Thời Sự, Bình Luân

quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Kẻ nhốt người hóa ra cũng bị nhốt
Bùi Tín (Blog VOA)


Nhà chính trị lão thành Lý Quang Diệu, được coi là cha đẻ của nước Singapore hiện đại, một thời được mời làm cố vấn
cho các nhà lãnh đạo Việt Nam khi bắt đầu đổi mới và hội nhập vào cuối thế kỷ trước.
Ông vừa ra mắt cuốn sách One man's view of the world (Nhìn thế giới của một con người).

Image
Cựu Thủ Tướng Singapore Lý Quang Diệu. (Hình: Wikipedia)


Cuốn sách có một đoạn ngắn nói đến Việt Nam. Ngắn nhưng rất bổ ích, rất đáng để những người lãnh đạo của Việt Nam tham khảo, cũng như rất đáng để mỗi ủy viên Trung Ương đảng CS, mỗi đại biểu Quốc Hội cùng mọi người Việt Nam suy ngẫm.

Chúng ta còn nhớ từ đầu năm 2011, nhân đại hội đảng CS VN lần thứ XI, “Ông già Lý” - như dân Singapore thường ông Lý Quang Diệu một các thân mật - đã trả lời phỏng vấn trên báo Straits Times tỏ ý nản lòng, thất vọng về Việt Nam, khi ông cho rằng những góp ý của ông ở Hà Nội những năm xưa đã không được lắng nghe và thực hiện. Hồi đó ông giới thiệu cho ông Võ Văn Kiệt và các đồng sự rằng muốn chống tham nhũng có hiệu quả, phải có 3 điều: pháp luật rất nghiêm (để không ai dám tham nhũng), tiền lương viên chức tạm đủ cho họ và gia đình (để không ai cần tham nhũng để sống) và dư luận xã hội trong sáng lên án mạnh tệ tham nhũng (để không ai nỡ tham nhũng do tự trọng). Nhưng VN đã không làm được cả 3 điều ấy, để cho quốc nạn nội xâm ấy trở thành một căn bệnh trầm kha đe dọa sự tồn vong của chế độ độc đảng, làm nhân dân căm giận, vì bất công xã hội là một điều rất đáng sợ, một nhân tố nguy hiểm cho mọi chế độ.

Qua quyển sách mới này, Ông Già Lý nói rõ thêm quan điểm của ông về Việt Nam. Ông nản chí, ông không góp ý kiến xây dựng gì nữa. Ông mất tin tưởng vào những người lãnh đạo hiện nay. Ông nói thẳng ra rằng họ đã không còn có khả năng đổi mới bản thân, đổi mới tư duy chính trị cho kịp thời đại. Ông có nhận xét thâm thúy, “Họ là những kẻ bị cầm tù trong một ý thức hệ cũ” (imprisoned in an old ideology).

Ông Lý thú nhận:”Tôi không còn lạc quan như những lần đầu thăm nước này trong những năm 90. Giờ đây tôi tin rằng những người lãnh đạo VN kỳ cựu không thể khai phá với cái tư duy xã hội chủ nghĩa cố hữu.” Ông khẳng định: “Những vị lãnh đạo lão thành cách mạng này làm cho Việt Nam trì trệ.” Ông nhấn thêm rằng “chỉ khi nào các vị này không còn thì Việt Nam mới có thể đột phá theo hướng hiện đại hóa.”

Ðọc đến đây tôi bỗng như nghe thấy tiếng kêu của em Nguyễn Phương Uyên: “Ðảng Cộng sản, đi chết đi.” Tự đáy lòng em, đây không phải lời chửi rủa, mà là lời cầu mong, vì đảng không còn gì là động lực, đã hiển nhiên biến thành một chướng ngại ngăn chặn còn đường xây dựng một nước VN dân chủ hiện đại, phát thiển, hội nhập, với thành quả được chia chung cho toàn dân thụ hưởng.

Ông Lý nhận định: “Ở VN, các nguyên lão thăng tiến trong hệ thống đảng nhờ chiến tranh hiện giữ các vị trí trong chính quyền, thăng quan không phải giỏi giang trong quản lý kinh tế hay trong quản trị kinh doanh. Họ thăng tiến vì đã đào hầm, từ ngoài Bắc và trong Nam trong 30 năm dài, họ có ý chí nhưng thiếu tiềm năng.” Và ông chỉ ra nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này: “Vì họ bị ý thức hệ cũ cầm tù.”

Quả thật, họ bị cầm tù, và họ đã nhốt theo cả dân tộc. Tôi muốn góp thêm một ý: Họ tự nhốt mình vào nhà tù ý thức hệ Mác xít-Lê nin nít, Cộng sản, Xã hội chủ nghĩa của họ. Có ai bắt họ đưa vào nhà tù như họ đang làm với những chiến sỹ dũng cảm đòi tự do cho nhân dân đâu, như họ đã bỏ tù Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Ðinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên, Lê Quốc Quân,...

Ðã có bao nhiêu người CS trót lầm lỡ chọn sai ý thức hệ Mác xít-Lê nin nít đã nhận ra sai lầm để đoạn tuyệt với nó. Ðó là Gorbachev, là Havel, là Trần Ðộ, là hàng chục triệu đảng viên CS khắp các lục địa nhận ra sai lầm, đưa hàng trăm đảng CS của mình vào các nghĩa địa chính trị chỉ trong hơn 20 năm nay. Gần đây là Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Phạm Ðình Trọng, là Lê Hiếu Ðằng... và hàng ngàn, hàng vạn đảng viên CS nhạt đảng, chán đảng, bỏ sinh hoạt, bỏ đảng, nghĩ đến thành lập đảng khác có bản chất dân tộc, có gốc gác từ nhân dân, lương thiện, trong sạch, tự mình giải phóng khỏi nhà tù ý thức hệ.

Mong rằng Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng CS, các đại biểu Quốc Hội trong đó 90 % là đảng viên Cộng sản, sớm nhận ra thân phận tự nhốt mình trong nhà tù ý thức hệ cổ hủ trong hơn 80 năm qua để tự giải thoát, từ đó giải thoát cả dân tộc khỏi thân phận tôi đòi, nô lệ cho một học thuyết đã phá sản triệt để, đã bị coi là sai lầm lịch sử lớn nhất, là tội ác đẫm máu nhất của Thế kỷ XX.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Dạy sử theo lối ngu dân

Ngô Nhân Dụng

Trên các mạng Internet, có người mới vạch ra một sai lầm lớn trong một cuốn sách về lịch sử xuất bản hồi giữa năm 2013 ở trong nước. Trong trang hai, bài Lời Giới Thiệu cuốn sách, người ta viết: “Vua Gia Long tạ thế năm 1819, cháu nội là Nguyễn Phúc Ðảm lên ngôi năm 1820, lấy hiệu là Minh Mệnh.”

Bất cứ học sinh Việt Nam nào tốt nghiệp trung học cũng phải biết vị vua thứ hai triều Nguyễn, Minh Mệnh là con của vua Gia Long, chắc chắn không phải cháu nội. Vậy mà người ta viết sai như vậy, trong một cuốn sách nhằm làm tài liệu tranh đấu về ngoại giao, dịch ra ba thứ tiếng Anh, Pháp, Trung Hoa. Ðó là cuốn Tuyển tập các châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao xuất bản. Chắc người chủ trì việc xuất bản và ban biên tập ba người không ai đọc lại bản thảo trước khi in, hoặc chính một trong những người đó, người viết bài Lời Giới Thiệu, không có dịp học sử nước ta bao giờ.

Ðiều này có thể là sự thật. Học sinh Việt Nam có được học môn lịch sử thật hay không? Các em có được khích lệ để tìm hiểu lịch sử dân tộc hay không? Câu trả lời có thể là không, hoàn toàn không. Môn học Lịch sử đã bị cưỡng bức, biến thành một công tác tuyên truyền để củng cố địa vị độc quyền của các lãnh tụ đảng.

Ai cũng phải nhớ lại, cuối tháng 3 năm 2013, khi Bộ Giáo dục thông báo rằng trong kỳ thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông năm nay sẽ không có môn Lịch sử, nhiều học sinh đã hẹn nhau đem sách và tài liệu học sử ra xé đồng loạt, ném xuống trắng xóa sân trường. Các em xé sách, vì không cần dùng cho kỳ thi. Nhưng sách lịch sử, môn học về lịch sử, đâu phải chỉ cốt để đi thi? Các bạn trẻ có thể đọc sử để giải trí, để trau giồi kiến thức, để thỏa lòng yêu tổ tiên, đất nước. Cá nhân tôi, ngay từ lúc học lớp Ba, trường làng, khi vớ được một cuốn lịch sử chép tay, đã say sưa đọc các câu chuyện Bà Trưng, Bà Triệu, Trận Bạch Ðằng, Trận Chi Lăng, đọc đi đọc lại nhiều lần vì trong nhà không có cuốn sử nào khác! Tôi chắc rằng chính mình hồi trẻ cũng không yêu nước hơn các bạn trẻ bây giờ. Cũng không có trí tò mò tìm hiểu nhiều hơn, đặc biệt là tò mò tìm hiểu về quá khứ tổ tiên dân tộc mình. Tại sao các học sinh bây giờ lại xé cả các tài liệu giáo khoa môn lịch sử, khi biết không cần đến trong kỳ thi?

Có thể giải thích là do một trong hai nguyên nhân, hoặc cả hai. Thứ nhất, các tài liệu mà các em đem xé, vứt đi, không thật sự là lịch sử, mà các em đều biết như vậy. Thứ nhì, việc dạy môn sử trong trường học không nhằm giáo dục kiến thức và tinh thần yêu nước của các em; mà nó có một mục đích mờ ám khác; các em cũng biết như vậy. Cho nên, khi được “giải phóng,” các học sinh dang tay xé nát các trang sách giáo khoa môn sử; đó là một hành động phản kháng tiêu cực: Chúng ta được tự do, không phải học, thi môn học chán ngấy này nữa. Ném đống rác vụn đó xuống sân trường cũng là một hành động phản kháng: Chúng tôi không thể chịu nổi thủ đoạn lừa bịp này nữa rồi, hãy vứt chúng vào đống rác đi thôi!

Tại sao chúng tôi giải thích hành động xé sách môn sử của các học sinh theo tâm trạng như trên? Ðó là sau khi đọc các đề thi môn sử trong các kỳ thi vào đại học, từ 2008 đến 2013, theo đề nghị của bạn Nguyễn Duy Chính, một nhà nghiên cứu lịch sử thời Nguyễn Tây Sơn.

Kỳ thi tuyển vào đại học thường phải đặt các câu hỏi bao gồm kiến thức của học sinh từ đầu tới cuối môn học, trong môn lịch sử thì phải khảo hạch những điều các em được học trong suốt lịch sử Việt Nam, từ thời Hùng Vương đến thế kỷ 20.

Nhưng khi đọc các đề thi trong sáu năm trên, chúng ta thấy tất cả các đề đều hỏi về thế kỷ 20, không một câu nào tỏ vẻ quan tâm đến lịch sử nước Việt Nam từ thế kỷ 19 về trước. Hơn thế nữa, tất cả các câu hỏi đều nhằm vào các bài dạy lịch sử theo quan điểm của đảng Cộng sản.

Xin nêu mấy thí dụ các đề thi như sau.

Thí dụ thứ nhất: “Tại sao đảng và chính phủ phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày 19-12-1946?” (câu 2, năm 2008). Thứ nhì: “Trình bày và nhận xét chủ trương tập hợp các lực lượng cách mạng được đề ra tại Hội nghị thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam 1 - 1930, Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung Ương Lâm thời Ðảng Cộng sản Việt Nam 10-1930 và Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung Ương Ðảng Cộng sản Ðông Dương 5-1941” (câu hỏi 2, năm 2009). Thí dụ thứ ba: “Luận cương chính trị tháng 10-1930 của Ðảng Cộng sản Ðông Dương có những điểm gì khác so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Ðảng Cộng sản Việt Nam? Những vấn đề đó được giải quyết như thế nào trong giai đoạn 1939-1945?” (câu 2, năm 2011). Thứ tư: “Cuối tháng 3 năm 1975, Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng đã có quyết định gì để hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam? Quyết định đó được đề ra dựa trên các cơ sở nào? Tóm tắt diễn biến của chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 1975” (câu 3, năm 2012). Thí dụ năm: “Nêu những sự kiện chính trong 10 năm đầu sau Chiến tranh Thế giới thứ hai để làm rõ quá trình xác lập cục diện hai cực, hai phe - tư bản Chủ nghĩa và Xã hội Chủ nghĩa. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cục diện đó là gì? (câu 4b, 2013) Thí dụ sáu: “Trình bày sự chuyển biến về giai cấp trong xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất” (câu 1, năm 2013).

Trên báo chí trong nước, đã có nhiều người nhận xét về các đề thi năm 2013. Với câu hỏi trong thí dụ sau cùng kể trên, một giáo sư nói: “Câu này thuộc bài 12 của chương trình học và là bài đầu tiên của phần sử Việt Nam nên chỉ cần thuộc bài là có thể làm tốt.” Sang các câu hỏi sau, cũng vậy: “Thí sinh chỉ cần thuộc bài có thể làm tốt.” Nhưng một kỳ thi như vậy coi như vô ích, vì không phân biệt được học sinh trình độ giỏi với trình độ kém, khi hầu hết đều học thuộc lòng! Báo Thanh Niên Online, ngày 9 tháng 7 năm 2013 được nghe “Nhiều học sinh sau khi thi xong đã bày tỏ các em không thích một đề thi như vậy, vì sẽ khó đánh giá được trình độ thí sinh.”

Nhưng mục đích của đảng Cộng sản có phải là để đánh giá trình độ các học sinh trong môn sử hay không? Chắc là không. Họ bắt các học sinh phải học, các giáo sư phải dạy môn lịch sử, từ tiểu học lên tới hết trung học, và có thể ở bậc đại học, với mục đích tuyên truyền cho đảng Cộng sản, cho chế độ cộng sản, ý thức hệ cộng sản, mà sau cùng là để củng cố quyền hành và bám giữ các lợi lộc do quyền hành đem lại.

Tất cả các đề thi môn sử trong sáu năm qua cho thấy đảng cộng sản vẫn chưa từ bỏ một thủ đoạn quen dùng từ thời Hồ Chí Minh: Dùng giáo dục để tuyên truyền chính trị. Hồ Chí Minh đã nhập cảng lối trình bày lịch sử của Stalin và Mao Trạch Ðông vào nước ta, vì thấy đó là thủ đoạn củng cố quyền chuyên chế rất hiệu quả. Các bạo chúa Ðỏ xóa lịch sử, thay đổi sách sử theo nhu cầu giai đoạn. Mỗi năm Stalin lại cho sửa lại các sách giáo khoa lịch sử, cả các bức hình lịch sử in trên sách, báo; để xóa bỏ mặt mũi những người ông ta đã coi là phản động, hoặc đã thủ tiêu. Ðảng Cộng sản Việt Nam vẫn đi theo con đường đó. Như nhiều tờ báo ở Sài Gòn mới tiết lộ: Trong tất cả các sách giáo khoa môn Lịch sử lớp 9, lớp 12, có nêu diễn biến chiến dịch Ðiện Biên Phủ nhưng “không câu một lần nào nhắc tên Võ Nguyên Giáp, người chỉ huy trận chiến này.”

Nhìn lại tất cả các câu hỏi, mỗi năm ra đề, sáu năm 30 đề, chúng ta thấy dã tâm của đảng Cộng sản là hướng dẫn học sinh học thuộc lòng các lời tuyên truyền để củng cố địa vị độc quyền cai trị. Học sinh phải thuộc lòng lối giải thích lịch sử theo ý thức hệ Mác Lê Nin và quan điểm của đảng Cộng sản. Hết năm này sang năm khác, đề thi cứ như vậy, thì mọi học sinh đều biết mình phải học thuộc lòng các bài sử nói về đảng, về chính sách, chủ trương của đảng, đến công trạng mà đảng tự vẽ và tô điểm lấy. Ngoài ra, các em không cần học gì khác. Muốn thi đậu vào đại học, phải chịu ngồi đó nghe đảng tuyên truyền, không khác gì những người bị bắt giam trong nhà tù học tập cải tạo. Học sinh phải thuộc lòng tất cả những điều viết trong tài liệu giáo khoa do đảng Cộng sản phân phối. Không có vai trò nào cho các sử gia đích thực trong việc dậy môn lịch sử, vì các sử gia phải có lương tâm, tôn trọng sự thật, không thiên lệch, không che giấu. Ðảng Cộng sản không cần thứ chuyên gia đó.

Suy nghĩ như vậy, chúng ta sẽ hết ngạc nhiên khi thấy cảnh các em học sinh xé sách giáo khoa môn lịch sử, ném xuống sân trường. Các em đang hô lớn: Hãy vứt bỏ cái trò ngu dân bẩn thỉu này đi! Chúng ta cũng bớt ngạc nhiên khi thấy có những nhà khoa bảng nhớ nhầm rằng vua Minh Mệnh là cháu nội vua Gia Long. Vì ngay trong khi còn học trung học, họ không có thời giờ đọc các chương sách về lịch sử thề kỷ 20. Tất cả các thí sinh đều lo học lịch sử đảng Cộng sản, đọc những chuyện đời Lê, đời Nguyễn làm gì co phí thời giờ!

Nhưng không riêng gì môn lịch sử, tất cả các môn khác về văn học, xã hội, đều chỉ nhắm mục đích tuyên truyền, để củng cố ách độc tài chuyên chế của đảng cộng sản; tức là bảo vệ quyền tham nhũng của các lãnh tụ cùng đảng viên cao cấp.

Chính sách giáo dục ngu dân này là đầu mối gây băng hoại xã hội và đạo lý ở nước ta hiện nay. Ðó là một trong những tội lớn nhất của đảng Cộng sản trong thế kỷ 20 và 21.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Ngả rẽ của Saudi Arabia

Hùng Tâm/Người Việt

Một đồng minh Á Rập của Hoa Kỳ đang tính chuyện khác

Sau một năm nộp đơn, hôm 17 vừa qua, Saudi Arabia được nhận làm hội viên Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc cho nhiệm kỳ hai năm. Ngay hôm sau, Bộ Ngoại Giao của vương quốc thông báo là họ từ chối vì không thể làm tròn nhiệm vụ trong một cơ chế có thái độ nước đôi. Saudi còn kết án Hội Ðồng Bảo An tội chểnh mảng công vụ vì không hoàn tất nghị quyết về hồ sơ Palestine, không ngăn việc phổ biến võ khí tàn sát, nhất là võ khí hạch tâm, và không cản chế độ Syria sát hại thường dân.

Bản tin đưa ra được bình luận rằng thái độ này là để ngầm ám chỉ Hoa Kỳ. Hai ngày sau thì có người nói thẳng, chứ không úp mở quanh co.

Ðó là Hoàng thân Bandar Bin Sultan al-Saud, người cầm đầu hệ thống tình báo Saudi. Ông trình bày với giới chức ngoại giao Âu Châu tại thủ đô Riyadh, là sẽ thu hẹp tầm hợp tác với Hoa Kỳ trong việc trang bị và huấn luyện quân nổi dậy tại Syria để phản đối chính sách Mỹ trong khu vực. Hoàng thân Bandar còn nói rõ hơn, rằng việc từ chối vào Hội Ðồng Bảo An không là một thông điệp cho Liên Hiệp Quốc mà thật sự là cho Hoa Kỳ.

Một số nhà bình luận cho rằng quan điểm ấy của Hoàng thân Bandar (nhắm vào Hoa Kỳ hơn là Liên Hiệp Quốc) cho thấy là có sự dị biệt ý kiến trong nội bộ Hoàng gia Saudi, ít ra là dị biệt giữa Hoàng thân Bandar và Ngoại trưởng Saud al Faisal của Saudi.

Sự thật có lẽ nghiêm trọng và rắc rối hơn vậy nên Hồ Sơ Người Việt phải trình bày lại bối cảnh.

Hoàng Gia Saudi

Ðầu tiên, một chi tiết không thừa khi đọc tin hay đọc tên: theo ngôn ngữ Á Rập, “bin” có nghĩa là “con của” (như “ben” trong tiếng Do Thái). Khi đọc tên là Saud bin Abdulaziz chẳng hạn, ta biết người đó tên là Saud và là con của Abdulaziz.

Chuyện thứ hai, theo quy tắc thông thường, một người lên ngôi thì được gọi là Vua, King, còn các con, hay cháu (gọi bằng chú, bác hay cháu nội, ngoại) của họ thì được gọi là Prince, nếu dịch là Thái tử hay Hoàng tử, Hoàng tôn thì nhiều khi không ổn. Vì vậy, xin dịch là Hoàng thân, trừ phi người đó được chọn làm người kế vị, Crown Prince, thì mới dịch là Thái tử. Không có quy ước này là chúng ta sẽ tẩu hỏa nhập ma khi làm tin!

Trở lại chuyện Hoàng gia Saudi.

Từ một thị tộc đã hùng cứ khu vực này từ 250 năm, Abdulaziz bin Abdel-Rehman al Saud thống nhất quyền lực từ đầu thế kỷ 20 để lập ra vương quốc Saudi Arabia hiện đại. Ông lên làm vua từ năm 1932 cho đến khi tạ thế vào năm 1953. Thường được gọi là Ibn Saud, ông vua này có (khoảng) 22 bà vợ, 45 con trai và khá nhiều con gái. Trong số con trai, 36 người đã trưởng thành và có con cái đang giữ nhiều vị trí quan trọng, đó là “thế hệ thứ ba,” của những hoàng thân.

Sau khi Ibn Saud tạ thế năm 1953, con trai là Saud bin Abdulaziz lên nối ngôi. Làm vua được 10 năm thì vua Saud bị một người em khác mẹ là Faisal bin Abdulaziz đòi ông thoái vị vì kém khả năng. Faisal lên làm vua từ 1964 đến 1975 và là người đã đề nghị viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa 300 triệu đô la để cầm cự vào phút chót mà chuyện không thành. Ông bị một người cháu gọi bằng bác ám sát vào Tháng Ba năm 75 vì chủ trương hiện đại hóa. Một người con khác của Ibn Saud, không cùng mẹ với Saud và Faisal, lên ngôi từ 1975 đến 1982, đó là Khalid bin Abdulaziz.

Sau khi vua Khalid từ trần, một người con trai khác, từ bà Hassan Al Sudairi, lên kế vị. Ðó là Fahd bin Abdulaziz. Vì bà Sudairi được Ibn Saud yêu quý nhất nên bảy con trai đều có thế lực, được gọi là “thất vương của Sudairi.” Vua Fahd là con trai lớn của cánh Sudairi và giữ ngôi cho đến 2005 thì mất. Một con trai khác của Ibn Saud là Abdullah bin Abdulaziz lên ngôi từ đó tới nay. Vua Abdullah sinh năm 1924, nay đã gần 90 và lâm trọng bệnh.

Tức là từ người sáng lập đến 2013, năm vua theo nhau cai trị Saudi Arabia đều là con của Ibn Saud, chưa kể bốn người khác vẫn hiện diện trong chính quyền. Năm ông vua kế vị cũng có con trai đang giữ nhiều vị trí quan trọng. Thí dụ như Saud bin Faisal là con trai của vua Faisal và là ngoại trưởng từ 1975 tới nay, một kỷ lục thâm niên của thế giới.


Và những vấn đề sinh tử

Vì sức khỏe yếu kém, ông vua đang trị vì là Abdullah đã hai lần chỉ định người sẽ kế vị (Thái tử) mà họ đều theo nhau tạ thế, đó là Tổng trưởng Quốc Phòng và Hàng Không Sultan bin Abdulaziz mất năm 2011, rồi Tổng trưởng Nội vụ kiêm Ðệ nhị Phó Thủ tướng Naif bin Abdullaziz vừa mất năm ngoái. Hoàng thân Bandar bin Sultan được nhắc tới ở trên là con trai của Thái tử Sultan bin Abdulaziz mới tạ thế năm 2001. Bandar là một diều hâu thân Mỹ, Ðại sứ Saudi tại Hoa Kỳ từ 1983 đến 2005, rồi về làm tổng thư ký Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia.

Quy tắc kế vị của Hoàng gia Saudi không chú trọng đến dòng trưởng dòng thứ hay tuổi tác của các hoàng tử mà, từ vụ Faisal truất ngôi Saud, còn phải có khả năng lãnh đạo. Ngoài ra, từ năm 2006, vua Fadh còn lập ra Hội đồng Gia tộc gồm các con trai (hay cháu của một người con đã tạ thế hay bất lực) của Ibn Saud, với nhiệm vụ chỉ định Thái tử, theo quy tắc là không chọn con trai của người đang tại vị làm Thái tử. Dù vậy, việc chọn người kế vị vẫn bị vấp váp và sau hai Thái tử vừa mất, Hội đồng Gia tộc vẫn chưa chọn người nào khác. Vua Abdullah cũng chưa chỉ định ai làm Ðệ nhị Phó Thủ tướng, một chức vụ chuẩn bị cho ngôi Thái tử, ví thế việc tìm người nối ngôi vẫn là vấn đề.

Nếu các hoàng tử đời thứ nhất, con cháu của vị vua sáng lập là những người nói chung ít học, họ vẫn nặng tinh thần gia tộc và gắn bó với sự tồn tại của Vương triều Saudi. Tuy vậy, các hoàng thân thuộc cánh Sudairi vẫn có thế mạnh và đang lấn lướt mấy người con của Faisal. Kế đó, thế hệ thứ ba thì được học hành đến nơi đến chốn và đã giữ nhiều chức vụ quan trọng, như tổng trấn các địa phương, hay trong nội các. Họ có tinh thần hiện đại hơn mà cũng nhiều tham vọng hơn.

Bài toán kế vị trong thời gian tới là 19 hoàng thân cháu nội của Ibn Saud (thế hệ thứ ba) phải tranh đoạt quyền bính với nhau và đấu tranh với 16 chú bác (con trai của Ibn Saud) trong Hội đồng Gia tộc. Chuyện không dễ giải quyết.

Huống hồ là Hoàng gia Saudi còn gặp một thách đố về chính danh và tư tưởng trong xã hội.

Thuộc hệ phái Wahhabi rất bảo thủ, Hoàng gia Saudi tự coi là đại diện chân chính cho Hồi giáo cổ truyền tức là chính thống nhất. Nhưng thực tế thì họ đang bị nhiều giáo sĩ cực đoan hơn kết án là suy đồi biến chất. Việc trùm khủng bố Osama bin Laden là người Saudi, xuất thân từ khuynh hướng cực đoan, càng làm nổi bật nỗi khó khăn của Hoàng gia Saudi.
Ðã vậy, ở ngoài đời, một thế hệ trẻ đã lớn lên với những phương tiện thông tin và truyền thông mới, thì lại coi Hoàng gia Saudi là những người lỗi thời của quá khứ. Khi Mùa Xuân Á Rập bùng nổ năm kia, Hoàng gia Saudi bị lúng túng và phải khá tốn kém cho các dự án xã hội để phần nào giải tỏa bất mãn của người dân và hậu quả khích động từ xứ Bahrain bên cạnh.

Ngoài những khó khăn của việc truyền ngôi kế vị, bị xu hướng Hồi giáo cực đoan đả kích và bị thế hệ trẻ đòi tự do, Hoàng gia Saudi còn gặp một vấn đề từ lòng đất. Là dầu hỏa.

Vừa lập ra Vương quốc, lãnh đạo Saudi đã có một món quà của Thượng đế là dầu thô với trữ lượng rất lớn và phẩm chất rất cao, ngọt và nhẹ hơn dầu thô của nhiều xứ khác. Nhờ vậy mà Saudi Arabia trở thành một cường quốc trong khu vực trên một lãnh thổ bát ngát.

Nhưng sức mạnh dầu khí ấy đang giảm và khó tồn tại, trong khi kinh tế thì vẫn quá lệ thuộc vào nguồn năng lượng này. Việc Hoa Kỳ đang nổi lên thành một đại gia dầu khí còn là vấn đề hai mặt cho Hoàng gia Saudi: 1) Mỹ vẫn cần, mà ít dần, tới dầu khí Trung Ðông và Saudi, nên 2) chẳng còn coi việc bảo vệ an ninh tại vùng Vịnh Á Rập hay Eo biển Hormuz là nhu cầu sinh tử...

Sau mấy thập niên lệ thuộc vào Hoa Kỳ, ngày nay Saudi Arabia đang thấy sự đời đổi khác. Sau cùng, thách đố nghiêm trọng nhất của Saudi Arabia lại đến từ bên ngoài, sau Mùa Xuân Á Rập.

Bạn và thù tại Trung Ðông

Thời Chiến Tranh Lạnh, hai cường quốc khu vực là Iran và Saudi Arabia cùng sống chung hòa bình và là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ tại bán đảo Á Rập.

Khi chính quyền Jimmy Carter bỏ rơi vương triều Pahlavi từ năm 1978 để các giáo chủ theo hệ phái Shia hoàn thành cuộc “cách mạng” tại Iran thì sự thể đổi khác kể từ 1979. Mâu thuẫn ngàn đời giữa hai hệ phái Shia tại Iran và Sunni Wahhabi tại Saudi Arabia đã đảo lộn trật tự trong vùng. Hai cường quốc giành quyền đại diện cho hai hệ phái Hồi giáo đối nghịch trở thành hai đối thủ, và cả hai cùng có dầu hỏa làm võ khí. Trong tám năm chiến tranh giữa Iran với Iraq, từ 1989 đến 1988, Hoàng gia Saudi yên tâm tọa sơn quan hổ đấu.

Vụ khủng bố 9-11 của Al Qaeda vào năm 2001 là biến cố đánh dấu bước ngoặt. Hoa Kỳ mở chiến dịch Afghanistan và kín đáo hợp tác với Iran để truy lùng khủng bố tại đây. Chuyện ấy chưa đáng ngại bằng chiến dịch Iraq vào năm 2003. Hoa Kỳ lật đổ chế độ Saddam Hussein và đảng Baath theo hệ phái Sunni để các lực lượng Shia (đa số tại Iraq) mở đường cho Iran khuynh đảo Iraq và nay đang chiếm thế thượng phong. Khi chính quyền Barack Obama quyết định rút khỏi Iraq thì đấy là cơ hội bành trướng ảnh hưởng của các giáo chủ Iran.

Saudi Arabia không yên tâm về chiều hướng đó. Huống hồ cả Iran và Iraq đều là những nước sản xuất dầu có thể cạnh tranh với dầu Saudi, và Iran còn xúc tiến dự án chế tạo võ khí hạch tâm.

Trong những năm trước, Hoàng gia Saudi khéo đối phó với phong trào khủng bố Hồi giáo khi viện trợ cho họ mở giáo viện madrassas hay tổ chức quảng bá tư tưởng Hồi giáo cực đoan ở nơi khác, từ Morocco tới Malaysia hay Indonesia, miễn là đừng làm loạn tại Saudi Arabia. Nhưng khi Hoa Kỳ mở chiến dịch truy lùng khủng bố thì Hoàng gia Saudi bị Mỹ làm áp lực phải chấm dứt việc đó nên đã gặp vấn đề. Khi Hoa Kỳ đánh bung lực lượng Al Qaeda thì các nhóm khủng bố đã tản qua xứ khác, từ Yemen tới Ðông Phi, và cùng coi Hoàng gia Saudi là kẻ thù!

Mùa Xuân Á Rập năm 2011 lại gây vấn đề khác: Hoa Kỳ đảo ngược lập trường với Ai Cập, tấn công Libya mà lại không can thiệp vào Syria. Saudi Arabia rơi vào cảnh tứ bề thọ địch và e sợ đại loạn từ bán đảo Á Rập đến Sừng Phi Châu, trong nước Mỹ nhất quyết phủi tay ra đi.

Chính quyền Obama không chỉ phủi tay tại Iraq - mặc cho Iran bành trướng ảnh hưởng vào xứ này - hay tại một nước thân chủ của Iran là Syria - để Liên bang Nga tìm giải pháp ngoại giao - mà nay lại còn đàm phán với Iran! Ðấy là giọt nước tràn ly.

Khi từ chối gia nhập Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, Saudi Arabia còn cho biết là sẽ tăng cường hợp tác với Jordan và Pháp để yểm trợ cho phong trào nổi dậy tại Syria, vì Hoa Kỳ từ chối can thiệp. Chuyện ấy đã lạ. Nhưng không chỉ có Hoàng gia Saudi, Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ Turkey cũng tỏ ý đồng tình. Và khi Hoa Kỳ đòi chấm dứt viện trợ cho Ai Cập vì hành vi đàn áp của các Tướng lãnh Egypt, cả Saudi Arabia lẫn Turkey đều lo ngại.

Chúng ta nên đặt lại mối lo muôn mặt của Hoàng gia Saudi vào bối cảnh rộng lớn đó.

Hoa Kỳ đang mất dần sự đoàn kết truyền thống với các đồng minh chiến lược tại Trung Ðông như Saudi Arabia, Egypt và Turkey. Từng nước một, các cường quốc này không thể cản trở đối sách của nước Mỹ, nhưng khi họ cùng tỏ ý hoài nghi tính chất nhất quán và chung thủy của Mỹ thì đấy là vấn đề cho chính quyền Barack Obama.

Kết luận ở đây là gì?

Khi lên nhậm chức, chính quyền Obama muốn giải tỏa mâu thuẫn với các nước Hồi giáo. Năm năm sau, Hoa Kỳ gây mâu thuẫn với các đồng minh truyền thống.

Việc đàm phán với Iran chưa có kết quả, nhưng hậu quả trước mắt là lời phát biểu của một hoàng thân Saudi: Chúng tôi đã học kinh nghiệm với Hoa Kỳ. Phải là kẻ thù của Mỹ thì mới được kính trọng!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Những tín hiệu từ thành phố Tân An

Ngô Nhân Dụng


Tân An có chuyện gì vậy? Thành phố này chỉ cách Sài Gòn 50 cây số, nhưng trong năm nay đã được nhắc tới hai lần trên bản tin của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Sans Frontieres) gửi cho khắp thế giới; sau các vụ xử Nguyễn Phương Uyên, Ðinh Nguyên Kha, và nay là Ðinh Nhật Uy, anh của Nguyên Kha. Trong hai lần tòa xử, Tân An cũng trở thành trung tâm tụ họp của các blogger, cùng những nhà tranh đấu cho tự do dân chủ. Họ hiên ngang diễn hành trong thành phố, với các biểu ngữ đòi cho dân Việt được tự do, và đám công an trong thành phố phải rút lui, tránh không gây xung đột.

Trong ngày Thứ Ba, 29 Tháng Mười, 2013, khắp thế giới được coi hình ảnh các blogger trẻ cùng nhau đi “diễn hành” chung quanh một gian phòng lớn, tay nắm tay, tay vịn lên vai nhau, có bàn tay đưa lên như đang hô khẩu hiệu. Họ vừa đi vừa hát, “Dậy mà đi, dậy mà đi, dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!” Trông cảnh đó, không ai còn nghi ngờ gì nữa: Tuổi trẻ Việt Nam đang sẵn sàng cùng đồng bào đứng dậy. Tuổi Trẻ Yêu Nước đang sẵn sàng Lên Ðường! Các bạn blogger trẻ có thể hãnh diện, các bạn đang nối gót những chiến sĩ tự do dân chủ một thế kỷ trước đây! Hà Sĩ Phu mới viết một bài về Phan Tây Hồ, đã so sánh: “Ðọc lại những lời Phan Châu Trinh trước đây một thế kỷ mà tưởng như lời một blogger hay một trí thức phản biện của ngày hôm nay!” Ông nêu lên những ý kiến mà nếu Phan Tây Hồ còn sống cũng đang lên tiếng đòi hỏi: “...phản đối chủ trương độc đảng và (ruộng đất thuộc) sở hữu toàn dân; phản đối việc cho đạo Khổng nô dịch dân Việt; yêu cầu phải thực thi tam quyền phân lập và đa đảng đa nguyên, vân vân.” (Hà Sĩ Phu nhắc tới âm mưu đồng hóa dân Việt Nam theo kiểu mới, khi các ông Lý Khắc Cường và Nguyễn Tấn Dũng ký kết với nhau sẽ thành lập một “Viện Khổng Tử” ở Hà Nội; mục này sẽ bàn về Viện Khổng Tử trong một bài sau).

Thành phố Tân An chỉ có hơn 150,000 dân, những cuộc biểu tình đòi nhà, đòi đất, kéo lên tận Sài Gòn, diễn ra từ hàng chục năm trước đã vang động cả nước. Bản thân tôi đã có nhiều duyên nợ với Tân An. Năm 1954, gia đình năm mẹ con tôi được đưa về “định cư” ở làng Hòa Khánh, trong quận Ðức Hòa, khi tỉnh Long An còn chưa thành lập. Gia đình tôi sau đó mới tìm đường lên Sài Gòn, đi Ðà Lạt, chia hai ngả để gây dựng lại cuộc sống mới. Hồi 15, 16 tuổi, tôi vẫn từ Sài Gòn đi cắm trại ở Tân An, ở Thủ Thừa. Quãng đường 50 cây số đạp xe không biết mệt, trên vai lại đeo “ba lô” nặng trĩu; sau xe còn chở theo một đội sinh, em cũng đeo ba lô nặng trĩu! Vừa đạp xe vừa hát với nhau những bài ca yêu nước, như hầu hết các Hướng Ðạo sinh thời đó. Nếu khi lớn lên mà lập nghiệp ở tỉnh Long An, chắc tôi cũng có mặt trong mấy cuộc biểu tình phản đối những phiên tòa sôi nổi vừa qua. Và chắc cũng hát, “Dậy mà đi! Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!”

Tân An đang trở thành một điểm nóng trong sinh hoạt chính trị cả nước. Dân các thành phố khác phải hướng về Tân An, với lòng kính phục. Bởi vì thị xã nhỏ này đã sinh ra những bạn trẻ xứng đáng làm con của Tổ Quốc Việt Nam: Nguyễn Phương Uyên, Ðinh Nguyên Kha, và Ðinh Nhật Uy. Cha mẹ của các em đã nêu gương để các em biết sống không khuất phục cường quyền. Trong phiên xử Phương Uyên, ông bà Nguyễn Duy Linh và Nguyễn Thị Nhung đều có mặt, mẹ của em tuyên bố có thể chết tại sân tòa án. Nguyễn Thị Kim Liên là mẹ của Kha và Uy cùng thân phụ hai em luôn có mặt ủng hộ các con, dù bị áp lực và đe dọa từ mọi phía. Bà Nguyễn Thị Kim Liên đã gửi thư mời ông Mark Zuckenberg tới Tân An dự khán phiên xử con trai bà. Zuckenberg là người thành lập công ty Facebook; mà Ðinh Nhật Uy người đầu tiên bị truy tố về tội dùng mạng xã hội Facebook do ông sáng lập; với lời vu cáo “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ...” Trong một xã hội không hề có tự do dân chủ, làm sao có thể “lợi dụng các quyền tự do dân chủ?”

Thái độ và hành động của cha mẹ các em Phương Uyên, Nguyên Kha, Nhật Uy chứng tỏ những công dân bình thường ở nước Việt Nam không còn khiếp sợ chế độ công an đàn áp nữa. Dân Việt đã nhìn thấy tấm gương Ðoàn Văn Vươn, nay lại được thấy các bạn trẻ Phương Uyên, Nguyên Kha, và Nhật Uy hiên ngang ra đứng trước tòa án cộng sản. Trong lúc những nhà tranh đấu dân chủ đi biểu tình ở thành phố Tân An, trương biểu ngữ và hô khẩu hiệu đòi trả tự do cho ba bạn trẻ, mạng Dân Làm Báo kể: “Một bác chạy xích lô, đầu đã bạc trắng khi thấy đoàn biểu tình liền tắp xe vào lề đường, giơ nắm đấm lên hét: ‘Ðúng rồi! Ðúng rồi! Phải đấu tranh! Ðấu tranh,’ rồi đạp xe chạy đi tiếp.” Trong ngày xử Ðinh Nhật Uy, một người ủng hộ em là ông Lưu Trọng Kiệt bị công an phường 7 lôi xuống xe, rồi công an sắc phục cùng với bọn tay sai “dân phòng,” khoảng mười tên, nhảy vào đấm đá túi bụi. Facebook Hoàng Dũng cho biết ông Lưu Trọng Kiệt sau đó vẫn nói: “Tôi có thể chịu đau hơn nữa, miễn là em Uy tự do!”

Trước tòa, Ðinh Nhật Uy vẫn giữ được tư cách đĩnh đạc. Về cáo trạng “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” xâm phạm nhà nước và người khác, Uy kể rằng trước tòa “Tôi khẳng định tôi sử dụng đúng quyền công dân của mình. Tôi chưa từng có ý định, hành động hay động thái nào để xâm phạm bất kỳ ai, và lợi dụng bất kỳ cái gì để xâm phạm bất kỳ ai.”

“Tôi khẳng định trước tòa rằng tôi là một người công dân bình thường như hằng triệu người công dân khác. Tôi làm tròn trách nhiệm của người công dân đối với xã hội. Tôi nghĩ những việc mình làm rất đơn giản, tôi đấu tranh vì chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, vì (chống) sự xâm lược của Trung Quốc. Tôi đấu tranh vì quyền lợi của người dân; quyền lợi của người dân bị xâm phạm; và tôi đấu tranh chống tiêu cực.”

Những người lớn tuổi chắc không ai chịu thua, không ai muốn thấy mình thiếu can đảm hơn thế hệ các con em. Luật sư Nguyễn Thanh Lương kể trong phiên tòa trước, em Phương Uyên cũng thản nhiên nói: “Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần tòa xử đúng người, đúng tội. Tôi nghĩ rằng chống Ðảng Cộng sản không phải chống phá đất nước, dân tộc Việt Nam.” Ông Nguyễn Thanh Lương đã bị nhiều áp lực phải bỏ cuộc, không đứng ra biện hộ cho Ðinh Nhật Uy trong phiên tòa hôm qua, mặc dù ông chỉ đại diện cho Uy trong vấn đề dân sự: Ðòi lại những “tài sản” bị công an cướp mất khi khám nhà. Nhưng kết quả chắc cũng làm vị luật sư hài lòng: số tài sản gồm sáu cái áo thung có ghi dòng chữ: Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam; hai áo thung phía trước có ghi dòng chữ: “No to U-Line!” mà phía sau dịch sang tiếng Việt: “Xóa Ðường Lưỡi Bò! Bảo vệ biển đảo Việt Nam!” Những chiếc áo thung của Ðinh Nhật Uy đã bị tịch thâu, và được “Viện Kiểm sát” ghi trong cáo trạng là những “vật chứng phạm tội;” chứng tỏ các bạn trẻ chỉ “phạm tội yêu nước!” Phan Châu Trinh ngày xưa cũng bị bắt, bị tù, bị xử tử hình, vì cùng một tội: Yêu nước Việt Nam!

Lòng yêu nước đã được nuôi dưỡng trong ngàn năm Bắc thuộc, đến nay vẫn còn nguyên. Ði song hành với với khát vọng xây dựng tự do dân chủ. Ngày xưa đảng Cộng sản đã bày ra phương trình: “Yêu nước là yêu Chủ nghĩa Xã hội.” Bao nhiêu thanh niên đã chết vì nghĩ rằng mình yêu nước; hậu quả là họ chỉ góp phần dựng lên một chế độ độc tài thối nát, tàn hại đất nước. Ngày nay, người dân biết, yêu nước thì phải xây dựng nền móng một xã hội dân chủ. Chỉ trong một thể chế dân chủ mới có thể bầu lên một chính quyền biết bảo vệ tổ quốc; và mới xóa bỏ được những tệ nạn do đảng cộng sản độc tài gây ra trong hơn nửa thế kỷ qua. Trong số các biểu ngữ trưng lên bên cạnh phiên tòa xử Phương Uyên, Nguyên Kha lần trước, có cảnh một em bé ôm tấm bìa giấy viết hai câu “Vì danh dự dân tộc, chống giặc Tàu! Vì tương lai đất nước, chống tham nhũng!” Có thể coi đây là những khát vọng sâu thẳm của người dân Việt, từ Nam ra Bắc. Vì vậy, gần một trăm người không được vào tòa coi xử đã tập trung thành đoàn biểu tình quanh các đường phố Tân An hô vang khẩu hiệu. Trong đó có các những đảng viên cộng sản như Huỳnh Kim Báu, Kha Lương Ngãi; có nhà thơ Hoàng Hưng, blogger Huỳnh Ngọc Chênh, đi cùng với bà Dương Thị Tân và anh Nguyễn Trí Dũng (vợ và con trai anh Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải). Mọi người cùng nhau hô lớn: “Ðả đảo Trung Quốc xâm lược!” và “Ðả đảo tay sai bán nước!”

Bọn “tay sai bán nước” này là những tên nào? Tất cả mọi người dân nước Việt đều biết đó là những tên nào. Cảnh tượng diễn ra ở thành phố Tân An báo hiệu đảng Cộng sản Việt Nam đang trên đường tan rã.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Tại sao không muốn Viện Khổng Tử?
Ngô Nhân Dụng

Dư luận giới trí thức Việt Nam đang bày tỏ nỗi lo lắng về việc chính quyền Trung Quốc sẽ thành lập một Viện Khổng Tử; một thành công của Thủ tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường trong cuộc công du hai tuần trước ở Việt Nam. Khi chuyến đi kết thúc, hai ông Lý Khắc Cường và Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố đã thỏa thuận về việc này.

Ngay lập tức, những nhà trí thức có ảnh hưởng trên các mạng như Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, học giả Dương Danh Dy, một nhà ngoại giao về hưu đã từng làm việc ở Trung Quốc, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, và nhiều người khác, đã lên tiếng bác bỏ việc lập ra một Học viện Khổng Tử trong lúc chính quyền cộng sản ở nước ta tỏ ra không có một ý thức nào về cuộc tấn công “quyền lực mềm” của Cộng sản Trung Quốc.

Có thể nói ông Lý Khắc Cường đã đạt được một thắng lợi đáng kể trong chuyến đi vừa qua. Vì từ năm 2009, đảng Cộng sản Việt Nam đã có công văn cho phép thành lập một “Học viện Khổng Tử” tại Việt Nam; nhưng chưa làm gì cả. Năm 2011, ông Tập Cận Bình, lúc còn làm phó chủ tịch Trung Quốc, tới Hà Nội cũng đã thúc giục cần“xây dựng nhanh chóng Học viện Khổng Tử tại Việt Nam.” Kể từ năm 2009 tới nay đã là hơn bốn năm, guồng máy chính quyền Việt Nam chưa thấy có một chuyển động nào để thực hiện cái công văn cũ, rồi cũng không ai động đậy gì để đáp lời thúc giục của Tập Cận Bình. Có thể đoán, ngay trong số các đảng viên cộng sản đang ngồi trong guồng máy nhà nước, họ cũng biết lo, và tìm cách trì hoãn, không làm gì cả.

Năm nay, Lý Khắc Cường làm cái gì không biết mà đã buộc Nguyễn Tấn Dũng phải ra đứng trước công chúng chấp nhận việc cho Viện Khổng Tử ra đời. Việc thành lập những Viện Khổng Tử có đáng cho dân Việt Nam lo sợ hay không? Nếu có, thì sợ về cái gì? Ðó là điều chúng ta cần bàn trước khi chọn một cách phản ứng.

Có nhà trí thức đã nhìn thấy trong việc thành lập Viện Khổng Tử một mối đe dọa: Chính quyền Cộng sản Trung Hoa tính “cho đạo Khổng nô dịch dân Việt.” Phản ứng này hoàn toàn do cảm tính, vì lòng yêu nước và vì mối lo sợ khi thấy chính quyền Cộng sản Việt Nam vẫn quen giữ thái độ nhu nhược, hèn yếu, Trung Cộng bảo sao cũng nghe. Chúng ta biết rằng đạo Khổng đã được truyền bá ở nước ta từ hàng ngàn năm trước, mà dân ta vẫn không bao giờ chấp nhận bị nô dịch. Có những chính quyền chịu làm nô dịch, nhưng số phận của họ rất ngắn ngủi, vì đi ngược lòng dân. Các chính quyền sử dụng đạo Khổng đầu tiên là đời Lý, đời Trần, đều biết bảo vệ nền độc lập dân tộc, cả về chính trị lẫn văn hóa! Muốn nô dịch dân Việt, không phải dễ làm!

Kế hoạch đồng hóa dân Việt tàn khốc nhất được thi hành mới cách đây 600 năm. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi mới cho công bố lại những điều ông khám phá trong sách Việt kiệu thư, cho biết và năm 1406, vua Thành Tổ nhà Minh ra lệnh cho quân đội xâm lược nước ta, sau khi đã đánh vào An Nam rồi, trừ các sách kinh, Ðạo giáo, Phật giáo, “hết thảy sách vở văn tự cho đến sách ghi chép lễ tục, sách dạy trẻ con,... một mảnh một chữ đều phải tiêu hủy hết. Khắp trong nước ấy phàm những nơi di tích có bia do Trung Quốc dựng thì giữ lại, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy hết, một chữ chớ để còn. Một sắc dụ gửi Chu Năng còn căn dặn “các văn tịch (sổ hộ khẩu sổ ghi chép về của cải) và bản đồ cho tới cấp quận ấp, thì không được hủy. Cuộc đô hộ của nhà Minh chỉ kéo dài được 20 năm nhưng đã hủy diệt bao nhiêu tài sản văn hóa của dân tộc Việt. Nhưng nếu nước ta chưa bị Trung Cộng chiếm đóng như thời Minh Thành Tổ, thì dù những Viện Khổng Tử lập ra cũng không hủy diệt được văn hóa dân tộc Việt!

Có thể nói người Việt Nam không hề sợ, cho nên đã thành lập những Viện Khổng Tử từ lâu lắm rồi, gọi là Văn Miếu. Vào trong Văn Miếu ở Hà Nội ai cũng thấy đó là nơi thờ các ông Khổng Tử, Mạnh Tử, và các bậc tiên hiền, người Việt cũng như người Trung Hoa. Nhưng cái “Viện Khổng Tử” này, do Lý Nhân Tông lập ra từ năm 1070, đã “làm xong nhiệm vụ lịch sử” của nó từ trăm năm nay rồi. Vì ngay tại các quốc gia Ðông Á còn giữ truyền thống Khổng Mạnh, như Nhật Bản, Ðài Loan, Nam Hàn, Singapore, họ cũng biết lưa chọn. Người ta vẫn bảo vệ các nền nếp đạo đức do hai ông thày này để lại, các quy tắc trong đời sống cá nhân, gia đình, bè bạn; những quy tắc luân lý đó còn nhiều điều ích lợi: Sống ngay thẳng, thành thật, kính trọng cha mẹ, hòa thuận với anh chị em, giữ tín nghĩa với bè bạn, vân vân. Còn tất cả các quan niệm khác do môn đồ các ông Khổng Tử, Mạnh Tử đặt ra, về trị quốc, về bình thiên hạ, thì bây giờ không còn ai cần học nữa. Kho kiến thức của loài người đã đầy các điều mới mẻ, tiến bộ, đáng học là làm theo hơn hai ông thầy cũ này.

Biết như vậy, cho nên cũng không nên mang mối lo sợ thứ hai: Sợ Trung Cộng sử dụng các Viện Khổng Tử để thi thố cái gọi là “quyền lực mềm” của họ. Quyền lực mềm có thể gia tăng ảnh hưởng của các quốc gia trên các nước khác, không khác gì các quyền lực “cứng” như súng đạn, và tiền bạc. Vậy quyền lực mềm là những thứ gì mà gây được ảnh hưởng trên các nước khác? Ðó là những định chế xã hội, các sản phẩm văn hóa, các trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học, cho tới hệ thống pháp luật, thủ tục hành chánh, nghệ thuật quản lý, vân vân. Hiện nay thế giới đang “chạy” bằng các sản phẩm tri thức như vậy, tiến nhanh hay chậm, thấy liền.

Những nước tiến bộ đều nhờ có những định chế hay; đời sống tươi đẹp vì các sản phẩm văn hóa phong phú; xã hội bình anh vì cách tổ chức và luật pháp về chính trị, kinh tế có hiệu quả, vân vân. Những thứ đó tự nó hấp dẫn mọi người, không cần ai mua chuộc hay ép buộc phải theo cả. Những nước tiến bộ có “sức mạnh mềm,” vì các nước khác nhìn cảnh tiến bộ của họ mà thèm! Và muốn bắt chước. Do đó, họ có thể gây ảnh hưởng trên các nước khác.

Khi xét như vậy thì các Viện Khổng Tử có giúp chính quyền Trung Cộng sử dụng một thứ sức mạnh mềm nào hay chăng? Có thể nói ngay là không có gì hết! Những nước Á Ðông khác còn biết sử dụng Khổng Giáo để bảo về đạo đức cá nhân trong cuộc sống; còn ngay trong Trung Quốc thì không! Có dân tộc nào muốn thiết lập một xã hội bất công và tham nhũng như ở nước Trung Hoa bây giờ hay không? Có trường đại học hay viện nghiên cứu nào của Trung Quốc đáng để sinh viên các nước khác tranh đua vào học hay không? Có thể nói, Sức mạnh mềm của Trung Quốc bây giờ gần như là số không!

Vậy tại sao họ vẫn chi tiền ra để thành lập các Viện Khổng Tử?

Họ muốn dùng đó làm cơ sở tuyên truyền, một sở trường của các chế độ cộng sản. Ðiều đầu tiên họ muốn tuyên truyền là chứng tỏ chính quyền Trung Cộng có một bộ mặt hiền từ, mô phạm, dưới hình ảnh Khổng Tử. Ai tin thì cứ việc tin, nhất là ở những nước ở xa. Nhưng còn những nước ở gần thì sao? Nếu có ai biết sự thật đầy đủ, thấy cả những bộ mặt hung hãn, gian xảo của họ và dám nói lên, thì họ sẽ tìm cách bịt miệng người ta lại.

Chuyện thứ hai họ sẽ nhắm là đào tạo những người hoàn toàn có thiện cảm với họ, qua các cuộc trao đổi, mua chuộc, rồi tìm cách gài những người này vào guồng máy chính quyền bản xứ để lúc nào cũng đồng ý, nhất trí với chính quyền Trung Cộng. Nếu guồng máy cai trị bản xứ mà đã có sẵn những tay sai như vậy rồi thì càng tốt. Vì chính bọn tay sai này sẽ làm công việc bịt miệng dân, không cho ai nói ngược lại những lời tuyên truyền của Trung Cộng!

Viện Khổng Tử chính nó không nguy hiểm; nhưng sẽ tác hại cho nước Việt Nam nếu chúng được sử dụng cho mục đích tuyên truyền cho chế độ cộng sản Trung Quốc.

Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện biểu lộ nỗi quan ngại của ông: “Phải thừa nhận rằng giới lãnh đạo của Việt Nam có một sự hiểu biết rất hạn chế về văn hóa của Trung Quốc. Mà việc tuyên truyền, gây sức ép cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam là quá mạnh. Ðiển hình là vừa rồi có những công trình tu bổ hoặc xây mới mang đậm dấu ấn Trung Quốc. Thêm vào đó, có hàng loạt các ngôi chùa từ Nam chí Bắc trùng tu, trang trí theo kiểu Trung Quốc.” Ðó là trước khi có chuyện lập Viện Khổng Tử! Chính quý vị tăng, ni trong nước đã bày tỏ mối lo ngại là Trung Cộng đang đưa tiên giúp trùng tu các chùa chiền, để gây ảnh hưởng trên cả cách bài trí cho tới các nghi lễ trong các chùa. Nhạc sĩ Trần Văn Khê từng nghiên cứu các cách tụng kinh của người Việt, mỗi miền (Nam, Trung, Bắc) có giai điệu tụng, xướng, niệm, tán, vân vân, khác nhau. Vì nghe thì thấy ngay âm điệu tụng kinh chịu ảnh hưởng của dân ca mỗi miền. Bây giờ Trung Quốc đang xâm nhập vào các chùa Việt Nam. Bao giờ mà Phật tử Việt cũng tụng kinh theo âm điệu Quảng Ðông, Phúc Kiến, thì chắc lúc đó Bắc Kinh cũng không cần lập nhiều Viện Khổng Tử nữa!

Trong khi đó, nhà ngoại giao hồi hưu Dương Danh Dy, với kinh nghiệm ở Trung Quốc nhiều năm, còn nhắc nhở thêm: “Người Trung Quốc thì ý đồ bành trướng xâm chiếm lãnh thổ của họ rất dài. Họ sẵn sàng chờ đợi 10 năm, 20 năm, 30 năm thậm chí là hàng trăm năm. Chưa lấy được biển Ðông thì họ chưa thôi trừ phi đất nước Trung Quốc suy yếu đi.”
Với những điều đáng lo như thế, chúng ta có thể hiểu được tại sao giới trí thức Việt Nam lại phản ứng mạnh mẽ, chống lại thỏa hiệp giữa Lý Khắc Cường và Nguyễn Tấn Dũng về việc thành lập học viện Khổng Tử.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Chứng bệnh kinh niên của Hoa Kỳ

Nguyễn Xuân Nghĩa

Lâu lâu người Mỹ lại mắc cơn hoài nghi về nước Mỹ

Có những ngày mà người lãnh đạo Hoa Kỳ thấy rằng mọi việc đều nát như tương!

Ðứa con thai nghén từ bốn năm nay - kế hoạch mang tên mình, là ObamaCare - chưa kịp thôi nôi thì đã quặt quẹo. Bà mụ Kathleen Sebelius phải tả xung hữu đột chống đỡ mà không xong vì các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ tranh cử năm tới trong vùng xôi đậu đều bắt được ý dân, là sự thất vọng. Họ đề nghị đưa cháu... vào nhà thương khám lại. Vì coi vậy mà chẳng phải vậy.

Phe Cộng Hòa thất thế từ tháng trước bèn thừa dịp phản công! Họ mở bát quái trận đồ và chấm vào thất khiếu, mỗi giờ lại điểm một huyệt làm báo chí phe ta chẳng ngăn nổi:

1) Vì sao siêu cường số một về khoa học kỹ thuật lại không lập nổi hệ điện tử phục vụ người dân khi thực hiện kế hoạch ObamaCare được trù tính từ nhiều năm trước? 2) Trách nhiệm thuộc về Bộ Gia Cư và Công Dân Vụ của bà Sebelius hay về các doanh nghiệp thi hành? 3) Ai chọn các doanh nghiệp đó, theo tiêu chuẩn và thủ tục nào, để gây tốn kém hàng tỷ cho công quỹ mà chẳng xong? 4) Những hứa hẹn tốt đẹp ban đầu của kế hoạch này chỉ là chuyện hão huyền vì chính quyền không biết hay có gian ý?

Từ đó, họ hâm nóng nhiều điều bị lãng quên: 5) Vì sao giấu diếm sự thật nhiệm về vụ Benghazi xảy ra ngày 9-11 năm kia khiến bốn người Mỹ bị hạ sát, kể cả Ðại sứ Hoa Kỳ tại Libya? 6) Ai là người có tách nhiệm? 7) Vì sao cơ quan thuế vụ liên bang IRS lại điều tra, hạch sách và còn tiết lộ chi tiết riêng tư của những người thuộc phe bảo thủ?

Duy nhất có một điều mà phe Cộng Hòa bỏ qua, thì lại bị phe Dân Chủ nêu thành chuyện là việc cơ quan tình báo điện tử NSA nghe lén các nước đồng minh của Mỹ! Chuyện ấy khiến lãnh đạo Hoa Kỳ phải nhìn ra ngoài.

Cũng lại nát như tương!

Lãnh đạo các nước đồng minh như Ðức, Pháp, Tây Ban Nha, hay đối tác Nam Mỹ như Brazil, đều gọi Ðại sứ Mỹ lên để phàn nàn về chuyện họ bị nghe lén. Việc các nước đều kín đáo theo dõi lẫn nhau là chuyện xưa như nghề nọ, nhưng vì sao một nhân viên ngoại ngạch là Edward Snowden lại ngồi yên lành bên Nga để mỗi tuần nhả thêm một chuyện làm nước Mỹ mang tiếng thất thố với các đồng minh?

Mà nào chỉ có chuyện vểnh tai nghe lén trên trời?

Hoa Kỳ đang lúng túng vì hai hồ sơ Syria và Iran, gây bất mãn cho các đồng minh chiến lược là Israel, Egypt, Saudi Arabia và Turkey khiến họ tính riêng việc khác mà khỏi tham khảo ý kiến.

Lãnh đạo Mỹ nhất quyết triệt thoái khỏi Iraq từ năm kia và Afghanistan vào năm tới. Bây giờ, tình hình Iraq bỗng dưng suy đồi với ảnh hưởng quá mạnh của Iran và sự tái xuất hiện của khủng bố Al-Qaeda. Sau câu hỏi năm xưa “vì sao vào Iraq”, một câu hỏi mới đang được đặt ra: “ai làm mất Iraq”? Hậu quả sẽ ra sao nếu bệnh ung thư của khủng bố sẽ phát tác từ một xứ láng giềng của Iraq là Syria....

Ðã vậy, và đây là một trào lưu lâu đời mà sẽ bị đánh giá là “di sản Obama”: nước Mỹ đang tiết giảm đầu tư quốc phòng.

Sau nữa thế kỷ tăng cường sức mạnh quân sự kể từ khi bị đánh tại Trân Châu Cảng vào cuối năm 1941, rồi trải qua Thế chiến II cùng Chiến tranh lạnh, thì từ năm 1991, Hoa Kỳ hưởng “cổ tức hòa bình” và thu hẹp khả năng quốc phòng. Chỉ được 10 năm thì vụ khủng bố 9-11 khiến nước Mỹ mở ra cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Và đi vay để bước vào chiến tranh.

Mười năm sau thì cả nước đều mệt mỏi và chính người dân, chứ chẳng phải là ai khác, mới tự hỏi là vì sao cần một quân lực vĩ đại có khả năng tham chiến toàn cầu để cứu người khác? Câu hỏi đó góp phần cho Barack Obama thắng cử.

Quả nhiên là ông thu dọn chiến trường, triệt thoái và giải kết - với hậu thuẫn của cánh tả phản chiến lẫn cánh hữu tự cô lập. Ông thành “người vái tứ phương” để ưu tiên tập trung vào chuyện cải tạo nước Mỹ. Và trận chiến về ngân sách kéo dài từ năm 2011 dẫn đến một kết quả cụ thể là ngân sách quốc phòng sẽ giảm một ngàn ba trăm tỷ trong 10 năm tới.

Nhưng cũng quần chúng biết điều ấy lại nêu vấn đề là vì sao không can thiệp vào Syria để cứu lấy thường dân vô tội, theo lập luận của cánh tả lý tưởng lẫn phe tân bảo thủ bên cánh hữu....? Thề còn Iran, Liên bang Nga và Trung Quốc, những mối nguy tiềm thế khác.

Nhìn từ bên ngoài, người ta thấy có gì đó không ổn.

Quả nhiên, tờ Forbes đánh giá Tổng thống Vladimir Putin là kẻ quyền thế nhất địa cầu năm nay, chứ không còn là Tổng thống Mỹ như mọi năm. Còn viện Gallup vừa cho biết mức tin tưởng vào Obama đã sụt tới 40%, vô tiền khoáng hậu! Cùng ngày mùng bốn, tờ Wall Street Journal cho biết kết quả khảo sát mới nhất: “Trong năm bảy năm tới, nước nào sẽ là cường quốc kinh tế số một?”

Hiện nay, chỉ có 28% dân Mỹ cho rằng Trung Quốc là đệ nhất cường quốc kinh tế thế giới. Nhưng nói về viễn ảnh 2018 đến 2020, tỷ lệ nghiêng về Trung Quốc lại là 36%. Và trong các thành phần, dân càng giàu hay càng trẻ lại càng lạc quan về Trung Quốc và bi quan về nước Mỹ!

Thật ra, nhìn từ bên ngoài và trong trường kỳ thì đây là chuyện nhàm!

Từ thời lập quốc rồi, cứ mươi năm lại có người thở dài về sự suy bại của nước Mỹ.... Trước hết là bậc thức giả Âu Châu. Khi nước Mỹ chưa thành hình thì nhiều người đã nói đến tình trạng còm cõi của các sinh vật sống trên đất Mỹ! Trong các con vật có cả con người, vì địa dư hình thể, thổ ngơi hay thổ nhưỡng gì đó...

Chuyện ấy quá xưa, xin vèo đến thế kỷ 20 và các bậc thức giả Hoa Kỳ. Ít ai trong chúng ta lại biết hay nhớ đến vụ khủng hoảng tâm thần của dân Mỹ khi Liên Xô bắn vệ tinh Sputnik lên trời vào năm 1957. Một chấn động gây bàng hoàng như vụ Trân Châu Cảng năm 1941.

Ba tuần sau thì Sputnik bặt tin nhưng dân Mỹ đã nói đến nguy cơ bị Liên Xô qua mặt! Tờ Life cảnh báo về khủng hoảng giáo dục khiến dân Mỹ sẽ thua dân Nga về khoa học kỹ thuật. Lời hăm của Nikita Krushev là “sẽ chôn nước Mỹ” càng gây hốt hoảng, được John Kennedy khai thác với số liệu đáng ngờ về khả năng nguyên tử của Nga. Khi ấy một bậc thức giả trẻ tuổi là Henry Kissinger xác nhận rằng Hoa Kỳ đang lụn bại!

Phản ứng quật khởi đầy dại dột thời đó có góp phần dẫn đến... chiến tranh Việt Nam. Mà dân ta không biết!

Ðến thời Lyndon Johnson thì quả tình là nước Mỹ lụn bại khi vừa muốn cải tạo xã hội vừa bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do. Trong khi các lãnh tụ bị ám sát. Qua thời Richard Nixon thì nước Mỹ tin chắc là sẽ bị Âu Châu qua mặt và trôi vào trạng thái bất an - malaise - của thời Jimmy Carter. Qua thời Ronald Reagan thì Hoa Kỳ lụn bại trước sự lớn mạnh của Nhật. Ngày nay thì có con ngáo ộp Trung Quốc và sự tàn tạ của “Giấc mơ Hoa Kỳ”....

Có mỗi chuyện y tế toàn dân như Âu Châu đã có từ thế kỷ trước mà còn làm không xong!

Nhưng mà nhìn từ bên ngoài, chúng ta đừng tưởng thật! Sau Obama, nước Mỹ sẽ lại nổi điên bày ra chuyện khác. Rồi bị các đại cường thất thế đả kích là bày gian kế mắc bệnh để lừa thiên hạ!

___________________________________

Chỉ có tại nước Mỹ

Một Câu lạc bộ Săn bắn Texas có sáng kiến gây quỹ để cứu loài tê giác đen đang bị tuyệt chủng tại Châu Phi. Hội này muốn thu được nửa triệu đô bằng cách bán đấu giá giấy phép cho đi bắn tê giác đen ở Namibia. Theo Giám đốc Ben Carter của hội Dallas Safari Club, đấy là cách người ta chứng minh sự thiết tha quan tâm đến việc bảo tồn súc vật. Ông ta nói mà không cười.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Những phản biện đầy sức nặng
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Quốc Hội trong nước đang bàn thảo để thông qua bản Hiến Pháp 2013, tuân theo nghị quyết của cuộc họp thứ 8 khóa XI của Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CS.

Ðể giúp cho gần 500 đại biểu hiểu rõ hơn việc hệ trọng này, trước khi mỗi người bấm máy bỏ phiếu tán thành hay phản đối bản dự thảo đã được đảng hoàn thiện và thông qua trước, xin giới thiệu dưới đây một vài ý kiến được coi là nặng ký nhất của một số đảng viên lão thành có uy tín và trình độ từng có vị trí cao trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước.

Image
Quốc Hội Việt Nam nhóm họp hôm 21 Tháng Mười. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Trước hết là ý kiến của ông Nguyễn Văn An, từng là ủy viên Bộ Chính Trị, từng giữ 2 khóa trọng trách chủ tịch Quốc Hội.
Theo Tuần tin tức ngày 20 tháng 9, 2013, ông Nguyễn Văn An phát biểu: “Nhất thiết phải đưa Hiến Pháp ra cho toàn dân phúc quyết, vì Quốc Hội chưa từng được ai giao cho trọng trách thảo hiến pháp, và Hiến Pháp đầu tiên năm 1946 đã ghi rõ hiến pháp phải được đưa ra toàn dân phúc quyết.” Ông khẳng định nếu không làm vậy thì chế độ hiện nay là chế độ “đảng trị,” nhân dân không thể chấp nhận. Ông cho rằng “hiện nay đất nước đã thống nhất, có hòa bình, không có gì trở ngại để thực hiện một cuộc toàn dân phúc quyết bản Hiến Pháp mới và thực hiện một cuộc trưng cầu dân ý, thực hiện nguyên tắc của Hiến Pháp là quyền lực của đất nước thuộc về toàn dân. Theo báo Pháp Luật từ ngày 20 tháng 5 năm 2010, ông Nguyễn Văn An cũng đã phát biểu rằng “chế độ hiện nay trên thực tế là chế độ làm vua tập thể, tập thể bộ chính trị nắm trọn quyền cai trị đất nước.”

Ông Trần Phương, hiện là giáo sư chính trị-kinh tế học, hiệu trưởng trường đại học dân lập Quản lý Kinh doanh Hà Nội, từng là phó thủ tướng, là ủy viên Trung Ương đảng CS. Theo blog của Huỳnh Ngọc Chênh ngày 18 tháng 10 năm 2013, ông Trần Phương công khai góp ý vào các văn kiện dự thảo của đại hội XI rằng “chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm cả về lý luận và thực tiễn, là nguy hại, phải dứt khoát từ bỏ khỏi các văn kiện của đảng và nhà nước.” Ông còn nói rõ thêm rằng “ghi chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội trong Hiến Pháp không những là sai lầm mà còn là lừa dối, là bịp bợm, khi cả thế giới đã từ bỏ, chôn vùi những học thuyết sai lầm này rồi.” Xin nhớ Giáo Sư Trần Phương hiện là một giáo sư có uy tín với tuổi trẻ, sinh viên trong nước, 3 khóa là đại biểu Quốc Hội, là một tri thức nổi tiếng về tư duy độc lập.

Nhân vật thứ ba cần nhắc đến là ông Ðặng Quốc Bảo, nổi tiếng về tư duy độc lập, từng là trung tướng quân đội nhân dân, là hiệu trưởng trường kỹ thuật quân sự, là bí thứ thứ nhất Ðoàn Thanh Niên CS, là trưởng ban Khoa Giáo Trung Ương Ðảng. Theo blog của Lê Anh Hùng ngày 16 tháng 10 năm 2013, ông Ðặng Quốc Bảo đã công khai phát biểu rằng: “Việt Nam ta cần ngăn chặn nguy cơ lớn nhất là tai họa bị bành trướng từ phương Bắc, ta không khiêu khích Trung Quốc, nhưng cần kết thân với các nước Ðông Nam Á, thậm chí coi Ðông Nam Á là tổ quốc thứ hai của ta, ta cần kết liên minh mọi mặt với Ấn Ðộ, Nhật Bản và cả Hoa Kỳ nữa, vì các nước ấy không có ý đồ gì nguy hiểm đối với ta.” Ông Ðặng Quốc Bảo là một diễn giả rất được thanh niên hâm mộ, có “ma lực” thu hút tuổi trẻ, nói rõ thêm rằng: “Tôi bị bệnh hiểm nghèo, không còn sống được lâu, phải nói lên sự thật, đảng CS cần từ bỏ chế độ toàn trị, thi đua cạnh tranh với các tổ chức chính trị khác của nhân dân, trả cho nhân dân các quyền tự do dân chủ.”

Thúc ép bằng được Quốc Hội thông qua bản dự thảo mang tên Hiến Pháp 2013, quả thật Bộ Chính Trị cố tình thủ tiêu quyền tham gia việc nước của toàn dân, thủ tiêu ngay bằng hành xử của mình điều cốt lõi lớn nhất trong hiến pháp là quyền lực của đất nước thuộc về nhân dân. Thái độ này diễn ra, đúng vào lúc bất lợi cho đảng toàn trị nhất, khi Diễn đàn Xã hội Dân sự được khai trương, khi sức ép của quốc tế về thực thi nhân quyền đang tăng, khi các chiến sĩ dân chủ tay không vũ khí tỏ rõ ý chí hiên ngang của những dũng sỹ ra trận, trình diện hàng ngũ đông đảo tự tin, gắn bó, bất khuất trước cường quyền phi lý.

Nếu có ai hỏi: điều gì là nổi bật nhất trong xã hội ta vào thời điểm cuối năm này? Xin thưa ngay: đó là hàng ngũ nhân dân đi đầu là tuổi trẻ hiên ngang đứng dậy đấu tranh đòi quyền sống có tự do và nhân phẩm, đang tận dụng thời cơ để phát triển cả về số lượng và chất lượng, với gia tốc chưa từng có, nhân việc bàn về Hiến Pháp mới, đang dồn nhóm lãnh đạo chủ quan, mê muội, mù quáng vì tham nhũng vào tình thế cô lập, tiến lui đều khó.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

người việt nam hèn hạ
freedomnotforfree

LTS: Một bài viết đáng chú ý, phản ánh thực tế xã hội Việt Nam ngày hôm nay
trong đó có công "không nhỏ" của "đại bộ phận" đảng cộng sản Việt Nam
đã sản sinh và nô lệ hóa con người Việt dưới ách cai trị theo lối phong kiến Tàu như thế nào?.
Chúng tôi xin trích đăng lại và giới thiệu đến quý đọc giả VietnamExodus.

Image
Ảnh đại diện của tác giả trên trang blog cá nhân.
(blog hanwonders)
Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa.
Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.
Cách đây đã lâu, tôi đọc “người trung quốc xấu xí” của ông Bá Dương (Đài Loan), chưa bàn tới hay/ dở/ đúng/ sai của nội dung cuốn sách gây tranh cãi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật mình của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách. Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong lòng. Tôi biết thế giới đã từng có những cuốn “Người Mỹ xấu xí”, “Người Nhật Bản xấu xí”, rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương. Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ mình trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” & nhìn đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ… Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này?

Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng mình có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, còn báo chí không cần hỏi vẫn có những hình ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy thì thi cái gì? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó còn có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi thì năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng “thần tượng Su-Ju” của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đình, nhà trường, xã hội – những nền tảng đã cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn lòng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế… trước thần tượng. Một dân tộc gì đã sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế?

Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đã nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. Vì trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xã hội, xã hội đổ cho cha mẹ & nhà trường. Tóm lại, đừng đổ nữa. Hãy biết hốt về mình đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi.
Bởi người lớn có hơn gì? Một xã hội mà người ta đang sẵn lòng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan thì chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy trì sự thống trị trước nhân dân. Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường & trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm”. Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình”. Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân & gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là “lý tưởng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ Đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động”.

Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,..

Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?
Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh & ức hiếp bên dưới.

Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?!
Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân!
Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.

Bọn công bộc đó đã đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đòi lại công bằng. Vì trong tay họ còn có gì để chống lại chúng ngoài phẩm cách của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?

Bọn công bộc đó đã đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền vì không còn sức để chịu đựng chúng…

Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.

Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác! Vì chúng ta lương thiện.
Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xã hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.

Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.
Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.
Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản.
Tôi đọc tin bọn chủ & lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.
Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.
Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp!
… còn rất nhiều tin.

Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế?
Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó.
Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là “nền văn chương than khóc”.
Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” một cách đúng nghĩa. Vì hãy quên những hình tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, tìm cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết & chết. Không hơn không kém.

Các bạn có tìm kiếm giống tôi không? Và các bạn có tìm thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:

Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.
. Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?
. Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi![/list]

Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.
Còn những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, vì đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu mình đi, không cần suy nghĩ nữa làm gì cho mệt óc.
Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi?
Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản.
Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản.
Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém!
Nghe nói cụ Tản Đà có câu:
Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn!
Cho nên quân ấy mới làm quan.
Những gì độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đã nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ mình cũng không cần nhắc lại.

Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế?
Ngoài sự cấu kết quyền lực – quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa?
Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ,… Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?
Còn những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng mình, giúp đỡ mình, ngự trị trong mình, thì họ còn biết dựa vào đâu để tìm lại niềm lạc quan mà sống? Mà tranh đấu để tự tìm lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đã ban cho mỗi chúng ta?
Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?

Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta - những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ mình lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách – nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực – một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lãng. Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm gì cho đúng.

Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập – tự do – hạnh phúc.
Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản gì?

Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân mình, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những gì mà một con người có lương tri cần phải hành động.
Bạn có đang tự hào vì mình là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong mình một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào vì tôi là người việt nam “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” đã từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à? Ta thắng Mỹ để có một xã hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ còn thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi… Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta còn không hơn con chó thì cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?

Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là “Mỹ đã đến biển Đông”, “bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn”,.. để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã “dạy dỗ” cả đám chóp bu việt nam. “Đĩ” chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà “đĩ” như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?

Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.
Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.
* * *
Bổ sung:
Sau khi bài này được upload, tôi nhận được khá nhiều comments và cả message. Không biết phải đánh giá như thế nào về những comments hỏi ngược lại tôi với một thái độ khinh khỉnh, qua nhiều câu chữ khác nhau, nhưng đại khái cùng 1 ý: "Vậy bạn có hèn không?". He he...
Tôi chỉ muốn nhấn mạnh lại 1 điều, suốt cả bài viết, tôi không gọi những người hèn là "các bạn", tôi gọi là "chúng ta". Như vậy có dễ hiểu hơn chưa nhỉ?
Tôi không thích tự nhận hay gán ghép. Tôi chỉ nói lên những suy nghĩ của mình, còn đánh giá tôi hay đánh giá chính mình, các bạn cứ tự làm lấy. Thiết nghĩ, đâu cần phải tranh luận chuyện ai hèn, ai không hèn ở đây! Biết hay không biết mới là quan trọng. Mà cái sự khổ sở để đi từ cái "không biết/ chưa biết" đến cái "biết" nó sẽ là một quá trình gian nan mà mỗi người phải tự thân trải nghiệm. Không ai giúp ai được đâu. Và tôi hiểu, cái "biết" của tôi nó cũng chỉ giới hạn trong tầm nhân sinh quan nhỏ bé của cá nhân tôi mà thôi. Còn bạn, hãy tiếp tục giữ lấy niềm lạc quan của bạn. Con cừu vẫn có được niềm hạnh phúc mỗi ngày được gặm cỏ non, uống nước suối, ngắm bầu trời xanh, chờ đến ngày xẻ thịt mà! Đúng không? Hạnh phúc vẫn khắp quanh ta! Những con cừu không biết "tự sướng", không biết "thủ dâm tinh thần" thì quả thực là ngu còn hơn... cừu! He he...
* * *
Bổ sung tiếp:
"... Ông bảo xã hội nào cũng có những điều bẩn thỉu. Tôi công nhận điều ấy. Nhưng xã hội bẩn thỉu nhất ông có biết là xã hội nào không? Là xã hội mà thằng ăn cắp không cho rằng nó phạm pháp, nó đang làm điều xấu, người lương thiện thì run sợ, thằng bất lương lại coi việc nó làm là bình thường và kẻ vô liêm sỉ như ông thì vênh vang tự đắc: ta là số đông. Chính là xã hội này đây..." (trích comment của khongnoibiet).
TỰ DO PHẢI TRANH ĐẤU BẰNG XƯƠNG MÁU VÀ CẢ TINH MẠNG
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Bất bình khi Việt Nam là thành viên 'Hội Đồng Nhân Quyền'


GENEVA - Các tổ chức bảo vệ nhân quyền tỏ ra bất bình trước việc Việt Nam, Trung Quốc, Nga và Saudi Arabia
trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (UNHRC). Hôm 12 tháng 11,
Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu chọn 14 thành viên mới cho UNHRC.

UNHRC có 47 ghế với nhiệm vụ chính là theo dõi và phản đối những hành động vi phạm nhân quyền trên toàn cầu bằng các nghị quyết.

Image
Công an ngăn chặn phóng viên tham dự phiên tòa xử ông Đoàn Văn Vươn. Việt Nam trong những năm qua liên tục
bị các tổ chức quốc tế chỉ trích vì tình trạng vi phạm nhân quyền. (Hình: Getty Images)

Việc lựa chọn thành viên cho UNHRC được tiến hành theo khu vực. Các quốc gia trong khu vực sẽ lựa chọn ứng cử viên. Đôi khi một khu vực có nhiều ứng cử viên cùng cạnh tranh để được bầu. Tuy nhiên lần này, bốn ứng cử viên cho khu vực châu Á là Việt Nam, Trung Quốc, Saudi Arabia và Maldives không có đối thủ cạnh tranh trong việc chọn bốn thành viên của khu vực này vào UNHRC.

Hãng AP tường thuật, Việt Nam, Trung Quốc, Nga và Saudi Arabia trở thành thành viên của UNHRC khiến nhiều tổ chức quốc tế bảo vệ nhân quyền thất vọng và bất bình.

Bà Peggy Hicks, một viên chức của Tổ chức Quan sát nhân quyền (Human Rights Watch – HRW), khuyến cáo, có năm ứng viên muốn gia nhập UNHRC lần này (Việt Nam, Trung Quốc, Nga, Saudi Arabia, Algeria) đã từng từ chối để các giám sát viên nhân quyền quốc tế đến thăm và điều tra các cáo buộc về những vụ vi phạm nhân quyền diễn ra trong những quốc gia đó. Cần phải buộc các quốc gia ứng cử vào UNHRC giải thích về điều đó.

Cũng theo bà Hicks, Việt Nam và Trung Quốc cần phải trả lời những chất vấn liên quan tới hàng loạt vụ vi phạm nhân quyền, bắt giữ những cá nhân hoạt động bênh vực nhân quyền ở Việt Nam và Trung Quốc. Cần phải buộc Việt Nam và Trung Quốc cam kết thực hiện những tiến bộ rõ rệt khi vận động để được bầu vào UNHRC.

Bà Hicks cho rằng, không làm như thế thì mục tiêu cao cả vốn là lý do thành lập UNHRC - đòi hỏi các thành viên phải tuân thủ những tiêu chuẩn cao nhất về nhân quyền - chỉ là tuyên bố suông.

Giống như Việt Nam, Trung Quốc, Saudi Arabian không phải cạnh tranh vì số ứng cử viên trong nhóm châu Á bằng với số ghế trống. Nga cũng không phải cạnh tranh trong nhóm của họ và Algeria thuộc nhóm châu Phi không cần nỗ lực nhiều bởi chỉ có năm ứng cử viên tranh đua cho bốn ghế trống.

Tuần trước, nhiều tổ chức quốc tế và dân biểu các quốc gia châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Anh, Úc, đã đồng loạt ký tên vào một kháng thư, phản đối Việt Nam tham gia UNHRC.

Kháng thư thúc giục các đại diện cho Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu ngăn chặn Việt Nam cũng như vài quốc gia khác (Trung Quốc, Cuba, Algeria, Jordan, Nga, Saudi Arabian), trở thành thành viên của UNHRC, do thành tích nhân quyền của các quốc gia này không xứng đáng với thanh danh của UNHRC nói riêng và của Liên Hiệp Quốc nói chung. Sau kháng thư, Jordan rút khỏi cuộc vận động tham gia UNHRC.

Ngoài việc tham gia ký tên vào kháng thư, HRW còn soạn riêng một thư gửi Thủ tướng Việt Nam, kêu gọi Việt Nam tuân thủ các chuẩn mực về “bảo vệ và thăng tiến nhân quyền”, khuyến khích Việt Nam giải quyết phóng thích tù chính trị trước ngày Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu bầu chọn thành viên UNHRC.

Vài ngày sau, hôm 7 tháng 11, Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) phát hành một thông báo, cảnh báo công động quốc tế rằng, Việt Nam đang gia tăng đàn áp nhân quyền. Ông Rupert Abbott, một chuyên gia của Ân xá Quốc tế, nhận định: “Việt Nam đã bị biến thành một trong những nhà tù lớn nhất Đông Nam Á. Nơi giam cầm những người kêu gọi bảo vệ nhân quyền. Tình trạng gia tăng đàn áp đó cần phải chấm dứt”.

Áp lực từ cộng đồng quốc tế lên chính quyền Việt Nam đã tăng đáng kể sau khi Việt Nam ứng cử UNHRC. Ngày 7 tháng 11, Việt Nam ký cam kết thực hiện “Công ước Chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác” (UNCAT). Hành động này được xem là một sự nhượng bộ những đòi hỏi của cộng đồng quốc tế về cải thiện nhân quyền.

UNCAT nằm trong nhóm những công ước được soạn thảo nhằm bảo vệ nhân quyền của cộng đồng quốc tế. Tuy được Liên Hiệp Quốc thông qua từ năm 1984, có hiệu lực từ năm 1987 nhưng Việt Nam vẫn thuộc một nhóm rất nhỏ không tham gia vì không tham gia đồng nghĩa với không phải thực hiện, không bị giám sát, chế tài, dẫu cho mục tiêu của UNCAT chỉ là phòng chống tra tấn, đối xử tàn bạo làm mất phẩm giá con người.

Việt Nam không tham gia UNCAT vì UNCAT cấm tuyệt đối việc tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, xúc phạm phẩm giá con người. UNCAT đòi các quốc gia cam kết thực thi phải có những biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa, chống tra tấn. Phải xem tra tấn là tội hình sự. Kẻ tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, xúc phạm phẩm giá con người sẽ bị dẫn độ để xét xử tại một quốc gia khác nếu quốc gia kẻ đó cư trú không làm việc này. Đồng thời nghiêm cấm các quốc gia trả ai đó về nguyên quán nếu có lý do để tin rằng, ở đó, họ sẽ bị tra tấn, ngược đãi.

Bên cạnh UNCAT còn có một Nghị định thư tùy chọn về "Công ước chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác”, được gọi là OPCAT. OPCAT được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua hồi năm 2002, có hiệu lực từ tháng 6 năm 2006, quy định về việc thành lập “một hệ thống các chuyến viếng thăm thường xuyên do các cơ quan độc lập quốc tế và quốc gia thực hiện tại những nơi có người đang bị tước quyền tự do, để ngăn chặn việc tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác”. OPCAT được giám sát bởi một “Tiểu ban Phòng chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác”.

Trong những tuyên bố mới nhất về việc tham gia UNCAT, không thấy Việt Nam đề cập đến OPCAT. (G.Đ)
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Bị nhiều phản đối, Hà Nội vẫn được vào Hội Ðồng Nhân Quyền

Võ Long Triều
Ngày 28 tháng 7 năm 2013, Cộng Sản Hà Nội nộp đơn ứng cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016, cuộc bầu cử thành viên mới diễn ra ngày 12 tháng 11. Hội Ðồng Nhân Quyền là hậu thân của Ủy Ban Nhân Quyền LHQ, có nhiệm vụ thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người được bảo hộ trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948.

Bản Tuyên Ngôn là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc. Hội đồng có trách nhiệm giám sát công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

Mặc dù Hà Nội đã luôn luôn chà đạp nhân quyền, bị nhiều cơ quan tranh đấu cho nhân quyền phê bình và tố cáo, thế mà Liên Hiệp Quốc vẫn cho phép Hà Nội ngồi vào ghế của Hội Ðồng nhân quyền, một thứ Biện Lý luận tội và Thẩm Phán xử những vi phạm nhân quyền, thay vì Hà Nội phải đứng trước vành móng ngựa với tư cách là Bị Cáo. Cho nên dư luận thế giới cho rằng sự lựa chọn nầy của LHQ thật đáng chê trách.

Thử nhìn lại thực tế về tình trạng nhân quyền tại Việt, chưa nói đến các nước Trung Quốc, Cuba, Nga và Saudi Arabia cũng đắc cử vào Hội Ðồng.

Hà Nội đã từng bị dư luận trong nước và thế giới phê bình, tố cáo vi phạm trắng trợn bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà nay lại không ngại ngùng, trơ trẽn xin ứng cử vào hội đồng kèm theo những lời hứa hẹn giả dối làm cho người ta thấy rõ sự gian manh tráo trở đúng theo thói thường của các quốc gia độc tài cộng sản. Tài liệu của nhà cầm quyền Hà Nội trình lên chủ tịch Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc viết rằng: “Việt Nam cam kết bảo vệ nhân quyền trong tư cách ứng cử viên vào Hội Ðồng như, quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam được tôn trọng và bảo đảm, quyền tự do biểu đạt ý kiến trên Internet được tăng cường.” Thật là gian manh dối trá quá trắng trợn! Ngay cả Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang cũng thuộc bài dối gạt khi ông tuyên bố với Tổng Thống Barack Obama hồi tháng 7, 2013 rằng: Chính quyền của ông “đã thực hiện những nỗ lực lâu dài để bảo vệ và cổ vũ cho nhân quyền.” Ngược lại, ngày 7 tháng 11, 2013, phó trợ lý ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách dân chủ nhân quyền và lao động Scott Busby nói với VOA, Việt Nam cần chứng minh có những dấu hiệu tiến bộ về nhân quyền trong tương lai nếu muốn thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ.

Tại Việt Nam, 100 blogger đã ký bản tuyên bố 258, và đã tìm mọi cách đưa đến văn phòng đại diện Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ tại Bangkok cùng các tòa đại sứ tại Hà Nội, tố cáo điều hình luật 258 vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân và kêu gọi nhà nước phải sửa đổi luật pháp để trở thành một thành viên có trách nhiệm của Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ. Sau đó một số blogger chủ trương bản tuyên bố này bị công an bắt bớ hành hung.

Trong khi đó phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Lương Thanh Nghị lên tiếng quảng cáo với cả thế giới rằng sở dĩ Việt Nam muốn tham gia vào Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ là để đóng góp tích cực hơn và thúc đẩy nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người trên thế giới. Ông Nghị còn rao thêm nhiều lời khẳng định nhằm mục đích vận động xin phiếu. Gần đây nhứt ngày 5 tháng 11, 2013, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký nghị quyết 118/NQ-CP ủy quyền cho trưởng phái đoàn đại diện thường trực tại LHQ ký công ước về “chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng trị tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người,” sự ký kết đó chứng tỏ Hà Nội quyết tâm bảo vệ nhân quyền.

Trong khi đó, công an và bọn côn đồ, được nhà nước thuê mướn, hành hung dân chúng dã man, tra tấn, ép cung dân lành cho đến chết một cách vô tội vạ. Gần đây nhứt báo chí tố cáo 7 tên công an mang tội ép cung một dân lành buộc phải nhận tội và tòa án thông đồng xử án chung thân, nay được minh oan trả tự do. Như vậy đủ thấy Cộng Sản Hà Nội vừa tàn ác với dân vừa dối gạt dư luận quốc tế, mà đôi khi vì lợi ích chính trị hay kinh tế cũng có nhiều quốc gia trên thế giới cố tình chấp nhận bị gạt!

Tuy nhiên, một số dân biểu nhiều nước, Anh, Canada, Úc, Mỹ và các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền ký tên gởi một thư phản đối Việt Nam ứng cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ. Kháng thư kêu gọi đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ, đại diện cao cấp của Liên Hiệp Châu Âu hãy lên tiếng vì hàng triệu nạn nhân trên thế giới đang cần một cơ quan nhân quyền quốc tế hiệu quả và khả tín hơn. Theo quyết nghị của đại hội đồng thì ứng cử viên phải là các quốc gia duy trì các tiêu chuẩn cao nhứt trong việc thăng tiến và bảo vệ nhân quyền. Vậy thử hỏi Việt Nam có xứng đáng không?

Ông Ruppert Abbott, nhà nghiên cứu về Việt Nam của Hội Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), nhận định Việt Nam là nhà tù lớn nhứt của giới bảo vệ nhân quyền. Ông nói thêm, một khi bị tống giam, các tù nhân lương tâm phải đương đầu với những điều kiện vô cùng khắc nghiệt, một số bị tra tấn và phải chịu những hình thức ngược đãi tàn bạo khác. Thế mà Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn ủy quyền cho Ðại Sứ mình ký bản công ước về “chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng trị tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người”. Bản phúc trình của Ân Xá Quốc Tế công bố ngày 7 tháng 11, 2013 báo động tình hình nhân quyền tại Việt Nam rất tồi tệ.

Ông Benjamin Ismail, đứng đầu Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, nói: “Bản án của Ðinh Nhật Uy chứng tỏ Cộng Sản Việt Nam không hề bảo vệ và tôn trọng nhân quyền.”

Ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Human Rights Watch, phát biểu với VOA: Chiến dịch đàn áp nhân quyền của Hà Nội vẫn tiếp tục và gia tăng. Việt Nam không xứng đáng có một ghế tại Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ. “Tôi kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam rút lui ý định tranh cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ vì họ không thích hợp và không xứng đáng.”

Ðối với người dân Việt Nam, Cộng Sản Hà Nội chẳng những chà đạp nhân quyền một cách thô bạo, mà còn theo lệnh Bắc Kinh ngăn cấm quần chúng bày tỏ tư tưởng và quyền tự do ngôn luận của mình. Còn đối với quốc tế, cho dù Hà Nội có tuyên truyền dối trá đến đâu các chính trị gia và cơ quan tranh đấu cho nhân quyền vẫn biết rõ hành tung của họ.

Dù vậy các nước thành viên LHQ vẫn cho phép Hà Nội ngồi vào ghế của Hội Ðồng Nhân Quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Sự kiện này đánh dấu một vết nhơ cho Hội Ðồng! Bởi vì cơ quan của LHQ không tôn trọng quy tắc của chính mình đặt ra: “Ứng cử viên phải là các quốc gia duy trì các tiêu chuẩn cao nhứt trong việc thăng tiến và bảo vệ nhân quyền.”

Ông Hillel Neuer, giám đốc cơ quan UN Watch, có nhiệm vụ theo dõi các quy định của LHQ, cáo buộc cơ quan nầy đã lựa chọn một cách phi lý, một sự sỉ nhục những nạn nhân đang cần sự bảo vệ của LHQ. Nhiều quan sát viên tại LHQ nhận định rằng Hội Ðồng Nhân Quyền đang phạm một sai lầm quan trọng như tiền thân của mình là Ủy Ban Nhân Quyền LHQ, do cố Tổng Thống Libya Mouamma Kadhafi điều khiển. Có người nói thẳng thừng: “LHQ 'giao chuồng gà cho con chồn', như người mình thường nói là 'giao trứng cho ác.'”

Toàn bộ các cơ quan tranh đấu cho nhân quyền và một số quốc gia trên thế giới đều cho rằng Hà Nội không xứng đáng là ứng cử viên, nói chi đến việc đắc cử. Sự đắc cử của Hà Nội làm cho người ta đánh giá Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ chỉ là một hội trường để những nghệ sĩ hài, diễn kịch nhân quyền cho các nạn nhân của độc tài áp bức vừa xem vừa nguyền rủa!

Hay là theo ngôn ngữ chính trị là nơi tuyên truyền, tố cáo lẫn nhau, đổi chác lợi ích, mua chuộc sự ủng hộ các nước độc tài gian ác, miệng hô hào tôn trọng nhân quyền triệt để, trong khi họ dùng bạo lực đàn áp thẳng tay. Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ mất hết sự khả tín và hy vọng của dân chúng các nước đang gánh chịu sự bất công và sự đàn áp của bạo quyền. Tiếc thay!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Dân đã mất hết niềm tin ?

Nam Nguyên,
phóng viên RFA

Image
Kỳ họp thứ 6 Quốc hội Việt Nam khóa 13 hôm 21 tháng 10 năm 2013 tại Hà Nội. AFP
Đạo đức suy đồi, xã hội bất an, người dân mất niềm tin vào Nhà nước là những vấn đề được đại biểu Quốc hội báo động trong các phiên thảo luận trong tuần.

Nghĩ đến công quyền là nghĩ đến tham nhũng

Báo Tuổi Trẻ trích lời ông Nguyễn Ngọc Bảo đại biểu Vĩnh Phúc phản ảnh: “Tham nhũng khiến người dân ngày càng không tin vào công quyền, mà người ta cứ nghĩ đến công quyền là nghĩ đến tham nhũng.”

Bà Lê Hiền Đức một giáo viên về hưu ở Hà Nội và từng được giải thưởng Liêm chính của Tổ chức Minh bạch Quốc tế phát biểu với Đài Á châu Tự do:

“Với tôi thì bao nhiêu chuyện tham nhũng phải nghiêm túc giải quyết thì mới lấy lại được niềm tin cho dân. Một điều rất đơn giản là tất cả những gì dân kiến nghị tố cáo phải lắng nghe ý kiến dân, phải nghiêm túc xử lý những người tham nhũng thì mới lấy lại được niềm tin. Chứ còn bây giờ cứ bao che cho nhau bênh vực nhau không giải quyết cho dân thì không bao giờ dân có thể tin tưởng được cả.”

Thời báo Kinh tế Việt Nam bản tin trên mạng ngày 30/10, trích lời ông Bùi Đặng Dũng, phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội báo động là chưa bao giờ lòng dân bất an như thế này. Ông nhấn mạnh: “ Trước tự hào ra ngõ gặp anh hùng thì giờ cử tri nói ra ngõ gặp tội phạm, kẻ cướp mà thậm chí giờ nó còn vào từng nhà, sờ từng người để lấy trộm, lột tài sản, uy hiếp. Từ nông thôn đến thành thị, công sở đến những nơi trang nghiệm như trường học, bệnh viện…đều có tội phạm cả.”

Mục sư Nguyễn Trung Tôn hiện sống và phụng vụ đức tin ở Thanh Hóa, bản thân sinh ra sau Cách Mạng Tháng Tám 1945, một thời kỳ đầy khó khăn. Mục sư phát biểu với Đài ACTD:

“Cha mẹ tôi, các cụ ngày xưa thì sống cuộc sống khổ sở, đói khát và nghèo nàn hơn so với bây giờ, nhưng các cụ vẫn nói với tôi rằng, nhìn vào con người ngày hôm nay mới thấy đạo đức con người càng ngày càng xuống cấp: Con có thể chửi cha mẹ, chữ hiếu không còn, đạo đức chẳng còn đâu cả. Con người đi ra đường, không nhìn người ta thì người ta bảo mình khinh, nhưng nếu không may vô tình nhìn họ thì họ bảo là mình nhìn đểu! Đây là người dân đối với người dân thôi. Bây giờ ra đường có thể chỉ vì một cái nhìn, chỉ vì một câu nói có thể dẫn tới án mạng; con có thể giết cha, vợ có thể giết chồng, anh em có thể chém giết lẫn nhau.”

Báo điện tử Người Lao Động tường thuật phiên họp ngày 31/10 trích lời đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng đơn vị Bình Dương mô tả tâm trạng bất an và sự suy giảm niềm tin của người dân với Nhà nước mà đỉnh điểm là hiện tượng người dân tự xử. Nhìn nhận đời sống văn hóa xã hội của đất nước càng ngày càng thêm bức xúc, đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng cho rằng tự xử là quan niệm và hành vi xấu đáng lên án vì vi phạm pháp luật. Theo lời ông, thật xấu hổ và lo lắng với những sự kiện tiêu cực đó nhưng về mặt chính trị và pháp lý cho thấy đang xuất hiện những lo ngại mới về lòng dân. Đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng nhấn mạnh tới nguyên nhân chính của tâm trạng xã hội này bắt nguồn từ vai trò quản lý của Nhà nước còn mờ nhạt yếu kém.

Dân tự xử

Image
Hình ảnh các công an bị người dân trói lan truyền trên trang mạng xã hội facebook hôm 08/10/2013.
Trong khi đó VnExpress ngày 30/10 có bài Dân tự xử vì mất niềm tin. Tờ báo mạng dẫn nhập: “Trước tình trạng dân trói công an và đưa clip lên mạng xã hội, đánh chết người trộm chó, đưa quan tài diễu phố…nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng niềm tin của nhân dân vào chính quyền địa phương ngày càng suy giảm.

Trò chuyện với chúng tôi, bà Lê Hiền Đức, một nhà hoạt động dân sự bảo vệ dân oan, đã gắn kết tình trạng xã hội nhiễu nhương với điều bà gọi là ru ngủ giới trẻ và sự hướng dẫn dư luận lệch lạc. Từ Hà Nội bà Lê Hiền Đức phát biểu :

“Cướp-Hiếp-Giết, cướp của, hiếp dâm và giết người, những chuyện ấy hở ra một tí có một chuyện gì dù rất nhỏ, nhưng báo chí xô nhau vào để làm rùm beng lên. Tôi muốn nói là những chuyện lớn phải cần cho thanh niên, giáo dục thanh niên cho thấy được cái nguy cơ của đất nước hiện nay là Trung Quốc lăm le xâm chiếm, đảo biển mất gần hết rồi thì không bao giờ nhắc đến cả. Rồi nữa đất nước của mình kinh tế lụn bại như thế này, thì cũng không nói đến chỉ đưa ra những việc theo tôi là nó làm ru ngủ thanh niên, đấy là điều rất đáng lo ngại.”

Tuổi Trẻ Online bản tin trên mạng ngày 30/10 trích lời Đại biểu Thạch Dư (Trà Vinh) khi báo động tình trạng tội phạm nghiêm trọng tràn làn trong xã hội đã khuyến nghị: Cần xem xét lại hệ thống giáo dục, từ gia đình đến nhà trường. Phải chăng theo chỉ đạo chú trọng dạy kiến thức mà lại buông lỏng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, giáo dục về lòng nhân ái, tình thương yêu giữa con người với con người. Đại biểu Thạch Dư cho rằng, nền giáo dục Việt Nam đang buông lỏng trong việc giáo dục nhân cách con người.

Cũng liên quan tới kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 đang diễn ra ở Hà Nội, theo VietNamNet GSTS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường kêu gọi Quốc hội cần minh bạch hơn trong quá trình sửa đổi Hiến pháp liên quan tới qui định đất đai. GS Đặng Hùng Võ góp ý rằng, nguyên tắc “Quyền sử dụng là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ” cần được đưa trở lại Hiến pháp sửa đổi. Việc Ủy ban sửa đổi Hiến pháp tự ý đưa nguyên tắc này ra khỏi Dự thảo Hiến pháp sửa đổi bản mới nhất trình ra Quốc hội cần được giải thích rõ ràng, minh bạch trước nhân dân.

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế nguyên thành viên ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ từng nhiều lần bày tỏ sự quan tâm đến quyền lợi của nông dân về đất đai. Bà nói:

“Nếu như trong trường hợp không thể sửa được Hiến pháp và Luật Đất đai lần này theo hướng công nhận quyền sở hữu tư nhân của nông dân đối với đất đai nông nghiệp, thì ít nhất cũng phải đảm bảo quyền sử dụng của họ dài hạn thay vì 20 năm như trước lên 50 năm. Thứ hai phải bảo đảm quyền sử dụng đó là quyền được luật pháp công nhận như là một quyền tài sản và đã là quyền tài sản thì là bất khả xâm phạm. Ai muốn sử dụng tài sản của họ kể cả Nhà nước thì phải mua chứ không phải thu hồi. Vì vậy cho nên trong Hiến pháp điều qui định vể đất đai cũng như Luật Đất đai phải rất chú trọng điều về thu hồi đất.”

Theo bài viết của Giáo sư Đặng Hùng Võ trên VietNamNet, ở dự thảo Hiến pháp đưa ra lấy ý kiến nhân dân đã có qui định tại khoản 2 Điều 58: “Quyền sử dụng đất là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ. Đến nay, trên bản Dự thảo mới nhất trình Quốc hội ngày 17/10 lại có qui định: “Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ.” Giáo sư Đặng Hùng Võ cho rằng việc bỏ đi ba từ ‘quyền tài sản’gây lo ngại lớn cho người dân.

Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 được cho là đầy những phiên thảo luận gai góc, câu chuyện quốc nạn tham nhũng, xã hội xuống cấp, đạo đức suy đồi, người dân bất an, được các đại biểu báo động một cách nghiêm trọng. Tuy vậy để khôi phục niềm tin của nhân dân thì cả hệ thống chính trị phải được đổi mới, một điều mà các chuyên gia cho rằng khó thể xảy ra.

Nguồn RFA
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Còn Nhiều Vụ Thiên An Môn Nữa
Tác giả : Vi Anh
Chỉ non một tuần lễ sau khi xảy ra vụ tấn công cảm tử tại Thiên An Môn, biểu tượng quyền lực của Đảng Nhà Nước TC, lại đến vụ tấn công cảm tử trước Tỉnh Uỷ của tỉnh Sơn Tây của Trung Cộng. Dù Đảng Nhà Nước TC mở cả một chiến dịch toàn quốc một mặt bưng bít công luận và mặt khác truy tầm, bắt bớ hàng trăm người, nhưng không ai tin là Đảng Nhà Nước TC nói chung, công an, cảnh sát chìm nổi mật vụ, tình báo của nhà nước và an ninh nội chính của Đảng CS ở Trung Quốc có thể chận đứng được phong trào người dân dùng hình thức tấn công cảm tử chống lại Đảng Nhà Nước CS đã áp bức bóc lột người dân lao động, kỳ thị chủng tộc đối với những sắc tộc thiểu số như Duy Ngô Nhĩ, Tây Tạng, và cướp quyền làm người, làm chủ đất nước của các quốc gia dân tộc Trung Hoa, Turkestan, Tây Tạng. Trái lại các cuộc tấn công cảm tử sẽ tiếp tục, sẽ tăng cường độ, nhịp độ, dưới nhiều hình thái, tại nhiều nơi hiểm yếu và nhậy cảm của Đảng Nhà Nước. Đảng Nhà Nước CS dù có ba đầu sáu tay cũng không dẹp được vì đây là một cuộc chiến tranh của người dân chống lại chế độ độc tài đảng trị toàn diện. Đảng Nhà Nước càng trấn áp thì người dân nổi dậy càng mạnh, càng nhiều, càng đông, càng đa dạng hơn theo qui luật đấu tranh của xã hội mà chính Ông Tổ của CS là Karl Marx đã nói “sức ép càng nhiều, sức bật càng cao”.

Phương chi so tình hình hiện tại giữa dân chúng bị trị và Đảng CS thống trị, ở hai chế dộ CS lớn còn sót lại ở Á châu là Cộng sản Trung Quốc và Cộng sản VN, xin gọi tắt là Trung Cộng, TC và Việt Cộng, VC, chưa bao giờ Đảng CS mất lý chánh đáng cầm quyền, bị dân chúng chống đối như bây giờ, chống đối nhiều, mạnh, khắp xã hội hơn --hơn trước khi các chế độ CS Đông Âu, Liên sô bị nhân dân đứng lên lật đổ - nhiều.

Bây giờ dân chúng không còn sợ CS nữa. CS không còn có thể sử dụng kỹ thuật tuyên truyền dối trá và dùng khủng bố để củng cố tuyên truyền đối với nhân dân nữa. Khoa học, kỹ thuật thông tin đại chúng đã giúp cho người dân biết sự thật trắng trợn của CS.

Bây giờ người dân biết cái yếu của CS. CS không có bách chiến, bách thắng, không có thành đồng vách sắt, bất khả xâm phạm như CS tuyên truyền nữa. Nhứt là trong thời đại chiến tranh bất cân xứng, người yếu, tổ chức nhỏ, thiếu phương tiện có thể đạt mục tiêu chánh trị bằng một cuộc tấn công ít tốn kém, mà tạo chấn động lớn.

Người dân, các tổ chức đấu tranh, các sắc tộc thiểu số không một tấc sắt trong tay có thể tranh đấu, chiến đấu cho lý tưởng, cho chánh nghĩa của mình, chống đối, đấu tranh, chiến đấu với nhà cầm quyền toàn trị, dưới và bằng nhiều hình thức. Hình thức bất hợp pháp: đánh du kích, đánh bom tự chế, đánh cảm tử cá nhân, bắt cán bộ, đảng viên, viên chức công quyền làm con tin, ám sát. Hình thức hợp pháp trên danh nghĩa của hiến pháp và các công ước quyền con người và quyền chánh tri của Con Người mà CS đã ký: biểu tình, lãng công đông người, khiếu kiện tập thể, tố giác tham nhũng, áp bức bóc lột, chống ô nhiểm môi sinh.

Bây giờ người dân đang chuẩn bị cho một phong trào nhân dân chống nhà cầm quyền tiến dần đến cách mạng lật đổ chế độ độc tài đảng trị CS. Đang đánh động lương tâm đồng bào bằng những cuộc tấn công cảm tử và những cuộc biểu tình, là bước đầu của tiến trình tri hành để rồi hành sẽ hợp nhứt trong cuộc cách mạng.

Mục đích cuộc tấn công cảm tử là chứng minh cho đồng bào và thế giới thấy CS không bất khả xâm phạm. Thiên An Môn là biểu tượng quyền lực của cả Đảng Nhà Nước TC, công an nổi chìm canh phòng, tuần rỏn đông như rươi vẫn bi tấn công, người dân vẫn làm được. CS tốn hàng ngàn công an mật vu, đảng viên, hàng triệu Đô la để truy tầm, trong khi đó người dân chỉ tốn một xe jeep và ba người trong gia đình để chứng minh CS có rất nhiều sơ hở, không bất khả xâm phạm ngay tại nơi được bảo vệ chặt chẽ nhứt.

Như ở Việt Nam Anh Đặng Ngọc Viết vào ban ngày ban mặt, ngay giờ làm việc đi vào Uỷ Ban Tỉnh, vô phòng công tác cưỡng chế đất đai bắn chết tại chỗ một phó phòng, làm bị thương một phó phòng khác và mấy cán bộ, rồi đi ra về xóm mình, vào chùa tín hữu cho ăn chén cơm chay, đến trước Phật Đài tịnh niệm xong ra gần ao tự sát. Công an vì lo sợ như bây giờ ớ VN công an và cảnh sát khu vực ở dâu cũng có nhưng hữu sự gọi họ, họ sợ nguy hiểm, làm bộ chần chờ để kẻ thủ ác đi rồi họ mới tới.

Coi vậy chớ CS bây giờ bị tách rời khỏi nhân dân, bị cô lập, cô độc lắm. CS đã hoàn toàn không con lợi dụng được liên minh công nông nữa như thời kháng chiến tuyên truyền chiến đấu giải phóng người dân và độc lập cho đất nước. Trái lại bây giờ tầng lớp công nhân và nông dân là những người dân người thì âm thầm, kẻ thì công khai- kể cả gia đình cách mạng chống Cộng đông và dãn nhứt, vì CS đã biến ho thành lao nô và dân oan với chính sách “kềm giá lương tiền” để hàng hoá sản xuất rẻ dễ cạnh tranh “xuất khẩu” và qui hoạch đất dai của dân bồi thường rẻ mạt dể lấy “mặt bằng” làm vôn hùn hạp bán cho những nhà đầu tư ngoại quốc, giá trăm lần cao hơn tiển bối thường cho dân. Số nông dân ra thành làm công nhân, không có hộ khẩu bi thiệt thòi, quịt tiền đem bất mãn về nông thôn rất nhiều.

Bây giờ trước phong trào dân chúng khắp nước chống Đảng Nhà Nước CS, chánh quyến và nhân dân cũng như các tổ chức quốc tế lên án CS chà đạp nhân quyền, một tâm lý tự tin đang phổ biến trong dân chúng VN: người ta làm được mình làm được. Không thể có bút mực nào đủ để ghi nhận những chống đối của người dân đối với cán bộ, đảng viên CS và công nhân viên CS, đối với Đảng Nhà Nước CS đang thống trị VN. Từ một học sinh trong trường đến một bạn hàng rong ngoài đường đến người dân có chuyện vào cơ quan của Đảng Nhà Nước, nơi nào dân chúng cũng chống CS, chống đủ thứ, từ “bằng mặt không bằng lòng”, từ hành động đến lời nói, chống CS như chống tổ chức tội phạm có tổ chức Mafia.

CS cán bộ, đảng viên chỉ có 3 đến 4% so với tổng số dân của hai nước VN và TQ. Đế quốc CS trước đây trải rộng nhiều nước bây giờ loe hoe chỉ còn vài nước. Chủ Nghĩa CS đã thất bại và đổi màu, xanh vỏ đỏ lòng. Cán bộ Đảng viên mất tính chiến đấu sa vào tâm lý suy bì, tị hềm, kỳ thị địa phương, lãnh đạo đấu đá nhau như bầm bầu. Hỏi làm sao cán bộ đảng viên CS không thất chí, thủ thân, thu vén cuối đời như lời của TT Võ văn Kiệt.

Trong khi đó hình thái chiến tranh nay đã thay đổi, chiến tranh bất cân xứng, chiến đấu du kích, chiến tranh khủng bố làm tiêu hao thế lực địch. Một quân cảm tử chết thì nhà cầm quyền tốn kém gấp mười, nhân dân xa lánh nhà cầm quyền càng xa hơn để tránh tai bay vạ gió.

Quân cảm tử vô hình vô tướng trong quần chúng nhân dân, nhà cầm quyền phải tốn tiền của, công an, mật vụ rất nhiều. Ngân sách nội an của chế độ TC và VC thường lớn hơn ngân sách quốc phòng. Trong khi quân khủng bố tốn rất ít.

Chánh nghĩa của quân cảm tử thường là tình nghĩa với quốc gia dân tộc bị áp chế, của tôn giáo bị kỳ thị. Nhà cầm quyền độc tài CS thường chụp mũ cuộc dấu tranh của người dân là khủng bố. Nhưng người dân thường khen đó là tử vì đạo, vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh. Hầu hết những cuộc chiến tranh ý thức hệ như thế, khó mà diệt bằng công lực, bằng vũ khí. Trái lại về lâu về dài, nhà cầm quyền suy tàn và sụp đổ như Ky tô giáo phát triễn trên tro tàn của Đế Quốc La Mã./. (Vi Anh)
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Bão Haiyan sẽ 'thổi' Hải Quân Mỹ trở lại Subic?

Võ Long Triều

Ngày 8 tháng 11 năm 2013 một cơn bão mạnh chưa từng thấy, tên gọi Haiyan, còn gọi là Hải Yến, tiếng Phi gọi Yolanda, với sức gió ước lượng 360 cây số giờ, quét các tỉnh ven biển Leyte và Samar, tàn phá Philippines một cách khủng khiếp, biến Tacloban với 200,000 dân số thành bình địa, gây thiệt hại lớn cho tỉnh Samar và nhiều nơi khác.

Cơn bão còn được mang tên là “Quái Vật” lớn mạnh nhứt, kinh hoàng nhứt, gieo chết chóc nhiều nhứt trong lịch sử. Tỉnh trưởng Tacloban, ông Tescon Lim, tuyên bố trong cơn hốt hoảng có tới 10,000 người tử nạn. Sau đó vài hôm, chính quyền Philippines điều chỉnh lại còn 4,460 người chết, 2,623 người bị thương, khoảng 11 triệu người đang chịu cảnh màn trời chiếu đất, vật lộn với đói khát và bệnh tật. Con số tử vong và nạn nhân kể trên còn có thể tăng. Tổng thống Philippines lên tiếng kêu gọi thế giới trợ giúp.

Lập tức Mỹ ra lệnh cho hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington với 5,000 thủy thủ và hai tàu tuần dương hỗ trợ, từ Hong Kong gấp rút tới Philippines vào chiều ngày 14 tháng 11, 2013, để bắt đầu chuyển hàng cứu trợ. Hàng không mẫu hạm Washington có máy lọc nước tạo khoảng 100,000 gallons nước uống mỗi ngày. Số máy bay và trực thăng chuyên chở, tìm kiếm người mất tích, tăng gấp 3 lần. Tin tức cho biết sẽ còn thêm 2,000 lính Thủy Quân Lục Chiến nữa, đến tăng cường trợ giúp. Cộng thêm 20 triệu Mỹ kim cứu trợ cho nhà nước Phi mua vật dụng và thực phẩm.

Ngày 13 tháng 11, Hải Quân Mỹ ra lệnh cho tàu bệnh viện USNS Mercy chuẩn bị lên đường trong vài ngày tới, sẽ đến Philippines vào tháng 12. Chuẩn Tướng Paul Kennedy, chỉ huy Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến ở Nhật nói với Radio 5 live của BBC: Nỗ lực cứu trợ của Mỹ tới mức độ chưa bao giờ thấy áp dụng cho các cuộc khủng hoảng nhân đạo nào.

Biên tập viên Châu Á của BBC, Charles Scanlon nói, công cuộc cứu trợ của Hoa Kỳ bằng quân sự nhấn mạnh tầm vóc hoạt động quân sự và quan hệ lịch sử của Washington và Manila.

Trong khi đó, ngày 11 tháng 11, Trung Quốc nhanh chóng trích ra từ kho dự trữ tiền tệ của mình, lớn nhứt thế giới trị giá 3.7 ngàn tỷ Mỹ kim, vỏn vẹn có 100,000 Mỹ kim để trao cho Philippines với mục đích cứu trợ. Tạp chí Time của Mỹ phẫn nộ cho đây là một số tiền “đáng sỉ nhục.” Số tiền hỗ trợ lấy lệ này quá thảm hại so với tiền viện trợ của các quốc gia khác, kể cả các nước nghèo, khiến cho cộng đồng quốc tế chê cười Bắc Kinh không ít. Ðáng chê trách hơn nữa là Trung Quốc đã từng nhận của Philippines món tiền cứu trợ 450,000 Mỹ kim cho nạn nhân động đất ở Tứ Xuyên năm 2008.

Những con số cứu trợ sau đây, không thống kê chính thức nhưng có thể giúp hiểu được tầm quan trọng của sự tàn phá và sự hỗ trợ vì tình đồng loại giữa các quốc gia không cộng sản:

-Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (BDA): 500 triệu Mỹ kim cho vay lãi suất thấp, cho không 23 triệu.

-Úc: 9.3 triệu Mỹ kim bao gồm nhân viên y tế và hàng cứu trợ.

-Liên Minh Châu Âu: 17 triệu Mỹ kim. Cộng thêm một bệnh viện dã chiến của Pháp và Bỉ.

-Vatican: 4 triệu Mỹ kim.

-Nhật: 10 triệu Mỹ kim, trong có lều trại và chăn chiếu. Cộng thêm đội y tế 25 người.

-Nam Hàn: 5 triệu và 40 nhân viên y tế.

-Indonesia: 2 triệu và viện trợ hậu cần gồm máy bay, lương thực, máy phát điện và y phẩm.

-UAE: 10 triệu hàng viện trợ nhân đạo.

-Hoa Kỳ: 20 triệu và hỗ trợ hậu cần. Ðó là chưa kể các tổ chức phi chính phủ tại Mỹ đã quyên góp được 300 triệu Mỹ kim trị giá viện trợ.

-Anh: 16 triệu, trong đó có hàng viện trợ khẩn cấp.

Phóng viên R. Ranoco của thông tấn xã Reuters chê Trung Quốc “bần tiện” với Philippines, Bắc Kinh đang bỏ lỡ cơ hội mở mang “quyền lực mềm” của mình ở Ðông Nam Á.

Lúng túng vì bị kẻ chê người cười, và để tự chữa sự ngượng ngùng, Trung Quốc thông báo sẽ tăng số tiền “sỉ nhục” này lên 10 triệu nhân dân tệ, bằng 1.8 triệu Mỹ kim.

Ông Mark Beeson, giáo sư môn chính trị Ðại Học Murdoch ở Perth (Úc) cho rằng các quan chức trong Quân Ðội Nhân Dân còn hận Philippines đã kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế về vấn đề tranh chấp chủ quyền trên bãi đá Scarborough. Một số người Hoa trên mạng có đầu óc dân tộc chủ nghĩa, cho rằng Philippines là một nước thù địch, “không nên cho họ một xu nào.” Một số người khác cam đoan một cách khờ khạo rằng Manila sẽ không biết ơn, mà còn dùng tiền viện trợ đó để mua vũ khí đánh lại Trung Quốc. Tờ Global Times, nhật báo chính thức có khuynh hướng cực đoan cho rằng Washington và Tokyo có những “mục đích khác” khi viện trợ ồ ạt là chủ trương mở rộng vùng ảnh hưởng chớ không phải vì nhân đạo.

Nhiều chuyên gia trên thế giới nhận định, Trung Quốc để cho yếu tố chính trị ảnh hưởng tới viện trợ nhân đạo là tự làm giảm uy tín của mình và làm mất sự tin cậy của các quốc gia khác trên thế giới. Ông Joseph Cheng, giáo sư khoa chính trị tại đại học City University ở Hong Kong cũng đồng ý như vậy. Thực tế Philippines đang chìm trong thảm họa thiên nhiên, và Trung Quốc cũng đang chìm trong thảm họa danh dự. Ông Jim Schoff, chuyên gia Quỹ Carnegie Vì Hòa Bình nhận định: Bắc Kinh cho họ là một đại cường quốc mạnh ngang với Hoa Kỳ, nhưng Bắc Kinh hoàn toàn không chứng minh được họ là cột trụ của khu vực, đó là một thất bại của họ.

Trung Quốc không biết và cũng không muốn sử dụng “quyền lực mềm”? Nó là một quá trình thu phục lòng người bằng những phương tiện khác hơn là quân sự và bạo lực. Trong khi đó, đầu óc của giới lãnh đạo Bắc Kinh chỉ nghĩ bành trướng, thu phục bằng cách lợi dụng, dối gạt, mua chuộc hoặc răn đe đàn áp với vũ lực. Ðầu óc của một tên Cộng Sản không hiểu được nhân đạo là gì? Tình đồng loại không có nghĩa đối với họ, bởi vì chủ thuyết Mác-Lê đã dạy, chỉ có bạo lực cách mạng mới chiếm được quyền bính và duy trì được sự cai trị.

Ðối với Trung Quốc chỉ có “ăn miếng trả miếng” không khi nào cho mà không có tính toán thu lợi. Cũng như Trung Quốc viện trợ cho Hà Nội với ý đồ thôn tính về sau. Bằng cớ là Hà Nội chưa kịp lấy trọn miền Nam thì Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa trước, và Phạm Văn Ðồng đã phải công nhận cái bản đồ lưỡi bò từ lâu.

Với cách suy nghĩ đó Trung Quốc cho rằng Washington cứu trợ ồ ạt Philippines là có “mục đích khác” như báo Global Times đã ám chỉ. Bắc Kinh lo ngại Mỹ sẽ trở lại Vịnh Subic, một căn cứ hướng ra Biển Ðông, sẽ tác hại đến kế hoạch của Bắc Kinh quyết định gồm thâu 80% vùng biển do cái lưỡi bò của họ liếm gọn.

Thực tế tháng 11 năm 1992, Thượng Viện Philippines đã quyết nghị chấm dứt hợp đồng cho Mỹ thuê căn cứ Subic rồi.

Với tinh thần dân tộc thiển cận, Thượng Nghị Sĩ Aquino, nay là tổng thống, cho đó là một sự “giải thoát đất nước ra khỏi sự kềm kẹp” của những ông chủ thực dân.

Giờ đây, giới lãnh đạo Philippines lại muốn quân đội Mỹ trở lại Vịnh Subic, ngõ hầu tăng cường cho họ sức mạnh trong cuộc đương đầu với Trung Quốc trên Biển Ðông, nơi mà các tàu chiến Trung Quốc đã lập rào cản chắn bãi cạn Scarborough, một ngư trường giàu có nhứt thế giới.

Do đó, kể từ năm 1999, Philippines thông qua một thỏa thuận về những chuyến viếng thăm quân sự với Mỹ, cho phép hai nước tập trận chung với quy mô lớn. Dù không nói ra, nhưng Philippines mở rộng cửa đón tàu chiến Mỹ ra vào căn cứ Subic chủ yếu là ngầm đối phó với Trung Quốc.

Tướng Edilberto Adan, đã về hưu, nhưng hiện phụ trách ủy ban có trách nhiệm giám sát các cuộc tập trận chung Mỹ-Phi nói: Khi Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược “xoay trục sang Á Châu” thì căn cứ Subic sẽ đóng một vai trò quan trọng. Theo ông Adan, căn cứ nầy có thể cung cấp những dịch vụ mà tàu chiến hoặc máy bay của Mỹ cần. Những lời phát biểu mang đầy tính gợi ý được ông Adan đưa ra ngay trên tàu chiến USS Bonhomme Richard của Mỹ, tàu đổ bộ tấn công, đang tham gia tập trận chung kéo dài 10 ngày với các lực lượng Philippines.

Báo chí quốc tế đưa tin Bộ Ngoại Giao Philippines xác nhận việc khai triển luân phiên các lực lượng Mỹ tại Subic đã được tiến hành từ năm 2011. Ðồng thời báo giới cũng đặt câu hỏi liệu Philippines sẽ cho Mỹ thuê lại căn cứ hải quân Subic không?

Ngũ Giác Ðài không thấy có lợi trong việc trở lại căn cứ Subic; thứ nhứt là quá tốn kém trong bối cảnh phải cắt giảm ngân sách như hiện nay; thứ hai căn cứ cố định nói theo ngôn ngữ của giới quân sự là “con vịt buộc” làm mồi ngon cho tên lửa Trung Quốc, nhứt là sự nổi dậy mãnh liệt về quân sự của Bắc Kinh với hạm đội tàu chiến hiện đại, tàu ngầm hạch nhân, tên lửa đạn đạo, máy bay tàng hình, buộc các chiến lược gia Mỹ phải tính toán lại. Thay vì lập căn cứ bất lợi, thà ký hiệp ước thân thiện với các nước cho phép Mỹ được quyền tự do tiếp cận phi trường và hải cảng của họ khi tình huống bắt buộc.

Cho nên giới quân sự Hoa Kỳ nói: “cần một chỗ đứng, không cần một căn cứ”. Subic đã là một chỗ đứng từ năm 1999 rồi. Mỹ không đứng về phe nào nhưng khi xẩy ra xung đột thì đương nhiên Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ Philippines chiếu thỏa ước quân sự ký kết giữa đôi bên.

Ngoài ra, Hoa Kỳ còn chưa muốn làm cho Trung Quốc lo ngại quá đáng bởi vì Trung Quốc còn là đối tác thương mại và là ông chủ nợ lớn nhứt của Mỹ và Bắc Kinh còn là điểm quan trọng cho những mối đầu tư của các công ty xe hơi, máy bay, và bán lẻ của Mỹ.

Cho nên các chuyên gia quân sự, và nhà báo quốc tế tiên đoán Hoa Kỳ sẽ mướn lại căn cứ hải quân Subic, xét ra khả năng đó không có nhiều triển vọng.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa bước vào giai đoạn cuối của chế độ?

Ngày 28/11/2013 được tiên đoán sẽ là ngày đẹp, ngày vui đối với lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam như ông Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố sau khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992. Tuy nhiên, đối với dư luận chung thì kể từ ngày 28/11 trở đi, đảng CSVN sẽ bắt đầu tiến trình phân hóa do hậu quả chấn thương từ cuộc bỏ phiếu này.

Ngày 28/11/2013 được tiên đoán sẽ là ngày đẹp, ngày vui đối với lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam như ông Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố sau khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992. Tuy nhiên, đối với dư luận chung thì kể từ ngày 28/11 trở đi, đảng CSVN sẽ bắt đầu tiến trình phân hóa do hậu quả chấn thương từ cuộc bỏ phiếu này.

Hai Hội Nghị Rối Trí

Trong hai tháng 10 và 11 năm 2013, đảng Cộng sản Việt Nam đã có hai Hội nghị thu hút nhiều sự chú ý của dư luận. Hội nghị Trung ương đảng 8 khóa 11 từ ngày 30/9 đến 9/10 và kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 từ ngày 21/10 kéo dài đến đầu tháng 12.

Tuy bản chất của hai Hội nghị có khác nhau, nhưng mục đích chính vẫn là tập trung vào việc tìm ra những giải pháp để cứu nguy tình trạng xuống cấp nhanh chóng của bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước.

Qua hai cuộc họp nói trên, người ta thấy là thành phần ưu tú nhất đang nắm trong tay vận mệnh của đảng Cộng sản và đất nước Việt Nam hoàn toàn hết sáng kiến, loay hoay và rối trí.

Rối trí là vì lãnh đạo đã không dự kiến được những bước chuyển hóa quá nhanh của thời cuộc, chỉ lo đến số phận của riêng họ trên hết, không dám tin vào bất kỳ mô thức nào, và vì thế chỉ biết cố kiềm chế xã hội đi theo khuôn khổ của những chủ trương đã lỗi thời.

Chỉ cần nhìn vào cách lãnh đạo Hà Nội hành xử lúng túng trong việc để các đại biểu Quốc hội thảo luận và thông qua bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992, đã biểu hiện một sự cực kỳ lo lắng của bộ chính trị về kết quả bỏ phiếu.

Mặc dù ai cũng biết là nội dung dự thảo hiến pháp sẽ được thông qua vào ngày 28 tháng 11 tới đây, nhưng tỷ số bỏ phiếu sẽ không còn “nhất trí” như những lần tu sửa trước.

Tác động tạo ra hiện trạng này chính là nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam đã không còn là một khối. Nó đã bị chấn thương trầm trọng từ khi Hà Nội đưa ra việc kêu gọi góp ý dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 vào đầu năm nay rồi lại tung ra các mẹo vặt để chận đứng và phỉ báng các đóng góp nghiêm chỉnh là "suy đồi đạo đức chính trị". Họ thẳng tay ném bỏ những tiếng nói chung đầy tâm huyết vì tương lai đất nước, trong đó, có bản lên tiếng yêu cầu quốc hội hoãn bỏ phiếu thông qua của thành phần trí thức, cựu cán bộ khởi xướng Kiến nghị 72. Chính thái độ khinh thường này đã làm giao động tinh thần của khá nhiều đảng viên vốn thờ ơ trước đây.

Đây là nguy cơ mà lãnh đạo Hà Nội đang rất lo ngại cho sự tồn vong của chế độ hiện nay.

Nguy Cơ Bùng Vỡ Nội Bộ

Cách đây hơn 2 thập niên, sau khi khối Liên Xô tan rã vào năm 1991, đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra bốn nguy cơ làm thước đo sự tồn vong của chế độ.

1/ Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

2/ Nguy cơ sai lầm về đường lối, đi chệch định hướng XHCN.

3/ Nguy cơ về sự suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

4/ Nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Cứ mỗi 10 năm, Hà Nội lại lượng duyệt các nguy cơ này một lần. Tại Hội nghị 8 khóa IX vào tháng 7 năm 2003, Trung ương đảng dưới thời ông Nông Đức Mạnh làm Tổng bí thư đã dành ra nhiều ngày đánh giá về cái gọi là chiến lược bảo vệ tổ quốc và bốn nguy cơ nói trên.

Mặc dù lúc đó vấn đề tham nhũng, sự lên tiếng cổ súy dân chủ hóa của một số đảng viên có tạo ra sự nhức nhối cho chế độ, nhưng lãnh đạo lại coi sự tụt hậu kinh tế là nguy hiểm nhất nên đã tập trung vào việc xây dựng các tập đoàn kinh tế, tổng công ty với ước mơ đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp tiên tiến vào năm 2020.

Mười năm sau, Hội nghị 8 vào đầu tháng 10 năm 2013 vừa qua, cục diện đã hoàn toàn thay đổi. Mặc dù kinh tế đang gặp khó khăn vì những khuynh loát của các nhóm lợi ích, nhưng theo đánh giá của ông Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu lúc bế mạc Hội nghị 8, nguy cơ sinh tử nhất của chế độ hiện nay, không phải là kinh tế mà chính là hiện tượng tự diễn biến trong nội bộ.

Ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng chính nó là chỗ dựa để cho bên ngoài tấn công vào đảng CSVN và là mảnh đất để thế lực thù địch gieo mầm diễn biến hòa bình.

Tuy lãnh đạo Hà Nội xem đó là vấn đề, nhưng giải pháp chọn lựa của họ cũng lại tiếp tục loay hoay giống như 10 năm trước.

Thay vì chấp nhận một số cải cách chính trị theo trào lưu dân chủ hóa toàn cầu, Hà Nội lại cương quyết ngăn chận mọi xu hướng hình thành tổ chức chính trị đối lập, tiếp tục cố thủ trong lô cốt độc tài bằng hai biện pháp phòng và chống tham nhũng, phê và tự phê hoàn toàn mang tính hình thức.

Hai biến cố lớn xảy ra trong lúc Hà Nội kêu gọi góp ý tu sửa hiến pháp là sự kiện ông Lê Hiếu Đằng, một đảng viên cao cấp có 45 năm tuổi đảng kêu gọi bỏ đảng Cộng sản, tham gia lập đảng đối lập, và sự kiện một số trí thức tuyên bố thành lập diễn đàn xã hội dân sự để làm cầu nối cổ súy cho sự phát triển các đoàn thể xã hội dân sự tại Việt Nam, vốn bị chế độ coi là điều cấm kỵ trong nhiều thập niên qua.

Tự thân hai biến cố nói trên là những chuyển biến bình thường trong một xã hội mở; nhưng vì Hà Nội cố tình kiềm chế, thậm chí còn phơi bày những chủ trương phi lý và độc đoán qua việc dùng bộ máy truyền thông của đảng tấn công vào các đoàn thể xã hội, khiến cho nhiều đảng viên chán nản và sẽ lặng lẽ bỏ đảng Cộng sản ra đi.

Ba Kịch Bản Của Nội Bộ Đảng.

Ngày 18 tháng 11 vừa qua, sau khi nghe ông Phạm Trung Lý, trưởng ban soạn thảo dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 trình bày về cách tiếp thu, chỉnh lý những ý kiến đóng góp của các đại biểu, ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội tuyên bố rằng ngày 28 tháng 11 sẽ là “ngày đẹp”.

Ông Nguyễn Sinh Hùng cho đây là “ngày đẹp” vì nghĩ rằng chính ông và bộ chính trị sẽ không còn phải sống trong tâm trạng hồi hộp khi “hộp giun” của bản hiến pháp đã được đóng lại. Nhưng muốn biết viễn cảnh của “ngày đẹp” 28 tháng 11 và tương lai đảng Cộng sản Việt Nam ra sao, chỉ cần nhìn vào sự biến thái về nội dung của các Hội nghị Trung ương đảng trong 2 năm 2012 và 2013 sẽ thấy.

Hội nghị Trung ương 5 và 6 tập trung vào những xung đột thượng tầng lãnh đạo với sự tấn công nhằm triệt hạ uy tín lẫn nhau giữa hai người đứng đầu đảng và chính phủ. Kết quả là bất phân thắng bại.

Hội nghị Trung ương 7 và 8 tập trung vào các vấn đề nội bộ, qua đó các phe tạm thời ngưng chiến để tập trung vào việc củng cố lô cốt độc đảng hầu có thể chuẩn bị suông sẻ đại hội đảng lần thứ 12 vào đầu năm 2016.

Chính vào lúc Bộ chính trị muốn kiềm chế xã hội để tổ chức thành công đại hội đảng kỳ 12 trong hai năm tới, thì sự kiềm chế này đang dẫn đảng Cộng sản Việt Nam vào một trong ba kịch bản.

Tức Nước Vỡ Bờ: Đây là hiện tượng nhiều hỗn loạn nhất khi mà các phe nhóm lãnh đạo vì những kèn cựa quyền lực mà không dám lấy những quyết định quan trọng, thả nổi và tạo ra tình trạng bùng vỡ từ trong đảng ra ngoài xã hội. Đây là tình huống bùng nổ như Tunisia, Ai Cập khi mà người dân và các đảng viên xé rào, bất chấp lệnh lạc từ trung ương.

Đảo Chánh Nội Bộ: Đây là hiện tượng mà một phe tìm cách liên kết với các thế lực bên trong hay bên ngoài đảng, tạo phản bằng một cuộc truất phế phe đang nắm quyền để giành lấy quyền lực. Ngay lúc này còn nhiều người cho rằng xác suất đảo chánh khó xảy ra vì phe nhóm nào cũng quá yếu, chưa đủ điều kiện ra tay. Nhưng tình hình này sẽ thay đổi nhanh sau vụ bỏ phiếu thông qua Hiến Pháp nói trên.

Chấp Nhận Thay Đổi: Đây là hiện tượng mà lãnh đạo CSVN phải thoái lui, chấp nhận một số thay đổi trước các đòi hỏi của lực lượng dân chủ. Dư luận cho rằng việc Hà Nội cử ông Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên bộ chính trị sang nắm Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc là chuẩn bị cho thế vớt vát để vẫn kiểm soát các đoàn thể quần chúng dù phải chấp nhận nhượng bộ. Dấu hiệu rõ nhất là khi họ bị đẩy vào thế chấp nhận sự hình thành và hiện hữu công khai của xã hội dân sự.

Trong ba kịch bản nói trên, kịch bản chấp nhận thay đổi mang tính "hạ cánh an toàn" nhiều nhất cho giới lãnh đạo Hà Nội; nhưng với bản chất độc tài toàn trị, CSVN vẫn không muốn tiến hành vì vẫn ôm tham vọng độc tài vĩnh viễn. Họ biết là khi có thay đổi chính là lúc khởi đầu của sự sụp đổ.

Tóm lại, đảng Cộng sản Liên Xô đã tan rã sau 70 năm thống trị (1921-1991), và đã tan rã từ bên trong sau cuộc đảo chánh bất thành của phe giáo điều vào mùa hè năm 1991. Năm 2015 tới đây, đánh dấu đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền thống trị cũng vừa đúng 70 năm (1945- 2015).

Đảng CSVN đã có nhiều cơ hội thay đổi để cứu chính họ và cứu đất nước nhưng họ đã không làm. Những suy thoái trong nội bộ đảng, cùng với sự xung đột giữa các phe nhóm trong bộ chính trị hiện nay, cho chúng ta thấy là đảng CSVN khó tránh khỏi cuộc đổ vỡ từ bên trong nếu họ tiếp tục cố thủ trong lô cốt độc tài, tiếp tục quay lưng lại với tất cả những áp suất thay đổi cấp thời của xã hội bên ngoài lẫn hàng ngũ đảng viên bên trong.

Lý Thái Hùng
Ngày 24/11/2013
(Dân luận)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Sự tín nhiệm chính trị

Nguyễn Hưng Quốc
(Blog VOA)
Trong sinh hoạt chính trị ở các nước dân chủ, điều quan trọng nhất là sự tín nhiệm (trust). Sự tín nhiệm trở thành một thứ bảo chứng cho quyền lực: Quyền lực chỉ tồn tại và kéo dài nếu sự tín nhiệm vẫn còn cao. Mất tín nhiệm cũng đồng nghĩa với việc mất quyền lực (muộn nhất là trong kỳ bầu cử kế tiếp).

Ðó là lý do tại sao trên báo chí Tây phương, người ta thường xuyên đặt vấn đề tín nhiệm đối với chính phủ hoặc người lãnh đạo cao nhất trong chính phủ. Gần đây, nhân danh sự tín nhiệm, ở Mỹ, nhiều người phê phán thái độ lưỡng lự và bất nhất của Tổng Thống Barack Obama đối với việc sử dụng vũ khí hóa học tại Syria; nhiều người khác phê phán thái độ cứng rắn của đảng Cộng Hòa trong các yêu sách về ngân sách khiến chính phủ Mỹ phải đóng cửa trong vòng 16 ngày. Ở Úc, cũng vậy. Sau cuộc bầu cử vào đầu tháng 9 vừa qua, nhiều bình luận gia chính trị cũng thường xuyên đặt vấn đề tín nhiệm để nhắc nhở chính phủ phải thực hiện các lời hứa của họ.

Ở Việt Nam, giới lãnh đạo cũng thường đề cập đến chuyện tín nhiệm. Ông Nguyễn Phú Trọng, trong các buổi hội thảo, kêu gọi mọi người hãy tin vào chủ nghĩa xã hội; ông Nguyễn Tấn Dũng, trên diễn đàn quốc tế tại Singapore, kêu gọi lòng tin chiến lược giữa các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới; ông Trương Tấn Sang, trong các buổi gặp gỡ cử tri, kêu gọi mọi người hãy tin ông trong sạch và quyết tâm chống tham nhũng, nếu không làm được đó, ông sẽ từ chức, và nếu từ chức, ông sẽ trả dinh thự lại cho chính phủ để về sống trong căn nhà nhỏ bé của mình. Và cả ba đều, ở những thời điểm và khung cảnh khác nhau, kêu gọi mọi người hãy tin... đảng.

Trong cuốn Trust Me: Australians and their politicians mới xuất bản vào giữa năm nay, Tiến Sĩ Jackie Dickenson, hiện dạy Chính trị học tại trường Ðại Học Melbourne, cho sự tín nhiệm chính trị không thể được hình thành bằng những lời nói suông hay những lời hứa hẹn hão. Nó chỉ có thể được xây dựng trên bốn nền tảng chính: năng lực (competence), sự công khai (openness), sự lương thiện (honesty) và sự khả tín (reliability).

Năng lực được đo lường ở việc đối phó với những vấn đề và những thách thức cụ thể mà cả nước phải đương đầu, từ lãnh vực quốc phòng đến các lãnh vực chính trị, kinh tế, y tế, xã hội, văn hóa, ngoại giao, giáo dục, v.v...

Sự công khai thể hiện ở tính chất minh bạch trong chính sách cũng như trong quản lý, ở việc cho phép tự do báo chí cũng như tự do ngôn luận.

Sự lương thiện thể hiện ở sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, không có chuyện nói một đàng làm một nẻo.

Tính chất khả tín bao gồm nhiều khía cạnh, không phải chỉ ở việc chính phủ thực hiện các lời hứa mà còn ở chỗ dân chúng có thể tiên đoán được các chính sách của chính phủ dựa trên những nguyên tắc, cương lĩnh và niềm tin mà giới lãnh đạo đã đưa ra. Ở Mỹ, với Tổng Thống George W. Bush trước đây, người ta có thể chê nhiều điểm (như nói dở, có tầm nhìn chiến lược nhưng không có khả năng hay sở thích đi sâu vào chi tiết, do đó, thường đơn giản hóa vấn đề), nhưng có một điểm phần lớn đều khen: người ta biết ông nghĩ gì và muốn gì, từ đó, biết cả các chiều hướng chiến lược mà nước Mỹ sẽ theo đuổi. Ở Úc, cũng vậy, đánh giá sự thành công của John Howard, vị thủ tướng thứ 25 (từ 1996 đến 2007) và là vị thủ tướng cầm quyền lâu thứ hai trong lịch sử nước Úc (chỉ sau Sir Robert Menzies, vị thủ tướng thứ 12, cầm quyền tổng cộng 18 năm), nhiều nhà bình luận cho: Không phải lúc nào người ta cũng đồng ý với John Howard, nhưng bao giờ người ta cũng biết rõ là ông nghĩ gì và muốn gì: Người ta xem đó là tính chất khả tín.

Áp dụng bốn tiêu chuẩn ấy vào Việt Nam, chúng ta thấy thế nào?

Hai tiêu chuẩn giữa, sự công khai và lương thiện có lẽ không cần phải bàn: Hầu như ai cũng thấy. Dân chúng lại càng thấy rõ. Không phải ngẫu nhiên mà câu nói “Ðừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm” của ông Nguyễn Văn Thiệu trước kia càng ngày càng được nhiều người tán thành và nhắc nhở. Sau này, dân chúng thêm vào câu nói đã thành “danh ngôn” ấy một chuyện cười khá ý vị, đại khái:

“Cả thế giới đều sợ người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm. Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm rồi mới nói. Còn người Nhật lại sợ người Trung Quốc vì Trung Quốc không nói mà làm. Thế còn Trung Quốc sợ ai? Câu trả lời: Trung Quốc sợ Việt Nam vì Việt Nam nói một đằng làm một nẻo.”

Không biết Trung Quốc có sợ Việt Nam vì chuyện đó hay không, nhưng chắc chắn là dân chúng Việt Nam sợ. Sợ và khinh. Khinh nên mới có một chuyện cười như thế.

Với tiêu chuẩn thứ tư, trong giới lãnh đạo cao nhất ở Việt Nam, thành thực mà nói, người ta biết Nguyễn Phú Trọng nghĩ gì và muốn gì: Ông vẫn tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội và muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Với Nguyễn Tấn Dũng, người ta có thể biết, biết rõ những tham vọng cá nhân của ông, nhưng lại không ai có thể biết được ông nghĩ gì và muốn gì về tương lai của đất nước. Với Trương Tấn Sang, cũng vậy: Ông chỉ nói về những chuyện nhỏ, như chuyện chống tham nhũng và tranh giành quyền lực, nhưng một mô hình xã hội không tham nhũng mà ông mơ ước như thế nào, người ta tuyệt đối không biết.

Tất cả những cái biết và không biết ở trên đều chỉ có công dụng bào mòn sự tín nhiệm, nếu có, của dân chúng đối với giới cầm quyền.

Nhưng tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự tín nhiệm chính là tiêu chuẩn thứ nhất: năng lực. Ðối với Nguyễn Phú Trọng, câu trả lời của dân chúng đã rõ qua cái hỗn danh mà người miền Bắc đã đặt cho ông: “Trọng Lú.” Với Nguyễn Tấn Dũng, câu trả lời cũng tương đối rõ qua việc người ta hay nhắc nhở đến gốc gác y tá của ông. Thật ra, một lãnh tụ giỏi có thể xuất thân từ nhiều nghề nghiệp khác nhau, kể cả những nghề lao động bình thường nhất. Nhưng việc dân chúng cứ nhắc đi nhắc lại cái gốc y tá ấy chứng tỏ một điều: người ta coi thường ông. Vậy thôi. Trương Tấn Sang may mắn hơn, ít bị dân chúng dè bỉu về chuyện năng lực. Nhưng điều đó không chứng tỏ là ông giỏi. Có thể lý do chính là vì chức chủ tịch nước của ông chỉ là một hư vị.

Tuy nhiên, gạt qua một bên chuyện cá nhân. Cứ nhìn giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay như một tập thể, điều dễ thấy nhất vẫn là sự bất lực của họ trong mọi phương diện. Nhìn đâu cũng thấy bế tắc. Nhìn ra biển đảo: bế tắc. Nhìn vào thị trường: bế tắc. Nhìn ra đường với cảnh ùn tắc triền miên và mức độ tai nạn giao thông khủng khiếp: bế tắc. Nhìn vào các bệnh viện và trường học, ở đâu cũng thấy suy đồi về đạo đức: bế tắc. Những bế tắc ấy là bằng chứng rõ nhất của sự bất lực từ hàng ngũ lãnh đạo.

Trước cả bốn tiêu chuẩn ấy, bạn có nghĩ là bạn nên tiếp tục tín nhiệm nhà cầm quyền hay không?
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest