Bình Luận , Quan Điểm

tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Bị lừa
Châu Hiển Lý
(Bộ đội tập kết 1954)

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!
150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.

Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.

Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :
_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?
_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?
_ Tại sao sau khi được "giải phóng" khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?
_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?
Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?
_ Tại sao đàn ông ?của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?
_ Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?
_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?
Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường , phải đi làm công cho các nước tư bản?
_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?
Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghỉa.

Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.

Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.

Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .

Hiện tượng "Mửa ra rồi nuốt lại" này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.
Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất.
Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.
Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và "nhai lại" suy nghĩ của kẻ khác.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối , những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…

Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.

Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành "phương hướng hành động" chung cho tất cả mọi người.
Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…

Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.

Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang , vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian .
Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp "vô sản" âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.

Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xả hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vủ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muổi mòng giửa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo.

Chẳng hạn đảng nói "xây dựng xã hội không có bóc lột" thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói " một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản" thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói "đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất" nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là... còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !

Nhân dân đang hy vọng rằng Đảng sớm tự ý thức về tội lổi tầy trời của mình . Đảng sẻ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.

Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi" mà kết luận: "Tất cả đều là lừa bịp!”

Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ ... đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.
Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :
"Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!"
Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ?
Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy ?
Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chổ cho cái xấu?
Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai !
Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.

Châu Hiển Lý
Bộ đội tập kết 1954
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Đảng Cộng Sản Việt Nam Vẫn Tiếp Tục Phơi Bày Sự Bạc Nhược

Võ Ngọc Phước

Điều Phi Lý Căn Bản

Điều phi lý căn bản ở tình hình nước nhà hiện nay là việc một nhóm người ở Bộ Chính Trỉ của đảng Cộng Sản Việt Nam, vốn hèn nhát và thiếu lòng yêu nước thương dân, nếu không muốn nói là ngu si dốt nát, vẫn đang vì lòng tham không đáy mà cứ khư khư cố bám giữ lấy quyền hành cai trị để đưa đất nước và dân tộc vào con đường bạc nhược về mọi mặt chỉ vì một lý do thật vô cùng trơ trẽn. Đó là việc chỉ vì lo tham quyền cố vị.

Đây là một chuyện thật đau lòng cho cả đất nước và dân tộc. Chắc chắn là chính nhóm người ở Bộ Chính Trị đó vẫn biết rõ sự phi lý căn bản này, vì họ đã không có một sơ sở pháp lý dân chủ nào để làm đại diện cho toàn dân trong những quyết định then chốt đến vận mệnh đất nước và dân tộc. Xét cho cùng, những điều họ đang và đang làm là chì nhằm vào bảo vệ quyền lợi của bè phái họ mà thôi, Hãy xem đến tầm vóc chính trị và trình độ kiến thức của các “lãnh đạo của đảng và nhà nước” hiện nay thì thấy rõ điều ấy. Sự phân chia các quyền chức lãnh đạo để cai trị, vì vậy, là chỉ nhằm theo đảng tịch, địa phương Nam Bắc và bè phái của nhóm lợi ích.

Giữa lúc Trung Quốc vẫn cứ ngang ngược cho triễn khai đều đặn cái chính sách Thống Trị Biển Đông bằng cách chiếm các biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển của chúng ta theo chiến lược “Vết Dầu Loang” và chiến thuật “Vừa Đánh Vừa Xoa”, thì các lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn cứ phải lơ ngơ sợ hãi, “không một kẽ nào dám ra mặt ra phản đối kịch liệt” và cũng chẳng có những động thái đối phó nào thích ứng kịp thời, mà vẫn chỉ là vài lời phát biểu phản đối lấy lệ từ Bộ Ngoại Giao cũng như những tuyên bố suông là sẽ tăng cường bảo vệ vùng biển như thường lệ “nói cho có chuyện”mà thội. Dĩ nhiên Trung Quốc biết rõ điều này nên rất “coi thường” Việt Nam là như vậy.

Vấn đề trọng đại là Việt Nam đang thật sự mất một phần đất nước như vậy, nhưng cái “nhóm người hèn nhát và vô cùng vô ý thức” ở Bộ Chính Trị của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay thì vẫn trước sau như một là giữ một thái độ lơ ngơ bạc nhược vì sợ “vạ lây” bằng cách cho rằng việc Trung Quốc xâm chiếm ngang ngược như vậy là một “vấn đề nhạy cảm” nên tránh nè bàn luận công khai trước dân.chúng để có thể cùng toàn dân có chung những phương cách đối phó hữu hiệu với kẽ thù.

Cũng chính vì biết rõ đảng Cộng Sản Việt Nam quá bạc nhược như vậy, “không có một tên nào của các chóp bu ở Bộ Chính Trị dám đứng ra kịch liệt phản kháng việc làm trái phép của họ” như các lãnh đạo ở Phi Luật Tân, Nhật Bản vv…đang làm, nên Trung Quốc càng ngang nhiên hống hách mạnh tay xúc tiến việc uy hiếp và xâm chiếm đất nước chúng ta như hiện nay.

Việc một lần nữa việc họ cho cắt dây cáp tàu khảo sát của phía Việt Nam trong hải phận của chùng ta đã chứng tỏ điều này; và rồi sẽ có những hành đông ngang ngược như vậy nữa trong tương lai sắp tới. Phải nói rằng đây là một sự hèn nhát và ngu si không thể tưởng tượng được của các lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam, vì trong lịch sử chúng ta chưa bao giờ có sự bạc nhược trước sự uy hiếp của phương Bắc đến như vậy.

Thêm Sự Bạc Nhược Trong Việc Quản Lý Nhà Nước

Sau một loạt những thất bại to lớn vể điều hành kinh tế và xã hội xãy ra liên tiếp trong nước cũng như để cho tình trạng tham nhũng được tung hoành tràn lan ra mọi cấp mọi nơi trong xã hội hiện nay trong những năm gần đây, các lãnh đạo cuả đảng Cộng Sản Việt Nam đã chứng tỏ cho mọi người dân thấy rõ được sự bạc nhược của họ trong việc quản lý nhà nước. Điều đó cũng là sự chứng tỏ về suy kiệt của thành phần nhân sự lãnh đạo trong bè đảng của họ.

Người ta rất lấy làm ngỡ ngàng là vì sao các cấp lãnh đạo chủ chốt cũng như các bộ phận cao cấp nhất của nhà nước lại bổng dưng không thể cán đáng nỗi những công việc quản lý rất thông thường. Nguyên nhân chính yếu có thể là do việc “chạy chức chạy quyền” đã quá gia tăng đến một mức quá trầm trọng trong guồng máy nhà nước hiện nay, gây ra ra một tầng lớp “đảng viên thời cơ chủ nghĩa” vừa vô năng lực vừa thiếu kinh nghiệm trong việc quản trị kinh tế xã hội hay các ngành chuyên môn nhưng lại được nắm giữ các quyền hành lãnh đạo ỏ các ban ngành.

Hãy nghe những tuyên bố ngu ngơ của các chóp bu lãnh đạo đảng rồi các thành phần cao cấp nhất trong guồng máy hành chính về các vấn đề trọng đại của đất nước như không phòng chống tham nhũng được, sự thất bại của các tập đoàn và các hoạt động kinh tế thị trường chính yếu, nạn “chạy chức chạy quyền”, nạn “phải chạy chọt mới được điều trị ở bệnh viện” vv…thì có thể biết rõ nguốn căn của việc bạc nhược này.

Hãy nhìn đến những con cái, thân thuộc, bè phái của các lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam, dù chưa có đủ kinh nghiệm và năng lực để quản trị vẫn được cho nắm giữ các chức vị lãnh đạo quan trọng trong guồng máy nhà nước thì cũng có thể biết được nguồn căn của sự bạc nhược này.

Người ta phải lấy làm ngỡ ngàng là chính Bộ Chính Trị đã “cứu xét kỹ càng” và “chính thức chấp thuận” cho tiến hành các chương trình và dự án hoang đường “do bọn tay mơ tô vẽ” cũng như đã “bỗ nhiệm các kẽ vô tái cán” vào các chức vụ lãnh đạo cao cấp nhất để thực thi các chương trình và dự án đầu tư to tát “ngốn hàng nghin nghìn tỷ bạc”, vốn là tiền của từ mồ hôi nước mắt của người dân, mà nợ nần chồng chất này con cháu chúng ta sẽ phải gánh trả từ đây.

Hậu quả thất bại chua cay, vì vậy, là điều tất yếu phải xãy ra. Bên cạnh tình trạng tham nhũng được dịp nẩy nở tràn lan vì nhờ có thêm “dất đai mầu mỡ”, phần lớn các doanh nnghiệp nhà nước thì vẫn cứ thế “làm ăn xập xệ thua lỗ một cách vô tội vạ”, các “tập đoán cú đấm thép” thì cho ra mấy đống sắt vụn vĩ đại từ các tàu bê và nhà mày loại phế thải được mua về, mấy cái đập thuỷ điện dựng lên một cách cẩu thả đến nỗi phải lo vỡ đập lúc nào không hay, v.v…

Trách nhiệm của những việc làm tắc trách này là ở đâu, nguyên do vì sao cứ phải thất bại như vậy, đất nước chúng ta rồi đây sẽ phải ra sao, mọi người dân đều có thể nhận biết rõ. Một số người trong nước vì quá yêu nước thương dân mà lên tiếng oán than những việc bạc nhược trên nên đã bị công an đến bắt bớ, bỏ vào ngục tù để hãm hại. Những nhân quyền căn bản đang bị chà đạp một cách trắng trợn ở Việt nam chỉ vì lòng tham “tham quyền cố vị”của một nhóm bè đảng như vậy.

Những Động Thái Che Đậy Sự Bạc Nhược

Để che đậy những sự bạc nhược trên, người ta nhận thấy đảng Cộng sản Việt Nam đang phải hối hã cho ra một số biện pháp tích cực. Trước hết là sự gia tăng bắt bớ những người trong nước có lên tiếng oán than về những bạc nhược của các lãnh đạo đảng hiện nay. Việc này nhằm củng cố thể chế độc tài đảng trị của họ, nhằm ngăn chận sự gia tăng bất mãn ngày càng lớn rộng trong dân chúng trước những thất bại quản lý đất nước, đặc biệt là việc “cán bộ cộng sản cao cấp đang tham nhũng tràn lan”.

Trước tình trạng bạc nhược này, cả đến các lãnh đạo cao cấp của dảng cũng đã thường phải được nhắc nhỡ đến việc “chĩnh đốn đạo đức” dù trước đây “họ đã có một thời gian dài sinh hoạt chính yếu trong hệ thống đảng và trải qua các lớp học chính trị ở Trường Đảng”. Kết quả thì vẫn vậy mà thôi, không có sự cải thiện nào đáng kể. Bởi vì, tuy không dám mở miệng nói ra, họ cũng đã biết rõ “đạo đức của đảng là thứ đạo đức giả” nên “dù có thể đi tù đi nữa thí cũng vẫn ráng vơ vét thôi”.

Gần đây, cái quốc hội của đảng được phép bàn luận về việc bỏ phiếu tín nhiệm các chức vụ cao cấp; nhưng đây cũng chỉ là một “tuồng lớp trình diễn”của đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi, nhằm làm cho tổ chức đảng có vẽ màu mè dân chủ để mà xoa dịu sự bất mãn của người dân trong nước.

Bởi vì ai ai cũng được biết là, từ hệ thống độc quyền đảng trị như hiện nay, thì mọi việc phải được Bộ Chính Trị đứng phía sau ra “chỉ đạo”. Dĩ nhiên, dù có sự thay thế một lãnh đạo nào thì cũng phải do “từ kịch bản của Bộ Chính Trị”.

Sau khi ra trước cái quốc hội của đảng để nói vài lời “xin lỗi cho xong chuyện” về những thất bại quản lý nhà nước (dĩ nhiên là theo chỉ thỉ của đảng), “thủ tướng Dũng” có nói thêm là vì “Đảng (Bộ Chính Trị) giao cho tôi làm…thì tôi làm”. Điều này cho thấy mọi việc “dàn xếp” ở cấp lãnh đạo là đều do đảng (Bộ Chính Trị), nhưng không ai ở Bộ Chính Trị chịu trách nhiệm khi thất bại xảy ra.

Gần đây, việc đảng đưa “chủ tịch quốc hội” đi chào hỏi một số nước lân bang là nhằm cho một sửa soạn thay thế nào đó. Sau đó thì đảng sẽ “chỉ đạo” cho quốc hội của đảng việc “bỏ phiếu bất tín nhiệm người cũ” và “bỏ phiếu tín nhiệm người mới”.

Tuy nhiên, trong một bối cảnh đất nước với những bạc nhược căn bản như trên, thì dù có sự thay đổi để có một vài gương mặt lãnh đạo mới đi nữa, tình trạng bạc nhược hiện nay vẫn không thể nào cải thiện được. Có chăng là chỉ nhằm kéo dài ngày tháng bạc nhược được thêm ngày nào hay ngày ấy. Người dân sẽ phải hứng chịu nhiều thêm sự khổ đau vì những bạc nhược của bè đảng này.

Thật là đau lòng khi nghe thấy người dân trong nước nói với người nước ngoài là “Ở Việt Nam chúng tôi, làm bác sĩ hay kỷ sư thì khó vì phải có học hỏi và có kinh nghiệm chuyên môn, còn làm lãnh đạo thì dễ nhất vì chẳng cần học hỏi và chẳng cần chuyên môn gì cả”.

Sự bạc nhược của các lãnh đảo đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay trước sự ngang ngược của Trung Quốc cũng như việc vô tài cán trong quản trị đất nước, dĩ nhiện là một sự tủi nhục cho riêng bè đảng của họ, nhưng cũng là một sự vô cùng nhục nhã chung cho cả đất nước và dân tộc Việt Nam.

Võ Ngọc Phước
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Lột Trần Chế Độ CS

Dương Thu Hương
Đối với thế giới, uy tín của chính quyền cộng sản Việt Nam đã mất từ lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi khắp bãi bờ các quốc gia khác.

Với dân chúng trong nước, giờ đây họ thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác. Dân chúng đã nhìn rõ bản mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn, những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn được bóng tối che đậy.

Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kì kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng. Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh hạt nhân hay bàn tay cầm dao găm, súng lục. Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi hướng.

Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn năm Thăng Long” hẳn đã át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở miền Trung. Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những người dân đánh cá tỉnh Thanh bị giặc Tầu giết ngoài khơi, như họ quên các chiến sĩ đã bỏ mình trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979. . .

Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì?
Khi con gái họ có nhu cầu mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200. 000 euros tại đại lộ Champs Elysées thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại quốc. Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô Hồ Thu Hồng thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy, để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em. Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi kịp và vượt hắn. Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kĩ của đám mới giầu.

Ai đó từng nói câu này: “Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha đẻ của họ để có tiền”.

Giai cấp tư sản đỏ Việt Nam cũng có chung một trạng thái tâm lý đó: khát tiền, làm mọi thứ để có tiền, bất kể phương tiện nào, dù đó là tội ác. Nhưng tư sản đỏ Việt Nam không cần giết bố, bởi họ có một đối tượng khác dễ giết hơn nhiều: dân đen. Họ không cần đốn ngã kẻ sinh thành bởi có thể hút máu dân đen một cách thoả thuê, vừa thoả mãn cơn khát tiền lại vừa yên ổn lương tâm vì không mắc tội giết cha.

Lấy ví dụ về tập đoàn Vinashin. Mua một vỏ tầu cũ nát, đáy nứt, không thể vận hành, lấy sơn quét lên rồi rút hàng triệu đô la trong công quỹ. Hàng triệu đô la ấy quan lớn bỏ túi, còn con tầu “bãi rác” sơn bóng loáng kia được đặt trên đất liền để làm “hiện vật bảo tàng”.

Nghe tưởng như chuyện đùa. Nghe như tiếu lâm. Thứ tiếu lâm cười ra nước mắt. Chỉ có ở Việt Nam, nơi kẻ cầm quyền coi dân là lũ trâu bò, mới dám làm điều ngang ngược đó. Chỉ có ở xứ Việt Nam, khi tất cả các cuộc kí kết, thương thuyết của chính phủ đều diễn ra trong bóng đêm và dân chúng không được quyền biết đến mới có thể xảy ra hiện tượng này.

Lấy ví dụ thứ hai: các vụ buôn người. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, ai có thể làm được điều này nếu không là chính các thành viên trong chế độ ấy. Tại sao lại buôn người? Vì buôn người thu lời nhanh nhất, mà vốn đầu tư coi như zero nếu có quyền hành. Cho nên, buôn người là nghề mới của đảng cộng sản Việt Nam, đảng thừa thãi quyền hành vì không có đối trọng.

Đã là lái buôn, ắt phải tham. Lòng tham mà không bị điều tiết bởi các điều luật thì nó sẽ phát triển vô cùng tận. Do đó, món hàng hoá có tên gọi là “dân đen”của các quan chức Việt Nam sẽ được khai thác tối đa để làm đầy túi các bậc trị vì dân. Khi đã coi dân chúng là hàng hoá, ắt người cộng sản phải tìm mọi cách để đám dân đen trở thành vật vô tri, tức là các công cụ, thứ công cụ này có chức năng sản xuất nhưng phải câm và phải điếc. Khi mà các công cụ dân đen không chịu nổi đàn áp, buộc mở mồm thì lập tức họ có cách để bắt nó phải câm. Vũ khí đó có tên gọi “chuyên chính”, bộ máy đàn áp trứ danh lâu nay.

Hãy đọc báo Công an nhân dân đưa tin về vụ xử ba thanh niên sáng lập công đoàn Tự do ngày 27 tháng 10 năm nay:
“Được Trần Ngọc Thành, kẻ cầm đầu Uỷ ban bảo vệ người lao động Việt Nam đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/10, Trần Ngọc Thành đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh, Đồng Nai, Tp HCM, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà nước, kêu gọi đấu tranh để đòi dân chủ; lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp. . .”

Thứ nhất, tác giả bài báo này quên rằng “Kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp” là đích xác các hành động của người cộng sản Việt Nam những năm trước cách mạng. Các hành động này cũng đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi giai cấp lao động không chịu nổi sự áp bức và bóc lột của đám chủ nhân. Các phản ứng tiêu cực này chỉ xảy ra khi sự thoả thuận giữa người làm công với kẻ trả công bị vi phạm và cuộc sống của người lao động bị đe doạ.

Phải chăng tác giả bài báo này cho rằng chỉ riêng đảng cộng sản vĩ đại của ông ta là được quyền sử dụng chiêu thức ấy còn những người khác thì bị cấm vì họ không được là người mà chỉ là thứ phẩm của người, tức “dưới người”, nói cách khác: “người vượn Néandertal”?

Thứ hai, câu “lợi dụng các vấn đề thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân. . . ” chỉ là lối mỹ từ hoá sự vật. Nói một cách xác thực và dân giã, hiện nay các quan lớn cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách “bòn nơi khố quạnh, đãi nơi quần hồng”.

Tại sao lại “bòn nơi khố quạnh”? Vì ngu, vì tham, vì trước ngoại nhân thì dốt nát và khiếp nhược nên các quan lớn chỉ có lối kiếm tiền dễ nhất là bóc lột đồng bào mình, những người không có phương tiện để tự bảo vệ, những kẻ bị hà hiếp, bị tê liệt cùng một lần vì đói nghèo và sợ hãi.

Tại sao lại “đãi nơi quần hồng”? Vì người cộng sản lúc này thôi còn là cộng sản, họ đã trở thành đám tư sản dù vẫn giữ vẻ mặt ngô nghê và bộ điệu lố bịch của kẻ cách đây chưa lâu còn lo le sợi dây giong lợn giống hoặc lúc lắc cái ống bơ đựng xu lẻ ăn mày. Khi đã đổi vai thì họ phải bám vào cái giai cấp tương lai của họ, giai cấp mới này chính là đám quần hồng, thế nên họ phải đãi đám quần hồng để còn kiếm chác phần đường mật trong đũng cái quần hồng ấy.

Sự thật đơn giản, nếu người ta nhìn thẳng vào nó.
Đám cầm quyền hôm nay đã rơi từ đỉnh cao của sự “kiêu ngạo cộng sản” xuống vũng bùn của“các con lợn truỵ lạc phương Tây” mà trước đây họ thường sa sả chửi rủa, họ đang sống xả láng trong cảnh phồn vinh mà trước đây họ mỏi mồm lên án. Nói tóm lại, họ đang là thứ “khỉ khoác quần áo”, thứ “nhặt cái đuôi của bọn tiểu tư sản cắm vào lỗ mồm” như ông tổ hói đầu Lenin của họ từng cảnh báo trước đây.

Trong cuộc sống tối tăm, nhục nhằn của người nô lệ, các anh hùng đánh đuổi ngoại xâm chính là các bậc thánh sống, được tôn trọng, thần phục, ngưỡng mộ, và có toàn quyền trở thành các nhà sáng lập triều đình.

Nhìn lại lịch sử, ta dễ dàng chiêm nghiệm điều đó. Phải chăng triều Lý, triều Trần, triều Lê, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đều được khởi dựng sau các chiến thắng lẫy lừng chống kẻ xâm lăng? Ngoại trừ Đinh Bộ Lĩnh là viên tướng phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước, nói một cách dễ hiểu là viên tướng duy nhất xây dựng triều đình khi chiến thắng các cuộc nội chiến phân quyền, còn lại, những gương mặt sáng chói trong lịch sử đất Việt đều là những anhhùng chống Tầu và chống Nguyên – Mông. Các triều vua này từng tuyên bố “Sông núi nước Nam vua Nam ở”.

Và cuộc sống mái của họ là giành mục đích người Việt Nam là người Việt Nam, dẫu áo vải quần thâm nhưng đàn ông nhất quyết không cạo trọc, tết sam như gã A. Q, đàn bà không bó chân nhưcác mợ Tầu.

Tuân theo logic ấy, triều cộng sản được hình thành là nhờ nó có công trong cuộc cách mạng chống giặc Tây. Và người ta còn khoan dung cho nó là vì tính đến cái công ấy, cái công “dành độc lập dân tộc”, cái khả năng nốitiếp truyền thống của các Vua nước Nam nhất thiết phải ở đất nước Nam, coi sự tồn tại của non sông quý hơn tròng mắt của chính họ.

Cái tinh thần bất khuất ấy, còn hay chăng?
Còn hay chăng, tinh thần dân tộc của những người đã đổ máu đểcắm ngọn cờ hồng lên thành Hà Nội sáu mươi lăm năm trước, những cảm tử quân đã ôm bom ba càng vào mùa đông năm 1946 với lời thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”?
Nếu những anh hùng vô danh ấy có linh hồn, hẳn các linh hồn ấy giờ đây đang nức nở.
Nếu những hiển linh của các vua xưa có thể cất lời, thì lời đầu tiên họ nói sẽ là “Lũ người này đã phản bội lại dân tộc, bọn sâu bọnày đã bôi nhọ mặt chúng ta!”

Ngày Hội Ngàn năm Thăng Long diễn ra vào đúng ngày 1 tháng 10, thằng mù cũng biết đó chính là ngày Quốc khánh Trung Quốc. Tại sao lại là con số này? Tại sao có sự lựa chọn này? Vô ý chăng? Nhầm nhỡ chăng? Mất trí nhớ chăng?

Cứ coi như Bộ trưởng Bộ Văn hoá dốt nát thì trên đầu ông ta còn mười một người trong bộchính trị. Không lẽ cả mười một người này mắc chứng mất trí nhớ? Không lẽ cả mười một người này mắc bệnh thiểu năng?
Nếu để cho mười một kẻ thiểu năng đứng trên đầu trên cổ mình thì dân Việt xứng đáng là các bệnh nhân của trại tâm thần, một trại tâm thần khổng lồ chưa từng thấy mà trong đó các con bệnh bịtiêm thuốc ngủ liều cao liên miên nên đờ đẫn, không còn khả năng nhận thức sự vật xung quanh. Nếu không, họ đã bị bán đứng cho Tầu, và tương lai của họ, một tương lai không tránh được sẽ là bản sao lại sầu thảm của những người dân Tây Tạng hoặc Tân Cương một khi họ bó tay trước lũ bán nước.

Chọn ngày Quốc Khánh Trung Quốc để mở hội Ngàn năm Thăng Long là một biểu tượng hai mặt.

1. Với triều đình Bắc Kinh chính phủ Hà Nội đã làm bản tuyên bố: Thành Thăng Long cũng chỉ là một bộ phận trong lịch sử mẫu quốc, nó phải được treo đèn kết hoa cùng một lần với đèn hoa của thủ phủ đại triều. Một khi thủ đô của một quốc gia đã định vị nhưvậy, có nghĩa quốc gia ấy tự xác nhận danh tính chư hầu một cách công khai. Sự kiện này là bản giao kèo bộc lộ lòng trung thành vô hạn và vô điều kiện của đám hàng thần Hà Nội.
2. Với dân chúng, đây cũng là lời tuyên bố thẳng thừng: Chúng tao bất chấp lịch sử, chúng tao có toàn quyền định đoạt vận mệnh đất nước. Kẻ nào chống lại, kẻ đó sẽ bị tiêu diệt.
Chọn ngày quốc khánh Trung Hoa để mở hội Ngàn năm Thăng Long là bằng chứng hiển nhiên để mảnh vải rách cuối cùng che thân chế độ cộng sản rơi xuống. Họ đã trở thành kẻ bán nước, công khai hoá hành vi bán nước của mình.

Nếu như năm 1945, cha anh họlà các anh hùng giải phóng dân tộc thì giờ đây, trái lại, họ là những tên phản tặc, sỉ nhục của tổ tiên, chẳng những cắt đất, cắt biển dâng cho giặc mà còn đương nhiên ném bùn lên lịch sử. Người Việt Nam ta có câu “hổ phụ sinh cẩu tử”. Mà bọn người này, không những là những con “cẩu tử” mà còn là “cẩu ghẻ”, “cẩu sida”.

Những người cầm quyền Hà Nội thừa thông minh để hiểu rằng họlà những con cẩu ghẻ. Rằng trong dòng máu của bất cứ người Việt nào cũng lưu cữu một thành tố có tên gọi “chống ngoại xâm”, mà thứ ngoại xâm thống trị lâu dài nhất, tàn độc nhất, để lại các kinh nghiệm đau thương sâu đậm nhất trong kí ức là “giặc phương Bắc”.

Cuộc thực dân hoá của Pháp 100 năm chỉ là cơn bão chóng qua so với thời kì bắc thuộc của giặc Tầu. Họ biết rằng bất cứ kẻ nào phản lại truyền thống đấu tranh dân tộc, kẻ đó mất chỗ đứng trong lòng dân chúng. Ngày hôm trước còn được tung hô hoàng đế, hôm sau đã biến thành “Thằng chó săn, thằng phản tặc, phường bán nước”.

Đó là trường hợp vua Lê Chiêu Thống đã phải chịu do hành vi bán nước của ông ta. Còn câu ca “Nguyễn Ánh cõng rắn về cắn gà nhà” mãi mãi là bài học lịch sử tố cáo tội ác của kẻ đặt lợi ích dòng họ trên quyền lợi dân tộc. Giờ đây, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng họ đã bị đẩy sang bên kia đường biên, họ rơi vào cùng một bè lũ với Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh.

Để đặt tên cho họ một cách rõ ràng và chính xác, tôi xin nhại lại câu “cõng rắn về cắn gà nhà” của các cụ xưa mà rằng nhà cầm quyền Hà Nội giờ đây là bọn “dẫn hổ về thịt dê nhà”


DẪN HỔ VỀ THỊT DÊ NHÀ.

Tại sao lại là hổ và dê?
Hổ, vì vương triều phương Bắc bây giờ mạnh hơn thực dân Pháp năm xưa nhiều lần, để so sánh một cách chính xác thì phải dùng hình ảnh con hổ chứ không thể là con rắn.

Dê, vì nhìn lại bản đồ, bạn đọc sẽthấy rằng toàn bộ bán đảo Đông Dương có thể ví như một con dê mà Tây nguyên chính là phầnsống lưng con dê đó. Một khi con hổ Trung Hoa cắm được móng vuốt lên chính giữa lưng con dê này, coi như số mạng con dê đã nằm trong hai hàm răng của nó.

Đế quốc Trung Hoa sẽ trải rộng khắp châu Á. Việt, Miên, Lào sẽ trở thành các tỉnh thành khác nhau của Trung Hoa, “công đầu” này thuộc về ai nếu không là nhà cầm quyền Hà Nội, kẻdựng lên công trình bauxite Tây nguyên?

Bauxite ư? Trò lừa đảo!
Thiếu gì các quặng bauxite rải rác khắp miền Bắc Việt Nam, tại sao không là Lào Cai, Yên Bái hay Cao Bằng mà lại là Tây Nguyên? Vả chăng, khai thác bauxite để làm gì? Kiếm tiền chăng? Dối trá! Biết bao bài báo đã phân tích chán chê lợi hại về khai thác bauxite, kể cả các tài liệu trên thếgiới cũng công bố rộng rãi tác hại của nó, mà vụ gần đây nhất là Vùng bùn đỏ Hungaria. Còn có thể nói thêm được điều gì khi mà sự bán nước hiển nhiên đã bầy ra trước mặt dân chúng, giữa thanh thiên bạch nhật?

Nhà cầm quyền Hà Nội hoàn toàn có ý thức về hành vi bán nước của họ, bởi con tính của họ là trở thành một thứ “Thái thú Tô Định hiện đại”, được hưởng đủ phần xôi thịt của Bắc triều.

Còn Việt Nam biến thành một tỉnh nào đó của Trung Quốc, mang tên Quảng Việt, Quảng Nam, Quảng Lạc. . . họ không cần quan tâm. Họ biết rõ rằng hành động của họ là đi ngược lại lợi ích của nhân dân, biết rằng không người Việt nào cam tâm làm nô lệ cho Tầu, rằng kinh nghiệm đau đớn của tổ tiên luôn luôn sống trong ý thức lẫn vô thức dân tộc, thế nên họ chủ trương đàn áp dân chúng, họ chủ trương dùng bàn tay sắt để bóp nghẹt cổ những ai muốn nói lời phản kháng. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2009, thứ trưởng bộ nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tức Trần đã công khai dọa nạt những người trí thức Việt Nam vào dịp viện IDS của tiến sĩ Nguyễn Quang A tuyên bố giải tán.

Ông nghị Trần nói rằng “Ở Việt Nam đảng độc quyền lãnh đạo nên không thể có phản biện. Phản biện tức là phản động. Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù đang còn nhiều chỗ lắm. Nhưng chúng tôi cũng không cần đến nhà tù, chúng tôi có các phương tiện hữu hiệu hơn. Tai nạn xe cộbây giờ tổ chức rất dễ dàng. Còn một biện pháp rẻ hơn và nhàn nhã hơn: đầu độc. Các anh uống cà phê rồi khi về đến nhà thì cứng đơ ra mà chết. Những bài bản này thế giới sử dụng đã lâu, chúng tôi cũng không thua kém họ. . . ”

Những lời lẽ này nói lên điều gì nếu chẳng phải sự công khai triệt để của tính tội phạm và tư cách chó? Một chính thể không còn lý do chính đáng để tồn tại thì chỉ có thể duy trì bằng bạo lực, chỉ có thể sử dụng bọn tội phạm, bọn sát nhân, bọn cặn bã xã hội, tóm lại, bọn chó giữ nhà. Không còn lý tưởng, không còn đạo đức, ngập chìm trong tham lam, truỵ lạc, con người trượt từ chữ NGƯỜI sang chữ CON.

Bác chúng em
Vào những năm 1989, 1990, tôi có vinh hạnh làm quen và gặp gỡ ông Lê Giản, người công an đầu tiên của Việt Nam, người lãnh đạo bộ máy cảnh sát từ những năm đầu cách mạng. Ông Lê Giản đích thực là “Người công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, do dân và vì dân”.
Tôi hiểu vì sao cuộc kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công vì có những người như ông Lê Giản.
Nhưng ông Lê Giản đã chết và“Người công an nhân dân”cũng đã chết theo. Cái chết này xảy ra từ từ với thời gian, một cái chết âm thầm, nhưng không phải là vô hình vô ảnh.

Tôi chứng minh:
Cách đây ngót ba thập kỉ, khi những lượt hoa quả đầu tiên từphương bắc tràn vào nước ta, các phòng phân tích thuộc Bộ Nội vụđã báo cáo lên bộ chính trị rằng các thứ hoa quả này đều tẩm formaldéhyde (thuốc ướp xác chết) vô cùng độc hại cho người tiêu dùng vì nó phá huỷ mô liên kết của các tế bào và là tác nhân gây ra bệnh ung thư.

Bộ chính trị ra lệnh cấm phổ biến sự thực trên vì “sợ mất lòng nước bạn”. Các sĩ quan công an chỉ có thể ngăn cấm chính vợ con họ và rỉ tai những người thân cận nhất (anh em ruột, cha mẹ vợchẳng hạn), đối với người ngoài, họ tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Tuyệt đối im lặng. Tuyệt đối thản nhiên nhìn đồng bào mình ăn thứ đồ ăn nhiễm độc, biết chắc chắn rằng ngày một ngày hai họ sẽ ung thư và sẽ chết vì bệnh đó.

Tính kỉ luật của đám sĩ quan này mới cao thượng làm sao(!) Và cao thượng làm sao, những kẻngồi quanh bàn họp bộ chính trị, những bậc lương đống của triều đình, chịu trách nhiệm chăn dắt dân đen, đàng hoàng ra lệnh cấm rò rỉ sự thật vào tai dân chúng, bỏmặc mấy chục triệu người bị đầu độc và chết dần chết mòn!

Đối với tôi, con đường bán mình cho giặc của chế độ Hà Nội đã khởi sự từ ngày ấy. Và ngày ấy cũng là cái mốc đánh dấu sựchuyển biến chất lượng này: từ người công an nhân dân, công an đã trở thành kẻ quay lưng lại với nhân dân.

Ba thập kỉ đã qua, những kẻ quay lưng lại với nhân dân đã trượt không ngừng trên con dốc, để trởthành kẻ thù của nhân dân.

Bây giờ, gương mặt nào là gương mặt đích thực của công an? Người hùng bảo vệ dân hay đám chó giữ nhà cắn cổ dân để bảo vệông chủ của nó?
Hãy xem lại các hình ảnh đưa lên internet năm 2008 về vụ nông dân bị cướp đất biểu tình ở Sài Gòn. Những người dân cầy gầy gò xơ xác, đa phần là người già và phụ nữ, từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Long An, Bình Thuận đổ đến trước văn phòng Quốc hội 2 với các khẩu hiệu “Trả đất cho dân”, “Chống cửa quyền, tham nhũng”. Những người dân ấy đã bị đám công an và dân phòng béo múp vì bia rượu, mặt hằm hằm sát khí đối xử ra sao? Mấy thế kỉđã qua nhưng hình ảnh bọn người này vẫn là bản sao chính xác bọn nha lại mà Nguyễn Du đã mô tả trong Truyện Kiều:“Đầy nhà một lũ ruồi xanh” và“Đầu trâu mặt ngựa ào ào nhưsôi”.

Gần đây nhất, hãy nhìn hình ảnh anh Nguyễn Ngọc Quang, một giáo dân ở Định Quán, tỉnh Đồng Nai vì tham gia đấu tranh cho dân chủ mà bị công an Đà Lạt ba lần tổ chức tai nạn xe cộ để kẹp suýt chết.

Tôi tự hỏi, có lúc nào những người công an này tự vấn lương tâm? Tại sao họ không dùng sức lực, dùng khả năng hung bạo mà họ sẵn có để giết những tên giặc Tầu, lũ dã nhân tàn sát những người dân đánh cá Thanh Hoá?

Nếu là những người mà nghề nghiệp đặt trên bạo lực, bản năng hiếu chiến mạnh mẽ, tại sao họkhông dùng khả năng đó để tiêu diệt ngoại xâm mà lại đi đàn áp những sinh viên yêu nước biểu tình đòi Trường Sa, Hoàng Sa trước sứ quán Tầu? Tại sao? Vì họ thiếu trí khôn hay vì họ là những kẻ mù loà, óc não bị khô cứng trong một cuộc sống mà ngoài việc tuân theo mệnh lệnh cấp trên không còn khả năng nghĩ đến điều gì khác ?

Vì chưa từng là công an, nên tôi dành những câu hỏi ấy cho họ trảlời. Tôi chỉ nêu lên nhận xét thứhai, nhận xét khi tôi nhìn tấm ảnh đoàn biểu tình đòi mạng người xảy ra tại thị xã Bắc Giang ngày 25 tháng 7 năm nay.

Nhiều người biết rằng, ngày 23 tháng 7, hai công an huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang đã đánh chết anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê quán tại huyện Việt Yên vì tội danh không đội mũ bảo hiểm. Ngày 25 tháng 7, gia đình anh Khương đã chở xác chàng trai này lên thị xã Bắc Giang đòi đền mạng. Dân chúng xông lênủng hộ gia đình nạn nhân, con sốlên đến hàng ngàn người, làm thành một cuộc biểu tình rầm rộchưa từng có trong lịch sử tỉnh Bắc Giang, mà theo bài phỏng vấn, các cụ già đã nói rằng còn đông hơn ngày theo Việt Minh cướp chính quyền năm Ất dậu.

Trong sự kiện này, tôi chú ý đến một chi tiết: công an đưa xe cứu hoả mang vòi rồng đến trấn áp dân chúng, nhưng trước khí thếcăm hờn của đám đông, công an bỏ chạy, hàng chục người dân trèo lên xe đứng. Hiện tượng đó chứng tỏ không phải lúc nào công an cũng tê liệt vì mù loà, luôn hành động như đám robot hoặc lũ chó berger. Trong lúc nguy khốn, họ đã tính toán và đã chọn con đường bỏ chạy để thoát thân.

Có lẽ, con tính của họ cũng đơn giản thôi. Không phải công an nào cũng phú quý vinh hoa nhưông nghị Nguyễn Văn Hưởng. Đa phần những người lính quèn chỉ đủ sức nuôi một vợ thôi mà để nuôi cô vợ này với hai, ba đứa con kèm theo cuộc sống của họcũng không phải là “thiên đường nơi hạ giới”. Nếu máu đổ ra mà chỉ để bảo đảm cuộc sống ấy thì đó là một cuộc đổi chác ngu xuẩn. Thêm nữa, lớp lính bây giờtương đối trẻ, họ biết chữ nên không hoàn toàn bị bưng bít thông tin, họ hiểu được số phận của đám công an ra sao khi các cuộc cách mạng dân chủ xảy ra ởNga, ở Tiệp, ở Hung, ở Đức, và ở Ukraina mới rồi.

Thêm nữa, dù hổ thẹn hay cố tình bưng bít lương tâm, nơi thầm kín nhất của con tim, họ cũng hiểu rằng chết vì một lý tưởng cao cảthì đó là cái chết xứng đáng không làm hổ thẹn cho con cháu, chết chỉ vì miếng cơm thì đó là cái chết của con chó gác sân mà khi dân chúng nổi lên, họ sẽ lấy bắp cầy phang vỡ sọ hoặc dùng câu liêm cắt cổ.

Khi lòng dũng cảm và tinh thần hào hiệp không còn nữa, cái còn lại là sự tính toán vị kỉ của mỗicon người. Sự vị kỉ này cũng có mặt tốt của nó, nó là rào cản đểchủ nghĩa cuồng tín không thểđặt chân vào mảnh sân của mỗi căn nhà.

Một người công an, nếu chưa mất toàn bộ sự sáng suốt, ắt phải biết tính toán họ được bao nhiêu và mất bao nhiêu, liệu số lương bổng họ được có trang trải nổi phần tiêu phí cho đám tang của họ và nuôi nổi cô vợ với lũ con còn lại, hay sự hy sinh của họ chỉđể làm nặng thêm túi tiền các quan lớn, khiến các quan thêm rửng mỡ để đi hiếp trẻ con (nhưông chủ tịch kiêm phó bí thư tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tộvà các ông khác chưa bị lộ mặt), hay máu họ đổ xuống chỉ để đổi lấy các hộp kem đắt tiền nhằm bổdưỡng làn da mịn màng cho các mỹ nhân của quan lớn (như đám mèo cái đang vờn quanh rốn ông nghị Nguyễn Văn Hưởng)? Vân vân và vân vân. . .

Sự tính toán luôn có lợi cho con người. Bởi thánh nhân thường hiếm mà kẻ trục lợi thường nhiều nên không thể đòi hỏi tất cả mọi người đều xả thân vì đất nước. Tuy nhiên, nếu không là thánh nhân thì họ cũng là dân Việt. Là dân Việt, họ phải hiểu rằng truyền thống chống Tầu là dòng máu sôi sục liên tục chảy trong tim dân tộc này. Bất cứ kẻ bán nước nào, sớm hay muộn, trước hay sau cũng sẽ nằm trước mũi súng của nhân dân.

Dân Việt :

Ai là dân Việt?
Phải chăng đó là tộc người duy nhất trong hàng trăm tộc Việt (Bách Việt) xưa kia sống ở phía nam sông Dương Tử còn giữ lại được bản sắc mà chưa bị đồng hoá như chín mươi chín tộc Việt kia?
Phải chăng vì sự cứng đầu này mà đất Việt luôn luôn là con mồi trong tâm thức Bắc triều?

Ngoài các lý do về nhu cầu bờ biển với các hải cảng, nhu cầu khoáng sản, còn một nhu cầu thầm kín nữa mà quan lại phương Bắc không nói ra, đó là nhu cầu đồng hoá nốt cái phần còn lại của Bách Việt.

Niềm kiêu hãnh Đại quốc là ở đó. Mối bực mình của Đại quốc cũng là ở đó. Một khi họ đã thâu tóm, đã chiếm lĩnh, đã áp đặt nền văn hoá và chữ Hán lên chín mươi chín tộc Việt kia, lẽ nào còn cái tộc cuối cùng họ phải chịu thua?Ở thế thượng phong mà mấy ngàn năm nay chưa nuốt trọn hòn xôi Việt Nam, mảnh đất cỏn con, dường như là một “vết thương lòng, một sự tự ái” mà vua chúa Trung Hoa không chịu được.

Cách đây vài năm, ai đó từng nói với tôi rằng “Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch là địch thủ, nhưng về chính sách đối với Việt Nam thì bọn họ sẽ ngồi cùng một bàn”.

Đó là một nhận định sáng suốt.

Năm trước, ông bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc tiến hành cuộc điều tra dư luận xem bao nhiêu phần trăm dân chúngủng hộ xâm chiếm Việt Nam. Theo công bố của ông ta thì con số này lên đến trên 90%. Cứ cho rằng Trung Quốc là một nước cộng sản nên dân chúng còn sợ hãi, họ phải tuân theo thượng cấp nên có thể trừ đi 20 phần trăm, phần còn lại vẫn là trên 70 phần trăm. Và điều này là sự thật không ai có thể chối bỏ.

Năm nay đã là năm 2010, thế kỉ21, Trung Quốc không còn sống dưới vương triều họ Mao, không còn phải đổi xác người thân cho nhau để chén thịt. Kinh tế phát triển, các phương tiện kĩ thuật phát triển, trình độ văn hoá được nâng cấp, sách báo lan tràn trong các đô thị, không thể cho rằng dân Trung Quốc hoàn toàn bị dắt mũi bởi họ ngu dốt, bởi thiếu thông tin, bởi sợ hãi nhà cầm quyền, ngược lại, họ đang dương dương tự đắc vì là dân của Cường quốc số 2 trên thế giới. Vậy thì, cái “hòn xôi Việt Nam chưa nuốt được” kia không chỉ làm ngáng họng đám cầm quyền mà cũng còn làm ngứa ngáy cổhọng vô số dân đen phương Bắc, một mặc cảm có mẫu số chung.
Vì lý do nào mà bộ trưởng bộquốc phòng Trung Quốc làm cuộc điều tra này? Đó là một trò chơi ngẫu nhiên hay là sự thăm dò có chủ định?

Vì lý do nào mà trên các site internet Trung Quốc tung ra hàng loạt bài chửi bởi, nhục mạ “lũ chó Việt Nam, phải đánh bọn chúng. Lũ chó Việt Nam, lần này chúng ta sẽ thanh toán lịch sử”, và công bố một cách chi tiết chương trình thôn tính Việt Nam trong ba mươi mốt ngày, phần còn lại của bán đảo được quy định là một tuần, tóm lại là chương trình con hổ Trung Quốc nuốt trọn con dê Đông Dương?

Liệu nhà cầm quyền phương Bắc có thể ngang ngược làm những điều ấy chăng nếu như chính quyền Hà Nội còn là một chính quyền độc lập mà không tựnguyện biến mình thành đám gia nô cho vương triều Đại Hán?
Tôi dành những câu hỏi ấy cho bạn đọc trả lời.

Tôi chỉ xin nhắc họ rằng, chúng ta là tộc người cuối cùng sống sót mà không bị đồng hoá thành người Hán. Tổ tiên chúng ta đã đấu tranh không mệt mỏi đểchống lại sự áp đặt của Bắc triều, bởi họ đã nhìn thấy sự đánh mất bản diện, sự lụi tàn của 99 tộc Việt kia.

Để tồn tại và được là chính mình, tổ tiên ta vừa chống chọi vừa lùi xuống phương Nam. Lịch sử của dân tộc Việt tóm gọn trong câu này: “Nam tiến”!
Nam tiến, nam tiến và nam tiến!

Cuộc Nam tiến thứ nhất khởi sựdưới triều Lê, từ năm 1428 đến năm 1527. Kể từ đây, cuộc khai khẩn và chinh phạt tiếp tục không ngưng nghỉ. Từ Thăng Long các đoàn quân xưa vượt qua đèo Ngang, sau lưng họ là những đoàn nông dân và thợ thủ công vào phá rừng, bạt núi, kiến tạo ruộng đồng và lập làng xây ấp. Rồi tiến đến châu Ô, châu Rí. Rồi, từ đèo Ngang vượt qua đèo Hải Vân là chặng đường thứ hai. Cứ thế mà hành trình này tiếp tục cho đến mũi Cà Mau.

Nam tiến, đó là sự nghiệp dựng nước của tổ tiên ta.
Bây giờ, chúng ta không còn cơhội để tiếp tục sự nghiệp của họ. Chúng ta không thể Nam tiến. Trước mặt chúng ta đã là biển. Chúng ta tiến đi đâu?

Người Việt chỉ còn cách tồn tại cuối cùng là giữ lấy đất đai, đất đai ấy là xương máu của cha ông ngàn đời tích tụ lại, đất đai ấy là nơi cắt rốn chôn rau nhưng cũng là thành luỹ mà họ có thể nương tựa vào để duy trì cuộc sống cho mình và cho các thế hệ mai sau.

Để giữ được non sông, để có thểlà người Việt mà không trở thành đám thiểu số khiếp nhược của một vương quốc khác, chúng ta không thể tiếp tục dung dưỡng một chính quyền bán nước, mộtchính quyền đã ngang nhiên cắt đất, cắt biển cống cho phương Bắc, đã nhục nhã biến ngọn cờThăng Long ngàn năm thành một mảnh vải vụn xén ra từ cái váy hồng Bắc Kinh. Chúng ta không thể bảo vệ được Tổ quốc nếu tiếp tục nuôi giữa lòng dân tộc mình một con rắn độc, cũng như Vua An Dương Vương xưa đánh mất non sông vì trót đẻ ra và trót yêu thương đứa con gái phản tặc có tên là Mỵ Châu. Với tất cả các hành vi nhục nhã mà họ đã làm, chế độ Hà Nội giờ đây đã chính thức trở thành một thứ Mỵ Châu.

Tuy nhiên, Mỵ Châu xưa là một người đàn bà xinh đẹp nhưng ngu dốt, kẻ luỵ tình nông nổi nên tội bán nước của cô ta còn được người đời khoan dung. Tại đền thờ Cổ Loa có hai tượng đá, tượng đá ngoài sân là biểu tượng Mỵ Châu nằm gục mặt xuống đất mà bất cứ ai đi qua cũng phải đạp một cái lên lưng và nhổ một bãi nước bọt để trừng phạt “con Mỵ Châu bán nước”. Còn tượng đá trong đền, tựa như một người đàn bà cụt cổ phủ vải đỏ thì lại được hương khói do lòng đồng cảm với “Mỵ Châu khờ dại và lụy tình”.
Dân Việt vốn không cuồng tín, họ phân biệt rõ ràng mọi sự, bên kia chữ lý còn đọng chữ tình.

Nhưng nàng Mỵ Châu ngây thơ, khờ dại đã chết từ mấy ngàn năm trước, còn chính quyền Mỵ Châu bây giờ không một chút khờ dại mà cũng chẳng luỵ tình ai, nó chỉluỵ cái túi tiền của chính nó. Mọi tính toán của nó chỉ nhằm tu tạo, xây đắp quyền lợi bản thân, cũng như con thú chỉ có một đam mê duy nhất là liếm cho mượt bộlông của chính nó mà thôi.

Mỵ Châu ngày nay là một con đĩ già trơ trẽn, trần truồng nằm dạng háng sẵn cho phương Bắc.
Người dân Việt phải chém cụt đầu con đĩ ấy, trước khi nó kịp trao hết nỏ thần vào tay giặc nếu chúng ta không muốn lặp lại sốphận bi thảm của An Dương Vương.
Dân tộc Việt không thể làm được điều ấy, nếu quân đội khôngđứng lên cùng với họ.
Quân đội, những người lính của nhân dân, các anh còn ngủ đến bao giờ?

DƯƠNG THU HƯƠNG

*Tổng Thống Nga Vladimir Putin:
Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói, là không có cái đầu.
Kẻ nào làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim.
*Tổng Thống Nga Boris Yeltsin:
Cộng Sản không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó.
*Bí Thư Đảng Cộng Sản Nam Tư Milovan Djilas:
20 tuổi mà không theo Cộng Sản, là không có trái tim,
40 tuổi mà không từ bỏ Cộng Sản, là không có cái đầu.
*Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên xô Mr. Mikhail Gorbachev:
Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản.
Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Bí mật nhà nước bị bật mí ở Việt Nam

David Brown (Lê Quốc Tuấn - X-cafe dịch) -


Vào một buổi chiều giữa tháng mười hai, Đại tá Trần Đăng Thanh đã chia sẻ các quan điểm của mình về những vấn đề đối ngoại với một khán giả gồm các trưởng khoa và giáo sư từ nhiều trường đại học của Hà Nội. Như tất cả các công việc của đảng Cộng sản Việt Nam, các nhận xét của Thanh được xem là bí mật nhà nước. Tuy nhiên, ông Thanh không biết rằng, một ai đó trong hàng thính giả, những người đang giảng dạy tại trường đại học quân sự hàng đầu của Việt Nam, đã bí mật ghi lại. Ngay sau đó, một văn bản đầy đủ được nhanh chóng tải và lan truyền trên mạng Internet.

Đấy là cuộc họp cán bộ cấp cao của đảng, những người đang quản lý hoặc giảng dạy tại các trường cao đẳng và đại học ở khu vực thủ đô, những người mang cả hai trách nhiệm tuyên truyền và đào tạo. Họ đã được triệu tập đến để nghe Thanh thuyết trình về tình hình ở Biển Đông.

Cuộc xâm phạm không ngừng nghỉ của Trung Quốc trên các đảo nhỏ và vùng biển mà Việt Nam khẳng định chủ quyền là một vấn đề nan giải cho chế độ. Trong nhiều năm nay, chính phủ đã là đối tượng của những lời chỉ trích trực tuyến đanh thép về những gì mà các blogger coi như một phản ứng khập khiễng đối với khiêu khích Trung Quốc.

Sứ mạng chính của Thanh là để giải thích lý do tại sao, trong quan điểm của các nhà lãnh đạo của Việt Nam, một chính sách kềm chế là tiến trình hợp lý duy nhất của quốc gia đối với người láng giềng khổng lồ của mình. Nếu ông bám chặt vào chủ đề đó thì bài ghi âm lại đã không có gì đáng chú ý. Tuy nhiên, Thanh đã chọn để thêu dệt lên hai giờ nói chuyện của ông với những đoạn lập đi lập lại về sự phản bội của người Mỹ, những phẩm chất đáng ngưỡng mộ của Bắc Triều Tiên và chế độ Iran, khả năng trở lại khu vực của Nga và một thảo luận dài như không thể xuyên thủng về những thiên niên kỷ cùng tồn tại của Việt Nam với người khổng lồ đang trỗi dậy ở phía bắc.

Đối với những lời phê bình chế độ Việt Nam, những nhận xét lan man của vị giáo sư khó hiểu chính là hình ảnh cô đọng của những gì sai trât với nền chính trị của đất nước này. Tuy nhiên, chẳng phải cuộc thảo luận về chính sách đối ngoại đã gây phấn kích thế giới blog.

Sự chú ý trong nước đã gắn chặt vào một đoạn văn ngắn ở gần đầu bài nói chuyện của Thanh, khi ông lưu ý rằng trong nhiệm kỳ đầu tiên là tổng thống Nga của mình, Vladimir Putin đã cấm các hoạt động của đảng Cộng sản và hủy bỏ các trợ cấp nghỉ hưu của các cựu quan chức Liên Xô. Thanh cảnh báo rằng, nếu đảng mất quyền lực thì điều đó cũng có thể xảy ra tại Việt Nam.

"Hiện nay các đồng chí đang công tác chưa có sổ hưu nhưng trong một tương lai gần hoặc một tương lai xa chúng ta cũng sẽ có sổ hưu và mong muốn mỗi người chúng ta sau này cũng sẽ được hưởng sổ hưu trọn vẹn. Và tôi giải thích điều này để mỗi các đồng chí ý thức được rằng bảo vệ tổ quốc Việt Nam thời XHCN hiện nay có rất nhiều nội dung, trong đó có một nội dung rất cụ thể, rất thiết thực với chúng ta đó là bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu, ví dụ các đồng chí ngồi tại đây. Cho nên ta phải nói rõ luôn, hiện nay chúng ta phải làm mọi cách để bảo vệ bằng được Tổ quốc Việt Nam thời XHCN"

Thanh chẳng chút nào bận tâm đề cập đến các chủ đề tuyên truyền quen thuộc của đảng, bloger Đông Phụng Việt chế nhạo. Ông không nói gì về việc phấn đấu để tạo nên một đất nước "hòa bình, độc lập, xã hội chủ nghĩa, công bằng và dân chủ, anh ninh và chủ quyền trong suốt toàn bộ lãnh thổ của mình."

Về phần mình, các nhà ngoại giao thường trú không nghi ngờ cái nhìn của Thanh chính là quan điểm từ Hà Nội. Ông đã lựa ra năm nước để bàn thảo, Hoa Kỳ, Nga, Iran, Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Tóm lại, Thanh đã nói rằng:

"Thực ra mà nói, Mỹ đang thực hiện chiến lược hai mặt. Một mặt đang dùng Việt Nam như một lực lượng tiên phong để chặn Trung Quốc. Mặt thứ hai đang tìm mọi cách để phá vỡ mối quan hệ đoàn kết lâu đời của Việt Nam, giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc ... Người Mỹ cũng đang rất muốn là có được quân cảng Cam Ranh bởi vì quân cảng Cam Ranh là một trong ba cảng tốt nhất thế giới. Một cái cảng của Canada, một cái cảng ở nước Mỹ và một cái cảng ở Cam Ranh của chúng ta. Nó tốt nhất thế giới... Mỹ đang thúc đẩy một chiến lược "thay đổi trong hòa bình" (đối với chính quyền Việt Nam) và họ tìm cách thực hiện thông qua 'hợp tác giáo dục' với chúng ta".

Về nước Nga: "hồi sinh, với một nền kinh tế được hỗ trợ bằng kho dự trữ dầu hỏa khí đốt vô tận và ngành công nghiệp quốc phòng cao cấp. Liên bang Nga cần gì ở Việt Nam? Trong quá khứ, Liên Xô cũ đã từng cố vấn quân sự tới cấp sư đoàn của chúng ta. Họ đã từng cung cấp cho mọi vấn đề về mặt quân sự cho chúng ta. Do đó họ cũng đang muốn thông qua Việt Nam để quay lại... Hiện nay, thông qua chúng ta, họ nhìn thấy một cách trở lại khu vực. Nga đánh giá rất cao Việt Nam chúng ta. Họ nhìn thấy chúng ta là thủy chung và son sắt.... và như người Mỹ, họ thực cũng muốn thuê cả Cam Ranh của chúng ta... Và chắc chắn chúng ta cũng sẽ không cho."

Về Iran: "Có 1,1 tỷ người Hồi giáo giữa chúng ta và châu Âu Họ là những chinh chiến trận mạc... muốn nhào nặn lại trái đất này để theo đúng ý định của thánh Alhah. Cộng hòa Hồi giáo Iran kiên quyết phát triển năng lượng hạt nhân vì mục tiêu hòa bình. Còn câu chuyện người ta từ năng lượng hạt nhân vì mục tiêu hòa bình, họ sản xuất vũ khí hạt nhân hay không là việc của họ, ta không bàn ở đây... nhưng chắc chắn người ta có đủ sức mạnh để bảo vệ quyền lợi của họ..."

Về Bắc Triều Tiên: "Người dân thì nghèo về kinh tế nhưng họ lại quá thừa về lòng yêu nước. Lòng yêu nước của họ như những năm 60, 70 của thế kỷ 20 ở đất nước chúng ta. Họ vẫn đang trong trạng thái chiến tranh. Họ phóng tên lửa... và nhận được sự tôn trọng. Triều Tiên nói, họ làm. Họ cũng đang quyết tâm trở thành một quốc gia hạt nhân gây ra các nước lớn mất ngủ lo lắng về tên lửa của họ. Đó là điều mà chúng ta cần phải nghiên cứu..."

Về Trung Quốc: (Tại quan điểm này, Thanh đã phát động thành một phần lạc đề dài 20-phút về lịch sử lâu dài vay mượn văn hóa từ Trung Quốc của Việt Nam trong khi vẫn chiến đấu chống quân đội xâm lược mỗi 200 năm hoặc lâu hơn Cuối cùng, ông cũng nói đến giai đoạn kinh tế cất cánh của Trung Quốc dưới thời nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình trước đây và "khát vọng cháy bỏng" muốn làm chủ Biển Đông của Đặng Tiểu Bình")

Những toan tính về phòng thủ và thu hút các nguồn cung cấp rộng lớn của dầu mỏ và khí đốt không xa đang chi phối chính sách của Trung Quốc, Thanh nói. Điều ấy khiến Trung Quốc là mối đe dọa chính đối với những khẳng định chủ quyền của Việt Nam về các quần đảo và vùng biển ngoài khơi. Nhưng Thanh nhất mạnh, đấy không phải là mối đe dọa duy nhất.

Tiếp tục suy diễn vào một cuộc thảo luận về những vấn đề trên Biển Đông, tuy không nói thẳng nhưng Thanh đập bỏ ý niệm cho rằng một cuộc chiến tranh với Trung Quốc là điều không tưởng. Ông lưu ý, họ có 1,3 tỷ và Việt Nam chỉ có 90 triệu người. Như vậy, đối với Việt Nam, Trung Quốc phải là một trường hợp đặc biệt. "Chúng ta không bao giờ được quên rằng trong 4 năm kháng chiến chống Pháp, 21 năm chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép để chúng ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và thắng Mỹ. Như vậy ta không quên họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc hai điều không được quên"

Thanh khinh miệt quan điểm cho rằng Việt Nam có thể dựa vào sự hỗ trợ của Mỹ. "Người Mỹ chưa hề, chưa từng và không bao giờ tốt thật sự với chúng ta cả. Phải nói rõ luôn. Nếu có tốt chỗ này, có ca ngợi chúng ta chỗ kia, có ủng hộ chúng ta về Biển Đông chẳng qua vì lợi ích của họ. Họ đang thực hiện “thả con săn sắt, bắt con cá rô".

Do đó, ăn cắp một dòng thưòng được lập đi lập lại của anh hùng độc lập Hồ Chí Minh, Thanh khẳng định, nguyên tắc chiến lược ưu tiên của Việt Nam là phải được bảo vệ độc lập và tự chủ. Nhưng, cũng phải ưu tiên để giữ gìn môi trường hòa bình, ông lập luận. Đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng mà thực sự là một nhiệm vụ đối nghịch mâu thuẫn, và chìa khóa để hoàn thành được là phải giữ gìn đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc.

Thanh tuyên bố, bốn điều phải tránh: đối đầu quân sự, đối đầu kinh tế, cô lập và phụ thuộc vào nước ngoài.

Thanh thừa nhận, lấy lại quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc đã đánh đuổi quân đội miền Nam Việt Nam trong năm 1974) sẽ rất khó khăn, nhưng chúng ta phải cố gắng, khéo léo, tránh một cuộc đụng độ trực tiếp. Chúng tôi đã nói với người Trung Quốc, yêu cầu bồi thường lịch sử của chúng tôi trên các quần đảo là tốt hơn so với của bạn. Hãy mang vấn đề ra Tòa án Công lý Quốc tế. Nếu tòa phán quyết ngược lại đòi hỏi của chúng tôi, chúng tôi sẽ chấp nhận điều đó.

Cuối cùng, Thanh đặc biệt nhấn mạnh sự liên quan giữa bài trình bày của mình với các giáo sư, cán bộ giảng dạy. Ông khẳng định, những cuộc biểu tình bất hợp pháp chống lại sự xâm lược của Trung Quốc không phục vụ cho lợi ích của Việt Nam. Các kẻ thù của Việt Nam đã sử dụng vấn đề Biển Đông để khuấy động sinh viên. Đã có quá nhiều cuộc biểu tình và ngay lúc này cần phải dừng lại, ông lập luận.

Thành tuyên bố thẳng thừng, "Tất cả là từ các ban lãnh đạo nhà trường". "Đảng hy vọng các đồng chí quản lý được sinh viên của mình. Nếu chúng ta thấy sinh viên từ các trường học của các đồng chí đang tham gia các cuộc biểu tình, thì chắc chắn là các đồng chí có một vết nhơ trong hồ sơ của mình".

Nguồn: Asia Times
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Mỹ và Trung Quốc
Nguyễn Hưng Quốc
Hầu như ai cũng biết rõ điều này: Số phận của nhân loại, trong vài thập niên tới, tùy thuộc chủ yếu vào mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Đó sẽ là một mâu thuẫn chính trong nền chính trị thế giới. Các mâu thuẫn khác, đang và sẽ xuất hiện, đây đó, như ở Afghanistan, Iran hay Syria, đều có tính chất cục bộ. Chỉ có mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc là thực sự có tính chất toàn cầu. Như mối quan hệ giữa Mỹ và Liên Xô thời Chiến tranh lạnh.

Cũng như mọi mâu thuẫn khác, mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc có hai khả năng phát triển: một, hòa giải hoặc kiềm chế trong hòa bình; và hai, bùng nổ thành xung đột hoặc trong lãnh vực kinh tế và chính trị, hoặc trong lãnh vực quân sự. Trong lãnh vực quân sự, có hai mức độ: một cách toàn diện, thành chiến tranh giữa hai nước và cùng với họ, các đồng minh của mỗi bên; hoặc, một cách cục bộ, ở một số điểm nóng nào đó. Cũng giống thời Chiến tranh lạnh.

Xin lưu ý, ngay từ đầu nhiệm kỳ thứ nhất, vào năm 2009, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã chọn giải quyết mâu thuẫn một cách hoà bình bằng cách đề nghị thành lập “Nhóm 2” (G-2, Group of Two), chỉ bao gồm Mỹ và Trung Quốc, như một hình thức song song với “Nhóm 8” (G-8) (vốn bao gồm tám quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới: Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh, Canada và Nga) và “Nhóm 20” (G-20) mới hình thành (ngoài tám nước trên, thêm: Nam Phi, Mexico, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, Saudi Arabia, Úc và Cộng đồng Âu châu). So với hai nhóm (G-8 và G-20) trong hiện tại, nhóm G-2, dù muốn hay không, cũng có vị thế cao hơn hẳn.

Bằng đề nghị ấy, Tổng thống Obama thừa nhận vai trò siêu cường đặc biệt của Trung Quốc, muốn có những cuộc đối thoại bình đẳng với Trung Quốc, hình thành một thế giới lưỡng cực và hy vọng các cuộc đối thoại ấy sẽ hóa giải các tranh chấp giữa hai quốc gia có hai nền kinh tế và hai nền quốc phòng lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, lúc ấy, Trung Quốc có thể vì đang bận tâm với việc chuyển giao quyền lực, chuẩn bị cho kỳ đại hội đảng lần thứ 18 (được tổ chức vào tháng 11, 2012), và cũng có thể vì nghi kỵ Mỹ, nên hờ hững với lời đề nghị ấy. Thiện chí hòa giải của Obama coi như thất bại. Hơn nữa, dường như ông xem đó là một tín hiệu về quyết tâm tranh chấp của Trung Quốc, nên ở năm cuối của nhiệm kỳ thứ nhất, ông chọn một chính sách khác hẳn: Trở lại châu Á để kiềm chế Trung Quốc, chủ yếu về phương diện chính trị và quân sự.

Ở đây, có hai điểm cần nhấn mạnh:

Thứ nhất, một cách chính thức, chính phủ Mỹ không bao giờ nói như vậy cả. Họ không dùng chữ “kiềm chế” (contain). Không những không dùng, họ còn phủ nhận điều đó khi bị Trung Quốc phản đối. Tuy nhiên, ở đây, ai cũng biết có những khác biệt rất lớn và vô cùng sâu sắc giữa ngôn ngữ ngoại giao và thực tế.

Thứ hai, đây chính là sự khác biệt lớn nhất giữa mâu thuẫn hiện nay và các mâu thuẫn thời Chiến tranh lạnh. Trước, thời Chiến tranh lạnh, Mỹ kiềm chế Liên Xô trên cả ba lãnh vực, ngoài chính trị và quân sự, còn có cả kinh tế: giữa hai nước, cũng như giữa hai khối tư bản và cộng sản, không có quan hệ gì về kinh tế đáng kể. Nay thì khác. Quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn hoạt động bình thường, thậm chí, trên cả mức bình thường với hiện tượng các công ty của Mỹ vẫn ào ào chạy đến Trung Quốc và hàng hóa cũng như tiền bạc của Trung Quốc vẫn cứ ào ào đổ ngược vào Mỹ. Chính mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế này sẽ giới hạn cũng như sẽ làm biến dạng các xung đột về chính trị và quân sự nếu có.

Trước mắt, Mỹ tiến hành biện pháp kiềm chế Trung Quốc trong hai lãnh vực chính trị và quân sự bằng hai biện pháp chính:

Thứ nhất, họ thay đổi cấu trúc quân sự ở tầm vĩ mô: Trước, các chiến hạm của Mỹ được phân bố đồng đều 50/50 trên hai vùng Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Nay, họ chuẩn bị để đến năm 2020, tỉ lệ ấy sẽ là 60/40, nghiêng về phía Thái Bình Dương. Song song với việc tái phối trí các chiến hạm ấy, Mỹ cũng tìm cách thiết lập các căn cứ quân sự ở một số nước thuộc châu Á - Thái Bình Dương để sẵn sàng cho một trận chiến quyết liệt với Trung Quốc.

Thứ hai, Mỹ cũng ráo riết củng cố và phát triển quan hệ quân sự với các đồng minh cũ cũng như tìm kiếm các đồng minh mới trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, kể cả các đảo quốc nhỏ nhoi và xa xôi như Solomon Islands. Nhưng mục tiêu quan trọng nhất của Mỹ vẫn là các quốc gia gần với Trung Quốc nhất như Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Singapore, Myanmar và Việt Nam.

Cả hai biện pháp này vừa mới manh nha, không thể biết được là chúng thành công hay thất bại. Tương lai của vùng châu Á - Thái Bình Dương và từ đó, của cả thế giới, tùy thuộc vào Trung Quốc và tình hình chính trị trong khu vực. Ở Trung Quốc, có hai yếu tố chính có vai trò quyết định đến chính sách của họ đối với Mỹ: Một, thái độ của giới cầm quyền, hoặc nhân nhượng hoặc quyết liệt đối đầu; hoặc dừng lại ở vị thế một siêu cường về kinh tế hoặc muốn đóng vai siêu cường về cả kinh tế lẫn quân sự; hoặc muốn duy trì một thế giới song cực hoặc muốn hình thành một trật tự mới ở đó Trung Quốc sẽ là siêu cường số một, thay thế vị trí của Mỹ hiện nay. Hai, xu hướng dân chủ hóa làm thay đổi thể chế chính trị ở Trung Quốc để biến Trung Quốc thành một quốc gia dân chủ, tôn trọng nhân quyền, biết chia sẻ các bảng giá trị chung của nhân loại, từ đó, có thể chung sống một cách hoà bình với thế giới. Ở khu vực, các tranh chấp giữa Trung Quốc và một số nước khác, từ Nhật Bản đến Philippines và Việt Nam cũng có thể làm thay đổi bàn cờ chính trị của Trung Quốc và Mỹ. Đó là chưa kể đến việc Mỹ có vượt qua khỏi các cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay hay không.

Quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến cả thế giới. Nhưng nước chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất có lẽ là Việt Nam.

Trong trường hợp xảy ra chiến tranh, Việt Nam rất dễ có nguy cơ trở thành một tiền đồn. Như thời Chiến tranh lạnh. Mảnh đất có hình chữ S, như một người đàn bà gầy guộc oằn người dưới hai gánh nặng ở hai đầu, sẽ có nguy cơ lại đẫm đầy máu và nước mắt. Như thời Chiến tranh lạnh.

Trong trường hợp Mỹ và Trung Quốc cố gắng thu xếp các tranh chấp một cách hòa bình, Việt Nam cũng có nguy cơ trở thành một món hàng để hai bên trả giá và đổi chác với nhau. Lại cũng giống thời Chiến tranh lạnh.

Ngày xưa, người ta hay nói Việt Nam may mắn có một vị trí thật tuyệt vời để có thể đón nhận được nhiều luồng văn minh trên thế giới. Nay, mới thấy nhận định và niềm tự hào ấy hoàn toàn sai.

Từ góc độ địa-chính trị, Việt Nam là một túi thuốc nổ. Với một viễn ảnh rất đáng lo.
phidao
Posts: 140
Joined: Sun Sep 30, 2012 7:29 am
Contact:

Post by phidao »

Image

Nỗi niềm Giáng sinh
Huỳnh Thục Vy
(Danlambao) - Mùa Giáng Sinh, mùa của lòng nhân ái, xin tất cả chúng ta hãy dành cho những người cùng khổ, tù đày trên đất nước này một chỗ khiêm tốn trong tim; để chúng ta còn biết thổn thức, âu lo; để bên những dạ tiệc linh đình, chúng ta còn nhận thức sống động rằng, trong cái đất nước đầy bất công đau khổ này, sự may mắn mà chúng ta đang có được đã không đến với đại đa số người khác...

Không khí Giáng sinh đang tràn ngập khắp địa cầu. Các thành phố lớn trên thế giới trong những đêm trước Noel đã được trang hoàng lộng lẫy: Stockholm lung linh với cây thông Noel cao 36m, Lisbon sặc sỡ với quả cầu khổng lồ, đại lộ Champs Elysees Paris sáng bừng trong hàng ngàn bóng đèn rực rỡ. Khắp nơi người ta hân hoan đón chào thêm một mùa mua sắm- vui chơi mới lại đến.

Mặc cho những khốn đốn kinh tế và những bế tắc về chủ quyền quốc gia, ở các thành phố lớn của Việt Nam như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hà Nội, khung cảnh Noel cũng không kém tưng bừng. Rồi sẽ có những tiệc tùng tụ hội… những cây thông Noel lớn được dựng lên, những hang đá đẹp rực rỡ đã được bài trí sang trọng trong những gia đình khá giả.

Quả tình tôi không có ấn tượng đặc biệt với những rộn ràng, xa hoa đó. Những chốn ồn ào hoang phí như nhà hàng, tiệc tùng, lễ hội đối với tôi là những thứ xa lạ. Tất nhiên giàu có và hưởng thụ không có gì là xấu, hơn nữa nó còn là một quyền chính đáng với sự lao động tương xứng. Nhưng là một cô gái sinh ra trên một miền quê nghèo của một đất nước bất hạnh với những bất công vẫn diễn ra hằng ngày, tôi luôn có cái cảm giác ngậm ngùi vô cớ đối với những xa hoa lễ lạc. Khung cảnh vui chơi tốn kém đó dường như đối lập một cách tàn nhẫn với những mảnh đời cô đơn, nghèo khó, thiếu mặc đói ăn trên khắp đất nước này. Sự đối lập đó làm rỉ máu những trái tim biết rung cảm trước nỗi đau của đồng loại.

Chúng ta kỷ niệm ngày Chúa cứu thế sinh ra đời. Nhưng không giống như cách chúng ta đang mừng đón, ngày xưa Chúa Jesus đã khởi đầu Công cuộc ở trần gian của Ngài bằng việc sinh ra trong một máng cỏ tồi tàn ở Bethlehem. Và như chúng ta đã biết, Kitô giáo lúc sơ khởi đã là tôn giáo của những người nô lệ bần cùng, đau khổ, trước khi nó trở thành quốc giáo của Đế chế La Mã. Tượng Chúa đã ở trong những túp lều rách nát của những nô lệ châu Âu trước khi hiện diện ở Roma trong những vương cung Thánh đường tráng lệ.

Một thông điệp “Yêu Thương và Hòa Giải” được đem đến với nhân loại từ một Người Thanh Niên xuất thân bần hàn rồi chấp nhận cái chết đau đớn trên Thập Giá chắc phải để lại trong chúng ta điều gì đó hơn là những thú vui phù phiếm chứ?! Dù không cổ vũ cho sự khó nghèo, cũng không coi thường sự giàu có, nhưng sự hiện diện của chúng ta trong cuộc đời này phải mang ý nghĩa gì đó thiêng liêng hơn là hưởng thụ chứ?!

Mỗi dịp Giáng sinh về, bên cạnh những niềm vui sum họp, ký ức về câu chuyện “Cô Bé Bán Diêm” vẫn như là tiếng chuông ngân lên nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm với cộng đồng, đặc biệt là những người kém may mắn. “Cô bé bán diêm” của Andersen hôm nay chính là mỗi một người dân quê tôi trong những ngôi nhà tồi tàn trên sườn núi rét mướt ở Bắc Trà My, vì họ đã rời bỏ những ngôi nhà nứt đổ do động đất Sông Tranh 2. “Cô bé bán diêm” của Đan Mạch ngày xưa, ngày hôm nay đang hiện diện trong những bà con dân oan mất đất, mất nhà, phải chịu cái giá rét của Hà Nội mà đi đòi Công lý (dù Công lý từ lâu không có mặt trên xứ sở này). “Cô bé bán diêm” ấy đang là những tù nhân lương tâm trong nhà tù Cộng sản ở vùng xa xôi, hẻo lánh. Cô bé cũng hiện diện trong những nông dân bỏ con thơ, mẹ già, từ quê lên thành phố làm công nhân trong các nhà máy bóc lột, cuối năm không có tiền về quê…

Mùa Giáng Sinh, mùa của lòng nhân ái, xin tất cả chúng ta hãy dành cho những người cùng khổ, tù đày trên đất nước này một chỗ khiêm tốn trong tim; để chúng ta còn biết thổn thức, âu lo; để bên những dạ tiệc linh đình, chúng ta còn nhận thức sống động rằng, trong cái đất nước đầy bất công đau khổ này, sự may mắn mà chúng ta đang có được đã không đến với đại đa số người khác.

Một mùa Noel và một năm mới nữa lại đến trong những sự kiện đáng đau buồn của đất nước, xin cầu chúc cho chúng ta, dù là Phật tử hay Kitô hữu, biết sống để làm nhân chứng cho những giá trị mà chúng ta tôn thờ, biết sống như các Ngài đang sống trong chúng ta, biết sống như một Thái Tử rời bỏ cung vàng điện ngọc và như một vị Vua không ngồi trên ngai vàng thế gian.

Xin kính chúc cô chú bác anh chị em, cùng quý độc giả một mùa Giáng sinh an lành và một Năm mới với nhiều thắng duyên.

Buôn Hồ ngày 16 tháng 12 năm 2012

Huỳnh Thục Vy
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Image

Đảng Cộng Sản: Trở về với nhân dân hoặc chết!

Nguyễn Tâm Linh
(Danlambao) - Việc Trung Quốc đưa bản đồ 'lưỡi bò' vào hộ chiếu là động thái mới nhất trong chuỗi những hành động kéo dài hàng chục năm qua với mục đích độc chiếm Biển Đông, khống chế Việt Nam theo quỹ đạo của họ. Bên cạnh đó, việc các nước Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Malaysia và Thái Lan đang có chiều hướng xích gần Trung Quốc hơn đã đặt Việt Nam vào một tình thế hiểm nghèo. Trước đại họa mất nước ngày một đến gần, cần phải có những hành động thiết thực kịp thời, bất kỳ sự chậm trễ nào cũng là tội ác với dân tộc. Liệu Đảng CS có dám chấp nhận thay đổi để cứu tương lai đất nước hay sẽ chấp nhận trở thành tội đồ thiên cổ của lịch sử?

Tình thế ngàn cân treo sợi tóc

Xét trên phương diện kinh tế, lúc này Việt Nam đang đối diện với nguy cơ chưa từng thấy kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế vào năm 1986.

Những chính sách điều hành kinh tế vĩ mô sai lầm đã khiến nền kinh tế rối loạn. Hàng trăm ngàn doanh nghiệp phá sản chỉ riêng trong năm 2012. Lạm phát trong những năm gần đây luôn ở mức hai con số, giá cả tăng phi mã khiến đời sống đại bộ phận nhân dân điêu đứng. Trong khi đó, thị trường tràn ngập hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc, đã và đang bóp chết những ngành công nghiệp mới manh nha của Việt Nam. Quả bong bóng địa ốc vỡ tung chôn vùi luôn một triệu tỷ đồng khiến hệ thống ngân hàng Việt Nam chao đảo. Tiếp đó, nhà thầu Trung Quốc khuấy đảo các công trình kinh tế chiến lược của ta, biến các công trình thế kỷ đó thành nửa voi nửa chuột, ăn vào không được nhổ ra cũng chẳng xong. Thành tựu kinh tế của gần 30 năm đổi mới giờ đây gần như con số 0. Một tương lai ảm đạm đang tiếp tục chờ đón nền kinh tế Việt Nam, cùng với đó là những hệ lụy xấu đến tất cả các mặt khác của quốc gia.

Về văn hóa xã hội, chưa bao giờ chúng ta chứng kiến một nền tảng đạo đức xã hội suy đồi như hiện nay.

Sau bao nhiêu năm xây dựng một “nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, hậu quả là chúng ta đã có một nền văn hóa chẳng giống ai. Không có bản sắc, truyền thống không phải truyền thống, hiện đại chẳng ra hiện đại.

Nền tảng gia đình bị coi nhẹ, giá trị con người bị coi khinh. Hãy tự hỏi đã khi nào trong lịch sử mạng sống của con người rẻ mạt như bây giờ?

Đại bộ phận học sinh nước ta thuộc sử Tàu hơn sử Việt, nắm rõ đời Tống bên Tàu mà chẳng biết chút gì về nhà Tiền Lê đất Việt. Trên tivi ngày dăm bảy lượt chiếu phim Tàu, một cách tiếp tay cho hành động xâm lược văn hóa của chúng đối với nhân dân ta. “Văn hóa còn thì dân tộc còn văn hóa mất thì dân tộc, tổ quốc cũng mất”, thế nên mỗi nguy hiểm sống còn của Tổ quốc Việt Nam nhìn từ nền văn hóa sẽ rõ hơn bao giờ hết.

Chính trị càng ảm đạm hơn. Cuộc chơi chính trị lúc này không còn là cuộc chơi riêng của những lãnh đạo trong nội bộ đảng với nhau nữa mà trở thành cuộc chơi với sự xuất hiện và điều phối chính của Trung Quốc.

Chính Trung Quốc đang làm chủ cuộc chơi chính trị trên chính trường Việt Nam, chúng gây chia rẽ và duy trì hiện trạng đấu đá của các phe nhóm trong nội bộ đảng cộng sản nhằm tạo nên một cục diện chính trường có lợi nhất cho chúng. Trong điều kiện đó, việc Trung Quốc dựng lên một dàn lãnh đạo thân Tàu ngay trên lãnh thổ của Việt Nam càng dễ, một cuộc xâm lăng không hề tốn một viên đạn.

Một yếu tố không thể không nhắc đến trong các diễn biến chính trị Việt Nam thời gian qua là sự xuất hiện của ngày càng nhiều nhóm lợi ích xoay quanh những vị trí chóp bu trong đảng. Khi kinh tế khó khăn, sức dân cạn kiệt thì các nhóm lợi ích ngày càng đấu đá lẫn nhau với hình thức là cuộc chiến của các chính khách. Những cuộc đấu đá này khiến đảng CS mất niềm tin bao nhiêu thì phải cần bấy nhiêu sự hà hơi giúp sức của Trung Quốc. Trong cuộc chiến này, ai chiến thắng thì Tổ quốc cũng chịu thiệt. Và cuộc chiến dành quyền lực thời gian qua đã cho thấy sự khủng hoảng nhất định ở thượng tầng đảng cộng sản. Hiện nay, cho dù tạm thời những sóng gió đã tạm yên, nhưng xem ra sự yên bình này chỉ là yên bình trong mắt bão.

Về quốc phòng, đây là nỗi lo thực tế nhất mà hiện nay đất nước chúng ta đang đối mặt. Khả năng Trung Quốc sử dụng các lực lượng quân sự tấn công trực diện Việt Nam rất cao.

Nếu tinh ý có thể thấy, sau khi tuột mất Myanma vào tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ, Việt Nam trở thành cánh cửa duy nhất của Trung Quốc nếu chúng muốn nuôi giấc mộng trở thành cường quốc ở Châu Á, một cường quốc có khả năng ảnh hưởng toàn cầu.

Khi tất cả các hướng khác đều bị Hoa Kỳ và các đồng minh rất mạnh của mình bịt kín, Việt Nam và Biển Đông “bỗng dưng” thành “lối thoát chiến lược” mang tên “lợi ích cốt lõi” của con rồng đỏ Trung Hoa. Bằng mọi giá, dù đắt nhất, Trung Quốc sẽ dành bằng được lối thoát này.

Cái giá đắt đó e rằng chính là vận mệnh của đất nước Việt Nam. Càng nguy hiểm hơn khi Trung Quốc đã chiếm lĩnh được các vị trí mang tầm chiến lược về mặt quốc phòng, ẩn nấp dưới những dự án kinh tế xã hội. Như việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, thuê đất dài hạn ở các khu vực miền núi dọc biên giới, cùng với các dự án công nghiệp ở Hải Phòng, Cà Mau... Khi chiếm lĩnh được các vị trí này thì chỉ cần một lực lượng nhỏ các đơn vị tác chiến với biên chế nhẹ, Trung Quốc hoàn toàn có thể chia cắt chiến lược tạm thời các khu vực phòng thủ của Việt Nam, làm kiềm chế, tiêu hao các quân đoàn cơ động chiến lược khi chiến tranh xảy ra và buộc các lực lượng vũ trang của chúng ta phải chiến đấu tại chỗ. Điều này cũng sẽ tạo nên một không gian chiến trường rộng lớn, hầu như cả nước có chiến tranh, gây rối loạn về mặt chiến lược, làm tê liệt khả năng chỉ huy cũng như khả năng ứng cứu lẫn nhau của các đơn vị trên chiến trường. Gần như đồng nghĩa với việc các đơn vị chủ lực của Việt Nam phải nằm yên để các binh đoàn chính quy lớn của chúng chia cắt và tiêu diệt.

Ngoài ra, việc Trung Quốc nắm được các khu vực đồi núi có giá trị quân sự cao của Việt Nam (thông qua các dự án cho thuê đất rừng dài hạn) sẽ tước đi lợi thế về mặt địa hình của quân ta - đội quân có ưu thế và kinh nghiệm tác chiến ở địa hình rừng núi. Vô hình chung làm co hẹp không gian chiến trường, buộc ta phải giao chiến trong không gian đồng bằng, đô thị - nơi hỏa lực, kĩ thuật, chiến thuật cùng vũ khĩ công nghệ cao của Trung Quốc chiếm ưu thế tuyệt đối. Hơn nữa, việc có thể đứng chân ở những vị trí xung yếu trên khắp nước ta sẽ làm thuận lợi hơn cho Trung Quốc xây dựng các căn cứ quân sự trá hình hoặc điểm đổ bộ đường không cho lực lượng tác chiến đặc biệt - những đơn vị tinh nhuệ, trang bị nhẹ có khả năng chiến đấu rất cao. Khi cần thiết các lực lượng này có thể bí mật xuất phát tấn công hoặc chỉ điểm cho các đơn vị tên lửa, không quân Trung Quốc tấn công các sở chỉ huy đầu não, các đầu mối thông tin. Các hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông chiến lược, đặc biệt phá hủy những hệ thống vũ khĩ tối quan trọng của quân đội Việt Nam như hệ thống rada tầm xa, các tổ hợp tên lửa phòng không, sân bay quân sự, các căn cứ hải quân và những kho tàng hậu cần có quy mô lớn.

Trên mặt trận ngoại giao, thời gian gần đây Việt Nam đã chịu nhiều thất bại nặng nề. Đỉnh điểm là việc Campuchia ngang nhiên 'khóa miệng' Việt Nam và Philipin về vấn đề Biển Đông tại hội nghị các quốc gia Đông Nam Á vừa qua. Một nước láng giềng khác là Lào cũng đang xích lại gần hơn với Trung Quốc. Phạm vi ảnh hưởng truyền thống của Việt Nam trên bán đảo Đông Dương gần như đã mất.

Cùng với sự suy thoái về kinh tế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế xuống thấp nhất trong vòng 1 thập niên trở lại đây. Rõ ràng chính sách ngoại giao mập mờ, đu dây theo kiểu du kích đã không hợp với thời đại, ngược lại càng khiến Việt Nam mất nhiều hơn. Sự nhu nhược trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, chưa đem đến cảm giác an toàn thì chúng ta mất nốt hai đồng minh láng giềng thân cận - tấm phên dậu nơi cửa ngõ phía tây. Tạo nên những khó khăn mới trong quá trình bảo vệ tổ quốc.

Hơn nữa, cuộc gặp chớp nhoáng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với người sắp đứng đầu nhà nước Trung Quốc cộng sản ở hội chợ ở Quảng Tây ngay trước Hội nghị Trung Ương 6 càng khiến vị thế của Việt Nam suy giảm trong cộng đồng quốc tế, nơi chúng ta rất cần tranh thủ sự ủng hộ để giữ vững chủ quyền biển đảo. Sự kiện nhà nước VN mừng Quốc khánh Trung Quốc trong lễ kỉ niệm được tổ chức ở cái gọi là 'Tam Sa' cũng là một cái tát ngoại giao đầy đau đớn, choáng váng mà Trung Quốc dành cho Việt Nam.

Lựa chọn duy nhất: đi theo nhân dân!

Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, theo chiều hướng bất lợi cho Trung Quốc, cuộc cách mạng “Mùa xuân Ả-Rập” đã khiến Trung Quốc bật bãi khỏi rốn dầu Bắc Phi và Trung Đông. Các quốc gia chịu sự ảnh hưởng nhất định của Trung Quốc như Sirya, Iran đang như ngọn đèn trước bão. Sau đó lại mất nốt Myanma - cánh cửa ra Ấn Độ Dương khiến Trung Quốc như một con quái thú trọng thương, lại bị Mỹ dồn ép khiến chúng buộc phải đưa 'lưỡi bò' liếm xuống khu vực Đông Nam Á. Nơi đây, chúng hy vọng có thể đặt nền móng cho một siêu cường toàn cầu mới, hoặc sẽ chôn vùi một nước cộng sản với tham vọng đại Hán ngông cuồng.

Trung Quốc đang siết chặt chiếc thòng lọng vào yết hầu Việt Nam. Mới đây nhất là hành động lặng lẽ đổi tên tàu sân bay Thi Lang thành Liêu Ninh. Một hành động đầy ẩn ý. Nếu như Thi Lang là tên của một vị tướng đã từng chinh phục Đài Loan, đặt tên cho hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc với dụng ý răn đe Đài Loan thì nay chuyển sang một cái tên mới liêu ninh với mục đích gì? Phải chăng Trung Quốc đang chuyển trọng tâm chiến lược và tái cơ cấu quân sự sang Biển Đông? Eo biển Đài Loan đã tạm yên khi Mã Anh Cửu thay Trần Thủy Biển lên làm tổng thống, khả năng Đài Loan tuyên bố độc lập đã giảm xuống khiến Trung Quốc tập trung lực lượng xuống phía Nam, nơi những tranh chấp lãnh thổ đang rất nóng bỏng. Ngoài ra thời gian gần đây, Trung Quốc đã có những bước chuẩn bị dư luận khá kỹ khi bật đèn xanh cho các cuộc biểu tình chống Nhật Bản một cách rầm rộ và bạo lực. Tất nhiên chẳng bao giờ Trung Quốc lại dốc toàn vốn liếng để lao vào cuộc chiến năm ăn năm thua với người Nhật. Theo phương pháp loại trừ, các hành động chuẩn bị dư luận đó đang nhằm tạo đường cho một cuộc chiến quy mô lớn với Việt Nam.

Với thực lực hiện tại, cơ hội cho chúng ta khi Trung Quốc khai hỏa gần như con số không. Vì vậy lúc này lãnh đạo đảng Cộng Sản cần quyết định nhanh chóng và sáng suốt nhất. Thời gian không còn để cho các vị đánh cược số phận của dân tộc nữa.

Đảng không đủ thời gian và cũng không nên chọn bất kỳ một hình thức liên minh với các cường quốc trên thế giới như Nhật, Hoa Kỳ hay Nga. Thời điểm này, bất kỳ một chính sách liên minh với nước lớn nào cũng đều quá muộn. Hơn nữa những chính sách đó chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc sớm có những hành động khi không muốn Việt Nam thành Myanma thứ hai.

Ngay lúc này, trước thời khắc quan trọng với vận mệnh dân tộc, đảng phải đi theo nhân dân, chỉ có nhân dân mới là đồng minh sắt son nhất. Liên minh với nhân dân sẽ tạo ra một sức mạnh vô địch cho tổ quốc để đối mặt với đại họa mất nước đang chực chờ. Đảng phải trả lại quyền làm chủ đất nước thật sự cho nhân dân, chỉ có trả lại cho dân mới tạo ra sức mạnh nội lực thật sự cho đất nước trước những sóng gió mang tính thời đại.

Trở về với nhân dân, đảng giữ được tính chính danh của mình. Thể hiện được trách nhiệm của đảng cầm quyền với những dịch chuyển của bánh xe lịch sử dân tộc, đóng vai trò quan trọng khi lịch sử dân tộc đang sang chương mới.

Trở về với nhân dân để đảng không bị thời đại vượt qua. Trở lại với nhân dân để đảng tìm thấy sức mạnh chính nghĩa, thứ mà bấy lâu nay với những vầng hào quang quá khứ, với sức mạnh bạo lực cộng tuyên truyền đã lấy đi của đảng.

Trở về với nhân dân để đảng xây dựng lại thế trận lòng dân. Thế trận sau bao nhiêu năm dành chiến thắng đã sứt mẻ quá nhiều. Thế trận lòng dân sẽ quyết định sự thành bại chiến tranh nhân dân, loại hình chiến tranh đã giúp dân tộc đứng vững trước nhiều biến cố của lịch sử. Nay lại trở thành điểm tựa thoát khỏi thảm cảnh Bắc thuộc lần thứ năm.

Trở về với nhân dân để cùng chung tay xây dựng lại khối đại đoàn kết dân tộc, trở về với nhân dân để thấy “thế lực thù địch” bây giờ đang nằm trong đảng, đang nhân danh đảng để mưu lợi cá nhân. Để thấy kẻ thù không phải là “nhân quyền”, “dân chủ” hay “tự do” mà chính là tư tưởng đại Hán phương Bắc đang lăm le nuốt chửng Tổ Quốc ta.

Trở về với nhân dân để thấy “không hổ thẹn với tiền nhân”, “có lỗi với tương lai”... Để không thành những Trần ÍchTắc, Lê Chiêu Thống... Để cảm nhận nỗi đau của nhân dân có tự do mà hóa nô lệ. Cảm nhận sự mặn mòi của nước mắt quê hương đang hàng ngày hàng giờ bị giặc Tàu giày xéo.

Trở về với nhân dân, hãy dũng cảm về với nhân dân!

Nguyễn Tâm Linh
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Nhân Vật Của Năm 2012

Tác giả : Trần Khải

Thử suy nghĩ về một nhân vật tiêu biểu tại Việt Nam trong năm 2012, chúng ta sẽ có những lựa chọn rất là gian nan.

Nơi đây, chúng ta không bàn về những nhân vật dấn thân trong cuộc chiến vì nhân quyền, vì Mạng Lưới Nhân Quyền VN đã bình chọn xong 3 phụ nữ tiêu biểu cho giải này rồi.

Nơi đây, chúng ta chỉ muốn bình chọn các nhân vật có liên hệ tới tranh chấp biển đảo, tới tồn vong của chế độ... vì đây là những quan tâm lớn nhất của người để ý về thời cuộc.

Nếu nhìn trong khoảng thời gian gần, hiển nhiên ông Đại Tá Trần Đăng Thanh nổi bật nhất, được nhắc tới nhiều nhất, và ông cũng xứng đáng là một WikiLeak của Việt Nam, nếu chúng ta trao giải VietLeak. Thực tế, ông Đại Tá này cũng là người khả nghi, nếu không phải tay sai Trung Quốc khi nói rằng ưu tiên tối cao là “bảo vệ môi trường hòa bình” trong các tranh chấp biển đảo với Trung Quốc, thì hẳn là điệp viên CIA gửi tin trên tuyến công khai bằng cách tiết lộ rằng lá cờ búa liềm mà Đảng CSVN phất cao thực ra bây giờ đã đổi kiểu mới rồi: lá cờ đã xóa đi búa liềm, và in vào cho thành lá cờ sổ hưu.

Nhưng nhìn suốt trọn năm 2012, người gây sóng gió nhất, gây nhức nhối cả cho lề phảỉ và lề trái lại là ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, người được Tư Sang gọi là “Đồng Chí X,” lẽ ra là bị trừng phạt vì nhiều sai trái thì lại thoát hiểm và vẫn hiên ngang đưa ra lời xin lỗi, xem như thế là xóa xong tất cả những tội lỗi chìm tàu Vinashin, Vinalines, độc quyền vàng miếng, cưỡng chế đất ào ạt cho các dự án liên hệ tới đầu tư của gia đình ông...

Tuy nhiên, lựa chọn giữa 2 ông cực kỳ là khó, vì mỗi người đứng riêng một lĩnh vực, và cũng gây sóng gió ở những lĩnh vực riêng. Khó cũng y hệt như khi so sánh giữa táo và cam, hay giữa chuối và khoai, hay giữa Dũng và Thanh.

Nói về tác động tầm kinh tế vĩ mô, tất nhiên ông Thủ Tướng Dũng làm cả nước hao tiền tốn bạc hơn, có khả năng “hô biến” hàng ngàn tỷ đồng nợ xấu.

Nói về tác động định hướng cuộc chiến Biển Đông, tất nhiên ông Đại Tá Thanh đã phất cao “lá cờ sổ hưu” để ra lệnh cho các hiệu trưởng đại học VN phải cấm thầy cô và sinh viên biểu tình chống TQ.

Như thế, kể như tác động ngang ngửa. Vì ông Thủ Tướng Dũng hô biến được cả núi tiền, thì ông Đại Tá Thanh cũng hô biến được tấm lòng yêu nước truyền thống của dân tộc.

Về vai trò lãnh đạo, cả ông Thủ Tướng Dũng và ông Đại Tá Thanh đều có những chỉ đạo rất là thích nghi và cụ thể: ông Dũng chỉ đạo ngành công an và ông Thanh đe dọa các Hiệu Trưởng trường đại học, cao đẳng.

Cụ thể, ông Thủ Tướng Dũng được trang web Chính Phủ mô tả khi dự Hội nghị công an toàn quốc chiều 17/12, đã ra lệnh "lực lượng công an cần tiếp tục làm tốt công tác bảo vệ an ninh, trật tự xã hội trên mọi lĩnh vực và địa bàn; đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, ý đồ kích động, gây bạo loạn của các thế lực thù địch, cương quyết không để nhen nhóm hình thành các tổ chức chính trị đối lập..."

Và cũng cụ thể, ông Đại Tá Thanh đe doạ các Hiệu trưởng đại học:

“Nếu trường đại học nào còn để sinh viên tham gia biểu tình bất hợp pháp, trước hết khuyết điểm thuộc về các đồng chí Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu trường đó, trước hết thuộc về Bí thư Đảng ủy – phòng quản lý sinh viên của trường đại học đó.Nếu để cho công an thành phố Hà Nội hoặc, v.v…. người ta giữ sinh viên của mình, người ta điện mời thầy nọ mời thầy kia, ở trường nọ ở trường kia đến nhận sinh viên của mình thì đấy là khuyết điểm của chúng ta”.

Nâng bóng, đá bóng, chuyền bóng cũng rất nhịp nhàng giữa ông Dũng và ông Thanh.

Khi ông Thủ Tướng Dũng trả lời chất vấn tại Quốc hội ngày 25.11 ở Hà Nội, đã xác nhận rằng VN đang có các cuộc tranh chấp về biển Đông và các hải đảo với Trung quốc. Ông Dũng lúc đó nhắc lại các sự kiện lịch sử về các cuộc xâm chiếm quần đảo Hoàng sa và Trường sa của Trung quốc từ 1956, 1974, 1988 cho tới nay. Và ông Dũng khẳng định rằng, nhà nước CSVN đã đồng ý với Bắc kinh là giải quyết tranh chấp qua các cuộc đàm phán song phương giữa hai nước, không đa phương, không quốc tế hoá...

Tương tự, ông Đại Tá Thanh cũng kể về tranh chấp biển đảo giữa TQ và VN, nêu cụ thể nhà nước TQ đã quậy táo bạo: “Một là họ đẩy mạnh tuyên truyền Biển Đông là của Trung Quốc, tạo dựng hành lang pháp lý với quốc tế, đấy là việc làm đầu tiên của họ. Thứ hai là đẩy mạnh đầu tư nâng cấp vùng chiếm đóng đặc biệt là Hoàng Sa. Thứ ba là ngăn cản phá hoại các hoạt động kinh tế trên Biển Đông của ta. Thứ tư là đẩy mạnh đánh bắt thủy sản tạo ra vùng đánh bắt truyền thống. Thứ năm, thăm dò, khảo sát, mời thầu vùng tài nguyên trên biển của chúng ta. Thứ sáu, tìm mọi cách để hạ đặt giàn khoan trên biển của ta nếu ta không ngăn chặn kịp thời. Thứ bảy là chiếm bãi cạn của ta trong trường hợp ta không có người chốt giữ, nếu mà ta sơ sểnh cái là nó cướp luôn..." nhưng ông chỉ đạo tất cả các Hiệu trưởng đaị học rằng "phải ưu tiên tối thượng là giữ được môi trường hòa bình.” Nghĩa là, phù hợp và bổ sung cho những lời tuyên bố của Đồng Chí X. nêu trên.

Mặt khác, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong buổi chất vấn ở quốc hội hôm 14-11-2012 đã bị ông Đại Biểu Quốc Hội Dương Trung Quốc nêu cầu hỏi: “Thủ tướng nghĩ gì về ý kiến cho rằng mình đang nặng trách nhiệm với đảng, nhẹ trách nhiệm với dân?” trong khi gợi ý rằng ông Dũng "có tán thành khởi đầu cho sự tiến bộ của chính phủ hướng tới một văn hóa từ chức để từng bước đoạn tuyệt với lời xin lỗi hay không?”

Trả lời ông Quốc, ông Thủ Tướng Dũng đã phất cao lá cờ của Đảng CSVN: “Đảng lãnh đạo trực tiếp tôi, hiểu rõ về tôi, đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Đảng đã phân công tôi tiếp tục làm nhiệm vụ thủ tướng chính phủ, Quốc Hội bỏ phiếu bầu tôi làm thủ tướng chính phủ thì tôi sẵn sàng chấp nhận và hoàn thành nghiêm túc mọi quyết định của đảng, của Quốc Hội.”

Có nghĩa là, bằng mọi giá, ông Dũng sẽ không từ chức Thủ Tướng.

Tương tự, ông Đại Tá Thanh đã đứng trước tập thể các Hiệu trưởng đại học toàn quốc và "phất cao lá cờ sổ hưu" rằng bằng mọi giá sẽ không đoạn tuyệt với sổ hưu bao giờ, bởi vì khi Đảng đã phân công nắm giữ sổ hưu thì phải sẵn sàng chấp nhận sổ hưu tuân theo "nghiêm túc mọi quyết định của đảng, của Quốc Hội.”

Ông PGS TS Trần Đăng Thanh giảng dạy cho các Hiệu trưởng đại học:

“...Hiện nay các đồng chí đang công tác chưa có sổ hưu nhưng trong một tương lai gần hoặc một tương lai xa chúng ta cũng sẽ có sổ hưu và mong muốn mỗi người chúng ta sau này cũng sẽ được hưởng sổ hưu trọn vẹn. Và tôi đi giảng bài cho tất cả các đối tượng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam thời XHCN hiện nay có rất nhiều nội dung, trong đó có một nội dung rất cụ thể, rất thiết thực với chúng ta đó là bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu, ví dụ các đồng chí ngồi tại đây. Cho nên ta phải nói rõ luôn, hiện nay chúng ta phải làm mọi cách để bảo vệ bằng được Tổ quốc Việt Nam thời XHCN...”

Chỉ có một cách đơn giản để bình chọn Nhân Vật Trong Năm 2012 là trao giải nhất đồng hạng cho hai ông Dũng và Thanh vậy.

Bởi vì trong khi ông Dũng phất cao lá cờ của Đảng CSVN để có cớ không từ chức, thì ông Thanh giải thích về “bí mật thâm sâu” rằng bảo vệ Tổ quốc VN thời XHCN chính là bảo vệ sổ hưu vậy.

Tuyệt vời cả hai ông vậy.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Image

Gia đình nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa kêu cứu

Kêu cứu về sự đối xử vô nhân đạo của công an trại 6 và bác sĩ thực thi việc chữa bệnh cho ông Nguyễn Xuân Nghĩa, người bị bỏ tù vì bất đồng chính kiến

Tôi là Nguyễn Thị Nga, vợ của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa.
Địa chỉ : Số nhà 828 đường Trường Chinh, phường Quán Trữ, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

Tôi vô cùng phẫn nộ và đau xót trước việc công an trại 6 cùng bác sĩ bệnh viện Ba Lan Thành phố Vinh hành xử đối với chồng tôi, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị bỏ tù vì bày tỏ bất đồng chính kiến khi đưa đi chữa bệnh.

Bản thân ông Nguyễn Xuân Nghĩa là một nhà văn bày tỏ lương tâm của mình đối với những bất công trong xã hội và là người viết và treo khẩu hiệu có nôi dung : “Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho Việt Nam – Tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam – Đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam” ở cầu vươt Lạch Chay Hải Phòng và cầu Lai Cách Hải Dương.

Ông bị công an nhà nước Cộng sản Việt Nam bắt giam và tòa án nhân danh nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử ông về tội “Tuyên truyền chống phá nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Gia đình tôi vẫn khẳng định việc bắt giam, xét xử ông không công khai rồi bỏ tù ông là một việc làm trái với đạo lý và pháp lý Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế về quyền con người mà nhà nước CSVN đã tự nguyện ký cam kết thực hiện. Việc bắt giam, xét xử không công khai, bỏ tù người vô tội đã là một việc làm phi lý, nhưng còn tồi tệ hơn từ khi ông Nghĩa bị bỏ tù, liên tục bị công an trại thi hành công vụ đối xử một cách vô lương tâm và thô bạo. Gần đây nhất ông bị lâm bệnh nặng, buộc trại giam phải đưa đi chữa bệnh, bị hành xử một cách dã man tàn bạo vô nhân tính như thế nào, tôi xin phản ánh toàn bộ câu chuyện xảy ra như sau:

Chiều ngày 7/11/2012, tôi được bác sỹ trại giam số 6 - Bộ công an, đóng trên địa bàn tỉnh Nghệ An báo tin cho tôi: Chiều thứ 2 ngày 12/11 tôi phải có mặt để làm thủ tục chữa bệnh cho chồng tôi là ông Nguyễn Xuân Nghĩa đang bị giam ở khu an ninh - trại giam số 6 với bản sán 6 năm tù và 3 năm quản chế. Trong lòng tôi nửa mừng, nửa lo, không biết diễn biến việc khám chữa bệnh có được suôn sẻ hay không, nhưng dù sao tôi cũng mừng hơn là vì họ đã đưa chồng tôi đi chữa bệnh.

Đúng chiều ngày 12/11/2012, tôi có mặt ở trại giam. Ra gặp tôi là là một viên công an đã lớn tuổi. Ông ấy bảo tôi, chị nghỉ ngơi qua đêm ở trại rồi sáng hôm sau (tức ngày 13/12) làm giấy tờ thủ tục và cam kết chấp hành nội quy của trại giam cũng như nội quy của bệnh viện. Tôi làm giấy cam kết tuân thủ nội quy trại giam, bệnh viện và phải hứa chỉ được một mình tôi chăm sóc chồng tôi.

Đến sáng này 14/12, trại giam đã đưa chồng tôi cùng ba phạm nhân ( 2 nữ, 1 nam) trên một chiếc xe thùng bịt kín (thường chở các tội phạm nguy hiểm) đi chữa bệnh. Đi kèm trên xe có 5 công an, tôi được ngồi ở phần thứ 2 của khoang xe cùng 2 công an, phần đầu ca bin có 3 công an. Xe đi từ trại giam số 6 về đến bệnh viện đa khoa của thành phố Vinh dài khoảng 70 km.

Trên đường đi đến bệnh viện thành phố Vinh họ cho một phạm nhân xuống bệnh viện lao để chữa bệnh. Lúc bấy giờ tôi từ khoang xe nhìn ra mới biết tay chồng mình bị khóa chung với phạm nhân kia. Tôi thốt lên: "Anh Nghĩa ơi! Anh cũng bị khóa tay à?”.

Đang đau nhưng chồng tôi cười hóm hỉnh: "Mình nói lên sự thật là âm mưu lật đổ chính quyền mà! Mình quá nguy hiểm !”.

Tôi nhìn anh ấy ứa lệ và chợt nhớ đến những ngày tôi còn đi học được giáo dục về “đạo đức, văn minh, đỉnh cao trí tuệ” của Đảng trong lòng đã đau đớn xót xa lại càng đau hơn. Ông Nghĩa vốn là một nhà văn chỉ biết cầm bút, trói gà không chặt trong khi tuổi già sức yếu đang lâm bệnh nặng buộc trại phải đưa đi chữa trị lại ngồi trong một thùng xe bị khóa kín, trên xe là những công an trai tráng khỏe mạnh được trang bị đầy đủ quân khí chống bạo lực hộ tống thì tại sao họ phải xích tay chồng tôi như thế.

Tôi tự đặt câu hỏi : Họ sợ điều gì ở ông ấy mà họ hành xử với ông ấy như vậy, hay họ phải thực hiện cái “đạo đức, văn minh” Đảng giáo dục họ. Tôi nhìn sang chồng tôi, hình như ông ấy đang cố quên đi cái đau đớn của bệnh tật vẫn mang nét mặt bình thản trong suốt đoạn đường, chắc hẳn chồng tôi cũng đang lường trước những gì chờ đợi mình trong thời gian chữa bệnh sắp tới. Xe đưa chúng tôi đến bệnh viện Ba Lan, một bệnh viện thuộc tuyến tỉnh. Khi xuống xe vào nhận phòng ở tạm trong những ngày chữa bệnh là hai dãy phòng dài, ở đây đa số là tội phạm ma túy.

Buổi sáng cùng ngày, họ đưa ông Nghĩa đi thử máu cùng đi với một nữ phạm nhân án tù chung thân do làm thâm hụt ngân hàng nhà nước 100 tỷ đồng. Chồng tôi vẫn bị còng tay trong khi đi thử máu còn bạn đồng hành của ông ấy là nữ tù nhân kia thì họ để cho đôi tay cô được tự do, cô đi trong bệnh viện với tư thế thoải mái hai tay vung vẩy. Lúc thử máu xong, chồng tôi gạt hai hàng nước mắt nói với tôi :

“Chúng nó làm nhục mình ! Mình có tội gì đâu mà khi lấy máu họ vẫn còng hai tay , anh phải giơ hai cánh tay bị còng lên để lấy máu.”

Tối ngày 14, tôi cùng một công an đi lên phòng bác sỹ để làm thủ tục cam kết đồng ý cho chồng tôi mổ. Nếu có xảy ra chuyện rủi ro trong khi mổ thì gia đình phải chấp nhận. Khi đó tôi có nghe bác sỹ kia nói lại với viên công an là “vẫn mổ kiểu kia ” trong lòng tôi có chút nghi ngờ nhưng ngay lấp tức tôi xua ngay nỗi suy nghĩ u ám đi, sau này tôi mới hiểu có hai phường pháp mổ cắt trĩ, một loai mổ cắt bằng lade loại này thì bệnh nhân không hề đau đớn, nhưng họ mổ cho chồng tôi theo phương pháp cũ lâu đời có nghĩa là thắt chặt bíu trĩ đó lại máu không đi xuống nuôi búi trĩ sau môt thời gian khoảng 1 tháng, búi trĩ đó sẽ rụng. Phương pháp này phải mất nhiều ngày và kéo dài sự đau đớn cho bệnh nhân.

Đến 2 giờ 5 phút chiều ngày 15/11/2012, họ đưa chồng tôi vào phòng mổ. Tôi chờ hơn 2 tiếng ở bên ngoài, trong lòng lo lắng, hoang mang. Đến 4giờ 30 phút họ đã mổ xong. Họ đưa chồng tôi từ phòng mổ đến một phòng hậu phẫu, nằm ở đây có tất cả ba người nữa, người nằm bên cạnh giường ông Nghĩa cũng mổ trĩ, qua hỏi thăm tôi mới biết rằng những người này mổ bằng la-ze, đây là kiểu mổ với máy móc và kỹ thuật hiện đại, không hề gây đau đớn cho bệnh nhân. Những người được mổ kiểu này đều hồi phục rất nhanh, có thể đi lại dễ dàng sau khi mổ xong. Chồng tôi mổ kiểu thắt trĩ theo phương pháp cũ nên rất đau và lâu phục hồi.

Sau khi phẫu thuật, nằm ở phòng hậu phẫu đến khoảng 20h30 chồng tôi tỉnh táo lên một chút và đang rất đói muốn ăn. Trong lúc đó họ vẫn đang truyền dịch và thông đường tiểu, vì đau đớn chồng tôi không đi tiểu được, mọi cử động đều rất khó khăn cần người giúp đỡ. Trong phòng chồng tôi ngoài người phục vụ lúc nào cũng có ba công an canh gác. Thấy chồng tôi kêu đói, tôi đi mua về một bát cháo và chuẩn bị cho ông ấy ăn thì bỗng nhiên họ mang một cái xích dài và mấy cái khóa mục đích là xích chân chồng tôi vào chân giường. Chồng tôi nhìn thấy cái xích gào to lên “Tôi là một nhà văn, tôi chống tham nhũng, chống những điều xấu xa của xã hội. Vậy mà người ta bắt tôi đi tù 6 năm chưa đủ hay sao, giờ các anh lại còn xích chân tôi trong lúc tình trạng bệnh tật đau ốm thế này ? Nếu các anh xích chân tôi, tôi sẽ giật hết các thứ này ra và sẽ tự tử ở ngay tại đây cho cả thế giới biết bộ mặt của các anh”.

Chồng tôi giàn giụa nước mắt, còn tôi phản ứng kịch liệt: “Các anh làm gì cũng phải nghĩ đến đạo lý con người. Chồng tôi đang đau đớn thế này, mới ra khỏi phòng mổ được ba tiếng, nếu các anh làm như vậy là quá vô nhân đạo.”

Sau đó họ không xích anh ấy nữa. Sáng hôm sau, tức ngày 16/11/2012, họ giải thể phòng hậu phẫu. Tôi được biết, sau khi hậu phẫu chồng tôi không hề có bệnh án, điều này khắc hẳn với thông lệ. Tôi thấy khó hiểu: Tất cả các bệnh nhân sau khi phẫu thuật hay điều trị bệnh đều phải có bệnh án. Trong trường hợp của chồng tôi, không hề có bệnh án, tôi không hiểu mổ kiểu gì và được điều trị những loại thuốc nào. Vậy có điều gì đó khuất tất và mờ ám trong chuyện này.

Sau đó chồng tôi được chuyển về khu nhà bệnh xá của phạm nhân trong khu bệnh viện cách phòng hậu phẫu khoảng 50m. Đến rạng sáng ngày 17 chồng tôi vô cùng đau đớn vì bí tiểu, không đi tiểu được. Ông ấy yêu cầu công an đi tìm bác sỹ để thông báo cho họ biết về tình hình bí đái, khoảng thời gian 40 phút chờ đợi vẫn không thấy ai. Tôi ở phòng bên chạy đi tìm bác sỹ, khi gặp được bác sỹ, bác sỹ nói rằng : “phải dìu chồng tôi đến phòng bác sỹ”. Bác sỹ kiểm tra búi trĩ của chồng tôi và bác sỹ lấy tay đẩy mạnh búi trĩ vào trong một cách thô bạo. Chồng tôi thét toáng lên vì đau đớn làm búi trĩ lập tức lại bị đẩy ra ngoài, ông ấy hỏi thêm nhưng bác sỹ không thèm trả lời và bỏ đi ngay.

Ngày 19/11, vừa qua một đêm bớt đau đớn. Xe của trại giam đã đến đưa chồng tôi về trại, cả hai vợ chồng tôi đều khẩn khoản xin họ để ở lại thêm vài ngày nữa cho vết thương ổn định. Ông Nghĩa còn nói tôi đi không đi được, đứng không đứng được, ngồi không ngồi được, nằm cũng rất khó khăn, ông ấy còn kéo quần cho họ xem… nhưng viên công an lạnh lung nói kéo quần lên” và cương quyết đưa chồng tôi về trại.

Xe chuyển ông Nghĩa về trại giam còn tôi ra về trong tâm trạng vô cùng lo âu và buồn bã, không hiểu sinh mạng của chồng mình trong tay họ những ngày sau sẽ ra sao. Và cho đến nay tôi vẫn không được biết tin tức gì về tình trạng của ông ấy, tôi vô cùng lo lắng cho sinh mạng của chồng tôi.(Tôi không hề có một thứ giấy tờ gì và cũng không được biết tên tuổi, chức danh những người thực thi trong việc chữa bệnh cho chồng tôi ).

Vậy tôi viết lên kêu cứu này phản ánh toàn bộ sự thật mong được quan tâm của các cơ quan thông tin truyền thông trong và ngoài nước, các tổ chức nhân quyền quốc tế, hội đồng nhân quyền liên hiệp quốc về cách hành xử của công an trại 6, ông bác sĩ trong việc thực thi nhiệm vụ chữa bệnh cho chồng tôi - Người bị xử tù vì bất đồng chính kiến đang gặp nguy hiểm về tính mạng.

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý vị !

Hải phòng, ngày 15/12/2012
Nguyễn Thị Nga
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Quân đội là của ai?

Ngô Nhân Dụng

Một bản tin trên Nhật báo Người Việt cho biết ngày 3 tháng 10, 2012 một bài trên tờ Quân Ðội Nhân Dân ở Hà Nội nhìn nhận “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong từng nơi, từng lúc, với mức độ khác nhau. Một bộ phận không nhỏ những đảng viên rất thiếu ý thức khi học tập, nghiên cứu, quán triệt, thực hiện nghị quyết của đảng.”

Quân Ðội Nhân Dân là cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng Sản nhắm vào những người cầm súng. Khi nói đến “bộ phận không nhỏ những đảng viên thiếu ý thức,” chắc tờ báo này nhắm vào đối tượng chính của họ là các đảng viên ở trong quân đội. Lời cảnh cáo trên cho thấy mối lo chung của nhóm cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ lo không thể tiếp tục coi tất cả các người cầm súng còn nhắm mắt làm tay sai cho các lãnh tụ đảng mãi mãi. Quyền hành của đảng Cộng Sản hiện đang được đám công an vũ trang bảo vệ. Nhưng nếu quân đội có thái độ trung lập, hay đứng về phía nhân dân, thì quyền hành đó sẽ tiêu tan.

Vì vậy, đảng Cộng Sản phải “động viên” lòng trung thành của quân đội bằng mọi cách. Ngày 23 tháng 12, 2012 cũng trên tờ Quân Ðội Nhân Dân phải đăng một bài khác nói rõ hơn, với tựa đề: “Không thể chấp nhận quan điểm quốc gia hóa quân đội,” ký tên Nguyễn Tiến Bình, một trung tướng, giám đốc Học Viện Quân Y. Không chấp nhận quốc gia hóa quân đội, Nguyễn Tiến Bình hô hào: “Quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng, phải bảo vệ các lợi ích của đảng!” Lời hô hào này lại càng cho thấy các lãnh tụ Ba Ðình đang lo lắng thật sự. Người Việt Nam nào bây giờ cũng biết đám cầm đầu đảng Cộng Sản, từ cao nhất đến cấp huyện, cấp xã, chỉ là một nhóm người vừa ngu dốt, bất lực vừa tham lam, bày ra mọi thủ đoạn bòn rút. Chính bọn người này gây ra tình trạng kinh tế yếu kém, giáo dục sa sút, đạo đức suy đồi, trong mấy chục năm qua.

Không một người nào có lương tâm lại chịu đóng vai làm tay sai đi “bảo vệ lợi ích” cho bọn quan chức “cướp ngày” này.

Trong một quốc gia tiến bộ, quân đội không bao giờ phải đóng vai tay sai của bất cứ một đảng chính trị nào cả. Ở các nước chưa tạo được tập quán dân chủ, có những lúc quân đội đảo chính để lật đổ một chính quyền không được lòng dân. Nhưng cuối cùng, các quân nhân cũng trao trả quyền hành cho các người lãnh đạo được dân bỏ phiếu bầu lên. Nam Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, vân vân, đã sống qua những thời kỳ quân đội nắm quyền. Nhưng cuối cùng quân đội cũng “rút về doanh trại,” để người dân quyết định chọn người lãnh đạo theo thể thức dân chủ. Gần đây nhất, năm 2006 các tướng lãnh Thái Lan đã đảo chánh lật đổ ông Thaksin, một vị thủ tướng bị tố cáo tham nhũng, lạm quyền. Nhưng chỉ trong một năm sau, người dân Thái Lan lại được cầm lá phiếu quyết định ai là người lãnh đạo quốc gia. Trong cuộc bầu cử năm 2011, đảng Pheu Thai lại thắng và cô em gái của ông Thaksin đã lên làm thủ tướng; mặc dù chính ông ta không dám về nước vì bản án về tội lạm quyền vẫn chưa được xóa bỏ.

Những nhóm quân nhân cầm quyền lâu nhất, sau cùng cũng phải rút về doanh trại, khi người dân ý thức được quyền tự do quyết định vận nước của họ. Tướng Suharto nắm quyền tại Indonesia hơn 30 năm, sau cùng bị dân nổi lên lật đổ. Hơn 10 sau đó nước Indonesia sống trong chế độ dân chủ tự do. Các tướng lãnh ở Miến Ðiện ý thức được sự bất lực của họ trước cảnh kinh tế suy sụp và lo sợ áp lực của Trung Quốc đè nặng, đang quay đầu về với dân, bước lên con đường dân chủ hóa. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang lo ngại vì tin tức về tiến trình dân chủ hóa tại Miến Ðiện có thể khiến nhiều người trong quân đội cũng tự hỏi tại sao nước Việt Nam lại chịu thua người ta, toàn dân phải tiếp tục sống dưới một chế độ độc tài bất lực và thối nát! Trước đây, một quân nhân đã được đảng Cộng Sản đưa lên cầm quyền ở Ba Lan là Tướng Wojciech Jaruzelski, chính ông đã góp công dân chủ hóa đất nước khi mời một người thuộc Công Ðoàn Ðoàn Kết lập chính phủ.

Nỗi lo sợ của đảng Cộng Sản Việt Nam thúc đẩy tờ báo tuyên truyền nhắm vào quân đội phải lớn tiếng báo động: Không thể chấp nhận “quốc gia hóa quân đội!” Mục đích là bắt quân đội tiếp tục ngoan ngoãn làm tay sai cho nhóm người cầm đầu đảng.

Nhưng ngay ở trong nước đã có nhiều người chế nhạo những luận điệu hàm hồ của bài báo trên. Ngày 26 tháng 12, 2012 đã xuất hiện một bài trên Facebook Doan Phung Viet phê phán những lý luận và bằng chứng sai lầm của tác giả. Một sai lầm nặng nhất là khi Nguyễn Tiến Bình dẫn chứng các sắc lệnh do Hồ Chí Minh ký từ năm 1946: Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL.

Doan Phung Viet viết: “Tôi chỉ mới tra cứu sơ sơ đã thấy, ba sắc lệnh trưng dẫn, & cả ba không có điều, khoản nào đề cập đến chuyện ‘quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo của đảng và phải bảo vệ lợi ích của đảng!’” Nói rõ hơn: Sắc lệnh số 71/SL ngày 22 tháng 3 năm 1946, quy định chi tiết về biên chế và cấp số của Ðại đoàn Quân đội Quốc gia Việt Nam. Sắc lệnh số 47/SL ngày 1 tháng 5 năm 1947, qui định về việc tổ chức bộ tổng chỉ huy. Sắc lệnh số 60/SL ngày 6 tháng 5 năm 1946, đổi tên ủy ban kháng chiến toàn quốc thành Quân sự Ủy viên hội.

Ai cũng thấy: Tên gọi đầu tiên của quân đội là “Quân đội Quốc gia” chứ không phải là “Quân đội của đảng Cộng Sản!”

Các sắc lệnh trên, Hồ Chí Minh ký khi vẫn còn đeo mặt nạ “quốc gia,” trong thời gian đảng Cộng Sản đã được Hồ chính thức tuyên bố “giải tán” để đóng trò yêu nước! Tất nhiên, trước khi được Trung Cộng viện trợ để tái lập đảng dưới tên đảng Lao Ðộng, Hồ không dám nói quân đội chỉ là tay sai của một đảng!

Nguyễn Tiến Bình còn viết khen ngợi Hồ Chí Minh là biết “mềm dẻo về sách lược” khi nói một đằng, làm một nẻo. Doan Phung Viet nhận xét: “Khen như thế còn độc địa, nham hiểm hơn là chửi đó! Cứ như bác viết thì chẳng lẽ đảng ta và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dùng Hiến pháp để bịp mọi người sao?”

Trong hai thế hệ, từ 1945 đến 1990, bao nhiêu thanh niên Việt Nam bị bịp hy sinh xương máu cho tập đoàn tham nhũng lên ngôi, để đất nước tới nỗi này!

Ðó là điều mà nhiều người trong quân đội tự đặt ra. Và họ thì thầm hỏi lẫn nhau: Không lẽ đến bây giờ lại để cho bọn Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, bịp bợm tiếp hay sao? Những người biết đặt câu hỏi đó được báo Quân Ðội Nhân Dân mô tả: “Suy thoái về tư tưởng chính trị diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong từng nơi, từng lúc, với mức độ khác nhau...” Những lời hô hào “Không chấp nhận quốc gia hóa quân đội! Quân đội phải bảo vệ các lợi ích của đảng!” là những lời hoảng hốt kêu cứu.

Ðúng là những lời kêu cứu. Bởi vì Nguyễn Tiến Bình lo sợ quân đội chỉ biết đến quốc gia, không biết đến đảng sẽ “làm cho đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền!” Bình đã đưa tấm gương sụp đổ của đảng Cộng Sản Liên Xô ra đe dọa. Khi chế độ Cộng Sản Liên Xô sụp đổ, “lúc đó quân đội Liên Xô còn 3.9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược...” Chỉ vì đảng không kiểm soát được quân đội nên Liên Xô tan rã.

Nguyễn Tiến Bình đã quên, là vào năm 1991 không phải chỉ có quân đội Nga lọt ra ngoài tầm tay của đảng Cộng Sản. Ngay cả tổ chức KGB khổng lồ toàn mật vụ và công an cũng biết chán chế độ rồi. Họ thấy dù họ được hưởng đủ thứ đặc quyền đặc lợi, nhưng cứ tiếp tục sống trong một chế độ bất lực và tham nhũng thì con cháu họ sẽ không có tương lai! Chính các sĩ quan KGB đã từ chối không đưa tay ra cứu những người đảo chính bảo vệ chế độ Cộng Sản, cho nên cuộc cách mạng ở Nga mới thành công.

Bài báo của Nguyễn Tiến Bình chứng tỏ đảng Cộng Sản Việt Nam đang lo sợ là quân đội sẽ thức dậy. Không ai có thể cúi đầu làm tay sai mãi mãi. Ðầu năm 2012 có mấy quân nhân trong huyện đội Tiên Lãng đã được đưa tới tham dự vụ cướp đất ở khu đầm cá do anh em ông Ðoàn Văn Vươn khai phá. Ngay sau đó, một số tướng lãnh cảm thấy cả tập thể quân đội phải chịu nỗi nhục đi cướp đất của dân, đã lên tiếng phản kháng.

Quân đội còn cảm thấy nhục nhã hơn nữa, trước cảnh đảng Cộng Sản Việt Nam nhu nhược chịu khuất phục và bám lấy Trung Cộng. Khi các ngư dân Việt Nam bị bắn, giết, bắt cóc; khi các con tàu Việt Nam bị cắt dây cáp, người dân đều hỏi: “Thế quân đội mình đang ở đâu?”

Hàng triệu quân nhân nhìn nhau không biết trả lời sao! Dân Việt Nam còn tiếp tục biểu tình chống Trung Cộng, sẽ tới ngày lực lượng công an cũng không đủ để đàn áp. Nếu tập thể quân đội ý thức được rằng họ không phải là tay sai của một nhóm người nào, mà chỉ có bổn phận bảo vệ lợi ích của toàn dân, thì họ sẽ không bao giờ quay họng súng bắn dân để “bảo vệ các lợi ích của đảng” như lời kêu gọi của Nguyễn Tiến Bình.

Các chế độ độc tài chuyên chế chắc chắn sẽ sụp đổ, dù cộng sản hay không cộng sản. Loài người đang cùng nhau tiến trên con đường tự do dân chủ, không có đường nào khác. Trong mọi quốc gia văn minh, quân đội là của nhân dân, của đất nước. Những người quân nhân tự trọng không bao giờ cúi đầu làm tay sai cho một đảng phái nào cả! Dân Việt Nam không ngu đến nỗi không biết điều đó. Dân Việt Nam không hèn đến nỗi cứ cúi đầu chịu nhục mãi.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

10 sự kiện thế giới năm 2012

Tranh chấp chủ quyền ở châu Á, cơn bĩ cực của châu Âu và loạn lạc ở Trung Đông trong năm qua tạo nên bối cảnh cho những cuộc đua giành quyền lực của các vị tổng thống ở một loạt nước lớn.

Obama tái cử tổng thống Mỹ

Sau một cuộc chạy đua kịch tính tốn hơn 2 tỷ USD và được cả thế giới theo dõi sát sao, Barack Obama tái cử tổng thống Mỹ.

Image
Obama là tổng thống đầu tiên kể từ năm 1940 tái đắc cử bất chấp tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ là trên 7,5%. Ảnh: AFP

Chiến thắng của Obama là sự ghi nhận những gì ông đã làm được trong 4 năm qua. Mỹ tiêu diệt Osama bin Laden sau một thập kỷ truy lùng, rút hoàn toàn binh sĩ khỏi Iraq, dần giảm quân lực ở Afghanistan và từng bước khôi phục nền kinh tế. Tổng thống Mỹ vừa lần thứ hai được tạp chí Time bình chọn là "Nhân vật của năm". Đa số độc giả VnExpress (55,6%) cũng cho rằng Obama là người có ảnh hưởng nhất thế giới trong năm qua.

Nếu bầu cử diễn ra ở nước ngoài, Obama sẽ thắng áp đảo với tỷ lệ đến 80% ở châu Âu và Á. Điều này cho thấy thế giới, dù không đánh giá cao thành quả kinh tế của Mỹ, vẫn chưa muốn có thay đổi ở Washingon, và muốn dành thời gian để Obama thực hiện nốt đường hướng đối ngoại. Chính phủ Mỹ sẽ hiện thực hóa chiến lược giảm hiện diện ở Trung Đông, Trung Á, chuyển trọng tâm về châu Á - Thái Bình dương. Ở khu vực đang có nhiều điểm nóng tranh chấp chủ quyền này, việc "trở lại Á châu" của Obama được coi như đối trọng cần thiết để cân bằng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, và như một bên đảm bảo an ninh giữa thời thế bất ổn.
Đông Bắc Á dậy sóng trong tranh chấp biển
Ngày 15/9, hình ảnh hàng trăm nghìn người trên khắp Trung Quốc xuống đường biểu tình, phẫn nộ xé cờ Nhật, đốt ô tô Nhật, phá nhà hàng và siêu thị Nhật, đã leo lên trang nhất các báo thế giới. Hành động này thể hiện mức độ gay gắt của cuộc tranh chấp chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/Senkaku giữa hai cường quốc.
Image
Người biểu tình ở Trùng Khánh, tây nam Trung Quốc, hô to các khẩu hiệu chống Nhật. Ảnh: AFP

Các đại sứ liên tục bị triệu tập, những tràng khẩu chiến diễn ra không ngớt. Trên thực địa, các vụ bắt bớ và xua đuổi tàu thuyền, các màn rượt đuổi, đấu vòi rồng khiến nhiều người lo sợ rằng chỉ một sơ sảy thôi, thì căng thẳng có thể bị đẩy lên mức xung đột. Trung Quốc, vốn thận trọng không dùng đến hải quân, kể từ đó áp dụng chiến thuật mưa dầm, ngày ngày cho tàu chính phủ áp sát quần đảo để tạo nên "sự đã rồi". Nhật Bản, trước thiệt hại kinh tế to lớn mà cuộc khủng hoảng gây ra, đã có nhiều nỗ lực nhằm hòa dịu với Bắc Kinh, và tình hình lắng xuống vào cuối năm khi hai nước chuẩn bị thay đổi nhân sự lãnh đạo.

Tuy nhiên, Senkaku /Điếu Ngư khó có thể yên ả được lâu, khi tân thủ tướng Nhật phát biểu ngay sau khi thắng cử cuối tháng 12, rằng Nhật sẽ không lùi bước trước Trung Quốc.
Đối đầu dài nhất trong hai thập kỷ ở Biển Đông
Suốt từ đầu hè đến cuối thu, Biển Đông sôi sục. Tháng 4, tàu của Trung Quốc và Philippines hằm hè ở một bãi cạn, tạo nên cuộc đối đầu dài nhất ở Biển Đông trong hai thập kỷ. Tháng 6, Bắc Kinh lập cái gọi là "thành phố Tam Sa" gồm toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa, khiến Việt Nam và các nước liên quan phẫn nộ, nhiều lần phản đối.
Image
Các tàu cá Trung Quốc dàn hàng tại một cảng thuộc tỉnh Hải Nam, chuẩn bị tiến xuống Biển Đông đánh cá. Ảnh: AP.

Trung Quốc tuyên bố cho quân đồn trú ở "Tam Sa". Cộng đồng quốc tế lo ngại, đây có thể là bàn đạp cho các chiến dịch quân sự của Trung Quốc sau này. Bắc Kinh có chiến lược từng bước thâu tóm toàn bộ Biển Đông khi tung ra các bước đi về kinh tế, khoa học, môi trường, hạ tầng, ngư nghiệp, xâm phạm chủ quyền của láng giềng, đòi chủ quyền trong cả vùng "đường lưỡi bò" vô lý.

Hai kỳ hội nghị ASEAN bao trùm bởi căng thẳng Biển Đông. Tháng 7, các nước thành viên thất bại trong việc đưa ra tuyên bố chung, sự kiện chưa từng có trong lịch sử 45 năm tồn tại của hiệp hội. Tháng 11, thế giới biết được sự rạn nứt trong một ASEAN vốn đề cao đồng thuận. ASEAN muốn đàm phán đa phương về một bộ quy tắc ràng buộc các bên, trong khi Trung Quốc không muốn và còn cảnh báo Mỹ cùng các nước khác "tránh xa Biển Đông".

"Căng thẳng ở Biển Đông có nguy cơ trở thành xung đột, bởi lực lượng vũ trang của các nước ngày càng tăng trong khi tranh chấp không được giải quyết", ICG, tổ chức nghiên cứu tầm cỡ quốc tế nhận xét về căng thẳng tích tụ trên Biển Đông.
Trung Quốc chuyển giao thế hệ lãnh đạo
Đại hội đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 diễn ra vào đầu tháng 11 đánh dấu sự thay đổi thế hệ lãnh đạo của nền kinh tế số 2 thế giới. Ông Tập Cận Bình trở thành tổng bí thư mới của đảng và hạ quyết tâm chấn hưng Trung Quốc, tăng gấp đôi GDP vào năm 2020, tiếp tục xây dựng xã hội khá giả toàn diện, truy quét tham nhũng. Đại hội diễn ra sau một vụ án chấn động chính trị Trung Quốc, trong đó vợ chồng ủy viên trung ương đảng Bạc Hy Lai bị buộc tội lạm quyền và vi phạm kỷ luật.
Image
Tân tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc trong cuộc họp với các thành viên Bộ Chính trị hôm 19/11. Ảnh: AFP

Ban lãnh đạo mới do ông Tập dẫn đầu có nền tảng kiến thức và kinh nghiệm vững vàng về mở cửa, hợp tác và phát triển, có cách nhìn thân thiện hơn với phương Tây. Trung Quốc cũng tuyên bố phải trở thành cường quốc biển và đã đưa vào sử dụng tàu sân bay đầu tiên cùng nhiều vũ khí hiện đại trong sự theo dõi và cảnh giác của các nước láng giềng.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc khiến Nhật Bản, từ phía bên kia của biển Hoa Đông, luôn dõi mắt quan sát. Để thích ứng, Nhật cũng đang thay đổi chậm rãi nhưng chắc chắn theo hướng cứng rắn hơn cả về quân sự và ngoại giao.
Vladimir Putin tái đắc cử tổng thống Nga
Người đàn ông nổi tiếng can trường Putin khiến công chúng bất ngờ khi khóc mừng chiến thắng cuộc bầu cử tổng thống Nga đêm 4/3, trước hàng chục nghìn người và truyền thông quốc tế. Putin tuyên bố đã thắng trong một cuộc chiến trung thực và minh bạch.

Image
Ông Putin rơi lệ trong đêm mít tinh mừng chiến thắng bầu cử tổng thống 2012. Ảnh: The Guardian

Putin giành được chiến thắng này bất chấp phong trào biểu tình chống chính phủ rầm rộ nhất ở Nga kể từ những năm 1990. Tầng lớp trung lưu ở đô thị, giàu lên nhờ môi trường ổn định và kinh tế phát triển trong chính thập niên mà Putin nắm quyền, nay đòi hỏi nhiều hơn thế, và quay ra phản đối các chính sách của ông.

Là cường quốc có tiếng nói quyết định trong nhiều vấn đề toàn cầu, nước Nga dưới sự dẫn dắt của Putin sẽ còn tiếp tục phải giải quyết với Mỹ và phương Tây một loạt vấn đề từ nội chiến Syria đến chương trình hạt nhân Iran và Triều Tiên. Điểm đặc biệt trong chính sách của Putin nhiệm kỳ này là chiến lược hướng về châu Á - Thái Bình Dương, nơi đang là trọng tâm kinh tế của thế giới, và củng cố quan hệ với các đối tác cũ, mà Việt Nam là một ví dụ.
Triều Tiên hai lần phóng tên lửa
Luôn khiến các nước phải nín thở hồi hộp hoặc bất ngờ, Triều Tiên năm nay hai lần phóng tên lửa để "đưa vệ tinh lên vũ trụ" và đã thành công trong lần phóng thứ hai vào ngày 12/12. Trong khi người Triều Tiên reo hò nhảy múa, Mỹ, Nhật, Hàn tức tốc họp bàn cách đối phó, bởi các nước này cho rằng hành động của Bình Nhưỡng nhằm thử nghiệm tên lửa đạn đạo.
Image
Người dân Hàn Quốc theo dõi tin tức về vụ phóng tên lửa Triều Tiên sáng 12/12. Ảnh: AFP

Hai cuộc phóng nhằm củng cố quyền lực và khẳng định chiến lược ưu tiên quân sự của nhà đạo gần 30 tuổi Kim Jong-un. Kể từ khi thay cha, Kim Jong-un thường xuyên thị sát quân đội, trực tiếp theo dõi những cuộc tập trận, bổ nhiệm hoặc cách chức nhiều vị trí chỉ huy quân đội cấp cao, thể hiện quan điểm cứng rắn với Hàn Quốc. Kim Jong-un tuyên bố Triều Tiên sẽ còn tiếp tục phóng những tên lửa lớn hơn trong tương lai. Một cuộc thử hạt nhân thứ ba cũng là việc mà Bình Nhưỡng có thể tiến hành.

Trong quan điểm của Nhật và Hàn Quốc, chương trình hạt nhân và tên lửa của Triều Tiên gây phẫn nộ lớn, bởi hai nước giàu có này khó mà chấp nhận tình trạng đau đầu kinh niên kèm những cơn cấp tính như vừa rồi. Thế nhưng họ cũng như Mỹ không còn nhiều lựa chọn để đối phó, bởi các biện pháp trừng phạt và cô lập hầu như không còn tác dụng.
Bộ phim phỉ báng khiến thế giới Hồi giáo thịnh nộ
Một phần của phim "Sự ngây thơ của tín đồ Hồi giáo" do một người Mỹ sản xuất được đăng trên YouTube và một kênh truyền hình Ai Cập hồi đầu tháng 9. Đoạn phim có nội dung phỉ báng Nhà tiên tri Mohammed này lập tức thổi bùng lên cơn thịnh nộ của người Hồi giáo. Biểu tình và tấn công các đại sứ quán Mỹ nổ ra ở hàng chục quốc gia từ châu Phi sang châu Á.
Image
Người biểu tình đập phá đại sứ quán Mỹ tại thành phố Tunis, Tunisia. Ảnh: AFP

Hàng chục người thiệt mạng và bị thương trong bạo loạn. Đúng ngày 11/9, kỷ niệm 11 năm vụ khủng bố tháp đôi ở Mỹ, một vụ tấn công vào lãnh sự quán Mỹ ở Benghazi, Libya làm 4 nhân viên ngoại giao tử vong, trong đó có Đại sứ Mỹ Christopher Stevens. Đây là lần đầu tiên một đại sứ Mỹ bị sát hại kể từ năm 1988. Cuộc tấn công ở Benghazi trở thành một bê bối chính trị, làm rung chuyển Bộ Ngoại giao Mỹ, làm tan vỡ hy vọng trở thành bộ trưởng ngoại giao Mỹ của một ứng viên sáng chói.

Sự kiện cho thấy chỉ một dấu hiệu xúc phạm đạo Hồi, như một tàn lửa nhỏ, khi được loan tin với tốc độ nhanh như gió trong kỷ nguyên công nghệ số ngày nay, có thể thổi bùng lên một ngọn lửa giận dữ vượt tầm kiểm soát. Làn sóng biểu tình cũng bộc lộ tình trạng hỗn loạn ở các nước Trung Đông và Bắc Phi thời hậu "Mùa xuân Arab".
Nội chiến khốc liệt ở Syria
Syria là một "mùa xuân" quá dài trong thế giới Arab. Các cuộc biểu tình đòi dân chủ ở Syria kể từ tháng 3/2011 đã không nhanh chóng thay đổi chính quyền, mà biến thành nội chiến khốc liệt cướp đi sinh mạng của 44.000 người dân. Những đứa trẻ Syria mặt dính máu, mắt mở to sợ hãi đã trở thành hình ảnh không xa lạ với thế giới. Chỉ khi nào có thảm sát xảy ra, như vụ 200 thi thể được phát hiện trong một ngôi nhà hồi tháng 8, sự chú ý mới rộ lên một thời gian ngắn, rồi lại xẹp đi.
Image
Bà mẹ Syria bế con bị thương trong một cuộc giao tranh ở Syria. Ảnh: AP

Giống như ở Libya, phe đối lập chỉ có thể thắng thế nếu nhận được sự hậu thuẫn mạnh trên cả chính trường và thực địa. Nhưng tổng thống Mỹ Obama hiển nhiên không muốn sa chân vào một bãi mìn trong năm bầu cử. Thực trạng Libya và các nước Arab thời "hậu Mùa xuân" cũng không dễ chịu gì với các nước như Anh, Pháp. Với Nga, Syria là tiền đồn ở Địa Trung Hải, do đó Moscow cùng với Bắc Kinh nhất quyết không đồng tình với những đòi hỏi trừng trị ông Assad mà phương Tây đưa ra.

Từng dòng người Syria vẫn tiếp tục chạy sang các nước lánh nạn, tạo nên một cuộc khủng hoảng nhân đạo nữa ở Trung Đông, trong khi các nước lớn vẫn đang bàn tính.
Khủng hoảng kinh tế vây hãm châu Âu
Hơn 20 chủ doanh nghiệp tại Italy tự sát vì khủng hoảng kinh tế trong 4 tháng đầu năm. Tây Ban Nha ban hành những biện pháp khắc khổ nhất trong hơn 30 năm qua, làm bùng lên cuộc đình công khắp đất nước. Cảnh sát chống bạo động Hy Lạp bị người biểu tình ném bom xăng, bén lửa ngùn ngụt giữa phố. Dân chúng ở các nước khó khăn trong khủng hoảng ở châu Âu tố cáo chính phủ đẩy họ vào cảnh khốn đốn.
Image
Cuộc biểu tình của hàng chục nghìn người Tây Ban Nha phản đối các biện pháp thắt lưng buộc bụng nghiêm khắc nhất trong ba thập niên. Ảnh: AP

Nhưng các chính phủ không có cách nào khác, họ phải cắt giảm chi tiêu hòng thoát khỏi khủng hoảng nợ công - căn bệnh bùng phát từ Hy Lạp, lan sang Ireland, Bồ Đào Nha rồi tiến vào Tây Ban Nha, Italy – hai nền kinh tế lớn của khu vực. Ở thời điểm căng thẳng nhất của khủng hoảng vào tháng 6, người ta thậm chí còn tính đến khả năng "hy sinh" Hy Lạp để cứu cả khối.

EU và IMF, bằng những gói cứu trợ khổng lồ, cuối cùng cũng tát bớt nước để cứu được những con thuyền sắp chìm. Châu Âu đã thông qua "công ước tài chính" vào tháng 12, nhằm tạm thời xua đuổi nguy cơ đối với đồng euro. Tuy nhiên nguy khủng hoảng có chắc chắn bị đẩy lui hay không còn phụ thuộc nhiều vào những cuộc bầu cử ở hai nền kinh tế lớn của khối trong năm tới, tại Đức và Italy.
Myanmar cải cách dân chủ
Từ bỏ chế độ quân sự bị thế giới cô lập hơn hai thập kỷ, Myanmar nhanh chóng dân chủ hóa trên nhiều lĩnh vực. Tổng thống U Thein Sein đánh dấu sự cải cách mở cửa bằng việc ân xá hàng trăm tù nhân chính trị, bãi bỏ kiểm duyệt báo chí. Ông cũng mời lãnh đạo phe đối lập, bà Aung San Suu Kyi tham gia ứng cử vào quốc hội, hành động được cả trong và ngoài nước nhiệt liệt hoan nghênh.
Image
Aung San Suu Kyi giữa vòng tay của người ủng hộ tại Myanmar. Ảnh: Washington Post

Dấu hiệu cải cách ngay lập tức nhận được sự ủng hộ của thế giới. Mỹ quyết định tái lập quan hệ ngoại giao và nới lỏng cấm vận; EU và Australia gỡ lệnh bỏ các trừng phạt. Ông Obama hồi tháng 11 có chuyến thăm lịch sử tới nước này, trở thành tổng thống Mỹ đương chức đầu tiên đến Myanmar. Các nhà đầu tư khắp thế giới, trong đó có Việt Nam, đang coi Myanmar là "cơ hội vàng cuối cùng" ở châu Á.

Biểu tượng dân chủ của thế giới San Suu Kyi, từng bị chính quyền quân sự giam lỏng gần 15 năm, vào tháng 6 đến Na Uy để nhận giải Nobel Hòa bình của năm 1991. Trong chuyến thăm tới các nước châu Âu và sau đó là Mỹ, bà được đón tiếp trọng thị và ca ngợi vì vai trò to lớn đối với tiến trình chuyển giao dân chủ của Myanmar. Cặp San Suu Kyi và Thein Sein được xếp hạng đầu trong danh sách 100 nhà tư tưởng thế giới của tạp chí Foreign Policy năm nay.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Một năm đầy sợ hãi của nhà cầm quyền CSVN
Song Chi


Năm 2012, có thể nói là năm đầy sợ hãi của những người cộng sản hay nhà cầm quyền Việt Nam.
Họ sợ mất thế độc quyền lãnh đạo, sợ đảng cộng sản và chế độ bị sụp đổ, sợ mất mát tất cả những gì đang sở hữu...

Image
Công an trấn áp người biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội. Ðảng CSVN lo sợ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc trở thành ngòi nổ
của người dân đứng lên lật đổ chế độ.
(Hình: Hoang Dinh Nam/Getty Images)
Ðảng cộng sản cầm quyền càng lâu thì những căn bệnh trầm kha và quá trình thoái hóa, biến chất của đảng ngày càng lộ rõ. Nỗi sợ của nhà cầm quyền vì vậy cũng ngày càng tăng.

Năm 2012 sắp hết. Nhìn lại tâm trạng của nhà cầm quyền Việt Nam trong năm qua, người ta có thể thấy rõ 2 điều: Sợ hãi và bất lực.

Một phần, với Việt Nam năm 2012 thật sự là một năm khó khăn về mọi mặt, trong đó, nổi bật là sự khó khăn, khủng hoảng về kinh tế, sự lấn lướt, o ép của Trung Quốc đưa tới thảm họa mất chủ quyền trên biển Ðông đối với Việt Nam ngày càng rõ ràng, cuối cùng là sự bất mãn ngày càng lớn của dân chúng.

Ðứng trước tình hình trên, nhà cầm quyền hầu như bất lực không biết làm cách nào để giải quyết cùng lúc quá nhiều vấn đề. Càng bế tắc, bất lực thì càng sợ hãi - có những nỗi sợ có thật và cả nỗi sợ do chính họ tự thổi phồng, tự hù dọa chính mình.

Ðiều lạ lùng là trước mối họa bành trướng có thật từ Trung Quốc, nhà cầm quyền không sợ mất nước, mất biển như đại đa số người dân Việt Nam vốn nặng lòng yêu nước. Họ sợ gì? Sợ chiến tranh xảy ra.

Cũng vẫn cái đảng cộng sản trước kia không biết ngán chiến tranh cho dù có phải hy sinh hàng triệu sinh mạng người dân, biến Việt Nam thành bãi chiến trường trong bao nhiêu năm, sau đó lại kéo quân sang Cambodia, đương đầu với Trung Quốc trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, nay lại sợ chiến tranh hơn hết.

Không phải ai xuyên tạc, chính miệng họ nói ra.

Từ ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, một mặt tuyên bố phải “Giữ vững chủ quyền, một tấc đất cũng phải bảo vệ” (báo Lao Ðộng), nhưng mặt khác, luôn luôn lập đi lặp lại: “Phải giữ cho được môi trường hòa bình ổn định để xây dựng đất nước”.

Lọc trong rất nhiều những lời tuyên bố tương tự của ông tổng bí thư và các nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, có thể thấy quan điểm chủ đạo của họ là giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bằng con đường hòa bình.

Ðiều đó lý giải vì sao Trung Quốc tha hồ lấn lướt Việt Nam trên biển Ðông, nhà cầm quyền vẫn một mực nhẫn nhục. Sợ đến nỗi khi tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Việt Nam cũng không dám nói là “cắt cáp” mà phải là “vô tình làm đứt cáp” chẳng hạn, và khi người dân đi biểu tình chống Trung Quốc thì đàn áp, bắt bớ...

Không chỉ các ông lãnh đạo cấp cao, trong hàng ngũ tướng, tá bên quân đội, quốc phòng nhiều người cũng có suy nghĩ, quan điểm như vậy.

Mới đây, khi đi giảng về biển Ðông cho lãnh đạo các trường đại học, ông Ðại Tá Trần Ðăng Thanh, Học Viện Quốc Phòng, nhấn mạnh: “Không được mất chủ quyền và quyền chủ quyền nhưng phải ưu tiên tối thượng là giữ được môi trường hòa bình”. Bởi vì “Ðể xảy ra chiến tranh, xin thưa với các đồng chí vất vả lắm.” (“Ðại Tá Trần Ðăng Thanh giảng về biển Ðông cho lãnh đạo các trường đại học, Nhật báo Ba Sàm).

Còn đây, Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng: “Củng cố hòa bình để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và xây dựng tổ quốc” (báo Quân đội Nhân dân).

Hòa bình là điều ai cũng muốn nhưng có nên giữ hòa bình bằng mọi giá, trước một Trung Quốc tham lam không hề có ý dừng lại?

Một nỗi sợ to lớn khác nữa của nhà cầm quyền là sợ đảng cộng sản bị nhân dân khai tử, chế độ bị sụp đổ.

Ðể cứu vãn uy tín của đảng, cứu vãn chế độ, nhà cầm quyền đã phát động cả một cuộc vận động chỉnh đốn đảng, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, như lời kêu gọi của ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tại buổi khai mạc hội nghị “Chỉnh đốn đảng vì sự tồn vong của chế độ”. Bắt đầu từ Bộ Chính Trị đến các tỉnh thành trong cả nước. Kéo dài qua hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành trung ương đảng vào tháng 10.

Cuối cùng, kết quả là “Bộ Chính Trị đã xin nhận hình thức kỷ luật tập thể, ban chấp hành trung ương trong hội nghị lần thứ 6 đã nghiêm túc tự phê bình và thành thật nhận lỗi trước toàn đảng, toàn dân”. Nhưng thực sự thì không có cá nhân nào bị kỷ luật cụ thể cái gì cũng không có ai bị mất chức!

Cuộc vận động chỉnh đốn đảng bị phá sản. Ðọng lại trong người dân là hình ảnh ông tổng bí thư nghẹn ngào lúc đọc bài phát biểu kết thúc hội nghị 6 như chính thức thừa nhận sự thất bại của bản thân và của đảng cộng sản.

Bi hài hơn, chính ông tổng bí thư còn cho rằng “Chỉnh đốn đảng không nhằm kỷ luật một ai, mà chỉ nhằm chỉ ra những khuyết tật để sửa chữa” và “Kỷ luật mà không tính kỹ thì lại rối, mai kia là ân oán, thù oán, đối phó, thành phe phái, rối nội bộ.”

Có nghĩa là vì sợ mất đoàn kết, mất ổn định nên nhà cầm quyền thà tiếp tục duy trì tình trạng mục rỗng từ bên trong, còn hơn quyết tâm làm trong sạch đến cùng, dễ có nguy cơ đưa đến sự sụp đổ của đảng như tấm gương cải tổ của Liên Xô trước kia.

Sợ đa nguyên đa đảng-nên trong các cuộc họp Quốc Hội về dự thảo sửa bản Hiến pháp trong tháng 10 vừa qua, vẫn nhất định giữ điều 4 duy trì vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng cộng sản.

Sợ “diễn biến hòa bình” từ các nước dân chủ tác động đến Việt Nam, từ trong nhận thức của người dân và từ trong nội bộ đảng viên. Cái nguy cơ tan vỡ từ bên trong này mới là lớn nhất. Nhà cầm quyền đã tổ chức các hội thảo khoa học “Phòng chống tự diễn biến, tự chuyển hóa trong cán bộ đảng viên”, lặp đi lặp lại mối nguy này như mê sảng.

Sợ nhân dân. Coi nhân dân như thù địch, trong năm qua thế giới đã chứng kiến nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục sử dụng bàn tay sắt với nhân dân như thế nào. Bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, thông tin...

Con số các nhà báo tự do, blogger bị bắt, bị đem ra xử với những bản án nặng nề ngày càng nhiều mà điển hình là 3 blogger của CLB Nhà Báo Tự Do.

Ngay các nhà báo làm việc cho báo chí nhà nước cũng không thoát khỏi, điển hình là vụ nhà báo Hoàng Khương báo Tuổi Trẻ bị kết án 4 năm tù vì đã viết bài đụng chạm đến thực trạng tham nhũng trong ngành công an giao thông.

Năm 2012 người dân cũng chứng kiến nhà cầm quyền sợ hãi những tiếng nói, thông tin độc lập đến nỗi chính ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo “Các cơ quan chức năng điều tra, xử lý nghiêm việc đăng tải nội dung chống đảng và nhà nước” qua công văn hỏa tốc số 7169/VPCP-NC.

Văn bản cũng cấm “Các bộ, ngành, các địa phương lãnh đạo cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến các thông tin đăng tải trên các mạng phản động”.

Tại hội nghị công an toàn quốc chiều 17 tháng 12, ông thủ tướng chỉ đạo cho ngành công an phải “làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch... cương quyết không để nhen nhóm hình thành các tổ chức chính trị đối lập chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, của nhân dân”. (“Thủ tướng chỉ đạo công tác công an thời gian tới”, báo điện tử chính phủ)

Tại hội nghị về phát triển kinh tế xã hội năm 2003 trong hai ngày 25-26 tháng 12, ông thủ tướng lại nhắc lại điều này, kêu gọi cảnh giác với “kẻ xấu lợi dụng công nghệ cao, Internet để bôi nhọ, tuyên truyền chống phá đảng, nhà nước” (“Thủ tướng chỉ đạo các nhiệm vụ năm 2013”, báo điện tử chính phủ).

Ðó là chưa kể phát biểu của các quan chức lãnh đạo khác.

Xem thế để thấy nỗi sợ của nhà cầm quyền đã rõ như thế nào.

Nếu như sự sợ hãi trước viễn cảnh sụp đổ của đảng, của chế độ có thể đưa đến những quyết định can đảm, sáng suốt là chấp nhận hy sinh đảng, chế độ vì quyền lợi to lớn hơn gấp nhiều lần của đất nước và dân tộc, thì có vẻ như nhà cầm quyền Việt Nam lại đang chọn lựa con đường ngược lại: Tiếp tục tăng cường bạo lực để bóp nghẹt mọi sự phản kháng, nhằm hy vọng giữ được sự tồn tại của đảng.

Liệu đó có phải là sự lựa chọn khôn ngoan?
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »


Image
“Cầu xin đau cả loài người”*

Phạm Thanh Nghiên
(Danlambao) - Tôi vừa bóc đi tờ lịch cuối cùng của năm cũ và ngồi viết những giòng chữ vô nghĩa này như một cách tự vỗ về mình. Và cũng là để ngăn chặn nỗi ám ảnh không tràn sang năm mới. Nỗi ám ảnh về một người phụ nữ đang mang thai phải sống trong ngục tù. Nỗi ám ảnh về một người phụ nữ khác bị đánh đập, bị lột quần áo để cho những kẻ - tự nhận mình là con người - khám xét khắp cơ thể ngay tại trụ sở phường công an, một nơi được hiểu là “làm nhiệm vụ bảo vệ công dân”. Nỗi ám ảnh về một gia đình có đến ba người bị bắt trong vòng chưa đầy ba tháng.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về anh - Luật sư Lê Quốc Quân - là hình ảnh anh bị gần chục công an “kéo xềnh xệch” trước trụ sở Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội mà miệng vẫn hô vang: “Trường Sa- Hoàng Sa là của Việt Nam!”. Đó là ngày 9/12/2007, ngày mà lần đầu tiên kể từ sau năm 1975, người dân dám xuống đường để bày tỏ lòng yêu nước, phản đối việc xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam. Hồi đó, có lẽ anh còn chưa biết tôi. Sau này khi tiếp xúc với anh, tôi đã rất ngạc nhiên: chưa bao giờ anh nói với tôi về Nhân quyền hay Dân chủ, những giá trị mà cả tôi và anh đều đang theo đuổi. Tôi nhận ra một điều rất thú vị nơi anh, là anh thích truyện cười, truyện tiếu lâm và đã kể rất duyên những câu chuyện ấy.

Khi tôi vừa mãn hạn tù hơn một tháng thì em trai anh, anh Lê Đình Quản bị bắt. Ít ngày sau, “công an Hà Nôị về tận quê ở xã Vĩnh Hòa, giáo phận Vinh tìm bắt chị Nguyễn Thị Oanh là em con cậu ruột của anh Quân ngay khi chị Oanh đang về quê để dưỡng thai và chăm sóc bố đang ốm” (trích “Thư thông báo và kêu gọi sự quan tâm” của gia đình anh Quân).

Bi kịch chưa dừng lại ở đó. Ngày 27/12/2012, đang trên đường chở con đi học thì anh Quân bị hàng chục công an chặn bắt, đồng nghĩa với việc họ cũng cướp luôn tuổi thơ của con anh. Tôi không thể hình dung ra được mình sẽ chịu đựng thế nào nếu phải ở trong hoàn cảnh ấy. Anh sẽ phải sống những ngày tháng trong tù để đau nỗi đau của mẹ, của vợ, của con anh. Sẽ phải đau nỗi đau của người em gái và đứa cháu đang đợi ngày chào đời.

Hồi bị biệt giam, tôi ở cạnh buồng của Quỳnh, một người tù cũng đang chờ ngày được lên chức bố. Quỳnh bị bắt khi về chịu tang bố sau những ngày trốn nã. Quỳnh bảo với tôi: “Có lẽ vợ em sẽ sinh đúng ngày cúng 49 của bố em chị ạ. Nhưng không biết là con trai hay gái”. Đêm nào Quỳnh cũng hát, và hát rất hay những bài hát thật buồn. Tôi hay bị ám ảnh bởi giọng hát (đúng hơn là tâm trạng) của Quỳnh.Tôi nhớ nhất là những câu:

“Hỡi những bạn bè nằm trong lao lý
Con tôi chào đời là trai hay gái
Em ơi ở nhà lo cho con em nhé
Anh xin hẹn lại kiếp sau trọn đôi…”

Tôi không biết vợ Quỳnh sinh con trai hay gái, có sinh đúng thời gian Quỳnh tính toán hay không và Quỳnh bị kết án bao nhiêu năm vì sau đó ít hôm, cậu ta bị chuyển đi nơi khác. Nhưng ít ra, vợ Quỳnh khi sinh nở dù vắng chồng vẫn sẽ được gia đình nội ngoại, bạn bè chăm sóc, chúc phúc. Quỳnh, sau ít năm trở về sẽ được ôm con vào lòng để tận hưởng hạnh phúc của tình phụ tử.

Hoàn cảnh ấy tuy đáng thương nhưng không đáng lo như chị Oanh. Việc bắt giữ và giam một phụ nữ đang mang thai không chỉ vi phạm pháp luật (cụ thể là điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự, vi phạm Luật Bảo vệ và chăm sóc bà mẹ và trẻ em, vi phạm một số điều được quy định trong Bản Tuyên ngôn Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc mà chính Việt Nam đã tham gia ký kết), mà còn xúc phạm nghiêm trọng đến truyền thống đạo đức và danh dự của người Việt Nam.

Thêm nữa, gia đình Luật sư Lê Quốc Quân cho biết họ “nhận được thông tin là thân nhân bị phân biệt đối xử trong trại giam”. Lấy tư cách là một cựu tù nhân lương tâm, tôi dám khẳng định chuyện bị “phân biệt đối xử” là có cơ sở. Chị Oanh, dẫu không bị bắt với cái tội gọi là “Tuyên truyền chống Nhà nước...” như tôi song chỉ với lý do là em họ Luật sư Lê Quốc Quân, một nhà đấu tranh Dân chủ cũng đủ để chị bị... đối xử đặc biệt. Người ta sẽ cô lập chị với những người tù khác, sẽ coi chị như một tên phản động đáng ghét. Sẽ đe dọa hoặc cảnh cáo bất cứ ai muốn gần gũi hay giúp đỡ chị. Mà một người phụ nữ đang mang thai rất cần sự giúp đỡ.

Người ta sẽ dùng luật (bảo là đã được quy định trong văn bản hẳn hoi), để gia đình không được gửi chăn, quần áo ấm vào cho chị. Hoặc cho gửi thì phải kèm theo một... điều kiện nào đó mà chị không thể hay không muốn thực hiện. Như tôi chẳng hạn, vì không chịu cho họ đóng dấu chữ “PHẠM NHÂN” vào quần áo nên tôi đã phải chống chọi với cái lạnh cắt da cắt thịt suốt mấy năm trời. Chị sẽ không được mua đồ ăn, đồ dùng “quá tiêu chuẩn” và như thế chị sẽ phải chịu đói, chịu rét vì “pháp luật quy định thế”.

Chưa hết, hàng ngày chị sẽ phải chịu thẩm vấn, có khi ngày hai lần và có thể sẽ kéo dài đến hàng tháng trời. Chỉ mong sao họ không xiềng chân chị như đã làm với tôi.

Lúc này, tôi không dám nghĩ đến những điều kinh khủng hơn. Tôi không muốn nhớ lại nhưng chuyện về một người bạn tù đã chết trước khi tôi về ít hôm cứ lởn vởn trong óc.

Chị Tuyên đã kể về đoạn đời đẫm nước mắt của chị. Chồng mất sớm, chị phải bươn chải kiếm sống nơi đất khách quê người. Rồi chị gặp một người đàn ông khác. Ngày bước chân vào tù chị cũng đang mang thai. Chị không hiểu vì sao mà họ - những viên an ninh điều tra - lại đánh chị đến nỗi sảy thai như thế. Trong khi những gì chị biết, chị làm, chị đã khai hết rồi. Lên trại, chị được xếp vào đội làm nông nghiệp, ở chung buồng với tôi. Những ngày chị ốm, quản giáo (người phụ trách đội sản xuất) vẫn bắt chị đi làm. Đến khi bệnh tình quá nặng, không thể gượng được nữa, người ta cho chị đi bệnh viện. Một lần, chị nói với tôi: “chị mà chết chắc chắn sẽ phù hộ cho Nghiên”. Tôi nghe lạnh cả người! Mấy bữa sau chị chết thật. Chết vì suy kiệt, nhưng người ta đồn rằng chị chết vì AIDS.

Kể câu chuyện này, tôi biết thật không công bằng với bạn đọc khi năm mới đang cận kề. Tôi càng không có ý gieo vào lòng những người thân của chị Oanh sự lo lắng và hoảng loạn. Nếu chỉ vì chị là em họ anh Quân khiến họ đối xử khắt khe thì tôi hy vọng rằng cùng một lý do như thế, họ sẽ không gây tội ác với chị. Trong thời khắc cuối cùng của năm 2012 này, giữa cái lạnh thấu xương của tiết trời Hà Nội, tôi mong rằng các anh chị được bình an và “cảm nhận được sự tự do ngay cả khi bị giam cầm” như chính lời anh Quân từng viết. Lê Quốc Quân, Lê Đình Quản, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Hoàng Vi những con người đã sống không chỉ với thân phận của riêng mình. Các anh chị đã biết đặt lên vai mình vận mệnh của đất nước. Và tha thứ cho những kẻ gây tội ác với mình như lời Chúa dạy.

Con cầu xin Đấng Tối Cao hãy ngăn chặn những bàn tay tội ác và che chở cho con cái của Người. Để sẽ không còn ai phải tù oan, không một sinh linh nào phải chờ đợi để được chào đời trong ngục tù. Để không còn cô gái nào bị đánh đập, bị lột trần ngay trong đồn công an như Hoàng Vi chỉ vì lòng yêu nước. Thượng Đế ơi! con cầu xin Người, lời “cầu xin đau cả loài người”.

Hải Phòng ngày 31/12/2012
Phạm Thanh Nghiên
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Báo nhà nước bắt đầu tấn công ‘Bên Thắng Cuộc’

Bài liên quan
Sách 'Bên Thắng Cuộc' của Huy Ðức, “1st best seller on Southeast Asia History”
Ðọc bên thắng cuộc, nghĩ về bên thua cuộc


SÀI GÒN (NV) - Hai mươi ngày sau khi phát hành bản điện tử trên Amazon, cuốn sách Bên Thắng Cuộc (phần 1 tựa đề “Giải Phóng”)
của nhà báo Huy Ðức (Osin) bắt đầu bị báo của nhà nước Việt Nam - báo “lề phải” - tấn công.

Image
Bìa cuốn sách ‘Bên Thắng Cuộc - Tập 1: Giải Phóng’ của Huy Ðức.

Bài báo chỉ trích cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” được đăng trên báo ‘Pháp Luật TP. HCM online’, hôm 2 Tháng Giêng, 2013.

“Với ưu thế là phóng viên của nhiều tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, Sài Gòn Tiếp Thị, anh có cơ hội tiếp cận với nhiều thông tin. Rất tiếc những thông tin ấy được cố ý sắp đặt để phục vụ chủ kiến của tác giả, vì vậy nó hoàn toàn không chân thật.”

Tác giả bài báo, ông Nguyễn Ðức Hiển, tổng thư ký tòa soạn báo Pháp Luật TP. HCM, viết như vậy trong bài “Cuốn sách ‘Bên Thắng Cuộc’ của Huy Ðức: Cái nhìn thiên kiến về lịch sử”.

Ông Nguyễn Ðức Hiển và báo Pháp Luật là cơ quan báo chí đầu tiên, trong hơn 700 tờ báo và tạp chí do nhà cầm quyền Việt Nam quản lý, lên tiếng về cuốn sách này, trong lúc dư luận trên mạng xã hội và truyền thông ‘lề trái’ trao đổi bàn luận, khen chê và đặc biệt quan tâm trong hơn nửa tháng qua.

‘...bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc’

“Bên Thắng Cuộc” (tập 1) của nhà báo Huy Ðức do ông tự xuất bản đã phát hành bản điện tử trên Amazon hôm 12 Tháng Mười Hai, và bản in sắp phát hành nay mai, đề cập đến những chính sách từ chính trị, xã hội, đến kinh tế... mà “phe thắng cuộc” áp đặt lên miền Nam Việt Nam kể từ sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975.

Những chính sách này là “Ðổi Tiền,” “Cải Tạo”, “Vượt Biên”, “Thanh Trừng Nội Bộ,” “Ðánh Tư Sản,” v.v.

Trong phần mở đầu, nhà báo Huy Ðức, hay bloger Osin, hiện đang có học bổng nghiên cứu báo chí tại Ðại Học Harvard, Hoa Kỳ, viết: “...Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30 Tháng Tư năm 1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn 30 năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc.”

Trở lại bài báo trên tờ ‘Pháp Luật TP. HCM’, ông Nguyễn Ðức Hiển thừa nhận “không có ý định đi sâu vào tính chính xác của từng sự việc, từng chi tiết bởi nó không mới và không hẳn cần thiết” mà ông lại chỉ căn cứ vào “những phản hồi bất bình của những nhân vật trong sách, từ cả hai phía, về tính chính xác của các sự kiện và cách trích dẫn cắt cúp, tách bối cảnh ra khỏi sự kiện” để cáo buộc Huy Ðức “gián tiếp giải thích nguyên nhân theo chủ kiến của tác giả”.

Và rằng, “Nếu lịch sử được mô tả chỉ từ một hướng với sự sắp đặt thiên kiến thì nó không còn là lịch sử nữa.”

Ðể chứng minh cho lập luận của mình, khi đề cập đến chính sách ‘tù cải tạo’ trong cuốn sách của Huy Ðức, ông Nguyễn Ðức Hiển đặt câu hỏi:

“Bên Thắng Cuộc hướng suy nghĩ của người đọc rằng chế độ mới thiếu nhân văn khi nói về điều kiện sống của những sĩ quan chế độ Sài Gòn bị đưa đi học tập. Thật ra cái khó khăn mà những sĩ quan cao cấp đó gánh chịu chỉ bằng một phần rất nhỏ những gì mà quân và dân Việt Nam chịu đựng suốt trong hai cuộc kháng chiến, không lẽ tác giả không biết?”

Bài báo viết tiếp, “Nhấn mạnh ‘chế độ hà khắc’ của các trại cải tạo nhưng cuốn sách lại không nhắc đến những trại tù và cách ứng xử của chế độ Sài Gòn cũ đối với những người yêu nước. Không nhắc đến một thực tế là đã không có người tù cải tạo nào bị tra tấn bằng vôi bột, bị đóng đinh, dí điện, bị đánh đến tàn phế... như những gì mà nhiều người trong số họ từng đối xử với đối phương của mình ở Phú Lợi, Côn Ðảo, Phú Quốc, Chuồng cọp Sở thú và hàng trăm nhà tù khác khắp miền Nam.”

Tác giả cũng ‘kết tội’ cuốn sách rằng “Ðã không nói rằng sau khi tiếp quản, không hề có việc lê máy chém đi khắp miền Nam như chế độ cũ đã làm với cán bộ cách mạng và thân nhân trong Luật 10-1959.”

Việt Nam từng từ chối xuất bản

Người ta không thể đoán được rằng, sau bài viết trên tờ ‘Pháp Luật TP. HCM’ sẽ có thêm tờ báo nào khác của nhà nước đề cập hay ‘tấn công’ cuốn sách của Huy Ðức nữa hay không?

Cuốn sách, như lời nhà báo Huy Ðức bày tỏ, đã bị nhiều nhà xuất bản ở Việt Nam từ chối và chính ông đã tìm cách tự xuất bản ở Hoa Kỳ, cách xa Việt Nam nửa vòng trái đất.

Trên các trang mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, tiếp tục bàn luận về cuốn sách này, trong đó có nhiều nhận định của những người tự nhận là ‘bên thua cuộc’.

Trong đó có bài viết của Tiến Sĩ Vũ Thị Phương Anh, hiện đang sống tại Sài Gòn, viết: “Không biết đến bao giờ thì những người anh em thắng cuộc mới thực sự hiểu đầy đủ những người thua cuộc, và ý thức rõ những điều phi nghĩa, phi nhân mà họ đã làm đối với những người anh em kém may mắn của họ?”

Và rằng, “Nếu bên thắng cuộc không chịu thực tình tìm hiểu và không chân thành nhận lỗi, thì sẽ không bao giờ có sự hòa giải thực sự... Bên thắng cuộc chỉ có một cơ hội duy nhất để có thể dễ dàng có được sự hòa giải thôi, đó là có sự độ lượng và công bằng đối với bên thua cuộc ngay khi họ vừa chiến thắng.” (K.N.)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Mất Nước Ở Biển Đông:
Niềm Đau Từ Một Sự Sai Lầm Trong Lãnh Đạo Đất Nước

Võ Ngọc Phước

Biển Khơi Đó Là Của Việt Nam Chúng Ta

Có thể nói trong lịch sử của Việt Nam chúng ta không có một sự sai lầm hay sơ suất nào lớn lao như sự sai lầm đưa đến “sự mất nước ở Biển Đông” như hiện nay. Bởi vì, nguyên nhân của sự “mất nước ở Biển Đông” này không phải chỉ là do sự chủ động bành trướng xâm chiếm của phía Trung Quốc mà còn là do sự “hổ trợ phụ giúp từ căn bản” cho sự xâm chiếm này từ phía đảng Cộng Sản Việt Nam.

Mà đau đớn thay cho “hậu quả của sự hõ trợ này” là cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, do ông cha chúng ta đã khổ công gầy dựng xây đắp đến ngày nay, cũng đã bị Trung Quốc ngang nhiên xâm chiếm như đang được thấy rành rành trước mắt hiện nay.

Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử cúa Việt Nam, dù có phải trải qua nhiều thời kỳ cay nghiệt bị ngoại bang đô hộ hay chìm đắm trong khói lữa binh đao của việc huynh đệ tương tàn, nhưng một khi người dân nhìn ra biển khơì thì vẫn biết đó là biển khơi của Việt Nam, là của đất nước.

Nhưng, ngày nay, khi nhìn ra biển khơi, thì vẫn là màu nước biển như xưa kia nhưng không ai cón có thể nghĩ được điều tất nhiên đó là như trước đây. Đúng vậy, chúng ta đang bị mất nước ở Biển Đông. Đây là một niềm đau vô cùng cho đất nước và cho cả dân tộc.

Nhín ra biển khơi, các nhóm đảo xa bờ của chúng ta nay đã bị ngoại bang mặc nhiên đến chiếm đóng và đang cho xây cất ồ ạt các cơ sở, các, công trình của họ mà không gặp phải sự kháng cự nào của phía chúng ta. Hơn thế nữa, các tàu thuyền bé nhỏ của ngư dân chúng ta lại đang bị phía Trung Quốc chận bắt và hà hiếp lúc nào không hay ngay trên các vùng biển của chúng ta.

Đó là điều thật quá oái ăm cho “tình thần liên đới huynh đệ giữa hai nước xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc và Việt Nam”., mà các cấp lãnh dạo của hai đảng cộng sản của hai nước này vẫn luôn luôn ca ngợi lẫn nhau và tuyên truyền cho người dân hai nước.

Trong một bối cảnh như vậy, chắc chắn là các “lãnh đạo của phía nước Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam” đã phải thật quá ngỡ ngàng và vỡ lẽ khi được nghe “đàn anh Trung Quốc” cho biết cái “hải phận chín khúc” mà họ đã tự vẽ ra bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các vùng biển của chúng ta, và bắt buộc phía Việt Nam phải chấp nhận tuân thủ các qui định phi lý của họ đặt ra. Họ đã căn cứ váo chứng cớ các tuyên cáo trước đây của họ vè việc chủ quyền biển đảo ở Biển Đông với sự đồng tùnh của các lãnh đạo ở Hà Nội.trong thập niên 1950.

Đến mức này thì các “lãnh đạo của phía đảng Cộng Sản Việt Nam” đã phải “sáng mắt” ra vì sự việc này. Nhưng vì trong vị thế yếu kém trước đàn anh Trung Quốc, do các sai lầm sơ khởi khi “bày tỏ sự đồng tình ban đầu với họ trong việc này”, nên đành phải muối mặt chấp nhận thân phận của kẽ “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Vì vậy chăng mà phải chỉ cho phép “đàn em phản đối bằng miệng cho xong chuyện” hay “tự mình trình bày lanh quanh về các phương cách đối phó vấn đề” nơi công khai mà thôi.

Cùng lúc cho những việc này, thì ngoài sự trấn áp tàn bạo người dân quá nóng lòng trong vấn đề này, nhà nước cộng sàn Việt Nam lo việc thực hiện các “hoạt động mị dân” bằng nhiều phương cách bao gồm việc cho cái quốc hội của đảng làm ra cái Luật Biển, cho mua vài chiếc tàu lặn và chiến đấu cơ của Nga, cho đóng vài tàu tuần dương, hay cho đăng lên các hình ảnh tuyên truyền của một vài vị trí trên các quần dảo này với cờ xí của phía Việt Nam được giương lên để nhằm làm cho người dân có cái cảm tưởng là “nước non vẫn còn đó”.và “đảng đang lo đối phó”.

Trong lúc đó thì Trung Quốc vẫn cứ ngang nhiên, sau khi cho qui pháp về hành chính và quân sự cho Thành Phố Tam Sa vừa được thánh lập, đã cho xây dựng ồ ạt các hải cảng, sân bay, căn cứ và hạ tầng cơ sở ở các vị trí chính yếu trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của chúng ta và cho lực lượng hải quân triển khai hung hậu trên các vùng biển này để bảo trợ chắc chắn cho sự cai trị ngang ngược này của họ.

Lầm Lỡ Chỉ Vì Lãnh Đạo Quá Dại Khờ

Như mọi người đã được biết, kể từ đầu năm nay 2013, các tàu tuần tra hải giám của Trung Quốc được phép bắt giữ và tra xét các tàu thuyền nước khác trên cái “hải phận chin khúc” đó; nhưng như ai ai cũng biết, chắc chắn là Trung Quốc nhằm điều này vào các tàu thuyền của phía Việt Nam.

Như vậy, liệu các đối phó chậm chạp và yếu ớt của phía Việt Nam như hiện nay có kịp thời chận đứng hữu hiệu được các động thái ngang ngược của Trung Quốc hay không. Câu trả lời là “Chắc Chắn Không”. Như vậy là có nghĩa Việt Nam sẽ phải tiếp tục cúi đầu thuần phục Trung Quốc. Và đây cũng là điều ước mong của nhóm lãnh đạo thân Trung Quốc trong hang ngũ đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Nhằm đến nhiều mục đích cho việc muón trở thành một nước lớn, tham vọng bành trướng ra xâm chiếm toàn vùng Biển Đông, thật ra, dã được Trung Quốc ấp ũ nuôi dưởng từ trước nay, ngay sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc thâu tóm và cai trị được phần lục địa của nước này.

Tuy nhiên sự hiện diện của Mỹ ở Biển Đông và Đông Nam Á không những đã thật sự làm cản trở cái kế hoạch này, mà còn cản trở cả tham vọng trở thành một nước lớn của Trung Quốc. Vì vậy, Trung Quốc đã quyết tâm dùng “chiêu bài chi viện cho Hà Nội” để đánh Mỹ, đánh chiếm Miền Nam, và do đó có thể xua đuổi được Mỹ ra khỏi vùng biển này để “dọn đường cho việc bành trướng xâm chiếm“. Rồi cùng với sự trưởng thành kinh tế, Trung Quốc sẽ có thể trở thành một nước lớn.

Cái “chương trình từng bước” như vậy thật ra quá là quá đơn thuần và dể hiểu nhưng không biêt vì sao các lãnh đão của Hà Nội vào lúc ấy không thể “nhìn thấy được cái “dã tâm xúi dục cho anh em một nhà đánh giết nhau” này của Trung Quốc để mà phòng tránh.

Có thể đã có sự hỗ trợ của nhóm lãnh đạo thân Trung Quốc trong hang ngũ đảng Cộng sản Việt Nam vào lúc đó. Hay cũng có thể chỉ vì quá mãn nguyện khi được nước đàn anh xã hội chủ nghĩa này cung cấp cho vô số súng ống đạn dược để đánh Mỹ, đánh chiếm Miền Nam và lại còn được họ tung hô ca ngợi là “anh hung này nọ” nên đã vô cùng hăng hái dù phải hy sinh bao sinh mạng để việc đánh phá để “dọn đường cho họ chiếm cứ Biển Đông này”

Dù với bất cứ lý do nào đi nữa, thì hậu quả đau thương dưa đến cho đất nước ngày nay cũng đã chứng tỏ rõ ràng sự khinh xuất hay sai lầm trong lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam khởi đầu từ những thới điểm đó.

Vì rằng chắc chắn các lãnh đạo ở Hà Nội đã phải lắm ngỡ ngàng khi phải nhìn thấy hình ảnh Chu Ân Lai “mớm cơm” Kissiger ở Thượng Hải vào năm 1972, rồi quan cảnh “thân tình thân thiết” giữa Mao Trạch Đông và Nixon cùng các lãnh đạo của hai nước Mỹ-Trung trong những hội họp và tiệc tùng ở Bắc Kinh ngay sau đó, những “vị khách quí của Trung Quốc” mà chỉ vài ngày trước đây được hai nước xã hội chủ nghĩa Trung Quốc và Việt Nam gọi là “kẽ thù chung”.

Cũng như nhờ vào “thành quả của sự xúi dục Hà Nội đánh Mỹ, đánh phá Miền Nam” mà Trung Quốc đã thỏa được nguyện vọng là “kéo Mỹ đến lại gần để nói chuyện bang giao” và để dàn xếp những chuyện lợi ích liên quan cho nhau.

Ngay sau đó thì Mỹ đã cho oanh tạc Hà Nội dữ dội để “dằn mật trước khi ra đi” và Hà Nội đã phải điều đình để vay mua trên 500 hỏa tiển phòng không SAM của Nga để có thể đối phó với B52. Món nợ khổng lồ này nay cả nước đang phải trang trải bằng sự hợp tác cho khai thác các giếng dẩu ở Biển Đông. Nghĩa là cả Trung Quốc và Nga đã hăng hái chi viện cho Hà Nội “chiến đấu” là đều có “lý do lợi ích ở Biển Đông”.

Bao nhiêu sinh mạng người dân và tài nguyên ở hai miền đất nước Việt Nam đã phải hy sinh để cho ngày nay Trung Quốc được ngang nhiên ra chiếm cứ Biển Đông và trả nợ cho Nga. Phải chăng chỉ có con đướng đau thương này để đi đến sự thống nhất đất nước. Nhất là phải còn đày đọa người dân dưới cái ách cộng sản ác nghiệt và lỗi thời..Trách nhiệm về sai lầm lãnh đạo, dù ở thời đại nào, rồI cũng sẽ được lịch sử xét xử phân minh về sau này.

Có thể ngày nay một sốcác lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhận thấy được các sai lầm sơ đẳng hay cũng là các sơ suất ấu trĩ của họ trong việc lãnh đạo đất nước trước đây đã làm cho nước nhà phải đi vào tình trạng chinh chiến điêu linh rồi phài “mất Biển Đông cho Trung Quốc”.

Nguyên do chỉ là vì quá dại khờ, nhưng khó thẳng thắn chấp nhận việc sai lầm này trước người dân. Bởi vì, trên quá trình lịch sử của đất nước cho đến nay, với bản chất lòng dạ của những người cộng sản, việc thành thật chấp nhận các sai lầm trong đường lối lãnh đạo thường không được thực hiện trước người dân. Thay vào đó, sự đàn áp hãm hại các công dân có ý kiến chống lại sự cai trị độc tài của họ thì lại được cho tăng cường áp dụng.

Phải Cùng Toàn Dân Lấy Lại Và Gìn Giữ Non Sông

Trước sự ngang ngược của Trung Quốc trong việc ngang nhiên bành trướng chiếm cứ Biển Đông và sự bạc nhược của các lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay trong việc kháng cự lại Trung Quốc để gỉn giữ đất nước, người dân Việt Nam không còn mong đợi được gì nữa ở đảng Cộng Sản Việt nam.

Bởi vì, trước sự việc và tình hình nghiêm trọng cho đất nước như vậy, nhưng các lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam thì một mặt vẫn cho tiếp tục các phương cách đối phó một cách bạc nhược và chậm chạp bằng cách chỉ “nói phản đối cho có chuyện” như đã thấy hiện nay. Một mặt khác thì lại cho tăng cường trấn áp bằng cách bắt giam và hãm hại các công dân đòi hỏi nhà nước cộng sản Việt nam phải cương quyết việc bảo vệ non sông.

Trước tình hình như vậy, chúng ta chỉ còn phương cách là phải cùng toàn dân thấu hiểu sự quí báu của giang sơn gấm vóc mà ông cha chúng ta đã khổ công gầy dựng để tận tâm tận lực ra sức gìn giữ bảo vệ các phàn đát biền đảo và vùng biển đang bị Trung Quốc chiếm cứ ngày nayy.

Có nghĩa chúng ta phải cùng toàn dân luôn luôn tận lực kêư gọi nhắc nhở việc này cho các lớp trẻ trong và ngoài nước. Dù biết rằng các lớp trẻ trong nước đang bị “bóp nghẹt để chùn chân” trong ý thức tranh đấu cho đất nước. Dù biết rằng các lớp trẻ ở ngoài nước, do bối cảnh và môi trường sinh hoạt ở nước ngoài, có phần khó khăn trong tiếp cận với tinh thần tranh đấu cho đất nước.

Đièu chắc chắn là chúng ta không thể có binh lực to lớn như Trung Quốc được. Nhưng, để dối phó hiệu quả với sự xâm lăng của Trung Quốc, chúng ta phải chứng tỏ có lòng đoàn kết yêu nước thương nòi cao hơn họ. Chúng ta phải chứng tỏ cho Trung Quốc và cả thế giới biết rõ được điều này Và chúng ta phải cùng toàn dân cương quyết phản kháng sự bạc nhược và sai lầm lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt nam trước Trung Quốc.

Có làm được như vậy thì chúng ta mới có thể cùng toàn dân làm ra được các sách lược tranh đấu và chương trình hành động hữu hiệu để lấy lại và gìn giữ các vùng biển đảo đang bị kẽ thù xâm chiếm. Mà trước hết là việc phải loại bỏ các thành phần thân Trung Quốc, bọn làm tôi tớ cho Trung Quốc, trong hang ngũ lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Bọn họ đang nối giáo cho giặc.

Trước bài học đau thương mà Tây Tạng đã phải hứng chịu, chúng ta phải cùng toàn dân luôn luôn tâm niệm là nếu chúng ta không đồng tâm mạnh dạn cùng nhau kháng cự mãnh liệt trước kẽ thù, thì một ngày nào đó, không riêng gì các biển đảo ở Hoàng sa và Trường sa và các vùng biển của chúng ta ở Biển Đông bị mất đi luôn mà là cả giang sơn đất nước Việt nam của chúng ta cũng có thể trở thành một Tây Tạng thứ hai trước kẻ thù Trung Quốc.

Võ Ngọc Phước
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest