Bình Luận , Quan Điểm

buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »


Image

Lối nói phi thường của Cộng Sản

Ông Bút

(Danlambao) - 37 năm qua, cán bộ phụ nữ ngồi trong xe hơi, không còn đội nón lá nữa, xe đạp của cán bộ không còn đeo bảng số nữa. Hình thức họ tiến bộ rất xa, bề ngoài trông rất văn minh lịch sự, văn minh hơn người. Lớp cán bộ xa xưa đã lùi về quá khứ khá sâu, sinh ra tầng lớp cán bộ mới, tên tuổi lớp mới ngoài chức danh đi kèm, còn thêm học vị: Tiến Sĩ, Giáo Sư, Nhà Sử Học... lớp mới hơn hẳn anh cha về mặt đi nhiều nơi trên thế giới, từ những nước còn sót lại chế độ Cộng Sản tới các nước Tư Bản, họ đã đi khắp nơi trên địa cầu này. Song cách nghĩ, lời nói và việc làm của lớp mới không hơn gì lớp cũ...

*

Bây giờ nếu kể lại những lời nói có thật của Cộng Sản, từ ba chục năm trước, cho con cháu trong nhà nghe, chắc chắn chúng nó nghĩ cha mẹ ghét, hận Cộng Sản nên nói thêm, sự thật làm gì có!

Ngày đó trong các nhà giam, gọi là cải tạo, suốt từ Nam chí Bắc, cán bộ đều kể câu chuyện Tạ Đình Đề, ám sát bác Hồ, đại khái: Tới bữa ăn bác bảo chú cần vụ, lấy thêm một cái chén, một đôi đũa, chú cần vụ ngẩn ngơ, vì hôm nay đâu có khách, chén đũa vừa đặt xuống mâm, bác gọi chú Đề ra dùng cơm với bác, cần vụ hoảng hồn vía, Tạ Đình Đề là người nấp trong nhà của bác, đặng ám sát bác, nhưng vì cử chỉ cao thượng đó Tạ Đình Đề giác ngộ...

Đơn cử thêm một, trong muôn vàn chuyện cán bộ kể: Sở dĩ ta bắn được nhiều B 52 của Mỹ, vì bộ đội Không Quân của ta bay lên trời, chọn đám mây rậm, núp trong đấy đợi B 52 bay ngang, bắn!

Hai chuyện trên đây, thuộc diện phổ thông, không chỉ kể trong nhà giam Quân Cán Chính VNCH, mà bên ngoài xã hội, cán bộ vẫn kể cho dân nghe, hầu hết những ai sau 30/4/1975 đã hơn mười tuổi đều nghe, đều nhớ.

Thêm một chuyện khác, thật 100%, nhưng không phổ biến, vì cán bộ chỉ kể cho một lớp học bồi dưỡng nghiệp vụ giáo viên, ở Bù Đăng, Bình Long. Trong giờ giải lao cán bộ hướng dẫn nói rằng: Liên Xô đã bay thám hiểm và đã có tàu đáp xuống mặt trời. Một trong những giáo viên nói: Thưa cán bộ, không biết cán bộ có lộn không, chứ mặt trời nhiệt độ bề mặt tới sáu ngàn độ c, ở trung tâm tới 15 triệu độ c, đâu có thứ thép nào chịu nhiệt nổi? Bay gần nó e ra nước rồi, làm sao đáp xuống, cán bộ đáp: Giời ơi, Liên Xô ta tinh vi lắm, đợi ban đêm mới cho đáp!

Trong trại giam sau 75, về tôn giáo đầy đủ cả: Linh Mục, Mục Sư, Thầy của Giáo Hội Phật Giáo, rồi chức sắc Cao Đài, Hòa Hảo... đảng phái cả chục đảng, Dân Biểu VNCH, Sĩ Quan xuất thân từ Bộ Binh Thủ Đức hoặc Đà Lạt, về hành chánh trưởng ty, phó ty, cán sự... Bác Sĩ, Kỹ Sư v.v... cán bộ Cộng Sản không cần biết, họ lên lớp nói như nói với gỗ đá, nói tỉnh bơ. Sự bạo gan, can đảm của họ đạt tới mức phi thường!

37 năm qua, cán bộ phụ nữ ngồi trong xe hơi, không còn đội nón lá nữa, xe đạp của cán bộ không còn đeo bảng số nữa. Hình thức họ tiến bộ rất xa, bề ngoài trông rất văn minh lịch sự, văn minh hơn người. Lớp cán bộ xa xưa đã lùi về quá khứ khá sâu, sinh ra tầng lớp cán bộ mới, tên tuổi lớp mới ngoài chức danh đi kèm, còn thêm học vị: Tiến Sĩ, Giáo Sư, Nhà Sử Học... lớp mới hơn hẳn anh cha về mặt đi nhiều nơi trên thế giới, từ những nước còn sót lại chế độ Cộng Sản tới các nước Tư Bản, họ đã đi khắp nơi trên địa cầu này. Song cách nghĩ, lời nói và việc làm của lớp mới không hơn gì lớp cũ.

Sau hội nghị 6, đại biểu quốc hội, ông Dương Trung Quốc, phát biểu: "Thái độ thành khẩn của Thủ tướng làm an lòng dân. Tâm lý người dân đã nghe nhiều sự thành khẩn, thừa nhận khuyết điểm ở mức độ khác nhau của các thành viên Chính phủ, giờ đây là người đứng đầu Chính phủ, nên điều mong muốn là có hình thức giám sát để có thể đánh giá sự sửa chữa đó được thể hiện trong thực tiễn..."

Làm gì có thái độ thành khẩn? Nguyễn Tấn Dũng chỉ nhìn nhận điều hành sai chính phủ, chứ ông Dũng không đề cập tới tài sản của ông ta do đâu mà có, chưa đá động tới nhà ông từ con gái, rễ, chị em, anh em dòng họ, ra sức làm giàu trên mồ hôi nước mắt đồng bào, Nguyễn Tấn Dũng chưa hứa hoàn trả của phi nghĩa cho ngân khố quốc gia, thì có chút gì để gọi là thành khẩn? Còn phe cánh đồ sộ của Nguyễn Tấn Dũng? Bao nhiêu năm trời vét tận xương tủy, dollars như lá mít. Trước tòa tên trộm chưa hứa hoàn trả hiện vật, hoặc hiện kim cho khổ chủ, thì lấy gì để làm tin ngày mai "thể hiện thực tiễn"?

Ngoài đại biểu Quốc Hội DTQ, còn ông Đại Tướng Nguyễn Quyết cũng phấn khởi không kém, sau hội nghị 6.

Gọi là trao đổi với báo Cựu Chiến Binh, trích:

- Đại tướng đánh giá như thế nào về báo cáo của Chính phủ do thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa trình bày trước Quốc hội?

- Tôi đánh giá cao báo cáo kết quả của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trình bày. Thành tựu mà chúng ta đã đạt được như vậy là do nỗ lực hết mình của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, trong đó có vai trò lãnh đạo của tập thể Ban chấp hành TƯ Đảng, Bộ Chính trị và đặc biệt là sự cố gắng rất lớn về điều hành của Thủ tướng.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay biến động rất phức tạp, thương mại sụt giảm tăng, trưởng toàn cầu thấp có tác động tiêu cực và ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước ta, đồng thời ở trong nước phải đối phó với thiên tai dịch bệnh, các âm mưu thủ đoạn gây mất ổn định chính trị xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia..., nhưng Chính phủ vẫn quyết liệt điều hành, kiên trì mục tiêu kiềm chế lạm phát ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ chặt chẽ, kinh tế vĩ mô có những tiến bộ hơn ở số lĩnh vực quan trọng của đất nước... Đây là một thắng lợi vô cùng to lớn cần phải phát huy. (Ngưng trích)

Một khoảng cách thời gian khá lớn, từ 1975 đến nay, những cán bộ cao cấp của đảng CSVN, vẫn xem chín chục triệu dân không khác những "cải tạo viên" năm xưa bao nhiêu. Có quyền nói cứ nói, người dân chỉ có bổn phận nghe. Các ông nói để được ăn và được sống, tới đây tôi chạnh lòng thương cảm câu ca:

"Chiều chiều trước bến Ninh Kiều
Dưới chân tượng bác đĩ nhiều hơn dân"

Rõ ràng câu ca này ra đời sau "giải phóng," thương cảm thật sự những mảnh đời bất hạnh, cùng cực phải bán thân nuôi miệng, xét ra mặt đạo đức, an toàn bệnh tật hẳn nhiên đáng lo ngại, nhưng chưa nguy hiểm, chưa tác hại bằng những cái lưỡi của cán bộ cao cấp của đảng CSVN, lẽ ra xã hội nên cho ngành Mại Dâm, được hành nghề công khai, được lập công đoàn, tạo điều kiện cho họ ứng cử. Không chừng lời nói của họ không làm phiền lòng dân, hơn ông Trung Quốc và ông Đại Tướng.

Đảng cho thành lập ngành Mại Dâm, cũng yên lòng Tố Hữu nơi dạ đài không ít, bởi lúc sinh tiền ông ta hứa với đĩ nhiều lắm, nào là:

Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài
Thơm như bông nhụy hoa lài
Sạch như nước suối ban mai giữa rừng.
Ngày mai gió mới ngàn phương

Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuân
Ngày mai trong nắng trắng ngần
Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ
Ngày mai bao lớp đời dơ

Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
Cô ơi tháng rộng ngày dài
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng.

Nếu tính từ ngày bác "khai sinh" nước VNDCCH tới nay đã 67 năm, tính từ ngày bác và thực dân Pháp chia đôi Việt Nam 58 năm, riêng Miền Nam tội nghiệp vì duyên số "đi trước về sau," thế mà cũng đã sém 38 năm rồi đấy! Ai muốn chọn số nào thì tùy, riêng kẻ viết bài này "bị" sinh ra bên trong nam vĩ tuyến 17, từ đó suy ra có tới mười ba ngàn CÁI NGÀY MAI rồi, mà thấy đĩ chưa sạch như nước suối ban mai, nên làm sao thơm được, gió mới ngàn phương đến từ khuya rồi, không phải gió mà bão nữa kìa, nhưng Công An bắt đem đi nhốt, chứ có thấy đưa tới vườn đầy xuân nào đâu?

Tố Hữu vừa là nhà thơ lớn, vừa là phó thủ tướng, cán bộ cao cấp trung ương đảng, 74 (1) năm trước Việt Nam dưới sự cai trị của Pháp, chắc chắn đĩ thời gian này không nhiều tính theo tỷ lệ dân số. Sau "giải phóng" đĩ nhiều vô số, đến nỗi phải tưởng tượng "nhiều hơn dân". Thế nhưng đảng làm lơ, không lập thành nghề như những ngành nghề khác, chỉ có cách này mới "Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng," ngoài ra vô phương.

Truyện Thủy Hử, bọn giang hồ hại mọi người, trừ hai giới đáng thương là đĩ và phạm nhân. Đảng mafia CSVN ngày nay trông bề ngoài lịch sự, văn minh, nhưng tệ hơn bọn lục lâm thảo khấu ngàn xưa, lừa phỉnh tới đĩ cũng không ngoại lệ. Từ khởi thủy đến hiện tại và tương lai (nếu còn đảng CSVN) thì sẽ còn những lưỡi gỗ phi thường! Nói để được ăn, được sống trên thiên hạ, từ những nhỏ nhặt tầm thường đã làm cho những người CS có lời nói hết sức phi thường và rất phi lý.

Ông Bút
danlambaovn.blogspot.com
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »


Image

"Đất nước không chiến tranh, sao đau thắt trong lòng"

Vũ Đông Hà
(Danlambao) - Đã bao năm trôi qua, dưới tấm bảng chỉ đường XHCN và lầm lũi bước đi theo sợi dây thừng lôi đầu kéo cổ của 14 "đỉnh cao trí tuệ" vẫn văng vẳng một tiếng kêu xé lòng:

Đất nước tôi không có chiến tranh,
Mà nghe đau thắt ở trong lòng...

Bạn có biết ai viết 2 câu thơ này không?

Không phải từ những thanh niên, thiếu nữ đã một thời "nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng, nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương" và bây giờ thấy mình vẫn còn sống mà quê hương thì đang chết.

Không phải từ một người lính "nguỵ" VNCH giờ đã già yếu, ngậm ngùi nhìn đất nước tan hoang và đau lòng vì thời trai trẻ đã không làm tròn tâm niệm "Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm".

Không phải từ một thi sĩ tay viết, tay súng đã từng xúc động "đường ra trận mùa này đẹp lắm, Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây" để bây giờ lòng đau quặn thắt bởi đường ra trận ngày nay vẫn "đẹp" như những lần cưỡng chế Tiên Lãng, Văn Giang.

"Núp dưới ảnh Bác và cờ đảng
Chúng cơ hội bóc lột dân lành..."

Đã bao năm trôi qua, những con người mượn danh giải phóng, nhận bừa là đại diện của giai cấp công nhân, tự đội lên đầu cái vương miện lãnh đạo tối cao, mồm đã thành cáo, lưỡi đã thành rắn, núp vào những vinh quang giả hiệu quá khứ hằng ngày vẫn được mang ra chùi bóng để cùng nhau ăn trộm, ăn cắp, ăn quỵt, ăn cướp mồ hôi xương máu nhân dân và gia sản của tổ tiên để lại.

Bạn có biết ai viết 2 câu thơ trên nói về những con (người) mang tên "chúng" đang cai trị đất nước này không?

Những lời thơ ấy, chính xác hơn là một đau đớn trộn lẫn với phẫn hận để biến thành thơ...

"Đất nước tôi không có chiến tranh
Mà nghe đau thắt ở trong lòng
....
Núp dưới ảnh Bác và cờ đảng
Chúng cơ hội bóc lột dân lành"

đến từ một cô gái 20 tuổi, sinh viên năm thứ 3, Ủy viên ban chấp hành chi đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Cô gái ấy mang tên Nguyễn Phương Uyên.

Trong những ngày qua, hình ảnh cô sinh viên hồn nhiên với nụ cười lúc nào cũng nở trên môi đã được lan truyền khắp trên mạng. Câu chuyện của Phương Uyên, hành động "bắt, phủ nhận không bắt, chuyển về Long An... của công an" thì có lẽ đã tỏ tường như lời nhạc của Việt Khang:

"Việt Nam ơi
Thời gian qua nữa đời người
Và ta đã tỏ tường rồi
Ôi cuộc đời, ngày sau tàn lữa khói..."

Ôi cuộc đời, ngày sau tàn lữa khói... khi chúng ta chứng kiến hình ảnh một người mẹ nghèo, vừa mới sẩy thai, mẹ già đang nằm trong bệnh viện cấp cứu đã phải bôn ba từ quê lên tỉnh truy tìm tông tích của con sau những ngày biệt tích.

Ôi cuộc đời, ngày sau tàn lữa khói... khi chúng ta rớt nước mắt theo người mẹ Nguyễn Thị Nhung nghẹn ngào "Một đứa trẻ 20 tuổi không thể nào có đủ sức mạnh và bản lãnh để làm nổi việc "Tuyên truyền chống phá Nhà nước CHXHCNVN". Đó là một điều quá sức! Nếu một đất nước vững mạnh, một bộ máy chính quyền vững chắc thì không thể nào một đứa trẻ 20 tuổi có thể là một mối nguy hại lớn. Đó là điều bức xúc thứ nhất. Điều bức xúc thứ hai là khi gửi quà cho cháu, chỉ mỗi 3 chữ "Mẹ yêu con" ghi lên tờ giấy gởi quà mà họ vẫn không chấp nhận. Theo tôi nghĩ họ nói là đâu đâu cũng có từ thương yêu mọi người nhưng chỉ có 3 chữ "Mẹ yêu con" mà cũng không cho gởi thì tôi thấy họ thật là vô lương tâm..."

Ôi cuộc đời, ngày sau tàn lữa khói... khi "Mẹ yêu con" phải dừng lại trước cổng nhà tù dành cho con gái của Mẹ bị bắt cóc, giam cầm để điều tra cho ra tội trước khi xử án. Uyên ngày nay, đảng đã không còn cho phép là đứa con nhỏ bé của mẹ khi đảng khoát lên đầu cô gái 20 tuổi hồn nhiên yêu nước sợi dây thòng lọng màu đỏ mang hình số 88 và nhãn hiệu “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN/VN”.

Một đứa trẻ 20 tuổi không thể nào có đủ sức mạnh và bản lãnh để làm nổi việc "Tuyên truyền chống phá Nhà nước CHXHCNVN". Mẹ của Phương Uyên nói đúng. Một cô bé 20 tuổi không thể nào có thể chống lại một băng đảng với hơn 3 triệu côn đồ, 200 thủ lãnh và 14 tên chúa tể trong tay có đủ súng đạn, chó săn nghiệp vụ lẫn "ảnh và cờ" để núp bóng như Phương Uyên đã viết.

Nhưng đảng đã sợ để phải bắt cóc và bắt giam cô gái 20 tuổi này. Vì sao!?

Vì Nguyễn Phương Uyên là hạt giống đỏ bao năm qua đảng ra sức tưới bằng phân Mác Lê, nước thải Hochiminh nhưng vẫn vươn mình thành đóa sen dân tộc - gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Vì Nguyễn Phương Uyên là hình ảnh của sự thất bại cụ thể và thê thảm nhất của hệ thống tuyên truyền, nhồi sọ gian xảo, của kế hoạch mười năm trồng cỏ trăm năm trồng lau sậy, của đại chiến dịch không có điểm dừng "Sống chiến đấu học tập theo gương Trần Dân Tiên" của đảng.

Vì Nguyễn Phương Uyên là khởi đầu cho một thế hệ mới lừng lững đi về phía trước để tranh đấu cho tương lai, khát vọng của dân tộc mà không bị vướng mắc vào bất kỳ hệ luỵ quá khứ, lằn ranh lịch sử chiến tuyến nào.

Vì Nguyễn Phương Uyên đã biến tâm tư:

"Đất nước tôi không có chiến tranh
Mà nghe đau thắt ở trong lòng
....

Núp dưới ảnh Bác và cờ đảng
Chúng cơ hội bóc lột dân lành"

thành hành động bằng máu đỏ của nòi giống Lạc Việt:

Vì bên cạnh Nguyễn Phương Uyên còn những thanh niên thiếu nữ trẻ tuổi khác đã và đang âm thầm khoác áo thành đoàn mang tên Hồ Chí Minh nhưng sống và hành động bằng tấm áo dân tộc mang tên Việt Nam.

Và Nguyễn Phương Uyên đã và đang không hẹn nhưng cùng đồng hành trên một con đường mang tên Việt Nam với những thiếu nữ khác như Phạm Thanh Nghiên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trịnh Kim Tiến, Nguyễn Hoàng Vi, Huỳnh Thục Vy...

Chính những người bạn trẻ, hồn nhiên như Phương Uyên, tinh nghịch Kim Tiến, bất khuất như Minh Hạnh, kiên trì chịu đựng như Hoàng Vi... đã và đang khơi lên những đốm lửa cho hàng hàng lớp lớp những cọng rơm khác phải tự đặt câu hỏi:

- Những cô gái này, có khác gì mình, đôi khi còn yếu đuối, nhỏ bé hơn ta mà họ đã bước đi, còn ta vẫn ngồi đây, đôi chân dừng lại sau khi xuống bút viết một lời kêu gọi hùng hồn "toàn dân đứng lên" xuống đường?

- Những cô gái này có phép thần, có bảo kê, hay không có gì để phải lo trong cuộc sống... Họ có gì khác hơn mình để có thể biến những suy tư thành hành động, trong khi ta vẫn ngồi đây đóng vai những khán giả nhiệt thành vỗ tay cỗ vủ?

- Những cô gái này có khác gì mình vào những năm vàng tháng úa trên đường phố Sài Gòn nhưng hôm nay muốn biểu tình yêu nước ta phải xin phép những người đồng chí năm xưa?

- Và tại sao chúng ta vẫn ngồi nơi đây, hài lòng với những đóng góp thể hiện bằng những câu chửi chính xác nhất dành cho chế độ, đắc ý với những góp ý thiết thực nhất cho một vận động tẩy chay sản phẩm của quân xâm lược, hài lòng với những lời khuyên khôn ngoan, lịch lãm nhất dành cho những người trẻ "chưa nhiều kinh nghiệm về cộng sản" này...

Các bạn trẻ đó đang làm cho nhiều người thôi thúc với những câu hỏi tự vấn lương tâm: tại sao mình cho phép mình không có được lòng can đảm như cô gái 20 tuổi kia?

Câu trả lời của mỗi chúng ta, xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm và được phản chiếu bởi tấm gương trong vắt của những cô gái tuổi 20 chính là điều làm đảng cai trị phải lo sợ.

Và đảng phải giở hết thủ đoạn để đập vỡ những tấm gương hiện thực ấy, để thổi tắt những que diêm đang sẵn sàng tự đốt chính mình để có thể góp phần khơi lửa cho hàng hàng lớp lớp những cọng rơm khô khốc thành đám cháy rừng vĩ đại.

Và đảng phải sử dụng hết tất cả những cái gọi là "lòng tự trọng" của Nguyễn Tấn Dũng, "không hỗ thẹn với tiền nhân" của Trương Tấn Sang, "mếu máo không để các thế lực thù địch chống phá" của Nguyễn Phú Trọng để ngăn chận những "tuổi 20 không thể nào có đủ sức mạnh và bản lãnh để làm nổi việc" có cơ hội vực dậy hùng khí của một dân tộc bằng dáng đứng của chính mình.

Đảng đã như thế. Những người bạn trẻ đã như thế. Còn lại, và sự sống còn của đất nước, nằm ở tập thể số đông đang đứng bên này bờ của giòng sông sợ hãi. Khi nhìn vào tấm gương Nguyễn Phương Uyên, chúng ta có rời bờ này, vượt sông, qua đến bến kia để tìm được dáng đứng của chính mình, để cùng sánh vai cùng với các bạn? Hay vẫn như bao năm tháng trôi qua, ta vẫn "đập gương xưa tìm bóng" và ta vẫn thu mình nguyền rủa bóng tối?

Vũ Đông Hà
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Giáo Sư Nguyễn Mạnh Hùng Nói Gì
Về Bầu Cử Tổng Thống 2012 Và Chính Sách Mỹ Ở Biển Đông?



Lời Mở đầu:Cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc năm 2012 giữa đương kim Tổng thống Dân chủ Barack Obama và đối thủ Cộng hòa,
Cựu Thống đốc Massachusetts Mitt Romney đã đến những ngày sau cùng trước quyết định của cử tri tại phòng đầu phiếu ngày 06/11/2012.

Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy ngăn cách thắng-bại giữa hai ông chỉ còn gang tấc,
nhưng theo phân tích của Giáo sư Chính trị và Bang giao Quốc tế của Đại học George Mason, ông Nguyễn Mạnh Hùng
thì cả hai ứng cử viên đều có những ưu và khuyết điểm về đối nội và đối ngọai có thể làm thay đổi cán cân vào phút chót.

Cuộc Phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng của Nhà báo Phạm Trần dành cho Bản tin Hoa Thịnh Đốn sẽ được trình chiếu
trên hệ thống đài Truyền hình SBTN vào lúc 11 giờ đêm ngày Thứ Sáu (26/10/2012) giờ Đông bộ Hoa Kỳ hay 8 giờ tối giờ California.


Image
Phạm Trần
Sau đây là tòan văn Cuộc Phỏng vấn:

H: Thưa Giáo sư, so với Cuộc tranh cử Tổng thống Mỹ 4 năm trước đây giữa hai Thượng nghị sỹ Dân chủ Barrack Obama và Cộng hòa John McCain thì năm nay ông có thấy Cựu Thống đốc Cộng hoà Tiểu bang Massachusett Mit Romney là đối thủ “đáng sợ” hơn của đương kim Tổng thống Obama không ?

Đáp: Đúng vậy. Năm 2008, ông McCain, vì là ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa, phải biện hộ cho những thành tích ngoại giao và kinh tế tồi tệ của ông Bush, nên khó thắng. Ngoài ra, chính ông McCain cũng phạm hai lỗi lầm chính: 1) đưa bà Thống đốc Tiểu bang Alaska, Shara Palin, có khuynh hướng bảo thủ quá khích, làm ứng viên phó tổng thống; và: 2) đề nghị ngưng tranh cử đề về Washington bỏ phiếu về luật giải quyết khủng hoảng tài chính nên bị ông Obama chê rằng McCain thiếu khả năng giải quyết nhiều việc một lúc, một đòi hỏi căn bản của người lãnh đạo nước Mỹ.

Năm nay, đến lượt ông Obama phải bênh vực cho thành tích của mình trong 4 năm qua, và thành tích ấy về mặt kinh tế không đủ để giảm mức độ thất nghiệp. Trong quá khứ không có Tổng Thống nào đắc cử nhiệm kỳ 2 nếu tỷ số người thất nghiệp lên quá 8%. Trong trường hợp của ông Obama, tỷ số thất nghiệp luôn trên 8% và chỉ mới xuống 7.8% vào đầu tháng nay.

H: Bây giờ nói về chương trình tranh cử của đôi bên thì Giáo sư thấy Tổng thống Obama có ưu và nhược điểm nào khi phải đương đầu với ông Romney, một người tuy không có nhiều kinh nghiệm đối ngọai nhưng mà theo các cuộc thăm dò dư luận thì nhu cầu phục hồi nền kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của cử tri và ông Romney có lợi thế hơn ông Obama, Giáo sư có thấy như thế không ?

Đáp: Ông Romney có lợi thế vì tình hình kinh tế không khả quan của Mỹ, dù chính quyền Obama đã chặn đứng được đà tuột dốc kinh tế gây ra bởi chính quyền Bush. Trong cuộc vận động tranh cử, ông chỉ việc nhắc đi nhắc lại tỷ số người thất nghiệp và sự thất bại của chinh quyền Obama trong việc cải thiện tình trạng kinh tế và thâm thủng ngân sách. Ông chỉ cần đưa ra lời hứa sẽ tạo việc làm cho thêm 12 triệu người mà không phải đưa ra chính sách, chương trình cụ thể, cũng đủ hấp dẫn đám đông.

Đối với người hiểu biết thì ông Obama có công đưa Hoa Kỳ ra khỏi hai cuộc chiến dai dẳng, tốn kém, làm kiệt quệ ngân quỹ; có chính sách ngoại giao chín chắn, không bị người dân nhiều nước khác coi là “đe dọa cho hòa bình thê giới,” đồng thời cho phép Mỹ dư khả năng và phương tiện chuyển quân để giữ vững địa vị ở những vùng quan yếu khác, như Á châu Thai Bình Dương. So với Obama, Romney là người thiếu kinh nghiệm và hiểu biết vế ngoại giao, đã có hành động và tuyên bố hố, như chê Anh không có khả năng tổ chức Thế vận hội 2012, hoặc hấp tấp chỉ trích chính quyền Obama khi chính quyền đang phải đối phó với biểu tình trước tòa đại sứ ở Ai Cập và vụ sát hại 4 nhân viên ngoại giao, gồm cả một đại sứ, ở Lybia …

Nhưng người dân Mỹ, trừ trường hợp hết sức đặc biệt, không bỏ phiếu vì chính sách ngoại giao mà vì tình hình kinh tế, nhất là nhưng vấn đề liên quan mật thiết đến cơm áo của họ

CÁC KHỐI CỬ TRI

H: Kinh nghiệm tranh cử Tổng thống ở Hoa Kỳ cho thấy các cuộc tranh luận truyền hình giữa hai ứng cử viên Tổng thống có ảnh hưởng rất lớn đối với khối cử tri “Độc Lập” nhưng ít khi thay đổi được lập trường của các nhóm cử tri thuộc thành phần Thiểu số, Phụ nữ, Di dân và Giới trẻ vì phần đồng lá phiếu của những cử tri này đã được quyết định dựa trên quyền lợi riêng của từng nhóm.

Như vậy, theo Giáo sư thì khuynh hướng này có thay đổi trong cuộc bầu cử Tổng thống năm nay không và căn cứ vào chính sách tranh cử của hai ông Obama và Romney thì ai có hy vọng chiếm được nhiều phiếu của các thành phần này ?

Đáp: Trong tình trạng phân hóa của chính trị Hoa Kỳ hiện nay, những người ủng hộ Obama hay ủng hộ Romney là những người đã quyết định bỏ phiếu theo chiều hướng nào rồi. Số chưa quyết định còn lại rất ít, đa số là phụ nữ. Vì thế, trong những cuộc tranh luận vừa qua và trong những ngày gần đây, các ứng cử viên đều tìm cách lấy sự ũng hộ và phiếu của phụ nữ.

Các cuộc thăm dò dư luận sau các cuộc tranh luận truyền hình cho thấy chúng có ảnh hưởng đến khuynh hướng bỏ phiếu của người dân và giới phụ nữ, nhất là cuộc tranh luận đầu tiên. Sau cuôc tranh luận đầu, Romney đã thu hẹp khoảng cách ủng hộ Obama của cử tri độc lập và của giới phụ nữ.

H: Thông thường cử tri không quan tâm lắm đối với ứng cử viên Phó Tổng thống, nhưng có vẻ như “định kiến” này đã thay đổi trong dư luận đối với Phó Tổng thống Joe Biden vì có thể ông sẽ là Ứng viên Tổng thống của đảng Dân chủ vào năm 2016 trong khi đối thủ của ông là Dân biểu Paul Ryan, Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Hạ viện Mỹ, một người trẻ, năng động và được phe Bảo thủ của đảng Cộng Hòa ủng hộ, và điều này có thể giúp liên danh Romney-Ryan thắng cử, Giáo sư nghĩ sao ?

Đáp: Ông Biden lúc ấy quá già để ra tranh cử Tổng Thống. Ông Ryan được sự ủng hộ của phe bảo thủ quá khích, thành phần tôn giáo cực đoan, và tea party. Đó là đóng góp của ông cho liên danh Romney-Ryan. Ngược lại chính sách thuế khóa cứng dắn của ông --cắt thuế, giảm chi--khiến ông trở thành đe dọa cho thành phần chính trị ôn hòa ở trong cả hai đảng.

Cuối cùng thì ưng cử viên TT chứ không phải ứng viên PTT đóng vai trò quyết định.

TEA PARTY-CỬ TRI DA MẦU

H: Thưa Giáo sư, trong cuộc tranh cử Tổng thống năm nay tôi không thấy nói nhiều đến Tea Party và như ông cũng biết là trong cuộc tranh cử Quốc hội năm 2010, nhiều người cùa Tea Party đã thắng cử vào Quốc hội giúp cho đảng Cộng Hòa chiếm đa số tại Hạ viện và cũng chính những người này đã gây khó khăn cho ông Obama trong hài năm qua, vậy tại sao Tea Party đã bị "lu mờ" trong cuộc tranh cử năm nay ?

Đáp: Tea Party bị coi là cực đoan, hành động của họ trong Quốc Hội cản trở sự hợp tác lưỡng đảng, đặc biệt là thỏa hiệp về ngân sách lúc đầu giữa Tổng Thống Obama và Chủ Tịch Hạ Viện Boehner. Họ vẫn còn ảnh hưởng và đưa ra được nhiều người ra ứng cử vào Quốc Hội năm nay, đồng thời cũng là một lực lượng quan trọng mà Romney cần sự ủng hộ. Vì Romney muốn lấy phiếu của phần tử ôn hòa trong đảng cộng hòa và các cử tri độc lập nên không muốn họ có vai trò nổi bật.

H: Nhân khi ông nói đến những tiếng nói và họat động tích cực nhưng thầm kín của Tea Party trong cuộc tranh cử hiện nay thì nhân đây tôi muốn ông cho biết về ảnh hưởng của các cử tri người da mầu trong cuộc tranh cử Tổng thống vì theo các cuộc thăm diò dư luận thì chắc chắn là liên danh Cộng Hòa Romney-Ryan sẽ không được phiếu của người da mầu, đặc biệt mà người Mỹ gốc Phi Châu. Ông có nghĩ như vậy không ?

Đáp: Người da mầu ở Mỹ thuộc nhiều chủng tộc khác nhau. So với người da trắng thì đa số họ thuộc thành phần yếu kém trong xã hội nên họ thường bỏ phiếu cho đảng dân chủ vì họ tin rẳng đảng này có chính sách giúp họ hơn. Người Mỹ da đen gốc Phi Châu thường bỏ phiếu cho đảng dân chủ . Thêm vào đó, lần này cũng như lần trước, đại đa số ủng hộ cho Obama vì ông là người da đen. Romney không tranh phiếu này được. Những sắc dân da màu khác, hoặc đến từ Nam Mỹ, hoặc đến từ Á châu thường bỏ phiếu theo quyên lợi của họ, hoặc vì lý do kinh tế, hoặc vì chính sách ngoại giao, hoặc vì lý do tôn giáo. Về phương diện kinh tế, người nghèo thường bỏ phiếu cho dân chủ, người giàu thường bỏ phiếu cho cộng hòa, tuy rằng cũng có trường hợp biệt lệ.

DO THÁI-IRAN

H: Ông có thể giải thích tại sao trong tất cả các cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ thì ứng cử viên của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều rất quan tâm đến việc bảo vệ Do Thái. Tại sao, thưa Giáo sư ?

Đáp: Vì hai lý do chính. Thứ nhất là mặc cảm tội lỗi vì trong thời Thế Chiến II, Tây phương, trong đó có Mỹ, đã gần như làm ngơ đê cho Hitler thi hành chính sách diệt chủng đối với dân Do Thái. Thứ hai, vì người Mỹ gốc Do Thái có ảnh hưởng lớn trong giới tài phiệt và truyền thông ở Mỹ. Vì cần tiền và cần được quảng cáo, không một chính trị gia nào muốn bị lực lượng này chống đối.

H: Trong cuộc tranh luận cuối cùng giữa hai ông Obama và Romney hôm 22/10 vừa qua, Tổng thống Obama thì nói đe dọa đối với nước Mỹ hiện nay là "lực lượng khủng bố", trong khi ông Romney lại coi Iran là mối đe dọa đối với nước Mỹ. Tại sao lại có sự khác nhau như thế ?

Đáp: Từ biến cố 9/11, suốt từ chính quyền Bush đến chính quyền Obama, “khủng bố xuyên quốc gia” (international terrorism) luôn được coi là mối đe dọa cho nền an ninh của Mỹ. Chương trình nguyên tử của Iran đã là mối quan tâm của Mỹ từ thời Bush, một mặt vì sợ một khi Iran có vũ khí nguyên tử, họ có thể chuyến vũ khí này cho quận khủng bố; mặt khác Do Thái coi một Iran có bom nguyên tử như là mối đe dọa sinh tử của họ. Obama nói đến đe dọa khủng bố để nhắc đến công ông đã giết được Osama bin Laden, và cũng nói đến công của ông đã chấm dứt chiến tranh ở Iraq và rút quân ở Afghanistan đề có thể tái phối trí lực lượng sang vùng Á châu Thái Bình Dương, một trung tâm kinh tế và chiến lược đang lên. Ông Romney không có gì để khoe và cũng khó chỉ trích chính sách của Obama một cách thuyết phục nên nêu ra mối đe dọa Iran, ngầm chỉ trích Obama chưa đủ ủng hộ Do Thái hầu lấy phiếu và tiền của nhóm quyền lợi Do Thái.

QUỐC PHÒNG-BIỂN ĐÔNG

H: Sau 3 cuộc tranh luận truyền hình, Ông đánh giá chính sách Ngọai giao và Quốc phòng của hai ông Obama và Romney giống nhau ở điểm nào và khác nhau như thế nào ?

Đáp: Trong cuộc tranh luận cuối cùng, ông Romney gần như đồng ý với ông Obama trong các chính sách ngoại giao quan trọng, bởi vì người ta khó mà chỉ trích một đường lối ngoại giao chín chắn và tương đối thành công. Romney cũng muốn tránh bị mang tiếng “diều hâu” sẵn sàng đưa Hoa Kỳ vào một cuộc phiêu lưu quân sự mới.

Về quốc phòng, Romney chủ trương giảm thuế, giảm mức công chi, nhưng lại tăng ngân sách quốc phòng. Chính sách này sẽ đưa đến hoặc thâm thủng ngân sách quốc gia hoặc cắt giảm các chương trình cần thiết cho người già, người nghèo, và những người đi học, chưa làm ra tiền.

Một điểm đặc biệt khác là, nhiều cố vấn ngoại giao của Romney thuộc thành phần tân bảo thủ từng làm việc với Tổng Thống Bush, đặc biệt là Dick Bolton, một diều hâu nổi tiếng, từng tuyên bố trụ sở Liên Hiệp Quốc có 38 tầng, nếu 10 tầng bị sập cũng không sao cả. Nhóm tân bảo thủ dưới thời Bush đã đưa nước Mỹ vào vũng lầy Iraq. Với Romney, họ có thể dẫn nước Mỹ vào một sa lầy mới ở Trung Đông.

H: Bây giờ tôi muốn quay qua Á Châu. Như Giáo sự đã biết, cả hai ông Obama và Romney đếu có nhắc đến Trung Quốc trong cuộc tranh luận về Ngọai giao hôm 22/10, nhưng cả hai đếu chú trọng đến chuyện mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng như chuyện Trung Quốc không chịu hạ thấp giá trị của đồng Nhân Tệ, đồng bạc của Trung Quốc, khiến Mỹ bị thiệt thòi khi buôn bán với Trung Quốc. Ngược lại, tôi không thấy họ bàn đến tình hìngh an ninh ở Biển Đông và mối đe quân sự của Trung Quốc ở vùng biển này, nơi mà các nước Đông Nam Á, trong đó có CViệt Nam rất quan tâm.

Ông có thể giải thích tại sao vấn đề Biển Đông không được hai ông Obama và Romney thảo luận, thưa Giáo sư ?

Đáp: Họ không thảo luận vì điều hợp viên không hỏi, và thời gian trả lời bị giới hạn. Trên thực tế, chính quyền Obama rất quan tâm đến vùng Á châu Thái Bình Dương. Điều này được thể hiện qua chính sách “quay” sang A Châu (pivot to Asia) và nhiều cuộc công du của các viên chưc cao cấp nhất của Mỹ sang nhiều nước Á châu đê củng cố những quan hệ chiến lược cũ hoặc đặt những quan hệ chiến lược mới. Tranh chấp Biển Đông cũng là một mối quan tâm của Mỹ nhưng chưa phải là đe dọa sinh tử, và Mỹ cũng không muốn bị lôi cuốn vào một cuộc đụng độ quân sự với Trung Quốc. Tranh chấp về thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ không phải là một điều mới, và cũng chỉ là điều nhỏ so với vấn đề chiến lược. Nhưng nhu cầu tranh cử khiến ông Romney nêu chính sách “kìm lãi suất thấp của Trung Quốc để liên kết nó với tình trạng thiếu công ăn việc làm dưới thời Obama, và ông Obama phải trả lời.

AI CÓ CƠ MAY ?

H: Sau cùng, dựa trên những điều ông nói trong cuộc phỏng vấn này và dư luận của cử tri thì cho đến thời điểm này liệu Giáo sư có thể đóan được Tổng thống Obama hay Thống đốc Romney có nhiều yếu tố thuận lợi trong cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc ?

Đáp: Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy đây là một cuộc tranh cử sát nút, không ai giành được phần thắng rõ rệt. Nhưng con đường đi đến Bạch Cung của Romney khó hơn. Trong quá khứ, tiểu bang nào có nhiều cử tri dân chủ thì dân chủ thắng, tiểu bang nào có nhiều cử tri cộng hòa thì cộng hòa thắng. Căn cứ vào mô hình ấy thì hiện nay Obama có chắc 237 phiếu cử tri đoàn và Romney có chắc 191 phiếu. Muốn thắng phải có 270 phiếu cử tri đoàn. Trong số những tiểu bang còn đang trong vòng tranh chấp, Obama chỉ cần thắng thêm Ohio (18 phiếu) và Wisconsin (10 phiếu) là những nơi ông đang dẫn đầu. cộng với Iowa (6 phiếu) là đủ; trong khi đó thì Romney phải thắng ở Florida (29 phiếu) North Carolina (15 phiếu), Virginia (13 phiếu), và Ohio (18 phiếu) mới tới 266 phiếu.

Tình hình thất nghiệp lợi cho Romney, nhưng ông không khai thác được tối đa vì chính sách tài chính, thuế khóa, và ngoại giao của ông, trong những nét chính, chỉ lặp lại chính sách thất bại thời Bush, cộng thêm với ảnh hưởng của phe Tea party đối với ông khiến nhiều người quan ngại.

Nếu người dân chỉ nghỉ đến vấn đề thất nghiệp thì điều này lợi cho ông Romney. Nếu người dân nghĩ xa đến hậu quả mà chính sách của ông Romney có thể đem lại cho Mỹ thì ông Obama có lợi thế.

Phạm Trần: Tôi xin cảm ơn Giáo sư.
huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »


Image

Quyền lực chính trị nhà nước cộng sản đang suy giảm

Đông Kinh
(Danlambao) - Có hai điểm thể hiện rõ nhất để thấy rằng quyền lực chính trị của nhà nước cộng sản suy giảm một cách nhanh chóng là trong những năm gần đây, xã hội càng trở nên bất an ninh và người dân có nhiều chống đối với chính quyền hơn.

Khi xã hội càng trở nên bất an ninh và rối loạn thì bản chất là người ta không sợ luật pháp đang chế tài cái xã hội đó, hay nói cách khác, một cách không chính thức, người dân phủ nhận vai trò của cái nhà nước đang nắm quyền kiểm soát xã hội. Nhà nước không có khả năng để thực hiện đầy đủ các chức năng của một nhà nước, khi người dân không còn quan tâm tới những "sản phẩm" (là chính sách, luật pháp, qui định điều chỉnh xã hội) của nó. Khi ngày càng nhiều người muốn "bứt phá" và vượt lên cái luật pháp nhà nước đó cũng là lúc xã hội chứng kiến một sự hỗn loạn. Trong bối cảnh kinh tế đang ngày càng khó khăn bởi tham nhũng và vơ vét của cải, thì các đối sách kinh tế cũng sẽ không có hiệu quả cao, vì sự mất niềm tin quá lớn. Chúng ta xem tham nhũng và vơ vét của cải là một hình thức bóc lột kiểu mới, tàn độc và dã man bởi hệ lụy nó gây ra, không phải đối với từng cá thể mà đối với cả một cộng đồng người, không chỉ một thế hệ, mà đối với cả những thế hệ tiếp theo. Nó không trực tiếp, nhưng nó gián tiếp. Một khi môi trường sống trở nên lụn bại thì hệ lụy nó không chừa một ai, kể cả các nhóm người đang làm việc cho chính thể nhà nước đó cũng chịu chung số phận, con cái của tất cả mọi người, là an ninh hay là người dân, là doanh nhân hay cán bộ viên chức,... Và vì vậy, dự kiến xã hội sẽ còn nhiều rối loạn hơn nữa.

Sự chống đối của người dân đối với chính quyền đến từ nhiều lý do. Có thành phần do chịu quá nhiều áp bức không chịu nổi mà tức nước vỡ bờ, như Đoàn Văn Vươn phản ứng khi bị cướp đất, các tài xế xe húc CSGT,... Nhưng cũng có thành phần trí thức hiểu được tình thế quốc gia đứng trước bờ vực suy kiệt mà cất lên tiếng nói chứ bản thân họ không hề bị xâm hại hay vì cuộc sống khó khăn như anh luật sư Lê Công Định, tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức,...

Cả hai điểm trên đều cho thấy rằng người dân đã dần không còn "sợ" nhà nước cộng sản. Như vậy, dù trực tiếp hay gián tiếp, xã hội, người dân, các tổ chức dân sự, dần không còn thừa nhận vai trò lãnh đạo của nhà nước. Tức, tính chính danh của nhà nước này bản thân nó không có, và ngày càng bị công khai sự không thừa nhận.

Việc để xảy ra các vấn đề lớn có nguy cơ suy vong đối với đất nước như dự án Bauxite Tây Nguyên, các gói dự án điện năng lượng quốc gia, ngành xương sống của nền kinh tế công nghiệp đều do người TQ trúng thầu, các thủy đập hay các công trình lớn đều có sự can thiệp từ phía TQ, nếu không là con người thì cũng là máy móc kém chất lượng,... thì không ai cho rằng đó đơn thuần là sự chủ quan và kém cỏi của các lãnh đạo Hà Nội. Ngược lại, người ta còn thấy rõ một điểm là lòng tham về vật chất của họ quá lớn, bào mòn sức sống của dân tộc. Dã man và tàn độc. Vừa kém, vừa tham và là thủ phạm dẫn đến tình trạng một đất nước nguy cơ suy vong.

Đông Kinh
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Bao Cát Tập Đấm Dát Vàng Made In China Của Mitt Romney
Vũ Anh Mai

Viết theo bài: How Mitt Romney Invested Millions in Outsourcing trên trang mạng của tờ báo chuyên đầu tư Forbes, ngày July 12, 2012.

Trong cả 3 cuộc tranh luận giữa các ứng cử viên tổng thống Hoa kỳ vừa qua, ông Mitt Romney luôn luôn đả kích chính quyền Obama không đủ mạnh tay với Trung quốc trong quan hệ mậu dịch song phương, nên đã làm mất hàng triệu việc làm trong ngành kỹ nghệ sản xuất của Hoa kỳ. Đáp trả những tấn công đó, ông Obama lập đi lập lại rằng: chính Romney đã đầu tư hàng triệu Mỹ kim cho các công ty Trung quốc đưa đến hậu quả mất việc làm cho công nhân Mỹ. Có thật là ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa này đã đầu tư bạc triệu vào các công ty Trung quốc hay không?

Tờ báo đầu tư tài chánh Forbes đã đăng bài: Làm thế nào Mitt Romney đầu tư hàng triệu vào việc Outsourcing (tạm dịch Xuất Việc Ra Ngoài) dựa trên bài viết Romney Invested Millions in Chinese Firm That Profited on US Outsourcing, của tác giả David Corn, đăng trên tạp chí chính trị Mother Jones. Bài viết kể trên đưa ra những bằng chứng về việc ông Romney đã đầu tư ra sao vào công ty Global-Tech của Trung quốc trong cuối thập niên 90 của thế kỷ trước.

Hoạt động kinh doanh của ông Romney trong thế giới tài chánh

Vào năm 1984, ông Romney là một trong 5 thành viên sáng lập công ty tài chánh Bain Capital, quản lý một quỹ đầu tư, hiện nay, đã lên tới 66 tỉ Mỹ kim. Trong 2 năm 1991-1992, ông giữ chức vụ Tổng quản trị (CEO), và đã tạm nghỉ để ra tranh cử chức thượng nghị sĩ tiểu bang Massachusette cho nhiệm kỳ bắt đầu vào năm 1994. Sau khi tranh cử thất bại, ông quay trở lại làm việc. Tuy nhiên, ông đã tạm nghỉ thêm một lần nữa, vào năm 1999, để điều hành Olympic mùa đông tại Salt Lake City, tiểu bang Utah. Vào đầu năm 2002, ông thực sự rút lui ra khỏi vai trò tổng giám đốc điều hành để hoạt động chính trị. Một hợp đồng về hưu với Bain Capital trong 10 năm, khiến mỗi năm vẫn đem về hàng triệu Mỹ kim tiền lời cho Mitt, vì ông vẫn còn nắm giữ các cổ phiếu trong công ty.

Đầu tư vào công ty Global-Tech của Trung quốc

Mặc dù, ban tranh cử của ông Romney luôn cải chính rằng: ông Romney đã rời khỏi công ty Bain Capital vào năm 1999 để điều hành Ủy ban thế vận mùa đông ở Salt Lake, nhưng các hồ sơ của cơ quan SEC, Cơ quan giám sát liên bang về thị trường chứng khoán, lại cho thấy một sự thật khác hẳn.

Theo hồ sơ của SEC, vào ngày 17/4/1998, công ty Brookside Capital Partners Fund, một công ty liên doanh với Bain Capital, báo cáo sở hữu 6.13% cổ phiếu của công ty Hong Kong, tên là Global-Tech Appliances, chuyên sản xuất các đồ dùng điện gia dụng tại các nhà máy tại tỉnh Dongguan, Trung quốc. Vào tháng tám cùng năm, số cổ phiếu Global-Tech của Brookside tăng lên 10.3%. Cả 2 hồ sơ khai với cơ quan SEC cho thấy, ông Mitt Romney là chủ sở hữu thực thụ của các cổ phần, đồng thời là tổng giám đốc (CEO), chủ tịch hội đồng quản trị và giới chức điều hành của Brookside. 2 hồ sơ trên được khai bởi ông Dominic Ferrante, giám đốc điều hành của Brookside và Bain Capital. Như vậy ông Mitt Romney là người duy nhất kiểm soát công ty Brookside.

Tài liệu giữ tại SEC không cho biết rõ số tiền đầu tư cụ thể vào công ty Global-Tech của ông Romney là bao nhiêu, tuy nhiên, theo thời điểm mà công ty của ông mua 748 ngàn cổ phiếu lần đầu tiên, với giá là $19 Mỹ kim, có nghĩa là công ty Brookside đã phải bỏ ra ít nhất là $14.2 triệu Mỹ kim.

Cuối năm 1998, trong hồ sơ khai với SEC, công ty Brookside đã giảm số cổ phiếu từ 10.3% xuống còn 4.63%, phần còn lại được sang nhượng cho công ty Sankaty High Yield Asset Investor LTD- một công ty mang quốc tịch đảo quốc Bermuda nhưng lại chính do ông Mitt Romney là sở hữu chủ, giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quản trị. Như vậy, 10.3% giá trị cổ phiếu của Global-Tech, được chia ra cho 2 công ty đều trực thuộc quyền sở hữu của ông Mitt Romney.

Không cần phải là chuyên gia về tài chính mới biết chuyện các đảo quốc đều là thiên đường trốn thuế.Do đó, việc ông Mitt Romney tạo nên một công ty mang quốc tịch đảo quốc Bermuda, nơi không đòi hỏi nguồn gốc tài chánh cũng là chuyện dễ hiểu.Mặt khác, nhiều chuyên gia cho rằng: Mitt đã khôn khéo tính trước con đường làm chính trị nên che dấu lai lịch nguồn gốc vốn tư bản của Mỹ đầu tư vào Trung quốc để hưởng lợi vì chiến thuật “xuất việc ra ngoài” nước Mỹ.

Báo cáo lưu giữ tại SEC cho biết, ở thời điểm ngày 25/3/1999 công ty Brookside và Sankaty sở hữu 9.11% cổ phiếu của Global-Tech và chính Romney là sở hữu chủ cả Brookside lẫn Sankaty.

Theo hồ sơ của SEC, vào tháng 8 năm 2000, Brookside và Sankaty bán trọn cổ phiếu đang giữ của Global-Tech. Trong hồ sơ của SEC, không tiết lộ con số lời lỗ của Mitt Romney trong vụ đầu tư này.

Ai bị thiệt thòi vì sự phát triển của Global-Tech

Chỉ cần nói đến sự thành công của Global-Tech thì sẽ suy luận ra một cách dễ dàng ai là người thiệt thòi vì sự đầu tư vào công ty sản xuất tại Trung quốc này.

Vào khoảng thời điểm mà Romney đầu tư vào chứng khoán của Global-Tech, công ty này cho biết đã thu được lợi nhuận kỷ lục từ các công ty Hoa kỳ “xuất việc ra ngoài” cho họ. Trong một thông cáo báo chí vào ngày 4/9/1998, Global-Tech cho biết đang tạm ngưng việc mở rộng, với trị giá là $30 triệu Mỹ kim, cho các nhà máy của họ ở Dongguan, vì đối tác thương mại là Sunbeam, một công ty kỹ nghệ phía Hoa kỳ, đang cắt giảm đặt hàng. Tuy nhiên, tổng giám đốc của Global-Tech, John C.K.Sham, tuyên bố: "Mặc dù, những khách hàng như Sunbeam không “xuất việc ra ngoài” nhanh chóng như chúng ta chờ đợi, chúng tôi vẫn tin rằng, về đường dài khuynh hướng “xuất việc ra ngoài” của các công ty Hoa kỳ vẫn sẽ tiếp tục." Theo báo cáo vào giữa năm 1998, công ty Global-Tech ghi nhận một con số lời kỷ lục lên đến $118.3 triệu Mỹ kim, tăng 89% so với năm trước. Không chỉ sản xuất cho Sunbeam, công ty Global-Tech lại thêm khách hàng từ các công ty kỹ nghệ gia dụng khác của Hoa kỳ như Hamilton Beach, Mr.Coffe, Protor-Silex, Revlon và Vidal Sassoon.

Như vậy, tiền đầu tư từ các công ty như Brookside, Sankaty của ông Mitt Romney, đã giúp cho công ty Global-Tech xây dựng thêm những nhà máy ở Trung quốc để sản xuất cho các công ty kỹ nghệ Hoa kỳ tìm cách giảm chi phí bằng cách “xuất việc ra ngoài” cho các công ty Trung quốc.

Với kế sách “Outsourcing-Xuất việc ra ngoài”, chỉ có các công nhân tại Hoa kỳ thì thất nghiệp, còn chủ nhân của các quỹ tư bản như ông Mitt Romney và chủ nhân ông của các công ty kỹ nghệ Hoa kỳ lại thu lợi nhiều hơn vì giá nhân công rẻ mạt ở Trung quốc trong thời gian đó.

Bao cát tập đấm dát vàng made in China

Các bình luận gia chính trị Hoa kỳ hay so sánh Trung quốc bằng hình ảnh bao cát tập đấm bởi 2 ông ứng cử viên khi có dịp thì luôn lên gân tố cáo nước này, để tranh thủ ủng hộ của cử tri. Câu hỏi được đặt ra là: Với những khoản lợi nhuận to lớn khi đầu tư vào các công ty ở Trung quốc như Global-Tech, ông Romney có thật sự vung quyền vào bao cát dát vàng made in China không?
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Ôn Gia Bảo làm giàu ra sao?

New York Times bị chặn tại Trung Quốc

BẮC KINH (Washington Post) -Nhà cầm quyền Trung Quốc hôm Thứ Sáu đã cho đóng trang mạng của báo New York Times
ngay sau khi đăng một bài phóng sự điều tra nói là gia đình Thủ Tướng Ôn Gia Bảo (Wen Jiabao) có tài sản trị giá tổng cộng tới 2.7 tỷ dollars.

Image
Thủ Tướng Ôn Gia Bảo (Wen Jiabao)

Phản ứng cương quyết và mau chóng này không là điều lạ ở vào một thời điểm được coi là “nhạy cảm” của chính trị Trung Quốc khi đang sắp đến giai đoạn chuyển giao quyền lực trong ban lãnh đạo. Ðể người dân đọc biết và bàn tán rộng rãi về những tin nổ lớn gây chấn động dư luận bị coi là phương hại đến an ninh trật tự xã hội và uy tín của đảng cầm quyền.

Cả hai phiên bản Anh ngữ và Hoa ngữ của trang mạng đều đồng thời bị đóng lại. Trên lưới điện toán và các dụng cụ điện tử di động, vào bộ dò đánh lên hàng chữ New York Times hay bằng chữ Hán đều không có trả lời. Trang BBC TV cũng bị gián đoạn một thời gian ngắn khi tường trình về bài báo New York Times.

Ðây là một thua thiệt đáng kể cho tờ New York Times trong nỗ lực đi vào thị trường Trung Quốc. Tờ báo đã đầu tư khá tốn kém, thuê thêm hơn 30 ký giả mới, thông dịch viên và kỹ thuật gia, để mở trang mạng Hoa ngữ từ cuối tháng 6 vừa qua.

Nữ phát ngôn viên Eileen Murphy tuyên bố: “Chúng tôi hy vọng truy cập đầy đủ trở lại trang mạng sẽ sớm được phục hồi và sẽ yêu cầu nhà chức trách Trung Quốc bảo đảm rằng độc giả có thể tiếp tục đọc những bài vở tin tức tuân thủ đúng tiêu chuẩn chuyên nghiệp của New York Times.” Bà nói thêm: “Xã hội Trung Quốc càng ngày càng cởi mở hơn và truyền thông đa dạng hơn. Sự đáp ứng với trang mạng Hoa ngữ cho thấy Times có thể đóng một vai trò quan trọng trong nỗ lực nâng cao phẩm chất báo chí cho nhân dân Trung Quốc.”

Bộ Ngoại Giao Trung Quốc gọi bài báo của tờ New York Times là một hành động có tính cách bôi nhọ và mang hàm ý xấu. Trong cuộc họp báo thường ngày, phát ngôn viên Hong Lei của bộ nói rằng việc ngăn chặn trang nhà của tờ New York Times là “theo đúng luật lệ hiện hành,” tuy nhiên không bình luận hay bác bỏ nội dung bài báo.

Hồi tháng 6, bản tin của Bloomberg News cho hay đại gia đình của Phó Chủ Tịch Nước Tập Cận Bình (Xi Jinping), người sắp lên chức lãnh đạo thay thế Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào vào tháng 11, có tài sản tới $376 triệu. Sau đó trang điện tử Bloomberg hoàn toàn bị Trung Quốc đóng cửa.

Mặc dầu ở một đất nước mà “sự giầu sang và quyền lực hội tụ” như tờ New York Times viết, tài sản khổng lồ của gia đình Thủ Tướng Ôn Gia Bảo được nêu lên vẫn là trái bom gây sự kinh ngạc lớn. Ký giả David Barboza và ban biên tập đã nghiên cứu thu thập chi tiết từ nhiều nguồn khác nhau và những số liệu căn cứ theo hồ sơ tài liệu chính thức để làm bài phóng sự.

Ôn Gia Bảo, 70 tuổi, quê quán ở Thiên Tân, bà mẹ là giáo viên và ông bố đã bị đưa đi làm việc nuôi heo vào thời kỳ cải tạo Cách Mạng Văn Hóa. Năm ngoái, kể lại thời niên thiếu của mình trong một lần phát biểu trước công chúng, Ôn đã nói “gia đình tôi hết sức nghèo.” Nhưng từ khi vào vị trí lãnh đạo, phó thủ tướng năm 1998 và 5 năm sau là thủ tướng, bây giờ tình trạng hoàn toàn đảo ngược, gia đình của ông cũng như của nhiều cán bộ đảng viên cao cấp khác ở Trung Quốc là những đại gia có tài sản đứng hàng đầu các triệu phú trên thế giới.

Bà góa phụ Yang Zhiun, mẹ ông, năm nay 90 tuổi, căn cứ trên hồ sơ các công ty xí nghiệp và tài liệu của các cơ quan giám sát, từ năm 2007 đã giữ một tài sản trị giá $120 triệu. Bằng cách nào bà thu góp được khoản tiền ấy, ít nhất trên giấy tờ, là điều chưa rõ; cũng như không biết bà có thật sự hiểu rằng tên của mình đang đứng làm chủ nhiều tài sản như vậy không.

Theo New York Times, trải qua hơn 10 năm cầm quyền của Ôn Gia Bảo, gia đình và thân quyến của ông từ con trai con gái, đến em ruột, em rể và những người họ hàng xa gần khác, đã trở nên giầu có vượt bậc. Trong nhiều trường hợp, tên các đương sự này không tìm thấy trên giấy tờ vì được che đậy qua một mạng lưới phức tạp các thủ thuật tinh vi về đầu tư quản lý của một xã hội đầy rẫy điều bí ẩn.

Tờ New York Times nói rằng họ tìm thấy những cổ phần của gia đình Ôn Gia Bảo trong nhiều ngân hàng, tổ hợp tài chính, công ty du lịch, thương mại, xây dựng, các dự án phát triển hạ tầng cơ sở và cả các tổ chức kinh doanh nước ngoài. Gia đình này chiếm vị trí trọng yếu trong Tổ hợp Bảo hiểm Ping An, một trong những tổ hợp tài chính lớn hàng đầu thế giới.

Ở vị trí thủ tướng trong một nền kinh tế mà nhà nước hãy còn nắm giữ vai trò chỉ đạo, Ôn Gia Bảo có rất nhiều quyền hạn đối với các công ty xí nghiệp và điều kiện để thân nhân của ông có thể dựa vào đó sử dụng để làm giầu, có hay không có sự tán trợ của ông là điều người ta chưa thể biết hết. Chẳng hạn người em trai của ông có một công ty đã ký được hợp đồng hơn $30 triệu về việc xử lý nước thải và phế liệu y tế cho các thành phố lớn. Hợp đồng này có sau khi nhà nước ban hành quy định kiểm soát chặt chẽ các chất thải sau vụ bệnh dịch SARS năm 2003.

Năm 2004, Hội Ðồng Chính Phủ mà Ôn Gia Bảo là chủ tịch ban hành quy chế cho phép các công ty tài chính mở rộng không giới hạn lãnh vực hoạt động. Ping An đã trở thành một công ty công cộng, bán IPO (cổ phiếu công khai) gây vốn được $1.8 tỷ và gia đình Ôn Gia Bảo đã thủ lợi bằng việc đầu tư trước khi công ty ra công khai. Các tài liệu kế toán năm 2007, năm cuối cùng mà hồ sơ chứng khoán được phổ biến, cho biết gia đình và những đối tác nắm giữ $2.2 tỷ chứng khoán của Ping An.

Mặc dầu đảng Cộng Sản Trung Quốc yêu cầu cán bộ công nhân viên kê khai tài sản của mình và gia đình nhưng đòi hỏi này chỉ liên hệ đến những thân nhân trực tiếp bao gồm vợ và con; anh chị em và những người họ hàng quyến thuộc khác không nằm trong quy định ấy và trở thành một ngõ dễ dàng cho sự trốn tránh.

Trương Bồi Lợi (Zhang Beili), bà vợ của Ôn Gia Bảo, là người rất ít khi xuất hiện trong những sinh hoạt chính thức cùng với chồng. Nhưng dân chúng Trung Quốc cũng như giới kinh doanh thương mại ngoại quốc đều biết đến bà với biệt danh “Nữ hoàng kim cương.” Là một cựu kỹ sư địa chất, bà là người đã giúp lập ra những quy định trong ngành thương mại hột xoàn và đá quý, thành lập thị trường trao đổi kim cương ở Thượng Hải và trung tâm xét nghiệm ở Bắc Kinh mà tất cả những giới buôn bán kim cương đều cần phải có chứng chỉ xác nhận của trung tâm này. Bà Trương là chủ tịch công ty quốc doanh kim cương do bà thành lập năm 1993, đến nay người em trai của bà và mấy người thân khác nắm giữ tới 80% cổ phần.

Tài liệu do Wikileaks tiết lộ nói rằng có lúc Thủ Tướng Ôn Gia Bảo muốn ly dị với bà Trương vì bà lợi dụng khai thác quá đáng vị trí lãnh đạo của ông vào việc làm ăn. Tuy nhiên đến nay gia đình này vẫn ổn định bình thường và dịch vụ kinh doanh tiếp tục không có gì trở ngại.

Thủ Tướng Ôn Gia Bảo nổi tiếng là người có chủ trương đổi mới, ông nhiều lần lên tiếng kêu gọi cải cách kinh tế và cả chính trị ở Trung Quốc. Ông cũng là người mạnh mẽ đề xướng thanh lọc nhân sự, tiêu trừ tham nhũng. Tuy không thể rõ ông có thực tâm thi hành đến đâu nhưng sự kiện này chắc chắn khiến ông gặp sự chống đối của một số phe phái trong đảng. Vào thời gian cuối cùng của nhiệm kỳ và trước khi ông rời khỏi vị trí lãnh đạo và có lẽ chỉ còn giữ một chức vị tượng trưng, không hiểu việc phổ biến công khai hiện tượng tiêu cực từ gia đình ông có phải là nằm trong mưu đồ đấu tranh nội bộ rất thường thấy ở chế độ độc tài đảng trị này hay không.

Rất nhiều tình tiết cũng như thắc mắc nghi vấn về chuyện Thủ Tướng Ôn Gia Bảo như trình bày trong bài báo New York Times, sẽ còn phải chờ thời gian mới có thể hiểu sự thật. Chính ông cũng đã từng có lần hé lộ cho thấy rằng biết tất cả những dư luận đồn đại về mình và gia đình, nhưng luôn luôn khẳng định là “chưa bao giờ lợi dụng chức quyền để kiếm lợi ích riêng.” Trong một cuộc họp báo tại Bắc Kinh hồi tháng 3, Thủ Tướng Ôn Gia bảo tuyên bố: “Tôi có đủ can đảm đối diện với nhân dân và lịch sử. Có những người sẽ tán đồng các việc tôi đã làm nhưng cũng có nhiều người sẽ chỉ trích. Chung cuộc thì lịch sử sẽ có lời phán xét tối hậu.” (HC)
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Trò ảo thuật về bầu cử

Lữ Giang
Nhiều người Việt đã cảm thấy buồn cười khi cả hai ứng cử viên Obama và Romney chẳng thèm đến vận động ở California và Texas, nơi có đông cử tri nhất, thì một số cá nhân, tổ chức hay cơ quan truyền thông của người Việt tại hai bang này lại đang hung hăng phát động chiến dịch ủng hộ hay đả đảo hai ông ấy. Có người còn khóc hu hu và nói rằng đây là vấn đề sinh tử của đất nước ta: Thằng cha Obama mà thắng là bỏ mẹ!

Nếu chuyện đó xẩy ra cách đây mười hay mười lăm năm, chúng ta còn có thể hiểu được, vì lúc đó người Việt chưa biết nhiều về nước Mỹ. Nay các cơ quan truyền thông đã được mở rộng, người Việt đã hiểu rõ cơ cấu bầu cử của nước Mỹ. Các tranh luận về cuộc suy thoái kinh tế đang diễn ra đã giúp người Việt hiểu rõ hơn mặt trái đàng sau các sinh hoạt chính trị trên đất nước này. Do đó, không thể cứ tiếp tục làm cái công việc lẩm cẩm như vậy.

DÃ TRÀNG XE CÁT BIỂN ĐÔNG

Như chúng tôi đã nói, nước Mỹ không bầu cử tổng thống theo phổ thông đầu phiếu như VNCH trước đây và hầu hết các nước trên thế giới. Nước Mỹ bầu tổng thống bằng cử tri đoàn theo một thể thức rất quái đản, nên vai trò của thiểu số người Mỹ gốc Việt trở thành con số không.

Trong bài “Tử kỳ hữu định”, chúng tôi đã nói rất rõ: California (55 phiếu), New York (29 phiếu) vàIllinois (20 phiếu)... được coi là những bang SOLID đối với Dân Chủ, lúc nào Đảng Dân Chủ cũng thắng. Còn Texas (38 phiếu) Tennessee (11 phiếu), Kentucky... là thành trì của Đảng Cộng Hoà. Do đó, ở California hay Washington mà khối người Việt nhỏ bé có rát cổ rát họng chửi Obama thì Obama vẫn thắng. Còn ở Texas hay Tennessee không cần làm gì cả, Obama vẫn thua. Muốn gỡ gạc cho Obama hay Romney chút xíu, từ cuối năm ngoái đã phải di chuyển qua Ohio hay Florida, vì đó là những bang TOSS-UP, lá phiếu của ta có thể có chút giá trị.

Nhìn lại, trong các cuộc bầu cử tổng thống tại đất nước này, khoảng 1 triệu rưởi người Việt có cựa quậy gì rồi cũng chỉ là “Dã tràng xe cát biển đông”.

THỦ ĐOẠN ĐÁNH LỪA CỬ TRI

Sau cuộc tranh luận của hai ứng cử viên Phó Tổng Thống là Joe Biden và Paul Ryan hôm 10.10.2012, hãng thông tấn CNN đưa ngay ra kết quả của một cuộc thăm dò, cho biết Ryan thắng Biden 4 điểm: 48% ủng hộ Ryan và 44% ủng hộ Biden. Ngay sau đó, một cuộc thăm dò khác của hãng thông tấn CBS lại đưa ra một kết quả hoàn toàn trái ngược: Có đến 50% ủng hộ Biden, chỉ có 31% ủng hộ Ryan. Sao lạ vậy?

Jen De Pinto, người chỉ huy cuộc thăm dò của CBS giải thích rằng hai bên dựa vào hai căn bản khác nhau. CNN thăm dò dựa vào danh sách cử tri, còn CBS dựa vào những cử tri chưa có quyết định dứt khoát đang xem tranh luận. Theo Jen De Pinto, hiện nay có khoảng từ 15% đến 20% cử tri chưa có quyết định đứt khoát.

Qua cuộc tranh luận nói trên, đa số cho rằng kết quả của CBS đúng hơn của CNN. Sự giải thích của Jen De Pinto còn cho chúng ta thấy thăm dò có thể được xử dụng như một thủ đoạn để đánh lừa cử tri. Thí dụ: Muốn kết quả thiên về Obama, chỉ cần hỏi cử tri của các tiểu bang được coi là SOLID đối với Đảng Dân Chủ như California, Washington, Illinois, New York, Main, Maryland, v.v. Trái lại muốn ủng hộ Romney, chỉ cần hỏi các cử tri thuộc các tiểu bang được coi là SOLID đối với Đảng Cộng Hoà như Texas, Tennessee, Montana, v.v. Do đó, kết quả thăm dò được đưa ra hàng ngày hay hàng tuần hiện nay không đáng tin cậy. Nhiều người còn nghi ngờ nhiều bảng kết quả đã được sáng chế theo số tiền được trả hay theo mệnh lệnh của các thế lực tư bản đứng đàng sau.

Một tài liệu khảo sát về bầu cử được coi là đáng tin cậy hơn cả, vốn được các nhà viết bình luận tham khảo, đó là các Election Dashboards (Bảng ghi gia tốc tranh cử), nay cũng đang trở thành rối loạn. Ngày 14.10.2012 bảng ghi nhận của Huffpost Politics cho thấy Obama đã chiếm được 253 phiếu cử tri đoàn, tức chỉ cần 17 phiếu nữa là có thể thắng cử (270 phiếu), trong khi Romney chỉ mới được 206 phiếu, tức cần 64 phiều nữa.

Nhưng hôm 21.10.2012, Examiner.com đưa ra một kết quả khác cho biết Romney đã được đến 321 phiếu cử tri đoàn, còn Obama mới chỉ được 217 phiếu. Nếu đúng như vậy, hai bên sẽ không cần tranh luận nữa. Nhưng ngày 22.10.2012 Huffpost Politics lại đưa ra một kết quả cập nhật cho biết Obama đã được 277 phiếu trong khi Romney chỉ được 191 phiếu!
Nhìn lại, việc thiết lập và công bố các bảng thăm dò hay các bảng kiểm kê đôi khi chỉ là những thủ đoạn đánh lừa cử tri.

AI NẮM QUYỀN QUYẾT ĐỊNH?

Trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2000, ngày 28.10.2000 chương trình Agenda của Mỹ đã làm một cuộc phỏng vấn bình luận gia và nhà văn nổi tiếng Gore Vidal về cuộc tranh cử giữa Gore và Bush. Câu hỏi được đặt ra như sau: “Có cái gì khác biệt giữa Gore và Bush?” Gore Vidal đã phán những câu nẩy lửa như sau:

“Ồ, chúng ta nắm chắc hệ thống chính trị của nước Mỹ trong 50 năm gần đây. Chúng ta có bầu cử nhưng không có quan điểm chính trị. Chúng ta có một đảng chính trị - đảng công ty Mỹ quốc, một đảng về tài sản (We have one political party - the party of corporate America, the property party) - và đảng đó có hai nhánh. Một nhánh được gọi là Dân Chủ, một nhánh được gọi là Cộng Hòa. Vậy, chính yếu là cùng một người vừa tài trợ cho Gore vừa tài trợ cho Bush.

“Chỉ có những khác biệt nhỏ. Bush cởi mở hơn, không giấu giếm trong việc bênh vực người giàu. Nhưng trên những vấn đề căn bản, như ngân sách quân sự chẳng hạn, đã phá hoại nền kinh tế của chúng ta, chứ không tốt như đang tiên đoán...”

Những tiên đoán của Gore Vidal đã đúng. Các thế lực tư bản đã quyết định chọn Bush, mặc dầu lúc đó Gore đã hơn Bush trên nữa triệu phiếu. Sau khi đắc cử, người được đa số người Việt chống cộng yêu thích là Bush đã tận tình phục vụ nhà giàu, phá hoại nền kinh tế của nước Mỹ và của cả thế giới.

PHÁ HOẠI NỀN KINH TẾ

Trước hết, ông Bush làm hai đạo luật giảm thuế cho nhà giàu trong 10 năm, từ 2000 đến 2010. Trong khi những người nghèo và giới trung lưu phải đóng thuế từ 10% đến 35%, nhà giàu chỉ phải trả thuế 14,1%. Số thuế miễn cho nhà giàu trong 10 năm được ước lượng khoảng 2.000 tỷ USD.
Ông Bush cũng như ông Romney cho rằng phải giảm thuế cho nhà giàu để họ dùng số tiền đó đầu tư, làm kinh tế phát triển. Nhưng trong thực tế, họ đã dùng số tiền đó để đầu cơ (vào chứng khoán, thế chấp về địa ốc...) làm nền kinh tế nước Mỹ và Âu Châu sụp đổ kể từ năm 2008.

Đúng như Gore Vidal đã tiên đoán, các chi phí như chi phí quốc phòng đã phá hoại nền kinh tế nước Mỹ. Sau khi mở cuộc chiến Afghanistan, ông Bush đã mở cuộc chiến Iraq bất chấp luật pháp quốc tế, viện lý do Iraq có vũ khí giết người hàng loạt, nhưng trong thực tế chỉ vì các nhà đại tư bản muốn chiếm các mõ dầu lửa lớn tại Iraq. Không ai tìm thấy võ khí giết người hàng loạt đâu cả.

Một tài liệu được công bố vào tháng 9 vừa qua cho thấy Iraq có hai khu dầu hỏa lớn ở phía Nam, một khu chứa khoảng 115 tỷ thùng đang được khai thác và một khu khoảng 200 tỷ thùng chưa được khai thác. Các công ty dầu hỏa sẽ bỏ thêm 100 tỷ USD để nâng cấp. Họ dự trù đến năm 2017 sẽ khai thác được mỗi ngày khoảng 8 triệu thùng. Đây cũng là lý do khiến ông Romney chủ trương phải giữ lại ở Iraq 10.000 quân, dùng xương máu của người lính Mỹ canh gác cho họ khai thác dầu.

Hôm 22.10.2012, khi hai ông Obama và Romney vừa tranh luận về vấn đề ngoại giao xong, đài KCAL đã đưa Tổng Thống Karzai của Afghanistan và ông Ronald Neumann, cựu đại sứ Mỹ ở Afghanistan (2005 – 2007) ra nói về hai cuộc chiến Afghanistan và Iraq. Ông Neumann nói rất thẳng thắn rằng chính việc mở cuộc chiến vào Iraq đã làm cuộc chiến Afghanistan sụp đổ. Taliban đang đợi Mỹ và đồng minh rút hết là họ chiếm.

Phục vụ nhà giàu, ông Bush cũng phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề. Khi vào gặp Đức Giáo Hoàng chúng ta thấy ông Bush tỏ ra rất khiêm tốn và tưởng chừng như ông sắp trở lại Công Giáo, nhưng khi về ông làm những chuyện gian ác. Hiện nay ông không dám ra khỏi nước Mỹ vì sợ bị bắt.
Tháng 2 năm 2011 ông Bush định đi thăm Thụy Sĩ. Được tin này, nhiều tổ chức tranh đấu cho nhân quyền yêu cầu chính phủ Thụy Sĩ bắt ông ta để điều tra hoặc về tội vi phạm nhân quyền thô bạo và có hệ thống, hoặc về tội ác chiến tranh hay về tội ác chống nhân loại (systematic or gross human rights violations, or a war crime or a crime against humanity) nên ông phải hủy bỏ chuyến đi. Đến tháng 8, ông lại được mời qua Canada. Một bản cáo trạng đã được gởi đến Bộ Tư Pháp Canada yêu cầu bắt ông ta để điều tra. Chính quyền Canada phải đứng ra bảo đảm ông mới dám đi.

Thật ra, tuy ông Bush là Tổng Thống, nhưng người đại diện khối tư bản đứng đàng sau để chỉ đạo là Phó Tổng Thống Dick Cheney. Ông Bush chỉ là người đứng mũi chịu sào. Chẳng ai dám động tới Dick Cheney!

CHỌN OBAMA HAY ROMNEY?

Năm 2008, Obama là người được các thế lực tư bản đưa ra để hốt đống rác ông Bush đã xả ra. Lúc đó giữa bà Hallary Clinton và ông Obama, giới tư bản chọn ông Obama, vì bà Clinton rất cứng đầu lại có ông Clinton đứng đàng sau, mặc dầu bà Clinton hơn phiếu ông Obama quá nhiều. McCain chỉ được đưa ra đóng tuồng.
Giới tư bản nghĩ Obama là người có thể thương lượng được, nhưng ông ta đã tỏ ra cứng đầu hơn họ nghĩ. Ông ta dám làm những chuyện ông ta muốn. Để tái tranh cử, ông ta đã có nhiều quyết định sai lầm.
Obama muốn giúp Nicolas Sarkozy tái đắc cử tổng thống Pháp để Mỹ có quan hệ tốt với Âu Châu và giúp ông ta thắng cử. Obama đã hạ Strauss-Kahn, Giám Đốc Qũy Tiền Tệ Quốc Tế, và yểm trợ Pháp mở cuộc hành quân chiếm Libya và giết Gaddafi. Nhưng “mưu sự tại nhân, thạnh sự tại thiên”, Sarkosy vẫn thất cử. Obama bỏ rơi Lybia còn khối Âu Châu quay lưng lại với Obama.

Tại quốc nội, Obama công khai tuyên bố ủng hộ phá thai và đồng tính để kiếm tiền của giới nghệ sĩ Hollywood và kiếm phiếu của sắc dân Latino ở các tiểu bang TOSS-UP, những tiểu bang sẽ quyết định thành bại. Đây là quyết định mà những nhà chính trị có lương tri ít ai dám làm.
Nhưng Đảng Cộng Hòa đã chơi đòn độc ác là phá tất cả những kế hoạch của Obama nhắm phục hồi kinh tế, ngoại trừ những số tiền khổng lồ được cấp để cứu các đại công ty bị phá sản vì gian lận như Lehman Brothers, Fannie Mae, Freddie Mac, AIG, v.v. Còn Mitt Romney cứ bám sát đường lối của Bush là bảo vệ nhà giàu và cắt giảm những chi phí dành cho nhà nghèo. Giáo sư Roberto Unger, người thầy cũ của Obama ở Đại Học Havard có ý kiến: “Tổng Thống Obama nên bị đánh bại, tuy nếu như Cộng Hòa mà thắng thì sự bất bình đẳng còn cao hơn hiện nay, nhưng mối hiểm họa này không nghĩa lý gì nếu so với hiểm họa nếu như Obama tái đắc cử”

Nhưng vấn đề không phải là Giáo sư Roberto hay cử tri muốn gì. Vấn đề là giới đại tư bản đứng sau hậu trường muốn gì.
Sau cuộc tranh luận đầu tiên giữa Obama và Romney, tạp chí Time cho rằng sự thất bại của Obama có bí ẩn. Mặt Obama bơ phờ. Trong 15 phút đầu ông ngồi lì ở thế thụ động. Có nhà phân tích cho rằng các nhà đại tư bản đang mặc cả với Obama về một số điều kiện nếu ông muốn tiếp tục nắm chính quyền, trong đó có những điều kiện Obama không chấp nhận, nên ông tỏ thái độ thụ động để phản đối. Các nhà đại tư bản đã cho gia tăng tỷ lệ thăm dò của Romney và tăng giá xăng lên để cảnh cáo.

Trong cuộc tranh luận sau cùng hôm 22.10.2012 tại Lynn University ở Boca Raton, Florida, người ta thấy sự căng thẳng giữa hai bên gần như không còn nữa. Ký giả Bob Schieffer của hãng thông tấn CBS chỉ hỏi theo kiểu cò mồi. Hình như đã có một sự sắp xếp đàng sau. Obama vẫn duy trì phong cách du côn và cứng đầu. Mitt Romney đã tỏ ra uyển chuyển hơn.

Giới đại tư bản đã so sánh giữa Obama và Romney giống như trước đây họ chọn giữa Gore và Bush. Obama có vẻ giống Gore còn Romney rất giống Bush. Nhưng trước đây họ chọn Bush vì đàng sau Bush có Dick Cheney, một người có nhiều kinh nghiệm về lãnh đạo chính quyền và có bản lãnh, dám làm những gì họ muốn. Còn sau Romney hiện nay chỉ là một anh chuyên đánh võ mồm, chẳng được ai nể nang và chẳng có kinh nghiệm gì. Tuy nhiên, Mitt Romney tỏ ra dễ sai bảo hơn Obama.

Giờ này, giới đại tư bản Mỹ đã quyết định ai sẽ làm tổng thống Mỹ trong bốn năm tới và nước Mỹ sẽ phải giải quyết những khó khăn và vươn lên theo đường hướng nào. Muốn cho ai đắc cử, giới đại tư bản sẽ xử dụng hai phương cách mà họ đã xử dụng năm 2000 để đưa Bush vào chính quyền. Thứ nhất là xử dụng "thăm dò" để lái cử tri đi. Thứ hai là điều chỉnh ở một bang TOSS-UP nào đó nhưOhio hay Florida chẳng hạn, để con gà của họ thắng cử.

CÒN LÂU MỚI VÀO GIÒNG CHÍNH

Dù Obama hay Romney được đưa ra cầm quyền, chúng ta cũng biết chắc hai điều: Thứ nhất là sẽ không có chuyện tấn công Trung Quốc hay trừng phạt Việt Nam như người Việt chống cộng mong muốn. Nước Mỹ có tầm nhìn khác với người Việt. Thứ hai là những người già cả hay đau ốm đang hưởng Medicare, sẽ gặp khó khăn. Trên nguyên tắc, trong trường hợp có suy thoái kinh tế, có hai biện pháp được áp dụng, một là tăng thuế hai là cắt giảm ngân sách. Bây giờ Đảng Cộng Hoà không cho tăng thuế nhà giàu, mà buộc phải cắt giảm ngân sách. Cái ngân khoản được nhắm tới trước tiên là Medicare. Kể từ năm 2014, người nghèo sẽ thấy ảnh hưởng thấm thía của chủ trương này (chúng tôi sẽ nói sau). Trong thực tế chẳng bao giờ có "xã hội chủ nghĩa" trên đất nước này như một số người đã dọa. Đại tư bản đứng đàng sau cầm tròng, làm sao có "xã hội chủ nghĩa" được?

Vì mới đến Mỹ 37 năm, người Việt tại Hoa Kỳ chưa theo kịp cách làm chính trị của người Trung Hoa, người Đài Loan, người Ấn Độ…..., ai thắng rồi cũng đứng về phe họ. Người Việt thiếu lãnh đạo, chưa có tập quán bầu cử bằng tiền và chưa bỏ được thói quen suy nghĩ và hành động theo cảm tính nên còn lâu mới có thể đi vào giòng chính.

Ngày 25.10.2012
Lữ Giang
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Từ Senkaku nhìn về Hoàng, Trường Sa

Le Nguyen
(Danlambao) - Sau nhiều thập niên che giấu tham vọng bành trướng để xây dựng phát triển kinh tế, hiện đại hóa quân đội, ngày nay Trung cộng đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Hoa Kỳ, có lực lượng quân sự hùng hậu tiến bộ vượt bực về mặt hiện đại lẫn số lượng của các loại vũ khí. Cũng chính từ lúc nắm trong tay vũ khí “sát thương hàng loạt”, Trung cộng lộ dần bộ mặt man rợ, ngang ngược bất chấp quy tắc ứng xử văn minh chung của cộng động nhân loại trong quan hệ quốc tế. Trung cộng đã dùng nhiều thủ đoạn từ tinh vi đến lộ liễu, cướp đất cướp tài nguyên của các nước nghèo, nhỏ chậm phát triển và không ngần ngại phô diễn sức mạnh “cơ bắp” nhằm răn đe, nắn gân các nước có ý định ngăn chận hoặc chống lại tham vọng bá quyền đại Hán.

Để hỗ trợ cho âm mưu bá chủ thiên hạ, Trung cộng thường sử dụng thuật ngữ lợi ích cốt lõi nhằm thu tóm, hợp thức hóa những vùng lãnh thổ lãnh hải đã, đang nằm trong ý đồ xâm chiếm của chúng. Biển Đông của Việt Nam lọt vào danh sách lợi ích cốt lõi nên Trung cộng đã thực hiện nhiều hành động ngang ngược, ngạo mạn ngang nhiên tự vẽ bản đồ giành chủ quyền biển đảo vùng trời Việt Nam. Trung cộng đã đuổi bắn giết cướp, bắt giữ tàu thuyền đòi tiền chuộc trên chính ngư trường truyền thống của Việt Nam nhưng không gặp sự kháng cự đáng kể nào của nhà nước CSVN, ngoài việc đẩy mấy chục tấm bia thịt “ngoan cường” đứng yên cho quân xâm lược nhắm bắn vào những năm cuối của thập niên 80 của thế kỷ trước!

Có lẽ do kết quả đạt được trên biển Đông dễ dàng hơn những gì nhà nước Trung cộng nghĩ và phần lớn biển đảo cưỡng chiếm được đều thuộc chủ quyền Việt Nam cho nên nhân cơ hội khủng hoảng kinh tế thế giới, nhân biến động chính trị ở Bắc Phi Trung Đông, Trung cộng đã lặp lại tuyên bố lợi ích cốt lõi ở quần đảo Senkaku của Nhật Bản với ảo tưởng sẽ đạt được mục đích tương tự như đối với biển Đông của Việt Nam?

Để thực hiện cái gọi là lợi ích cốt lõi ở Senkaku, Trung cộng thể hiện một loạt hành động côn đồ như đạo diễn cho dân Tàu biểu dương sức mạnh tinh thần dân tộc đại Hán qua các cuộc biểu tình bạo động tấn công đoàn xe của đại sứ Nhật, đốt xe xé cờ Nhật, đập phá các cơ sở thương mãi Nhật ở nhiều tỉnh thành trên khắp lãnh thổ Trung Hoa. Bên cạnh đó là việc hủy bỏ một số hợp đồng thương mãi song phương và tập trung số lượng lớn tàu cá, thành lập lực lượng dân quân biển ồ ạt tiến đến bao vây Senkaku tạo áp lực lẫn hù dọa nhà nước Nhật Bản. Trung cộng đã thực hiện kịch bản gần giống như việc đưa hàng ngàn tàu cá tràn ngập biển Đông, chèn ép Việt Nam nhưng vẫn không gặp phản ứng gì từ Việt nam...

Đáp trả lại hành động ngày càng leo thang gây hấn của một cường quốc mới nổi nhưng hành xử như trẻ con của Trung cộng, chính phủ Nhật Bản phản ứng tự vệ chừng mực, kiệm lời nhưng rất cương quyết đúng với cung cách ngoại giao mềm dẻo, không để Senkaku ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao của hai nước Trung-Nhật, nhưng đặc biệt họ không hề nhu nhược. Do đó, sau nhiều tháng Trung cộng kích động dân chúng hò hét, chửi bới gây căng thẳng ngoại giao tưởng chừng như chiến tranh sắp xảy và chính phủ Nhật Bản với cách ứng xử ngoại giao khôn ngoan, thể hiện ý chí sắt đá, quyết tâm giữ gìn chủ quyền biển đảo khiến cho nhiều lãnh đạo cao cấp Trung cộng phải đơn phương dịu giọng không còn một mực khẳng định Senkaku là lợi ích cốt lõi trong quan hệ ngoại giao của hai nước.

Thế thì tại sao Trung Cộng đơn phương rút bỏ Senkaku khỏi danh sách lợi ích cốt lõi nhưng trên mặt trận “mồm” vẫn còn ra vẻ hung hăng?

Đọc lịch sử quần đảo Senkaku cho chúng ta thấy tranh chấp chủ quyền Senkaku cả hai nước Trung-Nhật đều có lý do chính đáng do hoàn cảnh lịch sử để lại và hai nước đã từng luân phiên làm chủ Senkaku ở nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử. Thế nhưng, Senkaku khác với tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa ở biển Đông giữa Việt Nam với Trung Cộng, sự kiện Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 không phải là tranh chấp, chính xác là Trung cộng sử dụng vũ lực xâm lăng chiếm đóng biển đảo Việt Nam, cả thế giới đều biết.

Cũng trong tranh chấp, tạm gọi là tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung-Việt, Trung-Nhật chúng ta thấy cách ứng xử trên vùng biển đảo Senkaku do Nhật chiếm đóng và Hoàng Sa, Trường sa do Trung cộng đang chiếm đóng thì cách hành xử của Nhật văn minh hơn nhiều. Nhật không bắn giết, không săn bắt cướp tàu ngư dân đòi tiền chuộc như hải tặc thời trung cổ, họ cũng không làm áp lực lên nhà nước Trung cộng buộc hứa hẹn không để biểu tình xảy ra gây ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp của hai đảng, hai nước, dù biểu tình của người dân Tàu quá khích dẫn đến bạo động làm thiệt hại tài sản, cơ sở thương mại của người dân Nhật trên đất Trung Quốc khá nặng nề.

Từ đó cho chúng ta có cơ sở để so sánh phản ứng của chính quyền Trung cộng với các cuộc biểu tình bạo động chống Nhật gây rối loạn trật tự công cộng của dân Tàu và phản ứng của chính quyền Việt cộng với các cuộc biểu tình của người dân Việt chống Tàu xâm lược, xem ra thật đáng xấu hỗ. Bởi biểu tình chống xâm lược Tàu của người Việt Nam không gây ra bạo động như dân Tàu biểu tình chống Nhật, rất ôn hòa trật tự, đoàn người biểu tình thể hiện nhiều nét nhân bản, văn minh qua hình ảnh các tà áo dài truyền thống phất phơ trước gió, mang nhiều sắc thái đẹp, đánh động niềm tự hào dân tộc làm nổi bật dáng đứng Việt Nam, kết hợp với phong cách của các nghệ sĩ nhân dân tự phát đệm đàn bắt nhịp cho những bài hát đấu tranh khơi dậy tinh thần yêu nước khó tìm thấy bất cứ đâu trên thế giới, lại bị quăng vật khiêng vác đạp mặt, điều tra thẩm vấn theo dõi khủng bố tinh thần, thậm chí bị tống tù vì tội trốn thuế, tội hai bao su đã qua sử dụng, tội gây rối trật tự công cộng, tội chống người thi hành công vụ...

Cũng trong tranh chấp chủ quyền biển đảo Senkaku với Nhật Bản, tranh chấp biển Đông với Phi, Mã, Việt Nam... không khó để chúng ta thấy, Trung cộng chỉ bắt nạt được mỗi Việt Nam, dù cộng sản Việt Nam thật “lịch sự”, hết sức kềm chế “nhún nhường” đi từ nhượng bộ “hải đảo” này đến nhượng bộ “vùng biển” khác vẫn không ngăn được dã tâm gậm dần lãnh thổ Việt nam của Trung cộng. Với Phi, Mã, Nhật Bản thì khác, Trung cộng chỉ dám ngang ngược bằng mồm chứ không dám ngang ngược cụ thể bởi lãnh đạo của các nước này tỏ thái độ cứng rắn dứt khoát về chủ quyền biển đảo, họ sẵn sàng đối đầu cũng như đã từng cho máy bay tàu chiến cảnh cáo hành động xâm phạm chủ quyền của Trung cộng.

Thật ra, sức mạnh quân sự của Trung cộng trong thời điểm hiện tại, thừa sức đè bẹp từng nước riêng rẽ Phi, Mã, Nhật nhưng Trung cộng không dám manh động vì đằng sau các nước này không chỉ có đủ bằng chứng tư liệu, tài liệu lịch sử pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi mà họ có cả hậu thuẫn chính đáng của dư luận quốc tế, luật pháp quốc tế, nhất là sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ, Liên Âu thừa sức đánh bại lực lượng quân sự hùng hậu của Trung cộng nên chúng đành phải nhập vai “hiền” tự kiềm chế giải quyết tranh chấp biển đảo bằng giải pháp hòa bình!

Chúng ta biết thế giới không đui mù để không thấy nhà nước hoang dã Trung cộng có bao giờ tuân thủ cam kết quốc tế, xem các văn kiện ký kết với quốc tế còn thua các tờ giấy đi cầu, giả vờ hiền vì lâm vào hoàn cảnh không thể ác, chúng phải lùi bước vì sợ quốc tế bao vây cô lập và chúng không dám liều lĩnh sử dụng sức mạnh quân sự trong tham vọng bá quyền vì chúng biết trục ma quỷ của chúng chưa đủ sức đối đầu với thế giới văn minh còn lại. Do đó, để thực hiện tham vọng bành trướng, chúng chỉ chọn lựa những con mồi ngu xuẩn dễ dụ, tự trói tay quỳ gối dâng từng phần lãnh thổ cho chúng qua các thuật ngữ ru ngủ “... không dùng quân sự giải quyết tranh chấp, không quốc tế hóa vấn đề Biển Đông...” để dễ bề thôn tính các nước có lãnh đạo vừa hèn lại vừa ngu.

Trở lại tuyên bố Senkaku, biển Đông là lợi ích cốt lõi của nhà nước Trung cộng, gần đây nhất vào tháng 5 năm này thủ tướng Trung cộng Ôn Gia Bảo trong cuộc gặp gỡ giới chức tương nhiệm là thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda ở Bắc Kinh ông ta vẫn còn lên giọng kẻ cả nhắc nhở, hối thúc Nhật tôn trọng lợi ích cốt lõi của Trung cộng ở Senkaku. Thế không hiểu tại sao trong cuộc họp cũng như gặp gỡ riêng trong tháng 9 của bà Hillary Clinton ngoại trưởng Hoa Kỳ với thủ tướng Ôn Gia Bảo, ngoại trưởng Dương Khiết Trì, chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào, cả ba lãnh đạo cao cấp của Trung cộng đã tự động phớt lờ, không còn mạnh miệng, khẳng định Senkaku là lợi ích cốt lõi?

Có thể, chuyện Trung cộng đơn phương không đề cập đến Senkaku là lợi ích cốt lõi bởi chúng biết Senkaku là miếng mồi không dễ nuốt như Hoàng Sa, Trường Sa ở Biển Đông nên chúng phải đổi giọng đóng vai diễn “hiền”. Chúng ta thấy không phải chỉ với Nhật, ngay cả trong tranh chấp với các nước có chia sẻ chủ quyền chung ở biển Đông, Trung cộng khi gặp phản ứng cứng rắn của các nước này, điển hình là chính phủ Phi chúng cũng không dám đuổi bắn giết, bắt giữ đòi tiền chuộc vì chúng biết đằng sau nước Phi có sự hỗ trợ của hiệp ước an ninh Mỹ-Phi nên chúng chỉ dám ồn ào đánh trận bằng mồm để giữ sĩ diện nước lớn, rồi âm thầm xuống thang cũng như lặng lẽ rút êm ra khỏi khu vực chúng đơn phương tuyên bố chủ quyền.

Quan sát chung quanh diễn biến tranh chấp biển đảo ở Hoa Đông và Biển Đông, chúng ta thấy Trung cộng bỗng dưng không nhắc tới, “tạm” bỏ tên Senkaku ra khỏi danh sách lợi ích cốt lõi, có nhiều nguyên nhân nhưng có lẽ nguyên nhân chính vẫn là do Hoa Kỳ tuyên bố lập trường về tranh chấp Trung-Nhật, có nội dung rõ ràng, mạnh mẽ: “quần đảo Senkaku nằm trong phạm vi ảnh hưởng của hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật.” Lời tuyên bố của Mỹ có nghĩa rằng đụng tới Nhật là đụng tới hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật làm cho Trung cộng phải tạm thời quên đi lợi ích cốt lõi ở Senkaku để tập trung nguồn lực giải quyết những tiêu cực phát sinh, tồn tại sau nhiều năm phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Hoa.

Qua tranh chấp Senkaku nhìn về biển Đông chỉ ra cho chúng ta thấy chỉ có sức mạnh Mỹ, Liên Âu mới có thể ngăn chận tham vọng bá quyền của Trung cộng và tư tưởng bị định hướng của các lãnh đạo đảng nhà nước cộng sản Việt Nam được lặp đi lặp lại như kinh nhật tụng, tưởng chừng như chiến lược cao siêu gìn giữ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ: “không liên minh với nước này chống nước khác... mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước...” Tư tưởng đó, chỉ là tư tưởng ru ngủ gây mất cảnh giác để kẻ thù thôn tính đất nước Việt Nam nhanh hơn, dễ dàng hơn.

Cũng nên biết thêm về quần đảo Senkaku chỉ là những bãi đá “chim ỉa” tổng diện tích quần đảo gộp lại chỉ độ 7 cây số vuông. Lúc kết thúc thế chiến thứ hai, Mỹ trên danh nghĩa vào giải giới Nhật chiếm đóng Senkaku từ năm 1945, đến năm 1972 Senkaku được Mỹ trao trả lại cho Nhật. Trong trường hợp này, nếu Mỹ có tham vọng lãnh thổ với sức mạnh của một siêu cường, Nhật làm gì được Mỹ nhưng Mỹ đã không cướp đất Nhật? Chúng ta cũng thấy Mỹ không đặc biệt ưu đãi Nhật bởi Mỹ cũng đã từng làm điều tương tự với nhiều nước khác, điều đó chỉ ra rằng, Mỹ không có tham vọng lãnh thổ, xâm lăng chiếm đóng như Trung Cộng đã đang dùng nhiều thủ đoạn thâm độc thôn tính từng phần đất nước Việt Nam.

Từ cách ứng xử của hai cường quốc Mỹ-Trung chỉ ra cho chúng ta biết, muốn giữ vững độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, muốn không bị tái diễn cảnh ngàn năm bắc thuộc, muốn không bị xóa tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam cần xây dựng tạo lập nhiều điều kiện nhưng điều kiện tiên quyết... phải, nhất định phải tránh xa nhà nước man rợ bá quyền Đại Hán càng xa càng tốt.

Le Nguyen
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Từ Senkaku nhìn về Hoàng, Trường Sa

Le Nguyen
(Danlambao) - Sau nhiều thập niên che giấu tham vọng bành trướng để xây dựng phát triển kinh tế, hiện đại hóa quân đội, ngày nay Trung cộng đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Hoa Kỳ, có lực lượng quân sự hùng hậu tiến bộ vượt bực về mặt hiện đại lẫn số lượng của các loại vũ khí. Cũng chính từ lúc nắm trong tay vũ khí “sát thương hàng loạt”, Trung cộng lộ dần bộ mặt man rợ, ngang ngược bất chấp quy tắc ứng xử văn minh chung của cộng động nhân loại trong quan hệ quốc tế. Trung cộng đã dùng nhiều thủ đoạn từ tinh vi đến lộ liễu, cướp đất cướp tài nguyên của các nước nghèo, nhỏ chậm phát triển và không ngần ngại phô diễn sức mạnh “cơ bắp” nhằm răn đe, nắn gân các nước có ý định ngăn chận hoặc chống lại tham vọng bá quyền đại Hán.

Để hỗ trợ cho âm mưu bá chủ thiên hạ, Trung cộng thường sử dụng thuật ngữ lợi ích cốt lõi nhằm thu tóm, hợp thức hóa những vùng lãnh thổ lãnh hải đã, đang nằm trong ý đồ xâm chiếm của chúng. Biển Đông của Việt Nam lọt vào danh sách lợi ích cốt lõi nên Trung cộng đã thực hiện nhiều hành động ngang ngược, ngạo mạn ngang nhiên tự vẽ bản đồ giành chủ quyền biển đảo vùng trời Việt Nam. Trung cộng đã đuổi bắn giết cướp, bắt giữ tàu thuyền đòi tiền chuộc trên chính ngư trường truyền thống của Việt Nam nhưng không gặp sự kháng cự đáng kể nào của nhà nước CSVN, ngoài việc đẩy mấy chục tấm bia thịt “ngoan cường” đứng yên cho quân xâm lược nhắm bắn vào những năm cuối của thập niên 80 của thế kỷ trước!

Có lẽ do kết quả đạt được trên biển Đông dễ dàng hơn những gì nhà nước Trung cộng nghĩ và phần lớn biển đảo cưỡng chiếm được đều thuộc chủ quyền Việt Nam cho nên nhân cơ hội khủng hoảng kinh tế thế giới, nhân biến động chính trị ở Bắc Phi Trung Đông, Trung cộng đã lặp lại tuyên bố lợi ích cốt lõi ở quần đảo Senkaku của Nhật Bản với ảo tưởng sẽ đạt được mục đích tương tự như đối với biển Đông của Việt Nam?

Để thực hiện cái gọi là lợi ích cốt lõi ở Senkaku, Trung cộng thể hiện một loạt hành động côn đồ như đạo diễn cho dân Tàu biểu dương sức mạnh tinh thần dân tộc đại Hán qua các cuộc biểu tình bạo động tấn công đoàn xe của đại sứ Nhật, đốt xe xé cờ Nhật, đập phá các cơ sở thương mãi Nhật ở nhiều tỉnh thành trên khắp lãnh thổ Trung Hoa. Bên cạnh đó là việc hủy bỏ một số hợp đồng thương mãi song phương và tập trung số lượng lớn tàu cá, thành lập lực lượng dân quân biển ồ ạt tiến đến bao vây Senkaku tạo áp lực lẫn hù dọa nhà nước Nhật Bản. Trung cộng đã thực hiện kịch bản gần giống như việc đưa hàng ngàn tàu cá tràn ngập biển Đông, chèn ép Việt Nam nhưng vẫn không gặp phản ứng gì từ Việt nam...

Đáp trả lại hành động ngày càng leo thang gây hấn của một cường quốc mới nổi nhưng hành xử như trẻ con của Trung cộng, chính phủ Nhật Bản phản ứng tự vệ chừng mực, kiệm lời nhưng rất cương quyết đúng với cung cách ngoại giao mềm dẻo, không để Senkaku ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao của hai nước Trung-Nhật, nhưng đặc biệt họ không hề nhu nhược. Do đó, sau nhiều tháng Trung cộng kích động dân chúng hò hét, chửi bới gây căng thẳng ngoại giao tưởng chừng như chiến tranh sắp xảy và chính phủ Nhật Bản với cách ứng xử ngoại giao khôn ngoan, thể hiện ý chí sắt đá, quyết tâm giữ gìn chủ quyền biển đảo khiến cho nhiều lãnh đạo cao cấp Trung cộng phải đơn phương dịu giọng không còn một mực khẳng định Senkaku là lợi ích cốt lõi trong quan hệ ngoại giao của hai nước.

Thế thì tại sao Trung Cộng đơn phương rút bỏ Senkaku khỏi danh sách lợi ích cốt lõi nhưng trên mặt trận “mồm” vẫn còn ra vẻ hung hăng?

Đọc lịch sử quần đảo Senkaku cho chúng ta thấy tranh chấp chủ quyền Senkaku cả hai nước Trung-Nhật đều có lý do chính đáng do hoàn cảnh lịch sử để lại và hai nước đã từng luân phiên làm chủ Senkaku ở nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử. Thế nhưng, Senkaku khác với tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa ở biển Đông giữa Việt Nam với Trung Cộng, sự kiện Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 không phải là tranh chấp, chính xác là Trung cộng sử dụng vũ lực xâm lăng chiếm đóng biển đảo Việt Nam, cả thế giới đều biết.

Cũng trong tranh chấp, tạm gọi là tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung-Việt, Trung-Nhật chúng ta thấy cách ứng xử trên vùng biển đảo Senkaku do Nhật chiếm đóng và Hoàng Sa, Trường sa do Trung cộng đang chiếm đóng thì cách hành xử của Nhật văn minh hơn nhiều. Nhật không bắn giết, không săn bắt cướp tàu ngư dân đòi tiền chuộc như hải tặc thời trung cổ, họ cũng không làm áp lực lên nhà nước Trung cộng buộc hứa hẹn không để biểu tình xảy ra gây ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp của hai đảng, hai nước, dù biểu tình của người dân Tàu quá khích dẫn đến bạo động làm thiệt hại tài sản, cơ sở thương mại của người dân Nhật trên đất Trung Quốc khá nặng nề.

Từ đó cho chúng ta có cơ sở để so sánh phản ứng của chính quyền Trung cộng với các cuộc biểu tình bạo động chống Nhật gây rối loạn trật tự công cộng của dân Tàu và phản ứng của chính quyền Việt cộng với các cuộc biểu tình của người dân Việt chống Tàu xâm lược, xem ra thật đáng xấu hỗ. Bởi biểu tình chống xâm lược Tàu của người Việt Nam không gây ra bạo động như dân Tàu biểu tình chống Nhật, rất ôn hòa trật tự, đoàn người biểu tình thể hiện nhiều nét nhân bản, văn minh qua hình ảnh các tà áo dài truyền thống phất phơ trước gió, mang nhiều sắc thái đẹp, đánh động niềm tự hào dân tộc làm nổi bật dáng đứng Việt Nam, kết hợp với phong cách của các nghệ sĩ nhân dân tự phát đệm đàn bắt nhịp cho những bài hát đấu tranh khơi dậy tinh thần yêu nước khó tìm thấy bất cứ đâu trên thế giới, lại bị quăng vật khiêng vác đạp mặt, điều tra thẩm vấn theo dõi khủng bố tinh thần, thậm chí bị tống tù vì tội trốn thuế, tội hai bao su đã qua sử dụng, tội gây rối trật tự công cộng, tội chống người thi hành công vụ...

Cũng trong tranh chấp chủ quyền biển đảo Senkaku với Nhật Bản, tranh chấp biển Đông với Phi, Mã, Việt Nam... không khó để chúng ta thấy, Trung cộng chỉ bắt nạt được mỗi Việt Nam, dù cộng sản Việt Nam thật “lịch sự”, hết sức kềm chế “nhún nhường” đi từ nhượng bộ “hải đảo” này đến nhượng bộ “vùng biển” khác vẫn không ngăn được dã tâm gậm dần lãnh thổ Việt nam của Trung cộng. Với Phi, Mã, Nhật Bản thì khác, Trung cộng chỉ dám ngang ngược bằng mồm chứ không dám ngang ngược cụ thể bởi lãnh đạo của các nước này tỏ thái độ cứng rắn dứt khoát về chủ quyền biển đảo, họ sẵn sàng đối đầu cũng như đã từng cho máy bay tàu chiến cảnh cáo hành động xâm phạm chủ quyền của Trung cộng.

Thật ra, sức mạnh quân sự của Trung cộng trong thời điểm hiện tại, thừa sức đè bẹp từng nước riêng rẽ Phi, Mã, Nhật nhưng Trung cộng không dám manh động vì đằng sau các nước này không chỉ có đủ bằng chứng tư liệu, tài liệu lịch sử pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi mà họ có cả hậu thuẫn chính đáng của dư luận quốc tế, luật pháp quốc tế, nhất là sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ, Liên Âu thừa sức đánh bại lực lượng quân sự hùng hậu của Trung cộng nên chúng đành phải nhập vai “hiền” tự kiềm chế giải quyết tranh chấp biển đảo bằng giải pháp hòa bình!

Chúng ta biết thế giới không đui mù để không thấy nhà nước hoang dã Trung cộng có bao giờ tuân thủ cam kết quốc tế, xem các văn kiện ký kết với quốc tế còn thua các tờ giấy đi cầu, giả vờ hiền vì lâm vào hoàn cảnh không thể ác, chúng phải lùi bước vì sợ quốc tế bao vây cô lập và chúng không dám liều lĩnh sử dụng sức mạnh quân sự trong tham vọng bá quyền vì chúng biết trục ma quỷ của chúng chưa đủ sức đối đầu với thế giới văn minh còn lại. Do đó, để thực hiện tham vọng bành trướng, chúng chỉ chọn lựa những con mồi ngu xuẩn dễ dụ, tự trói tay quỳ gối dâng từng phần lãnh thổ cho chúng qua các thuật ngữ ru ngủ “... không dùng quân sự giải quyết tranh chấp, không quốc tế hóa vấn đề Biển Đông...” để dễ bề thôn tính các nước có lãnh đạo vừa hèn lại vừa ngu.

Trở lại tuyên bố Senkaku, biển Đông là lợi ích cốt lõi của nhà nước Trung cộng, gần đây nhất vào tháng 5 năm này thủ tướng Trung cộng Ôn Gia Bảo trong cuộc gặp gỡ giới chức tương nhiệm là thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda ở Bắc Kinh ông ta vẫn còn lên giọng kẻ cả nhắc nhở, hối thúc Nhật tôn trọng lợi ích cốt lõi của Trung cộng ở Senkaku. Thế không hiểu tại sao trong cuộc họp cũng như gặp gỡ riêng trong tháng 9 của bà Hillary Clinton ngoại trưởng Hoa Kỳ với thủ tướng Ôn Gia Bảo, ngoại trưởng Dương Khiết Trì, chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào, cả ba lãnh đạo cao cấp của Trung cộng đã tự động phớt lờ, không còn mạnh miệng, khẳng định Senkaku là lợi ích cốt lõi?

Có thể, chuyện Trung cộng đơn phương không đề cập đến Senkaku là lợi ích cốt lõi bởi chúng biết Senkaku là miếng mồi không dễ nuốt như Hoàng Sa, Trường Sa ở Biển Đông nên chúng phải đổi giọng đóng vai diễn “hiền”. Chúng ta thấy không phải chỉ với Nhật, ngay cả trong tranh chấp với các nước có chia sẻ chủ quyền chung ở biển Đông, Trung cộng khi gặp phản ứng cứng rắn của các nước này, điển hình là chính phủ Phi chúng cũng không dám đuổi bắn giết, bắt giữ đòi tiền chuộc vì chúng biết đằng sau nước Phi có sự hỗ trợ của hiệp ước an ninh Mỹ-Phi nên chúng chỉ dám ồn ào đánh trận bằng mồm để giữ sĩ diện nước lớn, rồi âm thầm xuống thang cũng như lặng lẽ rút êm ra khỏi khu vực chúng đơn phương tuyên bố chủ quyền.

Quan sát chung quanh diễn biến tranh chấp biển đảo ở Hoa Đông và Biển Đông, chúng ta thấy Trung cộng bỗng dưng không nhắc tới, “tạm” bỏ tên Senkaku ra khỏi danh sách lợi ích cốt lõi, có nhiều nguyên nhân nhưng có lẽ nguyên nhân chính vẫn là do Hoa Kỳ tuyên bố lập trường về tranh chấp Trung-Nhật, có nội dung rõ ràng, mạnh mẽ: “quần đảo Senkaku nằm trong phạm vi ảnh hưởng của hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật.” Lời tuyên bố của Mỹ có nghĩa rằng đụng tới Nhật là đụng tới hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật làm cho Trung cộng phải tạm thời quên đi lợi ích cốt lõi ở Senkaku để tập trung nguồn lực giải quyết những tiêu cực phát sinh, tồn tại sau nhiều năm phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Hoa.

Qua tranh chấp Senkaku nhìn về biển Đông chỉ ra cho chúng ta thấy chỉ có sức mạnh Mỹ, Liên Âu mới có thể ngăn chận tham vọng bá quyền của Trung cộng và tư tưởng bị định hướng của các lãnh đạo đảng nhà nước cộng sản Việt Nam được lặp đi lặp lại như kinh nhật tụng, tưởng chừng như chiến lược cao siêu gìn giữ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ: “không liên minh với nước này chống nước khác... mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước...” Tư tưởng đó, chỉ là tư tưởng ru ngủ gây mất cảnh giác để kẻ thù thôn tính đất nước Việt Nam nhanh hơn, dễ dàng hơn.

Cũng nên biết thêm về quần đảo Senkaku chỉ là những bãi đá “chim ỉa” tổng diện tích quần đảo gộp lại chỉ độ 7 cây số vuông. Lúc kết thúc thế chiến thứ hai, Mỹ trên danh nghĩa vào giải giới Nhật chiếm đóng Senkaku từ năm 1945, đến năm 1972 Senkaku được Mỹ trao trả lại cho Nhật. Trong trường hợp này, nếu Mỹ có tham vọng lãnh thổ với sức mạnh của một siêu cường, Nhật làm gì được Mỹ nhưng Mỹ đã không cướp đất Nhật? Chúng ta cũng thấy Mỹ không đặc biệt ưu đãi Nhật bởi Mỹ cũng đã từng làm điều tương tự với nhiều nước khác, điều đó chỉ ra rằng, Mỹ không có tham vọng lãnh thổ, xâm lăng chiếm đóng như Trung Cộng đã đang dùng nhiều thủ đoạn thâm độc thôn tính từng phần đất nước Việt Nam.

Từ cách ứng xử của hai cường quốc Mỹ-Trung chỉ ra cho chúng ta biết, muốn giữ vững độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, muốn không bị tái diễn cảnh ngàn năm bắc thuộc, muốn không bị xóa tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam cần xây dựng tạo lập nhiều điều kiện nhưng điều kiện tiên quyết... phải, nhất định phải tránh xa nhà nước man rợ bá quyền Đại Hán càng xa càng tốt.

Le Nguyen
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Image

Việt Khang ‘không hoạt động chính trị’
BBC - Nhạc sỹ Việt Khang, người sẽ ra tòa tại thành phố Hồ Chí Minh vào thứ Ba ngày 30/10 về tội ‘Tuyên truyền chống Nhà nước’ theo điều 88 Bộ Luật hình sư đã nói với luật sư bào chữa của ông rằng ông ‘không hoạt động chính trị’.

Ông Trần Vũ Hải, luật sư bào chữa cho nhạc sỹ Việt Khang, đã cho BBC biết ông Khang đã nói với ông như thế trong buổi gặp mặt một ngày trước khi phiên tòa diễn ra.

Nhạc sỹ Việt Khang, 34 tuổi, có tên thật là Võ Minh Trí và sinh sống tại tỉnh Tiền Giang thuộc đồng bằng sông Cửu Long miền Nam Việt Nam.

Ông đã bị công an thành phố Mỹ Tho đột ngột bắt đi hồi trước lễ Giáng sinh năm ngoái và đã bị giam giữ từ đó đến nay.

Trước khi bị bắt, nhạc sỹ Khang đã sáng tác hai bài hát có tựa đề ‘Việt Nam tôi đâu’ và ‘Anh là ai’ có nội dung kêu gọi người dân bảo vệ chủ quyền biển đảo đất nước và lên án hành động đàn áp người biểu tình chống Trung Quốc của chính quyền.

Nhiều người cho rằng hai bài hát này chính là lý do nhạc sỹ này bị chính quyền bắt giữ và đưa ra xét xử.

'Thất vọng và bất ngờ'

Trao đổi với BBC, luật sư Trần Vũ Hải cho biết nhạc sỹ Khang đã ‘thất vọng’ khi biết được cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố ông vào khoản 2 điều 88 Bộ Luật hình sự với mức án từ 10 đến 20 năm tù cho việc ‘phạm tội đặc biệt nghiêm trọng’, chứ không phải khoản 1 với mức án từ 3 đến 12 năm.

Tuy nhiên ông Hải cho rằng thân chủ của ông có thể đã ‘đưa đọc kỹ cáo trạng’ nên mới có phản ứng bất ngờ và thất vọng như thế.

Ông từ chối bình luận liệu việc cáo trạng áp tội như thế cũng như tiết lộ các lập luận bào chữa của ông trong phiên tòa ngày mai.

Luật sư nói ‘ông sẽ cố gắng hết sức và hy vọng sẽ không làm thất vọng’ thân chủ của ông.

Khi được hỏi liệu phiên tòa xét xử các blogger mới đây cũng theo điều 88 Bộ Luật hình sự vốn tuyên án các bị cáo rất nặng có ảnh hưởng gì đến phiên tòa của nhạc sỹ Việt Khang hay không, ông Hải nói ông có ‘niềm tin rằng ông Khang sẽ không chịu mức án cao như thế’.

“Tôi tin chắc rằng việc bào chữa của tôi sẽ giúp cho thân chủ ở một mức độ nào đó,” ông nói.

Ông cho biết ông ‘không gặp bất cứ áp lực nào’ trong quá trình thực hiện thủ tục bào chữa và rằng tòa án ‘lúc nào cũng tạo điều kiện’ cho ông.

Cũng theo luật sư Hải thì tòa án thành phố Hồ Chí Minh cũng tạo điều kiện cho thân nhân Việt Khang đến dự khán phiên tòa vào ngày mai.

Trong phiên tòa xét xử các blogger Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải mới đây, thân nhân các bị cáo đã bị công an ngăn trở không cho tham dự.

“Việt Khang chỉ mong muốn tìm mọi cách,” ông Hải thuật lại lời ông Khang nói với ông, “Ông là một người hòa âm, một người không có ý đồ hoạt động chính trị, có vợ và con nhỏ và muốn đoàn tụ với gia đình.”

Cùng bị xét xử với ông Khang là nhạc sỹ Trần Vũ Anh Bình với cùng tội trạng.

Bài hát ‘Việt Nam tôi đâu’ của nhạc sỹ Việt Khang có những lời lẽ như ‘mẹ Việt Nam đau từng cơn xót xa nhình đời: người lầm than đói khổ nghèo nàn, kẻ quyền uy giàu sang dối gian’; ‘giờ đây Việt Nam còn hay mất mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta’.

Bài hát kêu gọi ‘là một người con dân Việt Nam lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm’ và ‘già trẻ gái trai giơ cao tay chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam’.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam ... ncer.shtml
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Trung Quốc và chiến lược "lãnh địa hóa" Biển Đông
Trọng Nghĩa
(RFI) - Nhân cuộc hội thảo về Biển Đông do Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp IRIS phối hợp với Quỹ Gabriel Péri đồng tổ chức ngày 16/10/2012, Tướng Daniel Schaeffer, một chuyên gia Pháp đã phân tích mưu đồ của Trung Quốc, đang tìm cách "lãnh địa hóa" - sanctuariser - hay độc chiếm Biển Đông. Trả lời RFI, Tướng Schaeffer cho rằng Việt Nam cần phải quốc tế hóa mạnh mẽ hơn hồ sơ này để đối phó với chiến lược của Trung Quốc.

Ngày 16/10/2012, một cuộc hội thảo khoa học về tình hình Biển Đông đã mở ra tại Paris với chủ đề "Biển Đông phải chăng là một không gian khủng hoảng mới ? – Mer de Chine méridionale : nouvel espace de crise ?". Do Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp IRIS phối hợp với Quỹ Gabriel Péri đồng tổ chức, cuộc hội thảo đã tập hợp được nhiều chuyên gia tên tuổi ở Pháp và châu Âu, cũng nhu thu hút đông đảo những người quan tâm đến dự thính và thảo luận.

Các bài thuyết trình rất đa dạng, đề cập đến các vấn đề pháp lý, chính trị, ngoại giao, kinh tế và đặc biệt là quân sự, liên quan đến tình hình căng thẳng hiện nay do tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và các láng giềng, đặc biệt là Việt Nam. Trong số các diễn giả, có ông Daniel Schaeffer, một viên tướng người Pháp đã về hưu, từng là tùy viên quân sự tại sứ quán Pháp ở Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc, hiện là chuyên gia nghiên cứu độc lập về Biển Đông và châu Á. Bài thuyết trình của tướng Schaeffer đã nêu bật một chiến lược mà theo ông, Trung Quốc đang áp dụng để gọi là sanctuariser, tạm dịch là lãnh địa hóa Biển Đông, tức là độc chiếm khu vực này bất chấp chủ quyền của các nước khác.

Sau buổi hội thảo, tướng Schaeffer đã đồng ý dành cho RFI một bài phỏng vấn để giải thích rõ hơn về ý muốn chiến lược của Trung Quốc, đã bộc lộ rõ ràng qua việc chính thức tung ra tấm bản đồ 9 đường gián đoạn - bị gọi là đường lưỡi bò – khoanh vùng lãnh thổ của họ hầu như chiếm trọn vùng Biển Đông, để rồi buộc các nước khác chấp nhận, cho dù đòi hỏi của Trung Quốc bị cho là phi lý.
Image
Tướng Daniel Schaeffer tại Hội thảo về Biển Đông ở Paris ngày 16/10/2012 - Ảnh Trọng Nghĩa/RFI.

Trước hết, tướng Schaeffer xác định là chính qua việc quan sát các động thái hoàn toàn không có cơ sở pháp lý của Bắc Kinh liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và thực thể mà họ gọi là quần đảo Trung Sa mà ông cho rằng Trung Quốc muốn lãnh địa hóa toàn bộ Biển Đông.

"Tôi đã bảo vệ quan điểm này từ hơn một năm nay, ngay từ năm ngoái, nhân Hội nghị Quốc tế về Biển Đông lần thứ III do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức ở Hà Nội. Tôi đã có quan điểm này sau khi quan sát cách thức Trung Quốc biện minh cho đường 9 đoạn tại Biển Đông, tức là đường trung tuyến giữa phần mà họ cho là lãnh thổ của họ và phần thuộc chủ quyền các nước khác.

Khi xem xét hoạt động của ngành ngoại giao Trung Quốc, và nhất là các hoạt động trong lãnh vực pháp lý liên quan đến vấn đề quyền trên biển, ta thấy rằng Trung Quốc đã vạch ra chung quanh quần đảo Hoàng Sa những đường cơ sở thẳng, cứ như là đây là một quốc gia quần đảo.


Nhưng dựa vào luật biển, thì điều đó hoàn toàn không có bất kỳ một cơ sở pháp lý nào được chấp nhận trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển... Đó là điểm thứ nhất.

Điểm thứ nhì liên quan đến Trường Sa.

Khi Trung Quốc phản ứng vào năm ngoái trước công hàm của Philippines gởi đến Liên Hiệp Quốc đề phản đối các đòi hỏi của Trung Quốc liên quan đến đường 9 đoạn, Bắc Kinh đã cho hiểu rõ ý định vạch ra những đường cơ sở thẳng tương tự chung quanh Trường Sa. Tại vì trong công hàm đưa ra để phản bác các đề nghị của Philippines, Trung Quốc cho biết là đối với họ, quần đảo Trường Sa có quyền có lãnh hải, có vùng tiếp giáp và vùng đặc quyền kinh tế.

Cho nên, khi ta tính đến các lập luận đó, cũng như lập luận về một số bãi đá như James Shoal, hay một mỏm đá khác nằm phía Nam quần đảo Trường Sa - không thuộc quần đảo này nhưng lại ở bên trong đường 9 đoạn - và khi ta nhìn những sự cố liên quan đến bãi Scarborough, thì tất cả những yếu tố đó đều nhằm mục tiêu « vật thể hóa », tức là cụ thể hóa các đòi hỏi căn cứ theo đường 9 đoạn đó

Thêm vào đó, vào hạ tuần tháng Sáu vừa qua (23/06/2012), tập đoàn Dầu khí Hải dương Trung Quốc CNOOC đã kêu gọi các tập đoàn quốc tế đấu thầu để cùng với họ thăm dò, khai thác 9 lô nằm ở ngoài khơi Việt Nam, trong vùng đặc quyền kinh tế kinh tế của Việt Nam, nhưng lại thuộc một vùng lãnh thổ mà Trung Quốc cho là của họ. Đây là một điều đáng sửng sốt vì 9 lô đó nằm ở ngoài khơi ngang tầm với Đà Nẵng.

Theo tướng Schaeffer, việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên cái mà họ gọi là "Trung Sa Quần đảo" còn phi lý hơn nữa.

"Thêm vào đó, nếu đi ngược lên phiá Bắc, ta thấy cái mà Trung Quốc gọi là Trung Sa Quần đảo mà quốc tế quen gọi là bãi Macclesfield. Đây là một bãi ngầm, không bao giờ nổi lên trên mặt nước kể cả khí thủy triều thấp. Dó đó, trong mọi trường hợp, bãi này không có quyền có lãnh hải, và lại càng không có quyền hưởng khu đặc quyền kinh tế. Trung Quốc cũng có đòi hỏi tương tự đối với một bãi ngầm khác là Truro Shoal.

Do việc bãi Truro, cũng như bãi Macclesfield, đều không thể có được một vùng đặc quyền kinh tế hay lãnh hải, cho nên Trung Quốc đã gộp hai thực thể này với bãi ngầm Scarborough nằm về phía Philippines, và gọi tập hợp đó là « quần đảo Trung Sa, một loại quần đảo hoàn toàn tưởng tượng không hơn không kém.

Chung quanh đó hiện giờ họ chưa vẽ đường cơ sở thẳng nào, cũng chưa nói đến khả năng đó, nhưng ta có thể suy đoán về việc đó dựa vào những gì xẩy ra trước đây. Giữa quần đảo Hoàng Sa và cái gọi là Trung Sa rất có thể có một sự liên tục về mặt pháp lý, điều đó sẽ cho phép Trung Quốc vạch một đường cấm bược tàu chiến đi qua khu vực phải dừng lại.

Dù sao đi nữa, Trung Quốc hiện đang áp dụng ở vùng đặc khu kinh tế của họ những quy định dùng cho vùng lãnh hải trên vấn đề quyền qua lại một cách vô hại của tàu chiến, có nghĩa là tức là mỗi khi đi qua vùng lãnh hải của Trung Quốc, tàu chiến các nước khác phải xin phép. Phải nói thêm là không chỉ có Trung Quốc, mà Việt Nam, Indonesia cũng áp dụng quy tắc như vậy.

Vấn đề là Trung Quốc lại muốn áp dụng quy tắc kể trên cho vùng biển bên trong đường 9 đoạn được họ coi là vùng đặc quyền kinh tế. Điều đó có nghĩa là khi muốn thì Trung Quốc có thể cấm tất cả các tàu chiến nước ngoài vượt qua đường lưỡi bò đó.

Cho đến nay, các nhà quan sát đã nói rất nhiều về mục tiêu kinh tế của Trung Quốc trong việc tìm cách độc chiếm Biển Đông, tức là để chiếm đoạt nguồn dầu khí được cho là dồi dào trong khu vực. Tuy nhiên, như tướng Schaeffer đã phân tích ở trên, vấn đề quân sự là một nhân tố tối quan trọng. Và việc lãnh địa hóa Biển Đông sẽ cho phép Bắc Kinh triển khai hạm đội tàu ngầm của họ một cách an toàn hơn, dự phòng khi phải tấn công vào Mỹ. Ông giải thích :

"Khi nhìn trên bản đồ, ta thấy ở Tam Á (phía Nam đảo Hải Nam) có căn cứ hải quân nơi Trung Quốc đặt các tàu ngầm phóng tên lửa của họ

Giữa căn cứ Tam Á này và vùng sâu đầu tiên ở Biển Đông, nơi mà các tàu ngầm nguyên tử Trung Quốc có thể tuần tra một cách yên ổn, là một khoảng cách dài 430 cây số. Bất kỳ một phi cơ trinh sát nào cũng có thể phát hiện ra tầu ngầm Trung Quốc khi các con tàu này rời cảng và đến nơi tuần tra hay đi xa hơn nữa, ra Thái Binh Dương, lúc các con tàu này đi qua eo biển giữa đảo Luzon của Philippines và vùng phía Nam Đài Loan.

Hơn nữa tàu ngầm loại Tấn (Jin), tức là tàu nguyên tứ phóng tên lửa thế hệ hai hiện nay của Trung Quốc lại rất ồn, do đó rất dễ phát hiện. Cho nên cũng dễ hiểu lý do tại sao Trung Quốc muốn biến cả vùng này thành một lãnh địa của riêng họ.

Ngoài ra, dù muốn hay không, dù có nêu rõ hay không, mục tiêu của Trung Quốc không phải tấn công Mỹ mà là tự bảo vệ mình trước Mỹ, mà muốn tự bảo vệ đối với Mỹ, thì phải làm sao để có thể đưa tàu ngầm của họ đến được nơi mà mục tiêu Mỹ nằm trong tầm bắn của tên lửa phóng đi từ tầu ngầm của họ. Hiện nay, hoả tiễn Cự Lãng (Julang) của Trung Quốc chỉ có tấm bắn 8000 cây số, chưa có khả năng bắn đến Mỹ từ Biển Đông…

Nhìn chung, đó là lý do vì sao Trung Quốc muốn lãnh địa hóa vùng Biển Đông, Trung Quốc cũng không thể chuyển dịch căn cứ tàu ngầm lên phía Bắc, vì Biển Hoa Đông có một thềm lục địa chạy dài đến tận hố Okinawa, không xa bờ biển Nhật Bản lắm, do dó tầu ngầm Trung Quốc khó có thể che giấu hành tung.

Tóm lại nơi kín đáo nhất, hay ít lộ liễu nhất, đối với tàu ngầm Trung Quốc chính là ở phiá Nam, nơi mà họ đang đặt căn cứ Tam Á.

Đấy là tất cả những lý do khiến tôi cho là Trung Quốc muốn lãnh địa hóa, tức là độc chiếm vùng Biển Đông.

Theo tướng Schaeffer, ông không phải là chuyên gia duy nhất nghĩ rằng Trung Quốc muốn lãnh địa hóa vùng Biển Đông. Hiện nay có nhà phân tích đã so sánh chiến lược Trung Quốc đang thực hiện ở Biển Đông với chủ trương Liên Xô trước đây, thiết lập “tiền đồn” tại vùng biển Okhostsk và Barents; người khác thì nói là Trung Quốc đang thực hiện học thuyết Monroe theo kiểu Trung Quốc.

Câu hỏi đặt ra là Việt Nam phải làm gì trước chiến lược đó của Trung Quốc, nhất là khi Việt Nam đang ở trên tuyến đầu. Theo tướng Schaeffer, trong lãnh vực chống lại đường lưỡi bò của Trung Quốc, Việt Nam không lẻ loi, và cần phải vận động, từ khối ASEAN cho đến các nước khác

"Theo tôi thì trước tiên hết Việt Nam không đơn độc. Giờ này thì cả Việt Nam lẫn Philippines đang ở trên tuyến đầu, sắp tới đây tôi cho rằng sẽ đến lượt Indonesia và Malaysia. Vấn đề theo tôi trước hết là giữa các nước trong Hiệp hội Đông Nam Á cần phải có một sự đoàn kết, phải thu hút sự chú ý của quốc tế trên thực tế là các đòi hỏi của Trung Quốc hoàn toàn không phù hợp chút nào với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Cần phải thu hút sự chú ý không chỉ của Hoa Kỳ - nhưng Hoa Kỳ dư biết chuyện này rồi – mà cả của các nước khác trong vùng như Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Liên Hiệp Châu Âu, thậm chí cả các nước châu Mỹ La tinh nữa vì lẽ Biển Đông là một vùng có rất nhiều tuyến hàng hải cực kỳ quan trọng đi qua, và nếu bị Trung Quốc ngăn chặn thì rất phiền.

Dĩ nhiên là Trung Quốc lúc nào cũng thề thốt là họ sẽ không bao giờ ngăn cấm lưu thông hàng hải vân…vân, nhưng mà khi một nước nào có quyền thống trị trên một khu vực, thì ngay cả khi có những lời hứa ngon ngọt, một ngày nào đó mà họ không thích nữa thì họ hoàn toàn có thể cấm tàu bè nước khác qua lại.

Bản thân tôi, tôi không bao giờ tin tưởng vào các cam kết đó của Trung Quốc, cho dù suy cho cùng họ không có lợi lộc gì về mặt kinh tế khi cấm lưu thông hàng hải trên Biển Đông, nhưng điều đó không cấm cản ta đưa ra những giả thuyết, và trong một số trường hợp, giả thuyết về tình huống tệ hại nhất…

Tóm lại, cộng đồng quốc tế cần được hiểu là một ngày nào đó, nếu xảy ra sự cố trong vùng đó, thì không chỉ các nước trong vùng gặp vấn đề, mà tất cả các nước có giao thương với khu vực sẽ bị khó khăn.

Do đó cần phải thuyết phục Trung Quốc cho bằng được là họ phải chấp nhận thương thảo vấn đề chủ quyền trên Biển Đông trên cơ sở Luật biển quốc tế. Nếu cần thì phải đưa ra trước Tòa án Công lý Quốc tế, cho dù phải mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị thủ tục hồ sơ – một số người đã nêu ra vấn đề này, nhưng theo tôi thì tranh chấp Biển Đông đã kéo dài cả 60 năm nay rồi, cho nên năm, mười năm chẳng thấm vào đâu…

Theo tướng Schaeffer, Việt Nam phải tiếp tục nỗ lực quốc tế hóa vấn đề. Cho đến nay, Bắc Kinh luôn chống lại điều này vì biết rõ rằng mình bị đuối lý trong lãnh vực pháp lý. Trong những ngày qua, học giả Trung Quốc và Đài Loan loan báo ý định hợp lực với nhau để nghiên cứu cơ sở pháp lý của tấm bản đồ lưỡi bò. Trả lời câu hỏi của RFI về điểm này, tướng Schaeffer không hề ngạc nhiên vì theo ông, trên hồ sơ Biển Đông, Trung Quốc và Đài Loan cùng chung một chiến tuyến :

"Rõ ràng là khi bị tấn công trên vấn đề pháp lý của đường 9 đoạn thì họ phải tìm mọi cách để biện minh. Ở đây tôi rất tâm đắc với câu hỏi của ông vì cho đến nay, khi nói đến tranh chấp Biển Đông, báo chí quốc tế thường liệt kê Đài Loan và các nước Đông Nam Á trong phe những nước chống lại đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc.

Thế nhưng, trong trường hợp Biển Đông, Đài Loan hoàn toàn không đứng về phía các nước Đông Nam Á mà là về phía Trung Quốc, Do đó, trong vấn đề này, phải nói rõ là Đài Loan và Trung Quốc cùng đứng chung chiến tuyến trong cuộc chiến bảo vệ đường 9 điểm !

Trọng Nghĩa
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Những điều cử tri gốc Việt cần biết về Obamacare

TS Ðinh Xuân Quân
Trong bốn cuộc tranh luận trên TV của các ứng cử viên tổng thống, có một điểm quan trọng là chính sách y tế và an sinh xã hội. Phe Dân Chủ (DC) ủng hộ luật Affordable Care Act còn gọi là Obamacare trong khi phe Cộng Hòa (CH) muốn bỏ đạo luật này.

Về y tế có một số chuyện phi lý tại Mỹ: Một loại thuốc thông thường ở Canada bán tự do với giá lối 3 đôla trong khi tại Mỹ loại thuốc này được bán với giá 20 Mỹ kim vì Hoa Kỳ cấm nhập thuốc trị bệnh từ nước ngoài, trừ những gì Hoa Kỳ không sản xuất. Muốn mua vài viên trụ sinh cho một cái mụt nhọt thì bệnh nhân phải đi khám bệnh với một bác sĩ, rồi mới có toa thuốc để ra Pharmacy mua. Rốt cuộc tổn phí trên $100 cho mấy viên trụ sinh giá 10 đôla.

Trong mấy bài viết cho cử tri Mỹ gốc Việt (1) phản ứng của độc giả cho thấy cần nói thêm về Obamacare vì còn nhiều sự hiểu lầm. Trong bài trên Người Việt (2) tác giả đã phân tích sơ qua các chính sách và nay muốn cắt nghĩa thêm chính sách y tế để cử tri gốc Việt dễ chọn/bầu.

Sau nhiều thập niên nỗ lực của nhiều đời tổng thống, hơn 14 tháng tranh luận căng thẳng và vô số đề nghị sửa đổi tại Quốc Hội và trên các diễn đàn công cộng khác, cuối cùng ngày 21 tháng 3, 2010 một đạo luật hai phần ra đời. Ðạo luật là The Patient Protection and Affordable Care Act (PPACA gọi là ACA hay Obamacare) được ký ngày 23 tháng 3, 2010 và đạo luật bổ sung khác The Health Care and Education Reconciliation Act (HERA) được ký vào ngày 30 tháng 3, 2010. Bộ luật dài hơn 2,040 trang, rất phức tạp và sẽ ảnh hưởng cho toàn nước Mỹ trong những thập niên tới (3). Ðạo luật này chỉ mới là một khởi đầu cho quy trình y tế nhân bản hơn mà thôi.

Trong quy trình lập luật phe chống nêu lên bản chất quan liêu của hệ thống nhà nước, sẽ tạo ra một sự cạnh tranh không công bằng, sẽ đẩy các hãng bảo hiểm tư nhân đến chỗ phá sản, làm sụp đổ ngành kỹ nghệ bảo hiểm y tế hay chính phủ liên bang trở nên quá mạnh, dễ dàng quá lạm, xâm phạm vào tự do cá nhân của công dân. Sự chống đối tại Quốc Hội được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các nhóm đặc lợi (special interest groups) thông qua các cuộc vận động hành lang (lobbying) tích cực đối với các nghị sĩ kể cả phong trào Tea Party.

Tháng 7 năm 2012 vừa qua, 26 tiểu bang thân Cộng Hòa đã nộp đơn kiện luật cải tổ y tế với lập luận rằng các cá nhân không thể bị buộc phải mua bảo hiểm lên Tối Cao Pháp Viện. Cuối cùng Tối Cao Pháp Viện công nhận ACA không vi phạm “tự do cá nhân” và chính phủ có thể bắt buộc mọi công dân mua bảo hiểm.

Ðề tài khó và luật rất dài, hơn nữa luật chưa được áp dụng toàn diện cho nên bài này chỉ cố gắng phân tích luật này một cách tổng quát hầu giúp cử tri Mỹ gốc Việt dùng lá phiếu của mình chính xác hơn.

1. Những điểm chính trong luật y tế (ACA):

Sau đây là những điểm chính trong luật cải cách y tế ACA:

- Một quỹ tạm thời sẽ được thiết lập (tài trợ việc mua bảo hiểm cho những người thuộc nhóm có rủi ro cao nhất đang mang bệnh hay đang thất nghiệp).

- Ðối với người già, đạo luật sẽ xóa dần dần “lỗ hổng đô-nớt - donough hole” của Medicare Phần D. Theo luật mới thì năm 2010 những người già “rơi” vào phải lỗ hổng Medicare nói trên được trơ giúp $250, năm 2011 sẽ được trợ cấp 50% chi phí về thuốc khi “rơi” vào trong lỗ hổng đô-nớt. Sau đó hàng năm chính phủ liên bang sẽ tăng dần mức tài trợ cho tới khi lỗ hổng không còn vào 2020.

- Con cái sẽ được hưởng theo bảo hiểm của bố mẹ cho đến năm 26 tuổi (thay vì 24 tuổi như hiện nay).

- 6 tháng sau ngày luật ban hành, các hãng bảo hiểm không được từ chối bảo hiểm cho những trẻ em đã mang trọng bệnh (pre-existing conditions). Ðến năm 2014 trở đi điều khoản này sẽ áp dụng cho cả người lớn.

- Mọi người: Công dân và cư dân hợp pháp phải mua bảo hiểm y tế ở mức thiết yếu tối thiểu (minimal essential coverage) cho bản thân và con cái. Họ có thể mua qua nơi làm việc hoặc, ở các thị trường mới do chính phủ lập ra gọi là Trung Tâm Trao Ðổi (Health Benefit Exchanges). Những người gặp khó khăn tài chánh, và không có Medicaid hoặc Medicare, sẽ được trợ giúp (subsidy) để mua bảo hiểm. (Những cá nhân hoặc gia đình có lợi tức đồng niên dưới $44,000/người sẽ được chính phủ tài trợ để họ không bao giờ phải trả đến 10% lợi tức của mình cho việc có một bảo hiểm y tế đúng tiêu chuẩn. Nguyên tắc căn bản là lợi tức càng thấp, càng được tài trợ nhiều.)

- Từ 2014 ai không mua bảo hiểm y tế sẽ bị phạt $695/người và tối đa là $2,805/gia đình, hoặc 2.5% lợi tức của gia đình. (Ðược hưởng ngoại lệ cho chế tài trên đây là những người bị ràng buộc vì tôn giáo, những thổ dân da đỏ, di dân bất hợp pháp và tù nhân.)

- Medicaid (Medical ở California) sẽ được mở rộng để bao gồm những gia đình có mức lợi tức đến 133% mức nghèo khó của liên bang (FPL), nghĩa là có thu nhập $29,327 cho một gia đình 4 người. Ðến năm 2014 thì chương trình Medicaid bao gồm luôn cả những người lớn không con nhỏ và có lợi tức thấp như vừa nói. Từ năm 2016 trở đi, liên bang sẽ trả 100% chi phí bảo hiểm cho những người hưởng Medicaid.

- Cải thiện phẩm chất nền y tế ưu tiên cho các dịch vụ primary care services - phòng ngừa. Hội đồng - National Prevention, Health Promotion and Public Health Council sẽ được thành lập để phối hợp các hoạt động y tế nhằm phòng chống bệnh và tăng cường sức khỏe công cộng.

- Ðến 2016, khi những điều khoản chính của luật được thực thi hoàn toàn thì bảo hiểm ước lượng sẽ mở rộng cho thêm 32 triệu những người hiện nay chưa có bảo hiểm.

- Chi phí cho đạo luật này có thể lên đến 940 tỉ Mỹ kim trong vòng 10 năm. Ðể có tiền trang trải cho chi phí này, liên bang sẽ tăng thuế. Một trong những loại thuế sẽ gia tăng Medicare Payroll Tax. Lâu nay thuế này chỉ tính trên đồng lương, nhưng từ năm 2012 khoản thuế này sẽ áp dụng cho cả những lợi tức nhận được do các hoạt động đầu tư (investment income) của những cá nhân có thu nhập trên 200,000$ hoặc gia đình có trên 250,000$/năm, với thuế suất là 3.8%.

- Từ 2018, các công ty bảo hiểm phải trả 40% thuế excise tax cho các chương trình bảo hiểm đắt tiền đặc biệt - gọi là bảo hiểm Cadillac - có trị giá niên phí $27,500 cho gia đình và $10,200 cho một cá nhân (không kể phần răng và mắt).

- Những gia đình có lợi tức từ $250,000 trở lên sẽ bị tăng 0.9% thuế Medicare Parroll Taxes.

- Ðối với người già trên 65 tuổi đang hưởng Medicare. Chính phủ liên bang sẽ cắt giảm 132 tỉ Mỹ kim trong thời hạn 10 năm đối với chương trình Medicare Advantage - một chương trình do các hãng bảo hiểm tư điều hành - được những người già có thu nhập cao, chừng 10 triệu người, tham gia.

- Mức liệt kê để giảm thuế (itemized deduction) cho những chi tiêu y tế không được bồi hoàn (unreimbursed medical expenses) sẽ được nâng từ 7.5% lên 10% của tổng lợi tức điều chỉnh (adjusted gross income, AGI) hàng năm.

- Thu niên phí trên các công ty dược phẩm khởi đầu từ năm 2012 với mức 2.8 tỉ đôla/năm. Riêng với các công ty bảo hiểm y tế thì bắt đầu từ năm 2014 sẽ thu 8 tỉ Mỹ kim/năm và sẽ tăng dần vào các năm sau dựa trên mức độ gia tăng bảo phí (premium) mà các công ty này áp dụng đối với người mua bảo hiểm.

- Ngoại lệ sẽ được áp dụng cho các công ty hay tổ chức bảo hiểm bất vụ lợi (non-profit insurers) hoạt động nhằm phục vụ giới có lợi tức thấp trong xã hội.

Ảnh hưởng lên các công ty bảo hiểm y tế tư nhân

- Các hãng bảo hiểm không được quyền từ chối bảo hiểm cho một người vì đã có bệnh sẵn (pre-existing conditions).

- Phải chi trả cho các khám nghiệm tổng quát định kỳ hằng năm và các dịch vụ phòng bệnh khác mà không đòi hỏi người được bảo hiểm trả tiền phụ góp (co-payments).

- Không được đột ngột chấm dứt bảo hiểm khi người mua bảo hiểm phát bệnh (recissions).

- Phải công khai tài chánh về các chi trả cho dịch vụ y tế đối với người được bảo hiểm, đồng thời phải thực hiện những quá trình khiếu nại nhanh, minh bạch đối với các quyết định chi trả và khai thanh toán.

- Các tổ chức y tế bất vụ lợi như Blue Cross Blue Shield sẽ được hưởng một số ưu đãi về thuế.

Các Trung Tâm Trao Ðổi (Health Benefit Exchanges)

- Trung tâm Trao đổi là một cơ quan của tiểu bang được liên bang giúp ngân sách để hình thành. Các trung tâm trao đổi sẽ giúp quy tụ các cá nhân mua bảo hiểm thành những nhóm lớn, và gom các chương trình bảo hiểm khác nhau của các hãng bảo hiểm tư nhân như HMOs, PPOs vào thành một mạng lưới để cả hai phía có được nhiều chọn lựa hơn. Mọi người có quyền chọn hoặc những chương trình với mức lệ phí thấp nhưng mức chiết phí (deductible) hàng năm cao, hoặc ngược lại.

- Trung tâm Trao đổi cũng có nhiệm vụ giúp cho những doanh nghiệp nhỏ với số nhân viên dưới 100 người, các người kinh doanh độc lập, các cá nhân muốn tự mua bảo hiểm lấy, những người thất nghiệp hoặc về hưu nhưng không đủ tiêu chuẩn để hưởng Medicare, để những người này tập hợp lại với nhau và mua được bảo hiểm với giá phải chăng. Hoạt động của các Trung tâm Trao đổi mang tính chất của những hợp tác xã giúp các thành viên tập hợp lại để có khả năng biết cách mặc cả ngang với các công ty trung bình hoặc lớn khi thương lượng giá cả với các công ty bảo hiểm.

- Dự luật cũng cải thiện các phúc lợi phòng chống bệnh tật cho người cao niên trong khuôn khổ Medicare nguyên gốc.

2. Những điểm chính trong luật HCERA:

Luật HCERA cũng đưa ra những cải cách sau:

- Gia tăng Pell Grant, là tiền trợ cấp của liên bang cho học sinh nghèo bằng cách cung cấp 13.5 tỉ dollars, theo dạng phân bổ bắt buộc (mandatory appropriations), cho Pell Grant.

- Từ 2014 trở đi, giảm mức tiền trả nợ tối đa cho sinh viên sau khi ra trường là 10% của lợi tức khả dụng (discretionary income - hiện nay là 15%).

- Từ 2014 trở đi, sinh viên sẽ được tha miễn số nợ còn lại sau khi đã trả nợ trong 20 năm (hiện nay là 25 năm).

- Sẽ có những điều kiện dễ dàng hơn cho phụ huynh trong việc đứng ra vay tiền cho con cái để theo đuổi việc học hành.

- Gia tăng việc trợ cấp ngân sách cho các đại học cộng đồng (community colleges).

3. Chống đối

Luật ACA theo “model” y tế của tiểu bang Massachussets được coi như là một dạng thu nhỏ của đạo luật cải cách y tế liên bang mà Tổng Thống Obama vừa mới ký mà thôi; bởi vì cả hai có cùng chung nét căn bản. Như vậy sự chống đối của phe CH không phải là sự chống đối về chủ trương - quan điểm cải cách y tế, mà chính ra là sự chống đối giữa hai đảng, một sự đối địch về chính trị, mang tính chất đảng tranh.

Kết luận

Ðối với Mỹ, việc cải cách nền y tế theo hướng tiến đến một hệ thống y tế phổ quát (universal healthcare) nhân bản hơn là một nhu cầu. Ðạo luật về Y tế ACA (Obamacare) là một bước khởi đầu quan trọng đáp ứng lại nhu cầu đó. Quy trình này nối tiếp những đạo luật như Social Security Act bởi Tổng Thống Franklin D. Roosevelt năm 1935, hoặc Medicare and Medicaid do Tổng Thống Lyndon B. Johnson ký năm 1965.

Hai đạo luật trên lúc đầu cũng đã gặp những phản đối mạnh mẽ từ các phe đối lập cho rằng các chương trình y tế do chính phủ điều hành sẽ dẫn đến xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Không một đạo luật nào hoàn hảo ngay từ đầu và thỏa mãn một cách đồng đều yêu cầu của các thành phần xã hội với quyền lợi trái ngược nhau. Ðạo luật Obamacare chưa giải pháp trọn vẹn cho tất cả các nhược điểm của nền y tế Mỹ.

Nó là nền móng cho những cải cách quan trọng hơn về sau. Một trong những điều căn bản mà Obamacare đã đề ra là sự chuyển hướng từ một nền y tế nặng về chữa trị (disease/curative care) qua một nền y tế phòng bệnh (preventive care).

Ðiểm thứ hai là nỗ lực để giảm thiểu mức độ độc quyền của các hãng bảo hiểm tư nhân, tăng cường chuẩn định, và giúp gia tăng sự cạnh tranh trong một thị trường mở rộng với gần 200 triệu khách hàng.

Ðiểm thứ ba là việc cố gắng cung cấp bảo hiểm cho hơn 32 triệu người chưa có và việc cưỡng bách mọi người phải có bảo hiểm y tế (individual mandate). Ðây là bước đầu trong nỗ lực nhằm biến bảo hiểm y tế trở nên một quyền của con người, được xã hội bảo vệ bằng luật pháp. Tóm lại cử tri Mỹ gốc Việt, cần biết là:

- Bắt đầu từ 2014, hầu hết người lớn ở Mỹ sẽ phải mua bảo hiểm y tế.

- Không giảm phúc lợi cho người đang thụ hưởng Medicare. Tuy nhiên, có giảm tiền trả cho các chương trình Medicare Advantage của tư nhân, nhưng không ảnh hưởng tới người thụ hưởng.

- Chương trình Medicaid (ở California gọi là Medi-Cal) sẽ gia tăng để giúp cho toàn bộ người nghèo.

- Người không đủ tiền mua bảo hiểm y tế sẽ được chính phủ tài trợ.

- Các công ty bảo hiểm không được từ chối bán cho người đã bị bệnh sẵn.

- Doanh nghiệp nhỏ, nếu mua bảo hiểm cho nhân viên, sẽ được trừ thuế.

- Sẽ không có hãng bảo hiểm của chính phủ hoạt động song song với bảo hiểm tư nhân. Tất cả các công ty bảo hiểm sẽ vẫn là của tư nhân.

- Pell Grant là chương trình trợ cấp học bổng của liên bang giúp học sinh nghèo.

Ðạo luật còn cần nhiều thay đổi sau một thời gian thử để giảm tính “hành chính hay phiền hà” của mọi quyết định liên bang. Nhìn chung luật y tế này có tính cách nhân bản hơn các luật trong quá khứ, và sẽ giúp người Mỹ gốc Việt nhất là thế hệ thứ nhất, (đến tuổi về hưu) hay thế hệ còn phải đi học.

Ðạo luật này được hai hội bất vụ lợi, là Hàn Lâm Viện Nhi Khoa Hoa Kỳ - American Academy of Pediatrics) và Hội Người Về Hưu (AARP - American Association of Retired Persons) ủng hộ vì bảo vệ quyền lợi của hai nhóm người này (trẻ em và người già).

Như đã nói trong bài trước (4) cử tri Mỹ gốc Việt nên chọn và dồn phiếu cho các chính sách nào giải quyết các ưu tư của chúng ta (giáo dục, an sinh xã hội, kinh tế, chính sách ngoại giao - Tổng Thống Obama đã tiến hành thay đổi định hướng chiến lược của nước Mỹ thời Tổng Thống Bush, thoát ra khỏi tình trạng sa lầy ở một số nước Trung Ðông để chuyển hướng đến vùng Châu Á-Thái Bình Dương nhằm thích nghi với tình hình thế giới mới: Sự lớn mạnh của các nước mới trỗi dậy, đặc biệt là của Trung Quốc).

Ðiều cần thiết nhất cho cử tri gốc Việt chúng ta vẫn là hiểu rõ chính sách của mỗi ứng cử viên, đi bầu cho đông và có sự lựa chọn đúng đắn.

Bài phân tích này có mục đích đóng góp sự hiểu biết về y tế cho cử tri, hầu chọn đúng người sẽ đem lại lợi ích cho chính mình, cho gia đình và cộng đồng của mình.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image


Những Tiểu Bang Quyết Định

Vũ Linh
...33% dân gốc Việt theo Cộng Hòa và 30% theo Dân Chủ...

Thăm dò dư luận mới nhất cho thấy một cuộc bầu tổng thống thật hấp dẫn, với hai ứng viên ngang ngửa nhau, hơn thua chừng vài điểm, trong sai biệt xác xuất thống kê. Bất kể mọi hò hét của cả hai bên, các chuyên gia chính trường đều nhận định hy vọng của TT Obama, khởi đi khá chắc chắn, càng ngày càng lung lay vì bất ngờ gặp hàng loạt tin xấu và biến chuyển bất lợi, nhất là sau cuộc tranh luận đầu tiên với TĐ Romney, đi đến tình trạng chẳng ai dám quả quyết kết quả trước, ngoại trừ những thành phần “bảo hoàng hơn vua”, nhắm mắt tin tưởng vào gà nhà.

Những thăm dò chung cho cả nước cho thấy TĐ Romney đang thắng thế chút xíu, thực ra không có ý nghiã gì nhiều. Chế độ bầu cử tổng thống của Liên Bang Hoa Kỳ không tùy thuộc đa số cử tri của cả nước, mà tùy thuộc đa số cử tri của từng tiểu bang. Một ứng viên có nhiều phiếu hơn trên cả nước, vẫn có thể thua vì ít phiếu tiểu bang hơn. Mỗi tiểu bang, tùy lớn nhỏ được chỉ định một số cử tri đoàn nhất định. Những người này được chỉ định tùy theo kết quả đầu phiếu của tiểu bang ngày 6 tháng 11. Ví dụ Cali có 55 phiếu cử tri đoàn, ai có đa số phiếu cử tri Cali sẽ lãnh được hết 55 phiếu của Cali. Sau đó các cử tri đoàn của 50 tiểu bang và hạt Columbia (District of Columbia, tức là vùng thủ đô) họp lại ngày 17 tháng 12 tại Hoa Thịnh Đốn để chính thức bầu tổng thống.

Ứng viên nào đạt được con số mầu nhiệm 270 phiếu cử tri đoàn sẽ đắc cử. Điều lý thú là có thể có trường hợp cả hai bên đều có đúng 269 phiếu, tức là huề. Trường hợp này, hạ viện sẽ bỏ phiếu, mỗi dân biểu một phiếu, và TĐ Romney sẽ nhiều hy vọng đắc cử vì Hạ Viện có lẽ sẽ vẫn do Cộng Hòa nắm đa số.

Trên thực tế, người ta có thể biết trước khá chắn chắn kết quả tại 40 tiểu bang, như tại Cali, chắc chắn TT Obama sẽ thắng, hay Texas là đất của TĐ Romney. Vấn đề là có khoảng một chục tiểu bang xôi đậu mà Mỹ gọi là swing states, có thể ngả qua bất cứ bên nào. Cả hai bên đều nổ lực chiến thắng tại những nơi này.

Bài này sẽ duyệt qua tình trạng hiện nay tại các tiểu bang xôi đậu chính để ta có một khái niệm. Tối ngày bầu cử, ta chỉ cần coi trên truyền hình kết quả tại vài tiểu bang này thôi. Theo diễn đàn Real Clear Politics tổng kết từ cả chục cơ quan thăm dò, đó là các tiểu bang Florida, Ohio, Michigan, Wisconsin, Virginia, Nevada, Iowa, và Colorado. Cũng cần ghi nhận danh sách các tiểu bang xôi đậu không đồng nhất, tùy cơ quan thăm dò, cũng như tùy thời điểm. Ví dụ như trước cuộc tranh luận đầu, Michigan được ghi nhận chắc chắn theo TT Obama, bây giờ ngang ngửa. North Carolina trước đây là ngang ngửa, bây giờ theo TĐ Romney. New Hampshire và Pennsylvania có thể coi như đứng về phiá TT Obama tuy hậu thuẫn đã rớt mạnh.

Đối với các tỷ lệ thăm dò, nên ghi nhận sai biệt xác xuất thường là 4%, nghiã là nếu tỷ lệ thắng thua dưới mức 4% thì không có ý nghiã gì nhiều, coi như hai bên ngang ngửa, thắng thua tùy số cử tri thực sự đi bầu, và số trời. Một cơn bão tuyết lớn ập vào Denver ngày bầu có thể sẽ khiến dân da màu, gốc Mễ, và sinh viên tại đây gặp trở ngại không đi bầu cho TT Obama và ông có thể mất Colorado.

Nhìn sơ qua danh sách, ta thấy ngay bốn tiểu bang then chốt là Florida, Ohio, Michigan và Virginia. Ai thắng ba trong bốn tiểu bang này sẽ vào Tòa Bạch Ốc. Nếu chỉ thắng hai thì sẽ cần thắng thêm vài tiểu bang xôi đậu nhỏ nữa.

OHIO (18 phiếu cử tri đoàn):

Năm nay, Ohio đã trở thành tiểu bang quan trọng nhất, quyết định kết quả cuộc bầu. Khối cử tri lao động da trắng đông đảo là miếng mồi ngon mà cả hai bên đang tìm mọi cách để câu. Đây là một trong những tiểu bang kỹ nghệ lớn nhất Mỹ, có một điểm hết sức đặc biệt: trong nửa thế kỷ qua, muốn đắc cử tổng thống, phải thắng Ohio. Hai lần bầu cho TT Bush. Năm 2008, TT Obama thắng với 4 điểm. Năm 2010, bầu thống đốc và một nghị sĩ Cộng Hòa. Nói cách khác, có khuynh hướng bỏ Dân Chủ từ hai năm qua vì tỷ lệ thất nghiệp rất cao tại đây. Trước tranh luận, TT Obama thắng với 9% theo CBS, sau tranh luận, theo Rasmussen, hai bên huề. Phần lớn là do đổi ý của mấy bà Mỹ trắng, lo cho đời sống khó khăn và các ông chồng thất nghiệp lâu quá, nhưng không còn sợ “ác quỷ” Romney nữa sau khi theo dõi tranh luận đầu. Sau đó, PTT Biden trong cuộc tranh luận với DB Ryan, nhấn mạnh “chúng ta không muốn thấy xe tăng M1”. Ông Biden quên mất xe tăng M1 được sản xuất tại Ohio, mang việc làm đến cho cả ngàn nhân công Ohio. Lời tuyên bố của PTT Biden đã làm mất thêm không ít phiếu cho phe mình.

FLORIDA (29):

Tiểu bang xôi đậu lớn nhất, cũng là tiêu biểu nhất vì có đủ thành phần cử tri: bảo thủ phiá Bắc, cấp tiến phía Nam, cao niên vùng trung tâm. Tầm quan trọng của Florida đã được Cộng Hòa nhấn mạnh khi đại hội đảng được tổ chức tại Tampa. Thống đốc là Cộng Hoà, trong khi nghị sĩ Marco Rubio gốc Cuba là ngôi sao mới nổi của Cộng Hòa, là người giới thiệu và đề cử TĐ Romney tại đại hội đảng Cộng Hòa. Miền Nam có cộng đồng Do Thái giáo rất lớn và rất mạnh. Phần lớn khối này theo Dân Chủ, nhưng quan hệ Obama-Do Thái ngày càng căng thẳng, một số không nhỏ sẽ bỏ Dân Chủ. Thành phố lớn nhất, Miami, cũng là đất của dân tỵ nạn Cuba, chia làm hai khối, giới trẻ ủng hộ TT Obama, giới lớn tuổi ủng hộ Cộng Hòa. Florida hai lần bầu cho Bush khít nút. Năm 2008, TT Obama thắng với 2%. Trước cuộc tranh luận, TT Obama thắng với trung bình 3%. Thăm dò sau tranh luận của Rasmussen cho thấy TĐ Romney thắng 5%, và báo Miami Herald cho TĐ Romney thắng 7%, đều lớn hơn sai biệt xác xuất. Cuộc tranh luận đầu đã trấn an được những lo sợ của người cao niên đối với hình ảnh “ác quỷ” Romney. Hai báo quan trọng, Orlando Sentinel (vùng trung Florida của khối cao niên) và Sun Sentinel (vùng nam Florida, của khối Do Thái), đã hậu thuẫn TĐ Romney, sau khi đã ủng hộ TNS Obama năm 2008. Florida là sinh tử đối với TĐ Romney: thua tại đây là coi như xong.

VIRGINIA (13):

Tiểu bang này thực sự chia làm hai vùng, phiá nam theo Cộng Hòa, phiá bắc, giáp ranh với thủ đô Hoa Thịnh Đốn thường theo đảng cầm quyền, vì là vùng công chức liên bang cư ngụ. Đảng Dân Chủ đang nắm quyền, do đó một số rất lớn công chức phe Dân Chủ đang sống tại đây. TT Bush thắng Virginia hai lần, nhưng năm 2008, Obama hơn McCain 6%. Cuối năm 2009, gây sóng gió khi bất ngờ bầu cho ông Cộng Hoà McDonnell làm thống đốc. Hai thượng nghị sĩ tiểu bang đều là Dân Chủ, trong đó có ông Jim Webb là cựu chiến binh Việt Nam có vợ gốc Việt tỵ nạn. Ông Webb lần này không ra tranh cử lại. Trước tranh luận đầu, TT Obama +5%, bây giờ theo Rasmussen, Romney thắng Obama 3%. TĐ Romney có nhiều hy vọng cuối cùng sẽ thắng. Báo Washington Post tại DC đã chính thức hậu thuẫn cho TT Obama dĩ nhiên, nhưng cũng kèm theo một danh sách dài những thiếu sót và sai lầm của ông.

MICHIGAN (16):

Đây là thủ phủ ngành sản xuất xe Mỹ, thành đồng của các nghiệp đoàn theo Dân Chủ. TT Obama đã thắng lớn với khác biệt hơn 16% năm 2008. Việc TT Obama khoe công đã cứu kỹ nghệ sản xuất xe hơi Mỹ đã có tác dụng lớn tại đây, nhưng không bảo đảm TT Obama sẽ thắng. Năm 2010, Michigan bầu Cộng Hòa làm thống đốc. Từ trước đến gần đây, không ai nghĩ TĐ Romney có chút hy vọng nào tại đây, mặc dù bố của ông là George Romney, đã từng là một thống đốc được cảm tình rất mạnh của dân Michigan. Trước tranh luận, TT Obama thắng với 10%. Sau tranh luận, theo Rasmussen, hai bên huề, khiến Michigan thành tiểu bang xôi đậu quan trọng. Báo Detroit News đã chính thức hậu thuẫn TĐ Romney.

WISCONSIN (10):

Đây cũng là một trong những thành đồng Dân Chủ, nơi mà sức mạnh của các nghiệp đoàn rất đáng kể. Nhưng gần đây, đã chuyển hướng khi bầu cho TĐ Cộng Hòa Scott Walker, là người đã ra một loạt luật bất lợi cho nghiệp đoàn, khiến họ kiếm đủ chữ ký đòi bầu lại thống đốc. Chiến thắng sau đó của TĐ Walker đã giảm ảnh hưởng của nghiệp đoàn rất nhiều. Đã vậy, việc lựa chọn dân biểu Paul Ryan của Wisconsin ra tranh cử phó tổng thống đã biến tiểu bang này thành ngang ngửa. Wisconsin đã bầu cho ứng viên tổng thống Dân Chủ từ hơn 20 năm qua. Trước tranh luận, TT Obama thắng với trung bình 8%. Bây giờ hai bên huề theo Rasmussen.

COLORADO (9):

Tiểu bang xôi đậu nằm trong ổ các tiểu bang bảo thủ theo Cộng Hòa trong vùng tây bắc Mỹ. Phần lớn nhờ vùng Denver-Aurora là nơi tập trung khá nhiều trường đại học, có khoảng hơn 20% dân gốc Nam Mỹ, và hơn 16% dân da mầu, là các khối hậu thuẫn TT Obama rất mạnh. Colorado gần đây thiên về phiá Dân Chủ mặc dù trước đây đã hai lần bầu cho TT Bush. Tầm quan trọng của Denver đã được khẳng định khi đảng Dân Chủ tổ chức đại hội tấn phong TNS Obama năm 2008 tại đây, cũng là nơi tổ chức cuộc tranh luận đầu giữa TT Obama và TĐ Romney đầu tháng vừa qua. Năm 2008, Obama thắng với 9 điểm. Trước tranh luận, TT Obama dẫn với 4%, bây giờ thì TĐ Romney đang thắng với 4%, theo Rasmussen.

IOWA (8 ):

Tiểu bang “Mỹ ruộng” tiêu biểu với canh nông là đầu máy kinh tế, gồm Mỹ trắng 96%, không có dân gốc Nam Mỹ, và 2% dân da đen. Nhưng lại cực kỳ quan trọng đối với TT Obama. Đầu năm 2008, Iowa, là tiểu bang có bầu sơ bộ đầu tiên, đã chọn TNS Obama, đưa đến thất bại bất ngờ thật đau cho bà Hillary Clinton. Chiến thắng của ông Obama đã tung tên tuổi của ông lên trang nhất tất cả các báo, đưa đến chiến thắng cuối cùng.

Chiến thắng của ông Obama khi đó cũng đã tốn khá nhiều giấy mực vì ông bị tố đã mánh mung, thủ đoạn để hạ bà Hillary, chẳng hạn như cho cả ngàn sinh viên tại tiểu bang hàng xóm gà nhà Illinois qua ghi tên học trá hình tại các trường đại học cộng đồng –community colleges- để có dịp tham gia hội thảo bầu sơ bộ trong nội bộ đảng Dân Chủ tại Iowa.

Từ hơn hai chục năm qua, bầu tổng thống Dân Chủ, ngoại trừ năm 2004 bầu cho TT Bush. Năm 2008, TNS Obama hạ McCain với hơn 10 điểm. Trước tranh luận, TT Obama thắng với hơn 4%, bây giờ vẫn dẫn trước, nhưng chỉ với 2%.

NEVADA (6):

Tiểu bang nhà của TNS Harry Reid, lãnh tụ khối đa số Dân Chủ tại Thượng Viện, nổi tiếng với thủ đô cờ bạc Las Vegas. Nevada được tiếng là “thính mũi” nhất, đã bầu cho tổng thống đắc cử liên tục từ năm 1912, chỉ hụt một lần duy nhất khi bầu cho ông Cộng Hòa Jerry Ford, bị thua ông Jimmy Carter. Hơn 20% dân là gốc Nam Mỹ, phần lớn phục dịch trong các khách sạn, nhà hàng và sòng bài, đều nằm trong các nghiệp đoàn ủng hộ TT Obama rất mạnh. Chưa kể khá nhiều di dân ở lậu. Đây cũng là tiểu bang với số dân khá lớn theo đạo Mormon, đạo của TĐ Romney, khoảng gần 12%. TT Obama đắc cử với hơn 10 điểm năm 2008. Trước tranh luận, TT Obama dẩn đầu với 6%, bây giờ vẫn thắng nhưng với 2% thôi.

Năm 2008, tất cả các tiểu bang trên đều bỏ phiếu cho TT Obama, nhưng tỷ lệ hậu thuẫn ông hiện nay đều giảm toàn diện. Các tiểu bang kỹ nghệ then chốt vùng Đại Hồ bị ảnh hưởng nặng của nạn thất nghiệp. Thành phần lao động da trắng đang bỏ đảng Dân Chủ để đặt hy vọng vào TĐ Romney. Khủng hoảng địa ốc vẫn còn nặng, và gần bốn năm sau, hàng ngàn nhà vẫn bị ngân hàng xiết, giá nhà vẫn chưa ngoi lên được bằng mức nợ. Nhất là tại Florida và Nevada.

Điểm đáng chú ý nhất là những tỷ lệ trước và sau cuộc tranh luận đầu giữa TT Obama và TĐ Romney cho thấy tranh luận đã là một đại họa thực sự cho tổng thống, khi các tỷ lệ hậu thuẫn đều rớt mạnh khắp nơi.

Riêng đối với cộng đồng tỵ nạn Việt thì theo tổ chức National Asian American Survey, 33% dân gốc Việt theo Cộng Hòa và 30% theo Dân Chủ. Năm 2008, ước lượng 50% cử tri gốc Việt bầu cho Obama (tỷ lệ thấp nhất trong các cộng động gốc Á), 48% bầu cho McCain, cao nhất, có thể vì liên hệ của McCain với cuộc chiến tại VN.

Năm nay, thăm dò cho thấy 24% ủng hộ Obama, 21% hậu thuẫn Romney, và 55% không có ý kiến hoặc chưa lựa chọn. Con số chưa quyết định 55% này phản ánh sự lo ngại đối với Obama nhưng vẫn dè dặt đối với Romney.

Trong tất cả các cộng đồng gốc Á, tỷ lệ coi TT Obama như “làm được việc” (job approval) thấp nhất với dân Phi (45%) và dân Việt (52%). Chỉ có 20% dân ta có quan điểm thuận lợi (favorability) với TT Obama, thấp nhất trong tất cả các cộng đồng gốc Á.

Cuộc thăm dò được thực hiện cuối tháng 9 vừa qua, với 425 người gốc Việt, không ghi rõ sinh sống ở đâu, do hai giáo sư đại học Princeton và Berkeley thực hiện.

Phần lớn dân gốc Việt tập trung tại Cali và Texas, nơi mà tiếng nói của chúng ta rất yếu. Dù hơn nửa triệu dân tỵ nạn từ San Jose tới San Diego, có bầu cho Cộng Hòa hết thì TT Obama vẫn thắng tại Cali. Ngược lại, dù mấy trăm ngàn dân tỵ nạn tại Texas từ Dallas xuống Houston có bầu hết cho TT Obama thì TĐ Romney vẫn thắng tại đây. Tuy nhiên, trong các khu tập trung như Bolsa, San Jose, và Bellaire tại Houston, tiếng nói của dân tỵ nạn cực kỳ quan trọng trong các cuộc bầu dân biểu, nghị sĩ cũng như các trách nhiệm địa phương khác. Tại Cali chẳng hạn, những người không ủng hộ TT Obama vẫn có thể bầu dân biểu, nghị sĩ Cộng Hòa để kéo tay TT Obama lại, hay tại Texas, những người ủng hộ TT Obama vẫn có thể bầu cho dân biểu, nghị sĩ Dân Chủ để giúp ông.

Nhưng tại hai tiểu bang xôi đậu, Florida và Virginia, dân tỵ nạn có ảnh hưởng lớn, khi hai bên hơn thua nhau khít nút. Chẳng hạn như năm 2000, TT Bush đắc cử với hơn 500 phiếu tại Florida trong khi cộng đồng Việt có hơn 50.000 người sống tại đây. Đây là hai tiểu bang mà lá phiếu của dân tỵ nạn sẽ có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng trong cuộc bầu tổng thống. Các tổ chức cộng đồng Việt cần tích cực vận động đồng hương đi bầu để chúng ta có tiếng nói xứng đáng hơn. (28-10-12)

Trả lời góp ý của độc giả:

Có một độc giả góp ý lo sợ ông Romney là “nhà giàu” không thể “hiểu được hoàn cảnh của các phó thường dân như chúng ta”, và khuyên kẻ viết này “suy nghĩ cho kỹ trước khi bênh vực một cách mù quáng” ông Romney. Trong lịch sử cận đại 100 năm nay của Mỹ, tất cả ứng viên tổng thống và phó của cả hai đảng đều là triệu phú, kể cả TT Obama (5,5 triệu đô, lợi tức năm 2009). Người duy nhất không phải triệu phú là TT Truman. Xuất thân nghèo nhất là mấy ông Cộng Hòa Eisenhower, Nixon, Reagan. Giàu nhất là các ông Roosevelt, Stevenson, Kennedy, Johnson, Kerry, Gore, Edwards, đều trong đảng “bênh nhà nghèo” Dân Chủ. Các ông còn lại đều thuộc hàng “trung lưu cao”, như luật sư, địa chủ, nghị sĩ, thống đốc, chưa ai xuống đến mức “phó thường dân như chúng ta”.

Vũ Linh
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Các ông là ai?

David Thiên Ngọc
(Danlambao) - Các ông là ai mà bắt người yêu nước? Các ông là ai mà đứng về phía quân thù? Các ông là ai mà xử tù lòng ái quốc? Các ông là ai mà che chở cho giặc ngoại xâm? và các ông là ai mà biến người công dân chống tham nhũng thành tội phạm và là "thế lực thù địch" mà là thù địch của ai?- Thù địch của đảng cầm quyền?

Tôi không biết phải dùng từ gì để nói với các ông đây? để ám chỉ các ông đây? Thôi thì tôi chỉ nêu lên những điều các ông nói bô bô trước nhân dân và việc của các ông làm cũng trước nhân dân vậy! Nói về nhân dân là cả gần 90 triệu người từ trẻ đến già, có những em, cháu ở tuổi vị thành niên nhưng chúng đã hiểu và biết nhận xét những gì các ông nói và làm. Từ bác nông dân, anh chị phu quét đường, công nhân bốc vác đến các vị trí thức giáo sư... tất cả cũng đều nghe và thấy những việc các ông nói và làm, đồng thời chắc chắn là họ đều có một kết luận như nhau vì những việc nói và làm của các ông nó tương phản rõ nét như trắng và đen, nó thể hiện rõ giữa chân thật và dối lừa, chính danh và tà ngụy.

Như ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang, sau khi ông cùng phe nhóm của ông và đối thủ xâu xé tranh giành quyền lực với mục đích của cả hai bên là để có phương tiện tối ưu, tạo dễ dàng trong hành trình bóc lột nhân dân mà thôi. Trong quá trình đâm chém đó ông không hạ được đối thủ của ông là đ/c X, ông lại ra trước quần chúng nhân dân hô hào bà con cả nước đứng lên tố cáo vạch mặt, tiêu diệt kẻ thù giùm ông chứ ông thì "lực bất tòng tâm" và vì "hoàn cảnh" trái ngang đưa đẩy... Ông còn nói nếu bà con sợ bị trù úm mà không tố cáo (tham nhũng) thì đất nước này sẽ ra sao? Sẽ ra sao à? Ông thật thà ngây thơ đến nỗi không biết nhân dân nói gì và nghĩ gì về ông sao? Ông xúi bà con đứng lên tố cáo tham nhũng? Thế thì tại sao một cô SV Nguyễn Phương Uyên chân chưa bước hẳn vào đời vì còn phải ngồi dưới mái nhà trường để trau giồi "đạo đức là người" để tô bồi "lòng tự trọng" ngõ hầu khi dấn thân vào đời không bị sa chân vào vũng lầy "lừa dối" không có "xảo ngôn, điếm ngữ" như các ông đã nói và làm. Vì thế mà phải bị cảnh ngục tù chỉ vì nói lên sự xấu xa của "tham nhũng". Có phải những việc đó chính ông đang hô hào bà con đứng lên tố cáo hay sao? Cô bé Phương Uyên - ở đây tôi gọi cô bé vì tuổi đời của Phương Uyên chỉ ngang bằng cháu nội ngoại của ông mà thôi - phải chứng kiến và chịu cảnh dã man, lừa dối, phũ phàng vô cảm của tập đoàn các ông khi hàng chục quân đằng đằng sát khí kẻ quắc thước người tay đao, kẻ tay còng người tay súng ập vào căn phòng trọ của các con chim non đang học làm người để lôi kéo và bắt đi. Việc bố ráp dã man, hãi hùng đó diễn ra trước mặt các bạn bè của Phương Uyên, giữa ban ngày ban mặt chứ đâu phải trong đêm đen không ai thấy và biết! Thế mà cả bầy đàn "đầy tớ của nhân dân" các ông chối bai bải là không hề bắt ai, không biết gì cả! Việc dối trá này cũng công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng chắc ông cũng nghe và rõ chứ? Vậy các ông tôn thờ và vinh danh sự dối trá!

Khi chiếc thúng không úp nổi con voi, tập đoàn sai nha của các ông mới công nhận là đang "cầm tù cô SV Nguyễn Phương Uyên" và vô nhân, vô đạo đến nỗi ngăn cấm, cách chia tình mẫu tử khi con trẻ gặp nạn cho dù chỉ xin được một cái nhìn từ xa và thậm tệ là mỗi ba chữ "mẹ yêu con" ghi vào giấy cũng bị vứt vào sọt rác! Các ông có bao giờ thấy cảnh một con chó mẹ bơi qua dòng lũ, miệng ngậm một con chó con để đưa đến nơi cao ráo an toàn? Và cứ như thế lần lượt cho đến hết đàn con thơ... dù rằng trong những lần vượt qua dòng lũ là có thể mất cả mạng sống của mình. Tuy đang rét lạnh run rẩy nhưng nó vẫn lao mình bảo vệ che chở cho đàn con đến hơi thở cuối cùng? So với loài cầm thú như vậy thì các ông ra sao? các ông tự đặt vị trí của mình cho tương xứng với những hành động của mình đã gây nên.

Chưa hết! ông chủ tịch nước còn thể hiện lòng "yêu nước" của ông với nhân dân trước hành động xâm lấn biển đảo VN của tập đoàn bành trướng Bắc Kinh rằng ông sẽ "thể hiện bằng hành động chứ không bằng lời nói" thế thì cô SV Phương Uyên chỉ nói "Cháu ghét Trung Quốc" (lời nói thật đáng yêu) mà sao các ông lại bắt bớ, tù đày một cách dã man, đối xử tàn tệ hơn những người gọi là "phạm nhân" khác? Ông hãy trả lời điểm này đi! Một cô bé hồn nhiên trong trắng, tinh khôi nhưng có lòng yêu nước nồng nàn, ăn chưa no lo chưa tới cho bản thân mình mà biết trăn trở cho tiền đồ của dân tộc! Phương Uyên chỉ thể hiện bằng tư tưởng của mình về hai nỗi đau của đất nước là "Bên trong thì giặc nội thù tham nhũng đục khoét xương máu của nhân dân, bên ngoài thì giặc ngoại xâm lấn chiếm cõi bờ". Hai việc này nằm trong sự hô hào và kêu gọi bà con ủng hộ của ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Thế thì tại sao chính quyền của ông Trương Tấn Sang lại đàn áp, bắt bớ hành xử không khác gì thảo khấu lục lâm, như loài lang sói không bằng? Ghét TQ là chống đảng CSVN sao? chống tham nhũng là chống chế độ? chống nhà nước sao? vậy đảng này là đảng của ai? và nhà nước này là nhà nước của ai? có phải của giặc thù bành trướng bắc phương? có như thế mới có những hoàn cảnh nghiệt ngã như trên đối với những người yêu nước VN trong suốt thời gian qua.

Còn nữa! sau khi hệ thống dối trá và dã man của các ông hành xử với "cô bé yêu nước, thương đồng bào" Phương Uyên thì cả trăm con chim non khác khóc lời nỉ non trong đơn cầu cứu gởi đến ông chủ tịch nước ngày 20/10/2012 thì cho đến hôm nay ông và cả tập đoàn nhà nước đều rơi vào im lặng và lãng quên! Có phải chăng những lời khẩn thiết đó cũng đã bị ném vào sọt rác như số phận của ba chữ "Mẹ yêu con"?

Các tuổi trẻ yêu nước khác như Việt Khang, Anh Bình... cũng chỉ nói lên lòng yêu nước, chống kẻ xâm lăng biển đảo, cõi bờ VN và xót xa cho nỗi đau của dân tộc như:


"...Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời.
Người lầm than đói khổ nghèo nàn.
Kẻ giàu sang quyền uy dối gian..."

Rồi:

"...Giờ đây Việt Nam còn hay mất!
Mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta.
Hoàng, Trường Sa đã bao người dân vô tội.
Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tàu..."


"... Là một người con dân Việt Nam,
Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm?
Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi..."

Đấy! các ông xem tuổi trẻ VN như vậy thì đã phạm vào tội gì? Với tổ quốc thì họ ngẩng cao đầu mà "không hổ thẹn với tiền nhân", với nhân dân thì ray rức xót xa và sẵn sàng hy sinh cho đất nước để chia sẻ nỗi đau dân tộc đã bao người chết tức tưởi vì tay súng của giặc ngoại xâm. Từ đó họ dấn thân vì sự mất còn của tiền đồ tiên tổ, vì an nguy ấm no của dân tộc cùng một dòng máu đào từ trăm trứng nở ra. Vậy các ông kết tội "tuổi trẻ yêu nước" là tội gì để tránh khỏi sự rẻ khinh của loài người trên thế giới!

Các ông hãy dẹp bỏ cái "lòng yêu nước" giả dối đó đi, bỏ cái "lòng tự trọng" điếm xảo, dối lừa đó đi nếu muốn bước thêm những bước còn lại của cuộc đời mình.

Tất cả những việc tôi đơn cử ở trên chỉ là một phần nhỏ trên bề mặt của tảng băng thì ông chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ và cả hệ thống gọi là chính quyền trả lời sao và các ông bảo nhân dân từ trẻ đến già, từ lao động chân tay đến thành phần trí thức phải nghĩ như thế nào về các ông? Các ông chớ đem mấy luận điệu "không hổ thẹn với tiền nhân" "hết sức, hết lòng vì nhân dân vì tổ quốc..." "hành động quyết liệt" cùng cái "lòng tự trọng" dối lừa xưa cũ đó mà lường gạt nhân dân nữa mà hãy can đảm bước ra khỏi bóng tối của đêm trường mộng mị... lột chiếc mặt nạ xấu xa, tởm lợm đã trót mang từ trước mà hành động theo lương tri của một con người đúng nghĩa và hành xử nhân ái với nhân dân, với người yêu nước để chuộc lại phần nào tội lỗi của mình đã gây ra trước khi quá muộn. Chiếc màn của lịch sử đang hạ xuống và xua đi cảnh tối đen của một thời máu lửa, ô nhục. Một cảnh mới, một trang mới của lịch sử đang mở ra. Trang của những anh thư, tuấn kiệt tuổi trẻ Việt Nam hào hùng đem hòa bình, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, công lý và nhân ái cho dân tộc Việt Nam.

2/11/2012
David Thiên Ngọc
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Thường Vụ Bộ Chính Trị của Cộng đảng Trung Quốc

Ðiểm mặt những ngươi sẽ có nhiều quyền thế nhất

Hùng Tâm


Hai ngày sau tổng tuyển cử tại Hoa Kỳ, Ðại hội khóa 18 của đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ khai mạc tại Bắc Kinh. Một tuần sau thì thế giới sẽ được biết là những ai sẽ lãnh đạo đảng để rồi vào tháng 3 năm tới thì sẽ lãnh đạo nhà nước, rồi quân đội.

Tiếp theo loạt bài đã trình bày trong tháng tư và tháng 5 về quyền lực bên trong Cộng đảng Trung Quốc, kỳ này “Hồ Sơ Người-Việt” sẽ chú ý đến cơ chế quyền lực cao nhất. Ðó là “Thường Vụ Bộ Chính Trị,” gọi tắt là Thường Vụ.

Dân Chủ tập trung

Dân số Trung Quốc là hơn một tỷ 300 triệu người, dưới sự cai trị độc quyền của một đảng là Trung Hoa Cộng Sản Ðảng. Ðây là một chính đảng lớn nhất thế giới với hơn 80 triệu đảng viên.

Theo thông lệ thì 5 năm một lần, các đảng viên dưới cơ sở đề cử hơn hai ngàn đại biểu đi tham dự đại hội toàn đảng và các đại biểu sẽ bầu hơn 300 người vào Ban Chấp Hành Trung Ương, cơ chế có nhiều quyền lực nhất giữa hai đại hội đảng. Ban Chấp Hành Trung Ương đó mới bầu một số người vào Bộ Chính Trị, hiện gồm có 25 ủy viên đã được đề cử từ Ðại hội 17 vào năm 2007. Các ủy viên Bộ Chính Trị mới chọn ra trong số này một số người còn ít hơn nữa để vào Thường Vụ với sự đồng ý của Ban Chấp Hành Trung. Thường Vụ hiện có 9 người, được xem là có nhiều quyền nhất nước và nhất đảng.

Nếu cứ theo nguyên tắc lý thuyết thì một tỷ 300 triệu dân được thành phần tiên tiến nhất lãnh đạo là đảng Cộng sản. Ðảng là đại diện cho các lực lượng tiên tiến nhất, của nền văn hóa kỹ thuật tiên tiến và cũng là đại biểu của quyền lợi đại đa số. Từ đấy, 80 triệu đảng viên mới bầu ra hai ngàn đại biểu rồi các đại biểu cử ra 300 ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương rồi mấy chục người trong Bộ Chính Trị và chục người trong Thường Vụ. Trên cùng là tổng bí thư sẽ kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch nhà nước và chủ tịch quân đội là Trung Ương Quân Ủy Hội.

Nguyên tắc lý thuyết ấy là lý tưởng của nền “dân chủ tập trung,” như một cái tháp được xây từ dưới lên. Vì lẽ đó, đảng thường nói rằng nền dân chủ tập trung ấy còn dân chủ gấp triệu lần nền dân chủ của giai cấp tư sản tại các nước khác. Sự thật lại không hẳn như vậy mà ngược lại: cái đỉnh tháp mới quyết định về cái đáy.

Bộ Chính Trị và các ủy viên Thường Vụ mới là những người quyết định cho cấp dưới phê chuẩn, rồi mới chọn tiếp là ai sẽ làm gì trong bộ máy của đảng và của nhà nước, như Quốc Vụ Viện là hội đồng chính phủ do một thủ tướng cầm đầu dưới tên gọi là tổng lý, như Quốc Hội cùng một cơ chế tư vấn là Hội Nghị Hiệp Thương Chính Trị, v.v....

Nếu nhìn ngược về quá khứ thì hiện tượng tập trung quyền lực ấy có lúc còn tập trung hơn nữa và Thường Vụ BCT lại rất ít quyền trước một lãnh tụ duy nhất.

Thăng trầm của Thường Vụ

Từ ngày lập đảng đến sau này, vai trò và thế lực của Thường Vụ có nhiều lúc thăng trầm lên xuống. Dưới thời Mao Trạch Ðông và cả Ðặng Tiểu Bình (cho đến khi ông về hưu sau 1992), Thường Vụ bị một hai lãnh tụ lấn lướt nên có ít thực quyền. Mọi việc quan trọng thường do Mao rồi Ðặng quyết định. Nhưng chính là tình trạng độc đoán ấy mới gây ra chuyện tranh đoạt quyền bính mà họ Ðặng từng là nạn nhân. Vì vậy, ông tìm cách cải sửa dần để một tập thể sẽ quyết định qua giải pháp đồng thuận. Sau khi ông rút lui và chỉ giữ vị trí Thái thượng hoàng cho đến ngày tạ thế thì Thường Vụ là tập thể đó.

Nhưng thế nào là tập thể và nguyên tắc đồng thuận là gì?

Vì khủng hoảng chính trị trong 10 năm hỗn loạn của Cách Mạng Văn Hóa, từ 1966 đến khi Mao tạ thế năm 1976, và do những bất ổn nối tiếp khi Ðặng Tiểu Bình phải huy động hậu thuẫn cho quyền lực và kế hoạch cải cách của mình, ông đã muốn bảo vệ sự ổn định bên trong đảng.

Ðảng phải quy tụ được nhiều phe nhóm và quyền lợi khác biệt vào cơ chế trên cùng và trong tiến trình quyết định thì phải dung hòa được quan điểm của các đảng viên cấp lãnh đạo qua sự đồng ý của tập thể. Tinh thần tập thể và đồng thuận ấy mới tăng cường vai trò của Thường Vụ, không gây rạn nứt trong đảng khiến cả chế độ chính trị bị đe dọa. Nhờ vậy mà hai chục năm qua, Cộng đảng đã vượt qua nhiều sóng gió chính trị nếu so sánh với những gì đã xảy ra trước đó.

Ðấy là phần tích cực của Thường Vụ.

Nhưng năm nay và trước Ðại hội 18, tình hình đã lại có những xáo trộn lớn khác hẳn Ðại hội 16 vào năm 2002 là khi thế hệ Giang Trạch Dân, Lý Bằng và Chu Dung Cơ nhường bước lãnh đạo cho thế hệ Hồ Cẩm Ðào, Ngô Bang Quốc và Ôn Gia Bảo. Biến động Trùng Khánh vào đầu năm khiến Bạc Hy Lai mất quyền mất chức đã tạo ra cơ hội vận động và tranh đoạt cho nhiều phe nhóm trong đảng, trên doanh trường, với sự can thiệp ngầm của các lãnh tụ đã về hưu như Giang Trạch Dân. Các nhóm này muốn cài người thân tín của họ từ Bộ Chính trị vào Thường Vụ.

Vì vậy, nhu cầu đồng thuận giữa các phe nhóm dẫn đến một kết quả bất thường và bất lợi.

Ðó là một số ủy viên Bộ Chính Trị có thành tích chuyên môn của cá nhân hơn là nhờ quan hệ với các phe nhóm có thế lực lại bị gạt ra ngoài. Ðiều ấy giải thích vì sao đã có tin đồn từ hải ngoại, rằng hai ủy viên nhiều triển vọng lại không nằm trong danh sách những người vào Thường Vụ. Ðó là Bí thư Uông Dương của tỉnh Quảng Ðông, một nhân vật chủ trương giải tỏa kiểm soát kinh tế lẫn chính trị cho thông thoáng hơn và nổi tiếng là đứng ra nhận lỗi về vụ Ô Khảm năm ngoái. Người kia là Lý Nguyên Triều, trưởng ban Tổ Chức Trung Ương, tốt nghiệp cử nhân toán rồi tiến sĩ kinh tế, từng là bí thư Giang Tô và thành phố Nam Kinh. Nghĩa là chuyện đồng thuận đã gặp trở ngại và đấu tranh phe phái lại gây thêm bất ổn trong việc tuyển người vào Thường Vụ. Về các phe cùng phái, xin quý độc giả xem lại “Hồ Sơ Người-Việt” hồi đầu tháng 5 (“Những Phe Phái Trong Cộng Ðảng Trung Quốc,” ngày 3 tháng 5, 2012).

Thường Vụ bị át tiếng

Khác hẳn hoàn cảnh 20 năm hay 10 năm trước, Trung Quốc ngày nay còn gặp một vấn đề mới.

Ba chục năm sau khi Ðặng Tiểu Bình tiến hành cải cách kinh tế (kể từ 1979), với một số kết quả tăng trưởng khả quan, Trung Quốc đã đụng vào giới hạn và phải cải cách thêm về chính trị. Thượng tầng lãnh đạo ở trên, trong Thường Vụ, cũng đã biết điều ấy và nói đến nhu cầu chuyển hướng, với hàm ý là phải cải tổ cả chính trị. Nhưng khác với trước đây, không chỉ có chín người bên trong mới đắn đo cân nhắc và kín đáo bàn bạc với nhau trong tinh thần đồng thuận.

Vấn đề mới là quần chúng ngoài đảng, giới trí thức và thậm chí các đảng viên cao cấp cũng tham gia bàn bạc qua những phương tiện truyền thông hiện đại. Quan điểm của họ tác động vào cuộc tranh luận trong Thường Vụ nên thay vì lãnh đạo thuyết phục quần chúng thì từng phe phái lại dùng chính lý luận của quần chúng ở ngoài luồng để tranh luận với nhau.

Yêu cầu cải cách chính trị được lãnh đạo đề ra đã được một số thành phần dân chúng và đảng viên ủng hộ, nhưng cũng vì vậy mà lại gặp trở lực từ các nhóm bảo thủ trong Thường Vụ. Việc cải cách chính trị bị đình hoãn, tiếng nói thống nhất của Thường Vụ bị át và cơ chế này lại là nơi xảy ra mâu thuẫn. Giữa tình huống đấu tranh phe phái hiện nay, xu hướng bảo thủ về chính trị (cưỡng chống cải cách và phát huy sức mạnh quốc gia dân tộc theo kiểu cực hữu) lại có vẻ thắng thế trong việc hình thành Thường Vụ mới.

Khi ấy, chính Thường Vụ mới trở thành cản lực chống lại những biện pháp cải cách dứt khoát và cần thiết về chính trị.

Ðã vậy, như “Hồ Sơ Người-Việt” đã trình bày, tuổi tác có thể là một tiêu chuẩn được phe này hay phe kia áp dụng để gạt người của bên kia ra ngoài. Từ thời Ðặng Tiểu Bình thì các đảng viên cấp lãnh đạo phải về hưu ở tuổi 70. Sau đó, tuổi hưu được đưa xuống 69, rồi 68. Trong lần đấu tranh kỳ này, một số người đã nói đến tuổi 67, nghĩa là các ủy viên Bộ Chính Trị sinh vào quãng 1945 sẽ khó được vào Thường Vụ và nếu có thì cũng chỉ được một nhiệm kỳ năm năm là cùng, đến Ðại hội 19 vào năm 2017 là phải rút lui.

Lưu Yến Ðông, phụ nữ duy nhất trong vùng quyền lực này có thể đã bị loại vì tiêu chuẩn đó. Bà sinh năm 1945, vào Bộ Chính Trị năm 2007, là ủy viên Quốc Vụ Viện (siêu bộ trưởng), thuộc Ðoàn phái (Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản), gần với Hồ Cẩm Ðào.

Nhưng sự tình vẫn chưa dứt khoát khi một nhân vật cùng tuổi lại tràn trề hy vọng là Dư Chính Thanh, bí thư Thượng Hải, thuộc “Thái tử đảng,” có quan hệ khắng khít với Tập Cận Bình (Thái tử đảng) và Giang Trạch Dân (Thượng Hải). Nhược điểm của Dư là có người anh, cán bộ an ninh cao cấp đã đào thoát qua Mỹ năm 1985 và giúp tình báo Hoa Kỳ bắt được một điệp viên Trung Quốc cài rất sâu từ 40 năm trước vào xã hội Mỹ!

Phải chăng vì những lý do tranh giành ấy mà lại có thêm tin đồn, rằng sau Ðại hội, Thường Vụ sẽ chỉ còn bảy người?

Sau đây là vài chi tiết về hai nhân vật đứng đầu, được hai lãnh tụ là Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào đỡ đầu ở phía sau và sẽ ở trong Thường Vụ mới.

Tập Cận Bình: năm nay 59 tuổi, đang là phó chủ tịch Nhà nước và phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương. Sau Ðại hội, sẽ là tổng bí thư đảng, qua tháng ba, sau khóa họp của Quốc Hội thì sẽ làm chủ tịch Nhà nước, phải hai ba năm tới thì mới thay thế Hồ Cẩm Ðào làm chủ tịch Quân Ủy và thực sự trở thành nhân vật số một của chế độ.

Là con một đại công thần (nên được coi là trong phe “Thái tử đảng”), Tập Cận Bình tốt nghiệp Ðại Học Thanh Hoa, gia nhập đảng năm 1974, được Giang Trạch Dân cất nhắc từ lâu, đã chứng tỏ khả năng khi lần lượt phục vụ tại Hà Bắc, Phúc Kiến, Chiết Giang và Thượng Hải. Vì những nơi này toàn là địa phương vùng duyên hải nên được quốc tế đánh giá là “đổi mới” - mà có thể sai. Sức mạnh của Tập là có quan hệ khắng khít với nhiều phe phái, kể cả các tướng lãnh. Nhược điểm là sức khỏe, tim yếu và thân hình quá phì mập. Có lẽ cũng vì vậy mà đã vắng mặt để dưỡng bệnh trong hai tuần đầu của tháng 9 nên đã gây nhiều đồn đoán.

Lý Khắc Cường: Năm nay 57 tuổi, hiện đang là phó thủ tướng và hy vọng lên thủ tướng vào tháng 3 năm tới. Sinh tại An Huy, gia nhập đảng năm 1976, tốt nghiệp tiến sĩ luật khoa và cao học kinh tế, Lý là đoàn viên Ðoàn Thanh Niên, thân cận với lãnh tụ Ðoàn phái là Hồ Cẩm Ðào và đã phục vụ tại các tỉnh An Huy, Hà Nam và Liêu Ninh trước khi về trung ương. Có thể biết nhiều về kinh tế nhưng trọng lượng chính trị lại giới hạn vào quan hệ với Hồ Cẩm Ðào và phải dung hòa quan điểm với các thế lực khác. Vì thuộc Ðoàn phái, từng làm việc trong các tỉnh nghèo chứ không trù phú bằng vùng duyên hải, Lý Khắc Cường cũng chủ trương là phải tăng cường vai trò của trung ương để tái phân phối phương tiện cho các tỉnh bên trong và thu hẹp bất công xã hội giữa các thành phần. Nếu Tập Cận Bình là “con gà” của Giang Trạch Dân thì Lý Khắc Cường là người sẽ theo đuổi mục tiêu chưa thành của Hồ Cẩm Ðào là gấp rút cải cách trước khi đảng bị khủng hoảng.

Bảy người kia sẽ về hưu và để lại bảy chỗ trống. Nếu số ủy viên Thường Vụ lại giảm xuống bảy người thì chỉ còn năm ghế trống, tức là có hai người bị loại. Sự kiện là đến tuần cuối mà còn có nhiều tin đồn như vậy cho thấy bí mật vẫn bao phủ thế giới quyền lực Bắc Kinh cho đến khi Ðại hội 18 kết thúc.

Kết luận ở đây là gì?

Dường như cho đến lúc cuối lãnh đạo Cộng đảng Trung Quốc vẫn chưa có sự đồng thuận về Thường Vụ Bộ Chính Trị. Sau Ðại hội 18, Thường Vụ khó làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo việc cải cách và chuyển hướng cần thiết vì vẫn phải duy trì cái thế quân bình và tương nhượng khá bất ổn giữa các phe phái.

Thường Vụ mới có thể gồm những ai? Chúng ta chỉ có thể nêu tên bảy người có nhiều hy vọng nhất để cùng Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường vào Thường Vụ mới. Ðó là Trương Ðức Giang, Vương Kỳ Sơn, Trương Cao Lợi, Lưu Vân Sơn, Dư Chính Thanh, Lý Nguyên Triều và Uông Dương. Hai người sau cùng thật ra còn trẻ (62 và 57 tuổi) và nếu có bị gạt ra ngoài như nhiều nguồn tin đã loan báo thì hẳn là vì lý do chính trị hơn là vì tuổi tác.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest