Tạp Ghi

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Chống tham nhũng: Làm sao cho hiệu quả?
Nguyễn Hưng Quốc
10.09.2012
Gần đây, ở Việt Nam báo chí lại làm ồn về phong trào chống tham nhũng.

Thật ra, đó cũng là chuyện... thường ngày ở huyện. Lâu nay vẫn thế. Lâu lâu đảng và chính quyền Việt Nam lại phát động các chiến dịch chống tham nhũng, và nói chung, lần nào họ cũng thành công về…cơ bản; để sau đó, họ lại có dịp tung ra chiến dịch khác và lại có dịp báo cáo là đã thành công, nếu không về “cơ bản” thì cũng “bước đầu”.

Tuy nhiên, lần này thì tiếng ồn về việc chống tham nhũng coi bộ lớn hơn những lần trước. Thứ nhất, nó ồn ở sự kiện Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng và chống tham nhũng trực thuộc Bộ chính trị (nhưng người ta lại không giải thích gì về sự tồn tại của một Ban chỉ đạo cùng tên đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 10 năm 2005, trong đó ghi rõ Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng là do Thủ tướng cầm đầu! Nếu có sự hoán chuyển về cơ quan cầm đầu thì trên nguyên tắc, nó phải được Quốc Hội thông quan, nhưng Quốc Hội, đến nay, hoàn toàn không bàn gì đến chuyện ấy). Thứ hai, nó càng ồn hơn do các vụ bắt bớ các quan chức cao cấp trong ngành ngân hàng với lý do lạm dụng công quỹ và làm việc sai nguyên tắc tài chính. Thứ ba, rải rác trên báo chí, người ta cho đăng tải một số bài liên quan đến việc phòng chống tham nhũng ở…những nơi khác.

Ví dụ, về việc chính phủ Thái Lan kêu gọi dân chúng tham gia chống tham nhũng. Chống bằng cách nào? Bằng cách tích cực tố cáo tham nhũng với chính phủ. Để giúp việc tố cáo ấy được nhanh chóng và hiệu quả, chính phủ Thái Lan chủ trương (a) thành lập các dường dây nóng; (b) đặt các thùng thư ở các nơi công cộng; và (c) lập các trang mạng để mọi người đều có thể gửi đơn tố cáo thẳng đến văn phòng Thủ tướng. Cần chú ý: về các biện pháp chống tham nhũng ở Thái Lan, các phóng viên chỉ tường thuật chứ không ai dám đề nghị là nên được áp dụng ở Việt Nam. Còn chính quyền Việt Nam thì im lặng.

Thật ra, không ai bảo đảm hai biện pháp phòng và chống tham nhũng ở Việt Nam và ở Thái Lan đều có hiệu quả hoặc biện pháp nào tốt hơn biện pháp nào. Việt Nam thì chọn biện pháp phòng và chống từ trên xuống. Cái gọi là “trên” ấy, thoạt đầu nằm trong tay Thủ tướng; sau, có vẻ như người ta muốn nâng cấp lên Bộ chính trị, cao hơn phủ Thủ tướng. Ở Thái Lan, người ta chọn biện pháp từ dưới lên: chính dân chúng, những người thấp cổ bé miệng, đóng vai trò chủ đạo trong việc tố cáo, qua đó, một mặt, vạch trần; mặt khác, ngăn chận tham nhũng.

Cả hai biện pháp ấy đều bất cập.

Sự bất cập của biện pháp trên thì đã rõ: người ta vừa đá bóng vừa thổi còi. Ở Việt Nam, lâu nay nhiều người đã nói nhiều đến sự giàu có một cách bất bình thường của gia đình Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Sự giàu có ấy đến từ đâu? Chắc chắn không phải từ lương hay bất cứ một nguồn thu nhập hợp pháp và chính đáng nào cả. Mà không phải chỉ có Nguyễn Tấn Dũng. Hầu như người nào trong nhóm lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và chính phủ cũng đều cực kỳ giàu có. Hiện tượng tương tự cũng từng được thấy ở Trung Quốc qua vụ án Bạc Hy Lai. Bây giờ, giao cho những người như thế nhiệm vụ chính trong việc phòng và chống tham nhũng, làm sao có tin cậy được? Cuối cùng, như cái điều mọi người đã từng nhìn thấy trong suốt nhiều năm qua: chỉ có những cán bộ nho nhỏ, cấp phường hay cấp xã, là bị bắt về tội tham nhũng. Còn những cán bộ cao cấp, ngay cả khi bị các công ty và chính phủ ngoại quốc nêu đích danh về việc nhận hối lộ, người ta cũng tảng lờ với lý do “để tìm thêm chứng cứ”. “Chứng cứ” ấy không bao giờ có; thậm chí, việc tìm kiếm cũng không bao giờ thực sự bắt đầu.

Việc tố cáo tham nhũng từ dưới lên, cũng vậy, cũng chỉ thành công với điều kiện: chính phủ, ở những cấp cao nhất, phải trong sạch. Bởi, nếu đơn tố cáo đến văn phòng Thủ tướng, nhưng văn phòng Thủ tướng lại bao che cho những con cá mập lớn nhất thì sao? Thì, không những việc tố cáo không có kết quả gì mà người tố cáo có thể mang họa, có khi đến mất mạng không chừng.

Cả hai biện pháp phòng chống tham nhũng nêu trên, muốn có hiệu quả, cần thêm biện pháp thứ ba: theo chiều ngang, với sự tham gia của Quốc Hội, của tư pháp, của xã hội dân sự và của các cơ quan truyền thông. Các tổ chức này không những đóng vai trò phát hiện và tố cáo tham nhũng mà còn theo dõi việc chống tham nhũng của chính phủ và bảo vệ những người tố cáo tham nhũng.

Tuy nhiên, tất cả các tổ chức này chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh của họ với một điều kiện: độc lập. Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Bởi, không độc lập, họ sẽ chẳng làm được gì cả, ngoài việc vâng lệnh những kẻ có chức quyền, nghĩa là, thành thực mà nói, những người tham nhũng nhất.

Ở Việt Nam, ai cũng biết, tất cả các tổ chức trên đều nằm hết trong tay của đảng. Vậy thì, một, ai sẽ tố cáo tham nhũng; hai, ai sẽ bảo vệ những người tố cáo ấy, nếu có; ba, ai sẽ kiểm tra việc xử lý các vụ tham nhũng? Câu trả lời đã rõ ràng: Không có ai cả.

Không thể không nghĩ đến vụ án nhà báo Hoàng Khương (Nguyễn Văn Khương) vừa mới xảy ra. Là phóng viên báo Tuổi Trẻ, Hoàng Khương viết loạt bài phóng sự về nạn tham nhũng của công an. Để có tài liệu và chứng cứ, ông tham gia vào một vụ hối lộ 15 triệu đồng (750 đô la) cho cảnh sát giao thông. Sau đó, ông viết bài đăng trên báo Tuổi Trẻ. Nhưng bài viết ấy lại trở thành chứng cứ để công an bắt ông về tội hối lộ. Đầu năm 2012, ông bị bắt. Trong phiên tòa diễn ra trong hai ngày 6 và 7 tháng 9, ông bị kết án 4 năm tù giam. Trong khi đó, hai công an nhận tiền hối lộ của ông chỉ bị 5 năm tù.

Nhân vụ án Hoàng Khương, nhà báo Minh Diện nhớ lại một việc liên quan đến bản thân ông cách đây 14 năm: Năm 1998, ông có bằng chứng cho thấy Ngân hàng Việt Hoa cấu kết với Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp Long An tham nhũng hàng trăm tỉ đồng và gần 90 triệu đô la Mỹ. Ông muốn xác minh các tài liệu ấy nên đến trụ sở Ngân hàng Việt Hoa, xin gặp Ban giám đốc. Không ai tiếp ông cả. Nhưng ngay sau đó, một cán bộ cao cấp trong Ủy ban an ninh của Quốc Hội liên lạc với ông và yêu cầu ông từ bỏ ý định điều tra vụ tham nhũng ấy. Chưa hết. Mấy ngày sau, Đào Duy Quát, Phó Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương kịch liệt lên án ông trong buổi giao ban hàng tuần của báo giới. Rồi tổng biên tập báo Tiền Phong, nơi Minh Diện đang làm việc, khiển trách ông và yêu cầu ông ngưng ngay mọi việc điều tra. Trước những áp lực nặng nề từ trên xuống dưới như vậy, nhà báo Minh Diện không những không thể tiếp tục điều tra vụ tham nhũng mà còn bị “treo bút”.

Từ kinh nghiệm của hai nhà báo Hoàng Khương và Minh Diện, ai còn dám chống tham nhũng nữa?

Và cũng từ đấy, người ta có thể tiên đoán ngay kết quả của các chiến dịch phòng và chống tham nhũng với những Ban này Ban nọ mà giới lãnh đạo Việt Nam đã hoặc đang thành lập.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Không thích nói chuyện chính trị

Jeffrey Thai (Danlambao)-
"Không thích nói chuyện chính trị" là câu nói cửa miệng từ bao lâu nay của hầu hết người dân Việt Nam sống trong nước, dưới chế độ hiện hành (kể cả bản thân tôi khi còn sống trong nước cũng vậy). Ai ai cũng nói như thế, từ người già đến thanh niên, từ người có học đến người ít học, và nó luôn được xem là câu nói an toàn nhất, hứa hẹn nhận được nhiều "đồng cảm".

Tôi vừa trực tiếp gặp một trường hợp nữa minh họa cho điều ấy. Số là tôi vừa gửi bài viết "Luận về thần tượng" của tôi cho tờ báo mạng VietNamNet và được đăng tải. Một bạn trẻ trong nước đọc xong rất tâm đắc và gửi email cho tôi, ngỏ ý muốn được kết giao trên Facebook. Tôi hồi đáp rằng tôi rất sẵn sàng, chỉ xin nói trước là trên trang Facebook của tôi, dù bản thân tôi rất ít khi đề cập đến vấn đề chính trị, nhưng các thành viên bạn khác thì lại chia sẻ rất thường xuyên thái độ chính trị của họ. Bạn ấy trả lời là bạn ấy rất muốn được trao đổi với tôi về mọi điều, nhưng bạn ấy đã được giáo dục là không được nói chuyện chính trị.

Câu nói "được giáo dục để không nói chuyện chính trị" ấy của người bạn trẻ đã làm tôi, một lần nữa, băn khoăn suy nghĩ thật nhiều. Chính trị là gì mà ghê gớm thế? Đáng kinh sợ thế? Tại sao lại phải giáo dục thế hệ trẻ để không nói chuyện chính trị? Nếu đó là sở thích cá nhân (không muốn nói đến hay không quan tâm đến), thì đó chỉ là lẽ thường: Những con người khác nhau có những sở thích khác nhau. Nhưng khi thái độ ấy đã được "giáo dục" hay nhắc nhở, trực tiếp hay gián tiếp, và đã dần hình thành nên một nếp hằn suy nghĩ trong tâm trí của mọi người dân thì nó không còn là điều đơn giản nữa, và kéo theo nó là những hệ lụy vô cùng to lớn.

Có thực sự phải "giáo dục" thế không? Và có thực sự nên "giáo dục" thế không?

Trước hết, xin được kể ra những điều tương phản mà tôi đã nhiều lần trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống cá nhân ở Mỹ. Tôi vốn không phải là người quan tâm nhiều quá đến vấn đề chính trị (mặc dù thường tìm hiểu, nhưng chỉ thỉnh thoảng mới nói đến). Thế mà, trong những lần thỉnh thoảng ấy, tôi đã vô cùng ngạc nhiên về cái cách người dân Mỹ (chỉ là những con người bình thường) đáp ứng khi tôi đề cập đến nó. Họ trả lời một cách sôi nổi và nhiệt tình. Họ nêu lên một cách rõ ràng và mạnh mẽ quan điểm của họ, những gì họ ủng hộ, những gì họ không tán thành về các chính sách kinh tế, xã hội và quân sự hiện hành, về xã hội Mỹ hiện tại, cũng như cả về những người đang lãnh đạo đất nước. Họ nói nhiều và hùng hồn đến nỗi tôi có cảm giác tôi vừa "bắt trúng đài" hay chạm phải "chỗ ngứa" của họ.

Thế đấy! Chính trị ở xã hội Mỹ là thế đấy! Nó phổ biến và được đề cập đến bình thường như mọi vấn đề bình thường khác. Người dân luôn nắm vững và quan tâm đến nó như nắm vững lịch sinh hoạt hàng ngày của mình hay thậm chí, như nắm vững tình trạng sức khỏe của bản thân mình. Từ đó, ta có thể nhận ra rất rõ rằng sinh mạng và hiện trạng của đất nước Mỹ hoàn toàn nằm trong tay người dân và do chính họ quyết định, chứ không phải là ai khác. Khi nhận thấy nó đi chệch quỹ đạo vận hành hay vận hành theo một cách không mang lại lợi ích cho số đông thì cũng chính là lúc họ sẽ cất lên tiếng nói - những tiếng nói rất mạnh mẽ và dứt khoát.

Thế thì tại sao người dân VN lại được "giáo dục" để không nói về chính trị? ("Giáo dục" ở đây phải hiểu là có nhiều cấp độ. Đầu tiên là nhắc nhở, uốn nắn. Kế tiếp là khuyến cáo và đe dọa. Mức độ cao nhất là trừng phạt và xử án). Lý giải được câu hỏi này cũng chính là đã trả lời được phần nào cho những hiện trạng nhếch nhác đang diễn ra trong xã hội VN ở mọi phương diện, cũng như trả lời được cho sinh mạng đang bị đe dọa của đất nước VN.

Khái niệm chính trị, thực ra, là một khái niệm đã hiện hữu từ ngàn xưa. Đức Khổng Tử (551-471 TCN) tin rằng có một mối quan hệ mật thiết giữa chính trị với luân thường đạo lý và đạo đức cá nhân. Theo quan điểm chính trị của ông, chỉ những người quân tử liêm khiết và tuân theo đạo của người quân tử thì mới được cầm quyền, và những tư cách của những nhân vật đó phải kiên định với địa vị trong xã hội. Triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle (384–322 TCN) cũng quả quyết rằng về bản chất, con người là một động vật chính trị, và luân thường và chính trị có liên kết chặt chẽ với nhau. Ông cho rằng mọi công dân chỉ có thể có được một đời sống hạnh phúc và đạo đức khi họ tích cực tham gia vào chính trị (citizens must actively participate in politics if they are to be happy and virtuous).

Trên trang Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, ở chuyên mục Chính Trị, có viết: "Modern political discourse focuses on democracy and the relationship between people and politics. It is thought of as the way we "choose government officials and make decisions about public policy" (Tranh luận chính trị hiện đại tập trung vào dân chủ và mối quan hệ giữa con người và chính trị. Nó được coi như là cách chúng ta lựa chọn các quan chức chính phủ và đưa ra các quyết định về chính sách công cộng).

Dựa trên những lập luận đó, ta có thể suy ra rằng:

+ Khái niệm chính trị là một khái niệm cần thiết cho mọi công dân. Hiểu rõ về nó giúp con người ý thức nhiều hơn về những quyền hạn mình có, cũng như vai trò của mình trong mọi tổ chức, hội đoàn từ những cấp mực thấp đến cấp mực quốc gia.

+ "Giáo dục" cho người dân đừng nói về chính trị là cách được thực thi nhằm vào mục đích tước bỏ của người dân cái quyền vốn có (cũng như sự hiểu biết) trong việc "lựa chọn các quan chức chính phủ và đưa ra các quyết định về chính sách công cộng" - những điều có liên quan mật thiết đến sự tồn vong của một đất nước. Có nền tảng từ việc "giáo dục" đó, một số hiện trạng chua xót và đau lòng đã diễn ra trong xã hội VN (và hầu như chỉ có trong xã hội VN, trong thời gian gần đây): Lòng yêu nước trở thành đặc quyền của một nhóm người, những tiếng nói yêu nước bị vùi dập không thương tiếc...

+ "Không thích nói về chính trị" là thái độ mà một con người vô thức đã vô tình tước bỏ đi quyền hạn công dân của mình trong việc gìn giữ và phát triển xã hội cũng như đất nước, và ở một mức độ sâu xa hơn, tước bỏ đi cả quyền được sống như một con người đúng nghĩa của mình. Thái độ này lý giải cho việc phần lớn người dân Việt trong nước trở nên vô cảm với mọi thực trạng không hay đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong xã hội, và ở một mức độ cao hơn, vô cảm ngay cả với vận mệnh của đất nước. Hệ quả có thể thấy rõ của thái độ này chính là: Cả một dân tộc đang đắm chìm trong một nỗi sợ hãi... mênh mông.


Jeffrey Thai
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Image

Bảng Cấm Học Sinh Nam Nữ Ôm Hôn Nhau, Tụt Quần...”



HANOI -- Trong một sân trường tại thủ đô Hà Nội, các học sinh “tự hào là con cháu Bác Hồ” đã giở trò ôm nhau hun hít, và cả tụt quần quậy tưng bừng?Một trường học đã treo biển ghi rõ hiện tượng bi thảm này, theo báo Giáo Dục Việt Nam.

Bản tin Thứ năm 6/9/2012 của báo GDVN đã kể về tấm biển cấm lịch sử này như sau:“Công an phường cấm nam, nữ sinh tụt quần trong sân Đó là nội dung ghi trên một tấm biển báo cấm, được cho là treo ở một cụm dân cư trên địa bàn một phường ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.Bức ảnh chụp tấm bảng thông báo đăng trên một trang facebook có nội dung như sau (trích):

"Công an phường (chúng tôi xin không nêu tên)... Tổ dân phố 125c cum số 3... Cấm các cháu học sinh nam, nữ vào khu sân, ghế ngồi, cầu thang nhà 125c. 1/Cấm đá bóng... 2/Cấm cãi nhau, gây mất trật tự... 3/Cấm học sinh nam, nữ: ôm hôn nhau, tụt quần trong sân khu vực tổ 125c. 4/Cấm chơi bài bằng tiền... 5/Cấm ăn quà vứt giấy... Có thể hiểu đây là tấm bảng thông báo cấm các hành vi thiếu văn hóa của một bộ phận các bạn trẻ ở khu dân cư này. Nhưng điều khiến dân mạng "sốc" chính là nội dung cấm thứ 3. Không thể tưởng tượng được lại có hiện tượng "nam, nữ ôm hôn, tụt quần trong sân..." (rất thiếu văn minh và mất trật tự) ở một khu dân cư tại Hà Nội, nếu như không có tấm bảng này chỉ ra.

Khi đọc được những nội dung trong tấm bảng trên, rất nhiều dân mạng bình luận như: bó tay, chắc chỉ có ở Việt Nam, chịu không nổi, mê điều thứ 3 quá...”Bản tin của báo GDVN kế tiếp ghi lại một số lời bình từ mạng Facebook, kể cả từ Việt Kiều. Bản tin sau đó cũng kêu gọi trách nhiệm phụ huynh đoôi với con em mình.Tại sao học sinh Hà Nội “xã hội chủ nghĩa tiên tiến” như thế, hẳn là vượt xa học sinh Sài Gòn rồi.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Chửi, vũ khí của dân đen

Tạp ghi Huy Phương

“Mả cha cuộc đời quá vô hậu...”
(Trần Vàng Sao)


Trước hết phải nói “chửi” vũ khí của kẻ yếu mất hết lòng tin vào công lý và xã hội. Xã, ấp nào phân xử chuyện mất một con gà, nên nạn nhân giành quyền phán xét bằng cách chửi đứa ăn trộm gà, dù mười mươi biết rằng có chửi, thì con gà cũng đã được vặt lông, cho vào nồi lâu rồi, không còn hy vọng tìm lại được. Nhưng vẫn phải chửi, trước là cho hả giận, sau là để nguyền rủa năm mười đời thằng ăn trộm gà cho nó xót gan bào ruột.

Chửi cũng phải có nghệ thuật. Không phải cứ thấy mất gà là đã đong đỏng lên mà chửi, ai nghe? Thường thì người mất gà phát giác ra con gà “một đi không trở lại” trong thời điểm trời nhá nhem tối, nghĩa là giờ “gà lên chuồng.” Nhưng chửi vào giờ ấy, trong khi mọi gia đình, người đi làm chưa về, bữa cơm chưa dọn, kẻ còn cho trâu vào chuồng, người còn cho lợn ăn, thì ai nghe? Vậy nghệ thuật chửi là phải chọn đúng thời điểm khi hàng xóm, làng giềng đã yên lặng, có thể bắt đầu lên giường, như thời đại bây giờ người ta bắt đầu bật cái TV để nghe tin tức, cũng như bà vừa xong bữa cơm, nhai hết miếng trầu. Bốn bề vắng lặng, cuộc chửi rủa bắt đầu khi bà bước ra sân, mở đầu bài diễn văn hùng hồn, kiểu thưa gửi của một chính trị gia: “Kính thưa đồng bào...”

“Làng trên xóm dưới, bên ngược bên xuôi, tôi có con gà mái xám.”

Trước hết người chửi phải mở hết công suất của cái mồm, thứ đến phải hướng loa về căn nhà lối xóm bị tình nghi ăn trộm. Chửi không phải dễ, như thường ngày chúng ta vì bực tức buột miệng ra bằng một tiếng chửi thề, mà chửi đây phải có văn bản, nói theo lối thời thượng là phải có “biên tập.” Nội dung một bài “chửi” phải có “bới” và “rủa” như ta thường nói “chửi bới” hay “chửi rủa.”

Có người cho rằng người miền Nam có “chửi” chứ không hề “bới,” trong khi người miền Bắc nếu chửi nhau là đào bới cả tông ti họ hàng lên, đó là cái lối bới mả, đào mồ ông cha, tổ tiên mười đời lên mà chửi: “...bà đào mả thằng tam tứ đại nhà mày ra, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên...” Còn “rủa” là trù yếm: “Rồi ra, nhà chúng mày chết một đời cha, chết ba đời con, đẻ non, đẻ ngược, chân ra trước đầu bước ra sau, đẻ sót nhau, chết mau, chết sớm, chết trẻ, đẻ ngang!”

Ðể câu chửi được nhịp nhàng, người ta dùng thể văn “biền ngẫu,” từng câu từng chữ đối nhau chan chát: “Bố thằng chết đâm, cha con chết xỉa... chết một đời cha, chết ba đời con... ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột... bốn thằng cầm cờ xanh đứng đầu ngõ, ba thằng cầm cờ đỏ đứng đầu làng...”

Bài chửi muốn hay lại có vần điệu, chửi lên nghe âm thanh trầm bổng, thì người chửi phải chửi cao hơn một bậc nữa, là chửi bằng... thơ:

“Hôm nay bà chửi một bài
Ngày mai bà sẽ chửi hai lần liền
Bà chửi cho mày hóa điên
Bà rủa suốt tháng liên miên không ngừng

Bây giờ bà mệt quá chừng
Bà về cơm nước, nhớ đừng quên a...
Muốn sống thì thả gà ra
Lạy bà hai lạy, bà tha cho mày.... ày ày ày...” (*)

Chửi không phải chỉ sử dụng cái mồm mà còn sử dụng tay chân, miệng chửi nhưng phải hoa tay múa chân, lâu lâu lại phải nhảy lên “đong đỏng” tay vỗ phành phạch vào hạ bộ để tỏ ra khinh miệt kẻ địch thủ chưa rõ mặt, là kẻ tình nghi ăn trộm gà. Có điều chắc chắn là người “chửi gà” không thể là đàn ông mà phải là đàn bà. Ðàn bà có nhiều năng khiếu văn chương, nhiều lời, biết “trình diễn” hơn đàn ông và cũng lại còn có cái để mà... vỗ.

Chống cường quyền ngày nay, con người bất lực không thể dùng dao, dùng búa, dùng gươm, dùng súng, dân đen chỉ biết dùng miệng lưỡi trời cho để... chửi, như bài “Vũ khí chửi” trên tờ Quân Ðội Nhân Dân của CS hồi tháng 8, 2012 cũng đã viết: “Ðành rằng, chửi 'đã mồm' cũng chẳng mấy khi tìm lại được gà, nhưng cái 'chửi' để hả giận, để đánh thức lương tâm, nuôi dưỡng công lý. Lương tâm và công lý sẽ lớn lên, chặn tay bọn ăn cắp những 'con gà vàng' thấm đẫm mồ hôi, nước mắt người lao động. Chửi là vũ khí của người nghèo.” Rõ ràng cơ quan ngôn luận này của “bộ đội CS” không thấy nhột nhạt khi đăng một bài “luận về chửi,” trong khi cả nước đang chửi chế độ vì bất mãn.

Chửi mất gà trong xóm làng Việt Nam là chuyện chửi nhỏ. Ngày nay trong xã hội có nhiều loại không những căn cắp vặt mà ăn cướp công khai vì có quyền lực trong tay, dân đã mất người, mất nhà, mất đất, có khi mất cả giang san, thì thấp cổ, bé miệng, không có gươm có súng để làm cách mạng, thì còn có cái mồm chửi, cho đỡ uất.

Trên Internet chúng ta đã xem người phụ nữ bị cướp đất, đến một đồn công an ở Hà Nội, tụt quần chửi cho đã giận. Người ta tập họp nhau ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, chửi đảng, chửi nhà nước. Mẹ con cởi truồng chống cưỡng chế đất đai, chửi bới bọn tham quan, ô lại. Nhưng phải là người “ở trong chăn,” lớn lên từ chế độ đó, mất hết vì chế độ đó thì câu chửi mới hay, lời chửi mới sâu sắc.

Một nhà thơ của chế độ cộng sản đã chửi bằng thơ. Tác giả thuộc loại “sinh viên tranh đấu” ở miền Nam, mê cộng sản đến đỗi bỏ tên họ cha mẹ đặt, sửa lại thành Trần Vàng Sao. Ông nướng hết tuổi trẻ cho cộng sản, về già bất mãn, ngồi làm thơ chửi đổng cho sướng miệng. Bài thơ “Tau Chửi” không một chữ một lời chỉ đích danh thằng nọ con kia, nhưng đọc lên ai cũng hiểu là một bài thơ chửi đảng, chửi cha chế độ. Bài thơ chửi dài 156 câu, mà chúng tôi chỉ trích ra vài đoạn ngắn sau đây, trước tiên cũng là những lời “bới” và “rủa”:

“mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước
giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây
đặng nghe tau chưởi

tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời
cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì
con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống

hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây...”

“Bây” ở đây là ai? Trần Vàng Sao nói rõ:

“bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét
lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm.”

Và đánh thẳng vào những tên cầm quyền đầu sỏ:
“bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương

khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng
để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho
cha mẹ cố tổ bây...” (**)

Nhưng nói cho cùng phản ứng “chửi” vì mất mát, bất công, bị chèn ép là phản ứng tiêu cực của kẻ yếu, người nghèo. Những kẻ nghe chửi không phải ai cũng biết đau biết nhục, vì ca dao Việt Nam đã có câu:

“Quân tử ư hử cũng đau,
Tiểu nhân vác đá ném đầu chẳng sao!”

Cho nên, đối với bọn “cố đấm ăn xôi” này, nghe chửi đã quen, đứa nào cũng mang bí danh, tên giả, biết đâu bố mẹ mà sợ người ta nói đụng chạm đến cha ông, dòng tộc, động đến tổ tiên, mồ mả.

Người xưa nói “bất bình nhỏ thì dùng rượu, bất bình lớn thì dùng gươm.” Uống rượu là để nén bất bình xuống đáy lòng, không nén được thì văng tục hay lên tiếng chửi cho hả dạ. Bọn vô cảm không hề sợ chửi, chúng chỉ sợ con người dùng gươm để giải quyết khi không còn chịu được với nỗi bất bình lớn.

Chú thích:
(*) Không biết tác giả
(**) “Tau Chửi” của Trần Vàng Sao
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Phiếm Luận Về Thân Phận Đàn Ông
Tác Giả: Lý Lạc Long
Xót xa cho phận đàn ông
Còng lưng trả nợ "tổ tông" trẻ, già

Cho đến đầu thế kỷ thứ 21, thì trên địa cầu con người vẫn còn đúng như "con người" đã tự xếp hạng như là một sinh vật cao cấp nhất của mọi loài. Ở trên trái đất, sinh ra làm con người có lẽ vẫn là một đặc ân của tạo hóa ban cho. Nhưng sinh ra làm đàn ông có còn là một điều may mắn không? Vì theo thời gian "giá trị" của nam và nữ dường như đã thay đổi. Nhân dịp Lễ Từ Phụ (Father s Day), xin gởi đến các bậc mày râu (đang làm cha, sắp làm cha) chút suy tư vặt vảnh về "thân phận đàn ông" của chúng ta.
Khoảng 500 năm trước Tây lịch, Khổng Tử đã nhận xét: "Nhơn tối linh ư vạn vật" vẫn còn đúng. Nhưng những quan điểm của Nho giáo về nam và nữ, chẳng hạn như: "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô"; "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tùng tử"... chắc phải được xét lại. Vì dựa trên thực tế thì "giá trị" của nam giới có lẽ đang trên đà xuống giá mau chóng

Từ như ông vua nho nhỏ:
"Đêm năm canh, năm vợ ngồi hầu
Vợ cả pha nước, têm trầu chàng xơi
Vợ hai trải chiếu, chia bài
Vợ ba coi sóc nhà ngoài, nhà trong
Vợ tư ấp lạnh quạt nồng
Vợ năm thức dậy trong lòng xót xa
Chè thang, cháo đậu bưng ra
Chàng xơi một bát kẻo mà công linh."

Xuống giá còn:

"Ba đồng một mớ đàn ông
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa mời ngồi "

Nếu Khổng Tử còn sống không biết ông sẽ giải thích sao về hiện trạng này và ông có chấp nhận được không?
Theo Cơ đốc giáo, thì Eve được tạo ra từ xương sườn của Adam. Trong sách Ê-phê-sô chương 5, câu 22,23,24 như sau: "Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội Thánh. Hội Thánh là thân thể Ngài và Ngài là Cứu Chúa của Hội Thánh. Ấy vậy như Hội Thánh phục dưới Đấng Christ thì đàn bà phải phục dưới quyền chồng mình trong mọi sự". Đa số dân chúng ở các quốc gia Âu Mỹ theo Cơ đốc giáo, nhưng căn cứ theo thực tế thì phải nói là đàn ông Âu Mỹ đa số theo "đạo thờ bà". Như vậy thì Kinh Thánh không đúng hay vì con người sống sai? Theo tôi thì tại đàn ông Âu Mỹ (hậu duệ của Adam) sống không đúng theo Kinh Thánh răn dạy. Cũng giống như Adam ngày xưa không nghe lời Thiên Chúa (Đấng Jehovah) dặn bảo mà nghe lời của Eva ăn trái cấm (trái hiểu biết) để bị đuổi khỏi vườn địa đàng Eden. Vì sống trái với Kinh Thánh nên đàn ông ở Âu Mỹ hiện giờ mới bị sắp hạng thấp hơn chó nữa. Thứ nhất là phụ nữ, thứ nhì là trẻ em, thứ ba là chó và cuối cùng là đàn ông (first is lady, second is child, third is dog... and last is man). Câu nói "giỡn" nhưng phản ánh đúng một phần với thực tế thân phận đàn ông ở xứ Mỹ. Chó không phải hớt hải đi tìm việc làm, cũng không có cảnh mặt mày tái mét, ngơ ngác nghe chủ báo tin bị cho nghỉ việc. Chó không phải đóng thuế, không phải lao động mà đôi lúc còn được ung dung nằm ngủ trên giường bà chủ. Nhưng nếu căn cứ theo mực độ vi phạm lời dặn bảo của Kinh Thánh (và hình phạt tương xứng) để giải thích sự giảm giá trị của đàn ông thì nghe không có hợp lý lẽ lắm vì phụ nữ đã vi phạm "lời dặn bảo" trầm trọng hơn so với đàn ông. Xa hơn, nếu căn cứ theo giá trị để mà tính thì Eve (nữ) chỉ bằng 1 trong 36 xương sườn của Adam (nam) cũng không giải thích được hiện tượng biến đổi giá trị theo chiều hướng "nữ trọng nam khinh" hay "âm thịnh dương suy" hiện giờ. Suy luận dựa trên hiểu biết của cá nhân đã đi vào ngõ cụt. Thôi cách dễ nhất là đổ mọi tội lỗi cho ông Adam. Thế giới ngày xưa mới chỉ có hai người, thế mà Adam đã sợ Eve rồi. Trái cây "biết điều thiện và điều ác" Chúa đã cảnh cáo là không nên ăn mà Eve cũng bẻ ăn. Ăn rồi bắt Adam cùng ăn. Adam cũng nghe lời ăn theo. Việc ấy đã gây ra bao nhiêu điều rắc rối cho hậu duệ của ông. Phải chi lúc bà Eve vừa thò tay định bẻ trái cấm, Adam ngăn lại thì đàn ông chúng ta đâu có khổ. Đúng như vậy, vì nếu họ không ăn "trái cấm hiểu biết", thì có hiểu biết chi đâu để tòm tèm, và đâu có nhân loại. Nhưng chuyện đã qua, ngày nay trên trái đất đã có đến 6.5 tỷ con người và đang trên đà tăng trưởng thêm. Thời gian gần đây, căn cứ theo thống kê của số lượng trẻ sơ sinh chào đời thì tỷ lệ bé trai sinh ra lại cao hơn bé gái. Theo qui luật "của hiếm là quý" thì điều này chắc chắn sẽ làm giảm giá trị của nam giới thêm nữa. Không lẽ thân phận đàn ông cứ tuột dốc mãi như vậy sao? Không hẳn là như vậy. Nói đúng hơn có thể là "tuyệt vọng" cho thế hệ chúng ta nhưng hậu duệ của chúng ta vẫn còn hy vọng vì hết suy sẽ tới thịnh lại theo quan niệm của Lão giáo.
Theo Lão giáo mọi sự vật đều có hai mặt âm dương để tồn tại và phát triển. Loài người chắc cũng không ở ngoài quy luật này. Nói khác thì loài người cũng là sự kếp hợp và biểu hiện của dương (nam) và âm (nữ). Dựa theo thuyết âm dương và thực tại của thế kỷ 21 thì âm đang trên đà thịnh và dương đang trên đà suy thoái. Xem chừng thuyết âm dương có thể giải thích được một cách hợp lý sự biến đổi giá trị về giá trị giữa nam và nữ của nhân loại. Chúng ta thử "ngâm cứu" sâu thêm chút xem.

Âm và dương là khái niệm cốt lõi của nền triết học cổ Đông phương, âm và dương không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng phần tử, từng chi tiết. Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong dương có mầm mống của âm và ngược lại. Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó, người xưa đặt ra "thuyết âm dương" (thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài). Nói chung, phàm cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương. Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm.
Người xưa còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau và theo tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế giới này đều do năm yếu tố ban đầu là nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại (tức năm hành thủy, hỏa, thổ, mộc, kim). Từ những nhận xét này "thuyết ngũ hành" ra đời. Trên cơ bản, thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện tương sinh (giúp đỡ nhau) và tương khắc (chống lại nhau). Trên cơ sở sinh và khắc lại thêm hiện tượng chế hóa, tương thừa (thừa thế lấn áp), tương vũ (hàm ý khinh lờn). Chế hoá là một khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành, đây sự cân bằng tất nhiên phải thấy trong vạn vật. Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không đủ thì sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường. Chế hoá là chế ức và sinh hoá phối hợp với nhau. Trong chế hoá bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc. Hai hiện tượng này gắn liền với nhau vì không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc. Không có sinh thì không có đâu mà nảy nở; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại. Cần phải có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới vận hành liên tục, tương phản, tương thành với nhau. Tóm lại theo thuyết ngũ hành thì tương sinh, tương khắc, chế hóa, tương thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hóa phức tạp của sự vật. Thuyết ngũ hành là một bổ sung và làm cho thuyết âm dương hoàn bị hơn.
Cũng may mắn, căn cứ theo thuyết âm dương thì nam giới vẫn có thể hy vọng để mà sống, vì sống không có hy vọng là đang đứng bên thềm của sự chết. Dù hy vọng này rất là mong manh cho các thế hệ đàn ông sinh ra vào những thập niên của cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Sinh ra làm đàn ông (nhất là đàn ông VN) chắc chắn không phải là một sự may mắn trong giai đoạn này. Thế kỷ 21 có lẽ sẽ vẫn là thế kỷ của các bà. Đàn ông Âu Mỹ chịu đựng trước và dường như họ đã quen. Thiết nghĩ, chắc đàn ông Âu Mỹ cũng đặt hy vọng vào "ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay" (tomorrow will be better than today) để mà sống. Đông hay Tây, có am tường thuyết âm dương hay không, dường như con người đều hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn cho số phận của mình.

Ở Việt Nam thì thời kỳ "phu xướng phụ tùy" cũng đã qua từ lâu. Cái hình ảnh người vợ lúc nào cũng vui vẻ, dịu dàng để chồng được hài lòng, lúc nào cũng cố gắng mang hạnh phúc đến cho chồng dù có chịu nhiều thua thiệt. Chỉ còn là một hình ảnh lịch sử qua thơ ca.

"Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười tủm tỉm rằng anh giận gì
Sao anh vội giận em chi
Muốn cưới vợ bé em thì cưới cho."

Sau tháng 4, 1975 một số đàn ông Việt theo vận nước đổi dời phải lìa bỏ quê hương sinh sống ở các nước Âu Mỹ thì càng thấm thía hơn với cái thân phận đang xuống giá của mình, cố tập theo "triết lý thờ bà" như đàn ông Âu Mỹ, bám víu vào cái hy vọng mong manh "ngày mai sẽ tốt hơn" để mà sống. Các bà biết "tỏng tòng tong" như vậy, nhưng nhiều phụ nữ Việt Nam dường như còn vượt qua xa lắc phụ nữ Âu Mỹ về việc thực thi quyền bình đẳng đến bất bình đẳng của nữ giới. Có lẽ mới có được "công cụ" mới nên phụ nữ Việt Nam sử dụng rất là hăng hái, thừa thắng xông lên và cho rằng: "Một trăm thằng đàn ông không bằng cái mông đàn bà", hoặc "một trăm thằng con trai không bằng cánh tay người con gái".... Thân phận đàn ông Á đông ở xứ Âu Mỹ đã xuống đến tận cùng đáy vực rồi thế mà thỉnh thoảng vẫn còn bị các bà đem ra đem dán ở sau xe so sánh với chó để chọc quê ở công chúng : "Càng biết nhiều về đàn ông, tôi càng thương con chó của tôi nhiều hơn" (The more I know the men, the more I love my dog). Đàn ông mà làm như vậy bị "kêu ca" là cái chắc hoặc dám bị rắc rối với pháp luật vì tội kỳ thị giới tính.

Cũng may là ở Bắc Mỹ, cũng còn có được một ngày vinh danh những người cha. Nhìn tấm thiệp và gói quà của con gởi, tôi tự an ủi. Ít ra thì giá trị đàn ông của mình với thế hệ tương lai vẫn còn rạng rỡ. Như một người đàn ông giác ngộ thân phận của mình tôi tự nhủ : "Sinh bất phùng thời... thân trai mười hai bến nước, trong nhờ đục chạy... không đủ can đảm chạy thì phải có can đảm chịu."

Xót xa cho phận đàn ông
Còng lưng trả nợ "tổ tông" trẻ, già
Lỡ tay ký giấy làm cha
Bịt tai, nhắm mắt qua phà cho xong.
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Kính gởi ban biên tập Hẹn Nhau Sài Gòn 2015, bài viết về một Việt kiều Đức không được cho nhập cảnh vào Việt Nam để đồng bào rõ vì trong thời gian gần đây CSVN đã không cho một số nhiều Việt kiều nhập cảnh với lý do tình hình VN không ổn định. Xin được ban biên tập Hẹn Nhau Sài Gòn 2015,đăng tải rộng rãi trong CĐ để chúng ta có một cách nhìn mới về chính sách giữ người vô điều kiện của CSVN. Thành thật cám ơn .Thân kính.

Việt Hoàng (Người Việt tại Đức)
Một cách giữ nguời kiểu mới của Cộng sản Việt Nam
Bài này được viết với lý do thông báo cho người Việt, khi về VN nếu có xảy ra nhũng sự việc tương tự thì chúng ta biết cách sử trí.

Sau tin tức của đài RFA ngày 13 tháng 8 năm 2012 về việc một Việt kiều Đức về Việt Nam đã bị chặn ở cửa khẩu phi trường Tân Sơn Nhất mặc dù anh ta đã có Visa, tôi đã liên lạc được với anh và được anh cho biết sự thật như sau:

Vào ngày 9 tháng 8 năm 2012 anh Vương Trí Tín đã đáp chuyến máy bay của hãng hàng không Emirates đến phi trường Tân Sơn Nhất lúc 19:30 giờ, sau khi nhận Visa tại phi trường thì anh ta đến cửa khẩu để vào nước. ở đây họ không cho anh vào và nói là Visa bị trục trặc và yêu cầu anh quay trở lại văn phòng nơi đã cấp Visa để hỏi nguyên nhân. Tại nơi đây Công An cục xuất nhập cảnh đã mời anh vào phòng “làm việc”. Sau nhiều cuộc thẩm travới những câu hỏi được lập đi lập lại nhiều lần như:

“Anh tên gì ? ”

“Sinh năm bao nhiêu ?”

“Về Việt Nam có chuyện gì và dự định ở bao lâu ?”

“Anh về Việt Nam đã bao nhiêu lần rồi ?” và “Anh về VN sẽ ở đâu ?”

Mặc dù những câu hỏi này hành khách vào VN đã phải khai khi xin Visa, nhưng họ vẫn hỏi đi hỏi lại,

điều này sẽ làm cho người bị hỏi bị khủng hoảng tinh thần. Vì khi một người cứ phải trả lời những câu hỏi giống nhau thì sau một vài lần là họ bị nervous. Đây là một thủ đoạn của CSVN vẫn thường áp dụng để khống chế tinh thần người bị hỏi cung.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ cứ lập đi lập lại những câu hỏi như thế qua nhiều người (tổng cộng là 4 nhần viên, họ lần lượt thay nhau ra hỏi cung). Trong thời gian này thì anh Tín đã điện thoại ra bên ngoài báo cho gia đình biết là Visa bị trục trặc còn đang chờ đợi để được giải quyết. Đến lượt người nhân viên thứ tư của CACK (công an cửa khẩu) sau khi hỏi những câu như thế ngoài ra ông này đã hỏi

mượn điện thoại di động của anh T. Vì nghĩ là họ đang giải quyết thủ tục Visa cho mình vào, nên nếu

họ hỏi mượn điện thoại mà mình không đưa họ mượn, thì đây có thể cũng là 1 cái cớ để họ kiếm chuyện, do đó anh T. đã đưa điện thoại của anh cho tên này. Sau khi cầm điện thoại của anh T. thì hắn mới nói:

“Xin thông báo cho anh được biết là, nhà nước VN không hoanh nghênh anh vào VN.” Anh T. mới hỏi: “Với lý do gì mà tôi không được vào ?”

Tên (công an cửa khẩu) CACK này trả lời: “Không có lý do !”

Anh T. “Vậy anh đưa lại điện thoại cho tôi để tôi thông báo cho gia đình tôi biết.”

CACK: “Không, anh không được sử dụng điện thoại.” Anh T. :”Ở VN cấm xài điện thoại hay sao ?”

CACK: “Việt Nam không cấm xài điện thoại, nhưng trường hợp của anh đặc biệt.”

Anh T.:”Nhưng anh phải trả lại điện thoại cho tôi để tôi báo gia đình chứ để họ đợi cả đêm hay sao.”

CACK: “Anh không cần phải lo, gia đình anh sẽ được thông báo.” Anh T. :”Nhưng tôi phải thông báo cho toà Đại Sứ Đức của tôi.” CACK: “Anh không được dùng điện thoại.”

Anh T.:”Nếu anh giữ điện thoại của tôi thì anh phải làm giấy biên nhận cho tôi.”

CACK: “Tôi đâu có giữ điện thoại anh làm gì, tôi chỉ mượn tạm thời, sau khi thủ tục giấy tờ của anh xong tôi sẽ trả lại.”

Sau đó thì tên CACK dẫn anh T. ra lại phía bên ngoài nơi có dãy ghế để khách xin Visa ngồi đợi và hắn dặn một nữ CA canh chừng không cho anh T. lien lạc với một ai để mượn điện thoại hoặc nhờ họ điện thoại dùm.

Nhưng sau nhiều lần cố gắng tìm cách liên lạc thì anh T. đã gặp hai anh chị ở Mỹ về chơi cũng nhận Visa tại phi trường, nên họ ngồi đợi nơi dãy ghế đó. Được biết là anh chị này sống ở Philadelphia, họ đã nhắn tin đến với gia đình anh T.

Tên CACK sau khi đi vào văn phòng khoảng nửa tiếng sau đó thì quay ra với bản quyết định không cho nhập cảnh, văn bản này được viết bằng hai thứ tiếng (Việt và Anh), nhưng được biết là bản bằng tiếng Việt có những điều không đúng với bản tiếng Anh nên anh T. không đồng ý ký tên. Họ cũng không đưa cho anh giữ một bản phụ nào, mặc dù trước đó anh T. có hỏi thì nhận được trả lời là: “Dĩ nhiên chúng tôi sẽ đưa anh giữ một bản.”

Một điều rất oái oăm nữa là, họ bắt giam anh T. và bắt anh phải trả 90 US Dollar, với lý do sử dụng phòng nghỉ. Ban đầu thì anh T. không chấp nhận điều này và nói sẽ ngồi lại ở dãy ghế nơi hành khách ngồi đợi Visa, đến lúc quay về Đức. Nhưng họ lại nói với anh rằng:

“Anh lên phòng nghỉ ngơi cho khoẻ, ở đó có điện thoại, anh muốn ăn gì thì gọi điện thoại đặt người ta sẽ đem tới cho anh.”

Họ giải thích : „90 Dollar là tiền để trả cho hai nhân viên phục vụ, mỗi giờ 9 Dollar, nếu ở chỉ 3 tiếng cũng phải trả 90, mà nếu ở đến 24 tiếng cũng trả 90 Dollar.“

Vì đang cần điện thoại để nhắn tin gia đình nên anh T. bằng lòng trả tiền để lên phòng. Ba nhân viên An Ninh có đeo súng đem anh T lên phòng và sau đó khoá cửa lại, trong phòng dĩ nhiên không có điện thoại như họ đã nói. Trong hơn 24 tiếng đồng hồ họ thay tất cả 5 ca gác, mỗi ca hai nhân viên An Ninh.

Nơi phòng giam có tất cả 6 giường, có một Menu để khách bị giam có thể đặt đồ ăn, nếu muốn ăn thì nhân viên AN sẽ gọi phone đặt. Anh T. cho biết là thực đơn ở đây đựơc tính bằng US Dollar, so ra mắc hơn cả đi ăn ở nhà hàng ngay Saigon, điều này nhân viên AN ở đó cũng xác nhận.

Trong thời gian CACK ở phi trường Tân Sơn Nhất giam giữ anh T. thì gia đình anh đã thông báo cho những người bạn Đức của anh để nhờ họ liên lạc với Toà lãnh sự Đức ở Saigon. Ở đây nhân viên Lãnh sự quán Đức đã nhiều lần liên hệ với các cấp thẩm quyền, nhưng họ trả lời là không có giữ ai tại phi trường với tên họ như thế. Những người bạn Đức của anh T. nhận được trả lời cùa LS Đức từ Saigon như thế thì họ quả quyết:

“Gia đình của ông T đã hơn 10 tiếng đồng hồ không liên lạc được với ông ta, chúng tôi cũng thế.”

LSQ Đức: “Việt Nam họ chỉ luôn luôn nói một nửa sự thật. Nhưng các ông yên tâm, đến ngày mai mà các ông cũng như gia đình ông ta vẫn chưa có tin thì chúng tôi sẽ làm việc trực tiếp với chính quyền VN.”

Trong thời gian bị giam giữ CACK đã giữ Vali của anh cũng như Passport, vé máy bay và điện thoại. Đến lúc ra phi cơ để bay trở về nước thì nhân viên An Ninh dẫn ra và giao anh cho nhân viên hãng hàng không Emirates, chuyến bay dừng ở Dubai trước khi về Đức tại đây cũng có nhân viên ra dẫn anh T về một nơi và dặn là không được đi đâu chỉ ngồi tại đó đợi đến giờ máy bay gần bay sẽ có người đến dẫn đi. Tại phi trường Frankfurt thì họ mới giao Passport, vé máy bay (thì mới lấy hành lý được)… điều này cho chúng ta thấy anh bị canh giữ như một tội phạm nguy hiểm.

Qua câu chuyện trên của anh Tín thì chúng ta thấy CSVN vẫn luôn gian xảo, lừa lọc và thủ đoạn mọi thứ, họ cứ cho người bị nạn hy vọng, nên vào bẫy lúc nào không biết.

- Trước khi tuyên bố không cho nhập cảnh thì lấy cớ là mượn điện thoại, sau khi nắm lấy được phương tiện liên lạc của người bị nạn thì lúc đó mới tuyên bố không cho nhập cảnh.

- Không có lệnh bắt giam mà lại thu giữ đồ dùng cá nhân (điện thoại di động cũng như Passport, vé máy bay, giấy tờ tuỳ thân) và cắt đứt liên lạc với người thân.

- Giam giữ người trái phép không có lệnh giam, với lý do là đễ phục vụ canh giữ anh ninh cho khách.

- Và vì nhân viên An Ninh phải bảo vệ an ninh cho “khách” nên “khách phải trả tiền phòng (phòng giam)

- Cho thông tin không đúng khi nhân viên Lãnh sự điện thoại hỏi. Theo luật Quốc Tế nếu giam trên 24 tiếng đồng hồ phải báo cho Lãnh sự quán, nếu giữ công dân của họ. Ở đây nhân viên Lãnh sự đã điện hỏi, nhưng họ lại đưa thông tin sai.

Trong lúc bị giam giữ anh T. đã được nhân viên AN cho biết là trong thời gian gần đây do ở Việt Nam tình hình không được ổn định (vì có nhiều cuộc biểu tình), nên những ai hay thường về Việt Nam hoặc mới về sẽ bị đặt nghi vấn, và nếu họ nghi thì sẽ không cho nhập cảnh VN và trục xuất về nước. Như thế thì qua điều này cho chúng ta biết được là tình hình đấu tranh trong nước đã có biến chuyển.

Trên đây là mẫu chuyện thật của anh Tín đã kể lại, khi tôi liên lạc với anh. Còn một điều rất đáng buồn khi nghe anh kể lại, sau khi trở về Đức và liên lạc với gia đình ở VN thì được biết bà mẹ của anh ta khi nghe con mình về thăm ngày hôm trước bà khoẻ và vui hẳn ra, đến hôm anh tới VN thì bà đòi đi đón con mình mặc dù bà bệnh nằm liệt giường cả hơn nửa năm nay, nhà anh phải chiều ý bà và bế bà cụ xuống duới nhà để chờ con, nhưng người con đã không được vào VN để về thăm mẹ mình. Xin cầu đấng thiêng liêng cho cụ có sức khoẻ để đợi ngày đứa con mình về thăm, ngày ấy không còn xa đối với anh cũng như đối với người Việt yêu chuộng Tư Do.

Việt Hoàng
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

“CHÍNH TRỊ HÓA” CA SỸ KHÁNH LY ĐỂ LÀM GÌ ?

Phạm Trần
Tin Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch) của Nhà nước Cộng sản Việt Nam chấp thuận cho hai Ca sỹ Khánh Ly và Bằng Kiều về Việt nam biểu diễn từ nay đến hết tháng 12 năm 2012 đã gây chú ý và bàn cãi từ trong nước ra hải ngoại.

Khác với trường hợp của Bằng Kiều, người được phục hồi sau 8 năm bị tước quyền biểu diễn (từ năm 2004) vì đã có những lời nói và hành động bị Chính phủ Việt Nam lên án “quay lưng lại với chế độ” sau khi đến Mỹ, dự kiến về Việt Nam trình diễn của Khánh Ly đã bị “chính trị hóa” bởi chính những người có trách nhiệm cấp phép, và ít nhất 2 báo Giáo dục Việt Nam và Hà Nội Mới.

Thêm vào đó là những tin trái ngược nhau “về” hay “không về” của Khánh Ly càng làm cho câu chuyện về cuộc đời của Bà rắc rối thêm.

Vậy sự việc này như thế nào và tại sao Khánh Ly đã trở thành “một phương tiện” cho Nhà nước tuyên truyền mới là điều đáng nói.

Trước tiên, vì Khánh Ly có quan hệ mật thiết với Nhạc sỹ Trịnh Cộng Sơn và dòng Nhạc của ông. Hai nhân vật này đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam từ thời chiến sang thời bình và có thể sẽ mãi mãi gắn liền với nhau như thế.

Chính Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn nhìn nhận chỉ có giọng hát Khánh Ly mới giúp ông truyền tải được tâm tư của mình, và ngược lại Khánh Ly cũng thừa nhận nếu không có Nhạc của Trịnh Công Sơn thì không mấy ai biết đến tên tuổi của Bà.

Cũng giống như trường hợp của Nhạc sỹ Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh. Chính Bà Thái Thanh đã lưu lại trong lòng người nghe dòng nhạc của Phạm Duy từ hồi còn kháng chiến chống Pháp. Và cũng như Khánh Ly với Nhạc Trịnh Công Sơn, hai tên tuổi Phạm Duy-Thái Thanh đã gắn liền với nhau để đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam và sẽ ở đó mãi mãi không ai có thể thay thế được.

Vì vậy, nếu trong chiến tranh ở trong miền Nam nhiều bản Nhạc của Trịnh Công Sơn đã bị lên án có giọng điệu phản chiến làm nản lòng chiến sỹ ngòai chiến trường thì ở miền Bắc, chính quyền Cộng sản đã ca tụng Trịnh Công Sơn là một Nhạc sỹ yêu nước !

Vì vậy nhiều người miền Nam không ưa Trịnh Công Sơn và đã lên án nặng nề cho hành động ông đến Đài Phát thanh Sài Gòn điều khiển chương trình phát thanh và hát bài “Nối Vòng Tay Lớn”” để ca tụng hòa bình đã đến với chiến thắng của bộ đội Cộng sản trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Trịnh Công Sơn đã bị nhiều người miền Nam lên án “thiên Cộng” , thậm chí còn có người gọi ông là “cán bộ địch vận của Cộng sản” nhưng người Cộng sản lại ca tụng Trịnh Công Sơn là người ái quốc có công lao đóng góp thu ngắn cuộc chiến đem lại chiến thắng cho đảng CSVN.

Tuy nhiên, cả người chống lẫn người không chống đều đồng ý ông là một Nhạc sỹ tài hoa và ai cũng thích nghe Khánh Ly hát nhạc của ông, dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến.

Vì vậy Khánh Ly, với nửa cuộc đời là Trịnh Công Sơn, cũng đã phải chịu nhiều “thương tích” bởi những “lằn đạn” của người chống Trịnh Công Sơn. Do đó khi có tin Khánh Ly được nhà nước CSVN chấp thuận cho về biểu diễn từ bây giờ đến cuối tháng 12/2012 thì làn sóng vui mừng đã lan nhanh chen lẫn với tiếng xì xèo coi khinh tỏa rộng.

Tại sao vậy? Bởi vì Khánh Ly đã nhiều lần bị báo chí bên Việt Nam, do đảng kiểm sóat và chỉ đạo, chỉ trích lập trường chống Cộng của Bà vì đã đi hát yểm trợ những tổ chức chính trị, hay đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ và tự do ở Việt Nam.

Ngược lại ở nước ngòai, Bà cũng đã bị nhiều người Việt chống đối vì đã đôi lần về Việt Nam và hát yểm trợ “bán chính thức” cho ca sỹ này, ca sỹ nọ, hay còn đưa ra những lời nói, theo một bài viết của Báo Công an Nhân dân năm 2006 được Báo Hà Nội Mới đăng lại có nội dung nghe “không thuận tai” với lập trường của người tị nạn.

Nhưng hư, thực của chuyện về Việt Nam như thế nào ?
Về phiá chính quyền Cộng sản thì Khánh Ly đã được chính thức cho phép về nước biểu diễn đến hết tháng 12/2012 tại 3 nơi: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) do Công ty TNHH & Giải Trí Đồng Dao của Ông Nguyễn Ngọc Sơn tổ chức.

Các lần biểu diễn của Khánh Ly sẽ dự trù trong tháng 11 và các ca sỹ Elvis Phương, Tuấn Ngọc và Hà Anh Tuấn sẽ tham gia chương trình.

Đây sẽ là lần đầu tiên trong 37 năm, kể từ ngày rời Sài Gòn đi tìm tự do, Khánh Ly sẽ chính thức hát ở Việt Nam để kỷ niệm 50 năm ca hát từ tháng 11-1962 đến tháng 11-2012.

TIN HAY KHÔNG TIN ?

Nhưng phiá Khánh Ly, xuyên qua người chồng của Bà, cựu ký gỉa Nguyễn Hòang Đoan nói với tôi (Tác giả bài này) thì họ “không biết gì về chuyện này”. Ông Đoan nói rằng hiện nay Khánh Ly đang dồn mọi nỗ lực vào việc hòan tất một đĩa nhạc Thánh Ca gồm 10 Bài hát đạo để tạ ơn Đức Mẹ và Thiên Chúa (Thánh Ca Dâng Me) trong dịp kỷ niêm 50 năm ca hát của Khánh Ly. Một dĩa DVD-Karoke cũng sẽ được phát hành trong vào tháng 11 cho nên rất bận rộn.

Khi được hỏi :”Như vậy là Khánh Ly sẽ không về Vệt Nam như tin báo chí bên Việt Nam nói ?”, ông Đoan đáp : “Tôi chỉ muốn nói là chúng tôi rất bận rộn với việc lo hòan tất CD và DVD-Karoke. Sau đó, cùng với một số Ca sỹ trẻ, Khánh Ly sẽ đi đến nhiều Nhà Thờ và những nơi nào cần chúng tôi tới để hát và bán Dĩa nhạc lấy tiền giúp cho các xứ đạo chứ không bán lấy tiền cho mình.”

Trong khi đó thì báo điện tử Giáo dục Việt Nam (GDVN), trong số ra chiều ngày 26/09/012 đã chạy tin lớn: “Chắc chắn Khánh Ly sẽ về Việt Nam biểu diễn”.
Tin này viết : “Nguồn tin thân cận và rất đáng tin cậy phía ca sĩ Khánh Ly khẳng định với Giaoduc.net.vn: vì nhiều lý do tế nhị nên mới có chuyện tờ báo tiếng Việt ở Mỹ (Nhật báo Người Việt) đưa tin Khánh Ly không về Việt Nam biểu diễn…

Phóng viên Giaoduc.net.vn đã có cuộc trò chuỵên với một ca sĩ nổi tiếng, hiện đang sống ở Việt Nam, thân với Khánh Ly như một người em gái. Ca sĩ này (đề nghị không nêu tên mình vì một số lý do cá nhân - pv) cho biết: “Tôi chắc chắn là chị Khánh Ly sẽ về Việt Nam hát trong tháng 11/2012. Giấy phép đã được Cục Nghệ thuật biểu diễn cấp rồi, lịch diễn đã được lên, hợp đồng đã ký kết, không thể có chuyện không diễn được”.

Ca sĩ này tiết lộ: “Chị Ly đã có gọi về, giọng rất mừng rỡ vì sắp được biểu diễn ở Việt Nam, cách đây không lâu”.

Lý giải cho thông tin trên tờ báo tiếng Việt rằng Khánh Ly phủ nhận sắp về Việt Nam biểu diễn, ca sĩ này nói: “Có nhiều lý do tế nhị mà chị Ly phải nói như thế (với tờ báo kia - pv), vì muốn tránh những rắc rối không đáng có tại Mỹ. Chị ấy muốn đến ngày là bay về thẳng Việt Nam một cách âm thầm, không ai biết”.

Ca sĩ này cũng không quên "giải oan" cho ông Nguyễn Ngọc Sơn, chủ phòng trà Đồng Dao: “Sơn là người đàng hoàng, rất cẩn trọng trong lời nói, giới nghệ sĩ đều biết. Vì vậy, tôi có thể khẳng định, nếu thủ tục cho Khánh Ly về Việt Nam biểu diễn chưa xong, Sơn sẽ không bao giờ công bố cho báo chí. Sơn là dân kinh doanh nên không cần phải nói, Sơn cũng biết đặt uy tín lên hàng đầu…”.

CHẮC CHẮN VỀ-BIỂU DIỄN THÁNG 12

Đến chiều 27/9, theo nhiều báo ở Việt Nam thì công ty TNHH & Giải Trí Đồng Dao đã lên tiếng giải đáp thắc mắc của khán giả trước những thông tin trái chiều này.

Thọai Hà của VNEXPRESS viết : “Ông Nguyễn Ngọc Sơn, giám đốc công ty và đại diện ban tổ chức, cho biết: "Lúc này, chúng tôi vẫn đang xây dựng kế hoạch cho sự trở về của ca sĩ Khánh Ly, cùng những đêm diễn đặc biệt với chất lượng nghệ thuật cao để phục vụ đông đảo khán giả đã suốt bao năm qua yêu mến giọng hát và âm nhạc của ca sĩ Khánh Ly.

Trên tinh thần đó, chúng tôi đang dành thời gian để chuẩn bị thật kỹ lưỡng về khâu tổ chức gồm địa điểm, sân khấu, nội dung nghệ thuật và những công việc khác liên quan đến những đêm diễn chính thức sắp tới. Chúng tôi sẽ công bố thông tin chính thức về những đêm diễn này (địa điểm, ngày giờ biểu diễn) vào một thời gian thích hợp".

Thông cáo này khẳng định, ca sĩ Khánh Ly đang dành nhiều thời gian để chuẩn bị cho sự trở về biểu diễn lần đầu tiên tại Việt Nam sau 30 năm. Ngoài ra, nữ danh ca cũng dành thời gian cho những kế hoạch thu âm và quay hình cho CD và DVDThánh Ca dâng Mẹ, được phát hành trong Thánh lễ "Tạ Ơn - Kỷ niệm 50 năm ca hát" trong tháng 11 này.”

Trong khi đó hãng VTCNEWS nói rõ Khánh Ly có khả năng trình diễn vào tháng 12, thay vì tháng 11. Bản tin viết : “Phóng viên đã liên lạc với ông Nguyễn Ngọc Sơn, chủ phòng trà Đồng Dao cũng như công ty TNHH Giải trí Đồng Dao để xác minh lại một lần nữa. Và theo ông Sơn khẳng định thì việc “người đàn bà hát nhạc Trịnh hay nhất” sẽ về biểu diễn ở Việt Nam là hoàn toàn chính xác.

“Thực ra, chúng tôi chưa xác định được thời gian cụ thể là vì còn chờ vào giấy phép. Sau khi được cấp phép rồi thì hiện chúng tôi đang liên lạc với chị Khánh Ly để lên lịch diễn. Nếu không có gì thay đổi thì chúng tôi sẽ thực hiện bốn chương trình tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP HCM như mọi người đã biết", ông Sơn nói.

Cũng theo ông Sơn thì nhiều khả năng chương trình sẽ diễn ra vào tháng 12 chứ không phải là tháng 11 như báo chí đã đưa tin. Danh sách các ca sĩ khách mời vẫn là Tuấn Ngọc, Elvis Phương và Hà Anh Tuấn.”

AI DÀN DỰNG ?

Trước đó vào ngày 26/09/2012, Ông Nguyễn Ngọc Sơn - chủ phòng trà, công ty Đồng Dao, người đứng ra xin phép và tổ chức đã trả lời Báo Lao Động ngày 26/09/012, theo tường thuật của Minh Thi như sau :

“Khi được hỏi, làm sao mà ông mời được ca sĩ Khánh Ly về nước biểu diễn (trước đó có nhiều lời mời, nhưng chị chưa chọn được thời điểm trở về), ông Sơn cười vui: “Không phải là mời, mà là chương trình chị Khánh Ly muốn làm ở quê hương. Được về VN biểu diễn là mơ ước từ lâu của chị Khánh Ly. Hơn ai hết, chị muốn kỷ niệm 50 năm ca hát của mình ở VN, chứ không ở đâu khác (Khánh Ly đi hát từ tháng 11.1962). Chương trình này do chị biên tập về mặt âm nhạc, và do chị đặt hàng cho chúng tôi thực hiện.

Thế nhưng, chúng tôi xin phép từ năm ngoái, mà đến ngày 24.9, chương trình mới được cấp phép”.

H: Cơ duyên nào khiến nữ danh ca Khánh Ly chọn ông làm đối tác thực hiện chương trình?

Đ: ”Tôi từng gặp chị ở Mỹ cách đây hai năm. Chị em trò chuyện với nhau, và sau đó còn nhiều lần liên lạc qua lại nữa. Chị đã tin tưởng giao cho tôi việc này. Nhận là tôi rất vui, bởi từ trước tới nay tôi rất yêu giọng hát của chị. Nhưng từ trước đến giờ còn chờ giấy phép, đến lúc này tôi mới triển khai. Thế nên, chưa chọn được đạo diễn và ngay cả thời gian, địa điểm tổ chức đến giờ cũng chưa gút lại được. Giá vé cũng chưa thể công bố…”

H: Trong chương trình, được biết, Khánh Ly sẽ hát 20 ca khúc, chủ yếu là của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Trong đó có ca khúc nào mới không, thưa ông?

Đ:- “Chủ yếu là những bài đã gắn bó tên tuổi của Khánh Ly với dòng nhạc Trịnh không ai có thể thay thế được. Những bài hát này chúng tôi sau khi xin cấp phép từ phía Cục Nghệ thuật biểu diễn (NTBD), sẽ trả
tác quyền cho gia đình nhạc sĩ đầy đủ. Ngoài ra còn có 2 ca khúc của nhạc sĩ Vũ Thành An, trong đó có
một bài mới do nhạc sĩ viết riêng cho chị.””

Cũng nên biết báo Giáo dục Việt Nam và báo Hà Nội Mới đã đăng một số bài viết chỉ trích “tư cách” và “lập trường chính trị” của Khánh Ly trước và sau khi có tin Khánh Ky sẽ về Việt Nam trình diễn.

Nhưng mục đính để làm gì hay chỉ cố tạo dư luận để chống việc Khánh Ly về nước, hoặc tạo nên một “phong trào quần chúng” để chuẩn bị hành động làm mất uy tín của Khánh Ly và phá các buổi trình diễn của Công ty Đồng Dao ?

Tỷ dụ như trong bài viết ngày Thứ hai 13/08/2012, báo Giáo dục Việt Nam đã chạy tít : “Khánh Ly có đáng được 'hưởng hạnh phúc' như Chế Linh?” (Ca sỹ Chế Linh mới hòan tất một chuyến biểu diễn ở Việt Nam).

Trước đó báo này cũng bêu rêu : “Sự thật tài năng và nhân cách của Khánh Ly” (Thứ ba 07/08/2012},hay “ Sự tráo trở của Khánh Ly” (Thứ ba 07/08/2012)

TIẾNG NÓI KIỂM DUYỆT

Trong khi chờ có sự giải thích (hy vọng) của báo GDVN thì cũng nên biết nhà nước CSVN đã “xem xét hồ sơ” của Khánh Ly như thế nào trước cho đồng ý cho về nước ?

Báo Tuổi Trẻ viết ngày 26/09/2012 : “ Thứ trưởng Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch Vương Duy Biên - Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn và cũng là người đã "xem xét, nghiên cứu" rất kỹ hồ sơ xin cấp phép này

H: Thưa ông, quyết định cho phép ca sĩ Khánh Ly và ca sĩ Bằng Kiều về biểu diễn chính thức trong nước vừa được công bố, nhưng phải chăng đã có một quá trình chuẩn bị trước đó khá lâu? Với tư cách một người đứng đầu Cục Nghệ thuật biểu diễn, ông có thể cho biết về quá trình này?

Đ: Ðúng là những trường hợp nhạy cảm như thế này không thể đưa ra quyết định chớp nhoáng trong thời gian ngắn. Với những nhân vật được công chúng biết đến nhiều như Bằng Kiều và đặc biệt là Khánh Ly, phải có một quá trình lâu dài xem xét các hoạt động nghệ thuật của họ để có thể đi đến những quyết định quan trọng như thế này.

Bằng quyết định này, chúng tôi muốn thể hiện chính sách cởi mở của Nhà nước, tạo điều kiện cho những nghệ sĩ nay muốn hướng về Tổ quốc, có thể trở về biểu diễn cho đồng bào mình, ngay trên quê hương mình.”

Nhưng tại sao Khánh Ly lại bị đặt vào diện “nhạy cảm” và “nhạy cảm” là cái chi chi ? Chẳng lẽ người Ca sỹ hát Nhạc Trịnh Công Sơn số 1 hơn bất cứ ai, từ trong nước ra ngòai nước lại thuộc thành phần “các thế lực thù địch”cần phải “coi chừng” hay sao, hay là sự có mặt của Bà trên sân khấu hay tiếp xúc với người mến mộ ở Việt Nam có thể sẽ gây “phản xạ” cho nhà cầm quyền Việt Nam ?

Vậy phải chăng khi đồng ý cho Khánh Ly về nước biểu diễn thì Cục nghệ thuật biểu diễn đã thấy mình đạt được mục tiêu tuyên truyền cho điều được gọi là “chính sách cởi mở của nhà nước” ?

Nếu thế thì nhà nước CSVN cần phải “soi gương nhìn lại mặt mình” xem người trong nước hay người ngòai nước đang cần được cởi trói để có tự do, dân chủ và quyền bình đẳng làm người ?

Trả lời câu hỏi liên quan đến chuyện “kiểm duyệt” các Bài hát trước, Vượng nói : “ Vừa qua, chúng tôi mới đồng ý cho phép hai nghệ sĩ (Bằng Kiều,Khánh Ly) về Việt Nam biểu diễn, các đơn vị tổ chức biểu diễn sẽ có trách nhiệm xây dựng kịch bản chi tiết nội dung chương trình và báo cáo cơ quan cấp phép, sau khi hồ sơ công diễn chương trình được cấp phép, khi đó sẽ có những bài hát, tiết mục cụ thể.
Tuy nhiên, chắc chắn các bài hát được biểu diễn trong chương trình sắp tới sẽ không thể nằm ngoài danh mục bài hát được phép biểu diễn. Tất cả công chúng yêu âm nhạc đều có thể xem danh sách này tại website của Cục Nghệ thuật biểu diễn (cucnghethuatbieudien.gov.vn).”

Như vậy, việc kiểm duyệt các bài hát và chương trình biểu diễn của Khánh Ly, nếu Bà về nước thực hiện, cũng như nhà nước đã làm đối với các Ca sỹ hải ngọai khác về Việt Nam biểu diễn, cũng chỉ xác nhận điều đảng CSVN vẫn liên tục bác bỏ đó là “ở Việt Nam không có tự do tư tưởng” ./-

Phạm Trần
(09/012)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

'Đàn ông không nhậu thì về mặc váy với vợ'

Đâu phải giá trị của thằng đàn ông được chứng minh thông qua số lít rượu anh ta uống, số lon bia anh ta có thể cho vào bụng mà chua xót hơn tôi nhận ra giá trị của con người bị mất đi khi ngồi vào những cuộc nhậu như thế.

Tôi đã bỏ nhậu. Nhiều người sẵn sàng bỏ vợ, bỏ con, bỏ cả gia đình, sự nghiệp chứ nhất quyết không bỏ rượu. Vậy tại sao tôi bỏ rượu bia?

Vì tôi thấy văn hóa nhậu của người Việt Nam mình quá dở, dở lắm lắm nhưng đến giờ tôi mới nhận ra, hoặc có thể tôi nhận ra lâu rồi nhưng vẫn u u mê mê không để ý.

Văn hóa nhậu ở Việt Nam: đã ngồi vào bàn là phải uống, mà đã uống là phải 100%, phải kiệt ly, phải cạn ly, phải theo bàn, phải ôm chai... Nói chung là phải hết mình, ai không theo được như vậy hoặc lên tiếng không uống sẽ bị phán không nhiệt tình, không hết mình, không có tình cảm với anh em, coi thường bạn bè, nặng hơn thì không phải đàn ông...

Tôi đã từng chứng kiến một người bạn đi du lịch cùng cơ quan tôi. Đến bữa ăn, mọi người dùng bia, anh ấy nói không uống được bia rượu và xin dùng nước ngọt. Ngay lập tức một đồng nghiệp lớn tuổi trong bàn phán một câu không nể nang gì: "Uống nước ngọt hả, vậy đi về mặc váy với vợ cho rồi".

Tôi nghe mà sượng cả mặt, sao lại có thể nặng lời với nhau đến thế trong bữa ăn? Bạn tôi bị mất mặt giữa chốn đông người, anh ăn uống qua loa và rút nhanh ngay sau đó. Tôi nhìn đồng nghiệp lớn tuổi, khả kính mà ái ngại thay.

Riêng tôi trước đây tôi cũng có quan niệm gần gần như thế, không đến mức cực đoan nhưng tôi cũng đánh giá những người không uống hoặc uống không nhiệt tình là không hết mình với anh em và có chút gì đó coi thường họ.

Nhưng hỡi ôi, sau khi hết mình với anh em, nhiệt tình với bạn bè thì giá trị đàn ông nằm ở đâu? Câu trả lời chắc chắn rằng không phải nó nằm ở số lít, số chai, số lon mỗi người uống được, mà nó vỡ như bọt xà phòng khi còn đó là những thân xác tàn tạ, nói năng loạn xạ không ra một trật tự nào, đi đứng liêu xiêu.

Tôi chỉ bàn về việc nhậu nhẹt của đàn ông, còn phụ nữ nhậu nhẹt say sưa thì tôi khỏi nói, từ đàn ông mà quy chiếu ra và cộng thêm chút chút nữa các bạn cũng có thể thấy được.

Một câu chuyện khác của tôi. Trong một dịp tổng kết cuối năm, chúng tôi đi ăn uống tại nhà một người bạn và tất nhiên không thể thiếu nhậu - một phần tất yếu của cuộc sống mà. Sau khi trải qua khoảng sáu tiếng đồng hồ chinh chiến, mỗi người "nốc" (uống) khoảng 10 – 12 lon bia, riêng tôi thú thực là chỉ uống được 4 lon mà thôi.

Để đủ sức ngồi lại với anh em cho đến lon thứ 12 tôi đã phải vào WC hai lần, tống hết tám lon bia cùng toàn bộ những gì có trong dạ dày đi để lấy chỗ uống tiếp. Cũng nhờ vậy mà tôi trụ lại được đến cuối cùng. Một số khác không may mắn (hoặc có thể là may mắn) không thể trụ nổi đã gục trên bàn, tay vẫn ôm lon bia một cách lưu luyến không buông. Một người thì vào ôm WC cố thủ quyết không ra.

Chiến trường la liệt những lon đã hết được rải khắp phòng, mùi bia xông lên nồng nặc, trên bàn ngổn ngang thức ăn thừa và cả bia thừa nữa, số còn lại quyết định đi uống tiếp, vừa bước ra của một anh bạn của tôi nôn thốc nôn tháo ngay trước mặt mọi người, tôi nhìn thấy chợt tỉnh cả người và quyết định đi về.

Trước đây cảm nhận của tôi về anh bạn này rất tốt, rất nể, rất có uy tín một người uống rất khỏe nhưng nay ấn tượng của tôi với anh mất hết, tôi thấy anh rất bình thường, hình ảnh của anh trong tôi là một người bệ rạc, vì sao lại đến nỗi như thế, vì ai các bạn cũng rõ, câu trả lời chính là vì rượu bia.

Sau khi say xỉn đến độ không biết gì như thế bao nhiêu hệ lụy xảy ra, không kiểm soát được chính mình, không kiểm soát được hành động lời nói, hàng xóm láng giềng hết tình hết nghĩa, bạn bè, anh em không nhìn mặt nhau, vợ chồng lục đục, bạo hành gia đình, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội...báo đài đăng liên tục, ngày nào cũng thấy, càng kể ra càng thấy sợ.

Chỉ có người trong cuộc như tôi mới thấm thía, mới cảm nhận, mới trải nghiệm đầy đủ sự quá tải của việc nhậu và cuối cùng tôi nhận ra rằng không cần thiết phải nhậu mới chứng tỏ giá trị của một người đàn ông mà theo như nhiều người nói là "nam vô tửu như kỳ vô phong". Theo tôi, câu nói này xưa rồi, giá trị đã lỗi thời mất rồi.

Vì sao người Việt Nam nghèo mãi vẫn nghèo, có rất nhiều lý do nhưng theo tôi một trong những lý do rất quan trọng không thể không kể đến đó là do người Việt Nam lãng phí quá nhiều, lãng phí tài nguyên, lãng phí con người và lãng phí cả bia, rượu nữa.

Không lãng phí sao được khi cố gắng uống càng nhiều càng tốt rồi sau đó tống ra càng nhiều càng tốt. Mà một lon bia có giá trị bằng khoảng một kg gạo.

Một cuộc nhậu ở trên tôi đã dùng hết 12 lon bia, tương ứng với tôi đã dùng khoảng 12 kg gạo. Rồi sau đó tôi tống hết ra ngoài gần 8-9 kg. Vậy là tôi đã lãng phí như thế đấy.

Giả sử nếu tôi không nôn thì số bia đó cũng ra sức tra tấn lục phủ, ngũ tạng của tôi đến mức đầu đau như búa bổ, tim đập loạn xạ, huyết áp tăng, thận và phổi làm việc hết công suất và chắc chắn cái dạ dày tội nghiệp của tôi phải oằn lưng chịu trận (lãng phí sức khoẻ và tuổi trẻ).

'Văn hóa nhậu' là con sâu, là căn bệnh trầm kha. Nó cắn nát đi nhân cách, trí tuệ, của cải của người dân Việt Nam, nó cắn nát thuần phong, mỹ tục của chúng ta nó làm cho hình ảnh của người Việt Nam xấu đi rất nhiều trong mắt bạn bè quốc tế, làm họ coi thường chúng ta.

Khi nói đến đây tôi đã dừng lại rất lâu và suy ngẫm, chính nó càng cũng cố hơn nữa quyết định bỏ rượu bia của tôi. Giờ tôi mới cảm thấy khâm phục những người không uống rượu bia, và từ chối không uống rượu bia.

Tôi nhớ lại ngày xưa khi mình còn nhậu, nhớ nụ cười của họ. Tôi từng nghĩ là họ ngại nên cười trừ nhưng không phải vậy, giờ tôi mới cảm nhận được lúc ấy họ cười là cười những người u mê như tôi, lao vào rượu bia như con thiêu thân.

Thực sự để có được quyết tâm, ý chí để từ bỏ rượu bia là rất khó, nhưng giờ đây tôi sợ quá, nghe đến nhậu nhẹt là tôi sởn cả gai ốc. Tôi phải bỏ thôi, bỏ tiệt nhậu nhẹt. Ai có bĩu môi cười tôi tôi cũng bỏ, ai có chê tôi tôi cũng bỏ, ai có nói ngược nói xuôi tôi cũng bỏ.

Vì tôi biết có bỏ nhậu nhẹt triền miên tôi mới có cuộc sống bình yên, bỏ nó tôi mới có trí tuệ minh mẫn, và trên tất cả bỏ nó tôi mới có gia đình hạnh phúc.

Nguyễn Hữu Trí
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Thư gửi chị Khánh Ly

Saturday, 29 September 2012 13:56

.
Chúng em,một nhóm nam, nữ sinh trẽ thuộc các trường đại học rãi rác trên khắp 3 miền đất nước xin mạo muội gửi đến chị bức tâm thư này
trước khi chị về Việt Nam hát (nếu đúng như báo chí đang quảng cáo)!)
Chúng em, một thế hệ trẻ sinh ra sau thời chinh chiến.
Cái thế hệ 7X, 8X... 9X này nay đã bắt đầu lớn lên cùng vận nổi trôi của đất nước và bắt đầu đam mê nhạc.
Trong đam mê đó, chúng em bắt gặp dòng nhạc Trịnh cùng tiếng hát Khánh Ly với những lần nghe lén qua băng nhựa
hoặc bán công khai khi tụm năm tụm ba uống cà phê để thể hiện mình đã trưởng thành.


Image
Khánh Ly và Trịnh Công Sơn. Photo courtesy: Khánh Ly


Ở đó, chúng em gậm nhắm từng nốt nhạc và từng lời ca của 1 nhạc sĩ đã ra đi để lại "Gia tài của mẹ" với 1000 năm đô hộ giặc Tàu… sao mà thắm thía thế! Ở đó, chúng em lặng lẽ nhìn nhau với "Người chết 2 lần thịt da nát tan" trong "Đại bác ru đêm" vì trên đường xe cứu thương chở vào bệnh viện thì trúng đạn pháo kích lần thứ hai nữa. Có lần cô chủ quán cà phê giải thích "Không phải thế đâu! Người chết 2 lần là vì "đồng đội được lệnh không thể mang xác bạn mình vô (bưng) rừng lại nên cài mìn dưới xác để trả thù khi địch đến lấy xác trưng bằng chứng cho nhân dân xem! Chúng em chả biết cái nào đúng nên lần này chúng em mong chờ chị Khánh Ly về VN hát để chúng em hiểu rõ và nhận diện rõ hơn qua cách thể hiện của chị, người chuyển tải trọn vẹn ý đồ con tim của họ Trịnh!

Những bài hát của "Ca Khúc Da vàng" Nối vòng tay lớn, vượt không gian thời gian này của họ Trịnh đã thầm lặng đi vào trong máu tim nhân dân Việt Nam nói chung và chúng em nói riêng.

Tiếc thay, ngày xưa những người đàn cô đàn chị như chị hát thì được phong cho là "người yêu nước", còn bây giờ chúng em cất tiếng lên là sẽ được tặng cho danh hiệu "phản động", là tuyên truyền chống chế độ, là làm mất trật tự là "làm mất vẽ đẹp thành phố" và là do âm mưu xúi giục của bọn diễn biến hòa bình".

Chúng em không hiểu nếu sắp tới đây chị về mà hát "Gia tài của mẹ", Đại Bác ru đêm" hoặc "Hát trên những xác người", “Nối vòng tay lớn”... trên sân khấu để chúng em được hát theo chị dưới sân khấu và cùng đứng dậy vỗ tay thể hiện "người yêu nước"như chị thì "hạnh phúc nào bằng"?

Chúng em không muốn thất vọng khi phải nghe "Diễm xưa","Mưa hồng".... vì sẽ bị đám bạn bè chọc quê "Xưa rồi Diễm ơi!". Chúng em cũng chẵng màng nghe chị song ca (với Bằng Kiều chẵng hạn) về những bản nhạc tình ca của Trịnh (như trên Paris by night) vì ở đây cũng có nhiều ca sĩ trẻ đẹp thể hiện "nhạc tình thời đại", nhảy múa như con rối phù hợp với xã hội chủ nghĩa đầy rẫy ra rồi chị ạ! Hoặc nếu trên chỉ cho phép chị hát những bài nhạc tình vu vơ của Trịnh thì mong chị hãy rút ngắn lần hát lại vì bây giờ làm sao chị có thể thể hiện ngọt ngào sâu thẳm như tuổi 20 của chị trong băng nhựa còn truyền tay nhau của chúng em phải không chị? Vì vậy chúng em ao ước nghe và nhìn chị biễu diễn tâm tư của 50 năm về trước cho thật với lòng chị thì giá trị tâm tư này mới là tâm tư chúng em chị ạ!

Có một điều chúng em muốn thưa cùng chị là chúng em đã hụt hẫng, thất vọng 1 lần qua vụ về trình diễn của chú Chế Linh, lần này chị đừng để chúng em thất vọng thêm một lần tương tự nữa! Chị hãy chứng tỏ là "cây đại thụ" đặc biệt chuyển tải ước vọng tuổi trẻ chúng em qua nhạc Trịnh nhất là trong tình hình dầu sôi lửa bỏng của biển Đông, một "gia tài của mẹ" không thể thêm 1000 năm nô lệ giặc Tàu nữa như Trịnh công Sơn đã viết.

Kính chúc chị nhiều sức khõe và thực hiện những giấc mơ của chị.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Thói quen
- Câu chuyện về loài chim ó:

Nếu đặt một con chim ó vào trong một chiếc lồng, với kích thước khoảng 2m x 2,5m, nhưng hoàn không có nóc, tức là phần trên lồng được mở toang; con chim này sẽ vẫn hoàn toàn là một... tù nhân trong lồng đó.


Lý do: con chim ó có thói quen luôn bắt đầu bay bằng cách “chạy lấy đà” khoảng 3- 4m đầu tiên. Không có quãng đường để chạy lấy đà, theo thói quen, thì chim ó không thể bay lên được, và do vậy nó sẽ chấp nhận bị cầm tù suốt đời, trong một “nhà giam” nhỏ không có mái!

- Câu chuyện về con dơi:

Một con dơi thường bay ra ngoài kiếm ăn vào buổi tối. Nó là một sinh vật nhanh nhẹn, linh lợi và bay chính xác.

Tuy nhiên, nó không thể tự cất cánh được nếu lúc ban đầu không thả người rớt xuống. Tức là nói có thói quen phải tự thả người nó rớt xuống rồi mới bay lên được. Nếu nó được đặt trên mặt sàn hoặc một mặt phẳng, thì nó chỉ có thể lê bước di chuyển người nó loanh quanh một cách vô vọng, và, tất nhiên vô dụng, không thể bay đi được. Chỉ khi nào nó được rớt xuống từ một độ cao nhỏ thì nó mới có thể tung mình bay vào không trung được.

- Câu chuyện về con ong nghệ:

Con ong nghệ vốn bay rất giỏi, nếu ta thả nó vào một cái ly lớn không đậy nắp, nó cũng sẽ ở mãi trong ly đó cho đến chết. Nó không bao giờ có thể nhìn thấy đường thoát ở phía trên, mà chỉ có thói quen cố gắng tìm cách nào đó thoát ra qua các mặt ngang bên thành ly, hoặc qua... đáy ly!

- Và câu chuyện về con người...

Trong rất nhiều trường hợp, con người chúng ta cũng giống như con chim ó, con dơi và con ong nghệ kể trên.

Con người thường xuyên tự vật lộn một cách bất lực với tất cả các vấn đề rắc rối của mình, mà không bao giờ nhận ra được rằng rất có thể có một giải pháp giúp họ giải quyết được vấn đề đang ở rất gần, ở ngay trước mắt họ mà họ không nhìn thấy (hoặc không chịu nhìn thấy), vì từ lâu, con người đã thường tự giam mình vào trong những "cái lồng" của thói quen, của thành kiến hẹp hòi, của sự cố chấp, sự ngu dốt, sự ích kỷ, sự tham lam, và sự sợ hãi của bản thân mình... và kể cả sự lệ thuộc vào người khác.

Nếu con người chịu khó tỉnh táo, sáng suốt tự nhìn lại mình và tìm cách thoát ra khỏi những "cái lồng" đang giam hãm mình và làm cho mình mù mắt đó, thì họ sẽ tìm thấy ngay giải pháp cho tất cả các vấn đề rắc rối đang xảy ra với chính họ!
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »


Image

Một Ngày ở Nursing Home.

"Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể
Con nuôi cha mẹ kể tháng kể ngày..."
Sau ba tháng du lịch ở Mỹ về, những người quen hỏi tôi điều gì làm tôi tâm đắc nhất. Không chút do dự hay suy nghỉ, tôi trả lời: đó là cái Nursing Home.

Họ ngạc nhiên khi thấy tôi không đề cập đến những địa danh nổi tiếng: như Las vegas, Hollywood, Disney-land, những tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới hoặc những cái Mall rộng lớn đi cả ngày chưa hết, những viện bảo tàng, những đại lộ thênh thang, chồng chéo lên nhau như những sợi mì....

Tôi đã hưởng một chuỗi ngày dài thật tuyệt vời,với biết bao điều mới lạ, hiện đại, tối tân mà từ trước đến giờ tôi chưa hình dung hay tưởng tượng ra nỗi.

Thế mà khi trở về Việt Nam, tâm trí tôi chỉ còn lắng đọng một điều làm tôi ưu tu, trăn trở, ray rức: cái Nursing Home mà mẹ chồng tôi đang sống.

Chặng cuối cùng của chuyến du lịch, chúng tôi đã ở Los Angeles mười lăm ngày để thăm viếng mẹ chồng. Hằng ngày, chúng tôi phải chuyển hai chuyến xe bus, GardenGrove, Westminster, Bolsa và bao nhiêu đại lộ nữa mà tôi không nhớ hết tên, đưa chúng tôi gần trạm cuối cùng của lộ trình.

Chúng tôi phải đi bộ khoảng năm trăm mét để đến khu dưỡng lão của một tổ chức tư nhân. Đó là một khoảng đất rộng, nằm khuất sau đại lộ Hungtington hai con đường, cách bờ biển Hungtington chưa tới hai cây số. Một nơi yên tĩnh, vắng vẻ, với hai hàng cây sồi đưa vào cái ngõ cụt.

Gồm ba dãy nhà trệt, ghép thành hình chữ U, nó êm dịu với những cánh cửa sơn màu xanh da trời, nổi bật màu sơn trắng của những bức tường, với những khung kính to trong suốt, lịch sự và trang nhã, bằng những tấm màn voan trắng che rủ. Những khóm hoa hồng, cẩm tú cầu được trồng một cách mỹ thuật trước hàng hiên, dưới cửa sổ, tạo cảm giác vui tươi, hưng phấn khi ngồi trên bộ bàn ghế để phơi nắng hoặc hóng mát dưới tàng cây.

Khi vợ chồng tôi đến nơi, kim đồng hồ của phòng trực chỉ 8 giờ 30 phút, bác sỉ và y tá đang đi từng phòng kiểm tra sức khỏe cho các cụ già. Mẹ chồng tôi tươm tất, sạch sẽ trong bộ quần áo mới thay, nét mặt tươi tỉnh. Họ đã làm vệ sinh cá nhân cho bà từ sáng sớm, trước khi dùng điểm tâm. Mâm thức ăn sáng chưa dọn, còn để trên bàn. Cô y tá người Việt vào kiểm tra huyết áp, đo lượng đường trong máu, rồi rót nước, bỏ thuốc vào miệng bà, ân cần thăm hỏi.

Mẹ chồng tôi không còn nhiều trí nhớ để trò chuyện. Bà hờ hững trả lời những câu hỏi không chính xác, mạch lạc. Những ngày đằng đẳng ở đây đã làm bà trở nên câm lặng. Trái ngược với thuở sinh thời, bà nổi tiếng là người nói nhiều. Ánh mắt vô hồn, lúc nào cũng nhìn lên trần nhà và tách biệt với cảnh vật chung quanh.

Thời gian đầu cách đây mười bảy năm, cô em chồng đã bảo lãnh bà sang Mỹ. Bà đã sống một mình trong một căn phòng mà chính phủ ưu tiên cho người già thuê. Ban ngày bà ở đó, chiều đến con cháu thay phiên đón về nhà ăn, ngủ, tắm rửa. Sáng hôm sau lại tiếp tục, như một em bé đi nhà trẻ, đều đặn từ tháng nọ sang năm kia.

Gần đây, do tuổi tác quá cao (93 tuổi), bà bị té gãy xương đùi, không thể đi lại được,và không thể tự lo vệ sinh cá nhân, nên cô em chồng sau khi bàn tính với các anh chị đã quyết định đưa bà vào đây. Anh em chúng tôi như bị dồn vào ngõ cụt, tiến thoái đều lưỡng nan. Khó tìm một giải pháp vẹn toàn, con đường nào cũng trắc trở, chông gai. Phải chăng là do số phận, do định mệnh hay do nghiệp lực? Cuối cùng phải tự an ủi và chấp nhận, đó là quy luật đời thường mà xã hội đặt ra để giải quyết.

Lúc chưa sang Mỹ, tôi rất có thành kiến không mấy tốt đẹp và phản đối việc đem gửi cha mẹ vào viện dưỡng lão. Giờ đây tôi mới biết rằng tôi hiểu chưa thấu. Luật pháp ở đây không cho người già yếu và trẻ con ở nhà một mình. Thuê người giúp việc thì không có, hoặc rất là đắc đỏ. Con người ở đây chịu rất nhiều áp lực về công việc làm ăn, tiền bạc.

Để đáp ứng nhu cầu vật chất gọi là thiên đường của sự hưởng thụ, người ta phải đánh đổi bằng những món nợ khổng lồ, mà người ta truyền miệng nhau: "không mắc nợ không phải là người Mỹ", đánh đổi sự mất mát tình cảm, đổ vỡ hạnh phúc gia đinh, có khi luôn cả sinh mạng.

Những tấm gương hiếu thảo của thầy Mẫn Tử Khiên trong Nhị Thập Tứ Hiếu: "thờ cha sớm viếng khuya hầu" sẽ không có chỗ đứng trong thời khóa biểu của các người con ở thời hiện đại này. Chỉ có những viện dưỡng lão mới đáp ứng những lổ hổng mà người con không thể lấp đầy được.

Ở đây, chỉ cần một cái nhấn chuông là có bác sĩ, y tá, điều dưỡng, sẵn sàng đáp ứng, giải quyết điều mình yêu cầu. Mẹ chồng tôi kêu đau bụng, là có ngay hai cô điều dưỡng người Mễ cao to, khỏe mạnh bồng bà đặt lên cái ghế dành cho người khuyết tật, đẩy vào nhà vệ sinh. Tiểu tiện thì tự do thãi vào tả lót, đến giờ họ đi thay.

10 giờ sáng và 3giờ 30 phút chiều, các cụ được tập trung ở phòng giải trí. Những chiếc xe lăn được đẩy tới, xếp thứ tự quanh chiếc bàn dài. Họ tham gia những trò chơi đố chữ, chuyền banh, những trò chơi vận động tay chân, nghe nhạc, xem tivi, và kết thúc bằng bánh ngọt hay trái cây với nước giải khát.

11 giờ 30 và 5 giờ chiều các cụ tập trung ở phòng ăn. Những mâm thức ăn dư thừa năng lượng. Ai không thích ngồi tại đây, thì yêu cầu mang vào phòng. Những chiếc xe lăn được đẩy tới, xếp quanh cái bàn tròn. Bàn này có tám người, ba người đàn ông và năm người đàn bà.

Chỉ có mẹ chồng tôi là người Việt. Ông Mỹ đen trên bốn mươi tuổi, bị tai biến mạch máu não, tay không cử động được, nên người điều dưỡng phải đút cho ông và hai bà kế bên. Tôi đặc biệt chú ý đến một bà Mỹ trắng, tuổi trên độ "thất thập cổ lai hi", nét mặt thanh tú, dáng người thon nhỏ, mãnh mai. Thời con gái chắc bà được xếp vào hàng mỹ nhân. Đôi mắt to và buồn. . . . đôi mắt như biết nói, khi đối diện với một người nào.

Ngày đầu tiên, bà nhìn tôi cười và chỉ mẹ chồng tôi hỏi "tôi là gì". Tôi trả lời là “con dâu”. Câu chuyện giữa tôi và bà chỉ dừng lại ở những câu xã giao thông thường. Vốn liếng Anh ngữ nghèo nàn của tôi, không cho phép tôi tìm hiểu sâu hơn nữa. Hoặc nếu bà có tâm sự, tôi cũng không thể hiểu hết được.

Một bữa, tôi thấy bà không chịu ăn, bà ngồi trầm ngâm, rồi những giọt nước mắt liên tục tuôn trào trên gò má xanh xao. . . Bà khóc nức nở. Những người bạn cùng bàn an ủi, làm bà càng khóc to hơn. Tôi nắm tay bà, lau nước mắt và đút cho bà ăn. Bà vẫn khóc như một đứa trẻ. Liên tiếp ba ngày như vậy.

Tôi được biết qua cô y tá người Việt, là lâu rồi con bà không đến thăm. Hình ảnh tôi đút cơm cho mẹ chồng, làm bà nhớ con và chạnh lòng buồn tủi. Những ngày sau cùng, tôi không dám đưa mẹ chồng ra phòng ăn. Tôi không dám nhìn bà khóc thêm nữa. Lòng tôi cũng xao động, nước mắt tôi cũng chảy dài. Bởi tôi là người rất nhạy cảm và dễ xúc động.

Tôi rón rén ra nhìn. Bà ngồi đó, đôi mắt xa xăm, tư lự. Chắc chắn bà đang nghĩ về con bà. Biết bao câu hỏi, đang quay cuồng trong tâm trí: sao lâu rồi con không đến, bận rộn hay có sự bất trắc gì đã xảy ra? Bà vừa lo, vừa buồn, rồi giận, rồi thương, nhớ, làm bà không tự chủ, đè nén những cảm xúc của mình.

Chắc chắn, không biết bao nhiêu lần, cuốn phim dĩ vãng của một thời vàng son đã lần lượt, thường xuyên quay lại trong ký ức của bà. Bà nhớ đến người chồng quá cố, nhớ những đứa con bà hết lòng thương yêu, nhớ những ngày đầm ấm hạnh phúc, nhớ những lo toan, thăng trầm trong cuộc sống. Giờ này con bà có biết bà đang mỏi mòn trông đợi hay không?

Ở đây, cái viện dưỡng lão này chỉ giúp người già cải thiện, bù đắp những thiếu sót về vật chất, mà con cái không thể hoàn thiện được. Bác sĩ, y tá, thức ăn, thuốc men, máy móc, chỉ giúp họ hết đau đớn về thể xác. Cái tensionmètre chỉ đo được chỉ số huyết áp giao động trong ngày, các máy móc kỹ thuật cao phát hiện những tổn thương sâu trong cơ thể.

Tất cả những thứ đó không giải quyết, chữa trị được những đau đớn tinh thần, những giao động tâm lý, những khắc khoải triền miên của lòng khát khao yêu thương. Đó là căn bệnh trầm kha mà không máy móc, bác sỉ, y tá nào chữa trị được. Đó là thứ thức ăn linh nghiệm và hiệu quả mà con người đã mỏi mòn tìm kiếm và chưa bao giờ thấy no đủ.

Mẹ chồng tôi có sáu người con: bốn trai hai gái. Một mình bà nuôi nấng sáu người con khôn lớn trưởng thành. Giờ đây khi tuổi tác chồng chất, sáu người con không chăm sóc được một mẹ già. Dù rất thương mẹ, dù biết công đức sinh thành dưỡng dục, sâu rộng như trời biển; nhưng không thể nào làm tròn bổn phận, bởi những tất bật, căng thẳng và đa đoan của cuộc sống.

Bên Mỹ có ngày Mother's day và Father's day. Việt Nam có ngày Vu Lan-Bông hồng cài áo. Ai còn cha mẹ thì cài một đóa hoa cẩm chướng đỏ hay hoa hồng đỏ. Ai mất mẹ thì cái một bông cẩm chướng trắng hay hoa hồng trắng. Một hình ảnh biểu trưng, chọn một ngày để nhắc nhở những ai diễm phúc còn có mẹ, để mà yêu thương và trân quý. Với tôi một ngày trong một năm như thế là quá ít ỏi. Chẳng khác nào hạt muối trong đại dương.

Mỗi ngày, ít lắm mỗi tuần, tệ lắm mỗi tháng, ta phải tự cài lên áo một hoa hồng đỏ, qua một món quà mà mẹ yêu thích: cái bánh, củ khoai, trái chuối, ly sữa. . . . một lời thăm hỏi ân cần, một câu nói ngọt ngào, một ánh mắt ấm áp chan chứa yêu thương, một cử chỉ âu yếm, quan tâm, lo lắng. Đó là đóa hoa hồng đỏ, đã tự nở trên áo của ta, không đợi đến ngày Vu Lan được mọi người nhắc nhở.

Em chồng tôi, đều đặn mỗi ngày ghé thăm mẹ, với những món quà mà bà mẹ Việt Nam yêu thích. Mỗi tuần cô cài đủ bảy hoa hồng đỏ thắm. Bảy ngày hạnh phúc và luôn thầm cảm ơn cái đặc ân còn có mẹ để mà tự nguyện và hiến dâng. Thế mà mẹ chồng tôi vẫn không chịu đựng được sự trống vắng, cô đơn khi không có sự đồng cảm giữa những người xa lạ và ngôn ngữ bất đồng. Lúc nào bà cũng muốn về nhà, khẩn khoản muốn về nhà.

Cùng phòng với mẹ chồng tôi là một bà cụ người Bắc năm 54, mới đưa vào ba hôm. Người con gái lấy chồng lính Mỹ, đã bảo lãnh bà sang đây mười mấy năm về trước. Bà chỉ còn da bọc xương, lưng còng gần 90 độ. Bà nằm co quắp như con tôm luộc chín. Bà không còn đủ sức để ngồi lâu.

Bà chỉ ăn cháo và uống sữa. Buổi trưa, người con gái đem cháo đến đút cho bà, phát hiện đầu bà không ngẩng lên được. Cô ta hốt hoảng la toáng lên: "tại sao bà không ngẩng đầu lên được, tụi nó đã làm gì bà ? Có phải tụi nó giật đầu, giật tóc bà không ? Để tôi đi hỏi cho ra lẽ?". Bà không còn hơi sức mà trả lời.

Từ khi bà đến nằm trên cái giường này, tôi chưa nghe bà nói gì ngoài tiếng thều thào yếu ớt: "cho con về nhà, con muốn về nhà". Bà nhìn tôi cầu cứu, tôi nắm bàn tay khô đét, lạnh ngắt và hỏi bà cần gì. Bà chỉ nói một câu đó, lập đi, lập lại không biết bao nhiêu lần.

Bà tới đây từ một cái viện dưỡng lão khác, mà cô con gái chê là tệ quá. Cô ta sốt ruột vì thấy mẹ mình suy sụp nhanh chóng. Cô phản ứng lồng lộn. Lòng thương mẹ mù quáng làm cô thốt ra những câu nói không tế nhị. Bác sĩ và xe cấp cứu đến, người ta đưa bà vào bệnh viện lớn để rà soát lại cơ thể. Căn phòng chỉ còn lại một mình mẹ chồng tôi.

Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mình
Sáng khuya trưa tối, nhìn quanh một mình
Đời mong manh quá, kể chi chuyện mình


Đó là những câu hát não nùng, thật chua chát và đắng cay mà nhạc sĩ Lam Phương đã viết cho số phận của mình vào cuối đời, với những dư chứng của bệnh tai biến mạch máu não.

Chúng tôi về lại Việt Nam, với linh tính biết đây là lần cuối cùng chúng tôi còn thấy mẹ. Buổi chia tay đẫm nước mắt và đau buồn trĩu nặng tâm tư. Mười ngày sau, vào một đêm cuối mùa hạ 2006, mẹ chồng tôi đã vĩnh viễn không mở mắt nhìn cái trần nhà, mà mấy tháng ròng rã bà ít khi rời nó. Bà ra đi trong sự an giấc của mọi người, âm thầm lặng lẽ không một ai hay biết. Còn biết bao bà mẹ khác cũng đã và sẽ ra đi trong cô đơn tẻ lạnh như thế này.

Tất cả con cháu ở rải rác ở nhiều tiểu bang đau đớn khi nhận được tin khủng khiếp này. Cô em chồng tức tưởi vì bà không đợi cô. Chỉ vài tháng nữa cô sẽ nghĩ hưu non, sẽ đem mẹ về nhà phụng dưỡng. Cô đã không điều đình được với Thần Chết. Mọi người câm lặng chịu đựng.

Trong thâm tâm ai cũng trăn trở, ray rứt, xót xa vì biết bao điều chưa thực hiện: "địa ngục chứa đầy những dự định tốt đẹp".
Làm sao cân bằng lại tâm lý, tìm lại an bình, một khi lòng cứ khắc khoải bởi những dằn vặt, ăn năn.

Thời gian trôi theo sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Người ta đã chế tạo ra nhiều thứ.. kể cả người máy, nhưng có một thứ họ không chế tạo được là trái tim người mẹ. Con người vẫn ăn ngủ, làm việc, theo cái đà tiến hóa. Không biết đủ, không vừa lòng, họ có thể bị con lốc cuốn trôi theo cái thảm họa đua đòi vật chất.

Nếu không cảnh giác không dừng lại đúng lúc, họ sẽ là một thứ nô lệ mà suốt cuộc đời họ không hề biết hạnh phúc đích thực là gi. Quên bản thân, quên quyến thuộc, quên luôn cả tử thần đang rình rập, chờ đợi, bất cứ lúc nào cũng có thể cướp đi sinh mạng vốn đã mong manh trong từng hơi thở.

Tại ai ? Tại con người ? Tại xã hội hay tại ta sinh lầm thế kỹ ?

Nguyên Thúy
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Ðảng đánh nhau, nhân dân lãnh đủ

Song Chi

Hội nghị Trung Ương 6 khóa XI diễn ra giữa lúc đảng cộng sản Việt Nam đang phải đối diện
với muôn vàn khó khăn cũng như đang trong giai đoạn khủng hoảng về mọi mặt.

Image
Một người bán hàng rong đi ngang qua của hàng bán Iphone 5 ở Hà Nội. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn
ở Việt Nam là vấn đề nóng bỏng của xã hội.
(Hình: Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Từ nguy cơ vẹn toàn lãnh thổ và độc lập chủ quyền, sự đoàn kết trong nội bộ đảng và uy tín trước nhân dân, các vấn đề đối nội đối ngoại cần phải giải quyết và hướng đi cho tương lai, đặc biệt là trong lĩnh vực điều hành quản lý kinh tế.

Sự khủng hoảng, bất lực của đảng và nhà nước cộng sản thể hiện rõ trên bức tranh chính trị xã hội Việt Nam.

Hậu quả là gần 90 triệu người dân phải gánh chịu sự bất ổn đang tác động trực tiếp lên đời sống của họ từng ngày. Lạm phát phi mã, thu nhập không theo nổi với vật giá leo thang, xăng dầu, thuế má, viện phí, mọi thứ đổ lên đầu dân...

Bên cạnh đó, những căn bệnh trầm kha của xã hội vốn đã tồn tại từ lâu, cứ ngày càng tệ hại hơn.

Trong đó, nạn tham nhũng, sự dối trá, giáo dục bị “lạc đường” (phát biểu của Giáo Sư Hoàng Tụy, Tiến Sĩ Chu Hảo tại hội nghị về đổi mới giáo dục diễn ra hôm 29 tháng 9), cái ác ngày càng gia tăng về số lượng lẫn mức độ, tình trạng môi trường sống không an toàn... là những vấn đề nhức nhối nhất.

Trước thực trạng này, nhà cầm quyền dù có muốn bưng bít, che giấu hoặc tìm cách mị dân đến đâu, cũng không thể.

Từng ngày từng giờ, những thông tin thực, kể cả nguyên nhân gốc rễ của vấn đề, đang bị mạng lưới truyền thông báo chí “lề trái” phơi bày.

Còn với quốc tế, bộ mặt thật của nhà cầm quyền Việt Nam đã lộ rõ.

Một nhà nước độc tài, cai trị bằng bạo lực và sự sợ hãi, tước đoạt mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân, chà đạp lên mọi chuẩn mực, công ước quốc tế về nhân quyền...

Một nhà nước bị lệ thuộc nặng nề và ngày càng tự nguyện gắn chặt vào Trung Quốc, tách dần ra quỹ đạo chung của thế giới tự do dân chủ.

Một nhà nước mang tai tiếng nặng nề về tham nhũng và năng lực yếu kém trong điều hành quản lý kinh tế... Thế giới đã nói đến Việt Nam như một gương xấu về phát triển kinh tế, từ rồng biến thành mèo ra sao. (From Tiger to Pussycat: How Vietnam's Economy Got Off Track,” Newsweek Magazine.)

Nhiều đảng viên cao cấp phải thừa nhận chưa bao giờ uy tín của đảng cộng sản Việt Nam xuống thấp đến vậy, chưa bao giờ câu hỏi về tính chính danh của đảng lại bị đặt ra gay gắt đến thế. Dẫn đến “cuộc chỉnh đốn đảng vì sự tồn vong của chế độ” từ hội nghị Trung Ương 4 mà người dân vẫn gọi là “đóng cửa, tắm rửa vệ sinh cho nhau.”

Tất cả tạo một sức ép nặng nề lên bầu không khí của Hội nghị Trung Ương 6, như chính ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trong buổi khai mạc sáng 1 tháng 10: “Ít có hội nghị trung ương nào có nhiều nội dung và dự kiến họp dài như hội nghị lần này. Tất cả vấn đề được bàn và quyết định đều rất quan trọng và phức tạp...” (“Hội nghị Trung ương 6 bàn những vấn đề quan trọng,” báo Tuổi Trẻ)

Ðây cũng là một hội nghị mà từ trước đó, qua một số trang báo mạng độc lập, thông tin về những cuộc đấu đá tranh giành quyền lực dữ dội giữa các phe nhóm, đưa đến sự đồn đoán về những thay đổi trong nội bộ nhân sự cao cấp của đảng.

Dư luận đặc biệt quan tâm đến ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, người chịu trách nhiệm chính về bức tranh xám xịt của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

Có những người vẫn còn hy vọng vào một sự thay đổi nào đó, không đơn thuần chỉ là việc ông Nguyễn Tấn Dũng cùng một số nhân vật bất tài, phá hoại, thuộc phe nhóm của ông Dũng cũng phải ra đi. Mà đảng sẽ thực sự tạo được bước ngoặt lớn như đại hội đảng lần VI, năm 1986, thực hiện chính sách Ðổi Mới.

Tuy nhiên, những ai hiểu rõ bản chất cũng như năng lực, tư duy, viễn kiến của nhà cầm quyền Việt Nam và tình hình chính trị xã hội trong nước hiện nay sẽ không lạc quan như vậy.

Về phía nhà cầm quyền, mục tiêu lớn nhất là cố gắng hạn chế mọi xáo trộn có thể dẫn đến sự sụp đổ cả hệ thống, theo nhận định của nhiều người. Nhiều khả năng sẽ không có sự thay đổi lớn về nhân sự.

Một vài thay đổi nhỏ, điều chỉnh, cân bằng lại quyền lực giữa đảng và chính phủ - như người ta thường nói, giữa phe ông Trọng, ông Sang và phe ông Dũng.

Càng không bao giờ có sự thay đổi về đường lối chính trị, tiến hành những cải cách thực sự theo hướng tự do dân chủ đa nguyên đa đảng. Là điều mà không bao giờ những người cầm quyền hiện nay dám nghĩ đến hoặc chấp nhận.

Bởi sự sợ hãi. Lòng tham. Bởi những quyền lợi cắm rễ quá sâu sau bao nhiêu năm, cộng với một cơ chế, hệ thống mà quyền lực chồng chéo gắn chặt với nhau nên một vài cá nhân, nếu muốn, cũng rất khó làm nên chuyện.

Quan trọng nhất, không một ai trong số những con người đang ngồi trên những cái ghế lãnh đạo cao nhất hiện nay có một tầm nhìn xa hàng trăm năm. Và sự dũng cảm dám đặt quyền lợi đất nước lên trên quyền lợi của đảng, phe nhóm và cá nhân.

Ðiều mà Tổng Thống Thein Sein của Miến Ðiện đã làm được, chẳng hạn.

Do đó, những sự điều chỉnh, chỉnh đốn... cũng ví như chữa ghẻ trong khi căn bệnh của xã hội Việt Nam đã là ung thư giai đoạn cuối, do sai lầm của cả mô hình thể chế chính trị chứ không phải chỉ vài cá nhân.

Còn về phía người dân?

Phần lớn người dân không tin vào bất cứ sự thay đổi nào dù Hội nghị Trung ương lần này hay lần khác, dù bao nhiêu đợt chỉnh đốn đảng, phê và tự phê có diễn ra.

Dù nhân vật nào phải ra đi, nhân vật nào lên, xuống. Nghĩa là người dân đã mất lòng tin vào đảng, vào cái nhà nước này đến tận cùng.

Nhưng đáng tiếc là sự mất lòng tin, sự chán ngán đó thay vì tạo nên động lực để mọi người quyết tâm thay đổi thì lại đưa đến tình trạng thờ ơ, không quan tâm, coi “chính trị là chuyện của đảng, nhà nước lo.”

Bất chấp thực tế đất nước là của chung 90 triệu con người, không thể phó mặc cho một cái nhà nước mà trong suốt hơn 6 thập niên cầm quyền đã chứng tỏ sự thối nát, bất lực. Một nhà nước không của dân, do dân, vì dân.

Lại nói đến chuyện Miến Ðiện. Trong rất nhiều nguyên nhân đưa đến sự thay đổi, cải cách của chính phủ Miến Ðiện hiện nay, có nguyên nhân sâu xa từ chính nội lực, lương tri của dân tộc.

Bởi dù có một chế độ quân phiệt hà khắc, nhưng xã hội Miến Ðiện không bị cái lý thuyết lẫn mô hình của chủ nghĩa cộng sản ngoại lai tàn phá như TQ hay Việt Nam. Trong đó sự phá hoại lớn nhất là giềng mối gia đình, đạo đức lương tâm, tâm linh của con người.

Miến Ðiện, như nhiều người đã từng du lịch đến xứ sở này nhận xét, mặc dù nghèo khó lạc hậu nhưng con người còn giữ được sự hiền lương, niềm tin vào Phật giáo, thế giới tâm linh của con người chưa bị hủy diệt.

Phải chăng triết học Phật giáo với sự khoan dung từ bi hỷ xả, niềm tin vào luật nhân quả... khiến cho những con người như Tổng Thống Thein Sein hay lãnh tụ đảng đối lập Aung San Suu Kyi có thể ngồi lại trò chuyện với nhau, bỏ qua quá khứ?

Tổng Thống Thein Sein còn công khai ca ngợi bà Aung San Suu Kyi trước quốc tế và tuyên bố sẵn sàng rút lui, nếu nhân dân bầu bà làm tổng thống.

Xã hội Trung Quốc hay Việt Nam, đáng buồn thay, một thời thì bị cái chủ nghĩa cộng sản ngoại lai tôn sùng triết học duy vật, gạt bỏ cá nhân, gạt bỏ thế giới tâm linh, tín ngưỡng của con người làm cho méo mó.

Tiếp theo lại bị cái mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa què quặt, thực chất là sự kết hợp của tất cả những gì tệ hại nhất của chế độ phong kiến lạc hậu, chủ nghĩa tư bản thời kỳ man rợ cộng với thể chế độc đảng độc tài, phá hoại đến tận gốc rễ.

Con người không còn biết tin vào cái gì, dựa vào đâu, từ luật pháp, giáo dục cho đến tín ngưỡng, tâm linh. Khi cái xấu cái ác nhan nhản khiến con người trở nên chai sạn, vô cảm, cộng với sự đàn áp của nhà cầm quyền khiến con người sợ hãi và không còn muốn dính líu tới chuyện chính trị.

Phong trào dân chủ ở Việt Nam thì rời rạc, yếu ớt, không thể tập hợp lại thành một khối cũng không lớn mạnh nổi.

Với một cái nhà nước và thực trạng dân tộc như vậy, mọi sự thay đổi là vô cùng khó.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Điều dân tôi muốn

TDN
Tôi nghe kể lại một câu chuyện về một anh cán bộ nhà nước đặt tên con trai trùng tên một quan chức chóp bu nhà nước, nhiều đồng nghiệp hỏi anh: "Mày không sợ mất việc à?"; thì anh trả lời "Lương chẳng đủ cho tôi tiêu, tôi được bố mẹ nuôi, nên thích đuổi thì cứ đuổi tôi". Đó là một câu chuyện nghe kể lại, nhưng cũng đủ thấy xã hội có nhiều người khẳng khái, chân thật.

Câu chuyện trên khiến tôi có nhiều điều suy ngẫm. Tôi sống và làm việc là do sức lao động của mình. Vì sức lao động đó mà người thuê tôi làm mới trả công. Vậy tôi và họ đều phải được cái gì có lợi cho mình thì mới có thể làm việc chung với nhau, tất cả là sòng phẳng (có đi có lại mới toại lòng nhau).

Nhìn cao hơn, tôi là công dân, tôi kiếm ra nhiều tiền hay ít tiền do sức lao động, tôi cũng phải chi trả nó cho cuộc sống của mình. Khi chi trả như vậy thì cũng là cách nuôi sống những người làm những ngành nghề khác. Đó là quan hệ hỗ tương. Và một công dân như tôi thì đã đóng góp cho nhà nước phần sức lực, tiền bạc cho nhà nước (có đi có lại). Vậy tôi phải được nhìn nhận là hoàn thành nghĩa vụ công dân (vì không làm gì sai trái). Còn về việc tôi không đồng thuận tiếng nói của Đảng thì đó không phải là tôi chống lại Tổ quốc. Bởi tôi đang sống đúng trách nhiệm của một công dân. Vậy tại sao vẫn có chuyện vì bày tỏ lý tưởng dân chủ thì bị cho là tội phạm, khi mà người bày tỏ quan điểm bất đồng thuận nhưng họ vẫn làm ăn chân chính, ngay thẳng... Thì tại sao cho rằng họ phạm tội?

Thật ra như câu truyện tôi được nghe kể cũng vậy; lý do đuổi việc không lẽ chỉ vì một cái tên gọi cho con của mình mà cũng bị cho thôi việc hay sao? Cũng vậy, nếu chỉ vì bày tỏ tư tưởng dân chủ mà bị thôi việc, bị vào tầm ngắm và bị tù tội thì thật là phi lý!

Vào thời bình, bổn phận chính với Tổ Quốc là sống, kiếm tiền, nuôi mình, nuôi xã hội, đóng thuế cho nhà nước. Tôi đã làm được thì chuyện tự do tư tưởng, ngôn luận cũng phải đảm bảo cho tôi. Ở đời sướng nhất là được ăn, được nói, được gói mang về.

Mà chính yếu, tôi và những anh em quanh tôi đều tự nuôi mình, tự nuôi Nước mình, tự giữ nước mình. Không phải Chính phủ hay nhà nước nuôi tôi.

Chính phủ và nhà nước có thể có hỗ trợ cho chúng tôi, có thể tìm đầu ra cho sản phẩm của chúng tôi, có thể giữ an ninh, chủ quyền quốc gia cho chúng tôi. Điều đó là hợp lý, và chính phủ nên làm. Nhưng chúng tôi khẳng định chúng tôi tuy là thường dân, tuy kiếm được chút bạc lẻ cho nhà nước nhưng chúng tôi không phải kẻ ăn bám, không phải kẻ sâu mọt phá hoại đất nước và càng không phải là kẻ bán rẻ tổ quốc.

Nếu không có đông đáo dân nghèo hèn chăm chỉ như chúng tôi thì cũng không thể có một thị trường lao động dồi dào cho VN, cũng không thể biến VN thành 'môi trường hấp dẫn' như Nhà nước từng rêu rao, mời gọi TƯ BẢN vào VN làm ăn, buôn bán, thương mại. Vậy chúng tôi có ích cho VN, cho xã hội VN.

Chúng tôi có đóng góp thì chúng tôi có cái quyền yêu sách để xây dựng một trật tự, một sự tôn trọng dân nghèo chúng tôi. Chúng tôi không xin gì của Chính phủ, chúng tôi không đòi gì không chính đáng với Chính phủ. Mà chúng tôi là dân VN, chúng tôi chỉ muốn môi trường kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị lành mạnh, sung mãn để chúng tôi phát huy tốt sức mình cho Tổ quốc.

Vì vậy chúng tôi muốn có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Muốn có xã hội tam quyền, pháp quyền; muốn có hệ thống Tư pháp, hành pháp, lập pháp đúng nghĩa. Nhà nước phải do nhân dân chúng tôi lựa chọn.

Chúng tôi không muốn là kẻ đứng ngoài cuộc. Bởi khi đông đảo dân chúng bị đứng ngoài cuộc thì biết bao tiền do chúng tôi đóng góp cho nhà nước; biết bao tài sản chung của Dân Việt là Tài nguyên Quốc gia bị sử dụng lãng phí, thất thoát, mà những cái sai đó Chính phủ không triệt được. Chúng tôi cần cái quyền được biết những thông tin, vụ việc để cùng tham gia xử lý. Chính khi dân chúng như chúng tôi được cùng giám sát, xử lý, thì xã hội nên tốt và ít có lãnh đạo nào dám làm sai. Bởi lãnh đạo muốn làm sai thì đi đâu cũng thấy dân, dân là chiến sĩ bảo vệ thuần phong mỹ tục, pháp quyền, và an ninh cho Tổ quốc.

Chúng tôi hiểu rõ không đa đảng thì mọi vấn đề lãng phí, sai phạm khi dùng tiền dân đóng hay tài nguyên chung sẽ không thể xử lý triệt để được. Nên chúng tôi kêu gọi và yêu cầu nhìn đến tâm nguyện và quyền lợi của chúng tôi.

Chúng tôi không phải vô tích sự, ăn bám, ăn hại... Nên chúng tôi không phải là kẻ nhận ơn huệ của Chính phủ, đảng, hay quan chức. Ngược lại chúng tôi xây dựng xã hội này cho Tổ quốc này. Chúng tôi có quyền kêu gọi tôn trọng truyền thông, ngôn luận, quyền giám sát để được tham gia hành pháp, tư pháp, lập pháp cho đất nước này.

Điều chúng tôi cần chúng tôi đã nói ra. Và không phải chỉ có đảng CSVN mới là người có công xây dựng, gìn giữ nước Nam này. Không có chúng tôi ai sẽ lao động, đóng góp, xây dựng và giữ nước?

Hãy tôn trọng chúng tôi là nhân dân. Hãy để trật tự được đúng quy luật của nó. Mọi đảng phái phải đặt dưới lợi ích của Tổ quốc. Mọi đảng phái phải được thành lập dưới luật pháp.


Một đảng mà vẫn tỏ vẻ cho dân xen vào công việc của đảng thì chỉ là sự mị dân, chỉ là chiêu trò mua chuộc những thành phần nhỏ nhoi được giám sát đó, để vô hiệu họ bằng quyền lợi khi chấp nhận im lặng. Đã là cách mạng là phải triệt để, khi không xử lý được cái sai mà biết nguyên do là vì độc đảng, thì phải biết sửa là cho đa đảng và tự do ngôn luận. Đó mới là Cánh Mạng

TDN
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

LOÀI CHIM NÀO TƯỢNG TRƯNG CHO DẢNG DÂN CHỦ VÀ CỘNG HOÀ:
DIỀU HÂU HAY BỒ CÂU ?

Ở Hoa Kỳ, "Diều Hâu" (hawk) và "Bồ Câu" (dove) là hai loài chim được dùng để diễn tả thái độ của một nhân vật (như Tổng Thống) hoặc một đoàn thể (như một chính đảng) đối với chiến tranh. Diều hâu là một loài chim háo chiến và bạo động: giết các con mồi nhỏ hơn mình và xé xác từng mảnh để ăn sống. Bồ câu là một loại chim hiền lành, bay lượn một cách êm đềm, làm đẹp cho đời. Chính vì thế mà diều hâu được dùng để ám chỉ những kẻ không ngần ngại đi vào chiến tranh, trong khi đó bồ câu được dùng để nói về những ai yêu chuộng hoà bình. Mặc dù được dùng để biểu tượng chiến tranh và hoà bình từ thuở xa xưa, diều hâu và bồ câu trở thành thông dụng trên báo chí Hoa Kỳ kể từ chiến tranh Việt Nam. Đặc biệt, báo chí Hoa Kỳ tô vẻ một vị Tổng Thống như diều hâu hoặc bồ câu tùy theo lập trường chính trị của họ.


1. Diều Hâu và Bồ Câu Dưới Cái Nhìn Của Báo Chí.

Theo hầu hết báo chí Hoa Kỳ, các Tổng Thống thuộc đảng Cộng Hoà là diều hâu, các Tổng Thống thuộc đảng Dân Chủ là bồ câu. Chẳng hạn, dưới cái nhìn của báo chí, TT George W. Bush là diều hâu, trong khi đó TT Obama là bồ câu. Đây là một "huyền thoại (myth), không hơn, không kém. Thật vậy, TT thống Kennedy /Johnson (Dân chủ) bắt đầu chiến tranh Viêt Nam và TT Nixon/Ford (Cộng Hoà) kết thúc chiến tranh Viet Nam. Thế nhưng, theo báo chí, TT Kennedy là bồ câu, Tổng Thống Nixon là diều hâu. Cũng theo báo chí, Tổng thống George W. Bush khởi đầu cuộc chiến Iraq và Afghanistan, trong khi đó TT Obama oanh tạc Lybia đưa đến cái chết của Gaddafi, đồng thời tiếp tục và tăng cường cuộc chiến Afghanistan, cũng như đe dọa oanh tạc Iran. Thế nhưng báo chí cho rằng Bush là diều hâu và Obama là bồ câu.

2. Có Phải Tổng Thống Obama là Bồ Câu?

Để trả lời câu hỏi trên đây, mời độc giả xem qua các sự kiện sau đây:

(1) Obama leo thang chiến tranh ở Afghanistan, tăng thêm hàng chục nghìn quân và chi tiêu hàng tỉ Mỹ Kim.

(2) Obama khởi chiến ở Libya, mặc dù không có sự chấp thuận của Quốc hộị.

(3) Obama ra lệnh cho 250 phi vụ oanh tạc bằng máy bay không người lái , giết chết ít nhất 1,400 người dân Pakistan.

(4) Obama ra lệnh cho cuộc đột kích vào Pakistan, giết chết Osama bin Laden.

(5) Obama đã mở rộng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái vào Somalia.

Muốn biết thêm các chi tiếc khác, mời độc giả vào link sau đây:

http://www.theatlantic.com/politics/arc ... wk/256674/

3. Kết Luận:

Dựa vào các sự kiện trình bày trên đây, nguời ta không thể không kết luận rằng TT Obama là một diều hâu đúng theo ý nghĩa của nó. Hơn nữa, Cộng Hoà không nhất thiết là diều hâu, Dân Chủ cũng không hẳn là bồ câu. Thái độ của TT Hoa Kỳ tùy thuộc vào tình hình quốc tế. TT Hoa Kỳ có nhiệm vụ phải thi hành trách nhiệm Tổng Tư Lênh Quân Lực Hoa Kỳ để bảo vệ quyền lợi Quốc Gia khi cần.

Huong Saigon
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Thế hệ bánh mì kẹp

Yên Hà

Tôi ra đời giữa hai cuộc chiến, giữa một trăm năm đô hộ giặc Tây và hai mươi năm nội chiến từng ngày. Sau đó, tôi được đi du học và tôi đã sống “vô tư lự” bên trời Âu sung túc trong khi khói lửa vẫn ngập trời nơi quê nhà.

Giờ đây, bom đạn đã ngừng tiếng nhưng một lần nữa, gia đình tôi đã phải cuốn gói rời bỏ quê hương và mấy triệu người Việt Nam bỗng nhiên phải sống tản mác trên toàn thế giới như những cây bị bật rễ, ở những chốn dung thân như Mỹ, Gia Nã Ðại, Pháp, Úc,...

Phần mất mát vẫn còn đó, nguyên vẹn, ít ra đối với bố mẹ chúng tôi và chúng tôi, thế hệ đầu của những người di dân. Một thế hệ “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi,” lơ lửng giữa không gian quê hương, chơi vơi giữa thời gian thế hệ, lạc lõng trong tâm tư văn hóa. Một thế hệ “bánh mì kẹp.”
Kẹp giữa hai quê hương

Những người di dân này, ngày hôm nay mang sổ thông hành Mỹ, Pháp, Úc... nhưng vẫn chỉ là Mỹ (Pháp, Úc...) giấy, phần đông tiếng Mỹ (Pháp, Úc...) vẫn còn ba xí ba tú, miệng vẫn hôi mùi nước mắm chứ không hôi hamburger hay camembert, vẫn không có bạn bè Mỹ (Pháp, Úc...) mà chỉ sống quanh quẩn với nhau, tụ tập nơi những thương xá, chợ búa Á Ðông, hay rủ nhau “party,” ăn uống, karaoke với nhau.

Những người Mỹ (Pháp, Úc..) gốc Việt này đã đi tìm một nơi nương tựa để sống “tạm bợ” nơi xứ người mà trong thâm tâm còn cố tưởng tượng như mình đang sống ở quê nhà, và lúc nào có dịp, có phương tiện là lại vù về Việt Nam, một số để “hưởng thụ,” nhưng phần lớn vẫn vì nhớ nhà.
Tôi không nhớ ai đã có nói: “Ma patrie, c'est là où je suis heureux” (Quê hương tôi là nơi chốn tôi sống hạnh phúc). Tôi muốn tin ông lắm, tôi cũng muốn tự an ủi mình lắm nhưng tiếng gọi của cội nguồn réo rắt lắm, ông ơi. Tôi cứ ngỡ quê hương là nơi chôn nhau, cắt rốn, là nguồn, là cội, là gốc, là rễ cơ mà?

Ở hải ngoại, đương nhiên chúng tôi được tự do, phần đông được ăn sung, mặc sướng, đủ tiền mua nhà, chăm lo cho con cái ăn học, đi shopping hay du ngoạn đây đó... Ðời sống này, nhiều đồng bào ta nơi quê nhà mong mỏi có được, và tôi thừa hiểu chúng tôi “hạnh phúc” hơn rất nhiều người lắm. Tôi không dám than thân, trách phận hay phân bì với ai cả, chẳng qua nơi đây, tôi chỉ nói lên tâm sự u uẩn những người tha hương chúng tôi mà thôi.
Nhất là trong trường hợp tôi, hiện đang mang hai quốc tịch Pháp và Mỹ, sống bên Mỹ nhưng tim vẫn còn “vọng Nam,” tâm vẫn còn hướng về Pháp, đôi khi vẫn nhớ về khung trời Bỉ Quốc. Những nơi tôi đã sống, làm sao tôi có thể xóa quên được?

Quê hương như người mẹ đã bụng đau,dạ chửa cho tôi ra đời, nuôi nấng, dạy dỗ tôi nên người, và quê hương thứ hai, thứ ba là những bà mẹ đã mở rộng vòng tay, đón nhận tôi khi tôi không còn chỗ đứng dưới ánh mặt trời.
Ơn nghĩa này, chúng tôi không quên (từ ngày sang Mỹ, năm 19 75 , bố mẹ tôi năm nào cũng gửi chút quà Giáng Sinh cho gia đình ông sĩ quan Mỹ đã giúp nhà tôi sang Mỹ, và sau khi bố tôi mất, mẹ tôi vẫn tiếp tục gửi, mặc dù người ân nhân này đã mấy lần đề nghị nên thôi gửi quà).

Tôi cảm quí những bà “mẹ nuôi” lắm, tôi lại càng xót thương Mẹ Việt Nam , quê hương đau khổ. Ôi, quê hương tôi đâu? Mỹ, Pháp, Úc...? Hay vẫn là Việt Nam muôn thuở?
Kẹp giữa hai nền văn hóa
Ngày hôm nay, tôi đã lục tuần nhưng tôi đã chỉ được sống ở quê nhà có mười tám năm. (Tôi đã mất mát quá nhiều rồi.)

Bao nhiêu năm tháng sống bên Pháp, bên Bỉ, đã rèn đúc tôi với một lối suy luận, một cách ăn nói, một cách cư xử xã giao, một nền văn hóa mà tôi hãnh diện mang bên cạnh văn hóa của mình. Qua bao năm tháng đó, tiếng Pháp đã dần dà trở thành tiếng tôi thông dụng nhất, ngay cả để diễn tả những tâm trạng sâu thẳm nhất của mình.

Tuy nhiên, bao nhiêu năm tháng đó chỉ có thể thấm vào cái vỏ bên ngoài, chỉ có thể thay đổi hình dạng và cử chỉ của tôi, chỉ có thể tạo nơi tôi những sở thích ăn mặc, đi đứng, nói chuyện, chỉ có thể tạc lên cái “Tôi” bên ngoài.
Tất cả những năm tháng đó không hề thay đổi nước da hay sắc tóc tôi (tóc tôi chỉ có thể bạc trắng với thời gian), không hề lay chuyển âm điệu tiếng mẹ đẻ của tôi, không hề làm suy sút kho tàng văn hóa tổ tiên tôi hay nền giáo dục bố mẹ tôi.

Nước Pháp đã ban thêm cho tôi một nền văn hóa, nhưng không hề thay thế nền văn hóa của tôi. Nhưng có lẽ đó cũng là nỗi khổ tâm của tôi, nỗi khổ tâm của những người di dân trong thế hệ đầu? Cây cối làm sao sống thiếu gốc rễ? Con người ta làm sao sống thiếu cội nguồn? Làm sao tôi có thể vui sướng bên ngoài khi bên trong trống vắng?

Tôi có thể thích pot au feu hay bouillabaisse nhưng bao giờ tôi cũng vẫn thèm một tô phở đặc biệt, tái nạm gầu gân sách sụn. Tôi có thể mê một chai Saint Emilion hay một chai Volnay nhưng tôi vẫn nhớ hương vị mấy chai la ve “33” của “Brasseries et Glacières d'Indochine” (BGI).

Tôi có thể viết tiếng Pháp giỏi hơn người Pháp trung bình, nhưng tim tôi bao giờ cũng rung động khi tôi được đánh dấu hỏi, dấu ngã.
Tôi có thể thích xem phim “action” Mỹ hay nghe Claude Barzotti hát nhưng tôi vẫn thích xem phim bộ... Ðại Hàn (Việt Nam tôi làm gì có phim hay?), nhưng tôi vẫn thấy thấm thía hơn khi tôi nghe nhạc Việt, tôi vẫn truyền cảm hơn khi hát tiếng Việt. Tôi có thể ngoảnh lại nhìn một cô đầm tóc vàng, mắt xanh nhưng tôi chỉ có thể hạnh phúc với người đàn bà gọi tôi bằng “Mình ơi!”
Chỉ vì đó là văn hóa dân tộc nằm trong máu, trong xương tủy tôi, vì đó là giáo dục bố mẹ, ông bà tôi đã truyền lại cho tôi, vì đó là vết tích của mấy ngàn năm lịch sử.

Chỉ vì tôi là người Việt Nam .
Kẹp giữa hai thế hệ

Bố mẹ chúng tôi và chúng tôi cùng một làn sóng di cư (cho dù trong số chúng tôi có những người đã đi trước) nhưng hai điều khổ tâm cũng có điều khác biệt.

Quả thật vậy, chúng tôi vẫn cùng một nền văn hóa với bố mẹ, cùng một nền giáo dục do cha ông truyền lại. Bố mẹ chúng tôi vẫn được sống với chúng tôi như lúc còn ở Việt Nam, với nền tảng Phật Lão Khổng, cùng một nhân sinh quan, cùng một đạo làm người. Chúng tôi vẫn nói tiếng Việt với bố mẹ, tiếp tục yêu thương, kính nể bố mẹ, để tiếp tục lưu truyền phong tục, tập quán.
Trong khi chúng tôi giờ bắt buộc phải chấp nhận văn hóa con cháu chúng tôi như một văn hóa ít nhiều là ngoại Việt.

Vì sự lưu truyền đó sẽ gián đoạn từ đây: Con cái chúng tôi đã bắt đầu nói một thứ tiếng khác và những điều chúng tôi cố gắng răn dạy con cái khó lọt qua được màng lưới thế giới bên ngoài.

Tôi đã được chứng kiến một cảnh tượng mà tôi không bao giờ quên được. Hôm đó, một người bạn có tổ chức một buổi tiệc họp mặt với hơn sáu mươi bạn hữu để ăn uống, hát hò, nhẩy đầm. Về khuya, chúng tôi tạm ngưng chương trình để ăn một bát cháo gà cho ấm bụng và lấy sức chơi tiếp. Lúc đó, đứa con trai chủ nhà từ trên lầu đi xuống với mấy đứa bạn, bật máy truyền hình lên và nằm xem, ngay giữa sàn nhẩy. Chúng tôi đã bị “chiếm đất” và đợi một lúc, không thấy tình hình biến chuyển, quan khách lần lượt xin kiếu từ.

Tôi á khẩu. Làm sao tôi có thể tưởng tượng được cảnh này, với nền giáo dục của tôi? Hôm đó, tôi đã chợt hiểu cái nếp “độc tài” của con trẻ trong cái quốc gia tự do nhất thế giới này. Nhưng điều tôi phân vân nhất là trong tình trạng đó, hai vị chủ nhà, nghĩa là bố mẹ cậu trai trẻ đó, không hề lên tiếng can thiệp, hầu như làm ngơ, không nhìn thấy điều gì cả.

Trong khi tôi, đầu đã bạc phơ mà mỗi lần sang thăm nhà, Mẹ bảo tôi cạo râu hay đi cắt tóc là tôi vui vẻ làm ngay, chỉ để vâng lời Mẹ, để cho Mẹ vui. Ngược lại,bên Mỹ này, con gái mới mười lăm tuổi đã đánh mắt, thoa son đi học, bố mẹ nói gì được khi trong trường, bạn bè chung quanh đều như vậy, vả lại có thầy bà nào cấm cản đâu? Bên này, con cháu đi xâm mình (tattoo) hay đục vòng sắt vào môi, vào mắt (piercing) thì bố mẹ nào, ông bà nào ngăn cản được?

Nhà chúng tôi lúc trước không giầu có gì nên không bao giờ dám phí phạm bất cứ gì, ăn cơm phải vét sạch từng hạt, trong khi con trẻ bên này lấy cho đầy đĩa nhưng không ngần ngại đổ tuốt nửa đĩa thức ăn khi chúng cảm thấy no.
Tôi đã tận mắt thấy những bố mẹ phải khóc tức tưởi khi bị lũ con xúm vào “mắng.” Ngày nay, bố mẹ nào dám đánh con mà không sợ chúng nó gọi “911”?
“Trời làm một trận lăng nhăng, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông.” Ngày nay,thế giới đảo lộn và chúng tôi đi lộn đầu, để con cái trèo đầu, trèo cổ thôi.
Lúc trước còn ở bên Pháp, tôi vẫn cố gắng mỗi năm lấy máy bay sang thăm bố mẹ, và giờ đây sống bên Mỹ, tôi vẫn đi thăm Mẹ (vì không cùng tiểu bang) và ngoài ra, còn phải đi Pháp thăm con. Hóa ra, chúng tôi ở trên thì lo cho bố mẹ, ở dưới thì lo cho con cái (ở bất cứ tuổi nào);ở trên thì bị bố mẹ mắng, ở dưới thì bị con trách!

Xung đột cả thế hệ lẫn văn hóa
Nói như vậy không phải để trách mắng con cái. Ðâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó không nói được tiếng mẹ đẻ? Ðâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó sinh sống tại hải ngoại? Ðâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó hòa mình với môi trường bên ngoài nhiều hơn là với môi trường gia đình (nhất là trong cái tuổi thành niên này)?

Tôi đã có nghe những đứa trẻ nói với bố mẹ: “Bố mẹ đừng trông mong chúng con trở thành người Việt. Văn hóa của bố mẹ không phải là văn hóa của chúng con. Chúng con là người Mỹ!” Phũ phàng thay, đau lòng thay, nhưng chúng nó làm sao hiểu được văn hóa chúng ta khi chúng nó sống trong một thế giới mà nền tảng là “tự do” và “đồng đô la”? Làm sao chúng nó có thể nghe lời bố mẹ trong khi sự thật bên ngoài hầu như khác hẳn?
Có lẽ chính chúng nó có lý. Bổn phận cha mẹ là giúp con cái thành công cuộc đời chúng nó chứ không phải cuộc đời cha mẹ, giúp chúng nó thành công ngoài đời, trong môi trường chúng nó đang sống chứ không phải môi trường bố mẹ chúng đã sống. Sống ở đâu mà không theo văn hóa nơi đó thì chỉ có thất bại,mà đâu có cha mẹ nào muốn con mình thất bại khi ra đời, cho nên đành ngậm cay, nuốt đắng mà thôi.

Ðây không phải chỉ là vấn đề xung đột thế hệ (thời điểm nào chả có vấn đề này, cho dù không“gây cấn” như vậy), mà còn rắc rối thêm vấn đề xung đột văn hóa nữa. Làm sao bố mẹ và con cái có thể hiểu nhau và chấp nhận nhau khi đôi bên không cùng một nền tảng, cùng những đặc quan,cùng một nhân sinh quan?

Nỗi buồn u uẩn
Dĩ nhiên tôi không dám vơ đũa cả nắm, không dám nói gia đình Việt Nam bên hải ngoại nào cũng như trên, nhưng có lẽ phần đông là như thế (?).Nói lên vài điểm cho dễ hiểu, nhưng vấn đề không giản dị như vậy và tôi không có khả năng phân tích nhiều hơn.

Dù sao đi nữa,đây cũng chỉ là nỗi buồn u uẩn, ám ảnh tôi từ bao lâu nay,trong mối liên hệ với tâm hồn, với văn hóa, với gốc rễ của mình.
Tôi không tức giận, không chua chát. Tôi chỉ cảm thấy buồn, tôi không luyến tiếc quá khứ, chỉ là tôi cảm thấy buồn.

Vướng mắc giữa hai quê hương, giữa hai nền văn hóa, giữa hai thế hệ, chúng tôi là một thế hệ “bánh mì kẹp” (đôi khi còn là“bánh bao” nữa). Ngoảnh nhìn lại chỉ còn kỷ niệm, nhìn về đàng trước thì tương lai đã bít kín.
Nhưng thôi, đã biết là mình vướng mắc,l à mình “chấp ngã” (như lời Phật dậy) thì chỉ còn có nước “phá chấp,” nghĩa là “buông,” là chấp nhận.
Vả lại, cha mẹ chúng tôi không có vấn đề này, con cháu chúng tôi không có vấn đề này, chỉ có chúng tôi mới có vấn đề này. Ngày nào cái thế hệ chúng tôi đi hết rồi thì vấn đề này sẽ không còn ai bàn đến nữa.

Chúng tôi chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp, một thế hệ bị mất mát, bị hy sinh để dân tộc di dân chúng tôi có thể lật qua một trang sử mới. Ðể đời sau, con cháu chúng tôi có hy vọng thành công trên đất người, đi tiếp con đường mà chúng tôi đã không đi hết.
Ðược như vậy, chúng tôi cũng sẽ mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn Trời Phật, xin cảm ơn phúc đức ông bà.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest