Thời Sự, Bình Luân

duynga
Posts: 139
Joined: Sat Oct 13, 2012 2:40 am
Contact:

Post by duynga »

Hối Lộ Tham Nhũng Ngập VN

Tác giả : Vi Anh

Hối lộ, tham nhũng tràn ngập VN. Không phải chỉ trong nhà cầm quyền CSVN mà còn lây lan vào cơ quan ngoại giao của Mỹ ở VN nữa.

Tin đài phát thanh VOA, tiếng nói chánh thức của Hoa kỳ, ngày = 26.05.2013 loan tải “Một nhà ngoại giao Mỹ bị truy tố vì bán visa tại Việt Nam”. Đó là Ô. Michael Sestak, 42 tuổi, đã bán mỗi visa vào Mỹ cho người Việt Nam với giá từ 50.000 đến 70.000 Mỹ Kim. Ông dùng tiền này mua nhà đất tại Thái Lan. Số visa được bán chưa biết bao nhiêu, nhưng theo cáo trạng dài 28 trang giấy, Ông Sestak đã nhận “nhiều triệu Mỹ Kim hối lộ” ở Việt Nam. Ông đã dùng nhiều mánh khóe để chuyển tiền ra khỏi Việt Nam, và sau đó dùng tiền này để mua bất động sản tại Phuket và Bangkok ở Thái Lan.

Nhưng Ông không “hạ cánh an toàn” – nói theo kiểu Thủ Tướng CS Võ văn Kiệt - như một số cán bộ đảng viên CS có chức có quyền.Trái lại viên chức lãnh sự này của Mỹ bị chánh quyền Mỹ, sắp sửa đưa ra công lý và công luận trừng trị.

Theo hãng tin McClatchy cho biết Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sợ mang tiếng có ý giấu diếm “để xứ lý nội bộ” nhưng không được với pháp luật và báo chí Mỹ. Công lực Mỹ đã mở cuộc điều tra cách nay 10 tháng và kết thúc tuần trước, sau khi một người Việt Nam vào tháng 7 năm ngoái, tố giác với chính phủ Hoa Kỳ rằng, chỉ riêng một ngôi làng ở miền Trung Việt Nam, đã có từ 50 đến 70 người đi định cư ở Hoa Kỳ bằng cách hối lộ để có visa.

Báo News & Observer của Mỹ cho biết theo cuộc điều tra từ ngày 1.5.2012 đến ngày 6.9.2012, tòa lãnh sự nhận 31.386 hồ sơ xin cấp thị thực và từ chối 35,1%. Trong cùng thời gian, Sestak giải quyết 5.489 hồ sơ và chỉ từ chối 8,2% số đó. Tỷ lệ từ chối thị thực của Sestak giảm xuống còn 3,8% trong tháng 8, không lâu trước khi ông rời khỏi tòa lãnh sự.

Sestak bắt đầu làm việc cho Tổng Lãnh sự Mỹ tại TP.SG từ tháng 8.2010 cho đến tháng 9.2012. Vào thời điểm này Ông nghỉ đi để chuẩn bị tái ngũ vào phục vụ trong hải quân. Ông Sestak phụ trách bộ phận giải quyết thị thực và theo lời ông Dinits, ông Sestak “có tiếng” là hào phóng và châm chước trong các hồ sơ thị thực.

Ông Sestak, 42 tuổi, bị bắt tại Nam California cách đây khoảng một tuần. Cơ quan điều tra vin lịnh Toà bắt giữ có yêu cầu Toà không cho đương sự đóng tiền thế chân tại ngoại hầu tra vì đương sự có khả năng bỏ trốn. Văn phòng Chưởng lý Mỹ ở Washington và luật sư của ông Sestak đều từ chối trả lời báo News & Observer.

Còn tình trạng hối lộ tham nhũng trong guồng máy công quyền của Đảng Nhà Nước CS còn phổ biến, trầm kha, đã trở thành quốc nạn, hết thuốc chữa rồi. Đây không phải là thông tin, nghị luận của ngưới Việt mà CSVN gọi là “nặng quá khứ nên quá khích" với CS hay là “lực lượng thù địch”. Trái lại đây là sưu khảo của cơ quan thường trú của Liên Hiệp Quốc với những con số lạnh lùng, vô tư tự nó nói lên quốc nạn này của VN một cuộc khảo sát mới được công bố với sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc, có tên gọi Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI).

Tin Đài VOA của Mỹ, kết quả thăm dò 14,000 người do Trung Tâm Nghiên Cứu Hỗ Trợ Phát Triển Cộng Đồng của LHQ ở Hà nội, cho biết tệ trạng hối lộ tham nhũng đã trở thành quá thường như cơm bữa ở VN, với tên gọi hàng ngày là "lót tay" hay "bôi trơn". Nó trở thành quá bình thường trong những ngành nghề được trọng vọng như y tế, giáo dục, khiến không ai ngạc nhiên khi phải đưa phong bì "bồi dưỡng" cho giáo sư chủ nhiệm, cho bác sĩ trị bịnh cho người nhà.

Trả lời VOA Việt Ngữ, ông Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hỗ trợ Phát triển Cộng đồng (CECODES), nói: “Thí dụ như khi vào bệnh viện, thì họ coi chuyện phải đưa phong bì cho bác sĩ, mà người ta dùng từ rất hay là bồi dưỡng bác sĩ hoặc là khi họ đến một cơ quan để làm giấy chứng nhận, đặc biệt là chứng nhận sử dụng đất hay xin phép xây dựng, thì họ dùng từ rất hay là bôi trơn, tức là bôi cho nó trơn đi thì bộ máy mới làm được. Hiện tượng đó rất nhiều.”

“Số người đồng tình với việc phải hối lộ mới được chăm sóc y tế và xin được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng tăng với tỉ lệ tương đương, từ 31% lên 42% đối với chăm sóc y tế và từ 21% lên 32% đối với chứng nhận quyền sử dụng đất.”

Theo PAPI 2012, người dân không muốn tố cáo các vụ tham nhũng do cái giá phải trả của việc tố giác quá lớn, hoặc do người dân chưa tin tưởng vào hệ thống pháp luật phòng, chống tham nhũng nên họ chấp nhận đưa hối lộ để lách những thủ tục hành chính rườm rà.

“Ông Jairo Acuđa Alfaro, cố vấn chính sách về cải cách hành chính công và chống tham nhũng của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam, nói với VOA Việt Ngữ rằng tình trạng hối lộ, tham nhũng ảnh hưởng nhiều nhất tới người nghèo.

44% số người được hỏi cho biết đồng tình với nhận định là phải hối lộ mới xin được việc làm trong các cơ quan nhà nước.

Khuyến cáo của cơ quan LHQ này là nhà cầm quyên CSVN phải để các cơ quan chống tham nhũng cần phải được hoạt động một cách độc lập.

Một khuyến cáo không bao giờ CS thực hiện vì trái với bản chất của chủ nghĩa, chế độ cai trị của CS. Đó là Đảng CS độc tài đảng trị toàn diện. Điều 4 Hiến Pháp của VNCS đã qui định như thế lâu rồi. Câu hỏi giản dị nhứt đặt ra, ai hưởng của hoạnh tài hối lộ, tham nhũng này, và ai lãnh đủ mọi tai hoạ này? Người dân Việt già trẻ bé lớn đều biết hưởng trọn là cán bộ đảng viên vì có chức có quyền mới sâu dân mọt nước được và lãnh đủ là người dân thấp cổ bé miệng. /. ( Vi Anh)
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Giọt lệ ăn năn cho Việt Nam 38 năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ

Vann Phan

Những giọt lệ ăn năn này xin được dâng lên anh linh các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Cảnh Sát Quốc Gia cùng các viên chức và cán bộ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh xương máu để bảo vệ Miền Nam Tự Do cho đến giây phút cuối cùng.

Ba mươi tám năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ, đất nước Việt Nam đồng khô, hồ cạn hiện đang là một kẻ tử tù bị kết tội vong ân, bội nghĩa trong tay ân nhân nham hiểm Bắc Kinh, treo mình tòn teng chờ chết dưới trời Hè nhiệt đới trên chiếc cọc được đóng xuyên qua thân người, chọc thủng từ hậu môn, lách qua tim (để cho lâu chết), rồi trổ ra cửa miệng, y hệt một phạm nhân can tội đại hình bị hành quyết theo kiểu đóng cọc xuyên thân (impalement), như từng được mô tả cặn kẽ trong tiểu thuyết “Chiếc cầu trên sông Drina” của nhà văn Nam Tư, Ivo Andric.

Phải biết rằng Việt Nam là một đối tượng từng bị bao kẻ thù tranh chấp đất đai tại Ðông Nam Á thi nhau nguyền rủa (curse) bao đời. Sau cái chết đầy dằn vật như thể là bị quả báo đó, nếu thân nhân không được phép chôn cất, tử thi của tử tội sẽ bị từng bầy kên kên từ núi rừng Việt Bắc thâm u và đường Trường Sơn ào ào lá đỏ bay đến mổ thịt, rỉa xương, cũng tương tự lối xử phanh thây mà vua quan nhà Nguyễn đã dành cho vua tôi nhà Tây Sơn, từ Hoàng Ðế Cảnh Thịnh trở xuống, sau khi Chúa Nguyễn Ánh chiếm được thành Thăng Long, bắt được hậu duệ của Hoàng Ðế Quang Trung, kẻ thù truyền kiếp từng đánh cho ông xất bất, xang bang đến độ phải cầu viện Xiêm La và Pháp trợ chiến...

“Mùa Xuân đem đổi cho nhân thế, lấy một mùa Ðông lạnh chết hồn”

Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, ngày Sài Gòn sụp đổ, dân chúng Việt Nam đã được những người cộng sản chiến thắng bảo cho biết rằng họ đã hoàn toàn thoát ách thực dân và đế quốc của ngoại bang, và rằng họ đã được chính các đồng bào và “đồng chí” của mình trực tiếp cai trị. Kết quả, Việt Nam ngày nay, trước hết, là một xã hội gần như tuyệt đối không có cương thường, đạo lý, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, là các điểm nổi bật trong truyền thống văn hóa tuyệt vời đã có từ mấy ngàn năm trước của dân tộc. (1) Kế đó, Việt Nam là một đất nước xác xơ, với môi trường sống bị băng hoại, với rừng vàng, biển bạc và mỏ dầu khí bị chính quyền cộng sản thi nhau moi, hút cạn kiệt tự bao giờ, với nền kinh tế suy sụp không gượng nổi, và với các quyền tự do, dân chủ của dân chúng bị chính cái chế độ do nhân dân làm chủ kia trâng tráo tịch thu. Rồi gái, trai trong nước đua nhau bán thân và bán sức lao động cho ngoại quốc để lấy tiền, đất canh tác bị chính quyền đoạn mãi hoặc cho ngoại quốc thuê mướn dài hạn, trong khi biên cương và biển, đảo của Việt Nam, từ Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc cho tới Hoàng Sa và Trường Sa, cứ bị Trung Cộng liên tục xâm lấn, còn ngư dân Việt Nam thì thường xuyên bị người Trung Cộng cấm đánh cá và bắt giam hay, tệ hại hơn, bị bắn chết tức tưởi ngay trong vùng biển quen thuộc của mình. Oái oăm thay, trước thảm cảnh đó của đồng bào, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chỉ biết phản đối chiếu lệ, rồi vì hèn nhát mà lại không dám lôi quan thầy Trung Cộng ra kiện trước tòa án quốc tế như phản ứng của Philippines, một quốc gia nạn nhân khác trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với nước láng giềng phương Bắc hỗn láo đang cần phải được ai đó “dạy cho một bài học” đau điếng để nhớ đời.

Nhưng điều đáng nói hơn hết vẫn là, kể từ khi toàn thể dân chúng Việt Nam từ Nam chí Bắc đã thấm thía cuộc sống lầm than, cơ cực và thiếu tự do, dân chủ dưới chế độ độc tài, công an trị tại Việt Nam và đồng loạt mở mắt ra nhờ các phương tiện truyền thông báo chí trên mạng lưới điện toán, trong đó có những bài viết trên các blog cá nhân “lề trái,” hầu hết dân chúng tại Việt Nam bỗng dưng nhận ra chính mình mới là kẻ chiến bại trong cuộc nội chiến, tức cuộc Chiến Tranh Việt Nam, vừa qua trong khi chỉ có các thành phần lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới là kẻ chiến thắng và đang tận hưởng một cách tham lam và chụp giựt thành quả của chiến thắng đó. Cái tội nặng nhất của tuyệt đại đa số dân chúng Việt Nam lúc bấy giờ, cũng như phần lớn thế giới bên ngoài Việt Nam, là đã “trót nghe theo lời u mê” rằng những người cộng sản Việt Nam mới là những người thật sự yêu nước, và rằng Miền Nam Việt Nam phải được “giải phóng” khỏi vòng “kềm kẹp của Mỹ-Ngụy” thì dân tộc Việt Nam mới được hưởng “độc lập, tự do, hạnh phúc.” Rồi từ cuối thập niên 1990 tới nay, lúc phong trào “dân oan khiếu kiện” vì bị chính quyền cộng sản cướp đất và cướp tài sản bắt đầu lan rộng từ Hà Nội cho tới Sài Gòn, các thành phần được chính quyền cộng sản gọi là gia đình anh hùng, liệt sĩ và các thành phần từng là cán bộ, bộ đội cũng như những người đã đóng góp xương máu vào công cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để giải phóng Miền Nam cùng những thành phần từng được coi là “công thần” của chế độ hiện nay tại Hà Nội lại cảm thấy chính họ cũng là kẻ chiến bại trong cuộc chiến tranh tương tàn và cực kỳ phi lý giữa hai miền Nam, Bắc do chính những người cộng sản Việt Nam gây ra trong suốt 2 thập niên hồi hạ bán thế kỷ 20 và hiện đang là nạn nhân đáng thương bị chính quyền cộng sản, từ địa phương cho tới trung ương, hà hiếp và bóc lột không chút nương tay.

Hồi tưởng lại, những người Việt Nam, còn có lòng công chính và không bị u mê vì ý thức hệ cộng sản lỗi thời hoặc tối mặt vì đồng tiền dầu khí từ Việt Nam chuyển qua, đều thấy rằng khoảng thời gian vỏn vẹn 21 năm của hai nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam huy hoàng tại Miền Nam Việt Nam, từ 1954 đến 1975, nay đang lùi sâu vào dĩ vãng như một giấc mơ thần tiên không có cách nào níu kéo được.

Vì đâu nên nỗi

Miền Nam Tự Do mất đi, lỗi tại ai đây?

Suốt gần 4 thập niên qua, cái chết tức tưởi của Miền Nam Tự Do trước cuộc xâm lược bạo tàn của Cộng Sản Bắc Việt và cộng sản quốc tế, ngoài việc gây nên làn sóng tranh công, giành phần phải bên phía những kẻ chiến thắng, còn gây ra những cuộc tranh cãi triền miên về chuyện ai là kẻ đã gây ra lỗi lầm tai hại đưa đến sự tan rã của quân đội và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Bên phía những kẻ thắng, cuộc tranh công và giành phần phải về phía mình để xem ai là kẻ có công nhất trong cuộc chinh phục Miền Nam Tự Do và đem lại thống nhất đất nước từ Nam Quan cho đến Cà Mau, dưới lá cờ đỏ đẫm máu, đã liên tục diễn ra bên trong giới lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, từ Tướng Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam Trần Văn Trà và Phó Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam Nguyễn Văn Linh (lúc bấy giờ) cho tới Ðại Tướng Văn Tiếng Dũng của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam và cả Tổng Bí Thư Lê Duẫn của Cộng Sản Bắc Việt.

Bên phía những kẻ thua, trong suốt 38 năm qua, các thành phần thân Cộng vẫn luôn đổ lỗi cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong khi những kẻ có cảm tình với Việt Nam Cộng Hòa thì đổ lỗi cho phe phản chiến (tại Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ), báo chí Mỹ, “thành phần thứ ba” tại Miền Nam Việt Nam do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu, việc Ðồng Minh Mỹ lật đổ và sát hại Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963, và việc chính phủ Hoa Kỳ phản bội chính phủ và dân chúng Miền Nam Việt Nam sau cuộc Tổng Công Kích của quân cộng sản hồi Tết Mậu Thân 1968. Các tướng lãnh bất tài và tham nhũng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thỉnh thoảng, vẫn bị cả hai phía thân Cộng và chống Cộng quy trách nhiệm đã gây ra cuộc thất bại dẫn tới sự sụp đổ của Sài Gòn và cái chết của Việt Nam Cộng Hòa.

Ðiều đáng nói là, kể từ khoảng cuối thập niên 1970, lúc phong trào thuyền nhân (boat people) lên cao, với hàng loạt người Việt Nam, bất kể sống chết, bỏ nước ra đi để trốn tránh chế độ cộng sản hà khắc, tàn bạo và thiếu khả năng quản trị đất nước đang làm chấn động thế giới, đa số dân chúng tại Miền Nam Việt Nam đã đổ cái lỗi gây ra sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa lên đầu các thành phần phản chiến trong xã hội Miền Nam Việt Nam, trong đó có giới trí thức tại Sài Gòn và những kẻ “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” suốt thời kỳ chiến tranh cũng như các thành phần cộng sản nằm vùng tại Miền Nam Việt Nam, những kẻ đã hăng say che giấu, nuôi dưỡng và tiếp tế cho các chiến binh cộng sản (đặc biệt là các “bà mẹ chiến sĩ”), từ quân du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cho tới quân chính quy của Cộng Sản Bắc Việt, để họ đánh lại Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ðiều đáng tiếc là tập thể những “sinh viên tranh đấu” một thời tại Huế, Ðà Nẵng và Sài Gòn, những sinh viên du học ngoại quốc bằng tiền của chính phủ và nhân dân Miền Nam Việt Nam (nhưng khi thành tài lại chỉ mong về nước phục vụ cho cộng sản để chống lại Việt Nam Cộng Hòa), khi thức tỉnh và biết mình lầm rồi thì đã quá muộn vì Việt Nam Cộng Hòa đã mất rồi trong khi giống nòi và quê hương đang bị đảng Cộng Sản Việt Nam đưa vào chốn lầm than - đúng y như câu “dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than” trong bài “Tiến Quân Ca,” quốc ca của Cộng Sản Việt Nam - cho dù giờ đây, thỉnh thoảng, một vài phần tử trong số người đó có biểu lộ đôi chút sĩ khí khi lên tiếng chống lại đường lối độc tài và phi nhân bản của giới lãnh đạo độc đảng tại Việt Nam.

Ðến đây, thiết tưởng ai cũng rõ những thành phần nào phải chịu trách nhiệm và nhìn nhận tội lỗi của mình trước tổ quốc Việt Nam trong việc gây ra cái chết của Việt Nam Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam cách nay 38 năm, dẫn tới cuộc sống lầm than của toàn thể dân chúng Việt Nam và nguy cơ lớn lao mất nước vào tay Trung Cộng hiện nay.

Xin đừng tiếp tục chỉ đổ lỗi cho cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cố Tổng Thống Dương Văn Minh hoặc “các tướng lãnh bất tài và tham nhũng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” nữa. Cũng xin đừng tiếp tục chỉ đổ lỗi cho Ðồng Minh Hoa Kỳ đã “phản bội” và “bỏ rơi” Miền Nam Tự Do vào tay quân cộng sản để cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải tan rã và Sài Gòn phải sụp đổ trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975, đơn giản chỉ là vì người Mỹ không thể nào chiến thắng ở Việt Nam, cho dù họ có chấp nhận hy sinh thêm bao nhiêu nghìn chiến sĩ trên chiến trường đi nữa, khi một bộ phận không nhỏ trong dân chúng Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, dù vì bất cứ lý do gì, từng phản đối cuộc chiến tranh chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lược và cứ mong muốn thay thế chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bằng các nhà lãnh đạo của Cộng Sản Bắc Việt mà họ cứ lầm tưởng là yêu nước hơn, giỏi giang hơn, và nhất là ít tham nhũng hơn hoặc không hề tham nhũng gì cả! (Nhiều lá thư từ chiến trường của các cựu chiến binh Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam gởi về cho thân nhân nơi quê nhà đã biểu lộ niềm uất hận khi thấy một số lớn dân chúng vùng nông thôn và một số không nhỏ giới trí thức thành phố tại Miền Nam Việt Nam có thiện cảm với quân cộng sản, trốn quân dịch, và chỉ muốn đuổi quân Ðồng Minh Hoa Kỳ đi để rước quân Giải Phóng Miền Nam vào.

Phải chăng yếu tố này đã góp phần làm lớn mạnh thêm phong trào “phản chiến” tại Mỹ hồi các thập niên 1960 và 1970, dẫn tới việc Mỹ “phản bội” Miền Nam Tự Do?)

Có điều, cả Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Tổng Thống Richard M. Nixon đều đúng khi cho rằng chính báo chí Mỹ, kẻ bị ám ảnh hết sức nặng nề về cái huyền thoại Hồ Chí Minh từ hồi 1945, là “thủ phạm” chính giúp phe cộng sản chiến thắng tại Miền Nam Việt Nam. Vì báo chí Mỹ không vào được Hà Nội, nơi chẳng hề có tự do báo chí, họ chỉ chăm chú chỉ trích Sài Gòn và Hoa Thịnh Ðốn, dẫn với việc lập thuyết sai lầm rằng Cộng Sản Bắc Việt là nạn nhân trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, rằng cuộc chiến chống Cộng tại Miền Nam Việt Nam là không có chính nghĩa, và việc Hoa Kỳ đưa quân vào trợ giúp Việt Nam Cộng Hòa là vô luân lý.

Ðiều mỉa mai là, sau khi Việt Nam đã bị Trung Quốc đánh cho sưng gan, giập mật, bể lá lách từ biên giới Hoa-Việt cho tới hải đảo trên Biển Ðông từ 1979 tới nay, những người Việt Nam nào, từng a dua theo Trung Quốc, vỗ tay reo mừng - kiểu “mẹ vỗ tay reo mừng hòa bình” - khi thấy Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa hồi năm 1974 (vì cứ lầm tưởng như Phạm Văn Ðồng, thủ tướng của họ, rằng Trung Quốc chiếm Hoàng Sa là để “giữ hộ” cho người Cộng Sản Việt Nam, chờ khi nào Miền Bắc đánh thắng Miền Nam sẽ đem trả lại) thì nay, chính những con người đó, phải nhỏ những giọt lệ ăn năn cho tổ quốc khi nhận chân được rằng bậc thầy Trung Quốc vĩ đại của họ đang dùng trăm phương, ngàn kế để lấn chiếm cho bằng hết các vùng biên giới và biển đảo của Việt Nam.

Cuối cùng, trong số những giọt lệ ăn năn về việc Việt Nam Tự Do mất vào tay cộng sản, có cả nước mắt của những kẻ thường ân hận rằng mình đã chẳng đóng góp gì hoặc chưa đóng góp hết sức mình vào “cuộc kháng chiến thần thánh” - chữ của Tổng Thống Thiệu - của quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa chống lại Cộng Sản Bắc Việt xâm lược trước đây. Ðiều này cũng tương tự như tâm trạng của những đứa con bất hiếu với cha mẹ trong nền văn hóa Việt Nam, luôn ray rứt rằng, ngày cha mẹ còn sống, mình đã không lo phụng dưỡng các vị cho đúng mức, để đợi khi cha mẹ đã khuất núi rồi, hồi tưởng lại, mới nhỏ giọt nước mắt ăn năn.

“Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời!”

Ngày đó, trước năm 1975, lúc tổ chức Liên Hiệp Quốc chưa có quá 80 thành viên, và trong khi thế giới đang bị chia đôi vì ý thức hệ độc tài cộng sản và tự do, dân chủ đối nghịch nhau, Việt Nam Cộng Hòa, dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, đã được gần 50 quốc gia chính thức công nhận. Vì quốc thể được nâng cao và vì quốc dân hiếu hòa hòa và đạo đức, tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đi công du đến đâu cũng được hoan nghênh và trọng vọng, từ Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc cho tới Úc Ðại Lợi và Ðại Hàn Dân Quốc.

Ngày đó, nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa tràn đầy giá trị nhân bản, và trình độ giáo huấn tại các học đường không hề thua kém bất cứ quốc gia tiên tiến nào trên thế giới. Học sinh Việt Nam phải học đức dục trước khi học công dân giáo dục, phải biết lễ, nghĩa, liêm, sỉ trước khi ra ngoài đời, phải biết thờ mẹ, kính cha, nhường nhịn anh, chị em trong nhà trước khi dấn thân phục vụ xã hội. Những sinh viên, học sinh được xuất ngoại du học đều là những thành phần sĩ tử ưu tú, chứ không phải là những kẻ chuyên đút lót và hối lộ để thăng tiến trên bước đường công danh, áp dụng thủ đoạn cạnh tranh bằng cách triệt hạ người khác xuống để nâng mình lên cao đặng chiếm ngôi vị độc tôn mà không chịu tìm cách tự thăng hoa cho chính mình.

Ngày đó, giữa lúc cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam Tự Do của Miền Bắc Cộng Sản đang độ khốc liệt, tuy nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa chưa phát triển mấy và công, kỹ nghệ trong nước đang còn phôi thai, dân chúng Miền Nam Việt Nam đã hưởng được một cuộc sống no cơm, ấm áo, quân nhân, công chức đi làm ai cũng đủ sức bao biện cho vợ con ở nhà, và ngay cả giới phu phen, thợ thuyền cũng vẫn rủng rỉnh đồng ra, đồng vào cuối một ngày lao động, đừng nói gì tới giới tiểu thương và doanh gia.

Ngày đó, tôn ti, trật tự xã hội được tôn trọng, dân chúng Việt Nam Cộng Hòa hiền hòa ai cũng biết lễ nghĩa, liêm sỉ, học trò thì kính thầy, mến bạn, công, tư chức đi làm thì cần kiệm, thanh liêm, chuyện tham nhũng được coi là điều xấu hổ, điếm nhục gia phong. Trong xã hội, ai cũng muốn sống sao cho lương thiện, thầy giáo ra thầy giáo, bác sĩ ra bác sĩ, và các nhà tu hành không hề nghĩ tới chuyện đội lốt nhà tu để lường gạt tín đồ, đừng nói chi đến làm chính trị để khống chế chính quyền theo mưu đồ của cộng sản trong sách lược lâu dài của họ là thôn tính Miền Nam Việt Nam. Thời đó, tội phạm cũng có chứ chẳng phải không, nhưng chưa bao giờ nhiều và dã man, trắng trợn như bây giờ, khi trong xã hội xảy ra như cơm bữa những cảnh chồng giết vợ, con giết mẹ, thầy lợi dụng tình dục của trò, và công an, thay vì bảo vệ dân, lại ngang xương bắn giết dân lành mà không hề bị trừng phạt.

Ngày đó, lâu lâu cũng có cảnh đấu tranh, xuống đường, hoan hô, đả đảo của sinh viên, học sinh cũng như của các nhà tu hành, nhưng những thành phần đối lập với chính quyền Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không hề bị đàn áp dã man theo cái kiểu hiện đang diễn ra sờ sờ trước mắt từ Sài Gòn cho tới Hà Nội bây giờ. Và, trong một chừng mực nào đó, cho dù đất nước đang lâm cảnh chiến tranh, quyền đối kháng chính trị của dân chúng Miền Nam Việt Nam vẫn được nhà cầm quyền tôn trọng. Thời đó, tù chính trị cũng có, nhưng chắc chắn là không thể nhiều như bây giờ, khi những người cầm bút - tiêu biểu là các bloggers - chỉ cần viết lên tư tưởng chống quân Tàu xâm lược là đã bị chính quyền cộng sản Việt Nam khủng bố, bắt bớ, giam cầm và đày đọa như thể chính họ bị xúc phạm và chống đối vậy. Và, vào lúc bấy giờ, ngay cả các tù nhân bị giam tại Côn Ðảo hay Phú Quốc cũng vẫn được chính phủ chăm nom đầy đủ, từ cái ăn, cái mặc cho tới sức khỏe, mặc dù trong số này có nhiều kẻ vẫn coi chế độ Sài Gòn là kẻ thù không đội trời chung, và từng thề quyết tiêu diệt cho bằng được “bọn Mỹ-Diệm” và “bọn Mỹ-Thiệu” mới vừa lòng.

Ngày đó, nền văn hóa và nghệ thuật Việt Nam đang ở đỉnh cao. Các minh tinh, tài tử Việt Nam luôn sáng ngời trên vòm trời điện ảnh Á Châu, và các lực sĩ Việt Nam thường chiếm nhiều giải thưởng cao quý trên vận động trường quốc tế, đặc biệt là trong hai bộ môn bóng bàn và bóng tròn. Về âm nhạc, cho tới nay, những nhạc phẩm và ca sĩ trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam vẫn luôn được đánh giá cao, tới mức vượt thời gian. Về văn chương, những tác giả và tác phẩm thời đó vẫn được các thế hệ sau này, cả hải ngoại lẫn trong nước, trân trọng và ngợi ca. Các bộ môn báo chí, phim ảnh, tân nhạc, hát bội, cải lương và kịch nghệ thời đó thật đa dạng, muôn màu, muôn sắc, đua nhau nở rộ trong vườn hoa tư tưởng và nghệ thuật của Miền Nam Tự Do, vốn luôn dành đất sống thênh thang cho giới văn nghệ sĩ, kể cả những kẻ có tư tưởng phản chiến một thời như Trịnh Công Sơn.

Ngày đó, Sài Gòn đang giữ ngôi vị “Hòn Ngọc Viễn Ðông,” như lời nhạc “người ơi, Sài Gòn chốn đây là Ngọc Viễn Ðông vốn đã lừng danh...” của Văn Phụng, và đường sá tại Sài Gòn - cũng như tại các đô thị khác trong nước - dù luôn đông đúc những người và xe cộ, vẫn đẹp đẽ, sạch sẽ, tươm tất, như được diễn tả qua ý nhạc trong ca khúc “Ghé Bến Sài Gòn” của Y Vân: “Ngựa xe như nước trên đường vẫn qua mau, người ra thăm bến câu chào nói xôn xao, phố xá thênh thang đón chân tôi đến chung vui... Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi...” Mặc dù các thành phần dân chúng Miền Nam Việt Nam không mấy ai giàu tiền, lắm bạc như giới tư sản đỏ bây giờ, số lượng xe hơi lưu thông trên đường phố tại các thành thị lúc nào cũng nhiều hơn, đông đúc hơn, bởi vì đường sá luôn được bảo trì tốt hơn, và các phương tiện chuyên chở công cộng - như xe buýt và xe lam - được dân chúng sử dụng nhiều hơn. Vì thế, sau cơn mưa, trời luôn trở lại sáng trên đường phố Sài Gòn và các đô thị khác, chứ không hề có cảnh tối tăm, ngập lụt, bì bõm và sặc mùi xú uế (vì rác rưởi đủ loại có dịp trào lên) như bây giờ. Hiện nay, hệ thống cống rãnh trong thành phố từ Bắc chí Nam vẫn thường hay nghẽn kẹt vì tình trạng xây cất bừa bãi, trong khi lòng đường thì cứ liên tục bị các “lô-cốt” nằm ụ choán chỗ, để cho bọn gian thương từ hai bên đường tha hồ túa ra chận dòng xe đang chạy lại mà buôn bán, chụp giựt. Ba mươi tám năm xưa, ngày mất Sài Gòn, nhạc sĩ Nam Lộc đã nghẹn ngào, nức nở: “Sài Gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời. Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời...”

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo...

Ôi! Một thời an bình và thịnh trị trong lịch sử Việt Nam đã qua rồi! Biết đến bao giờ mới tìm lại được nét vàng son xưa và nghe lại được tiếng xưa đây? Ðâu có ai ngờ rằng, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi có hai thập niên thôi, đất nước và dân tộc Việt Nam, mặc dù đang bị cuộc chiến tranh xâm lược của cộng sản Bắc Việt gieo tang tóc, điêu linh, nhà tan, cửa nát, dân chúng Miền Nam Việt Nam đã được hưởng những tháng, năm huy hoàng như thế, với một nền văn hóa và văn minh ngời sáng hơn bao giờ hết. Cái di sản văn hóa và văn minh mà Miền Nam Tự Do để lại cho dân tộc Việt Nam quả là to lớn, và thành thật mà nói, chưa thấy thời đại nào trong lịch sử dân tộc có thể sánh kịp với thời đại đã vội qua đi kia, với đền đài, biệt thự tráng lệ, với đường phố thênh thang, với quan chức thanh liêm, mẫu mực, với binh hùng, tướng mạnh “sinh vi tướng, tử vi thần,” với trai thanh, gái lịch, với rể hiền, dâu thảo, con ngoan... (2)

Việt Nam rồi sẽ về đâu?

Khi nhìn vào các thành quả của Mùa Xuân Ả Rập (Arab Spring) từ mấy năm qua tại các quốc gia Trung Ðông, người dân Việt Nam nào lại không mơ ước đất nước mình cũng sẽ có được những đổi thay kỳ diệu như thế, để tổ quốc mình thoát khỏi cảnh tối tăm, đọa đày hiện tại? Nhưng không ai có thể làm gì hơn được khi, khác với dân chúng Ả Rập luôn no đủ vì nguồn lợi dầu hỏa của quốc gia nên họ tha hồ xuống đường, chiếm đóng công viên mà cắm lều, dựng trại đặng biểu tình, tranh đấu ngày này qua ngày khác (cho tới khi nào cách mạng thành công mới thôi), người dân đen Việt Nam, từ Nam chí Bắc, đang bị miếng cơm, manh áo trói buộc chặt chẽ hằng ngày, hằng giờ, khiến không có ai dám bỏ nhà, bỏ cửa xuống đường biểu tình chống chính quyền cộng sản quá vài, ba ngày, chỉ vì cứ sợ cha mẹ, anh em, vợ, chồng, con cái mình ở nhà bị bỏ đói. (Ðó là chưa nói đến sự thể các nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ luôn bị chính quyền cộng sản bắt bớ, giam cầm và bách hại, trong khi thân nhân của họ ở ngoài thì thường xuyên bị đám côn đồ quốc doanh hành hung, hăm dọa, để rồi, nếu cuối cùng được thả ra, các nhà tranh đấu này đều đâm ra ngán ngẩm, nhụt chí, và dần dà thôi không dám tranh đấu nữa).

Mà nếu dân chúng có biểu tình chống đối được vài, ba ngày gì đó thì, trên thực tế, cũng chẳng ăn thua gì đối với chính quyền Cộng Sản Việt Nam, với cả hai lực lượng nanh nọc và được trang bị đến tận răng, là quân đội và công an, đều đứng về phía chính quyền độc tài để giữ vững các đặc quyền, đặc lợi mà nhà nước đã ban cho họ, nhằm bảo vệ tới hơi thở cuối cùng chế độ - chứ không phải tổ quốc - và bảo vệ Ðiều 4 trong Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay, với mục đích tối hậu là giữ vững độc quyền “đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại” và đời đời cai trị đất nước cho đảng Cộng Sản Việt Nam. (3)

Tới đây, chúng ta sẽ cảm thấy nhóm từ ngữ “bạo lực cách mạng” có một ý nghĩa hết sức thực tế. Thật vậy, tự cổ chí kim, từ hồi Cách Mạng Pháp năm 1789 cho tới cuộc cách mạng tự do, dân chủ của Boris Yeltsin lật đổ chế độ cộng sản tại Liên Xô hồi năm 1991, những cuộc thay đổi thể chế tại bất cứ nơi đâu đều cần có sự can thiệp của bạo lực, tức là sức mạnh của các lực lượng vũ trang, cho dù đó là bạo lực đã đưa Vua Louis 16 của Pháp lên đoạn đầu đài, sát hại hai nhà độc tài Nicolae Ceaucescu của Lỗ Ma Ni, hoặc đó là thứ bạo lực đã bị tinh thần yêu tự do, dân chủ vô hiệu hóa, như trong trường hợp của quân đội Liên Xô khi họ từ chối không chịu nã đạn tiêu diệt các lực lượng đối kháng của Yeltsin. Một bằng chứng khác về vai trò thiết yếu của sức mạnh quân sự trong mọi cuộc đấu tranh là chính phủ và nhân dân Miền Nam tự do đã sụp đổ ngay tức khắc trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chiếc xương sống của đất nước, một trong những đội quân tinh nhuệ và kiêu hùng nhất Á Châu thời đó (với các đại đơn vị vũ bão hàng đầu cỡ Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Ðộng Quân) bị Ðồng Minh Hoa Kỳ và Tổng Thống Dương Văn Minh ép vào cái thế phải đầu hàng không điều kiện kẻ thù cộng sản.

Trong tình thế hiện tại, ngày về quê hương của những con người Việt Nam ôm mộng phục quốc có vẻ như vẫn còn xa lắc lê thê, bởi vì, ngoài sức mạnh của bạo lực, chính quyền Cộng Sản Việt Nam hiện có trong tay một thứ vũ khí vạn năng, là tiền bạc, một loại vũ khí có khả năng vô hiệu hóa mọi cuộc tấn công của kẻ địch bằng cách mua chuộc con người, kể cả những tổ chức của người Việt hải ngoại đang yểm trợ cho các phong trào đòi tự do, dân chủ tại Việt Nam. Ðiều đáng lo ngại vẫn là Trung Cộng thừa khả năng tài chánh để mua chuộc toàn bộ các lực lượng Quân Ðội Nhân Dân và Công An Nhân Dân Việt Nam, khiến họ sẵn sàng nghe theo mệnh lệnh của Trung Cộng mà xả thân bảo vệ cho Ðảng Cộng Sản Việt Nam, vốn là những nhà lãnh đạo luôn ngoan ngoãn tuân phục “thánh ý”của Thiên Triều Bắc Kinh. (4)

Nếu quả thật Quân Ðội Nhân Dân và Công An Nhân Dân của Cộng Sản Việt Nam hiện đang là hai lực lượng then chốt có khả năng lật đổ chế độ cộng sản đương quyền tại Việt Nam thì chỉ khi nào các lực lượng đó bị vô hiệu hóa, hoặc khi nào họ bất ngờ trở về với dân tộc mà quay súng bắn vào đầu các nhà cai trị cộng sản ngoan cố tại Hà Nội thì đất nước Việt Nam mới có cơ may thoát khỏi xích xiềng và ách cai trị bạo tàn của chính người đồng chủng từ hơn nửa thế kỷ qua, hay ít ra cũng là từ 38 năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ.


Ghi chú:

(1) Niềm ô nhục và cũng là cái vô luân lý của xã hội Việt Nam ngày nay là sự thể các thiếu nữ bây giờ coi chuyện bán thân lấy tiền là một việc làm chính đáng, viện cớ Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm tội trước họ khi đưa đất nước vào chỗ nghèo đói, khốn cùng. Một bản tin trên nhật báo Người Việt, số ra ngày 23 Tháng Năm, cho biết báo chí Singapore, lân quốc phía Nam của Việt Nam, đã lên tiếng tố cáo “gái Việt rao bán trinh trên mạng.” Nguồn tin này cho biết khách có thể chọn “gái trinh Việt” ở bất cứ địa điểm nào họ muốn, từ sân bay cho đến khách sạn, nhà hàng,...

(2) Từ năm 1975, với cái chết của Việt Nam Cộng Hòa, một trong hai quốc gia đồng cảnh ngộ đất nước bị chia đôi và từng là đồng minh thân thiết trong cuộc chiến chống Cộng tại Việt Nam, con phượng hoàng Ðại Hàn Dân Quốc, nay đang tung cánh bay cao trên bầu trời thế giới, với những sản phẩm kỹ nghệ và điện toán thần sầu, ai thấy mà không yêu thích và kính nể? Gặp nhau trên cõi vĩnh hằng, cố Tổng Thống Lý Thừa Vãn có thể đã nói với cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm câu này: “Dân tộc của ngài coi vậy mà xui xẻo hơn dân tộc chúng tôi quá đỗi!”

(3) Cuối cùng thì cũng dẫn tới cảnh Cả Nước Xuống Hố mà thôi, khi tất cả đều bị nhận chìm xuống đáy Biển Nam Hải (South China Sea) đỏ lừ, chứ đâu có mong gì được chôn xác dưới đáy Biển Ðông xanh ngắt như các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trong trận quyết tử với hải quân Trung Cộng để bảo vệ Quần Ðảo Hoàng Sa của tổ quốc Việt Nam thân yêu hồi năm 1974!

(4) Phải nói rằng Hoa Kỳ, tức là Nixon và Kissinger, đã sai lầm nghiêm trọng khi đưa chủ nghĩa tư bản phồn vinh vào Trung Cộng hồi thập niên 1970, những tưởng chủ nghĩa tư bản rồi ra sẽ đè bẹp chủ nghĩa cộng sản tại quốc gia Á Châu khổng lồ kia. Sự thật, Trung Cộng đã tương kế, tựu kế, khéo léo lợi dụng chủ nghĩa vật chất (materialism), vốn là cùng đích của cả 2 chủ nghĩa tư bản và cộng sản, để đánh lại Hoa Kỳ là nước ham mê vật chất nhất thế giới, qua việc họ đã và đang dùng đồng tiến tích lũy được trong công cuộc cải cách kinh tế để mua chuộc toàn bộ 3 ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp của Mỹ, đặng dần dà quy phục dân tộc Mỹ vào tay người Ðại Hán. Cộng Sản Việt Nam, đệ tử ruột của Trung Cộng, cũng đang xuất chiêu y như vậy đối với những người Việt hải ngoại và cả các thành phần chống đối họ ở trong nước.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tình hình và xu hướng chính trị tại Việt Nam hiện nay

Nguyễn Hưng Quốc

Image
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (trái) và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Theo dõi tình hình chính trị Việt Nam, hầu như giới quan sát, từ người Việt đến người ngoại quốc, đều đi đến kết luận giống nhau: Chưa bao giờ Việt Nam yếu như hiện nay.

Tuy nhiên, nói đến cái yếu của Việt Nam, phần lớn đều tập trung vào quan hệ đối ngoại, chủ yếu giữa Việt Nam và Trung Quốc. Có thể nói, ở châu Á, không có nước nào bị Trung Quốc “ăn hiếp” nhiều như Việt Nam. Với Nhật Bản hay Philippines, họ chỉ dòm ngó một hai hòn đảo; với Việt Nam, họ dòm ngó cả chùm đảo và cả một vùng biển mênh mông. Với các nước khác, lâu lâu họ đưa tàu đánh cá hay tàu hải giám lượn qua lượn lại vài vòng thị uy; với Việt Nam, họ tung tàu đánh cá và tàu hải giám ào ạt như vào chỗ không người, hơn nữa, còn bắt bớ, thậm chí, hãm hại cả ngư dân Việt Nam. Cũng có thể nói, trước sự đe dọa của Trung Quốc, không có nước nào có phản ứng nhu nhược như Việt Nam. Nhật Bản dám dọa đánh chìm tàu Trung Quốc, Philippines đem Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế, còn Việt Nam? Ngay cả một lời lên án, họ cũng không dám nói; và khi, trước áp lực của dân chúng, phải nói, thì chỉ nói một cách… thì thầm. Vừa lên án vừa run lẩy bẩy.

Tuy nhiên, cái yếu của Việt Nam còn thể hiện ở nhiều lãnh vực khác nữa. Phân tích những cái yếu ấy, chúng ta dễ thấy xu hướng phát triển của tình hình chính trị tại Việt Nam hiện nay.

Trước hết là lãnh đạo yếu.

Nói đến lãnh đạo chủ yếu là nói đến đảng Cộng sản, và nói đến “yếu” là nói đến tương quan quyền lực với các thiết chế khác. Công thức phân quyền ở Việt Nam, ai cũng biết, là “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý”. Suốt hơn nửa thế kỷ, hầu như mọi quyền lực đều nằm trong tay đảng. Còn nhà nước, như chính lời thú nhận của Phạm Văn Đồng, người làm Thủ tướng lâu nhất ở Việt Nam (1955-1987), với những người quen: Chưa có ai làm Thủ tướng lâu mà bất lực như ông. Ông không những bị lép vế trước Lê Duẩn, Tổng Bí thư, mà còn bị lép vế cả trước Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đảng. Là Thủ tướng, Phạm Văn Đồng hoàn toàn không có quyền hạn gì trong việc chọn lựa, bổ nhiệm hoặc cách chức các Bộ trưởng hay Thứ trưởng, thậm chí, các giám đốc Sở ở địa phương. Quyền lực tập trung hết trong tay giới lãnh đạo đảng, chủ yếu là Tổng Bí thư. Tuy nhiên, sau Lê Duẩn, rõ ràng quyền lực của Tổng Bí thư cứ giảm dần. Quyền lực của các Tổng Bí thư kế tiếp Lê Duẩn, từ Trường Chinh (14/7/1986-18/12/1986) đến Nguyễn Văn Linh (1986-1991) và Đỗ Mười (1991-1997), không thể so sánh được với Lê Duẩn. Tuy nhiên, dù vậy, họ vẫn giống như những ông vua. Yếu thế, nhưng vẫn là vua. Chỉ từ Lê Khả Phiêu (1997-2001) trở đi, quyền lực của Tổng Bí thư mới bắt đầu mờ nhạt. Hơn nữa, càng lúc càng mờ nhạt. Nông Đức Mạnh (2001-2011) mờ nhạt hơn Lê Khả Phiêu. Đến nay, mờ nhạt nhất là Nguyễn Phú Trọng, người được lên làm Tổng Bí thư từ ngày 19 tháng 1 năm 2011.

Vai trò mờ nhạt của Nguyễn Phú Trọng thể hiện rõ nhất là qua hai lần thua cuộc trước Nguyễn Tấn Dũng. Lần thứ nhất, ở hội nghị Trung ương 6 vào tháng 10 năm 2012, khi Nguyễn Phú Trọng liên kết với Trương Tấn Sang tấn công Nguyễn Tấn Dũng - người được gọi là “đồng chí X” -, nhưng cuối cùng, cả hai đều thất bại. Lần thứ hai, mới đây, ở hội nghị Trung ương 7 vào đầu tháng 5/2013, Nguyễn Phú Trọng lại thất bại trước Nguyễn Tấn Dũng lần nữa khi đề nghị đưa Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị nhưng bị Trung ương đảng bác bỏ. Thế vào đó, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân được bầu. Cả hai đều là người của Nguyễn Tấn Dũng.

Có thể nói, trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, chưa bao giờ có một Tổng Bí thư nào lại thua cuộc một cách thê thảm và nhục nhã đến như vậy.

Nhưng việc Tổng Bí thư và cùng với ông, cả cái Đảng do ông lãnh đạo yếu thế và việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chứng tỏ quyền lực mạnh mẽ của mình như vậy có làm cho chính phủ mạnh hơn không?

Không.

Thủ tướng mạnh. Nhưng chính phủ vẫn yếu. Nguyễn Tấn Dũng mạnh đủ để thoát các đòn tấn công hiểm hóc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nhà nước Trương Tấn Sang, nhưng chính phủ do ông cầm đầu, trên nguyên tắc, vẫn phải được lãnh đạo bởi đảng. Các chính sách lớn vẫn do đảng quyết định.

Như vậy, ở đây, chúng ta thấy một nghịch lý: Người có chức năng lãnh đạo thì yếu; còn người mạnh lại không thể lãnh đạo. Hậu quả là ở Việt Nam hiện nay, giới cầm quyền, từ đảng đến chính phủ, chỉ quản lý (management) chứ không hề có lãnh đạo (leadership). Sự khác biệt căn bản giữa quản lý và lãnh đạo là với quản lý, người ta chỉ làm theo mệnh lệnh và chỉ nhắm tới những mục tiêu ngắn hạn; nhưng khi không có lãnh đạo, người ta vừa không có tầm nhìn xa lại vừa không có mệnh lệnh cụ thể để thực hiện. Một nền quản lý thiếu lãnh đạo bao giờ cũng vừa thiển cận vừa lúng túng, vá víu và đầy mâu thuẫn. Chúng ta có thể thấy rõ những điều đó qua các chính sách và cung cách làm việc của nhà cầm quyền Việt Nam những năm gần đây. Rõ nhất là qua cuộc thảo luận về thay đổi Hiến pháp do chính họ đề xướng. Thoạt đầu, bảo không có vùng cấm trong thảo luận; sau, lại lên án kịch liệt những người kiến nghị. Thoạt đầu, hứa hẹn như một sự thay đổi lớn lao; sau, cứ thu hẹp dần lại. Thoạt đầu, định thay đổi cả tên nước; sau, lại loại bỏ ý định ấy, v.v.. Nhưng nguy hiểm nhất là thái độ lúng ta lúng túng của họ trong việc đấu tranh với Trung Quốc để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ. Ngoài vài lời thề nguyền là sẽ không bán nước, cho đến nay, vẫn không có ai trong giới lãnh đạo phác họa được một chiến lược rõ ràng, chưa nói đến việc có hiệu quả hay không. Một chút rõ ràng cũng không có.

Đảng lãnh đạo yếu, chính phủ cũng yếu, hậu quả tất nhiên là đất nước yếu theo. Tất cả những sự nhu nhược được đề cập ở phần đầu bài viết này đều là hậu quả của hai cái yếu ấy. Ngư dân Việt Nam đi đánh cá ngoài biển cả bị “tàu lạ” đâm chìm, bắt bớ hay giết chết, không có ai can thiệp. Dân chúng hàng ngày phải ăn uống hoặc tiêu dùng những thứ độc hại được nhập cảng chính thức hay qua các con đường không chính thức không hề được ai bảo vệ. Kinh tế ngày càng kiệt quệ, gánh nặng nợ nần trên đầu người càng ngày càng chồng chất, không có ai quan tâm. Những người có lòng với đất nước đứng lên chống lại Trung Quốc bị đối xử như tội phạm. Mở các trang báo ngoại quốc, mỗi khi thấy tin tức về Việt Nam, đoán mười lần đến chín lần đúng: tin xấu. Nếu không phải tham nhũng thì là trấn áp.

Đảng yếu, chính phủ cũng yếu. Vậy thì ai mạnh?

Thứ nhất, các phe phái mạnh.

Thật ra, đảng Cộng sản lúc nào cũng có nạn phe phái. Trong hồi ký của mình, Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Ban chấp hành Trung ương đảng và Tổng biên tập báo Nhân Dân, giám đốc nhà xuất bản Sự Thật, kể, lúc Hồ Chí Minh còn sống và ngay cả trước mặt Hồ Chí Minh, các thành viên trong Bộ Chính trị cũng không thèm nói chuyện với nhau. Hồ Chí Minh khuyên mấy cũng không được. Nhưng, dù vậy, những sự xung khắc ấy chỉ dừng lại ở phạm vi cá nhân. Không có phe hay nhóm nào dám công khai chống lại phe Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Thành ra, Lê Duẩn và dưới bóng Lê Duẩn, Lê Đức Thọ tha hồ tác oai tác quái. Sau này, các phe phái nổi lên rõ hơn, nhưng không có lúc nào các phe phái lại tấn công nhau một cách công khai như bây giờ. Trước, nếu tranh chấp, hầu như chỉ dừng lại trong phạm vi mấy người trong Bộ Chính trị với nhau; bây giờ, chúng bày ra trước Trung ương đảng gồm cả gần 200 người; hơn nữa, còn tràn ra cả trước quần chúng, dù được ngụy trang dưới mật danh “đồng chí X”.

Thứ hai, vai trò của các nhóm lợi ích. Cần nói ngay, ở nước nào cũng có các nhóm lợi ích luôn tìm cách ảnh hưởng đến các chính sách của nhà nước. Ở các quốc gia dân chủ, các nhóm lợi ích ấy có thể là các nhà tài phiệt, các công đoàn, các tổ chức xã hội dân sự, các hội nghề nghiệp, v.v.. Các nhóm lợi ích ấy thường hoạt động công khai, một cách trực tiếp, dưới hình thức kiến nghị hoặc thậm chí, đình công và biểu tình, hoặc qua trung gian các cơ quan lobby chính thức, chuyên đi ngả tắt. Ở Việt Nam, trước đây, ngay cả sự hiện diện của cái gọi là “nhóm lợi ích” như thế cũng không thể có, thậm chí, không thể tưởng tượng được. Thế nhưng gần đây, các nhóm lợi ích ấy lại phát triển rất mạnh và khuynh đảo cả tình hình chính trị Việt Nam.

Theo Trần Kinh Nghị, chiến thắng của Nguyễn Tấn Dũng đối với Nguyễn Phú Trọng trong hai kỳ hội nghị 6 và 7 của Trung ương đảng vừa qua chính là chiến thắng của nhóm lợi ích đối với nhóm bảo thủ. Mới đây, trong bài “Đổi luật chơi trong đảng”, nhà bình luận chính trị Ngô Nhân Dụng cũng có quan niệm tương tự khi cho lý do chính khiến Nguyễn Tấn Dũng chiến thắng liên tiếp là nhờ biết sử dụng một thứ luật chơi mới: dựa trên tiền.

Thường, để cai trị, người ta sử dụng một trong hai, hoặc cả hai yếu tố: quyền và tiền. Quyền để khai thác lòng sợ hãi; tiền để kích thích lòng tham. Trước, người ta chỉ dùng quyền; bây giờ, người ta dùng cả quyền lẫn tiền. Theo Ngô Nhân Dụng:

“Từ khi làm thủ tướng năm 2006, […] Nguyễn Tấn Dũng tập trung quyền điều động các xí nghiệp quốc doanh vào phủ thủ tướng, thay vì chia quyền cho các “bộ chủ quản” theo lối cũ. Từ đó, người đóng vai thủ tướng tạo cơ hội kiếm tiền cho tay chân của mình; phân phát cơ hội kiếm tiền để mua lòng trung thành của đồng đảng. Các ủy viên Trung Ương Ðảng được chia chỗ trong Hội Ðồng Quản Trị của các doanh nghiệp nhà nước. Các chương trình kinh tế đều nhằm tạo cơ hội kiếm tiền cho những thủ túc chứng tỏ lòng trung thành. Khi người dân Việt Nam nhận thấy cả guồng máy cai trị là một mạng lưới tham nhũng chằng chịt liên kết với nhau, người cầm đầu mạng lưới đó là ông thủ tướng.”

Như vậy, cái mà Trần Kinh Nghị gọi là nhóm lợi ích ấy chủ yếu là những kẻ vừa có quyền vừa có tiền. Sức mạnh của Nguyễn Tấn Dũng so với Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang chính là sức mạnh của nhóm lợi ích vừa có quyền vừa có tiền ấy.

Sự thao túng của nhóm lợi ích ấy dẫn đến hai hệ quả:

Thứ nhất, nó tạo ra một vẻ dân chủ giả, thường được gọi là dân chủ trong nội bộ đảng (intra-Party democracy). Bộ Chính trị đề nghị kỷ luật Thủ tướng, Trung ương đảng bác bỏ: Bộ Chính trị chịu thua. Tổng Bí thư đích thân đề cử Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị, Trung ương đảng bác bỏ: Tổng Bí thư chịu thua. Giới quan sát chính trị quốc tế, ở xa, dễ ngỡ đó là dân chủ. Nhưng không phải. Một là, thứ dân chủ nội bộ ấy không biến thành dân chủ xã hội (social democracy). Hai là, nó chỉ là cuộc đấu đá quyền lực trong nội bộ. Chứ không phải là dân chủ.

Thứ hai, sự thắng thế của các nhóm lợi ích vừa có quyền vừa có tiền ấy biến đảng Cộng sản thành một đám mafia không những khuynh loát chính trị mà còn vét kiệt hết tài nguyên của đất nước và tài sản của dân chúng, ngay cả của những người dân chưa ra đời (với số nợ khổng lồ nó tạo ra!).

Điều đáng chú ý là tất cả các hiện tượng trên, từ chuyện đảng và chính phủ yếu đến chuyện phe phái và các nhóm lợi ích mạnh đều cũng xuất hiện ở Trung Quốc. Trong bài “The end of the CCP’s resilient authoritarianism? A tripartite assessment of shifting power in China” đăng trên tạp chí The China Quarterly năm 2012, Cheng Li cũng phân tích các hiện tượng tương tự tại Trung Quốc. Chỉ có hai sự khác biệt lớn. Thứ nhất, ở mức độ: Cũng yếu, nhưng cái yếu của đảng và chính phủ Việt Nam ở mức trầm trọng hơn hẳn ở Trung Quốc. Ở Trung Quốc, quyền hạn của Chủ tịch đảng chưa bao giờ bị thách thức một cách nghiêm trọng như ở Việt Nam. Quyền lực của Tập Cận Bình cũng như của Hồ Cẩm Đào chưa bao giờ lớn bằng Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình nhưng dù sao vẫn nghiêng trời lệch đất; cả Trung ương đảng cũng không dám chống lại. Thứ hai, theo Cheng Li, nhiều nhà phân tích chiến lược tin tưởng: đảng Cộng sản Trung Quốc có thể yếu và càng ngày càng yếu, nhưng đất nước Trung Quốc thì vẫn mạnh.

Còn Việt Nam?

Chính cái mạnh không cưỡng nổi của Trung Quốc là một tai họa cho Việt Nam. Việt Nam càng yếu, cái họa ấy càng lớn.

Theo VoA Blog
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

CÁC ANH ĐÂU RỒI ?

Vậy là ngày mai họ đưa hai người yêu nước Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình ra tòa.

Lại một phiên tòa của những kẻ bán nước xét xử người yêu nước như nhiều phiên tòa từng diễn ra trên đất nước Việt Nam suốt từ 37 năm nay. Những phiên tòa phi lý vô nhân và bất công đã khiến cho hàng chục ngàn gia đình nát tan ly loạn vì người thân của họ vì quá yêu nước mà lụy vòng lao lý tù đày mà không ít người trong số đó, sau phiên toàn rồi không bao giờ trở về nữa.

Và ngày mai này đến lượt các anh phải ra tòa, chỉ bởi các anh đã nói thay cho triệu người Việt Nam về nỗi ưu tư trước thảm họa mất nước, trước nguy cơ bị diệt vong hay đồng hóa của giống nòi.

Có đâu trên thế gian này lòng yêu nước cần phải được kín giấu, nếu không muốn bị xỉ vả, bị đấu tố, bị giam cầm tra tấn và bị tù đày ?

Có đâu trên thế gian này sự gian trá, lường láo, bịp bợm và phản trắc lại được tôn vinh là quang vinh muôn năm, là đời đời sống mãi… ?

Truyền thuyết một mẹ trăm con của Việt Tộc khiến người Việt gọi nhau bằng hai tiếng “Đồng Bào” nghe gần gũi thân thương và cao cả quá, nhưng sao lại mỉa mai và nghịch lý đến thế này, sao lại vị bất đồng chủng mà quay lại giết hại đồng bào mình ?

Sao lại “Quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” mà lại không anh em với những người cùng mình sinh ra từ một bọc trứng ?

Phải chăng vì đất nước này vốn tồn tại nhiều nghịch lý, nên con người ta cảm thấy bình thường trước nghịch lý và phản cảm trước những cái chân thiện mỹ ?

Đâu rồi những ngày sinh viên, trí thức, Phật tử miền nam xuống đường chống lại cuộc chiến tranh ngăn chặn làn sóng đỏ của chính thể Quốc Gia đang bảo vệ nền tự do cho đồng bào Nam Việt trước họa xâm lược của cộng quân Bắc Việt ?

Đâu rồi phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi hát”? Đâu rồi phong trào vận động người dân đấu tranh đòi chấm dứt cuộc chiến chống cộng của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, phản đối sự hiện diện của quân đội đồng minh Hoa Kỳ trên đất nước Việt Nam trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng, đòi lật đổ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, đòi Hoa Kỳ phải rút hết quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam, để cho “Bác cùng chúng cháu hành quân vào Sài Gòn…” đánh đổ giai cấp tư sản xanh để xây dựng nên giai cấp tư sản đỏ ? Để rồi hàng hàng lớp lớp người dân Sài Gòn và cả Miền Nam phải đánh đổi hết cả gia sản và cả tính mạng của mình nữa để vượt biển đi tìm tự do, bởi những bài xích tự do của những sinh viên trí thức này.

Đâu rồi sinh viên y khoa Trương Thìn, Đâu rồi các nhà thơ Lê Văn Ngăn, Lê Gành, Trần Vàng Sao, Trần Phá Nhạc, Đông Trình, Đoàn Khắc Xuyên, Hoàng Nghĩa ? Đâu rồi các nhạc sỹ Trần Quang Long, Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập, Trương Quốc Khánh, Trần Long Ẩn, Nguyễn Văn Sanh, La Hữu Vang, Nguyễn Xuân Tân, Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Nam, Nguyễn Phú Yên,.. Vũ Đức Sao Biển, Xuân An, Hải Hà, La Hữu Vang với "Dậy Mà Đi" "Tổ Quốc Ơi Ta Đã Nghe", "Hát Trong Làn Khói Đạn"?

Đâu rồi các "Hội Tết Quang Trung Sài Gòn" năm 1967 ? Đâu rồi "Đêm nhạc Tôn Thất Lập" ở Đại học Dược khoa Sài Gòn năm 1967 ? Đâu rồi "Đêm thơ nhạc" ở Đại học Sư phạm Huế vào tháng 12 năm 1967 xuống đường, với các chiến dịch đốt xe tăng Mỹ, để đón xe tăng của Nga Sô Trung Cộng vào nghiền nát hàng ngàn đồng bào đang trên đường lánh nạn, trước khi húc đổ cổng Dinh Độc Lập và treo ngọn cờ máu lên nóc dinh để báo hiệu sự cáo chung của một nền tự do dân chủ của dân tộc.

Tôi không biết từ sau ngày miền Nam bị hoàn toàn nhuộm đỏ nhờ sự đóng góp không nhỏ cả các sinh viên, trí thức, thi sỹ, nhạc sỹ và của các anh, đã có ai trong số các anh lại phải cũng đồng bào miền Nam băng rừng, vượt biển đi tìm tự do? Có ai trong số các anh phải vĩnh viễn nằm lại dưới lòng biển lạnh, và co ai đã may mắn đến được bến bờ tự do, để các anh có thể thấy được cái giá trị đích thực của tự do cũng như cái giá mà con người phải trả để đạt được nó. Bởi do cái thói tục ở đời khi người ta đang có cái gì trong tầm tay thì không biết trân trọng giữ gìn, thậm chí còn “xuống đường” chống báng lại nó, để khi nó vuột khỏi tầm tay thì con người ta lại phải quay quắt kiếm tìm mà cuộc tìm kiếm không phải chỉ trả giá bằng bạc vàng mà còn bằng chính cả mạng sống.

Các anh Trương Thìn, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng… Các anh có công lớn lắm trong công cuộc đánh đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi miền nam tự do để tiếp rước đế quốc Đại Hán về cho cả mọi miền đất nước. Lịch sử đảng cộng sản đã ghi nhận công lao của các anh rằng: “Có lẽ trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, chưa có cuộc "ra quân" nào của giới trí thức rầm rộ và có ảnh hưởng trực tiếp, sâu rộng như phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe. Phong trào này đã góp phần không nhỏ trong việc tập hợp thanh niên, học sinh, sinh viên tham gia phong trào đấu tranh tại các đô thị miền Nam Việt Nam trong những năm chiến tranh.”. Vâng, chúng tôi cũng xác nhận rằng các anh là các công thần của chế độ cộng sản. Nhưng hiện giờ các anh đang làm gì? Ở đâu và đang sinh sống ra sao? Sao không xuống đường biểu tình chống Trung Cộng?

Các anh có biết rằng hiện nay, có nhiều người thuộc thế hệ các anh, thuộc thế hệ em, cháu các anh cũng vì lòng yêu nước, nhưng hơi khác các anh một chút- là họ yêu nước mà không yêu CNXH- điểm giống các anh là họ cũng đã làm thơ cũng đã viết nhạc, nhưng thơ của họ đơn sơ, không đồ sộ như những tập san Đồng Dao, Đối Diện, Đứng Dậy của các anh, thơ của họ chỉ mộc mạc như tâm hồn của họ rằng: “Vì Danh Dự Dân Tộc, Chống Giặc Tàu - Vì Tương Lai Đất Nước, Chống Tham Nhũng ” và nhạc của họ cũng giản dị chân chất như tấm lòng người Nam bộ chứ không được đồ sộ như những tập nhạc "Hát cho đồng bào tôi nghe" - tức Chúng ta đã đứng dậy - với lời tựa hùng hồn sắt máu của anh Huỳnh Tấn Mẫm năm xưa. Ấy vậy mà họ đã bị bắt giam cầm, bị tra tấn và ngày mai đây họ phải ra tòa để bị xét xử về tội yêu nước, về ý thức và tinh thần dân tộc chứ không phải tinh thần quốc tế vô sản.

Các anh có biết những vụ việc này không?

Các anh suy nghĩ như thế nào?

Sao các anh không tiếp tục “Hát cho đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi hát” nữa đi?

Sao các anh chỉ biết chống lại những người xây dựng và bảo vệ tự do, mà không dám chống lại những người mang đến thảm họa cho đất nước và tai ương cho dân tộc?

Sao các anh chỉ dám chống lại những người biết tôn trọng các anh, tôn trọng cả phẩm giá làm người của đồng bào các anh, mà các anh không biết chống lại những người đang chà đạp mọi quyền tự do căn bản của các anh và của cả dân tộc này?

Sao các anh chỉ chống lại và bức tử một thể chế chính trị đã xây dựng và bảo về cho các anh đầy đủ mọi quyền tự do, kể cả quyền được chống lại họ mà các anh không biết chống lại một chế độ độc tài toàn trị đã tước đoạt của các anh và đồng bào các anh hết tất cả mọi quyền tự do, dân chủ cũng như quyền làm ngừơi và họ đang cõng rắn về cắn gà nhà và đang rước cả voi về dày mả Tổ?

Các anh Trương Thìn, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng… và các thi sỹ nhạc sỹ, các sinh viên trí thức của Việt Nam đang ở đâu?

SAO KHÔNG XUỐNG ĐƯỜNG?

Nguyễn Thu Trâm
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »


Image

Mảnh ghép cuối của một âm mưu
Le Nguyen
(Danlambao) - Chiến tranh lạnh chấm dứt, kho tài liệu bí mật của nhiều quốc gia mở cửa để cho những ai quan tâm muốn tìm hiểu sự thật lịch sử đến tham khảo và nhiều văn kiện lịch sử liên quan đến ông Hồ Chí Minh, đến đảng cộng sản Việt Nam đã được bạch hóa, chỉ ra Việt Nam Cộng Hòa với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ai mới đích thực là ngụy quyền, là tay sai bán nước?

Đến hôm nay sự thật đã phơi bày, nhiều người biết ông Hồ Chí Minh có trăm tên nghìn mặt, nhận tiền ngoại bang hoạt động tích cực cho cộng sản quốc tế đệ tam và sự thật về cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân chống thực dân đế quốc, cuộc chiến đấu thần thánh chống Mỹ cứu nước. Thật ra rút gọn lại chỉ là ý chí “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” của tên đồ tể Mao Trạch Đông cùng với hành động tự nguyện làm tay sai “ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc” được phát ra từ mồm của ông tổng bí thư Lê Duẩn, đại diện tập đoàn tay sai bán nước, đảng cộng sản Việt Nam.

Sự thật lịch sử về bác đảng đã được phơi bày “lõa lồ” khó che đậy dưới thời đại kỹ thuật số nhưng bản chất bịp bợm dối trá thâm căn cố đế có nguồn gốc bác đảng vẫn tồn tại và di họa đáng sợ do bác đảng gây ra cho đất nước dân tộc Việt Nam vẫn còn đang tiếp diễn.

Một trong những di họa của bác đảng là chuỗi mật ước, hiệp ước gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và di họa này chính là bức công hàm bán nước mờ mờ ảo ảo, nửa công khai nửa bí mật do ông Phạm Văn Đồng, cố thủ tướng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký ngày 14/09/1958 lên tiếng ủng hộ tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng ngày 04/09/1958 dưới sự chỉ đạo sâu sát của bác đảng

Ngay thời điểm công bố, không ai biết đó là công hàm bán nước, trừ những kẻ lãnh đạo chủ động thực hiện hành vi “làm ra, phát tán” bởi nội dung công hàm Phạm Văn Đồng không có chữ nào liên quan đến Hoàng Sa, Trường sa là của Trung Cộng cả, công hàm chỉ lên tiếng ủng hộ chung chung về chủ quyền lãnh hải của nhà nước Trung Cộng.

Sự thật thì nhân dân Việt Nam, kể cả đảng viên trung, cao cấp của cộng đảng Việt nam cũng không hề biết cũng như không tiếp cận được với bản tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, nghĩa là công hàm gián tiếp công nhận Hoàng Sa, Trường sa thuộc về Trung Cộng nhưng có mấy ai được hiểu, được biết sự thật về bức công hàm!...

Mãi cho đến giai đoạn khốc liệt nhất của chiến tranh huynh đệ tương tàn, cộng sản quốc tế dốc toàn lực xe tăng, đại pháo...thúc đẩy tập đoàn lính đánh thuê cộng sản Bắc Việt đánh chiếm Miền Nam tự do thì gần 20 năm nằm mai phục, năm 1974 Trung Cộng ra tay, chúng xua tàu chiến cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam trước sự im lặng đồng lõa của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Miền Bắc.

Bị ngoại bang xâm phạm chủ quyền là vấn đề lớn của đất nước và để đối phó với sự trỗi dậy của tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam bởi sự xâm lăng của Trung Cộng. Đảng cộng sản Việt Nam không dám khinh thường, chúng vận dụng tuyên giáo mở hết công suất loa đài tuyên truyền định hướng dư luận như “...Hoàng Sa là đảo chim ỉa không giá trị chi cả...nước bạn xã hội chủ nghĩa anh em đánh chiếm giữ hộ khi Việt Nam thống nhất, bạn sẽ trả lại cho ta...” và cho đến khi công hàm Phạm Văn Đồng bị lộ, bộ phận tuyên giáo vẫn chống chế ngụy biện rằng “...công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi đến nước bạn vì lý do hoàn cảnh...chứ đảng, nhà nước ta đâu có công nhận Hoàng, Trường Sa là của Trung Cộng...”

Mùa Xuân năm 1975, cộng sản Bắc Việt hoàn thành nhiệm vụ làm tay sai cộng sản quốc tế nhuộm đỏ Miền Nam cũng là lúc Trung Cộng lộ dần ý đồ lãnh thổ và lộ rõ tham vọng bá quyền Đại Hán. Chúng giật dây tay sai khờ me đỏ quấy phá biên giới Tây Nam, chủ động mở chiến tranh xâm lược đánh phá toàn tuyến biên giới phía Bắc và cho đến lúc toàn khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu, cả thành trì xã hội chủ nghĩa Liên Xô sụp đổ, cộng sản Việt Nam quay trở lại Thành Đô, Trung Quốc năm 1990, ký kết mật ước tiếp tục làm tay sai cho Trung Cộng.

Tiếp theo sau hội nghị Thành Đô là hiệp ước lãnh thổ năm 1999 giao đất biên giới Ải Nam Quan, nửa Thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm, Núi Lão Sơn... và hiệp ước lãnh hải năm 2000 mất hơn chục nghìn cây số vuông vịnh Bắc Bộ về tay Trung Cộng. Hành động bán nước rành rạnh không thể chối cãi của cộng đảng Việt Nam đã gặp sự phản ứng quyết liệt của những người Việt Nam yêu nước và để che dấu hành vi bán nước, đảng cộng sản Việt Nam tuyên truyền bịp bợm đổ cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá, nói xấu đảng nhà nước chứ “đảng ta” vì dân, vì nước... không hề bán nước cho Tàu!

Bên cạnh đó đảng chỉ đạo tay chân ra tay trấn áp những ai vạch trần bộ mặt thật của cái gọi là hiệp ước phân định biên giới. Mãi cho đến bây giờ cộng đảng Việt Nam không hề công khai trưng dẫn bản đồ biên giới lãnh thổ, lãnh hải mà hai đảng Việt – Trung đã thậm thụt ký kết với nhau và mọi người chỉ với con mắt thường vẫn thấy một phần đất đai, biển đảo của Việt Nam “có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý...” đã thuộc về Trung Cộng?

Đứng nhìn những phần lãnh thổ mất dần vào tay giặc và đứng trước hành động hung hăng, ngang ngược đến độ man rợ rượt đuổi, bắt giữ, bắn giết ngư dân ta trên Biển Đông. Những người con yêu của tổ quốc đã không thể ngồi yên, khởi đầu từ một số ít lên tiếng cảnh giác âm mưu xâm lược trên các trang mạng lề dân đến số đông rầm rập xuống đường bày tỏ thái độ với kẻ thù truyền kiếp Phương Bắc, chịu sự trù dập bắt bớ đánh đập dã man của côn an côn đồ cộng sản và tất cả đều không sờn lòng.

Từ những trải nghiệm thực tế đắng lòng đó giúp cho người dân dần nhận diện sự bạc nhược hèn kém, bán nước để giữ đảng, thà mất nước chứ không để mất đảng của cộng sản Việt Nam nên người dân yêu nước đã nhận ra sự thật để chuyển biến nhận thức. Từ nhắc nhở ôn hòa “Hãy Cảnh Giác Với Bắc Triều” như Luật Sư Lê Chí Quang của hơn thập kỷ trước, bước sang hành động quyết liệt, kiên quyết với cả ngoại xâm lẫn nội thù qua tư duy “...Tàu khựa cút khỏi Biển Đông... Đi chết đi đảng cộng sản Việt Nam bán nước...” như hai sinh viên Phương Uyên – Nguyên Kha.

Dưới sức ép ngày càng gia tăng của người dân yêu nước vượt qua sợ hãi lên tiếng đòi hỏi đảng cộng sản đưa ra những biện pháp cụ thể hiệu quả thích hợp đối với kẻ thù xâm lược bởi họa mất nước không còn là nguy cơ tiềm ẩn nữa mà nó đã diễn biến xấu đi theo từng ngày và đòi hỏi đảng cộng sản phải ngưng ngay hành động trấn áp nhân dân, ru ngủ nhân dân qua các luận điệu mỵ dân, diễn trò như “...để đảng nhà nước lo...Trung Quốc Không sợ các tờ truyền đơn...góp đá cho trường sa...xuống đường biểu tình chỉ làm cho tình hình phức tạp...yêu nước sao không tình nguyện ra giữ đảo?...”

Song song với lập luận tuyên truyền bịp bợm nhỏ lẻ vớ vẩn trẻ con của tuyên truyền viên, dư luận viên theo bài bản tuyên giáo để che dấu sự thật, lừa gạt nhân dân, là những phát ngôn của các ông lãnh đạo đảng, nhà nước được oang oang phát đi phát lại đến phát nhàm trên các phương tiện loa đài, trên các diễn đàn quốc gia lẫn quốc tế có cùng một nội dung có nhiều phần ngớ ngẩn đến độ buồn cười như bài phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng tại đối thoại Shangri - La ở Singapore vào ngày 31/05/2013 mới đây:
Image
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Đối thoại Shangri-La. Ảnh: VGP.
“... Chúng tôi mong muốn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc một khi nguyên tắc độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi được cam kết và nghiêm túc thực hiện...

...Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào và không để nước ngoài nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam không liên minh với nước này để chống lại nước khác...

...Việt Nam trước sau như một kiên trì nguyên tắc giải quyết bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Các bên liên quan đều phải kiềm chế, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực...

...Việt Nam khẳng định tuân thủ nhất quán Tuyên bố nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông; nỗ lực làm hết sức mình cùng ASEAN và Trung Quốc nghiêm túc thực hiện DOC và sớm đạt được COC.

...Là quốc gia ven biển, Việt Nam khẳng định và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình theo đúng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982...” (1)


Chúng ta thấy toàn văn bài phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ có một ý “niềm tin chiến lược” được gọi là mới “lạ” đến độ kỳ cục! Sự thật thì khái niệm niềm tin chiến lược (strategy trust) là ý tưởng vay mượn của ông Tập Cận Bình phát biểu trong chuyến Mỹ du vào tháng 02/2012 đã bị các còm sĩ bóc trần trên diễn đàn báo lề dân và đa phần nội dung của bài phát biểu liên quan đến chủ quyền biển đảo chỉ tập trung lại nội dung cũ rích những lời phát biểu của các lãnh đạo đảng, nhà nước cộng sản đã từng nói trước đây.

Thế nhưng, các ông bà kính đảng yêu bác Hồ cứ tin rằng những lời lu loa, giải quyết chủ quyền Biển Đông bằng biện pháp hòa bình dựa trên cơ sở UNCLOS (Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển năm 1982), DOC (Tuyên Bố Về Cách Ứng Xử trên Biển Đông), COC (Bộ Quy Tắc Ứng Xử Trên Biển Đông) là chiến lược khôn ngoan của lãnh đạo đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam mà không nhận ra rằng UNCLOS (2), DOC (3), COC (4) là mảnh ghép cuối cùng của âm mưu cướp trắng Biển Đông có sự tiếp tay của ngụy quyền tay sai bán nước cộng sản Việt Nam!

Nói thẳng ra là đến nước nầy rồi thì luật pháp quốc tế UNCLOS, DOC, COC đã trở thành vô dụng bởi bằng chứng pháp lý mà cộng đảng Việt trao cho Cộng đảng Tàu cùng với cái bẫy giải quyết tranh chấp song phương, không quốc tế hóa Biển Đông trên cơ sở 16 chữ vàng 4 tốt tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Cộng có thời gian thành lập thành phố Tam Sa xua tàu chiến giả dạng tàu cá, tàu hải giám tràn ngập Biển Đông và Trung Cộng đã tỏ rõ lập trường về Biển Đông qua lời phát biểu của tên trung tướng Thích Kiến Quốc, phó tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Hoa tại diễn đàn đối thoại Shangri-La:

Image
Trung Tướng Thích Kiến Quốc, Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc phát biểu tại Đối thoại Shangri-La
tại Singapore vào ngày 02 tháng 6 năm 2013.
“...ai cũng hiểu tại sao tàu chiến trung Quốc lại tuần tra ở Biển Đông...Trung Quốc có chủ quyền ở vùng biển này...đó là lập trường rất rõ ràng, và những hoạt động của hải quân Trung Quốc ở các vùng biển này là hợp pháp, không phải tranh cãi...” (5)

Hẳn trong chúng ta ai cũng thấy, nếu Trung Cộng có đầy đủ bằng chứng mua bán, sang nhượng chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa từ đảng cộng sản Việt Nam thì Việt Nam dù có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý không thể trang cãi...cũng không thể thắng được bằng chứng pháp lý mà Trung Cộng được cộng sản Việt Nam nhận tiền hoặc giá trị vật chất tương đương trao tay và COC sẽ là mảnh ghép pháp lý cuối cùng cho chủ quyền Hoàng, Trường Sa để đại diện Trung Cộng tự tin, mạnh miệng tuyên bố “...hoạt động của hải quân Trung Quốc ở các vùng (lưỡi bò) biển (Đông) này là hợp pháp, không thể tranh cãi...”

Có lẽ, những gì xảy ra trong quá khứ xa của bác đảng và các động thái trong thời gian gần của lãnh đạo đảng cộng sản Việt nam hiện tại liên quan đến đất đai, biển đảo thì số phận lãnh thổ, lãnh hải trong đó có Biển Đông của ông cha ta để lại đã an bài. Do đó, muốn xoay chuyển tình thế, muốn bảo vệ chủ quyền ngăn chận hiểm họa mất nước, giành lại những gì Việt Nam đã mất vào tay giặc phương bắc, không còn cách nào khác là phải loại bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam và thay thế thể chế chính trị độc tài man rợ bằng thể chế chính trị dân chủ văn minh.

Le Nguyen
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Obama Đón Tập Cận Bình...

Tác giả : Trần Khải

Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama sẽ đón Tập Cận Bình để họp Thượng Đỉnh ở một trang trại Nam California vào Thứ Sáu và Thứ Bảy này.

Đề tài thì nhiều lắm. Từ an ninh, tới thương mại, tới tin tặc, tới nhân quyền.

Nhưng tại sao lại đưa về nơi sa mạc Palm Springs, nơi nóng thê thảm và động đất thường xuyên, để đón họ Tập? Có phải vì Obama muốn tiện đường bay lên San Jose sau đó để gây quỹ cho Đảng Dân Chủ. Chuyện gây quỹ là chuyện nhỏ, nên thấy như thế. Thêm nữa, phi cơ bay nhanh lắm, đâu phải chuyện người xưa phải võng, phải cáng, phải ngồi lưng ngựa ngày dài tháng rộng.

Hay phải chăng Obama muốn dụ Tập Cận Bình tới gần Little Saigon (lái xe cỡ 1 giờ và 38 phút, từ Little Saigon tới Palm Springs) để dân gốc Việt và gốc Tây Tạng rủ nhau tới biểu tình cho dễ?

Không hẳn như thế. Obama không nghĩ tới chuyện như thế. Nhưng hẳn là đã từng đắn đo, rằng có nên trải thảm đỏ Bạch Ốc để đón Tập Cận Bình hay không?

Nếu đón họ Tập ở Bạch Ốc, nghĩa là sẽ thêm hào quang cho họ Tập, thêm cả hào quang cho phu nhân họ Tập là bà Bành Lệ Viện, vốn đã là một ngôi sao âm nhạc ở Bắc Kinh và mang quân hàm Thiếu Tướng quân lực Trung Quốc.

Trong khi đó, tội nghiệp cho các nhà bất đông chính kiến đang bị giam hay quản chế ở Bắc Kinh, mà Obama từng lớn tiếng đòi trả tự do, như Giải Nobel Hòa Bình 2010 Lưu Hiểu Ba, người chấp bút viết lên hiến Chương 08 đòi tự do dân chủ tại Trung Quốc và bị giam từ năm 2009 tới giờ.

Thêm nữa, cũng chẳng thể vui gì, nếu Obama đón Tập Cận Bình trong khi số người tự thiêu ở Tây Tạng đã khoảng 120 người rồi.

Nhung hãy nhìn thấy, Obama đã đón các nhân vật khác trang trọng, mới thấy rằng Obama rủ Tập Cận Bình ra sa mạc Nam Cali hẳn là có lý do.

Obama đã đón Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Phòng Bản Đồ của Bạch Ốc vào ngày 16-7-2011, và chấp nhận để bị Trung Quốc phản đối. Tại sao đón ở Phòng Bản Đồ? Có phải là để chỉ lên một góc thiệt cao ở Hy Mã Lạp Sơn, rằng có một vùng khoanh lại, ghi rõ chữ “quốc gia Tây Tạng”? Chúng ta không biết chính xác, nhưng hẳn là có lý do vậy.

Obama cũng đón lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi ở Phòng Bầu Dục của Bạch Ốc ngày 19-9-2012. Phòng này là nơi làm việc, nên có ý nghĩa là thảm đỏ trang trọng.

Obama đón cựu tướng Thein Sein, người trở thành Tổng Thống Miến Điện đầu tiên sau khi ông này chuyển cả nước từ nền quân phiệt sang chế độ dân chủ đa đảng tuyệt vời. Lần này cũng ở Phòng Bầu Dục của Bạch Ốc.

Thế rời, ngày 21-3-2013, Obama đón người viết blog nổi tiếng nhất của Cuba là cô Yoani Sanchez tại Bạch Ốc, người bị chế độ Fidel Castro xem là chống lại thiên đường cộng sản của Cuba.

Như thế, Obama muốn đón ai thì đón, bất kể làm mích lòng người này, nhà nước kia.

Vậy thì tại sao đón Tập Cận Bình ở sa mạc Nam Cali, nơi bước ra phố là nóng kinh khủng?

Hẳn nhiên không phải vì bênh vực Biển Đông của Việt Nam nơi các lãnh tụ Hà Nội cam kết sẽ có niềm tin chiến lược để duy trì hòa bình, ổn định... với đàn anh Phương Bắc?

Hay phải chăng, Obama muốn chứng tỏ rằng Obama trải thảm xương rồng để đón Tập Cận Bình?

Nhưng Việt Nam có thành vấn đề gì không, khi Obama đón Tập Cận Bình? Chúng ta không biết, và có thể đoán là không có đề tài thảo luận đó, may ra là đề tài ổn định Châu Á -- cả vùng biển, và hàng không.

Nhưng hẳn là Obama cũng biết rằng Việt Nam đang có những chuyển động làm Bắc Kinh không hài lòng, vì những cuộc biểu tình chông Trung Qu6c. Và cụ thể, giới trí thức, nhân sĩ trong các Kiến Nghị và Thư Ngỏ luôn luôn kể tội Trung Quốc âm mưu lấn chiếm Việt Nam và cứ đòi Hà Nội phải chuyển sang chế độ đa đảng để thóng nhất ý chí toàn dân nhằm chống Tàu...

Hôm 6-6-2013 cũng là ngày có một chuyển động mới ở VN: bản văn có tên “Phản Đối Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Trình Quốc Hội Khóa XIII Tại Kỳ Họp Thứ 5” đã phổ biến trên mạng Bauxite VN, mang chữ ký 40 trí thức.

Bản văn từ các vị naỳ, nguyên còn có tên là những người thực hiện Kiến Nghị 72.

Bản văn mới nói rõ: cần dẹp bỏ chế độ độc đảng, để chuyển sang đa đang, đoàn kết toàn dân để chống Tàu.

Bản văn 40 trí thức ký tên này viết, trích:

“Dự Thảo Hiến Pháp (DTHP) vẫn khăng khăng bám giữ thể chế toàn trị của một đảng gắn với ý thức hệ và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin, một học thuyết tuy đã có vai trò lịch sử nhất định trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc nhưng nay đã bị thực tế chứng minh rõ là không tưởng và có nhiều sai lầm được coi là nguyên lý xây dựng xã hội mới, dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị-xã hội ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa cách đây hơn hai mươi năm, và vì vậy đã bị loài người tiến bộ bác bỏ.

Việc hiến định sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với xã hội và nhà nước là biểu hiện rõ nét nhất của tinh thần phản dân chủ; tự nó đã khiến cho những điều ghi trong DTHP về quyền lực của nhân dân và của các tổ chức do dân bầu cũng như các quyền cơ bản của con người và của công dân chỉ là cái vỏ, không có thực chất, như đã thể hiện rõ trong thực tế nước ta nhiều năm qua.

Duy trì sự độc quyền toàn trị của giới cầm quyền nhân danh ĐCSVN chi phối toàn bộ quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị là nguyên nhân cơ bản khiến cho đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và đang bị thách thức trầm trọng về nhiều mặt như hiện nay. Sự độc quyền toàn trị cũng là nguyên nhân gốc hủy hoại vai trò lãnh đạo của ĐCSVN... (...)

Chúng tôi tin tưởng đồng bào trong và ngoài nước nhận rõ việc sửa đổi Hiến pháp lần này là cơ hội thuận lợi để cải cách thể chế chính trị, đòi hỏi phải kiên trì đấu tranh để từng bước dân chủ hóa xã hội, xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân, vì dân, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Quá trình đấu tranh này cũng là quá trình hòa giải, hoà hợp dân tộc, khép lại quá khứ, vượt qua mọi định kiến, hướng tới tương lai của đất nước và dân tộc. Mỗi người chúng ta, tùy theo cương vị và hoàn cảnh của mình hãy góp sức một cách thiết thực và hiệu quả vào quá trình vận động dân chủ bằng các hình thức đấu tranh ôn hòa, công khai, minh bạch...” (hết trích)

Viết như thế là đúng tinh thần của những khách quý của Obama, những người mà Obama đã trải thảm đỏ ở Bạch Ốc để đón linh đình.

Viết như Kiến nghị 72 và bản văn 40 người ký tên mới hôm qua là đúng tinh thần của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Thein Sein, Aung San Suu Kyi, cô Yoani Sanchez...

Còn với những người hắc ám thì đưa ra đón ở trang trại ngoài sa mạc Nam Cali, nơi Palm Springs thành phố nóng thê thảm và ưa động đất. Và không chừng trong khi tiếp đón Tập Cận Bình, Obama sẽ nhủ thầm rằng làm sao cho xảy ra một trận động đất nhằm cho Tập Cận Bình và Bành Lệ Viện hoảng hốt chơi...

Điều chúng ta biết chắc rằng: Obama không ưa bất kỳ tay độc tài nào cả. Dù là độc tài Bắc Kinh, hay độc tài Hà Nội.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Image

Giáo sư G.Chang vẫn khẳng định: Trung Quốc sẽ sụp đổ
VOA (Vietnamese)
Gordon Chang là một giáo sư, một học giả Hoa Kỳ gốc Trung Quốc, từng viết nhiều sách và bài báo về tình hình chính trị-kinh tế-tài chính của Trung Quốc. Ông cũng là nhà bình luận có tiếng của tạp chí Forbes , một tạp chí lớn về kinh tế - tài chính, ra đời từ năm 1917, mỗi tuần ra 2 số, có trụ sở ở New York.

Năm 2001, ngay khi Trung Quốc vừa được gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế WTO, Gs Gordon Chang cho ra mắt cuốn sách The coming collapse of China (Sự sụp đổ sắp đến của Trung Quốc).

Cuốn sách trình bày một loạt «quả bom nổ chậm» của Trung Quốc, đó là dân số quá lớn, lại đang phát triển nhanh; mâu thuẫn giữa thành thị phát triển nhanh với nông thôn quá trì trệ; vùng duyên hải phát triển quá mạnh với vùng nội địa phát triển chậm; mâu thuẫn giữa các dân tộc, đặc biệt là dân Tây Tạng, Uighur với dân tộc đại Hán; mâu thuẫn thế hệ giữa tuổi trẻ am hiểu thế giới xung quanh qua máy điện toán, Twitter, Facebook, điện thoại cầm tay với lãnh đạo bảo thủ lạc hậu; mâu thuẫn giữa khối người theo Pháp Luân Công với chế độ cảnh sát trị…

Những quả bom nổ chậm ấy đang ngấm ngầm phá vỡ cái vỏ ổn định bên ngoài của chế độ, và đến độ nào đó sẽ phát huy tác dụng tổng hợp, thúc đẩy nhau đưa chế độ độc đảng đến tình trạng bùng nổ vỡ tung như ở Liên Xô năm 1991.

Trong kết luận của cuốn sách nói trên, Gs Chang phỏng đoán rằng chỉ trong chừng 10 năm nữa, Trung Quốc sẽ tan vỡ, sụp đổ, nghĩa là vào khoảng 2011-2012.

Gần đây, một số bạn đọc của tạp chí Forbes, và trên mạng Forbes.com, hỏi rằng đến thời điểm này, Gs Chang có còn giữ chính kiến trên đây nữa không?

Bài báo mới vào tháng 2-2012 của Gs Chang trên tạp chí Forbes là để trả lời câu hỏi đó. Bài báo kết luận một cách chắc nịch: «Tôi không thấy có lý do nào để từ bỏ kết luận 10 năm trước. Thực tế càng khẳng định kết luận ấy».
Image
Giáo Sư Gordon Chang, tác giả quyển "The Coming Collapse of China"
Ông giải thích thêm về lập luận của ông như sau:
- Thời kỳ vàng son cho sự phát triển do Đặng Tiểu Bình phát động cuối những năm 1980 đã qua; mỗi chu kỳ phát triển thường không thể quá 30 năm; đà phát triển đã cạn, lợi thế của sự chấm dứt chiến tranh lạnh cũng cạn theo; quả ngọt của dân số tăng làm tăng sức lao động đã thành quả đắng về dân số.
- Mới đây Bắc Kinh quyết định không cho công ty nước ngoài mua lại các công ty nội địa và chủ trương tái quốc hữu hoá một số công ty đã cổ phần hóa là những bước lùi về đường lối.
- Từ năm 2008, thị trường quốc tế đổ vỡ, nhu cầu quốc tế sụt giảm mạnh, Trung Quốc bị thiệt rất lớn khi đồng Euro bị khủng hoảng.
- Nhu cầu tăng lương cho người lao động toàn xã hội không thể trì hoãn, chi phí quốc phòng tăng quá lớn, chi phí y tế, giáo dục không tăng- trên thực tế là giảm tính theo đầu người - sẽ dẫn đến nhiều khó khăn gay gắt, thảm họa xã hội chồng chất.
- Dự trữ ngoại tệ tuy rất lớn nhưng đã giảm nhanh, do lạm phát cao, lại do tiền chạy ra nước ngoài theo khối lượng lớn, đặc biệt là từ tháng 9-2011.
- khủng hoảng kinh tế ngày càng đậm nét, đơn đặt hàng công nghiệp giảm mạnh, ô tô không còn bán chạy, bong bóng tài sản và nhà cửa phình to có nguy cơ nổ bất cứ lúc nào.
- Năm 2010 đã có 150.000 cuộc đấu tranh, biểu tình, bạo loạn, đánh bom, tự thiêu … nói lên sự bất mãn của quần chúng; năm 2011 lên đến 280.000 cuộc; kỷ lục này sẽ bị vượt trong năm 2012. Đúng vậy, sang năm 2012, số thanh niên, nhà tu hành, nhà sư tự thiêu tăng nhanh; các vụ nổi loạn, đập phá cơ quan chính quyền, công an ở Tây Tạng, Uighur liên tiếp nổ ra, người theo Pháp Luân Công ngày càng gan góc, những bloggers trí thức trẻ tuổi ngảy càng đông thêm và bất khuất…
Đúng vào khi Gs Gordon Chang dự đoán sự sụp đổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không còn xa, đảng CS bãi chức ông Bạc Hy Lai, ủy viên Bộ Chính trị đang lên, đưa ông ra khỏi chức vụ bí thư thành uỷ Trùng Khánh, sau vụ ông Vương Lập Quân, phó thị trưởng đặc trách ngành công an, xin tỵ nạn chính trị tại lãnh sự quán Hoa Kỳ tại đây nhưng bị từ chối.
Ông Tập Cận Bình, người sẽ thay ông Hồ Cẩm Đào trên cương vị tổng bí thư kiêm chủ tịch nước tại Đại hội Đảng lần thứ 18 vào cuối năm nay, cũng vừa đưa ra nhận định rất bi quan: «Trung Quốc đang là nơi tập trung mọi thứ thối nát», trong khi đương kim Thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng nhận định là cần phải thay đổi nhiều về kinh té - tài chính và chính trị để tồn tại, nhưng thay đổi ra sao, thay đổi đến đâu thì không ai dám nói rõ. Vì không thay thì bế tắc, thế cùng tất biến, mà thay cả hệ thống thì cũng là biến, là bế tắc và đổ vỡ cho chế độ độc đảng.

Gs Chang là nhà trí thức am hiểu thời cuộc, một nhà bình luận có uy tín của tạp chí Forbes, không phải là nhà xem bói, đoán mò, bấm độn. Ông đoan chắc chế độ cộng sản ở Trung Quốc đang đi dần đến bờ vực. Ông khẳng định rằng « trước những diễn biến hiện tại của tình hình, ông không có lý do nào để từ bỏ dự đoán về sự sụp đổ không xa của Trung Hoa Cộng sản ». Cuốn sách The coming collapse of China (Sự sụp đổ sắp đến của Trung Quốc) vẫn còn nguyên giá trị.
Chúng ta hãy theo dõi tình hình và chờ xem.
mudo
Posts: 21
Joined: Sat May 29, 2010 7:40 am
Contact:

Post by mudo »

VN: Biểu Tình Chiến Thuật Mới
Tác giả : Vi Anh

Không có cái khôn nào hơn cái khôn bình dân.Văn chương bình dân là của dân chúng, ca dao, tục ngữ, hát ru, v.v... bao hàm tất cả mọi phạm trù của cuộc sống, mọi bộ môn khoa học kỹ thuật, thì đâu có nhà bác học nào qua nổi. Dân giàu, nước mạnh nói cái khó nó bó cái khôn. Dân nghèo, nước yếu, hoàn cảnh bị thiếu thốn, áp bức bóc lột, phải cố gắng bắt cái khó ló ra cái khôn, biến đau thương thành hành động để sống còn, biến giấc mơ vươn lên thành hiện thực. Những chân lý có vẻ ngược đời này có thể thấy qua cuộc biểu tình của người dân Việt Nam nói chung sống trong gọng kềm CS, Mới đây người dân Việt trong nước thực hiện một chiến thuật biểu tình mới trong hoàn cảnh Đảng Nhà Nước CSVN độc tài đảng trị toàn diện gia tăng trấn áp người dân yêu nước nghiệt ngã nhứt, thô bạo nhứt trong mấy tuần lễ vừa qua. Nghe rồi đọc lại phóng sự rất lý thú, đầy đủ thông tin, nghị luận và âm chứng của những người trong cuộc, của biên tập viên Mặc Lâm của Đài Phát Thanh Á châu Tự do, RFA, ngày 4 tháng 6 năm 2013, người Việt hải ngoại cảm thấy thán phục đồng bào yêu nước thương dân đang cố gắng uốn mình qua ngỏ hẹp, tương kế tựu kế biểu tình chống Trung Cộng. Vì bị Đảng Nhà Nước VNCS đàn áp nghiệt ngã, bạo tàn. Nên trong khó khổ đồng bào ló ra cái khôn là chiến thuật mới biểu tình đầy sáng tạo ít ai ngờ nhưng rất hữu hiệu.

Một là “biểu tình nằm”. Nhớ cách đây mấy năm, Hoà Thượng Thích Quảng Độ, một nhà tu trong thời VN bị pháp nạn và quốc nạn do CS gây ra, số ngày tù CS của Ngài nhiều hơn số ngày ở ngoài, có kêu gọi “ biểu tình tại gia”. Lúc bấy giờ có người nói biểu tình là xuống đường, biểu thị sư chống đối hay ủng hộ mà ở nhà thì biểu tình cái nổi gì. Nhưng suy cho cùng, nghĩ cho cạn, thì đó quả là một chiến thuật vô cùng lợi hại. Đó là chống Cộng nhưng tự bảo vệ được mình, mình có còn tự do, thì mới còn chống Cộng được. Như những đồng bào trong nước đang lợi dụng Hiền Pháp của CS về quyên công dân hữu danh vô thực để đấu với CS hiện thời. Biểu tình tại gia là tẩy chay CS, gạt CS ra ngoài xã hội, ngoài cuộc đời, thì kinh tế, chánh trị gì của CS cũng chết hết. Hành động của CS đối với dân như CS đấm vào khoảng chân không.

Bây giờ bà con cô bác mình ở trong nước làm cho CS bối rối, mất bình tĩnh, bằng cách “ biểu tình nằm”. Phóng sự RFA phát lời của nhà báo tự do JB Nguyễn Hữu Vinh nói lên áp phê của chiến thuật này như sau: ”Hình ảnh hàng chục người nằm im lặng giữa đường bên cạnh những chiếc xe công vụ còn công an thì đứng nhìn mà không kịp nghĩ ra biện pháp nào đối phó cho thấy đám đông quần chúng thật sự dấn thân vào việc biều tình và hoàn toàn có khả năng đáp ứng với tình thế mới nều bị đàn áp thô bạo.

Hai, đem trẻ em đi biểu tình. “Chị Trần Thị Nga, một người nổi tiếng vì công khai tố cáo những hành vi lừa đảo của nhiều doanh nghiệp nhà nước trong việc xuất khẩu lao động sang Đài Loan vì vậy trong thời gian gần đây chị liên tục bị công an sách nhiễu và đi bất cứ đâu cũng bị theo dõi và trù dập. Trong cuộc biểu tình lần này chị bị bắt và mang con theo vào trại Lộc Hoà.

Thử tưởng tượng người dân và báo chí quốc tế bất bình thế nào khi thấy công an, côn đồ bắt trẻ em vào nhốt trong gọi trại phục hồi nhân phẩm nổi tiếng chuyên giam dân xì ke, ma tuý, đỉ điếm. Chắc chắn truyền thông chuyên nghiệp sẽ không bỏ qua những tin và hình này. CS Hà nội sẽ gục mặt nhục nhã trước thế giới.

Ba là nhảy qua cửa sổ xe khi công an chở về trại giam. Chị Bùi Minh Hằng người bị bắt thẩy lên xe đưa đi nói “Người trên xe đấu tranh rất dữ bởi vì không có lý do gì để bắt họ, họ đấu tranh rất quyết liệt. Sau đó một số người khi xe chạy qua cầu đã đòi nhảy qua cửa ô tô xuống cầu, họ chấp nhận cái chết. Khi ấy chúng tôi phải giữ họ lại vì thấy rất nguy hiểm. Lúc xe ngừng đèn đỏ ở một số chỗ thì một số người biểu tình nhảy xuống vì họ không chịu chấp nhận bị bắt vô lý như vậy. Còn lại trong xe có bốn năm người bị chở về trại Lộc Hà trong đó có hai phóng viên nước ngoài.”

Bốn là công khai, dũng cảm biểu tình đông hơn các kỳ trước, người trẻ nhiều hơn người lớn tuổi vì chấp nhận đau thương. Phóng sự RFA viết, “Cuộc biểu tình chống Trung Quốc diễn ra tại Hà Nội lần này có nhiều sắc thái khác biệt hơn những lần trước. Người đi biểu tình công khai cho chính quyền biết ngày giờ và địa điểm..Không ai trong nhóm biểu tình tỏ ra sợ hãi mặc dù có rất nhiều người tham gia biểu tình lần đầu tiên và họ đã chấp nhận đối diện với những côn đồ cũng như công can chìm nổi.” Phụ nữ cũng tăng và nhiều người ngạc nhiên vì có cả trẻ em 5 tuổi được mẹ bồng đi biểu tình và cùng bị bắt vào trại Lộc Hà với mẹ.

Năm là biểu tình xa luân chiến. Chị Bùi minh Hằng nói với RFA, “Sau khi họ bắt đoàn biểu tình lần thứ nhất thì người dân lại tiếp cục biều tình lần thứ hai. Lần thứ hai họ lại bị bắt lên xe buýt thì họ lại biều tình lần thứ ba... cuốc biểu tình xảy ra liên tục cứ bắt hết đợt này thì họ lại biểu tình đợt khác trên đường bờ hồ. Tôi đang chụp ảnh trước cửa bưu điện thì nó bắt đến đợt thứ ba. Tôi nhìn thấy tên an ninh nó chỉ cho đám côn đồ cái đám đi bắt người mà không mặc đồng phục gì hết, sau đó nó bắt tôi lên xe buýt.”

Sáu là không cho công an xoá dấu vết, thương tích. Ô. Trương văn Dũng người bị côn đồ do công an sấp xếp dùng còng số 8 đập vỡ đầu rồi mang ném ra đường kể lại: “Chúng nó thấy tình huống của tôi nguy kịch như vậy thì cho y tá vào để cố tình xóa dấu vết vì máu me đầy hết trên người tôi. Tôi bất hợp tác với y tá vì không phải chúng nó cấp cứu tôi mà chỉ muốn xóa dấu vết mà thôi. Lúc sau chúng nó bàn tính với nhau nếu để tôi như thế mà đi ra ngoài thì không thể được. Nó tiếp tục cho hơn một chục thằng nhảy vào giữ chân tay tôi, đầu tôi và bịt cả mồm tôi lại để cho y tá lau vết thương trên đầu tôi và không lấy lời khai gì cả.Một lúc sau nó bảo tôi bây giờ anh tự đi về tôi từ chối và nói không thể nào đi được. Lúc ấy nó mới cho 4 thằng khênh tôi ra ngoài đặt tôi ngay sát lề đường quốc lộ. Lúc ấy anh em đến và chụp hình tôi như anh thấy.”

Sau cùng, phải nói chiến thuật mới của đồng bào biểu tình, như biểu tình nằm, bồng con đi biểu, nhảy xe, không cho xoá thương tích, máu me là bất bạo động, nhưng vô cùng vang động, chấn động. Chính công an cũng bối rối, không biết giải quyết ra sao. Và công luận quốc tế coi CS Hà nội là một chế độ phi nhân, phi nghĩa, trấn áp người bày tỏ ý kiến một cách ôn hoà bằng bạo động.

Đến đổi Ông Joe Yun, quyền Phụ tá Ngoại trưởng phụ trách khu vực Đông Á, phát biểu trước một tiểu ban của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, rằng “Chúng tôi thừa nhận rằng tình hình hiện tại, dù là bất cứ vấn đề gì, đã đi lùi. Không có gì phải bàn cãi,” Mỹ phải gây sức ép đối với VN.

Và bất bạo động chỉ là một chiến thuật cần để tránh bị chụp mũ chống nhân viên công lực. Nhưng đến một giai đoạn nào đó nó cũng tiến đến bạo động vì tự vệ là bản năng, là phòng vệ chánh đáng của con người. Nhứt là khi nhà cầm quyền dùng bạo lực, bạo lực sẽ kêu gọi bạo lực là lẽ cố nhiên, là trường họp bất khả kháng, đáng giảm khinh hay bãi miển./. (Vi Anh)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Ðảng Cộng Sản Việt Nam nếm mùi dân chủ
Trần Bình Nam

Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại Quốc Hội ngày 10 Tháng Sáu là một thử thách quan trọng của đảng Cộng Sản Việt Nam. Và có thể nó là bước mở đầu cho cơn lốc dân chủ tại Việt Nam.

Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm này không phải là một sáng kiến mới. Nguyên tắc bỏ phiếu tín nhiệm các chức vụ Nhà nước do Quốc Hội bổ nhiệm được ấn định bởi Nghị Quyết thứ 35 của Quốc Hội khóa X vào Tháng Mười Một năm 2001. Nghị quyết này quy định rằng:

“Lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCN) là quy trình hàng năm các đại biểu Quốc Hội tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm dưới hình thức bỏ phiếu kín các chức danh lãnh đạo nhà nước và chính phủ.” (theo Wikipedia)

Nhưng như một thông lệ các văn kiện trong một nước Cộng sản (trong đó có nước Cộng sản Việt Nam) từ bản Hiến Pháp, đến nội quy sinh hoạt Quốc Hội hội đều chứa đựng những điều tốt đẹp nhất về tự do dân chủ nhưng chỉ để làm cảnh chứ không bao giờ được đem ra áp dụng. Mọi quyết định, tín nhiệm ai, không tín nhiệm ai, làm gì đều do Bộ Chính Trị quyết định, rồi (nếu cần) thì mang ra Quốc Hội biểu quyết theo lệnh. Các cuộc biểu quyết của Quốc Hội để “nhân dân hóa” quyết định của Bộ Chính Trị do đó khi nào cũng trên 90%.

Hôm 10 Tháng Sáu, một ngày sẽ đi vào lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, lần đầu tiên Quốc Hội Khóa XIII áp dụng nguyên tắc bỏ phiếu tín nhiệm một cách tự do các chức vụ chủ chốt do Quốc Hội bổ nhiệm với biểu quyết đa số. Có tất cả 47 chức vụ chủ chốt do Quốc hội bổ nhiệm trong đó có Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quốc Hội, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và hầu hết các viên chức lớn trong bộ máy Nhà nước.

Có nhiều nguyên nhân đưa đến quyết định thực hiện cuộc bỏ phiếu tín nhiệm này. Trong năm qua sự bất hòa giữa các đảng viên cao cấp trong Bộ Chính Trị gồm một bên là Trương Tấn Sang, chủ tịch nước (liên minh với Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng), bên kia là Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng chính phủ (liên minh với Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch Quốc Hội) đã đến mức trầm trọng có thể xé nát đảng mà Bộ Chính Trị không có phương giải quyết vì bản chất phe phái không dân chủ của chính Bộ Chính Trị. Cho nên có thể có sáng kiến dùng nguyên tắc bỏ phiếu tín nhiệm với một cuộc bỏ phiếu hoàn toàn tự do tại Quốc Hội để đa số đánh giá các phe phái trong cuộc tranh chấp.

Và như được quy định bởi Nghị Quyết 35, một trong những mục đích của việc đánh giá tín nhiệm này là để loại bỏ những vị trí chưa làm tròn chức trách. Việc loại bỏ thực hiện qua nhiều công đoạn. Sau vòng lấy phiếu tín nhiệm, phải cần đến 2/3 đại biểu Quốc Hội đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc bị hơn một nửa Quốc Hội đánh giá “tín nhiệm thấp” hai năm liên tục, một vị trí nào đó mới đứng trước nguy cơ mất chức. Tuy nhiên việc mất chức chỉ diễn ra trong vòng bỏ phiếu “tín nhiệm” hay “bất tín nhiệm” trong kỳ họp Quốc Hội sau.

Trong số 492 đại biểu Quốc Hội hiện diện (theo RFA) không kể vài phiếu trắng, ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nước được 66.27% tín nhiệm cao, 5.62% tín nhiệm thấp. Trong khi ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng, địch thủ chính của ông Trương Tấn Sang chỉ được 42.17% ủng hộ cao và 32.13% tín nhiệm thấp. Ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội được 65.86% tín nhiệm cao, và chỉ 5.02% tín nhiệm thấp.

Kết quả cuộc bỏ phiếu là một thông điệp quan trọng của đảng cho ông Nguyễn Tấn Dũng. Nếu hiểu “tín nhiệm thấp” là “bất tín nhiệm” (người cộng sản thường sợ sự thật không muốn dùng danh từ có tính bi quan) thì tác dụng tâm lý của cuộc biểu quyết đối với Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có tính quyết định. Nếu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn bám trụ được qua bao nhiêu phong ba bão táp cho đến giờ này (vì ông không có văn hóa từ chức mà chỉ có một thứ văn hóa là lệnh một chiều của đảng) thì ông cũng khó trụ được ở chức vụ thủ tướng trước cơn gió dân chủ nội bộ.

Nhưng ảnh hưởng của cuộc bỏ phiếu tín nhiệm lần này sẽ không ngừng ở việc tạm giải quyết việc tranh chấp nội bộ đảng mà nó có thể có ảnh hưởng đến sinh hoạt đảng một cách căn bản. Ðây là lần đầu tiên các đảng viên được nếm mùi dân chủ. Chất men dân chủ khi đã nếm thì không thể khước từ được nữa.

Nó có thể là cơ hội mở cổng dân chủ như năm 1986 Tổng bí thư đảng Cộng Sản Liên bang Xô viết Mikhail Gorbachev mở cổng dân chủ bằng hai chương trình “cởi mở” (Glasnost) và “Tái cấu Trúc” (Perestroika) và đã cuốn trôi một chế độ độc tài đảng trị.

Phải chăng một cơn bão đang hình thành tại Việt Nam?
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Trọng, Sang Lại Thua Dũng

Tác giả : Vi Anh

Kết quả chánh thức kiểm phiếu của Quốc Hội VNCS, Trương Tấn Sang Chủ tịch Nước được 330 phiếu Tin Nhiệm Cao, 133 phiếu Tín Nhiệm và 28 Tín Nhiệm Thấp; còn Nguyễn tấn Dũng Thủ tướng Chính phủ được 210 phiếu Tin Nhiệm Cao, 160 phiếu Tín Nhiệm và 28 Tín Nhiệm Thấp – thì nói Sang thắng Dũng tỉ số 1-0.

Đúng nhưng chỉ đúng trên phương diện con số toán học. Nhưng không đúng trên phương diện chánh trị tranh chấp nắm quyền hành. Nã phá Luân một vị tướng tài thao lược quân sự lẫn chánh trị của Pháp có nói ai còn ở chiến trường 15 phút chót là người đó thắng. Ba Dũng ít phiếu của Quốc Hội nhưng đâu có bị bãi nhiệm, còn nắm nhà nước, nắm quyền hành, ngân sách trong tay, trong khi Sang chỉ có tiếng mà không có miếng thì phiếu cao làm gì, đâu có đổi ra tiền và quyền được, mà mục tiêu tối hậu và tối thượng là chiếm quyền bính. Thế thì rốt cuộc Dũng vẫn còn làm Thủ Tướng thực sự và thục chất cầm quyền, chớ không phải Sang, vậy Ba Dũng thắng chớ đâu có thua Sang.

Phải nói Ba Dũng xuất thân chỉ là một tay du kích của Rừng U Minh khu Tây Nam bộ, nhưng rất giỏi bon chen trên đường “Bắc tiến” lên làm Thủ Tướng VNCS ở Hà nội - chớ đâu có nhỏ. Y cũng rất giỏi trên đấu trường trong mê cung của CS Hà nội, nơi đồng chí “thịt” nhau không chút thương tiếc trong khi tranh giành quyền lực tức tiền bạc như Mafia tội phạm có tổ chức vậy. Điều này có thể thấy rõ khi phe thủ cựu thân Trung Cộng Trọng Sang dùng cả công cụ cái gọi là “Quốc Hội” đảng cử dân bầu để truy kích, táp pi triệt hạ Ba Dũng lần thứ hai. Nhưng Ba Dũng vẫn thoát nạn, tỉnh bơ trên ghế thủ tướng.

Ba Dũng hai lần thắng Trọng Sang là nhờ có một bửu bối trong tay. Đó là nắm chặt nhà nước, biết sử dụng công cụ này để thắng đảng quyền, và có thể triệt tiêu đảng quyền để trở thành Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Quân Uỷ Trung Ương như bên Tàu Cộng nữa không chừng.

Các nhà chiến lược thường nói ai còn ở chiến trường 15 phút chót là người đó thắng. Ba Dũng vẫn còn phây phây ngồi trên ghế thủ tướng, cầm đầu chánh phủ, nắm quyền hạn, ngân sách của nhà nước trong tay sau hai cuộc tấn công của hai đối thủ Trọng Sang. Hai đối thủ này của Ba Dũng dùng đại hội Trung ương 6, hồi tháng 10/2012, để diệt Ba Dũng, đổ tội Ba Dũng để tham nhũng lan tràn và thất bại của các tập đoàn kinh tế quốc doanh như Vinashine chẳng hạn. Nhưng Ba Dũng biết vận dụng đồng tiền của nhà nước, thực hiện câu ai nắm tiền người đó có quyền trong chánh tri. Ba Dũng dùng tiền bạc thao túng các trung ương ủy viên và đại biểu của đại hội khoảng 90% là những người kiêm nhiệm chức vụ hành chánh, kinh tế, văn hoá, xã hội trong chánh phủ trung ương và các uỷ ban nhân dân ở các tỉnh. Thế là Trọng Sang thua đau như thiến, phải “bá cáo” một cách giả đạo đức. Rằng Bộ Chánh Trị đứng lên xin chịu kỷ luật trước đại hội nhưng đại hội không chấp nhận kỷ luật Bộ trong đó có một đồng chí không nêu tên nhưng ai cũng biết đó là Ba Dũng. Thế là Ba Dũng vẫn cón nắm chánh phủ nói riêng và nhà nước nói chung cho tới cuôc truy kích này do Trong Sang dùng cái gọi là Quốc Hội bỏ phiếu tín nhiệm nhà nước hay không.

Khác Ba Dũng vốn là nông dân xuất thân Cà mau, Rạch Giá, Nguyễn phú Trọng Tổng bí Thư Đảng CSVN là CS Bắc Việt mang kiến cận có vẻ trí thức và Trương tấn Sang Chủ Tịch Nước dân xứ khóm Bến Lức vốn là một sinh viên chuyên “xuống đường” ở Saigon bị bể trốn vô bưng theo CS.

Trương tấn Sang mê cái ghế Thủ Tướng muốn chết nên “bẻ chỉa” (tiếng lóng dân Nam có nghĩa là phản bội) đi với CS Bắc Việt dù y là một người có quyền thế trong thành uỷ Saigon nằm trong Phe Đổi Mới của Miền Nam được TT Võ văn Kiệt kéo theo ra Bắc trước Ba Dũng.

Một thời gian sau khi thất bại chua cay trong khi dùng đại hội đảng tấn công Ba Dũng, Trọng Sang dùng cái Nghị Quyết số 35 (Con Dê theo kiểu nói của dân chơi đề Miền Nam) do cái gọi là Quốc hội đảng cứ dân bầu đã thông qua 11/2012 để truy kích Ba Dũng. Nghị quyết số 35 “là bàn tay nối dài” của hai đối thủ của Ba Dũng.

Trận truy kích này Trọng Sang vô tình biến cái công cụ của Đảng CS chuyên hợp thức hoá lịnh của Đảng nên dân chúng VN mỉa mai gọi là “quốc hại”, qua vụ này trở thành trò cười dị hợm trên thế giới.

Quốc Hội VNCS mở một cuộc bầu tin nhiệm nhà nước tư Chủ Tịch Nước,,Thủ Tướng Chánh phủ đến hàng bộ thứ trưởng cả mấy chục ngưới. Tổ chức bầu tín nhiệm mà không có điều trần, chất vấn, luận tội gì cả. Hoàn toàn khác với tinh lý hiến pháp trên thế giới, khi nào thủ tướng hay nhân viên chánh phủ có gì sai trái, vi hiến thì phải ra Quốc Hội để điều trần, dân biểu, nghị sĩ chất vấn và luận tội, với đầy đủ tài liệu của Uỷ Ban đặc biệt trình bày và gởi cho từng vị dân biểu nghị sĩ, đúng thời hạn qui định để nghiên cứu. Và túc số truy tội, bãi miễn hay cảnh cáo của Quốc Hội phải đạt phải cao thường là 2/3 thuận mới có giá trị.

Còn trường hợp tín nhiệm như chuẩn thuận, tấn phong thủ tướng hay bộ trưởng cũng phải qua những bước ấy thì dân biểu nghị sĩ mói làm, cho không phải như Quốc Hội CSVN làm những chuyện lập pháp long trọng như vậy lại thành chuyện ruồi bu, kiến đậu như sau.

Dân biểu chỉ được biểu quyết, tín nhiêm cao, tín nhiệm, và tín nhiệm thấp. Chớ không có chỗ nào để biểu quyết bất tin nhiệm cả. Tín nhiệm cao, tín nhiêm thấp, tín nhiệm vừa đều là tín nhiêm cả. Thế cho nên mấy chục ngưòi đem ra cho Quốc Hội bầu bán đều được Quốc Hội tín nhiệm.

Thật là một trò hề rẻ tiền. Một kiểu của CS vừa tự giới thiệu, vừa phát biểu, vừa vổ tay khen, vừa kinh thưa đồng chí kính mến vừa vổ tay khen.

Thế là Ba Dũng vẫn được tín nhiệm bởi cái gọi là Quốc Hội đảng cử dân bàu mà Trọng Sang định dùng làm vũ khí truy kích Ba Dũng.

Nhưng Trọng Sang coi chừng. Ba Dũng bây giờ coi như là người thế lực nhứt nước, vai mang túi bạc nhà nước kè kè. Cán bộ đảng viên của Đảng hầu hết trừ người hưu đang kiêm nhiệm chức vụ bên nhà nước, túc dưới thực quyền thủ tướng, do thủ tướng ban đặc quyền đặc lợi, ắt vì tiên vì quyền hơn vì Đảng. Trọng, Sang thất bại hai phen khi dùng đại hội Đảng và quốc hội dảng cử dân bầu. Ba Dũng vẫn bình chân như vại, nắm nhà nước trong tay trong khi đảng quyền quá sa sút. Một ngày nào đó, người du kích Cà mau nổi quạu, cộc lên sẽ cho công an, mật vụ đến “bảo vệ” các đồng chí và xin các đồng chí ký tên nhứt trí, đồng tình, cộng đồng tuyển trạch” Ba Dũng làm Chủ Tịch Nước, kiêm Chủ Tịch Đảng, kiêm Chủ Tịch Quân Uỷ Trung Ương như bên Tàu Cộng. Nếu không sẽ đưa các đồng chí vào Lăng Bác, xuống mê cung trong hầm dươi đất để bảo vệ xác ướp của Bác. Chớ Ba Dũng không dể cho “nhị nhơn bang Trọng, Sang búa mình một búa nữa đâu./.(Vi Anh)
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Chuẩn! Chúng tao bán nước đó!
Image
Viên CA tại trại giam Lộc Hà tên Nguyễn Đức Trung (số hiệu 195-456)
Hiền Sỹ (Danlambao) - Theo lời kể về câu chuyện đi biểu tình của mình, chị Trần Thị Nga, một người yêu nước ở Phủ Lý, Hà Nam đã cho ta thấy bộ mặt bán nước trơ trẽn của đảng cộng sản. Đến mức chính viên công an cộng sản có tên Nguyễn Đức Trung, số hiệu 195-456 đã thẳng thừng tuyên bố “Chuẩn!” khi bị chất vấn về việc công an cộng sản làm tay sai cho Tầu.

Trên thực tế, tất cả các cuộc biểu tình của đồng bào trong nước chống giặc Tầu cho đến hôm nay đều bị đảng cộng sản đàn áp dã man. Những kẻ trực tiếp thi hành lệnh của đảng đó là những tên công an, an ninh, côn đồ khoác lên mình khẩu hiệu “Còn đảng còn mình, còn đảng còn tiền”. Nhưng từ trước đến nay, chưa môt tên công an nào dám đối mặt với người dân nói thẳng chúng làm tay sai cho Tầu mà chỉ mị dân bằng luận điệu “giữ hòa bình ổn định, đã có đảng và nhà nước lo”. Câu chuyện ngày 2/6 tại trại giam Lộc Hà của chị Trần Thị Nga đã cho thấy sự trơ trẽn đến mức bỉ ổi của đội ngũ công an nhà cầm quyền cộng sản. Đội ngũ này đang sống nhờ mồ hôi nước mắt của người dân Việt nhưng lại bán linh hồn cho giặc.

Cụ thể, câu chuyện của chị Nga có đoạn, khi chị Nga chất vấn công an tại trại Lộc Hà: "Tại sao chúng tôi đi biểu tình phản đối TQ xâm lược, đánh, bắt, giết ngư dân VN mình mà các anh bắt, đánh đập, giam giữ chúng tôi? Có phải ngành công an các anh đang bảo kê cho TQ xâm chiếm biển đảo, đánh, giết ngư dân hay sao?". Công an viên có tên Nguyễn Đức Trung có số hiệu 195-456 đã trả lời “Chuẩn!”(1).

Nghe câu nói đó, thật sự chúng ta xót xa cho một dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra những người anh hùng như Lê Lợi, Quang Trung lại có thể sản sinh ra một lũ bán nước hại dân như công an cộng sản ngày nay. Lời trả lời của tên công an đã xác nhận đảng cộng sản là một lũ bán nước thật sự chuẩn xác như chính lời xác nhận của tên Trung. Bản chất hèn với giặc ác với dân đã được chính miêng công an của đảng cộng sản xác nhân, điều này cũng cho thấy bản chất trơ trẽn, không biết xấu hổ trước tổ tiên, trước đất nước và trước triệu đồng bào Việt Nam của đảng cộng sản. Và thật đáng buồn riêng cho cha mẹ của tên công an Nguyễn Đức Trung số hiệu 195-456, vì họ đã sinh nhầm một tên bán nước hại dân mà rồi đây lịch sử sẽ ghi vào sách vở như một trong hàng triệu Lê Chiêu Thống của đảng cộng sản.

Nhưng lần giở những chuỗi sự kiện từ lâu nay, chúng ta có thể thấy rằng những phát ngôn như của tên Nguyễn Đức Trung cũng không có gì xa lạ. Chỉ có điều, nghe nó như một nhát dao cứa vào tim, vào niềm tự hào dân tộc của chúng ta. Hãy nhìn đảng cộng sản giao Hoàng Sa – Trường Sa cho Tầu bằng một công hàm trơ trẽn của Phạm Văn Đồng mà đứng đầu là Hồ Chí Minh. Hãy nhìn những Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm mất bởi đảng cộng sản vào tay Tầu. Hãy nhìn từng đợt biểu tình bị đàn áp dã man thì chúng ta thấy rõ ràng lời của tên Nguyễn Đức Trung như một sự khẳng định của đội ngũ công an “Chúng tao bán nước đó! Làm gì được nào?”.

Lịch sử đã chứng minh, Hồ Chí Minh khi đem chủ thuyết cộng sản về gây di họa cho Việt Nam thì đã từng 2 lần là đảng viên đảng cộng sản Trung cộng(2). Bởi vậy, cũng không có gì ngạc nhiên khi đảng cộng sản Việt Nam tiếp nối tư tưởng làm chư hầu cho Trung cộng mà Hồ Chí Minh mong muốn. Để đến hôm nay, những cháu ngoan của Hồ Chí Minh như tên Nguyễn Đức Trung đã thừa nhận sự thật bán nước của đảng cộng sản là “Chuẩn”!

Đảng cộng sản cuối cùng cũng đã lòi cái đuôi bán nước và bản mặt trơ trẽn làm tay sai cho giặc ra trước bàn dân thiên hạ bằng câu nói của tên công an mang tên Nguyễn Đức Trung. Nó như một cái chốt cuối cùng đã bung để lộ ra bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của một tên mafia không hơn, không kém. Chính vì vậy, không còn cách nào khác, người dân Việt Nam nếu không muốn Bắc thuộc thêm một lần nữa cần phải đứng lên dẹp bỏ đảng cộng sản Việt Nam. Vì đảng cộng sản Việt Nam chính là con nuôi của Trung cộng. Chỉ có chặt được cánh tay nối dài của giặc Tầu thì dân tộc Việt Nam mới có thể thoát khỏi thảm cảnh một Tây Tạng thứ hai.

Người dân Việt Nam ngày hôm nay đã không còn u mê như gần 1 thế kỷ trước khi chấp nhận một chủ thuyết hoang tưởng và một lũ phản quốc làm lãnh đạo dân tộc. Những âm mưu bẩn thỉu “hèn với giặc, ác với dân” cuối cùng cũng đã và đang lộ ra trước ánh sáng. Không còn cách nào khác, nhân dân Việt Nam phải đồng lòng, chung tay vạch trần thêm những âm mưu thâm hiểm của đảng cộng sản để có một sức phản kháng cần thiết lật đổ chế độ cộng sản. Chi có như vậy Việt Nam chúng ta mới thực sự trường tồn .

17/6/2013.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

LS Lê Quốc Quân 'bị đối xử khắc nghiệt'

Image
Luật sư Lê Quốc Quân sắp ra tòa với cáo buộc 'trốn thuế' ngày 9/7
Luật sư Lê Quốc Quân, người sắp ra tòa hôm 9/7 vì cáo buộc trốn thuế, đang bị 'phân biệt đối xử và tạm giam trong môi trường khắc nghiệt', theo cáo buộc của gia đình ông.

Trao đổi với BBC hôm 20/6/2013, bà Nguyễn Thị Thu Hiền, vợ của luật sư kiêm nhà vận động cho dân chủ, cho hay bà được biết qua lời kể của luật sư bào chữa vào thăm rằng ông Quân và em ruột ông, Lê Đình Quán, bị phân biệt đối xử.

Các bài liên quanYêu cầu Ngoại trưởng Kerry về LS QuânYêu cầu Ngoại trưởng Kerry về LS Quân'Chưa ai tiếp xúc ông Lê Quốc Quân '
Chủ đề liên quanChính trị Việt Nam, Nhân quyền
Bà Hiền nói:

"Anh Quân bị giam chung với 40 người trong phòng giam, anh cũng thường xuyên bị nằm ở nơi gần nhà vệ sinh,"

"Anh bị phân biệt đối xử, mỗi lần gia đình tiếp tế cho anh, người ta chỉ cho tiếp vào độ một chục chai nước."

"Trong khi đó, những người bị giam khác có thể được nhận tới cả vài chục chai nước một lúc."

Bà Hiền còn cho hay thêm không chỉ chồng bà mà người em chồng, bị giam giữ riêng rẽ, cũng chịu sự phân biệt.

Bà nói:

"Em chồng tôi, Lê Đình Quán bị giam tới nay là 7 tháng rưỡi.

"Em chồng tôi bị giam chung với 53 người và cũng bị phân biệt đối xử," bà đưa ra lời cáo buộc.

"Các điều kiện trọng đó rất hà khắc, họ bị hạn chế không cho tập thể dục, bị hạn chế giao tiếp."

Bà Hiền cho hay cho tới nay bà và gia đình chưa được gặp mặt trực tiếp chồng bà mà mọi liên hệ có được đều thông qua luật sư.

"Hiện tại thì gia đình vẫn chưa được gặp anh ấy, chỉ có các luật sư được gặp để làm việc.

"Tới nay luật sư Bùi Quang Nghiêm đã gặp được một lần,

"Các luật sư khác là Trần Nam Sơn và Hà Huy Sơn được gặp từ 4 tới 5 lần."

BBC chưa có điều kiện kiểm chứng những cáo buộc này với nhà chức trách ở Việt Nam.

Truyền thông Việt Nam cho tới nay chỉ đưa tin ít ỏi về vụ xử án ông Lê Quốc Quân dự kiến vào ngày 9/7 tới.

'Làm thơ trong tù'"Qua các luật sư , tôi được biết là sức khỏe của chồng tôi không được tốt, nhất là trong hoàn cảnh giam giữ rất nóng bức, chật chội. Nhưng tinh thần của anh ấy rất cao"
Vợ LS Lê Quốc Quân

Vợ của nhà hoạt động dân chủ và là một blogger theo Công giáo cho hay chồng bà tuy sức khỏe "có vấn đề" nhưng vẫn vững vàng về tâm lý và tinh thần.

"Tôi xác nhận là chồng tôi có gửi ra các bài thơ mà trên mạng cũng đã giới thiệu,"

"Tất cả có bốn bài thơ. Tôi đọc nét chữ dù được khắc và giọng văn, thì biết ngay là của chồng tôi."

"Qua các luật sư , tôi được biết là sức khỏe của chồng tôi không được tốt, nhất là trong hoàn cảnh giam giữ rất nóng bức, chật chội,

"Nhưng tinh thần của anh ấy rất cao. Anh ấy và chúng tôi luôn khẳng định là không hề có tội..."

Tuần này, trên mạng xã hội xuất hiện bốn bài thơ mà gia đình xác nhận là của Luật sư Lê Quốc Quân làm và gửi ra từ trong tù, đó là các bài: 'Hỏa Lò vọng sóng biển Đông', 'Tặng người bạn tù', 'Chí người ngục sỹ' và bài thơ tặng ba con nhỏ của ông có tựa đề 'An Thái Việt'.

Văn bản Quyết định về việc đưa LS Quân ra xét xử mà BBC được tiếp cận viết ông Quân sẽ ra tòa cùng với một người khác, bà Phạm Thị Phương, nguyên là kế toán trưởng công ty VietnamCredit.

Bà Phương bị bắt hồi tháng 11/2012 trong vụ án liên quan công ty VietnamCredit mà em trai ông Lê Quốc Quân là Lê Đình Quản làm giám đốc.

Ông Quản cũng đã bị bắt tạm giam từ hồi đó với cáo buộc Trốn thuế, nhưng chưa rõ ngày sẽ đưa ra xét xử.

Nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế, một số quốc gia phương Tây đã lên tiếng phản đối hoặc quan ngại về vụ bắt giữ ông Lê Quốc Quân và người thân của ông.

Các ý kiến cho rằng các vụ bắt giữ có ý đồ chính trị nhắm vào ông Quân do ông là một blogger và nhà hoạt động vận cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo.

Gần đây, Chủ tịch Trung tâm Công lý và Nhân quyền Robert F. Kennedy (RFK Center) do cháu gái của Cố Tổng thống Mỹ John Kennedy lãnh đạo đã gửi thư cho Thủ tướng Việt Nam.

Bức thư yêu cầu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bảo vệ quyền lợi chính đáng cho luật sư nhân quyền đang bị giam cầm.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Hãnh diện là người Việt Nam?
Huy Phương

“Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng,
thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”
(Câu hỏi của báo Thanh Niên trong nước)


Trong bài “Ðêm Của Những Cánh Bướm Việt Ở Malaysia” đăng trên nhật báo Người Việt (2009) trước đây,
ký giả Ðông Bàn đã vô tình nhắc lại câu nói của giới taxi Kuala Lumpur, “Con gái Việt Nam đẹp lắm!” Thủy, một “cánh bướm đêm” tại Beach Club
đã cay đắng hỏi lại những người ký giả cùng quê hương với cô: “Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”

Câu trả lời tất nhiên là không! Ai lại hãnh diện khi có đồng bào, con em của mình, dù được khen là đẹp phải thất thân đi làm gái mại dâm.
Không những được khen đẹp lắm, mà dân địa phương còn một “lắm” nữa, khi nói: “Con gái Việt Nam rẻ lắm!”

Image
Một chuyến bay của Vietnam Airlines cất cánh tại phi trường Ðà Nẵng. Nhân viên hãng này từng bị tố cáo đánh cắp hàng hóa
trong các siêu thị Nhật vận chuyển về Việt Nam.



Khi Ðông Bàn đang đứng trên đất Malaysia, hẳn ông không thể nào hãnh diện là người Việt Nam.

Chúng ta cũng không hãnh diện là người Việt Nam, nếu chúng ta đang ở Ðài Loan.

Theo số liệu thống kê kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người Ðài Loan trong 14 năm (1995-2008) đã có 117,679 trường hợp, chiếm 82% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Trong một đảo quốc nhỏ như Ðài Loan đã có hơn 10,000 phụ nữ Việt bỏ xứ sang đây làm vợ người, dù hạnh phúc hay khốn khổ, thì cũng vì thân phận nghèo đói, tương lai mờ mịt, có vinh dự gì cho đất nước khi đàn bà phải ly hương, với những cuộc hôn nhân không tình yêu chỉ vì đồng tiền. Ðiều khốn nạn nhất là trong tâm ý của người dân đồng bằng Cửu Long, “lấy chồng Ðài Loan” là chuyện mơ ước của tất cả mọi người. Một đôi vợ chồng đem con gái về thăm quê được một người bà con buột miệng khen: “Úi, con bé này ngộ quá, lớn chút nữa lấy chồng Ðài Loan được à nghen!”

Cũng ở Ðài Loan, năm người lao động Việt Nam làm thuê ở một công ty thủy sản địa phương đã hợp lực khiêng lồng đi bắt hai con chó của dân địa phương bỏ vào bao tải, dìm xuống biển cho chết, sau đó mang lên làm thịt.

Ngoài việc phải quỳ hai giờ cúi lạy bàn thờ chó để tạ tội và để quần chúng giảm cơn thịnh nộ, năm người lao động Việt Nam này còn bị phạt 10,000 tiền Ðài Loan.

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Nhật.

Trên nhiều diễn đàn của Nhật, nhiều người Nhật “cực đoan” kêu gọi tẩy chay người Việt, đuổi hết người Việt về nước, cắt vĩnh viễn các khoản viện trợ cho Việt Nam. Có người so sánh viện trợ cho Việt Nam uổng hơn là đổ tiền vào... cống, bởi tiền thuế của họ đang được dùng để nuôi bọn “dòi bọ” ở Việt Nam, sau những vụ: PCP, một tập đoàn cung cấp dịch vụ của Nhật bị Việt Nam đòi hối lộ 15% để được trúng thầu các dự án dùng tiền viện trợ của Nhật tại Việt Nam; Nhân viên, tiếp viên hàng không và phi công Vietnam Airlines, tổ chức đánh cắp hàng hóa trong các siêu thị Nhật để vận chuyển hàng gian về tiêu thụ tại Việt Nam; Các tu nghiệp sinh Việt Nam trước khi sang Nhật đã bị các doanh nghiệp xuất khẩu lao động CSVN bóc lột thậm tệ; Lãnh sự quán Việt Nam ở Nhật tại Osaka tổ chức bán giấy thông hành Việt Nam.

Trong một số siêu thị tại Nhật, có bảng cảnh cáo dành cho người Việt về chuyện ăn cắp vặt sẽ bị vào tù! Bức ảnh đã làm rộ lên tin đồn về nạn ăn cắp vặt của người Việt ở bên Nhật. Nhiều người cho rằng, người Việt đã để lại ấn tượng xấu xa trong mắt người Nhật khi xuất ngoại sang đất nước của họ.

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Singapore.

Trang mạng với tên gọi là Craigslist có mặt tại Singapore đưa thông tin rằng khách hàng có thể lựa chọn “gái Việt còn trinh,” giá khoảng $3,000 một tuần, ngay tại sân bay, khách sạn hoặc bất cứ nơi nào khách hàng yêu cầu. Tình trạng các cô gái Việt Nam bán trinh tại Singapore dường như công khai, ai cũng hay biết. Cảnh sát Singapore cho biết, hầu hết các cô gái Việt còn trinh đều ở độ tuổi từ 16 đến 17, đến và “làm việc” qua nhân vật trung gian, và năm ngoái, tại đây, một cô gái Việt Nam 17 tuổi cũng đã rao bán trinh tiết với giá $1,500!

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Nga.

Các đường dây buôn người đưa hàng nghìn phụ nữ Việt Nam vào các nhà chứa Nga, nhưng Ðại Sứ Quán Việt Nam tại Nga từ chối trả lời câu hỏi của BBC cho rằng cơ quan này không có thẩm quyền để nói về việc này. Theo Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Thắng: “Trong tất cả các trường hợp ở Nga này, thủ phạm là những người Việt được bao che bởi một số giới chức ở Tòa Ðại Sứ Việt Nam ở Nga, thậm chí họ thành Hiệp Hội May Dệt dưới sự bảo trợ của Tòa Ðại Sứ Việt Nam.”

Cảnh sát Nga vừa khám phá một xưởng may “đen” dưới lòng đất tại khu chợ Cherkizov ở thủ đô Moscow, bắt hằng trăm di dân lậu Việt Nam. Nạn buôn lậu của người Việt tại Nga là chuyện xảy ra hằng ngày, có lẽ bởi nguyên nhân trong 80,000 người Việt ở Nga đã có 80% làm nghề buôn bán, phần lớn là chợ trời, mánh mung.

Ở Ba Lan: “Cầm quyền Hà Nội và nhân viên Tòa Ðại Sứ Việt Nam tại Warsaw là một băng nhóm tội phạm có tổ chức, một hệ thống Mafia.” (Ðài báo Weltspiegel Ðức)

Câu trả lời là không, ở mọi nơi trên thế giới.

Trên VietNamNet, người Việt Nam sinh sống ở Nhật, ở Nga, ở Anh, ở Úc, ở Nam Phi, ở Mozambique và ngay cả ở California, đã trình bày những những mẩu chuyện về người Việt đọc xong chỉ muốn “độn thổ,” với bao nhiêu thói hư, tật xấu khác của người Việt từ trong nước đến như trộm cắp, gian dối, đái bậy, khạc nhổ, vứt rác bừa bãi, ăn uống thô tục, tranh giành, chen lấn nơi công cộng, không biết nói cảm ơn, xin lỗi khi cần. Nói về chuyện ăn cắp và ăn cắp vặt thì Việt Nam chắc hẳn bỏ xa đàn anh Trung Quốc. Ngay cả cuộn giấy đi cầu trong khách sạn, khách người Việt cũng không tha.

Một người Việt làm nghề thông dịch cho tòa án và cảnh sát ở Úc, cho biết phần lớn thủ phạm ăn cắp trong siêu thị và trồng cần sa trong nhà là những người mới định cư, đặc biệt những người từ Bắc Việt Nam và du học sinh. Mỗi lần người này đi dịch là anh ta khổ tâm vì cảm thấy nhục nhã cho dân tộc mình.

Trong khi trao đổi chuyện này với một phụ nữ trong nước, bà này đã viết cho chúng tôi: “Năm 2008 vào dịp Tết Nguyên Ðán, tôi được con trai cho di du lịch Doha (Qatar,) sẵn dịp công ty của con bảo lãnh qua chơi Dubai. Nhưng đến chiều về lại Doha thì bị giữ lại phi trường vì nghe nói có chuyện gì xảy ra ở một siêu thị mà có người Việt mình dính vô. Trong khi cả đoàn ‘check in’ thì riêng tôi bị giữ lại vì mang passport CHXHCN Việt Nam. Mang hộ chiếu Việt Nam đi nước ngoài buồn lắm ông ơi!!!”

Lâu nay, người ta nhắc đến hai chữ Việt Nam hơi nhiều, không phải vì “tiếng tăm” mà vì “tai tiếng!”

Như vậy cũng không nên trách câu phát biểu của Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt : “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế.”

Nhân câu nói này, các cơ quan truyền thông tại Việt Nam đã chỉ trích, lên án ông và đặt câu hỏi về lòng yêu nước của ông.

Tôi thì nghĩ khác, vì yêu nước nên ông Ngô Quang Kiệt mới cảm thấy nhục nhã. Tôi cũng không hãnh diện lắm về chuyện làm người Việt Nam, nhưng không phải như vậy là tôi không yêu nước, mà có thể vì lòng yêu nước, biết đâu có tác giả sẽ cho ra đời một cuốn sách mang tên “Người Việt Xấu Xa”.

Chúng ta đang nói chuyện người Việt dưới chế độ Cộng Sản. Ðể công bằng chúng ta nên có thêm một cái nhìn về người Việt ở Mỹ. Ngoài những chuyện được đề cao là làm “vẻ vang dân tộc Việt,” không có gì hơn là xin trích dẫn lời của ông Nguyễn Hữu Hanh, cựu thống đốc ngân hàng VNCH:

“Những năm tiếp theo đó ở nước Mỹ, tôi lại càng thêm ngao ngán và tuyệt vọng. Ngoài một số thành tích sáng chói của sinh viên Việt Nam và một vài thành công đáng kể của các chuyên gia Việt Nam trẻ tuổi, thì cộng đồng người Việt di tản đã gây nên tai tiếng xấu xa trong cái xã hội đã dung dưỡng họ: Bên cạnh những người đang cố gắng làm lụng để nuôi nấng con cái, một số người di tản lại đem qua đây những thói xấu cũ, lừa đảo và chôm chỉa bất cứ khi nào có dịp. Không phải chỉ có những người nghèo khổ phải sống bằng tiền trợ cấp, mà cả những tầng lớp trên (bác sĩ, dược sĩ, những người môi giới cổ phần, mua bán bất động sản, v.v.). Một ngày nọ tại Westminster, bang California, người ta trông thấy 80 vị bác sĩ và dược sĩ Việt Nam bị còng tay dẫn đi sau một toán cảnh sát Mỹ. Xấu hổ thay cho cộng đồng người Việt chúng ta ở đây, và xấu hổ lây cho cả quê hương đất nước chúng ta bên kia nữa!” (“Lời Nói Ðầu” - “Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới” hồi ký, XB 2004.)

Như vậy, sau một người có tên tuổi trong nước là Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt cảm thấy “nhục nhã,” bây giờ một người ngoài nước, lại là một viên chức cao cấp của hai nền Cộng Hòa Việt Nam, cảm thấy “xấu hổ,” một phụ nữ bình thường thì than “buồn lắm!” Thế mà không biết sao thời “chống Mỹ” báo chí miền Bắc lại phịa ra câu chuyện một anh chàng “bá vơ” nào đó tuyên bố: “Mơ ước một buổi sáng thức dậy, thấy mình được trở thành một người... Việt Nam!”
Ông Nguyễn Hồi Thủ khi dịch cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí” đã có nhận xét: “Thường trong lịch sử Việt Nam vốn đã rất ít người thật tình có can đảm và trung thực để tìm hiểu, phê bình, những cái xấu, cái dở của dân tộc mình. Gần đây lại chỉ toàn thấy ca tụng đất nước rừng vàng biển bạc, con người cần cù, thông minh, cao cả, đẹp đẽ, kiên cường, anh hùng, trong sáng... Thậm chí lại có cả người lãnh đạo lấy tên giả viết sách để ca ngợi cá nhân mình, có cả nhà văn bịa tên một người nước ngoài để ca ngợi dân tộc mình.”

Báo Thanh Niên trong nước đã đặt câu hỏi: “Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng, thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”

Thưa, các yếu tố thông minh, chăm chỉ và nhất là kiểu “ra ngõ là gặp anh hùng,” chưa đủ để tạo thành một con người tử tế và một đất nước tử tế để cho thế giới tôn trọng và yêu mến!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tập Cận Bình-Trương Tấn Sang xác định 'hợp tác toàn diện' Trung-Việt là một
Võ Long Triều


Sau khi Chủ Tịch Tập Cận Bình thảo luận với Tổng Thống Barack Obama về những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc và Hoa Kỳ
tại Palm Springs ngày 7 tháng 6, 2013, về nước ông Tập mời Chủ Tịch Việt Nam Trương Tấn Sang qua Bắc Kinh ngày 19 tháng 6, 2013,
có lẽ để ông chứng tỏ cho Mỹ và thế giới thấy việc tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông thực tế do ông bố trí và xếp đặt.

Image
Chủ Tịch Tập Cận Bình (trái) và Chủ Tịch Trương Tấn Sang duyệt hàng quân danh dự tại Bắc Kinh, Trung Quốc.
(Hình: Mark Ralston/AFP/Getty Images)

Trong khi Mỹ xác định lập trường không đứng về phía nào trong vụ tranh chấp này, Tổng Thống Obama có nhắc khéo là Hoa Kỳ đã ký thỏa ước quân sự với Nhật Bản và Philippines, do đó Bắc Kinh sẽ phải dè chừng.

Trước khi hội đàm với chủ tịch Trung Quốc, báo chí Bắc Kinh xin ông Trương Tấn Sang cho biết ý kiến về việc xử trí và giải quyết những vấn đề trên Biển Ðông với Trung Quốc như thế nào?

Ông Sang trả lời: “Việt Nam hết sức coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với đảng và nhân dân Trung Quốc, coi đây là chính sách cơ bản, nhất quán, lâu dài và ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.” Chủ Tịch Trương Tấn Sang cũng không quên đọc câu “thần chú” mà tất cả lãnh đạo Việt Nam cũng như Trung Quốc giáo đầu mỗi khi gặp nhau: “Tình hữu nghị Việt Trung là tài sản chung vô cùng quí giá của nhân dân hai nước do các thế hệ lãnh đạo tiền bối đã dày công vun đắp. Chúng ta đều có trách nhiệm giữ gìn, kế thừa và phát huy.”

Về phía mình ông Tập Cận Bình nhiệt liệt chào mừng Chủ Tịch Trương Tấn Sang, đồng thời khẳng định Trung Quốc coi trọng quan hệ hợp tác hữu nghị với Việt Nam, ông cũng nhấn mạnh: “Truyền thống hợp tác hữu nghị do các bậc lãnh đạo tiền bối hai nước dày công vun đắp là tài sản chung quí báu của hai đảng và hai nước, hai bên cần kế thừa và phát huy.” Ông Tập còn giải thích thêm: “Phải lấy đại cuộc quan hệ hai nước làm trọng, xuất phát từ tầm cao chiến lược và toàn diện, dưới sự chỉ đạo của phương châm láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, và tinh thần của láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt. Chúng ta phải kiên trì hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, làm cho Biển Ðông trở thành hòa bình hữu nghị, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc.”

Phải hiểu rằng hai chữ “toàn diện” có nghĩa là các vấn đề quân sự, ngoại giao, kinh tế, an ninh xã hội, vân vân... đều do bạn bè tốt, đồng chí tốt cùng giải quyết với nhau. Trong điều kiện nào? Từ xưa đến nay Việt Nam thấy rõ quan thầy Trung Quốc đã chứng minh sự hợp tác toàn diện giữa hai bạn bè tốt như thế nào rồi, đó là biển đảo của Việt Nam do Trung Quốc độc chiếm và ngang ngược quản trị. Cái tình hữu nghị và hợp tác toàn diện đó nằm gọn trong 16 chữ vàng mà Chủ Tịch Giang Trạch Dân nhân chuyến viếng thăm Việt Nam tháng 11 năm 1994, đã phát ra bài học cho Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu thuộc nằm lòng và đồng ý ký bản tuyên bố chung tháng 2 năm 1999.

Tháng 11 năm 2000, Giang Trạch Dân giải thích thật cặn kẽ và chi tiết cho Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh về ý nghĩa của 16 chữ vàng. Thêm vào đó nhân chuyến sang viếng Việt Nam năm 2002, Giang Trạch Dân còn chế biến thêm 4 cái tốt. Từ đó trở đi mỗi lần các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc gặp nhau thì hai bên đều lập lại câu “thần chú” 16+4, khẳng định Trung Quốc Việt Nam là một. Cho nên điều đó giải thích tại sao Trung Quốc bắn giết ngư phủ Việt Nam hay cắt dây cáp tàu khảo sát dầu khí mà Việt Nam giả vờ làm ngơ, chỉ xin Bắc Kinh đừng hành động lố lăng như vậy nữa. Bên Việt Nam vì há miệng mắc quai, bên Trung Quốc tin chắc đối tác phải khuất phục, vì được hứa sẽ bảo trợ quyền cai trị lâu dài, đã nhận tiền tài, đã được mỹ nhân hầu hạ chu đáo.

Trước khi ông Tập Cận Bình gặp Tổng Thống Obama, Trung Quốc đã cho đại diện của mình, Tướng Thích Kiến Quốc, phó tổng tham mưu trưởng Quân Ðội Nhân Dân, tuyên bố tại Shangri-La ngày 2 tháng 6, 2013: “Trung Quốc quyết tâm bảo vệ những lợi ích quốc gia ‘cốt lõi’ sẽ không bao giờ thay đổi.” Ngày 5 tháng 6, 2013 trong cuộc đối thoại chiến lược quốc phòng lần thứ 4, thứ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, Nguyễn Chí Vịnh đề nghị “ký thỏa thuận không sử dụng vũ lực trên biển giữa hải quân hai nước,” Thích Kiến Quốc từ chối thẳng thừng, ông nói “sẽ nghiên cứu”! Ba chữ cộc lốc “sẽ nghiên cứu” bao hàm ý nghĩa đe dọa, tiềm ẩn trong quá khứ, hiện tại và tương lai cho nên Hà Nội không khi nào dám cưỡng kháng từ bao nhiêu năm qua. Tàu “lạ” đâm chìm ngư thuyền, đánh giết ngư phủ Việt Nam, hàng trăm tàu đánh cá Trung Cộng tự do đánh bắt trong hải phận đúng ra là của Việt Nam, Hà Nội giả dạng như không có binh chủng hải quân, hải giám. Dân chúng bất bình biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng bị đàn áp, đánh đập dã man, bắt giam bỏ tù dài hạn! Theo lệnh của ai? Nếu không phải là do Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của giới lãnh đạo cao cấp thay mặt đảng, sang Trung Quốc tháng 6 năm 2001, lãnh lệnh “phải điều hướng dư luận trong nước”! Hồ Xuân Sơn “nhất trí đồng thuận” 3 điểm: Một là giải quyết song phương về việc tranh chấp ở Biển Ðông. Hai là thi hành định hướng dư luận trong xứ. Ba là công nhận công hàm của Phạm Văn Ðồng năm 1958. Bí mật này Bộ Ngoại Giao giữ kín cho đến khi trí thức quân nhân cộng sản cao cấp nhất quyết đòi gặp giới lãnh đạo Bộ Ngoại Giao chất vấn thì sự thật mới được tiết lộ.

Kết quả: Ngày 30 tháng 6, 2011, Tướng Mã Hiếu Thiên, phó tổng tham mưu Quân Ðội Trung Quốc, đến Việt Nam chỉ thị cho Hà Nội “xử lý đích đáng và hướng dẫn tình cảm nhân dân đúng đắn, không để biểu tình chống bạn bè tốt, không đa phương hóa và quốc tế hóa vấn đề Biển Ðông.” Ngày 28 tháng 8, 2011, Nguyễn Chí Vịnh - Thứ trưởng Quốc Phòng cam kết với Thượng Tướng Mã Hiếu Thiên: “Việt Nam kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người, không để sự việc tái diễn.” Ngày 14 tháng 9, 2011, Trung Tướng Ngô Xuân Lịch hướng dẫn phái đoàn sang Trung Quốc cam kết với Tập Cận Bình, khi ấy là phó chủ tịch, nguyên văn nội dung lời hứa của Nguyễn Chí Vịnh. Ông Tập khuyên Việt Nam nên theo đuổi những gì đã thỏa thuận.

Ðể bù đắp lại những “cái gọi là” thảo luận và đồng thuận nhưng thực tế chỉ là những ép buộc bao quanh các từ ngữ “đôi bên cùng có lợi,” Trung Quốc hứa cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi trị giá 320 triệu Nhân dân tệ cho hệ thống thông tin đường sắt. Cho vay ưu đãi cho dự án nhà máy đạm than Ninh Bình trị giá 45 triệu Mỹ kim.

Có thể mượn lời của Tiến Sĩ Ian Story, chuyên gia về an ninh Châu Á, để kết luận cuộc hội đàm giữa Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang như sau, ông Story nói với BBC từ Singapore rằng: “Triển vọng có được một giải pháp chính trị hay pháp lý đối với sự tranh chấp ở Biển Ðông khó thành đạt, bởi vì mưu đồ phải chiếm Biển Ðông để thỏa mãn nhu cầu công kỹ nghệ đang lên, và ý đồ bành trướng vì nhu cầu của Trung Quốc không hề thay đổi.”
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Image


Thư ngỏ về việc Đại học Thammasat
trao bằng Tiến sĩ danh dự lãnh đạo đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng
Ngày: 24 tháng 6 năm 2013
Gửi đến: Phân Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Thammasat


Thư ngỏ về việc Đại học Thammasat trao bằng Tiến sĩ danh dự lãnh đạo đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng

Kính thưa quý ngài,

Chúng tôi viết thư này để bày tỏ mối quan ngại của chúng tôi về việc phân khoa Khoa học Chính trị của đại học Thammasat sẽ cấp bằng tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (VCP). Lễ trao giải sẽ diễn ra tại giảng đường chính của Đại học Thammasat vào sáng ngày 26 tháng 6 năm 2013.

Chúng tôi tin rằng cần phải xét lại quyết định này của phân khoa.

Một trong những sứ mệnh của Đại học Thammasat là “nhấn mạnh những lợi ích của đời sống dựa vào triết lý của một nền kinh tế đầy đủ, giá trị dân chủ và công bằng xã hội.”Chúng tôi đặt câu hỏi rằng liệu việc cấp bằng tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng góp phần gì vào sứ mệnh này của trường.

Ông Nguyễn Phú Trọng, sinh năm 1944, tốt nghiệp cử nhân văn chương. Năm 1967 ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản cầm quyền và từ đó đã liên tục được thăng chức trong hệ thống quyền lực của đảng và chính phủ. Ông từng là Bí thư Thành ủy Hà Nội trước khi được bổ nhiệm làm Chủ tịch Quốc hội của Việt Nam vào năm 2006 và Tổng bí thư của đảng vào năm 2011.

Đảng của ông, từ khi thành lập vào năm 1930, đã luôn luôn theo đuổi chủ nghĩa cộng sản và sử dụng chiến thuật bạo lực để đạt được quyền lực. Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, đảng cộng sản lên nắm quyền bằng vũ lực và áp đặt độc quyền chính trị lên toàn bộ dân tộc Việt Nam. Trong những năm sau chiến tranh, đảng đã áp dụng các chính sách tàn bạo đối với những người của chế độ cũ ở miền Nam Việt Nam, ngăn chặn hòa giải dân tộc, đàn áp đối lập chính trị và biến Việt Nam thành một trong những quốc gia bị đàn áp nhất trên thế giới, theo nhiều báo cáo của các tổ chức quốc tế nhân quyền như Tổ chức Theo dõi Nhân Quyền, Phóng Viên Không Biên Giới, Tổ chức Ân xá Quốc tế…

Chỉ đến khi nền kinh tế và đời sống người dân bị xuống cấp nghiêm trọng thì ĐCSVN mới phải bắt đầu thực hiện chính sách Đổi Mới (một bản sao tiếng Việt của Perestroika từ Liên Sô) vào giữa năm 1980. Kể từ đó, nền kinh tế quốc gia đã đạt được sự tăng trưởng và đôi khi Việt Nam được xem như một con hổ mới trong khu vực.

Tuy nhiên, đảng cộng sản đã trì hoãn mọi cải cách chính trị và gia tăng đàn áp mỗi khi đảng cảm thấy có những khát vọng về dân chủ và tự do của người dân trong thời đại toàn cầu hóa. Trong vài năm gần đây, do suy thoái kinh tế tồi tệ nhất kể từ năm 1986 và sự căng thẳng leo thang với Trung Quốc liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên biển, Việt Nam đã có những điểm xấu tồi tệ trong các bảng đánh giá về những hành vi vi phạm nhân quyền với hàng trăm vụ đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa, giam giữ tùy tiện và kết án tù nặng nề đối với những người bất đồng chính kiến ​​và các nhà hoạt động nhân quyền.

Như một tuyên truyền viên, ông Nguyễn Phú Trọng đã luôn luôn trung thành với đảng Cộng sản, một đảng luôn duy trì độc quyền chính trị cho lợi ích của mình. Bây giờ, trong vị trí lãnh đạo đảng, ông là một trong những kẻ bảo thủ nhất, bám vào hệ tư tưởng lỗi thời của chủ nghĩa cộng sản và phủ nhận những cơ hội cần thiết để đất nước phát triển và thịnh vượng.

Để đánh lạc hướng công chúng khỏi sự chú trọng vào suy thoái kinh tế, chất lượng cuộc sống xuống cấp, thiếu vắng nhân quyền và dân quyền, đảng cộng sản đã tung ra chiến dịch cải cách hiến pháp như là một nỗ lực “dân chủ hóa” quốc gia qua việc cho phép người dân góp ý. Mặc dù mục đích được tuyên bố là “thể chế hoá kịp thời đường lối, các chủ trương, chính sách lớn của Đảng”, và “Khẳng định sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam”, một số blogger Việt Nam đã lên tiếng về dân chủ và quyền tự do và những gì mà nội dung của hiến pháp nên có. Đáp ứng với thiện chí của các blogger và việc hành xử các quyền dân sự và chính trị của họ, ông Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố trong một cuộc họp vào ngày 25 Tháng Hai 2013: “Ai muốn đa nguyên và đa đảng? Ai muốn tách rời quyền lực? Ai muốn phi chính trị hóa quân đội?… Đây không gì khác ngoài sự suy thoái! Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể… thì nó là cái gì?! “

Phát biểu của ông đã được phát sóng trên truyền hình quốc gia và khuấy động một làn sóng phản đối công khai trong thế giới blog và cộng đồng Facebook. Sáng hôm sau, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên viết một bài báo công khai chỉ trích ông Trọng. Ngay chiều hôm đó, ông Kiên đã bị sa thải.

Kể từ đó ĐCSVN đã không ngừng đàn áp thành phần đối kháng. Tháng 5 năm 2013, một nữ sinh viên 21 tuổi và người bạn 25 tuổi của cô đã bị kết án 6 và 8 năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước” khi họ kêu gọi nhà nước bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Trung Quốc bành trướng. Tình hình trở nên tồi tệ hơn khi trong vòng chưa đầy một tháng, hai blogger nổi tiếng đã bị bắt giữ và bị buộc tội “lạm dụng tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của nhà nước”. Một blogger khác, cũng là một luật sư và nhà hoạt động pháp lý, sẽ phải ra tòa vào ngày 09 tháng Bảy 2013.

Chúng tôi tự hỏi, từ đâu Việt Nam trở thành một đất nước phải sống dưới một chế độ hà khắc như vậy.

Hôm nay, chúng tôi kinh hoàng khi tin Đại học Thammasat sẽ cấp bằng Tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng, một người chắc chắn phải chịu trách nhiệm cho việc gia tăng đàn áp nhân quyền trong một quốc gia bị sự cai trị hà khắc của một đảng cầm quyền duy nhất mà ông ta là người đứng đầu lãnh đạo.

Làm sao một người như ông Nguyễn Phú Trọng lại có thể được tôn vinh bởi một trong những trường đại học lâu đời nhất ở Thái Lan, nơi đã giáo dục và cổ vũ sinh viên “nhấn mạnh những lợi ích của việc sống theo triết lý của nền kinh tế đầy đủ, giá trị dân chủ và công bằng xã hội.”?

Chúng tôi quan ngại rằng việc Đại học Thammasat trao bằng tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được xem như là một hỗ trợ cho một chính trị gia đã có lời nói và hành động đi ngược lại với quyền con người và các giá trị dân chủ, và trường đại học có thể bị hiểu nhầm là đã ủng hộ những kẻ cầm quyền độc tài và chuyên đàn áp.

Dựa vào những triết lý cũng như các giá trị mà Đại học Thammasat tạo dựng nên, chúng tôi kêu gọi hiệu trưởng và các trưởng khoa của trường thay đổi quyết định cấp bằng tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng.

Đồng ký tên:

Danlambao - danlambaovn.blogspot.com
Voice - vietnamvoice.org
Dân Luận - danluan.org
Finnish Asiatic Society, Finland
Sarawak Dayak Iban Association, Malaysia
The Go Island Foundation, Indonesia
Think Center, Singapore
Housing Rights Task Force, Cambodia
Bernice Aquino See, Human Rights Defenders, the Philippines
Jittra Kotchadej, Try Arm, Coordinator, Thailand

Jolovan Wham, Work Fair, Singapore
Jerald Joseph, Pusat Komas, Malaysia
William Nicholas Gomes, Salem-News.com, United Kingdom
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest