Văn Nghệ Văn Gừng

Thơ nhạc trữ tình, thơ nhạc lính, video...
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Thềm xưa

Thềm xưa, lối cũ, người về gió mưa. Tôi mườn tượng ra một lối đi về, nơi có ngôi nhà nho nhỏ, nơi có cổng rào đơn sơ, nơi có lối mòn bước ngang khu vườn đầy hoa dại, và nơi có người vợ thủy chung tháng năm chờ đợi, nơi có tiếng đứa bé gái mừng rỡ đón cha về...

Thềm xưa, tôi ngồi mông lung nghĩ đến lối cũ đầy trăng sao, nơi có những kỷ niệm ngọc ngà của thuở mới quen nhau, có tình yêu lên ngôi, thành tựu bằng những nụ hồn ngọt ngào, choáng ngợp hồn...
Thềm xưa, tôi cũng thấy lãng đãng đâu đó những kỷ niệm chắt chiu bao năm dài, đầy ắp trong tâm tưởng, trong một đời người. Rồi thời gian qua, người ngồi nhớ lại những tháng năm vui, buồn, hạnh phúc, khổ đau...qua những bước thăng trầm cuộc sống...

Vâng và những ý nghĩa về thềm xưa, lối cũ, ấy được nhà văn, xướng ngôn viên Bích Huyền gom góp, dệt chữ, thêu thùa tư tưởng, làm nên một CD cũng có tên "Thềm Xưa" vừa được trân trọng, thương mến, trình làng vào buổi chiều Chúa Nhật, có mây lang thang, có gió nhè nhẹ, và phải có cái nóng hừng hực của chớm Thu California (như một thuở Sài Gòn dấu yêu).
Nhìn cái hình bìa của Thềm Xưa, ta có thể hình dung ra cái tâm tư của tác giả gửi gấm. Hình người Mẹ triều mến (và như vỗ về) đứa con gái dấu yêu (và độc nhất) như một viên ngọc quý giá nhất của tình yêu Ba Mẹ, còn lưu lại suốt quãng đời Mẹ, cô đơn nơi xứ lạ quê người. Người con gái đã lớn, đã trưởng thành, đã đem lại cho Mẹ những đứa cháu dễ thương, nhưng vẫn mãi ngây thơ, bé nhỏ như ngày nào trong lòng Mẹ.

Hơn hai trăm quan khách, thân hữu bạn bè đã đến với Bích Huyền trong ngày vui này. CD và chương trình được nhóm "Biển Art &Media" thực hiện và tổ chức. Cùng sự giúp đở, ủng hộ của ban điểu hành đài truyền hình VHN-TV anh Bruce Tran. Họ đến trong thương mến người bạn văn có nụ cười, đôi mắt hiền hậu, với giọng nói nhẹ như hơi thở khẽ khàng, âm hưởng một Hà Nội thời xa xôi, văn vật. Họ đến với người xướng ngôn viên của VOA, của những chương trình thơ nhạc trên Radio hàng đêm, với giọng nói vô cùng tha thiết, ngọt mềm...

Họ đến với một người đàn bà viết văn có tấm lòng thủy chung, kiên trinh với người chồng quá cố, đã vùi thân trong nấm mồ nơi trại tù khổ sai cộng sản. Họ đến với người phụ nữ Việt Nam có tấm lòng nhẫn nại, không sờn gian nan, đã lặn lội đi thăm nuôi chồng tại trại tù Vĩnh Phú (cựu Trung Tá Nguyễn Quang Hưng,Tham Mưu Trưởng Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt) nơi rừng sâu nước độc, nơi trại tù....trong câu chuyện được bà viết lại trong cuốn bút ký " Lối Cũ Chẳng Sao Quên" xuấn bản năm 2006, khi bà đi bốc mộ chồng, cũng tại vùng Vĩnh Phú, Bắc Việt.

-Chương trình Thềm Xưa được bắt đầu lúc 2:45 PM, với MC Minh Phượng và Đỗ Tân Khoa giới thiệu chương trình.
-Đào Đại Dương, đại diện cho ban tổ chức và nhóm "Biển Art & Media" ngõ lời chào mừng nhà văn Bích Huyền và quan khách.
-Nhà văn lê Hữu đã lên máy vi âm chúc mừng nhà văn Bích Huyền và nói về CD Thềm Xưa.
-Với tiếng đàn guitar của NS Đnh Trung Chính, ca sĩ Tạ Hùng Cường hát bài "Hương xưa" của NS Cung Tiến rất xuất sắc và có hồn.
-Nữ ca sĩ Nguyễn Cao Nam Trân, trong chiếc váy màu vàng trẻ trung, đã trình diễn bài " Mộng Lành" của NS Hoàng Trọng, cũng với tiếng guitar của Đinh Trung Chính.
-MC Minh Phượng và Đỗ Tân Khoa giới thiệu người nhạc sĩ tài danh "Tuấn Khanh".
-Giáo sư Song Thuận của Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt lên máy vi âm nói về cuốn CD Thềm Xưa và những câu chuyện về Bích Huyền.
-Kỹ Sư Đỗ Hoàng Điềm cũng lên nói cảm tưởng về CD Thềm Xưa.


- Phần trình diễn tuyệt vời và đầy màu sắc dễ thương của ban Họp Ca Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, qua nhạc phẩm "Áo Trắng Mùa Xuân" do NS Cao Minh Hưng phổ từ bài thơ của John Thụy, Úc Châu. Hình ảnh hai cô nữ sinh dịu dàng trong tà áo dài trắng đã làm ngây ngất những trái tim xa xứ.


-Hai người MC trẻ, tài năng, hoạt bát. Một là Đào Đại Dương, và một Uyển Diễm trẻ đẹp, thừa hưởng từ Mẹ nét duyên dáng và giọng nói thu hút. Đã tiếp tục điều khiển chương trình phần hai.
- Ca sĩ Anh Dũng với nhạc phẩm "Mấy Dặm Sơn Khê" của NS Nguyễn Văn Đông, và tiếng đàn dươgn cầm của nhạc sĩ Sỹ Dự, thuộc Hội Quán Âm Nhạc Lạc Cầm. Ca sĩ Anh Dũng với giọng hát trầm ấm, đã biểu diễn thêm nhạc phẩm bất hủ của Phạm Duy, phổ từ bài thơ Pháp "Appolinaire" được đặt tên là bài "Mùa Thu Chết" đã làm khán giả say mê với các câu thơ trữ tình, được Anh Dũng biểu diễn qua làn hơi cực kỳ mạnh và cao vút của anh.
-Thi sĩ Hà Phương đã trổ giọng ngâm thơ vô cùng trầm buồn của ông qua bài thơ "Một Mùa Đông" của thi sĩ Lưu Trọng Lưu. Họp cùng tiến sáo réo rắt của nhạc sĩ Ngọc Nôi.


-Đặc biệt màn trình diễn của nhạc sĩ Piano, kiêm ca sĩ Minh Phương. Với bài hát bất hủ của Tuấn Khanh "Chiếc Lá Cuối Cùng". Minh Phượng có giọng hát trầm mạnh, nhưng cao vút ở những nốt cao, và tiếng đàn Piano Classical tuyệt diệu của cô, đã đem đến những tràng vỗ tay kéo dài.Minh Phương sau đó hát thêm bài "Gửi Người Em gái" của Đoàn Chuẩn Từ Linh.
- Nhạc sĩ Sỹ Dự trở lại với phím đàn, cùng với tiếng hát của Vương Đức Hậu, qua bài "Nhạt Nhòa" của Tuấn Khanh.
-Ca sĩ trẻ trung Chu Minh Quân đã tỏ ra đầy đủ phong độ cho loại nhạc thính phòng, qua bài "Nỗi Lòng Người Đi"của nhạc sĩ Anh Bằng.
-Nữ ca sĩ trẻ đẹp Nguyễn Cao Nam Trân trở lại sân khấu với nhạc phẩm "Thuyền Viễn Xứ" thơ Huyền Chi, phổ nhạc Phạm Duy.


Phần văn nghệ chấm dứt, dư âm của dòng nhạc thính phòng vẫn còn quyến luyến, ngân vang trong VHN.TV's Studio đông kín người ngồi.

Nhà văn Bích Huyền xuất hiện trên sân khấu, tượi cười trong chiếc áo dài đậm gam màu nâu, lá thu vàng. Chị ngõ lời cảm ơn tất cả khán thính giả bốn phương đang xem chương trình, trực tiếp truyền hình của VHN. Chị cảm tạ sự thương mến của bạn bè, thân hữu. Sự giúp đở của nhóm "Biển Art & Media", nhóm CLBTNS, nhóm Còn Một Thời Để Nhớ, nhóm Trưng Vương, nhóm Hùng Sử Việt, và đặc biệc đài truyền hình VHN.TV, với Bruce Trần và phu nhân cùng bứơc lên sân khấu. Giám đốc Bruce Trần, và phu nhân cũng ngõ lời chúc mừng nhà văn Bích Huyền. Nhạc sĩ Tuấn Khanh cùng lên sân khấu để chụp hình lưu niệm với tất cả mọi người...Không biết nữ xướng ngôn viên truyền hình Hồng Vân đã ngồi cạnh ông suốt buổi, đã phỏng vấn được những bí mật gì về cuộc đời của NS Tuấn Khanh, với tác phẩm bất hủ "Hoa Soan bên Thềm Cũ"...


Chiều đã muộn bên ngoài Studio, tôi thấy Nhạc sĩ Sỹ Dự đang khập Khiển bước ra với chiếc chân băng bột (vì say mê đá banh). Chân bị thương, nhưng anh vẫn đánh đàn vô cùng điêu luyện, ngọt ngào. Nhạc sĩ Đinh Trung Chính cũng ra về với chiếc guitar thân yêu, các anh chị em trong nhóm CLBTNS cũng chia tay nhau...
Nắng đã thấp bên các hàng cây, bên kia công viên Squae Mile Park lá vàng đang xào xạc bay...Nhà văn Bích Huyền cũng sắp sửa trở lại với thềm xưa, cô lẽ cuộc đời của mình...


Sep/29/2012
Phong Vũ
Last edited by khieulong on Tue Oct 02, 2012 5:51 pm, edited 1 time in total.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bệnh nặng


QUẬN CAM, CA 1-10 (NV) - Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục,
bệnh nặng và đang ở trong một bệnh viện ở thành phố Santa Ana, quận Cam, California.

Image
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (bên phải) gặp dịch giả Huỳnh Sanh Thông (bên trái) tại thành phố New Haven, Connecticut, hồi Tháng Tư 2005.
(Hình: Quang Phu Van - Vietnam Literature Project)

Sáng sớm ngày Thứ Tư 26 Tháng Chín 2012, ông cảm thấy ngộp thở nên được đưa gấp vào bệnh viện. Tại đây, bệnh viện điều trị chứng nhiễm trùng đường phổi nhưng ông vẫn thấy đau ở ngực. Một số xét nghiệm cả về tim mạch, chụp phim và lấy mẫu phổi (biopsy) truy tìm ung thư cũng đã được thực hiện.

Tuy nhiên, những tin tức cho đến sáng ngày Thứ Hai 1 Tháng Mười 2012 thì xét nghiệm mẫu phổi chưa rõ ràng để kết luận là ông bị ung thư hay không trong khi ông vẫn thấy đau và cần thuốc giảm đau.

Mấy ngày đầu, ông nói rất khó, không ra lời, nhưng nay đã có thể nói tương đối dễ dàng.

Mười giờ sáng Thứ Hai, Linh Mục Cao Phương Kỷ đã làm các nghi thức cần thiết để ông trở thành một tín đồ Công Giáo theo ước nguyện trước sự chứng kiến của ông bà Bác Sĩ Trần Văn Cảo, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Trang, bà Lâm Thiên Hương, nhà văn Trần Phong Vũ.

Ông Nguyễn Chí Thiện từng gặp cha Chính Vinh, cha Nguyễn Văn Lý trong nhà tù CSVN.

Nhân cách và cái chết của cha Chính Vinh tại nhà tù Cổng Trời (tỉnh Hà Giang) được nhiều người viết hồi ký kể lại trong đó có ông Kiều Duy Vĩnh. Ông Vĩnh là một trong rất ít người thoát chết trở về sau nhiều năm bị giam ở trại Cổng Trời, mới qua đời hồi Tháng Bảy vừa qua và cũng đã chịu các phép bí tích để trở thành tín đồ Công Giáo.

Những kỷ niệm cũng như nhân cách của cha Chính Vinh, Linh Mục Lý đã gây ấn tượng sâu sắc thúc đẩy nhà thơ Nguyễn Chí Thiện chọn đức tin Công Giáo và lấy tên thánh là Thomas More.

Vào năm 1980, người ta thấy xuất hiện ở hải ngoại một tập thơ không có tên tác giả, xuất bản bởi “Ủy Ban Tranh Ðấu cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam”. Tập thơ mang tựa đề “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” mà tác giả là “Ngục sĩ” hay khuyết danh. Ít tuần lễ sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong đưa ra một ấn bản cùng một nội dung nhưng với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”.

Tựa đề tập thơ Hoa Ðịa Ngục có từ khi Yale Center for International & Area Studies ấn hành bản Anh ngữ Flowers From Hell do ông Huỳnh Sanh Thông dịch. Sau người ta mới biết tác giả tập thơ là Nguyễn Chí Thiện.

Những bài thơ của ông trong tập Hoa Ðịa Ngục gây xúc động sâu xa trong tâm thức người đọc về cái đói, sự đày đọa ác độc, sự gian ác của chế độ Cộng Sản đối với con người.

Tập thơ thoát ra khỏi Việt Nam khi nhà thơ lén lút mang tới Tòa Ðại Sứ Anh tại Hà Nội và được Giáo Sư Patrick J. Honey thuộc đại học London sang Việt Nam Tháng Bảy năm 1979 và mang về. Kèm trong tập thơ 400 trang viết tay này là lá thư mở đầu với lời ngỏ:

“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.”

Ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội. Ông có một người anh là sĩ quan cao cấp VNCH đang ở sống ở tiểu bang Virginia, hai người chị ở Việt Nam.

Ông bị tù tổng cộng 27 năm qua nhiều nhà tù miền Bắc, đặc biệt là nhà tù nổi tiếng Cổng Trời. Lần ra khỏi tù sau cùng của ông là ngày 28 Tháng Mười 1991.

Khi ông chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội đưa tập thơ và xin tị nạn chính trị, viên chức tòa đại sứ chỉ nhận tập thơ để chuyển ra ngoại quốc và cho biết họ không giúp ông tỵ nạn chính trị được. Bước ra khỏi trụ sở Tòa Ðại Sứ Anh thì ông bị công an CSVN bắt giữ liền.

Nhờ sự can thiệp đặc biệt của nhiều nhân vật quốc tế, ông đã được chế độ Hà Nội thả cho đi Mỹ định cư Tháng Giêng 1995.

Ông đã đem kinh nghiệm về chế độ Cộng Sản, kinh nghiệm tù đày trình bày với các cộng đồng người Việt khắp nơi từ Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và Úc Châu.

Tập thơ Hoa Ðịa Ngục đã được dịch ra Anh, Pháp, Ðức và Hòa Lan ngữ.

Sau khi đến Mỹ, năm 2001 ông cho xuất bản tập truyện Hỏa Lò. Tập truyện Hai Chuyện Tù được ông xuất bản năm 2008. (TN)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời, thọ 73 tuổi
Tuesday, October 02, 2012 8:53:34 AM

QUẬN CAM, CA 2-10 (NV) - Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục, vừa qua đời lúc 7 giờ 17 phút sáng Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012, tại một bệnh viện ở thành phố Santa Ana, quận Cam, California, thọ 73 tuổi.

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vào bệnh viện vào sáng sớm ngày 26 Tháng Chín, 2012. Tại đây, bệnh viện điều trị chứng nhiễm trùng đường phổi nhưng ông vẫn thấy đau ở ngực. Một số xét nghiệm cả về tim mạch, chụp phim và lấy mẫu phổi (biopsy) truy tìm ung thư cũng đã được thực hiện.

Tuy nhiên, cho đến sáng ngày Thứ Hai, 1 Tháng Mười 2012 thì bệnh trở nặng. Mười giờ sáng Thứ Hai, Linh Mục Cao Phương Kỷ đã làm các nghi thức cần thiết để ông trở thành một tín đồ Công Giáo theo ước nguyện trước sự chứng kiến của ông bà Bác Sĩ Trần Văn Cảo, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Trang, bà Lâm Thiên Hương, nhà văn Trần Phong Vũ.

Nhà văn Trần Phong Vũ, người kề cận, chăm sóc nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong những ngày ở bệnh viện, đã vuốt mắt cho nhà thơ sau khi ông qua đời.

Người anh của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đáp máy bay từ Virginia tới Quận Cam sáng nay cũng không kịp gặp mặt em trước khi mất.

* Người tù 27 năm

Ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội. Ông có một người anh là sĩ quan cao cấp VNCH đang ở sống ở tiểu bang Virginia, hai người chị ở Việt Nam.

Ông bị tù cộng sản tổng cộng 27 năm qua nhiều nhà tù miền Bắc, đặc biệt là nhà tù nổi tiếng Cổng Trời. Lần ra khỏi tù sau cùng của ông là ngày 28 Tháng Mười 1991.

Khi ông chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội đưa tập thơ và xin tị nạn chính trị, viên chức tòa đại sứ chỉ nhận tập thơ để chuyển ra ngoại quốc và cho biết họ không giúp ông tỵ nạn chính trị được. Bước ra khỏi trụ sở Tòa Ðại Sứ Anh thì ông bị công an CSVN bắt giữ liền.

Nhờ sự can thiệp đặc biệt của nhiều nhân vật quốc tế, ông đã được chế độ Hà Nội thả cho đi Mỹ định cư Tháng Giêng 1995.

Ông đã đem kinh nghiệm về chế độ Cộng Sản, kinh nghiệm tù đày trình bày với các cộng đồng người Việt khắp nơi từ Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và Úc Châu.

Tập thơ Hoa Ðịa Ngục đã được dịch ra Anh, Pháp, Ðức và Hòa Lan ngữ.

Sau khi đến Mỹ, năm 2001 ông cho xuất bản tập truyện Hỏa Lò. Tập truyện Hai Chuyện Tù được ông xuất bản năm 2008.

Ông Nguyễn Chí Thiện từng gặp cha Chính Vinh, cha Nguyễn Văn Lý trong nhà tù CSVN.

Nhân cách và cái chết của cha Chính Vinh tại nhà tù Cổng Trời (tỉnh Hà Giang) được nhiều người viết hồi ký kể lại trong đó có ông Kiều Duy Vĩnh. Ông Vĩnh là một trong rất ít người thoát chết trở về sau nhiều năm bị giam ở trại Cổng Trời, mới qua đời hồi Tháng Bảy vừa qua và cũng đã chịu các phép bí tích để trở thành tín đồ Công Giáo.

Những kỷ niệm cũng như nhân cách của cha Chính Vinh, Linh Mục Lý đã gây ấn tượng sâu sắc thúc đẩy nhà thơ Nguyễn Chí Thiện chọn đức tin Công Giáo và lấy tên thánh là Thomas More.

Tác giả Hoa Địa Ngục

Vào năm 1980, người ta thấy xuất hiện ở hải ngoại một tập thơ không có tên tác giả, xuất bản bởi “Ủy Ban Tranh Ðấu cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam”. Tập thơ mang tựa đề “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” mà tác giả là “Ngục sĩ” hay khuyết danh. Ít tuần lễ sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong đưa ra một ấn bản cùng một nội dung nhưng với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”.

Tựa đề tập thơ Hoa Ðịa Ngục có từ khi Yale Center for International & Area Studies ấn hành bản Anh ngữ Flowers From Hell do ông Huỳnh Sanh Thông dịch. Sau người ta mới biết tác giả tập thơ là Nguyễn Chí Thiện.

Những bài thơ của ông trong tập Hoa Ðịa Ngục gây xúc động sâu xa trong tâm thức người đọc về cái đói, sự đày đọa ác độc, sự gian ác của chế độ Cộng Sản đối với con người.

Tập thơ thoát ra khỏi Việt Nam khi nhà thơ lén mang tới Tòa Ðại Sứ Anh tại Hà Nội và được Giáo Sư Patrick J. Honey thuộc đại học London sang Việt Nam Tháng Bảy năm 1979 và mang về. Kèm trong tập thơ 400 trang viết tay này là lá thư mở đầu với lời ngỏ:

“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.” (TN)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Khánh Ly biểu diễn tại Việt Nam? Tình, tiền và những nghịch lý

Lê Diễn Đức
Trước hết khoan vội vã nghĩ về nghĩa bóng với ý xấu nào đó trong tựa đề bài viết của tôi. Những từ ngữ trong tựa đề có vẻ giật gân nhưng tôi chỉ muốn nói tới ngữ nghĩa đen đích thực của nó.

Tình…

Lên đường về Việt Nam (VN), trong hành trang của mình, Khánh Ly mang nặng chữ tình theo nghĩa rộng. Tình yêu quê hương; tình cảm với một quá khứ sống động thời tuổi trẻ ở miền Nam; tình yêu âm nhạc, nghệ thuật; tình cảm dành cho quần chúng hâm mộ trong nước; tình bằng hữu, đồng nghiệp; và những băn khoăn trước thái độ không mấy hài lòng của một bộ phận trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản (CS), mà Kánh Ly là một thành viên không thể tách rời.

Tôi chưa bao giờ có cái nhìn khắt khe với bất kỳ ai từ nước ngoài về thăm VN. Là người Việt ly hương, mong được trở về quê nhà, dù dưới bất kỳ lý do nào, làm ăn hay thăm thân, tôi đều cho là nguyện vọng chính đáng. Điều cần đánh giá là thái độ và việc làm của họ trong thời gian ở VN, cách ứng xử với nhà cầm quyền của chế độ CSVN, một chế độ mà họ đã tự nguyện trốn chạy, muốn đoạn tuyệt, dù đã phải đối diện với nhiều hiểm nguy, mất mát, thậm chí cả mạng sống.

Tôi cũng giữ quan điểm đúng mức, trung dung trong việc các ca sĩ từ nước ngoài về VN biểu diễn hay từ trong nước qua Mỹ, như là chuyện bình thường. Tôi đã chứng kiến người Việt ở Mỹ vui vẻ chào đón các ca sĩ từ miền Bắc qua như Hồng Nhung, Mỹ Linh, Thanh Lam, Thu Hà, Thu Phương, v.v… Một số người cưới vợ, lấy chồng, sống hoà hợp và bình đẳng trong cộng đồng. Những trường hợp bị chống đối dường như rất ít và thường có lý do chính đáng, như Đàm Vĩnh Hưng, hay Hồng Vân. Chỉ khi thật sự đặt mình vào hoàn cảnh của những người căm ghét chế độ CS vì chế độ này đã gây ra bao nhiêu tai ương, tội ác cho họ và thân nhân, hiện vẫn đang tiếp tục chà đạp công lý và quyền tự do ở trong nước, thì mới có thể thông cảm và chia sẻ cho sự chống đối này.

Khánh Ly không phải là người đầu tiên trong giới ca nhạc hải ngoại về VN và chắc chắn không phải là nguời cuối cùng. Trước Khánh Ly đã có Elvis Phương, Hương Lan, Chế Linh, Tuấn Ngọc, v.v… cũng là những ca sĩ đã được nhìn nhận ở đỉnh cao trong làng ca nhạc VN ở nước ngoài.

Khánh Ly thường nói “VN luôn nằm trong trái tim“, chân thật và giản dị như với bao người VN khác sống xa đất nước. Trong thâm tâm, tôi mong muốn Khánh Ly bình yên, thanh thản về nước, thực hiện nguyện vọng chờ đợi từ rất lâu của mình và mang tiếng hát về VN cho những người hâm mộ.

Khi nói đến dòng tân nhạc miền Nam trước năm 1975 và của người Việt hải ngoại sau năm 1975, ca sĩ Khanh Lý phải là một trong những người nằm ở vị trí hàng đầu, có thể xem là ca sĩ số một, thể hiện xuất sắc nhất, có hồn nhất các nhạc phẩm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Khánh Ly không chỉ nổi tiếng với người miền Nam trước và sau năm 1975, mà tên tuổi và giọng ca của Khánh Ly đã vượt không gian, thời gian đến với hàng triệu người miền Bắc yêu thích các ca khúc trữ tình, những “bài hát da vàng” của dòng nhạc Trịnh.

Bỏ qua mọi định kiến, yêu, ghét, khó ai phủ nhận được Trịnh Công Sơn là khuôn mặt tài năng nổi bật trong di sản âm nhạc hiện đại của Việt Nam. Nếu toàn bộ tác phẩm của ông là đứa con nghệ thuật, thì Khánh Ly, có thể nói, do duyên phận và định mệnh, là một nửa cơ thể của đứa con tinh thần và nghệ thuật đó.

Hạnh phúc nhất của nguời nghệ sĩ chính là lòng mến mộ và quý trọng của đông đảo công chúng. Tôi không nhìn qua lăng kính chính trị hẹp hòi để đồng nghĩa chuyến lưu diễn của Khánh Ly tại VN với cách suy diễn dễ dãi, thiếu thiện chí như là sự phục vụ, hát cho chế độ CS nghe. Trong hoàn cảnh nào người nghệ sĩ cũng hạnh phúc khi thấy tiếng hát của mình có ý nghĩa cho cuộc sống, tài năng nghệ thuật có cơ hội thể hiện, cống hiến cho những người ái mộ, dù chỉ là một số nào đó trong những hoàn cảnh nghiệt ngã.

Công chúng hôm nay đến với Khánh Ly dường như chắc chắn không phải đến với giọng ca của một nữ ca sĩ đã ở tuổi 67. Họ đến với Khánh Ly trong con người bằng da bằng thịt, trong hình ảnh của huyền thoại “Nữ hoàng chân đất”, “Nữ hoàng sân cỏ” với chất giọng trời cho “không giống ai”, “giọng ca thật như nói”, truyền cảm đặc sắc tâm tư của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua những nhạc phẩm của ông.

Tôi tin rằng, từ Sài Gòn, Đà Nẵng, tới Hà Nội, bằng những lời ngợi khen công khai của số ít, hoặc bằng suy nghĩ của số đông thầm lặng, nhưng với tất cả công chúng, Khánh Ly là đứa con của miền Nam, là biểu tượng của một nền văn hoá và âm nhạc tự do của Việt Nam Cộng Hoà, mà nếu không có nó, sẽ đồng nghĩa với không có nghệ sĩ Khánh Ly nổi tiếng hôm nay. Nó cũng tương tự như hình ảnh của Phó thủ tướng Đức Philipp Rösler. Nếu không được trưởng thành và hưởng một nền giáo dục tốt đẹp của nước Đức dân chủ tự do, trong chế độ CSVN một cậu bé mồ côi sẽ khó vượt qua được thân phận của “con sãi ở chùa lại quét lá đa”.

Một hình ảnh đẹp và tự hào như thế của Việt Nam Cộng Hoà, trước công chúng, ngay trong lòng chế độ CS, giữa Hà Nội và Sài Gòn, há chằng phải là tuyệt vời sao!

Nếu không về lúc này, khi còn có thể hát, nguyện vọng của Khánh Ly trở lại hát trên quê nhà sẽ thui chột tỷ lệ nghịch với sự tăng lên của tuổi tác, là điều đáng tiếc cho cuộc đời của một nghệ sĩ tài hoa. Ca sĩ Thanh Tuyền cũng đã nói: “Khánh Ly đã 67 tuổi rồi. Cũng mong được về nước để hát trên mảnh đất quê hương mình. Chị ấy muốn về trước khi quá muộn”- (Giaoducnet.vn).

Tiền…

Có người vội vã nhận định về chuyến lưu diễn của Khánh Ly tại Việt Nam: “Money first!”.

Tôi được biết, tour diễn của Khánh Ly sẽ được công ty Đồng Dao trả tiền cát-xê rất cao. Ngoài bao ăn ở đi lại, mỗi show của Khánh Ly được trả 20 ngàn đôla. Cho cả tour diễn tại Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn, Khánh Ly sẽ thu được từ 100 ngàn tới 200 ngàn đôla, phụ thuộc vào số lượng show lớn nhỏ có thể thực hiện. Với mặt bằng cát-xê chung hiện nay, Khánh Ly nằm mơ không có được một số tiền lớn như thế ở Mỹ trên sàn diễn. Nó không chỉ hấp dẫn mạnh mẽ với Khánh Ly, một người không phải thuộc giới giàu có, mà với tất cả.

Khi đồng ý chi một số tiền lớn như trên, công ty Đồng Dao, nhà tổ chức, hẳn đã phải tính toán rất kỹ thành quả từ show diễn của Khánh Ly, ý thức rất rõ ca sĩ Khánh Ly sẽ cuốn hút số lượng người xem như thế nào. Số tiền lớn này có sức mạnh cám dỗ là đương nhiên. Có ai không thích tiền? Nhưng Khánh Ly hoàn toàn xứng đáng nhận nó, vì nó là thành quả lao động nghệ thuật mà Khánh Ly đã phải làm việc miệt mài và tích luỹ trong suốt 50 năm qua.

Cho nên, nếu nói “Money first!“. Câu trả lời là: “Thì đã sao, why not!“. Đồng tiền kiếm được bằng lao động lương thiện và minh bạch, thì có gì phải lăn tăn!

Nghịch lý…

Nhưng tất cả xem ra không đơn giản trong hỗn mang của các nghịch lý.

Trước hết phải nhìn nhận Khánh Ly là “persona non grata” của chế độ CSVN.

Khánh Ly đã hai lần bỏ chạy khỏi chế độ CS, lần đầu lúc còn bé theo gia đình vào Nam năm 1954, khi CSVN cai trị ở miền Bắc, và lần thứ hai di tản qua Mỹ, năm 1975, sau khi Sài Gòn bị thất thủ và CSVN cai trị trên cả nước.

Tâm trạng của Khánh Ly trong hai lần chạy trốn chế độ CS có thể mô tả qua nhạc phẩm “Xin đời một nụ cười” của nhạc sĩ Nam Lộc:

“Tôi bước đi
Vì không muốn làm kẻ tội đồ,
Vì tôi muốn lại kiếp con người
Muốn cuộc đời có những nụ cười
Tự Do ơi, Tự Do, em đổi bằng thân xác
Vì hai chữ Tự Do ta mang đời lưu vong”…

Trong thời gian sống ở Mỹ, Khánh Ly đã tham gia rất nhiều chương trình văn nghệ chống cộng của hội đoàn người Việt. Với những nhạc phẩm “Đêm Việt Nam” của Hà Thúc Sinh, “Ai trở về xứ Việt” của Phan Văn Hưng, “Đêm Chôn Dầu Vượt Biển“của Châu Đình An, “Hát trên những xác người” của Trịnh công Sơn, v.v… Khánh Ly không làm nhà cầm quyền căm ghét mới là lạ.

Khánh Ly cũng đã từng tuyên bố “Tôi chỉ về khi không còn chế độ cộng sản nữa mà thôi”, theo tờ “Giaoducnet.vn” ngày 7/8/2012 trong bài “Sự tráo trở của Khánh Ly“.

Lời tuyên bố của Khánh Ly rồi cũng nhạt nhoà theo những đổi thay và các biến động của thời gian. Khánh Ly đã về VN hai lần trong năm 1996 và 2000, về chơi thăm thú, chứ không phải về biểu diễn. Nhưng Khánh Ly duờng như bị “cấm cung” tại Đệ Nhất Khách Sạn, quận Tân Bình, gần sân bay Tân Sơn Nhất, đi lại bị an ninh theo dõi, kiểm soát ngặt nghèo.

Cuối năm 1994, nhân chuyến lưu diễn Âu châu của các ca sĩ hải ngoại, trong đó Khánh Ly là nhân vật trung tâm, những bạn hữu tổ chức ở Đức đã phối hợp với chúng tôi ở Ba Lan, lần đầu tiên mời đoàn qua Ba Lan. Đại sứ quán CSVN tại Ba Lan lúc ấy đã ra chỉ thị cấm nghiên cứu sinh, đảng viên đi xem. Chúng tôi thuê Cung Văn hoá làm nơi biểu diễn, nằm ở trung tâm thủ đô Warsaw, thời cộng sản là nơi tổ chức các đại hội đảng hoặc hội nghị nhà nước. Cung Văn hoá chứa được khoảng ba nghìn chỗ ngồi hôm ấy kín hết. Bất chấp lệnh cấm của toà đại sứ quán CSVN, tôi nhìn thấy một số nghiên cứu sinh quen biết ngồi trong đám đông. Còn cộng đồng người Việt tại Ba Lan đã dành cho các ca sĩ hải ngoại sự chào đón nồng ấm lạ thường. Khánh Ly nói chưa bao giờ được hát trên một sân khấu sang trọng như thế. Khánh Ly bị khán thính giả cuồng nhiệt “hành hạ” hát theo yêu cầu liên tiếp và tặng không biết cơ man nào là hoa, đến mức ba quầy bán hoa tại chỗ hết sạch, chúng tôi đã phải chạy ra ngoài tìm nguồn cung cấp thêm.

Sự kiện này cho thấy nhà cầm quyền CSVN không ưa thích Khánh Ly không chỉ trong nước mà còn vượt ra cả ngoài biên giới VN. Nhưng bên cạnh đó cho thấy dân miền Bắc cũng rất ái mộ ca sĩ này, bỏ qua mọi khác biệt về môi trường sống và nhãn quan chính trị.

Sự chuẩn bị cho cuộc hành trình về VN lần này chẳng mấy dễ dàng. Nguyện vọng của Khánh Ly về VN biểu diễn được nói đến gần hai năm nay. Lẽ ra nếu “cơm lành canh ngọt”, Khánh Ly đã có thể về cùng chuyến với ca sĩ Chế Linh hồi cuối năm 2011, nhưng Khánh Ly chưa được nhà cầm quyền chấp thuận.

Trong số những người có công vận động nhà cầm quyền cấp giấy phép biểu diễn tại VN cho Khánh Ly, trước hết phải kể đến Nguyễn Công Khế, cựu Tổng biên tập báo Thanh Niên. Ở đây cũng nói thêm, ông Khế là người được em gái của Trịnh Công Sơn, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, trao lại bản quyền của các tác phẩm nổi tiếng của anh trai mình, trả ơn ông Khế đã cứu chồng thoát án tử hình trong một vụ án. Trong chuyến lưu diễn của Khánh Ly, Nguyễn Công Khế sẽ được công ty Đồng Dao trả một số tiền bản quyền không nhỏ. Tất nhiên để lobby cho Khánh Ly, ông Khế không chỉ múa may bằng tay và nước miếng với các quan chức CS có thẩm quyền. Thế là ơn nghĩa sòng phẳng, có đi có lại, trong sự ràng buộc của cả cuộc chơi.

Với những nghịch lý nêu trên, từ việc nhà cầm quyền CSVN đồng ý cho Khánh Ly về VN biểu diễn, xuất hiện nhiều giả thiết, những ý kiến ủng hộ, chống đối cũng là hiển nhiên.

Giống như các trường hợp của Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy, những người đã làm cho rất nhiều người trong cộng đồng tị nạn CS trên thế giới thất vọng, sự có mặt của nghệ sĩ Khánh Ly trên sân khấu tại Việt Nam, mặc nhiên nằm trong mong muốn của nhà cầm quyền CSVN cho chính sách tuyên truyền “đoàn kết dân tộc”, “cởi mở” và nghị quyết 36 lừa mị và dối trá.

Khánh Ly về nước đúng vào thời điểm nhà cầm quyền CSVN đang sử dụng bàn tay sắt bóp nghẹt dã man nhất quyền tự do tư tưởng và bày tỏ chính kiến ôn hoà, bằng bản án 39 năm tù và quản chế cho ba bloggers Điều Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn, trong ngày 24/9 vừa qua. Một đồng nghiệp miền Nam của Khánh Ly, nhạc sĩ Việt Khang, đang ngồi tù chỉ vì viết những khúc ca yêu nước, chống bành trướng xâm lược Trung Quốc và lên án sự đàn áp tàn nhẫn, côn đồ của công an CSVN đối với những người tham gia biểu tình yêu nước. Hơn 150 ngàn chữ ký của cộng đồng người Việt gửi Tổng thống Barack Obama kêu gọi can thiệp trả tự do cho Việt Khang và các nhà tranh đấu dân chủ khác đang bị giam cầm, cũng như lời kêu gọi của chính ông và nhiều chính phủ các nước, của các tổ chức bảo vệ tự do báo chí, nhân quyền, đã chẳng mảy may động lòng trắc ẩn của những tên đao phủ CS Ba Đình.

Lời kết

Trong ngổn ngang của tình, tiền và những nghịch lý, về VN biểu diễn, ca sĩ Khánh Ly phải đối diện với bộ máy kiểm duyệt của chế độ, bên cạnh những mưu đồ, cạm bẫy khó lường khác, chắc chắn không bao giờ Khánh Ly có thể sống và thể hiện như một nghệ sĩ của tự do – nguồn cảm hứng quan trọng nhất của người nghệ sĩ. Tôi chia sẻ tâm tình của Khánh Ly rằng, “nhập gia tuỳ tục”, vì chẳng thể nào khác, nhưng muốn hay không, mặc nhiên đây là sự thoả hiệp trên thế yếu, chấp nhận tinh thần tự do, khai phóng của nguời nghệ sĩ bị cầm tù!

Dù thế nào đi nữa, kể cả trên thế yếu, tôi mong rằng, Khánh Ly sẽ cố gắng giữ toàn vẹn hình ảnh của mình, hình ảnh cao đẹp của một biểu tượng văn hoá, nghệ thuật tự do của miền Nam, của Việt Nam Cộng Hoà, một quốc gia tuy không còn trên thực tế, nhưng đã tạo nên đứa con âm nhạc Khánh Ly. Rất nhiều người lính đã hy sinh xương máu cho sự tự do ấy, trong đó có người yêu của Khánh Ly. Nếu khác đi, môt bên sẽ là sự hả hê của những kẻ đã thành công lợi dụng hình ảnh Khánh Ly cho mục đich tuyên truyền bịp bợm, một bên khác là hàng triệu con tim trong cộng đồng người Việt tị nạn CS trên thế giới, đau buồn vì vết thương sau 37 năm chưa lành bị khoét sâu thêm.

Là người của công chúng, Khánh Ly giờ đây không thể thay đổi quá khứ và rũ bỏ nó, càng không thể cho phép bản thân chỉ sống cho riêng mình!

Lucius Seneca, nhà hiền triết La Mã, nghệ sĩ hài đương thời, một tên tuổi lớn của văn học La Mã, đã nói: “Nhiều người quan tâm đến danh tiếng, nhưng ít người chú trọng tới lương tâm“.

Hy vọng rằng Khánh Ly sẽ đứng vào số nhiều vế trước và cả số ít vế sau của câu danh ngôn.

Xin cho tôi được bỏ vào hành trang của Khánh Ly lời ca của nhạc phẩm “Ai trở về xứ Việt“:

“Ai trở về xứ Việt
Ta gửi về theo một ít tự do
Tự do, tự do và nhiều lắm, nhiều nhớ thương tha thiết
Đến cửa ngục tù chia bớt chút buồn lo”…

Được biết Khánh Ly là tay chơi phé có hạng ở California. Ván bài về VN kỳ này khó khăn và phức tạp hơn hai kỳ trước nhiều. Tôi hy vọng và tin rằng Khánh Ly không để hở bài và sẽ thắng.

Đừng ngộ nhận về bản chất độc ác, dối trá và cách cư xử tráo trở, bạc như vôi của chế độ CS và cũng đừng ảo tưởng về bất kỳ sự thay đổi bản chất nào của nó! Đừng để phạm sai lầm để rồi hối tiếc khi đã ở vào mùa Thu của cuộc đời, ca sĩ Khánh Ly ạ!

© 2012 Lê Diễn Đức
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Ca sĩ ‘Gangnam Style’ từng bị yêu cầu 'sửa mặt'
Các nhà sản xuất thuyết phục rapper Hàn Quốc Psy 'đại tu nhan sắc' khi bước chân vào làng nhạc vì anh quá béo và quá xấu.

Ngôi sao của “Gangnam Style” đã làm nên lịch sử khi trở thành ngôi sao nhạc pop đầu tiên của Hàn Quốc lọt vào Top 100 bảng xếp hạng Billboard Mỹ và leo lên tới vị trí á quân. Chưa đầy ba tháng kể từ khi đăng lên Youtube ngày 15/7, video music của anh đã được hơn 359 triệu người xem, trở thành một trong những video được xem nhiều nhất năm 2012, với 3,4 triệu người like tính đến hiện tại (4/10).

Mới đây, rapper tên thật là Park Jae Sang thừa nhận trên tờ Daily Telegraph của Australia, anh từng được các giám đốc sản xuất đề nghị phẫu thuật thẩm mỹ toàn diện trước khi chính thức bước ra thị trường nhạc.
Image
Psy (Park Jae-Sang) từng được yêu cầu phẫu thuật thẩm mỹ để tìm kiếm sự nổi tiếng. Ảnh: Celebuzz.

Gia nhập làng nhạc từ cách đây 10 năm với thân hình mập mạp, không đẹp trai và sành điệu, Psy khiến các nhà sản xuất nghĩ rằng, anh sẽ không thể nào thành công. Năm 2001, khi xuất hiện như một rapper tân binh, một công ty yêu cầu anh thay đổi ngoại hình. "Công ty đó nghe các bản rap của tôi và hình dung ra một chàng trai thời thượng, bảnh trai, cao hơn 1,8 m. Nhưng khi gặp tôi, họ đã phải mở đầu cuộc họp với câu hỏi: ‘Chúng ta phải làm gì với trường hợp này? Nên chăng đeo cho anh ta một chiếc mặt nạ đáng yêu?’.
Image
Không bảnh trai, không sành điệu nhưng Psy đã thành công trên toàn cầu với điệu nhảy ngựa "Gangnam Style".

"Mọi người lần lượt đưa ra các giải pháp cho vấn đề hình ảnh của tôi. Họ nói: 'Phẫu thuật chỗ này một chút chỗ kia một chút thì thế nào?'. Cuối cùng họ không đưa được giải pháp nào và tất cả rời khỏi phòng họp”, Psy kể tiếp.

Rapper 34 tuổi hiện đã nổi tiếng toàn thế giới. Một phần trong thành công của điệu nhảy ngựa "Gangnam Style" được đánh giá là xuất phát từ hình ảnh mũm mĩm, hài hước, có phần ngốc nghếch và chân chất của anh trong video.


Song Ngư
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Khi thi ca thành tôn giáo: Phạm Công Thiện

Nguyễn Mạnh Trinh
Phạm Công thiện, ông là ai? Có nhiều người đã hỏi như thế. Triết gia? Thiền sư? Thi sĩ? Văn sĩ ? Hay là một người lang thang rong chơi trong cuộc đời? Hay là nghệ sĩ với ước vọng thành một tài năng lớn của thế giới? Hoặc là một người đang trong cơn mộng du suốt cả đời?

Vào những năm thập niên 60 ở Sài gòn, Phạm Công Thiện xuất hiện như một hiện tượng. Sách vở của ông đã được đón đọc nồng nhiệt và trong giới sinh viên học sinh đọc sách của ông là một thời thượng. Họ thích nói về “Ý thức mới trong văn nghệ & triết học”. Họ tán thưởng “Ngày sinh của rắn”. Có người thú nhận thích đọc ông dù chẳng hiểu bao nhiêu. Và trong cái gọi là “họ” ấy có tôi. Một cậu sinh viên mê sách vở và tràn ứ mơ mộng lãng mạn.

Lúc đó, tôi đã nghĩ Phạm Công Thiện là một người viết phê bình như viết tùy bút và viết tùy bút như viết bằng thơ. Tóm lại, với tôi, ông là một thi sĩ dù ông làm thơ không nhiều lắm.

Đọc lại những bài viết về những nhà thơ của ông, tôi thấy điều đó tới bây giờ vẫn còn chính xác. Ông viết về thơ với cả tâm hồn mình, và với những thi sĩ, ông cũng đồng cảm trong cái chia sẻ không cùng của những sợi đàn rung cộng hưởng vì chung tần số.

Tôi đọc thử một đoạn viết về Cung Trầm Tưởng để dẫn tới thơ tình yêu của Appollinaire. Những trang sách cũ đã ố vàng của “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”.


“... Tôi ngạc nhiên. Tim tôi máy động. Cung Trầm Tưởng là ai mà làm thơ tài hoa vậy. Tôi mơ màng. Tôi hình dung những chiếc lá rơi. Tôi nhìn thấy dòng sông Seine lững lờ trôi chảy. Kia là tả ngạn River Gauche… Kia là đường phố Aumont - Thieville và L’ Avenue des Ternes… Kia là những quán cà phê và những kẻ tứ chiếng giang hồ... Kia là cầu Mirabeau… Kia là mùa thu mưa rơi… kia là Pont Neuf. Ôi. Paris. Souvenir. Souvenir. Remember to remember…

Cung Trầm Tưởng làm tôi nhớ đến Appollinaire. Ừ, chỉ có Appollinaire mới có những dòng thơ bất tuyệt để làm sống lại Paris. Nói đến Paris là nói đến Kỷ Niệm, là nói đến Nghệ sĩ, là nói đến tình yêu và tuổi trẻ. Paris là thành phố của những kẻ tứ chiếng giang hồ, của những clochards, của những femmes de joie, của những Henry Miller, những Hemingway, những Gertrude Stein, những Picasso, những Appollinaire…

Mùa thu nơi đâu
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín dỏ trái sầu.

Cung Trầm Tưởng làm tôi nhớ đến Appollinaire:
J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends

Cũng vào mùa thu, Cung Trầm Tưởng ngóng chờ người yêu ”kiên khổ phút giờ” và “chín đỏ trái sầu” ngóng chờ mong đợi như Appollinaire đã ngóng chờ mong đợi giữa hương thời gian và mùi lá cỏ
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends

Trời đã tối hẳn rồi. Tôi bước vào giường nằm ngủ, mắt nhắm lại, những dòng thơ của Hàn, của Cung, của Appollinaire chan hòa thướt tha đưa tôi vào giấc ngủ triền miên...

Viết về thơ, theo như Phạm Công Thiện không phải là phê bình xếp loại mà phải là ca tụng khen ngợi thơ. Ông khẳng định ”Nói đến Thơ không khác gì nói đến Thượng Đế. Phê bình Thơ là làm việc phạm thánh là blasphème.

Những thi sĩ không phải là loài người họ là những Thiên Thần, những thánh hoặc những quỉ ma. Nếu ta không chấp nhận họ được thì ta phải im lặng; còn nếu chấp nhận họ thì ta phải ca tụng cho hết lời. Ta không được quyền có thái độ của học giả hoặc giáo sư hoặc nhà phê bình. Phải giết hết những nhà phê bình để cho Keats sống, để cho Chatterton đừng chết lúc mới 18 tuổi xanh.

Anh không thể cảm thơ của người ta thì anh hãy im lặng; còn nếu cảm được thì anh hãy thiết tha ca ngợi, đừng e dè giữ gìn gì cả. Không nên có những nhà phê bình thơ mà chỉ nên có những kẻ ca tụng thơ. Thơ là của riêng từng người; không có ai làm thầy ai cả. Phê bình văn nghệ ư? Buồn lắm…”

Thi sĩ ca tụng thi sĩ? Đúng quá rồi. Và trong cái bí nhiệm như của một tôn giáo, thi ca đã làm cho chúng ta luôn luôn mơ mộng và suy tư.

Như khi nhìn những con sông cạn cợt của quận Cam…

Không hiểu sao mỗi lần lái xe đi ngang qua những con sông cạn ở thành phố Westminster hay Santa Ana tôi lại thấy bồi hồi. Có một liên tưởng nào từ lòng sông tráng xi măng ở giữa chơ vơ một dòng nước chảy nhỏ nhoi cạn cợt. Cái cảm giác của thiên nhiên bị khuất phục ấy của một dòng nước mùa nắng nhắc tôi tới nguồn nước ào ào sục sôi sau những cơn mưa. Một thi sĩ đã viết :
“Ừ, ta bây giờ như sông cạn
Nước vũng làm sao thành biển khơi
Chí lớn dưng không thành chuyện vãn
Mỉm cười còn mất chuyện muôn đời…”

Có hay không, cái tượng hình của Dịch Kinh, hà trung vô thủy? Sông mà không có nước, có phải là sông không? Hay chỉ là gợi ý tới những đi mà không đến. Một câu thơ của Seamus Heaney, thi sĩ giải Nobel văn chương năm 1995 trong thi tập The Haw Lantern, chỉ có hai câu :
“The riverbed, dried up, half full of leaves.
Us, listening to a river in the trees.
(Lòng sông, cạn khô, một nửa phủ đầy những chiếc lá
Cho chúng ta, đang lắng nghe một dòng sông chảy trong cây)

Thi sĩ Phạm Công Thiện đã viết như sau về hình ảnh sông cạn rất thơ mộng này mà chúng ta nhiều khi ít quan tâm khi ngang qua trong nhịp đời hối hả mỗi ngày :
“… Tiếng nói của thơ là dòng nước tuôn chảy bất tận, dù lòng sông có cạn khô chăng nữa thì hồn sông vẫn chảy mãi trên cao… Sông đang chảy trên cây và trong cây lá, và sự lắng nghe ở đây đã nhập lưu (sơ ư văn trung / nhập lưu vong sở), không phải chúng ta lắng nghe dòng sông mà chính dòng sông đã chảy vào trong thi nhân, lòng sông khô cạn ở dưới đã nhập vào con sông chảy trên cây; lòng sông khô cạn nửa đầy những chiếc lá thả hồn rào rạt với sông lá trên cao (Hồ Dzếnh: ”có một nghìn cây rũ rượi buồn / Một nghìn sông rét vạn hoàng hôn. Vũ hoàng Chương “Đáy sông bừng dựng Lầu Thơ? Giấc mơ Hồ Điệp chẳng mơ cũng thành”… Tại sao phải làm thơ? Tại sao phải lắng nghe một lần như chưa từng biết nghe trọn đời? Tại sao phải nhìn thấy được một lần duy nhất như chưa từng biết thấy bao giờ? Thi nhân đã một lần nhìn thấy; còn chúng ta thì hãy lắng nghe một dòng sông chảy bất tận trong rặng cây rào rạt chiều hôm nay… “

Phạm công Thiện khi viết về kỷ niệm với nhà văn Võ Hồng, trong tập thơ Ngày Sinh Của Rắn có hai câu thơ, tả cảnh mà tả tình, đẹp một cách đơn giản như phong vị của những câu Hai-Ku:
“Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
Cây khế đồi cao trổ hết bông”

Và, hình như từ hai câu thơ này, Võ Hồng đã viết truyện ngắn ”Hoa khế lưng đồi” như một cách thế đáp tạ người tri kỷ.


Trong một lá thư gửi cho tác giả “Hoài Cố Nhân”, thiền sư thi sĩ họ Phạm viết:
...”Anh V.H. ạ, anh có cần gì phải thuyết giảng philo? Tất cả những trang văn anh, những trang văn rất từ tốn khiêm nhượng kia đều tiềm tàng những tư tưởng triết học rất sống. Nó cao hơn philo nữa, bởi nó là sagesse của quả tim.

Và một Triệu trang giấy Triết Học cũng không đáng giá bằng một tiếng đập của con tim. Anh có nghe rõ chưa? Tôi muốn hét to lên như vậy.

Anh có nghe tim con người đập trong những trang “Xuất hành năm mới”, trong “Trận đòn hòa giải”? “Xuất hành năm mới” còn cảm động muôn vạn lần hơn những chuyện mà người ta cho rằng buồn nhất! Những đứa nhỏ Hằng, Hào, và Thủy trong “Xuất hành năm mới” và “Trận đòn hòa giải” là những hình ảnh đau thương nhất trên đời, là những hình ảnh tượng trưng cho tất cả những đứa trẻ ở trần gian này…”.

Phạm Công Thiện tâm sự như thế, dù trong ngôn ngữ của ông có một chút gì hơi phấn khích nhưng cũng khá thành thật.

Phạm Công Thiện là một khuôn dáng văn chương rất có ảnh hưởng với những lớp sinh viên học sinh ở miền Nam của thập niên 70, 80. Thời gian ấy, những cuốn sách như “Ý Thức Mới trong Văn Nghệ và Triết Học”, “Hố Thẳm của Tư Tưởng“, “Ngày Sanh của Rắn “,… là những cuốn sách cầm tay của giới trẻ. Từ tác phẩm của ông, mở ra nhiều những cánh cửa. Trước hết, ông là một người sáng tạo nhiều suy tư về cái Mới, về những ngã đường có thể khá lạ lùng đến khi kỳ dị nhưng hấp dẫn. Văn học sẽ phải có những thay đổi, nhất là trong hoàn cảnh một đất nước chiến tranh như Việt nam. Ngay cả khi làm thơ, thi sĩ như người của hành tinh lạ lạc đến, với ngôn từ khá lạ lùng như đoạn VI của tập “Ngày Sanh của Rắn”

“tôi chấp chới
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm Paris
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
Mặt trời có thai!
Sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt “

Nếu bảo giải thích từng câu từng chữ thì có lẽ chính cả tác giả cũng lúng túng. Thơ là những hình ảnh rải rác, thoạt tưởng không liên quan với nhau nhưng trong trình tự cảm nhận lại có một ý nghĩa nào len vào bất chợt những liên tưởng. Có người cho rằng những từ ngữ như thủ dâm thượng đế, giao cấu mặt trời, mặt trời có thai... tạo ra cảm giác tức thì với hình tượng có hơi dung tục ấy. Đó là một cảm nhận. Nhưng, ngay ở thời điểm bây giờ, đọc lại câu thơ, chúng ta vẫn có thể bắt gặp được nét khai phá một cách rõ ràng. Thơ là một cái gì, khác thường lắm, có lúc rất gần cận cuộc sống mà có lúc lại xa nghìn trùng…

Tôi nhớ có lần nhà thơ Phạm Công Thiện nói chuyện với tôi về kinh nghiệm đọc thơ của ông. Lúc ấy, đêm đã khuya và ông có ngôn ngữ của một Lưu Linh đang trong cơn đồng thiếp. Ông đọc thơ Pháp, thơ Anh, thơ La tinh, thơ Việt Nam tiền chiến và hiện đại. Đọc xong rồi bình, hình như văn chương đã lôi ông vào một cơn mộng.

Nói về kinh nghiệm để có thể tiếp cận với thơ, ông đọc một bài thơ thật nhiều lần và sau mỗi lần đọc như thế đều tìm ra những cảm nhận khác nhau. Cảm nhận ấy bắt nguồn từ giây phút rất thiêng liêng để con người bắt gặp được những sáng ngời lộng lẫy. Sự kiện ấy James Joyce đã gọi là “a sudden spiritual manifestation” (biểu hiện tâm linh bất ngờ) hay “epiphany” (sự linh hiện). Tương tự, như Xuân Diệu : “phất phơ hồn của bông hường / trong hơi phiêu bạc còn vương máu hồng / nghe chừng gió thoáng qua song... “ đó, chính là hồn của thơ, của những giây phút linh hiện mà chỉ có những người tài tử cảm nhận được.

Ở Phạm công Thiện, cái chất thơ đã thành nét đặc thù tinh tế cho văn chương ông. Viết khảo luận, ông mang cái kiến thức rộng lớn tích tụ từ sách vở cùng với hồn thơ để thành những bước đi lãng mạn vượt qua những khô khan câu thúc. Là một triết gia, cái nhận thức để thành những trang giấy cũng có chút thi ca bồng bềnh vào để thành một triết gia thi sĩ. Cái chất lãng tử trong văn chương là một nét thấy rõ. Phạm Công Thiện viết :
“… tất cả đời sống văn xuôi tẻ nhạt, những công thức, những danh vọng, những khuôn mòn lối cũ, những địa vị xã hội, những mẫu mực khuôn xếp đã thụt lùi ra đằng sau, chỉ còn lại nước chảy của dòng sông và mây chiều của đại dương: mây ở trên cao trôi dưới dòng nước rong rêu của khe biển nhỏ. Thi nhân từ bỏ tất cả lại đằng sau lưng và bước tới trước băng qua cây cầu gỗ mong manh…”

Viết về thơ Seamus Heaney, nhưng trong dòng chữ có cảm khái riêng của một người mà thi ca đã thành máu xương da thịt cho đời sống. Viết những cuốn sách triết học giữa hồn thơ lai láng, cũng giống như viết những trang tùy bút mà chữ nghĩa đã thành những trân trọng nâng niu nhất. Cầm cây bút trong trạng thái tuy phong trần từng trải nhưng vẫn còn sót nét ngây thơ của một người tin tưởng vào những điều nghĩ rằng cần phải tìm kiếm được bằng suy tưởng. Với đời thường, ông sống như lạc lõng bất kể. Nhưng với văn chương, ông là người tinh tế và có can đảm rủ bỏ tất cả để đi lại những bước khởi đầu.

Nhà thơ Nguyên Sa đã có bài thơ vẽ lại chân dung của một nhà thơ tiêu biểu cho một phong cách sống đặc biệt của một người cũng đặc biệt trong một thời kỳ văn học mà sự khao khát những phương trời mới những vóc dáng mới đã thành động lực mạnh mẽ cho sáng tạo. Bài thơ “Nói chuyện phải quấy với Phạm Công Thiện:

“Người vào tịnh thất sống ba năm
cất tiếng không lời để nói năng
buổi sáng thinh không chiều tới chậm
tiền kiếp chen vô cạnh chỗ nằm
Ta muốn cùng người một tối nay
Đầu sông uống rượu cuối sông say
Người từ trên núi ta từ biển
Từ giấc mơ nào đã tới đây
Dưới bóng tường im, giữa nhạc không
Đời như phía trước bỗng mông lung
Thơ như hữu thể mà vô thể
Có cũng xong mà không cũng xong
Sáng dậy ta nhìn tục lụy ta
Những đi không tới đến không ngờ
Xóa luôn thì dứt nhưng tâm thức
Kinh Pháp Hoa nào dậy cách xa?
Trong chín ngàn âm có hải triều
Còn thêm một kiếp nữa phiêu lưu
Này người bỏ sóng sang thuyền tĩnh
Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu…”

Nhưng không phải tất cả thơ ông chỉ chuyên chở ý tưởng. Mà, còn chuyên chở cảm giác nữa. Thơ để mang tới những giây phút linh hiện, để người đọc thơ và làm thơ một giây phút tình cờ nào đó gặp nhau trong giao thoa cảm xúc. Có một bài thơ trong tập thơ mỏng về số trang nhưng dầy về ý tưởng, Ngày sanh của rắn, VIII, có những hình ảnh nối liền nhau để thành một chuỗi sinh động liên tưởng luôn biến dịch. Gió, như một cuộc hành trình đi qua đồi tây, đồi đông, đi qua những chặng thời gian tưởng ngắn như một sát na nhưng dài vô tận. Thế mà, trong cái lãng đãng tâm thức ấy, ngôn ngữ nhẹ nhàng như một hồi tưởng để níu kéo cảm nhận của người đọc trong một cảnh giới mơ hồ :

“Mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây
Gió thổi đồi tây hay đồi đông
Hiu hắt quê hương bến cỏ bồng
Trong mơ em vẫn còn bên cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông
Gió thổi đồi thu qua đồi thông
Mưa hạ ly hương nước ngược dòng
Tôi đau trong tiếng gà xơ xác
Một sớm bông hồng nở cửa đông”

Với suy nghĩ của tôi, Phạm công Thiện là một thi sĩ nghệ sĩ. Klhông phải là cung cách một phù thủy chữ nghĩa hoa tay bùa chú vào hư vô để thành một văn phong khúc mắc khó hiểu. Mà, là một người ôm tất cả những rộng khắp vào lòng và đi vòng quanh để tìm chân lý. Cái tâm thức vốn tịch lặng của một người thâm cứu Phật Giáo pha trộn vào ý thức muốn nổi loạn phá bỏ cung cách cũ khiến văn chương trở thành một hành trình của một người luôn xông tới đằng trước và không dừng lại. Trong đời sống, phong cách du tử, làm những điều mình thích khiến ông thành một người luôn thấy đêm ngày là hoang vu...

Trần Tuấn Kiệt trong một bài viết trong “Tác Giả Tác Phẩm“, xuất bản cách nay gần bốn chục năm, cũng nói về chân dung người thi sĩ rất mực nghệ sĩ này:
“Sinh ngày 1-6-1941 tại Mỹ Tho. Trong gia đình, Thiện là người anh cả “Người anh không giúp ích gì được cho gia đình, nhìn thấy mọi người cha mẹ em út đang lâm vào cảnh sa sút túng bấn. Mà mình thì lận đận lao đao chẳng giúp ích được gì.”

Đó cũng là một lý do, khiến có lúc Thiện bỏ đi tu ngoài Nha Trang. Thiện đã có lần cùng chúng tôi đem bán từng va ly “Anh Ngữ Tinh Âm” của anh soạn để lấy tiền ăn bánh mì trong những lúc đói rách nhất. Mặc dầu lúc đó báo Phổ thông và Dân ta của Nguyễn Vỹ bán chạy, lương của Thiện trên mười lăm ngàn (bằng khoảng 150 ngàn đồng bây giờ mỗi tháng) tiền lãnh ra, Thiện đem uống rượu say rồi gọi tất cả đám trẻ nít đánh giày, các bọn bán báo nghèo đói lại phân phát tất cả cho chúng trong một khắc đã hết sạch. Qua ngày hôm sau, kiếm lại vài chục uống cà phê là sự thường…”

Có người cho ông là thần đồng, soạn “Anh Ngữ Tinh Âm“ lúc 16 tuổi. Có người cho ông là một triết gia, tư tưởng gia luôn luôn vật vã với suy tư. Có người cho ông có hiểu biết rộng, thông hiểu nhiều ngoại ngữ. Có người cho ông là một người đọc sách chuyên cần với óc thông minh và nhớ lâu không quên. Cũng như có người gọi ông là lãng tử, là một người thích gì làm nấy và luôn miệt mài trên con đường độc hành tìm kiếm những điều bất khả trong cuộc sống…

Với tôi, ông là một thi sĩ và là người viết về thi ca mà tôi yêu thích. Dù, ông “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” để tìm “ý thức mới trong văn nghệ và triết học“ qua “hố thẳm của tư tưởng“ để “im lặng hố thẳm“ và, cứ thế hành trình…
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »


Image

Chỉ còn là dư âm

Trần Việt Trình

(Danlambao) - Ông đã sắp đi hết một hành trình của kiếp người, cái còn lại an ủi ông phải chăng là những bài hát, những người yêu nhạc ông. “Không có thứ gì cả. Một đống tài liệu, các bài hát này với thời gian sẽ mất đi. Giờ ít người hát nhạc của tôi lắm, họ tội gì hát mãi những bài ca cũ. Những bài hát này chỉ là những dư âm còn lại”. Ông đã chọn và đổi hướng đi theo con đường sác tác chỉ đạo, nên đã không cống hiến được cho đời những bản nhạc để đời về sau, cũng như không lưu danh với đời tiếng bất khuất, khẳng khái, như những người bạn văn nghệ đồng thời của ông lúc trước như Hữu Loan, Phùng Quán, Hoàng Cầm...


Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ
Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ
Mái tóc nhẹ rung, trăng vờn làn gió
Yêu ai anh nắn cung đàn đầy vơi đôi mắt xa vời

Trên đây là 4 câu mở đầu của một bài hát mà chỉ cần chớm hát lên ai cũng biết đó là bài Dư Âm. Bài hát do nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sáng tác vào năm 1950.

Nhắc đến nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, ai cũng nhớ ngay đến ca khúc Dư Âm nổi tiếng đã in đậm trong lòng nhiều thế hệ yêu nhạc Việt Nam.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sanh ngày 5 tháng 3 năm 1925. Là một nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam, ông có nhiều sáng tác từ dòng nhạc tiền chiến đến dân ca, đến những ca khúc nhạc đỏ.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sinh tại Vinh, Nghệ An, quê gốc ở xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Ông đến với âm nhạc không ngẫu nhiên mà nhờ chút năng khiếu bẩm sinh cùng với sự dìu dắt của nhiều người. Người đầu tiên mà ông chịu nhiều ảnh hưởng là cha của ông. Cha ông là một nghệ sĩ khá nổi tiếng thời bấy giờ, cầm đầu một phường bát âm ở miền quê Vĩnh Phú, thông thạo nhiều thứ như bát âm, chèo, chầu văn và hát ả đào. Người thứ hai là một ông đội kèn khố xanh dạy nhạc lý cho ông. Người thứ ba là một bà giáo người Pháp tên Nigon dạy cho ông những bài hát của Tino Rossi đang thịnh hành thời đó. Người thứ tư là một ông cha cố người Tây Ban Nha tên Bresson, cho ông vào dàn nhạc nhà thờ hát thánh ca, ở đó ông được dạy hòa âm và hát bè. Người thứ năm là một thầy dạy nhạc người Hoa tên Mạnh Hinh dạy cho ông chơi đàn guitar. Năm người này là những vị thày đã tạo dựng cho ông vốn âm nhạc lúc ban đầu.


Kể từ năm 1944, ông đi hát trong phòng trà ở Vinh để kiếm sống. Năm 1945, cùng với những người bạn thanh niên đầy nhiệt huyết cùng thời, ông tham gia phong trào Việt Minh. Ông sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên Cứu quốc Nghệ An. Ông bắt đầu sáng tác vào năm 1947 khi là Trưởng phòng Thông tin tuyên truyền huyện Thanh Chương.

Năm 1948, Nguyễn Văn Tý sinh hoạt ở đoàn văn hóa tiền tuyến thuộc cục Quân huấn. Năm 1950, ông nhận nhiệm vụ đi xây dựng Đoàn Văn công của Sư đoàn 304 và được cử làm trưởng đoàn.

Năm 1949, lúc ông ở vào tuổi 26, trong một chuyến đi công tác về Quỳnh Lưu, qua sự giới thiệu của một người bạn, ông ghé thăm một gia đình có hai người con gái. Cô chị lúc ấy 22 tuổi, còn cô em 16 tuổi. Ông quen với cô chị. Trong một lần ngồi nói chuyện với cô chị, bất ngờ ông bắt gặp đôi mắt lay láy của cô em đứng tì tay lên vai chị nhìn ông không chớp mắt. Đôi mắt ấy đã làm cho ông rung động. Cảm nhận được ông thích em mình mà không thích mình, cô chị đã cấm không cho ông lui tới nhà nữa. Một đêm trăng sáng, lần ghé lại thăm nhà của họ lần cuối cùng, đang ngồi nói chuyện với cô chị ở ngoài sân thì cô em với mái tóc xõa ngang vai, vừa ngồi hong tóc, vừa ôm đàn guitar, hát khe khẽ ở phía xa. Cô bé hát những gì ông không nghe thấy, nhưng hình ảnh của cô gái đó đã theo ông về đơn vị. Ông không còn gặp lại họ nữa, sau lần cuối cùng vào cái đêm trăng sáng ấy.


Cảm xúc trào dâng. Một câu nhạc chợt vang lên trong đầu người nhạc sĩ. Ngay đêm đó, người nhạc sĩ ôm cây guitar, thì thầm hát lên những lời đầu tiên về tình yêu trong mộng ước. “Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ…” phát xuất từ hình ảnh ấy. Ông có cảm giác như có ai đó đang đọc cho ông chép ra những dòng nhạc dạt dào tuôn chảy. Bản nhạc Dư Âm ra đời trong hoàn cảnh đó. Đó là những cảm xúc thật từ một câu chuyện có thật.

Anh yêu tiếng hát êm như lời nguyền đẹp bao ước mơ
Anh như lầu vắng em như ánh trăng reo muôn ý thơ
Muốn nói cùng em đôi lời trìu mến....
Tim anh băng giá đang nhại ngùng câu năm tháng mong chờ

Hẹn em từ muôn kiếp trước
Nhớ em mấy thuở bạc đầu
Anh đã âu sầu vì đường tơ vương vấn
Em để cung đàn đưa anh về đâu?


Dư âm tiếng hát reo lên trong lòng anh bao nhớ nhung
Đê mê lòng nhớ đêm qua giấc mơ môi em hé rung
Anh muốn thành mây nương nhờ làn gió
Đưa anh tới cõi mơ hồ nào đây muôn kiếp bên nàng.

Tuy tình không tới, nhưng người nghệ sĩ lại để lại cho đời một tác phẩm để đời, và rồi ca khúc Dư Âm đã làm nổi danh cái tên Nguyễn Văn Tý từ đó.

Cái “vô duyên đối diện bất tương phùng” ấy lại là một tai họa cho người nhạc sĩ trẻ này. Ba năm sau trong một cuộc chỉnh huấn, Dư Âm được xem là một “dị phẩm”, bị đưa ra kiểm điểm.

Nắm giữ cương vị văn hóa tuyên truyền quan trọng như vậy mà ông lại sáng tác bài hát Dư Âm nổi tiếng quá, nhiều người biết quá, và ủy mị quá. Thế là ông bị phê bình, bị kiểm điểm và bị kỷ luật. Không chỉ bị kỷ luật, kiểm thảo mà ông còn phải đi khắp nơi để chỉ trích chính bài hát mà ông đã sáng tác. Ông thổ lộ “Tôi có đi, nhưng nói không được, vì nói tới đâu người ta lại cười đến đó”.

Sự kiện bị kiểm thảo này làm cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý choáng váng, bởi nó xảy ra không bao lâu sau lễ thành hôn của ông với ca sĩ Bạch Lê, em gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Niềm vui tân hôn chưa kịp thỏa thì một không khí u ám bao trùm với những câu hỏi dồn ép người nhạc sĩ, rằng vì sao bài hát Dư Âm lại được phổ biến ở “vùng bị địch tạm chiếm”, rằng nhạc sĩ đã nhận được gì của kẻ địch trả công cho?

Dư Âm tuy bị cấm ở miền Bắc trong những năm chiến tranh, trong vùng kháng chiến, nhưng lại rất nổi tiếng và được phổ biến nhiều ở miền Nam trước năm 1975. Trong những năm tháng ấy, nó được sử dụng sâu rộng trong đời sống và nhất là tầng lớp “tiểu tư sản” và học sinh sinh viên miền Nam. Bài hát này cũng đã được lồng trong phim “Kiếp hoa” chiếu ở vùng tự do. Về sau, ca khúc được lưu hành rộng rãi, trở thành một trong những bản tình ca được nhiều người yêu thích. Sau này, năm 1988, ông có viết thêm bài “Dư âm 2” mang tên “Một ánh sao trời” nhưng không được đón nhận nồng nhiệt như bài trước, không để lại chút dư âm nào.

Sau nhiều lần làm kiểm thảo, mọi chuyện vẫn cứ giằng co, rồi bị đào bới mãi làm cho người nhạc sĩ mệt mỏi, tuyệt vọng. Ông đành phó mặc cho số phận dun rủi, và xác quyết sẵn sàng chịu bị trừng phạt nếu có chứng cứ xác đáng. Một thời gian sau, có lẻ do không tìm ra bằng cớ gì rõ ràng để xử kỷ luật, cấp lãnh đạo thông qua bản kiểm điểm thành khẩn của ông. Nhưng rắc rối đến đó vẫn chưa kết thúc.

Năm 1955-1956, phong trào văn nghệ sĩ miền Bắc bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Dư Âm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý không còn là dư âm nữa mà lại một lần nữa gặp rắc rối. Đứa con tinh thần mang tên Dư Âm của ông lại bị đưa lên bàn mổ khi có người đưa tin cha của nó là một thành viên của Nhân Văn Giai Phẩm.

Số là tên ông xuất hiện trong ban biên tập của tạp chí Nhân Văn. Ông cãi chày cãi cối là do nhà thơ Đặng Đình Hưng vì quen biết và yêu mến nhau từ trước tự đưa tên ông vào mà không cho ông biết. Tình ngay ý gian hay tình gian ý gian không ai biết. Chỉ biết một điều là tên ông nằm chình ình ra đó, trên giấy trắng mực đen, làm sao giải thích? Người cộng sản đa nghi, không có còn buộc thành có, huống hồ là có! Ông cãi không lại. Rồi ông bị đưa ra kiểm điểm ở đình Ngọc Hà trước hàng trăm người. Lẽ dĩ nhiên, đó là sức ép buộc ông phải tự nguyện rút chân ra khỏi ban chấp hành Hội Nhạc sĩ ngay từ khóa đầu tiên.

Một điều đáng chú ý là lúc đó, năm 1957, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đang là một trong 5 người (Nguyễn Văn Tý, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước và Văn Cao) được cử ra thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Lẽ tất nhiên là họ không hề quan tâm đến những thành tựu mà người nhạc sĩ đạt được, sau 4 năm phấn đấu, và sau lần chỉnh đốn tư tưởng trước đó.

Sau đó, dầu cho những người có trách nhiệm về chuyện oan trái này lên tiếng biện bạch cho ông, ông vẫn bị cho là có lập trường tư tưởng sai lầm.

Nguyễn Văn Tý không can trường như Hữu Loan “Tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được!”. Ông cũng không được khẳng khái như Phùng Quán “Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét”. Ông chấp nhận chỉnh đốn bằng chuyến “đi thực tế”, thực chất là đi đày, lên Điện Biên Phủ 6 tháng liền, năm 1958. Bài “Tiếng hát bản Mèo” ra đời vào năm đó, nó đã mở đầu cho một cung cách sáng tác về đề tài xây dựng xã hội mới của ông.

Tuy vậy, sau đó ông vẫn gần như bị vô hiệu hóa, phải ngồi một chỗ làm những chuyện không đâu vào đâu như dịch sách âm nhạc. Mãi tới bốn năm sau ông mới được thoát khỏi bốn bức tường. Đế đánh đổi sự kềm kẹp ấy ông phải chịu đi đày ở Hưng Yên thêm một thời gian nữa dưới mỹ từ “đi thực tế”, theo chủ trương của cấp trên.

Theo lời khuyên của Lưu Hữu Phước, để khỏi bị chiếu cố, Nguyễn Văn Tý tránh né nhạc vàng, nhạc “ủy mị” để đổi hẳn sang lãnh vực nhạc dân ca, nhạc đỏ.

Trong 5 năm, từ 1962 đến 1967, ông đã lăn lộn với thực tế trên đồng ruộng để rồi cho ra đời những ca khúc đỏ như: “Chim hót trên cánh đồng đay”(1963), “Tiễn anh lên đường” (1964), “Múa hát mừng chiến công” (1966), “Bài ca năm tấn” (1967), …

Có thể nói, ông đã bỏ lại sau lưng dư âm một thời vang bóng và tạo nên một loạt những dấu ấn khác. Nguyễn Văn Tý đã lột xác, ông đã vẽ lên một chân dung âm nhạc mới, một gắn bó với cuộc sống đồng quê, một sức mạnh âm nhạc lạc quan cho quê hương đất nước.

Sau này trở về Hà Nội, ông vẫn sáng tác những ca khúc thấm đẫm chất dân ca với những giai điệu ngọt ngào như “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa” (1973) hay “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh” (1974). Thời điểm này, cái tên Nguyễn Văn Tý nổi lên như một ngôi sao tiên phong trong việc sáng tác âm nhạc dân gian, với những đề tài mới.

Sự nghiệp của ông sau đó được tôn vinh bởi Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học và nghệ thuật năm 2000 với những ca khúc “Mẹ yêu con”, “Vượt trùng dương”, “Bài ca năm tấn”, “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa”, “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh” và “Dáng đứng Bến Tre”. Trong cuộc đời hoạt động âm nhạc của ông sau đó, ông còn giành được một số giải thưởng khác.

Cuối cùng rồi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cũng xuôi Nam. Vào Sài Gòn năm 1976 và định cư ở đó từ đó đến nay.

Phong cách sáng tác của ông vẫn vậy. Những ca khúc của ông hậu 75 chuyên viết về quê hương, toàn là thể loại dân ca, nhạc đỏ và có tính tuyên truyền gồm những ca khúc như: “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ” (1976), “Dáng đứng Bến Tre” (1980), “Về Thuận Hải” (1984), “Hát về thành phố biển dầu” (1984), …

Sài Gòn mê hoặc bước chân người nhạc sĩ. Nhưng khi nắng chiều của đời người đã chênh vênh, ông như bị bật ra khỏi chốn phồn hoa đô hội ồn ào náo nhiệt ấy. Cha mất, mẹ mất, vợ mất rồi con mất. Nỗi đau chồng chất khiến ông gần muốn ngã quỵ. Hai lần bị tai biến đã khiến ông bị liệt nửa người, gần như chỉ nằm một chỗ. Ngày ông phải uống hai liều thuốc hạ huyết áp và đủ loại thuốc men cho tuổi già.

Căn nhà của người nhạc sĩ về chiều nằm trên đường Trần Khắc Chân, quận 1, trong một con hẻm ồn ào. Căn nhà giờ lẻ bóng, lạnh lẽo. Ngoài kia song cửa là thế giới ồn ào, đông đúc, trong này là bốn bức tường cô độc, u hoài. Cho nên ông thèm lắm, ông thèm tiếng người. Trong lúc nhà ai lúc nào cũng cửa đóng then cài để tránh những âm thanh chát chúa xô bồ thì các cánh cửa nhà ông đều mở toang như để đón nó. Trong nhà, cái tivi lúc nào cũng mở. Dù rằng âm thanh ấy không dành cho riêng ông, ông vẫn dựa vào nó như một niềm an ủi, để bớt lẻ loi. Ông tâm tình: “Hết nằm lại ngồi. Hết xem tivi lại đọc báo để giết thời gian. Nhưng rồi ngày nào cũng thế nên chán lắm, buồn lắm”.

Đã lâu rồi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý không còn sáng tác nữa. Nốt nhạc thỉnh thoảng vẫn bật ra trong đầu nhưng bệnh tật tuổi già khiến ông chỉ còn luyến tiếc. Bên góc giường, cây đàn organ cũ kỹ vẫn nằm im ỉm. Trên vách tường, cây đàn tì bà pha màu thời gian vẫn nằm im ỉm. Cũng trên vách tường, bản nhạc Dư Âm được đóng khung treo trang trọng.
Image
Ngày nay, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, người nhạc sĩ với tuyệt phẩm Dư Âm làm mê đắm nhân gian, đã ở vào tuổi 87. Một đời làm nên tác phẩm đi vào lòng người, lúc cuối chiều, ông muốn neo mình giữa cuộc đời này. Thế nên, cứ chiều chiều, bên cạnh cái tivi không ngừng tiếng, người ta thấy có một nhạc sĩ già ngồi lặng lẽ trên bộ ghế cũ kỹ, đôi mắt vẫn ngóng qua song cửa như chờ đợi, nhớ nhung một điều gì. Có cái gì đó bẽ bàng, đắng ngắt đằng sau sự cô đơn, lẻ loi, buồn chán....

Trong thời gian thập niên 1990 ông vẫn sáng tác, khoảng hơn 20 bài, nhưng không có ca khúc nào nổi tiếng.

Đôi lúc chợt nghĩ lại những gian truân, trải qua trong những chuyến đi thực tế, ông tự rèn luyện ông trên con đường nghệ thuật, ông thay đổi phong cách sáng tác để hòa nhập, không ai biết được ông nghĩ gì về số phận đã đẩy ông dấn thân vào con đường sáng tác đó. Đó là sự dâng hiến cho sự nghiệp âm nhạc cách mạng của ông.

Như vậy ông đã sống gần nửa đời ông ở đất Sài Gòn. Sống giữa thành phố ồn ào náo nhiệt nhưng người nhạc sĩ thố lộ ông cảm thấy mình chưa hề hòa nhập với nó. “Với một người luôn giữ những cái cũ như tôi, ở thành phố này có nhiều khoảng trống lắm”, giọng ông buồn bã.

Giờ đây, ở vào cái tuổi gần cửu thập cổ lai hy, sau mười năm cam chịu với bệnh tật và nỗi buồn chia xa sau khi người vợ yêu quý của ông qua đời, ông sống lẻ loi một mình trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ. Hằng đêm, ông đếm từng canh giờ, lắng nghe những chuyển động trong tâm hồn ông với bao ký ức tràn về. Canh một, canh hai, canh ba,... Những dư âm cuộc đời bỗng ngân vang trong tâm tưởng ông. Ông thầm hát lại bài ca cũ, với âm thanh trầm buồn, sưởi ấm những đêm buồn bã, cô đơn.

Ông đã sắp đi hết một hành trình của kiếp người, cái còn lại an ủi ông phải chăng là những bài hát, những người yêu nhạc ông. Những tưởng đối với nghệ sĩ, đó là điều quý nhất. Nhưng không. Ông buồn bã tâm sự: “Không có thứ gì cả. Một đống tài liệu, các bài hát này với thời gian sẽ mất đi. Giờ ít người hát nhạc của tôi lắm, họ tội gì hát mãi những bài ca cũ. Những bài hát này chỉ là những dư âm còn lại”.

Đúng vậy. Những bài hát chỉ là những dư âm còn lại. Tiếc rằng Nguyễn Văn Tý ngày trước đã “lầm đường lạc lối”, ông đã chọn và đổi hướng đi theo con đường sác tác chỉ đạo, nên đã không cống hiến được cho đời những bản nhạc để đời về sau, cũng như không lưu danh với đời tiếng bất khuất, khẳng khái, như những người bạn văn nghệ đồng thời của ông lúc trước như Hữu Loan, Phùng Quán, Hoàng Cầm,...

Dư Âm chỉ còn là dư âm. Tiếc thay!

9 tháng 10 năm 2012
Trần Việt Trình
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Khánh Ly: Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…
Gần đây dư luận bỗng nhiên xôn xao về sự kiện Khánh Ly mới được csvn “cấp giấy phép” cho về hát tại Việt Nam (Hà nội, Đà nẵng và Sài gòn) trong 2 tháng cuối năm 2012.

Các bài viết dài có ngắn có, các nhận định “Pro and Con” gởi tới các diễn đàn Việt ngữ một mặt thì bênh vực Khánh Ly, mặt khác tấn công Khánh Ly tới tấp. Mỗi ngày, từ đời tư (KL có mấy đời chồng, mấy con), đến tư cách (KL xù “show,” đòi tăng “cát-xê” vào phút chót) rồi quan điểm chính trị nồi chõ (KL về Việt Nam thì nói tốt cho cs, về Mỹ thì đả kích cs…) được triễn lãm miễn phí hàng loạt loại chuyện dài nhân dân tự vệ. Dân trên mạng đọc đến muốn ngán chè đậu luôn…

Để cho quý đọc giả ngán thêm một chút (!) Người viết xin liệng thêm một cục đá xanh rất xấu xí vào cái đống xà bần đang còn nóng này; Nhưng đặc biệt (?) lần này, có kèm theo cái nhìn riêng của một người gọi là có chút duyên được quen biết mợ Khánh Ly (nếu quý vị, muốn chưởi tui là “Ôi thôi. Lại ba cái vụ ‘thấy người sang bắt quàng làm họ,’ ” thì cũng đành chịu. Chẳng có chết thằng Tây nào!) lúc Khánh Ly còn nghèo rớt mồng tơi; chân ướt chân ráo, những ngày đầu tiên năm 1976, đến định cư ở Los Angeles từ Miami, Florida.

Đời sống của những ngày đầu trên đất tạm dung, Khánh Ly cũng như mọi người Việt tị nạn khác, không có cái gì là “huy hoàng,” là “diễm lệ” hết ráo. Người viết, một tay nghề rửa chén “full time,” sau giờ rửa chén, hưởn có dịp đôi ba lần tháp tùng ông anh họ của tôi đến thăm bà chị Khánh Ly (KL hơn tôi 5 tuổi) đang sống ở một cái “apartment” rất khiêm nhường một phòng ngủ nằm ngay giữa khu người Mễ nghèo ở Los Angeles. Những lúc như vậy, Khánh Ly tự than thở rất tự nhiên với tụi tui: “Bây giờ chị là ‘nữ hoàng eo-phe’ chứ không còn là ‘nữ hoàng chân đất’ nữa!” Khánh Ly đã có chỉ cho tôi xem một lô băng “cassettes” chất đống trong góc phòng ngủ do chính tay Khánh Ly mới vừa tự “sản xuất” với tiếng hát của “Nữ Hoàng eo-phe” cùng độc nhất tiếng đệm đàn “guitar” thùng bình bịch của Bác sĩ Billy Trung. Băng “cassettes” được thu với kỹ thuật trùm mềm và sang ra thành nhiều bản bằng tay cũng ngay “trên căn gác đìu hiu, chiều chủ nhật buồn” ọp a ọp ẹp này. Khánh Ly nhờ các chợ Việt, lúc đó năm 1976, cũng nhỏ xíu rất khiêm nhường của người Việt gốc Hoa ở Chinatown bán dùm để kiếm thêm chút tiền còm nuôi 3 đứa con thơ.

Về nhu cầu cần di chuyển loanh quanh vùng Los Angeles, San Diego, vì Khánh Ly không (chưa) biết lái xe cho nên Khánh Ly và các con phải nhờ các ông Nam Lộc, Jo Marcel, hoặc ông anh của tôi giúp cho một tay… Ông anh tôi độc thân tại chỗ loại “tứ cố vô thân tứ bề nhão nhéc” giống y như hoàn cảnh của tôi, mỗi lần chở Khánh Ly đi loanh quanh như vậy thường kéo tôi theo cho nó có số đông an toàn hơn… Thành ra tôi có cái duyên thỉnh thoảng nói chuyện trời ơi đất hỡi vô thưởng vô phạt với Khánh Ly… Cho đến khi Khánh Ly gặp Nguyễn Hoàng Đoan ở San Diego thì cái duyên lảng xẹc “thấy người sang bắt quàng làm họ” này như cánh vạc bay… Thật ra phải noái thêm một tí ở đây cho nó trọn phim bộ là nhờ sự quen biết “nhớn” với Khánh Ly từ trước này mà văn hào “Con ma vú dài” Nguyễn Hoàng Đoan, nguyên chủ báo Hồn Việt lúc bấy giờ, ban cho một “dốp” khiêm nhường nhưng có cái “tittle” dài lòng thòng nghe phát nản là “chuyên dziên xếp báo, dán nhãn, đóng bao bì, vác ra bưu điện part-time…” Sự nghiệp “xếp báo part-time” không có gì là vinh quang này rồi cũng lại phải theo cánh vịt quay luôn vì văn hào “ma vú dài” nhà ta cứ quên trả tiền công dù chỉ là tiền dưới lương tối thiểu hoài à… (Ậy! Alzheimer's Disease ở tuổi 30’s)

Trở lại vấn đề Khánh ly về Việt Nam. Trước khi nói chuyện “Khánh Ly về hay không về?” tôi đã đọc kỹ lại bản chính của cái gọi là “Giấy Chấp Thuận” số 691 từ Hòn (Cục) Nghệ Thuật Biểu Diễn - thuộc Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch của chính quyền csvn – ký tên đóng dấu son hẳn hòi rất long trọng đề ngày 24 tháng 9 năm 2012 của đồng chí Hòn trưởng Vương Duy Biên cho phép Khánh Ly về hát ở Việt Nam từ ngày 25 tháng 9 năm 2012 đến ngày 31 tháng 12 năm 2012; thì thấy rất rõ ràng một điều quan trọng là Khánh Ly đã nhờ Công ty Giải trí Đồng Dao (của cai thầu văn nghệ Nguyễn Ngọc Sơn ở Sài gòn) xin phép dùm. Bởi vì tờ giấy chấp thuận này có ghi rõ số thẻ thông hành Hoa kỳ (US Passport) của Khánh ly (số 460761186)… Theo bộ luật rất lẩm cẩm “con gà và quả trứng (nguyên nhân / hậu quả)” - Mỹ họ gọi là “cause and effect” - là nếu Khánh Ly tuyệt nhiên không có ý muốn về Việt Nam trình diễn thì không bao giờ có cái “Giấy Chấp Thuận” mắc dịch mắc gió này được ban hành ban tỏi làm quái gì cho nó làm lạc hướng các cao trào chống đối của dân chúng về bản án 26 năm tù đối với 3 “bloggers” với tội tày trời “chống phá đảng và nhà nước xhcn…”

Như vậy vấn đề ở đây thật ra cũng đơn giản thôi, không phải chuyện to tát loại mù sờ chân voi. Nói cách khác, không có gì là khó hiểu mà phải võ đoán. Cái chiệng đã đưa đến mọi sự bàn cãi bình loạn, thanh minh rồi thanh nga, phỏng vấn tới phỏng vấn lui… đã có một “chân lý” khá rõ không cần phải tốn thêm hơi thêm bia:

“Khánh Ly thật sự muốn đi về Việt Nam trình diễn…”
(Ái chà! “… nhưng sao đi mà không bảo gì nhau?” – Nguyên Sa)

Bây giờ là tuần lễ thứ hai của tháng 10/2012. Khánh Ly còn 1-2 tháng để tính chuyện phải quấy hoặc sửa soạn hành lý, Khánh Ly có vài lựa chọn loại “make or break” mà tôi lần lượt đề nghị ở phần dưới đây để mợ Khánh Ly, nếu hưởn, xem lại.

Thương nữ bất tri vong quốc hận

Câu thơ “bất hủ” này, gần đây được dư luận phần lớn nóng tính gắn liền nó với sự nghiệp cầm ca của Khánh Ly. Chúng như hai miếng Velcro cứ dính chặt vào nhau. Riêng cá nhân tôi, tôi thấy Khánh Ly không (chưa) đến nỗi là loại “thương nữ” thường tình như cái ý (xấu) của nó.

Như mọi người đều biết, Khánh Ly có liên hệ mật thiết với tên cộng sản Trịnh Công Sơn; nhưng trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, Khánh Ly, là dân bắc kỳ di cư 54, đã can đảm và sáng suốt hơn TCS rất nhiều, quyết định không ở lại để làm thân “thương nữ 30 tháng 4” dang tay “nối vòng tay nhỏ” với TCS. Đến chiều 29-4-1975, Khánh Ly sau khi mất lien lạc với chồng (?) là Trung Tá Đỗ Hữu Tùng TĐ6 TQLC (có cả tin đã tử trận) từ Đà nẵng, đã quyết định bỏ tất cả của cải, tài sản rất lớn đem 3 đứa con rời quê hương; mặc dù Khánh Ly không biết trong một bối cảnh hoàn toàn xa lạ sắp đưa đến, tương lai, sự sống của mình và các con sẽ đi về đâu? Không biết mình còn có cơ hội tiếp tục con đường nghệ thuật hay không?

Đời sống mới trên đất tạm dung, từ con số không sát mặt đất, Khánh Ly cũng như mọi tầng lớp người Việt tị nạn cs khác, làm mọi việc tay chân để bắt đầu gầy dựng lại từ đầu. Khi đời sống của dân Việt tị nạn cs tạm ổn định, khi nhu cầu nghe nhạc Việt bắt đầu lên cao, Khánh Ly với vốn liếng sẵn có là giọng hát rất lôi cuốn và tên tuổi đã được biết đến, ưa chuộng từ trước 1975, đã thành công rất lớn cả về mặt nghệ thuật lẫn tài chánh…

Mặc dù đã có “Cách giang” về Việt Nam hai lần (1997 và 2000) với mục đích để thăm gia đình (?), Khánh Ly có lần tuyên bố này nọ với truyền thông cs với giọng điệu hàng hai muốn hiểu sao thì hiểu để không mất lòng giới chức cs (tuy có làm mất lòng một số người quốc gia ở hải ngoại!) nhưng ít nhất, Khánh Ly chưa có “xướng Hậu đình hoa” gì với cs trong nước (cũng có nghĩa là chưa hát “show” nào cho cs nghe) như các trường hợp rất ngán ngẩm, ê chề, vô liêm sỉ của đám thợ hót Hương Lan, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, Ý Lan…

Riêng về trường hợp Khánh Ly đã “xướng Hậu đình hoa” với đám viên chức từ tòa lãnh sự csvn tại San Francisco (?) cùng với Nguyễn Cao Kỳ Duyên, cha con Tô Văn Lai của trung tâm Thúy Nga gần đây, trong một buổi tiệc Giáng Sinh năm 2009 tại Huntington Beach, California (Một buổi tiệc do một số công ty có quan hệ làm ăn với chính quyền Việt Nam tổ chức) thì Khánh Ly trả lời là : “Khánh Ly không thể soát ID’s của từng thính giả ở buổi họp mặt văn nghệ này;” Bình thân tôi vẫn tự xem là người chống cộng tới bến, nhưng lại cho là sự việc chỉ trích “Khánh Ly hát cho cs nghe” ở đây có vẻ hơi khắt khe; vì tôi thấy Khánh Ly trả lời cũng có phần phải: Khánh Ly không phải là người tổ chức buổi tiệc và không có thẩm quyền gì về việc cho (hay không cho) ai tham dự? Quý vị thủ tự đặt mình vào trường hợp tham dự này thì có lẽ thông cảm hơn…

Có con ngựa gỗ thành Troy (Trojan Horse)?

Trong cơ hội “cách giang” cuối năm 2012 lần này, Khánh Ly có một số thử thách quan trọng có một không hai trong cuộc đời Khánh Ly.


1- Về Việt Nam theo sự “chấp thuận” của cs… rồi “biểu diễn” cho những “show” mà cs sẽ “dàn dựng” trước; hát với những bài hát cs chỉ “cho phép;” sẽ nói những câu nói cs đã viết, sắp đặt sẵn. Các “show” sẽ bán vé giá cao đắt tiền chỉ có cán bộ cao cấp và tham nhũng cs mới đủ tiền mua (Ai là người có đủ tiền mua vé 100 - 500 đô la vào nghe Khánh Ly hát? Đồng bào kiếm được dưới 2 đô la một ngày thì moi tiền ở đâu ra để mua vé cỡ bạc trăm vào nghe Khánh Ly hát?) Hát “giúp vui” cho cs cao cấp; chiều theo ý của cs tất nhiên Khánh Ly sẽ hốt được một số bạc rất lớn; đồng thời cs sẽ thích chí gãi háng đồng loạt hót bài “như có boác hồ trong ngày vui…” vì bọn họ đã đạt được mục tiêu tuyên truyền cho chính sách gọi là “cởi mở” bịp bợm… Khi Khánh Ly trở lại Mỹ, Khánh Ly sẽ bị cộng đồng tị nạn phỉ nhổ, tẩy chay, xa lánh (như trường hợp Nguyễn cao cầy trước đây); xem tư cách Khánh Ly không hơn gì tư cách một con điếm: Chỉ vì một mớ đô la; không màng gì đến tình cảnh đất nước, đến sự đau khổ của đồng bào. Đúng y như Đỗ Phủ đời nhà Đường đã mô tả:

“Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang do xướng Hậu đình hoa"

(Tạm dịch là: Kỹ nữ / gái điếm đâu biết hận vì mất nước;
Bên sông vẫn hát Hậu đình hoa – giúp vui cho giặc cướp nước).

Cái hoàn cảnh “xướng Hậu đình hoa” bẽ bàng như vậy sẽ tự nhiên vô hiệu hóa các lời nói giải thích hoa mỹ lơ lửng con cá vàng từ trước tới giờ của Khánh Ly. Nói tóm lại, tất cả sẽ đều là “talking cheap,” sẽ chỉ là ngụy biện. Khánh Ly sẽ tiêu biểu cho một cái “low life” sẵn sàng bán đắt bán rẻ tư cách, lương tâm với mục đích kiếm tiền cho đầy túi. Lúc đó người viết cũng xin đành chào thua, ốt dột; xin nhận lỗi với tất cả quý vị là đã cất công lên tiếng bênh vực cho người bất xứng.

2- Ngược lại, tôi lập lại nếu ngược lại, Khánh ly về Việt Nam theo một cách khác – không phải như lối “thương nữ bất tri vong quốc hận...” Tôi thách thức Khánh Ly là nếu về Việt Nam hát thì Khánh Ly sẽ hát cho đồng bào, cho quê hương nghe; Khánh Ly dám tổ chức những buổi hát ngoài trời miễn phí cho đồng bào, sinh viên, lính bộ đội cũng như lính cựu QLVNCH nghe như những ngày trước năm 1975 không? Và nhất là Khánh Ly sẽ dám gan lỳ hát bài “Gia tài của Mẹ” với lời lẽ hợp tình hợp cảnh như chưa có khi nào tốt hơn:

“Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
một trăm năm đô hộ giặc tây
hai mươi năm nội chiến từng ngày
gia tài của mẹ, để lại cho con
gia tài của mẹ, là nước Việt buồn

Dạy cho con tiếng nói thật thà
mẹ mong con chớ quên màu da
con chớ quên màu da, nước Việt xưa
mẹ mong trông con mau bước về nhà
mẹ mong con lũ con đường xa
ôi lũ con cùng cha, quên hận thù

Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
một trăm năm đô hộ giặc tây
hai mươi năm nội chiến từng ngày
gia tài của mẹ, một bọn lai căng
gia tài của mẹ, một lũ bội tình.”

Nếu được như vậy, Khánh Ly sẽ mãi mãi là một nữ anh thư trong lòng tôi và trong lòng những người dân Việt muốn đánh đổ chế độ toàn trị thối nát csvn. Sau khi từ Việt Nam trở lại Mỹ, Khánh Ly sẽ để lại ở Việt Nam con ngựa gỗ y như dân Hy lạp đã để lại ở thành Troy (trong câu chuyện cổ Hy lạp “Trojan Horse”)… Một ngày không xa các chiến sĩ vô hình trong con ngựa gỗ cũng vô hình này sẽ mở đồng loạt mở tất cả các cánh cửa dân chủ ở Việt Nam để đón các “thế lực thù địch” vào một lượt, đưa trọn nguyên con bầy lũ cs vào ống cống Gaddafi.

3- Một cách nhẹ nhàng tốt đẹp khac mà cũng là giải pháp “Bên ta vô sự; Bên địch chết hết – mặc dù không phải bắn một viên đạn nào!” Đó là Khánh Ly chính thức từ chối cái hòn bố lếu bố láo Biểu diễn Cứt gà của vi-xi theo cái “văn hóa cấp cao” của cs như Tạ Phong Tần vẫn đối thoạai với công an cs là:

“Tổ cha nhà chúng mày. Bà đâu có ngu như lợn mà dẫn xác về đó để cho lũ chúng mày bề hội đồng.”

Bây giờ, còn hai tháng để “tapis” cs ván bài chót… Khánh Ly đang nắm ưu thế, trên đà thắng vì các con cờ then chốt, các câu trả lời đều nằm gọn trong tay Khánh Ly... Má ơi! 67 tuổi rồi còn gì! Đừng để lũ Việt cộng đểu giả lươn lẹo đốt hết những ngày còn lại của đời mình trong chỉ trong một chuyến đi gọi là “được chấp thuận về hót…”

Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…

Trần Văn Giang
Ngày 8 tháng 10 năm 2012
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Tác giả ‘Lệ Ðá’ qua đời, thọ 76 tuổi
Wednesday, October 10, 2012 8:01:37 PM

IRVINE (NV) -Nhạc sĩ Trần Trịnh, tác giả bản nhạc nổi tiếng “Lệ Ðá,” qua đời lúc 5:25 phút chiều ngày 10 Tháng Mười, 2012,
tại bệnh viện UCI, California, thọ 76 tuổi.

Image
Nhạc sĩ Trần Trịnh. (Hình: Trần Đăng Chí. Nguồn: trandangchi.blogspot.com)

Các ca, nhạc sĩ gần gũi với nhạc sĩ Trần Trịnh, đến thăm ông vào những giờ phút cuối cùng, xác nhận tin này.

“Tôi vào thăm nhạc sĩ Trần Trịnh tối Chủ Nhật, lúc đó tôi hỏi ông, nếu ông nhận ra tôi là ai thì xin gật đầu. Nhạc sĩ Trần Trịnh nhẹ gật đầu, tôi biết ông nhận ra tôi.” Ca sĩ Phương Hồng Quế nói với Người Việt.

Ca sĩ Phương Hồng Quế cho biết, cũng trong ngày Chủ Nhật, nghệ sĩ Trần Quốc Bảo đưa ca sĩ Mai Lệ Huyền vào thăm nhạc sĩ Trần Trịnh. “Chúng tôi vào thăm khi nhạc sĩ Trần Trịnh đang ngủ. Chúng tôi hỏi thăm người con trai lớn của ông, rồi dự định nhẹ nhàng ra về để ông nghỉ ngơi. Nhưng ngay lúc chúng tôi vừa bước ra cửa thì ông tỉnh dậy. Thấy chúng tôi, ông vội chồm dậy, như muốn đứng thẳng lên để chào đón chúng tôi.”

Nhạc sĩ Trần Trịnh tên thật Trần Văn Lượng, sinh năm 1937. Ông là tác giả của rất nhiều ca khúc nổi tiếng, như Lệ Ðá (phổ nhạc bài thơ của thi sĩ Hà Huyền Chi), Tiếng Hát Nửa Vời...

Ngoài ra, Trần Trịnh còn có nhiều sáng tác chung với Nhật Ngân, qua bút hiệu chung là Trịnh Lâm Ngân, với các tác phẩm tiêu biểu như Biệt Khúc, Cung Ðàn Muôn Ðiệu, Chuyện Hai Con Sâu Và Chiếc Lá Chết, Biệt Khúc, Câu Chuyện Trong Tuồng... (Ð.T.)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »



Image

Bài Tango Cho Mùa Thu

Nhạc & Lời : Thanh Trang
Tiếng đàn : Thanh Trang


Mùa Thu ngày qua lần theo lối xưa về đây
Như vẫn quen đuờng phố nơi phương này
Từng hàng cây khô chờ Thu vẫn không quên ngày
Hẹn hò cùng nhau cho lá rơi đầy !

Thiết tha cho lòng tìm về nơi chốn xa
Thu về đây khác Thu nơi quê nhà
Thu nơi chốn xưa một thời nay đã qua
Quên hay nhớ theo tháng năm phai nhòa ?

Xa nhau mùa Xuân rộn ràng hoa buớm say
dễ mong khi xum vầy
Xa khi Hè sang ngày dài đêm nhớ chăng ?
Nắng mai đã tràn lan

Chia tay mùa Thu màu trời làm đoái trông
Như cách chia muôn trùng
Xa nhau mùa Thu ngại rồi khi nhớ mong,
nhớ theo qua mùa Đông !
phidao
Posts: 140
Joined: Sun Sep 30, 2012 7:29 am
Contact:

Post by phidao »


Image

Mưa, nhớ mưa, Vũ trung tùy phím (phiếm)

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi...

Có lẽ Đặng Thế Phong cảm xúc từ một cơn mưa thu ở miền bắc mà tôi chưa bao giờ thấy dù đã bao lần qua xứ ấy. Tôi hình dung những giọt mưa của nhạc sĩ hơi to hơn các hạt mưa phùn li ti của mùa đông xuân, đủ để thánh thót ngoài hiên, chứ không lộp độp mái tôn trên ngôi nhà tôi ở Gò Vấp, dù cũng là thu, giữa thu nữa.

Sài Gòn tháng chín là giữa mùa mưa, mưa ầm ầm, rào rạt, ‘mưa thu’ Sài Gòn. Nhưng đôi khi giữa phố xá đông người, tôi lại không cảm thấy cái ầm ầm của nó nữa, mà chỉ ràn rạt tiếng quất trên hàng ngàn chiếc áo mưa giữa dòng đời bon chen. Chỉ ở những nơi hơi hoang vắng như tịnh cốc của tôi ở Thảo Điền, đứng trên balcon mà đón mưa thì mới chìm được trong cái ầm ầm của cơn mưa Sài Gòn.

Ở những con đường hơi xa xa, thời chưa đông người lắm, thì mưa Sài Gòn lại hơi vô duyên ở cái khoảnh khắc sau mưa, khi hàng ngàn ống máng xối đổ nước thẳng xuống đường làm kẻ bộ hành vội vã sau mưa vừa đi vừa tránh, vừa lầm bầm. Mà không phải tại mưa vô duyên, mà bởi những kẻ mới hãnh tiến sống trong các khu nhà đó, cứ lấy cái lợi nhanh chóng của mình làm trọng.

Chính trong cơn mưa Sài Gòn mà ý muốn gột rửa dưới mưa như Krishnamurti trở nên mãnh liệt nhất. Gột rửa như đưa trẻ tôi ngày xưa hớn hở trong cơn mưa dưới mái hiên nhà, không cần xà bông tắm hay dầu gội như con tôi bây giờ sau trận tắm mưa thích chí trên sân thượng. Cơn mưa bên xứ Ấn gió mùa của krishnamurti không xa lắm Sài Gòn, hẳn Đức Phật cũng đã đến Phù Nam, Champa,...dưới những trận mưa mùa.

Những trận mưa mùa chắc chẳng thay đổi sau hai ngàn năm dù Phù Nam chỉ còn là phế tích. Tôi nhớ trận mưa ân sủng cho dân làng Mỹ Tú, Cần Thơ, sau những tháng hạn dậy đầy phèn. Những chiều mưa làm nhòe ánh điện vàng vọt của thị xã Bạc Liêu cũ kỹ. Nhưng chúng cũng giận dữ cuốn phăng những bãi tắm bờ tây Phú Quốc như muốn nhắc con người đừng chống lại thiên nhiên, đừng rững mỡ trên cái thuần khiết của tự nhiên, mà hãy nhuần nhị như những túp nhà lá đẫm nước bên bờ vịnh Tô Châu.

Ngoài những giọt mưa thu của nhạc sĩ họ Đặng, mưa miền bắc đã có trong tôi trước khi tôi gặp nó từ những cơn Gió đầu mùa của Thạch Lam. Những cơn mưa dai dẳng làm mình phát bực, nhưng lại không có thi vị nào bằng ủ trong tay cốc nâu nóng mà nhìn màn mưa mờ mờ của Hồ Tây. Nhưng cơn mưa xứ bắc nó không làm mình có cái ý muốn gột rửa, mà làm mình co lại, mà tự vệ, như những viên đá ong vùng Đoài trân mình dưới làm mưa rét cắt da, ướt sũng những ngấn lệ của mùa hè, như những hòn đá vôi xám đẹp não nùng trong một chiều mưa lạnh vùng đông bắc, vô hình vô ảnh trên mặt nước lặng ngắt vô thanh. Những cơn mưa dài rả rích trên vùng núi kéo theo những dòng nước đỏ ngầu giận dữ cuốn hết mọi thứ. Tôi đã gặp những cơn mưa như vậy ở Điện Biên Phủ, ở Lai Châu, những cơn mưa cuốn hết cả quả đồi ở Yên Bái. Những màn mưa không thấy đường đi giăng ngang khu nhà thổ trung tâm Sapa. Và những cơn mưa quệt nguyên một màu xám trên vùng châu thổ.

Những cơn mưa miền trung dài ngày kèm theo giông tố tôi gặp lần đầu tiên ở Nha Trang. Trong những ngày mưa như vậy cô bạn thân nhìn kẻ tha hương lắc đầu ái ngại “mưa miền trung mà, lê thê lắm”. Tôi thấm thía hơn cái lê thê ấy trong những ngày chờ mưa ở Vĩ Dạ, chẳng thấy nắng, chẳng thấy hàng cau. Có lúc mong cho xe chạy nhanh một cách nguy hiểm qua đèo Hải Vân đang lê thê mưa mà về bờ nam hửng nắng. Nhưng đôi lúc mong cơn lê thê ấy kéo dài mãi để tà áo trắng còn ướt át trên cầu Tràng Tiền, mong cho cơn lê thê ấy đóng băng vĩnh viễn trên gác chuông chùa Thiên Mụ, cho ai kia thờ thẫn từ bờ Nguyệt Biều ngó sang. Nhưng mưa miền trung cũng là những buổi sáng náo loạn chờ bão ở Cửa Đại, những ngày nước ngập ngang người ở thị xã Tam Kỳ, con đường thiên lý trở thành con đập tràn mong manh. Rồi mưa trên cao nguyên, những trận mưa rừng mà giờ đây chắc chỉ còn là quá vãng, trùm kín một màu đen kịt trong hẽm núi, dòng suối ầm ầm tối đen bên vách đá đen đầy đe dọa.

Tôi...nghe mưa gần, lại nhớ mưa xa... những ngày mưa đông dài đầy sương mù, không sấm sét miền bắc California. Mong cho nó qua nhanh mà ngắm đào lê trắng hồng những triền đồi xuân. Những sớm mưa đông Paris ướt át, qua cửa kính mờ của khách sạn thấy người bộ hành vội vã đi nhanh vào ga điện ngầm. Cơn mưa lất phất mùa đông Lyon rơi trên những váng băng mỏng trên sông Rhone. Tôi mơ màng tưởng tượng những cơn mưa trên thành Brest của Jaques Prevert, nó có giống cơn mưa nhẹ sáng hôm ấy ở Rennes? Tôi nhớ những cơn mưa trên biển Bắc, mỗi nơi một xúc cảm khác nhau. Mưa làm cho tòa thị chính Hambourg như nặng nề thêm với màu xanh xám. Mưa làm tăng nỗi buồn các bé gái chết oan bên bức tường đá đen ở Brussels với những tràng hoa dập nát. Nhưng mưa biển Bắc cũng nhẹ nhàng bên làng chài Volendam cổ kính.

Dường như những cơn mưa làm cho gã giang hồ thực sự trở thành giang hồ, hắn không nhớ là mình đang ở đâu. Trong cơn mưa nồng nực mà không vần vũ của bình nguyên Houston, hắn nhớ cơn mưa mùa hè mà lạnh giá vùng Bay James bên Canada, mưa lạnh trên tuyết, trên những lều hải ly giữa đầm lầy. Trong cơn mưa hè ngọt ngào trên dòng Danube năm ấy, khi gã lặng nhìn cầu Elizabeth chìm trong bụi nước, bên kia sông là khối nhà màu nâu của Parliament, hắn nhớ tới những cơn mưa hiếm hoi lạnh giá mùa đông trên bờ Địa Trung Hải, thành Alexandria. Cột đá đen hình ngọn lửa kỷ niệm sự biến 1956 loáng nước nhắc hắn nhớ một chiều mưa Đà Lạt.

Ông giáo người Senegal có lần cảm hứng nói với hắn trong cơn mưa hiếm như vàng vùng sa mạc: “L'eau est le plus précieux cadeau du Dieu.” Hắn lại mong được gột rửa như krishnamurti trong cơn mưa rào thuở hoa niên.

Mưa 29/9/2012
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Nhà thơ Tô Kiều Ngân qua đời tại Sài Gòn, thọ 86 tuổi

SÀI GÒN (NV) - Nhà thơ Tô Kiều Ngân, một trong những người đồng sáng lập ban thi văn Tao Ðàn trên đài phát thanh Sài Gòn năm 1955,
vừa qua đời ngày 20 tháng 10, 2012, tại Sài Gòn, thọ 86 tuổi.

Image
Di ảnh nhà thơ Tô Kiều Ngân.

Nhà thơ Tô Kiều Ngân, thế danh Lê Mộng Ngân, sinh năm 1926, tại Huế. Ông bắt đầu sinh hoạt văn nghệ từ năm 1948. Tác phẩm đầu tiên của ông là kịch thơ 4 màn “Ngã Ba Ðường,” do ban kịch Sông Ô trình diễn trên sân khấu Huế.

Trong phần viết về Tô Kiều Ngân, nhà thơ Du Tử Lê từng viết: “Tuổi trẻ của ông được nuôi dưỡng trong bầu không khí trang nghiêm cổ kính của thành phố buồn, thành phố của những dấu tích xa xưa, của bao nhiêu triều đại đã hưng phế, nay chỉ còn trơ lại một nội thành với những lăng tẩm u trầm, một dòng sông Hương ‘Nông chờ’ tháng năm lạnh lùng trôi qua, biểu tượng niềm riêng, nỗi quạnh hiu của người dân xứ Huế.”

Vẫn theo bài viết của tác giả Du Tử Lê, năm 1950, Tô Kiều Ngân gia nhập quân đội. Năm 1952 ông đưa gia đình vào Nam. Tại đây, ông lần lượt viết cho các báo Ðời Mới, Người Sống Mới, đồng thời cộng tác với một vài tờ báo xuất bản tại Hà Nội như Hồ Gươm, Giác Ngộ...

Năm 1955 ông cùng Ðinh Hùng và vài người nữa thành lập ban thi văn Tao Ðàn trên đài phát thanh Sài Gòn. Sau đó ông cùng Thanh Nam chủ trương tuần báo Thẩm Mỹ, rồi cộng tác với Sáng Tạo, Văn Nghệ Tiền Phong, Tiểu Thuyết Tuần San v.v...

Về mặt quân đội, có thời ông làm chủ bút tờ Quân Ðội bán nguyệt san (do Nha C.T.T.L . ấn hành), đồng thời chủ trương biên tập nguyệt san “Văn Nghệ Chiến Sĩ” của QLVNCH.

Theo cáo phó của gia đình, linh cữu nhà thơ được quàn tại tư gia, số 57/6/4 Ðiện Biên Phủ, quận Bình Thạnh. Lễ động quan vào ngày 24 tháng 10 năm 2012. Hỏa táng tại nghĩa trang Bình Hưng Hòa. (Ð.B.)
Last edited by khieulong on Mon Oct 29, 2012 10:58 pm, edited 1 time in total.
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Image


Những năm còn lại trong cuộc đời
Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta lang thang trong khuôn viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già !

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc vì qua một ngày, chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một ngày. Vui một ngày…rồi không biết được bao nhiêu ngày nửa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xãy ra trong đời sống.

Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm “ Tri túc, đãi túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời nhàn”…

Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người nhưng tiền không phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền và cũng đừng lệ thuộc vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta sống, làm sao để được thoải mái.

Ta vẫn biết khi ta ra đời ,ta đâu có mang nó đến và khi ra đi, chúng ta cũng không mang nó theo.
Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình.

Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quảng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú .
Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.

Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay “chat” với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Rảnh rổi đi làm những việc từ thiện xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già.

Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẽ. Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cử thì không đủ chất bổ dưởng, quá nhàn rổi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các Hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gở bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nửa.
Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghỉ là: “ Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nửa”. Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không Bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.
Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghỉ đến đồng tiền, đừng nghỉ đến giàu hay nghèo nửa và cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều tiền. Đừng nói ta không có tiền.

Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẩu của chúng ta.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Cuối tuần, hẹn nhau với người bạn đi câu cá, hưởng không khí trong lành của thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó là những niềm vui trong cuộc sống cuả tuổi già.
Tứ khoái của tuổi già là: Ăn, ngủ, thể dục và du lịch.

Ăn được ngủ được là Tiên. Ăn và ngủ đi đôi với nhau. Người lớn tuổi có nhiều thì giờ nghỉ ngơi, cần có chế độ ăn uống bổ dưởng, cung cấp đủ calories cho cơ thể. Sự luyện tập thể dục là thỏi nam châm của cuộc sống và là kim chỉ nam của tuổi thọ. Đi du lịch để cho cuộc đời thoải mái, trí óc thanh thản và vui sống.

Khi về già, chúng ta thường hay sống về quá khứ, hay nhớ lại chuyện xưa. Sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói, xa vời.
Hẹn nhau trong những buổi họp mặt để ta có nhiều người bạn tâm tình, kể lại những kỷ niệm đẹp trong quá khứ…vui cười thích thú.

Vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau, luôn luôn yêu thương người bạn đời, gắn bó với nửa kia của mình, là điều mà chúng ta mong ước. Đưa các cháu đi học, đi ăn, chơi đùa với các cháu… là thú vui của tuổi già. Ta phải làm thế nào tuổi già mà tâm không già, thế là già mà không già. Nụ cười là liều thuốc bổ quí nhất.

Chúng ta cần tránh đi những sự cải vã, tranh dành hơn thua từng lời nói hoặc những tranh chấp vô ích với bất cứ ai.

Chính những lúc cải vã, giận dữ đó đã đánh mất đi những niềm vui trong cuộc sống, không thích hợp trong tuổi chúng ta, nhất là những người đang đau yếu. Chúng ta phải đối diện với bệnh tật một cách lạc quan, tự tin, đừng quá lo âu. Khi đã làm hết khả năng theo tầm tay, sẽ có thể ra đi mà không hối tiếc. Hãy để Bác Sĩ chăm sóc, luôn luôn giử bình an trong tâm hồn.

Chúng ta có thể nói là mình có hạnh phúc thật sự khi có sức khỏe tốt, chịu đi tập thể dục, có cơ hội du lịch thường xuyên, ngủ ngon, ăn uống ít kiêng cử khi vào tuổi hoàng hôn.

Thiên đàng không phải đi tìm đâu cho xa mà thiên đàng do ta dựng lên và chui vào đó mà hưởng hạnh phúc. Sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quí trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghiã của nó làm cho cuộc sống vui hơn, giầu ý nghiã hơn.

Hoàn toàn khoẻ mạnh, đó là thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh…Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp; Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung.

Người thích làm điều thiện sẽ sống lâu. Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai, bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã hội, thể hiện giá trị cuả mình đó là cách sống lành mạnh.

SINH, LÃO, BỆNH, TỬ là qui luật ở đời, không ai chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng, không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng cuộc đời của một người cũng chỉ là con số không to lớn.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Sài Gòn Ngày Xưa

Văn Quang –
Viết từ Sài Gòn

“Văn hóa không tên” tạo nên linh hồn của Sài Gòn xưa

Buổi sáng thứ sáu vừa qua (11-10-2012), tôi được một ông bạn điện thoại đến rủ ra Givral uống cà phê. Tôi rất ngạc nhiên vì từ hơn 2 năm nay Givral nằm trong thương xá Eden đã bị đập phá tan tành để… làm một cái gì đó, chắc cũng “vĩ đại” như tòa nhà Vincom chiếm trọn khu vườn hoa trước mặt. Mỗi lần đi ngang qua đường Đồng Khởi, tôi không thể nào quên đó là đường Tự Do xưa kia… của chúng tôi. Nhìn toàn bộ khu tứ giác Eden chỉ còn là đống gạch vụn với những hàng rào kiên cố xung quanh cứ như nhìn thấy… cái gọi là “trại cải tạo”. Thì ra, sau hơn 12 năm, cái “trại cải tạo” ấy vẫn cón ám ảnh tôi ngay cả trong vô thức, đôi khi ngay cả trong giấc mơ. Thế nên mỗi khi đi qua khu Eden bì tàn phá đó, tôi bỗng cúi đầu, chẳng muốn nhìn lâu và cũng chẳng muốn tìm hiểu xem trong thời gian tới, nó sẽ mọc lên cái gì. Tôi cứ nghĩ Gival đã thuộc hẳn về quá khứ, như những người bạn tôi ra lò hòa thiêu, không bao giờ gặp lại.

Ông bạn thấy tôi khựng lại, ông giải thích:

– Nó mở lại Givral hôm qua (10-10-2012) ở chỗ cũ rồi ông ạ. Cũng điểm tâm, cà phê như xưa. Ra ngồi xem cho biết, nhớ lại chút kỷ niệm xưa.

Nghe bùi tai, tôi đồng ý ngay. Dù biết rằng ra đó ngồi sẽ rất ngậm ngùi nhớ bạn, nhờ tình, nhớ thời trai trẻ, nhớ đủ thứ… trong cái không gian ấy.

Cái “trục văn hóa không tên”

Nói đến Gival là nhớ đến La Pagode, Brodard… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên. Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô” miền Nam và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 60-75 cũng hay lui tới nơi này. Một địa điểm trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm vài thứ, đợi giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố” mà hồi đó chúng tôi gọi là đi “hittuking”, tức là đi “hít tủ kính” chứ không mua bán gì. Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt Gival rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi - Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường.

Gival, La Pagode, Brodard đã trở thành một cái “trục văn hóa không tên” phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài Gòn.

Sau năm 1975, Gival vẫn còn sống cho đến khi khu này bị “giải tỏa”, nhưng khách không còn “chọn lọc” như thời xưa. Khách hàng đủ mọi loại, ông Tây bà Đầm, ông Hàn Quốc bà Đài Loan, chân dài đẹp, chân dài xấu, nghệ sĩ thập cẩm ra vô thong thả và giá cả cũng vào loại trung bình, không “mềm” cũng không “cắt cổ”.

Givral ngày ấy… bây giờ

Trong khi ông bạn tôi tìm chỗ gửi xe, tôi đứng trên đường Lê Lợi nhìn qua khung kính vào nhà hàng Gival mới. Nó vẫn ở cái góc Lê Lợi – Đồng Khởi, mấy cái cửa kính lớn vẫn cho khách có thể nhìn ngắm hai mặt đường phố và tất nhiên khách đường phố cũng có thể chiêm ngưỡng những khách hàng “đẳng cấp” ngồi bên trong.

Điếu đáng tiếc nhất là cái cột to tướng đúng vào góc đẹp nhất che lấp mất tầm nhìn nơi cửa chính trước kia, làm cho không gian có vẻ như chật chội hơn, không thể nhìn thẳng ra nhà hát lớn, khách sạn Continental với phong cách rất Tây và khách sạn Caravelle cùng cái vòng xoay và những con đường chảy vào giữa lòng thành phố.

Chúng tôi bước vào nhà hàng với một vẻ lạ lẫm. Những chiếc bàn ghế mới toanh, những bộ salon kê hai bên góc khá đẹp. Tất cả đều mang dáng vẻ sang trọng như bất cứ một nhà hàng cà phê, điểm tâm “có hạng” nào ở những thành phố lớn.

Khoảng 9g sáng, khách đã chiếm hết số bàn trong tiệm. Số còn lại ngồi rải rác quanh chiếc comptoir hình móng ngựa. Những người hoàn toàn xa lạ ngồi riêng biệt, chẳng ai nhìn ai. Cái không khí ấy khiến tôi không thể quên những ngày xưa. Tuy ngồi khác bàn nhưng chúng tôi vẫn có thể biết xung quanh mình có những ai.

Bàn bên kia là bốn năm anh ký giả chuyên làm tin hành lang Quốc Hội, bàn góc trái là mấy ông dân biểu Hạ Nghị Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa đang say sưa bàn về những “ý kiến” đã và đang chuẩn bị lên diễn đàn. Bàn giữa nhà là mấy “dân chơi” quen mặt, có lẽ ngồi đợi người đẹp… Thỉnh thoảng một cái gật đầu, một cái vẫy tay, một ánh mắt thân thiện. Sự gần gụi, quen thuộc ấy chính là cái linh hồn của Gival trước 1975. Bây giờ không tìm lại được nữa.

Cái “trục văn hóa” từ La Pagode, Givral đến Brodard khác nhau thế nào?

Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café cùng nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn – Tự Do, qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu, đến hành lang Eden, trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi… cựu hoàng Bảo Đại mới lên ngôi. Đến góc đường này là Givral nằm đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (nhà hát lớn TP cũ), nhìn chéo sang phải là khách sạn Carvelle sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là nhà hàng Brodard.

Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100m và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau. Nhưng thật ra, nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại khác nhau. Ở đây tôi chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa”.

Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất. Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode. Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô đich’ về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi.

Từ đâu có “Radio Catinat”

Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết. Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi. Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó. Vậy tạm gọi Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress.

Quyền lợi hỗ tương giữa phóng viên và các ông “nghị”

Còn Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia”, chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô”, chuyện tình bà nghị ông nghị…, cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương”, anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh. Trong số những phóng viên VN còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang. Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây.

Nhà thơ hàng đầu VN thường hẹn hò ở Givral

Có một nhà thơ hàng đầu VN thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng 3-4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này.

Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng anh Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài “Đời chưa trang điểm”, tiêu đề này chính là đã mượn trong câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh Đinh Hùng nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi”. Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi anh Đinh Hùng ơi!

Brodard với những “dân chơi”

Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê - Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.

Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.

Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng Thanh Thế, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam.

Tai nạn nghề nghiệp tại Givral, chuyện bây giờ và chuyện ngày xưa

Nhắc đến Givral và gần đây có câu chuyện về tin “siêu hot” trên nhiều tờ báo ở VN, tôi chợt nhớ đến câu chuyện cũng gần giống như thế xảy ra giữa mấy anh phóng viên với nhau ngay tại nhà hàng Givral hồi xưa. Xin ghi lại chuyện vừa xảy ra trước.

Hẳn bạn đọc còn nhớ câu chuyện “tin không nổi” mới xảy ra vài tuần trước. Ngày 18-9, VOV online, một trang thông tin trên mạng của VN, đã đăng tải thông tin với nội dung rất kỳ cục về “quan hệ” bố chồng nàng dâu. Sau khi VOV online đăng thông tin này, rất nhiều báo, trang thông tin điện tử ở VN đã trích nguồn tin này, có báo còn vẽ rắn thêm chân cho tình tiết thêm phần “thật” và tăng độ “gay cấn” lên cao. Xin nhắc lại câu chuyện có thể kể là chuyện ly kỳ quái đả nhất thế kỷ tại VN. Trang mạng này đưa tin nguyên văn như sau:

“Bố chồng “yêu” con dâu, cùng phải đi cấp cứu

Ông A (58 tuổi) có quan hệ tình dục với cô con dâu (36 tuổi). Trong khi thực hiện hành vi vô đạo đức này, người con dâu bị chứng co thắt âm đạo làm cho bố chồng không tách rời ra được

Chiều 18.9, Phó Giáo sư, tiến sĩ Tạ Văn Trầm - Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang xác nhận, vừa quyết định chuyển 2 bệnh nhân (cư ngụ ở xã Tân Trung, thị xã Gò Công) lên tuyến trên điều trị trong tình trạng “dính” nhau. Điều đáng nói là 2 bệnh nhân này là bố chồng và con dâu.

Trước đó, trong lúc người con trai đi làm ở TP.Hồ Chí Minh, ông A (58 tuổi) có quan hệ tình dục với cô con dâu (36 tuổi).

Trong khi thực hiện hành vi vô đạo đức này, người con dâu bị chứng co thắt âm đạo làm cho bố chồng không tách rời ra được, được đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh”.

Thật ra đây chỉ là nguồi tin do BS Tạ Văn Trầm - Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang nói vui với bạn bè thôi. Hoàn toàn không có thật. Sau đó vài ngày, sáng 22-9 trang báoVOVonline đã phải xin lỗi:

“Ngày 18-9, VOV online đã đăng tải thông tin với nội dung về quan hệ bố chồng nàng dâu. Tuy nhiên qua xác minh, phóng viên viết tin này đã có sai sót khi chỉ dựa trên một nguồn tin không chính xác, thiếu thẩm định lại, dẫn đến tin đưa không đúng sự thật. VOV online chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc”.

Chuyện ở Givral thời xưa

Thưa bạn, chuyện này làm tôi nhớ đến câu chuyện có thật ở Givral hồi xưa, do anh Hồng Dương kể lại. Khi đó anh là phóng viên của Đài Phát Thanh Quân Đội phụ trách tin tức nghị trường thuật lại. Hầu như ngày nào anh cũng ngồi với cánh phóng viên ở Givral. Trong số những phóng viên đi săn tin có một ông, lớn hơn vài tuổi. Ông này thích “mần văn nghệ đủ thứ”, làm thơ, viết văn, nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học kiêm luôn nghề săn tin. Ông lại thích tỏ ra hiểu biết hơn người, coi mình là cái rốn của vũ trụ nên anh em không ưa. Ông nói và viết nhiều hơn những gì ông biết. Ông chỉ đọc chừng 10 cuốn sách nhưng phê bình đến cả trăm văn nghệ sĩ. Chứng tỏ ông chỉ nghe lỏm chứ không biết đâu là đúng đâu là sai.

Một lần anh em đang ngồi tán dóc, thấy ông (xin giấu tên, tạm gọi là ông XY ) đi tới. Mọi người đều im bặt. Ông XY đoán chắc có tin gì hay, tụi nó giấu mình. Ông hỏi, nhưng anh em không ai nói câu nào, ông càng nghi. Sau cùng ông lựa một anh có vẻ “thật thà” nhất gặng hỏi cho được cái tin “bí mật” kia. Anh phóng viên “thật thà” bèn bịa ngay ra một “tình sử” tiết lộ cho đàn anh XY. Tôi không nhớ rõ là chuyện gì, nhưng đại khái là thứ tin tức động trời như kiểu tin “bố chồng dính lẹo với nàng dâu”.

Ông XY tức khắc viết bản tin đăng trên báo hàng ngày. Ông chủ nhiệm bị thiên hạ gọi đến tòa soạn hỏi tới tấp và có nhiều phản ứng rất gay gắt. Ông chủ nhiệm báo này cũng giống như ông chủ nhiệm VOV phải đi xác minh. Cánh phóng viên nói hoàn toàn không có tin này. Chủ nhiệm đành đăng lời “cáo lỗi cùng bạn đọc” và chỉ còn cách cho anh phóng viên nằm nhà làm việc vặt.

Cái bẫy của mấy ông bác sĩ

Trở lại chuyện ngày nay trên VOV, tôi thấy có dư luận chê trách BS Tạ Văn Trầm - Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang nói bậy. Nhưng suy luận cho cùng, tôi nghĩ đây cũng chỉ là chuyện ông BS Trầm thấy anh PV kia hay nghe lóm, viết văng mạng nên ông ta cùng bạn bè ghét mặt, bèn dăng cái bẫy, bịa chuyện “bố chồng nàng dâu”, cho anh ta nghe lỏm, cũng giống như cái bẫy của mấy anh bạn phóng viên ngồi ở Givral hồi xưa thôi. Chẳng có lý do gì một BS phó giám đốc BV lại nói một chuyện không hề có như vậy. Thiếu gì chuyện để mấy ông tu bíp nói dỡn với nhau, sao lại nhè lúc anh phóng viên có mặt mà “khui” ra chuyện kỳ quái kia, phải không bạn? Bài học này quả là đắt giá cho những người cầm bút chuyện nghiệp và không chuyên nghiệp.

Tôi kể lại chuyện cũ, chuyện mới để bạn đọc dễ dàng so sánh hai chuyện có cùng một nguyên nhân không.

Không thể tìm lại dĩ vãng

Tóm lại, trong bài này, tôi chỉ muốn thông tin đến bạn đọc một nét “văn hóa xưa” vừa được khơi gợi lại giữa TP Sài Gòn. Nhưng với tôi, nó chỉ còn cái tên Givral của thời xa xưa thôi. Tất cả đều khác trước, giá cả lại quá cao không phù hợp chút nào với cánh phóng viên VN. Nó sẽ chỉ còn thích hợp với khách du lịch ghé ngang qua TP này.

Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được.

Văn Quang –
Sài Gòn 19-10-2012
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Nguyễn Ngọc Ngạn, 20 năm, một quãng đường

Ðức Tuấn/Người Việt

WESTMINSTER (NV) - Ðúng 7:30 tối ngày Thứ Bảy, 10 Tháng Mười Một và hai suất 1 giờ trưa và 7:30 tối ngày 11 Tháng Mười Một,
đêm nhạc hội kỷ niệm 20 năm sân khấu Nguyễn Ngọc Ngạn sẽ được mở màn tại khu nghỉ dưỡng và sòng bài Pechanga,
45000 Pechanga Parkway, Temecula, CA 92592.

Image
Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Nhân sự kiện MC Nguyễn Ngọc Ngạn có mặt tại Orange County, phóng viên Ðức Tuấn đã có cuộc gặp gỡ riêng với ông để có cuộc phỏng vấn xoay quanh câu chuyện 20 năm sân khấu của Nguyễn Ngọc Ngạn.



-ÐT: Hai mươi năm sân khấu, cùng với số tuổi tương đối cao - có phải đây là dấu hiệu để MC Nguyễn Ngọc Ngạn chuẩn bị bước xuống hay không?

-Nguyễn Ngọc Ngạn: Thật sự MC Nguyễn Ngọc Ngạn đã có ý định nghỉ, từ giã sân khấu, khán giả sau năm năm tôi làm MC cho Trung Tâm Thúy Nga rồi, chứ không phải đợi đến ngày hôm nay, tôi nhớ một kỷ niệm nhỏ: Khi Trung Tâm Thúy Nga mời nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ để thực hiện cuốn Paris By Night giới thiệu sự nghiệp của ông (Paris By Night 41), tôi có nói với ông Lai là tìm người khác làm MC thay thế tôi, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ tưởng lầm là tôi có hiềm khích gì với ông nên tôi không chịu làm, Nhưng thật ra tôi muốn nghỉ làm MC để chú tâm vào việc viết truyện và thu băng đọc truyện, tội nghiệp nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ lên tận Las Vegas nơi tôi đang làm show để điều đình với tôi!

Rồi thời gian trôi qua, biết bao nhiêu lần mệt mỏi định giã từ sân khấu mà rồi bây giờ vẫn còn đây!

-ÐT: Nội dung chính của đêm nhạc hội kỷ niệm 20 năm sân khấu Nguyễn Ngọc Ngạn là gì?

-Nguyễn Ngọc Ngạn: Thật sự nói về “20 năm Sân Khấu” tức là nói về kỷ niệm trên các chương trình Paris By Night và kỷ niệm qua những chuyến lưu diễn cùng với các anh chị em nghệ sĩ. Chưa kể tôi cũng muốn nhắc đến các nhạc sĩ tôi đã từng có cơ hội làm việc chung mà bây giờ đã nằm xuống chẳng hạn Nhật Ngân, Văn Phụng, Hoàng Thi Thơ, Châu Kỳ, Tùng Giang, Thanh Sơn... Và mới đây là nhạc sĩ Trần Trịnh, rồi còn những gặp gỡ khi tôi thành lập nhóm kịch Thúy Nga, và viết kịch bản cho họ diễn.

-ÐT: Thế thì chương trình hôm đó khán giả sẽ phải nghe MC Nguyễn Ngọc Ngạn tâm tình nhiều hay ca sĩ góp tiếng hát của họ nhiều?

-Nguyễn Ngọc Ngạn: Tôi sẽ nói nhiều nhưng nói ngắn, thí dụ phớt qua một kỷ niệm thì tôi sẽ nói ngắn bởi vì thời gian không có nhiều, thêm vào đó đại đa số các bài hát của ca sĩ đều do tôi yêu cầu bởi vì từng bài hát mà các ca sĩ trình bày đều có kỷ niệm gắn bó với tôi trong hai mươi năm qua, bên cạnh đó vì đây là show Nguyễn Ngọc Ngạn, nên nó phải có chút gì khác với gần 90 cuốn Paris By Night tôi đã làm MC trước đây.

-ÐT: Trong một chương trình mà phải nhắc nhiều về kỷ niệm như thế, anh có sợ là sẽ gây cho khán giả dị ứng không?

-Nguyễn Ngọc Ngạn: Mỗi người trong chúng ta có một ngành nghề đòi hỏi sự chuyên môn, như bạn là nhà báo thì bạn viết ra những điều bạn cảm thấy nó đủ, nó cần để phục vụ độc giả - còn tôi là nhà văn, tôi viết ra những tác phẩm và tôi hy vọng độc giả sẽ đón nhận, là một người của sân khấu tôi cũng muốn làm được những điều hy vọng khán giả yêu thích còn chuyện cảm nhận từ phía khán giả thì cái đó chịu thôi, mình chỉ làm được những điều mà mình cho là nên làm, đáng làm để phục vụ độc giả, khán giả của mình mà thôi!

-ÐT: Giữa nghề làm MC và nhà văn, vậy anh muốn người đời gọi anh là MC Nguyễn Ngọc Ngạn hay anh muốn người ta gọi anh là nhà văn?

-Nguyễn Ngọc Ngạn: Trước năm 1975 tôi là nhà giáo, trước khi tôi được Trung Tâm Thúy Nga mời thì tôi là nhà văn, nếu không nhờ sách bán chạy, không nhờ tên ở bên bàn viết thì ông Tô Văn Lai không biết Nguyễn Ngọc Ngạn là ai? Ðể mời sang sân khấu, cho nên căn bản của tôi là nhà văn, bởi vậy trong lúc tôi làm văn nghệ, tôi vẫn liên tục sáng tác, bằng chứng tôi đã cùng với Trung Tâm Thúy Nga thực hiện được 87 cuốn audio book và truyện của tôi vẫn đăng đều trên báo, như vậy có nghĩa là tôi không muốn chối bỏ vai trò nhà văn của tôi, bởi vậy trong những chương trình ca nhạc người ta vẫn giới thiệu là nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn.

-ÐT: Thời gian anh đi show cũng như làm MC cho các chương trình của Trung Tâm Thúy Nga quá bận rộn, vậy làm sao anh vẫn tiếp tục sáng tác? Thêm một điều nữa là trong những truyện khi anh viết về đời sống ở Việt Nam, thực tế anh chưa bao giờ bước chân vào Việt Nam thì làm sao anh có được những dữ kiện, thông tin chính xác để anh viết xác thực được?

-Nguyễn Ngọc Ngạn: Tôi không bao giờ hỏi một họa sĩ là tại sao anh vẽ được bức tranh này? Ðó là sự học hỏi, sự tìm tòi. Tuy nhiên tôi không tìm những dữ kiện trên Internet mà nhờ tôi đọc sách, đọc báo nhiều, cộng với 50% sự tưởng tượng, hư cấu, sáng tạo mà ông Trời ban cho tôi.

-ÐT: Khán giả bắt đầu có sự nhàm chán với cách dẫn chương trình gần như lập đi, lập lại giữa MC Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên trên sân khấu Thúy Nga Paris By Night, anh nghĩ sao về điều này?

-Nguyễn Ngọc Ngạn: Ông Johnny Carson làm host cho chương trình Tonight show 30 năm mỗi đêm, ông Larry King phỏng vấn trên CNN mỗi đêm trong suốt 50 năm, còn Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên làm MC cho Thúy Nga Paris một năm chỉ có bốn lần, không ai nói ông Larry King làm 50 năm phỏng vấn giống nhau quá! Dĩ nhiên khi bạn phê bình, hay đặt lại vấn đề thì chắc chắn bạn có quyền nói như thế, nhưng thử hỏi Nguyễn Ngọc Ngạn có thể làm gì được hơn trong một chương trình văn nghệ chỉ có thế, bài bản, tác giả, ca sĩ trong một chương trình chỉ có bấy nhiêu thôi.

-ÐT: Trong 20 năm anh cộng tác với Trung Tâm Thúy Nga với rất nhiều tác phẩm DVD đã cho ra đời, vậy DVD nào đối với anh là đắc ý nhất?

-Nguyễn Ngọc Ngạn: Có ba tác phẩm DVD tôi đã đề nghị với Thúy Nga và được trung tâm chấp nhận đó là Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam, Xuân Tha Hương và Huế-Sài Gòn-Hà Nội, trong đó DVD Xuân Tha Hương là cuốn tôi đã nói với Marie Tô Ngọc Thủy là bây giờ tôi muốn thực hiện tác phẩm Xuân Tha Hương để giáo dục các thế hệ con cháu về phong tục tập quán của ngày Tết Việt Nam ta trong lúc tôi còn làm người dẫn chương trình cho trung tâm, chứ nếu không làm đến khi tôi đã về hưu rồi thì sẽ không còn cơ hội để thực hiện ý định tốt đẹp ấy nữa. Cuối cùng thì tất cả ba cuốn DVD đó đều là những tác phẩm mang lợi nhuận cao về cho Trung Tâm Thúy Nga, đó là chưa kể một số những DVD khác nữa như 20 Năm Nhìn Lại.

-ÐT: Trước khi kết thúc anh có điều gì để nói?

-Nguyễn Ngọc Ngạn: Tôi muốn nhân dịp này tỏ lòng tri ân đối với khán giả đã ủng hộ tôi trong vòng 20 năm, cũng như với các cơ quan truyền thông đã giúp làm nhịp cầu để có tiếng nói của tôi, dù là sự phê bình. Nhân đây tôi chỉ muốn gửi đi một thông điệp là tôi là người của công chúng nên tôi sẵn sàng chấp nhận sự phê bình, chê cái gì cũng được miễn dừng lại tại biên giới: không phỉ báng! Tôi rất trân trọng với sự phê bình trong xây dựng nhưng tôi sẽ khinh bỉ những ai dùng sự phỉ báng để sỉ nhục, chà đạp tôi.

-ĐT: Xin cảm ơn anh!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest