Thời Sự, Bình Luân

tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Làm sao cho người Việt tin nhau?

Ngô Nhân Dụng

Trên báo Tia Sáng, ông Giáp Văn Dương mới viết một bài rất đáng đọc, ông đặt câu hỏi: Tại sao ở nước ta mọi người không tin nhau. Ông kể chuyện có lúc đã sống ở một nước ngoài 12 năm, thấy người ta bao giờ cũng tin nhau.

Ông kể, “Tôi và một người bạn đi mua bảo hiểm xe. (Hợp đồng bảo hiểm viết rằng), nếu mất xe thì sẽ được đền xe mới. Bạn tôi hỏi: “Nếu chúng tôi bán xe rồi báo bị mất thì sao?” Nhân viên bảo hiểm ngạc nhiên, một lúc lâu mới nghĩ ra được câu trả lời: “Tôi tin các anh không làm thế.” Giáp Văn Dương kết luận: Nước họ giàu mạnh vì họ tin ở con người.

Ngược lại, khi trở về sống ở Việt Nam, ông thấy người ta luôn luôn nghi ngờ nhau trước, không ai tin ai cả. Lãnh hành lý ở phi trường bị hỏi giấy tờ, “Tên tôi đây. Ðịa chỉ tôi đây. Hộ chiếu của tôi đây. Vậy sao mà rắc rối đến vậy? Sao phải xác nhận? Sao phải chứng minh? Sao phải công chứng bản gốc?”

Vào siêu thị thì lúc ra trả tiền phải đi qua hai chặng, trả tiền rồi, đi hai thước lại có nhân viên kiểm soát hóa đơn, thấy con dấu đỏ “đã thanh toán” mới được đi qua. Ông Dương hỏi: “Vì sao người Việt không tin nhau?”

Mình không cần nhắc đến tên Việt Nam trong câu hỏi này. Ở nhiều nước khác người ta cũng không ai tin ai cả. Nên đặt câu hỏi là: “Trong những xã hội như thế nào thì người ta dễ tin nhau? Còn những xã hội người ta không tin nhau thì nó sống thế nào?”

Mình không nên nghĩ oan cho giống dân Việt. Có lần tôi kể chuyện những thành phố người ta bỏ xe đạp ngoài đường qua đêm, không khóa; như ở Dubuque, Iowa; hay ở Helsinki, Phần Lan (trước khi di dân Ðông Âu qua). Họ không lo mất xe, vì tin là mọi người chung quanh đều lương thiện. Nhiều độc giả đã viết thư nhắc nhở rằng xưa kia ở nước ta cũng vậy. Một vị cho biết hồi 1950 ở Sài Gòn ông đã sống như thế. Ðêm không khóa cửa nhà, xe đạp dựng trước nhà cũng không khóa. Một vị độc giả khác kể chuyện năm 1959 ông dựng cái xe đạp ngoài bờ sông Sài Gòn đứng hóng mát; sau đó có một người rủ lên xe hơi đi uống bia. Ông đi tới 11 giờ khuya, trở lại Bến Bạch Ðằng thấy cái xe không khóa vẫn dựng đó không mất. Bác Sĩ Nguyễn Tư Mô kể hồi 1955 ông đi trong một phái đoàn y tế xuống Châu Ðốc chẩn bệnh phát thuốc; lúc vào chợ ăn trưa thì một người trong đoàn bỏ quên cặp kính mát. Tới buổi chiều, một nhân viên xã mang cặp kính mát đến hỏi có ai đánh rớt không? Có người lượm được, đem đến trả phái đoàn, vì biết chỉ dân ở Sài Gòn mới mua được kính mát loại sang như vậy.

Người Việt Nam vốn đã tin nhau chứ chẳng phải không. Vì ông bà chúng ta vẫn dạy dỗ con cháu sống theo đạo lý, và chính họ sống làm gương. Trong xã hội nào mọi người cũng sống với những hợp đồng ngầm hiểu, dài hạn, hết đời này sang đời khác. Các xã hội Á Ðông theo truyền thống Nho Giáo đều có những “hợp đồng hiểu ngầm” như vậy. Ra đường gặp ai là có thể tin đến 99% rằng người đó cũng được cha mẹ dạy các quy tắc Lễ Nghĩa Liêm Sỉ giống như mình. Ngay cả sau khi nước ta bị Pháp đô hộ, bản Hợp Ðồng Tín Nghĩa vẫn được giữ gìn. Cách sống của Phan Châu Trinh cũng không khác lối cư xử của Nguyễn Ðình Chiểu hay Hoàng Diệu. Tư cách đó vẫn truyền qua đến Trần Trọng Kim, Khái Hưng, Nguyễn An Ninh, hay Phan Văn Hùm. Nền tảng đạo lý đó chỉ bị phá vỡ từ khi có một chính quyền chủ tâm xóa bỏ hết nền văn hóa cũ, thay thế bằng “văn hóa vô sản.”

Tại sao các nước Á Ðông khác, ngoài Việt Nam và Trung Quốc, vẫn giữ được những bản hợp đồng Tín Nghĩa suốt đời này sang đời khác trong hai ngàn năm?

Phân tích theo lối kinh tế học, thì lý do chính là: Tín Nghĩa là một cách sống có lợi về lâu về dài. Không ai muốn làm sai bản hợp đồng tín nghĩa vì nếu nó bị xóa bỏ, chính mình sẽ bị thiệt thòi. Nói rõ hơn: Cuộc sống của mỗi người sẽ “tốn kém” hơn! Mức tốn kém tăng lên từ một khoản chi tiêu mà các nhà kinh tế gọi là “phí tổn giao dịch” (transaction costs). Hãy lấy những thí dụ mà ông Giáp Văn Dương nêu ra. Một người vào siêu thị mua hàng, trả tiền, được mang thức ăn về nhà. Trong “giao dịch” kinh tế này, siêu thị cũng phải trả tiền khi mua hàng, khi thuê mướn cửa hàng, thuê nhân viên, vân vân. Người mua trả một số tiền lớn bằng số chi phí của siêu thị, cộng với tiền lời mà nếu không có thì không ai mở siêu thị.

Nhưng trong một xã hội mà người ta không tin nhau thì siêu thị phải lo đặt hệ thống báo động, phải thuê thêm người canh gác, thêm người kiểm soát lần thứ hai bên ngoài quầy trả tiền. Tất cả những chi phí mới đó, tất nhiên, chủ nhân họ tính ngay trong giá bán. Ðó là một thứ phí tổn giao dịch phụ trội; mà nếu trong xã hội mọi người tin nhau thì không cần. Nhìn rộng ra, trong một xã hội mà người ta không tin nhau thì phí tổn giao dịch sẽ tăng vọt trên khắp mọi mặt. Cả xã hội phải chịu. Thử nhìn vào số lượng công an, cảnh sát ở nước ta. Tại sao một nước cần nhiều công an như vậy? Vì người ta nghi ngờ nhau. Chính quyền nghi ngờ dân. Nếu mọi người tin nhau thì mấy trăm ngàn công an cảnh sát có thể giải ngũ. Những người đó có thể đi làm những việc hữu ích hơn về kinh tế, như làm kỹ sư, đi kinh doanh, làm ca sĩ, hay trồng cây ăn trái bán. Bởi vì trong nước vẫn cần rất nhiều kỹ sư, nhiều nhà kinh doanh, nhiều nhà nông có tài. Lực lượng công an thu hút mất bao nhiêu người ưu tú, đó là một thiệt hại lớn cho cả nền kinh tế quốc dân.

Làm cách nào để xã hội cùng theo những quy tắc sống có Tín Nghĩa? Làm cách nào để mọi người nhìn thấy nhau là hãy tin cậy trước khi nghi ngờ, nghe ai nói gì thì trước hết hãy tin đó là lời nói thật? Có thể thiết lập lại bản hợp đồng xã hội lấy Tín Nghĩa làm tiêu chuẩn hay không?

Có lẽ chúng ta sẽ tránh không lên giọng hô hào phục hồi môn đạo đức trong trường học, dù đó là một việc chắc chắn phải làm. Nên tìm ra những giải pháp thực tế. Mà khi nói đến chuyện thực tế thì có thể tính toán theo lối kinh tế học. Theo lối nhìn kinh tế học thì muốn người khác tin mình tốt nhất là làm sao cho người ta biết nếu mình không làm đúng lời hứa hẹn, thì chính mình sẽ bị thiệt hại rất lớn. Mình có hai đường: Giữ lời hứa có thể bị thiệt, nhưng cũng có thể không bị thiệt; ngược lại, nếu sai lời thì sẽ bị thiệt hại rất nhiều, với xác suất 100%!

Nếu mọi người trong một xã hội đều biết như vậy thì hầu hết sẽ cố giữ Tín Nghĩa, xã hội sẽ thay đổi. Quy tắc này vẫn được sử dụng trong đời sống kinh tế: Khi chúng ta đi vay nợ, ngân hàng yêu cầu phải có vật cầm thế “làm tin,” ghi rõ trong hợp đồng. Nếu mình không trả nợ, sẽ mất mát hơn gấp bội!

Khả năng có thể ký hợp đồng mà bản hợp đồng có hiệu lực thi hành, đó là một nền tảng tạo ra lòng tin tưởng lẫn nhau. Trong các xã hội hoang dã, việc thi hành hợp đồng là do mỗi người tự làm lấy. Họ dùng vũ lực để thi hành các bản hợp đồng. Theo lối mafia, ai không làm đúng hợp đồng thì cho một lưỡi đao, hay một phát súng; vì Mafia không thể ký những hợp đồng hứa hẹn cùng đi ăn cướp hoặc giết người, ai làm sai sẽ bị kiện!

Còn trong xã hội văn minh thì niềm tin giữa mọi người dựa trên hệ thống pháp luật. Muốn người ta tin thì cứ làm sao để người ta thấy là họ có thể kiện mình ra tòa, nếu mình làm sai. Như Thomas Schelling diễn giải: Một người dễ được tin tưởng khi hắn có thể bị thưa kiện! Một người có thể bị kiện ra tòa (nếu làm sai lời) thì dễ được người khác tin tưởng hơn. Nếu tất cả đều sống theo quy tắc đó thì chúng ta có thể tạo nên niềm tin cho cả nước.

Giữ cho guồng máy nhà nước trong sạch là bước đầu tiên để tái tạo niềm tin. Những người đi hối lộ và ăn hối lộ đều “xé bản hợp đồng” mà mọi người đã thỏa thuận với nhau. Không những họ làm người dân đút lót mất tiền, mà họ còn phá nát đạo lý xã hội. Cũng giống như khi có người lái xe ngoài đường mà bất chấp luật lệ vậy. Nếu nhiều người cứ ngang nhiên lái xe như thế mãi, thì cả thành phố hay cả nước sẽ không còn luật lái xe. Bản hợp đồng bị xé rồi, mạnh ai nấy sống. Nạn tham nhũng là thứ làm tiêu hao đạo lý cả xã hội, chưa kể nó làm cho kinh tế không tiến được đúng tiềm năng.

Trước khi xé bản hợp đồng với xã hội để ăn hối lộ mà biết trước mình có thể bị thiệt hại rất nặng nếu bị bắt, thì thế nào người ta cũng ngần ngại không đòi đút lót nữa. Xác suất bị bắt càng cao thì càng bớt tham nhũng. Án trừng phạt càng nặng, thì càng bớt. Nếu một hệ thống chính trị cứ để cho xác suất bị bắt thấp, mà việc trừng phạt cũng nhẹ, thì sẽ nuôi đầy tham nhũng, hối lộ.

Phải làm sao cho xác suất tội tham nhũng bị tố giác càng cao càng tốt, đó là một cách giảm bớt tham nhũng và tạo niềm tin trong xã hội. Muốn vậy thì ngoài guồng máy tư pháp công minh chính trực cần phải có nhiều “bộ máy tư nhân” tình nguyện tham dự việc tố giác tội tham nhũng. Số hội đoàn, trong xã hội công dân càng phát triển thì càng nhiều người tự nguyện làm công việc đó. Nhiều người còn sẵn sàng làm công việc đó, vì có lợi cho họ. Ðó là các nhà báo, khi họ được tự do. Nhà báo nào điều tra ra những vụ tham nhũng và loan tin sẽ được nhiều người đọc, nhiều người kính trọng. Chính họ sẽ tự nguyện đi tìm ra những tin tức đó. Còn nếu nhà báo đi điều tra rồi lại bị tù thì hết nói!

Khi bản hợp đồng đạo lý của xã hội bị xé rồi, rất khó tái lập. Phá nó dễ, xây dựng lại rất khó. Nhưng không phải vì khó mà chúng ta không bắt đầu ngay. Phải thiết lập một chế độ tự do dân chủ, quyền tư pháp độc lập, xã hội công dân phát triển, mọi người có quyền tự do hội họp, tự do phát biểu. Cứ như thế, trong một vài thế hệ, sẽ không ai cần đặt câu hỏi: Tại sao người Việt không tin nhau?
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Bên Thắng Cuộc: Một cuốn sách hay (phần 1)
Nguyễn Hưng Quốc (VOA)
Tôi có cuốn Bên Thắng Cuộc của Huy Ðức đã khá lâu nhưng mấy ngày vừa rồi mới có thì giờ để đọc.

Ấn tượng chung: Thích.

Thích nhất là về tư liệu. Ðã có nhiều người, Việt Nam cũng như ngoại quốc, viết về Việt Nam sau năm 1975 nhưng có lẽ chưa có cuốn sách nào bao quát nhiều khía cạnh và dồi dào tư liệu đến như vậy. Các cuốn sách khác, cho đến nay, dưới hình thức hồi ký hay biên khảo, thường chỉ tập trung vào một lãnh vực và từ một góc độ cụ thể nào đó. Bên Thắng Cuộc, ngược lại, hầu như đề cập đến mọi góc cạnh lớn, từ quân sự đến chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, từ tổ chức chính quyền tại Sài Gòn sau năm 1975 đến các chiến dịch đánh tư sản, các trại cải tạo, phong trào vượt biên, các nỗ lực “xé rào” về kinh tế, chính sách đổi mới, chiến tranh với Campuchia cũng như với Trung Quốc và các cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ đảng Cộng sản.

Ở từng vấn đề, Huy Ðức đều nêu lên thật nhiều chi tiết. Các chi tiết ấy thuộc hai loại chính: Một, lời kể của các chứng nhân được thu lượm qua các cuộc phỏng vấn hoặc qua các hồi ký - đã hoặc chưa xuất bản - của họ; và hai, các tài liệu đã được công bố đây đó, bằng tiếng Việt cũng như bằng tiếng Anh. Nguồn tài liệu thứ nhất được Huy Ðức thực hiện với tư cách một nhà báo; nguồn thứ hai, với tư cách một nhà nghiên cứu. Tôi cho sự kết hợp giữa hai tư cách này là mặt mạnh nhất của Huy Ðức đồng thời cũng là ưu điểm chính của cuốn Bên Thắng Cuộc: Thường, các nhà báo Việt Nam chỉ “tác nghiệp” theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, dựa trên những gì mình nghe kể hoặc quan sát được; còn các nhà nghiên cứu thì lại thiếu thực tế, do đó, hoặc chỉ xào nấu từ các cuốn sách khác hoặc phải sa vào tư biện, tệ hại hơn nữa là tư biện kiểu Việt Nam: Cứ lải nhải những luận điệu rặt mùi tuyên truyền, tức những luận điệu ai cũng biết, hơn nữa, biết là sai.

Trong Bên Thắng Cuộc, nguồn tài liệu từ sách vở chỉ có tính chất bổ sung, chủ yếu để cung cấp số liệu và mở rộng kích thước lịch sử, từ đó, tăng tính thuyết phục cho những vấn đề được đề cập. Ví dụ, nói về cuộc họp mặt với khoảng 100 văn nghệ sĩ tại Hà Nội của Nguyễn Văn Linh vào ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987, Huy Ðức quay trở lại với thời Nhân Văn Giai Phẩm, hoặc xa hơn nữa, thời Trường Chinh viết “Ðề cương văn hóa” năm 1943, thậm chí, một chút, về lịch sử báo chí Việt Nam trước đó. Nói về kinh tế thị trường (lần đầu tiên được đưa vào các văn kiện đảng là năm 1991), anh quay trở lại vấn đề “lược sử kinh tế tư nhân” ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, đặc biệt, đầu thế kỷ 20, dưới thời Pháp thuộc. Nói về các chính sách đối với người Hoa vào những năm 1978-79, anh quay lại quan hệ giữa Việt Nam (chủ yếu là miền Bắc) với Trung Quốc trong Hiệp định Paris năm 1954 cũng như trong suốt cuộc chiến tranh Nam Bắc thời 1954-75, bao gồm cả chuyện Hoàng Sa năm 1974, v.v. Những tài liệu này, thật ra, không mới, nhưng chúng được trình bày một cách gọn ghẽ, sáng sủa và mạch lạc, làm cho vấn đề có thêm bề dày của lịch sử.

Nhưng mặt mạnh nhất của Huy Ðức là ở tư cách nhà báo. Không những chỉ là người làm báo lâu năm, anh còn có ba đặc điểm mà không phải nhà báo kỳ cựu nào cũng có: Một, quan hệ rộng; hai, có tầm nhìn dài; và, ba, có cách làm việc khoa học.

Tôi gặp Huy Ðức một lần ở Hà Nội, hình như là vào cuối năm 2002 hay đầu năm 2005 gì đó. Buổi sáng, tôi đang ngồi uống cà phê với nhà thơ Phan Huyền Thư và nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên thì anh và nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn đến nhập bọn. Phạm Xuân Nguyên giới thiệu Huy Ðức với tôi: “Nhà báo, đang làm ở tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn”. Lúc ấy, Huy Ðức chưa có Osin blog, chưa có các bài bình luận chính trị được phổ biến rộng rãi trên Internet, cho nên, thú thật, tôi không hề biết anh, kể cả cái tên. Mà Huy Ðức cũng rất ít nói. Hôm ấy, anh chỉ ngồi nghe bọn tôi nói hươu nói vượn về chuyện văn chương và cười. Ðến lúc Phạm Xuân Nguyên đọc một số bài ca dao mới chế giễu giới lãnh đạo Việt Nam, trong đó, có cả Hồ Chí Minh, cả bọn cười ngất, riêng Huy Ðức thì lôi trong túi ra một cuốn sổ tay nhỏ và đề nghị Nguyên đọc lại, chầm chậm, cho anh chép. Sau đó, trong suốt buổi nói chuyện, cứ hễ bắt gặp một câu gì hay hay, một chi tiết gì thú vị, anh lại lôi sổ tay ra chép. Cung cách làm việc của anh khiến tôi để ý. Và nhớ mãi.

Nhiều người trong giới nhà báo có ưu điểm là biết rộng nhưng phần lớn lại mắc phải khuyết điểm là sa đà trong các sự kiện có tính chất giai thoại vụn vặt, cuối cùng, chỉ viết được những bài báo ngăn ngắn, đầy tính thời sự, để được đọc ngày hôm trước và bị quên lãng ngay vào ngày hôm sau. Huy Ðức, khi theo dõi và ghi chép các tin tức hằng ngày, đã có tham vọng sử dụng cho một bức tranh toàn cảnh về sinh hoạt chính trị Việt Nam thời anh đang sống. Cuốn Bên Thắng Cuộc, gồm hai tập, “Giải phóng” và “Quyền bính”, như anh tiết lộ trong lời nói đầu, được hình thành trong 20 năm, chính là kết quả của tham vọng ấy.

Không phải nhà báo nào cũng có quen biết nhiều, đặc biệt trong giới lãnh đạo, như Huy Ðức. Ở Việt Nam, để có được những quan hệ rộng rãi như thế, không những cần có tính cách thích hợp (quảng giao) mà còn có cả yếu tố “nhân thân” nữa: Sinh trưởng ở miền Bắc, vốn là sĩ quan, từng làm việc ở Campuchia với tư cách chuyên gia quân sự trong hơn ba năm trước khi về làm báo, anh có đủ điều kiện để được tin cậy. Chính vì thế, anh được báo Tuổi Trẻ giao trách nhiệm tường thuật các kỳ họp Quốc Hội, ở đó, anh có thể, ở “những thời điểm nóng bỏng nhất”, “vào tận phòng làm việc hỏi chuyện Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Thủ Tướng Phan Văn Khải” hoặc “đến nhà riêng, văn phòng làm việc của Tổng Bí Thư Ðỗ Mười, Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu... phỏng vấn”. Trong “Mấy lời của tác giả”, anh cho biết anh đã tiến hành “hàng ngàn cuộc phỏng vấn”; và theo “Lời cám ơn”, chúng ta được biết, trong số những người được anh phỏng vấn, ngoài các tên tuổi nêu trên, còn có Chủ Tịch Nước Lê Ðức Anh, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An, Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Quốc Hội Lê Quang Ðạo, Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Bộ Trưởng Công An Lê Minh Hương, Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình, v.v.. Cả trăm người. Toàn những người lãnh đạo ở bậc cao nhất trong nước. Ngoài ra, anh còn phỏng vấn vợ họ, con họ và các thư ký riêng của họ nữa.

Chắc chắn không có một nhà báo hay nhà biên khảo nào ở hải ngoại, kể cả người ngoại quốc - vốn vừa ít bị nghi ngờ vừa được các trung tâm nghiên cứu lớn tài trợ để có thể bỏ ra năm bảy năm thu thập tài liệu cho một cuốn sách - có thể tiếp cận được đến chừng ấy người trong giới lãnh đạo Việt Nam. Ở trong nước, làm được điều ấy, cũng không phải dễ. Nhìn từ góc độ xuất bản, có lẽ Huy Ðức là người đầu tiên. Ðiều này trở thành một thế mạnh đầu tiên của cuốn sách: Ðó là chuyện kể từ những người trong cuộc của “bên thắng cuộc”. Tính chất “trong cuộc” ấy đã tạo nên những đặc trưng về thể loại và thẩm mỹ của cuốn sách.

Trong cái gọi là đặc trưng thẩm mỹ ấy, tôi chỉ xin tập trung vào một điểm: Sự hấp dẫn.

Phải nói ngay: Hiếm có cuốn sách về chính trị nào hấp dẫn như cuốn Bên Thắng Cuộc. Ðiều đó có thể thấy qua những tiếng ồn nó gây ra trong mấy tháng vừa qua. Lâu lắm rồi, giới cầm bút Việt Nam hầu như hoàn toàn bất lực trong việc gây ồn. Hầu hết sách báo được xuất bản ở trong nước cũng như ở hải ngoại, đặc biệt ở hải ngoại, đều rơi vào im lặng. Không phải chỉ là chuyện hay hay dở. Mà chủ yếu ở tâm lý quần chúng: Dửng dưng. Cuốn Bên Thắng Cuộc, ngược lại, ngay từ lúc mới ra mắt ở hải ngoại, là đã gây ồn ào ngay. Kẻ bênh người chống, bên nào cũng xôn xao và lên tiếng ỏm tỏi trên mọi diễn đàn, từ trên giấy đến trên mạng. Những tiếng ồn ấy khiến cả những người chưa đọc cuốn sách, hoặc có khi, không có ý định đọc cuốn sách, cũng quan tâm, thậm chí, như ở California, xuống đường biểu tình chống cuốn sách!

Mà Bên Thắng Cuộc hấp dẫn thật. Ðọc, chúng ta biết được rất nhiều chuyện, từ những chuyện lớn liên quan đến chính sách đến những chuyện nhỏ, có khi nhí nhách nữa, liên quan đến đời sống hàng ngày của một số người. Lớn, ví dụ, những toan tính đằng sau các chính sách hay chiến dịch có ảnh hưởng đến sinh mệnh cả hàng chục triệu người; những thay đổi trong tính cách của Lê Duẩn: Từ một cán bộ hay hy sinh cho người khác đến một lãnh tụ chuyên quyền và độc đoán; trong thái độ của Trường Chinh: Từ một người giáo điều và bảo thủ đến một người đi đầu trong phong trào đổi mới; trong chủ trương của Nguyễn Văn Linh: Từ một người đổi mới đến một người phản-đối-mới. Cũng có thể xem là lớn mối quan hệ giữa các lãnh tụ với nhau, như giữa Lê Duẩn với Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và Lê Ðức Thọ; giữa Nguyễn Văn Linh với Võ Văn Kiệt, những chi tiết liên quan đến cái chết của Ðại Tướng Lê Trọng Tấn vào tháng 12 năm 1986 vốn, theo lời Huy Ðức, bị “lịch sử phi chính thống [...]xếp vào hàng nghi án” (”Giải phóng”- GP, tr. 151)... Còn nhỏ thì nhiều hơn, có khi lôi cuốn người đọc hơn, chẳng hạn, chuyện vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong Dinh Ðộc Lập không hề có chiếc máy ghi âm nào để thu lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh (GP, tr. 23); chuyện các sĩ quan Bắc Việt đầu tiên vào chiếm Dinh không dám bước vào thang máy vì thấy nó giống cái... hòm và họ sợ bị nhốt luôn trong đó (GP, tr. 22); chuyện khuya ngày 5 tháng 7 năm 1967, Ðại Tướng Nguyễn Chí Thanh bị mệt, được đưa vào bệnh viện Quân y 108 để cấp cứu, nhưng vừa đến nơi thì ông “phát ra một tiếng kêu 'ặc' rồi mặt và toàn thân tím ngắt”; mấy tiếng đồng hô sau, ông mất... (”Quyền bính” - QB, tr. 64) Có một số chuyện không biết là lớn hay nhỏ, như chuyện khi Hiệp định Geneva được ký kết, Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng, trưởng đoàn Bắc Việt, không hề biết sông Bến Hải nằm ở đâu (vì tất cả đều đã được Trung Quốc quyết định giùm!) (GP, tr. 52); chuyện Tôn Ðức Thắng, chủ tịch nước, vốn là thợ cơ khí, nhiều lúc rảnh và buồn quá, lật “chiếc xe đạp của ông ra sửa để giết thời gian” (GP, tr. 120); chuyện Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng quốc phòng, biết trước vụ tổng tấn công hồi Tết Mậu Thân chỉ có một ngày (QB, tr. 67); chuyện khi đón tiếp Tổng Thống Bill Clinton trong chuyến thăm Việt Nam năm 2000, “Bộ Chính Trị đã thống nhất là không được cười” (QB, tr. 137), v.v...

Nhiều chuyện có thể đã được người này người nọ kể đâu đó rồi. Nhưng theo chỗ tôi biết, chưa có nơi nào các chuyện thuộc loại ấy được tập trung với mật độ dày đặc như trong cuốn Bên Thắng Cuộc. Trang nào cũng đầy ắp chi tiết. Có những chi tiết không dễ gì tìm được ở những nơi khác, ví dụ: Ở Sài Gòn, trước tháng 4 năm 1975, có bao nhiêu đảng viên Cộng Sản nằm vùng? - 735 người! (GP, tr.27) Cũng ở Sài Gòn, sau tháng 4 năm 1975, có bao nhiêu người ra trình diện để “được đi học tập cải tạo”? - Có 443,360 người, trong đó, có 28 tướng, 362 đại tá, 1,806 trung tá, 3,978 thiếu tá, 39,304 sĩ quan cấp úy, 35,564 cảnh sát, 1,932 nhân viên tình báo các loại, 1,469 viên chức cao cấp trong chính quyền, và 9,306 người trong các đảng phái bị xem là “phản động' (GP, tr. 29), v.v.

(Còn tiếp)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Quý Tỵ, năm hy vọng

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Năm Nhâm Thìn qua, Tết Quý Tỵ đến. Anh chị em đấu tranh cho dân chủ trong và ngoài nước có những niềm vui mới. Anh Nguyễn Quốc Quân được tự do, anh Lê Công Ðịnh ra khỏi nhà tù, blogger Lê Anh Hùng ra khỏi trại bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, những niềm vui đó không được trọn vẹn: 22 anh trong vụ án Bia Sơn bị tuyên án quá nặng, từ chung thân đến hơn 10 năm giam giữ.

Một tin đáng phấn khởi khác trong ngày Tết là Lời kêu gọi thực thi Quyền Con Người đã được hưởng ứng nhanh rộng đến mức kỷ lục, có thể đạt 5.000 người tham gia. Kiến nghị về việc sửa đổi Hiến Pháp cũng được hưởng ứng tốt. Mười sáu vị đại diện cho 72 trí thức đầu tầu đã đưa kiến nghị đến tận tay cơ quan dự thảo Hiến Pháp, yêu cầu tiếp nhận và xem xét. Còn nhớ, hồi cuối năm 2010, khi Bộ Chính Trị kêu gọi nhân dân đóng góp ý kiến vào các văn kiện trình Ðại hội Ðảng XI, hơn 30 trí thức tiêu biểu đã góp nhiều ý kiến xác đáng nhưng không một ý kiến nào được tiếp nhận. Lần này, người ta hy vọng Bộ Chính Trị sẽ không khinh thị trí thức ra mặt như thế.

Năm Quý Tỵ này, có thể sẽ diễn ra một cuộc đụng độ lý luận quyết liệt giữa 2 trận tuyến đối lập - toàn trị và dân chủ, nhất nguyên và đa nguyên. Các vấn đề thay đổi tên nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam và Ðảng Cộng sản Việt Nam (ÐCSVN) cũng đã chín muồi để đưa ra thảo luận. Hiện nay, ngay trong ngôi đền thiêng liêng của giáo điều Mác-Lênin tại Việt Nam là Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia cũng vang lên những tiếng nói thẳng thắn, thức thời, đòi đổi tên đảng, tên nước và bỏ Ðiều 4 trong Hiến Pháp hiện hành.

Một điều đáng mừng là lãnh đạo càng cấm và sợ phản biện bao nhiêu thì trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên ta càng tự tin và hăm hở thực thi quyền phản biện bấy nhiêu. Bản dự thảo Hiến Pháp sửa đổi vừa đưa ra đã bị phê phán là thiếu trách nhiệm, hời hợt, vụn vặt.

Theo bản dự thảo, thay đổi rõ nhất là đưa vào 2 câu hoàn toàn mới mẻ, không hề có trong cả 4 bản Hiến Pháp từ trước tới nay, đó là đoạn xác định “Các lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với đảng Cộng sản Việt Nam, tổ quốc và nhân dân...” và “có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ đảng, nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa...”

Các nhà quan sát và giới phân tích cho rằng việc thêm vào 2 vế - một là trung thành với đảng CS, lại đặt trước tổ quốc và nhân dân, vế ở dưới cũng đặt vấn đề nhiệm vụ bảo vệ đảng trước nhà nước và nhân dân, và thêm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa - rõ rang là một mưu đồ đen tối, thâm hiểm nhằm mục đích duy nhất là duy trì quyền lợi và bảo đảm sự sống còn của nhóm thiểu số cầm quyền hiện nay.

Trong cuộc họp Quốc Hội vào tháng 5 tới để thảo luận về dự thảo Hiến Pháp mới, việc đầu tiên phải đạo là Ban dự thảo phải xin lỗi công khai nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân vì đã phạm sai lầm khi đặt đảng lên trước, lên trên nhân dân trong việc xác định trách nhiệm chính trị và nhiệm vụ của quân đội.

Thực ra chủ tịch Quốc Hội phải chịu liên đới chịu trách nhiệm vì đã phê duyệt và tán thành bản dự thảo này. Ông sẽ không làm đúng nhiệm vụ là người lãnh đạo của một cơ quan dân cử nếu ông không dám lên tiếng nhận điều sai lầm đó trước Quốc Hội và nhân dân.

Do đó một vấn đề về nguyên tắc được đặt ra là Quốc Hội về thực chất là của đảng hay là của dân? Quân đội là của đảng hay của nhân dân? Ðã có ý kiến trên một số mạng tự do là như vậy hãy gọi Quốc Hội là “Ðảng Hội “ - vì đảng viên CS chiếm đến 92 % số đại biểu - và gọi quân đội là “đảng quân” hay “cộng quân” cho xong chuyện. Mọi sự sẽ rõ ràng như họ mong muốn. Ðể tên Quân đội Nhân dân sẽ thành vô nghĩa.

Trong năm Quý Tỵ, có khả năng sẽ hình thành hai trận tuyến đối lập - độc đoán và dân chủ - trong cuộc đấu tranh chính trị bất bạo động nhưng quyết liệt. Nhân dân ta đang có thời cơ để trưởng thành, già dặn trong đấu tranh. Nông dân đang thức tỉnh từng mảng lớn, từ Văn Giang, Vụ Bản đến Tiên Lãng, Cần Thơ. Sinh viên, thanh niên chiếm số đông cử tri cũng đang sốt sắng tham gia việc nước. Việc các bạn trẻ ở thủ đô đã rủ nhau đi quyên giúp bà con dân oan nghèo khổ đói rét ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng và Hà Ðông là một nét đẹp. Hàng chục vạn nhà kinh doanh nhỏ và vừa bị o ép, hà hiếp, đang đòi quyền bình đẳng trong cạnh tranh. Giới luật sư và giới truyền thông-báo chí bị bịt mồm, mất tự do nghề nghiệp, hạ xuống công dân loại hai, đang vùng dậy. Cả một xã hội bị đè nén mấy chục năm ròng nhìn ra thế giới bỗng thấy không thể sống như thế này được nữa. Cả một xã hội đang vẫy gọi nhau liên kết lại, coi thay đổi Hiến Pháp là đột phá khẩu mở cửa cho tương lai.

Khi Quốc Hội của đảng không đáp ứng đòi hỏi chính đáng của nhân dân, thì có nhu cầu phải tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý theo nguyện vọng của toàn dân để lựa chọn giữa “dân chủ đa đảng hay dân chủ ảo một đảng.” Nếu chế độ không chịu tổ chức trưng cầu dân ý, nhân dân vẫn có cơ hội để đấu tranh ôn hòa giành thắng lợi quyết định. Ðó là những cuộc xuống đường rộng lớn, đã được tập dượt 2 năm nay qua hàng chục Chủ Nhật xuống đường liên tiếp, cũng như hàng mấy ngàn người ghi tên trong các tuyên ngôn, tuyên bố, kiến nghị, gián tiếp biểu thị ý chí và quyết tâm ghi tên trong đội tinh binh tay không nhưng kiên cường quả đoán.

Ở nước ta các cuộc xuống đường chống Trung Quốc bành trướng và xâm lược bao giờ cũng gắn liền với đấu tranh cho dân chủ, và các chiến sĩ dân chủ luôn luôn đi đầu trong cuộc vận động chống bành trướng. Chúng ta đã có không ít kinh nghiệm và nhiều sáng kiến trong kiểu đấu tranh bất bạo động nhưng quyết liệt bền bỉ này.

Nhân dân Ấn Ðộ và Nam Phi đã toàn thắng như thế. Nhân dân Tunisia, Ai Cập đã toàn thắng như thế. Nhân dân Miến Ðiện cũng đang thắng lợi qua đấu tranh bất bạo động, không đổ máu như thế.

Ðón Tết Quý Tỵ, chúng ta có quyền tin tưởng rằng nhân dân ta rồi cũng sẽ toàn thắng như thế.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »


Image

BÊN THẮNG CUỘC: MỘT CUỐN SÁCH HAY (2)

Nguyễn Hưng Quốc
(VOA blog) - Bên Thắng Cuộc là một tác phẩm hay nhưng dĩ nhiên, như mọi cuốn sách khác, không hoàn hảo. Cái không hoàn hảo ấy cần được hoàn thiện dần dần. Bằng những tác phẩm khác. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Và càng không đáng phản đối...

*
Về thể loại của Bên Thắng Cuộc, có hai khía cạnh cần chú ý: phương pháp nghiên cứu và cách trình bày.

Về phương pháp, Huy Đức thu thập tài liệu chủ yếu qua các cuộc phỏng vấn, “hàng ngàn cuộc phỏng vấn”, một phương pháp gắn liền với ngành khẩu sử (oral history), một lối viết thịnh hành ở Tây phương từ khoảng cuối thập niên 1960, và trở thành một ngành học ở các đại học Tây phương từ cuối thế kỷ 20. Khẩu sử khác lịch sử. Khác, trước hết, ở nguồn tài liệu: với lịch sử, chủ yếu là các văn bản viết; với khẩu sử, chủ yếu là các lời kể của những người trong cuộc hoặc chứng nhân được thu thập qua các cuộc phỏng vấn. Khác nữa, ở đối tượng: với lịch sử, đó là các tài liệu lịch sử, nói cách khác, lịch sử là lịch sử trên lịch sử; với khẩu sử, đó là ký ức, hoặc ký ức cá nhân hoặc ký ức tập thể. Khác, cuối cùng, còn ở tính chất, như là hệ quả của hai cái khác ở trên: trong khi văn bản viết là những gì đã được công bố, nghĩa là, thứ nhất, thuộc về công chúng; thứ hai, với những mức độ khác nhau, được xác minh, do đó, được xem là ít nhiều đáng tin cậy; các lời kể trong các cuộc phỏng vấn, ngược lại, gắn liền với từng cá nhân, xuất phát từ kinh nghiệm riêng, chúng có thể bị khúc xạ, bị biến dạng, thậm chí, được “viết lại” theo những thay đổi trong tâm lý của người kể. Nói cách khác, trong khi lịch sử là những gì đã được chọn lọc khá kỹ, khẩu sử thường là những vật liệu thô; trong khi những người viết sử như những người làm việc trong các tiệm kim hoàn, những người viết khẩu sử như những người làm việc với vỉa quặng trong các hầm mỏ.

Tuy nhiên, về bản chất, lịch sử và khẩu sử giống nhau ở khá nhiều điểm. Thứ nhất, chúng đều là những hình thức diễn ngôn về quá khứ (discourse about the past) chứ không phải bản thân quá khứ. Quá khứ là những gì đã qua và đã biến mất. Diễn ngôn về quá khứ là những tự sự được xây dựng để tái tạo lại quá khứ ấy nhằm đáp ứng một nhu cầu trong hiện tại. Thứ hai, là diễn ngôn, cả lịch sử lẫn khẩu sử đều có tính chất chủ quan, hoặc của một người hoặc của một nhóm người. Thứ ba, do tính chất chủ quan ấy, cả lịch sử lẫn khẩu sử đều luôn luôn được viết lại. Mỗi thời đại hoặc mỗi thế hệ đều cảm thấy có nhu cầu tái cấu trúc ký ức và diễn dịch lại quá khứ, do đó, bao giờ cũng tìm cách viết lại những gì các thế hệ đi trước đã viết.

Về cách trình bày, Bên Thắng Cuộc có tính chất báo chí hơn là lịch sử. Có hai điểm khác nhau căn bản giữa báo chí và lịch sử: Thứ nhất, trong khi lịch sử nặng về phân tích, báo chỉ nặng về miêu tả; thứ hai, trong việc sử dụng tài liệu, kể cả tư liệu lấy được từ các cuộc phỏng vấn, yêu cầu cao nhất đối với lịch sử là mức độ khả tín, nghĩa là cần được đối chiếu và xác minh cẩn thận; với báo chí, là tính chất tươi ròng của tài liệu; và vì tính chất tươi ròng ấy, nhiều lúc chưa chắc chúng đã chính xác, hoặc nếu chính xác, chưa chắc đã có ý nghĩa tiêu biểu đủ để phản ánh thực chất của vấn đề.

Nhìn Bên Thắng Cuộc như một tác phẩm báo chí dựa trên phương pháp khẩu sử, chúng ta dễ dàng chấp nhận một số khuyết điểm vốn rất dễ thấy trong cuốn sách.

Thứ nhất, về phương diện cấu trúc, đặc biệt ở tập 2, “Quyền bính”; ở đó, thứ nhất, quan hệ giữa các chương không theo một trật tự logic nào cả; thứ hai, giữa các chương cũng không có sự cân đối cần thiết: có một số chương được viết kỹ và nhiều chi tiết (ví dụ về Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt) hơn hẳn các chương khác (ví dụ về Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh). Lý do khá dễ hiểu: Huy Đức không hoàn toàn làm chủ nguồn tư liệu của mình. Với những người anh tiếp cận được dễ, anh viết sâu; với những người ở xa, anh viết cạn. Vậy thôi.

Thứ hai, về vấn đề tư liệu. Huy Đức phỏng vấn rất nhiều người, nhưng không phải TẤT CẢ mọi người ở mọi phía; hơn nữa, anh chưa tiếp cận được những nguồn tài liệu mật của Bộ Chính trị nên nhiều vấn đề vẫn khiến người đọc hoang mang. Trong số đó, có hai vấn đề lớn nhất: Một, việc cuối năm 1967, Hồ Chí Minh thường xuyên sang Trung Quốc dưỡng bệnh và Võ Nguyên Giáp thì được cử đi Hungary. Nhiều người cho đó là một cách nghi binh nhằm che giấu ý đồ tổng tấn công vào Tết Mậu Thân. Huy Đức, theo lời kể của một số người, cho hai người bị đưa đi “an trí” để Lê Đức Thọ ra tay thâu tóm quyền lực. Cách giải thích như vậy lại làm nảy sinh nhiều vấn đề khác: chẳng hạn, tại sao Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lại tung ra cuộc đấu đá nội bộ ở vào một thời điểm quan trọng, lúc họ cần đoàn kết và tập trung nhất cho một trận chiến quyết liệt như vậy? Hai, Huy Đức cho giới lãnh đạo Việt Nam, trong những năm 1976 và 1977, không đánh giá đúng mức sự thù nghịch của Pol Pot đối với Việt Nam và từ đó, tầm vóc của cuộc chiến tranh chống Việt Nam do Pol Pot phát động, và đầu năm 1979, hoàn toàn bất ngờ trước cuộc tấn công của Trung Quốc vào biên giới phía Bắc Việt Nam (GP, tr. 76); tuy nhiên, trước đó, anh lại kể, từ cuối năm 1977, trong chuyến thăm Cần Giờ, Lê Duẩn đã trả lời thắc mắc của một số đảng viên trong huyện ủy: “Các đồng chí hỏi đúng vào một tình hình cả nước đang quan tâm. Chúng tôi đau đầu lắm, ngủ không được. Không phải là vấn đề Khmer Đỏ mà là vấn đề ai ở đằng sau Khmer Đỏ, đằng sau Pol Pot. Ta đã đưa đại quân đâu, bọn nó làm sao chống ta nổi, nhưng ta đánh nó, Trung Quốc đánh ta thôi.” (GP, tr. 72-3) Biết thế mà vẫn “bất ngờ” là sao?

Thứ ba, quan trọng nhất, nhiều chương chỉ có tính chất tự sự nhưng lại thiếu hẳn tính chất phân tích, do đó, tuy hấp dẫn, chúng không giải thích được gì cả. Ví dụ, trong tập “Giải phóng”, Huy Đức viết về Lê Duẩn khá dài, nhưng phần lớn đều tập trung vào cuộc sống và tính cách của ông: Ông có hai vợ, một ở miền Bắc và một ở miền Nam; lúc ở miền Nam, ông nổi tiếng về nhiệt tình và năng lực làm việc không biết mệt mỏi, lúc ra miền Bắc, ông lại nổi tiếng là thích nói chuyện lý thuyết, và khi nói chuyện, có thói quen hay ngắt lời người khác. Nhưng có những điểm quan trọng nhất lại không được phân tích: Một, tại sao Hồ Chí Minh lại tin cậy Lê Duẩn đến độ giao ngay cho ông chức Tổng Bí thư ngay sau khi ông mới ra Hà Nội như vậy? Lúc ấy, chung quanh Hồ Chí Minh, ngoài Trường Chinh vốn đã bị mang tiếng sau vụ cải cách ruộng đất, có rất nhiều tay chân thân thiết, kể cả hai người được ông và nhiều người khác yêu mến: Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng? Hai, tại sao, từ miền Nam mới ra Bắc, hầu như hoàn toàn đơn độc, chỉ trong vòng mấy năm, Lê Duẩn đã có thể thao túng toàn bộ guồng máy đảng Cộng sản, lấn át quyền hành của tất cả mọi người, kể cả Hồ Chí Minh, như vậy? Ông sử dụng các biện pháp gì để xây dựng vây cánh và quyền lực một cách nhanh chóng và hiệu quả như vậy? Ba, tại sao một người nổi tiếng quyền biến và, đến lúc chết, vẫn có uy tín rất lớn, không những ở miền Bắc mà còn trên cả thế giới, như Hồ Chí Minh, lại đành nhẫn nhục chịu đựng cảnh bị Lê Duẩn tước đoạt quyền hành mà không hề tìm cách kháng cự như vậy? Đó là những vấn đề giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại không thể không đặt ra.

Những khuyết điểm trên có thể được chấp nhận hoặc bỏ qua nếu chúng ta đọc Bên Thắng Cuộc như một tác phẩm tường thuật về tình hình chính trị của một thời đại. Mang tính báo chí,Bên Thắng Cuộc gần với khẩu sử hơn lịch sử. Tự bản chất, khẩu sử là ký ức. Với ký ức, quan trọng nhất là câu chuyện chứ không phải phân tích. Mà các câu chuyện trong Bên Thắng Cuộcthì không những hấp dẫn mà còn đa dạng vô cùng. Tính chất đa dạng ấy làm cho bức tranh Huy Đức mô tả trở thành đa diện. Nhìn từ góc độ ấy, chúng ta sẽ thấy có khi ngay cả những chi tiết nhí nhắt nhất cũng có thể hữu ích. Ví dụ, lời tâm sự của bà Nguyễn Thụy Nga (trong sách có lúc viết tên lót là Thụy, lúc lại viết là Thị), người “vợ miền Nam” của Lê Duẩn, về chồng bà: “Trong tình yêu anh cũng như con nít” (GP, tr. 117). Câu ấy, tự nó, không tiết lộ được điều gì cả. Thì có người đàn ông nào, trong tình yêu, lại không giống con nít? Nhưng nó vẫn giúp người đọc, khi nhìn lại Lê Duẩn, thấy ở ông, ngoài hình ảnh một nhà lãnh đạo cuồng tín, thủ đoạn và độc đoán, còn có một khía cạnh khác: một con người. Những cách nói năng kiểu “thằng này, thằng nọ” của Nguyễn Văn Linh, cũng vậy, đều tiết lộ một cá tính. Đối với người bình thường, cá tính thường bị loại trừ từ góc độ nghề nghiệp. Nhưng với các chính khách, đặc biệt khi chính khách ấy nắm giữ vai trò lãnh đạo, cá tính lại được chú ý vì nó ảnh hưởng đến chính sách, từ đó, đến đường lối chung, và cũng từ đó nữa, đến cả vận mệnh của đất nước.

Bên Thắng Cuộc hay, rất hay, nhưng cũng giống như mọi cuốn tường thuật hay khẩu sử, nó là một cái gì dở dang. Nó là một khối quặng chưa được tinh chế. Nó cung cấp cho người đọc cả hàng ngàn câu chuyện từ cả mấy trăm người kể khác nhau để người đọc, hoặc các sử gia sau này, so sánh, diễn dịch, phân tích và/hoặc tổng hợp lại để thành một bức tranh hoàn chỉnh hơn.

Ở trên (bài số 1), tôi có viết điều tôi thích nhất ở Bên Thắng Cuộc là tư liệu. Vậy điều kế tiếp? Đó là quan điểm. Một số người ở hải ngoại, chỉ nhìn vào mấy dòng lý lịch trích ngang của Huy Đức, thấy anh đã từng là bộ đội, lại là sĩ quan, đã lên tiếng phê phán và tố cáo anh, dù có khi chưa hề đọc trang nào trong cuốn sách. Đó chỉ là một nhận định vội vã và đầy thành kiến. Trong lời nói đầu tập “Giải phóng”, Huy Đức cho biết cuốn sách của anh là “công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật”. Dĩ nhiên, chúng ta biết, “sự thật” là một khái niệm rất mơ hồ. Và tương đối. Nhưng cách hiểu về cái gọi là “sự thật” ấy của Huy Đức, theo tôi, rất đơn giản nhưng chính xác: Chúng là những gì khác hẳn với “những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền” ở Việt Nam. Theo đuổi mục tiêu ấy, không thể nói lúc nào Huy Đức cũng thành công. Đó là điều dễ hiểu. Ai cũng vậy thôi. Có điều tôi cho là đáng khen ngợi nhất ở anh là anh có thiện chí và cố gắng.

Thiện chí và cố gắng ấy thể hiện ngay ở nhan đề cuốn sách: Bên Thắng Cuộc. Tại sao không phải là “thắng trận” hay “chiến thắng” như hai cách nói khác thông dụng hơn? Tôi nghĩ đó là một lựa chọn. “Thắng trận” chỉ thuần về quân sự. Nhưng đề tài Huy Đức muốn trình bày không phải chỉ là quân sự. Còn “chiến thắng”? Trong chữ “chiến thắng”, ngoài ý nghĩa “thắng”, còn có hai nét nghĩa phụ khác, đi kèm, đến từ chữ “chiến”: chính nghĩa và vinh quang. Không ai dùng chữ “chiến thắng” để nói về kẻ đi đánh lén người khác, chẳng hạn. Chữ “thắng cuộc” hoàn toàn không có những hàm ý như thế. Đánh bài: thắng cuộc. Cá cược: thắng cuộc. Dùng chữ “bên thắng cuộc”, Huy Đức, một mặt, tước bỏ các huyền thoại chung quanh từ “chiến thắng” vốn thường được sử dụng, mặt khác, xem chiến tranh, tự bản chất, như một ván bài về quyền lực. Vậy thôi. Trong ván bài, việc thắng thua tuỳ thuộc may rủi chứ không dính dáng gì đến chuyện chính nghĩa hay không chính nghĩa.

Trong tập “Quyền bính”, ở chương “XVII: Tam quyền không phân lập”, khi nói về những sự thay đổi Hiến pháp ở Việt Nam, Huy Đức viết: “Hiến pháp 1992, vì thế, đã không tiếp cận được những mô hình nhà nước tiến bộ để trở thành nền tảng cho Việt Nam xây dựng nhà nước pháp quyền.” (QB. 90) Xin lưu ý: chữ “tiến bộ” đằng sau chữ “nhà nước” và đằng trước cụm từ “nhà nước pháp quyền” ở câu trên hoàn toàn trái ngược với cách hiểu về chữ “tiến bộ” mà giới truyền thông Việt Nam thường sử dụng.

Trong giới lãnh đạo Việt Nam, rõ ràng Huy Đức tỏ ra ưu ái đặc biệt với hai người: Võ Nguyên Giáp và Võ Văn Kiệt. Nhưng ngay cả như vậy, ở cả hai, Huy Đức đều nhận thấy những khuyết điểm căn bản của họ: trung thành một cách dại dột. Phê bình như thế, Huy Đức thấy được một vấn đề thuộc về bản chất của chế độ. Bản chất được anh viết trong lời nói đầu tập “Quyền bính”: “Hệ thống chính trị, trải qua nhiều thế hệ, càng về sau lại càng có ít khả năng khắc phục sai lầm.” Nhưng nếu nó không có khả năng tự khắc phục sai lầm thì sao? Ai sẽ đảm nhận trách nhiệm ấy? Câu trả lời nằm trong những điều Huy Đức chưa nói hết: Có thể là bất cứ ai, nhưng chắc chắn là không phải từ “hệ thống”.

Đó chính là lý do chính khiến báo chí trong nước xúm vào đánh cuốn Bên Thắng Cuộc.

Dĩ nhiên, Bên Thắng Cuộc không tránh khỏi khuyết điểm. Chả có cuốn sách nào không có khuyết điểm cả. Vấn đề chỉ là nhiều hay ít. Ở cuốn Bên Thắng Cuộc, theo tôi: Ít. Điều thú vị là, hầu hết các sai lầm của anh đều liên quan đến văn học. Trong chương “XI: Campuchia” của tập “Giải phóng”, anh nhận định: “Cảnh giác với người Trung Hoa là điều đã có từ trong máu người Việt Nam. Nhưng, trong lịch sử nghìn năm kháng cự để tồn tại với ‘thiên triều’, chưa có triều đại nào lại công khai xác định Trung Quốc là ‘kẻ thù truyền kiếp và lâu dài’ trong các văn kiện chính thức như thời Tổng bí thư Lê Duẩn.” (GP, tr. 160). Sai. Huy Đức quên trong Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi có câu này: “Kẻ thế thù đâu thể đội trời chung” (Niệm thế thù khởi khả cộng đái / 念 世讎 豈 可 共 戴). Thế thù: Kẻ thù truyền kiếp. Trong “chương XII: Cởi trói” của cuốn “Quyền bính”, nhân nhắc đến các dấu mốc lớn trong lịch sử báo chí Việt Nam, anh viết: “Thơ Mới, cuối thập niên 1930” (QB, tr. 11). Sai. Thời điểm ra đời của Thơ Mới là đầu chứ không phải cuối thập niên 1930. Trong vòng chưa tới 10 năm, Thơ Mới đã đi hết một chặng đường. Cũng trong chương ấy, anh trích bài “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật như sau: “Khói bom lên trời thành những vòng đen / Và dưới mặt đất sinh ra bao vòng trắng / Tôi với bạn đi trong im lặng / Khăn tang trên đầu như một số không” (QB, tr. 18). Sai nhiều chỗ. Nguyên văn bài thơ ấy là:

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong im lặng
Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh.

Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

Ngay cả mấy câu thơ của Nguyễn Duy được trích làm đề từ cho cuốn sách cũng sai:

Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh
Bên nào thắng thì nhân dân đều bại.

Nguyên văn của Nguyễn Duy như sau:

Ta mặc niệm trước Angkor đổ nát
đá cũng tàn hoang huống chi là kiếp người

Đá ơi
xin tạc lại đây lời cầu chúc hoà bình!
Nghĩ cho cùng
Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…

(In trong tập Quà tặng, nxb Văn Học, 1990, tr. 78)

“Nghĩ” khác với “suy”, “mọi” khác với “mỗi”, và “phe” khác với “bên”.

Cũng như “bên thắng cuộc” khác với “bên chiến thắng”.

Một điều cuối cùng: Không ít người cho chọn cách tiếp cận từ phía những người thắng cuộc như Huy Đức là một chọn lựa đầy thiên vị, từ đó, bức tranh anh muốn phác họa sẽ bị lệch lạc theo. Theo tôi, không đúng. Thứ nhất, trong mọi lịch sử, những người “thắng cuộc” - xưa là vua chúa, sau này, giới cầm quyền - bao giờ cũng nằm ở vị trí trung tâm, cần được nghiên cứu nhất, bởi chính họ, một cách tích cực hay tiêu cực, quyết định diện mạo của một thời đại và số phận của một dân tộc. Thứ hai, vấn đề không phải lệch lạc hay không. Vấn đề chỉ là ở mức độ. Không có một cuốn sách nào, kể cả lịch sử, chính xác hoàn toàn. Thậm chí, các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa còn hoài nghi cái gọi là lịch sử nói chung: Họ xem lịch sử như một biểu hiện của đại tự sự (grand narrative), một tham vọng đạt đến cái nhìn bao quát toàn bộ sự thật và thực tại: Với họ, đó là điều bất khả. Hơn nữa, họ xem lịch sử bao giờ cũng gắn liền với một quan điểm và một góc nhìn nhất định: lịch sử (history) là chuyện của ông-ấy, của một gã nào đó (his-story). Chứ không có một lịch sử chung nhất cho mọi người.

Bên Thắng Cuộc là một tác phẩm hay nhưng dĩ nhiên, như mọi cuốn sách khác, không hoàn hảo. Cái không hoàn hảo ấy cần được hoàn thiện dần dần. Bằng những tác phẩm khác. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Và càng không đáng phản đối.
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Lịch sử không xu nịnh ai

Nguyễn Tường Thụy

Cách đây 34 năm, Trung Cộng đã huy động một lực lượng lớn quân đội, tới 300 nghìn tên tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 17/2/1979, chúng tấn công Việt Nam trên toàn bộ tuyến biên giới phía Bắc.

Nhiều trận đánh đẫm máu xảy ra. Nhiều cuộc tàn sát dân thường Việt Nam chỉ có thể so sánh với những đội quân tàn bạo man rợ nhất trong lịch sử. Làng mạc, công sở, trường học, bệnh viện, nhà máy xí nghiệp, hầm mỏ nơi chúng chiếm đóng bị tàn phá hoàn toàn.

Vừa ra khỏi cuộc chiến tranh đau thương kéo dài 30 năm, Việt Nam lại mang thêm những vết thương do người “đồng chí” phản bội gây nên.

Trung Cộng gọi cuộc chiến tranh xâm lược này là cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam. Đúng là bọn vừa ăn cướp, vừa la làng, trơ trẽn. Đến trẻ con cũng hiểu, Việt Nam không bao giờ có ý định khiêu khích hay thôn tính Trung Quốc mà chỉ có điều ngược lại. Năm 1974, khi chúng chiếm Hoàng Sa, lãnh thổ chưa bao giờ thuộc quyền quản lý của chúng, của cha ông chúng, thế nhưng chúng gọi đây là sự kiện thu hồi lãnh thổ.

Tuy nhiên, sau khi hai bên bình thường hóa quan hệ, được đánh dấu khởi đầu từ hội nghị Thành Đô, cuộc chiến tranh này không được hai bên nhắc đến nữa. Báo chí có nói bóng gió đến đều bị kiểm duyệt, nếu lọt lưới kiểm duyệt thì phóng viên, tổng biên tập bị kỷ luật. Bia chiến công bị đục bỏ một cách nhục nhã, ê chề.

Về phía Trung Cộng – kẻ xâm lược, chúng không muốn nhắc đến đã đành vì không kẻ xâm lược nào muốn nhắc lại tội ác của mình. Thế nhưng chúng ta là người bị xâm lược cũng không dám hé răng. Chúng ta phải cay đắng ngậm miệng để đổi lấy cái gì, ngoài 16 chữ vàng và 4 cái tốt mà mỗi khi nhắc đến, thiên hạ đều chế giễu. Trung Cộng vẫn tiếp tục gây hấn ở Biển Đông, vẫn có những hành động khiêu khích, bắn giết, cướp bóc ngư dân ta. Tham vọng thôn tính Biển Đông thể hiện qua việc khoanh đường lưỡi bò chiếm tới 80% diện tích dù không có bất cứ một cơ sở pháp lý nào vẫn không hề thay đổi.

Một dân tộc yêu hòa bình luôn sẵn sàng gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Điều đó không mâu thuẫn với việc phản ánh trung thực lịch sử. Gác lại quá khứ không có nghĩa là xóa bỏ lịch sử. Quá khứ, hiện tại, tương lai là một xâu chuổi, có quan hệ nhân quả, không thể cắt bỏ một giai đoạn nào

Lịch sử không xu nịnh ai. Không ai có thể bưng bít, bóp méo được lịch sử. Làm sao có thể dễ dàng quên sự hy sinh dũng cảm của những chiến sĩ 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 12 đã chiến đấu với cả sư đoàn địch và hy sinh đến người cuối cùng sau 5 ngày cầm chân dịch ở mặt trận Đồng Đăng. Làm sao có thể quên những vụ tàn sát dân thường ở thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng ngày 6/3/1979. Hôm ấy, quân Trung Cộng đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối.

Những tấm gương chiến đấu hy sinh anh dũng của các chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc còn nhiều lắm và những tội ác của quân xâm lược Trung Cộng còn nhiều lắm.

Rồi qua thời gian, lịch sử sẽ được viết lại. Đừng để sự hy sinh của các chiến sĩ đã bỏ mình vì Tổ Quốc trở thành vô nghĩa. Đừng để cho những nấm mồ của họ hương lạnh khói tàn. Đừng quên những đồng bào của mình đã chết thê thảm bởi bàn tay của kẻ xâm lược những tháng ngày đầu năm 1979 tang thương ấy.
Image

Image

nguồn Blog NTT
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Ðồng chí Ếch dốt chính tả

Ngô Nhân Dụng
Trước đây một phần tư thế kỷ, nhà văn Lưu Quang Vũ đã dựng màn kịch cảnh trên thiên đình, hai ông Nam Tào, Bắc Ðẩu bàn chuyện dưới trần gian, một ông nói: “Hạ giới chúng nó đã hết sợ từ lâu rồi, ông ơi!” Tưởng tượng vào thời đó, câu đối thoại này được nói lên trên sân khấu Nhà Hát Lớn, khán giả thay mặt cho dân Hà Nội chắc phải vỗ tay sảng khoái!

Quả thật, dân Việt Nam đã “hết sợ” từ lâu. Người dân đã nhìn thấy “Vua Chèo còn chẳng ra gì! Quan Chèo một lũ khác chi thằng hề!” Nhưng thời Lưu Quang Vũ còn sống, nói “hết sợ” chỉ có nghĩa là người dân đã biết các vị thần thánh đã hết linh thiêng. Ðám dân hạ giới vẫn phải bái lễ các pho tượng trên ban thờ, ngày sóc vọng vẫn phải cúng xôi chè. Nhưng trong bụng họ biết những pho tượng đó cũng chỉ lấy đất bùn nặn lên mà thôi. Dân biết thần thánh hết thiêng, vì những khẩu hiệu, những nghị quyết, chỉ tiêu mà các lãnh tụ hô to không đưa tới một kết quả thực tế nào, mà nội dung cũng rỗng tuếch. Giống như những ông đồng bà cốt làm bộ phù phép, yểm bùa, nhưng con bệnh vẫn bị ma tru, quỷ ám; làm sao ai tin được?

Biết thần thánh hết thiêng; nhưng bọn ông đồng bà cốt vẫn nắm quyền nhà nước kiểm soát nồi cơm, chĩnh gạo của mọi người; công an khu vực vẫn tự do bước vô cửa nhà dân “kiểm tra” bất cứ lúc nào, không ưa ai thì mời lên “làm việc.” Cho nên người dân biết sự thật mà vẫn phải giả bộ tin những trò thờ cúng giả dối. Ðến ngày đến giờ vẫn phải hô khẩu hiệu, hoan hô, đả đảo theo lệnh những cái loa phóng thanh. Trong tình cảnh đó, dù đã hết sợ những người dân cũng chỉ dám đưa ra những câu ám chỉ bóng bẩy, có bạo miệng cũng chỉ dám nói như nhà viết kịch Lưu Quang Vũ cũng là bạo lắm rồi. Chưa ai dám gọi thẳng tên những vua chèo và quan chèo mà mắng vào mặt.

Bây giờ thì khác. Bây giờ người ta không ngần ngại chỉ thẳng vào mặt các vai vua quan đang vẽ mặt bôi hề diễn những vở tuồng nhạt nhẽo trên sân khấu; trong vẫn khi cấu xé nhau giành từng miếng xôi, miếng thịt trong hậu trường. Dân đã thấy các vai hề đâm sau lưng nhau không gớm tay. Cho nên dân Việt đã hết sợ từ lâu, nay càng bạo hơn nữa.

Có người mới vạch ra mấy dòng chữ do đồng chí Ếch viết sai chính tả để bắt bẻ; đưa lên mạng với hình ảnh làm bằng. Nhân đó, trưng bày cho cả nước trông thấy trình độ học vấn của ông thủ tướng chưa bằng các em tiểu học. Việc đem mấy lỗi chính tả ra bêu riếu càng chứng tỏ rằng: “Chúng tôi hết sợ rồi!” Nói kiểu Hà Nội, là “Ông đ...ch sợ đứa nào cả!” Khi chính các vua chèo và quan chèo cũng day tay mắm miệng chỉ mặt chửi nhau trước công chúng, thì làm sao cấm được đám khan giả không làm theo? Bài chỉ trích được tung lên mạng, lan truyền rất nhanh, trong nước và cả bên ngoài. Cả nước chê cười đồng chí Ếch dốt chữ Việt.

Nhưng vụ bắt bẻ lỗi chính tả này có nhiều điều khả nghi.

Thứ nhất, đây là một lỗi nhỏ. Một lỗi lầm có thể tha thứ được. Ðem phơi bày một lỗi lầm nhỏ ra, có thể làm lạc hướng dư luận, khiến mọi người cười vui chế nhạo, rồi quên những tội lỗi tày đình. Viết chính tả sai thì có gì đáng bắt bẻ, so với tình trạng bao nhiêu công ty quốc doanh làm mất hàng chục tỷ đô la năm này sang năm khác? Viết sai dấu hỏi, dấu ngã thì có gì đáng kể, so với những vụ Vinashin, Vinalines? Khi gạo, mắm tăng giá hàng chục phần trăm mỗi năm, thì dù viết Tỷ lệ lạm phát với chữ Tỷ (dấu hỏi) hay chữ Tỹ (dấu ngã), thằng dân cũng khốn khổ như nhau! Những vụ ăn cắp hàng tỷ Mỹ kim thì viết là “tham nhũng” hoặc “tham nhủng” có làm cho số tiền mất thay đổi hay không?

Vạch lỗi đồng chí Ếch không viết thông chữ Việt có thể gây phản ứng có lợi cho chính người bị chỉ trích. Nhiều phản ứng còn có thể gây hậu quả nặng nề, là gây chia rẽ địa phương. Mà nếu dư luận bị chia rẽ, tạo ra xung đột trong dân tộc Việt Nam vào lúc này, thì chỉ có đảng Cộng sản Việt Nam được lợi, trong đó có đồng chí Ếch.

Lỗi chính tả vì phát âm sai thì người bình thường vẫn phạm, nhiều người cầm bút chuyên nghiệp cũng khó tránh. Ai cũng biết người miền Bắc hay viết lầm, vì phát âm những phụ âm đầu “d, gi, và r” hoặc “s và x” giống nhau. Như một ca sĩ miền Bắc cứ hát “Người đã đi dồi” chứ không chịu hát “đã đi rồi!” Người miền Nam thường nhầm lẫn dấu hỏi, dấu ngã; hoặc những phụ âm cuối “n, ng.” Kim tuyến thì viết ra kim tiếng.

Cho nên khi ai bị chế nhạo vì viết sai những chữ “dũ dượi,” hoặc “xạch xẽ” thì có thể đoán người phạm lỗi chính tả này sinh trưởng ở miền Bắc. Ngược lại, một người bị chỉ trích vì viết thành “rủ rượi” hay “sạch sẻ” thì chắc sinh ra ở trong Nam cho nên hay lầm dấu hỏi, dấu ngã.

Thầy giáo, cô giáo sửa lỗi chính tả cho học sinh, bạn bè chỉ cho nhau, thì không sao. Nhưng khi đem lỗi viết sai chính tả của một người ra bêu riếu trước công chúng, thì có thể chạm tự ái người ta. Khi có những lỗi mà ai cũng biết là cố tật của nhiều người, thì tất cả những người hay phạm lỗi đều cảm thấy thương cảm người bị đem ra chế nhạo, vì một lỗi giống như mình hay phạm. Những người miền Bắc hay viết “dũ dượi” hoặc những người miền Nam viết sai hỏi, ngã, sẽ biểu lộ tình liên đới với người bị chỉ trích chỉ vì cách viết sai giống mình. Chưa hết, họ có thể cảm thấy chính họ đang bị đem ra chế nhạo!

Vì thế, vạch ra những lỗi viết sai chính tả của ông Nguyễn Tấn Dũng, và dư luận đem lỗi lầm đó ra phê phán, chế nhạo có thể gây ra những phản ứng chia rẽ người miền Nam với người miền Bắc. Ðồng chí Ếch sẽ có ngay một số người ủng hộ vô điều kiện, mà không cần phải chia chác đồng nào cả! Những cuộc tranh chấp xôi thịt trong nội bộ đảng có thể biến thể, trở thành một cuộc xung đột vì phân biệt địa phương. Khi người ta cố tình khai thác óc kỳ thị địa phương thì hậu quả rất tai hại cho nước Việt Nam. Dân tộc Việt Nam sẽ không vì chuyện này mà chia rẽ Nam Bắc. Nhưng chỉ cần gây ra tình tự chia rẽ trong một thiểu số, trong một thời gian ngắn, cũng đủ tai hại rồi.

Vì những xung đột vì óc kỳ thị địa phương sẽ khiến mọi người chỉ chú ý đến các ganh ghét, đố kỵ sôi nổi nhưng rất nhỏ bé, họ sẽ quên mất vấn đề nào thật sự là quan trọng đối với tương lai nước Việt Nam. Trong lúc các nước láng giềng đều phục hồi kinh tế sau cơn khủng hoảng, nước mình chìm đắm trong nguy cơ thụt lùi, thì chuyện một ông thủ tướng viết sai chính tả có đáng đem ra nói hay không? Trong lúc người “đồng chí anh em” phía Bắc đem máy bay tầu thủy ra hung hăng đe dọa, thì có còn thời giờ để dạy dỗ các ông lãnh tụ viết chữ Việt đúng hơn hay không?

Người Việt Nam suy nghĩ sẽ thấy không nên làm lớn chuyện một ông thủ tướng viết sai chính tả. Ở Mỹ, một ông tổng thống hay nói nhịu, có khi nói sai, mà không ai làm lớn chuyện; là ông W. Bush. Có lần tuyên bố trước công chúng chủ trương của chính phủ Mỹ về việc thành lập nước Palestine, ông Bush đã nói nhầm chữ “contiguous” ra “continuous.” Bộ Ngoại Giao Mỹ dùng chữ contiguous, chỉ có nghĩa là các mảnh đất thuộc nước Palestine ở gần nhau. Ông Bush nói continuous, biến ra nghĩa là các mảnh đất này phải nối liền với nhau. Dư luận Israel bùng nổ. Giới ngoại giao và Tòa Bạch Ốc ở Mỹ phải đính chính lời ông Bush và minh xác lại chủ trương. Nhưng không nhà chính trị đối lập nào đem lỗi lầm đó ra chỉ trích ông Bush.

Vạch ra những lỗi chính tả của đồng chí Ếch chỉ có lợi cho chính ông ta. Nó cũng đánh lạc hướng dư luận, không nhìn thẳng vào thực trạng cả đảng Cộng sản đang tan rã. Cuộc tranh chấp trong nội bộ đảng không hề nêu lên một điều nào khác biệt về tư tưởng. Vì thật sự tư tưởng của họ đang trống rỗng. Cũng không có những bất đồng ý kiến về chính sách, đường lối. Họ cùng theo một chủ trương là bảo vệ các độc quyền chính trị, kinh tế, để chia chác lợi lộc cho đám đàn em. Trong lúc tranh giành cấu xé nhau, đám lãnh tụ chóp bu đã hết chuyện để nói rồi, cho nên mới tạo dư luận chỉ trích nhau về chữ viết sai chính tả. Người Việt chịu suy nghĩ một chút sẽ thấy không nên để bị đánh lạc hướng.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Á Châu Chạy Đua Võ Trang

Tác giả : Vi Anh
Á châu Thái bình Dương đang trong tình trạng “hoà bình võ trang” (paix armée) như ở Âu châu trong những năm 1871- 1914, chuẩn bị cho Đệ Nhứt Thế Giới Đại Chiến. Chỉ trong hai ngày mà có tới hai tin chạy đua võ trang đáng ngại. Hoa kỳ, thông tấn xã AP dẫn thông cáo của Cơ Quan Phòng Thủ Hoả Tiễn Hoa Kỳ hôm Thứ Bảy 26-01cho biết, cuộc thử hoả tiễn đánh chận được tiến hành tại căn cứ không quân Vanderberg chiều 26/1, thành công tốt đẹp. Còn Trung Cộng, thông tấn xã của Đảng Nhà Nước TC là Tân Hoa Xã - cũng trong ngày Thứ Bảy, dẫn lời một quan chức Cục Thông Tin Bộ Quốc Phòng Trung Quốc, cho hay nước này vừa tiến hành một cuộc thử nghiệm đánh chặn hoả tiễn tầm trung, phóng đi từ mặt đất trong lãnh thổ quốc gia.

Và Nhựt, vào ngày Thứ Ba 29-01, Bộ Ngoại Giao cho biết Nhật đang thành lập một lực lượng đặc nhiệm tuần tra biển mới, bao gồm 10 tàu tuần cỡ lớn, với 600 binh sĩ bên cạnh hai tàu có bãi đậu trực thăng đang hoạt động. Đơn vị đặc nhiệm mới này của Nhựt sẽ đóng ở đảo Ishigaki, chì cách 175 km quần đảo Senkaku của Nhựt mà TC tranh chấp gọi là Điếu Ngư. Ngoài ra Nhựt sẽ tăng quân số từ 225.000 lên nhiều hơn nữa vào đầu từ tháng 4, cũng như tăng ngân sách quốc phóng lên 0,1%, tuy nhỏ nhưng quan trọng vì đã 10 năm rồi không tăng.

Từ khi tăng trưởng được kinh tế, Trung Cộng tăng ngân sách quốc phòng với hai con số, bành trướng, bá quyền quậy đục nước ở Á châu Thái Bình Dương khiến các nước trong vùng này phải chạy đua võ trang, giúp cho Mỹ và Nga hốt bạc trong việc bán võ khí và trang bị chiến tranh.

TC không tiếc tiền thuế của nhân dân, và tài nguyên của đất nước, mồ hôi của người dân đem bán rẻ cho ngoại quốc từ năm 2010, ngân sách quốc phòng chánh thức đã đến 119 tỷ Mỹ Kim, đứng hạng nhì trên thế giới, chỉ sau Mỹ một siêu cường kinh tế lâu đời với ngân sách quốc phòng là 698 tỷ USD. Đó là con số chánh thức của TC công bố, chớ con số thực tế bí mật ắt cao hơn nhiều. TC hiện đại hoá quân đội, đưa người lên không gian, mua sắm máy bay tàng hình, hàng không mẫu hạm, và tàu lặn tân kỳ. TC hành động ngang ngược, gây tranh chấp, xung đột lấn biển, chiếm đảo của các nước láng giềng, từ đông bắc dĩ chí đông nam Á châu Thái bình Dương.

TC đặt các nước láng giềng vào cái thế phải chạy đua võ trang để phòng thủ. Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Thế giới Stockholm (SIPRI), Á châu là khu vực nhập cảng võ trang lớn nhất từ năm 2007–2011: Ấn Độ là một nước từng có chiến tranh biên giới với TC mua vũ trang quốc tế nhiều nhất, chiếm 10% tổng số vũ khí thế giới bán ra. Tiếp theo là Nam Hàn 6%, TC và Pakistan 5%, và Singapore 4%. Ấn Độ mua nhiều vì là nước từng có chiến tranh biên giới với TC từ năm 1962 tới giờ vẫn chưa yên hẳn, lâu lâu lại tái diễn ở một vùng nào đó.

TC bây giờ lại “bung ra”, một mặt giương oai diệu võ ở phía đông là Thái bình Dương và mặt khác ở phía Tây đã bỏ tiền ra xây dựng một chuổi hải cảng ở Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh và Myanmar để bao vây Ấn Độ.

Còn các nước trong vùng Á châu Thái Bình Dương thì tứ bắc chí nam hầu hết không an tâm với đà bành trướng của TC. Nên những nước dù nhược tiểu cũng phải tăng ngân sách quốc phòng, mua vũ khí, trang bị quân sự. Tính ra tổng số tiền ngân sách quốc phòng của những nước nhỏ này không bằng của TC. Nhưng nếu tính tỷ lệ tăng so với ngân sách khiêm tốn của nước nhược tiểu thì rất cao hơn tỷ lệ tăng ngân sách quốc phòng của TC.

Thống kê hàng năm của IISS, viện nghiên cứu chiến lược quốc tế tại Luân Đôn, vừa công bố cho biết Á châu có 10 nước chi cho quốc phòng nhiều nhất, trong đó có Singapore, Thái Lan và Indonesia nằm trong số 10 nước châu Á. Tài khoá 2010-2011 Thái Lan và Indonesia tăng ngân sách quốc phòng khoảng 5%, trong khi TC là là 6,8%. Singapore năm 1990, đã bắt đầu trang bị tàu lặn mua của Thụy Điển sản xuất, và hiện nay có 5 tàu lặn dành để tấn công. Malaysia cũng đã mua hai chiếc Scorpène của Pháp. Indonesia đã mua và đang sữ dụng hai tàu lặn của Nam Hàn làm ra.

Indonesia năm 2013, có thể tăng ngân sách quốc phòng lên đến 18%, khoảng 8,1 tỷ đô la. Philippines năm 2013, ngân sách quốc phòng nước này có thể lên đến 2,8 tỷ đô la, tăng 12,5% so với năm 2012. Cuối năm 2012, Phi đã ra luật hiện đại hóa quân đội trong 15 năm tới, trong đó ưu tiên dành cho hải quân và không quân. Phlippines dự định mua thêm nhiều khí tài, kể cả 12 máy bay chiến đấu, một tàu khu trục.

Còn VNCS bị mất đảo, mất biển vào tay TC nhiều nhứt, thì liên tục mua máy bay, tàu chiến và tàu lặn của Nga vì Mỹ không bán vũ khi cho Hà nội do hồ sơ vi phạm nhân quyền của CS Hà nội quá đen. Từ năm 2009, Hà Nội đã đặt mua 6 chiếc tàu lặn của Nga với giá 2 tỷ đô la, trong đó 2 chiếc đầu tiên sẽ được giao vào tháng 8/2013. Quan trọng đến mức Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng “nổi hứng” lên ngồi cho máy bay mới mua của Nga bay thử.

Không cần phải là chiến lược gia, người dân thuờng cũng biết nguyên do các nước lân cận với TC dù kinh tế có khó khăn nhưng vẫn dành một số tiền lớn mua vũ khí và trang bị chiến tranh, là do TC quậy đục nước ở Á châu Thái bình Dương.

Mỹ là nước chạy đua võ trang ở Á châu Thái Bình Dương nhiều nhứt. Nhưng Mỹ không phải mua sắm. Mỹ chỉ chuyễn 60% hải lực trên thế giới về đây. Lần đầu tiên trong lịch sử bang giao với Úc, Mỹ đổ quân cấm chốt thường trực ở Úc. Mỹ rút quân ở Trung Đông dồn kinh phí về trục quân sự Á châu của Mỹ. Giảm ngân sách quốc phòng 500 tỷ trong 10 năm, nhưng không giảm ở Á châu, TT Obama đã long trọng tuyên hứa trước Quốc Hội Úc, đồng minh cùng văn hoá Tây phương, kỳ cựu và duy nhứt Tây Phương ở Á châu.

Nhưng Mỹ không tốn kém hụt hơi như TC. Mỹ không cần tăng ngân sách vì đó là quận cơ hữu, chỉ chuyển vùng thôi, ở đâu cũng tốn kinh phí điều hành. Trái lại Mỹ rất có lợi kinh tế chánh trị và quân sự. TC với hành động bánh trướng ngang ngược, TC đã đẩy các nước Á châu Thái bình Dương vào vòng tay Mỹ. Đa số các nước này coi sự trở lại và hiện diện của Mỹ như một lá chắn, một bảo đảm an ninh, trât tự trong vùng, nhưng Mỹ không có tham vọng đất đai như TC.

Ngoài ra Mỹ còn bán được vũ khí rất nhiều cho các nước này trước mối lo đối với TC. Vô tình TC giúp cho Mỹ trở lại Á châu trong cảm tình, mong mỏi của các nước Á châu Thái bình Dương.

Theo các nhà quan sát chiến lược, TC phô trương sức mạnh quân sự ra Á châu Thái Bình Dương, một là để tuyên truyền quốc nội với xã hội quá nhiều bất ổn định, bất công, chia rẽ có thể nổ bùng hay nổ chụp tan tành chế độ CS. Hai là để hù doạ các nước nhỏ trong vùng Đông Bắc Á, Đông Nam Á mà thôi.

Cái kiểu giương oai diệu võ đó không làm các nước nhỏ này sợ mà thúc đẩy các nước này kiện toàn phòng thủ quân sự, liên minh chặt chẽ với Mỹ hơn. Còn muốn đối đầu với Mỹ về không quân và hải quân, có lẽ TC cần nữa thế kỷ nữa hoạ may mới dám đụng chạm Mỹ về quân sự./.( Vi Anh)
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »


Image

SUY NGẪM DƯỚI CHÂN TƯỢNG ĐỨC THÁNH TRẦN

Tương Lai

Vẫn bức tượng uy nghi và trầm mặc gần bến Bạch Đằng quận I ấy mà sao hôm nay lại có sức lay động lòng người đến vậy. Chọn nơi đây, dưới chân tượng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, một lựa chọn tối ưu để dâng hoa tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống xâm lược cách nay 34 năm. Ngày ấy, 17.2.1979 hơn sáu chục vạn quân xâm lược đồng loạt tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc.

Và rồi, đúng ngày này, các tờ báo chính thống, những tờ báo in đậm các Huân chương cao sang trên “măng sét” để tự phong là tiếng nói của dân đều câm lặng không một lời nói đến những người đã ngả xuống trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Trung Quốc, trừ tờ Thanh Niên có bài của Thiếu tướng Lê Văn Cương, một tiếng nói hiếm hoi cất lên trong cái biển im lặng đáng sợ của một chủ trương nhất quán, được chỉ đạo sít sao, tuyệt vời bạo liệt và triệt để.



Theo một cách nhìn và cách nghĩ “tích cực” thì đây là một dịp cũng thật là tuyệt vời để nâng cao nhận thức cho toàn dân nhằm “quán triệt” một chủ trương, đường lối đã định hình từ một sự cam kết nào đó chưa dám nói ra. Không nói, song bằng sự câm lặng của tất cả các trang báo từ trung ương đến địa phương tuân theo cây gậy chỉ huy từ nơi cao nhất đã “nói” rất rõ ràng. Nếu lại gắn kết với cách hành xử của các thế lực cầm quyền từ to tới nhỏ đối với những vị lão thành cách mạng, các cựu chiến binh, những nhân sĩ trí thức và những thanh niên, sinh viên yêu nước dâng hương và đặt hoa ở những nơi trang nghiêm để tưởng niệm những người con yêu của dân tộc hy sinh vì sự toàn vẹn của tổ quốc, sẽ thấy rõ mồn một ai là ai đang ngự trị trên mảnh đất thiêng thấm đẫm máu Việt Nam này. Người ta đang cố cam kết giữ “tình hữu nghị“, không muốn để những người “cùng chung ý thức hệ” phật lòng nên đã nhẫn tâm quay lưng lại với đồng chí đồng đội, cam lòng bỏ quên một cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc giết hại hàng chục vạn đồng bào chiến sĩ của mình. Ai đó cố tình bỏ quên, nhưng lịch sử của dân tộc thì đã từng ghi xương khắc cốt tội ác quân xâm lược Trung Quốc đã gây nên trên toàn tuyến biên giới phía Bắc năm 1979, tiếp tục tội ác của bọn Pôn Pốt và bọn quan thầy Trung Quốc của chúng gây ra trên vùng biên giới phía Tây Nam năm 1978 khiến “trúc rừng không ghi hết tội, nước biển không rửa sạch mùi” như xưa kia cha ông chúng đã làm mà Nguyễn Trãi đã lên án trong “Bình Ngô đại cáo“. Làm sao có thể bỏ quên một cuộc chiến tranh làm đổ máu hàng chục vạn người con yêu của tổ quôc, máu người đâu phải là nước lã! Vì thế mà Trần Hưng Đạo “ ngày quên ăn, đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm rằng chưa được sả thịt lột da quân giặc dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa cũng cam lòng” từng viết trong “Hịch tướng sĩ ” để khơi động ý chí cứu nước của các tướng sĩ “sinh ở thời nhiễu nhương, gặp phải buổi gian nan” không chịu “để tiếng xấu muôn đời” để không phải tự vấn lương tâm “còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa“?

Vì thế mà nói, tập họp nhau dưới chân tượng Đức Thánh Trần là sự lựa chọn ” tối ưu” để tưởng niệm đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh nhân kỷ niệm ngày 17.2 bởi lẽ lịch sử là một nhân tố mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào có thể trường tồn và phát huy sức mạnh bất tận của nó được. Khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và ý chí quật cường thì vời đến vị tướng đã được nhân dân phong Thánh, “Đức Thánh Trần” thì còn có nơi nào bằng?

Bầu trời xanh một màu xanh khắc khoải bên trên bức tượng vì nó ẩn chứa quá nhiều những mông lung và cay đắng trong suy tư của những con người hôm nay đang tập hợp dưới chân Ngài, hình ảnh tiêu biểu nhất cho bản lĩnh, khí phách của dân tộc, biểu tượng tuyệt vời của tư thế hiên ngang, quật cường chưa bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù. Tại đây, một quá khứ gần và một quá khứ xa ít hay nhiều hòa quyện vào nhau trong sự đa dạng sống động của thời hiện tại đang có quá nhiều những nghịch lý và ẩn số. Cho nên, một ngẫu nhiên tình cờ cũng gợi lên sự thăng hoa trong liên tưởng, khi bất chợt các cột nước dưới chân tượng bật phun lên trắng xóa đúng lúc mọi người tề tựu chuẩn bị cho lễ dâng hoa tưởng niệm. Tường thuật lại hiện tượng này, một nhà thơ đặt câu hỏi : đây là sự ủng hộ ngầm của những người phụ trách công viên hay là một tình cờ tuyệt đẹp, hoặc phải chăng có phảng phất yếu tố tâm linh?

Mọi suy đoán đều có thể. Thì chẳng phải Nguyễn Đình Chiểu từng xúc động về “tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ” khiến cho “nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm” khi nghĩ đến những nghĩa sĩ bỏ mình vì nước đó sao? Làm sao lại không có sự xao động huyền ảo tâm linh khi nghĩ về những người đã ngã xuống vì lẽ tồn vong của Tổ quốc? Nhất là khi đứng dưới chân Đức Thánh Trần, biểu tượng chói sáng của lòng yêu nước thì làm sao ngăn được sức trào dâng của nỗi niềm đất nước trong tâm tư của những người đến đây hôm nay vì không muốn là kẻ “thấy quốc sỉ mà không biết thẹn” như Ngài đã trách mắng trong Hịch Tướng Sĩ!

Vị anh hùng dân tộc duy nhất được nhân dân phong Thánh ấy chính là biểu tượng cao đẹp nhất của người hết lòng vì nước, không bợn một chút toan tính riêng tư nhỏ hẹp vì lợi ích, quyền lực hay dục vọng của riêng mình. Dẹp bỏ tư thù,Vương không theo ý cha mình là Yên Sinh vương Trần Liễu,[anh ruột của Trần Cảnh tức là Trần Thái Tông] căn dặn trước lúc lâm chung phải giành lại ngôi báu, mà chỉ dốc lòng lo cho trăm họ, toàn tâm vì việc nước. Khi Quốc Tảng, người con trai thứ hai, lộ ra ý muốn tranh đoạt ngôi báu, Vương tức giận mắng rằng “tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu này mà ra“, rút kiếm toan chém đứa con bất hiếu rồi dặn người con trưởng : “sau khi ta chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng“. Để giữ sự đồng lòng dốc sức đánh giặc, Vương chủ động xóa bỏ sự hiềm khích với Trần Quang Khải, con thứ ba của Trần Thái Tông, em ruột Trần Thánh Tông, nhún nhường không ngồi vào ghế tể tướng [Thái sư] của Chiêu Minh Vương để tiếp sứ, cho dù đó là sự sắp đặt của vua Trần Thái Tông. Không chút gợn tâm về cái ghế tể tướng, chỉ một lòng cứu nước, cứu dân, đấy chính là phẩm tính cao cả của Trần Hưng Đạo

Người dốc lòng lo việc nước cũng là người hiểu rõ sức mạnh của dân, không có dân thì không còn nước. Cho nên “khoan sức cho dân, lấy đó làm kế sâu rễ bền gốc” là tư tưởng chỉ đạo của người gánh trọng trách quốc gia. Được lòng dân là giữ được nước, mất dân thì sớm muộn nước cũng mất. Càng hiểu như vậy, càng thấy ý nghĩa sâu xa của tâm thế dân tộc tôn Trần Hưng Đạo là danh tướng bậc nhất trong lịch sử đất nước, hơn nữa với nhân dân, Ngài là một vị Thánh, không chỉ vì sự nghiệp hiển hách đánh tan tác đế quốc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII, mà còn vì phẩm tính cao cả của vị danh tướng bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Sâu sắc biết bao khi Trương Hán Siêu, tác giả của “Bạch Đằng Giang phú ” kết thúc áng văn bất hủ:“Sông Đằng một dải dài ghê, sóng xô cuồn cuộn trôi về Biển Đông. Những người bất nghĩa tiêu vong, nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh”.

Kẻ bất nghĩa và người anh hùng thì đời nào chẳng có. Và dường như cũng thành quy luật, “kẻ bất nghĩa” bao giờ cũng phải đội cái lốt “chính danh” để lừa bịp người nhẹ dạ cả tin, tạo ra tình trạng vàng thau lẫn lộn, để dễ bề dựa vào bạo lực để giữ được quyền uy. Đặc biệt là ở vào thời đoạn của buổi thoái trào, thì chuyện này càng phơi bày rõ rệt. Trên dòng sông chảy xiết, ở những khúc quanh đổ ngoặt, váng bẩn nổi cả lên mặt nước! Nhưng điều đó không ngăn được sức cuộn chảy từ bên dưới! Ấy vậy mà sức cuộn chảy đó mới quyết định tốc độ của dòng sông xuôi về biển cả.

Trong dòng chảy thời gian, những triều đại sinh thành, hưng thịnh và rồi tiêu vong, chỉ có nhân dân là bất tử. Chuyện này không có gì mới! Một nghìn năm trước, thiền sư Vạn Hạnh đã gợi ra hình ảnh : “Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”, thịnh suy nối tiếp nhau chỉ như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ mà thôi! Cho nên, “Nhậm vận thịnh suy vô bố úy”, ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy như vậy thì có gì đáng phải sợ hãi? Nhìn diễn tiến thịnh suy của một triều đại mà chỉ như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ, đôi mắt ấy đã thấu đến cái lẽ vô cùng. Vậy mà, ngẫm cho kỹ, đôi mắt ấy xem ra có cái gì đó rất hiện đại. Thì chẳng thế sao, Marcel Proust, văn hào hiện đại Pháp có câu nói bất hủ “một cuộc thám hiểm thật sự không phải ở chỗ tìm kiếm những vùng đất mới, mà ở chỗ cần có đôi mắt mới”.

Đôi mắt mới ấy sẽ nhìn ra những điều mà một đầu óc hạn hẹp, thiển cận và nô lệ vào những định kiến và những tín điều ẩm mốc sẽ không thể nào nhìn ra được. Khi mà các cụ ta cách đây cả nghìn năm xem chuyện thịnh suy chỉ như hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ, thì chẳng phải đã xác lập một cách nhìn nhận sự vật trong mối tương quan biện chứng giữa động và tĩnh đó sao? Vì rằng, “trong quá trình phát triển, tất cả những gì trước kia là hiện thực thì hiện nay trở thành không hiện thực, mất tính tất yếu, mất quyền tồn tại, mất tính hợp lý của chúng; và hiện thực mới, đầy sinh lực, thay thế cho hiện thực đang tiêu vong” đó là tri thức sơ đẳng về biện chứng của sự vận động và phát triển. Chỉ có điều, cái “hiện thực đang tiêu vong” ấy không dễ dàng nhường chỗ cho cái mới. Sự giãy dụa, cùng quẫy là đương nhiên! Mồm có thể rất sính nói về biện chứng nhưng não trạng và hành vi thì cố trì kéo cái cũ ruỗng nát và đang tiêu vong! Điều này chẳng lạ. Thì đó, Hégel quả là sâu sắc khi chỉ ra rằng “mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá”.

Không thể coi thường sự giãy dụa của cái cũ trước áp lực của cái mới, vì cái cũ ấy đang được “tập quán thần thánh hóa“. Và chính cái quán tính lịch sử ấy đang hà hơi tiếp sức cho thực thể đã ruỗng nát tự bên trong, cố níu kéo cái không thể níu kéo. Vì thế, lịch sử lại chứng kiến những bi kịch của sự tô son vẽ phấn cái bên ngoài để che lấp cái bên trong ấy. Mà oái oăm thay, sự lừa mị ấy đôi khi vẫn có được thế thượng phong cho dù hết sức bấp bênh chao đảo, nhằm kéo dài cơn hấp hối. Vì vậy, bi kịch trở thành hài kịch, nói theo ý của Karl Marx ” là để cho nhân loại vui vẻ từ bỏ quá khứ mà đi tới“! Không coi thường, song cần nhìn cho ra cái xu thế tất yếu của quy luật vận động và phát triển, trong đó, phải nhận ra được sức vận động tự thân của khối quần chúng nhân dân, một “đa số thầm lặng” rồi sẽ là sức mạnh tạo những đột phá không sao lường trước được.

Dưới chân tượng Đức Thánh Trần hôm nay, niềm suy tư ấy càng bừng lên những cảm xúc mãnh liệt về truyền thống quật khởi của dân tộc ta. Quá trình diễn biến đầy kịch tính của đất nước ta đã chứng minh sức sống kỳ lạ của dân tộc qua những dấu ấn đậm nét của những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải trong cách thế ứng xử của ông cha ta.

Cứ vào lúc thời cuộc như dồn thế nước vào chân tường, thì cũng chính vào lúc ấy đã bật ra những giải pháp mang tính đột phá. Cũng trong bài phú vừa nhắc ở trên có một câu rất mộc mạc song triết lý ẩn chứa trong đó lại rất thâm trầm : “Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng, bởi Đại Vương coi thế giặc nhàn . Đây là Trương Hán Siêu nhắc lại chuyện năm Đinh Hợi [1287] hơn 50 vạn quân Nguyên kéo sang phục thù. Vua hỏi “Giặc tới, liệu tình hình thế nào?” Hưng Đạo Vương trả lời : “Năm nay đánh giặc nhàn“! Phải có bản lĩnh thế nào mới thấy được cái thế “nhàn” trước mấy chục vạn quân xâm lược khi chúng hùng hổ kéo sang rửa hận cho hai trận thua nhục nhã.

Trước đó một năm, năm Bính Tuất [1286], Đại Việt Sử ký Toàn thư chép :” mượn cớ đưa người đầu hàng là Trần Ích Tắc về nước lập làm An Nam Quốc Vương. Mùa hạ, tháng 6…Vua hỏi Hưng Đạo Vương : “Thế giặc năm nay thế nào“? Vương trả lời : “… Nay nếu nó lại sang thì quân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì phải sợ đi xa. Vả lại, chúng còn nơm nớp cái thất bại của Hằng Quán [tức Lý Hằng và Lý Quán bị giết trong cuộc chiến năm 1285] không còn chí chiến đấu. Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn“.

Rõ ràng là, quyết định thắng bại trong việc đánh giặc giữ nước tùy thuộc trước hết vào bản lĩnh, tầm nhìn của người gánh vác trọng trách quốc gia. Chưa đánh đã run sợ trước sức mạnh của kẻ thù thì chỉ có bó gối quy hàng và tìm cách lấp liếm cho sự ươn hèn ấy bằng sự ngụy biện về “mềm dẻo để tránh những quá khích gây nên thảm họa“. Cuộc sống đã bóc trần những “quỹ biện của ngôn từ” nhằm lừa mị những người thiếu thông tin! Không phải ngẫu nhiên mà lịch sử dân tộc tô đậm dũng khí của Trần Thủ Độ với câu “đầu thần chưa rơi thì xin Bệ hạ đừng lo“, ca ngợi khí phách của Trần Bình Trọng “ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”, đề cao bản lĩnh của Trần Hưng Đạo “Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã“!

Cả ba câu nói của ba nhân vật lịch sử mà các trò nhỏ mới cắp sách đến trường đã được biết thì đều nói đến chuyện sẵn sàng chịu đầu rơi! Tại sao vậy? Là để dạy cho mọi thế hệ Việt một cách thế sống : sống ngẩng cao đầu. Sống cúi đầu không phải là cách sống Việt Nam. Đó là sự lựa chọn của dân tộc trong vị thế địa-chính trị oái oăm trứng chọi đá. Không thể dịch chuyển cái bán đảo hình chữ S này đi nơi khác nhằm tránh tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán muốn mở đường về phương Nam để gỡ cái thế bí của dân số quá đông. Vậy thì phải biết dạy cho con em Việt một cách sống “có cứng mới đứng được đầu gió“. Để khỏi nhắc lại ý mà người viết bài này đã nhiều lần đưa lên mặt báo, xin kết thúc bằng một đoạn văn súc tích của giáo sư Cao Huy Thuần về “Mười một chữ vàng” vừa đọc :

“Appeasement ” gồm 11 chữ, đúng là 11 chữ vàng vì đó là quốc sách của thủ tướng Neville Chamberlain, quốc sách của kẻ yếu sợ kẻ mạnh… Mười một chữ vàng của appeasement, Winston Churchill coi như là vàng giả, vàng để cúng âm hồn. Cúng ma thì được, cúng bá chủ thì Hitler vuốt râu mũi mà cười cho.

Chamberlain từ chức vào tháng 5-1940 và chết nửa năm sau đó, tháng 11. Churchill lên nắm quyền, và chữ V của ông phất phới trên vinh quang của độc lập, tự do. V như là Victory, không phải V như là vàng…Chuyện lịch sử Munich này, ai mà không biết. Cho nên, dưới đây, tôi chỉ trích dịch vài tư liệu của văn khố lịch sử Anh cốt làm sống lại chút ít không khí thời đó, gọi là để kỷ niệm 80 năm ngày ra đời của một đại quốc bá chủ.Có thêm gì chăng nữa ở đây thì cũng chỉ nhắc lại câu nói danh tiếng của tổng thống Roosevelt: “Điều duy nhất mà ta phải sợ là chính là nỗi sợ hãi“. Câu nói sao mà tương tự một câu để đời của một bậc đại thần, chứa trọn cả linh hồn của một dân tộc chưa hề biết sợ: “Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã“! Dưới chân tượng Trần Hưng Đạo hôm nay, tất thảy lũ chúng tôi cứ vang vang trong đầu câu nói bất hủ ấy của Ngài.

Đức Thánh Trần đang nhắc nhở con cháu hôm nay một cách thế sống : Hãy ngẩng cao đầu mà sống. Những kẻ ươn hèn, bạc nhươc không phải là, không được là con cháu của Trần Hưng Đạo! Những suy ngẫm ấy như tăng thêm sức mạnh và nghị lực cho chúng tôi trong cuộc chiến đấu chống lại “ trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá“. Cuộc chiến đấu còn gian nan, nhưng kìa, “sóng xô cuồn cuộn trôi về Biển Đông. Những người bất nghĩa tiêu vong, nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh”.

Không dám nhận mình là anh hùng, chỉ dám lòng tự dặn lòng quyết không là người vong ân bội nghĩa với máu của dồng đội và đồng bào mình thấm đẫm trên từng thước đất của non sông gấm vóc cha ông để lại. Càng không thể để cho một cuộc chiến tranh cố tình bỏ quên vì sự vong ân bội nghĩa ấy. Đấy cũng là lời nguyền dưới chân tượng Đức Thánh Trần nhân ngày 17.2.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Bọn bành trướng Bắc Kinh xuyên tạc
& kỷ niệm ngày xâm lược 6 tỉnh Biên giới của Việt Nam



Đôi lời: Có lẽ đây là cái tát, là câu trả lời rõ nhất, vạch mặt những kẻ vẫn tìm mọi lý lẽ để biện minh rằng phải giữ hòa bình ổn định,
tình “hữu hảo”, “16 chữ vàng, 4 tốt” hòng lấp liếm cho ý đồ rắp tâm bán nước, làm tay sai cho Trung Cộng qua hành động đàn áp,
ngăn cấm những người yêu nước khi họ tự tổ chức lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Việt Nam đã hy sinh trong Chiến tranh Biên giới 1979
chống quân Trung Quốc xâm lược, cũng như những quyết định ngấm ngầm bịt miệng, tự bịt miệng báo chí không được đưa tin, bài mỗi khi tới ngày 17-2 hàng năm.
Bài 1:

Phượng Hoàng

NGÀY 17.2.1979 NỔ SÚNG MỞ MÀN CUỘC CHIẾN PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

17.2.2013
Nguồn: Nhân Dân Nhật báo

Ngày 17.2.1979, theo lệnh của Quân ủy trung ương, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã buộc phải phát động cuộc chiến phản kích tự vệ với quân xâm lược Việt Nam ở vùng biên giới Quảng Tây, Vân Nam.

Sau khi tập đoàn Lê Duẩn lên cầm quyền, xuất phát từ dã tâm xâm lược của chủ nghĩa bá quyền, theo sự xúi giục và hỗ trợ của những kẻ khác, đã bội phản tín nghĩa, điên cuồng xua đuổi, cướp đoạt, bức hại Hoa kiều ở Việt Nam và người Việt Nam là người Hoa, liên tục tiến hành các hành động xâm phạm và khiêu khích vũ trang, đồng thời đưa quân đi xâm chiếm thủ đô Campuchia, gây nguy hại và phá hoại nghiêm trọng nền hiện đại hóa của nước ta và an ninh biên giới. Trước tình hình không thể chịu đựng thêm được nữa, chính phủ Trung Quốc quyết định tiến hành cuộc chiến đấu phản kích tự vệ, bảo vệ biên giới.

Cuộc chiến phản kích tự vệ bắt đầu từ 17.2 đến ngày 16.3 thì kết thúc, bộ đội biên phòng của ta đã khống chế được 3 tỉnh Lạng Sơn, Cao bằng, Lào Cai và 17 huyện thị, làm 4 sư đoàn và 10 trung đoàn chính quy thiệt hại nặng nề, tiêu diệt 3, 7 vạn quân Việt Nam, tịch thu rất nhiều trang bị vũ khí và vật tư tác chiến, cho kẻ xâm lược Việt Nam một bài học và sự trừng phạt nặng nề.
Image
Ảnh : Trong cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam, các chiến sĩ đang ký tên trên lá cờ đỏ có dán dòng chữ “Tổ quốc trong chúng ta” tự làm

—-

Bài 2:

hxcy1965.blog.163.com

KHẮP NƠI TRONG CẢ NƯỚC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG KỶ NIỆM 34 NĂM THẮNG LỢI CUỘC CHIẾN PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

20.2.2013

Ngày mồng 8 tháng Giêng [âm] tức ngày 17.2.2013 lại trúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 34 cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam, khắp nơi trong cả nước tổ chức các hoạt động kỷ niệm 34 năm thắng lợi cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam. Đại diện cựu chiến binh tham chiến tham gia vào hoạt động đã nói chuyện ôn lại lịch sử trận tác chiến với Việt Nam, tổng kết ý nghĩa của trận tác chiến với Việt Nam, lắng nghe hoài niệm của các cựu chiến binh may mắn sống sót về những chiến hữu đã hi sinh, kể lại tình cảnh chiến đấu nơi chiến trường cùng các chiến hữu anh hùng liệt sĩ, bày tỏ lòng yêu nước của các cựu chiến binh tham chiến, ca ngợi những chiến tích to lớn của các anh hùng liệt sĩ, đả thẳng vào hiện tượng xấu lãng quên các anh hùng của xã hội ngày nay, kêu gọi xã hội tăng cường giáo dục lòng yêu nước, yêu quý các anh hùng, tôn trọng các anh hùng, không quên lịch sử, luôn nhớ các anh hùng liệt sĩ!
Image
Mùa xuân năm 2013, trên đường phố Tây An treo đầy những chiếc đèn lồng đủ hình đủ dạng và các bức điêu khắc chữ “Xuân” (“春”), tạo nên bầu không khí ngày tết nồng ấm ở nơi đế đô ngàn năm. Khi mọi người còn đang đắm chìm trong không khí mùa xuân năm con Rắn, ngày mồng 8 tháng Giêng [âm] tức ngày 17.2.2013 lại trúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 34 cuộc chiến phản kích tự vệ đối vớiViệt Nam, cổ thành Tây An thời tiết ẩm ướt, nặng nề như tâm tình của các cựu chiến binh vậy. 10 giờ sáng, các chiến hữu từ khắp các quận của thành phố Tây An về tập kết ở xung quanh Nghĩa trang liệt sĩ Tây An để tham gia hoạt động kỷ niệm 34 năm thắng lợi cuộc chiến phản kích tự vệ của Trung Quốc đối với Việt Nam.

Image
Các cựu chiến binh tham chiến tham gia vào hoạt động chụp ảnh lưu niệm
Image

Ngày mồng 8 tháng Giêng [âm] tức ngày 17.2.2013, hơn 1000 quân nhân tham chiến, xuất ngũ ở thành phố Quảng Châu
(bao gồm cả các khu, thành phố, huyện xung quanh Châu Tam Giác) đã tổ chức hoạt động viếng liệt sĩ nhân kỷ niệm 34 năm
cuộc chiến phản kích tự vệ tại Nghĩa trang liệt sĩ Quảng Châu.


Image

Image

Image

Image

Image

Hiện trường hoạt động kỷ niệm 34 năm cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam
của cựu chiến binh tham chiến quê ở Quý Châu

Image

Chủ cửa hàng hoa Thái Yến Hỷ Khánh ở Long Châu Quảng Tây hàng năm cứ vào dịp này là cả hai vợ chồng đều dâng một bông cúc tươi
trước mộ từng liệt sĩ, hoài niệm sâu sắc những liệt sĩ đã hy sinh vẻ vang trong cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam

Image

Tổ quốc to lớn của chúng ta là do những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống đã dùng sinh mệnh trẻ trung của mình để tạo nên
những chiến tích rạng rỡ muôn đời.
Lịch sử vẻ vang quốc phú dân cường là các cực chiến binh ham chiến đã dùng bầu máu nóng sục sôi,
từ chiến trường khói súng mịt mù, từ gian khổ thấm đẫm máu đào đánh đổi lấy nền hòa bình thịnh vượng ngày hôm nay của chúng ta.
Tổ quốc! Ta tự hào vì người! Cựu chiến binh tham chiến, ta hãnh diện vì anh!
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Ðất Việt nước non xưa
Friday, February 22, 2013 8:20:42 PM

Ngô Nhân Dụng
Sau này, lịch sử chắc sẽ ghi nhận có một phong trào phục hưng tinh thần của dân tộc Việt Nam vào đầu thế kỷ 21. Trong mấy năm nay, số người làm mạng (bloggers) tăng lên rất nhanh. Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải đã bị tù vì dùng blog đánh thức đồng bào trước mối họa Bắc thuộc có thể tái diễn.

Cụ già tuổi 90 như nhạc sĩ Tô Hải cũng cặm cụi học kỹ thuật mới, chủ trì một diễn đàn cho đám con cháu và bạn bè vào uống chén trà xuông và thảo luận. Người ta góp ý kiến về tương lai, về nhân phẩm, về tự do dân chủ, về các cuộc biểu tình và cả về đám tang Phạm Duy.

Những cuộc tập họp trên mạng sôi nổi không khác gì những cuộc biểu tình! Và chắc chắn đông đúc hơn. Nhờ thế mà người dân cảm thấy hết sợ cường quyền! Hết sợ, không còn thấy điều gì cấm kỵ mà không dám nói. Nhiều người đã nói thẳng: Phải bỏ điều số 4 trong hiến pháp, tức là bãi bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản! Ðảng Cộng Sản lúng túng đến nỗi phải cho một “cậu bé” ra múa may lên giọng quả quyết: “Ðảng... đủ tín nhiệm, đủ trí tuệ, bản lĩnh, niềm tin... để lãnh đạo toàn dân ta tiếp tục tiến bước theo con đường đã chọn đưa dân tộc lên đài vinh quang, đưa đất nước ta sánh vai với các cường quốc...” Nghe nói cứ y như thật! Nếu toàn dân ta cứ tiếp tục tiến bước theo con đường của Trọng Lú và Ðồng chí Ếch thêm dăm năm nữa thì không biết sẽ còn bao nhiêu vụ PMU hay Vinashin?

Lại quả quyết: “Không một thế lực nào, một đảng phái nào làm thay được vai trò lịch sử của đảng ta.” Nhưng nhiều người Việt đang tự động làm thay “vai trò lịch sử của đảng ta” rồi. Nói mãi rồi, thế nào cũng tới lúc phải hành động, kẻo chính mình soi gương cũng mắc cỡ! Mấy chục nhà trí thức ở Sài Gòn đã “thay đảng ta” tự đứng ra tổ chức lễ tưởng niệm những tử sĩ bị “quân nhà Hán” tàn sát trong cuộc chiến năm 1979, trước đám công an hằm hè đe dọa. Một cuộc chiến tranh thảm khốc như vậy mà đến ngày kỷ niệm cả bộ máy nhà nước lại cấm không cho ai được tưởng nhớ. Thế thì người dân tự ý làm lấy. Ðảng và nhà nước đã chịu thua. Các nông dân mất đất, mất ruộng có thể theo gương mà hành động. Người dân đã hết sợ.

Có gì đang thay đổi trong nước Việt Nam? Thay đổi quan trọng nhất là trong cái đầu. Mà cái đầu người dân quả đang thay đổi. Người ta dám nói, dám làm. Nhờ có những nhà trí thức can đảm. Nhờ có những bloggers và những nông dân đi biểu tình. Người Việt đang phát động một phong trào phục hưng tinh thần: Hết sợ!

Ðây là một điềm đáng mừng. Bởi vì rỗng trong cái đầu của cả guồng máy cai trị đất nước đang hoàn toàn trống rỗng. Họ vẫn bô bô hét to những khẩu hiệu cũ kỹ, nhưng trong bụng hết tin từ lâu rồi. Ðầu trống tuếch, cho nên hai tay lo vơ vét cho lẹ. Cái đầu đảng Cộng Sản là một hố thẳm, không còn chủ nghĩa, lý thuyết nào nữa. Chỉ thấy quyền và tiền! Nhưng một dân tộc thì không thể sống như vậy được. Một dân tộc còn tồn tại, không bị tiêu diệt, là nhờ cái đầu còn hoạt động. Giáo Sư Nguyễn Quốc Trị, khi nghiên cứu về sự phát triển của “các nước thứ ba” thời 1970, 80, đã nhận xét rằng kinh tế phát triển mạnh nhất ở những nước biết phục hồi văn hóa. Văn hóa đi trước, kinh tế theo sau. Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore là những thí dụ thấy rõ. Khi toàn dân chia sẻ những niềm tin, khi họ biết có thể sống thuận thảo với nhau trong một hệ thống giá trị chung, có thể cùng tiến với nhau về một tương lai chung, trong những luật chơi công bằng, dân chủ, thì kinh tế có triển vọng cất cánh. Trước đây một thế kỷ Phan Châu Trinh đã thấy như vậy. Cho nên Phong trào Duy Tân nêu châm ngôn “Phấn dân khí, khai dân trí” (văn hóa) trước khi nói đến “hậu dân sinh,” tức là kinh tế.

Trong lịch sử, những cuộc cách mạng dân tộc thường diễn ra sau những phong trào phục hoạt tinh thần. Dân Ðức có Goethe, có Shiller, Kant trước khi gây phong trào thống nhất. Dân Pháp làm cách mạng sau thời đại Rousseau, Voltaire. Dân Phần Lan bị đế quốc Thụy Ðiển cai trị bảy thế kỷ, đã có lúc sắp bị đồng hóa hết, vì những người có học chỉ còn nói tiếng Thụy Ðiển, quên hẳn tiếng nước mình. Ðến thế kỷ 18 bỗng dưng các nhà trí thức ở đô thị khám phá ra một kho tàng: Nông dân Phần Lan vẫn giữ được tiếng nói! Mà thứ tiếng người Phần Lan nói thuộc một họ ngôn ngữ hoàn toàn khác họ Ấn-Âu của các nước chung quanh (lại có họ hàng với tiếng Hungary, một ốc đảo ngôn ngữ khác). Các nhà trí thức Phần Lan đã gây nên một phong trào “Về mới Mẹ Cha” (tên một bài hát của Nguyễn Ðức Quang). Họ đi học lại tiếng mẹ, đúng ra là tiếng của bà cố, bà tổ, vì nhiều bà mẹ cũng chỉ nói tiếng Thụy Ðiển! Họ bắt đầu hát: “Tôi yêu tiếng nước tôi” theo Sibelius!

Trong cố gắng phục hồi hồn nước, người Phần Lan cũng đi tìm lại những chuyện cổ tích, các bài phong dao, ca dao phổ biến trong dân gian, vẫn được nông dân giữ gìn trong hàng ngàn năm. Họ soạn một tuyển tập, giống như Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp (thế kỷ 15), Việt Ðiện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên (thế kỷ 14) ở nước ta. Dân Việt bây giờ còn biết đến những chuyện cổ tích đời Hồng Bàng, chuyện những anh hùng như Lý Phục Man, Triệu Việt Vương, Phùng Hưng là nhờ các cuốn sách này!

Làm sao những câu chuyện như sự tích Thần Núi Tản Viên, Thần Sông Tô Lịch, chuyện Trầu Cau, An Tiêm, Chử Ðồng Tử có thể được lưu giữ và truyền bá bằng cách kể chuyện suốt hai ngàn năm, để sau đó được Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp ghi lại?

Có những quan đô hộ người Ðường đã giúp một tay. Hai “Ðường Sơn Ðại Huynh” nổi bật trong đám này là Triệu Xương và Tăng Cổn. Hai ông làm tiết độ sứ Giao Châu trong thế kỷ thứ tám từng sống nhiều năm ở nước ta. Cả hai đã tò mò đi nghe người Việt kể chuyện cổ tích cho nhau nghe, và họ thích thú chép lại; trong những sách tên là Phủ Chí và Giao Châu Ký.

Nhưng có những lý do nào khiến các viên quan đô hộ cất công đi tìm hiểu các chuyện thần thoại, cổ tích của người Việt Nam như vậy? Chắc chắn phải có một phong trào phục hoạt văn hóa ở đất Giao Châu trước đó, và đang dâng lên sôi nổi trước mắt hai quan đô hộ này. Người Việt không những chỉ kể chuyện mà còn cúng tế, làm lễ, rước kiệu các vị thần linh và các anh hùng dân tộc đã “hóa thần” để bảo hộ con cháu. “Ðảng và nhà nước” lúc đó cũng không ngăn cấm được các cuộc lễ này, vì người dân chỉ làm theo phong tục đã có từ ngàn năm!

Khi chứng kiến không khí chẩy hội của người Việt trong ngày tưởng niệm Trưng Vương, khi thấy hai làng người Việt cùng tế một thành hoàng Lý Phục Man, (một tướng giỏi của Lý Nam Ðế chết vì nước trước đó ba trăm năm) thì các ông Triệu Xương và Tăng Cổn phải đích thân đi tìm hiểu coi mảnh đất thuộc An Nam Ðô Hộ Phủ này có gì linh thiêng, huyền bí mà muôn người như một, đến ngày là cùng tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ như vậy. Nếu Triệu Xương và Tăng Cổn sống ở thế kỷ 21 này thì chắc họ cũng không ngăn cấm người Việt tưởng niệm các tử sĩ ngày 17 Tháng Hai, hay ngày 19 Tháng Giêng. Có khi họ còn đi nghiên cứu tiểu sử Ngụy Văn Thà để khi về nước viết “Hoàng Sa Ký”.

Việt Ðiện U Linh Tập chép một bài thơ của Tăng Cổn khen ngợi Cao Biền, một tiết độ sứ tiền nhiệm của ông ta. Tăng Cồn, sống ở Giao Châu vài chục năm, mở đầu bài thơ thế này:

Ðất Việt núi sông xưa
Nhà Ðường nhân vật mới
Người cao chí khí cao
Ðộng tĩnh Long thần tới

(Lê Hữu Mục, trong bản dịch Việt Ðiện U Linh Tập)

Nhiều độc giả người Việt đã đọc bài thơ này, nhưng một sử gia người Mỹ đọc và khám phá mấy ý kiến độc đáo. Sử gia Keith Taylor, Ðại Học Cornell, trong cuốn “Nước Việt Nam ra đời” (The Birth of Vietnam) nhận xét về hai câu đầu trong bài thơ này; ông thấy ý tưởng chính là so sánh cảnh vô thường chính trị với lẽ bất biến trong văn hóa. Ông viết: “Hai câu thơ đầu ngụ ý là, trong khi các triều đại (ở Trung Quốc) lên xuống thì các tập tục văn hóa của một dân tộc - bám rễ sâu trong mảnh đất họ sống và trở thành kiên cố nhờ lưu truyền qua bao thế hệ - vẫn là những nét bất biến trong lịch sử.”

Tăng Cổn không dùng các tên gọi do người Hán đặt ra như An Nam, Giao Châu hay Giao Chỉ. Ông gọi tên là Ðất Việt; hai chữ Ðất Việt (một lãnh thổ) đối chọi với hai chữ Nhà Ðường (một triều đại), ở vị trí ngang hàng với nhau. Tăng Cổn lại nói đến núi sông đất Việt trước, còn triều nhà Ðường nói sau. Ông công nhận có một Ðất Việt từ lâu đời, triều đại nhà Ðường nhà Hán đều đến sau cả. Một người làm thơ nổi tiếng như Tăng Cổn thường chọn chữ, đặt câu rất kỹ lưỡng. Hai câu thơ trên cho thấy ông tỏ lòng kính trọng đối với văn hóa và lịch sử miền đất Việt Nam.

Tại sao các tiết độ sứ nhà Ðường lại tôn kính tổ tiên chúng ta như vậy? Chắc chắn họ đã trông thấy trước mắt một phong trào phục hưng văn hóa đang diễn ra ở nước ta. Họ bỏ công tìm hiểu và ghi chép những sự tích của người Việt trong nửa thế kỷ, sau khi Tăng Cổn bỏ chức về nước để tiếp tục làm thơ, viết văn, đất Giao Châu đã nổi lên một phong trào giành độc lập, kết thúc với chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Ðằng.

Cho nên chúng ta vui mừng chứng kiến một phong trào phục hưng tinh thần của người Việt Nam trong mấy năm qua. Giới trí thức đã phát động. Những bạn trẻ như Việt Khang, Huỳnh Thục Vi, đã đứng dậy. Người Việt sẵn sàng đốt đuốc tiến tới, nối tiếp ngọn lửa của tổ tiên đã thắp sáng từ thời Bắc thuộc. Ðất Việt núi sông xưa, vẫn còn đó. Các chế độ tham ác sẽ chấm dứt. Nhớ đến tổ tiên, sẽ vững lòng tin tưởng vào tương lai.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Cái chổi tre

Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)

Tôi có thói quen đi bộ như một cách tập thể dục hằng ngày. Vừa đi vừa mơ mộng và quan sát chung quanh.
Trong vô số những điều tôi nhìn thấy, có một chuyện, thoạt đầu, tôi thấy bình thường,
không để ý mấy, nhưng sau, càng ngày càng khiến tôi nghĩ ngợi.

Image
Người phu quét đường ở Hà Nội. Hình chụp tháng 11, 2006. Hình minh họa. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Ðó là những người đang cắt cỏ, đốn cây hay dọn dẹp rác rến trước nhà hoặc ngoài đường. Có khi họ là công nhân vệ sinh, có khi chỉ là những người tự dọn dẹp vườn tược và bãi cỏ trước cổng nhà mình. Tôi nhận thấy: Cứ hễ có người đi ngang qua, tất cả đều ý tứ dừng tay lại. Ðang quét rác: dừng tay. Ðang cắt cỏ: dừng máy; có người còn giảm tiếng máy nhỏ xuống. Chờ cho khách bộ hành đi qua hẳn, họ mới bắt đầu làm việc lại. Lý do rất đơn giản: Người ta không muốn bụi và rác bắn vào khách đi đường.

Những lúc ấy, tôi cứ nhớ đến Việt Nam. Sau năm 1975, ở đại học, bọn sinh viên Khoa Văn chúng tôi phải học thơ Tố Hữu khá nhiều. Trong đó có bài “Tiếng chổi tre,” đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ:

Những đêm hè
Khi ve ve
Ðã ngủ
Tôi lắng nghe
Trên đường Trần Phú

Tiếng chổi tre
Xao xác hàng me
Tiếng chổi tre
Ðêm hè
Quét rác...

Những đêm đông
Khi cơn dông
Vừa tắt
Tôi đứng trông
Trên đường lặng ngắt

Chị lao công
Như sắt
Như đồng
Chị lao công
Ðêm đông
Quét rác...

Sáng mai ra
Gánh hàng hoa
Xuống chợ
Hoa Ngọc Hà
Trên đường rực nở

Hương bay xa
Thơm ngát
Ðường ta
Nhớ nghe hoa
Người quét rác
Ðêm qua.

Nhớ em nghe
Tiếng chổi tre
Chị quét
Những đêm hè
Ðêm đông gió rét
Tiếng chổi tre

Sớm tối
Ði về
Giữ sạch lề
Ðẹp lối
Em nghe!

Dạo ấy, tôi đọc và thuộc lòng bài thơ ấy, nhưng nhớ, dường như chưa bao giờ tôi liên hệ hình ảnh người quét rác được thi vị hóa trong bài thơ với những người lao công rách rưới tôi gặp hằng ngày trên đường từ nhà đến trường đại học. Tôi thấy họ, nhưng có lẽ không bao giờ nhìn họ. Họ, cái chổi của họ, tấm khăn họ thường bịt miệng và những đống rác hôi thối bên cạnh họ cứ trôi qua mắt tôi. Rồi biến mất. Cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Những năm tháng ấy, ai cũng cùng khổ như nhau. Là sinh viên, rồi sau đó, cán bộ giảng dạy, thực tình, tôi không hề thấy mình khá hơn bất cứ người công nhân lam lũ nào ngoài đường. Cũng đói. Cũng lo lắng vì những chuyện vô cùng lặt vặt. Và cũng tơi tả tuyệt vọng.

Tôi chỉ thực sự chú ý đến những người quét rác và công việc quét rác khi tôi về lại Việt Nam sau bao nhiêu năm sống ở hải ngoại. Thăm Hà Nội, tôi thường ở trong các khách sạn gần hồ Hoàn Kiếm. Sáng, cũng vẫn thói quen đi bộ vòng quanh bờ hồ. Hồ Hoàn Kiếm đẹp. Các sinh hoạt quanh bờ hồ cũng khá dễ thương với những người ung dung tản bộ hoặc tập thể dục. Nhưng thường, trước khi đến bờ hồ, tôi phải đi qua vài con phố nhỏ. Lúc ấy cũng là giờ người ta lục đục mở cửa tiệm. Một trong những công việc đầu tiên khi mở cửa tiệm là dọn dẹp. Ðó cũng là việc mà tôi sợ nhất. Ðang đi bộ, nhởn nhơ nhìn người đi ngược đi xuôi, bỗng nghe “ào,” một đống rác, và cùng với nó, một vùng bụi, từ trong tiệm văng tóe ra ngoài, có khi hắt cả vào người. Vội vàng nhào qua thật nhanh, lấy tay bịt mũi và ngưng cả thở. Nhưng qua đợt bụi và rác này lại đến đợt bụi và rác khác. Từ những tiệm khác. Cứ thế, cả một quãng đường dài. Mà hè phố ở Hà Nội lại hẹp. Không thể tránh được. Nhớ, nghe tôi kể chuyện ấy, bạn bè trong giới văn nghệ ở Hà Nội đều nói: “Còn may!” Hỏi tại sao, họ đáp: Có khi còn lãnh nguyên cả một chậu nước dơ từ trên các tầng lầu cao hắt thẳng xuống đầu!

Trong hoặc sau lúc đi bộ, tôi thường tạt vào một quán cà phê nào đó. Tôi thích những quán cà phê lộ thiên, bày bàn ghế bên ngoài hơn là những căn phòng chật chội và kín mít. Thật thú khi vừa nhâm nhi cà phê vừa nhìn ngắm khung cảnh phố xá và các sinh hoạt chung quanh. Nhưng buổi sáng cũng là lúc các nhân viên vệ sinh làm việc: Họ quét rác ngoài đường hoặc ngay cả trên khoảnh sân thuộc quán cà phê. Bụi và rác văng tung tóe. Lấy tay bịt mũi thì bụi văng vào ly cà phê. Bịt cả hai thì bụi bay vào mặt, vào tóc, vào quần áo. Ðành vội vã trả tiền rồi chạy biến. Và lại chui vào một quán cà phê chật chội và kín mít mà mình, thoạt đầu, không hề thích chút nào cả. Ngay trong những quán cà phê ấy, nếu đúng lúc người ta quét dọn thì cũng khiếp đảm lắm. Bụi không nhiều như ngoài sân hay ngoài đường, dĩ nhiên. Nhưng cũng vẫn là bụi. Những lúc ấy, tôi mới thấy ghét cái chổi tre và, nhất là, cách quét rác của người Việt.

Ðể quét dọn, ở Tây phương, người ta cũng dùng chổi. Chổi của họ khác với chổi của ta về cả hình dáng lẫn chất liệu: Ở ta, chổi thường làm bằng tre (chẻ mỏng) hoặc bằng lá dừa nước (còn gọi là chổi chà) hoặc bằng xơ dừa, bằng cọng đót, bằng rơm rạ, bằng cây thanh hao (một loại sim rừng). Ở Tây phương, người ta làm chổi chủ yếu từ các loại nhựa tổng hợp; và vì làm bằng nhựa, nên hình dạng cũng dễ dàng biến hóa, thành đa dạng hơn. Tuy nhiên, khác biệt quan trọng nhất là ở cách quét. Ở Tây phương, người ta thường lùa rác về phía mình, dồn lại thành đống rồi hốt vất vào thùng rác. Ở Việt Nam, người ta thường hất ngược cây chổi về phía trước, bụi và rác cứ bắn tung lên bất cứ người nào đang đứng hoặc đi ngang qua trước mặt họ. Ðiểm đến của các đống rác ấy thường ít khi đi vào thùng mà là ra ngoài đường. Còn bụi thì chia đều cho mọi người chung quanh.

Cách quét rác như thế có lẽ đã có từ lâu, rất lâu trước khi con người phát hiện ra vi trùng để biết sợ rác và bụi. Còn bây giờ? Nó chỉ tồn tại như một tập quán xấu. Nó không khác tật khạc nhổ nơi công cộng chút nào cả.

Mà không phải chỉ trong chuyện quét rác. Ở Việt Nam, cái chổi còn được sử dụng như một thứ vật dụng để đánh người khác: Với roi, người ta thường đánh vào tay và nhắm đến mục đích răn dạy; với gậy gộc, người ta có thể đánh vào bất cứ bộ phận nào trong thân thể người khác, từ đầu xuống vai, lưng, mông và tay chân, và nhắm đến mục đích trừng phạt, rửa hận hay cho bõ ghét; còn với chổi, người ta thường đánh thẳng vào đầu, với mục đích chủ yếu là sỉ nhục. Chổi càng cũ, càng dơ và càng cùn, mức độ sỉ nhục càng lớn. Cái chổi và cách quét rác còn là một “văn hóa”: Cái văn hóa hất chổi cho bụi và rác bay tung tóe vào mặt mũi người khác như vậy còn phổ biến trong mọi sinh hoạt, từ chính trị đến xã hội của người Việt Nam, kể cả, và đặc biệt trầm trọng nhất, từ những người có chức và có quyền.

Chúng ta hay nói đến vấn đề dân chủ mà thường quên một số sự thật căn bản: Trung tâm của dân chủ là nhân quyền; trung tâm của nhân quyền là biết tôn trọng người khác; nhưng tôn trọng người khác không phải là tôn trọng tính người với những ý niệm trừu tượng như tự do và bình đẳng của họ mà còn phải tôn trọng cả sự hiện diện của họ.

Tranh đấu cho dân chủ, bởi vậy, tôi nghĩ, nên bắt đầu từ những việc cụ thể: cái chổi và văn-hóa-hất-rác-và-bụi vào người khác.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

“Ngủ Chung Giường”
Vũ Linh
...Obama thao túng truyền thông trong thời gian qua đã trở thành quá dễ dàng...

Ngạn ngữ Mỹ có câu “ngủ chung giường” để chỉ chẳng những chuyện vợ chồng cùng chăn gối, mà cũng để chỉ tình trạng hai người, hay hai nhóm hợp ý với nhau đến độ gần như thông đồng với nhau trong mọi chuyện. Hiểu theo nghiã này thì ai cũng phải công nhận truyền thông dòng chính đã chui vào “ngủ chung giường” với TT Obama ngay từ những ngày đầu khi ông này xuất hiện trên chính trường Mỹ.

Năm 2004, trong Đại Hội đảng Dân Chủ, theo đề nghị của thượng nghị sĩ John Kerry, ứng viên tổng thống năm đó, ban tổ chức đã mời ông Barack Obama, một nghị sĩ vô danh của tiểu bang Illinois lên đọc bài diễn văn chính của đại hội, phác họa đại cương hướng đi của đảng Dân Chủ dưới sự lãnh đạo của ông Kerry. Chẳng những ít người nghe tên, mà ngay chính ông Obama cũng không phải là một chính khách cực kỳ xuất sắc, được sự ngưỡng mộ của đa số cử tri. Năm 2000, ông ra tranh cử dân biểu liên bang trong một địa hạt phiá nam Chicago và bị thảm bại khi đối thủ cùng đảng Dân Chủ của ông thu được gấp hai lần số phiếu của ông.

Tại Đại Hội đảng, với bài diễn văn được trực tiếp truyền hình trên tất cả các đài chính, vào giờ cao điểm –prime time-, ước lượng có gần 10 triệu người coi, truyền thông khám phá ra “của lạ”, khai thác tối đa, thổi ông Obama lên tận mây xanh, ca tụng bài diễn văn của ông Obama như là một tuyệt tác chưa từng thấy từ bài diễn văn tại Gettysburg của TT Abraham Lincoln, cách đây 150 năm.

“Cái lạ” trong ông chính khách Obama quả là rất nhiều: diện mạo bảnh bao, tuổi trẻ đầy tương lai, nói năng hùng hồn, khác xa mấy ông già Dole, McCain, hay Al Gore, bài diễn văn kêu gọi đại đoàn kết toàn dân mang đầy ý nghiã, đáp ứng đúng ước vọng của thiên hạ. Nhưng quan trọng hơn thế nữa, ông là da đen, với cái tên cực lạ lùng, lại còn có tên đệm ở giữa là Hussein, một Đấng Tiên Tri của đạo Hồi, khi mà dân Mỹ còn đang ngơ ngác tìm hiểu về đạo Hồi, về lý do tại sao lại có biến cố 9/11.

Bài diễn văn đọc vào tháng Bẩy, khi ông Obama đang tranh cử thượng nghị sĩ đại diện cho Illinois. Bốn tháng sau, tháng Mười Một năm đó, ông dễ dàng đắc cử, trở thành thượng nghị sĩ da đen duy nhất trong Thượng Viện liên bang lúc đó. Nhiệm kỳ thượng nghị sĩ là sáu năm, nhưng chưa đầy hai năm sau khi đắc cử, cuối năm 2006, TNS Barack Obama tuyên bố sẽ ra tranh cử tổng thống cuối năm 2008.

Trong hai năm tranh cử, 2007-08, ông đã được truyền thông dòng chính, với khuynh hướng cấp tiến rõ ràng, tung hô như chưa một chính khách nào được tung hô từ xưa đến nay. Truyền thông cấp tiến nhất loạt ca tụng ông như là Đấng Tiên Tri tái thế. Bình luận gia Chris Matthews của đài truyền hình MSNBC vỗ ngực khoe mình đã có cái may mắn cực kỳ lớn lao là sinh vào đúng lúc ông Obama giáng trần để cứu nhân độ thế.

Hậu thuẫn mạnh mẽ của truyền thông dòng chính đã giúp tung tên tuổi và uy tín của ứng viên Obama lên tột đỉnh, khiến cả nước ngây ngất mê mẩn, giúp ông thu được và chi cho cuộc tranh cử hơn 700 triệu đô, một con số từ xưa đến lúc đó, chưa ai dám nghĩ tới chứ đừng nói kiếm được. Với số tiền khổng lồ đó, ông đã lần lượt hạ được hai guồng máy chính trị vĩ đại của hai chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, hạ được bà cựu Đệ Nhất Phu Nhân Hillary Clinton, và người hùng John McCain, để chễm trệ trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Mỹ.

Tất cả các chuyên gia chính trường Mỹ, thiên Dân Chủ hay Cộng Hòa, đều đã phải nhìn nhận ông Obama đắc cử tổng thống là kỳ công của ông, nhưng cũng phản ánh ảnh hưởng vĩ đại của truyền thông dòng chính. Tất các đài truyền hình lớn như ABC, CBS, NBC, MSNBC, CNN đều công khai ca tụng và hậu thuẫn ông Obama. Tất cả các báo lớn như New York Times, Washington Post, Los Angeles Times, San Francisc Chronicle, USA Today, ..., các tạp chí Time, Newsweek, ... đều nhất loạt tung hô ông Obama. Tiếng nói duy nhất không ủng hộ Obama là đài truyền hình Fox News.

Trong cuộc tranh cử, màu da của ông Obama đã được truyền thông cấp tiến khai thác tối đa. Họ cố ý nhấn mạnh vào yếu tố màu da, một phần vì ý muốn làm nên lịch sử với tổng thống da đen đầu tiên, đồng thời cũng đánh mạnh vào mặc cảm kỳ thị của đại đa số dân da trắng Mỹ, để khiến họ cảm thấy vừa áy náy vừa muốn chứng minh cho thiên hạ và thế giới thấy nước Mỹ không còn kỳ thị màu da nữa. Dĩ nhiên là đối với dân da màu thiểu số, từ da đen, đến da nâu, da vàng, da đỏ, họ cũng không quên nhấn mạnh việc ông Obama đắc cử sẽ mở cửa Tòa Bạch Ốc cho tất cả mọi sắc dân thiểu số trong tương lai.

Một lý do thầm kín ít người dám nói đến nữa là nhiều người Mỹ hy vọng với một tổng thống có tên Hussein, biết đâu khủng bố Hồi giáo sẽ không gây chiến với Mỹ nữa.

Truyền thông công khai đe dọa việc bà Hillary đắc cử sẽ khơi lại những bê bối của ông chồng bà, cựu tổng thống Clinton, và sẽ giúp Cộng Hòa thắng cử. Hầu hết các cơ quan truyền thông và báo chí lớn chính thức cổ võ cho ông Obama chống bà Hillary.

Sau khi ứng viên Obama hạ được bà Hillary ra đối đầu với ông McCain của Cộng Hòa, thì họ quay mũi dùi vào ông McCain. Đây là một điểm hết sức đặc biệt cần nhấn mạnh. Ông McCain, trong mấy chục năm làm thượng nghị sĩ luôn luôn là một thứ “con cưng” của truyền thông cấp tiến, vì quan điểm tương đối cởi mở, ôn hòa của ông so với các chính khách Cộng Hòa khác bảo thủ mạnh hơn. Ông McCain cũng được cảm tình của truyền thông vì tính nói thẳng và thân thiện của ông đối với các nhà báo, ký giả.

Thế nhưng khi ông McCain trực diện với ông Obama thì truyền thông quay qua ủng hộ gà nhà cấp tiến Obama ngay. Ông McCain bất thình lình biến thành bảo thủ cực đoan, một ông già lẩm cẩm không thể có khả năng dẫn đắt nước Mỹ qua cuộc khủng hoảng gia cư và tài chánh của năm 2008, cũng như không thể mang nước Mỹ vào thiên niên kỷ mới.

Nhưng những tấn công chống ông McCain chỉ là những món ăn điểm tâm rất nhẹ so với cuộc chiến của truyền thông chống bà ứng viên phó tổng thống Sarah Palin. Ngay sau khi bà Palin được chính thức công bố là ứng viên phó cho ông McCain, hàng ngàn nhà báo đổ bộ lên đất Alaska đi tìm hiểu về con người bà Palin. Chẳng những đời tư của bà, mà đến cả chồng và con của bà cũng bị bôi nhục công khai trên các báo, từ báo lá cải đến New York Times. Tạp chí Newsweek đưa hình bà Palin lên trang bià, nhưng là một bức hình bà ăn mặc quần áo thể thao, và khen bà có đôi chân dài. Nói cách khác bà ứng viên phó tổng thống của Cộng Hòa chỉ là một người đàn bà sexy, có đôi chân dài đẹp như một vũ nữ, không phải là hình ảnh của một nữ phó tổng thống. Trên truyền hình, hình ảnh của bà Palin bị bôi lọ như một mụ đàn bà nhà quê ngớ ngẩn nhất thế giới.

Cho đến năm ngoái, trong cuộc tranh cử giữa TT Obama và TĐ Mitt Romney, vai trò hậu thuẫn Obama của truyền thông dòng chính vẫn mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Truyền thông cấp tiến đã khoả lấp, hay phớt lờ, hay biện minh cho những thất bại khổng lồ của bốn năm nhiệm kỳ đầu của TT Obama, trong khi hình ảnh ông Romney được tô vẽ một cách cực kỳ xấu sa: một tài phiệt da trắng vô cảm, chỉ muốn bảo vệ nhà giàu, và lo cắt trợ cấp của dân nghèo, dân lao động, và dân thiểu số.

Danh sách mạnh thường quân được công bố cho thấy 80% ký giả, nhà báo của truyền thông dòng chính đã gửi tiền yểm trợ quỹ tranh cử của TT Obama.

Thái độ thiên vị này cho đến nay vẫn được duy trì, một cách công khai, không chút e lệ nào.

Ngày thứ ba tuần qua, TT Obama đọc bài diễn văn báo cáo tình trạng liên bang trước quốc dân. Ngay sau đó, thượng nghị sĩ Marco Rubio của tiểu bang Florida được Cộng Hòa chỉ định đọc bài diễn văn trả lời tổng thống. Bất cứ một nhà báo bình thường nào, có thái độ nghiêm chỉnh, cũng phải bỏ công sức và thời gian để phân tích hai bài diễn văn cực kỳ quan trọng này. Nhưng sự thực lại không phải như vậy.

Trong những ngày sau đó, báo chí và truyền thông tập trung tối đa vào một chi tiết thật vớ vẩn. Đó là hình ảnh ông Rubio đang nói chuyện thì ngưng lại, liếc qua liếc lại, rồi cúi xuống lấy ly nước lạnh, uống một hớp trước khi nói tiếp. Câu chuyện không có một chút ý nghiã gì, và cũng chẳng có gì bất thường. Vậy mà truyền thông tung tin này lên hàng đầu trong mấy ngày liền, gọi đó là “water-gate thứ hai”, nhái lại chuyện xì-căng-đan Watergate đã từng buộc TT Nixon phải từ chức. Nguyên một ngày liền, hình ảnh ông Rubio uống nước đã được tung lên liên tục cả mấy chục lần trên đài CNN. Một nhà báo khác đặt ngay câu hỏi “đây có phải là ly nước chấm dứt sự nghiệp chính trị của ông Rubio không?”. Thú thật, cho đến bây giờ, kẻ viết này vẫn chưa hiểu chuyện uống nước này có gì tai hại đáng nói đến thế.

Nhưng nếu nhìn xa hơn một chút thì có thể ta sẽ hiểu vấn đề. Ông Rubio là ngôi sao sáng đang lên của Cộng Hoà. Có nhiều tin ông này sẽ là một ứng viên nặng ký của Cộng Hoà trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 tới đây. Tên tuổi của ông gần đây đã nổi lên vì ông là người đã đưa ra một đề nghị cụ thể để giải quyết vấn đề di dân bất hợp pháp. Chẳng những đề nghị của ông có tính ôn hoà và thực tiễn, mà ông lại còn là con của di dân bất hợp pháp từ Cuba qua, nên tiếng nói của ông trong vấn đề này thật là nặng ký. Đề nghị của ông đã đẩy ngay những đề nghị của TT Obama vào hàng thứ yếu, không đáng chú ý bằng.

Đây gọi là truyền thông cấp tiến đánh phủ đầu trước, ngay từ bây giờ khi tư thế của ông Marco Rubio còn chưa vững mạnh lắm. Chỉ cái chuyện uống nước chẳng đâu vào đâu cũng trở thành đề tài để đánh đối phương tương lai.

Truyền thông này còn chơi trò chắc ăn hơn là chẳng những triệt hạ đối thủ mới, chưa nổi, mà cũng đánh luôn cả những đối tượng cũ, cho họ khỏi có cơ hội ngóc đầu lên lại.

Tuần qua, một trang mạng mang tên là The Daily Currant, loan tin bà Sarah Palin hợp tác làm bình luận gia cho đài truyền hình Al Jazeera. Mấy ngày sau, nhà báo phe ta Suzy Parker vồ lấy tin này, cho đăng lên Washington Post, gợi ý là bà Palin giả dối, hợp tác với đài truyền hình mà bà Palin vẫn công khai chỉ trích là tiếng nói của khủng bố Hồi giáo quá khích.

Tin đăng trên Washington Post thì phải chắc hơn đinh đóng cột? Nhưng không phải vậy. The Daily Currant là một trang mạng mang tính “đùa dai chính trị”, chuyên đăng những tin vịt cồ hay tin miả mai, chọc quê chính trị, tương tự như Le Canard Enchainé của Pháp. Nhưng bà Suzy Parker, trong tư thế hăm hở đánh phe địch bảo thủ Cộng Hòa, đã thấy tin này và mừng quá mất khôn, vồ lấy, coi như tin có thật, cho lên bài. Ban biên tập Washington Post không biết vì lý do sơ xuất, hay quá tin tưởng vào bà Parker, hay cũng mừng quá mất khôn, cho đăng tin này lên mà không kiểm chứng gì hết. Sau đó thì chính The Daily Currant xác nhận là tin vịt họ phịa ra chơi cho vui, khiến Washington Post phải lúng túng cải chính tuy không biết có xin lỗi bà Palin hay không.

Cái tin vịt bà Palin “hợp tác” với Al Jazeera đã bị Washington Post vồ lấy như của báu để đánh bà Palin. Trong khi cái tin cựu PTT Al Gore bán đài truyền hình của mình cho Al Jazeera với giá năm trăm triệu đô, giúp Al Jazeera cơ hội phát triển mạnh mẽ trên đất Mỹ thì lại được coi như tin kinh doanh bình thường, chẳng có ý nghĩa gì khác.

Báo Washington Post là “bà con” (cùng chủ) với tạp chí Newsweek, là tạp chí mà ông chủ bút năm 2008 đã từng gọi Obama là Đức Chúa –God-. Newsweek đầu năm nay mới đóng cửa tiệm không phát hành nữa vì lỗ lã quá, chỉ còn duy trì bản online trên mạng. Nghe nói mấy ông bà chủ Newsweek cũng đang dọ bán Washington Post luôn vì lỗ nặng.

Với thái độ thiên vị như vậy, việc TT Obama thao túng truyền thông trong thời gian qua đã trở thành quá dễ dàng mà chẳng gặp khiếu nại quan trọng nào.

So với các vị tiền nhiệm như cha con ông Bush, Clinton,..., TT Obama là người xuất hiện trên truyền hình nhiều nhất, nhưng lại là người họp báo ít nhất. Phần lớn các hình ảnh truyền thông phổ biến là hình ảnh do Tòa Bạch Ốc chụp và phổ biến.

TT Obama tự khoe chính quyền Obama là trong sáng –transparent- nhất trong lịch sử hiện đại. Lời tuyên bố này đã bị một nhà bình luận của Washington Post cho là “đúng, nhưng chỉ đúng với những chuyện gì TT muốn cho phổ biến, có lợi cho ông”, trong khi những tin bất lợi thì rất khó biết đâu là sự thật. Điển hình là vụ khủng bố tấn công tòa lãnh sự Mỹ tại Benghazi, hay những vụ đột kích khủng bố bằng máy bay không người lái, hay mới nhất là chuyện quân Mỹ can thiệp lén lút vào một số nước Phi Châu.

Tuần trước, TT Obama đọc báo cáo tình trạng liên bang, đưa ra hàng loạt chương trình, kế hoạch. Truyền thông cấp tiến vỗ tay hoan hô nhiệt liệt, nhưng không một tờ báo nào đặt câu hỏi TT Obama sẽ lấy tiền ở đâu ra?

Trong những năm tháng tới, khuynh hướng “phục vụ” cho TT Obama sẽ được đài truyền hình NBC công khai hoá một cách không thể rõ ràng hơn. NBC loan tin đã mời ông David Axelrod, cựu “cố vấn tối cao” của TT Obama, tác giả hai cuộc vận động tranh cử thành công của TT Obama, làm bình luận gia chính thức của NBC. Đài truyền hình “con đẻ” của NBC là đài MSNBC thì loan tin cựu phát ngôn viên của TT Obama, ông Robert Gibbs, sẽ là bình luận gia chính của MSNBC.

Nếu những chuyện trên chưa chứng minh được là truyền thông dòng chính “ngủ chung giường” với TT Obama thì cần phải có bằng chứng nào khác? Mà cho dù có bằng chứng khác thì có lẽ vẫn chưa thuyết phục được những người đang nhắm mắt coi TT Obama như thần tượng. (24-2-13)

Vũ Linh
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Image

Thời mạt vận

Phi Vũ
(Danlambao) - Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, phóng viên báo Gia đình và xã hội đã có một bài viết phản biện vô cùng đặc sắc, đã được các blogger đăng cũng như có những bình luận từ mọi phía. Dư luận khắp nơi đều đồng tình cùng nhà báo đầy nhiệt tình yêu nước Nguyễn Đắc Kiên.

Thế nhưng, sau khi bài viết của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên ra đời chưa được 24 tiếng đồng hồ, anh đã bị kỷ luật, đã không còn là phóng viên của tờ báo Gia đình và xã hội nữa. Quả là đòn thù bẩn thỉu của một tập đoàn mà chúng đã sắp đến ngày... mạt vận.

Lên tiếng kêu gọi mọi người dân phát biểu để sửa đổi hiến pháp, khi người dân đã có những tiếng nói trung thực của mình vì quốc gia và dân tộc thì lại giở những thủ đoạn đê hèn ra để trả thù, tập đoàn Cộng Sản Việt Nam càng ngày càng tỏ ra là một lũ nhuốc nhơ và vô cùng bẩn thỉu từ suy nghĩ đến hành động. Nếu cho rằng những phản biện của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên là sai, hãy viết bài tranh luận để chỉ ra là sai ở chỗ nào? Việc trả thù nhà báo Nguyễn Đắc Kiên như một lời cảnh cáo của chúng đối với bất cứ ai còn tin tưởng vào thiện chí của đảng độc tài và dám lên tiếng phản biện lại!?

Người ta thường gọi tên Nguyễn Phú Trọng này là “Trọng Lú”, thế nhưng đòn thù của hắn tung ra với nhà báo Nguyễn Đắc Kiên cho ta thấy hắn không “lú” chút nào cả. Chẳng qua là hắn giả vờ lú để che lấp bản chất lưu manh của một tên bán nước cho giặc Tàu, xem nhẹ Tổ Quốc, chỉ biết cúi đầu cúc cung tận tụy với giặc thù. Nên nhớ rằng, một ngày nào đó, nhân dân Việt Nam không những bỏ đều 4 mà còn xé toạc cả bản hiến pháp phản động này và thay thế bằng một bản hiến pháp mới. Lúc đó tập đoàn bán nước Cộng Sản Việt nam chắc chắn sẽ không còn chỗ mà chui đâu.

Dùng luật rừng để xử nhà báo yêu nước Nguyễn Đắc Kiên chứng tỏ tập đoàn phản động Cộng Sản Việt Nam đang bước vào thời mạt vận. Ngày tàn của bạo chúa sẽ không còn xa đâu!

Ngày 26 tháng 2 năm 2013
Phi Vũ
trinhham
Posts: 133
Joined: Mon Dec 10, 2012 2:07 am
Contact:

Post by trinhham »

Lú nhỏ và lú lớn

Ngô Nhân Dụng


Ông Nguyễn Phú Trọng quả là một nhân vật quan trọng. Một câu nói của ông được các công dân trên mạng đem ra bàn tán xôn xao, đâu đâu cũng ào ào phản đối. Có mấy ai trong xóm Ba Ðình được đồng bào chiếu cố như vậy?

Ông Nguyễn Phú Trọng nói thế này: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức...” Và ông mô tả tình trạng “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức” gồm bốn triệu chứng: (1) muốn bỏ điều 4 Hiến Pháp; (2) phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản, muốn đa nguyên đa đảng; (3) muốn thực hiện tam quyền phân lập; (4) muốn quân đội chỉ phục vụ đất nước, không lệ thuộc đảng Cộng sản.

Trưng ra bằng chứng rồi, ông Nguyễn Phú Trọng nói: “Người ta đang có những quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy.” Và ông kết luận: “Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa?” Chứ còn gì nữa? Nghe ai cũng phải bật cười. Chứ còn gì nữa? Thảo nào dân Hà Nội vẫn gọi ông là Trọng Lú.

Ngoài những bằng chứng suy thoái tư tưởng, đạo đức trên, ông Trọng còn thấy đạo đức chính trị suy thoái cả trong hành động của dân nữa: “Tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể... thì đó là cái gì (nếu không phải là suy thoái)?” Ông Nguyễn Phú Trọng bảo vệ bốn không: Không bỏ điều 4 độc quyền; không đa nguyên đa đảng; không phân quyền; và không cho quân đội thoát ra ngoài bàn tay kiểm soát của đảng Cộng sản.

Người lên tiếng phản đối đầu tiên là nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên. Phát pháo đầu của Nguyễn Ðắc Kiên vừa nổ đã vang động bốn phương. Nhờ bài của ông Kiên mà nhiều người mới biết chủ nghĩa bốn không của ông Trọng. Bình thường thì những người ngồi nghe đều đang mơ màng ngủ gật, hoặc đang nghĩ đến những quả sắp đánh ra tiền; có ai nghe ông Trọng nói gì đâu? Nếu người nào vô tình để mấy lời ông nói lọt vào tai thì chắc họ cũng chỉ chép miệng, lắc đầu: “Lại lú rồi!”

Ông Nguyễn Ðắc Kiên nói thẳng vào mặt: “Ông là tổng bí thư Ðảng Cộng sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ ‘suy thoái’ thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói về (với) những người đang là đảng viên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước.” Ông Kiên nói rõ “đang là đảng viên,” vì biết bây giờ nhiều đảng viên cộng sản trong lòng đã bỏ đảng từ lâu rồi.

Trong số các đảng viên đang nhờ đảng mà trục lợi, ai quên chủ nghĩa bốn không tất nhiên là “suy thoái” - chứ còn gì nữa? Bởi vì lập trường bốn không bảo đảm họ bám chặt quyền hành mà chia sẻ lợi lộc. Còn đảng còn mình. Mất đảng đi về đâu?

Nhưng còn người dân Việt bình thường, có ai muốn kéo dài chế độ tham nhũng, bất công, kinh tế trì trệ và nô lệ ngoại bang như hiện nay hay không? Chắc chắn không ai muốn!

Một ngày sau khi đưa bài lên mạng, ông Nguyễn Ðắc Kiên đã bị báo Gia Ðình & Xã Hội thi hành “kỷ luật, buộc thôi việc.” Nhà thơ Nguyễn Ðắc Kiên thật can đảm. Trước khi lên tiếng, chắc ông phải biết sẽ mất việc. Nước Việt Nam sẽ không bao giờ mất vào tay “Tàu lạ” là vì có những người dân Việt can đảm như vậy. Từ thời Hai Bà Trưng đã như thế: Nhưng hào kiệt đời nào cũng có! (Nguyễn Trãi)

Một người khác nhắc đến chủ trương bốn không của ông Nguyễn Phú Trọng là Nguyễn Hữu Vinh. Ông thẳng thắn bác bỏ “Xin thưa, đó không phải là suy thoái về đạo đức” của người dân Việt Nam, “mà đó là sự suy thoái uy tín, vị trí của (chế độ) độc tài, tham nhũng.”

Nhưng Nguyễn Hữu Vinh còn nhìn thấy đảng Cộng sản gần đây đã giăng một cái bẫy khi cho dân góp ý kiến về sửa đổi Hiến Pháp, nhấn mạnh: “Không có cấm kỵ khi góp ý sửa Hiến Pháp.” Ðây là một thủ thuật, như Mao Trạch Ðông đã dùng khi phát động phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng nói.” Ðể ai nói ý kiến thật đều bị nhận diện rồi bị đày đọa từ đời cha tới đời con.

Nhưng Nguyễn Hữu Vinh thấy cái bẫy đó gây phản ứng ngược. Bao nhiêu người lên tiếng đòi trong Hiến Pháp phải bỏ điều số 4 về độc quyền lãnh đạo của đảng, đòi tam quyền phân lập. Ðảng Cộng sản trông thấy nguy cơ; biết cứ đà này thì phong trào đòi sửa Hiến Pháp sẽ ngày càng mạnh, vận mệnh đảng lâm nguy! Cho nên, ông Nguyễn Phú Trọng phải đứng ra ngăn chặn bằng “bốn điều cấm kỵ,” 4 cái không! Nguyễn Hữu Vinh khen: “Cái ông tổng bí thư này quả là thâm hậu, thế mà dân gian cứ tặng cho ông xú danh là Lú thì quả không hẳn đúng.”

Nhưng khi dân Hà Nội đặt bài ca dao có câu “Lú như Trọng,” chắc họ không nhầm. Nếu ông Trọng không lú thì chẳng lẽ đất Thăng Long ngàn năm văn vật toàn dân lú cả hay sao? Bởi vì trong câu chuyện này, nếu ông Trọng không lú trong chuyện nhỏ, thì vẫn lú trong những chuyện lớn hơn.

Chuyện nhỏ là địa vị ngon lành của đảng, bỏ mất thì rất uổng! Cho nên phải bám chặt, phải đóng chốt, phải bảo vệ đến cùng! Cái này, quả thật ông Nguyễn Phú Trọng không lú.

Ông Trọng lú lẫn trong những chuyện lớn hơn. Cái Lú Lớn thứ nhất là không biết thế nào là tiến bộ, thế nào là suy thoái. Có những tiến bộ loài người mới chỉ đạt được trong vài thế kỷ vừa qua, trong đó có những quy tắc như “Tam quyền phân lập,” hay là quân đội thuộc về toàn dân, phải độc lập với các đảng chính trị. Nhiều dân tộc đã thực hiện được các quy tắc đó, họ đều hãnh diện. Nhũng thứ đó mà ông Nguyễn Phú Trọng lại gọi là suy thoái! Lú đến như thế thì xứng danh là Lú Lớn, dịch sang tiếng Trung Quốc là Ðại Lú!

Cái Lú Lớn thứ nhì là không biết chính cái đảng Cộng sản của ông nên chọn con đường nào để hạ cánh an toàn, cứ bám víu lấy một chủ trương tuyệt vọng sẽ đưa nhau vào chỗ chết. Hiện nay đảng Cộng sản có ba đường để chọn, theo ba mô hình: Ðài Loan, Liên Xô, hay Rumani.

Làm theo lối Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan tức là thi hành ngay các quyền tự do lập hội, lập đảng, quyền tự do phát biểu; khuyến khích tư doanh; chấp nhận có các công đoàn tự do, các đảng chính trị đối lập; tự dưng xã hội công dân sẽ phát triển, họ sẽ giúp chấn dân khí, khai dân trí và vụ dân sinh. Theo mô hình Ðài Loan thì chắc chắn phải đoạn tuyệt với chủ nghĩa bốn không của Nguyễn Phú Trọng!

Mô hình Liên Xô là tạo ra một Boris Yeltsin. Có lẽ Yeltsin hiểu rõ bản chất của đảng Cộng sản hơn chúng ta nhiều, thấy không theo nổi con đường Ðài Loan, nên đã thú nhận: Ðảng Cộng sản chỉ có thể thay thế, không thể thay đổi. Theo lối Yeltsin thì xóa đi làm lại hết; giải tán ngay đảng cộng sản; những đảng viên nào còn quyến luyến cứ đi lập lại đảng với nhau.

Nếu không theo hai đường Ðài Loan và Liên Xô thì chỉ còn Mô hình Rumani, tức là bảo vệ độc quyền lãnh đạo đến cùng, quyết tâm sẽ “về với Marx, Engels, Lenin và Nicolae Ceauescu.” Cái Lú Lớn của ông Nguyễn Phú Trọng là đang dẫn đảng ông theo mô hình Rumani bằng chủ trương bốn không.

Chúng ta có thể hiểu tại sao ông Trọng chọn con đường bốn không. Cả đời ông chỉ được học bấy nhiêu thôi. Giống như một con ngựa đã được hai miếng da che kín hai bên mắt, chỉ còn nhìn thấy địa vị và quyền lợi bày ra trước mặt, khó nhìn thấy đường nào khác.

Ðiều đáng tiếc là ông còn mắc vào một cái Lú Lớn hơn nữa, mà cái này có thể tránh được. Cái Lú Lớn nhất của ông Nguyễn Phú Trọng và những người theo chủ trương bốn không bây giờ, là họ khinh thường dân tộc Việt Nam.

Có lẽ nào người Việt cứ để cho một đám sâu mọt gậm nhấm tài nguyên quốc gia mãi như thế này được? Lẽ nào người Việt cứ chịu mãi cảnh thua kém các nước khác, từ Mã Lai tới Miến Ðiện? Lẽ nào người Việt cứ chịu mãi nỗi nhục bị Tàu lạ tấn công, người lạ đến cướp rừng, cướp biển? Lẽ nào người Việt khi muốn làm lễ tưởng niệm những người lính chết năm 1979 vì chống quân xâm lăng lại bị cấm đoán? Cấm đoán họ tưởng niệm không những là khinh rẻ người đang sống mà còn khinh cả những người đã chết; người dân nước nào chịu mãi như thế được?

Nhiều người Trung Hoa biết kính trọng dân Việt Nam hơn. Trong bài trước, mục này nhắc đến Tiết độ sứ Tăng Cổn cuối đời Ðường, với hai câu thơ “Việt điện sơn xuyên” đối với “Ðường gia nhân vật.” Trong bài thơ đó ông còn so sánh Nước Nam với xứ Thục (Tứ Xuyên bên Tàu) với hai câu: “Hiệu Nam quốc chi giang san - Thắng thần long vu Thục địa” (nghĩa là: Giang sơn nước Nam này hơn hẳn rồng thần đất Thục.)

Nếu như ông Nguyễn Phú Trọng biết đọc thơ thì chắc ông lú đến nỗi không khinh rẻ người Việt như vậy. Nếu đọc thơ, ông sẽ biết thi sĩ Nguyễn Ðắc Kiên viết mấy câu thơ như vầy:

“lũ quỷ ám thừa cơ toàn trị,

khủng bố dã man, gieo rắc những kinh hoàng,

biến lẽ sống thành châm ngôn ‘mày phải sợ’”


Nhà thơ không biết sợ cho nên bật lên lời nói thẳng. Ông bị mất việc làm ngay. Nhưng sau đó viết thư cho mọi người ông lại yêu cầu đừng ai đả kích tờ báo đã cho ông thôi việc, họ không có cách nào khác, tội nghiệp. Ðó là cách cư xử cao thượng theo đạo lý người Việt Nam. Không lẽ một dân tộc sống như vậy mà lại chịu làm tôi mọi cho một đảng bất lực và tham nhũng mãi?

Người Việt Nam sẽ lắng nghe những lời tâm huyết trong thơ Nguyễn Ðắc Kiên:

“còn chần chừ gì mà không tỉnh dậy mau,
sống cho xứng danh xưng con người trên mặt đất!”
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên mất việc, nhưng được lòng người khắp nơi

HÀ NỘI (NV) - Nhà báo trẻ tuổi Nguyễn Ðắc Kiên bị báo Gia Ðình và Xã Hội đuổi việc chưa đầy 24 giờ sau khi ông phổ biến
trên mạng xã hội facebook phản ứng của ông chê ông Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng “không đủ tư cách.”

Image
Nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên. (Hình: Từ mạng facebook )


Tuy nhiên, tràn ngập trên các mạng xã hội và trang nhà thông tin trên Internet là những lời ca ngợi Nguyễn Ðắc Kiên, 30 tuổi, can đảm, anh hùng, không vì miếng cơm manh áo mà giấu đi điều suy nghĩ thật của mình, và cũng là suy nghĩ của quảng đại quần chúng.

Một số ý kiến còn khuyên Nguyễn Ðắc Kiên kiện báo Gia Ðình và Xã Hội sa thải anh ngày 26 tháng 2, 2013 vì tờ báo đã làm trái luật lao động ở Việt Nam.

Trên blog “Ba Cừu” (http://dackien.wordpress.com/) của Nguyễn Ðắc Kiên ngay khi vừa có bài viết “Vài lời với TBT ÐCS VN Nguyễn Phú Trọng” khoảng vài chục người bày tỏ sự thán phục anh.

Khi tới “chỉ đạo” một hội nghị ở tỉnh Vĩnh Phúc ngày 25 tháng 2, 2013, ông tổng bí thư đảng CSVN gọi những người đòi chế độ Hà Nội bỏ điều 4 Hiến Pháp (dành độc quyền cai trị cho đảng CSVN) là “suy thoái đạo đức.”

Nhưng nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên nói ông Trọng “không đủ tư cách” nói điều đó với nhân dân Việt Nam vì ông không phải là người nói lên điều suy nghĩ thật của quảng đại quần chúng.

Một người có biệt danh “NHAN DAN” viết: “Cảm ơn anh Ðắc Kiên, anh đã nói lên tâm tư của đại đa số nhân dân.”

Một người tên “Ngoc Huynh” viết: “Xin cảm ơn anh vì đã nói hộ cho rất nhiều người, trong đó có tôi. Chúc anh luôn vững vàng trên mọi ngả đường.”

Một người tên “huong son viết: “Không phải ai cũng dám nói như vậy... bái phục... bái phục. Có những người biết là như zậy nhưng không dám nói vì sao? Vì miếng cơm manh áo. Vì QUYỀN+LỢI+ÐỊA VỊ. Với anh, tôi chỉ dám nói khâm phục.”

Người với bút danh Paramita viết: “Như anh ÐK, thế mới thật là nhà báo, không phải con cừu.”

Người có bút danh Nguyễn Hoàng Ngọc viết: “Không có một lời phản đối nào, anh đã nói tất cả những gì tôi muốn nói, nhưng không đủ can đảm để nói ra thôi. Tôi tin tưởng rằng chân lý rồi sẽ chiến thắng, nước Việt Nam muôn đời là của người Việt Nam, không phải của riêng một cá nhân, hay tổ chức nào, chân thành cảm ơn anh, một con người dũng cảm!”

Trên trang mạng Dân Làm Báo, một người với bút danh OBAMALYSON viết: “Anh Ng. Đắc Kiên ơi. anh là một người là một người đầy can đảm và đáng để nhiều người đảng viên “học tập và làm theo tư tưởng nhà báo tự do Ng. Đắc Kiên.” Anh hãy vui mừng vì điều đó vì anh sẽ được sử sách lưu danh anh khi một chế độ Hồ Tặc đã đến lúc kết thúc.”

Người có bút danh DIENBIENHOABINH viết: “Anh đã vụt chói sáng trên bầu trời Việt Nam, anh đã tiếp bước CÙ HUY HÀ VŨ, NGUYỄN HỒNG SƠN, NGUYỄN VĂN ÐÀI, LÊ THỊ CÔNG NHÂN... những người con ưu tú của đất mẹ Việt Nam. có lẽ sau giới luật sư giờ đây Hà Nội bắt đầu lo sợ cánh nhà báo, họ ngày càng mạnh bạo và khao khát tự do hơn bao giờ hết.

Tự Do là một cái gì đó hấp dẫn vô cùng, lấp lánh còn hơn kim cương. Ðây là thứ mà con dân Việt Nam ngày đêm mong chờ, nên khi Nguyễn Ðắc Kiên bắn phát pháo hiệu tấn công tất cả chúng ta những người mong chờ Tự Do cảm thấy phấn chấn vô cùng. Nhưng anh cũng đã nói ‘mọi chuyện chỉ mới bắt đầu, con đường chông gai còn ở phía trước’ vâng anh cứ yên tâm trên con đường chông gai ấy anh không đơn độc sẽ có chúng tôi đồng hành với anh.”

Còn một người có bút danh hq74 viết: “Thực sự tôi đã ngấn lệ do vì quá cảm phục sự dũng cảm của anh bạn này.”

Trên blog của ông, Nguyễn Ðắc Kiên đã khiêm tốn rào đón là “dù có chuyện gì xảy ra, tôi chỉ mong các bạn hiểu cho một điều, tôi không muốn là anh hùng, không muốn là thần tượng. Nước ta đã có nhiều anh hùng, nhiều thánh thần quá rồi. Tôi sợ. Tôi chỉ nghĩ rằng, khi đất nước ta có tự do, dân chủ, các bạn sẽ thấy rằng, các bài viết của tôi là rất bình thường, nó thật sự bình thường, không có gì to tát cả.” (N.T.)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest