào đây?
”Bây giờ dân miền nam chúng tôi nói riêng và cả nước nói chung đã hiểu các ông rồi!Tôi viết những hàng này trong đêm giao thừa thiêng liêng của dân tộc. Không dám thay mặt ai, nhưng tôi một công dân tên “Tuổi 20” xin dõng dạc trả lại đảng những mùa xuân tang tóc, đầy uất hận. Và cho tôi gửi đến đảng csvn thông điệp đêm Giao thừa 2012, đó là: NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.
1) Tuổi trẻ Việt Nam ngày hôm nay đã quen với thế giới @, iPhone và iPad, sẽ không dễ bị che mắt, bịt mặt và lừa đảo như thế hệ cha anh chúng tôi. Nếu 14 ông bà bộ chính trị, những đỉnh cao của sở thú còn tin vào quyền năng vô hạn của hơn 700 tờ báo, đài phát thanh, và truyền hình các vị có thể định hướng, dẫn dắt chúng tôi. Hãy tỉnh thức, Việt Nam hôm nay có hằng triệu triệu người trẻ không buồn đọc báo, không thèm nghe đài và đang âm thầm cùng nhau xây thêm ống cống đủ cỡ cho các vị, và các quan tham. Chúng tôi sẽ thi đua mừng (đảng quang vinh) bằng cách làm vượt chỉ tiêu những ống cống thật to và thật chắc, bảo đảm (muôn năm). Hatka đã thay mặt chúng tôi gửi quà Tết đến 14 con khỉ đột Bộ Chính Trị, nếu những ống cống đó còn quá nhỏ với xác thân mỡ màng của 13 con đực và 1 con cái, xin vui lòng cho biết chúng tôi sẽ thay thế bằng ống cống to hơn. NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

2) Tuổi trẻ chúng tôi hôm nay không sinh ra trong rừng, cũng không tốt nghiệp bổ túc hay chuyên tu, cho nên đảng csVN chớ có dại dột lầm tưởng chúng tôi là bầy cừu non dễ bảo, dễ nghe. Chính cái hệ thống xã hội và giáo dục thấp kém của cnxh do quý vị lập ra đã khiến chúng tôi trở thành nhiều loại người nổi loạn mang đặc thù khác nhau. Loại tuổi trẻ thứ nhất nổi loạn, ăn chơi đàn điếm, lái xe sang trọng hằng tỷ đồng, uống rượu ngập đầu trong các nhà hàng sang đó chính là con cháu quý vị được xã hội gọi là “bọn 5 C” (con cháu các cụ cả), loại này là thứ dòi bọ lớn lên trong đám phân và họ không thể đại diện cho chúng tôi. Thành phần tuổi trẻ thứ hai, bị gia đình và xã hội bỏ rơi và từ đó cuốn lốc vào tội phạm cướp của giết người như tên Lê Văn Luyện, đây là thành phần cháu ngoan bác Hồ, chúng tôi cũng xin phép đứng xa với tất cả sự tiếc nuối vì chẳng qua họ chỉ là những hạt giống ngây thơ bị gieo trồng trong mảnh đất xhcn vô cảm, nơi công an giết người vô luật vô pháp, nơi cảnh sát giao thông ngày đêm cướp cạn của dân, nơi Phó Giám đốc Sáu lèo tỉnh Sóc Trăng đánh bạc thua hằng tỷ. Trưởng thành trên mảnh đất tồi tệ đó thì tuổi trẻ Việt Nam có thêm một Lê Văn Luyện thì cũng không phải là điều ngạc nhiên, họ là những sản phẩm đặc trưng của cnxh, những quái thai của thiên niên kỷ. Chúng tôi không thuộc hai loại tuổi trẻ trên, xin đừng lầm.Chúng tôi là tuổi trẻ mặc áo NO U, chúng tôi là Hoa hậu biểu tình Trịnh Kim Tiến, chúng tôi là binh nhì Nguyễn Tiến Nam, chúng tôi là anh thư Phạm Thanh Nghiên, chúng tôi là Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Thị Thanh Bình, chúng tôi là anh hùng Đoàn Văn Vươn, khi chúng tôi dám ngăn biển đắp đê thì phát súng của chúng tôi chắc chắn sẽ không thua gì sóng biển vang âm toàn thế giới. Súng đã nổ và cuộc chiến đã khởi đầu trên cả nước.

Tuổi trẻ chúng tôi không súng không đạn, không máy bay Sukhoi, không tầu ngầm Kilo nhưng khác với hải quân của quý vị chúng tôi không sợ Tầu cộng. Chúng tôi không đeo quân hàm tướng tá, nhưng sẽ không bao giờ hèn như các ông tướng phường tuồng Phùng Quang Thanh hay Nguyễn Chí Vịnh hèn hạ khép nép trước quan Thái thú Tầu. Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay chiếm hơn 2/3 dân số và chúng tôi đang mỗi ngày góp lửa để đốt sạch cái chủ nghĩa cs hết thời trên quê hương Việt Nam . Hôm nay chúng tôi chỉ là những ngọn nến nhỏ, khi góp lại chúng tôi thành sức mạnh Thái Hà, thành đêm tỉnh thức nơi nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Hôm nay, tiếng nói của chúng tôi có vài triệu người xem trên Dân Làm Báo, ngày mai tiếng nói đó sẽ thành sóng biển Đông cuốn trôi chế độ bạo tàn. NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

3) Tuổi trẻ chúng tôi không thích những kẻ loạn ngôn, chúng tôi lợm giọng và buồn nôn khi thấy quý vị ngu dốt, trơ trẽn và vô liêm sỉ đến tột cùng khi tiếp tục lải nhải “Đảng csVN quang vinh muôn năm” Có ai lại tôn vinh cái đảng mà bàn tay thấm máu dân mình, cái đảng xây nhà tù nhiều hơn trường học, cái đảng dựng phòng massage nhiều hơn nhà thương. Cái đảng đem con gái ra trần truồng phơi bầy trước người Đài Loan, Hàn Quốc để họ sờ nắn như đi mua gà vịt với một hy vọng mong manh là sớm được thoát ra khỏi thiên đàng xhcn. Muôn năm thế nào được khi những ông bà quan tham, lúc chưa có quyền hành thì năm anh việt cộng đu cành đu đủ cũng không gẫy, khi có chức quyền chỉ một hai năm sau béo no, béo tròn, mắt mũi húp híp mở không ra, không tin, cứ nhìn các quan phường xã trở lên thì sẽ rõ. Xin đừng lộng ngôn mang cái đảng 4 triệu người hèn với giặc, ác với dân ra và bắt gần 90 triệu còn lại phải tung hô “muôn năm”, chúng tôi không phải dân Bắc Triều Tiên!

Đừng ru ngủ chúng tôi bằng những hội hè, đình đám. Đừng mang những ca sĩ, người mẫu chân tay như bộ xương khô và bao nhiêu thịt (kể cả silicon đổ dồn vào ngực) và bảo đó là tuổi trẻ Việt Nam . Đảng csVN dưới sự chỉ đạo của 14 bộ óc “siêu nhỏ bé” vừa qua đã làm nhục cả dân tộc qua hình thức vận động ĂN GIAN bình bầu cho Vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan của thế giới, ăn gian vì bất cứ một cuộc bầu cử chân chính nào mỗi người chỉ được phép xử dụng một phiếu, nhưng với Việt Nam thì khác, ăn gian ăn quỵt công khai không biết ngượng, cả một hệ thống tuyên truyền hùng hổ của nhà nước cổ động mỗi người bầu hằng trăm hay thậm chí ngàn lần! Bảo khối óc của quý vị là “siêu nhỏ bé” thật không ngoa, cứ xem hình ảnh cháu của ông Bộ trưởng Thông tin và Du lịch, ngồi chưa vững mấy tháng tuổi mà đã biết cầm điện thoại bình bầu cho vịnh Hạ Long thì đủ thấy cái khôi hài, kệch cỡm như thế nào? Còn gì nữa về những khối óc “siêu nhỏ bé” của 14 đỉnh cao trí tuệ, cái tổ chức bình bầu kỳ quan thế giới đó là tổ chức tư nhân NOW, không được Liên Hiệp Quốc công nhận. Làm sao mà một đảng ưu tú với hơn ba triệu đảng viên mà lại ăn phải quả lừa lớn như thế? Ngôn ngữ Việt rất phong phú, nếu mang chữ CON NGƯỜI tách ra làm hai thì mọi người sẽ thấy thành quả của đảng quang vinh đã huấn luyện cho chúng ta thành CON nhiều gấp vạn lần thành NGƯỜI. Sau gần 70 năm trong tăm tối, chúng tôi đã tỉnh thức hãy chờ và xem. NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

Tuổi trẻ Việt Nam, bạn bè quen và chưa quen của tôi ĐỪNG SỢ HÃI! Chúng ta không cần lãnh tụ, vì mỗi người trong chúng ta đã là người điều hành chính bản thân mình.
Việc làm đơn giản nhất các bạn có thể làm là hãy phổ biến Dân Làm Báo và bài viết này đến bạn bè, người thân của mình.Nếu bạn ở nước ngoài, không cần giấy phép tác quyền hãy phiên dịch bài viết này, người viết chỉ xin bạn đừng sửa hoặc thêm bớt và gửi cho chính phủ, Thủ tướng, Tổng thống, Thượng nghị sĩ, Dân biểu, chính quyền địa phương nơi bạn đang sống. Hãy cất lên tiếng nói của tuổi trẻ Việt Nam . Một tiếng nói không ai nghe, nhưng hằng ngàn, trăm ngàn, và hằng triệu người cùng nói, nhân loại sẽ nghe.
Sống trong nước, tuổi trẻ Việt Nam khôn ngoan hơn chúng ta sẽ cất lên tiếng nói khác, âm thầm nhưng vũ bão. Chỉ cần các bạn tự mình và thuyết phục gia đình cùng nhau RÚT TIỀN ra khỏi tất cả các ngân hàng trong nước và thay vào đó mua vàng để phòng thân. Chỉ cần 24 tiếng đồng hồ thôi, chiến dịch XIẾT HẦU BAO nay sẽ đánh ngay vào tử huyệt nền kinh tế của chế độ. Tết sẽ qua, chi tiêu sẽ bị thâm thủng vì quà cáp, lì xì, hội hè đình đám, đây là thời điểm tuyệt vời để RÚT TIỀN. Việt kiều ở nước ngoài hãy gọi điện thoại về quê nhà khuyến khích thân nhân rút tiền vì không phải ai cũng có điều kiện đọc bài viết này.

Tôi đã góp ý cùng ba mẹ và các cụ sẽ làm ngay sau Tết, các cụ cũng sẽ rỉ tai bạn bè. Chúng ta không đánh chế độ bằng súng đạn, máu Việt Nam đã đổ ra trong hằng bao năm qua. Chúng ta hãy đánh bọn động vật hoang dã bằng khối óc của tuổi trẻ. Tại sao chúng ta phải cứ nai lưng nộp tiền nuôi những người cướp nhà, cướp đất của chúng ta? Tuổi trẻ Việt Nam cùng các thế hệ cha anh cả nước ĐỨNG LÊN, chúng ta đã quỳ gối bao năm rồi. Chúng ta cần ĐÓNG CỬA các ngân hàng trong nước, nên nhớ bọn tham quan của chế độ cùng vây cánh đang dùng tiền chúng ta gửi ngân hàng để quay về giết chúng ta, câu chuyện người anh hùng Đoàn Văn Vươn là một điển hình.
Nhân danh nhà nước (có ai biết nhà nước là ai đâu?) chúng thu hồi đất đai để bán cho tư bản đỏ, và tư bản đỏ vay tiền ngân hàng nơi chúng ta ký gởi. Đừng suy nghĩ sai trái là tôi gửi ngân hàng có vài trăm ngàn, rút ra sẽ chẳng nghĩa lý gì. Bạn đang lầm to ngân hàng trong nước hiện nay đang sống bằng những đồng tiền nhỏ bé của bạn đấy, lấy thí dụ: Bạn gửi khoảng 200,000 trong ngân hàng và có 100 người như bạn ngân hàng sẽ thu vào 20,000,000, cứ thế mà nhân ra và tiền của bạn sẽ được chuyển thẳng vào tay tư bản đỏ dưới hình thức cho vay. Các đại gia “tư bản đỏ” sẽ dùng số tiền của bạn gửi ngân hàng để quay lại mua ruộng vườn, nhà cửa đất đai của bạn với giá rẻ hơn bèo sau khi đã hối lộ bọn quan tham địa phương. Chúng nó mượn đầu heo nấu cháo, chúng nó uống rượu, chơi gái bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt của chúng ta, hãy tỉnh thức.

Kế tiếp, tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay cao nhất Châu Á và đứng hàng thứ hai trên thế giới, đây là lời tuyên bố của ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành uỷ Hà Nội, Uỷ viên Bộ chính trị, có nghĩa là đồng tiền Việt Nam sẽ càng ngày càng mất giá. Để kiểm nghiệm điều này, bạn hãy so sánh giá một bó rau muống, một cân thịt hoặc một tô phở của năm trước với năm nay bạn sẽ thấy ngay. Vật chất là tô phở, bó rau muống, ký thịt thì vẫn không thay đổi, chỉ có giá tiền là tăng lên thôi, đó là chứng minh hùng hồn của đồng tiền Việt Nam ngày càng mất giá. Tiền bạn gửi ngân hàng hôm nay có thể mua được 10 tô phở và năm sau lấy ra cộng cả tiền lời do ngân hàng trả lúc đó đừng nghĩ đến 10 tô phở nữa kẻo sẽ thất vọng to. Chính vì thế, ngân hàng và tư bản đỏ cấu kết với nhau dùng tiền của chúng ta ngay từ bây giờ để làm giầu, hãy tỉnh thức. RÚT TIỀN RA KHỎI NGÂN HÀNG.Chúng ta đã câm lặng trong 70 năm qua. Chúng ta đã bị bóp cổ bóp miệng trong 70 năm qua. Chúng ta đã bị lợi dụng trong 70 năm qua. Xương máu hai miền đã đổ ra chỉ để nuôi bầy thú dữ! RÚT TIỀN RA KHỎI NGÂN HÀNG chúng ta sẽ khai tử chế độ cộng sản Việt Nam trong vòng một tuần lễ.

NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

Tuổi 20
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest