Tạp Ghi

caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Đừng trách những ông Mỹ vàng
Châu Văn Thịnh

Nhớ lại ngày xưa, cha ông của chúng ta đã thường nói đến những ông Tây đen, Tây trắng, nhưng không nghe nói đến ông Tây Vàng; vì thưở đó, rất ít Tây vàng. Vàng ở đây, không phải là quý hóa như Vàng, mà là những người Việt Nam da Vàng, đã đi làm tay sai cho Tây. Những “ông” da vàng mũi tẹt này, có một số không có quốc tịch Tây, mà chỉ làm tay sai cho Tây thôi.

Những ngày nay, thì ở bên Tây, ngoài Tây trắng, Tây đen, thì đã có rất nhiều những người là dân Tây vàng. Ở bên nước Huê Kỳ cũng vậy. Hồi quân đội “đồng minh” Mỹ đổ bộ lên bờ biển tại cảng Đà Nẵng, thì dân ta đã gọi: Mỹ trắng, Mỹ đen, nhưng cũng chưa có Mỹ vàng.

Còn sau ngày 30/4/1975, khi Cộng sản Bắc Việt đã cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa, thì một số đông người Việt đã đến tỵ nạn Cộng sản tại nước Mỹ. Nhưng cho đến sau này, thì có thêm một số đông đảo người Việt đã sang sinh sống trên đất Mỹ, nhưng không phải là người tỵ nạn Cộng sản, mà chỉ đi Mỹ bằng những “diện” khác nhau:

1 - Sang Mỹ theo “diện” cựu tù “cải tạo” (HO)
2 - Đoàn tụ vì có vợ chồng là Mỹ vàng.
3 - Đi ca hát do các trung tâm băng nhạc bảo trợ.
4 - Đi du lịch rồi tìm nhiều cách để ở lại Mỹ.


Trong những thành phần đó, có một số đông đảo đã trở thành những ông, bà Mỹ da Vàng. Nói cho gọn là Mỹ Vàng… khè. Cũng có một số là Việt cộng, đi theo diện kết hôn vợ chồng với Mỹ vàng, đã và đang hoạt động cho Cộng sản một cách hợp pháp trên đất Mỹ.

Và gần đây, có một ông Mỹ Vàng đã làm cho cộng đồng người Việt phải phản đối bằng những cách này, hay cách khác. Ông Mỹ Vàng đó, là Ls Hoàng Duy Hùng, nhưng trách làm gì, vì ông Mỹ Vàng Hùng không còn là một người Việt Nam nữa, ông đã chối bỏ cội nguồn Việt Nam như chính ông Hùng đã nói rằng, ông là người Hoa Kỳ, phục vụ cho chính phủ Hoa Kỳ, cho quyền lợi của Hoa kỳ, trong đó có người Mỹ da trắng, da đen, người Mễ, Phi Luật Tân, Cam Bốt… trong đó có người Việt Nam.

Những điều đó, Hoàng Duy Hùng đã nói ra, không cần che giấu. Do đó, cũng như tất cả chúng ta cần phải có sự hiểu biết, hầu đừng để ý đến, đừng trách những việc làm của những ông Mỹ đen, Mỹ trắng, hay Mỹ vàng.

Vì nếu, nếu thôi, nếu một mai đây, do thời vận đẩy đưa một ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng có trở thành một ông “Đại sứ Mỹ” tại Việt Mam, dù ngày đó, đất nước Việt Nam không còn chế độ Cộng sản nữa, thì “ông đại sứ” Hoàng duy Hùng cũng giống như ông đại sứ Henry Cabot Lodge của ngày xưa vậy; thì “ông đại sứ” Mỹ vàng hay Mỹ trắng cũng phải hành động như nhau.

Nghĩa là ngày xưa, ông đại sứ Henry Cabot Lodge đã tìm mọi cách để giết chết cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm như thế nào, thì nếu có thời cơ, thì “ông đại sứ” Hoàng Duy Hùng cũng sẽ hành động giống y như Henry Cabot Lodge vậy. Không làm khác được.

Hôm qua, khi ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng đến “tham quan” nước Việt Nam Cộng sản, lúc xuống sân bay Nội Bài của xứ người, ông Mỹ Vàng đã được “nhà báo” cũng Mỹ Vàng Nguyễn Phương Hùng “phỏng vấn”. Ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng đã khẳng định như đinh đóng cột rằng:

“Tôi đến Việt Nam với tư cách là một dân cử, tôi là người của Hoa Kỳ, tôi phục vụ cho quyền lợi của chính phủ Hoa Kỳ…”

Xin mọi người hãy suy nghĩ: có bao giờ các vị phản đối hay phiền trách chuyện các ông tổng Thống Mỹ, các ông bà Ngoại trưởng, Bộ trưởng của Mỹ, dù Mỹ Đen hay Mỹ trắng, khi họ tới Việt Nam. Huống thay ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng, chỉ là một nghị viên thôi mà. Nhưng kể ra khi nói mình là “dân cử” thì đối với Mỹ trắng, Mỹ đen thì bình thường. Tuy nhiên, mặc dù cũng được các cử tri bỏ phiếu bầu vào ghế nghị viên, nhưng đối với người Việt Nam, thì các dân biểu mới được gọi là dân cử.

Cũng vậy, ngày nay, trên các báo chí người ta thường ca tụng: “vẻ vang dân Việt” đối với những người trẻ thành công ở xứ người, có những người trẻ đã trở thành Khoa học gia, Tiến sĩ, Dân biểu, Thứ trưởng, Thị trưởng v…v… cho đến các Sĩ quan cao cấp của các quốc gia. Điều này, không phủ nhận, sự thành công của tuổi trẻ gốc Việt. Đặc biệt là tại Mỹ, đã làm cho ngoại quốc cũng nể phục. Nhưng có một điều chắc chắn rằng: Những người này, họ đều phục vụ cho quyền lợi của nước Mỹ, hay các nước khác, chứ họ không bao giờ phục vụ cho đất nước Việt Nam, dù không còn chế độ Cộng sản.

Một thí dụ không phủ nhận được: Nếu một mai vì một lý do nào đó, mà các Sĩ quan Mỹ Vàng, lớn, nhỏ, mà họ phải tham chiến ở bất cứ một nước nào, kể cả ở nước Việt Nam. Thì những Sĩ quan Mỹ Vàng này, họ cũng sẵn sàng nhả đạn, bắn thẳng vào đầu của những người cần phải tiêu diệt để “phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ”, chứ không làm khác được. Điều đó, đã chứng minh qua những hành động của mấy ông tướng Tây Vàng Nguyễn Văn Hinh, (con trai của thủ tướng “công thần đại điểm” Nguyễn Văn Tâm), Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân… đã từng phục tùng tướng cướp Bảy Viễn, tức Lê Văn Viễn của nước Pháp vậy.

Vì thế, mà một số người Việt, đã có con cháu thành công, đã tham gia vào chính trường của các nước, nhưng họ không hề nói ra cho ai được biết; bởi vì họ nghĩ rằng: con cái của họ đã và đang phục vụ cho nước đang cưu mạng họ, xem như một sự đền ơn cho con cái họ được học hành đến nơi, tới chốn, nhưng thực sự, con cái của họ không làm được điều gì để giúp ích cho đất nước Việt Nam thân yêu của họ. Do đó, họ tự thấy không có gì để hãnh diện mà khoe khoang cả.

Nhưng nói để cho những người bình dân dễ hiểu rằng: Có những bậc cha mẹ vì đã quá kỳ vọng vào những đứa con trai, được gọi là “quý tử” của mình, cho nên họ đã tin chắc rằng con cái của họ sau khi công thành danh toại, thì chúng sẽ phụng dưỡng cha mẹ như chính mình đã hết lòng thương yêu đùm bọc chúng. Nhưng rồi khi những đứa “quý tử” ấy sống trong giàu sang, thì lại đem cha mẹ của mình bỏ vào viện dưỡng lão, hay tại Việt Nam, thì bất hạnh hơn nữa, vì các bậc cha mẹ phải nằm đường, ngủ chợ, vì bị các “quý tử” thẳng tay xua đuổi ra khỏi nhà!

Chúng ta phải suy nghĩ cho thật kỹ, để đừng kỳ vọng vào bất cứ những ai, kể cả con cái, để rồi phải thất vọng nặng nề. Và cũng nói, để chúng ta phải suy nghĩ về việc ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng. Bởi vì, ông Mỹ Vàng này đã nhờ sự góp phần của những cử tri gốc việt tại Houston, cho nên Hoàng Duy Hùng mới từ “Chủ tịch cộng đồng” rồi trở thành “nghị viên”. Cả hai cái chức đó, đều có những lá phiếu của cử tri gốc Việt. Những cử tri này, mới đáng trách, còn như tôi đây, không có bỏ phiếu cho ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng, nên không có trách một ông Mỹ Vàng đi phục vụ cho quyền lợi của nước Mỹ.

Châu Văn Thịnh
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

‘Tôi vừa ở bệnh viện về!’
Sunday, March 31, 2013 3:59:19 PM

Tạp ghi Huy Phương

-“Tôi vừa ở bệnh viện về! Anh từ phòng cấp cứu mới ra!” nghe từa tựa như hai câu mở đầu trong bài thơ “Ðôi Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng. Câu nói không mang những nỗi reo vui như thời thơ ấu: “Buổi sáng hôm ấy, một buổi sáng đầy sương thu và gió lạnh...” hay “Je vais vous dire ce que me rappellent tous les ans...”

Ở tuổi già, nhất là tuổi già ốm đau ở hải ngoại, ai mà không đôi lần đã thốt ra câu nói này!

Nhưng lần này ở bệnh viện về, tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn. Nếu có lê thê vài chi tiết, đó không phải là muốn quan trọng hóa vấn đề, mà là cần thiết để chuyên chở những điều mà tôi thực tâm muốn bày tỏ và tâm sự với bạn bè tôi, những vị cao niên vừa bước qua khỏi tuổi 65.

Ở tuổi già chúng ta có nhiều bệnh không dẫn đến cái chết, nhưng chúng ta vẫn lo sợ và cần đến sự cấp cứu. Buổi sáng hôm ấy, khi thức giấc tôi cảm thấy một dòng nước từ mũi trái đang chảy ra, lấy mảnh khăn giấy chặm thì mới hốt hoảng nhận ra đó là một dòng máu tươi. Thời thơ ấu, hình như ai trong chúng ta cũng đã có một lần bị “chảy máu cam” vì chạy chơi ngoài nắng, hay đánh lộn ngoài đường “chảy máu mũi,” được mẹ vã nước lạnh lên trán, nhét những đọt lá dâu non vào mũi. Chuyện này tái diễn nhiều lần, chỉ sau một phút là máu ngưng chảy.

Nhưng lần này, tuổi đã già, lại đang ở nơi xứ sở đang có nền y tế khá tốt, dòng máu từ mũi liên tục chảy mươi phút, bịt kín mũi thì máu chảy xuống miệng, lỡ máu chảy không ngừng thì sao? Chỉ còn cách gọi cấp cứu để vào bệnh viện.

Ở phòng cấp cứu, nhân viên y tế không cho uống thuốc cầm máu, chỉ tìm cách chặn chỗ máu chảy, nhất là khi chỗ ấy lại là lỗ mũi nữa, thì quả là một cực hình. Bác sĩ đưa vào lỗ mũi một vật tương tự như đầu lọc của một điếu thuốc lá, nhưng có kích thước lớn và dài hơn nhiều, xong bơm một dung dịch vào đó, khiến vật ấy căng phồng lên, chận không cho máu chảy thêm (Rhino Rocket.) Chảy máu mũi là một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nên không thể vào bệnh viện để tốn kém cho ngân sách y tế, nên máu hết chảy thì về nhà.

Về đến nhà, máu tiếp tục chảy thì lại phòng cấp cứu, on-off như vậy đến lần thứ tư. Lần đầu hốt hoảng nên gọi 9-1-1, ba lần sau bình tĩnh hơn, và nghĩ là không đến nỗi chết, nên nhờ con lái xe đưa vào bệnh viện.

“Sự bất quá tam!” Ðến lần thứ tư, thấy bệnh nhân “lỗ mũi ăn trầu” lại xuất hiện, bác sĩ trực hội ý với các bác sĩ chuyên môn về tai-mũi-họng cho bệnh nhân vào bệnh viện, và mời một toán giải phẫu chuyên môn đến ngay trong vòng một tiếng đồng hồ sau, đưa chúng tôi lên bàn mổ. Kỹ thuật này gọi “demolization” tương tự như thông tim, thời gian là 60 phút, dùng đường tĩnh mạch từ đùi phải để đưa một bong bóng nhỏ lên tận một mạch máu nhỏ trên mũi để làm cho máu ngưng chảy.

Lần này tôi có thể yên tâm về nhà, hy vọng triệu chứng “hộc máu mũi” này không còn xảy ra nữa, vì cách đây 9 tháng chuyện này đã xảy và tôi đã phải vào bệnh viện một lần rồi.

Tôi khai báo với các bạn là tôi chỉ có Medicare-Medicaid, một thứ bảo hiểm y tế mà người mang quốc tịch Mỹ ở đây ai trên 65 tuổi cũng có, không cần phải đi làm một ngày.

Theo chỉ dẫn trong sách y khoa, chỉ khi nào chảy máu mũi trên 20 phút mới đi bác sĩ (không gọi 9-1-1 để cấp cứu) vì đây là một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng. Với một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng, cơ quan y tế Mỹ đã làm cho tôi một cuộc “tiểu giải phẫu” với một toán chuyên khoa về tim mạch, mà tốn phí không dưới $30,000.

Một trường hợp nguy hiểm đến tính mạng như một người bạn tôi mới đây, vào bệnh viện cấp cứu vì bệnh tim, làm by-pass, phải có đến ba bác sĩ túc trực bên giường bệnh, chi phí lên đến $80,000, mà người bạn tôi không phải móc túi chi ra một đồng. Ðó là nói về ca mổ, chưa tính nằm bệnh viện hơn tuần, thuốc men, tiền ăn uống, tiền xe cấp cứu. Ở đây cũng có những vị cao niên, may mắn chưa vào bệnh viện một lần, nhưng cũng có người vào ra cấp cứu và bệnh viện “như đi chợ,” vậy thử hỏi chi phí y tế mà chính phủ Mỹ trả cho những dịch vụ y tế này lên đến con số bao nhiêu?

Ngoài chuyện housing, tiền trợ cấp sinh sống hằng tháng, tiền trả cho bác sĩ và dược phòng, sống yên như vậy, tuổi già chúng ta cũng đã làm khổ “nhà nước” bao nhiêu rồi. Nay chỉ một cơn đau, một lần vào bệnh viện, chúng ta đã “đốt” hết của quỹ y tế 50, 70 nghìn đô la.

Sở dĩ tôi nói “vòng vo Tam Quốc” như vậy là để nhắc lại chuyện “Cá Tháng Tư” mà tôi đã “thả” ra ngày này, cách đây hai năm. Giả dụ, chính phủ sẵn lòng cấp cho những ai là di dân trên 65 tuổi ở đất Mỹ này, một số tiền, một lần $30,000 nếu họ bằng lòng rời bỏ nước Mỹ này để về nơi quê quán, mà không trở lại. Câu chuyện “giả tưởng” nhưng rất có nhiều người tin vì trong chúng ta cũng có nhiều người có con cái, thân nhân ở Việt Nam, hay vì tuổi già cô đơn, con cái tệ bạc, nếu có được một số tiền về quê xây dựng lại cuộc đời, yên vui tuổi già, họ sẵn sàng chấp nhận. Thật ra, số đông cao niên còn bịn rịn, lưu luyến cái đất Mỹ này cũng vì còn trợ cấp tài chánh, nhà cửa, y tế tương đối đầy đủ mà về lại cố hương, không bao giờ có được.

Ðề nghị của tôi có lợi cho nước Mỹ.

Trong trường hợp của tôi và người bạn bị bệnh tim trong câu chuyện ở trên, nếu chấp thuận nhận mỗi người $30,000 và đã trở về nước, thì chính phủ Mỹ hai năm nay đã “saving” được một số tiền khá lớn. Con số này nếu nhân lên với con số “cao niên tị nạn” bằng lòng với giải pháp “rời” nước Mỹ như trên, quỹ y tế của liên bang Hoa Kỳ sẽ đỡ được một gánh nặng. Tiếc rằng chưa có vị dân cử nào ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn “chộp” được con “Cá Tháng Tư” của tôi.

Tôi nghĩ đến một chuyện chẳng may, nếu một ngày nọ, quỹ y tế của nước Mỹ không còn hay nghèo đi, lấy gì để trả y phí cho trường hợp của tôi hay bạn tôi. Nước Mỹ thật sự đang giàu có, trong bệnh viện, từ cây kim chích, miếng bông, hộp khăn giấy, cái khẩu trang, bịch nước biển, chiếc khăn trải giường... và những vật dụng y tế, thuốc men đắt tiền, chưa lúc nào thấy thiếu. Nhưng liệu với lối hành xử như chúng ta hiện nay, trong tương lai, chúng ta hay con cháu còn được hưởng những tiện nghi như bây giờ không.

Cho tất cả mọi người trên 65 tuổi, có lợi tức thấp hay không có lợi tức, ngoài trợ cấp gia cư, y tế, lương thực, chính phủ phải trả thêm tiền viện dưỡng lão có y tá, săn sóc người bệnh ngoại chẩn, dịch vụ săn sóc tại gia, nhu cầu khám bệnh và thử nghiệm, dụng cụ y khoa dài hạn (giường nằm, xe lăn, gậy chống, tã lót...) Như vậy cũng chưa đủ, các bạn cao niên, trong khi còn lái xe được, còn kiếm chỗ day-care để đến đó ban ngày, vui chơi, ăn uống, tập thể dục, làm theraphy, chơi computer. Thuốc men thì nửa xài nửa bỏ, bác sĩ chiều bệnh nhân, khi thì xin thuốc bao tử cho bà cô bên nhà, khi thì cần thuốc dán đau lưng cho ông anh rể ở quê. Nhức mỏi? (Ai già trên 70, như cỗ xe quá thời gian mà không xộc xệch,) thì tìm đến các “pain center” than van, nhõng nhẽo như những đứa trẻ, để có người đắp nước ấm, xoa bóp, chạy điện. Tiền ấy ai trả?

Chúng ta có ý định tham gia một cuộc biểu tình chống việc cắt giảm Medicare chứ? Thì trước hết, chúng ta phải tiêu pha dè sẻn, hợp lý! Cũng như chúng ta đòi nước Mỹ phải có biện pháp kinh tế với Việt Nam, trong khi chính chúng ta “tuồn” hàng chục tỉ đô la về nước mỗi năm. Ðiều đó có mâu thuẫn chăng?

Thấy những tiện nghi, đặc biệt là tiện nghi y tế mà chúng ta may mắn được hưởng hôm nay, trong lòng tôi thấy mang ơn nước Mỹ. Ðối với cá nhân tôi, nước Mỹ chẳng có món nợ nào, như nhiều người Việt Nam đã kêu gào nước Mỹ đang mắc nợ họ. Tôi không những chỉ mang nợ những ưu đãi vật chất của quốc gia này, mà còn mang ơn mối tình cảm của những nhân viên ngành y tế tận tâm, dịu dàng với bệnh nhân, mà tôi không dám dùng hai chữ “từ mẫu” để tránh một sự liên tưởng đau lòng. Tôi mang ơn những sự đón tiếp sốt sắng trong phòng cấp cứu, dù lúc đó đồng hồ trên tường đã chỉ ba giờ sáng. Tôi mang ơn người bác sĩ đã “xin lỗi” tôi, hay người y tá đã nắm chặt tay tôi khi tôi rên rỉ vì không chịu nổi cơn đau.

Tôi sợ rồi đây, các bạn trẻ của tôi sắp bước vào tuổi 66, 67 (mà không còn là 65 nữa,) và cả con cháu của tôi, những thế hệ lỡ đường sẽ không còn được hưởng hạnh phúc như tôi nữa!
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Thư giãn cuối tuần: NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA ANH VƯƠN VÀ CHỊ DẬU

Image
Nhà anh Vươn: Chum mẻ vại vỡ đang cười hềnh hệch vào kết quả phiên tòa ô nhục.

Những khác biệt sau đây giữa chị Dậu (Tắt đèn) và anh Vươn (Tắt điện) cho thấy là ngày nay chúng ta "cưỡng chế" toàn diện và triệt để hơn thời xưa:

1. Chị Dậu không nộp sưu thuế nên bị cưỡng chế, anh Vươn mặc dù vẫn nộp thuế đầy đủ vẫn bị cưỡng chế.

2. Nếu ngày xưa chị Dậu có công "quai đê, lấn biển" thì chắc chắn sẽ được người ta lập đền thờ như thần, ngày nay mà "quai đê, lấn biển" (như anh Vươn) thì chỉ có... phá sản và tù tội mà thôi!

3. Đoàn cưỡng chế nhà chị Dậu chỉ có "chức sắc" của làng, còn đoàn cưỡng chế nhà anh Vươn có cả "cường hào" cấp tỉnh (đại ca Đỗ Hữu Ca..), cấp huyện (Khanh, Mải), cấp xã (Liêm..) cùng đông đảo lực lượng "vũ trang nhân dân" (Công An, Thủy-Lục quân..). Trong đoàn CHÓ tham gia cưỡng chế thậm chí có cả "CHÓ nghiệp vụ" nữa.

4. Chị Dậu nói khi bị cưỡng chế: "Mày bắt chồng bà, bà sẽ cho mày xem ...", nhưng đến bây giờ nhiều nhà sử học vẫn chưa tìm ra là chị đã cho những "người thi hành công vụ" thời đó "XEM" cái gì. Anh Vươn tuy không nói nhưng đã cho lực lượng cưỡng chế "xem" một màn diễn như thế nào là "lấy yếu địch mạnh", "dùng ít chọi nhiều" và như thế nào là "chiến tranh nhân dân" theo đúng nghĩa của nó?.

5. Tỉ lệ thương vong của quân chính quyền trong "trận đánh đẹp" quá cao, trong khi trong "trận đánh xấu" ngày xưa của chị Dậu không thấy nói có "đồng chí" nào bị thương hoặc mất sức lao động cả.

6. Sau trận đánh của chị Dậu không thấy triều đình Huế ra "kết luận" gì về vụ này mà cũng không thấy một chức sắc nào bị kỉ luật, trong khi trong vụ anh Vươn thì Thủ tướng ra ngay "kết luận" là "cưỡng chế sai pháp luật" và hàng loạt "đầy tớ của dân" bị "kỉ luật". (Có ai còn dám kết luận là chế độ ta không "ưu việt hơn" bọn thực dân, phong kiến nữa không???)

7. Khi cưỡng chế, đàn chó nhà chị Dậu vẫn bình yên (sau này bán cho cụ Nghị Quế) , trong khi chó nhà anh Vươn thì một con thì bị đoàn cưỡng chế bắt... làm thịt, một con thì bị thương bơi sông chạy trốn mới thoát .. vào nồi.

8. Nhà chị Dậu sau khi cưỡng chế vẫn còn, trong khi "cái chòi" anh Vươn thì bị ... san phẳng.

9. Mặc dù cũng "tự xử" nhưng chị Dậu không bị kết tội "giết người" hay "chống người thi hành công vụ" và thậm chí sau này vẫn được cụ chánh tổng cho vào "biên chế" (làm vú nuôi). Còn anh Vươn thì chắc chắn nhẹ cũng một vài năm "bóc lịch" và đừng hòng mơ sau này vào "biên chế nhà nước" nhé (dù chỉ là một chân...gác cổng!.

10. Cùng chống "cưỡng chế" cả, nhưng theo cách nhìn của "Đảng ta" thì chị Dậu là một tấm gương bất khuất, chống áp bức bạo tàn.. của người phụ nữ Việt Nam, những người ủng hộ chị là những người có tình thương yêu "giai cấp", còn anh Vươn lại là một ... tội phạm và những người ủng hộ anh là những "thế lực thù địch" hoặc các "phần tử cơ hội chính trị"!!!

11. Chị Dậu là nguồn cảm hứng cho nhà văn Ngô Tất Tố viết ra tác phẩm "Tắt đèn" và tác phẩm đó đã được xuất bản ngay trong thời kì "thực dân, phong kiến". Ngày nay sẽ không một ai trong "đội quân hùng hậu" trong cái gọi là Hội Nhà Văn Việt Nam của chúng ta có cảm hứng và can đảm để viết tác phẩm "Tắt điện" về anh Vươn, và nếu giả sử có ai đó "dám viết" đi chăng nữa thì chắc chắn cũng không được xuất bản?
12. Khác biệt về vai trò của người phụ nữ trong hai "sự kiện" chị Dậu và anh Vươn: Trong "sự kiện" chị Dậu thì người phụ nữ đóng vai trò CHỦ ĐỘNG theo dạng: Bám trụ chiến đấu, "Giặc đến nhà, đàn bà cũng (PHẢI) đánh", trong khi hai người phụ nữ trong "Tắt điện" là chị Thương và chị Hiền lại hoàn toàn đóng vai trò BỊ ĐỘNG theo dạng: Không tham chiến, nhưng... "Giặc đến nhà, đàn bà cũng (BỊ) đánh". Mặc dù vậy mà hai chị Thương và Hiền lại còn phạm tội "chống người thi hành công vụ", trong khi chị Dậu thì không !!!!
.....

Xét cho cùng, chị Dậu và anh Vươn chỉ có một điểm (và chỉ duy nhất một điểm) giống nhau là : "Tiền đồ" của họ đều "tối đen như mực"!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Chia rẽ là... chết?

Tạp ghi Huy Phương
Chưa có một dân tộc nào mà sự chia rẽ, phân hóa đã nằm ngay trong khởi thủy, từ lúc mới tạo lập, thành hình. Ðó phải chăng là chuyện trăm trứng của Lạc Long Quân và bà Âu Cơ ngày xửa ngày xưa! Trăm trứng ấy nở thành trăm người con trai. Ðang ăn yên ở yên, hòa thuận một nhà thì một ngày kia, bỗng Lạc Long Quân “trở chứng” nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được.”

Thế là hai người bèn chia con, kéo nhau đi mỗi người mỗi ngã, năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biển. Truyền thuyết này không giải thích anh em khắc nhau như thế nào đến nỗi không ở với nhau được mà phải ruột thịt cắt đứt, thân ái chia lìa?

Từ đó, cùng là dòng dõi Rồng Tiên, nhưng họ khinh ghét nhau, xem nhau như thù địch.

Mảnh đất miền Trung chật hẹp lại hiểm trở, núi non lại gần biển cả, được cắt ra nhiều mảnh bằng những con sông, người Việt trong lịch sự đã nhiều lần dùng những con sông này, để cắt đất, dựng lên biên giới cho sự thù nghịch, không đội Trời chung.

Con sông chia cắt Nam-Bắc đầu tiên trong lịch sử là sông Gianh, còn được gọi là Linh Giang, nằm về phía Bắc tỉnh Quảng Bình là ranh giới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1786) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672). Ðất nước chia cắt, bên kia sông là Bắc Hà, bên này sông là Nam Hà, bên ấy là Ðàng Ngoài, bên này là Ðàng Trong.

Trong thời Pháp thuộc, Việt Nam bị chia ra làm ba kỳ: Nam Kỳ (Cochinchine) đặt dưới quyền cai trị của Pháp, Trung Kỳ (Annam) và Bắc Kỳ (Tonkin) thuộc chế độ bảo hộ. Hầu hết người bình dân Việt Nam vẫn nghĩ đây là ba nước riêng biệt. Người Nam vẫn coi mình là người Việt (Diệt), còn Huế và Hà Nội là nước Huế, nước Bắc. Nhiều người cho đây là chính sách “chia để trị” của Ðế Quốc Pháp, nhưng người Việt Nam, khi không ai “chia để trị” cũng tự mình chia năm, xẻ bảy.

Sau hơn mười năm, cuộc chiến tranh Quốc-Cộng dằng dai, làm tan nát đất nước, ngày 20 Tháng Bảy 1954, kết thúc bằng Hội Nghị Geneve, Thụy Sĩ, đã chia cắt Việt Nam ra hai miền Nam-Bắc, lấy con sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị, gần với vĩ tuyến 17 làm đường ranh giới. Sau gần 21 năm, đất Việt Nam “gọi là thống nhất” nhưng thực sự lại càng chia rẽ sâu xa về nhân tâm, chính kiến khó hàn gắn được.

Cái chế độ quái đản phát xuất từ Liên Xô đã làm nhiều quốc gia tan nát, chia rẽ trầm trọng. Nước Ðức đã sớm thức tỉnh vì dân trí cao, thống nhất trở thành một đất nước không cộng sản, nhưng Bắc Hàn còn mê ngủ với chế độ bưng bít, phong kiến, so với Nam Hàn còn cách biệt quá xa về kinh tế, văn hóa, khó lòng cho người dân được mở mắt mở lòng, tự do đến với loài người văn minh.

Cuộc đấu tranh giai cấp của chế độ cộng sản đã xô đẩy đất nước và con người Việt Nam vào chỗ chia rẽ hết sức khốn nạn. Dù trong thời Pháp thuộc, ở Việt Nam, nông nghiệp là chủ yếu, dù là có phú nông, trung nông nhưng không hề có chế độ nông nô, người có của, kẻ có công, đã tạo nên sự no ấm và thái bình cho xóm làng. Sau khi chiếm được miền Bắc, dưới chỉ đạo của đàn anh Trung Cộng, Bắc Việt đã cho phát động chiến dịch cải cách ruộng đất. Ðội Cải Cách Ruộng đất ra mắt làng xã, chiến dịch này chủ trương tất cả các gia đình trong xã làng phải được phân loại thành 5 thành phần: địa chủ, phú nông, bần nông, cố nông. Gia đình có hai con lợn đã có thể gọi là phú nông.

Thành phần địa chủ còn được đội cải cách phân loại thêm một lần nữa thành: địa chủ gian ác, địa chủ thường, địa chủ có ủng hộ kháng chiến.

Chia rẽ nông dân, để giảm sức chống đối, đó là đường lối của chiến dịch. Khẩu hiệu của chiến thuật là: “Dựa vào bần cố nông, tranh thủ trung nông, cô lập phú nông, tập trung mũi nhọn vào địa chủ.” Ðó là chiến thuật “bẻ đũa thì bẻ từng chiếc.” Ai gây chia rẽ thâm độc bằng bọn cộng sản. Theo con số của nhiều nhà nghiên cứu, 15,000 người đã bị xử tử công khai hay bị bỏ đói cho đến chết. Theo báo Nhân Dân thì chiến dịch sửa sai cũng gây thêm chết chóc khi những người được phục hồi trả thù những người đã đấu tố họ oan ức, hoặc chưa kịp trả thù thì đã bị thủ tiêu trước.

Cộng sản luôn luôn hô to khẩu hiệu “Ðoàn Kết, Ðoàn Kết, Ðại Ðoàn Kết,” nhưng thực tế cộng sản là chế độ tìm cách phân loại nhân dân trầm trọng, chia rẽ dân tộc. Sau khi chiếm miền Nam, chế độ phân chia thành phần nhân dân thực hiện gay gắt, ai là “có công với cách mạng,” ai là “có nợ máu với nhân dân” rạch ròi, minh bạch. Chế độ tuyển sinh vào đại học cũng phân chia ra 13 thành phần, trong đó con cái “Ngụy” được xếp “ưu tiên” vào hạng chót. Chúng kêu gọi đoàn kết “để xây dựng đất nước,”nhưng dùng “hồng” thay “chuyên” nên bao nhiêu trí thức đã phải bỏ nước ra đi, chết sông chết biển, nay chúng lại nhọc công mở chiến dịch kêu gọi nhân tài về “phục vụ đất nước!”

Ðối với ngay trong hàng ngũ cán bộ, ăn ở cũng chia thành phần “đại táo” “tiểu táo,” chết cũng phân biệt chỗ chôn, như nghĩa trang Mai Dịch là một nghĩa trang liệt sĩ ở Hà Nội, chỉ dành cho những nhân vật có “đóng góp” cho đảng như các thứ trưởng, bộ trưởng, các ủy viên trung ương đảng trở lên; các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ được giải thưởng Hồ Chí Minh; các tướng lĩnh xuất sắc; anh hùng lực lượng vũ trang v.v... trong khi ở miền Nam, tại nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi, Ðại Tướng Lê Văn Tỵ cũng có thể nằm gần một người dân thường.

Không có một chế độ nào chia cách phân biệt bằng chế độ cộng sản. Hà Nội đã có câu ca dao sau đây để chỉ nơi tiêu thụ, mua bán hàng hóa:

“Hàng Bài là chợ Vua Quan, (Bộ Chính Trị)

Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần (bộ trưởng và đảng viên cao cấp)

Ðồng Xuân là chợ thương nhân,
Vỉa hè là chợ nhân dân, anh hùng!”


Dưới mắt người miền Nam thì sau năm 1975, người miền Bắc được chia làm ba loại: Bắc Kỳ Cũ (mộ phu vào những năm 41-42 hay di dân vào Nam sinh sống,) Bắc Kỳ 54 và Bắc Kỳ 75.

Có lẽ trong các loại chia rẽ, kỳ thị, đối với người Việt Nam Nam Bắc có lẽ là vấn đề nhậy cảm nhất. Vì miền Nam khí hậu tốt, đất đai màu mỡ, nên sau năm 1975, cộng sản đã chủ trương đưa hàng triệu người Bắc vào Nam, chiếm cứ đất đai, nhất là vùng cao nguyên, vừa là để đồng hóa miền Nam vừa để giãn dân miền Bắc. Tuy vậy, miền Nam ngày nay vẫn mang mặc cảm Bắc thuộc.

Trở lại với bản tính dân tộc, người Việt được xem là một dân tộc thông minh, cần cù, chăm chỉ nhưng đại... chia rẽ. Một người Việt Nam là tuyệt hảo, nhưng ba người Việt ngồi lại là... sinh chuyện, vì không ai phục ai, không ai nhường ai. Cổ nhân nói “tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư- trong ba người cùng đi, tất phải có một người là thầy ta!” nhưng chúng ta phải nói lại: “Trong ba người Việt cùng đi, ai cũng cho mình là thầy cả, chẳng ai nhận là học trò của ai.”

Trong hoàn cảnh phải bỏ nước ra đi, dựa vào sự chết để tìm sự sống, đáng lẽ người Việt hải ngoại phải đoàn kết hết lòng để tìm ra sinh lộ, nhưng ở đâu chúng ta cũng thấy phơi bày sự chia rẽ, bất phục lẫn nhau. Tình trạng các hội đoàn, cộng đồng ở hải ngoại, không nói riêng gì nước Mỹ, đã có nhiều nơi chia rẽ, phân hóa trầm trọng, dùng mọi cách để bêu xấu, công kích nhau. Nhiều hội đoàn tuy cùng một màu áo, cùng một mục đích đấu tranh, nhưng lại không thể ngồi chung với nhau, mà chia thành hai ba hội đoàn, làm mất đi sức mạnh đoàn kết.

Ngay trong một địa phương, một cộng đồng đại diện người Việt đã được tổ chức bầu bán, nhưng cũng còn một cộng đồng khác, khi ẩn khi hiện, nay ra tuyên cáo này, mai có thông cáo khác, để chứng tỏ sự có mặt của mình, cũng như để cho những ý kiến cộng đồng kia đưa ra là sai. Tình trạng tôn giáo ở nhiều địa phương cũng vậy!

Trên Internet mỗi ngày, người đọc gặp phải những bài viết chửi bới, với loại văn phong hạ cấp, không phải dành cho kẻ thù đã khiến cho anh phải bỏ nước ra đi, mà chính cho bạn bè, đồng hương, đồng ngũ của anh hay là những người chỉ vì không... đồng ý với anh. Vậy mà chúng ta luôn luôn cho mình là người yêu nước, kêu gào, đòi hỏi “giải thể” chế độ, đòi hỏi những chuyện long trời lở đất, trong khi chính cá nhân nhỏ bé, ích kỷ của mình chưa bước qua nổi cái tôi, cái danh, cái ích kỷ đang đè nặng trong lòng, thì mong gì chúng ta làm nổi được chuyện lớn.

Bản chất của cộng sản là chia rẽ, nhưng cũng dùng chính sách “chia để trị” nhất là trong chính sách đối với người Việt hải ngoại. Nhưng bản chất chia rẽ trong máu huyết của những con người gọi là “con Rồng, cháu Tiên,” đã có từ nguồn gốc, từ thời khai thiên, lập địa, chắc ngày một ngày hai, khó lòng mà gột rửa.

“Gió mưa là bệnh của Trời
Chia rẽ là tật của người Việt Nam!”

“Bệnh” hy vọng chữa lành, còn “tật” phải còn xem lại.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Từ Diva đến Ði Vô

Quỳnh Giao

Người Việt Nam chúng ta thường nghĩ rằng dân mình hay cường điệu. Phải chăng là vì mình học được nếp văn hóa ưa thích điểm tô của Trung Hoa? Một bữa tiệc cưới thì phải có mấy món ăn chơi gọi là “bát bửu,” bánh trung thu hai lòng trứng thì gọi là “lưỡng nguyệt,” con vịt nướng được gọi là “vịt tỳ bà” vì được tách đôi cho dẹp để có cái dạng của cây đàn tỳ bà trước khi cho vào lò nướng!

Chuyện hiện đại hơn và trong lĩnh vực trình diễn tân nhạc, gần đây ta thấy xuất hiện toàn những danh ca. Một ca sĩ bậc trung cũng có thể được long trọng giới thiệu là danh ca. Rồi gần đây hơn nữa còn có hiện tượng lạm phát “diva.” Lần này thì ta không bị ảnh hưởng Trung Hoa mà là học được nghệ thuật quảng cáo của Hoa Kỳ, với thành tích cường điệu còn hơn các ông bà bầu của chúng ta.

Có gốc gác là tiếng Ý hàm nghĩa là “nữ thần,” xưa kia chữ “diva” được dùng để tôn vinh giọng nữ xuất chúng trong các vở Opera. Nó cũng tương tự như “prima dona” mà mình có thể dịch là “đệ nhất phu nhân.” Sau này, các nữ ca sĩ hát nhạc phổ thông cho đại chúng mà ta gọi là nhạc pop cũng được dân Mỹ xưng tụng là “diva.” Vào tới Việt Nam thì “diva” đã thành một tập thể còn đông hơn số nhân viên kéo màn! Một đạo binh toàn những nữ tướng mà thôi.

Người ta không để ý rằng nạn lạm phát làm hạ giá tất cả.

Sau khi cường điệu phóng đại, dân Mỹ ngày nay dùng chữ “diva” theo ý mỉa mai: “diva” là nàng kênh kiệu, mắc chứng tự mê. Nàng có cái ngã vĩ đại và chỉ biết đòi hỏi cho riêng mình mà chẳng cần đến người khác. Ðược gọi là “diva” với cú liếc mắt bĩu môi thì chính là bị phê phán đấy!

Ai ai cũng biết chữ “nhân vô thập toàn,” nhưng hiện tượng tự mê đến độ mang tật như thế đã được các nhà tâm lý học để ý tìm hiểu. Và họ phát giác ra vài điều đáng yêu sau đây.

Con người ta có thể tự mê, nhưng trước nhất là phải tự trọng. Một “diva” mà tự mê quá mức đã mất dần tính chất tự trọng vì quên hẳn người khác. Nghệ sĩ tự trọng ra trước sân khấu thì phải tự chuẩn bị một cách tươm tất kỹ lưỡng.

Ðó là điều tốt, vì không ai thích những người trình diễn cẩu thả, ra cái vẻ bất cần đời mà cũng chẳng cần đến khán thính giả.

Khi ấy, các nhà tâm lý học mới phân biệt loại “diva” lành mạnh và loại “diva” đành hanh. Ðành hanh là người chỉ biết khai thác mọi phương tiện để làm nổi chính mình, và ganh tị với đồng nghiệp. Lành mạnh là người thiết tha đến người khác nên chia sẻ tất cả, từ hào quang, ánh đèn màu, tiếng nhạc đến tiếng vỗ tay của cử tọa.

Ðược chia sẻ sân khấu hay diễn đàn với một “diva” lành mạnh tử tế thì ai cũng vui vẻ và góp phần hoàn thành tiết mục cho mỹ mãn. Nếu phải phục vụ một diva đành hanh và xấu nết thì mọi người đều ngán ngẩm. Họ chỉ muốn làm xong tiết mục cho có để tìm nơi thư giãn trong sự hậm hực. Về dài thì mối giao tình với nghệ thuật sẽ không bền.

Về dài, “diva” tự mê và khinh bạc sẽ là người cô đơn, sống trong ảm đạm khi tài sắc đã hết. Trước khi đi đến cõi tận ấy, nhiều người bị khủng hoảng tâm thần vì chỉ nghĩ đến chuyện sai khiến người khác khi họ hết biết mình là ai nữa.

Nhưng vì sao có chức năng thăng hoa, nghệ thuật lại có thể làm giảm nhân cách con người đến như vậy?

Một nghệ sĩ hài hước của Hoa Kỳ tại New York đã có câu trả lời anh ta học được từ một nàng call girl tạm dịch là gái gọi: Ban đầu, nàng “chạc” một chuyến qua đò là năm trăm nên bị khinh như mẻ. Vì vậy, nàng đòi ba ngàn thì được khách quý như vàng và coi như “diva.” Vì vậy, tay danh hài này cũng ra vẻ khó khăn để được người đời kính trọng, dù thâm tâm thì chẳng đến nỗi vậy.

Phải chăng, chính là sự sùng chuộng quá đáng của chúng ta đã làm hư các nghệ sĩ, khiến họ đeo kim tuyến mà cứ tưởng mình là kim cương thật. Ðứng đâu cũng tưởng là cái bệ nên cứ sợ bị hạ bệ?

Mà các ông cũng chẳng thoát tội này đâu.

“Divas” là cho các bà, chứ nam giới thì gọi là “divos.” Ðấy là các ca sĩ hát nhạc cổ điển hay cả nhạc rock, nhạc pop. Nhưng, ngoài sân khấu nghệ thuật, nhiều nhà bình luận hay cố vấn kinh doanh, quản trị cũng bị gọi là “divos.” Theo nét văn hóa Ấn Ðộ, họ được gọi là “pandit” hay “pundit” là học giả, đại trí thức, nhưng với ý tiêu cực là “thầy bàn.” Nói theo các cụ thì họ “phán như thánh sống”!

Vì vậy, lấp lánh trong phòng trà thì ta có “diva,” còn ồn ào ngoài quán cóc thì các ông lại có “divo”...
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cuộc Sống không cho ai quá nhiều.

Ở một đất nước giàu có của Châu Âu, có một cô ca sĩ rất nổi tiếng. Tuy mới chỉ 30 tuổi nhưng danh tiếng cô đã vang dội khắp nơi, hơn nữa cô có một người chồng như ý và một gia đình hạnh phúc mỹ mãn. Một lần, sau khi tổ chức thành công một đêm diễn, cô ca sĩ cùng chồng và con trai bị đám đông người hâm hộ cuồng nhiệt bao quanh. Mọi người tranh nhau chuyện trò với cô. Những lời lẽ tán tụng khen ngợi tràn ngập cả sân khấu.

Có người khen cô tuổi nhỏ chí lớn, vừa tốt nghiệp đại học đã bước chân vào nhà hát tầm cỡ quốc gia và trở thành nữ ca sĩ trụ cột của nhà hát. Có người tán tụng rằng mới có 25 tuổi mà cô đã được lựa chọn là một trong 10 nữ ca sĩ có giọng háy opera xuất sắc nhất thế giới. Có người lại ngưỡng mộ cô có người chồng tuyệt vời, một cậu con trai kháu khỉnh, dễ thương.

Trong khi mọi người thi nhau bà luận, cô ca sĩ này chỉ im lặng lắng nghe, không thể hiện thái độ gì. Khi mọi người nói xong cô chậm rãi nói: “Trước tiên, tôi cảm ơn những lời ngợi khen của mọi người dành cho tôi và những người trong gia đình tôi. Tôi hy vọng có thể chia sẻ niềm vui này với mọi người. Nhưng các bạn chỉ nhìn thấy một số mặt trong cuộc sống của tôi còn một số mặt khác, các bạn vẫn chưa nhìn thấy. Cậu con trai của tôi mà mọi người khen là bé kháu khỉnh, đáng yêu, thật bất hạnh, nó là 1 đứa trẻ bị câm. Ngoài ra, nó còn có một người chị tâm thần và thường xuyên bị nhốt ở nhà.”

Mọi người đều ngơ ngác, sửng sốt nhìn nhau, dường như rất khó chấp nhận một sự thật như thế. Lúc này, cô ca sĩ mới điềm tĩnh nói với mọi người: “Tất cả những chuyện này nói lên điều gì? Có lẽ chúng nói lên một triết lý, đó là, Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá nhiều thứ bao giờ.”

Thượng đế rất công bằng , ngài không cho ai quá ít, cũng không cho ai quá nhiều. Vì thế, đừng nên chỉ nhìn thấy hoặc ngưỡng mộ những thứ người khác có, mà nên nghĩ và trân trọng những thứ bạn đang có, cho dù đó không phải là những vinh quang tột đỉnh.

Vậy nên, nếu ai hỏi bạn “Bạn có hạnh phúc không?” Bạn hãy trả lời rằng :”Mình hạnh phúc. Hạnh phúc theo cách sống và những gì mình đang có trên đời này. “
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

ĐA THỌ - ĐA KHỔ

hoanghaithuy
Người Tầu có thành ngữ “Ða thọ đa nhục.” Người sống lâu bị nhục nhiều.
Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Ða thọ đa nhục.”
Tôi không cho là người già bị nhục. Tôi thấy người ta càng nhiều tuổi càng khổ. Khổ vì không còn hưởng thụ gì được sự đời mà phải chịu những bệnh tật do già yêú sinh ra: Người già không tự lo được cho thân mình, mắt mờ, tai điếc, trí nhớ mất, sống nhờ người khác. Người già vua chúa hay cùng đinh, tỷ phú hay anh nghèo rớt một xu dính túi không có, kẻ quyền uy chấn động thế giới một thời hiển hách hay anh phó thường dân cả đời cơm nhà, quà vợ, khi tuổi già đến đều có những nỗi khổ như nhau.

Người ta qua 60 tuổi được kể là già. Ở Việt Nam những năm 1940-1950 người 50 tuổi được gọi là cụ.
Khổng Tử chỉ nói về Người đến tuổi 70: “Thất thập nhi tùy tâm sở dục.”
Tôi nghĩ ông muốn nói : “Người bẩy mươi tuổi muốn làm gì thì làm..” Nhưng người bẩy mươi tuổi còn làm gì được nữa. Người bẩy mươi cả Bốn Tứ Khoái đều không hưởng được, không làm được.
Năm nay – 2013 – tôi tám mươi tuổi. Một ngày đầu Xuân Kỳ Hoa Ðất Trích 2013, tôi viết bài này.

Năm 2000, khi chia tay nhau lúc nửa đêm ở trước một Nhà Dành cho Người Già Thu Nhập Thấp – Housing for Old Seniors Low Income – ở San Jose, ông bạn già của tôi nói:

- “Ðọc những bài viết của toa để nhớ, để thương Sài Gòn của chúng ta.”

Ông cầm tay tôi:

- “Viết. Viết nữa. Viết đến năm toa tám mươi. Viết cho bọn moa đọc.”

Ðêm mùa đông San Jose lạnh giá bao quanh chúng tôi khi chúng tôi từ biệt nhau, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối.
Năm 2000 tôi 68 tuổi. Ông bạn HO già hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi không biết hôm nay ông còn ở cõi đời này hay không. Thời gian và không gian làm chúng tôi không biết nhau sống chết ra sao.

Tám mươi tuổi tôi vẫn viết. Tôi không còn viết phóng tác truyện dài. Tôi viết những bài như bài này.
Thời gian Sống, Yêu và Viết của tôi không còn bao lâu nữa, nên với nỗi Buồn vì phải xa mãi những người tôi yêu thương, hôm nay tôi viết những dòng chữ này.

o O o

Tôi bị ám ảnh bởi cái Chết, tôi ghét Chết, tôi sợ Chết, tôi không muốn Chết. Không phải bây giờ trong tuổi già, tuổi gần đất, xa trời, tôi mới sợ Chết, tôi sợ Chết từ những năm tôi năm, sáu tuổi, khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ.

Nhà tôi ở cuối thị xã Hà Ðông, nhà có lầu, tiếng Bắc là nhà gác, nhà hai tầng. Trên gác nhìn ra tôi thấy cánh đồng với những nấm mồ rải rác trong những ô ruộng, ở gác sau nhìn ra tôi thấy Nhà Thương Hà Ðông và bãi tha ma ở cuối Nhà Thương. Những đêm mưa tôi thấy những chấm lửa lập lòe trong bãi tha ma. Về sau tôi biết đó là những ánh đèn của những người đi soi bắt ếch. Những năm xưa ấy tôi tưởng đó là những đốm lửa ma trơi.

Năm tôi năm, sáu tuổi, mẹ tôi 27, 28 tuổi. Tôi sợ mẹ tôi chết, người ta đem mẹ tôi ra chôn ở ngoài đồng. Mẹ tôi phải nằm một mình giữa cánh đồng vắng, lạnh, cô đơn, nơi mẹ tôi nằm ngập nước, đêm đông, mưa phùn, gió bấc, mẹ tôi khổ biết chừng nào..

Ðó là nguyên nhân thứ nhất làm tôi ghét Chết, tôi sợ Chết.

Mời bạn đọc một chuyện Sống, Yêu và Chết tôi thấy trên Internet.

- * Trong phiên xử ở Tòa Án Phoenix, Arizona, bị cáo là Ông George Sanders, 86 tuổi, bị xử vì tội giết vợ. Tất cả mọi người có mặt tại toà, từ công tố viên đến chánh án, kể cả con cháu của kẻ bị cáo, đều thấy bị cáo phạm tội giết người, nhưng tất cả đều cho rằng đây là trường hợp pháp luật nên thông cảm, thương hại, tha thứ hơn là trừng phạt kẻ có tội.

Anh cháu của bị cáo George Sanderss nói trước tòa:

- “Ông tôi sống để thương yêu bà tôi. Suối đời ông tôi làm mọi việc để bà tôi có hạnh phúc. Mối tình của ông bà tôi là mối tình lớn. Tôi tin ông tôi bị bắt buộc phải làm việc ấy vì yêu thương bà tôi, bà tôi chịu đau quá nhiều rồi, ông tôi không thể để bà tôi chịu đau nhiều hơn nữa. “

Ông Sanders bị bắt Tháng Bẩy năm 2012 sau khi ông nói với cảnh sát bà Virginia, vợ ông, 81 tuổi, xin ông làm bà chết. Vì ông Sanders nhận tội nên toà án không dùng đến đoàn bồi thẩm, nhưng ông vẫn có thể bị kết án đến 12 năm tù.

Bà Virginia bị bệnh nan y năm 1969, bà liệt bại, bà phải ngồi xe lăn. Năm 1970, ông bà sang sống ở Arizona vì khí hậu ở đây ấm nóng.

Ông Sanders là Cựu Chiến Binh Thế Chiến II. Ông là người nuôi và săn sóc bà vợ. Ông nấu ăn cho bà, làm mọi việc trong nhà. Mỗi sáng ông giúp bà trang điểm, mỗi tháng ông đưa bà tới Nhà Thẩm Mỹ để bà làm tóc, làm móng tay.
Năm tháng qua, sức khoẻ của ông Sanders suy mòn. Ông phải đặt máy trợ tim, ông không còn săn sóc chu đáo được bà. Rồi bà Virginia bị ung thư phá ra ở chân, bà phải vào một Nursing home để người ta lo cho bà sống qua những ngày tàn cuối đời.

Ông Sanders nói với những viên chức điều tra:

- “Ðây là giọt nước làm tràn ly nước. Virginia nhất quyết không chịu vào Nursing home. Vợ tôi tự cắt những ngón chân bị ung thối.”

Ông nói:

- “Vợ tôi xin tôi cho bà ấy chết. Tôi nói tôi không thể.”

Vợ tôi nói:

- “Anh làm được mà. Em biết anh làm được.”

Sanders cầm khẩu súng lục, ông lấy khăn bông quấn ngoài khẩu súng, nhưng ông không sao bóp cò súng được.
Ông kể:

- “Vợ tôi nói:
- “Bắn đi anh. Cho em đươc chết.”

Tôi nói lời cuối với vợ tôi:

- “Em sẽ không cảm thấy đau.”
Và:

- “Anh yêu em. Vĩnh biệt em”

Tôi nổ súng.”

Trước toà, người con trai của ông Sandsers nói:

- “Tôi muốn quí toà biết rằng tôi yêu thương mẹ tôi, tôi cũng yêu thương bố tôi như thế.”

Steve Sandes, anh con, nghẹn ngào kể:

- “Bố tôi yêu thương mẹ tôi trong 62 năm. Những đau đớn thể xác và việc chịu đau vô ích đã làm bố mẹ tôi đi đến quyết định ấy.. Tôi không kết tội bố tôi. Với tôi bố tôi là người tôi cảm phục nhất.”

Ông già George Sanders chỉ nói trong khoảng một phút, giọng ông run run:

- “Tôi gặp Viginia năm nàng 15 tuổi, tôi yêu nàng từ năm nàng 15 tuổi. Tôi yêu nàng khi nàng 81 tuổi. Có nàng làm vợ là một ân phúc Thiên Chuá ban cho tôi. Tôi sung sướng được chăm sóc nàng. Tôi làm theo ý muốn của nàng. Tôi xin lỗi các vị vì vợ chồng tôi mà các vị phải bận lòng.”

Ông Công tố đề nghị ông Chánh án không phạt tù giam George Sanders, ông nói toà nên xử án treo.
Ông Chánh án John Disworth nói ông đặt nặng tình nhân đạo trong vụ án này. Ông nói:

- “Bị cáo phạm tội giết người, nhưng được toà giảm nhẹ mức án.”

Ông tuyên phạt ông già George Sanders 2 năm tù treo. TÙ treo không bị cảnh sát kiểm xoát.

o O o

Chuyện ông bà Sanders làm tôi suy nghĩ lan man. Tôi nhớ chuyện Cái Bát Gỗ tôi đọc những năm tôi 10 tuổi.
Anh con thấy ông bố già run tay, khi ăn hay đánh rơi bát cơm, bát vỡ. Anh làm cái bát bằng gỗ cho ông già ăn cơm. Ông có làm rơi bát, bát gỗ không bị vỡ.

Một hôm anh thấy thằng con nhỏ của anh hí hoáy đục đẽo một cục gỗ, anh hỏi nó đục gỗ làm gì, con anh nói:
“Con làm cái bát gỗ, để khi bố già, con cho bố ăn cơm.”

Chuyện – dường như – ở trong sách Quốc Văn Ðộc Bản – đã 70 năm tôi không quên nó – nó đây là chuyện cái Bát Gỗ – nhưng chẳng có dịp nào tôi nhớ nó. Hôm nay tôi nhớ nó.

Từ sau năm 1975 ở Hoa Kỳ Nhà Xuất Bản Xuân Thu in lại tất cả những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư. Nhưng sách Quốc Văn Ðộc Bản – sách có nhiều bài thật hay – thì không thấy in lại. Tôi không biết tại sao Quốc Văn Ðộc Bản không được in lại ở Hoa Kỳ. Tôi đã đọc lại tất cả những sách Giáo Khoa Thư được in lại ở Hoa Kỳ, tôi muốn đọc lại những bài trong Quốc Văn Ðộc Bản.

Tôi nhớ lâu rồi, từ những năm 1950 khi tôi chưa gập Tình Yêu Vợ Chồng, tôi đọc trên trang sách nào đó lời một ông Tầu viết:

“Vợ chồng như hai con chim tình cờ cùng đậu trên một cành cây. Ðến lức phải bay đi, mỗi con bay đi một phiá.”
Năm xưa còn trẻ, tôi muốn phản đối lời diễn tả trên. Ông Tầu muốn nói vợ chồng là chuyện ngẫu nhiên, chẳng có tình nghĩa gì giữa vợ và chồng. Hôm nay tôi mới dịp viết ra lời phản đối.

Ông bác sĩ điều trị cho vợ chồng tôi mỗi tuần một ngày vào chẩn bệnh cho những ông bà già trong một Housing for Old Seniors – Housing này có nhiều ông bà già Mỹ trắng – ông nói:

“Có những cặp vợ chồng về già không nhìn được mặt nhau.”
Lời kể của ông làm tôi buồn. Vợ chồng sống với nhau đến già, ở chung một nhà già – mỗi người một phòng – sắp ra nghĩa địa, sắp vào hũ sành mà thù hận nhau đến không nhìn mặt nhau?? Thù hận gì dữ dội đến thế? Những người ấy thật khổ.

Bát đại khổ não ghi Tám Nỗi Khổ Lớn của con người:

Sinh, Lão, Bệnh, Tử: 4 Khổ ai cũng phải chịu.
Muốn có mà không có: Khổ 5
Có mà không giữ được: Khổ 6.
Yêu nhau mà không được cùng sống: Khổ 7.
Ghét nhau mà phải sống gần nhau: Khổ 8.
Có người chỉ phải chịu có 7 Khổ. Ðó là những người không yêu ai cả.
Nhiều người Việt phải chịu cả 8 Khổ. Ðó những người thù ghét bọn Việt Cộng mà cứ phải sống với bọn Việt Cộng.

o O o

Mùa thu mây trắng xây thành.
Tình Em mầy ấy có xanh da trời.
Hoa lòng Em có về tươi?
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

Tôi làm bài thơ trên Tháng Bẩy năm 1954 ở Vũng Tầu, ngày chúng tôi yêu nhau. Cuộc Tình của chúng tôi đã dài trong 60 năm. Cuộc Tình Vợ Chồng. Trong cuộc đời Tám Khổ này, nàng và tôi chỉ phải chịu có Bẩy Khổ.
Năm 1979 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, nhớ Nàng, tôi làm bài thơ:

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ?
Thời gian nào rộng cho vừa Tình ta.
Hoa lòng Em vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai.
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em
Mặt trời có lặn về đêm,
Sớm mai Em dậy bên thềm lại soi.
Cuộc đời có khóc, có cười,
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.
Thu về trời lại xanh mây.
Ðầy trời ta thấy những ngày ta yêu.
Càng yêu, yêu lại càng nhiều.
Nhớ Em, Anh nhắn một điều: “Yêu Em.”
Năm 2013 tôi đổi hai tiếng trong bài thơ:
“Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Sáu mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.”

o O o

12 giờ buổi trưa tháng Sáu, 2012, Nàng bước hụt, ngã nhào qua bốn bực thềm cửa, nàng ngất đi. Ngồi bên nàng trong nắng trưa mùa hạVirginia, chờ Ambulance đến, nước mắt tôi ưá ra.

Trong ICU – Ai Si Yu – Intensive Care Unit – tỉnh lại, nàng nói:
“Xin Thiên Chuá tha tội cho em.”

Tôi nói:
“Em có tội gì. Mà Em có tội gì, Thiên Chuá cũng tha cho Em rồi.”
Nàng chỉ bị rập xương nên không bị mổ, không bị ghép xương, không phải bó bột. Về nhà nằm, uống Vitamin D, chờ vết xương nứt lành lại.

Tình trạng bi đát. Nhiều người nói người trẻ khi bị nứt xương mới mong vết xương nứt liền lại, người già 70 thì vô phương. Nếu vết xương nứt không lành, nàng sẽ phải nằm mãi trên giường.

Tôi hầu nàng ngày đêm. Gần như suốt ngày đêm, tôi xin Ðức Mẹ Maria cho nàng đi lại được. Tôi chỉ xin Ðức Mẹ cho nàng đi được từ giuờng ngủ vào nhà bếp, vào toilet, ra ngồi bàn ăn cơm, nàng tự tắm được.

Bộ Xã Hội cấp cho nàng đủ thứ nàng cần dùng: Xe đẩy, gậy chống, ghế để ngồi tắm.. Chuyên viên y tế – therapist – đến nhà mỗi tuần ba lần, giúp nàng ngồi lên, tập đi.
Một tháng sau nàng đi được.

o O o

Ba năm nay Nàng có tới ba, bốn lần đau nặng, hai ba lần nàng tự nhiên ngã. Một lần nàng hôn mê. Ðêm khuya trong bệnh viện, nằm trên cái canapé nghe tiếng nàng thở khò khè, tôi nghĩ:
“Tiếng thở này tắt là..”

Tôi cầu xin:

“Xin Mẹ cho vợ chồng con được sống với nhau 5 năm nữa.”
Tôi không muốn tôi chết trước nàng, tôi không muốn nàng chết trước tôi.
Nàng chết trước tôi không biết tôi sống ra sao. Tám mươi tuổi, tôi sống với nàng 60 năm, tôi sống dựa vào nàng. Tôi sống bằng Tình Yêu của nàng.

Năm 1976 gặp lại nhau, Lê Trọng Nguyễn nói:

“Tao không biết mày có đi được không. Tao cứ tưởng mày làm USIS là mày đi được. Hôm tao gặp thằng S. ở trong khu nhà mày, tao hỏi nó mày có đi được không? Nó nói mày không đi được. Tao kêu lên: “Làm sao nó sống? Nó sống bằng gì? ” S. nó nói:

“Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó.”

Người bạn cùng tuổi tôi – 80 – lấy vợ cùng năm với tôi – năm 1954 – vợ chồng anh cũng sống với nhau 60 năm, một sáng từ Cali anh gọi phone cho tôi báo tin vợ anh qua đời, tôi hỏi:

“Ðau lắm không?”

Ðau thì tôi biết bạn tôi đau nhưng tôi muốn biết anh đau đến ngần nào.
Hỏi dễ, trả lời khó. Bạn tôi nói:

“Ðứt ruột, nát gan.”

Lần cuối tôi gặp ông Lê Văn Ba, ông hơn tôi 10 tuổi, ông nói với tôi:

“Tôi nói với bà nhà tôi: Bà nên đi trước tôi là hơn, tôi đi trước bà, bà sẽ khổ lắm.”

Năm sau ông đi trước bà. Ðứng bên quan tài ông, tôi nhớ lời ông nói.

Ông bạn HO có bà vợ bại liệt, ông phải đưa bà vào Nursing Home. Ðể bà ở lại ông một mình lái xe về. Dọc đường ông run tay lái, mát ông mờ. Ông đậu xe bên đường, xuống đi bộ vài vòng lấy lại tinh thần. Khi trở lại tìm xe, ông quên không nhớ ông đậu xe ở đâu. Ông mở cellphone gọi ông bạn đến giúp.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »


Image

Đàn bà hởi, nàng là ai ?

Đàn bà là thứ mà đàn ông không thể thiếu được. Anh có thể thiếu rượu, thiếu thuốc lá, thậm chí có thể thiếu cả áo mặc nhưng không thể thiếu đàn bà. Đàn ông tiếng là mạnh mẽ thế, cứng cỏi thế nhưng thiếu đàn bà là cô đơn.

Bận rộn như hoàng đế Napoleon, xông pha trận mạc khắp các chiến trường châu Âu mà vẫn không thể thiếu đàn bà. Chiến tranh quyết liệt, căng thẳng như ở lòng chảo Điện Biên năm 1954 mà tướng De Castries vẫn cần một cô nhà báo xinh đẹp làm thư kí riêng.

“Giai nhân tự cổ như danh tướng”. Người Trung Quốc xưa đã nói như vậy.danba1Đàn bà là một nửa cuộc đời của đàn ông. Đàn ông càng làm việc nhiều, càng kiếm tiền giỏi càng cần có đàn bà, nếu không họ sẽ bị stress. Người Nhật Bản nói: “Vắng đàn bà nhà hóa mồ côi”.

Đàn bà là thiên thần hay quỷ dữ? Thưa rằng trong mỗi người đàn bà có cả hai thứ đó, họ vừa là thiên thần, lại vừa là quỷ dữ. Đàn bà còn đẹp hơn tất cả các loài hoa. Lực hấp dẫn của đàn bà rất mạnh mẽ. Phái đẹp là thỏi nam châm mà giới mày râu là đám mạt sắt nhỏ nhoi. Hễ người đẹp xuất hiện là những đôi mắt của cánh đàn ông sáng bừng lên, ham muốn, thèm khát và chỉ cần một cái vẫy tay, một cái liếc mắt là đàn ông có thể đổ ngay.

Tất cả các hoàng đế mạnh nhất từ xưa tới nay đều thử sức với đàn bà và đều đã thất bại. Chính đàn ông làm cho đàn bà thành thiên thần, cũng chính đàn ông khiến đàn bà thành quỷ dữ. Nguy hiểm nhất cũng là đàn bà. Trong 36 kế hiểm của người Trung Hoa thì mĩ nhân kế là hiểm nhất. Đổng Trác hùng mạnh thế mà phải chết vì Điêu Thuyền, Từ Hải anh hùng thế mà phải chết đứng vì Thúy Kiều, Phù Sai quyền lực thế mà phải chết vì Tây Thi…

Nếu không thèm khát đàn bà thì không phải là đàn ông. Nhưng nếu đánh mất sự nghiệp vì đàn bà thì cũng không phải là đàn ông. Người đàn ông thông minh xem đàn bà như bông hoa tươi trong phòng khách, là người bạn tâm giao trong phòng ngủ và là người cộng sự trong sự nghiệp.Đàn bà là thứ mà đàn ông không thể thiếu được. Anh có thể thiếu rượu, thiếu thuốc lá, thậm chí có thể thiếu cả áo mặc nhưng không thể thiếu đ...àn bà.

Đàn ông tiếng là mạnh mẽ thế, cứng cỏi thế nhưng thiếu đàn bà là cô đơn. danba3Đại văn hào Victo Hugo đã viết rằng: “Ai cũng có thể tin, cái gì cũng có thể tin, trừ đàn bà”. Khi đàn bà là thiên thần thì họ là người tuyệt vời nhất, hấp dẫn nhất. Nhưng khi đàn bà là quỷ dữ thì họ trở nên nguy hiểm nhất. Song cũng vì tính chất hai mặt này của đàn bà mà họ trở nên có sức hút mạnh mẽ hơn đối với đàn ông, vì đàn ông ham chơi mà trò chơi nếu thiếu tính mạo hiểm thì không hấp dẫn. Đàn bà ma lực như thương trường, bất trắc như thương trường, nhiều rủi ro như thương trường. Vì tôn thờ tình yêu nên cuối đời đàn bà không biết ai yêu mình. Vì chạy theo đàn bà nên cuối đời người đàn ông không biết mình yêu ai.

Đàn bà là gì? Đàn bà là ai? Những câu hỏi đó suốt đời đàn ông không thể trả lời được một cách trọn vẹn. Song cũng vì thế mà suốt đời đàn ông cứ si mê đàn bà. Nếu đàn bà như chiếc bánh, bóc lá ra là thấy được hết cả nhân lẫn bột thì đàn ông sẽ chán ngay và sự nhàm chán là kẻ tử thù của tình yêu còn sự bí ẩn là chất xúc tác của tình yêu.

Nếu không thèm khát đàn bà thì không phải là đàn ông. Nhưng nếu đánh mất sự nghiệp vì đàn bà thì cũng không phải là đàn ông. Người đàn ông thông minh xem đàn bà như bông hoa tươi trong phòng khách, là người bạn tâm giao trong phòng ngủ và là người cộng sự trong sự nghiệp.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »


Image

Tình nguyện nô lệ hay chọn lựa Tự Do

Nguyễn Hoài Vân
(Theo Etienne de la Boétie)
« Les tyrans ne sont grands que parce que nous sommes à genoux. »
(Etienne de la Boétie)

Có một điều kỳ lạ, là rất nhiều người không hề biết coi trọng tự do. Họ không có khát vọng tự do trong tâm hồn, không ý thức được rằng tự do chính là một kho tàng quý báu, không quan niệm được là khi thiếu vắng tự do thì mọi sự xấu xa đều ồ ạt đổ xô đến và tất cả những gì có thể coi là tốt đẹp cho đời sống đều trở thành hư thối, đều bị đầu độc bởi trạng thái nô lệ. Vì sao những người ấy không coi trọng tự do ? Có lẽ vì ngay khi muốn tự do, thì họ liền được tự do. Như thể họ không coi trọng tự do chỉ vì tự do có thể có được một cách quá dễ dàng.

Hỡi những con người mù quáng, tự bịt mắt và đóng kín tâm hồn mình trước sự thật ! Các bạn để cho người ta tước đoạt đời sống của mình, cướp bóc công sức lao động của mình, tài sản cha ông mình để lại. Các bạn sống mà không thể nào nói được rằng mình sở hữu bất cứ gì ! Hạnh phúc của bạn chỉ là hãnh diện được làm người quản lý tất cả những gì bạn nghĩ mình có, kể cả gia đình và đời sống của bạn.

Điều trớ trêu là sự bất hạnh ấy không đến từ những người mà bạn coi là kẻ thù, mà từ những nhân vật được bạn tôn xưng làm lãnh tụ, những người ngồi được trên ngôi vị cao cả của họ nhờ vào công sức của chính bạn. Thậm chí bạn sẵn sàng hy sinh tính mạng để chiến đấu cho họ, sẵn sàng xô đẩy con em của bạn vào chỗ chết để bảo vệ cho quyền hành của họ.

Hãy nhìn xem : những người ấy, những kẻ có tất cả uy quyền trên bạn, cũng chỉ là những con người như bạn. Họ cũng chỉ có hai con mắt, hai bàn tay, đôi chân và một tấm thân như bạn. Tất cả những gì họ có thêm vào đó, và sử dụng chúng để nô lệ hóa bạn, đều do chính bạn dâng tặng cho họ. Thật vậy, những kẻ cai trị bạn lấy đâu ra muôn ngàn cặp mắt để theo dõi rình rập bạn, nếu không được bạn hiến dâng cho họ ? Họ lấy đâu ra muôn ngàn cánh tay để kềm chế, đánh đập bạn nếu không lấy những phương tiện ấy từ chính hàng ngũ của bạn ? Bàn chân họ dùng để đạp lên bạn, dẫm nát nhà cửa và gia đình bạn, đến từ đâu, nếu không phải do chính những người như bạn cống hiến ?

Bạo chúa lấy đâu ra sức mạnh và quyền hành nếu không phải từ chính bạn ? Kẻ cầm quyền làm sao nhiễu hại được bạn, nếu bạn không dung dưỡng hành vi cướp bóc của họ, nếu bạn không đồng lõa với việc làm sát nhân của họ, phản bội lại chính bạn và những người đồng cảnh ngộ ? Bạn gieo trồng để họ thu gặt lợi nhuận. Bạn xây dựng cửa nhà để họ chiếm đoạt. Bạn sanh thành những bé gái cho họ thỏa mãn dục tính, bạn dưỡng dục nuôi dạy những thanh thiếu niên để họ sử dụng trong các cuộc chinh chiến, hay như những công cụ sắt máu cho sự thống trị tàn bạo của họ. Bạn sát hại và bóc lột những người như bạn, để kẻ cầm quyền yên thân lặn ngụp trong xa hoa, lạc thú. Bạn tự làm cho mình yếu kém đi để tăng cường sức mạnh của kẻ thống trị, để họ xiết chặt hơn nữa những gông cùm trói buộc bạn.

Trước những áp bức mà ngay đến súc vật cũng không chịu nổi, bạn có thể thoát ra được nếu bạn thử làm một điều duy nhất. Điều ấy không phải là nỗ lực đấu tranh, mà chỉ là nghĩ đến sự giải thoát, là mong muốn nó. Khi bạn quyết định không là nô lệ, khi ấy, bạn có tự do ! Bạn không cần chống lại bạo chúa, không cần tấn công nó, hủy diệt nó. Bạn chỉ cần ngừng nâng đỡ nó, thì, bạn sẽ thấy : như một người khổng lồ bằng sắt thép nặng nề với đôi chân đất sét, nó sẽ tự động gãy đổ, ngã gục dưới sức nặng của chính nó, để tan tành vỡ nát trên mặt đất (...).

Ngay cả loài vật cũng biết kêu lên : « Tự Do muôn năm ». Nhiều giống thú biết tự để cho mình chết đi khi chẳng may bị bắt bớ cầm giữ. Nếu giữa các loài súc sinh có một sự phân chia đẳng cấp, thì chắc chắn những nòi giống biết chết vì Tự Do sẽ thuộc về đẳng cấp được tôn quý nhất. Những loài vật khác, từ lớn đến nhỏ, đều cố sức chống cự khi bị cầm giữ, bằng mọi phương cách, từ cào, cấu, cắn, đá ... với một năng lực và ý chí quyết tâm cực kỳ mạnh mẽ, như nhắc nhở mọi người trong chúng ta sự quý báu không thể đo lường được của tự do.

Hỡi mọi con người ! Bạo chúa chỉ có vẻ to lớn vĩ đại khi các bạn quỳ gối trước mặt nó. Hãy đứng lên ! Không quyền lực nào có thể thống trị được những con người Tự Do ...

Nguyễn Hoài Vân
(Theo Etienne de la Boétie – 1530-1563
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Giải Phóng

Image
Nhà báo Huy Đức
Năm 1991, khi thăm chính thức Thái Lan ông Võ Văn Kiệt nói: "Chúng tôi tự hào đã đánh thắng 3 đế quốc to". Thủ tướng Thái Lan đáp lời: "Chúng tôi tự hào vì không phải đánh nhau với đế quốc to nào cả".

Chính quyền Thái Lan từng bị chỉ trích vì chính sách "ngoại giao cây tre" nhưng đổi lại người dân Thái đã tránh được bao cảnh đầu rơi, máu chảy. Không chỉ có người Thái, cho đến trước Thế chiến thứ II người Nhật cũng đã từng khôn ngoan tránh đối đầu với phương Tây. Nhật là một dân tộc thiện chiến, nhưng năm 1853, khi Đề đốcPerry đưa tàu chiến Mỹ tới Edo, người Nhật nhận ra họ đang đối diện không phảivới một "mandi" mà là một đế quốc. Thay vì "tuẫn tiết", Thiênhoàng Minh Trị, bên ngoài thì cho mở cửa giao thương, bên trong thì canh tân. Nước Nhật vừa giữ được độc lập vừa trở nên hùng mạnh.

Tinh thần độc lập cũng vô cùng cao cả. Nhưng, như Hồ ChíMinh nói: "Nước độc lập mà dân không có tự do, hạnh phúc, thì độc lập đó cũng không có ý nghĩa". Năm 1999, người Úc đã từng trưng cầu dân ý về việc họ có nên thay thế quan toàn quyền của Nữ Hoàng Anh bằng một chế độ cộng hòa tổng thống (độc lập) hay không, kết quả là đa số dân Úc đã nói không. Bởi, điều quan trọngnhất là hạnh phúc và tự do thì người dân đã có.

Ngày 30-4-1975, cũng có thể coi là ngày chiến thắng nhưng nó chỉ mới là chiến thắng của những người cộng sản. Cho dù đã sau 38 năm, theo tôi, vẫn có thể tạm gác lại chuyện đánh giá bản chất của cuộc chiến tranh. Nếu những người cộng sản tin những gì mình đã làm là cao cả thì nên chiểu theo "lời dạy của Hồ Chí Minh", thấy cái gì dân chưa có tự do thì trả tự do cho dân, thấy cái gì dân chưa hạnh phúc thì để cho dân mưu cầu hạnh phúc.

Cái ngày mà đảng cộng sản Việt Nam làm được điều đó xin cứ gọi là ngày giải phóng và chắc chắn sẽ có không ít người dân cũng coi đó là ngày chiến thắng.

Huy Đức
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Image

NGÀY 30 THÁNG 4 NÀY LÀ NGÀY ĐÃ GIẢI PHÓNG CHO TÔI,
MỘT CÔNG DÂN MIỀN BẮC, KHỎI KIẾP NÔ LỆ của MỘT THỨ TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ NGOẠI LAI


Tô Hải

Ngày 30/Nhật ký mở lại (lần thứ 45): NHÂN 30 THÁNG 4, TÔI TUYÊN BỐ
…cứ đến ngày 30 tháng 4 đến họ lại không ngớt dùng bộ máy khổng lồ tuyên truyền của họ cao giọng huênh hoang, tăng cường chửi Mỹ, chửi “ngụy”. Dù có đôi chút hạn chế hơn trước (tỉ như thỉnh thoảng có nhắc tới cái tên Việt Nam Cộng Hòa, “ông” naỳ, “ông” kia…chứ không xách mé, hỗn xược, khinh người như trước) nhưng vẫn không ngớt phịa ra các thứ chiến công tưởng tượng như “giải phóng Trường Sa”, như “tiến đánh dinh Độc Lập”, kể cả “địa đạo trại Davis”, những chuyện chẳng ai biết, chẳng ai làm chứng những ngày 30 tháng tư trước bao giờ!…Cứ như đánh đâu thắng đấy nhưng sự thật thì như mình đã viết: Đây là một cuộc đá bóng mà một bên đã ra khỏi bãi vì không đá nữa! Vậy có có đá với ai đâu mà “đá thắng” cơ chứ!?

Nhân 30 tháng 4, tôi tuyên bố

… Tưởng rằng mình đã hết ý để nói về cái ngày “tưởng rằng vui” 30 tháng 4 này. Lý do: Năm nào mình cũng có viết về nó với những ý mới.

Nhớ lại suốt 5 năm về già vui thú với bờ-nốc-bờ-niếc, mình đã từng vạch trần ra cái âm mưu áp đặt bằng võ lực lên toàn thế giới (mà thành công một bước mới là trên mảnh đất chữ S), một chế độ mà tất cả mọi con người đều bị biến thành một “trại súc vật”, sống thế nào? làm thế nào? vui buồn, yêu, ghét ra sao?… thậm chí cả chết kiểu nào cũng đều do một nhóm người ưu tú nhất mang tên Đảng Cộng sản quyết định!

1- Mình còn nhớ mình đã ghi lại cái cảnh ông Hoàng Tùng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên huấn, dặn dò bọn văn nghệ sỹ chúng mình khi thẳng đường bay thẳng vô Nam: Bằng một cử chỉ hung hăng, ông hùng hồn giơ hai nắm đấm trước ngực đấm đấm vào nhau mà nói: “Cuộc chiến đấu ai thắng ai hãy tạm dừng ở đây! Chúng ta cần có thời gian để củng cố lực luợng, cải tạo bọn ngụy và… nếu có sức chúng ta chẳng ngại gì không… tiến thẳng tới New Delhi!”

2- Mình cũng là người đã “sợ” cái chuyện trắng trợn tuyên bố và kể công lao to lớn của mấy ông trùm cộng sản khi huênh hoang với toàn thế giới “Chính nhờ có họ, mà một nước nhỏ đã đánh thắng ba đế quốc to” trong khi đó chỉ cách đó không lâu họ vẫn xưng xưng: “Không có chuyện Miền Bắc xâm lược Miền Nam”. Và họ cũng không muốn hoặc không đủ khả năng hiểu nổi câu đối đáp của vị Thủ tướng Thái Lan là: “Nước tôi hân hạnh vì một nước nhỏ mà KHÔNG PHẢI ĐÁNH NHAU VỚI MỘT NƯỚC TO NÀO…” nghĩa là gì v.v và v.v.

3- Mình cũng đã vạch thẳng thừng ra cái sự “miền Bắc được giải phóng” cả về sinh hoạt lẫn tư tưởng bằng những câu chuyện: miền Bắc như hàng triệu cái lò xo lâu nay bị đè ép, bỗng bung ra và không có một sức mạnh nào có thể ngăn cản được. Bằng những câu chuyện sớm “tự cải tạo” từ cách suy nghĩ đến cách sống và làm ăn, người miền Bắc mà 99,9% đều có người thân hy sinh cho cách mạng, đều có người là đảng viên, lao đầu vào những thứ phồn vinh giả tạo như những con thiêu thân,… kệ ai cao đạo giáo dục “cảnh giác, giữ vững lập trường”!!! Trong khi ở miền Nam, người ta cấm “nhạc vàng nhạc ngụy”, đốt sách ngụy thì miền Bắc, oang oang ngày đêm những Giao Linh, Khánh Ly,… sách “phản động đồi trụy” cứ ùn ùn kéo ra Bắc, làm mê say cả mọi lớp người lâu nay chỉ biết ăn có món văn nghệ tuyên truyền cho Đảng!

4- Mình cũng vạch ra cái ngu cực kỳ do tính “kiêu binh hỗn xược” của bọn tưởng rằng mình thắng cuộc thì muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm khi vừa tuyên bố “Mọi người Việt Nam đều là người chiến thắng” thì ngay hôm sau đánh lừa cả gần triệu sĩ quan và cán bộ cao cấp “ngụy” mang 20 ngày gạo “đi học tập” rồi giam không án không hạn tù trong các trại gọi là cải tạo khắp nơi thâm sơn cùng cốc rừng sâu nước độc suốt cả chục năm trời hoặc hơn… khiến không ít người bỏ xác nơi nào chả ai biết hoặc nếu sống sót trở về thì có đi H.O. cũng chỉ còn là những thân xác ốm yếu vì bị đọa đày cho thân tàn ma dại! Kèm theo là cả chục triệu những con người là vợ con, người thân,… của họ bị mang hận thù suốt năm này qua tháng khác vì bị cưỡng bức đi kinh tế mới, hoặc đành liều mạng vượt biên, người đến nơi nào đó làm “quê hương thứ hai”, người bỏ xác nơi đại dương, đến cái xương cũng không còn đường về quê mẹ! Trong khi đó, tối tối, con em họ phải tập trung để “bị” học hát: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” hoặc “Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ”!

Mình đã chửi thẳng những thằng “bên thắng cuộc” cho là “các cháu Miền Nam khoanh tay, cúi đầu chào khách là… ảnh hưởng của chế độ phong kiến” (!?) cũng như bọn chủ trương phổ biến những bài hát chiến thắng huênh hoang là những bọn cực kỳ ngu xuẩn và hoàn toàn không có một xu tâm lý học!

Riêng về mặt văn hóa văn nghệ, đã hơn một lần mình đã nói thẳng cái “hơn hẳn” của văn nghệ sỹ, trí thức miền Nam chân chính. Đó là:

a- Họ hoàn toàn tự do, muốn viết gì thì viết, muốn theo trường phái nào thì theo, hoàn toàn tự do sáng tác kể cả viết những gì mà chính quyền không mong muốn…

b- Họ được tự do tiếp xúc với đủ mọi thứ văn hóa nghệ thuật nước ngoài kể cả với những tác phầm của phe cộng sản.

c- Đa số đều thành thạo 1 hoặc 2 ngoại ngữ giúp họ sớm tiếp cận với những gì là văn minh tiến bộ nhất của loài người. Trái lại văn nhân nghệ sỹ miền Bắc, trừ những người theo Tây học trước 45, hầu hết đều… mù ngoại ngữ nên chỉ biết Shakespeare, Balzac,… qua bản dịch. Còn những tác phẩm hiện đại thì chỉ “nghe mấy anh văn nghệ có quyền” phán rằng là “Camus, Sartre… nó phản động thế này,…thế kia,…” nên rất chi là nhục nhã khi tự mình tổ chức ra cái hội nghị lên án “văn hóa thực dân mới” giữa cái đất Sài Gòn đầy những trí thức am hiểu, sành Triết Tây lẫn những fan của Sartre của Camus!

Điều tự sỉ nhục này mình đã lấy làm cái cớ để động viên cả nhà Phạm Duy còn bị kẹt lại Sài Gòn (mà trực tiếp đến với mình là Phạm Đình Chương và Duy Quang) là: “Hãy tìm đường mà cuốn xéo nhanh kẻo có ngày mất mạng vì phản ứng với cái bọn “kiêu binh văn hóa cộng sản” này”. Và tất cả họ đã nghe theo mình…

Cái ĐƯỢC và MẤT của 30 tháng 4, Nguyễn Khải, trên giường bệnh đã nói thẳng không ngại ngùng (vốn có theo bản tính thận trọng) là: Miền Bắc đã cho tôi ĐỘC LẬP, Miền Nam đã cho tôi TỰ DO… Còn tớ thì lại: CHÍNH NHỜ MIỀN NAM NÀY MÀ MÌNH ĐÃ TÌM ĐƯỢC Ý NGHĨA CỦA CẢ ĐỘC LẬP LẪN TỰ DO.

5- Cũng chính mình đã đưa ra cái ý kiến về câu “Có triệu người vui cũng có triệu người buồn“ của ông Võ Văn Kiệt là: “Bề trên”, “Kẻ cả” và cực kỳ… “chủ quan” bằng những lý lẽ để “bổ sung” (thực chất là để “bác bỏ”).

Rằng thì là: “Chẳng có cái tỷ lệ chung chung, bằng nhau đó đâu!” Sự thật thì cái ngày 30 tháng 4 đó có mở ra một vài hướng sống mới cho riêng dân miền Bắc, cả 30 năm sống kiếp ngựa trâu nhưng lại là bắt đầu cả một giai đoạn cực khổ tủi nhục, bất công chưa từng thấy cho toàn thể nhân dân miền Nam!

Đặc biệt khi chủ nghĩa cộng sản, sau khi ra mặt công khai lãnh đạo toàn diện cả cái nước “xuống hố cả nút” này rồi… thoái hóa tới mức “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa???” thì… mọi mặt xã hội của cả hai miền đều bị dìm vào các cuộc đại… “loạn”… Vô tướng bất tài, vô lương tâm, vô học… đã trở thành những ông chủ thực sự từ xã đến trung ương, đã nắm tất tần tật mọi chức vụ quyết định sự sinh tồn của đất nước, kể cả… bán hay không bán nước!!!

Vậy mà cứ đến ngày 30 tháng 4 đến họ lại không ngớt dùng bộ máy khổng lồ tuyên truyền của họ cao giọng huênh hoang, tăng cường chửi Mỹ, chửi “ngụy”. Dù có đôi chút hạn chế hơn trước (tỉ như thỉnh thoảng có nhắc tới cái tên Việt Nam Cộng hòa, “ông” naỳ, “ông” kia… chứ không xách mé, hỗn xược, khinh người như trước) nhưng vẫn không ngớt phịa ra các thứ chiến công tưởng tượng như “giải phóng Trường Sa”, như “tiến đánh dinh Độc Lập”, kể cả “địa đạo trại Davis”, những chuyện chẳng ai biết, chẳng ai làm chứng những ngày 30 tháng tư trước bao giờ!… Cứ như đánh đâu thắng đấy nhưng sự thật thì như mình đã viết: Đây là một cuộc đá bóng mà một bên đã ra khỏi bãi vì không đá nữa! Vậy có có đá với ai đâu mà “đá thắng” cơ chứ!?

Tóm lại, đã qua 38 năm cái 30 tháng 4, mỗi lần nó đến, mình chỉ buồn chứ chẳng vui chỉ vì:

Mỗi lần nó đến lại gợi lại nỗi phân chia đôi ngả của cả một dân tộc ViệtNam, trong đó có gia đình mình: Cả 6 đứa em đều không sao đàng hoàng về thăm lại nơi chôn rau cắt rốn. Còn thằng anh cả duy nhất còn ở lại Việt Nam này thì chưa chắc lúc chết được đặt nắm tro tàn cạnh Bố Mẹ; anh em, con cháu họ Tô chắc vẫn chỉ là một giấc mơ khó trở thành sự thực! Ôi! 30 tháng Tư, mình là một trong những kẻ đau nhất vì MẤT nhiều nhất!

Mỗi lần nó đến lại như khoét sâu vào những nỗi đau của cả triệu triệu con người, vì nó mà con mất cha, vợ mất chồng, dân mất nước để cho một lũ chẳng một ngày xung phong cầm súng, chẳng một ngày đánh Pháp, đuổi Nhật, thậm chí cả chẳng một ngày “chống Mỹ xâm lược” bỗng dưng ăn trên ngồi trốc, làm vua hiểu dụ thần dân những điều vô lý, vô lẽ, vô luân… mà vẫn dám vỗ ngực là cộng sản, là “chủ tập thể” của đất đai, là không có tam tứ quyền phân lập, phân liệt gì sất… nào là tao có quyền lãnh đạo tuyệt đối muôn năm đất nước này, là quân đội do tao dựng lập ra nên phải phục vụ tao!, rằng… tao nhất định sẽ lên… thiên đường! Kẻ nào phản đối, tao cho vô tù hết! Nhà tù 30 tháng Tư nào cũng được mở rộng để khoan hồng cho những tên cướp, giết, hiếp, nhưng cũng để rộng chỗ cho những người “thoái hóa” như Phương Uyên, Điếu Cày, Nguyễn Tiến Trung… và tất cả những tên lưu manh trí thức, cơ hội chính trị…!

Rõ ràng, những kẻ kiêu binh ăn mày dĩ vãng tanh mùi máu và đẫm mặn nước mắt đang ngày càng gây thêm thù, thêm oán…

Rõ ràng 30 tháng 4 không hề làm cho họ phải giật mình soi lại xem vì sao từ những giới trẻ như nhóm sinh viên luật đến lớp già như những trí thức, đảng viên lão thành lại ngày càng đông người ra mặt công khai lên tiếng phản đối mọi chủ trương đường lối phản nước hại dân của những đàn sâu phá hoại đất nước cực kỳ…

Và mình, đến hôm nay, nhân ngày 30 tháng 4/2013, cũng nhân thể nhắc các bạn gần xa đọc lại trên to-hai.blogspot.com những gì mình đã tóm tắt lại ở trên mà tuyên bố rằng:

CHÍNH NGÀY 30 THÁNG 4 NÀY LÀ NGÀY ĐÃ GIẢI PHÓNG CHO TÔI, MỘT CÔNG DÂN MIỀN BẮC, KHỎI KIẾP NÔ LỆ MỘT THỨ TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ NGOẠI LAI CỰC KỲ PHẢN ĐỘNG VÀ SẼ NGUYỆN GÓP SỨC ĐỂ SỚM CHÔN VÙI NÓ CÙNG VỚI NHỮNG KẺ SỐNG BÁM VÀO NÓ TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CÒN LẠI CỦA CUỘC ĐỜI!

Nguồn: to-hai.blogspot.com
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Image

Chó má!

Sơ lược về nguồn gốc của chó

Tuy đã có nhiều giả thuyết, nhưng trong thực tế người ta cũng chưa biết chính xác lúc nào có chó và từ đâu chó bắt đầu sống chung với con người. Chỉ biết là tổ tiên của chó nhà (“domestic dogs”) là chó sói (“wolf”). Tất cả chó nhà, chó sói, các loại chồn… đều xuất xứ từ chung một gia đình: Họ “Canidae.”

Qua nhiều giai đoạn, chó nhà biến thể từ chó sói có lẽ nguyên thủy xuất phát từ vùng Trung đông, Đông á hay Siberian (?) Các nhà nhân chủng và khảo cổ học ước chừng chó nhà đã có mặt khoảng 12,000 đến 18,000 năm rồi… Nghĩa là ngay sau khi con người bắt đầu biết sống định cư một cách thường trực chứ không thích sống lối du mục lang bạt như trước. Tuy vậy, không có nghĩa trước đó không có chó. Một tài liệu khảo cứu mới đây xuất bản đầu năm 2013 nói là chó sói và chó nguyên thủy đã được tìm thấy trong “Siberian fossil” cỡ 36,000 năm rồi; căn cứ trên các thử nghiệm DNA.


Nhìn hình dạng các loại chó German Shepherd (chó Bẹc-giê Đức), Huskies, chó Eskimo… chúng có khuôn mặt giống y như chó sói; mặc dù tính tình và cách sống của chúng (chó nhà) không có gì giống chó sói nữa…

Không thể phủ nhận được là chó có nhiều khả năng rất đặc biệt và chó đã giúp đở con người qua rất nhiều phương diện khác nhau: từ vấn đề săn bắn, chăn lùa gia súc (cừu, bò, gà, vịt, ngỗng…); cho đến nghiệp vụ cảnh sát (ngửi / đánh hơi tìm phát giác chất nổ, ma túy, xác chết…); giải trí (đua chó, tranh đua thi chó đẹp, chó xấu, chó kiểng…); kéo xe (chó Eskimo); dẫn dắt người mù lòa; bắt cả chuột (chó Phú quốc)…

Chó là con vật có nghĩa nhất so với tất cả động vật sống chung quanh con người. Chó biết phục tùng và phục vụ chủ rất tận tình mà vẫn bị người (chủ) đem ra quạt chả chó dài dài… Đã vậy con chó còn bị con người dùng tên “chó” để chửi con người khác rất thậm tệ. Chẳng hạn như:

“Đồ chó!”

“Đồ chó chết!”

“Đồ chó đẻ!”

“Đồ chó dại!”

“Đồ chó ghẻ!”

“Đồ chó điên!”

Chó Ta

Chó sống ở Đông phương, Á châu nói chung, hẳn là loại chó xấu số, xui xẻo tận cùng bằng số…. Trên mảnh đất phía Đông quả địa cầu, chó bị con người bạc đãi hết chỗ để nói, không còn đủ chữ nghĩa để diễn tả… Thiệt tình! Con người đối xử tệ với chó còn tệ hơn là… chó.

Ở thế kỷ 21, nếu quý vị có may mắn sống ở nước ngoài lâu rồi, và không phải là một tay ăn thịt chó mà có dịp thấy một mảng thịt chó to tổ bố, hay nguyên cả một con chó đã thui nhe hai hàm răng trắng, treo lủng lẳng trong tủ kiếng trước các quán nhậu, hay bày biện trên bàn, các thớt thịt ở chợ; thịt chó 7-8 món thơm phức đã nấu sẵn bày trên bàn nhậu từ Đại hàn, Trung quốc, Việt nam, Thái lan… không thể không khỏi lắc đầu ngao ngán. Còn nếu quý vị là tay thích ăn thịt chó (có lẽ quý vị cũng chẳng nên đọc bài này làm gì!) hãy dành một chút ít thì giờ quan sát cái quang cảnh chó bị giết làm thịt (chó đang sống mạnh giỏi bị đập đầu bằng củi tạ rồi trấn nước cho chết, thọc huyết, thui bằng lửa rơm khói um cho đến khi nhăn răng…) hay lúc chó đang say sưa “măng-giê ca-ca” bên lề đường; thì có lẽ cũng sẽ nuốt thịt chó không nổi nữa… Đã đến lúc quý vị phải tìm cách cai thịt chó; y như cai thuốc lá, thuốc lào, thuốc phiện,…

Dù quý vị có tin hay không tin, tôi là dân Bắc kỳ 54 không hề ăn thịt chó, nhưng tôi có nhận xét là dân Bắc kỳ đại đa số thích ăn thịt chó (!) Họ thích ăn chó đến một mức độ khó hiểu. Quang cảnh bộ đội bắc Việt đi dép lốp, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, từ trong rừng rậm xếp hàng đi ra, nhìn thấy con chó còn sống chạy ngang qua mặt là thèm đến chẩy nước miếng rồi. Nếu cho “bộ đội cụ hồ” họ lựa chọn giữa thịt heo và thịt chó; chắc chắn họ sẽ chọn thịt chó vì có lẽ tổ tiên của chó và tổ tiên cụ hồ 500 năm về trước ở cùng chung một nhà, cùng bú chung một con chó cái…

Không có sẵn chó ở nhà để làm thịt, thì cứ “tự nhiên như người Hà lội” chỉ việc đi qua hàng xóm trộm chó là xong. Dân trộm chó nhà nghề thường hay đi cặp đôi. Chở nhau trên một xe gắn máy với đồ nghề gồm một cái búa (hay một thanh sắt to cứng) và một cái bao tải. Khi có con chó xấu số nào đó đang đi lơn tơn trên đường “marking territories” chẳng hạn, bọn trộm chó chạy xe lại gần. Tên ngồi phía sau xe phạng thật mạnh một búa mạnh vào đầu con chó. Sau đó chúng hốt thật lẹ con chó đã đang ngất ngư con tầu đi vào bao tải và chở đi. Cũng nên biết thêm, ở Việt Nam thời buổi này, làm lao động cật lực một ngày 8-10 tiếng chỉ kiếm được giỏi lắm vào khoảng 2-3 đô la. Trong khi một con chó sống hay chó chết có thể bán trên 100 đô la cho quán nhậu dễ dàng…

Nhưng nghề nào cũng có tai nạn nghề nghiệp của nó. Nhiều vụ ăn trộm chó bị dân làng phát giác, chặn bắt. Họ đập chết tại chỗ mấy tên trộm chó, rồi sau đó đổ xăng đốt cháy rụi xác chết các tên trộm cùng với xe gắn máy… Thật rùng rợn. Cảnh chết cháy này là đặc thù của chỉ có ở xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Vì ăn trộm một con chó mà bị đánh và đốt xác chết nhục nhã như một con chó thui. Kinh thật.

Đầu thế kỷ 20, Vì quá yếu, Trung hoa phải theo một chính sách hòa dịu, nhượng bộ các liệt cường Anh, Pháp, Đức, Bồ Đào nha, Nhật bản… hết biết – đại khái là các liệt cường muốn yêu sách cái gì thì Trung hoa tặng liệt cường nguyên con cái đó để cho mọi chuyện êm thắm… y như nhà nước csvn hiện nay nhượng bộ yêu sách của Trung cộng. Miễn sao giới cầm quyền vẫn được yên ổn để ngồi vơ vét tài sản đất đai của dân mình là chuyện tốt rồi.

Liệt cường đưa quân tràn vào Trung hoa chiếm đất làm tô giới, thuộc địa… Họ đặt tòa đại sứ tại Bắc Kinh cho có lệ; mục đích chính là để để tiện điều hành các tô giới đã chiếm, và đưa thêm yêu sách quân sự, ngoại giao xử ép triều đình Mãn Thanh.

Một hôm, ông Đại sứ Anh quốc ở Bắc kinh đem biếu Từ Hi Thái Hậu một con chó nhỏ loại “Toy Pooddle” làm quà. Vài hôm sau vị Đại sứ này gặp lại bà Từ Hi trong cung điện, và nhân tiện hỏi thăm về con chó:

“Thưa Mẫu hậu. Mẫu hậu có thích con chó tôi biếu hay không?”

(“How do you like the dog, Your Majesty?”

Mụ Từ Hi trả lời:

“Cảm ơn Ông nhiều. Con chó mà ông cho tôi, ngon hết xẩy. Hẩu xực lớ!”

(“Oh! Thank you very much. It was delicious.”)

Ông Đại sứ Anh quốc hết hồn khi được thông báo về số phận của con chó được đem làm quà tặng. Không thể ngờ rằng con chó nhỏ quí phái dễ thương đã bị mụ Từ hi Thái hậu đem làm phá lấu, tiềm thuốc bắc và dùng cơm tối mất đất rồi!

Năm 2005 khi tôi có chuyện gia đình phải về quê cha đất tổ ở ngoài Bắc Việt Nam. Nhân chuyến đi đó, tôi đã làm một cái “tour” Hà nội - Chùa Hương cho biết sự tình. Đường xe hơi chạy chạy từ Hà nội đến Bến Đục (Bến đò ở suối Yên cách chùa Hương 3 cây số) dài khoảng 60 cây. Trên quãng đường 60 cây số này, tôi nhìn thấy bên đường cứ khoảng 2-3 cây số là có một cột khói đen cao ngút lên trời… Lấy làm lạ, tôi hỏi anh hướng dẫn du lịch (tour guide) là khói gì vậy hà? Anh ta trả lời là khói thui chó!!! Trời đất thiên địa ơi! Hèn gì không khí hít thở của cả Bắc phần Việt Nam lúc nào cũng có thoang thoảng mùi thịt chó (thui) và mắm tôm… Ngay trong thiên đường csvn, chó cũng sống không yên ổn!

Chó Tây

Chó có lẽ đã có tu nhiều kiếp cho nên mới được sinh ra ở Tây phương. Ở đây, chó được đối xử như “người bạn tốt” của con người (The man’s best friend!) Người Tây phương văn minh họ không ăn thịt “bạn tốt” của họ. Tôi tưởng tượng ra một mẩu đối thoại của hai tay bợm nhậu ăn thịt “người bạn tốt” (man’s best friend) nào đó của người mình như sau:

- Thịt này ngon quá. Mà thịt nào vậy?

- Thịt người bạn tốt của mình (our best friend) đấy.

- Tao thích (thịt) nó lắm…

Chỉ nghe qua đã thấy không ổn rồi… Đó có lẽ là lý do mà người Tây phương họ không bao giờ ăn thịt chó (?)

Thực tế, chó Tây được đi cắt tóc, được ăn uống thực phẩm vệ sinh dinh dưỡng, được đi bác sĩ (thú ý) để chích phòng bệnh, và được săn sóc y tế thỏa đáng khi đau ốm… Mấy bà già nhà giầu cô đơn của Mỹ còn để lại cả gia tài bạc triệu đô la cho chó trong di chúc của họ (“Will”).

Ông Bác sĩ Mỹ của gia đình tôi có khuyên tôi là:

“Anh nên cho con cái của anh học làm Bác sĩ Thú y (Vet - Veterinarian) thì tốt hơn. Bác sĩ “chó” bây giờ còn làm nhiều tiền hơn Bác sĩ “người” mà lại đóng ít tiền bảo hiểm (cho ba cái vụ malpractice) và ít bị kiện tụng rắc rối (vì chó không biết nói láo).”

Theo báo cáo vào tháng 10/2012 của nghiệp đoàn các công ty thực phẩm dành cho chó thì ở Hoa kỳ, chưa kể các thú vật khác nuôi trong nhà, có 74 triệu con chó. Mỗi gia đình Mỹ chi tiêu / mua trung bình khoảng $US165.00 tiền thực phẩm chó mỗi năm cho 1 con chó. Kỹ nghệ “đồ ăn chó” (Dog Food Industries) là một “big business” trị giá trên 10 tỷ đô la mỗi năm. Mỗi siêu thị của Mỹ đều có một hai dãy quầy dành riêng cho đủ các loại “đồ ăn chó.”

Cuối tháng 9 năm 1975, sau khi được phép ra khỏi trại tị nạn “Camp Pendleton” ở Oceanside, California, tôi tạm thời định cư ở San Diego. Đầu năm 1976, tôi tình cờ gặp lại một thằng bạn thời niên thiếu khi hai đưa còn cởi truồng tắm mưa ở Việt Nam. Hắn vốn là Trung úy Hải Quân VNCH, được gởi qua Mỹ học ở căn cứ Hải Quân Coronado - San Diego về “Thủy bộ (học tập cho tầu đổ bộ lính từ sông biển vào đất liền).” Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, vì tình trạng “stateless” của các sinh viên du học và người đi tu nghiệp, Hải quân Mỹ cho anh ta xuất trại Huấn luyện Thủy bộ vĩnh viễn. Anh ta sinh sống bình thường như các thường dân tị nạn cs khác ở quanh vùng San Diego. Trong câu chuyện trao đổi, anh bạn cho tôi biết khóa học Thủy bộ của anh ta gồm có một số đông sĩ quan hải quân Việt Nam cấp bậc từ Trung úy đến Trung tá tham dự. Anh kể có một câu chuyện xẩy ra làm mất mặt bầu cua, thể diện QLVNCH như sau:

Trong trại lính (traininh camps / barracks) Hải quân Mỹ họ cấm nuôi chó (“pets”). Không hiểu tại sao quân cảnh Mỹ cứ thấy trong thùng rác có các lon (cans) đồ ăn chó vất vào đó?… Sau khi cho điều tra, theo dõi thì quân cảnh Mỹ phát giác, bắt tại trận một bố Hải Quân Thiếu tá “a-na-mít.” Me-xừ quan tư này thèm thịt chó quá; Ông ta đi chợ Mỹ thấy họ có bán “đồ ăn chó.” Bố này tưởng lầm là chợ Mỹ có bán thịt chó đóng hộp cho nên bố ta mua một sẵn một lố hộp “dog foods” đem về trại để lén ăn dần cho đỡ thèm… Thiệt tình! Đến nước được đi du học tu nghiệp ở Hoa kỳ mà vẫn chưa bỏ tật thèm thịt chó!?

Vì “áp lực” của vợ con, tôi đành phải mua một con chó “Poodle” về nuôi trong nhà gọi là cho vui cửa vui nhà (!)… Tính về sức lao động phải bỏ ra, gia đình tôi vất vả với con chó nhỏ xíu này còn hơn là lúc săn sóc bà nội tôi khi còn sống… Tôi đã phải đóng học phí cho nó đi học hết 4 khóa “dog obedience trainings.” Hoàn tất xong mấy khóa học, con chó của tôi được cấp 4 giấy chứng chỉ tốt nghiệp có đóng dấu ký tên đàng hoàng tử tế! Không phải loại bằng giả như ở Việt Nam? Nhờ mấy khóa học này mà nó biết cách đi ị đi đái đúng cách chứ không làm bậy tùm lum tá lạ trên mặt thảm trong nhà như lúc trước. Chó còn phải có “lai sờn” hợp lệ (License chó / sau khi đóng một số tiền lệ phí hàng năm không nhỏ) và thẻ bài cấp bởi cơ quan thẩm quyền về chó của thành phố. Chó có lịch trình chích phòng ngừa đủ các thứ bệnh chó mà tôi phải triệt để tuân hành. Cứ vài tháng phải đem chó đi “clean” răng một lần tốn mỗi lần cũng vài trăm bạc (vì phải đánh thuốc mê chó trước khi “clean” răng!) Nhưng mà vấn đề đau đầu nhất phải là cái dịch vụ cắt tóc chó: Cứ 4 tuần con Poodle khốn lịn này cưa của tôi mất $25.00 tiền cắt tóc (cộng tiền “tips”) trong khi tôi, khổ chủ của nó, chỉ tốn $8.00 cho mỗi lần cắt tóc. Thật là bất công! Con chó này nhỏ; nhưng nó này ăn khỏe hết biết. Nó chỉ ăn thức ăn đặc biệt dành cho chó nhỏ; không thôi nó cho “bonus” ra đầy nhà ráng mà chịu… hốt!!!

Hồi còn sống trong các trại tị nạn do Mỹ dựng lên từ Phi luật tân cũng như trên lục địa Hoa kỳ, tôi đã nghe người ta nói chuyện với nhau đại khái là ở ngoài đời sống thật của xã hội Mỹ, có cả cái nghề gọi nôm na là “Dẫn cho đi chơi” (Walk the dogs) có trả tiền theo giờ. Lúc ấy tôi còn lạc hậu chưa biết trời trăng gì, cứ tưởng đây là loại chuyện khôi hài, nói nghe cho vui rồi bỏ. Ai dè sau này mới hiểu đó là chuyện có thật chăm phần chăm. No Joking.

Vốn là khi cả nhà tôi cần đi Las Vegas vài ngày “vacation” nghỉ xả hơi, thì phải gởi con chó “Poodle” vào “Dog Kennels” (một loại “motel” dành riêng cho chó !) chứ chẳng có thân nhân yêu quý nào tình nguyện hảo tâm giữ nó dùm cho vài ngày. Trong phần “services” có trả tiền mà bà chủ “Dog Kennel” cho tôi biết là mỗi ngày nhân viên của “kennel” có thời khóa biểu dẫn chó đi dạo 1-2 tiếng đồng hồ cho chó giãn gân cốt… Chứ chó Mỹ không thể nhốt nó như tù cải tạo cs 3-4 ngày liền mới cho ra khỏi chuồng… Hết ý kiến. Chưa hết. Mỗi làn trở về nhà (sau chuyến vacation) lãnh chó ra khỏi “kennel” là phải lái xe chạy thẳng ngay đến nhà thương chó vì nó ỉa chảy, nôn mửa loạn lên… Tôi hỏi cô Vet (veterenian – Bác sĩ súc vật / chó) ở Dog hospital là lý do tại sao cứ mỗi lần tôi gởi chó vào “kennel” là nó bị ốm kịch liệt như vậy? Cô Bác sĩ chó đẹp thơ mộng giải thích cho biết là chó đã quen sống với chủ mỗi ngày rồi. Bây giờ gởi nó vào “motel” chó, nó bị “stressed?!” Thiệt tình. Chó mà cũng có chuyện bị “stressed?” Còn chó bị thọc huyết rồi đem quạt chả chó thì bị “stressed” cỡ nào? Nhiều khi tôi chỉ muốn đóng thùng gởi thẳng nó về cho mấy bố Việt cộng “xử ní” (hay giải phóng cũng được!) cho rảnh nợ…

Cái “văn hóa đối xử tốt với chó” của Tây phương nói chung và Hoa kỳ nói riêng không phải là hoàn mỹ… Lấy cái chuyện dắt chó đi dạo (“walkinh the dogs”) làm thí dụ. Nếu một người ở hành tinh khác nhìn vào việc “dắt chó đi dạo” ở Mỹ qua viễn vọng kính (“telescope”) chắc chắn sẽ họ nghĩ lầm là chó mới chính là con vật lãnh đạo ở quả đất này chứ không phải con người (!)… Thử phân tách cái hình ảnh người “chủ” chó đi lẽo đẽo đằng sau con chó, một tay cầm một bịch “plastic” đựng “kít chó” thì, con chó mới đúng là “chủ” chứ không phải con người là “chủ”… Áp dụng cho chính mình cũng vậy: Nếu mình đi dạo trong công viên mà có đệ tử nào đó phải đi phía sau mình, tay cầm một bich “kít” cho mình thi người ta sẽ nghĩ ai là chủ ai?


Lời kết

Trước đây, tôi cứ ngỡ chữ “Chó Má” là một chữ kép dùng để chửi. Nhưng thực ra chữ “Má” còn có nhiều nghĩa khác nhau như tôi đã tìm hiểu như sau:


- “Má” là một chữ tượng thanh được đọc kèm theo sau chữ “Chó” để làm chữ kép “chó má” có một âm vang gây thêm sự chú ý; chứ thực sự nó không có nghiã gì cả. Tương tự như chử “chóc” của “Chim chóc,” hay chữ “búa” của “Chợ búa…”

- Một vài dân tộc miền thượng du Bắc phần cũng gọi con chó là “Má.” Tiếng Thái cũng gọi con chó là “Tu má.”


Nhiều cao nhân còn cố gắng giải thích chữ “Chó Má” một cách bác học hơn: “Chó” và “Má” là hai loại chó khác biệt với nhau. Con “Chó” không gặm xương chó; còn con “Má” là con chó cứ “vô tư” gặm xương đồng loại rất “nhiệt liệt”…
Image
(CSCĐ : Chính sách Chó Điên / Cộng Sản Chó Điên)
Con chó “Má” (loại chó gặm xương chó) ở Việt Nam bây giờ chỉ đi có hai chân và đông đảo lắm… Ra đến đầu ngõ là đã gặp loại này chó má này rồi. Có hơn 3 triệu con chó má đang tự ngắm mình qua viễn vọnh kính và hiểu lầm là chính chúng mới là chủ nhân của đất nước Việt Nam; chứ không phải chủ đất nước là 90 triệu dân đi đàng sau chúng nó… Qua chuyện Chó Má vừa rồi, nếu phải nói Việt Nam đang ở trong thời buổi nhiễu nhương thì cũng không có gì quá đáng.…

Trần Văn Giang
05/03/2013
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Tiếng ve sầu

Tạp ghi Huy Phương

“Mùa này Huế có còn phượng đỏ
Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa
Nơi này cả một trời hoa tím
Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.”
(Nhớ Huế - Huy Phương)



Image
Loại ve sầu xuất hiện nhiều ở miền Ðông Hoa Kỳ. (Hình minh họa: (AP Photo/University of Connecticut, Chirs Simon)

Mùa Hạ đã tới đâu đây trên những cành hoa “La Jancaranda” nở sớm. Ở đây không có những cành hoa phượng đỏ của quê hương, mà dù chúng ta có tìm lại được màu hoa ấy trên xứ Mỹ ở những vùng ấm áp như Hawaii, Florida thì cũng không thể nào tìm lại được tiếng ve sầu của một thuở xa xưa của tuổi học trò. Màu sắc và âm thanh ấy hình như mỗi ngày hè đến vẫn thường hiện hữu với nhau, để lại cho chúng ta bao nhiêu kỷ niệm những ngày ngồi ghế nhà trường, thuở ấu thơ.

Từ ngày ra đất khách đến nay, hình ảnh nhắc nhở chúng ta Mùa Hè đã tới là những cành hoa phượng tím, nhưng âm thanh những tiếng ve đã bặt từ lâu, có còn chăng là để lại những dư âm mờ nhạt trong tâm tưởng. Vậy mà không ngờ ở nơi xa xôi này, cách quê hương cả nửa vòng trái đất, không phải tôi, mà những người Việt xa xứ ở vùng Ðông Bắc nước Mỹ, sắp có dịp nghe được lại âm thanh của một thời xa xưa. Ðó là nguồn tin của National Geography cho biết, hàng tỷ con ve sầu, bặt tiếng sau mười bảy năm dài, chôn kín trong lòng đất sẽ xuất hiện trở lại vào Mùa Hạ năm nay tại một vùng đất rộng lớn bên bờ duyên hải Ðại Tây Dương từ Georgia cho đến tận biên giới Mỹ-Canada.

Trời đất sinh ra giống ve, thân nhẹ, bụng rỗng, để tiếng kêu có thể lớn, suốt cuộc đời ngắn ngủi chỉ biết phục vụ cho chuyện rong chơi, lên tiếng hát cho đời mua vui, vì sao người đời lại lên án ve và so sánh ve như những người không biết nhìn xa thấy rộng chỉ biết ăn chơi. Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine mô ta hình ảnh chú ve một cách tệ hại:

“Ve sầu kêu ve ve
Suốt Mùa Hè
Ðến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối
Một miếng cũng chẳng còn
Ruồi bọ không một con!”


Và ông La Fontaine tạo ra hình ảnh một chú ve đói rách, tồi tàn phải “vác miệng chịu khúm núm, sang chị Kiến hàng xóm, xin cùng chị cho vay, dăm ba miếng qua ngày!”

Chị Kiến trọc phú, vô cảm lại lên giọng nhà giàu: “Xưa chú hát, nay thử múa coi đây!”

Làm sao có thể so sánh loài ve “ca hát cho đời mua vui” với giống kiến nhỏ nhoi, hèn mọn, tham lam. Ở đâu có thức ăn, dù thối tha như xác chết, bẩn thỉu giòi bọ, xa xôi bao nhiêu, giống kiến cũng đánh hơi rất giỏi, hô hào, động viên anh em, giòng họ, đồng chí, quần chúng, nhanh chân, xếp hàng đến chia phần. Chúng hì hục khuân vác, lôi thôi, lếch thếch đi từng đàn, mang chiến lợi phẩm về hậu cứ, giữa đường thấy ai quẳng vào một miếng mồi mới, là cả bọn lại kéo nhau lại, cấu xé chia phần.

Thời thơ ấu chúng ta ai lại không bị kiến cắn một lần, ở chỗ kín cũng như chỗ hở, và chưa bao giờ dám bắt kiến, vì kiến là loài hung dữ, nhưng tuổi thơ nghịch ngợm lại kiếm mũ mít, dùng sào, gậy đi bắt ve sầu, một giống hiền lành chẳng bao giờ biết cắn, chích hay tấn công loài khác.

Thật ra suốt cuộc đời ve chẳng cần nhờ cậy vay mượn ai, phần lớn cuộc đời của ve là thời kỳ ấu trùng sống trong lòng đất ở độ sâu khoảng từ 30 cm đến 2.5 m, hút nhựa rễ cây để sống và có cặp chân trước đào bới rất khỏe.

Khi đến giai đoạn chuyển tiếp cuối cùng để kết thúc thời kỳ ấu trùng, những con ve trưởng thành đào một đường hầm lên mặt đất và chui lên, lột xác lần cuối, để kỷ niệm bằng cái vỏ ve già gắn chặt trên một cái cây nào đó và ngậm sương, lấy hương hoa của trời đất để cất tiếng hát ca. Ve sầu ấp ủ từ lòng đất, nhưng lúc trưởng thành biết leo lên cao, hợp đoàn cùng cất tiếng hát, suốt đời không biết giành giật, bon chen ví như người quân tử hay kẻ thánh nhân, đâu lại đem so sánh với quân tiểu nhân, ô hợp chỉ biết cái ăn uống phàm tục như loài kiến.

Trên mỗi mẫu đất, giống ve Magicicada tập trung từ hàng chục nghìn đến cả triệu con trên cây lớn cây nhỏ, và không như loài côn trùng hay chim chóc khác, hát mỗi con một điệu. Giống ve sầu đoàn kết “triệu con tim - một tiếng nói” cùng cất lên một giọng ca đồng nhất.
Những buổi trưa hè oi ả, trong không gian im vắng, đôi khi chúng ta tưởng như loài ve đang say ngủ, nhưng chỉ cần một tiếng động cơ xe qua trên đường, cả khu vườn bỗng bừng dậy với tiếng ve inh ỏi, cơn sóng âm thanh dồn từ khu vườn này chạy lan qua khu vườn khác.

Xưa, ở kinh thành Huế, có một vị quan khó tính, ông thường bực mình vì tiếng ve mỗi trưa làm cho ông khó ngủ, nên sai lính ra vườn đuổi ve. Ve không phải một hai con như gà dễ đuổi, trong khu vườn có cả trăm nghìn con ve, chỉ cần một tiếng động mạnh, hay rung thử một thân cây, là tất cả ve đều đồng loạt cất tiếng, nên đuổi ve cũng như hốt sạch lá rừng là điều không tưởng.

Ve đực tạo âm thanh bằng cách rung hai cái “loa” làm bằng màng mỏng, phát triển từ lồng ngực, có sườn bên trong. Những vòng sườn được co giãn thật nhanh, làm rung màng mỏng, tạo sóng âm thanh. Bụng ve rỗng nên có thể khuếch đại thành tiếng ve kêu rất to. Ve lắc mình và dùng cánh để tạo nhịp lên xuống cho “bài hát” của mình. Mỗi giống ve có một thứ tiếng, cường độ, cao độ khác nhau. Tiếng ve hát cũng là lời mời gọi, âu yếm đối với người tình.

Vì sao người ta gọi là tiếng ve... sầu? Có phải vì tiếng ve đều đặn, nghe buồn nản, hay tiếng ve thường gợi nhớ đến Mùa Hạ, mùa của tuổi thơ ấu đã qua, mùa của ly biệt. Mặt khác, loài ve có sầm xì gì chuyện thị phi của ai đâu, mà người đời khắc nghiệt gán cho thành ngữ “lời ong, tiếng ve!”

Tôi chưa hiểu vì sao loài ve xuất hiện ở miền Ðông nước Mỹ, mà không ở đây, nơi miền Tây nắng ấm, cho tôi được một lần, sau bao nhiêu năm bỏ nước ra đi, được nghe tiếng ve của một thời xa xưa, giữa một trưa hè vắng lặng hôm nay.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

CAFE CHẾT MÁY
Thời gian gần đây, trên đoạn đường từ Đồng Nai về Vũng Tàu có rất nhiều quán "Cafe Chết Máy". Hiện tượng như sau: Khi khách hàng tấp vào một quán nước ven đường nào đó, sau khi uống nước xong, ra lấy xe thì đề máy không nổ nữa, mặc dù trước đó xe hoàn toàn bình thường. Và mới chiều qua, ngày 28/04, tôi cũng là nạn nhận của mô hình cafe chết người này...

Chuyện xảy ra khoảng 4h chiều, ngày 28/4, đang cùng bà xã đi trên đoạn từ Đồng Nai về Tp. HCM, đến đoạn thuộc xã Long Phước thì trời chuyển mưa to. Thấy vậy tôi cho xe ghé vào một quán nước bên đường để uống nước và trú mưa. Gọi một trái dừa ra và nằm trên chiếc võng, tôi quay mặt vô còn vợ thì ngồi qua ra đường. Không lâu sau thì trời cũng bớt giông, tôi lên xe và đề máy nhưng đề mãi vẫn không nổ. Tôi vẫn tiếp tục đề thử lại nhiều lần vì trước giờ xe tôi chưa bao giờ có hiện tượng lạ như vậy. Đang loay hoay có một thanh niên đứng gần đó bước lại hỏi:

- Hết xăng à, đề không nổ à?

Tôi: Ờ...

- Để xem nào.

Nói đế đây, anh thanh niên lạ mặt này tiến sát hơn tới chiếc xe của tôi và nắm hai tay vào tay cầm định đề giúp. Lúc này thì trực giác mách bảo tôi có chuyện không ổn. Những kinh nghiệm về body language cho tôi biết kẻ lạ mặt này không phải người tốt. Tôi lập tức phản ứng:

- Thôi được rồi, không cần anh giúp đâu.

Vừa nói, tôi vừa hất tay hắn ra không cho chạm vào xe tôi, bạn cũng lưu ý, đây là quyết định hết sức quan trọng, bạn đừng bao giờ dại dột cho người lạ mặt nào cầm vào tay lái xe mình, có thể họ sẽ chạy mất trong vòng 1 giây. Thấy thái độ hơi khó chịu của tôi, hắn diễn tiếp:

- Không cần giúp thì thôi, làm gì ghê vậy.

Bà xã tôi cũng hết sức bất ngờ trước phản ứng của tôi.

Lúc này, tôi có dịp quan sát hắn kỹ hơn, cách ăn mặc của hắn đúng là rất giống một tên cướp, lại chạy một chiếc ecxiter, và đi cùng một thanh niên khác đứng gần đấy như sẵn sàng hỗ trợ.

Tôi quay sang hỏi bà xã: "Nãy giờ em có thấy có người nào đi lại gần chiếc xe mình không?"

Chắc do mất bình tĩnh, bã xã tôi chẳng nghĩ ra được gì cả.

Nói xong, tôi quyết định dắt bộ. Ngay cạnh quán nước là một tiệm sửa xe, chỉ cần vài bước là tới. Nhưng tôi dắt đi luôn mà không ghé tiệm này.

Bà xã tôi lại một phen bất ngờ:

- Ơ, sao anh không dắt vô tiệm này sửa?

Tôi giải thích:

- Xe chết máy một cách bất thường, sau đó thì xuất hiện hai thanh niên lạ mặt, dấu hiệu rất khả nghi, lại nhiệt tình giúp đỡ người lạ sửa xe, rồi ngay cạnh quán lại có sẵn một cái tiệm sửa xe nữa chứ. Em nghĩ, đây có phải là một kịch bản không?

Bà xã tôi nghe xong nhưng chắc là chưa hiểu lắm nhưng cũng ậm ừ nghe theo. Thường những lúc thế này bx luôn tôn trọng những quyết định của tôi.

Thế là tôi quyết định dắt xe đi tiếp, vừa đi tôi vừ suy nghĩ. Chợt tôi thấy chính hai người thanh niên kia chạy hai chiếc xe ngang qua mình. Tôi nghĩ chúng lại đón đầu và bày sẵn một kịch bản khác đây. Chưa biết giải quyết thế nào nhưng tôi cứ đi và nghĩ tiếp. Đi được một đoạn thì thấy trời bắt đầu chuyên mưa trở lại. Bà xã tôi mới ghé vô một tiệm tạp hóa ven đường để mua áo mưa. Còn tôi thì dừng xe lại và đi một vòng, rồi hai vòng quanh chiếc xe mình. Vừa đi tôi vừa quan sát thật kỹ chiếc xe xem có dấu hiệu gì lạ không. Đến vòng thứ ba thì mọi chuyện đã phơi bày các bạn ạ.

Nhìn kỹ vào phía sau chiếc Atila, tôi thấy có một góc nhỏ gần bình xăng, có vài sợi dây điện lòi ra. Cuối người xuống chút nữa, tôi thấy rất rõ, có hai cái chốt điện nhưng mà một trong hai cái bị rơi hẳn ra. Nhìn kỹ hơn thì đó chính là cục đề. Oh My God!!!

Đây chính là nguyên nhân, và hai tên kia chính là thủ phạm. Đến đây thì tôi cũng chẳng thèm gắn lại, đợi bà xã mua áo mưa ra tôi biểu diễn:

- Bà xã xem nè - tèng téng teng...

Vừa nói tôi vừa lấy tay cắm cái chốt còn lại vô cục đề. Rồi tôi đề máy.

Bùm bùm bùm... Xe nổ máy ngon lành, chưa bao giờ tôi nghe tiếng máy xe tôi nó thân thương như vậy.

Bà xã tôi hết sức vui mừng rồi hí hửng kể lại một câu chuyện khác, một bí mật khác.

- Số là em vô mua áo mưa, sẵn tiện em hỏi chị chủ quán xem có tiệm sửa xe nào gần đây không. CHị chủ quán hỏi xe em hư thế nào? Em nói là bị sao mà đề không được nữa. Chị ấy bảo, có phải em mới ghé uống nước ở quán nước gần đây không? Em nói dạ đúng rồi. Vậy là em bị bọn lừa đảo phá xe rồi. Ở đây chúng hoạt động khá nhiều, nhất là ở các quán nước. Lúc trước cũng có vài quán bị công án bắt rồi nhưng chưa hết. Kịch bản của chúng là:

"Làm hư xe khách, sau đó giả vờ giúp đỡ, rồi có thể lấy xe khách chạy mất, hoặc hên lắm thì chúng sẽ kêu dắt vô tiệm kế bên sửa (cũng là tiệm của hắn). Thế chúng sẽ chém đẹp mỗi xe vài trăm đến vài triệu chứ chẳng chơi. Chúng giả vờ thay cái cục đề khác, mà cục lô nữa chứ, rồi lấy cục 'gin' của khách để bán lại để kiếm tiền tiếp"

Đến đây thì mọi chuyện đã sáng tỏ, hai vợ chồng lên xe về mà cứ suy nghĩ mãi về chuyện này, cũng thầm cảm ơn ông trời còn thương người hiền, và cũng cảm ơn cái trực giác của mình vẫn luôn làm việc chính xác. Và đến lúc này, bà xã tôi mới nhớ ra, lúc vào quán nước, bà xã có thấy một thanh niên lạ mặt chạy xe vô rồi dựng kế bên và che mất một phần tầm nhìn chiếc xe của tôi rồi giả vờ sửa xe của mình. Đây cũng là lúc chúng hành sự.

Cũng trên đường về, tôi tự hứa sẽ kể lại câu chuyện này, nhằm giúp cho những ai không may trở thành nạn nhân của chúng biết đường mà tránh. Cũng hy vọng cơ quan công an sớm dẹp sạch các quán CAFE CHẾT MÁY kiểu này!

Các bạn đọc được câu chuyện này hãy bấm chia sẻ để bạn bè mình biết tránh sập bẫy bọn lừa đảo này nhất là những dịp lễ sắp tới các bạn nhé!

TB
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Ba nhân vật, một cội nguồn

Tạp ghi Huy Phương


Khoảng mười năm trở lại đây, chúng ta được nghe nhiều câu chuyện cảm động và thường quan tâm tìm hiểu về những trẻ em Việt Nam
được người ngoại quốc mang về nuôi, được học hành, lớn lên thành danh hay không thành danh.
Số phận những trẻ bất hạnh ở trong các trại mồ côi hay lang thang ngoài đường phố Việt Nam thường được thế giới biết đến qua những hình ảnh
và bài viết của các ký giả quốc tế đang công tác tại Việt Nam thời đó. Nhanny Heil hay Trần Thị Hết là một trường hợp như vậy.

Image
Ông Philipp Rosler, phát biểu tại đại hội đảng FDP, lúc đang là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Bộ Kinh Tế Ðức.
(Hình: Guenter Schiffmann/AFP/Getty Images)


Vào Tháng Hai năm 1973, ông Chick Harrity, phóng viên nhiếp ảnh của Associated Press, đang làm việc ở Sài Gòn đã chụp được bức ảnh một em bé gái gầy gò, dơ bẩn đang ngủ, nằm co quắp bên trong chiếc hộp giấy bằng carton, chỉ với một chiếc áo che phần trên thân thể, bên cạnh chiếc hộp là đứa bé trai, lớn hơn một tí, nắm lấy tay của em gái mình thò ra, và gần đó là một chiếc tô nhựa dùng để xin thức ăn. Ðó chính là em bé trong câu chuyện “Baby in the Box” nổi tiếng thế giới.

Bức ảnh này được AP gửi về Mỹ đã trở thành một “Breaking News Story” cho báo chí và các đài truyền hình ở Mỹ, đặc biệt là ở New York đã làm cho quần chúng xúc động. Rất nhiều người đã liên lạc tới hãng thông tấn AP để hỏi xem có cách nào nhận hai em bé đó làm con nuôi không.

Chỉ hai ngày sau, nhóm chuyên viên phòng tối người Việt đã dễ dàng tìm ra gia đình của em bé này. Mẹ của em bé, vợ một quân nhân VNCH cho biết bà có 5 đứa con trai và em bé trong chiếc hộp giấy là con gái út tên Trần Thị Hết... Vì hoàn cảnh vô cùng nghèo khổ, lương lính của chồng không đủ nuôi vợ và sáu đứa con, nên các con bà phải đi ăn xin trên đường phố. Khi biết nhiều gia đình ở Mỹ muốn nhận hai em bé trong bức hình làm con nuôi, thì bà đã quyết liệt từ chối, vì dù nghèo khó, bà không muốn gia đình phải chia cách.
Cuối cùng, định mệnh cũng đã đưa em Trần Thị Hết đến Mỹ. Cuối năm 1973 thì mẹ em đưa em vào viện mồ côi Holt, vì em bị bệnh tim và bà quá nghèo không có tiền chữa bệnh cho con. Sau đó nghe bà mẹ của em đã đi Ðà Nẵng, và qua đời vì bệnh lao phổi. Cuối cùng Trần Thị Hết được bác sĩ Denton Cooley chữa bệnh tim, đem em từ Saigon sang Mỹ chữa bệnh. Năm đó là năm 1974.

Bà Evelyn Heil, một nhà giáo ở thành phố Springfield, Ohio, là bà mẹ nuôi của Trần Thị Hết cho biết bà đã nhìn thấy bức hình “Baby in the Box”, trên một tờ báo ở Houston, Texas, và hình như có một sự thôi thúc kỳ lạ khiến bà tìm mọi cách để xin em về làm con nuôi, lúc ấy bà Evelyn Heil đã có bốn cậu con trai, và Nhanny Heil trở thành cô con gái út trong gia đình.

Ngày 21 Tháng Năm, 2005, tại Washington, DC, trong một buổi lễ do Hội Phóng Viên Ảnh Tòa Bạch Ốc tổ chức, trước sự chủ tọa của Tổng Thống George W. Bush, chính Nhanny Heil đã trao tặng giải thưởng “Thành Tựu Một Ðời” cho nhiếp ảnh gia nổi tiếng Chick Harrity, người đã chụp tấm hình cô nằm co quắp trong chiếc thùng giấy 32 năm về trước trên vỉa hè Sài Gòn.

Nhanny Heil ngày nay đã là mẹ của hai con ở thành phố Springfield, Ohio, đã từng trả lời qua một cuộc phỏng vấn:
“Tôi chỉ nghĩ là tôi rất may mắn vì đã gặp được mẹ nuôi tôi, người đã gầy dựng cho tôi một cuộc đời mới. Tôi biết rằng, tôi còn có cha và các anh trai của mình, và nhiều khi tôi tự hỏi không biết giờ này họ ra sao. Tôi không biết làm cách nào để tìm ra họ. Tôi thiệt không biết làm sao!” (RFI)

Lời nói tha thiết của cô bé Trần Thị Hết ngày xưa như một lời than khóc, nhưng làm sao để tìm ra một người lính miền Nam vô danh trong cuộc chiến khốc liệt và nhất là sau khi Saigon sụp đổ, và những đứa con trai lang bạt không nhà của ông. Không một tên người, không một tên làng xóm, không một địa chỉ. Nhưng Nhanny Heil vẫn nghĩ về nguồn cội.

Một trường hợp con mồ côi khác, không rõ họ tên gốc Việt và cha mẹ là ai, sinh tại Khánh Hưng, Sóc Trăng, được nuôi trong một viện mồ côi Công Giáo do các nữ tu Dòng Chúa Quan Phòng Portieux. Khi được 9 tháng tuổi, ông được một cặp vợ chồng người Ðức vốn đã có hai con gái nhận nuôi và đặt tên là Philipp Rosler. Trong những đứa con lưu lạc, Philipp Rosler là con người gốc Việt thành công rực rỡ nhất. Hiện nay ông là một chính trị gia của Ðảng Dân Chủ Tự Do (FDP) đã từng giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Kinh tế kiêm phó Thủ hiến bang Niedersachsen. Từ năm 2009, ông là Bộ trưởng Bộ Y Tế Liên bang Ðức trong nhiệm kỳ thứ nhì của Thủ tướng Angela Merkel. Tháng Năm, 2011, tại Ðại hội Ðảng FDP, ông được bầu làm chủ tịch đảng và sau đó được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Ðức kiêm Bộ trưởng Bộ kinh tế và công nghệ liên bang.

Không như những đứa trẻ Việt Nam khác như cô Kimberly Mitchell, được Thiếu Úy TQLC Trần Khắc Báo cứu trên “Ðại Lộ Kinh Hoàng” Quảng Trị năm 1972, hay cô Heidi Mai Thị Hiệp trong câu chuyện “Daughter From Danang,” Philipp Rosler không cảm thấy cần phải tìm kiếm nguồn gốc của mình và tự xem mình là một người Ðức Công Giáo.
Năm 2006, theo lời thúc giục của vợ, ông lần đầu tiên thăm Việt Nam, nơi ông sinh ra, nhưng ông nói rằng ông chỉ có mối liên hệ tình cảm hạn chế với nước này (!).

Ðáp lại câu hỏi của báo chí về việc Rosler có liên lạc với Seour Mary Marthe và Seour Sylvie Marthe hiện vẫn đang sống ở Việt Nam, là hai người đã chăm sóc ông trại mồ côi ở Khánh Hưng trong những tháng đầu đời hay không, thì ông cho biết đã liên lạc với Seour Mary Marthe, khi ông là Bộ trưởng Y tế Ðức năm 2009. Ông cho biết, các phóng viên Ðức đã đến Việt Nam và lấy được một số bức ảnh hồi bé của ông.

Báo chí hỏi ông, trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên cùng với vợ, sao Rosler lại không đến nơi ông từng được nuôi dưỡng khi còn là trẻ sơ sinh, thì câu trả lời của ông là “hai vợ chồng tôi từng nghĩ rằng Sóc Trăng có lẽ cũng giống như những địa điểm khác mà chúng tôi từng thăm thôi (!).”Philipp Rosler cũng nói thêm: “Tôi đi thăm Việt Nam trên cương vị Bộ trưởng Kinh tế, một đại diện của giới kinh doanh Ðức, chứ không phải là một chuyến đi tìm hiểu quá khứ của bản thân.”

Phải chăng việc tìm lại cội nguồn có thể xẩy nhiều chuyện rắc rối, như “Daughter From Danang.” Heidi Mai Thị Hiệp, một đứa con lai Mỹ, tại Ðà Nẵng,Việt Nam, được đưa sang Hoa Kỳ vào năm 1975 trong chuyến “Babylift” từ Tân Sơn Nhất. Mẹ cô là Mai Thị Kim, đã có chồng và ba con, cô Heidi là kết quả của mối tình Mỹ Việt khi bà Kim làm việc trong căn cứ Mỹ tại Ðà Nẵng. Tuổi thơ ấu cô đã bị gia đình mẹ hất hủi, bạc đãi như đã từng đuổi con bé năm tuổi ra khỏi nhà trong giờ giới nghiêm. Khi Ðà Nẵng sắp mất, sợ hãi về những điều người ta đang đồn đãi về Việt Cộng, bà Kim đã đem con bé cho cơ quan từ thiện “Holt Adoption Agency.”

Ðược mang về Mỹ làm con nuôi, lớn lên, khi Heidi lập gia đình và có con, những ám ảnh đau đớn của tuổi thơ đã tác động vào lòng cô rất nhiều, nhưng Heidi hy vọng rằng việc đi tìm lại người mẹ ruột của mình sẽ giúp giả tỏa được nỗi đau này.
Heidi liên lạc với cơ quan nhận con nuôi Holt, và biết rằng mẹ đẻ của cô là bà Mai Thị Kim, hiện còn sống ở Ðà Nẵng. Với sự giúp đỡ của nhà báo Trần Tường Như, từ Pulaski, Tennessee, Heidi quyết định trở về Việt Nam để tìm lại cội nguồn.

Chuyến trở về hoàn toàn đổ vỡ và thất vọng. Heidi không có kinh nghiệm gì về nếp sống Việt Nam và gia đình mẹ cô sống trong đói nghèo, không có kiến thức về văn hóa Mỹ. Mẹ cô, bà Mai thì muốn dành nhiều thời gian với Heidi và thậm chí, đêm đầu tiên đòi ngủ chung với Heidi, người con gái này đã cảm nhận như bị “nghẹt thở” và có cảm tưởng chốn riêng tư của mình đang bị xâm phạm. Nỗi thất vọng của cô tràn ngập khi gia đình mẹ cô trắng trợn thông báo với cô rằng họ chờ đợi cô giúp đỡ tiền bạc, và họ đã cười chê khi thấy cô bật khóc.

Mặc dầu gia đình này đã giải thích cho Heidi rằng hầu hết các người Việt sang Mỹ đều gởi tiền về giúp gia đình, nhưng Heidi cảm thấy rằng mẹ cô và các ông anh đang khai thác và lợi dụng mình, đứa con lai mà họ đã vứt bỏ, xô đẩy ra đường 27 năm về trước.

Cuối cùng, cô quyết định trở về Mỹ trước thời hạn, cảm thấy tim mình tan vỡ và đau đớn, tưởng hàn gắn được những ám ảnh của tuổi thơ, nhưng lòng cô bây giờ lại trống vắng xót xa hơn bao giờ hết. Heidi nhận được thư từ của gia đình mẹ cô sau khi về Mỹ, nhưng từ mười năm nay, cô đã dứt khoát đoạn giao với gia đình Việt Nam của mình, tìm an ủi bên chồng con. Tiếp tục liên lạc với gia đình người mẹ, có chăng chỉ mang lại thêm nỗi đau đớn, dằn vặt cho cô.

Bạn đọc của tôi có ý nghĩ gì về ba nhân vật này, cả ba đã từ một cội nguồn ra đi. Một người tha thiết mong tìm lại được gốc gác, nhân vật kia lại không muốn tìm lại cội nguồn, người thứ ba thất vọng hoàn toàn khi trở lại nơi từ đó mình đã ra đi!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest