Thời Sự, Bình Luân

dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Cấm Dân Có Súng

Tác giả : Vi Anh
Cấm dân sỡ hữu súng, là điều chánh quyền dân cử Mỹ phải làm ngay. Nếu không những vụ thảm sát ở trường học và tự sát bằng súng giết hại công dân Mỹ tỷ lệ cao nhứt thề giới sẽ còn dài dài.

Thực vậy, thật không thể tưởng tượng được trên đời này lại có một thanh niên mới 20 tuổi, mà võ trang ba cây súng, một tiểu liên, hai súng ngắn, bắn nát mặt mẹ mình, rồi chạy đến một trường tiểu học nơi mẹ thường dạy, không nói một lời xả súng bắn một hơi giết 20 học sinh, và 6 viên chức trong đó có vị hiệu trưởng. Như cuộc thảm sát ở trường Sandy Hook, Thành Phố Newtown, tiểu bang Connecticut, vào ngày 14-12- 2112.

Thật tàn bạo hơn dã thú ăn thịt người, cọp beo, rắn độc cũng không giết mẹ. Thật dữ tơn, phi nhơn hơn trò chơi điện tử giết người máu đổ thịt rơi mà đạo diển hoang tưởng, bạo hành nhứt cũng khó có thể, không dám làm ra để tạo hấp dẫn bán cho chạy, kiếm tiền nhiều.

Nhưng chuyện không có thể tưởng tượng được đó lại xảy ra ở Hoa Kỳ, đệ nhứt siêu cường thế giới. Không phải chỉ mới xảy ra lần đầu, mà xảy ra nhiều lần, nhiều nơi, nhiều vụ, khắp bốn phương tám hướng của Hoa Kỳ.

Ngoài vu nói trên với Adam Lanza mới 20 tuổi, đã dùng ba khẩu súng, giết mẹ, rồi giết 20 học sinh từ 5 đến 10 tuổi và 6 nhân viên trường xong rồi tự sát, còn nhiều vụ tương tự nữa ở Mỹ. Năm 1999 xảy ra vụ xả súng tại Trường phổ thông Columbine ở Littleton, Colorado khiến 15 học sinh thiệt mạng. Năm 2007, 32 sinh viên và nhân viên trường bị tàn sát ở Trường đại học Kỹ thuật Virginia.

Ba cây súng mà Adam Lanza dùng để tàn sát mẹ và 20 học sinh và 6 nhân viên nhà trường là súng của người mẹ mua một cách hợp pháp để ở nhà và giữ nhà.

Nước Mỹ dân số ltrên 300 triệu người nhưng có 200 triệu cây súng. Và số người chết bằng súng nhưng không phải do chiến tranh ở Mỹ tỷ lệ cao nhứt thế giời. Năm 2009, ở Mỹ có 31,000 nạn nhân chết vì súng và 18,000 vụ tự tử bằng súng.

Vụ thảm sát ở trường Sandy Hook, thành Phô Newtown, tiểu bang Connecticut, vào ngày 14-12- 2112 mới đây làm rúng động Mỹ và thế giới. Tổng thống Obama nhiều lần chảy nước mắt khi chia buồn, coi như quốc tang, ra lịnh cơ quan treo cờ rũ.

Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-Moon nói đó là một «hành động hận thù». Tổng thống Pháp François Hollande và Thủ tướng Anh David Cameron đã gửi thư chia buồn với Mỹ.

Truyền thông đại chúng Mỹ nói chung xúc động, lần đầu tiên đặt vấn đề cấm mua bán vũ khí tại Mỹ. Báo Guardian kêu gào bằng tựa hàng đầu: "Nếu không phải là bây giờ thì khi nào là thời điểm thích hợp để bàn về kiểm soát súng đạn".

Thị trưởng New York, ông Michael Bloomberg, người có lập trường độc lập, kêu gọi TT Obama nhanh chóng «đưa một dự luật cấm vũ khí» qua Quốc hội.

TT Obama với tư cách là người cha của hai con gái, ông Obama gọi vụ xả súng "là một tội ác ghê tởm" và thề sẽ thúc đẩy những hành động thiết thực, bất chấp các vấn đề chính trị, để ngăn chặn những vụ xả súng không xảy ra trong tương lai. "Chúng ta đã phải chịu đựng quá nhiều bi kịch như thế này trong những năm qua". Tổng thống Obama ra lệnh tất cả các cơ quan nhà nước phải hạ cờ xuống, coi đây là một quốc tang.

Đã đến lúc người Mỹ nói chung không phân biệt Cộng Hoà hay Dân Chủ, bảo thủ hay cấp tiến, đen, trắng, vàng, trên tất cả là người Mỹ phải biến đau thương thành hành động: bãi bỏ điều 2 Hiền Pháp, cấm người dân, vì an ninh và trật tự của nước Mỹ, vì an toàn cho sinh mạng người dân Mỹ nhứt là trẻ em vô tội, phải cấm mua bán và sỡ hữu vũ khí trong xã hội Mỹ. Dù thủ tục tu chỉnh hiến pháp khó khăn, nhiêu khê, dai dẵng, dông dài đến đâu đi nữa; dù thế lực chống đối của những tay làm súng, bán súng mạnh thế nào đi nữa; dù binh đoàn vận động hành lang của giới sản xuất súng và mua bán súng có tung bao nhiêu tiền, tình, thế đề vận động chống đi nữa -- những người đại diện dân cử, những công dân có trách nhiệm với tương lai nước Mỹ cũng phải vượt qua.

Nếu không sẽ bị mang tiếng là vô trách nhiệm với người dân và tiền đồ của nước Mỹ. Nếu bất động là đồng loã với bọn gian ác coi đồng tiền lời làm và bán súng quí hơn mạng sống của trẻ em đầu xanh vô tội mà bị tàn sát một cách oan uổng, bời súnng của những tay tài phiệt, đại gia này làm và bán ra.

Đứng trên phương diện thực tiễn và học lý, đã biết Hiền Pháp Liên bang Mỹ điều số 2 có qui định người dân có quyền võ trang súng đạn để phòng thân và bảo vệ quốc gia. Quyển hiến định này những nhà lập hiến ghi vào hiến pháp vì tình hình mới lập quốc, công dân Mỹ còn đang khai khẩn nhiều vùng đất mới, cần có súng để giữ nước, giữ nhà là hợp lý, hợp tình. Nhưng bây giờ tình hình hoàn toàn khác, nước Mỹ “bốn phương phẵng lặng hai kinh vững vàng”. Việc bảo quốc an dân của quân đội, cảnh sát, biên phòng, nhân viên công lực rất hữu hiệu. Không có kẻ phạm pháp, kẻ thù nào đụng tới nước Mỹ mà không bị quân lực, cảnh lực Mỹ lôi ra ánh sáng công lý - chết hay sống như TT Bush nói.

Điểu 2 của Hiến Pháp bây giờ coi như lỗi thời. Nó đang bị các nhà sản xuất, mua bán, súng và binh đoàn vận động hành lang của họ, vì họ, do họ cộng với một số nhà báo và công dân bảo thủ núp dưới danh nghĩa và hình thức hiến pháp để lợi dụng, chống lại việc tu chỉnh hay hủy bỏ điều 2 ấy - hoàn toàn vì quyền lợi riêng của họ.

Một vấn đề ai cũng thấy cần làm ngay để tránh cho người Mỹ nhứt là học sinh, sinh viên đầu xanh vô tội khỏi chết oan. Không lý do gì không làm. Ước nguyện, mong muốn của đa số người dân Mỹ chánh trực là muốn quí vị Thượng Nghị sĩ, Dân biểu liên bang sớm bắt tay vào việc hủy bỏ điều 2 Hiến Pháp để các tiểu bang xét phê chuẩn.

Thủ tục sẽ khó khăn, rườm rà, lâu dài, nhiều áp lực chống đối đó. Nhưng luật kể cả hiến pháp là luật cao nhứt cũng do con người làm, mà ngươi làm được là sửa được, miễn quyết làm, quyết chí, bền lòng chặt dạ phục vụ nhân dân. Chánh quyền Mỹ theo hiến pháp là chánh quyền của dân, vì dân, do dân. Trước một tai hoạ lập đi lập lại liên tục, trầm trọng mà dân biểu, nghị sĩ, tổng thống không làm là có tội với nhân dân, là đồng lõa với điều ác./.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Chất lượng cuộc sống người dân TP.HCM: Giàu, nghèo đều khóc

Lê Quỳnh
(SGTT.VN) - Trong cùng một cái bánh thu nhập thì 20% người giàu được “xơi” tới 60%; người khá giả được “xơi” 16,6%; người nghèo chỉ 4,3%... Tuy vậy, dù giàu hay nghèo thì họ đều đang cùng có một đời sống u ám, phập phồng; trên 90% người dân đồng ý “đạo đức xã hội ngày càng kém đi, ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng”.

Trên đây là những thông tin được đưa ra tại hội thảo khoa học Chất lượng cuộc sống người dân TP.HCM trong bối cảnh kinh tế hiện nay, do viện Nghiên cứu phát triển tổ chức hôm qua 20.12.


Bức tranh chất lượng sống u ám

Theo TS Nguyễn Hữu Nguyên, trung tâm Nghiên cứu kinh tế miền Nam, TP.HCM hiện có hơn 10 triệu người dân, với 20 nhóm ngành nghề. Dù khác nhau về thu nhập và nhu cầu hưởng thụ, nhưng họ đều cùng bị ba yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống, gồm: kinh tế suy giảm; môi trường xã hội, ô nhiễm môi trường sống và cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, xét đến cùng, so với nhóm người thu nhập cao và trung bình, thì nhóm người nghèo và nhóm yếu thế bị tác động, tổn thương nhất bởi cả ba yếu tố trên.

Theo đó, hầu như tất cả tiêu cực xã hội đều ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của họ, vì họ không có tiền để “bôi trơn” nên gặp rất nhiều phiền hà khi cần giải quyết vấn đề liên quan đến pháp luật, thủ tục hành chính, giấy tờ, chứng nhận. Cũng vì không có các tiện nghi tốt để khắc phục và thích nghi nên nhóm người này cũng phải chịu ô nhiễm môi trường, khói bụi, tiếng ồn, ngập úng ở tất cả các không gian sống, từ đi lại trên đường phố đến nơi làm việc, cư trú và nghỉ ngơi.

90% người dân đồng ý “đạo đức xã hội ngày càng kém đi, ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng”. Ảnh: Trần Việt Đức

Còn nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thuỵ Diễm Hương, trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM cho thấy: “đời sống tinh thần và vật chất của người công nhân nhập cư đang ở mức “rất thấp”. 58% công nhân thu nhập từ 2 – 3 triệu đồng; gần 40% thu nhập dưới 2 triệu đồng; trong đó trên 34% chi tiêu ở mức thấp dưới 1 triệu đồng/tháng; trên 40% chi tiêu từ 1-2 triệu đồng/tháng. Trên 70% công nhân sống nhà trọ với điều kiện chật hẹp, thiếu ánh sáng, nước sạch... Môi trường làm việc cũng không đảm bảo, với trên dưới 40% phải làm việc trong điều kiện nóng nụi, tiếng ồn, thậm chí nguy hiểm... Đời sống văn hoá công nhân thì “không phim ảnh, sách báo, giải trí, kết bạn...”

Tuy nhiên, bức tranh chất lượng sống u ám này còn được các nhà khoa học cho thấy ở tầng lớp người giàu, thu nhập cao. Nghiên cứu của TS Lê Thị Mai, trường đại học Tôn Đức Thắng cho thấy, nhóm doanh nhân trên địa bàn thành phố hiện nay dù thu nhập cao nhưng chất lượng sống đang ở mức xung đột lớn ở thời gian, công việc và hành vi. Họ đều dễ bị căng thẳng, áp lực cao do những xung đột công việc ở môi trường làm việc đa văn hoá, gồm những nhóm xã hội khác nhau hướng đến những giá trị khác nhau. ThS Phạm Thanh Thôi, trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM cho biết, nghiên cứu ở khu Phú Mỹ Hưng liên tục trong ba tháng cho thấy “người giàu cũng khóc”. Dù đời sống vật chất người dân ở đây cao nhưng đời sống tinh thần của họ lại nhiều vấn đề, khổ sở, từ chất lượng cuộc sống gia đình đến đời sống văn hoá...

Ra đường là sợ

Theo bà Nguyễn Thị Dân, sở Lao động – thương binh và xã hội TP.HCM, quản lý Nhà nước hiện quá yếu kém, tương tự là vấn đề an sinh xã hội. “Ngày xưa đời sống tinh thần chúng tôi tốt lắm, mọi người yêu thương, đùm bọc nhau, tin tưởng nhau. Nhưng nay ra đường là sợ, an ninh trật tự không đảm bảo, dân e dè với nhau; cơ chế chính sách kinh tế, xã hội đáng ra phải đảm bảo nhưng hiện không thuyết phục và trúng lòng dân”, bà Dân nói.

Theo bà Hồ Tố Anh, học viện Chính trị hành chí khu vực 2, vấn đề hạn chế trong hưởng thụ những giá trị văn hoá, nghệ thuật của người dân hiện nay đang là một thiệt thòi lớn trong việc nâng cao nội lực, nuôi dưỡng đời sống tinh thần, tâm hồn cho cá nhân. “Người công dân đô thị đang thiếu cả tri thức và kỹ năng tiếp cận văn hoá, nghệ thuật. Đặc biệt là sự chênh lệch quá xa giữa các quận trung tâm với quận huyện vùng ven như: Thủ Đức, quận 9, 12, Cần Giờ, Nhà Bè, Củ Chi, Hóc Môn...”, bà Anh kết luận.
36% người dân hài lòng với công việc hiện tại

Nghiên cứu của GS Bùi Thế Cường chỉ ra một bức tranh rất buồn: “trong cùng một cái bánh thu nhập thì 20% người giàu được “xơi” tới 60% cái bánh; người khá giả được “xơi” 16,6%; người nghèo chỉ 4,3%... trên 90% người dân đồng ý “đạo đức xã hội ngày càng kém đi, ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng... “Chỉ 36% người dân hài lòng với công việc hiện tại, dưới 50% hài lòng với cuộc sống gia đình... TP.HCM đang ở mô hình nào theo bình đẳng xã hội?”, là câu hỏi mà ông Cường day dứt đặt ra.

TS Lê Thanh Tùng, đại học Tôn Đức Thắng cho biết: "chất lượng đời sống đi lên chỉ khi thu nhập khả dụng (gồm yếu tố tiêu dùng và tiết kiệm) phải đi lên. Nhưng nghiên cứu lại cho thấy tiêu dùng ở thành phố đang ở mức 1,9 (trong khi thế giới chỉ ở mức 1), còn tiết kiệm lại đang ở mức âm. Thu nhập 1 đồng, nhưng tiêu dùng quá 1 đồng. Đây là điều rất bất thường. Chưa kể sức mua ở hộ gia đình trên địa bàn thành phố đang cạn kiệt."

Đồng tình với nhận định chất lượng cuộc sống người dân ngày càng đi xuống, ông Huỳnh Công Hùng, trưởng ban Văn hoá, HĐND thành phố cho rằng: "quản lý quy mô của thành phố đang có vấn đề. Những vấn đề xã hội hiện nay nếu không được nghiên cứu thì khó đảm bảo cho an sinh, an ninh xã hội."

Lê Quỳnh
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Tận Thế Qua Rồi

Tác giả : Trần Khải

Vậy là qua rồi. Tận thế không xảy ra. Mọi chuyện vẫn bình thường. Mưa thuận gió hòa nhiều nơi trên thế giới, chỉ trừ tuyết ngập miền Trung Tây Hoa Kỳ làm hoãn, huỷ bỏ nhiều chuyến bay.

Nhưng tuyệt vời là tại quê nhà, mọi người đều xem chuyện tận thế như một dịp để mở tiệc uống bia. Không thấy ai lo sợ -- tất nhiên, chỉ trừ những nỗi lo thường ngày về kinh tế, về mất mùa, về nợ xấu kinh doanh, về thất nghiệp... nhưng các mối lo này không phải là chuyện tận thế, vì ai cũng biết “nỗi lo thiên đàng xã hội chủ nghĩa” đó vốn vừa là bản chất, vừa là hiện tượng của đất nước thời Hồ+ vậy.

Tuy nhiên, một thiên đàng xã hội chủ nghĩa khác lại sôi động chuyện tận thế và do vậy, công an liền biểu diễn màn bạo lực chuyên chính.

Bản tin RFI kể rằng tại Trung Quốc, có gần 1.000 thành viên giáo phái bị bắt. RFI kể:

"Theo tờ Tân Kinh báo xuất bản tại Bắc Kinh hôm nay 20/12/2012, gần một ngàn tín đồ của giáo phái «Thượng đế toàn năng», một giáo phái Thiên chúa giáo đã tiên đoán nhiều tai họa sẽ diễn ra vào ngày tận thế theo lịch của người Maya ngày 21/12, đã bị bắt tại nhiều tỉnh của Trung Quốc.

Ngoài 400 người đã bị bắt tại tỉnh Thanh Hải hôm thứ Ba 18/12, có 357 thành viên khác của giáo phái trên «là đối tượng bị điều tra và đã bị trừng phạt» tại Quý Châu, một tỉnh nghèo ở miền tây nam.

Cũng theo Tân Kinh báo, thì 37 tín đồ cũng đã bị bắt ở thành phố Phật Sơn gần Quảng Đông, trong đó có 27 người bị tống giam; và mấy chục thành viên khác bị câu lưu ở thành phố Vô Tích tỉnh Giang Tô, trong số đó 11 người vẫn đang bị giam giữ. Nhiều vụ bắt bớ khác cũng diễn ra ở Nội Mông, Giang Tây, Phúc Kiến và Tân Cương.

Tân Kinh báo cho biết thêm, Thượng đế toàn năng được thành lập vào đầu thập niên 90 ở Hà Nam, bị xếp vào danh sách các giáo phái cấm hoạt động từ năm 1995, và người sáng lập là Triệu Vệ Sơn (Zhao Weishan) đã bỏ trốn sang Mỹ..."(hết trích)

Cũng lạ, điều để suy nghĩ: có thể tại Việt Nam cũng có những người giáo pháí này, hay giáo phái tương tự bị công an bắt, nhưng tin bị ém, không ai biết? Vì một thời đã có những tin đồn này, tin đồn kia... và rồi nhiều tín đồ một số giáo phái Cơ Đốc đã "tụ tập chờ đợi" và rồi bị công an truy bắt.

Không lẽ dịp thế giới sôi nổi chuyện tận thế mà tại Việt Nam laị êm ru bà rù?

Báo Dân Trí đã kể chuyện tuổi trẻ VN đón tin này tưng bừng, không lo lắng gì. Bản tin tưạ đề “Dân mạng đón "tận thế" vui như đón... Tết” đã kể:

“Từ đêm qua tới sáng nay (21/12), cư dân mạng đã trải qua nhiều cung bậc cảm xúc vì "tận thế", từ hồi hộp theo dõi từng phút như đón giao thừa cho tới thất vọng vì không thấy "tận thế" đâu.

Đêm qua, hàng nghìn người đã thức trắng, đón đợi "cái kết của loài người", hay còn gọi là "Ngày tận thế". Trên các diễn đàn, các bạn trẻ đua nhau lập chủ đề bàn tán về các kiểu tai nạn, đại hoạ mà loài người có thể gặp phải. Mạng xã hội Facebook cũng tràn ngập các dòng status (trạng thái) nói về tin đồn “tận thế”.

Cộng đồng mạng chăm chú lắng nghe động tĩnh từ khắp nơi trên thế giới. Thậm chí, nhiều người còn đếm ngược từng phút tới thời khắc 0h ngày 21/12. Ngay tại thời điểm này, sắc màu của "ngày tận thế" vẫn đang bao trùm Facebook.

Tuy nhiên, điều kì lạ là trong giờ phút "tận thế", cư dân mạng Việt Nam lại tỏ ra háo hức khác thường, thay vì lo lắng, căng thẳng. Bầu không khí nhộn nhịp này khiến cho nhiều người liên tưởng tới thời khắc Giao thừa, đón Tết hàng năm.

Nhưng cũng do kỳ vọng quá nhiều nên cư dân mạng càng thất vọng khi tới tận sáng nay 21/12, vào thời điểm 10-12h theo như tính toán (cộng lệch múi giờ) của một số người, vẫn chưa có hiện tượng gì đặc biệt xảy ra tại Việt Nam...”(hết trích)

Nhưng tuyệt vời là một bài phân tích trên báo Xã Luận về thế tận của túc cầu VN.

Bài viết tưạ đề “Bóng đá Việt trong ngày “tận thế”...” viết, trích:

“Hôm nay là một ngày không như mọi ngày. Ngày mà cả thế giới đang bán tín bán nghi có hay không ngày tận thế, theo dự đoán của người Maya. Nếu đúng, có nghĩa, tất cả trở về số 0, với cát bụi...

...Bây giờ nói đến chuyện thể thao. Bóng đá ta đang phải trả giá sau 12 năm chuyên nghiệp phát triển chỉ thiên về khai thác, tận thu, thay vì luôn chăm sóc, tái tạo để cơ thể nền bóng đá chuyên nghiệp phát triển tỷ lệ thuận.

Nhiều đội bóng truyền thống thực sự đã rơi vào tình trạng “tận thế”, hoặc đang hành trình trở về với số 0. Nhiều cầu thủ cũng đang trả giá, khi không biết quý trọng cái nghề của mình. Giờ đây, nghề cầu thủ đã không còn hái ra tiền, không còn là niềm mơ ước của bao ông bố, bà mẹ.

Các hot girl hẳn nhiên cũng phân vân nếu như phải có sự lựa chọn giữa anh cầu thủ và chàng kỹ sư. Ai đó ví von so sánh, V-League nói chung đang trở về vạch xuất phát năm 2000, cũng không phải là quá lời.

Hôm nay ngày tận thế ư? Điều đó không quan trọng và bất hạnh bằng việc dù vẫn sống, nhưng đang phải lầm lũi trên hành trình trở về với số 0...”(hết trích)

Bùi ngùi cho nền bóng đá Việt đang mấp mé (hoặc đã vào?) hố sâu tận thế.

Dịp này, cũng gợi nhớ rằng mấy tháng trước, trên trang Dự đoán kinh tế VN, đã có bài viết tựa đề “Ngày tận thế của kinh tế Việt Nam đang tới gần” đăng ngày 30-9-2012, trong đó nhìn “tận thế” nghĩa là kinh tế sụp đổ, trong đó có dẫn ra vài vụ:

“...Ngày 28/09/2012, cơ quan xếp hạng tín dụng Moodys tuyên bố đánh sụt hạng tín dụng 8 Ngân hàng TMCP của Việt Nam xuống hạng Caa1 và mức tín nhiệm quốc gia Việt Nam xuống mức B2...

Nhưng VN bị xuống B2, tức là thua Angola (Ba3), Bangladesh (Ba3), Mông cổ (B1), Senegal (B1), Sri Lanka (B1), Trinidad (Baa1), Tunisia (Baa1). (Wikipedia)

Có tin mừng: bằng Cambodia!

Tại Á châu, VN thua Bangladesh, Mông cổ, Sri Lanka, thì coi như đội sổ, may là còn anh Cambodia đứng chung cho đỡ buồn.

VN ta hay chê các nước Phi châu là “mọi đen”.

Nay, TÍN DỤNG, tức mức độ tin cậy của đồng tiền, của nền KT, tài chánh, TRÁI PHIẾU, VN đều thua xa lắc các nước này...

------
Trong nước, không 1 ngân hàng nào có thể đòi nợ VINASHIN. Họ chây lỳ không trả, cho dù hồi còn tiền bạc dư dã. Và làm gì có việc tịch thu tài sản phát mãi, vì đó là “tài sản XHCN”, ai dám đụng vào? (Vietstock, 27/08/2010)

Thế là ngân hàng đành cộng tiền lời vô tiền vốn, làm “sạch” sổ sách, và chính họ tự trả lương cho họ rất cao, vì họ vẫn tính như thu được số tiền lời không đòi được.

Các ngân hàng cho VINASHIN vay gần 100 ngàn tỉ đồng, tiền lời hàng năm có lúc 25 ngàn tỉ đồng, các ngân hàng tha hồ “chia lợi tức” trên số tiền lời này, cho dù không thu về 1 xu!

Quan chức ngân hàng giàu sụ, họ tự trả lương cho họ hàng tỉ đồng hàng tháng, chưa kể biết bao áp phe, tiền lót tay, các mánh mung làm ăn khác.

Và thế là nợ toàn quốc chồng chất lên nhau như núi, mỗi năm tăng mấy chục %, cho đến nay hơn Tổng sản lượng quốc gia đến 50%, tiền lời chiếm 20% GDP – theo con số chính thức...”(hết trích)

Dù vậy, thông tấn VnExpress trong bản tin hôm Thứ Năm 20-12-2012 cũng ghi nhận tình hình trái nghịch tại VN. Hầu hết cư dân ở Sài Gòn và Hà Nội không tin chuyện tận thế, nhưng lại có người ở Đà Nẵng kêu gọi lên núi để tránh sóng thần tận thế. Bản tin "'Ngày tận thế' không làm người Việt lo sợ" trích:

"Hầu hết người Việt Nam không tin 21/12/2012 là ngày thế giới hủy diệt, nên sẽ xem nó là "một ngày như mọi ngày", lo toan cho cuộc sống, việc làm, tiền lương...

Chị Phan Thu Trang, sống ở khu vực Đền Lừ, Hoàng Mai, Hà Nội thắc mắc không biết vì sao mà lại có người tin ngày mai là tận thế được.

Chị Trang kể, mấy ngày nay, ở công ty, mọi người luôn bắt đầu câu chuyện vui liên quan đến ngày tận thế như"đi ăn đi không mai không kịp, làm gì làm gì mai tận thế rồi đó".

Chị và mọi người cơ quan đều không tin vào câu chuyện ngày tận thế. "Nếu có ngày đó chẳng nhẽ lãnh đạo và nhà khoa học lại không có hành động hay biện pháp gì".

Đồng tình quan điểm, chị Trần Lâm Thao, ở xã Hợp Lý, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc cho rằng, nếu ngày đó có thật, thì chắc mọi người sẽ rộn ràng đi mua sắm, tìm đủ biện pháp để cứu vãn tình thế, chứ không im ắng như thế này.

Cô Nguyễn Ngọc Anh, 60 tuổi, ở quận Hải Châu, Đà Nẵng kể lại, ở thành phố này từng có người đến kêu gọi mọi người lên núi mới may mắn thoát được ngày tận thế, nhưng cô không tin. "Khi nghe thông tin tôi chỉ cười, tôi nghĩ họ chưa hiểu hết về bộ lịch của người Maya trước đây".

"Tôi nghĩ các bạn trẻ nên dừng làm việc đó tốt hơn là ngồi tán gẫu mấy chuyện khiến người lo sợ", cô Ngọc Anh bày tỏ..."(hết trích)

Thiệt lạ, không biết mấy bác Đà Nẵng tin chuyện tận thế này có thực sự lên núi ẩn núp hay không.

Nhưng hiển nhiên là, lịch sử đã qua hàng triệu trận động đất, hàng triệu trận sóng thần, hàng triệu dịch bệnh tàn phá nhân loại rồi... vậy mà có tận thế gì đâu.
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Image

Blogger Tạ Phong Tần:
Đây là cuộc chiến của công lý và danh dự!


Ninh Dương Tấn Phúc
(Danlambao) - Chiều ngày 20/12/2012, luật sư của Blogger Tạ Phong Tần đã có buổi tiếp xúc và làm việc với thân chủ. Buổi làm việc diễn ra trong một phòng làm việc của nhà tù Chí Hòa. Trong toàn bộ thời gian trao đổi, luôn luôn có cán bộ của nhà tù Chí Hòa theo dõi. Những lần tiếp xúc khác cũng luôn có an ninh điều tra kèm cặp. Nói là "buổi làm việc" nhưng thực ra chỉ vỏn vẹn có 1 tiếng đồng hồ.

Tinh thần của Tạ Phong Tần vẫn rất mạnh mẽ và cứng rắn. Ngay từ đầu buổi làm việc, chị Tạ Phong Tần khẳng định: "Đây là cuộc chiến của công lý và danh dự", đồng thời yêu cầu luật sư bào chữa theo hướng chị không có tội, không có chuyện xin tòa án khoan hồng hay giảm án này nọ...

Theo đánh giá của luật sư, sức khỏe của chị Tạ Phong Tần xuống rất nhiều. Trong 60 phút gặp gỡ thì chị Tần ho liên tục. Luật sư cảm nhận bệnh ho của chị Tần không bình thường, có thể đã là mãn tính.

Theo nhận xét của luật sư thì chị Tần cũng có được cặp mắt kính ưng ý nhưng không biết là của nhà tù cấp hay của người nhà gởi vào.

Việc nhờ người nhà mua thuốc chữa bệnh đã không thực hiện do thủ tục rất nhiêu khê. Chị Tần phải viết thư gởi về nhà, rồi thuốc mua đem vào sẽ khám xét kỹ. Hoặc là có bệnh án và giấy bác sĩ của chị Tần thì người nhà mới mua thuốc gởi vào.

Được biết, ngay đến đơn của chị Tạ Phong Tần viết nhờ luật sư bào chữa từ nhà tù Chí Hòa ở Quận 10 - Sài Gòn về đến văn phòng luật sư cũng ở Sài Gòn nhưng mất thời gian hơn 2 tuần vì qua nhiều khâu kiểm duyệt. Vì vậy mà thời gian để luật sư tiếp xúc với hồ sơ vụ án rất hạn hẹp.

Có tin cho hay là trong phiên xử phúc thẩm thì sẽ không có quyềt định đưa vụ án ra xét xử. Nghĩa là cho đến lúc 8 giờ sáng ngày 28.12.2012 chúng ta mới biết được chính xác hội đồng xét xử gồm 3 thẩm phán nào. Hiện nay, theo một số dự đoán thì có thể xác định đựợc 2 vị thẩm phán là ông Lê Thành Văn và ông Huỳnh Lập Thành có mặt trong hội đồng xét xử phiên phúc thẩm sắp đến.

Trong tuần tới, trước khi ra xét xử phúc thẩm thì luật sư cũng sẽ gặp chị Tạ Phong Tần thêm một buổi nữa, thực ra là 1 tiếng đồng hồ nữa.

Như vậy thì hiện nay chị Tạ Phong Tần đã bị đưa về nhà tù Chí Hòa. Cũng qua đây xin thông báo là tình trạng sức khỏe của chị Tạ Phong Tần đang bị ho rất nặng nhưng thuốc men thì không có để chữa trị. Ngay từ đầu buổi tiếp xúc thì chị Tần cũng đã giãi bày: "Tôi vừa chiến đấu với bất công, với tù tội và với cả bệnh tật nữa".

Trong suốt buổi làm việc dù có công an trại giam theo dõi nhưng tinh thần của chị Tạ Phong Tần rất mạnh mẽ và cương quyết.

Ninh Dương Tấn Phúc
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Từ Chống TC Đến Chống VC?

Tác giả : Vi Anh

Điện thoại bằng thẻ dấu số và dấu tên để bảo vệ nguồn tin là thân hữu trong nước cho biết và khuyên: “Bình tĩnh ai ơi, khéo giữ lòng. Đừng vội nghe những gì mấy ông chuyên biểu tình chống Việt Nam Cộng Hoà ngày xưa đã ngậm miệng ăn tiền theo Việt Cộng mấy chục năm bây giờ tái xuất giang hồ, giở trò kêu gọi diễn tuồng biểu tình chống Trung Cộng tại Nhà Hát Lớn.” Bây giờ họ tuyên bố tá lả bùng binh trước và sau cuộc biểu tình như chống TC rồi chống Việt Công nhu nhược. Họ giả bộ đó, họ làm bộ như biểu tình chống TC rồi chống VC. Thấy vậy chớ không phải vậy đâu, họ còn tệ hơn vậy nữa. Họ kêu gọi biểu tình “cuội” đó, họ tạo cơ hội xì xú páp bất mãn của người dân dùm cho Đảng Nhà Nước. Họ lấy dân làm bàn đạp cho CS Hà nội xin xỏ TC đừng làm hại tài sản của Đảng CSVN như cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 2 thuộc tập đoàn quốc doanh Petro VN đó. Những Hồ ngọc Nhuận, Hùynh tấn Mẫm là “vua đi đêm” ban ngày biểu tình chống chánh quyền Kỳ, tối lấy tiền và phương tiện của Ô. Kỳ để gọi là “Phát Triển Đời Mới” do đường dây là một đàn anh theo và làm cho Ô Kỳ bí mật cấp. Thời Ô. Thiệu ban ngày biểu tình chống TT Thiệu, tối lò dò gặp mấy tay Mỹ xin “đồ” Xây Dựng Nông Thôn.

Họ là người cũ của VNCH, được vào đảng CS, họ sợ đảng còn hơn đảng viên chánh tông nữa. Họ kêu gào nhưng họ không đi biểu tình, viện lẽ bị “bất động hoá” ở nhà dù họ muốn đi thì với kinh nghiệm tránh né họ thừa sức qua mặt công an. Như Huỳnh tấn Mẫm được giao nhiệm vụ đến diễn tuồng kêu gọi lớp trẻ, đã ra khỏi nhà trước một ngày, tĩnh bơ tới Nhà Hát Lớn có sao đâu”.

Hai cuộc biểu tình chống TC ở Hà Nội và Sài Gòn vào ngày 9-12 bị nhà cầm quyền Đảng Nhà Nước CSVN trấn áp, giải tán không kéo dài được nửa tiếng đồng hồ. Chỉ sau hai ngày sau năm người đứng tên trong ban tổ chức kêu gọi biểu tình ở Saigon, Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, Giáo sư Tương Lai, Cựu Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Lê Công Giàu, Luật gia Lê Hiếu Đằng tỏ vẻ “làm dữ”. Họ ra một “'Tuyên bố phản đối hành vi trấn áp thô bạo vi phạm pháp luật xâm phạm nghiêm trọng quyền công dân.”

Những người có tên đề họ để này được công dân không gian ảo của tin học và xa lộ thông tin Internet ngưỡng mộ như những “trí thức yêu nước”, những sĩ phu vì dân. Hai đài phát thanh quốc tế có chương trình tiếng Việt có lẽ vì thế gọi quí vị này là “nhân sĩ trí thức”.

Còn những người từng sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà thì không còn lạ gì mấy người tự xưng là thành phần thứ ba này, chuyên ăn cơm Quốc Gia mà thờ ma Cộng Sản này. Đó là những người “sống và làm việc” biểu tình chống “Mỹ cứu nước”, chống chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà” . Và khi CS Bắc Việt vào được Saigon thì làm cán bộ, đảng viên, công nhân viên cho Đảng Nhà Nước CS. Tiêu biểu như Ô. Mẫm là Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Saigon Gia Định, thành Bác sĩ Phó Chủ Tịch Hội Chữ Thập Đỏ của Thành Phố thời CS. Ô Hồ ngọc Nhuận Cựu Dân biểu VNCH trở thành “đại biểu nhân dân” của cái gọi là Quốc Hội “đảng cử dân bầu” một khoá rồi sau về nằm im với chức Phó Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc. Ông Lê hiếu Đằng trở thành Luật Gia, Phó Chủ Tịch Mặt Trân Tổ Quốc. Ông Tương Lai Giáo sư Viện trưởng Viện Khoa học- Xã hội của VNCS tham gia trong nhóm Tư Vấn cho Thủ Tướng Việt Cộng Võ văn Kiệt và Phan văn Khải. Nói tóm lại trong nhóm năm người trong ban tổ chức kêu gọi biểu tình này đa số là những người đã từng giúp cho Việt Cộng thời VNCH và làm việc cho VC thời CS Bắc Việt nắm chánh quyền.

Nhưng sau gần 40 năm im hơi lặng tiếng, lần đầu tiên những người này đứng ra công khai, đương trường kêu gọi biểu tình chống TC thì bị Việt Cộng ngăn chận, trấn áp bằng những hình thức cũ rích của công an CS. Thực sự muốn tránh thì dễ như ăn cháo bào ngư ở Chợ Cũ. Như Bs Huỳnh tấn Mẫm nói ở trên. Nhứt là với Cựu Dân biểu Hồ ngọc Nhuận muốn tránh thì dễ như móc khăn musoa trong túi ra vậy. Anh từng là lý thuyêt gia, kế hoạch gia, vua biểu tình cùng với DB Kiều Mộng Thu với “hai bàn tay lá đổ” nơi người đàn ông trong các cuộc biểu tình chống VNCH dưới nhiều hình thức như “Ký giả ăn mày”, “chống tham nhũng,” v.v...

Nhưng với kinh nghiệm đầy mình để luồng lọt, len lỏi đi biểu tình, ban tổ chức có 5 người, chỉ có 1 người gọi là “uốn mình qua ngõ hẹp” là Bs Mẫm đến được Nhà Hát Lớn. Chỉ có Bs Mẫm rời khỏi nhà ngày trước, chèm dè, ngày sau tới Nhà Hát Lớn tập trung biểu tình được. Nhưng nghe nói cũng bị đám du đãng phá biều tình chen lấn suýt té trên bậc thềm của Hạ nghị Viện VNCH khi xưa.

Còn số người kia thì bị công an bất động hoá, vô hiệu hoá bằng nhiều hình thức cũ rích của công an CS: mời đến cơ quan công an “làm việc”, viếng thăm kềm chân tại nhà, bao vây không ra khỏi cửa.

Nhưng tất cả năm người trước và sau cuộc biều tình đều tuyên bố tá lả bùng binh, chống TC “mút mùa lệ thủy” tỏ vẻ “chơi xả láng sáng về sớm” đối với TC và “chơi qua cho biết mùi hoa” đối với VC vậy.

Cả hai “vua” biểu tình Nhuận, Mẫm thời VNCH vận dụng xảo thuật “đối lập” để cuộc biểu tình hấp dẫn, bằng cách yêu cầu nhà cầm quyền ủng hộ và ra biểu tình với dân, dù thừa biết có đi ngược đi nữa thì Bí Thư Thành Ủy, Chủ Tịch Ủy Ban Thành phố cũng không thể ra dự.

Hai chuyên viên biểu tình này nói rang rảng trên đài phát thanh RFI của Pháp và RFA của Mỹ những lời cò mồi cho hồi hai thời hậu biểu tình. Ông Nhuận nói trên RFI nếu “Chánh quyền Thành Phố, Chánh quyền Việt Nam … cứ để cho Trung Quốc nói láo trước thiên hạ về những điều chúng không có, về những gì chúng cướp giựt của chúng ta …”, là chúng ta “đắc tội với tổ tiên, là đắc tội với các thế hệ mai sau.” Ông Mẫm nói trên RFI, “Còn nếu mà ngăn cản thì người ta thấy Đảng và Nhà nước chỉ làm một mình, giống như là có một cái quyền tối thượng.”

Hồi hai hậu biểu tình có vẻ như từ chống Trung Cộng đến chống Việt Cộng ở Saigon với những lời “Tuyên bố phản đối hành vi trấn áp thô bạo vi phạm pháp luật xâm phạm nghiêm trọng quyền công dân.”

Một số trong năm Ông này còn không tiếc lời khi tường thuật những hành động của công an. Giáo sư Tương Lai kể bị mời về phường để làm việc. Ông ra một tuyên bố cá nhân Ông phản đối hành động của nhà cầm quyền thành phố trấn áp thô bạo, vi phạm quyền tự do công dân.

Ông Lê Hiếu Đằng kể bị bất dộng hoá ở nhà, cá nhân Ông 'Tố cáo và đòi hỏi bí thư Lê Thanh Hải, chủ tịch Lê Hoàng Quân trả lời về hành động trấn áp trí thức hôm ngày 9 tháng 12'.

Và hai ngày sau cuộc biểu tình bị trấn áp, năm Ông Mẫm, Nhuận, Tương Lai, Giàu, Đằng ra một tuyên bố chung, công khai phổ biến trên mạng, công khai lên án nhà cầm quyền đã “chà đạp lên luật pháp, các hành vi thô bạo trấn áp công dân” và đòi hỏi chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra và có giải pháp thích đáng đối với những cán bộ phạm pháp, vi phạm quyền công dân.”

Chắc chắn nếu là người dân thuần túy hay tôn giáo thuần túy, những công dân độc lập, những nhân sĩ trí thức chân chính, năm ông này nói như vậy là “xộ khám”, vào trại tù Phan Đăng Lưu biệt giam hay Chí Hoà kiên giam “gỡ lịch” vài năm là cái chắc.

Nhưng nếu chịu khó tinh ý quan sát một chút, thì thấy CS Hà nội giả bộ nhắm mắt làm ngơ nhưng dàn dựng rất kỹ lưỡng. Không “báo đài” nào trong nước thông tin, nghị luận về những lời tuyên bố của những “nhân sĩ trí thức” này. Chỉ có truyển thông “lề trái” trên Internet, chỉ có truyền thông quốc tế nhứt là của Pháp và Mỹ đi thông tin, nghị luận, làm phỏng vấn, phóng sự có thể nói là quá thừa nữa. Điều đó chứng minh là CS Hà nội muốn cho quốc tế thấy dân chúng VN chống TC, VN có tiếng nói của dân, thành phần đối lập của VNCH được hoạt động – như VNCS có dân chủ vậy.

Nhưng dàn dựng của CS có mức độ, chỉ hé một chút, giở nấp vung một tí để xì bất mãn của nhân dân thôi. Chớ tuyệt đối không để đám đối lập của VNCH dù thân Cộng làm lợi cho CS Bắc Việt thời Chiến tranh VN, “ăn quen nhịn không quen”. CS Hà nội để cho họ kêu gọi mà không để cho họ hành động, chỉ biều tình một chút là dẹp ngay.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tại Sao Nên Xem “Bên Thắng Cuộc” ?
Nguyễn Quang Duy

Hồi Tưởng 30 Tháng 4 năm 1975

Tối 29, tôi nằm cạnh khẩu carbine lắng nghe tiếng súng từ xa vọng lại. Cha tôi một đoàn viên Nhân Dân Tự Vệ được giao khẩu súng này và cho tôi sử dụng. Tôi thầm nghĩ nếu Việt cộng tấn công Sài Gòn tôi sẽ nổ đến viên đạn cuối cùng.

Sáng 30, tiếng của Tổng Thống Dương Văn Minh Tuyên Bố bàn giao chính quyền. Trong nhà, mẹ tôi cẩn thận cuốn nhỏ lá cờ vàng dấu kỹ dưới đáy giương quần áo. Ngòai ngõ mặc cho lời kêu gọi buông súng một đội quân hỗn hợp, dẫn đầu là một sỹ quan Dù vẫn tiếp tục tuần tra bảo vệ cư dân.
Tối 30, mở truyền hình xem tin tức, người xướng ngôn viên với khuôn mặt, cử chỉ và giọng đọc đằng đằng sát khí phát đi thông báo của “chính quyền cách mạng”. Hôm sau khuôn mặt này biến mất, những khuôn mặt mới bắt đầu xuất hiện.

Sáng 1, tôi trà trộn vào những đòan người tiếp xúc với đòan quân Bắc Việt vào “Giải Phóng” miền Nam.
Mồng 2, tôi trở lại ngôi trường Petrus Trương Vĩnh Ký bạn bè kháo nhau Võ văn Kiệt lấy trường tôi làm Tổng Hành Dinh. Về nhà tôi nói với cha tôi, tôi sẽ tiếp tục chiến đấu. Cha tôi cho biết tôi đã lớn có quyền quyết định cho chính mình.

Từ đó tôi chưa bao giờ xem mình là người thua trận và cũng chỉ xem những người bên kia như những “kẻ chiếmđóng”. Muốn lấy lại quốc gia cần phải hiểu giặc. Tôi tự phát triển phương cáchđể đọc sách báo cộng sản. Có bài họ viết như thế nhưng mình phải nghĩ ngược lại. Họ viết như thế này để che dấu điều gì ? Họ viết như vầy nhưng để thông tin chuyện chi ? Tôi nhanh chóng trở một "bình luận gia" chính trị "nói có sách mách có chứng".
Tôi yêu Sài Gòn nơi tôi lớn khôn với hơn 7 năm sống chung với “lũ”. Tôi thấy lại hình ảnh Sài Gòn đầy ắp trong quyển sách “Bên Thắng Cuộc”. Tôi đếm được 494 lần Sài Gòn được nhắc đến trong khi chỉ 118 lần tên của một người đã chết được dùng. Lạ thật tại sao Huy Đức lại luôn nhắc đến Sài Gòn trong tác phẩm của mình ? Sài Gòn vẫn sống trong tôi, có phải cũng sống trong lòng Huy Đức ?

Ngay khi xem một vài chương giới thiệu quyển sách tôi đã góp ý Huy Đức như sau: "Quyển sách đã và sẽ tạo nhiều tranh luận, Huy Đức ráng thu thập mọi ý kiến từ mọi phía, để rút kinh nghiệm cho quyển II. Riêng mình nhận xét quyển sách sẽ có ảnh hưởng sâu rộng tại Việt Nam." Cái tựa đề ngạo nghễ “Bên Thắng Cuộc”, cái lý lịch sỹ quan quân đội cộng sản, việc trích những bài báo tuyên truyền cộng sản tự nó đã tạo nên những phê phán bình luận.

Đã có khá nhiều nhận xét về“Bên Thắng Cuộc”, riêng tôi rất quan tâm đến lịch sử cận đại. Tôi đã phổ biến nhiều bài viết về lịch sử, về các nhân vật lịch sử như Hòang Đế Bảo Đại, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đức Thầy Hùynh Phú Sổ và Hồ Chí Minh, vì thế tôi sẽ bình luận “Bên Thắng Cuộc” từ góc cạnh này.
Sai Lầm “Bên Thắng Cuộc”

Đầu tiên Huy Đức đã để lại khá nhiều lỗi lầm dù nhỏ nhưng rất dễ nhận ra và rất dễ để kiểm chứng. Lấy thí dụ, khi viết về vượt biên trại Trengganu là ở Mã Lai không phải ở Thái Lan hay tên trại Sungai Besi Mã Lai không phải là Sungeipesi như trong sách đã viết. Địa danh mà sai như vậy tự nó đã giảm giá trị của quyển sách.

Thứ đến Huy Đức đã sống và trưởng thành trong tuyên truyền cộng sản nên không thể nhận ra những sai lầm trong mớ thông tin Huy Đức đã tổng hợp. Lấy thí dụ, Huy Đức trích dẫn như sau: ‘Tháng 7-1946, Hồ Chí Minh tới Fonteinebleau. Khi những người Việt Nam trong Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu những đảng viên người Khmer với phái đoàn Việt Nam và đề nghị họ “đi gặp Bác Hồ”, Thiounn, người về sau là một bộ trưởng của Pol Pot, nói: “Chúng tôi trả lời, ông ta không phải là bác của chúng tôi. Họlại bảo, chúng ta là anh em, các bạn nên thể hiện sự tôn trọng, nhưng chúng tôi cũng từ chối”.’

Vào tháng 7-1946, mặc dầu khi ấy Hồ chí Minh chỉ hơn HuyĐức và tôi vài tuổi, Hồ chí Minh đã tự tạo danh từ “Cụ Hồ” cho mình. Đến những năm đầu 1950, khi “Cụ Hồ” được triều kiến “Ông Mao”, “Ông Stalin”, đểtỏ lòng sùng bái hai ”Ông” kia, “Cụ Hồ” tự mình xuống chức “Bác Hồ”. Thậm chí câu chuyện “đi gặp Bác Hồ” ở trên có thể chỉ là câu chuyện bịa, rồi được đưa vào sách của Ben Kiernan, 1996, trang 10 rồi Huy Đức nói có sách mách có chứng trong “Bên Thắng Cuộc”.

Lời lên tiếng của Thiếu tá Tiểu Đoàn phó Tiểu Đoàn 7, Thủy Quân Lục Chiến, Lê Quang Liễn là một dẫn chứng về việc ngụy tạo thông tin:
“Thật ra toàn bộ anh em Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đã bị bắt, nếu anh em chúng tôi ra hàng thì đã được hưởng qui chế đãi ngộ hàng binh như Phạm Văn Đính và một số đồng bọn thuộc Trung Đoàn 56. Vả lại, đơn vị chúng tôi lúc đó thuộc quyền của Bộ Tư Lịnh Tiền Phương QuânĐoàn I. Ở đây, vị Tư lịnh TQLC không có trách nhiệm nào hết. Người chịu trách nhiệm là Trung Tướng Lâm Quang Thi mới đúng nghĩa hơn. Khi viết toàn bộ ra hàng là điều cố tình hạ nhục anh em chúng tôi khi thất thế !!!

“Nếu ông Huy Đức biết rõ thêm về tôi là người tù cuối cùng của Lữ Đoàn 147 TQLC ra khỏi trại tù ngày 12 tháng 2 năm 1988 sau gần 13 năm tù ngục với 4 năm 7 tháng 24 ngày bị "kiên giam" còng tay, chân, bị đánh gảy xương sườn vì những chống đối tập thểtrong Trại tù Bình Điền, Thừa Thiên. Thì phần trích dẫn từ bài viết của tên nhà báo Phan Xuân Huy là thiếu trách nhiệm.

“Tôi biết Phan Xuân Huy là thành phần đối lập cơ hội với chế độ VNCH trước năm 1975 mà tôi tận trung phục vụ. Có lẽ trong những ngày tháng đầu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Phan Xuân Huy-cũng như một số người nhẹ dạ - vì muốn tìm chỗ đứng an toàn trong lòng chế độ mới bằng những bài viết, những câu nói , với những nhận thức "sâu sắc của mình" về cái hay, cái đẹp của chế độ XHCN. Một nhà báo chân chính phải viết cho sự thật, vì lương tâm thì đừng bao giờ gán, chụp cho những người vắng mặt những gì vì lợi ích cho bản thân, phe nhóm. Tôi gửi đến tác giả Huy Đức những nhận xét của tôi về phần trích dẫn trong sách và mong được hoàn chỉnh sự chính xác cũng như trách nhiệm của người viết…”

Huy Đức đã xin lỗi, cám ơn và hứa sẽ bổ sung khi viết lại. Chỗ láu cá của tuyên truyền cộng sản là tờ Tin Sáng (hay Tia Sáng ?) phỏng vấn bà “LQL” (tên ông Lê Quang Liễn đựơc viết tắt). Nếu vì một lý do gì đó ông Lê Quang Liễn không lên tiếng như thế thì sự bịa đặt lại được Huy Đức ghi chép như một sựkiện lịch sử. Viết sử không phải là như thế.

Trong quyển “Bên Thắng Cuộc”,phần “Con đường Bác đi” Huy Đức đã trích dẫn tòan bộ huyền thọai về Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Năm do Hòang Tùng dàn dựng. Nhờ một chút may mắn tôi đã phát hiện trong tập tài liệu Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất của tác giả C.B. do báo Nhân Dân xuất bản năm 1955, trang 27 và 28, có bài "Địa chủác ghê". Bài này nguyên thủy được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng 7 năm 1953. Tác giả C.B. (Của Bác ?) chính là một bút hiệu của Hồ Chí Minh.

Qua bút hiệu C.B. chính Hồchí Minh đã đấu tố bà Nguyễn thị Năm, đấu tố hai con của bà Năm và đấu tố những người bênh vực bà. Vụ án bà Nguyễn thị Năm đã gây chấn động lòng người vì thế mới có huyền thọai do Hòang Tùng dàn dựng. Xin mời đọc bài “Vai trò của Hồ Chí Minh trong Cải cách ruộng đất” đăng trên (http://www.talawas.org/talaDB/suche.php ... 78&rb=0401)để nắm rõ sự việc.

Gần đây có hai bức thư của Hồ Chí Minh gởi Stalin được phát hiện lưu trữ tại Cục Lưu trữ Quốc gia Nga. Nội dung các bức thư là xin được xem xét và cấp chỉ dẫn cho Chương trình Cải cách Ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam. Tôi đã viết bài khác :”Huyền thoại và sự thực: Hồ Chí Minh trong Cải cách Ruộng đất” đăng trên (http://www.danchimviet.info/03/09/2010/ ... E1%BA%A5t/)Đáng tiếc “Bên Thắng Cuộc” chưa để mắt tới hai bài viết này.
Huy Đức công khai nhìn nhận các bài báo cộng sản là sản phẩm tuyên truyền. Người cộng sản trongđầu lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tuyên truyền vì thế các các bài phỏng vấn cũng không tránh khỏi chỉ là sản phẩm tuyên truyền. Gần đây rất nhiều tài liệu, bài viết, hồi ký có thể phá đổ không ít các sản phẩm tuyên truyền được tổng hợp trong tác phẩm “Bên Thắng Cuộc”.
Tôi chỉ đưa ra một vài dẫn chứng cho thấy tổng hợp của bịa đặt, bịa đặt, huyền thọai, bịa đặt, huyền thọai… từ các sản phẩm tuyên truyền cộng sản không phải là sách sử.

Giáo sư Sử học David Marr

Năm 1990, bà Luật sư Ngô Bá Thành, dân biểu hai chế độ, có đến thuyết trình tại Viện Đại Học Quốc Gia Úc Đại Lợi. Buổi thuyết trình được Giáo sư Sử học David Marr chủ tọa. Bà Thành dẻo miệng ca ngợi ông Marr. Sau khi đặt câu hỏi với bà Thành, tôi quay qua ông Marr tuyên bố: “Sử chúng tôi sẽ do chúng tôi viết chứ không phải là các ông”. Ông Marr trả lời đại khái như sau “Tôi viết, rồi viết lại, rồi người khác sẽ viết lại…”

Tôi rất thông cảm những người nghiên cứu về sử Việt cận đại như ông Marr. Tài liệu của cộng sản vừa thiếu, lạiđầy những bịa đặt và huyền thọai. Không phải là họ không biết nhưng không sống với cộng sản khó nhận ra sự thực đằng sau các sản phẩm tuyên truyền. Tiếc mộtđiều khi học giả Tây Phương sử dụng nó, người mình lại xem nó khách quan, trung thực và chuyên môn, rồi tin theo như tin kinh điển. Bởi thế cộng sản mới mượn tay các học giả Tây Phương để chứng thực các huyền thọai do cộng sản tạo ra. Nếuđảng Cộng sản còn thống trị thì có viết khách quan cách mấy cũng vẫn chỉ là tuyên truyền cho cộng sản.

Nói thế không phải là phủnhận công lao của họ. Tôi vẫn thầm cảm ơn ông Marr vì nếu không có ông thu thậpđược tập tài liệu Phát động quần chúng trong đó có bài Hồ chí Minh đấu tố bà Nguyễn Thị Năm thì không có cơ duyên tôi phát hiện nó để phá vỡ một huyền thọai.

Tôi vẫn cảm ơn ông Nguyễn Minh Cần, ông Hòang Tùng, ông Bùi Tín, ông Vũ Thư Hiên, ông Đoàn Duy Thành,… đã viết về bà Nguyễn Thị Năm, tên bà đã in vào đầu tôi, để đến khi thấy tên Nguyễn Thị Năm trên "Địa chủ ác ghê" tôi đã nhận ngay đây là một bằng chứng tội ác của HồChí Minh. Việc phá vỡ huyền thọai sẽ giúp chúng ta viết lại sử người mình.

Khi tôi tuyên bố “Sử chúng tôi sẽ do chúng tôi viết” tôi còn một ý nữa. Tôi tự tin sẽ có ngày đồng bào tôi đứng lên giành lại chủ quyền dân tộc, mở một trang sử mới, viết lại trang sử cũ.
Nói thế để thấy công việc Huy Đức đang làm “đi tìm sự thật” là một công việc vô cùng khó khăn.

Vở Bi Hài Kịch “Bên Thắng Cuộc”

Với tôi tác phẩm “Bên Thắng Cuộc” chỉ là một vở bi hài kịch. Các diễn viên nổi bật là giới cầm quyền cộng sản Việt Nam. Họ theo “Con đường Bác đi” con đường bi đác Xã Hội Chủ Nghĩa, một con đường chỉcó trong trí tưởng tượng của ông Mác, ông Lênin, ông Stalin, ông Mao,… Rồi ông Hồvà giới cầm quyền cứ theo đó mà đi. Nó bi thương ở chỗ khi họ thấy sai thì họcho sửa, họ sửa rồi lại vẫn tiếp tục sai, họ càng sửa lại càng sai, cứ thế càng ngày đất nước càng lâm vào bế tắc.

Huy Đức có một nhận xétđáng chú ý: “…thực sự may mắn cho người dân Campuchia khi những người được Hà Nội đưa lên nắm quyền ở Phnom Penh, đặc biệt là Hun Sen, đã không nghe theo Hà Nội một cách mù quáng. Khi đứng trước thời cuộc mới, họ đã biết quyết định dựa trên quyền lợi của dân tộc mình… Ngày 18-10-1991, khi Việt Nam không còn can thiệp được vào các quyết định của Phnom Penh, Campuchia đã sửa đổi hiến pháp theo hướng từ bỏ chủ nghĩa xã hội: chấp nhận kinh tế thị trường tự do và hệ thống chính trị đa đảng. Tên nước, quốc kỳ, quốc ca, ngày quốc khánh thời Sihanouk được đưa ra dùng trở lại. Hai chữ “cách mạng”trong tên gọi Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, đảng mà Việt Nam giúp dựng lên, đã được bỏ đi…”

Nó là một hài kịch ở chỗ giới lãnh đạo cộng sản luôn tự hào là họ đã tự giành được “độc lập”, là đất nước luôn luôn "độc lập", nhưng cái đầu của họ, tư tưởng của họ vướng mắc 4 chữ “Xã Hội Chủ Nghã” mà chính họ cũng không hiểu “Xã Hội Chủ Nghiã” là giống chi chi.

Dự Đóan Quyển II

Nhân vật chính của vở bi hài kịch là Võ Văn Kiệt. Tên ông xuất hiện nhiều nhất 175 lần. Ông xuất hiện ngay đầu tác phẩm, bên trong tác phẩm và rồi lại xuất hiện nhiều lần trong Phụ Lục II trước khi kết thúc quyển I. Tôi vẫn thường đọc các bài viết của Huy Đức nên liên tưởng đến bài “Bẫy Việt Vị của Thủ Tướng”. Bài viết cho biết “hậu duệ”Nguyễn Tấn Dũng là kết quả tuần lễ du hành Hàn Quốc của Đỗ Mười và Võ văn Kiệt. Bởi thế bản chất của “hậu duệ” Nguyễn Tấn Dũng vừa cực đoan như Đỗ Mười vừa táo bạo chấp nhận cải cách như Võ văn Kiệt. Nội dung Quyển II đã được Huy Đức cho biết trước.
Có người cho rằng Huy Đứcđi giữa 2 lằn đạn. Tôi nghĩ khác Huy Đức đang đi tìm sự thật, anh đang đi giữa lòng dân tộc để tìm một lối ra.

Là một thành viên Khối 8406, Khối chúng tôi chủ trương đi tìm sự thật vì khi sự thật được phơi bày là lúc chế độ cộng sản sẽ bị giải thể để Việt Nam có tự do có dân chủ. Tôi mong được đọc bản tu sửa quyển I và chờ đợi để được bình luận quyển II.

Tại Sao Nên Đọc “Bên Thắng Cuộc” ?

Nếu ai xem Huy Đức như một tên Việt cộng, nên xem “Bên Thắng Cuộc” để biết người biết ta, biết mà kịp thời lên tiếng.

Nếu ai xem Huy Đức là một tên phản động, nên xem “Bên Thắng Cuộc” vì nó là suy nghĩ của đại đa số quần chúng Việt Nam, biết để tránh bị bánh xe lịch sử nghiền nát.

Nếu ai đang đấu tranh cho tựdo dân chủ phải xem “Bên Thắng Cuộc” để quyết tâm “Sử chúng ta sẽ do chúng ta viết”, mở một trang sử mới, viết lại trang sử cũ.

Nếu ai chỉ xem mình là người bình thường rất cần xem “Bên Thắng Cuộc” để thấy chính mình trong vở bi hài kịch“Bên Thắng Cuộc” để cùng đứng lên giành lại tự do.

Xuân năm nay chưa phải là xuân tự do. Xuân tới khi sự thật đã phơi bày sẽ là xuân tự do cho dân tộc. Hãy mở cửa lòng đón nhận Huy Đức người đi tìm sự thật.

Chúc Mừng Năm Mới
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
26/12/2012
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cầu Cho Người Thiện Tâm

Tác giả : Vi Anh
“Bình an dưới thế cho người thiện tâm”, là một thông điệp Giáng Sinh cho người trần thế. Giáng Sinh bây giờ vừa là lễ đạo vừa là lễ đời,không những ở Tây Phương và cả ở Đông Phương nữa. Ở Mỹ sau lễ Tạ Ơn, là đến ngày Thứ Sáu Đen, bắt đầu mùa mua sắm Christmas, Năm Mới gởi thiệp chúc mừng và treo đèn trang trí nhà cửa ăn Giáng Sinh và Tết Dương Lịch, cả chục ngày. Người Việt Nam trong thời tự do trước đây hay thời CS gần đây, ở nước nhà VN mỗi lần cuối năm trời trở mát là mỗi lần mừng Giáng Sinh, người thì như lễ đạo, người thì như lễ đời. Nếu không tất cả thì cũng đại đa số đều đã nghe, nhớ câu hát Giáng Sinh “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Thiện tâm với cá nhân, với gia đình, và với xã hội, với tôn giáo mình đang sống đời và đạo là một đức tính. Nhưng thiện tâm thiết thực và thiết tha hơn là thiện tâm đối với quốc gia dân tộc.

Con người là một linh vật có khả năng liên tưởng siêu việt. Không có liên tưởng thì không có thơ văn, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật.

Con người cũng là một linh vật siêu việt có giác quan thứ sáu, thần giao cách cảm, người Trung Hoa tưởng tượng thành “thiên lý nhãn và thiên lý nhĩ”.

Nên trong mùa Giáng Sinh, người Việt hải ngoại, nhứt là người Mỹ gốc Việt hưởng Giáng Sinh bình an, đoàn tụ, sung túc không ít thì nhiều nhứt định có nghĩ đến những người thiện tâm với quốc gia dân tộc đang gặp khó khổ ở nước nhà VN, theo qui trình liên tưởng cư an tư nguy và chia xẻ với những người khó khổ qua thần giao cách cảm cầu nguyện, tưởng nghĩ.

Người Việt Hải ngoại với cuộc sống sung túc, Giáng sinh đi mua sắm, đoàn tụ gia đình, giải trí vui chơi sau một năm làm việc, vì thế làm sao khỏi nhớ đến những đồng bào đang ngục tù, đang đau khổ trong nước chỉ vì có thiện tâm với đất nước và nhân dân VN. Tiêu biểu như một vị chân tu như Hòa Thượng Quảng Độ học hành xuất sắc, tiếng Anh làu thông, được tín đồ Phật Giáo tôn kính như tăng thống có thể sống như một đời an lành, thừa thải tiện nghi. Một Hội Trưởng Phật Giáo Hòa Hảo từng là sĩ quan cấp tá, tỉnh trưởng, dân biểu, có thể đi HO sang Mỹ dễ như như ăn cháo để sống cuộc đời an nhàn. Một Lm Nguyễn văn Lý, có họ đạo, có nhà thờ thừa sức sống một đời đầy đủ vật chất và tinh thần. Một luật sư Lê thị công Nhân, một luật sư Nguyễn xuân Đài có ăn học, có văn phòng luật sư thừa sức sống sung túc. Một nhà báo Điếu Cày, có nhà cho mướn, viết blog rất hay có thể viết báo kiếm tiền. Một Đỗ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn, LM Phan Văn Lợi, Lê Nguyên Sang, Trương Minh Đức, nhà văn Nguyễn Xuân Nghiã, cô Phạm Thanh Nghiên, ông Phạm Văn Trội và nhà giáo Vũ Hùng với sự ăn học thừa sức có mức sống cao nếu sống bình thường. Một Ls Lê công Định được học bổng Fulbright của Mỹ, làm việc cho nhiều cơ sở kinh doanh ngoại quốc thù lao rất cao. Cô Phạm Thanh Nghiên, anh Ngô Quỳnh vì thương nước bị TC chiếm tọa kháng ở nhà vì thương đồng bào đi Thanh Hóa thăm ngư dân Việt Nam. Anh Nguyễn Tiến Trung từng du học ở Pháp vì vận động dân chủ có thể bị án tử hình.

Nhưng tất cả những người có thiện tâm vì đạo pháp và dân tộc, có thiện chí với dất nước và nhân dân VN ấy bị CS Hà nội sách nhiễu, trấn áp, quản thúc tại gia, bắt giam, kêu án tù theo Điều 88 hay điều 79 Bộ Luật Hình Sự, hình phạt từ tù đày cho đến tử hình. Chỉ vì điều mà CS gán cho quí vị ấy cái tội đấu tranh một cách ôn hòa cho tự do tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền cho đồng bào, cái tội lên tiếng bất bạo động khi giang sơn gấm vóc VN bị quân Tàu xâm lấn. Và CS làm nhục những người yêu nước, thương dân ấy, những tù nhân lương tâm, tù chánh trị ấy bằng thủ tục hình sự hóa và chối bỏ đó không phải là tù chánh trị.

Nhà Tù CS – Trung Cộng cũng như Việt Cộng – sau khi đổi mới kinh tế mà khóa chặt chánh trị, dù ở đầu thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ 3, vẫn là nơi ác nghiệt nhứt.

Hàng trăm ngàn người Việt cựu tù cải tạo đang vui vẻ ăn Giáng Sinh ở Mỹ, qua tin tức báo chí ngoại quốc nhận thấy thấy ngục tù của TC, VC bây giờ có khác gì ngục tù cải tạo của CS Hà nội mấy chục năm trước đâu. Như ở số 4 Phan đăng Lưu do CS làm ra hiện nay vẫn còn ở Saigon. Một người từng ở đó có một bài thơ Đường: “Biệt giam độc lắm bạn tù ơi, Thiếu thốn, thúi hôi, bị tách rời. Đêm trắng muỗi kêu đòi nợ máu, Ngày dài phòng kín nấu thân đời. Tóc râu hơn khỉ, người thua chó, Cùm xích vướng chân, cổ nghẹn lời. Nằm đụng cầu tiêu, ngồi bó gối. Cô đơn đến nỗi muốn kêu trời.”

Tất cả những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, già trẻ bé lớn, nam nữ, tôn giáo, trí thức bây giờ bị bắt vào đều bị biệt giam như thế.

Còn tù ở các trại thì đỡ hơn, có nắng, có gió nhưng bị cưỡng bức lao động như tù khổ sai, biệt xứ nhưng khác thời Pháp một cái là CS bỏ đói, bỏ khát thê thảm và tra tấn tâm hồn tù nhân một cách ghê gớm qua các buồi học tập chánh tri và “ thu hoạch”.

CS là chế độ người tù phải cất nhà tù để nhốt mình, thân nhân gia đình phải thăm nuôi tù. Người tù trồng trọt mà không được ăn. Một củ khoai mì nhổ lén bị quản giáo phát giác, hay ăn ten “bá cáo” là cả một trận đòn thù của quản giáo, trật tự, nhiều ngày biệt giam, kiên giam, ra chỉ còn xương với da.

Trong thời kỳ năm cũ sắp qua năm mới, trong bầu không khí Giáng Sinh lễ đạo và đời, con người là sinh vật linh thiêng có khả năng cư an tư nguy, giác quan thứ sáu, thần giao cách cảm. Người dân Việt nhứt là người ở hải ngoại may mắn đang cư an nếu dành một phút tư nguy, cầu nguyện, tưởng nhớ đến những đồng bào có thiện tâm lớn đối với quốc gia dân tộc. Thì Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhơn. Ơn Trên Chúa, Trời, Phật sẽ vận lực càn khôn chuyển thiện tâm của người dân Việt cho những người có thiện tâm với quốc gia dân tộc đang ở tù CS./.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Tây Tạng: Tự Do Hay Chết

Tác giả : Vi Anh
Hành động kềm kẹp, trấn áp dân chúng, cào bằng văn hoá, phong tục của Tây Tạng mà Trung Cộng đã làm khiến người Tây Tạng trẻ cũng như già, có đạo hay không hết sợ Trung Cộng. Thành phần thấm nhuần Phật Giáo được coi như quốc giáo cả mấy ngàn năm nay, thành phần yêu nước, thương nòi quyết tâm đấu tranh sinh tồn: Tự do hay là chết. Những người Tây Tạng ưu tú này tự thiêu để thấp sáng niềm tin, thức tĩnh lương tâm đồng bào và nhân dân cũng như chánh quyền thế giới. Những người yêu nước này dùng mạng sống của mình làm vũ khí để đấu tranh cảm tử. Và trước phong trào quyết chết để Phật Giáo và dân tộc sống còn khiến cho CS Bắc Kinh tỏ ra sợ hãi. Chỉ trong tháng 11 của năm 2012 thôi, đã có 27 người Tây Tạng tự thiêu. Tất cả đều chỉ có một ước nguyện, quyết tử để đạo pháp và dân tộc được sống trước làn sóng Hán hoá và nền cai trị đồng hoá diệt chủng Tây Tạng của Trung Cộng. Gần như một ngày có một người biến thân xác mình thành ngọn đuốc để thấp sáng niềm tin dân tộc và đánh động lương tâm Nhân Loại. Và kể từ khi một nhà sư đầu tiên tự thiêu vào tháng 2/2009 đến nay đã có khoảng một trăm người Tây Tạng tự thiêu như thế.

Đây không phải là những người tuyệt vọng, những người tự tử vì tuyệt vọng. Mà đây là những người tự chọn cái chết bằng ngọn lửa hồng. Chọn một cách bình tĩnh như nhà hiền triết Socrate bình tĩnh nhận ly thuốc độc ung dung uống, khiến bạo quyền rung sợ. Như một chiến sĩ yêu nước xông pha vào vòng lửa đạn của quân ngoại xâm để bảo vệ Tổ Quốc. Như một nhà tu lấy mạng sống của mình để cúng dường mong giải trừ pháp nạn và quốc nạn.

Báo Liberation của Pháp mới đây đã dành hai trang đi một phóng sự đặc biệt về hiện tượng này nay đã thành phong trào trong cộng đồng người Tây Tạng ở các vùng đất mà TC đã lấn chiếm và sáp nhập vào lãnh thổ của TC. Đây là những cái chết kinh hoàng và những hy sinh dũng cảm ngoài sức tưởng tượng của Con Người. Người hy sinh, cảm tử tự chế xăng vào mình, bật hột quẹt tự thiêu, nhưng chân cố bước đi, miệng cố đọc kinh, cầu nguyện cho Tây Tạng độc lập, Đức Đạt Lai Lạt Ma được về nuớc trước khi ngã gục. Trong khi đó người dân Tây Tạng và các nhà sư cầu nguyện và thường hô to Tây Tạng độc lập!

Những người tự thiêu gồm đủ các thành phần xã hội, từ nhà tu, nông dân, thanh niên, học sinh, người lao động, cho đến các nghệ sĩ người Tây Tạng, ở thành thị cũng như nông thôn. Nhưng tất cả những người này có một điểm chung là chọn cái chết bằng tự thiêu, tự hy sinh cho chánh nghĩa và nguyện vọng Tây Tạng được độc lập, Phật Giáo được tự do tu hành, Đức Đạt Lai Lạt Ma được về nước.

Theo tác giả bài phóng sự trên Liberation, là Philippe Grangereau «80% người Tây Tạng đã hiểu ý đồ của Trung Quốc là gì. Họ muốn đồng hóa, muốn triệt bỏ ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, lịch sử, nhân cách của người Tây Tạng.» Những người tự thiêu này lấy cái chết của mình để ngăn chận TC thôn tính, cào bằng văn hoá Tây Tạng, để quê cha đất tổ Tây Tạng của mình không chết trước đà bánh trướng và thôn tính của TC.

Theo nhà báo này, sự kiểm soát của TC đối với người Tây Tạng vô cùng nghiệt ngã, nghiệt ngã hơn bất cứ chế độ nghiệt ngã nào mà lịch sử Nhân Loại đã từng chứng kiến. TC đàn áp, kiểm soát người dân Tây Tạng đến mức không còn sợ chết nữa theo nhận định của phóng viên Liberation của Pháp viết phóng sự này.

Về di chuyển, người Tây Tạng phải xin năm thứ giấy và bị năm thứ quân canh chừng, lục soát: quân đội , công an chìm, cảnh sát nội, cán bộ công nhân viên, và dân quân trong đó có những du đãng như ở TC và VC. Có nơi đi một khoảng đường vài cây số có cả chục nút chặn. Gắt gao hơn trong thiết quân luật nhiều.

Phóng sự nhận định theo nhân chứng Tây Tạng cho biết, “thủ phủ Lhassa không khác gì một nhà tù rộng lớn. Công an, cảnh sát khám xét người ở hầu như khắp các nẻo đường, Người Hán hiếm khi bị kiểm tra, nhưng người Tây Tạng thì không người nào thoát, ngay cả trẻ em cũng bị lục soát trong người. Để viếng một ngôi chùa thì phải đưa vào máy thẻ căn cước và bên trong lại bị khám soát. Trên một đoạn đường 500 mét thôi, bà đã đi qua 21 chốt gác của cảnh sát, 2 bót cảnh sát và 3 đội tuần tra. Công an cảnh sát được trang bị những công cụ khá đặc biệt, họ có một loại dây thòng lọng có cán dài. Có đội thì mang bình cứu hỏa, hay mặc áo có chất amiante chống lửa.”

Nhưng làn sóng chết vì đạo pháp và dân tộc của người Tây Tạng làm cho CS Bắc Kinh sợ hãi. Trấn áp của TC không ngăn được làn sóng phản kháng. Trước và sau đại hội đảng CS thứ 18 ở Bắc Kinh, TC tăng cường biện pháp áp chế, nhưng làn sóng tự thiêu của người Tây Tang tăng lên. Báo Pháp Le Monde nhận định «Sự bất lực của Bắc Kinh trước các vụ tự thiêu của người Tây Tạng», không những tăng trong thời gian đại hội Đảng CSTQ mà còn tăng chớ không giảm từ năm 2008, là năm người Tây Tạng nổi dậy, bị TC trấn áp tàn bạo như nhận định của tổ chức Internationnal Campaign for Tibet. Đến đổi cán bộ, đảng viên TC nào bị điều tới những vùng có cộng đồng người Tây Tạng là họ rất sợ. Họ lính quýnh không biết phải đối phó ra sao trước cái chết bình tỉnh của người tự thiêu, và hàng trăm hàng ngàn những vị sư và đông bào người Tây Tạng chứng kiến và hộ niệm. Công an, cảnh sát, dân phòng, dân quân, du đãng nanh vuốt của công an không thể giành xác đem giấu tránh gây náo động và cũng không giải tán được vì ít người hơn “quần chúng nhân dân” cũng có mà vì run sợ trước sự hy sinh cao quí của người tự thiêu cũng có.

Như vụ tự thiêu của Phật tử Sonam Dargye ở Rebkong ngày 14 tháng 3, tăng ni, Phật tử đến để hộ niệm và làm đám tang có tới 8000 trong một thành phố chỉ có 80,000 cư dân.

Sự hy sinh cao cả và quí báu đó trên phương diện đối nội phát huy lòng yêu nước, trọng đạo của tòan dân Tây Tạng ở trong nước và hải ngọai, từ già đến trẻ. Trên phương diện đối ngọai lương tâm Nhân Lọai bị đánh động, vấn đề TC cưỡng chế, cưỡng chiếm quốc gia dân tộc Tây Tạng, vấn đề TC đàn áp, bách hại tôn giáo, cào bằng văn hóa Tây Tạng, cưỡng bức, bức bách Hán hóa Tây Tạng -- trở thành vấn đề lương tâm của nhiều nhân dân và chánh quyền trên thế giới.

Trung Cộng càng ngăn cấm, càng bưng bít càng bị phanh phui. TC lập vòng vây cấm không cho báo chí ngọai quốc, người ngọai quốc đến những vùng đất của người Tây Tạng bị TC sáp nhập thành tỉnh hạt của TC như Tứ Xuyên trên không gian thực. Nhưng TC không thể làm việc ấy trên không gian ão nhưng rất thực qua truyền thông kỹ thuật số với Internet chuyển đi hình ảnh, thông tin, nghị luận bằng nhiều cách. Chỉ cần một cái bấm trên điện thọai cầm tay tân thời có thể sử dung như máy chụp hình, máy computer chuyển thông tin, nghị luận bằng một cái bấm, tốc độ tranh với ánh sáng.

Sau cùng, vì tự do, vì phục quốc, vì bảo tồn văn hóa, ngôn ngữ,vì quyền tự do hành đạo, phong trào ngươi dân Tây Tạng tư thiêu đã bùng lên và lan rộng. Kẻ thù xâm lược, thực dân TC gọi những người hy sinh mạng sống mình cho đạo pháp và dân tộc Tây Tạng là «quân khủng bố» tuyệt vọng. Nhưng người dân Tây Tạng, quốc gia dân tộc Tây Tạng trên nóc nhà của Trái Đất, diện tích bằng ba lần nước Pháp, coi Phật Giáo là quốc giáo, tôn vinh tăng ni, Phật tử chọn sự hy sinh bằng cách tự thiêu như là vũ khí đấu tranh giải trừ quốc nạn và pháp nạn do CS Trung Quốc đang thống trị quốc gia dân tộc mình – là những anh hùng dân tộc./.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »


Image

Khi người tiếp theo có thể là bạn

Minh Việt
(Danlambao) - Phiên tòa phúc thẩm xử ba blogger kết thúc. Nguyễn Văn Hải chịu 12 năm tù, Tạ Phong Tần 10 năm tù, và Phan Thanh Hải 3 năm tù. Tổng cộng hình phạt 25 năm tù cho ba người, trung bình hơn 8 năm tù cho một người. Những bản án quá nặng cho những bài báo.

Vụ án kết thúc năm 2012, đánh dấu một bước leo thang mới trong nỗ lực đàn áp phong trào phản kháng. Tổng kết, năm 2012, chính quyền Việt Nam tuyên 117,5 năm tù cho 18 người trong 9 vụ án. Nếu so với năm 2011, chính quyền Việt Nam kết án tổng cộng 95,5 năm tù trong 10 vụ án cho 21 nhà hoạt động [1].

Vụ bắt giữ gần nhất với Lê Quốc Quân cho thấy không hề có một dấu hiệu nào chính quyền giảm bớt sự đàn áp đối với phong trào dân chủ trong thời gian tới.

Nếu có một giải thích đối với những bản án quá nặng đối với Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần đó chính là chính quyền sợ những tổ chức. Họ sẵn sàng dùng bạo lực để dập tắt những tổ chức và dùng những bản án nặng nề để răn đe sự hình thành của những tổ chức mới.

Những bản án nặng nề và những bắt bớ gần đây nó còn thể hiện thêm nỗi lo âu của đảng Cộng Sản trước tình thế khó khăn.

Năm 1990 đứng trước những khó khăn về kinh tế và làn sóng dân chủ hóa ở Đông Âu, mất đồng minh Liên Xô, đảng Cộng Sản đã hoảng sợ, quyết định gắn bó với Trung Quốc, ra sức đàn áp phong trào phản kháng.

Những năm gần đây, tình hình có những nét tương tự. Đứng trước những khó khăn về kinh tế, tính chính danh của đảng Cộng Sản gần như biến mất. Đảng Cộng Sản sẵn sàng dùng bộ máy an ninh để đàn áp phong trào phản kháng. Không khó để dự đoán rằng sự đàn áp sẽ trở nên khốc liệt trong những tháng ngày tới.

Sau Lê Quốc Quân, người tiếp theo có thể là bạn.

Nói như Nguyễn Gia Kiểng, đảng Cộng Sản đã chết. Nó chết theo nghĩa mất định hướng và những con người trong tổ chức không còn gắn bó vì một mục tiêu kiến tạo sự phát triển cho Việt Nam, mà vì những lợi ích riêng của mình [2].

Tuy vậy, có những lí do để lo lắng rằng chừng nào chưa có một phong trào dân chủ đủ sức kéo cái"xác chết” đi, chừng đó đảng Cộng Sản vẫn còn đó và những đàn áp vẫn tiếp tục.

Có nhiều lí do để thấy rằng phong trào dân chủ của chúng ta đang khủng hoảng hướng đi. Và, chưa có một đảng đối lập nào, dù ở hải ngoại, định hướng cho phong trào dân chủ nên làm gì sắp tới.

Phản kháng dân chủ không phải là chúng ta lên mạng viết những comment thể hiện bực tức rồi quay đi, hay những bài báo lên án và nhục mạ đảng Cộng Sản, cùng những cá nhân, rồi hết.

Cần nhắc lại rằng cuộc chiến đấu của chúng ta là cuộc chiến đấu bất bạo động. Chúng ta phải tự thuyết phục nhau rằng cuộc chiến đầu này phải là bất bạo động vì đơn giản trước hết chúng ta không có một khả năng nào chiến thắng bằng con đường bạo động, và còn những hệ quả hòa giải và tình thương yêu lẫn nhau sau khi cuộc chiến kết thúc. Bất bạo động không có nghĩa là chúng ta không làm gì cả. Mà chúng ta phải chủ động phản kháng lại những bất công một cách hòa bình và phi bạo lực. Bằng cách phản kháng lại những bất công một cách phi bạo lực chúng ta làm xói mòn đi quyền lực của chế độ cầm quyền, xây dựng được những đồng minh mới và cuối cùng thay đổi dứt điểm mọi bất công.

Nếu có thời gian xin bạn hay lên youtube xem một đoạn cuộc tuần hành xuống biển lấy muối của Gandhi. Sự bất công là việc độc quyền khai thác muối của chính quyền Anh. Bằng hành động đi bộ đến biển để lấy muối, Gandhi đã gắn kết những con người lại với nhau, giúp họ xóa bỏ đi nỗi sợ trước chính quyền thuộc địa Anh. Bằng việc chiến đấu bất bạo động chống lại những bất công trước mắt, Gandhi đã có thể huy động được một lực lượng lớn người dân đứng về phía mình, cũng là đứng về phía công lý và sự thật. Khả năng huy động được một lực lượng lớn nhân lực bản thân nó đã đánh bại được ý muốn cai trị của chính quyền thuộc địa và buộc họ phải rút lui bởi vì chính quyền thuộc địa không thể nào cai trị một đất nước hơn 300 triệu người địa phương lúc bấy giờ khi họ không tuân lệnh.

Chiến lược có thể thực hiện tại Việt Nam. Chính quyền Việt Nam sẽ đầu hàng khi một nhóm người có khả năng huy động hàng nghìn người ra đường để đòi công bằng và công lý. Trước mắt đó là tự do báo chí, công lý, và quyền biểu tình (chống Trung Quốc). Bằng cách liên tục, bền bỉ và bất bạo động đòi hỏi công lý và dân chủ được thực thi, chúng ta sẽ gắn kết được nhiều người với nhau, và tranh thủ cảm tình của các nhân viên chính quyền, kể cả công an và an ninh.

Phải tâm niệm rằng cuộc chiến này là cuộc chiến nhằm xóa bỏ những bất công, xây dựng công lý và công bằng, chứ không phải là một cuộc tấn công vào bất cứ cá nhân nào. Trong cuộc chiến này, chúng ta phải tìm kiếm đồng minh. Đồng minh ở đây là người dân ở mọi tầng lớp xã hội, kể cả trong chính quyền, lực lượng công an và quân đội. Chúng ta cần thể hiện rõ trong lời nói và hành động với họ rằng chúng ta không hận thù họ, bởi họ cũng chỉ là những người thừa hành. Chúng ta cần thuyết phục với họ rằng cuộc chiến nhằm xóa bỏ những bất công này không tấn công lại họ mà chỉ nhằm thay đổi những bất công mang tính hệ thống. Vũ khí của mỗi chiến sĩ bất bạo động đó là lòng dũng cảm, tình yêu kể cả khi chúng ta có thể nhận lại lòng hận thù, và công lý.

Hoặc là chúng ta bắt đầu hành động, hoặc là chúng ta ngồi đợi là người tiếp theo sau Lê Quốc Quân.


Tham khảo thêm:
Các nguyên tắc bất bạo động của Martin Luther King, Jr.

1. Bất bạo động là một cách sống dành cho những con người dũng cảm. Đó là sự phản kháng bất bạo động nhưng theo phương cách chủ động chống lại điều xấu. Nó có tính công kích cả về mặt tâm hồn, tinh thần, và cảm xúc. Đó là luôn luôn thuyết phục đối phương về công lý và lẽ phải đối với trường hợp của bạn.

2. Bất bạo động tìm kiếm đồng minh và sự hiểu biết. Kết quả cuối cùng của bất bạo động là sự cứu chuộc và hòa giải. Mục đích của bất bạo động là tạo ra một cộng đồng yêu thương lẫn nhau

3. Bất bạo động nhằm tìm kiếm những giải pháp để xóa bỏ sự bất công, thay vì tấn công vào những con người. Bất bạo động cho rằng những con người thực hành những điều sai trái chính họ cũng là nạn nhân. Những người phản kháng bất bạo động nên tìm những giải pháp để đánh bại, xóa bỏ những bất công, sai trái ấy, thay vì tấn công vào những con người thừa lệnh.

4. Bất bạo động cho rằng sự khổ đau có thể giúp giáo dục và chuyển hóa. Bất bạo động chấp nhận sự khổ đau mà không trả đũa. Bất bạo động chấp nhận chịu đựng những hành vị bạo lực (nếu cần), nhưng sẽ không bao giờ chịu khuất phục. Bất bạo động sẵn sàng chấp nhận những hậu quả gây ra bởi những hành động bất bạo động. Sự đau khổ phải chịu đựng có tính cứu chuộc và có rất nhiều tiềm năng mang tính giáo dục và chuyển hóa.

5. Bất bạo động chọn tình yêu, thay vì hận thù. Bất bạo động chống lại những hành vi bạo lực về mặt tinh thần lẫn thể xác. Tình yêu mang nghĩa bất bạo động phải mang tính tự nguyện, không mục đích, không ích kỉ và phải sáng tạo. Tình yêu mang nghĩa bất bạo động là sẵn sàng cho đi, dù biết rằng nhận lại có thể là thái độ thù địch. Tình yêu mang nghĩa bất bạo động phải là chủ động, không bị động. Tình yêu mang nghĩa bất bạo động phải là vô tận trong khả năng của nó để tha thứ nhằm khôi phục lại cộng đồng. Tình yêu mang nghĩa bất bạo động không thấp đến mức ngang bằng với tình yêu của người căm thù. Tình yêu đối với kẻ thù là cách chúng ta thể hiện tình yêu đối với chính chúng ta. Bất bạo động công nhận sự thật rằng tất cả sự sống đều có liên quan lẫn nhau.

6. Bất bạo động tin rằng nhân loại đứng về phía công lý. Người phản kháng bất bạo động có một niềm tin sâu sắc rằng sự công lý cuối cùng sẽ thắng. Bất bạo động tin rằng chúa Trời là chúa Trời của công lý và tình yêu.

Minh Việt
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Lời kêu gọi thực thi Quyền Con Người
Bùi Tín

Cái tự xưng là «tòa án nhân dân» trong nước - thực chất là tòa án của đảng CS - đã một lần nữa chà đạp lên Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền khi lại tuyên phạt nhà báo Hoàng Khương 4 năm tù, nhà báo Nguyễn Văn Hải 12 năm tù, nhà báo Tạ Phong Tần 10 năm tù, và nhà báo Phan Thanh Hải 3 năm tù. Cùng lúc «tòa án nhân dân» Đồng Nai cũng lại tuyên án cô Lê thị Kim Thu 2 năm tù chỉ vì cô đã thay mặt những người thấp cổ bé miệng trên cả nước gồm 63 tỉnh thành vào Nam ra Bắc tố cáo tham quan ô lại cướp nhà cướp đất cướp ruộng của dân.

Theo lệnh của Bộ Chính trị, các phiên tòa đã tỏ ra tàn nhẫn cao độ, bất chấp pháp luật và đạo lý, bất chấp lời cảnh cáo của các chính phủ và tổ chức quốc tế, áp dụng những mức án rất cao, không kể gì đến sức khỏe của các bị cáo, đến hoàn cảnh bi đát của mẹ nhà báo Hoàng Khương vừa mất vì quá thương con trai mình, cụ thân sinh anh Hoàng Khương già yếu ngồi bệt ngay trong tòa án, mẹ cô Lê Thị Kim Thu bất tỉnh ngay sau khi nghe tòa tuyên án.

Sự chà đạp quyền con người đã đến độ không một công dân yêu nước nào có thể ngồi yên được nữa. Bộ Chính trị tính rằng họ vẫn còn đe dọa được một bộ phận không nhỏ của nhân dân, vẫn còn một bộ phận nhân dân lo chuyện làm ăn riêng tư, nghĩ rằng tránh voi chẳng xấu mặt nào, dấn thân đấu tranh khéo không phải đầu cũng phải tai. Họ cũng tính rằng các nước phương Tây dậm dọa thế thôi, vẫn cần làm ăn, hợp tác cùng có lợi với Việt Nam.

Đây là một cuộc đấu tranh giằng co, dai dẳng, gay gắt.

Kinh nghiệm của các nước Bắc Phi, Trung Đông cho thấy tùy từng nước, nếu số công dân yêu nước dấn thân đến một mức nào đó thì lượng biến thành chất, làm thay đổi sánh lực lượng, trung lập hóa và tranh thủ được lực lượng quân sự, làm tê liệt lực lượng đàn áp, thúc đẩy tình hình ngả ngũ rất nhanh.

Mấy ngày cuối năm 2012 này trong nước có sáng kiến Lời kêu gọi thực thi quyền con người theo Hiến pháp, do một số trí thức dân tộc dấn thân đề xuất, mới ngày đầu đã có gần 100 chữ ký. Chỉ thoáng qua đã thấy những người đề xướng và đi đầu là những nhân vật có uy tín, rất đáng được quần chúng hưởng ứng, chung sức, chung lòng, góp gió thành bão từ những ngày cuối năm, nhân những vụ xử án cực kỳ tàn bạo, để đẩy thật mạnh đà phát triễn nhân năm mới 2013 sắp khởi đầu.

Tôi xin gửi lời chào thân ái đến các bạn chiến đấu cũ, từ Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nhà toán học Hoàng Tụy, nhà văn hóa Nguyên Ngọc, nhà dân tộc học Nguyễn Huệ Chi, nhà trí thức cắm «bảng chỉ đường» Hà Sỹ Phu, nhà xã hội học Tương Lai, nhà làm sách Chu Hảo, nhà kinh tế Việt Phương, nhà văn học Trần Đức Nguyên, nhà luật học Lê Hiếu Đằng, nguyên viện trưởng VDS Nguyễn Quang A, nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, nhà thơ cựu chiến binh Bùi Minh Quốc… đã sớm tham gia lời kêu gọị rất đúng lúc này. Tôi kính phục sáng kiến của các bạn.

Tôi có ước vọng Lời kêu gọi này sẽ có thể đạt một con số kỷ lục chừng 5000 người tham gia chẳng hạn từ nay đến Tết Âm lịch. Để chứng tỏ rằng giới trí thức ta đang bật dậy trước thách thức của cường quyền ngạo mạn, ù lỳ, hèn với giặc, ác với dân. Để chứng tỏ rằng đông đảo trí thức ta thật lòng yêu nước, thật lòng thương dân. Tôi xin kêu gọi tất cả các bạn bè quen biết của tôi, từng cùng học ở Huế, Hà Nội, từng cùng ở trong quân đội nay đã thức tỉnh thật sự đứng về phía nhân dân, từng ở chung trong làng báo Việt Nam, các bạn mới quen đã thân thiết trong hơn 20 năm sống ở nước ngoài, hiện đang ở Nga, Tiệp, Hung, Ba Lan, Đức, Canada, Hoa Kỳ, Úc và Pháp, xin hãy tham gia ký tên vào Lời kêu gọi này. (gửi email: loikeugoi2012@gmail.com, ghi tên, họ, nghề nghiệp, nơi sống).

Mong các bạn trẻ trong và ngoài nước hãy cố gửi email cho 5 bạn quen thân, mời các bạn ấy ký vào Lời kêu gọi này và cũng yêu cầu mỗi bạn ấy mời 5 bạn nữa cùng tham gia. Cứ thế mà gửi tiếp.

Tôi tin rằng với tấm lòng của các bạn, mong mỏi của tôi là 5.000 chữ ký sẽ bị lùi lại rất xa để chúng ta có một Tết âm lịch có nhiều niềm vui cao quý.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

VOA
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Ðọc “Bên Thắng Cuộc”

Tiến Sĩ Ðinh Xuân Quân
Quyển sách “Bên Thắng Cuộc” của Huy Ðức đã, đang và sẽ tạo nhiều tranh luận cho người đọc trong và ngoài nước. Hiện nay quyển sách này mới chỉ có thể mua trên Amazon (phiên bản tin học). Cuốn 1, có tên là Giải Phóng, gồm 2 phần và 11 chương:

Phần I:

Chương 1: Ba Mươi Tháng Tư - Miền Nam - Ði từ bưng biền - Xuân Lộc - Tướng Big Minh - Trại Davis - Nguyễn Hữu Hạnh - Sài Gòn trong vòng vây - Xe tăng 390 - Ðầu hàng - Tuẫn tiết; Chương 2: Cải tạo Những ngày đầu “Ngụy Quyền” - “Ngụy Quân” - “Ðoàn tụ” - “Phản động” - Tù và cải tạo - “Thăm Nuôi” - “Học Tập”; Chương 3: Ðánh tư sản “Chiến dịch X-2” - Ðổi tiền - “Gian thương” - “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh” Hai gia đình tư sản - Kinh tế mới; Chương 4: Nạn Kiều Ðội quân thứ năm Hiệp định Geneva “Chổi ngắn không quét xa” - Hoàng Sa - Sợ “con ngựa thành Troy” - “Nạn Kiều” “Phương án II” - “Ban 69” - Vụ Cát Lái; Chương 5: Chiến tranh - Biên giới Tây Nam - Pol Pot - Ði dây - Khmer Ðỏ và Campuchia dân chủ - “Kẻ Thù Lịch Sử” - Thất bại trong tấn công ngăn chặn (Pre-emptive War) “Nhất Biên Ðảo” - “Áo lính lại khoác vào ngay”; Chương 6: Vượt biên - “Vượt biên” - Từ “trí thức yêu nước” - Ðến “thường dân” - Trước khi tới biển - Ðường tới các trại tị nạn - Chương 7: “Giải Phóng” - Sài Gòn thay đổi - Kinh tế mới Ðốt sách - Cạo râu - “Cách mạng là đảo lộn” - Lòng người - Những người được sinh ra không đúng cửa - “Cánh cửa” Thanh niên Xung phong - “Nổi loạn” - “Sài Gòn lại bắt đầu ghẻ lở”.

Phần II: Thời Lê Duẩn

Chương 8: Thống nhất Nước Việt Nam là một - “Bắc hóa” - Chủ nghĩa xã hội - “Con đường của Bác” - “Mỗi người làm việc bằng hai” - Lê Duẩn và mối tình miền Nam - Chấp chính và chuyên chính - Chương 9: Xé Rào - Bế tắc - Mậu dịch quốc doanh - Máy bỏ không, công nhân cuốc ruộng - Tháo gỡ - Nghị quyết Trung ương 6 - Bù giá vào lương - Cắm cờ xé rào - Khoán chui - Ông Kiệt xé rào, ông Linh lãnh đạn - “Ai thắng ai” - Chương 10: Ðổi mới - Hội nghị Ðà Lạt - Nhóm giúp việc mới - Người của những khúc quanh lịch sử - Từ chính sách Kinh Tế Mới - Ðến chọc thủng thành trì bao cấp Giá-Lương-Tiền - Nã pháo vào bộ tổng - Khép lại trang sử Lê Duẩn - Vai trò của Mikhail Gorbachev Tuyên ngôn đổi mới - Bàn tay Lê Ðức Thọ - Phút 89 - Chương 11: Campuchia - “Pot ở đầu phum ta cuối phum” “Xuất khẩu cách mạng” - Tư tưởng nước lớn - Bị cô lập - Phương Bắc - Hội nghị Thành Ðô - Campuchia thời hậu Việt Nam.

Ðã có nhiều nhận xét về cuốn “Bên Thắng Cuộc” về phần chính trị, về những sai lầm trong nội dung, và chúng ta đã nghe một số chỉ trích, chê bai. Riêng đối với người viết này thì ta cần biết lịch sử cận đại Việt Nam qua nhiều phía kể cả về phần kinh tế. Muốn tranh đấu ta phải hiểu đối thủ và do đó phải tìm hiểu và phân tích những thành công và thất bại của họ ở chỗ nào?

Người ta nói lịch sử thường được viết theo những người thắng cuộc nhưng từ 1975 đến nay đã bao nhiêu tài liệu được giải mật và nay cuộc chiến tại Việt Nam được đánh giá qua nhiều khía cạnh mới. Người ta nói có sách, mách có chứng nhưng với điều kiện là sách viết đúng, không tuyên truyền. “Bên Thắng Cuộc” đã mang một ánh sáng mới cho những trang sử cận đại Việt Nam khi tác giả đã cố gắng có cái nhìn cân bằng - trung thực mặc dù thiếu phân tích.

Dưới khía cạnh kinh tế ta có thể xem cuốn sách như một nguồn tài liệu và có ghi lại nhiều điều hữu ích cho sự nghiên cứu lịch sử hay tài liệu tra cứu. Nó cho thấy là chính các chính sách kinh tế ngây thơ “của một nền kinh tế tập trung bao cấp” đã phá kinh tế miền Nam. Và sự yếu kém về kinh tế vẫn tiếp tục đến ngày nay vì “tư duy” trên nền tảng kinh tế chỉ huy với não trạng rất hẹp hòi của giới lãnh đạo.

Cuốn sách được viết bằng giọng rất bình thản, khách quan, khác hẳn ký ức của nhiều người đã trải qua những tình huống cay đắng của bên thua trận, trong đó có người đang viết những dòng này. Những chính sách sau ngày 30 tháng 4, 1975 của những “đỉnh cao trí tuệ của Bộ Chính Trị” đã thực thi tại miền Nam, đã lộ rõ trong quyển sách này. Nó cho thấy những suy nghĩ thô sơ, hiểu biết quá lạc hậu về các vấn đề quản trị một đất nước, nhất là về quản lý kinh tế.

Thật vậy quyển sách có trên 3 chương (chương 3, 9 và 10) nói về kinh tế mà ta có thể gọi là “quy trình phá hoại kinh tế miền Nam” qua việc áp đặt một cách máy móc guồng máy “tập trung bao cấp” vào kinh tế. Chương 3 kể lại quy trình phá hoại kinh tế VN bởi tập thể Bộ Chính Trị qua việc cải tạo kinh tế. “Theo nhận thức của những người cộng sản, đánh đổ giai cấp tư sản là bước đi tất yếu, là nhiệm vụ của “cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”. Chưa đầy ba năm sau khi chủ nghĩa xã hội được áp dụng ở miền Nam, các nhà doanh nghiệp, với tên gọi mới là “tư sản”, đã phải trải qua hai lần bị “đánh”.

Các “Chiến dịch X-2” ngày 10-9-1975, việc “Ðổi tiền” ngày 22 và 23-9-75, khi đồng tiền cũ của chế độ Sài Gòn đã được thay thế bởi đồng tiền mới được coi là “chiến dịch” còn gọi là “X-3” trong đó mỗi hộ gia đình được đổi tối đa 100,000 đồng tiền với 500 đồng tiền VNCH ăn một đồng tiền mới Ngân hàng [nói theo kinh tế thì đây là một cuộc đổi tiền bóc lột]. Ngày 3-9-1975, Ngân hàng tuyên bố “Công khố phiếu (miền Nam) không còn giá trị”, [Chính quyền giải thích: “Các loại công khố phiếu dù của các ngân hàng hay của tư nhân là những giấy nợ của Nguyễn Văn Thiệu vay để thêm ngân sách cho guồng máy chiến tranh, nay Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ đã mang tiền của tháo chạy, Chánh quyền Cách mạng hiện đang quản lý tài sản của toàn dân.]

Các chiến dịch “Ðánh tư sản” - “Chiến dịch X-2”, việc đổi tiền (X-3), việc đánh “Gian thương” hay việc “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh.” Tác giả kể lại một cách bình thản một số sự kiện đã đưa đến sự phá hoại kinh tế miền Nam qua việc áp đặt các chính sách “XHCN” được áp dụng một cách ngây thơ - nếu không nói là mù quáng trong vấn đề cải tạo công thương nghiệp tại miền Nam.

Chương 9 kể lại quy trình tìm mò các giải pháp kinh tế do những bế tắc của kinh tế tập trung bao cấp của Việt Nam qua việc “Xé Rào”. Chỉ mấy năm sau 1975, những người như ông Võ Văn Kiệt nhận ra là các chính sách cơ chế “tập trung quan liêu bao cấp” cho kinh tế thất bại và họ đã phải tìm cách “xé rào” để giải quyết các bế tắc của kinh tế VN. “Bên ngoài thì giặc giã, bên trong thì bức bối, đói kém, không khí càng trở nên ngột ngạt, nhất là từ giữa năm 1978. Lượng người bỏ nước ra đi càng lúc càng tăng, cỗ xe như đang lao xuống dốc mà không ai nhìn thấy chân phanh ở đâu...” Các bế tắc kinh tế do mậu dịch quốc doanh - Máy bỏ không, công nhân cuốc ruộng và cách nào Việt Nam đã cố tháo gỡ các khó khăn kinh tế do việc áp dụng hệ thống “bao cấp” tại VN. [Ông Kiệt không phải chờ quá lâu để chứng kiến những gì mà chủ nghĩa xã hội mang lại cho Sài Gòn. Ðại hội Ðảng lần thứ IV đề ra mục tiêu: “Năm 1980 đạt ít nhất hai mươi mốt triệu tấn lương thực quy thóc, một triệu tấn thịt hơi các loại”.] Trên thực tế là, tại vựa lúa Ðồng Bằng Sông Cửu Long, sau khi “cưỡng bức tập thể hóa”, sau khi máy cày, máy kéo của tư nhân bị đưa vào hợp tác xã, tập đoàn đã trở nên tàn phế, mặc kệ các chỉ tiêu đại hội, sản lượng lương thực, thực phẩm giảm mạnh. [Nhưng gạo lại để ẩm mốc ở Long An trong khi dân Sài Gòn vẫn đói.] Quyển sách nói đến “Nghị quyết Trung ương 6” hay việc nhận ra nguyên nhân đất nước khó khăn là vì “những khuyết điểm chủ quan” và chủ trương xóa bỏ ngay những chính sách chế độ bất hợp lý, gây trở ngại cho sản xuất, khuyến khích việc phát triển sản xuất... Chương này cũng nói về vấn đề xé rào và khoán chui và hai lần đổi tiền năm 1985. Quyển sách cũng nhắc lời của KS Dương Kính Nhưỡng (cựu bộ trưởng của VNCH) một cách rất chí lý: Cần phải có luật lệ mới quản lý được một đất nước.

Hậu quả các chính sách kinh tế “tập trung bao cấp” là “Cuộc sống của những người dân ở hậu phương cũng trăm bề khó khăn: Cây đinh phải đăng ký / Trái bí cũng sắp hàng / Khoai lang cần tem phiếu / Thuốc điếu phải mua bông / Lấy chồng phải cai đẻ / Bán lẻ chạy công an / Lang thang đi cải tạo / Hết gạo ăn bo bo / Học trò không có tập...” Nhờ tình trạng này cho nên chương 10 nói về Ðổi mới - Hội nghị Ðà Lạt - Nhóm giúp việc mới - Người của những khúc quanh lịch sử Từ chính sách Kinh Tế Mới - Ðến chọc thủng thành trì bao cấp Giá-Lương-Tiền - Nã pháo vào bộ tổng - Khép lại trang sử Lê Duẩn - Vai trò của Mikhail Gorbachev - Tuyên ngôn đổi mới - Bàn tay Lê Ðức Thọ - Phút 89. Ðây là quy trình tìm cách giải quyết các khó khăn của kinh tế Việt Nam.

Tác giả này trong bài (1) được viện ISEAS của Ðại Học Singapore xuất bản đã chứng minh là đến 1972, không ai của “nhóm đỉnh cao trí tuệ” của BCT tại Việt Nam có một mảnh bằng bằng đại học. Hậu quả của việc quản lý yếu kém của lãnh đạo có “Mác xít nhưng trình độ quá thấp” [đỏ hơn chuyên] là những tai hại mang đến cho đất nước Việt Nam.

Một điểm đáng lưu ý là tác giả Huy Ðức đã dùng chữ Tuẫn Tiết để chỉ cái chết của các tướng lãnh miền Nam như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Ðại Tá Ðặng Sĩ Vinh, những người đã tự kết liễu đời mình vào thời điểm miền Nam sụp đổ. Theo tác giả thì nhiều quân nhân VNCH vô danh đã tìm đến cái chết trong danh dự những ngày sau đó.

Tác giả cũng đã trích dẫn huyền thoại về Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Năm do Hoàng Tùng dàn dựng. Chương Nạn kiều trong sách làm sáng tỏ việc tổ chức cho người Hoa vượt biên để gom vàng của nhà nước. Phương án II cũng giúp chúng ta thấy bao nhiêu thảm cảnh đã xảy ra, trong sách ghi lại: “Người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản”.

Quyển sách cho thấy đảng Cộng Sản là một tổ chức vô cùng tàn bạo mà lại rất yếu kém về chuyên môn. Người Cộng Sản Việt Nam mang bộ mặt đạo đức giả, mị dân, nhưng cũng có nhiều người cố gắng tìm giải pháp khi bế tắc.

Quyển sách này giúp hai phe (thắng và thua, nói tóm là dân Việt Nam) tái khẳng định sự thật qua những việc gì đã xảy ra từ 1975 đến nay. Vì mù quáng hay ngây thơ theo một chủ nghĩa mà Việt Nam đã phải trải qua bao vấn nạn - bao khó khăn, hoàn toàn phá kinh tế miền Nam chỉ vì... “quá ngu xuẩn vì duy ý chí”.

Cái tên sách “Bên Thắng Cuộc” có lẽ cũng nói lên cái thâm ý của tác giả Huy Ðức, là không coi sự thắng trận của miền Bắc là một cái gì quá vĩ đại và tuyệt đối. Hai chữ “thắng cuộc” cho người đọc cái cảm giác đó chỉ là một cái gì ở tầm cỡ nhỏ, tạm thời, trong khi dòng chảy phong phú và đa dạng của lịch sử ngày càng cho thấy cái chính nghĩa lại thuộc bên thua cuộc là miền Nam. Nhân quyền, tự do về tư tưởng, tín ngưỡng, ngôn luận, cư trú và về kinh tế, v.v... là những đặc điểm vốn đã là nền tảng cho chế độ miền Nam, ngày càng là các đòi hỏi bức thiết của mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam hiện tại, sau gần 40 năm chế độ cộng sản được áp đặt cho cả nước, nhất là hiện tượng phụ thuộc vào Trung Cộng ngày càng rõ rệt, và việc “đảng đàn anh” đương nhiên coi Hoàng Sa và Trường Sa là của họ.

Vào thời điểm này ai thắng ai thua không còn là điều quan trọng, mà việc tái khẳng định sự thật lịch sử, để từ đó sửa chữa các sai lầm và đưa đất nước đến độc lập, thịnh vượng và dân chủ mới là điều đáng quan tâm nhất cho tất cả người dân Việt Nam. Quyển sách này chính là bước đầu giúp việc đánh giá lại “giấc mơ XHCN” mà tác giả cho thấy đã mang bao tai họa cho dân Việt Nam. Người viết bài này cũng đã sống tại Việt Nam giai đoạn sau 1975, từ tù cải tạo đến việc bị phân biệt đối xử bị coi là loại công dân hạng hai, cho đến khi vượt biển tìm được tự do; và sau đó còn có dịp về làm việc tại Việt Nam trong chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) nhằm giúp cải tổ hành chánh và kinh tế. Với các kinh nghiệm đã trải qua, người viết đánh giá là ngoài vài sai lầm nhỏ, quyển sách này đã cố nói lên được nhiều sự thật. Nó cần phải được đọc nhiều lần một cách cẩn thận, để hiểu được những gửi gắm của tác giả, trong khi chờ đọc nốt cuốn thứ hai của Huy Ðức.

T.S. Ðinh Xuân Quân
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Chuyện vui đầu năm

Ngô Nhân Dụng

Trên các mạng internet đang chuyền nhau một bức hình chụp cửa vào một bệnh viện tâm thần ở Sài Gòn. Trên cánh cổng ra vào bệnh viện tâm thần có tấm biểu ngữ mầu đỏ, viết: Bệnh nhân tâm thần TP HCM tích cực học tập (xuống dòng) “Tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời.”


Đây là bức hình ghép trông giống như thật, chỉ cốt vui đùa nhân dịp đầu năm dương lịch, nhưng vẫn có ý nghĩa. Có thể chuyển cho cho tất cả các đảng viên cộng sản ở Việt Nam cũng như ở Cuba, Bắc Hàn, Trung Quốc cùng học tập. Bởi vì trong thế kỷ 21 này, ở những xã hội lành mạnh, bình thường, ai còn tin vào chủ nghĩa cộng sản đều có thể coi là đang “mắc bệnh tâm thần”cả.


Trong tiểu thuyết hài hước “Kiểm duyệt một truyện tình ở Iran” (Bản dịch tiếng Anh: Censoring an Iranian Love Story, 2009), nhà văn Shahriar Mandanipour viết nửa trang kể chuyện về một đảng viên cộng sản xứ Iran. Đó là một nhân vật phụ, không có tên, tác giả gọi là “người cha của Dara;” Dara là tên cậu tình nhân trong chuyện.


Trước cuộc cách mạng Hồi Giáo năm 1979, Cha của Dara là một thanh tra ở phi trường ngay thủ đô Tehran, tuy cơ hội ăn hối lộ nhưng ông rất thanh liêm, để gia đình sống nghèo nàn. Ông bí mật theo đảng Cộng sản Iran, đến lúc bị lộ, bị bắt vô nhà tù Evin đã nổi tiếng từ thời quân chủ, ông bị tra tấn. Sau hai năm, dân Iran biểu tình lật đổ chế độ quân chủ, Cha của Dara được giải thoát, được các sinh viên công kênh đưa đi như một anh hùng. Ông trở lại làm thanh tra ở phi trường và vẫn sống thanh bạch như cũ. Được sáu năm, ông bị công an của chế độ mới bắt vi ông theo đảng Cộng sản, điều này công khai, ai cũng biết. Lại bị giam vào ngục Evin, lại bị đánh đập. Nhưng trước sau ông chẳng có điều gì có thể khai báo để khỏi bị tra tấn. Bị giam khoảng bốn năm thì được tha. Tại sao họ thả cha của Dara về nhà?


Bởi vì lúc đó là đầu năm 1990, sau khi bức tường Berlin sụp đổ, các nước Đông Âu đang ra tay tẩy rửa sạch các tàn tích của chủ nghĩa cộng sản. Nhà nước Hồi Giáo độc tài ở Iran quyết định tha cho các đảng viên cộng sản, vì trừng phạt họ cách khác hay hơn. Nhà văn Mandanipour giải thích: Không có sự trừng phạt nào độc địa hơn là cho một đảng viên cộng sản trở về nhà, để anh ta nhìn thấy bao nhiêu đảng cộng sản trên thế giới đang ăn năn hối lỗi, đang tự xóa bỏ quá khứ của họ! “Cha của Dara và đồng đảng của ông ta chợt khám phá ra là bao nhiêu năm họ bị giam cầm, bị tra tấn trong nhà tù bỗng chốc lát thành ra hoàn toàn vô giá trị!”

Cứ như thế, Cha của Dara sống như một người tâm thần, không làm lụng gì cả, vẫn được lãnh đồng lương hưu nho nhỏ, ông ta chọn một góc nhỏ giống sống cách biệt vợ con, như vẫn sống trong phòng biệt giam, trải chiếu nằm nằm không đủ chỗ duỗi chân. Để khuây khỏa quên mình đang bị bệnh tâm thần, suốt ngày ông mở các đài phát thanh của người Iran từ hải ngoại, đài VOA, RFI, BBC, nghe ngóng tin tức và chờ ngày tàn của chế độ Hồi Giáo cực đoan ở xứ Iran. Một đảng viên cộng sản Iran bây giờ cũng trông đợi xem bao giờ nước Mỹ có thể giúp nước họ thoát ra khỏi một chế độ thần quyền lạc hậu!

Shahriar Mandanipour kể câu chuyện một nhà văn vừa viết vừa lo tự kiểm duyệt để hy vọng sách được in ra, cách viết của ông rất hài hước và thâm sâu. Nếu Lưu Quang Vũ còn sống, chắc chúng ta đã được coi nhiều vở kịch hài hước và sâu xa như vậy. Cứ tưởng tượng trên một sân khấu hài kịch, cô con gái đưa một chàng trai bảnh bao về giới thiệu với cha mẹ lần đầu. Bà mẹ nhìn chàng trai từ đầu tới chân, tóc tai quần áo đúng mốt, tay ôm cái iPad mới, bà hỏi: “Thế cậu đi học ở Úc hay ở Mỹ về đấy nhỉ?” Chàng trai ưỡn ngực trả lời: “Thưa bác, cháu là đảng viên cộng sản!” Nghe thế là đủ cho khán giả bật cười vỡ rạp ra rồi!

Nhưng ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều người không biết cười. Thí dụ, các ông trong Hội đồng lý luận trung ương. Họ không thể cười được, bởi vì nghề nghiệp của họ là “lý luận.” Nếu không còn một đảng cộng sản, nếu không còn chế độ cộng sản, thì họ thất nghiệp. Nếu anh là một đảng viên kiêm công nhân nghề tiện, một đảng viên kiêm thợ sửa ống nước hay kiêm nghề cắt tóc, thì dù chế độ cộng sản còn hay mất anh vẫn có thể kiếm ra việc làm.

Nhưng các chuyên viên lý luận thì không. Họ chỉ biết một nghề là nói, nói dài, nói dai, cố thuyết phục mọi người phải tin tưởng chủ nghĩa Mác Lê Nin. Mặc dù họ biết mình nói cũng chẳng ai thèm nghe, và người nghe cũng chẳng ai thèm tin. Nhưng nếu không còn đảng cộng sản, không còn chủ nghĩa cộng sản thì họ biết làm nghề ngỗng gì? Đảng còn thì mình còn! Đó là khẩu hiệu của công an. Nhưng ta biết khi chế độ cộng sản Liên xô chấm dứt thì các cựu nhân viên KGB vẫn tìm ra việc làm. Họ đi “bảo vệ” các nhà tư bản đỏ, buôn lậu, hoặc đâm thuê chém mướn. Còn các giáo sư triết học Mác Lê, các nhà lý luận thì khác: Sểnh đảng ra là thất nghiệp! Vì thế ở Việt Nam họ kiên định lập trường bảo vệ đảng còn mạnh hơn cả đám công an nữa.

Cho nên trong lúc năm cùng tháng tận, ngày 31 tháng 12 năm 2012, Hội đồng lý luận trung ương của đảng ta vẫn họpđể kiểm điểm công tác! Trong hội nghị lý luận trung ương này, ôngchủ tịch Đinh Thế Huynh, ủy viên Bộ chính trị, nói, "Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng bộc lộ xung khắc với thực tế, càng làm cho thực tế trở nên rối bời và đẩy xã hội Việt Nam đến những mâu thuẫn lớn khiến cho bùng nổ phản kháng, biểu tình và dân oan ngày càng đông đảo lên." Ông này chỉ nói tới các vụ biểu tình, kêu oan, đòi đất, nhưng chưa nói đến phản ứng tập thể của các công dân mạng; thí dụ như khi họ phân phát cho nhau bức hình bệnh nhân tâm thần học tập để cười chơi!


Ba chục năm nay, sau khi quay đầu 180 độ, lý luận để bảo vệ ngôi vị đế quốc của đảng Cộng sản Việt Nam được tóm tắt trong khẩu hiệu: “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Bây giờ ông chủ tịch hội đồng lý luận thú nhận rằng cái lý luận đó nó hỏng bét! Nó hoàn toàn xung khắc với thực tế. Không những thế, nó còn làm cho xã hội rối bời và dân chúng ngày càng phẫn uất nhiều hơn!


Nếu một người bình thường, không cư ngụ lâu năm trong bệnh viện tâm thần, thì sau khi nhìn ra sự thật như vậy, người đó phải kết luận rằng những lý luận trước đây của mình sai hết cả rồi, phải xóa đi làm lại! Nhưng ông Đinh Thế Huynh vẫn thản nhiên báo cáo tiếp về công tác của các chuyên viên đồng nghiệp, nói rằng: “cuộc đấu tranh lý luận bước đầu có những chuyển biến tích cực!” Khổ quá, đảng Cộng sản Việt Nam đã hơn 70 tuổi đầu rồi, các cụ đảng viên lão thành còn sống cũng trên dưới 90 tuổi cả rồi! Thế mà bây giờ bỗng nhiên họ được nghe báo cáo rằng lý luận của đảng họ, trong “bước đầu,” đã có “những chuyển biến tích cực!” Mới bước đầu thôi! Và mới “chuyển biến tích cực” chứ chưa có cái gì thật sự tích cực! Nghe báo cáo như vậy, chắc các cụ lão thành phải ôm mặt khóc! Đó cũng là những người Cha của Dara.


Nhưng ngày đầu năm, dù là đầu năm dương lịch, chúng ta không nên nói đến chuyện khóc. Cho nên bài hôm nay kết thúc bằng một chuyện cười. Chuyện cười này không được chuyển đi bí mật trên các mạng như bức hình bệnh viện tâm thần, mà lại in ngay trên cái tựa của báo Tiền Phong, một tờ báo của đảng.


Gần đây, đảng Cộng sản hô hào đảng viên phải cùng nhau tự “kiểm điểm.” Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ví công tác này như một cuộc “tắm rửa” vĩ đại; nếu không thì đảng và nhà nước sẽ sụp đổ. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng công nhận có “một bầy sâu” đang làm hại đảng vì chỉ biết ăn bòn của dân. Để kiểm điểm, họ bèn họp một hội nghị trung ương. Họp xong, chằng thấy họ bắt được con sâu, con chấy, con giận nào cả. Tổng Bí thư chỉ sụt sùi xin lỗi, còn những con sâu thì chỉ được “cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe,” và hứa sẽ ngăn chặn! Các con sâu đã bị kiểm điểm! Đồng chí X (Ếch) cũng xin lỗi, nhưng lại nhấn mạnh là mình không làm cái gì sai cả, trách hiệm đều do Bộ Chính trị lãnh cả!


Trong không khí chán mớ đời như vậy, báo Tiền Phong in một cái tựa to tướng để tuyên dương thành tích Đảng: “Kiểm điểm sâu!”


Người đọc có thể hiểu hai cách: Đảng kiểm điểm vào chiều sâu. Hoặc: Đảng kiểm điểm các con sâu! Loài sâu bọ mừng quá! Không ai dùng đến thuốc trừ sâu! Các giống sâu, bọ, chấy, giận, chuột, đang út máu mủ, gậm nhấm cả nước Việt Nam chỉ bị đem ra kiểm điểm thôi!



Nếu Shahriar Mandanipour biết chuyện này chắc ông cũng phải khâm phục tài “lách” của các nhà báo Việt Nam. Trong cuốn truyện ông đã kể bao nhiêu mánh khóe một nhà văn Iran phải thi thố để lách khỏi lưỡi kéo kiểm duyệt, trong đó có cách dùng chữ hai nghĩa trong tiếng Farsi. Ông sẽ thích thú khám phá ra trong tiếng Việt cũng đầy những chữ hai nghĩa!



Nhưng, sau khi chia sẻ một nụ cười với Mandanipour, cũng xin nhắc đến một kinh nghiệm của ông khi vừa viết vừa tự kiểm duyệt. Ông nhận thấy là sau khi cố gắng tìm mọi cách để đánh lừa các quan văn hóa tư tưởng, sẽ đến lúc nhà văn cũng đánh lừa luôn cả độc giả của mình!


Xin kính gửi thông điệp của Mandanipour tới các nhà văn ở Việt Nam, những Bảo Ninh, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Quang Tuyến, vân vân, và vân vân, cùng với lời chúc mừng năm mới.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Việt Nam Dưới Bờ Vực Thẳm
Nguyên Thạch
Trong văn chương, thường người ta thường ví những việc gì nguy hiểm bằng câu “Bên bờ vực thẳm”. Ở đây, tôi xin nói huỵch tẹt là “Dưới bờ vực thẳm”. Đây là nội dung bài viết này. Ý tưởng người viết có còn nhiều giới hạn, xin bạn đọc bổ xung ý kiến nếu cần.

Xin cùng lược qua một cách khái quát về lịch sử cận đại của đất nước Việt nam suốt thời kỳ bị chế độ cộng sản cai trị và những hệ quả của nó.

1. Chủ nghĩa ngoại lai

Do hoàn cảnh khách quan của toàn thế giới, Việt nam cũng như một số quốc gia nhược tiểu khác đã bị những thế lực mệnh danh là đế quốc, xâm chiếm và đô hộ.

Trong hoàn cảnh bi đát của gia đình, Hồ Chí Minh (HCM) đã bị khủng hoảng về tinh thần, phải tự liệu để đi tìm một lối thoát cho bản thân. Trên con đường đó, nếu Bộ giáo dục Pháp chấp nhận đơn (của HCM) xin học tại trường bảo hộ thì chắc chắn cuộc đời của Hồ đã khác hẳn.

Qua bao tham vọng, xảo thuật, và mưu mô, Hồ đã du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến hiện trạng thê thảm của đất nước từ những ngày cách mạng mùa thu cho đến hôm nay. Cộng sản là một thứ chủ nghĩa mà nhân loại văn minh đã vứt vào sọt rác từ lâu, nhưng tập đoàn đảng viên CSVN vẫn ngụy biện và mò mẫm trong mê muội.

2. Thống nhất đất nước

Bằng bạo lực, “Cả nước đã quay về một mối/Một mối hận thù, một mối đau thương!” (Nguyễn Chí Thiện, Thơ Vô đề). Thống nhất Nam Bắc để “Xuống hố cả nút” để huynh đệ tương tàn, nghèo nàn lạc hậu, áp bức bất công... Thống nhất, gom về một cụm để dễ bán đứng dân tộc, dâng cả giang sơn cho ngoại bang. Như thế thống nhất đất nước để để làm gì?

3. Độc tài cai trị

Người xưa có câu “Hữu xạ tự nhiên hương”. Nếu đảng cộng sản quả thực tài tình thì há gì phải run sợ trước những đảng phái chính trị khác? Cớ gì phải lo ngại đa đảng, đa nguyên? Nếu thực sự là chính nghĩa thì tại sao phải tránh né trưng cầu dân ý?

Đất nước nghèo nàn lạc hậu, chính quyền làm nô lệ cho ngoại bang là kế quả của Đảng Cộng sản trong suốt ba mươi lăm năm thống trị cả nước, bảy mươi năm trên toàn miền Bắc. Xin tra cứu thống kê của thế giới, Việt nam đưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản.

4. Đất nước phát triển

Phát cái gì trong suốt thời gian dài? Phá triển đó có xứng đáng không?

Hãy lấy mốc trước 1975 khi miền Nam dưới thế chế tự do dân chủ thì Sài Gòn được mệnh danh là hòn ngọc viễn đông. Tuy phải đối đầu với cộng sản miền Bắc và khối công sản thế giới, xã hội miền Nam đã phát triển hơn Thái lan, Đài loan, Philipine, Mã lai (Malaysia), Nam Hàn (South Korea).

Khoan nói tới các quốc gia tiên tiến, hôm nay, vị thế của Việt Nam ở đâu so với các nức vừa kể? Tại sao Thái lan, Đài loan, Philippines, Mã lai (Malaysia), Nam Hàn (South Korea) phát triển nhanh, vượt xa Việt Nam? Điểm chung của các quốc gia trên là không theo chủ nghĩa cộng sản.

5. Xã hội điêu đứng

Chưa bao giờ cuộc sống của người dân Việt nam có quá nhiều đau khổ và thê thảm như hiện nay. Bao nhiễu nhương, ngang ngược, bạo tàn, hối lộ tham nhũng đè nặng trên đầu trên cổ người dân vô tội. Những tiếng nói, những ước mơ, những thét gào đòi Tự do, Dân chủ, Nhân bản, Dân quyền, đều bị đàn áp thô bạo, bắt bớ tùy tiện.

Một xã hội đầy rẫy những oan khiên, nghèo đói. Tuổu trẻ Việt Nam phải thất học vì bố mẹ túng quẫn; thiếu niên Việt Nam phải lao đầu vào cuộc sống chụp giựt, chỉ biết tiền và tiền. Cộng sản đã thành công trong việc biến hóa đa số công dân của đất nước trở thành lớp người với một khối óc đặc sệt đất sét.

6. Đạo lý suy đồi

Chưa bao giờ xã hội Việt Nam có một nền đạo lý tồi bại xuống cấp như ngày nay. Lọc lừa đàng điếm, cướp bóc giựt dọc, du côn láu cá, thờ ơ vô cảm trước những khổ đau của đồng chủng. Hẹp hòi ích kỷ, chỉ biết chăm sóc cho bộ lông của riêng mình. Giả tạo, gian dối và nguy hiểm hơn là cả nước thi đua nói láo... Đó là kết quả của chủ nghĩa sắt máu, hoang tưởng, mị dân đến những cuộc đấu tố thâm độc. Từ vô thần, cực đoan đã đưa đến sự ung thối dốt nát hôm nay.

7. Khinh thường trí thức và những tài năng của quốc gia.

Một trong những cái sai trầm trọng của chủ nghĩa CS là gây chia rẽ hận thù giữa các tầng lớp trong xã hội. CS đã ưu tiên đề cao giai cấp công nhân, lấy đó làm nền tảng để cai trị các giai cấp khác. Điều đó đã đi ngược lại với chân lý Mọi người sinh ra đều được bình đẳng. Bất bình đẳng nảy sinh bất ổn xã hội.

Trong niềm ưu tư khắc khoải với tiền đồ và tương lai của dân tộc, giới trí thức đã trăn trở gióng lên tiếng chuông cảnh báo cũng như góp phần tri thức của mình hầu đưa đất nước vượt qua tăm tối khó khăn nhưng thay vì đáp lại những tấm lòng đó, đảng cộng sản đã ngờ vực, qui chụp gán ghép cho bao nhiêu thứ tội.

Một thể chế không biết chiêu hiền đãi sĩ thì sự suy vong là điều tất yếu.

8. Hiểm họa vong nô

Điều chắc chắn là tổ quốc sẽ suy tàn dưới sự cai trị của một lũ đốn mạt. Lãnh thổ sẽ hao mòn mất mát dưới sự quản lý của những tên tham lam hèn hạ, mê muội, u tối sẵn sàng bán rẽ tài nguyên của quốc gia để phục vụ cho tư lợi cá nhân và cho phe đảng. Đảng cộng sản là tội đồ của dân tộc, những đảng viên trong bộ chính trị ĐCSVN là những thái thú nối giáo cho giặc. Thật ô nhục! Tiền đồ vận mạng đất Việt đang bị đảng cộng sản Việt Nam chôn vùi dưới hố sâu vực thẳm.

Chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Đảng cộng sản đang đưa tuổi trẻ và toàn dân tộc vào vòng oan nghiệt.

9. Tương lai mờ mịt

Nhìn vào hoạt cảnh của một xã hội đầy rẫy bất công ngang tàn bạo ngược, tham quan hối lộ nhũng nhiễu đàn áp, dân chúng cơ cực bần hàn bị bưng bít bịt miệng... Đất hẹp người chen chúc, môi trường ô nhiễm, đã và đang bị tàn phá khốc liệt. Nguồn thực phẩm cạn kiệt, chất độc, hơi độc trùm phủ, bệnh tật lây lan, người trẻ kẻ già lăn lóc đầu đường xó chợ, nhân dân đã mất hẳn niềm tin. Giặc ngoại xâm đã hiển hiện trên khắp nẻo quê hương. Đất nước Việt Nam nhỏ bé này sẽ bị bọn Hán phiệt tàn phá hủy diệt không thương tiếc.

Ôi một tương lai mù mịt!

Vì những lý do như trên, trong hiện trạng của Việt nam dưới bờ vực thẳm như hôm nay, những đấu tranh ôn hoà, bất bạo động bằng hình thức những bất hợp tác, bất mãn thụ động hay tích cực lên tiếng đòi dân chủ cho Việt Nam là những chăng đường đã đi nhưng đích thì chưa đến.

Một khi giọt nước đã tràn ly, sự căm hận đã vượt quá mức nhẫn nhục chịu đựng thì việc toàn dân đứng dậy dùng bạo lực hẳn là điều khó có thể tránh được.

Là con dân của con Hồng cháu Lạc, chúng ta phải tự gánh vác, tự vạch đường tự cứu lấy chính mình.

Nguyên Thạch
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Image

Nguyễn Bá Thanh 'ra Ba Đình': Gian hùng trị tham nhũng?

Bổ nhiệm tân trưởng ban nội chính TƯ: Dùng kẻ gian hùng để lật tên tham nhũng?

Thu Hương, Duy Tân
(Danlambao) - Khi nghe tin Nguyễn Bá Thanh ra Trung Ương, điều đầu tiên chúng tôi cảm nhận là sự ngỡ ngàng. Sau đấy là cảm giác xót thương cho cái nước Việt mình rõ ràng là đã hết nhân tài nên nhà cầm quyễn vẫn quanh đi quẩn lại chỉ dùng mấy gương mặt mốc đã cũ xì.

Gần đây nghe tin bà Hillary Clinton phải nhập viện khẩn cấp tự nhiên thấy lo cho sức khỏe của bà nhưng không hề lo cho đất nước của bà vì nếu Madame Clinton có mệnh hệ nào thì Tổng Thống Obama không chút khó khăn trong việc lựa chọn một tân bộ trưởng ngoại giao ở một quốc gia lắm nhân tài như Mỹ. Rồi tự nhiên thấy ganh tỵ với đất nước của chú Sam, một sự ganh tỵ có lẽ là khập khiễng.

Đất nước mình gần 90 triệu dân nhưng đi theo chủ nghĩa cộng sản xơ cứng bao năm nay nên có nhân tài cũng không thể nào ngoi lên nổi. Để rồi những lãnh đạo của gần 90 triệu dân Viêt mình vẫn là nhưng tên quan tham, gian hùng có cỡ.

Nhìn sang nước Nga và nhớ lại thời điểm cựu Tổng Thống Boris Elsin chọn ông Putin là một nhân vật rất mới làm người kế vị đã khiến cả nước Nga kỳ vọng nhưng thực tế cho thấy chính quyền cộng sản Nga mạt vận chỉ có thể chuyển đổi thành những tập đoàn maphia đỏ độc tài mà thôi chứ không hề có sự đột phá dân chủ nào cả. Cho nên bây giờ quan sát những chiêu thức đang được chính quyền Việt Nam đạo diễn quanh vụ phải bố trí một tay gian hùng như Nguyễn Bá Thanh vào Bộ Chính Trị càng khiến ảo vọng về một xã hội dân chủ văn minh ngày càng xa vời.

Thực ra chúng tôi không định viết về nhân vật này vì có rất nhiều người hiểu rõ Nguyễn Bá Thanh hơn chúng tôi, nhất là những người ở Đà Nẵng. Có 2 người thường hay viết công khai về bí thư Đà Nẵng trên mạng là blogger Trương Duy Nhất và blogger Phước Béo. Tuy nhiên những bài viết của ông Nhất gần đây nếu tinh ý nhận định có thể thấy "thà độc tài còn hơn dân chủ ỡm ờ...", dường như có ý đồ toan tính thay vì là một chủ trang blog có tiếng. Còn blogger Phước béo nhận định cũng rất thâm thúy nhưng có cách diễn đạt cứ úp úp mở mở khiến người đọc khó nắm bắt được bản chất của sự việc. Cho nên chúng tôi đành phải mạn phép mà chấp bút.

Nhắc đến Nguyễn Bá Thanh chúng tôi muốn nhớ đến một người quen cũ của ông. Nhân vật này là ông Phạm Minh Thông nguyên giám đốc Công Ty Hợp Danh Xây Dựng và Kinh Doanh Nhà Quảng Nam Đà Nẵng, là bị can bị án tù giam trong vụ án cầu Sông Hàn xử năm 2004.

Ông Thông là dân Miền Nam tập kết ra Bắc, sau ngày thống nhất đất nước ông trở lại Đà Nẵng, thủ phủ của tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng làm cán bộ của Sở Xây Dựng. Ông này hiền lành, có trí thức. Khi mới về lại Đà Nẵng ông cùng gia đình ở trong khu nhà tập thể hóa giá của Sở Xây Dựng trên địa bàn phường An Hải Đông, quận 3 (Sơn Trà). Gia đình ông cũng như bao gia đình công nhân viên chức ngày xưa sống đạm bạc và lương thiện. Thuở hàn vi ông hay chạy trước Lambretta màu trắng -vừa chạy vừa sửa- là tài sản lớn nhất của gia đinh lúc đó. Vợ ông cũng người hiền lương nói năng nhỏ nhẹ, 3 con trai cũng ngoan hiền học giỏi...

Khi Việt Nam đổi mới ông Thông bung ra làm ăn vì được lãnh đạo gợi ý theo kiểu phát triển kinh tế nhiều thành phần, ông làm chân trong chân ngoài rồi mở công ty hợp danh là sân sau cho các vị lãnh đạo của Sở Xây Dựng và Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố. Trong những năm này ông làm ăn khấm khá và chuyển ra nhà mặt tiền trên đường Phan Chu Trinh bên quận 1 (Hải Châu). Năm 1997 khi Đà Nẵng tách tỉnh, trở thành đô thị trực thuộc Trung Ương cơ hội của ông cón nhiều hơn vì Đà Nẵng lúc đó là một đại công trường và chủ tịch thành phố Nguyễn Bá Thanh vừa là đồng chí vừa là cánh hẩu của ông.

Trong vụ án cầu Sông Hàn ông bị tuyên 40 tháng tù và là người duy nhất bị giam trong khi 4 đồng phạm thuộc cấp đều được hưởng án treo. Tội phạm kinh tế án treo cũng coi như được tha bổng nên việc ông bị án tù giam có lý do của nó: Ông đã không giữ luật im lặng mà khai 'lung tung' rằng đã hối lộ 4,4 tỷ cho Nguyễn Bá Thanh cho nên Tòa Án muốn sửa tính ba hoa của ông bằng món quà 3 cuốn lịch rưỡi cho ông vào tù mà chiêm nghiệm. Còn số tiền thất thoát nó chạy đi đằng nào thì Tòa "quăng cục lơ"...

So với Nguyễn Bá Thanh thì ông Phạm Minh Thông lớn hơn 20 tuổi thuộc hàng cha chú. Khi ông Thông đã là cán bộ của Sở Xây Dựng QNĐN thì Bá Thanh mới bắt đầu trưởng thành nhưng do được các chú lớn châm chước nên người thanh niên này lên ào ào và rẹt rẹt 30 giây. Năm 1996 khi Trung Ương chủ trương tách tỉnh thì Nguyễn Bá Thanh được chấm ghế chủ tịch thành phố Đà Nẵng.
Image
Cầu sông Hàn (Đà Nẵng). Ảnh: Lê Hữu Thọ

Cầu Sông Hàn có tổng kinh phí là 105 tỷ thời giá 1999-2000, nhân dân thành phố đóng góp 27 tỷ phần còn lại được lấy từ ngân sách nhà nước. Phạm Minh Thông khai chi cho chủ tịch 4,4 tỷ chỉ là một phần sự thật. Dân xây dựng cơ bản khu vực miền Trung ai cũng biết Nguyễn Bá Thanh ăn dầy, giá thông thường là 10% trên tổng vốn đầu tư. Đại công trường Đà Nẵng với không biết bao nhiêu dự án là bấy nhiêu suối tiền chảy vào túi Bá Thanh. Nhưng chỉ riêng con số được ông Thông khai ra 4,4 tỷ cũng đã là ấn tượng rồi, quy ra vàng là cả 1000 lượng mới thấy số tiền lớn biết bao nhiêu.

Qua những món lại quả của các chủ thầu mới thấy cái sướng của các ông quan dân, tiền các ông bỏ túi còn cân đối hóa đơn chứng từ doanh nghiệp muốn làm gì kệ xác doanh nghiệp. Chuyện lấy thầu xong đã phải chung chi rồi mà lại muốn có lời tất nhiên ông Thông và đồng bọn phải rút ruột công trình chứ không thể nào khác. Đồng bọn của ông và những người liên quan đông như quân Nguyên chứ không phải loe que có 4 mạng nhưng vì phía trên ông Thanh còn có các vị trưởng thượng nằm trong Bộ Chính Trị nữa nên người ta không thể khui ra và kết cục là ông Thông phải bị diệt. Kết cục của ông Thông tuy hẩm hiu nhưng dễ dàng đoán được, ông chung hàng với những kẻ xấu ăn tiền của dân thì tất nhiên ông phải nhận quả báo thôi. Về phần ông Thanh hẳn nhiên số tiền quá lớn như vậy ông cũng không thể nuốt trôi một mình mà phải nhớ đến các chú các bác.

Nhắc lại chuyện người quen cũ của Nguyễn Bá Thanh chúng ta mới thấy cái tàn bạo của người cộng sản Nguyễn Bá Thanh, ăn tiền cũng là ông mà bỏ tù người ta cũng là ông luôn. Mà những người bị bỏ tù cũng là những đồng chí cùng hội cùng thuyền của ông chứ chẳng phải ai xa lạ. Cách đây mười mấy năm, Nguyễn Bá Thanh đã tàn bạo như vậy rồi cho nên gần đây ông xuống tay hạ độc thủ thiếu tướng công an Trần Văn Thanh có thể nói ông đã là một con yêu thành tinh. Bởi vậy nhiều lần ông tham vọng vận động để ra Trung Ương đều bị các vị bô lão cạch mặt từ chối vì thấy thằng phản phúc xảo quyệt khó có thể tin được.

Bây giờ mấy vị kia đã tuổi cao sức yếu mà Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã bí đường binh với Nguyên Tấn Dũng nên cực chẳng đã mới phải chơi con bài Nguyễn Bá Thanh. Ván bài năm ăn năm thua này được xòe ra trong bối cảnh chế độ đang trên đường lật nhào nên vị bí thư Đà Nẵng mới có cơ hội được ra Ba Đình và tạo bước đệm nhảy lên chức ủy viên Bộ Chính Trị. Một kẻ tham nhũng và gian ác như vậy mà vẫn được nhiều người dân Việt Nam mến mộ coi là một làn gió mới thì thật là nực cười trong tai họa.

Nhiều ý kiến cho rằng Nguyễn Bá Thanh ăn được nhưng làm được nên vẫn nhất định ủng hộ thì quả là Việt Nam mình với con rồng cháu tiên đã đến hồi mạt vận rồi. Ở đâu ra cái nguyên lý làm được thì tham nhũng được vậy không biết nữa? Nó cũng giống như chuyện một đàn dê sắp bị hổ ăn thịt nên đành cam chịu và an ủi nên chọn con hổ ít dữ hơn vậy. Cũng phải khen cho Nguyễn Bá Thanh có tài mị dân, từ kẻ tham nhũng gian hùng thượng thặng mà sử dụng đồng tiền ăn cướp tuyên truyền bài bản để cả nước bây giờ hân hoan bái phục như một người cha khai sinh ra "thành phố đáng sống nhất Việt Nam". Kết cục thế nào người dân Việt Nam cũng sẽ chóng biết!

Đà Nẵng vào thời điểm được tách riêng vẫn còn ít dân bên cạnh địa hình đa dạng có đủ sông, núi, biển... nên rất dễ quy hoạch để trở thành một thành phố đẹp. Khu vực được chỉnh trang quy hoạch chủ yếu nằm trên mấy quân nội thành diện tích nhỏ, phần lớn diện tích đất của thành phố nằm ở huyện ngoại thành Hòa Vang. Chưa kể trước 1975 thành phố này cũng được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trực tiếp quản lý và đã được lực lượng quân sự Mỹ thiết lập cơ sở hạ tầng cơ bản nên đã định hình một cảnh quan tổng thể. Những gì thiên hạ đánh giá Nguyễn Bá Thanh đã làm được cho Đà Nẵng thật ra chỉ là bề nổi và hoàn toàn chưa xứng tầm với thành phố này. Đà Nãng có thật sự được gọi là đẹp? Thành phố đẹp có phải là một thành phố đáng sống không? Thành phố đáng sống phải là một thành phố như thế nào? Hẳn nhiên so với nhiều thành phố khác của Việt Nam thì Đà Nẵng có thể gọi là đẹp nhưng để đáng sống thì cần nhiều yếu tố khác nữa.
Image
Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng

Thành quả của Nguyễn Bá Thanh tựu chung lại chỉ là giải tỏa, quy hoạch xây dựng Đà Nẵng với nhà cao đường thoáng mà thôi còn các tiêu chí như "đào tạo tài năng trẻ, biến Đà Nẵng thành trung tâm của cả miền Trung..." mà báo chí tung hô chẳng cái nào ra hồn cả.

Nếu bán tài nguyên đất lấy tiền để phân lô bán nền tạo cớ cho dân đầu cơ đổ xô vào Đà Nẵng kiếm lời trong cơn sốt bong bóng bất động sản thật sự không có gì khó cả. Chưa kể việc được Trung ương giao ngân sách và trao quyền tự tung tự tác vô biên còn là cơ hôi để vị quan đầu thành phố tha hồ vinh thân phì gia.

Những khu quy hoạch chính của Đà Nẵng trước đây đều rất ít dân ở nên việc giải tỏa không quá khó khăn. Trục đường chính như đường Đông Tây - Nguyễn Văn Linh từ sân bay vào thành phố nguyên là những ao rau muống. Đường ven biển Liên Chiểu - Thuận Phước là những bãi cát hoang sơ. Đường Sơn Trà - Điện Ngọc cũng tương tự như vậy và từ bãi biển Mỹ Khê trở đi về phía Nam là đất thuộc Bộ Quốc Phòng chưa có ai khai thác rộng mênh mông bát ngát. Chỉ lấn cấn chút xíu khúc Tu viện Sao Biển thuộc phường Bắc Mỹ An là của bên công giáo còn lại là sân bay Nước Mặn cũng rộng bao la chi địa. Khu Công Nghiệp Hòa Khánh cũng toàn là những trảng cát và nghĩa địa...

Mở đường đa phần thuận lợi như vậy mà khi gặp nhà của dân, chính quyền chỉ đền bù theo giá rẻ mạt mấy chục ngàn một mét như phủ dụ "nhà nước và nhân dân cùng làm". Khi phân lô bán lại giá toàn cả triệu mỗi mét mà mỗi hộ chỉ được mua lại một nền. Hộ nào đất rộng thì tiền được đền bù phần xây lại nhà mới, phần mua sắm tiêu pha coi như bay hết, chẳng còn miếng đất hương hỏa của ông bà. Ai nhanh nhảu thì lao vào cơn sốt đầu cơ cũng có đồng ra đồng vào, cả thành phố làm bất động sản. Hộ nào ít đất thì nhà nước cho mua chịu quy theo giá vàng, nhiều hộ bây giờ vẫn không trả nổi. Chính quyền thu có hộ mất cả ngàn mét mà chỉ được mua lại một nền 100 mét, số còn lại nhà nước bán ra thị trường làm ngân sách của thành phố để tiếp tục đổ vào đại công trường và vào túi quan tham. Dân Đà Nẵng vốn hiền lại được nhà nước dụ khị nên coi như góp phần xây dựng quê hương. Thêm nữa những xóm biển Đà Nẵng như Xuân Hà, Thuận Phước, Bạch Đằng đông bây giờ rất nhiều nhà có tiền Việt Kiều gửi về nên cũng cố công xây được căn nhà theo đúng quy chuẩn của thành phố. Cả một thành phố rùng rùng chuyển động, nháo nhào xây cất, nháo nhào đầu cơ. Dân tứ xứ nghe đồn thổi cũng đổ đến kiếm ăn mới ra diện mạo Đà Nẵng bây giờ và đấy là những gì bàn dân thiên hạ dễ thấy khi đến Đà Nẵng.

Nếu bạn leo lên đỉnh Sơn Trà mà cầm ống nhòm nhìn xuống và chiêm nghiệm một bức tranh tổng thể bạn sẽ thấy Đà Nẵng có vẻ là một thành phố đẹp trong số những tỉnh thành của Việt Nam nhưng bị bê tông hóa quá nhiều mà thiếu màu xanh. Không gian công cộng cũng rất ít nếu không nói là không có. Các khu dân cư chẳng có mấy vườn hoa, công viên hoặc khu vui chơi. Sân vận động cũng biến đâu mất hết. Trong thời buổi kinh tế khó khăn, bất động sản đóng băng bạn sẽ thấy rất nhiều khu quy hoạch bị bỏ hoang. Xen lẫn trong đám hoang tàn đó là những khu dân cư được hình thành như những đám da beo loang lổ. Khu Vũng Thùng của phường Thọ Quang còn rất nhiều nền để trống, khu An Đồn cũng vậy. Khu Hòa Cường, Đò Xu bên mé tượng đài 2 tháng 9, ngoài những con đường chính ra có vẻ sầm uất với những quán nhậu, karaoke thì bên trong những khu dân cư cũng quá trời đất trùm mền. Cả khu có tượng Phật phường Hòa Minh cũng vậy. Chưa kể khu quy hoạch mới Hòa Liên trên đường đi Bà Nà cũng toàn đô thị trên giấy... Chưa hết còn khu lấp đất lấn vịnh Đà Nẵng ngay khách sạn Thanh Bình trên đường Nguyễn Tất Thành cũng sẽ là một thành phố bánh vẽ nữa ?

Nếu bạn chịu khó ghé thăm mấy khu hào nhoáng như Phạm Văn Đồng hoặc Đảo Xanh và cắc cớ hỏi thăm chủ nhà mấy căn biệt thự bạn hẳn sẽ ngạc nhiên khi không nghe họ nói giọng Đà Nẵng mà toàn giọng Bắc hoặc các vùng miền khác. Đà Nẵng bây giờ là của dân tứ xứ chứ dân chính gốc lấy tiền đâu xây nhà lầu, biệt thự. Thu nhập một tháng có mấy triệu biết bao giờ mới có nhà mấy tỷ. Còn dân Đà Nẵng ở khu này, xin thưa toàn là chánh văn phòng Ủy Ban Nhân Dân, Phó chủ tịch tỉnh, Giám Đốc sở... Nhân dân Đà Nẵng chính hiệu xin đừng mơ nhé !

Đấy là bức tranh xây dựng, phân lô bán nền. Còn kinh tế, văn hóa, xã hội... thì sao ?

Nếu nhìn tiếp các khu công nghiệp của Đà Nẵng chỉ có Hòa Khánh là thấy được. Còn như khu An Đồn, Thọ Quang, Hòa Cầm... diện tích chẳng đáng bao nhiêu.

Nông nghiệp thì các quận của Đà Nẵng đã bị phân lô bán nền hết quỹ đất duy chỉ còn huyện Hòa Vang là còn nhưng nông dân lâu nay canh tác lúa cũng chỉ đủ ăn.

Ngư nghiệp thì gần như phá sản. Đà Nẵng là xứ biển mà nay muốn ăn cá toàn do tàu của Quảng Ngãi cập bờ. Các ngư phủ ngày xưa bây giờ đã già trong khi con em không ai muốn theo nghề của cha anh. Phần vì không có vốn đóng tàu lớn ra khơi bên cạnh giá dầu càng ngày càng mắc trong khi tôm cá gần bờ cũng ít hơn xưa. Trong thành phố chẳng có mấy việc làm mà nghề biển lại vất vả, để dành tiền cá độ bóng đá và mua lô đề dễ có tiền hơn ?

Nguyễn Bá Thanh chủ trương chuyển hướng kinh tế du lịch và dịch vụ là chủ yếu nhưng chỉ là hô khẩu hiệu cho sướng miệng. Du lịch thì chẳng đầu tư gì mấy ngoài vài ngôi chùa với tượng Phật to tổ bố. Thành kính tại tâm, thờ Phật đâu cứ phải có tượng to mà hay. Có khu du lịch Bà Nà thì giao cho đám Phạm Nhật Vượng rửa tiền. Chính quyền bênh dân đâu không thấy lại câu kết với maphia từ Ukraina chèn ép lấy đất của dân Hòa Ninh nhưng chỉ đền bù mỗi mét bằng một quả trứng gà. Nguyễn Bá Thanh là dân Hòa Vang mà ức hiếp đồng hương Hòa Vang thật tệ hết chỗ nói.

Về kinh tế dịch vụ thì công viên nước trên đường 2 tháng 9 lỗ chỏng gọng dẹp tiệm hồi nào không hay. Mấy công trình khách sạn ven biển Non Nước chạy dọc theo biển giáp tới Điện Dương, Điện Ngọc của Quảng Nam cứ để trùm mền chiếm đất. Khách sạn đâu không thấy chỉ thấy rừng phòng hộ ven biển bị chặt hết cho dân tình hứng mặt đón bão.

Còn Khu du lịch sinh thái Cồn Dầu bị Nguyễn Bá Thanh thẳng tay đàn áp khiến nhiều giáo dân phải trốn qua tị nạn tận Thái Lan. Tội của Nguyễn Bá Thanh vẫn còn, cái nợ đó sẽ có ngày đáo hạn. Khách du lịch ngoại quốc ghé đến Đà nẵng chỉ có mỗi chỗ để đi là Cổ Viện Chàm. Xe từ Huế vào là thẳng tiến Hội An luôn. Khách từ sân bay bước ra cũng vậy, 10 xe đón khách thì cả 10 xe chạy vào Quảng Nam châm chước lắm lâu lâu mới có một xe ghé ăn cơm trưa Đà Nẵng !

Về văn hóa, thể thao thì chỉ có đội bóng đá Đà Nẵng hơi xôm xôm chút xíu nhưng kinh phí nuôi đội cũng là tiền thuế của dân bị lãnh đạo thành phố vung tay chi vô tội vạ. Lê Huỳnh Đức là cầu thủ ăn lương mà được chính quyền thành phố đặc cách cấp cho nhà tiền tỷ đường Phan Chu Trinh. Trong khi thư viện thành phố nằm kế bên Hôi Đồng Nhân Dân và văn phòng của Nguyễn Bá Thanh chẳng có mấy cuốn sách. Cử một người vào đếm tay số đầu sách của thư viện này chắc khoảng 3 tiếng là hết.

Người cộng sản hay chê văn hóa của chế độ Việt Nam Cộng Hòa là đồi trụy nhưng trước 1975 ngoài thư viện chính trên đường Bạch Đằng, khu vực quận Nhì là Thanh Khê bây giờ cũng có thư viện trên đường Điện Biên Phủ. Bên kia sông là quận 3 cũng có một cái trên đường Ngô Quyền. Chưa kể ngay trung tâm thành phố trên đường Yên Bái còn có Phòng Thông Tin cho nhân dân vào đọc báo nữa. Còn sân vận động cũng mỗi nơi mỗi cái. Từ phường Nại Hiên cho đến An Hài rồi Hòa Cường, Xuân Hà... chỗ nào thanh thiếu niên cũng có chốn để vui chơi.

Bây giờ dân số Đà Nẵng đã đông lên rất nhiều nhưng tất cả mọi thứ như thế đều biến đi sạch sẽ như có ma làm. Như vậy chắc do ông Thanh nghĩ là người Đà Nẵng chỉ cần có lô đất xây nhà là đủ chứ không cần mở mang trí tuệ nữa. Bù lại Đà Nẵng bây giờ quán nhậu và nhà nghỉ mọc lên như nấm. Tham quan mấy khu dân cư mới như Vũng Thùng Nại Hiên thấy thanh niên thất nghiệp ngồi binh sập xám suốt ngày, người không binh thì ra ngồi cà phê. Ngồi đến chiều thì nhảy qua quán nhậu, tối nào cũng nâng lên hạ xuống dô dô 100% thành tệ nạ xã hội luôn. Thêm mấy kèo trên kèo dưới theo các giải bóng đá La Liga và Ngoại Hạng Anh với số đề số đóm... kể như tương lai của thanh niên Đà Nẵng là mờ mịt.

Dân mình đã hiền rồi mà trình độ hiểu biết chưa cao nên không ai dám lên tiếng. Có mấy bác lão thành cách mạng với hưu trí thì được Nguyễn Bá Thanh chỉ đạo cho lính lác o bế lương hưu đầy đủ với quà Tết cuối năm khỏi ọ ẹ. Kẻ gian hùng còn biết cách mị dân bằng lối hành xử giống quan dân phụ mẫu ngày xưa. Dân đến chầu chực xin cứu xét cứ lấy bút phê vào đơn ngay tại chỗ bất kể quy trình, pháp lệnh hành chính của nhà nước ra sao. Giải quyết cho một vài dân oan ngay tại nhà thấy có vẻ ấn tượng nhưng thật ra không thể bằng đôn đốc cấp dưới chí công vô tư thừa hành theo đúng tinh thần thượng tôn luật pháp. Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa chẳng mấy chốc danh tiếng Nguyễn Bá Thanh nổi như cồn trong khi tính toán cho ngay, đất đai cấp cho dân oan chẳng phải là tài sản riêng của ông. Mấy đồng hỗ trợ cho dân xe thồ và xe ôm mỗi dịp tết cũng chỉ là mấy xu lẻ so với số tiền mà bè lũ của ông đã ăn cướp được.

Đà Nẵng nói có kinh tế du lịch và dịch vụ mà bây giờ kinh tế đình đốn ăn còn không đủ thì làm sao du khách ghé đến Đà Nẵng tham quan. Nhà hàng kháchh sạn không có khách lấy đâu nguồn thu, cả thành phố không công ăn việc làm sẽ đói đồng đều rồi đây.

Kẻ độc đoán chuyên quyền còn tự cho mình là vua một cõi dám mạnh tay vi phạm nhân quyền dẹp những người ăn xin, bán hàng rong trong khi chưa tạo sinh kế cho họ. Rồi dám ra chỉ thị vi hiến cấm quyền tự do cư trú của công dân trong nội thành Đà Nẵng. Rồi cho dân ăn bánh vẽ "bầu cử tự do cho chức danh chủ tịch thành phố" nữa... Thành phố nhỏ như Đà Nẵng mà ông Thanh chỉ làm được có thế mong gì xoay chuyển được cả một quốc gia.

Và bây giờ kẻ ấy là Trưởng Ban Nội Chính Trung Ương đang nghấp nghé chức ủy viên Bộ Chính Trị, trở thành 1 trong 14 ông vua tập thể. Ông Trương Vĩnh Trọng hẳn phải cười cay đắng khi hay tin, vì khi ông giữ chức này mấy năm trước ông đã cố gắng tỏ ra thanh liêm và đã ghét cay ghét đắng kẻ gian hùng, xảo trá, tham nhũng Nguyễn Bá Thanh. Chính ông đã nhiều lần ngăn cản không cho Nguyên Bá Thanh ra Trung Ương. Vậy mà bây giờ khi ông đã về vườn thì chính cái tên gian hùng, xảo trá, tham nhũng ấy lại ngồi vào cái chức ông để lại để phụ tá cho Tổng Bí Thư làm trong sạch bộ máy của Đảng, bài trừ tham những...

Rõ ràng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đến hồi cáo chung và đang sắp chết đến nơi mà vẫn đong đưa trên dây. Ông Tổng Trọng muốn dùng một kẻ vừa gian hùng vừa tham nhũng để trị một tên ít gian hùng, nhưng tham nhũng nhiều.

Chúng ta còn nhớ thời Đà Nẵng tách tỉnh thì Nguyến Bá Thanh đã nổi như cồn mà Nguyễn Xuân Phúc của Quảng Nam vấn chẳng mấy ai hay. Vậy mà Nguyễn Tấn Dũng đã chọn ông Phúc làm đàn em ruột chứ không phải Nguyễn Bá Thanh thâm độc lừng lẫy giang hồ. Mối hận của Bá Thanh còn nguyên đó với Nguyễn Tấn Dũng nên bây giờ thấy Đảng đang bế tắc kẻ gian hùng quyết định chớp thời cơ. Chỉ cám cảnh cho ông Trần Văn Minh phải từ bỏ chức Phó ban tổ chức Trung Ương để quay trở lại dọn dẹp cho Nguyễn Bá Thanh trong thời buổi suy thoái. Tài nguyên của Đà Nẵng đã bị khai thác hết rồi mà công ăn việc làm của dân bị tắc tị thì thu thuế sao được? Lấy đâu cho đủ ngân sách thành phố trong tương lai.

Bàn cờ chính trị Việt Nam còn đầy sự ly kỳ và sinh mệnh của dân tộc Việt Nam vẫn như chuông nặng treo mành chỉ. Với bản chất của một kẻ gian hùng chúng ta đừng mong một sớm một chiều họ sẽ phút chốc hóa thành thiên nga thánh thiện để đem tự do dân chủ cho nhân dân. Tất cả chỉ là sự đấu đá trong nội bộ của họ nhằm duy trì vị thế quyền lực cũng như tình trạng độc Đảng chuyên chế.

Tình hình trong những ngày sắp tới sẽ rất khó lường với sự câu kết của nhóm cộng sản miền Trung khu Năm khắc chế lên Trung Ương. Trong quá khứ từng có những nhóm cộng sản miền Trung với Võ Chí Công, Hồ Nghinh, Hoàng Minh Thắng... rất mạnh do kiên cường trong chiến tranh nên được sự ưu ái của Lê Duẩn, nhưng vì cục bộ địa phương nên chẳng làm được cơm cháo gì cho đất nước. Hôm nay có một nhóm cộng sản miền Trung trẻ khác đang gắn kết với nhau vì một mưu đồ nào đó. Bên cạnh Nguyễn Bá Thanh gian hùng là một Thân Đức Nam – kẻ buôn vua mới nổi. Có lẽ sự va chạm với Nguyễn Tấn Dũng sẽ dẫn tới đảo chính không chừng vì Ba Dũng không dễ gì bị triệt hai êm thấm.

Chúng ta mong một sự biến động có lợi cho dân tộc nhưng cũng cảnh giác trước nguy cơ nồi da xáo thịt xâm phạm đến muôn dân.

Thông tin lề trái, ề dân hãy luôn tỉnh táo và đề cao cảnh giác !

Thu Hương, Duy Tân
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ân nghĩa Trung Cộng?

Ngô Nhân Dụng
Dư luận công dân mạng ở Việt Nam đang công kích những ý kiến sư phụ Trung Cộng với một thái độ rất khiếp nhược của một viên đại tá tại Học Viện Chính Trị thuộc Bộ Quốc Phòng.

Trong một bài lên lớp cho các cán bộ giáo dục, ông đại tá này than phiền rằng khi bàn đến vấn đề biển Ðông, dư luận người Việt, tức là đồng bào của ông ta, cứ “chĩa mũi dùi vào một phía”, cứ tập trung vào mỗi ông Trung Quốc! Ông ta nói: “Nếu chúng ta chỉ tập trung vào mỗi một mình Trung Quốc là hoàn toàn chưa đúng, chưa chính xác mà phải đặt trong mối quan hệ tổng thể Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Mỹ, và Việt Nam với các nước ASEAN.”

Nghe bài giảng này, nếu không phải là người Việt Nam thì phải bật cười. Nhưng là người Việt Nam thì phải khóc. Khóc, bởi vì những ý tưởng ngô nghê này cho thấy một người Việt đã lên tới chức đại tá mà còn tối tăm đến như thế!

Ở vùng biển Ðông của nước ta, khi “đặt trong mối quan hệ tổng thể Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Mỹ, và Việt Nam với các nước ASEAN” thì phải hỏi: Quốc gia nào chủ mưu gây ra những khó khăn cho nước mình? Quốc gia nào đã đem quân tới đánh, chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974? Có phải Mỹ hay một nước Ðông Nam Á nào không? Bọn cướp biển nào đã tấn công các tàu đánh cá của người Việt? Bọn giặc nào đã bắn giết, đánh, cướp của và bắt cóc ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc? Tàu thuyền nước nào đã vào hải phận nước ta đâm thẳng vào các con thuyền đánh cá của đồng bào Việt Nam? Ai cho người đi cắt dây cáp những con tàu thăm dò đáy biển của Petro Việt Nam? Có phải người Mỹ, người Philippines, người Malaysia hay từ một nước Ðông Nam Á nào không?

Chỉ cần nhìn vào sự thật để tìm ra câu trả lời đúng nhất, chính xác nhất thì chỉ thấy có một thủ phạm! Là chính quyền công! Nhắm mắt không nhìn sự thật đó, chứng tỏ viên đại tá này chỉ ba hoa để tung hỏa mù, cốt đánh lừa tất cả đồng bào, nhằm che đậy tội ác của Cộng Sản Trung Quốc. Ðó là một thủ đoạn dối trá đang được đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng để che đậy thái độ khiếp nhược của họ trong lúc lòng dân sôi sục trước mối nhục ngàn năm đang khơi dậy.

Không những che đậy, bào chữa cho thủ phạm gây ra những tội ác đối với đồng bào, ông đại tá còn lên giọng dậy dỗ rằng: “Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa.”

Ơn với nghĩa gì ở đây? Ông ta bèn nhắc nhở trong thời gian Cộng Sản Việt Nam đánh miền Nam, “Nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép...”

Từ năm 1954 cả miền Bắc Việt Nam sống nhờ viện trợ kinh tế và quân sự của Trung Cộng; hơn 300 ngàn lính Trung Cộng đã sang nước ta. Ông Dương Danh Dy, cựu đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, cũng từng kể: “Những viện trợ to lớn của nhân dân Trung Quốc anh em cho chúng ta.” Với các chi tiết: “Từ vũ khí đạn dược đến gạo ăn vải mặc, từ ô tô, tàu thủy, máy bay đến chiếc xe đạp, máy khâu, từ gói mì chính đến cái kim sợi chỉ... không sao kể hết.” Nếu không có những “viện trợ to lớn” đó thì bây giờ chắc vẫn còn một chế độ Việt Nam Cộng Hòa, cũng như vẫn còn Ðại Hàn Dân Quốc. Trong 20 năm chiến tranh, người dân miền Bắc hàng ngày được những cái loa (Made in China) oang oang nhắc nhở rằng Mao chủ tịch là bậc thầy vĩ đại, yêu thương dân Việt Nam như con cái. Khi quân Trung Cộng chiếm Hoàng Sa thì họ giải thích rằng đó là đàn anh chiếm để giữ hộ, mai mốt sẽ trả lại! Toàn dân đã bị lừa gạt, không ai dám nói ra sự thật. Một nhạc sĩ sống ở miền Nam mới dám đặt bài hát mở đầu bằng lời nhắc nhở: “Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu;” nếu ai ở miền Bắc nói đến chuyện đó chắc đã được đưa đi Cổng Trời.

Nhưng tại sao Trung Cộng đem cho những “viện trợ to lớn từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ ô tô, tàu thủy, máy bay đến chiếc xe đạp, từ gói mì chính đến cái kim sợi chỉ” cho người Việt Nam giết lẫn nhau như vậy?

Câu trả lời đã được ông Lê Duẩn nói ra trong một phút thành thật: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc...”

Tất nhiên, cả Trung Cộng lẫn Nga Xô đều biết như vậy. Cho nên phải “viện trợ to lớn” cho những người Việt đi đánh giết đồng bào của mình! Nhưng Lê Duẩn không phải là người đầu tiên khởi xướng việc “đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc”.

Năm 1963, trong một cuộc gặp gỡ với các đại biểu đảng Lao Ðộng Việt Nam ở Vũ Hán, Mao Trạch Ðông đã hứa hẹn: “Tôi sẽ làm chủ tịch của 500 triệu bần nông đưa quân xuống Ðông Nam Châu Á.”

Tháng Chín năm đó, Trung Cộng đã triệu tập Hồ Chí Minh đến gặp Chu Ân Lai và Aidit, lãnh tụ đảng Cộng Sản Indonesia, lúc đo có hơn 3 triệu đảng viên, tại miền Nam Trung Quốc; để bày kế hoạch phối hợp giữa hai đảng Cộng Sản đàn em. Sau đó, đảng Cộng Sản Indonesia bành trướng hoạt động, đảng Cộng Sản Việt Nam thúc đẩy cuộc chiến chiếm miền Nam lên mức độ khốc liệt hơn, là nguyên nhân khiến Mỹ phải đổ quân vào miền Nam Việt Nam.

Năm 1965, Mao Trạch Ðông đã nói với Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc một câu được dẫn ra trong một cuốn sách của nhà xuất bản Sự Thật: “Chúng ta phải giành cho được Ðông Nam Châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Ðiện, Malaysia và Singapore... Một vùng như Ðông Nam Châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản... xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy. Sau khi giành được Ðông Nam Châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Ðông Âu, gió Ðông sẽ thổi bạt gió Tây...” Mao đã thất bại ở Indonesia, vì Tháng Chín năm đó, Aidit cùng các cố vấn Trung Cộng đặt kế hoạch bắt cóc và ám sát các tướng lãnh Indonesia để Tổng Thống Sukarno sẽ nắm quân đội và đưa đảng Cộng Sản vào chính quyền. Âm mưu này bị lộ, Tướng Suharto không nằm trong danh sách bị bắt giết vì không có địa vị quan trọng; ông chờ cho một số tướng lãnh khác bị bắt rồi mới ra tay, âm mưu đảo chính thất bại khiến tới nửa triệu đảng viên Cộng Sản và cả dân lành cũng bị sát hại vì bị nghi là thân cộng. Trước khi Cộng Sản Indonesia hành động, họ đã có dịp tiếp đón phái đoàn Cộng Sản Việt Nam do Lê Duẩn cầm đầu, ăn tiệc với nhau chờ giờ phút chiến thắng.

Mao thất bại ở Indonesia nhưng thành công tại Việt Nam. Khi Lê Duẩn nói, “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc...” thì chính ông ta đang thực hiện mục tiêu “giành cho được Ðông Nam Châu Á” của Mao Trạch Ðông. Năm 1970, ông Lê Duẩn đã nói với Mao Trạch Ðông rằng: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ Tịch... Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể hy sinh 2, 3 triệu người... Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản!”

Ðến khi “tinh thần quốc tế vô sản” giữa Bắc Kinh và Mát Cơ Va bị vỡ, bị Trung Cộng “cho một bài học” vì dại dột bám đuôi Liên Xô, năm 1979 Lê Duẩn mới sai nhà xuất bản Sự Thật in cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”. Ở trang 73 họ viết thế này: “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc... họ chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc... Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ...”

Người Việt Nam bây giờ ai cũng hiểu câu “Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ”. Nhờ bán hàng cho Mỹ và các nước Tây phương, kinh tế Trung Quốc đã sống lại sau khi bị Mao làm cho kiệt quệ cho tới khi ông ta chết. Từ năm 1979 đến nay kinh tế Trung Quốc tăng trưởng trung bình 9% mỗi năm, nhờ đảng biết bóc lột dân lao động làm hàng hóa rẻ tiền bán cho các nước khác. Những người Cộng Sản cầm quyền ở Trung Quốc được chia phần hưởng thụ với các nhà tư bản đỏ. Hiện nay ở Thượng Hải, số đại gia với tài sản đầu tư trên 30 triệu Mỹ kim là 1,318 người trong khi Los Angeles chỉ có 950 người.

Nhờ buôn bán với Mỹ, nên các xí nghiệp Trung Quốc phát đạt; nhưng khi hàng hóa Trung Quốc thừa mứa không đổ đi đâu được, họ có thể vận chuyển qua đường lậu sang tràn ngập thị trường Việt Nam, giết chết các nhà sản xuất người Việt mới chập chững vào nghề! Không những đổ hàng lậu, họ còn cho xâm nhập cả các công nhân lậu vào cướp việc làm của người lao động Việt Nam nữa.

Trước cảnh “lấn sân” đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam không dám tích cực kiểm soát biên giới để ngăn chặn hàng lậu! Cũng không dám có hành động phản kháng khi Trung Cộng lấn áp từ các ngư phủ đến các tàu thăm dò đáy biển Việt Nam. Công trình “Ta đánh miền Nam là đánh cho Trung Quốc” đưa tới những hậu quả nhãn tiền đó. Nói đến ân nghĩa của Trung Cộng là sỉ nhục dân tộc Việt Nam, là xúc phạm vong hồn hai triệu người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến tranh “đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc!”
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest