Tạp Ghi

KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Image

Hàng không mẫu hạm Eisenhower cùng hàng nghìn quân đã áp sát Syria

Hàng không mẫu hạm tấn công hạt nhân đa nhiệm của hải quân Mỹ USS Eisenhower dẫn đầu nhóm tàu chiến lược hải quân cùng hàng nghìn binh sĩ đã đến vùng phía đông Địa Trung Hải, gần Syria.


Hàng không mẫu hạm Eisenhower với 8 phi đội máy bay ném bom (70 chiếc) và 8.000 thủy thủ, phi công cùng thủy quân lục chiến đang neo đậu ở khu vực gần bờ biển Syria từ hôm qua (5.12). Tờ Nước Nga Ngày nay cho rằng, đây là dấu hiệu Mỹ đang chuẩn bị can thiệp vào Syria.

Trong khi chính quyền ông Obama không thông báo bất kỳ hình thức can thiệp quân sự nào vào Syria, Mỹ giờ đây đã sẵn sàng tiến hành những hành động như thế này "trong vài ngày tới", nếu Tổng thống Bashar al-Assad quyết định sử dụng vũ khí hóa học chống lại phe đối lập - tờ Times cho hay.

Trang tin DEBKAfile của Israel cũng xác nhận tàu sân bay USS Eisenhower- một trong số 11 hàng không mẫu hạm của hải quân Mỹ- đang thường trực tại bờ biển Syria. Tàu sân bay này đến để gia nhập với tàu đổ bộ tấn công chở trực thăng Iwo Jima, vốn đã thường trực ở đây gần 2 tuần trước. Iwo Jima có 2.500 thủy quân lục chiến. Hiện Mỹ có tất cả 17 tàu chiến đang nằm gần bờ biển Syria.

"Chúng tôi có lực lượng đặc nhiệm đã sẵn sàng vào vị trí nên không cần cử thêm nữa" - một quan chức Mỹ giấu tên nói với tờ The Australian - quân đội Mỹ đã tiếp cận gần Syria và sẵn sàng can thiệp quân sự vào nước này trong trường hợp cần thiết.

Nếu Mỹ quyết định can thiệp quân sự, hiện nước này có trong tay 10.000 quân, 17 tàu chiến, 70 máy bay ném bom chiến đấu, 10 tàu khu trục và tàu chiến nhỏ có tên lửa hành trình dẫn đường. Một số tàu chiến cũng được trang bị tên lửa đánh chặn Aegis nhằm bắn hạ bất kỳ hỏa tiễn nào của Syria - DEBKAfile cho hay.

"Sức mạnh quân sự đã sẵn sàng" - một quan chức Mỹ cho tờ Times biết về sự hiện hiện của Mỹ gần Syria. "Vẫn còn sớm để nói điều gì sẽ xảy ra nếu Mỹ quyết định can thiệp vào Syria. Hiện chúng tôi có nhiều lựa chọn, song hành động quân sự vẫn có thể được triển khai nhanh chóng, chỉ trong vài ngày".

Động thái trên của Mỹ diễn ra sau khi NATO đưa ra quyết định chiến lược quan trọng hôm 4.12 nhằm triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot ở Thổ Nhĩ Kỳ, dọc biên giới với Syria - đại bản doanh của các nhóm đối lập. Hệ thống tên lửa này sẽ bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ khỏi hỏa tiễn và vũ khí hóa học của Syria, đồng thời ngăn chặn phi công của lực lượng không quân Syria ném bom xuống các thành phố biên giới phía bắc Syria. Syria được cho là sở hữu 700 tên lửa.

“Hoạt động bảo vệ của NATO sẽ gồm 3 tầng, tầng một là tên lửa tầm ngắn Patriot, tầng hai là tên lửa tầm trung THAD và tầng cuối là hệ thống tên lửa Aegis, chặn tên lửa có thể vượt ra ngoài bầu khí quyển”- Ngoại trưởng Ahmet Davutoglu cho hay.

Nguồn tin quân sự giấu tên của DEBKAfile cũng nói rằng, tên lửa THAD và Aegis đã đến bờ biển Syria, trên tàu USS Eisenhower. “Mỹ hiện đã sẵn sàng cho một cuộc can thiệp quân sự trực tiếp vào cuộc xung đột Syria, khi thời tiết cho phép”- nguồn tin cho hay.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Image

Mùa lễ lạt
Tạp ghi Quỳnh Giao
Người viết này không là nhà ngôn ngữ nên xưa nay cứ hay dùng một danh từ kép là “lễ lạc” để nói về hội hè vui tươi trong các dịp lễ. Chữ “lạc” chẳng có ý nghĩa là vui vẻ lạc quan hay sao? Nhưng người thông thái thì dạy rằng phải dùng chữ “lễ lạt”, với hai ý nghĩa là lễ hội và quà tặng. Có người anh trong nhà còn chỉ ra nhiều nghĩa của chữ “lạt” này là nhạt nhẽo, lơ là, như nét không đậm mà nhạt, và ăn cơm mà kiêng món mặn thì gọi là ăn lạt.

Ðược học hỏi như vậy thì dại gì mà mình không nghe?

Huống chi là trong thâm tâm, khi thấy âm nhạc tưng bừng nổi lên sau lễ Tạ Ơn của Hoa Kỳ thì lại thấy buồn buồn và rất cảm với chữ lễ hội lạt lẽo! Vì vậy, xin nói về “Mùa Lễ Lạt”, vừa đúng chữ lại vừa hợp tình.

Ngẫm lại thì tiếng Việt mình quả thật phong phú mà rắc rối cho những ai không thiết tha với chữ nghĩa! Nếu buông một tiếng “buồn” thì là buồn thật sự. Nhưng nếu nói “buồn buồn”, thì lại có nghĩa là hơi buồn thôi, một nỗi buồn man mác, bâng khuâng. Cũng thế, màu tim tím thì phải lạt hơn màu tím.

Bây giờ mới xin vào chuyện.

Với người Việt chúng ta tại Hoa Kỳ, sau lễ Tạ Ơn là một chuỗi dài lễ hội, lễ Giáng Sinh, rồi Tết Dương Lịch, vừa xong thì mình chuẩn bị Tết Nguyên Ðán, đến khi mệt nhoài thì được nhắc nhở là sắp đến mùa khai thuế. Cho nên, khác với người Mỹ, nhiều độc giả của chúng ta rất thông cảm với chữ lễ lạt.

Khi còn ở quê nhà, Noel là cơ hội cho nhiều cặp tình nhân trẻ, đi lễ nửa đêm với quần áo đẹp và hưởng một chút lãng mạn của thời tiết mát mẻ vùng nhiệt đới. Quanh năm nóng bức, thì thú vị là lúc được mặc áo len! Trẻ con nhà nghèo ở Việt Nam làm gì có quà Noel và cũng không tin ở trên đời có một ông già Noel. Chúng có thể tin trên cung trăng có chú cuội vì nói dối mà bị đày lên đó ở với chị Hằng.

Viết đến đây lại nhớ kỷ niệm xưa khi mới sang Mỹ năm 1975. Ðến Trung Thu, vừa mới nhắc đến lồng đèn của trẻ thơ ở quê nhà, thì cháu gái ở nhà mới lên 5 liền hỏi Mẹ: Mẹ ơi, cái ông Việt Nam ở trên “moon” có còn không? Câu nói pha tiếng Việt tiếng Mỹ làm cả nhà cười ầm vì cái ông Việt Nam đó là chú Cuội. Cười xong bỗng lại bồi hồi. Vẫn là vầng trăng xưa, nhưng quê hương thì đã mất cùng rất nhiều kỷ niệm.

Khi mới sang, chưa biết không khí lễ lạt của Mỹ, cũng chưa quen cái tục lệ cho quà và mở quà Giáng Sinh, mình chỉ thấy buồn buồn khi nghe nhạc mùa lễ. Vì càng nghe nhạc lại càng nhớ nhà và ngậm ngùi năm xưa vì mình chỉ “vui như Tết” khi mùng Một được mặc áo để mừng tuổi ông bà cha mẹ và được lì xì những tờ giấy bạc mới tinh.

Ở nhà ngày xưa cũng hát nhạc Giáng Sinh vào dịp Noel. Ca khúc hay hơn hết và được hát nhiều hơn hết là “Silent Night” của Franz Gruber mà lời Việt của Hùng Lân là tuyệt đẹp. Người thầy dạy nhạc lý hay nhất nước của nhiều thế hệ đã viết lời từ trang trọng như sau:

Ðêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng

Ðất với Trời se chữ Ðồng

Ðêm nay Chúa con thân thánh tôn thờ

Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa

Ơn châu báu không bờ bến

Biết tìm kiếm của chi đền...


Tinh tú trên trời, sông núi trên đời

Vua, thánh thần, mau kết lời

Cao sao hóa công đã khéo an bài

Sai con hiến thân để cứu nhân loài

Hang chiên máng rêu tạm trú

Bốn bề tuyết sương mịt mù...


Bài “Ðêm Thánh Vô Cùng” có sự trang nghiêm của một bài kinh.

Dù không theo đạo Công Giáo, nhiều người cũng thấy lòng chùng lại và hướng tâm hồn đến một cõi thiêng liêng nào đó để nguyện cầu cho người khác. Nếu Thiên Chúa đã dâng hiến người con của mình để cứu chuộc nhân loại thì loài người cũng nên suy ngẫm về nghĩa cử cao cả này.

Nhưng sau giây phút bồi hồi đó, trên màn ảnh truyền hình Hoa Kỳ chúng ta lại thấy khác. Chỉ vì “Ðêm Thánh vô cùng, mua sắm tưng bừng” là một thực tế của nước Mỹ. Mọi dịp lễ, dù linh thiêng hay phù phiếm đều tạo ra cơ hội thương mại. Mà chuyện ấy cũng có cái lý riêng. Nếu lễ lạt cuối năm mà vắng ngắt thì các thương xá của chúng ta sẽ đầy bảng “For Lease”. Có cơ sở bị phá sản, nhân viên và gia đình mất việc và nghe nhạc tưng bừng lại rưng rưng nước mắt.

Một khía cạnh khác lại còn Mỹ hơn và mới hơn nữa là từ nhiều năm nay, một số người tự xưng là tiến bộ của xã hội này còn muốn xóa chữ Giáng Sinh trong mùa lễ! Không được trưng bày Chúa Hài Ðồng trong hang đá bên máng cỏ và cũng chẳng được nhắc đến Thiên Chúa. Chính là cái óc cực đoan quá khích đó mới thật sự tạo ra “lễ lạt”. Không có Thiên Chúa thì quả là một cái lễ rất nhạt.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image


Bữa ăn ở cõi niết bàn và hỏa ngục


Một ký giả kia được phép xuống hỏa ngục và lên thiên đàng để làm một bản phóng sự về đời sống của nhân dân tại đó.

Sau một cuộc hành trình gay go, ký giả trên lọt được vào địa ngục đúng vào giờ ăn. Nhìn vào bàn ăn, anh ta không khỏi lấy làm lạ khi thấy trưng bày toàn sơn hào hải vị đang bốc khói hương ngào ngạt làm anh ta không khỏi nuốt nước bọt.


Nhưng lúc các kiều dân địa ngục tiến vào phòng ăn, chàng ta lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy họ ốm o gầy mòn, chỉ còn da bọc xương, vài người đi không muốn nổi. Sự kinh ngạc tan biến khi chàng phóng viên chứng kiến cảnh họ dùng bữa. Vì muỗng nĩa rất dài buộc dính vào đôi tay không cho phép họ đưa thức ăn vào miệng, nên dù họ có cố gắng thế nào đi nữa, thức ăn chỉ đổ tháo ra đầy bàn hay rơi tung tóe xuống mặt đất. Tệ hại hơn là cảnh họ tranh giành nhau: vài người dùng muỗng nĩa để thay vì đưa thức ăn vào miệng, lại biến chúng thành những khí giới đập đánh nhau. Thật là một bãi chiến trường. Khi chuông báo giờ ăn đã mãn, họ buồn phiền rời phòng ăn, dạ dày vẫn trống rỗng.

Quá sợ hãi, chàng ký giả lập tức từ giã địa ngục để tiếp tục lên phóng sự trên cõi niết bàn. Ðến nơi cũng đúng vào giờ cơm. Bàn ăn cũng trưng bày những thức ăn ngon miệng. Quan sát kiều dân, chàng ta thấy ai nấy đều phương phi, khỏe mạnh, tuy đôi tay họ cũng được gắn chặt những muỗng nĩa rất dài. Có khác là thay vì họ cố gắng đưa thức ăn vào miệng mình, họ lại dùng muỗng nĩa để đút thức ăn cho nhau. Phòng ăn vang lên những giọng nói cười vui, thỏa mãn.

Kết thúc bài phóng sự tường trình về những điều mắt thấy tai nghe, chàng ký giả viết:

"Ích kỷ và vị tha là hai điểm khác biệt giữa địa ngục và cõi niết bàn"
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Cái bật lửa
Ðể kỷ niệm một trận chiến, một quận công bên Anh Quốc đã làm một bữa tiệc
khoản đãi một nhóm cựu sĩ quan đã từng chiến đấu sát cánh bên ông.

Trong bữa tiệc, ông đem khoe một cái bật lửa rất đẹp mà Nữ hoàng Anh đã tặng cho ông.
Cái bật lửa đã được truyền từ tay người này đến tay người nọ để được trầm trồ khen ngợi.

Sau bữa ăn, mọi người được mời ra phòng khách để uống trà. Ông quận công mới đem thuốc lá ra mời mọi người. Nhưng mặt ông bỗng biến sắc, vì ông lục lạo mãi trong túi áo mà vẫn không tìm ra cái bật lửa. Ông hỏi quan khách có ai thấy nó ở đâu không. Mọi người chia nhau đi tìm khắp nơi mà tuyệt nhiên vẫn không thấy cái bật lửa. Lúc bấy giờ, một viên sĩ quan mới đề nghị cho tất cả mọi quan khách nên lật túi áo của mình ra may ra mới có thể tìm thấy nó chăng. Lần lượt tất cả mọi người đều kéo tất cả những gì có trong túi áo của mình ra. Duy chỉ có một người không chịu chấp nhận công việc này. Mọi người đều đưa mắt nhìn về ông và ai cũng đoán chắc đây là người đã đánh cắp cái bật lửa, bởi vì dáng vẻ của ông tiều tụy, áo quần của ông lại rách rưới. Ông lấy danh dự của một cựu sĩ quan để thề thốt và dứt khóat không mở túi áo ra cho mọi người xem.

Vài tuần lễ sau, ông quận công lại mở một bữa tiệc khác và lần này, ông khám phá ra cái bật lửa trong túi áo của ông. Cảm thấy xấu hổ vì đã nghi oan cho một viên sĩ quan đã từng chiến đấu bên cạnh mình, ông quận công đã quyết định đến thăm anh ta để xin lỗi.

Nhà của viên cựu sĩ quan này nằm trong khu phố lầy lội nghèo nàn. Sau khi đã xin lỗi, ông quận công đã hỏi viên sĩ quan: "Tại sao trong bữa tiệc hôm đó, anh đã khước từ không mở túi ra cho mọi người xem?".

Anh ta mới giải thích như sau: "Hẳn ngài đã thấy được căn nhà tôi đang ở tồi tàn như thế nào. Từ lâu, tôi đã thất nghiệp mà vẫn phải nuôi nhiều miệng ăn trong nhà. Ngài đâu có biết rằng hôm đó, tôi đã nhét vào túi tôi tất cả những đồ ăn thừa trên bàn để mang về cho vợ con tôi".

Sau khi hiểu được hoàn cảnh đáng thương của một người đã từng vào sinh ra tử với mình, ông quận công quyết định đền bù bằng cách tìm cho viên cựu sĩ quan một công việc xứng đáng.
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Ba bay đường hèn

Tạp ghi Huy Phương
Đại tá Việt gian Trần Đăng Thanh :Sổ hưu đi trước, giữ nước theo sau
Ông nhạc sĩ Tô Hải viết tập sách “Hồi Ký của Một Thằng Hèn” xuất bản năm 2009, ai cũng khen ông là người can đảm, không ai chê ông đã hèn trong một thời gian quá lâu như thế, qua những câu chuyện “hèn” được viết lại. Nhưng qua câu chuyện người ta kể, khi vào Sài Gòn, đi thăm mộ thân phụ ông, thấy cái bia mộ do người “nghĩa tế” trong quân đội miền Nam là một trung tướng “phụng lập,” thì ông nổi giận đùng đùng, bắt phải đập bỏ ngay tấm bia ấy. Hèn đã không phụng dưỡng được cha, ông lại hèn mang mặc cảm của người thắng trận, hèn để chứng tỏ “lập trường giai cấp” quyết tâm triệt hạ tất cả cái gì của miền Nam, dù cái đó là nét đẹp đạo lý của chữ hiếu, chữ nghĩa!

Người ta có thể tha thứ cái hèn trong thời gian “kháng chiến” của ông Tô Hải nhưng khó có thể chấp nhận được cái hèn khi ông tỏ ra cái “khí phách” của người đi theo nương nhờ súng đạn những người mới thắng thế.

Người ta không chê ai đã cúi đầu trước bạo lực, cường quyền, trong một xã hội công an trị đã làm cho con người tê cứng vì sợ hãi trước gông cùm và song sắt. Chúng ta thành tâm mà nói, ở vào vị trí như thế, chúng ta làm gì hơn được. Trong chuyện Hán Sở Tranh Hùng, Hàn Tín thuở hàn vi, chưa lập nghiệp lớn, lòn trôn thằng bán thịt giữ chợ mà người đời sau không ai gọi là thằng hèn. Hèn cho qua buổi, hèn để nuôi chí lớn.

Trên cõi đời này thường người ta hèn không phải vì một lý do duy nhất mà tới ba lý do: sợ hãi vì thế yếu, không bị ép buộc nhưng vì mưu lợi và cuối cùng là cái hèn trong thế thượng phong, thắng thế. Vậy thì hèn cũng có ba bảy đường hèn!

-Cái hèn thứ nhất thường được người ta tha thứ vì sự yếu đuối của con người. Dưới họng súng, lưỡi lê, tra tấn, nhà tù của những chế độ bạo ngược, người dân đành thúc thủ, câm nín. Thời Việt Minh, chúng dùng thủ đoạn ám sát, chặt đầu, thả trôi sông, gây sự khiếp hãi, nên không ai dám không theo Việt Minh Cộng Sản, không ai dám lên tiếng phê bình hay chống đối. Sự sợ hãi làm tê liệt ý chí của con người, phải hèn cho qua thời buổi khó khăn.

Trong các trại tù tập trung của cộng sản, người ta có thể thông cảm cho phần lớn những người chịu hèn, chịu cảnh “nín thở qua sông,” “giả dại qua ải”... “an tâm, học tập tốt, lao động tốt” chẳng qua cũng vì sợ hãi, sợ trả thù và khổ nhục.

Dưới chế độ kìm kẹp của cộng sản, cũng không ai trách người dân ta hèn vì không dám chống lại bạo lực, nhưng người trách giới văn nghệ trí thức hèn vì không chỉ phải câm nín mà còn theo đường lối chỉ thị, múa môi, múa bút tâng bốc lãnh tụ, ơn đảng là những điều mà chính lòng họ không tin. Trong một chế độ người ta dùng lương thực như một vũ khí để trấn áp người đối nghịch cũng như để nuôi dưỡng lòng trung thành của kẻ thuộc hạ thì chế độ “tem phiếu” quả là hữu hiệu. Ðó là thái độ hèn vì miếng ăn. Những người chưa đói, chưa thấy cảnh vợ con nheo nhóc mà xót xa thì chưa hiểu nổi vì sao cộng sản luôn luôn dùng “chính sách bao tử” để khống chế con người.

Hiện nay tại Việt Nam, chế độ công an trị, roi vọt, giam cầm từ nửa thế kỷ nay, hà khắc hơn cả chế độ thuộc địa, khiến cho người dân phải cúi đầu chịu đựng, chấp nhận cái hèn, biết sợ để sống còn, những con người dũng cảm không hề hèn, thì phải chịu bao nỗi thiệt thòi.

-Cái hèn thứ hai là hèn vì lợi dục. Không ai kê súng vào đầu, không ai bắt buộc, dù không làm cũng chẳng sao, vì nó không cần thiết, bị dồn vào thế ép buộc phải làm.

Không ai bắt một ông bộ trưởng khi vào gặp tổng thống lúc quay ra phải đi giật lùi vì sợ thất lễ, để đến nổi phải vấp và làm bể cái đôn sứ. Cũng không ai bắt chúng ta xu thời, đổi đạo để đổi lấy địa vị chức tước. Cả hai chuyện này không cần phải làm vì không nguy hiểm đến mạng sống của con người, động lực chính chẳng qua chỉ vì chức tước, danh vọng, vì từ chức quyền danh vọng có thể đưa đến giàu sang, quyền lực. Người liêm sỉ không cần phải có chức vụ, quyền lực hay ơn mưa móc nên không cần phải cúi mình.

Trong thời loạn, nhiều kẻ hèn đã tự nguyện dâng vợ cho cấp trên, dắt gái cho cấp chỉ huy, tư cách như một tên “ma cô” để đổi lấy những ân sủng, mà chúng đã những không biết hổ thẹn, mà còn lấy làm hãnh diện vì những ơn mưa móc này.

Trong hoàn cảnh khó khăn tận cùng của đời giam cầm tù tội, cũng có những người tù chấp nhận số phận, nhưng cũng có những thằng hèn thủ đoạn, chịu hèn hạ để tố cáo đồng đội, ton hót bọn cai tù để thêm được một cái phiếu quà, được thêm giờ thăm nuôi hay được tin cậy trong những chức vụ nhằm khống chế, kiểm soát đồng đội. Ðó là hèn để mưu lợi lộc.

Một ca sĩ bỏ nước ra đi rồi trở về nước ca hát để kiếm tiền, đâu cần phải ca ngợi cái chính quyền của đất nước mà họ đã chối bỏ ngày trước, đó cũng là chuyện hèn vì lợi nhuận.

Tố Hữu cũng không cần phải khóc Staline như khóc ông nội hay ca tụng ông Hồ là cha già, nhưng Tố Hữu cũng cần dùng ngòi bút và cái lưỡi để tiến thân mà tiến thân vượt bực. Nhờ đó, dù sở học không bao nhiêu, Tố Hữu cũng lên đến chức phó thủ tướng đặc trách kinh tế (!)nên Việt Nam có một đồng bạc mà trên thế giới không ai có, đó là đồng bạc $30. Cái hèn của Tố Hữu trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm còn là sự ganh tỵ, đố kỵ với những người giỏi hơn mình, và muốn làm lãnh tụ văn nghệ vì thực tế tác phẩm của Tố Hữu chỉ là loại truyền đơn phục vụ cho tuyên truyền, không có giá trị lâu dài.

Ai đó đã nói một câu nghe thấm thía: “Muốn sống, muốn có lương thực thì ít nhất trong đời cũng phải có một bài thơ suy tôn bác!”

-Còn một cái hèn không biết xếp hạng vào đâu là cái hèn của bọn người mọi rợ. Trong cuộc tranh chấp đảo Ðiếu Ngư giữa Nhật và Trung Cộng vừa qua, dân Trung Cộng không những biểu tình đốt phá khu thương mãi của Nhật, đốt xe Nhật, họ còn bắt một con chó Nhật giống Akita, trói vào gốc cây đánh đập cho đến chết trước sự hoan hỷ của “quần chúng.” Không chơi nổi tàu chiến, máy bay, những dân hèn Trung Cộng này trút đòn thù lên đầu một con chó, chỉ vì đó là một con chó giống Nhật!

Còn “hèn với giặc, ác với dân!” thì ai cũng biết đó là thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay dưới sự chỉ đường của đảng cộng sản.

-Cuối cùng là cái hèn của người thắng trận. Cái hèn đáng nguyền rủa nhất là sự trả thù của người thắng trận. Câu chuyện trả thù này chúng tôi đã có dịp nói nhiều rồi. Câu nói “đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại” là một khẩu hiệu dối trá. Chúng ta thua trận nhưng chỉ tiếc là đã thua những con người dã man, hèn hạ nên nhân phẩm của chúng ta bị chà đạp, quyền sống của chúng ta bị tước đoạt nên để lại bao nhiêu khổ lụy cho gia đình khi chúng ta đang phải vào nhà tù. Không những trả thù những người khác trận tuyến, người cộng sản còn trả thù giai cấp bằng cách tước đoạt tài sản, và đày đọa những người giàu có hơn chúng vì lòng ganh tỵ, để cuối cùng tạo ra một giai cấp mới, thế chỗ, còn tham lam tàn độc hơn là chế độ tư sản cũ, bởi sự bóc lột được nâng đỡ, yểm trợ bằng quyền lực và súng đạn, nhà tù.

Khi người “bộ đội cụ Hồ” chỉ có một bộ áo quần, cái nón cối, đôi dép râu, cái “xắc cột” (sacoche), cái chén ăn cơm, đôi đũa, vợ con ở nhà có hợp tác xã lo, thì dễ nói chuyện lý tưởng. Bây giờ thắng trận, có tài sản có chức phận thì phải giữ.

“Thà mất nước, không thà mất đảng,” vì đảng chính là xôi thịt, nên dù bị chửi bới, xấu hổ cũng phải giữ rịt lấy đảng. Bỏ đảng là mất ghế. Những anh bỏ đảng đều là những người bị thất sủng, vô công rỗi nghề, không còn chức vụ, cái thẻ đảng chẳng còn giá trị, trả lại hay đốt đi cũng chẳng anh hùng gì! Chẳng thấy ai đang có chức quyền, nhà cao cửa rộng, mỗi tháng kiếm năm ba triệu đô la, con đang du học ngoại quốc, mà bỏ đảng?

Tôi cho biểu tượng về “cái hèn” của những con người cộng sản đang cầm vận mệnh đất nước Việt Nam hiện nay là ba con khỉ Mizaru, Kikazaru và Iwazaru bịt tai, bịt mắt, bịt miệng. Bịt tai để không nghe tiếng ta thán của trăm họ, bịt mắt để không thấy cảnh khổ của lê dân, bịt miệng để khỏi phải nói tiếng nói chính trực với giặc. Bịt miệng cũng đồng nghĩa với “ngậm miệng ăn tiền,” bất cố liêm sỉ.

Nhưng người dân Việt Nam đã bắt đầu dõng dạc lên tiếng, lắng nghe tiếng gọi của nước non và mở rõ mắt nhìn thấy bộ mặt thực của chế độ.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

'Cái nước mình nó thế!'

Nguyễn Hưng Quốc


Từ trên dưới 10 năm nay, một trong những câu nói cửa miệng của mọi người, đặc biệt giới trí thức, ở Việt Nam, chắc chắn là câu “Cái nước mình nó thế!” Nghe nói câu ấy xuất phát từ Hoàng Ngọc Hiến. Nhưng tôi không chắc. Tôi chỉ chắc một điều: mỗi lần nghe đề cập đến tình trạng bi đát, nhiễu nhương, trớ trêu và bất công ở Việt Nam, ai nấy đều buông một câu, thoạt nghe, có vẻ đầy ưu thời mẫn thế: “Cái nước mình nó thế!”

Đường xá càng lúc càng xuống cấp, ở đâu và lúc nào cũng kẹt xe, tai nạn giao thông thuộc loại đứng đầu thế giới ư? – Cái nước mình nó thế! Giáo dục càng lúc càng suy đồi, học trò đạo văn; thầy cô giáo cũng đạo văn; thi cử thì đầy gian lận, bằng cấp giả tràn lan ở mọi cấp ư? - Ừ, thì cái nước mình nó thế! Kinh tế càng lúc càng suy thoái, hết đại công ty này phá sản đến tập đoàn quốc doanh kia phá sản, nợ nần quốc gia cứ chồng chất ư? - Ừ, thì cái nước mình nó thế! Chính trị sa lầy trong bế tắc, đối với dân thì độc tài và tàn bạo; với nước ngoài thì hèn yếu và xu nịnh ư? - Ừ, thì cái nước mình nó thế!

Vân vân.

Câu nói ấy không phải không đúng. Nó đúng ở hai khía cạnh. Thứ nhất, trên thực tế, quả thật tình hình Việt Nam càng ngày càng bế tắc. Bế tắc một cách đặc biệt, không giống với bất cứ một nước bình thường nào khác. Bế tắc triền miên. Gỡ cái này thì vướng cái khác. Sửa cái sai này thì cái sai khác lại xuất hiện, có khi còn trầm trọng hơn. Thứ hai, về phương diện tâm lý, nó cũng phản ánh được tình trạng tuyệt vọng của mọi người. Người ta hiểu rõ tất cả bi kịch nhưng không biết cách nào thoát khỏi được bi kịch.

Tuy nhiên, ngay cả khi đúng về hai phương diện vừa kể, câu nói ấy vẫn sai.

Hơn nữa, sai một cách nguy hiểm.

Thứ nhất, nó là biểu hiện của tư tưởng định mệnh chủ nghĩa. Nó làm như mọi thứ đã được an bài, gắn liền với bản chất của người Việt Nam. Của dân tộc Việt Nam.

Nhưng chắc chắn sự thật không phải như vậy. Tất cả những cái dốt, cái ngu, cái tham, cái ác và cái vô liêm sỉ trong chế độ cũng như trong xã hội Việt Nam hiện nay không phải vì “cái nước mình nó thế”. Trong lịch sử, nước mình không thế. Ngày xưa, cả hàng ngàn năm, người Việt Nam đã từng bất khuất trước một nước Trung Hoa to lớn và hùng mạnh, hơn nữa, trước một nước Mông Cổ từng giẫm nát gần hết châu Á và một phần châu Âu. Ngày xưa, ngay cả dưới thời phong kiến, cha ông chúng ta cũng không phải chịu đựng nạn tham nhũng tràn lan như bây giờ. Chỉ cách đây hơn 40 năm, ở miền Nam, ngay cả trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, giáo dục cũng không suy đồi như bây giờ; sinh viên và giáo sư không ăn cắp văn chương của người khác một cách phổ biến như bây giờ; học trò không khinh thường thầy cô giáo như bây giờ. Ở miền Nam lúc trước cũng như cả thời Pháp thuộc, người bị bệnh, khi vào bệnh viện, không phải đút lót hết người này đến người khác, từ y công đến y tá và bác sĩ như bây giờ. Thời nào giới làm chính trị cũng nói dối, nhưng chưa bao giờ họ nói dối một cách trơ trẽn như bây giờ.

Xem cái dốt, cái ngu, cái tham, cái ác và cái vô liêm sỉ là bản chất của dân tộc Việt Nam rõ ràng là không đúng.

Mà thật ra, trên thế giới, không có dân tộc nào có bản chất như vậy cả. Những cái xấu như thế không có tính chất bẩm sinh. Chúng chỉ là những hiện tượng có tính chất lịch sử. Ngay cả một dân tộc vĩ đại như Nga hay Trung Quốc, bình thường vĩ đại, nhưng dưới chế độ độc tài, bỗng dưng thành dốt, ngu, tham, ác và vô liêm sỉ một cách lạ lùng. Nhiều quốc gia khác ở Tây phương, bình thường đầy nhân đạo, nhưng thời tư tưởng thực dân chủ nghĩa bành trướng, cũng trở thành tham và ác, dù không phải lúc nào họ cũng dốt, ngu và vô liêm sỉ.

Bởi vậy, câu “cái nước mình nó thế”, thật ra, là một câu nói vô nghĩa.

Nói “chế độ mình nó thế” thì được. Còn “nước mình nó thế” thì sai.

Thứ hai, gắn liền với chủ nghĩa định mệnh, câu nói ấy cũng mang tính đầu hàng chủ nghĩa. Trước mọi nghịch cảnh, chỉ cần buông câu “cái nước mình nó thế”, người ta dễ có cảm tưởng an tâm và chấp nhận những nghịch cảnh ngang trái ấy như một cái gì hiển nhiên, đương nhiên, không thể tránh thoát. Nó tiêu diệt mọi ý chí phản kháng, hơn nữa, mọi nỗ lực thay đổi. Nó tạo ra vẻ ưu thời mẫn thế giả. Nó đóng kín mọi lối ra. Thực chất, nó dễ trở thành một sự đồng loã với những cái dốt, cái ngu, cái tham, cái ác và cái vô liêm sỉ.

Nhà cầm quyền Việt Nam không cần một thái độ nào hơn cái thái độ ấy.

Bởi vậy, tôi nghĩ, người Việt Nam hiện nay nên tập nghĩ và tập nói: CÁI NƯỚC MÌNH NÓ KHÔNG THỂ NHƯ THẾ!

Không thể.

Nguyễn Hưng Quốc
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Hóa ra các bác bịp dân!

Tờ Quân đội nhân dân mới đăng bài “Không thể chấp nhận quan điểm Quốc gia hóa quân đội” của Trung tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Bình. Bác Bình viết bài này để phê phán quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, vốn đề nghị, quân đội phải trung lập, “phi chính trị hóa”, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng CSVN.

Trong bài, bác Bình nêu ra một số dẫn chứng để minh họa cho quan điểm của bác rồi kết luận: “phải đặc biệt coi trọng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội”. Đọc xong, tôi muốn thưa lại với bác vài điều:

1/

Bác có học hàm Phó Giáo sư, lại có học vị Tiến sĩ cho nên theo tôi, khi viết lách, bác cần phải nghiêm cẩn, trung thực, lập luận phải chặt chẽ, hợp lý. Có như thế mới giữ được thể diện cho chính bác và cho giới mang học hàm “giáo sư”, “phó giáo sư”, có học vị “tiến sĩ”, “cử nhân” được đào tạo từ các học viện, trường, chương trình chính trị. Tôi không hiểu hệ thống học viện, trường, chương trình chính trị đào tạo thế nào mà các cựu học viên cứ mở miệng ra nói, hoặc cầm bút lên viết là bị dân chửi té tát.

Hình như hệ thống học viện, trường, chương trình chính trị không dạy dỗ bác và các đồng môn của bác về phương pháp nghiên cứu, kỹ năng viết lách, phát biểu trước đám đông, thành ra các bác thường “ăn không nên đọi, nói không nên lời”, dân Nam bộ vẫn gọi là… “tệ hơn vợ thằng Đậu”.

Để bảo vệ quan điểm, “quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phải bảo vệ các lợi ích của Đảng” – vốn chẳng giống ai so với phần lớn các quốc gia đang tồn tại dưới gầm trời này, bác dẫn chuyện tỷ phú Erick Prince và công ty Blackwater Worldwide do ông ta sáng lập như một bằng chứng về chuyện quân đội nào cũng do “các ông trùm tư bản điều khiển và bảo vệ thể chế chính trị của xã hội tư bản”.

Tôi đã tra cứu rất kỹ và chưa tìm thấy tài liệu nào có nội dung giống như bác viết, rằng công ty Blackwater Worldwide của Erick Prince là một “đội quân đánh thuê”, “quân số hàng trăm ngàn, có cả máy bay, tàu chiến và vũ khí hạng nặng, được coi là lực lượng thiện chiến ở Áp-ga-ni-xtan, I-rắc và có khả năng lật đổ nhiều chính phủ trên thế giới”.

Theo Wikipedia thì Erick Prince thành lập Blackwater Worldwide sau khi xảy ra vụ diệt chủng ở Rwanda. Công ty này chỉ có chừng 1.000 nhân viên và là một trong ba công ty tư nhân chuyên cung cấp dịch vụ bảo vệ an ninh cho các cơ sở ngoại giao của Mỹ, ở bên ngoài nước Mỹ, như một giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí. Sở dĩ Blackwater Worldwide được chú ý, vì có vài thông tin cho rằng, nó có can dự vào kế hoạch chống khủng bố của CIA, mà ở Mỹ không phải ai cũng tán thành điều đó. Năm 2010, Erick Prince đã bán Blackwater Worldwide, đi làm cố vấn cho chương trình đào tạo chống cướp biển ở vịnh Aden.

Điều này cho thấy, tuy là một “Phó Giáo sư”, “Tiến sĩ” nhưng bác viết lách rất cẩu thả và rất khinh độc giả. Dân gian gọi kiểu viết lách, phát biểu này là “nói lấy được, viết lấy được” – loại hành vi vốn được xem là đặc trưng của hạng “vai u, thịt bắp”, “thiểu năng về trí tuệ”. Có người bỗ bã hơn thì huỵch toẹt: “Đầu óc ngu si, tứ chi phát triển” – thành ngữ này có thể là rất đúng với bác nhưng tôi không dùng vì nó không… nhã!

Không chỉ viết lách cẩu thả, khinh rẻ độc giả, lối viết lách của bác còn miệt thị cả đối tượng mà bác muốn bảo vệ. Tôi tự hỏi không biết tại sao, bác lại muốn biến công ty Blackwater Worldwide của Erick Prince thành “đội quân đánh thuê”, rồi dùng nó như một trong các dẫn chứng để bảo vệ quan điểm, quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và phải bảo vệ Đảng, không thể chấp nhận quan điểm “quốc gia hóa quân đội”?

Kiểu tư duy – lựa chọn dẫn chứng này nếu không cố ý thì cũng là vô tình đánh đồng, biến quân đội nhân dân Việt Nam thành một “đội quân đánh thuê” do Đảng điều khiển và chỉ biết bảo vệ lợi ích của Đảng. May mắn cho thiên hạ là bác chỉ học “chính trị” và kiếm cơm bằng công việc “lý luận”, bác mà “nhất định” học luật và “kiên quyết” làm luật sư thì thân chủ của bác, tội lẽ ra được hưởng án treo, nghe bác cãi xong, Tòa không tuyên “chung thân”, chắc cũng phán “tử hình” – cách ly vĩnh viễn khỏi xã hội!

Cũng với lối tư duy, dẫn chứng “lộn ngược” này, bác lôi Lenin và Liên Xô ra xài. Bác bảo, Lenin từng nói: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị – đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản…, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”. Bác nhận định: “Quân đội Liên Xô còn 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng do bị biến chất về chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc XHCN”.

Tình cảm, niềm tin của nhân dân Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết và nhân dân các quốc gia từng có “Nhà nước xã hội chủ nghĩa” đối với Lenin ra sao, hẳn là bác biết, chúng tôi cũng biết. Biết rồi, còn dẫn tư tưởng của ông ta ra để biện bạch làm gì, nhằm thuyết phục ai hở bác? Nếu bác vẫn còn sùng bái ông ta thì đó là quyền của bác, tôi không dám chỉ trích. Tuy nhiên, phê phán Mikhail Gorbachev (Tổng bí thư cuối cùng của Đảng Cộng sản Liên Xô), Yevgeny Shaposhnikov (Bộ trưởng Quốc phòng cuối cùng của Liên Xô), về chuyện họ thực thi “phi đảng hóa quân đội” thì không ổn. Họ là công dân Liên Xô, được ca ngợi vì đã hành xử theo nguyện vọng của nhân dân Liên Xô. Gorbachev và Shaposhnikov không thể hành xử như bác muốn, dùng “3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược” để “chiến đấu” với nhân dân của họ, “bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Phê phán như vậy là “can thiệp vào công việc nội bộ của chính quyền và nhân dân Liên Xô” đấy bác ạ!

Chưa kể, dẫn chuyện Liên Xô để cổ súy “phải đặc biệt coi trọng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội”, xem nó “có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội, liên quan trực tiếp đến sự sống còn của chế độ XHCN” – khác gì bác đang vun bồi, xiển dương cho ý tưởng dùng quân đội bắn vào dân để bảo vệ Đảng! Thật ra, kiểu nghĩ như bác không cá biệt, song tôi không quen bảo người khác phải nghĩ thế này, hành xử thế kia, thành ra, tôi chỉ đề nghị bác tham khảo lịch sử, tra cứu tài liệu, coi số phận của những kẻ từng nghĩ, từng làm như vậy sau đó thế nào. Đáng ngẫm lắm bác ạ!

2.

Bác Bình!

Tôi đã từng hân hạnh được tiếp xúc với một số vị mang học hàm “giáo sư”, “phó giáo sư”, có học vị “tiến sĩ”, “cử nhân” được đào tạo từ các học viện, trường, chương trình chính trị, nên không lạ gì chuyện sở học của họ chỉ khoanh tròn, gói gọn trong phạm vi “chủ nghĩa Mác – Lê nin” đã được “tóm tắt” (tôi muốn nhấn mạnh hai chữ “tóm tắt”) và “Lịch sử Đảng CSVN”. Bởi bác cũng xuất thân từ giới này, nên tôi tin bác không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên do các bác sùng bái Lenin, tôi mạo muội dùng một câu, mà người ta vẫn bảo là của ông ta để góp ý với các bác. Đó là: “Học, học nữa, học mãi”.

Đọc bài của bác, tôi có cảm giác sự kính trọng mà bác dành cho Lenin thật ra không cao, nên bác chưa bận tâm và chẳng muốn thực hành một trong những lời khuyên hết sức phổ biến, được cho là của Lenin về chuyện học. Tôi mạo muội đưa ra nhận xét như vậy vì bài viết của bác có vài chỗ cho thấy, ngay cả những sự kiện liên quan đến “Lịch sử Đảng CSVN” – vốn là “chuyên môn sâu” của bác – bác cũng… sai.

Để cổ súy cho quan điểm “quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và phải bảo vệ lợi ích của Đảng”, bác tuyên bố quan điểm đó là truyền thống mà Quân đội Nhân dân Việt Nam phải giữ, kèm theo dẫn chứng: “Tháng 5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký một số sắc lệnh quan trọng như Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL”.

Tôi chỉ mới tra cứu sơ sơ đã thấy, ba sắc lệnh mà bác trưng dẫn, chỉ có một được ký vào tháng 5 năm 1946. Hai sắc lệnh còn lại, một được ký trước đó hai tháng, một được ký sau đó một năm và cả ba không có điều, khoản nào đề cập đến chuyện “quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và phải bảo vệ lợi ích của Đảng”. Cụ thể: Sắc lệnh số 71/SL ngày 22 tháng 3 năm 1946, quy định chi tiết về biên chế và cấp số của Đại đoàn Quân đội Quốc gia Việt Nam. Sắc lệnh số 47/SL ngày 1 tháng 5 năm 1947, qui định về việc tổ chức Bộ Tổng chỉ huy. Sắc lệnh số 60/SL ngày 6 tháng 5 năm 1946, đổi tên Uỷ ban Kháng chiến toàn quốc thành Quân sự Uỷ viên hội.

Dẫn chứng mà sai tới mức như vậy thì… hết ý. À! Mà đây là sai sót hay cố tình bóp méo vậy bác?

Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất mà tôi muốn thảo luận với bác và nghe bác giải thích thêm đó là:

a/ Trong Hiến pháp 1946, Điều 1 khẳng định như vầy: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.

Sau Hiến pháp 1946, trong Hiến pháp 1959, ngoài việc khẳng định Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, Điều 8 của bản Hiến pháp này còn ghi: “Lực lượng vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là của nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn và an ninh của Tổ quốc, bảo vệ tự do, hạnh phúc và sự nghiệp lao động hoà bình của nhân dân”.

Theo các Hiến pháp đã dẫn thì rõ ràng, những tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam (Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân”, “Quân đội Quốc gia Việt Nam”, kể cả Quân đội Nhân dân Việt Nam sau 1954) đâu có chiến đấu vì lợi ích của Đảng?

Đả kích quan điểm “Quân đội chỉ trung thành với Hiến pháp” như bác vừa viết thì hóa ra Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 là giấy lộn à bác?

Nếu thật sự các bác xem Hiến pháp chỉ như một mớ giấy lộn thì các bác còn tổ chức trưng cầu ý kiến về việc sửa đổi Hiến pháp hiện hành làm chi?

b/ Cho dù bác thừa nhận, trong quá khứ, “Quân đội nhân dân Việt Nam” đã từng là “Quân đội Quốc gia Việt Nam” – một tổ chức bao gồm thành viên của nhiều đảng phái và người không đảng phái, cùng chiến đấu cho độc lập của tổ quốc và tự do của dân tộc, tuy nhiên, để biện bạch cho quan điểm: “Quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị”, đả phá đề nghị “quốc gia hóa” quân đội, bác giải thích sự khác biệt giữa các bản Hiến pháp ngày xưa và thực tế hiện nay như vầy: “Điều này thể hiện sâu sắc bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kiên định nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo về sách lược để lãnh đạo dân tộc vượt qua hiểm nguy, giành thắng lợi vẻ vang”.

Khen như thế còn độc địa, nham hiểm hơn là chửi đó bác!

Cứ như bác viết thì chẳng lẽ “Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh” dùng Hiến pháp để bịp mọi người? Lúc chưa nắm chặt được chính quyền thì bảo rằng, Việt Nam sẽ là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo. Lực lượng vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là của nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn và an ninh của Tổ quốc, bảo vệ tự do, hạnh phúc và sự nghiệp lao động hoà bình của nhân dân. Còn khi đã trở thành tổ chức chính trị duy nhất lãnh đạo toàn diện thì trở mặt, khẳng định: “Quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị”!

Có thể khi đào tạo các bác, hệ thống các học viện, trường, chương trình chính trị khen việc dẫn dụ người khác làm theo ý mình để trục lợi, bất kể luân thường, đạo lý là “bản lĩnh”, trí tuệ”, “vừa kiên định nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo về sách lược” để “giành thắng lợi vẻ vang” nhưng thiên hạ không khen thế đâu bác Bình ạ! Họ gọi đó là “tráo trở”, “bịp bợm”, “lừa đảo”, “lưu manh”.

Lenin đã nhắc rồi, phải “học, học nữa” may ra mới gạt được vài người bác Bình ạ!

Nguồn: Dong Phung Viet
huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »

Image

Câu chúc "Happy Holidays!"
Tứ Lang

Bạn văn Phương Duy ở San Jose thắc mắc, không biết tự bao giờ, câu chúc tụng “Merry Christmas and A Happy New Year” trên cửa miệng, trên thiệp Giáng sinh và trong bài hát, đã biến thành “Happy holidays” ở xã hội Âu Mỹ.

Tục lệ, ngôn ngữ và luôn cả đời sống, là một dòng biến thiên. Không phải chỉ có chuyện “Christmas” mà ở nhiều nơi, ngay cả mười điều răn, cây Noel, Santa Claus có màu sắc tôn giáo và ngay cả lễ hội Hallowe’en có tính cách văn hoá, cũng đã bị dời khỏi một số các địa điểm công cộng hay trường học, vì ba lý do: tôn giáo, xã hội và chính trị. Tôi không khỏi nghĩ ngợi về hiện tượng nhường nhịn đó.

Trước hết, tôi tin rằng Thiên chúa giáo là tôn giáo tiến bộ nhất trong số các tôn giáo độc thần. Tín hữu Thiên chúa giáo ngày nay biết sống dung hoà với các nguồn văn hoá và tín ngưỡng khác họ. Sống trong một quốc gia đa văn hoá như Gia-nã-đại hay “melting pot” như Hoa kỳ, dần dà họ nghiệm ra, chúc một tín đồ Do Thái giáo hay Hồi giáo “Merry Christmas” thì chả ăn nhập vào đâu cả. “Vui vẻ” đâu chẳng thấy mà đôi khi người ta còn sầm mặt lại, khó chịu, mặc dù cả ba đạo này cùng chịu ảnh hưởng của Cựu ước.

Về mặt xã hội, với làn sóng di dân rất cao, tín đồ của các đạo sống chung đụng trong xã hội ngày càng gần gũi, dù muốn dù không, mọi người dần dà tự ý tìm cách mài giũa bớt các góc cạnh để tránh va chạm.

Về chính trị, người ta có khuynh hướng tránh sự bất hợp cách về chính trị (polical incorrect), ngừa bớt những gì có thể tạo ra xung động.

Từ đó ba điểm vừa nêu, xã hội này đã trải qua nhiều sự thay đổi trong cách thờ phượng và biểu trưng tôn giáo. Câu chúc “Happy holidays” xuất hiện trong hoàn cảnh đó và đôi khi xảy ra những chuyện nho nhỏ, tức cười.

“Merry Christmas” đôi khi không tiện dụng, nhưng “Happy holidays” thì chả đụng chạm tới ai, vì tín đồ các đạo khác chẳng ai nỡ từ chối ngày lễ đó mà không chịu nghỉ.

Có lần tới nhà băng trong dịp gần lễ, tôi chúc cô thư ký ngân hàng “Happy holidays” vì thấy cô choàng khăn Muslim trên đầu, và cô vui vẻ lễ phép chúc lại “Merry Christmas.”

Tôi tự xếp mình vào hàng phật tử (dù chỉ tới chùa khi có đám ma), nhưng ai chúc tôi “Merry Christmas” thì tôi cười toe chúc lại y như vậy, không mảy may vướng bận tâm trí.

Tôi có hơi thắc mắc, tín đồ Hồi giáo ở Gia-nã-đại mở miệng chúc người khác “Merry Christmas” thì không sao, nhưng nếu ở nước họ, nhất là A-phú-hãn, Iran,.. dám sinh ra chuyện lớn chứ chẳng chơi. Nội cái việc đã che không kín mặt lại còn hơn hớn cười với người khác phái, dám bị lôi ra ném đá không chừng!

Nhưng điều mà tôi cảm thấy phiền muộn và vương vấn trong lòng là vụ ông toà Marvin Shood ở tiểu bang Georgia ra lệnh tháo bỏ tấm vải thêu mười điều răn của đạo Chúa treo ở Pháp đường Atlanta, rồi Tối cao pháp viện Mỹ cho tháo gỡ 10 điều răn treo ở Pháp đường Kentucky, rồi vụ toà thị chính Toronto có lần định bỏ tục dựng cây Giáng sinh, rồi tới các trường học ở đó bỏ hẳn lễ hội Hallowe’en.

Tại sao lại phải như vậy? Trước khi làm đơn xin di dân tới Gia-nã-đại hay Hoa-kỳ, người ta đã biết đấy là các quốc gia Thiên chúa giáo. Nhập gia tuỳ tục, thì hát quốc ca Gia-nã-đại xưng là “son of Thy” (con Chúa), và tiêu giấy bạc Mỹ in hàng chữ “In God we trust” là lý đương nhiên. Nhập gia tuỳ tục, đi ngang cửa thấp thì phải cúi đầu.

Khách không phàn nàn mà chủ nhà tự phá bỏ tục lệ là điều quá đáng.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ngày tận thế đã qua
Tạp ghi Huy Phương
Thế là ngày 21 tháng 12 năm 2012 đã đi qua, trong khi trái đất vẫn bình an. Sáng nay, ngoài đường chiếc xe đổ rác vừa chạy qua, người phát thư mới dừng lại trước cổng nhà. Tin tận thế đã loan truyền từ lâu, nhưng không ai hồi hộp đợi chờ vì người ta không còn tin tưởng ở những lời sấm ký, tiên đoán nữa. Có ăn mừng khi ngày tận thế đã không xảy ra, cũng chỉ là cái cớ để vui chơi, chứ không phải sự mừng rỡ thật sự như khi một người vừa thoát nạn sau một vụ đắm thuyền ngoài biển khơi hay như người du khách ở Phuket, Thái Lan, được sống sót qua trận sóng thần năm 2004.

Tôi nghĩ là không ai tin rằng ngày 21 tháng 12 năm nay là ngày tận thế, bằng chứng là vào chiều ngày trước đó, ngày 20, tại phòng mạch, ông bác sĩ đã cố gắng nán lại khám cho xong người bệnh cuối cùng hay nhà hàng bán tức ăn “to go” ráng vét món canh trong cái chậu nhôm bán cho khách để lấy thêm đồng bạc, trước khi đóng cửa. Ở Las Vegas, du khách vẫn đông như mọi ngày và chuyến xe buýt chở khách lên sòng bài hôm nay cũng không vắng người.

Không ai lo sợ mà cũng chẳng ai hối hả về tin ngày mai trái đất sẽ nổ tung và mọi người trở thành cát bụi. Không có tuổi trẻ mà chẳng có tuổi già, không có nhan sắc mà cũng không có tình dục, không có giàu mà cũng không có nghèo, không có hạnh phúc mà cũng chẳng hề có đau khổ, không có ngày cũng chẳng có đêm. Mọi sự đều tan biến, tưởng chừng như chưa bao giờ hiện hữu, như chúng ta chưa bao giờ tới nên cũng chẳng có ngày ra đi.

Thế giới đã có những ngày mà sự việc xảy ra như ngày tận thế, nếu người ta định nghĩa tận thế tương tự những điều có thể xảy ra ở trên. Ðối với cư dân Hiroshima và Nagasaki, Nhật, thì hai quả bom nguyên tử được Mỹ ném xuống ngày 9 và ngày 12 tháng 8 năm 1945, tàn phá nơi này thành bình địa, giết hơn 200 nghìn người quả là một ngày tận thế đối với họ.

Sức tàn phá lớn gấp nhiều lần một quả bom nguyên tử như thế, người ta đã nói đến thảm họa sóng thần vào Sumatra một ngày sau Giáng Sinh năm 2004, thực sự gấp đôi nguồn năng lượng bùng nổ trong Chiến Tranh Thế Giới thứ II, bao gồm cả hai quả bom nguyên tử. Tính riêng cường độ và nguồn năng lượng của riêng trận động đất gây ra, ước tính đã phải xấp xỉ khoảng 23,000 quả bom nguyên tử ở Hiroshima.

Thảm khốc hơn thế nữa, trận đói xảy ra ở Bengal, Ấn Ðộ, năm 1770, làm chết 10 triệu người, lụt ở Trung Quốc năm 1931 giết gần 4 triệu người, cơn lụt năm 1887 của riêng con sông Hoàng Hà đã giết gần 2 triệu người. Và mới đây thôi, tai họa của cơn sóng thần ngày 11 tháng 3 năm 2011 tại Nhật làm thiệt mạng gần 20 nghìn người.

Ðó không phải là hình ảnh của tận thế hay sao?

Nhưng bản tính con người vẫn mau quên. Khi kề cận với cái chết, người ta có những suy nghĩ khác, nhưng sau khi sống sót, người ta trở lại với tính tình cố hữu của mình. Có bao nhiêu người thập tử nhất sinh trên đường vượt biển, khi cái chết chỉ trong gang tấc, họ cầu nguyện những gì, mong mỏi những gì, nhưng sau đó, khi đã đặt chân được đất liền, không còn đói khát, hết đối mặt với sự hãi hùng, con người trở lại tầm thường, cũng chẳng hiền lành, đạo đức hơn được chút nào.

Vì thật sự, chắc chắn, ngày mai là ngày tận thế, trái đất hoàn toàn bị hủy diệt, tất cả chỉ còn là những dúm tro rải rác trong không gian rộng lớn, vô tận này, thì hôm nay con người đã có suy nghĩ và hành động khác hẳn rồi.

Nếu ngày mai đã là ngày tận thế, hôm nay chúng ta vẫn còn chăm chỉ nhặt nhạnh thêm vài đồng bạc cuối cùng để làm gì? Nếu ngày mai là ngày tận thế, hôm nay đâu cần phải nói ra một cay đắng với nhau?

Nhưng con người không phải ai cũng giống ai.

Có người nói nếu có ngày tận thế, chỉ mong được nắm tay một ai đó vào thời điểm ấy, và trước khi nhắm mắt thì chỉ cầu mong được ai đó hôn một nụ hôn cuối, được nghe ai đó nói là yêu mình. Một người khác thì nghĩ nên làm những việc gì mình chưa làm, nên nói những gì mình chưa nói, nên yêu đi nếu chưa yêu.

Có nhiều người đi mua cho gia đình một chiếc hầm trú ẩn cho ngày tận thế, sẽ được chôn sâu dưới đất giá $75,000. Trên trái đất này có hàng tỷ tỷ người thì nhà sản xuất chỉ bán ra mỗi ngày được một cái, nghĩa là con người ít có ai tin rằng ngày mai sẽ là ngày cuối cùng của mình. Trong khi có người muốn dành những giờ phút cuối cùng để cầu nguyện thì cũng có những người muốn lên giường ngủ với người khác phái lần cuối trước khi ngày tận thế ập đến. Có cô gái kêu lên: “Tôi chưa muốn tận thế vì tôi chưa có chồng!”

Tôi cũng không nghĩ là sống sót sau ngày tận thế là hạnh phúc! Cứ tưởng tượng một mình đi giữa cảnh hoang tàn, không thức ăn, nước uống, không có gia đình, bạn bè, thân quyến, không cả một đồng loại, không, cả tiếng chim kêu hay tiếng một con chó sủa... thì sống như vậy cũng như đã chết. Trịnh Công Sơn chỉ mới thấy rừng thay lá, đã gọi hãy yêu nhau đi, huống gì ngày mai đã là ngày cuối cùng của nhân loại! Chúng tôi xin nhắc lại một câu nói các bạn đã nghe nhiều lần: “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương.” (Kahlil Gibran)

Nếu ngày mai tận thế, tối hôm nay gia đình chúng ta sẽ quây quần ôm lấy nhau, nghĩ đến những người đã khuất, mong đợi những người ở xa chưa về, và nghĩ rằng từ cát bụi chúng ta sẽ trở về cát bụi, cũng chẳng có chi để tiếc nuối, và nhận ra, cuối cùng trên cuộc đời phù du này, tiền tài, danh vọng chẳng là gì cả!

Vậy là ngày tận thế đã qua! Cuộc đời không chỉ những cho chúng ta thêm một ngày mà còn thêm nhiều ngày để sống yêu thương. Phải chi ngày mai chắc chắn là ngày tận thế, để hôm nay người ta sống với nhau đàng hoàng, tử tế hơn, và tôi sẵn sàng tha thứ cho ai đó đã ném những viên đá thù hận, ganh ghét vào tôi hôm qua!

Nhưng ngày tận thế đã qua rồi! Tất cả cần phải xem xét, suy nghĩ lại!

Khổ quá, tôi cũng chỉ là một con người tầm thường thôi!
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Hương khói cho các ông
Tạp ghi Quỳnh Giao
Sau Giáng Sinh và Tết Tây, khi gỡ bóng đèn và kéo cây thông ra vỉa hè, những người chân yếu tay mềm chúng ta bỗng lại thấy thương các ông. Vì việc tháo gỡ ấy là phần vụ nặng nhọc của phái khỏe. Ðấy là lúc ta động lòng từ tâm và thấy ái ngại cho phe bên kia! Vì thế, nhân dịp đầu năm mới, mình cũng nên thả xuống cho họ một đóa hoa thơm.

Là nghệ thuật đi tìm nước hoa.

Từ nguyên thủy, chữ nước hoa hay dầu thơm là dịch từ “perfume” hay “parfum” của Âu Châu. Mà chữ đó là đọc trại từ “hương khói” của tiếng La Tinh. Thời thượng cổ, người ta đốt hương thơm để dâng thần linh, và thực hiện việc tế lễ ấy là phần vụ của các thánh nữ hay thiếu nữ tinh khiết. Sau cùng thì hình như họ qua mặt các pháp sư mà tìm lấy hương thơm cho mình! Lại còn đòi các ông hì hục pha chế để phục vụ phái đẹp. Lâu lâu mà mình có giúp các ông đi tìm mùi hương thích hợp thì cũng chỉ là sự công bằng.

Ngày nay, khi các ông cũng cắt mắt sửa cằm thì nếu có nói đến nước hoa cho nam giới thì chắc là không thừa. Thà như vậy còn hơn là để các ông tìm lấy và đem về nhà mùi “nước hoa thợ cạo” thì mình lại mất công mở cửa và bật quạt để xua khí độc ra ngoài.

Theo lẽ thường, các ông thường không thích nước hoa vì sợ đi vào vết xe đổ của người áo khăn dịu dàng trong Truyện Kiều, nhưng thật ra thì ông nào cũng muốn có xà phòng thơm và chút dầu bôi lên má sau khi cạo râu. Họ chống chế rằng đấy là “after shave” chứ không phải là dầu thơm!

Hãy thông cảm cho họ vì nhiều khi muốn tìm dầu thơm để xức thì cũng chẳng biết tìm ở đâu và xức mùi gì thì hợp. Ði làm công việc ba cọc ba đồng mà cứ tỏa hương thơm như các cô thanh tân yểu điệu thì ai cũng ớn, nhất là thượng cấp trong sở.

Nhưng nếu mình xài một chút hương thơm thoang thoảng và nhất là khi tham dự tiệc tùng ở ngoài thì cũng chẳng phiền ai, mà còn làm nổi cá tính hay phong cách của mình.

Việc đầu tiên xin can các nếu các ông chưa biết mình muốn gì và hợp với mùi gì thì đừng tìm mua trên Internet. Trên bàn nhậu, các ông có thể biết rõ về loại rượu thích hợp và nếu là rượu chát thì còn có thể tìm ra cách tính điểm để mua những chai không dở. Nước hoa lại khác.

Ðó là chất cồn pha với nhiều loại dầu thơm để gây phản ứng hóa học trên da thịt mà thành nhiều mùi hương khác nhau. Những mùi thơm này lần lượt tỏa theo nhiều bậc trước sau, y như hương và vị của rượu chát, nhưng lại tùy thuộc vào da thịt của từng người. Cùng một chai nước hoa ấy có thể lại đưa tới mùi thơm khác nếu là người nhễ nhại mồ hôi dầu...

Vì thế, nếu chưa biết hoặc chưa chọn được mùi thích hợp thì xin đừng mạo hiểm lên Internet mà phải... theo các bà các cô vào tiệm.

Vào trong tiệm, như Macy's hay Nordstrom, hãy chịu khó tìm vào các hãng nổi tiếng nhất, chỉ vì họ có nhiều loại khác nhau cho mình chọn. Mà chọn thế nào đây khi cô bán hàng dịu dàng hỏi trước sự bẽn lẽn của ông khách đang muốn ra dáng hào hoa?

Tất cả là tùy cá tính và sở thích của các ông.

Ðại loại thì dầu thơm cho các ông có một số mùi đặc thù, như mùi da thuộc khá cổ điển, hoặc mùi chanh xả vùng nhiệt đới, hay mùi thuốc lá, hồ tiêu và rong rêu của người muốn ra vẻ hào hùng bạt mạng. Dầu thơm của Mỹ thì còn khác Âu Châu ở vị ngọt và hơi hắc... Nhưng đấy là danh mục chung, chứ với mỗi người thì phản ứng hóa học lại mỗi khác, từ giây phút đầu cho đến lúc dầu thấm vào da và tỏa ra một mùi căn cốt sẽ tồn tại lâu nhất trên cơ thể.

Vì thế, hãy kiên nhẫn khi thử và đừng dại gì mà học các bà là phả mùi thơm trên mẩu giấy rồi phất phất cho gió thoảng hương bay. Xin thử ngay trên cánh tay và dưới vành tai. Hãy bơm một chút nước hoa vào đó rồi... ra khỏi tiệm. Hoặc theo các bà cầm bị qua cửa hàng khác, càng xa và càng lâu thì càng hay. Hãy nghĩ đến cả giờ!

Vì đấy là lúc mình phảng phất thấy hương thơm thật sự của nước hoa trên da thịt khi những nồng nàn ban đầu đã phai dần. Tình yêu phải tồn tại với thời gian, nước hoa cũng vậy! Không chỉ là qua cái chớp mắt đầu tiên đã thấy tâm đầu ý hợp mà phải lâu bền hơn thế...

Như vậy, mỗi lần đi thì chỉ thử được một hai mùi, nếu trong tiệm có sẵn những mẫu nhỏ cho ta thử. Và đừng than là mất công, vì nhân dịp mình còn có cơ hội xách bị đi hầu người đẹp. Ðấy mới là phần vụ thiêng liêng nhất.

Khi đã ưng ý sau vài ba lần thử, hãy chỉ mua cái chai nhỏ nhất. Vài tháng sau mình mới thấy là đúng mùi và đáng tiền hay không, để từ đấy sẽ thành người chung thủy với mùi hương, do nàng đi chọn cho mình...
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Bệnh thắng cuộc
Trần Văn Giang

“The only good communist is a DEAD communist.”
(Cold War Quote)

“Bên nào thắng cuộc?”

Một cuộc chiến tranh, theo đúng nghĩa, chỉ được xem là thực sự chấm dứt, có bên thắng và bên thua khi một bên không còn đánh (fight) được nữa; hay ít ra những nỗ lực, những cố gắng tiếp tục đánh của một bên hoàn toàn không còn nữa (no longer exists).

Trong cuộc chiến chống cộng ở Việt Nam, mặc dù về mặt quân sự tiếng súng đã im từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng các nỗ lực chiến đấu của người Quốc gia trên nhiều địa bàn phi quân sự khác như chính trị, ngoại giao, văn hóa , kinh tế… không (chưa) hề có một dấu hiệu nào để khả dĩ gọi là đã “ngừng” lại. Thực tế, sự chiến đấu phi quân sự liên tục này của phe Quốc gia mỗi lúc thấy càng mạnh mẽ, qui mô, công khai hơn là đàng khác.

Tôi xin kể ra ở đây một vài thí dụ thắng-bại điển hình. Công luận thế giới đồng ý là năm 1945, đồng minh đã thắng Nhật và Đức quốc xã trong trận thế chiến thứ 2 bởi vì Nhật và Đức ngoài việc buông súng đầu hàng, đồng loạt ngừng tất cả những hình thức chống đối, bên thua cuộc, dân Nhật và dân Đức, còn sáng suốt, can đảm xin hợp tác và đón nhận sự giúp đỡ của bên thắng cuộc trong công cuộc canh tân đất nước họ từ đống tro tàn thành đại cường quốc. Kế đến, Bắc quân Mỹ thắng Nam quân trận nội chiến 1861-1865. Cuộc nội chiến đẫm máu đã làm cho hơn 750 ngàn lính của 2 phe bị chết, kết thúc bởi tướng Robert Lee của Nam quân chính thức đầu hàng tướng Ulysses Grant của Bắc quân vào ngày 9 tháng 4 năm 1865. Sự chiến thắng của Bắc quân trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ này cũng cũng có thể so sánh với sự chiến thắng của quân đội đồng minh năm 1945. Bên thắng cuộc và bên thua cuộc đã được nhận diện rõ ràng. Sau các trận chiến, thế giới văn minh không hề có các đòn thù man rợ áp dụng cho bên thua cuộc.

Trường hợp chiến tranh Quốc-Cộng ở Việt Nam thì hoàn toàn khác hẳn. Tiếng súng đã ngưng 37 năm, nhưng sự chiến đấu của phe VNCH vẫn mỗi ngày mỗi mạnh mẽ thêm làm cho phe cs mặc dù đã vội vàng tự nhận mình là “bên thắng cuộc” phải lo sốt vó… Một ngày rất gần, đám lãnh đạo csvn sẽ lại phải theo chân Thoát Hoan tìm ống đồng để chui; hoặc Gaddafi tìm một ống cống để kết thúc cuộc đời một cách nhục nhã…
“Giải phóng cái gì?”
Động từ “Giải phóng” theo tự điển tiếng Việt phổ thông có nghĩa là:
1- Làm cho được tự do, cho thoát khỏi tình trạng bị nô dịch, chiếm đóng.
Thí dụ: Giải phóng thủ đô. Đất nước được hoàn toàn giải phóng.
2- Làm cho được tự do, cho thoát khỏi địa vị nô lệ hoặc tình trạng bị áp bức, kiềm chế, ràng buộc.

Thí dụ: Giải phóng nô lệ.

Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, cs đã làm thay đổi ý nghĩa của hai chữ “giải phóng.” (và còn nhiều chữ khác mà cs gần như dành lấy làm của riêng như “nhân dân,” “tổ quốc.” “nhà nước, “ cán bộ,” “công an…”) Cs lạm dụng, “hấp diêm,” biến chữ “giải phóng” trở thành các nghịch lý trơ trẽn, hoàn toàn trống rỗng vô nghĩa. Thành ra khi nghe cs nói phải trái về vấn đề gì, chúng ta chỉ cần suy nghĩ ngược lại 180 độ là có phần đúng đến 99 phần trăm…

Ngay trong lời giới thiệu của cuốn sách “Bên thắng cuộc,” ông Huy Đức đã viết:

“Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc.”

Như vậy 3 chữ “Bên thắng cuộc” đã có hàm ý một sự mâu thuẫn, một sự mỉa mai: nói vậy mà không phải như vậy đâu. Hãy mở mắt ra là vừa, nếu đã bị đóng kín từ trước tới giờ..

Năm 1954, kết quả cs giải phóng miền Bắc là một triệu người miền Bắc phải di cư và miền Nam để tránh nạn cộng sản. Năm 1975, kết quả giải phóng miền Nam là có gần 3 triệu người dân Việt phải bỏ nước đi tị nạn cộng sản ở các nước trên thế giới, bất kể là nước nào… Các cuộc bỏ phiếu bằng chân vĩ đại này đã là bằng chứng sống giải thích rất thỏa đáng chữ “giải phóng” lập lờ của cs.

Cs chỉ dùng đúng nghĩa của chữ “giải phóng” khi cs đã tàn nhẫn “giải phóng” bao nhiêu sinh mạng đồng chủng chỉ vì họ không đồng ý hoặc ít ra không có ý kiến gì về cái thuyết khát máu cs.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam cận đại, trong công cuộc tàn hại vô bờ bến gọi là “giải phóng,” cs đã “cướp” đi những con người giỏi nhất, lương thiện nhất, dũng cảm nhất của đất nước. Công cuộc “giải phóng” của cs đã làm cho cả một dân tộc bị bại trận chứ không phải chỉ riêng dân miền Nam và vài ba triệu dân tị nạn cs.

“Đánh Mỹ cứu nước nào?”

Mỹ không hề chính thức công nhận là họ thua ở Việt Nam. Theo họ, trong bàn cờ lớn thế giới, Mỹ chỉ bỏ một cuộc chiến mà họ thấy không còn cần thiết nữa. Trên phương diện quân sự, bên thua trận phải lâm vào một hay cả 2 trường hợp sau: Một là quân đội phải tan rã; Hai là không còn đủ khả năng để tài trợ (funding) cho một lực lượng quân sự chống đối. Cả hai lý do này đều hoàn toàn không áp dụng được cho Hoa kỳ. Hoa kỳ vẫn có một lực lượng quân sự lớn mạnh nhất hoàn cầu và họ thừa khả năng viện trợ quân sự cho nhiều nước, nhiều mặt trận khác nhau cùng một lúc trên thế giới như Nam hàn, Ai cập, Iraq, Pakistan, Afghanistan…

Nhìn lại “bên thắng cuộc” vi-xi hôm nay. Vi-xi mỗi ngày càng tỏ vẻ mà chẳng cần dấu diếm úp mở là cs muốn đến gần Mỹ hơn là Mỹ muốn đến gần vi-xi. Mặt khác, Mỹ lại càng làm tàng, cóc thèm đếm xỉa gì đến anh vi-xi trông rất xấu xí, buồn cười, đang “nhiệt liệt” tự sướng 24/7 cả ngày lẫn đêm. Đến giờ phút đang tụt hậu thê thảm hôm nay - đứng sau Singapore 97 năm - mà vẫn còn ráng ra rả “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam anh hùng” thì người nước ngoài họ tưởng cs bị khùng.

Nhìn lại lịch sử toàn cầu từ thế chiến thứ 2 đến nay xem Mỹ có chiếm lấy một tấc đất nào của các quốc gia trên thế giới mà họ đặt chân đến hay không mà cs bảo “nhân dân” phải hy sinh tận mạng chống giặc Mỹ cướp nước? Trong khi Trung công chưa kịp cướp thì csvn đã kính cẩn dâng đất, biển, đảo rồi còn lấy đâu ra mà cứu “lước”? Lê Duẩn đã từng công khai tuyên bố là “đánh Mỹ là đánh cho Liên sô và Trung quốc.” Còn việc “cứu nước” là chỉ một sự lừa phỉnh lấy thúng úp voi. Bây giờ không còn có Mỹ để đành vậy mà nước vẫn còn tệ hơn bao giờ hết… không cứu vãn được. Cứu làm sao được khi tập đoàn cs vẫn còn “cướp” chính quyền.

Thật buồn, thật khó hiểu khi thấy cả môt dân tộc cứ tiếp tục oằn oại chấp nhận một chính sách cai trị cs man rợ, dốt nát, ngang ngược, lếu láo. Có lẽ theo chu kỳ tuần hoàn của trời đất, vận nước chắc đã đến lúc phải thật mạt rồi mới lại ngóc lên được.

Tóm lại, bàn ra tán vào mãi về cuốn sách “Bên thắng cuộc” cũng chẳng tìm được ra cái giải rút gì. Sau bao năm “giải phóng,” “Bên thắng cuộc” với những chính sách từ “đổi mới” đến kinh tế thị trường định hướng XHCN…” vẫn chưa tạo được một tiến bộ, một xây dựng nào cho cuộc sống của người dân nghèo – cs không ngượng mồm gọi họ là “thành đồng cách mạng” - Những cái chúng ta nhìn thấy hôm nay chỉ là sự sa sút tột bực của giáo dục, văn hóa, xã hội, kinh tế… trong nước.

Tôi đề nghị là tựa cuốn sách nên được đổi thành “Bên thua cuộc” để các cụ không thích nó có lỡ phải vất vào thùng rác thì cũng đỡ làm bẩn cái thùng rác. Tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với cái nhận định về cs ở thời chiến tranh lạnh (Cold War): “Chỉ có những tên cs chết rồi mới là cộng sản tốt.” (“The only good communist is a DEAD communist.”) bởi vì nói như vậy thì phải xem các trùm cs khát máu đã chết rồi như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Hồ Chí Minh. Lê Duẩn.. là người tốt hay sao? Theo như ý tôi, câu nói này nên sửa lại cho thích hợp là: “Dù sống hay chết, những tên cộng sản đều thối hoắc như nhau.” (No matter alive or dead, all communists stink).

Bây giờ, tôi xin mượn lời của một ông bạn thân của tôi để kết thúc bài này:

“Một khi đã là vi-xi thì sẽ mãi mãi muôn đời sẽ là vi-xi. Chớ vội vàng mà tin bọn vi-xi này. Thấy quan tài rồi hãy đổ lệ cũng không bao giờ muộn.”

Trần Văn Giang
Ngày 10 tháng 1 năm 2013.
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Image

Ủy ban Bảo vệ ký giả lên tiếng về vụ xâm phạm blogger ở Việt Nam

VOA Tiếng Việt
08.01.2013
Cơ quan bảo vệ nhà báo trên toàn thế giới mới lên tiếng trường hợp của blogger Nguyễn Hoàng Vi về việc cô cho là ‘bắt giữ tùy tiện, tra tấn và làm nhục công dân’.

Tổ chức có trụ sở ở New York cho rằng vụ làm nhục blogger này một lần nữa cho thấy sự đàn áp của giới hữu trách Việt Nam đối với các blogger.

Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) dẫn lời kể của Hoàng Vi trên trang Dân Làm Báo, nói rằng cô đã bị cảnh sát ‘đánh đập, bắt cởi bỏ quần áo và xâm phạm chỗ kín’.

Trong đơn tố cáo đề ngày 4/1, Hoàng Vi cho biết vụ việc xảy ra hôm 28/12/2012, đúng ngày diễn ra phiên xử phúc thẩm 3 blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Anh Ba Sài Gòn.


Họ hành động như là những thành phần vô học thì làm sao trong đồn công an mình có thể có bằng chứng được. Em chỉ có thể nói sự thật thôi, tố cáo đúng sự thật thôi còn vấn đề họ giải quyết như thế nào là chuyện của họ...

Cô viết cô bị đưa về đồn công an phường Nguyễn Cư Trinh thuộc quận 1 ở TPHCM và cô bị ‘cướp mất 2 cái điện thoại, toàn bộ giấy tờ tùy thân, tiền bạc và bị đánh đập rất dã man’.

Cô cũng cho biết cô bị một nữ nhân viên an ninh mặc thường phục ‘bắt phải cởi hết quần áo để khám xét mà không có bát cứ lệnh nào’.

Trên các trang blog mới đây xuất hiện một bức ảnh được cho là ảnh Hoàng Vi mặc áo khoác ngược và để hở đầu gối.

Cô Hoàng Vi kể lại với VOA Việt Ngữ:

"Khi mà họ cưỡng chế, họ cởi đồ em ra như vậy thì em không cho họ mặc đồ lại. Em nói với họ rằng cởi đồ của em ra đã khó nhưng mà muốn mặc đồ lại cho em khó hơn. Khi họ mặc đồ lại thì hoàn toàn em không đồng ý và họ cưỡng chế họ mặc lại được cho em cái quần và họ không mặc áo được thì họ phải cưỡng chế lắm thì họ mới khoác được áo khoác và kéo ngược lên cho em như vậy. Em để nguyên tình trạng như vậy đi về. Khi mà về tới nhà thờ thì vô tình gặp chị Hằng (Bùi Thị Minh Hằng) chị cũng đi công việc qua nhà thờ và chị thấy như vậy thì chị chụp lại cái hình đó cho em."

Blogger Nguyễn Hoàng Vi cho biết cô chưa nhận được bất cứ phản hồi nào của cơ quan chức năng về lá đơn tố cáo của cô.

Đơn tố cáo của blogger 26 tuổi được gửi tới nhiều nơi trong đó có giám đốc Công an TP.HCM, Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM, Thanh tra công an TP.HCM, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM và Hội Phụ nữ TP.HCM.

Cô cho biết thêm:

"Em làm đơn tố cáo ở đây hy vọng rằng bản thân họ tự điều chỉnh lại cái hành vi. Khi mà vào đồn, thực sự mà nói, họ làm như vậy thì làm sao mà tụi em có bất cứ bằng chứng gì để mà giữ lại, cho nên là em nói để mà họ phải tự thay đổi cái sai trái của họ, để mà tự điều chỉnh lại nhân viên của họ. Họ hành động như là những thành phần vô học thì làm sao trong đồn công an mình có thể có bằng chứng được. Em chỉ có thể nói sự thật, tố cáo đúng sự thật thôi còn vấn đề họ giải quyết như thế nào là chuyện của họ."

Tối 8/1 (giờ Việt Nam), VOA Việt Ngữ đã gọi điện tới đồn cảnh sát phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, TPHCM, một trong những cơ quan bị Hoàng Vi tố cáo.

Một người trực điện thoại nói vụ việc của nữ blogger này là do "bên an ninh họ làm, chứ không phải công an phường".
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Nói tục
Nguyễn Hưng Quốc

- Viết xong về bài luận văn đang gây “choáng váng” mọi người trong nước do tính chất tục tĩu của nó, tự dưng tôi lại nghĩ đến chuyện nói tục của người lớn.

Không nhắc có lẽ ai cũng nhớ người nổi tiếng nhất về việc nói tục ở trong nước trong năm 2012 vừa qua không ai khác hơn là Trung tá công an Vũ Văn Hiển tại phiên xử Điếu Cày Nguyễn Văn Hải tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/9: “Tự do cái con c.!”

Văng “con c.” trước người khác là điều không nên; với phụ nữ (vợ cũ của Điếu Cày) lại càng không nên; trước đám đông, lại càng không nên nữa. Không những vậy, chữ “con c.” ấy lại phát ra từ miệng một người đang mặc đồng phục, đứng trước toà án, và đi liền với hai chữ “tự do”: Tất cả lại càng không nên. Không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều người xúm vào phê phán Vũ Văn Hiển tơi tả. Họ xem câu văng tục ấy như một cách nói tiêu biểu của giới thống trị tại Việt Nam hiện nay nói chung.

Nhưng nói cho công bằng, không phải chỉ một mình Vũ Văn Hiển mới văng tục như thế. Đầu thế kỷ 20, trong cảnh hộ đê ở miền Bắc, khi, trước nguy cơ nước lũ càng lúc càng dâng cao, nguy cơ vỡ đê càng lúc càng lớn và trong lúc người dân đang hùng hục khuân cát, khuân đá nặng nề dưới những cơn mưa tầm tã, một vị quan nào đó vẫn lớn tiếng xổ c. um sùm. Tiếng chửi tục ấy được nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, anh rể của Tản Đà, ghi lại trong hai câu thơ đến bây giờ vẫn được ghi nhớ:

Trên đê cụ lớn văng con c.
Dưới đất thầy cai thượng cẳng tay.


Ngày xưa có “cụ lớn”, bây giờ có “cụ Hiển”: Cả hai đều thuộc giới có quyền lực. Họ dùng những chữ “con c.” để quất vào tai người khác. Để nhục mạ người khác. Và cũng để chứng tỏ uy quyền của mình.

Còn những người thấp cổ bé miệng thì sao? Chắc cũng không vừa gì. Trong cuốn “Ghi” của Trần Dần (2001), có một đoạn nhật ký viết rải rác từ ngày 20 tháng 9 đến ngày 1 tháng 10 năm 1954, nhân nhắc đến các chủ trương bắt mọi người phải học tập chính trị liên tục của chính quyền miền Bắc ngay sau hiệp định Geneva, Trần Dần viết:

“Tôi muốn tả được những chiến sĩ cố nông lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Và cũng người chiến sĩ cố nông chỉ muốn lấy thân mình làm túi cơm giá áo. Những người chiến sĩ xô vào lửa quên mình và những chiến sĩ sĩ chùn về sau xó bếp, cháy quần vì rang ngô. Người anh hùng và người dút dát. Người đang dút dát thành anh hùng. Người đang anh hùng tụt xuống dút dát. Người lấy súng bắn địch và người lại lấy súng tự thương. Những người chiến sĩ lầm lì và những người chiến sĩ ba hoa. Người thuần, người ngổ ngáo. Người chỉ biết phục tùng, người hay cãi bướng. Và đa số là ngại học tập, ngại nghe đả thông. Ngại nghe cán bộ nói nhiều. Ngại bị ‘nắm tư tưởng’. Nắm, nắm con c.” (tr. 47-8 ).

Trong một bài viết trước đây, sau khi trích đoạn ấy, tôi có viết:

“Tôi thích cái câu cuối cùng ấy. Nó hiên ngang. Nó hùng dũng. Nó đầy khí lực và khí thế. Và tôi tin là tôi hiểu được tại sao Trần Dần lại hạ bút viết như vậy. Cũng như tôi hiểu tại sao ngày xưa Nguyễn Công Trứ từng hạ bút làm thơ ‘Ð…o mẹ nhân tình đã biết rồi’. Sống trong một xã hội như xã hội Việt Nam, chỉ có thánh may ra mới không biết chửi tục.”
http://www.tienve.org/home/literature/v ... orkId=1410

Mới đây, tôi mới sực nhớ đến một “con c.” khác trong thơ Việt Nam. Đó là bài “Ký sự 30.4.1975” (1) in trong tập Nổi lửa của Nguyễn Mậu Lâm. Cả bài thơ như sau:

Ngày ba mươi tháng tư năm tám lăm
Mới ba giờ khuya
Trời còn tối đen
Sương rơi mờ cả mắt
Thằng công an khu vực đã xông đến trước cửa từng nhà, từng nhà, hét:
“Dậy, dậy lẹ lên, đi mít-ting”
Tôi cũng dậy
“Ừ, thì thôi, mày bắt, tao đi.”

Đã khá đông người đứng trước
đồn công an phường
Mọi người đứng co ro lại vì rét.
Lác đác đôi ba ngọn đèn đường đỏ hắt
Không đủ làm hồng những mặt người
đang tái mét
Mọi người đứng yên
Trên mặt
Giấc ngủ còn đọng lại.

Mọi người đứng yên
Như những ngôi mộ lặng lẽ đi trên một nghĩa trang
Chỉ có cái mỏ của thằng công an là
luôn luôn hoạt động

Nó la
Nó hét
Lồng lộng trong đêm khuya:
“Trẻ em hả? – Hàng này!”
“Thanh niên hả? – Hàng này!”
“Đàn bà, hàng này!”
“Đàn ông, hàng này!”
“Bọn tu sĩ, hàng này!”
“Còn bọn nguỵ, lại đây! Lại đây!”

Chúng tôi đi
Những ngôi mả biết đi
Những thây người biết run trong rét
Bước đi.

Năm giờ sáng, chúng tôi tới quảng trường thành phố
Người bị lùa về đây như thác đổ
Từng hàng
Từng hàng
Đứng lặng yên.
Trẻ con tựa vào nhau ngủ gật
Người lớn ngồi bệt cả xuống đất
Tôi vấn điếu thuốc rê
Đốt mãi không cháy
Gió lạnh.

Chín giờ sáng cuộc mít-ting bắt đầu
Mọi người đứng lên
Nghiêm
Chào chủ tịch đoàn
Chào đồng chí bí thư tỉnh uỷ
Chào đồng chí chủ tịch uỷ ban nhân dân
Nghiêm
Chào tất cả các đồng chí đến sau
ngồi ngất ngưởng trên hàng ghế cao.

Rồi hát
Mọi người đều phải hát
“Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng…”
Tôi im.
Thằng công an ào tới như một cơn gió
“Hát, hát! Đ. Má, tại sao mày không hát?”
Ừ, thì tôi hát
Lí nhí như nhai cơm nát
Thằng công an lại quát:
“Hát to lên!”
Tôi lại phải gào lên như ễnh ương kêu
Mọi người đều phải hát
Tôi muốn trào nước mắt
Lòng đau như cắt
Trong bụng cứ sôi lên tiếng chửi lầm thầm:
“Con c.!”


(Quê Mẹ xuất bản tại Paris năm 1988, tr. 41-3)

Tôi không biết các bạn có thích hai chữ “con c.” của Trần Dần hay Nguyễn Mậu Lâm hay không, tuy nhiên, tôi biết chắc một điều: Nếu “Cu Hồ” còn sống, chắc “Bác” sẽ thích. Tôi tin như thế vì tôi chợt nhớ đến đoạn văn của ông, được in lại trong cuốn Cu Hồ Chí Minh với văn hóa – văn nghệ do Đinh Xuân Dũng và Nguyên An tuyển chọn, nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa ấn hành năm 2005 như sau:

“Có một lần, một vị tướng của Napoleon đệ nhất bị bao vây ở Waterloo. Kẻ địch ra lệnh cho ông ta đầu hàng, ông đáp cộc lốc: “Cứt”. Câu nói ấy chỉ là một từ, lại là một từ tục tĩu. Nhưng trong tình thế nguy kịch nghiêm trọng ấy của một vị tướng nghìn lời nói cũng không thể nào thể hiện được hơn lòng dũng cảm và sự khinh bỉ của ông đối với kẻ thù. Và chỉ một lời đáp ấy cũng đủ để vị tướng củng cố được đội ngũ của mình. Chỉ câu nói ấy cũng đủ làm cho tên ông vang dội khắp châu Âu. Nó còn được ghi vào biên niên sử cho đến ngày nay và người Pháp ai cũng biết đến lời đáp ấy.” (tr. 12).

“Cứt” hay “c.” thì cũng vậy. Từ một kẻ quyền lực và muốn phô trương quyền lực, nó là một sự thô bỉ. Nhưng từ những kẻ đang thất thế, nó lại thể hiện được thái độ mà Hồ Chí Minh gọi là “lòng dũng cảm và sự khinh bỉ”.

Cùng một chữ, nhưng ở hai góc độ, nó có ý nghĩa khác hẳn nhau. (2)

Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

Chú thích:

Tôi đoán ở đây có sự nhầm lẫn: 1985 thay vì 1975 (theo nội dung bài thơ ở dưới).
Xin lưu ý: Tôn trọng quy định chung của các cơ sở truyền thông đại chúng, tôi viết tắt những chữ bị xem là tục (c.) Trong nhật ký của Trần Dần và thơ Nguyễn Mậu Lâm, tất cả đều được viết nguyên. Đầy đủ.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Hãy làm ngọn gió đổi thay…!

Thất Lĩnh
(Danlambao) - Bài hát “Triệu con tim” của nhạc sỹ Trúc Hồ đã vang lên thật cảm động trong cuốn DVD ASIA 71, một chương trình âm nhạc bị Ủy ban nhân dân TP.HCM ra lệnh cấm lưu hành trước cả khi được phát hành tại Mỹ. Động thái này cho thấy nhà cầm quyền cộng sản thực sự sợ hãi trước một ngọn gió đổi thay (lời bài hát) có thể bất ngờ bùng dậy cuốn phăng thế lực cầm quyền cộng sản toàn trị.

Trúc Hồ sáng tác bài hát “Triệu con tim” trong bối cảnh một loạt trí thức bị cầm tù vì đã dũng cảm lên tiếng chống sự xâm lược của Trung Quốc. Bài hát như một lời than thở, một nỗi lo cho số phận dân tộc Việt Nam dưới sự cai trị của đảng cộng sản, ngày càng thụ động trước sự lấn tới của Bắc Kinh bành trướng. Ý nghĩa chính của bài hát giàu xúc cảm tự tình dân tộc là kêu gọi mọi người dân mang trong người dòng máu Việt hãy đứng lên, hãy trở thành một cơn gió làm đổi thay thực trạng đen tối của đất nước.

Đúng vậy, hơn lúc nào hết, giờ đây người dân Việt Nam hãy dũng cảm đứng lên để bảo vệ những đồng bào đã dám đối mặt với sự hiểm nguy, xiềng xích vì chủ quyền lãnh thổ như blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Saigon, Nguyễn Phương Uyên, Việt Khang... Mọi người dân Việt Nam hãy cùng nhau góp một tiếng nói, góp một hành động nhằm tạo áp lực để nhà cầm quyền dừng hành động trấn áp thường dân để mua vui cho quan thầy Trung Quốc. Người Việt Nam phản đối sự xâm lược của Trung Quốc để bảo vệ đất nước Việt Nam nhưng bị chính quyền tống giam. Hành động này xác tín dư luận về một âm mưu bán nước cho Trung Cộng, với mục đích bảo vệ quyền cai trị đất nước của đảng cộng sản Việt Nam.

Đảng cộng sản Việt Nam tự hào rằng luôn sẵn sàng chống lại mọi thế lực bên ngoài để bảo vệ quyền tự chủ của quốc gia. Tuy nhiên, nhìn ngược lại suốt chiều dài lịch sử dân tộc, chưa có triều đại nào mà người dân Việt Nam bị cầm tù một cách khốc liệt vì lên tiếng phản đối sự xâm lược của ngoại bang như hiện tại. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam sợ Trung Cộng đến mức không dám gọi tên kẻ thù đã giết hại người lính Việt Nam trong buổi lễ tưởng niệm các chiến sỹ trận vong trong hải chiến Trường Sa. Rõ ràng đây không phải là một chiến thuật thông minh của chính sách đối ngoại mà là sự cúi đầu hèn hạ đáng khinh bỉ. Có lẽ các vong linh của những người lính tử trận được tưởng niệm cũng uất nghẹn vì sự lố bịch của những người mà họ gọi là đồng chí.

Đảng cộng sản Việt Nam, trước kẻ thù xâm lược thì quỳ gối phục tùng bằng một chính sách đối ngoại vô cùng khó hiểu. Nhưng luôn sẵn sàng sử dụng vũ lực với người dân tay không tấc sắt. Họ lập luận những người biểu tình chống Trung Quốc làm phương hại đến bang giao hai nước. Họ biện minh chính phủ luôn có một đối sách thông minh, và phù hợp trước sự hung hăng của Trung Cộng. Nhưng chính sách ấy thế nào đến giờ không một ai được rõ, ngược lại Trung Quốc thì ngày càng lấn át Việt Nam trên mọi phương diện.

Thực tế đến giờ, chưa một ai thấy lãnh đạo cộng sản Việt Nam ra đòn trước Trung Quốc mà chỉ chứng kiến con dân Việt Nam bị cầm tù một cách oan uổng và phi lý. Một khi đã không thể trông cậy vào thế lực cầm quyền thì người dân hãy tự lực cứu lấy mình. Đã có 4.000 người dân trong nước dũng cảm ký tên vào chiến dịch “triệu con tim, một tấm lòng” nhằm kêu gọi ủng hộ cho nhân quyền Việt Nam. Chúng ta hãy can đảm tiếp sức với những đồng bào yêu nước đang bị giam cầm bằng cách mở rộng sự lan tỏa của chiến dịch này trong mọi ngõ ngách của đất nước. Nếu có thể thì hãy tổ chức một cuộc xuống đường mang tên “triệu con tim, một tấm lòng” ngay giữa lòng Sài Gòn và Hà Nội.

Sài Gòn 14.1.2013
Thất Lĩnh
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Tam Bành Lục Tặc

Tam Bành là ba vị hung thần Bành Kiêu, Bành Chất và Bành Sự chia nhau ở trong óc, trán và bụng để giục người nóng tánh làm bậy. Nổi tam bành theo Tự Điển Việt Việt của Lê

Văn Đức và Lê Ngọc Trụ là cơn hung dữ phần nhiều thường dùng cho người đàn bà. Theo nghiên cứu và dẫn giải chúng ta có được suy luận rằng Tam Bành đúng thật là ”con cưng” của Tam Độc. Tam Độc là ”ba độc chất” tiên khởi có tác dụng ngấm ngầm và Tam Bành có tác động nổ tung.

Lục Tặc là sáu tên cướp. Gọi là cướp vì có những hành động phá phách gây nguy hại. Lục Tặc có thể cướp đi tính chất ôn nhu của một người đàn bà khiến họ trở thành hung dữ cực độ. Người phụ nữ dịu dàng một thuở biến mất. Khi Lục Tặc hiện nguyên hình, cái nhẹ nhàng trong bước chân đi, cái thơ mộng trong ánh mắt và cái nồng ấm trong nụ cười của người phụ nữ sẽ ”biến dạng” bằng đôi mắt trợn trừng long lên, lời nói chua cay ác nghiệt và hành động dữ tợn không tự chủ. Lục Tặc phá và cướp đi của con người trạng thái vui vẻ trầm tỉnh khả ái, để biến thành một người thành hung dữ. Khi Tam Bành nổi lên thì Lục Tặc đương nhiên đã xuất hiện. Hoặc có thể nói rằng, do LỤC TẶC châm ngòi mà TAM BÀNH có cơ hội nổ lớn.

Theo giảng giải của Nhà Phật thì những họat động thường nhật của chúng ta bị chi phối bởi Tam Độc và Lục Tặc. Tam Độc là ba thứ độc hại là ba món phiền não lớn: Tham, Sân, Si. Tham là tham lam, Sân là sân hận và Si là ngu si. Ba thứ độc hại nầy là ”cha đẻ” của Tam Bành và Lục Tặc.

Vì muốn tốt cho mình, đẹp cho mình, và lợi cho mình mà nổi lòng THAM. Với lòng tham có người bất chấp lợi hại để đạt được mục tiêu của họ. Không đạt được những mục tiêu đó họ trở nên thù hận và giận dữ là SÂN, cũng gọi là sân hận. Thường thì vì cố chấp (Sân) ta không thấy được cái sai của mình, hoặc nếu có thấy vẫn cố gắng ngụy biện để cho rằng lỗi ở người chứ không phải lỗi ở ta. Không được thỏa mãn những đòi hỏi mình đặt ra, không đạt được điều mình mong muốn, ta nỗi giận và dữ. Nếu mục tiêu phải đạt đặt căn bản trên lòng tham, trên sân hận sẽ gây hại hoặc tổn thương cho bản thân mình, cho người thân của mình cũng như cho người khác nên gọi là SI. Si là ngu si, có nghĩa là không thấy được những điều đáng thấy để làm những điều đáng làm. Chính vì thế, thay vì đem lại lợi ích cho mình và cho người, gần nhất là người thân của mình, người sân si dễ tạo những tác động ngược lại. Gọi ngu si là ở điểm nầy.

”Tham, Sân, Si” phá hủy các thiện căn, phá hại đời sống của chúng sanh nên Nhà Phật gọi là Tam Độc. Lục tặc là sáu sự khuấy phá tạo tác động sai trái qua sáu cơ năng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Từ những cảm quan đưa đến những tư tưởng hành động sai lầm do chi phối của Tam Độc mà gây nguy hại cho chính bản thân của chúng ta, Lục Tặc được ”sinh ra và trưởng thành” từ các phối kết, nghĩa là theo tuần tự của các diễn tiến như sau: Lục Căn – Lục Trần – Lục Thức.

LỤC CĂN là sáu cơ quan: Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý. Đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tư tưởng. Sáu cơ quan nầy tiếp nhận những xúc tác từ bên ngòai vào để tạo tác động. Sáu sự kiện gây xúc tác vào sáu cơ quan gọi là sáu cảnh hay sáu trần (Lục Trần).

LỤC TRẦN gồm có: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Lục Trần tác động vào 6 cơ quan, là Lục Căn, tạo nên sáu sự hay biết gọi là Lục Thức.

LỤC THỨC là sáu tri thức, tức là sáu sự nhận thức gồm có: Nhãn thức – tri thức của mắt, Nhĩ thức – tri thức của tai, Tỹ thức – tri thức của mũi, Thiệt thức – tri thức của lưỡi, Thân thức – tri thức của thân và Ý thức – tri thức của tư tưởng. Khi Lục Thức được ”đắp bồi vun xới” bởi ”Cái Tôi” vị kỷ ngã mạn (tham lam, mê đắm cố chấp và ngu si) sẽ sinh ra ra LỤC TẶC.

Tượng Ngài Di Lạc và Lục Tặc

Chúng ta phải hiểu rằng, ”nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ mó, nhận diện” sự kiện và sự vật bằng ”Cái Tôi” vĩ đại, nghĩa là bằng quan niệm Cá nhân Chũ nghĩa: ”Hợp với ta thì sống chống ta thì chết” là chúng ta đã cho sinh ra và nuôi lớn LỤC TẶC, đến khi gặp một trong những chất xúc tác mạnh của Tam Độc, Tam Bành sẽ bật ra và nổ bùng!

Ví dụ khi mắt (nhãn căn) của người nam nhìn thấy hình dáng yêu kiều (sắc trần) của người nữ tác động vào cái thấy của anh (nhãn thức) và tạo lòng yêu mến (thức + sở thích: có sự phân biệt, thích hay không thích). Nếu chỉ nhìn thấy và cảm mến như một sự thưởng thức là chuyện bình thường. Nhưng nếu thấy mà nỗi lòng tham muốn chiếm hữu bất kể luân lý đạo đức là đã có sự hiện diện của Tam Độc: tham, sân, si, sẽ có sự xuất hiện của Lục Tặc. Ở trường hợp nầy tên tặc tử là nhãn tặc. Nhưng bình thường Lục Tặc không thể tách rời nhau. Sáu tên cướp nầy phải dính chùm với nhau. Như thí dụ đề cập đến ở đây, khi anh nầy thấy cô nọ đẹp anh sẽ thích thú làm quen, thì nhìn hình dáng (sắc) mà ham muốn, nghe tiếng nói (thanh) mà ham muốn, ngửi mùi thơm (hương) từ người cô ta mà ham muốn, và tưởng tượng ra (vị) vị ngọt của ”mùi tình” mà ham muốn, thì tư tưởng như thế sẽ đưa đến cái ham muốn ôm ấp (xúc) và lòng chiếm đọat (ý): Lục Tặc xuất hiện! Trong trường hợp nầy anh ta dùng tiền bạc cung phụng người đẹp, bỏ bê vợ con thì bà vợ sẽ nỗi giận nỗi dữ: Tam Bành ”xuất quân” vì đã được Lục Tặc… khiêu chiến!

Nói tóm lại, qua sáu cơ quan của cơ thể ta tiếp xúc với sáu sự kiện tác động từ bên ngòai vào sẽ sinh tác dụng phân biệt vào tất cả cái thấy, hiểu, ngửi, nếm, nghe và biết (kiến, văn, khứu, vị, giác, tri). Sáu sự hay biết ấy gọi là Lục Thức và khi Tam Độc chi phối Lục Thức sẽ sinh ra Lục Tặc và Tam Bành. Ta có được mệnh đề sau đây: Tam Độc + Lục Thức = Lục Tặc & Tam Bành.

Từ một cơ quan đơn giản như lỗ tai của chúng ta (nhĩ căn), ta có khả năng nghe tiếng nói âm thanh từ bên ngòai đi vào (nhĩ trần/âm thanh), và thâu nhận (nhĩ thức), rồi đặt cái Tôi vào đó để có phản ứng: khi nghe lời ca tụng làm ta thích thú, ta sẽ vui mừng. Trái lại nghe lời chê bai khiêu khích ta sẽ đùng đùng nỗi giận và lời khiêu khích đôi khi có chất xúc tác quá ”đậm đà”, vì Lục Tặc quấy nhiễu châm ngòi thì Bành Kiêu, Bành Chất và Bành Sự được ”cấp tóc trương triệu tập”: cơn giận nổ bùng !

Một ví dụ nhỏ: Một nhóm bạn tham dự trong một bữa tiệc, bỗng một người bạn/quen đi ngang qua ”thả” một câu nói: ”Khiếp thế! Chung Vô Diệm mà tưởng mình là Tây Thi. Vừa mới đi căng da mặt về tưởng đẹp lắm trẻ lắm nên ỏng ẹo thấy ghê!”. – ”Silicon đó bà con ơi, không phải hàng thiệt đâu mà ham!” v.v… Trong nhóm người đang nói chuyện với nhau kể trên, đều cùng nghe câu nói đó, nhưng chỉ có một người phản ứng: Chị A! Vì biết rằng câu nói ”ác độc chua ngoa khiêu khích” đó ám chỉ mình, nên Chị A phản ứng lập tức. Nếu là người hung hăng sẽ có ”chiến tranh ngôn ngữ” là lời qua tiếng lại. Gặp người bản tính hung dữ, nếu đang ở ngoài chợ có thể họ sẽ vày đầu nhau mà đấm mà thoi. Là người bản tính trầm tỉnh, ”nạn nhân” sẽ nhẫn nhục bỏ qua câu nói hôm đó (nhưng vẫn ghi ”sổ đen” trong lòng!). Đó là kết qủa sự xuất hiện của Bành và Tặc sau khi Trần tác động vào Căn cho ra Thức bị động, nghĩa là đã bị chi phối bởi Tam Độc. Tại sao năm người kia nghe cùng câu nói mà không có phản ứng, chỉ Chị A mới có phản ứng? Đó là vì cái Thức có Cái Tôi vị kỹ. Nghe câu nói và hiểu rằng câu nói nhắm thẳng vào mình, tức là đã chạm vào ”Cái Tôi”, thì ”Tôi” sẽ phản ứng, và với tự ái bình thường của con người muốn được khen không ai muốn bị chê, vì bảo vệ Mình, nên Chị A giận dữ.
Nhìn vào tình hình thế giới, chúng ta khiếp hãi những tên khủng bố làm hại lòai người, nhưng đôi khi chúng ta không thấy được những tên khủng bố đang có trong ta, vẫn để cho nó tung hòanh và tự do tác yêu tác quái: Nó là Tam Bành và nó chính là Lục Tặc, là ”Osama bin Laden” của thế giới hôm nay! Nó không ở đâu xa xôi tận Trung Đông, mà chính tụi nó đang ở trong tim trong não trong tư tưởng lời nói và hành động của chúng ta (Thân, Khẩu, Ý).

Người bị chúng ta cho Tam Bành nổ lớn khi Lục Tặc chiếm hữu, là nạn nhân, họ cũng có cái cảm giác hãi sợ khi nhìn vào chúng ta cũng như khi ta nhìn vào tụi khủng bố. Đặt vào vị thế của những ”nạn nhân” nầy mà nhìn trở lại vào chính ta, ta sẽ thấy ta lúc đó không phải là hình ảnh đẹp. Ta không nên nuôi lớn Tam Bành và Lục Tặc, ta không nên nuôi dưỡng Tam Độc và Lục Tặc quá kỹ lưỡng chu đáo bằng cái tâm hẹp hòi và lòng thù hận sâu đậm, không biết buông thả chỉ bằng cố chấp, ta sẽ cho Lục Tặc lớn nhanh và Tam Bành có cơ hội xuất hiện đều đều, kết quả sẽ là: chỉ có sự cô đơn cô độc ”sống chung” với ta thôi, không còn ai muốn sống chung với ta nữa cả. Bạn bè người thân không kham nỗi một người với tính khí dữ dội, họ sẽ tìm cách xa lánh. Nhiều người vì sự uất giận hoặc quá cô độc mà mang bệnh vào người. Theo ngày tháng dần dần với sự buồn bả cô đơn ta dễ dàng mang vào người chứng bệnh oan nghiệt nhất: Bệnh Trầm Cảm! Theo nghiên cứu hiện thời sự căng thẳng tinh thần là cũng một trong những nguyên nhân tạo chứng bệnh ung thư.

Bệnh trầm cảm biến cuộc sống thành thế giới của những ảo giác lọan động. Sống trong một thế giới mơ hồ không thực, cuộc đời của ta sẽ tẻ nhạt và thê thảm, đời sẽ tuột dốc dữ dội. Đến một giai đọan nào đó có muốn trở lại đọan đường mình đã đi qua (sau khi ”qua sông đốt cầu” bằng Lửa Tham Lửa Sân và Lửa Si), có muốn trở về lại ”lối cũ năm xưa nơi có sự ấm áp và hình ảnh đẹp” cũng khó có đủ khả năng và sức lực để gầy dựng lại. Tình cảm giữa con người với con người, điển hình là tình cảm vợ chồng, một thời thương yêu nhau thắm thiết, một khi ta vụng về đánh mất, sẽ như một cây kiểng không săn sóc nuôi dưỡng, cây sẽ héo dần và chết đi. Bạn không thể bón phân, tưới nước cho nhiều vào và ngồi đợi cây sống lại! Tình cảm giữa hai con người không thể chỉ nuôi dưỡng một chiều, mà phải có sự hòa ái dịu dàng biết tôn trọng và lòng qúy mến trao cho nhau.

Những suy diễn giải bày về Tam Độc hay Tam Bành Lục Tặc chỉ với mục đích cho ta thấy ngọn nguồn gốc rễ của những khúc mắc, những dây mơ rễ mái của phức tạp trong đời sống giữa mình và người về lâu về dài, để phòng để tránh. Ngay từ khi chớm thấy có sự phức tạp của một vấn đề giữa ta và người, hãy tỉnh tâm suy xét để thấy lỗi mình trước khi thấy lỗi người. Đừng bao giờ nhìn một chiều, và đặt cá nhân mình lên trên hết, ta sẽ chỉ thấy lỗi người khác mà không thấy lỗi mình. Một vấn đề tự nó không thể xuất hiện nếu giữa hai người không có những bất đồng ý kiến hay những xích mích nào đó. Có nghĩa là tối thiểu phải có hai người mới tạo được một vấn đề. Hay nói rõ hơn, nhiều hay ít, vô tình hay cố ý bạn đã dự phần trong sự kiện tạo ra vấn đề giữa bạn và người khác. Vấn đề không tự chính nó sinh ra được nếu không có sự liên hệ giữa hai hay nhiều người.

Cách giải quyết vấn đề hay nhất là mình thấy được lỗi mình, và đừng cố gắng dùng thời giờ để tìm lỗi của người khác. Bởi vì khi thấy được lỗi của mình,chúng ta sẽ tu sửa thay đổi bản thân mình. Nếu chỉ thấy lỗi người, bạn sẽ đặt điều kiện là người kia phải thấy được lỗi của họ, và phải tự họ sửa đổi lỗi lầm. Đây là một ”tham vọng” quá lớn, bởi vì chính bạn không thể đòi hỏi người khác nghe theo lời mình được, nhất là nghe lời bạn để sửa đổi chính họ, là điều khó ai thực hiện được.

Không thể thay đổi người khác ngọai trừ thay đổi chính mình. Khi ta tự thay đổi chính mình, là khi ta ”cho” người thời gian suy nghĩ và cơ hội lắng lòng để dần dần thấy được sai lầm của họ. Thấy được lỗi của mình, họ sẽ tự động sửa đổi. Nếu ta chỉ trích phê phán, ta sẽ gây sự giận dữ ở họ, vì ta không cho ”đối tượng” thời gian suy nghĩ, và chính ta đặt họ vào thế liên thủ, chống đỡ sự công kích tới tấp của ta. Họ phải liên tục bảo vệ chính mình, đầu óc họ chỉ nghe và thấy sự hung dữ của ta mà không có thời giờ thấy được hành động sai lầm nếu có của họ.

Sau nhiều năm sống với nhau, bình thường người chồng không còn những cử chỉ tình tứ với người vợ, đối lại nhiều người vợ hết dịu dàng và trở thành… ”máy nói”, chỉ trích trách móc chồng. Thử hỏi, người chồng nếu phải luôn nghe những lời trách móc của vợ, có còn thấy người vợ hiền dịu khả ái như ”ngày nào ta yêu nhau” không? Chồng hay vợ đều là người bằng xương bằng thịt, họ cần được thương yêu âu yếm được nghe nói lời ngọt ngào êm ái. Ngược lại nếu người chồng mãi nghe lời trách móc cằn nhằn, anh sẽ không còn tìm thấy ở người vợ mình những cái đẹp mà anh đã một thời thương mến. Khỏang cách giữa hai người sẽ dần dần theo ngày tháng lớn rộng ra, cho đến một ngày đẹp trời.. người chồng tìm an ủi ở một người đàn bà khác ! Và người vợ ghen tương nỗi Tam Bành Lục Tặc lên để.. giữ ông chồng của mình lại! Có giữ được không, nếu người vợ không nuôi dưỡng sự dịu dàng của mình mà chồng mình cần đến. Có giữ được không, nếu người vợ không có thái độ thương mến nể phục chồng mình, thay vào đó chỉ biết ”dội” vào người của chồng mình những lời hỗn láo chua chát hoặc cằn nhằn than vãn! Hãy đứng vào vị trí của người chồng để thấy ta có thực sự ”đáng yêu” hay không.

Ngược lại một người chồng không biết thương yêu vợ đúng nghĩa, coi vợ là ”của mình” rồi còn ”lọt đi đâu” được nữa mà lo, nên bỏ bê không săn sóc không đối xử với vợ như những ngày mới sống bên nhau. Người vợ sẽ chỉ thấy đời mình gói trọn trong 2 chữ: ”việc nhà và bổn phận”. Việc nhà là công việc ”không tên” mà lại bận bịu ”ngập đầu”. Người vợ có còn thấy đời đáng yêu đáng vui như thời gian hai người vừa lấy nhau hay không. Nếu việc làm vất vã quá, lại không được sự chia sẻ săn sóc đúng mực của người chồng, người vợ chắc chắn sẽ đổi tánh, sẽ càu nhàu than phiền suốt ngày đêm, vì thấy đời ”bất công” quá đỗi! Cho đến một ngày… đẹp trời, một ”người hào hoa” xuất hiện vì biết nói lời ngọt ngào và cho người vợ thấy được giá trị người đàn bà của họ, họ sẽ dễ dàng thay lòng !

Chúng ta phải biết ”giữ mình”, nghĩa là điều phục Thân, Khẩu, Ý để Tam Độc không thể chi phối ta, để Tam Bành Lục Tặc không xuất hiện được. Khi sự việc đã phát triển lâu dài và đến giai đọan căng thẳng quá sẽ không thể một sớm một chiều thay đổi cục diện của một tình trạng tệ hại cùng cực. Ta phải biết và ghi nhớ sự điều phục trong hành xử hằng ngày khi tình trạng đang còn tốt đẹp. Khi lập gia đình hay từ khi bước vào xã hội ta nên có được trong tư tưởng và ngay trong tay chiếc roi điều phục thân tâm (dẫn dắt và khắc phục) để ba anh chàng Tam Độc không có cơ hội lộng hành! Khi Tham Sân Si không tác động được vào Lục Thức để sinh ra Lục Tặc thì cũng không sinh ra được Tam Bành.

TAM BÀNH là sự giận dữ cực độ quy vào ba trọng điểm: tư tưởng (đầu óc/ý), lời nói (miệng/khẩu) và hành động (thân). Khi cơn nóng giận không còn kiểm sóat được nữa, con người sẽ có hành động nóng nảy dữ tợn, lời nói đanh đá hung dữ, và tư tưởng giận dữ kích động. Khi THÂN, KHẨU, Ý ở trạng thái bị động nghĩa là trong trạng thái CỰC GIẬN, lửa giận bốc lên ngùn ngụt, là trạng thái có thể nổ bùng.

Vậy muốn chận đứng TAM BÀNH phải biết điều phục tánh khí và tư tưởng (điều phục sáu cơ quan) của chúng ta để LỤC TẶC không được nuôi dưỡng và lớn mạnh trong ta. Cách điều phục hữu hiệu nhất là gạn lọc tư tưởng, dùng lời nói ôn hòa và có hành động chính chắn. Tất cả những sự thâu tiếp ngọai cảnh nghĩa là từ bên ngòai vào qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nếu bị chi phối bởi Tam Độc, thì Tham Sân Si sẽ chiếm lĩnh tư tưởng, để từ đó phát ra và diễn đạt bằng hành động dữ tợn cùng lời nói sai lầm. Đó là mối liên hệ giữa Tam Bành và Lục Tặc.

UYÊN HẠNH
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest