Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »

Tôi Đi Làm Thông Dịch

Tác giả : Sao Nam Trần Ngọc Bình
Tác giả sinh năm 1940, cựu sĩ quan VNCH, khoá 12 SVSQ Thủ Đức, Giảng Viên Anh ngữ trường Sinh Ngữ Quân Đội, cựu tù chính trị, đến Mỹ năm 1991 theo diện HO9, hiện định cư tại Greenville South Carolina. Từ năm 2002, ông đã góp nhiều bài Viết Về Nước Mỹ đặc biệt. Sách đã xuất bản: "Hành Trình Về Phương Đông." Sau đây là bài viết mới.

Chuông điện thoại reo. Bắt máy lên, một giọng nói ngọt như mía lùi, lịch sự, nhỏ nhẹ làm người nghe phải chú tâm liền:

- Kính chào chú. Chú còn giữ ý định đi làm thông dịch cho bà con ta ở đây nữa không?

Lời nhắc của Tuấn đến đúng vào lúc tôi đang có ý đinh tạm nghỉ học để sửa soạn cho tuyển tập mà tôi chưa có thì giờ kiểm tra lại.

Nếu “làm thô ng dịch” như là một cái “nghiệp” mà tôi phải trả trong cái kiếp nhân sinh ngắn ngủi này thì quả thật đúng y lời Phật dạy là tôi đã phải trả cho cái “nhân” từ kiếp trước.

Mới tốt nghiệp Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Khóa 12 chưa bao lâu thì tôi được thuyên chuyển về Yếu Khu Phi Trường Vĩnh Long làm Đại đội Trưởng kiêm Sĩ Quan An Ninh Phi Trường Vĩnh Long.

Vào năm 1962 phi trường này chỉ có một đường băng ngắn bằng đất đỏ dành cho loại phi cơ hạng nhẹ là loại máy bay air taxi của hãn g Hàn g Không Air Việt Nam.

Thế nhưng khi Cộng Sản Việt Nam lộ rõ ý đồ xâm lăng Miền Nam Việt Nam, chính phủ Mỹ đã gởi một đại đội của Tiểu đoàn Không Binh thứ 502 (502nd Aviation Bn.) sang đồn trú tại đây để làm căn cứ xuất phát yểm trợ các cuộc hành quân trực thăng vận cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại miền đồng bằng sô ng Cửu Long.

Việc chính thức của tôi là sĩ quan an ninh phi trường với hai người phụ tá là hai hạ sĩ quan trông coi việc kiểm soát việc xuất nhập của những công nhân Việt Nam giúp việc cho lực lượng Mỹ đóng tại phi trường kiêm đại đội trưởng trông coi việc canh gác lối 11 vọng gác chung quanh hà ng rào phòng thủ.

Nhiệm vụ ấn định là như thế nhưng thực tế lại khác vì vừa nói được tiếng Anh lẫn tiếng Việt nên tôi được “ưu ái” mời làm thô ng dịch viên bất đắc dĩ cho các công nhân làm việc tại đây.

Thôi thì đủ thứ chuyện hầm bà lằng chẳng liê n quan gì đến nhiệm vụ chính và phụ của tôi cả nhưng cứ có việc là tôi làm và làm một cách say mê vì tôi thấy thích thú để có dịp giúp bà con mình.

Trong cả hai công việc chính và phụ tôi đều tìm thấy những điều mới lạ cần học hỏi. Khi cần thông dịch cho quân ta thì tôi được yêu cầu bay theo để liên lạc với lực lượng bộ binh đang hành quân ở dưới đất.

Mỗi lần bay theo để thông dịch tôi đều báo cho Thiếu Tá Yếu Khu Trưởng hay và xách theo cái máy PRC-10 để liên lạc với các đơn vị của ta ở dưới đất.

Một hôm Thiếu Tá Đ.,Yếu Khu Trưởng, bảo tôi là nhiệm vụ của tôi là an ninh phi trường này, còn chuyện bay theo để giúp thô ng dịch thì đã có thô ng dịch viên dân sự mà người Mỹ mướn rồi. Ông chỉ nói thế nhưng tôi hiểu ông muốn nói gì.

Không bay theo để yểm trợ xa thì tôi lại được yêu cầu bay theo để yểm trợ gần vậy. Vào năm 1962, 1963, theo ước tính tình báo, Việt Cộng chỉ có khả năng quấy rối các tiền đồn của Yếu Khu bằng súng cối 81 ly thôi vì thế ba tiền đồn của Yếu Khu đã được chốt ở khoản g cách này.

Một đêm, qua vô tuyến, viên trung sĩ đồn trưởng cho biết có 3 chiếc tam bản bắn quấy rối vào đồn Tân Phú. Khi tôi cho đại đội 502 hay họ liền phái hai phi cơ trực thăng mà Tiểu đoàn Không Binh gọi là Fly Fly gồm một trực thăng có đèn rọi, tôi tháp tùng theo chiếc này, và một trực thăng võ trang có gắn hai giàn rocket và hai khẩu đại liê n ở hai bên hông .

Phi cơ cất cánh và bay được lối 15 phút thì tôi thấy phía dưới hàng hà xa số những chiếc đèn trên sông, dĩ nhiến là chỉ thấy đèn chứ không thấy ghe vì lúc đó phi công không mở đèn rọi.

Nói chuyện với trung sĩ T. thì ông này chẳng biết gì cả và qúa mừng vì có trực thăng yểm trợ ông ta yêu cầu cho tác xạ liền. Rất bình tĩnh tôi cho ông ta hay là theo báo cáo của chính ông ta thì chỉ có 3 cái tam bản thôi, còn đây là hàng hà vô số là ghe mà là ghe có đèn tức là của dân chứ không phải là của Việt Cộng.

Qua máy truyền tin tôi cho viên phi công Mỹ hay sự nghi ngờ của tôi vì cứ theo báo cáo của viên trung sĩ thì chỉ có 3 chiếc tam bản thôi mà tại đây chúng ta, tôi và hai viên phi công cùng hai xạ thủ sú ng đại liê n, lại thấy hà ng hà vô số đèn tức là ghe của dân và yêu cầu viên phi công coi lại xem sao.

Cầm tấm bản đồ xoay đi xoay lại thì viên phi công phụ cho biết phi cơ đã bay lạc qua Cần Thơ thế là viên phi công chính cho trực thăng đổi hướng. Chỉ ít phút sau qua chiếc đèn rọi cực mạnh của trực thăng đi đầu chúng tôi đã nhận ra ba chiếc tam bản có gắn máy đuôi tôm, dĩ nhiên ba chiếc tam bản này không có đèn, đang chạy trên con kinh. Trên mỗi chiếc là một người đang cầm súng trường nhắm bắn về phía chiếc trực thăng có đèn rọi, là chiếc tôi đang tháp tùng, bay phía trước.

Nhưng đã quá trễ, hai rocket từ chiếc trực thăng võ trang ở phía sau đã phóng ra lao vút về phía ba chiếc tam bản này. Khi chiếc trực thăng soi đèn quay lại hiện trường tôi chỉ thấy những làn só ng liê n tiếp đang xô mạnh vào bờ!

Viên sĩ quan an ninh Mỹ tương nhiệm với tôi là đại Úy Kyle, ông ta vừa phục trách an ninh cho căn cứ vừa là huấn luyện viên cho các phi công Mỹ mới từ Mỹ qua tham chiến tại Việt Nam vừa bay hành quân như các phi công khác trong Tiểu đoàn. Bất cứ điều gì tôi cần để hoàn thành nhiệm vụ, Kyle đều giúp tôi hết mình.

Như tất cả mọi người Mỹ có được nền giáo dục tốt, Kyle là một người dễ mến, nói năng nhỏ nhẹ, đặc biệt là ông ta tiết lộ số lương mà ông lãnh hà ng tháng không như nhũng người Mỹ mà tôi gặp sau này khi định cư ở Mỹ.

Ở Mỹ này lợi tức và tuổi tác là điều mà không người Mỹ nào cho bạn mình biết dù là bạn thân! Quả thực Kyle đã để lại trong tôi một kỷ niệm khó quên!

Khi đến Mỹ tôi định cư ở thành phố Santa Ana, CA .Tại đây sau đủ thứ job tôi lại trở lại cái “nghiệp” cũ là làm thông dịch cho những người bịnh.

Sau đó một thời gian tôi làm đơn xin làm trợ giáo và sau khi qua một kỳ thi tuyển tôi được nhận vào làm trợ giáo cho học khu Westminster. Công việc nhàn nhã tôi chỉ làm thô ng dịch cho các em học sinh mới từ Việt Nam qua. Tôi thích cái job này nhưng tôi lại phải kiếm thêm một việc phụ khác mới đủ sống thế là tôi phải tìm con đường khác.

Một thời gian sau tôi lại làm một chuyến phiêu lưu mới là dọn nhà từ Santa Ana, CA qua Greenville, SC dù rằng học khu có yêu cầu tôi tiếp tục làm. (Xin xem bài Hành Trình Về Phương đông trên Việt Báo on line)

Khi tới Greenville, SC tôi được hãng X. nhận vào làm. Tại đây, tôi gặp ông David và ông đã yêu cầu và được ông chủ hã ng chấp thuận cho tôi về làm việc chung với ông.

David từng tham gia cuộc chiến tại Việt Nam, với cấp bậc Đại Úy, qua hai nhiệm kỳ. Ông nói được tiếng Việt, qua tâm tình ông cho biết ông rất đau xót khi thấy Miền Nam Việt Nam bị đồng minh Mỹ phản bội và bỏ rơi.

Khi David dời nhà đi Raleigh, NC. Ông ngỏ ý muốn tôi thay ông làm thông dịch cho Children Hospital. Tôi nhận lời liền vì ông không những là bạn của tôi mà ông còn là bạn của những người Việt tị nạn sau ngày 30/4/75. (Xin đoc bài:” Tình Tự Quê Hương Việt Nam và Người Mỹ trên vietbao oline) Thế là tên tôi có trong bảng phong thần làm thô ng dịch cho Children Hospital .

David nói tiếng Việt đủ để người Việt hiểu đế có thể giúp người Việt nào có cái may mắn gặp ông. Việc ông bỏ thời gian rảnh rỗi để giúp người Việt cứ tiếp tục theo ông ở bất kỳ nơi nào ông dời nhà tới và nơi đó có người Việt cư ngụ và khi tôi tới Greenville vào năm 1995 thì gặp ông ở đây. Đó là lý do vì sao Archie Nguyễn biết tôi và điện thoại cho tôi. đây là lần thứ hai và lần đầu cách đây lối sáu năm khi đó tôi có hứa với Archie Nguyễn là tôi sẽ làm thô ng dịch khi tôi về hưu thật sự.

Archie Nguyễn là người phụ trách về thông dịch, làm việc cho Bridge Interpretation and Translation Services một hệ thống cung cấp thông dịch cho các bệnh viện tại thành phố Greenville và vùng phụ cận.

Ngày đầu tiên khi Archie cho tôi tên của một khách hàng tôi đã không nhận ra đó là anh bạn cùng làm một hãng cách đây 15 năm. Tới khi tôi đang trên đường bước vào cổng bịnh viện thì bỗng nhận ra anh đang đi trước một quãng. Thế là chuyện cứ nổ như pháo rang, tuy cùng làm một hãng nhưng lúc đó tôi chỉ biết anh và cũng không có dịp nói chuyện với anh.

Greenville,SC là thành phố nho, người Việt cư ngụ ở đây không nhiều nên hầu như là quen biết nhau. Những đợt đưa người Việt qua định cư ở Mỹ, nếu ai đến Gre enville, SC thường thường sẽ được giói thiệu cho vào làm ở hã ng Z. Đây là một hãng chuyên sản xuất đồ trang trí nội thất như tấm ra trải giường, bao gối, mền, màn cửa… Hãng này không cần tay nghề đòi hỏi kỹ thuật cao chỉ cần biết may là đủ còn nếu không biết may thì hãng sẽ cho người tập cho may.

Các bà, các cô, các cháu người Việt quả là khéo tay. Những loại mền khó may như loại có một sợi dây giống như dây thừng chung quanh thì Mỹ trắng, Mễ, Mỹ đen đếu chào thua ngưởi Việt mình về sản phẩm. Các bà, các cô ,các cháu không những may nhanh mà còn khéo may nữa nên thu nhập rất cao so với các đồng nghiệp người Mỹ.

Ở đâu thì tôi không biết chứ ở hãng này vào những năm 95, 96, 97 v…v… vào cuối tuần là cái check nào của các cô, các bà người Việt cũng “nặng” cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bó ng và ông chủ hãng phất lên là nhờ người Việt … ta ! Khi khởi đầu, hãng chỉ là một hãng nhỏ tại một thành phố nhỏ cách Greenville lối 35 miles.

Có lần viên manager nói với tôi là ông chủ cho biết sẽ cắt công may xuống vì lý do là những seamtress kiếm nhiều tiền quá.Với số tiền này, theo như lời ông chủ hãng, thì phải có bằng tương đương với cử nhân thì mới kiếm được.

Khi nghe ông manager nói thế tôi biết rằng ông ta đã nhận được lệnh của ông chủ để đi “dò mìn” xem phản ứng của công nhân Việt Nam ra sao.

Tôi chỉ góp ý kiến là những người có bằng cử nhân thì không cần khó nhọc, không cần đổ mồ hôi mà cũng có mức lương như vậy. Còn như ở đây thì ngược lại họ phải cố gắng hết sức mình mới kiếm được số tiền này. Nay nếu ông chủ hãng cắt tiền gia công như vậy thì đó là chuyện của ông. Người Việt Nam, tuy họ không nói được tiếng Anh nhưng họ đủ thông minh để biết ông chủ hãng xử ép họ nếu ông thực sự cắt tiền gia công. Vì là người Việt nên tôi hiểu cách cư xử của người Việt. Tôi chỉ có thể nói với ông rằng sau đợt cắt tiền gia công mạnh tay như thế này, người Việt sẽ dần dần bỏ hãng để kiếm hãng khác. Bây giờ ít nhất họ cũng đã rõ biết đường đi nước bước chứ không phải là con nai vàng ngơ ngơ ngác ngác như khi mới đặt chân lên Mỹ vào những năm đầu của chương trình HO đâu. Lúc đó ông chủ có kêu gọi họ trở lại thì khó đấy vì người Việt Nam chúng tôi có câu “Một sự bất tín vạn sự chẳng tin.”

Không biết ông manager nói lại với ông chủ hã ng ra sao. Tôi chỉ biết sau đó thay vì cắt 35 xu ông ấy chỉ cắt có 3 xu để tượng trưng cho uy quyền của ông đối với ông manager và làm cho ông ta đỡ mắc cỡ chăng, tôi nghĩ vậy.

Làm thô ng dịch cũng có những niềm vui và nỗi buồn, có những nỗi đắng cay, những cái ”oan Thị Kính” chứ đâu có dễ dàng như ngồi uống cà phê vào một buổi sáng mùa thu với bầu trời xanh có lá vàng rơi lả tả theo gió heo may đâu.Mà hình như niềm vui nhiều hơn là nỗi buồn thì phải.

Có lần tôi trực hành quân cùng với viên một viên đại Úy, ông nhờ tôi nói với viên cố vấn Mỹ điều A nhưng kết cục thì A không xảy ra mà B ở đâu lại chen chân vào làm tôi lãnh đủ.

Còn khi làm ở hãng cũng vậy khi có chuyện gì xảy ra mà bà con không hài lòng thì tai lại nghe là tại …tui, anh chàng thông (mắc) dịch! Thế có chán mớ đời không! Còn người thâ n trong nhà thì ôi thôi… khỏi nói !

Chỉ trong vòng có 20 năm, lịch sử Việt Nam đã trải qua hai biến động lớn cuộc di cư năm 1954 của gần 1 triệu người Bắc vào Nam và cuộc di tản khốn khổ khốn nạn của người Việt vào ngày 30/4/75 vì bị đồng minh phản bội.

Năm 1954 đồng bào có cái may mắn là di cư vào Miền Nam, nơi cùng nói tiếng Việt nên không có gì trở ngại trong cuộc sống. Ngược lại năm 1975 khi họ đến Mỹ thì đối với người lớn tuổi, trở ngại chính trong đời sống là ngôn ngữ.

Cho nên khi một số người lớn tuổi đến được Mỹ thì cứ nghe họ than: “Có mắt như mù vì không đọc được chữ, có tai như điếc vì không nghe được, có miệng như câm vì không nói được.”

Muốn đi học Anh Ngữ thì lại phải đi làm để kiếm sống hơn nữa lớn tuổi thì đi học là một trở ngại lớn vì học thì học nhưng lại không nhớ được.

Riêng phần tôi, làm thông dịch giúp bà con ở hãng là công việc rất thích thú vì qua việc làm này tôi nghĩ là tôi đã giúp họ bớt được gánh nặng phần nào trong cuộc sống tha hương. Khi đi thông dịch tôi có được niềm vui y như khi lên lóp dạy Anh Ngữ vậy.

Mỗi lần xong việc tôi cảm thấy khoan khoái vì không ngờ cái vốn Anh Ngữ của mình lại hữu dụng, có thể giúp nhiều người đến như vậy. Khi cái nghiệp thô ng dịch đã ngấm vào máu mình rồi thì thấy nó sao nhẹ nhàng và thích thú đến thế. Cám ơn cái nghiệp của tôi.

Sao Nam Trần ngọc Bình
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Một Đời Binh Nghiệp Hai Màu Mũ

Trương Văn Út
(Mũ Đỏ Út Bạch Lan)

Ta từ chinh chiến về ngang
Súng, Balô làm bạn, nghĩa trang là nhà.

Buổi xế chiều ngày 15 tháng 10 năm 1970 là một buổi chiều chia ly ngậm ngùi với những lời giả từ không thành lời... ! Bầu trời Nha Trang quang đảng, với sóng biển hiền hòa hết đợt này đến đợt khác tiếp tục đỗ xô vỗ vào bờ cát trắng chạy dài từ Biệt Điện đến Xóm Bóng, cơn gió viễn dương từ biển khơi thổi bay phất phới lá cờ Vàng Việt Nam Cộng Hoà trước sân trại Hải Quân Tây Kết trong nền trời hãy còn xanh lơ, mặc cho ráng chiều xen lẫn chút ánh tà huy hứa hẹn lại thêm một hoàng hôn đẹp làm sao miền thuỳ dương cát trắng…! Phía sau là trại Hoàng Diệu, Bộ Chỉ Huy Tiểu Đòan 81 Biệt Cách Nhẩy Dù- Lực Lượng Đặc Biệt là một trong những đơn vị cảm tử, thiện chiến tinh nhuệ hàng đầu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Theo lệnh thuyên chuyển đơn vị, Chiếc Hải Quân Dương Vận Hạm 505 (thường gọi là tàu há mồm) rúc lên ba hồi còi rồi tách bến lùi dần ra biển khơi, chở mang theo Đại Đội 5 Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù (ĐĐ5/TĐ81BCD) và Đại Đội 6 Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù (ĐĐ6/TĐ81BCD) cùng với toàn bộ thân nhân, gia đình binh sĩ rời Nha Trang xuôi về Nam. Cuộc giã từ không hẹn ngày gặp lại xiết bao nỗi buồn, trên bãi biển vẫn còn lố nhố người quen, lạ ngóng trông theo con tàu khuất dần về hướng chân trời, trên đường Duy Tân vẫn còn một dọc dãi quân xa jeep, dodge , gmcvà không biết vẫn có bao nhiêu bàn tay hãy còn lưu luyến ve vẩy tiễn đưa…! Thôi…”thế là thôi, là thế đó” …

Giã biệt người mai tôi về biển rộng

Con ốc sầu chở gió cát lang thang …!

Trong hồn tôi còn chút gì rung động

Một lần thôi gom hết tạ ơn đời…

Và không phải chỉ một lần thôi…! Tôi muốn thầm nhắn gởi nhiều hơn nữa để tạ ơn và giã từ Nha Trang thành phố miền duyên hải với quán cơm bình dân Chợ Đầm, Bar số 1 2 3 4 5 , phở Chút , phở gà Số 1, quán cơm Thanh Phong , nhà hàng Nautique, Hotel NT, café Thu , quán rượu bar Mỹ , Tháp Bà Hòn Chồng Cầu Đá…. và những lưu tình với bao người thân thương, quí mến …! Xin vẫy tay tạm biệt Thiếu Tá Nguyễn Văn Lân (K/17ĐL) Tiểu Đoàn Phó, người đã có công lót những viên gạch đầu đời binh nghiệp cho Tôi, Đại Úy Bùi Ngọc Bích (K11/TĐ) Chỉ Huy Hậu Cứ, người đã tận tình giúp đở chăm sóc cho vợ con Tôi và gia đình binh sĩ trong khi chúng tôi đang hành quân.. . Xin vẫy tay tạm biệt với tất cả quân nhân của Tiểu Đoàn 81BCD, những người còn ở lại đang đứng trên bờ biển cát trắng Nha Trang mang vô vàng ân tình, kỷ niệm quảng đời chinh chiến… Xin giả từ, tạm biệt Nha Trang và “Huynh Đệ Chi Binh” vì sau này chúng tôi còn gặp lại nhau trên những chiến trận khốc liệt nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam thời cận đại như: An Lộc, Kontum, Quảng Trị, Thường Đức … mà những nhà biên soạn Quân Sử Thế Giới cũng phải hao tốn công sức tu chỉnh, so sánh và xếp hạng cuộc Chiến Tranh Quốc- Cộng Việt Nam là: “Cuộc chiến khốc liệt và dài nhất trong Lịch Sử Thế Giới cận đại”…!...và chỉ mới buổi sáng hôm nay, trên sân cờ Tiểu Đoàn, khi Tôi (ĐĐT/ĐĐ5) và Đại Úy Nguyễn Chí Thanh (K12TĐ/ ĐĐT/ĐĐ6) trao trả Hiệu Kỳ đơn vị cho Thiếu Tá Trần Phương Quế ( K10ĐL/TĐT ), Tôi thoáng thấy vẻ mặt Ông đăm chiêu và nét buồn vương ánh mắt phảng phất u ẩn nỗi niềm của bậc phụ huynh đang phải cảnh từ ly, chia tay như sắp mất đi hai “đứa con” trong sáu “thằng con” mà Ông đã thương mến nuôi dưỡng, dạy dỗ, huấn luyện với tất cả tâm huyết trộn lẫn mồ hôi, nước mắt của chính bản thân mình… để rồi chúng lao vào cuộc chiến bắn giết, cố giành phần chiến thắng trên những mặt trận khốc liệt mà bởi trí tài được kham khổ, tôi luyện tinh nhuệ… ngõ hầu tránh được tối đa sự tổn thất tử vong của binh sĩ một cánh đáng tiếc…! Vì máu của người Chiến Sĩ trên chiến trường không phải bị hy sinh phí phạm do bởi sự khiếm khuyết tài năng của những “Đại Bàng, Mặt Trời” khạc ra lửa, mữa ra khói …lãnh đạo và chỉ huy … Ông trao lại hai Hiệu Kỳ cho Thiếu Tướng Tư Lệnh Nguyễn Văn Phú trong khi Ban Quân Nhạc Bộ Tư Lệnh trổi lên khúc nhạc tạm biệt và tất cả đơn vị trên sân cờ như rơi vào trạng thái tâm tư lắng đọng nghẹn ngào, nỗi buồn như bâng khuâng lảng đãng trên hàng cây phất thơ gió thổi, người …người yên lặng không một ai cất nên lời và ôi:

Đẹp làm sao trong giây phút phân kỳ

Trong ánh mắt đã say màu quên lãng…!

Ô…”cảnh biệt ly sao buồn vậy” như Kiếm Sĩ Samurai Nhật Bản cổ xưa đứng yên trên bậc thềm rêu xanh của ngôi Kim Các Tự trong buổi chiều tà, tịch nhiên tâm chìm vào cõi hư không, asãrakatthena là anatta lặng nghe tiếng chày kình vọng chuông thời công phu buổi chiều rơi rớt lá thu phong và vạt nắng yếu khuất dần sau đỉnh núi …! Trên con “tàu há mồm” chất chứa gần 800 nhân mạng gồm: Sĩ Quan, Hạ sĩ Quan, Binh Sĩ và thân nhân gia đình của 2 Đại Đội 5 và 6 Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù trên thuỷ lộ xuôi Nam…

Như thường lệ hằng năm cứ vào khoảng tháng 11, các phái đoàn Quân Binh Chủng của QLVNCH đến truờng Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (VBQGĐL) để thuyết trình về cơ cấu tổ chức, cơ cấu nhân sự, phương tiện và kỹ thuật hành quân tác chiến cho các Sinh Viên Sĩ Quan sắp sữa tốt nghiệp. Tôi có tâm trạng cũng tương tự như các bạn cùng khoá tuy đang ngồi trong Hội Trường mà đầu óc cứ suy nghĩ vẫn vơ… và “hoạch định” chọn lựa phương hướng, binh chủng để phục vụ tương lai:

- Nếu muốn tiến thân “Trong lang miếu ra tài lương đống " thì chọn: Công Binh, Quân Nhu, Quân Cảnh, Quân cụ...

- Nếu muốn tiến thân “ Biên thùy rạch mũi can tương " thì chọn: Nhẩy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, Biệt Cách Dù, và các Sư Đoàn Bộ Binh Tinh Nhuệ…

- Nếu muốn "Hối tàng nơi bồng tất" thì chọn: An Ninh Quân Đội , Đơn Vị 101, Cảnh Sát Đặc Biệt, Biệt Phái Ngoại Ngạch...

- Nếu muốn “Viễn Du Hải Hành” ra khơi biết mặt trùng dương thì chọn Hải Quân và nếu muốn “Bảo Quốc Trấn Không” với những “chuyến bay đêm” thì chọn Quân Chủng Không Quân… và quả thật có quá nhiều “cái” muốn thoả chí, thoả tình của bầy “Lý Ngư vượt Vũ Môn” trông chờ:

“Trống trường thành lung lay bóng nguyệt

Khói cam tuyền mờ mịt thức mây…”

(Chinh Phụ Ngâm-Đoàn Thị Điểm)

Những Sinh Viên Sĩ Quan từ khi nhập trường cho đến khi tốt nghiệp đều “Ôm” trong lòng một hay nhiều mơ ước lý tưởng để được phục vụ, chiến đấu, tiến thân trên đường “Binh Nghiệp” lành ít, dữ nhiều…Việt Nam nơi chốn quê hương không có một ngày bình yên khói lửa, bom đạn ngừng cày sới nhà cửa, ruộng vườn tan hoang và thân người ngã gục vùi nông sâu dưói lớp rể, lá cây rừng ẩm ướt, rã mục hoặc được chôn cất tử tế đàng hoàng với mớ vàng hương leo lét toả khói hương tống tiễn linh hồn tử sĩ buổi chiều mùa đông rét mướt lê thê mưa bụi lất phất bay ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà…! Sao có nhiều cái" Muốn " quá vậy ? Một SVSQĐL khi nhập trường cho đến khi tốt nghiệp đều " Ôm " một giấc mộng như nhau :

" Làm sao bách thế lưu phương ,

Trước là Sĩ sau là Khanh Tướng "


Do vậy nên khi tốt nghiệp đa số SVSQĐL có cũng cùng một quan niệm giống nhau là: "Hoặc xanh cỏ, hoặc đỏ ngực " một chọn lựa Sinh-Tử như “định mệnh an bài” không thể tránh khỏi và không có ai “chiêu an” để thoát cảnh chẳng xanh cỏ mà cũng chẳng đỏ ngực, chỉ có chiến trường “điểm danh” giờ phút của tháng ngày đen tối nào đó không xa mà rất gần bổng trở thành phế binh đui mù, què cụt…báo cô cho gia đình,vợ con và thân nhân kéo lê lết một đời tàn tật, lây lất trên vĩa hè đường phố hay trong những mái gia đình như ổ chuột ẩn chìm trong xóm lao động nghèo khổ…! Từ sau năm 1954 toàn thể Quân Dân miền Nam phải dốc toàn lực chiến đấu để Bảo Quốc – An Dân và Quân Đội có ảnh hưởng đến sinh hoạt dân sinh rất đa phần nhà…nhà ai cũng có người ở trong quân ngũ, ra ngõ là thấy gặp Lính và những phương tiện của giới quân nhân đang luân lưu trong dòng sống hiện tiền…Vậy mà đã có mấy ai tiên liệu nghĩ được là: Cơn đại họa tai ương của Mệnh Nước - Vận Nhà đổ xập xuống như cơn thịnh nộ sóng thần, bão lũ giáng xuống toàn thể miền Nam làm cho cả tập thể Quân Nhân như chúng tôi phút chốc phải vất súng đạn, cởi bỏ quân phụccùng nhau lũ lượt rủ nhau vào tù hoặc trốn tránh quân thù để sống những tháng năm dài bất tận thiên thu trong nỗi uất nghẹn của người bại trận…và cũng chẳng có ai cao kiến nghĩ rằng: Bổng một buổi sáng, chiều ngày nào đó bản thân đơn độc hoặc với gia đình hay cả dòng người thôn xóm, làng mạc, thị dân thành phố lũ lượt tuá chạy tất tả để chen chân lên phi cơ, tàu thuyền hay đường bộ…bỏ lại ông bà, cha mẹ, vợ con và người thân để vượt thoát ra khỏi nước làm người tỵ nạn trên xứ người rồi bắt đầu gây dựng lại đời sống mới để không hổ thẹn làm tha nhân cầu thực..

Vào cuối tháng 11 năm 1967, Phái đoàn LLĐB đến thuyết trình: Cơ cấu tổ chức và nhân sự… sao mà quá nhiêu khê không giống như ND , BĐQ , TQLC , SĐBB ….cái gì đâu là A Team,, B Team, C Team, CIDG, Mike Force, Delta, Nha Kỹ Thuật 81BCD...xem một đoạn phim chiếu lại nào là anh hùng Yđê, Ystiêng, Ysàriêng, Thạch Khương, Thạch Phen… gì đâu xa lạ quá …!!! Nói thì nói vậy, chứ Tôi đã bị “mê hoặc” bởi “cái” binh chủng tinh nhuệ, thiện chiến, xuất chúng và cảm tử xem nhẹ mạng sống như Kinh Kha vượt qua bờ sông Dịch để hành thích Tần vương trong Lịch Sử “Ba Tàu” xa xưa. Chúng tôi đây đương thời “trai thế hệ” học giỏi, đẹp trai hơn “Tuấn chàng trai nước Việt” bỏ Cour de dance, Vũ Trường Ca Nhạc, Ciné, Café Pagoda, Brodard, Hầm Gió, Pole North…và những cuộc vui ồn ào, tưng bừng, náo nhiệt kín hở trong thành phố Saigon xô bồ, xa hoa bình yên…và chỉ cách 20 Km đường chim bay vùng ngoại ô ven đô, đêm…đêm ánh hoả châu treo lơ lững, soi sáng chiến trường cùng tiếng bom nổ của pháo đài bay chiến lược B52 trải thãm và tiếng đại bác bắn yểm trợ của quân ta từ xa vang dội về thành phố, hằng đêm và hằng đêm như sinh hoạt thường nhiên đến vô tình…! Chúng tôi ý thức rồi “xếp bút nghiên” lên đường nhập ngũ, “Cư An-Tư Nguy” chiến đấu bảo vệ dân chúng được bình an sinh sống và sự toàn vẹn bờ cõi nước nhà …chắc chắn chính danh và lý tưởng tốt đẹp hơn tráng sĩ Tàu chỉ vì ân tình, nghĩa luỵ với thái tử Đan nước Yên có dự mưu và thói tính cường bạo, máu lạnh ai nỡ chặc đi đôi bàn tay của ca nhi mỹ nữ hầu rượu qua đêm mà làm quà trao tặng “tráng sĩ” Kinh Kha để tự hào với hậu thế là thể hiện thói “Văn Hoá Trung Hoa”…?!!! Khi còn ở Trung Học, tôi nói dối với Ba tôi xin cho tiền để mua sách toán đề thi của Giáo Sư Nguyễn Văn Phú và Đàm Quang Hưng, thực ra để có tiền đi xem ba xuất Ciné cuốn phim "Les canon des Navaron". Trong phim diễn tả lại cuộc xâm nhập của một toán Ranger của Liên Đoàn II LLĐB Mỹ (tài tử Gregrory Peck đóng vai Thiếu Tá trưởng toán) nhằm phá hủy những cỗ đại pháo tối tân của quân Đức Quốc Xã (Gun Battery) tại Point Du Hoc chỉ cách nơi đổ bộ trên bờ biển Normandie một cây số bên trong đất liền… Nếu nhiệm vụ của toán này thất bại thì không có một chiếc tàu đổ bộ nào của quân đội Đồng Minh cặp bãi Omaha và Utah Beach.

Trung tuần tháng 12 năm 1967, hai tuần lễ trước ngày mãn khoá của chúng tôi, một phái đoàn thứ hai của BTL/LLĐB đến trường để chọn lựa những Tân Thiếu Úy cho đơn vị, chỉ có 27 SVSQ/K22ĐL được tham dự và tôi được Đại Uý Bác Sĩ Trần Văn Út làm trưởng phái đoàn phỏng vấn:

- Chào Bác Sĩ

- Ngồi xuống đi. Tên Anh là Trương Văn Út hả ?

- Dạ vâng.

- Tại sao Anh thích LLĐB ?

- Dạ, Tôi không biết …!

- Tại sao cha Anh họ Trần mà Anh là Họ Trương ?

- Dạ, Tôi cũng không biết nữa…!

Những câu hỏi thật “đồng ấu Giáo Khoa Thư” lảng xẹt…đụng chạm đến ngạo khí “Lương Sơn hảo hớn” của Tôi, khiến Tôi gần như nuốn nỗi dóa, định đứng dậy chào rồi bước đi ra. Nhưng:

"Bác Sĩ nhìn Em Bác Sĩ cười,

Em nhìn Bác Sĩ mộng hoa tươi… !!!

Sau này màu mũ xanh như lá

Bốn phương tám hướng mặc tung hoành”…!!!

Sau cùng của buổi tuyển chọn “anh hùng”, Ông Thượng Sĩ phòng TQT xướng danh tân Sĩ Quan được trúng tuyển:

“ Kính thưa quí vị,

Những ai có tên trong danh sách này xin ngồi lại, không có tên xin trở về doanh trại: …

Cám Ơn.

Chỉ có 8 người còn được ngồi lại trong phòng, trong số đó có tên Tôi, thật ra danh sách này đã có từ BTL truớc khi phái đoàn tuyển chọn (select team) đến trường. Người Anh cột chèo Chú Bác ruột của Tôi là Bác Sĩ Ngô Vi Dương đang kiêm Y Sĩ Truởng BTL/LLĐB. Như thế là 8 Tân Thiếu Úy K22 VBDL trình diện Phòng Tổng Quản Trị BTL/LLĐB ở Nha Trang sau 15 ngày nghĩ phép gồm có những bằng hữu như:.

- Trần Văn Ni vác hành trang trình diện BTL/SĐ1BB vì an ninh lý lịch.

- Xường, Chân, Xinh... trình diện BCH C4.

- Út, Chẩn, Tiển... trình diện BCH/TĐ81BCD.

- Đặng Văn Lợi... trình diện BCH/ TĐMikeForce

Năm 1968 tại Nha Trang, trong doanh trại của đơn vị LLĐB/81BCD chỉ còn lại Tôi, Chẩn, Tiễn và Lợi hưởng được những ngày cuối năm của Tết Mậu Thân với tiếng pháo giao thừa xen lẫn tiếng súng AK, B40, Beta…của VC nổ dòn tấn công, Tôi bị thương phải nằm bệnh viện BTL hết 3 ngày đêm. Đơn vị của Chấn và Tiễn được bốc thả xuống Khe Xanh rồi những Anh Hùng LLĐB/81BCD trẻ tuổi đương độ “khí phách ngang trời” thây phơi chiến địa, họ không bao giờ trở về với bông mai vàng vẫn còn óng ánh trên vai áo trận giặt ủi hồ thẳng nếp, pháo đã thôi nổ chỉ còn những tiếng súng giao tranh nổ xé trời ngày đêm và tiếng cánh quạt trực thăng Gunship chém gió phành phạch với hoả lực không kích khủng khiếp bằng những tràng đại liên nổ khan xen lẫn âm vang tiếng nổ dậy trời của hoả tiễn có tầm tàn sát, công phá kinh hoàng…thân thể của những cán binh VC đã bấy lâu chui rúc, lẫn trốn sâu trong xóm làng, rừng rậm, gầy còm thiếu dinh dưỡng với làn da tái xanh nhợt nhạt…được bọn “đồ tể lãnh đạo”giảo quyệt, trí trá tuyên truyền nhồi sọ khích động tinh thần yêu nước quân “Giải Phóng Miền Nam” cho xác người cán binh hữu tình, hữu hạn phải hứng chịu bom đạn nổ tan tành như xác pháo rờn rợn đất trời…có cha mẹ, vợ con, thân nhânnào của người cán binh VC lại có thể cầm lòng yên bình chấp nhận… trước hậu quả bi thãm mà cán binh VC phải trân mình hứng chịu được không…? Chắc chắn rồi sẽ có ngày xoay lại vòng nạn oan khiên: Tất cả bọn “Cung Đình Đỏ” phải bị lôi ra pháp trường xử tử. Quân “giải phóng” đã được bom đạn thật sự giải phóng và tống tiễn về với thần chết và cảnh giới u minh…để lại thành phố có nhiều nơi đỗ nát ghim đầy dấu đạn và vết máu vương vải lấm lem, quanh đây có nhiều vành khăn tang trắng chit vội lên những mái đầu xanh mà chỉ mới vài tuần lễ trước đây còn rộn rã tiếng cười…nhà ai vẫn còn ít nhiều hoa mai vàng nở muộn trên cành lung linh trước gió Xuân hãy còn ngay ngáy mùi máu tươi và thuốc súng pha lẫn trong ánh nắng ấm áp của Tết Mậu Thân tang tóc…!!! Có “cái” đơn vị nào kỳ cục bằng đơn vị này ?... Thiếu Úy "sữa" vừa mới ra trường, trình diện xong thì nhận lệnh đi gát hòm cho vị ĐĐT của mình là Đại Úy Nghi ĐĐT/ĐĐ3 vừa mới tử trận ở Kontum thời điểm 2 tuần lễ trước Tết và bây giờ lại một lần nữa phải đi gát hòm cho Cố Trung Tá Lê Như Tú TĐT/TĐ91BCD vừa ngã gục trong đêm giao thừa Tết Mậu Thân trên phố Độc Lập, Nha Trang !...với những giòng nước mắt tưởng nhớ hai người Bạn cùng Khoá mà chỉ mới cách đây một tuần hãy còn ngồi “Tiếu Ngạo Giang Hồ” khẩu khí ồn ào, vung vít tưng bừng dzô…dzô…nhậu beer tới bến với những rỗ ốc bu sống hấp lá gừng chấm nước mắm cay như xé lưỡi ở quán số 5 ven bờ biển… Số mệnh an bài nghiệt ngã chưa chịu dừng lại ở đây…hai tháng sau, ở mặt trận Cây Quéo, Cây Thị trong đợt “Tổng Công Kích Đợt II”, Tôi ôm xác bạn Huỳnh Kim Tiễn bị lãnh trái pháo không giật làm văng mất đầu, chúng tôi lục lạo tìm kiếm mãi mà không thấy thủ cấp của Tiễn đâu cả…! Tôi vẫn luôn nhớ và hình dung gương mặt hiền hậu, hài hòa, thân thiện và trí thông minh của người Bạn Thân cùng Khoá còn lại với Tôi đã đền xong nợ nước.

Thời gian trôi qua như một giấc mơ...Sau hơn 2 năm Tôi phục vụ ở TĐ91BCD (Sau này đổi thành TĐ81BCD vì “Mặt Trời, Đại Bàng” luận bỡi số 9+1=10 là số “bù” xú quẩy, xui xẻo nên Anh Hùng trong đơn vị bị chết như rạ ! Nay cải số 81 là 9 là thành số Tốt)…Từ đó đến về sau đơn vị đã trãi qua đến 6 vị ĐĐT lẫm liệt chỉ huy tuần tự: Trần Hoạt Thành, Nguyễn Đăng Lâu, Huỳnh VănThanh, Ngô Tùng Lam, Nguyễn Văn Lân, Phạm Châu Tài và là đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến hàng đầu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã gieo rắc kinh hoàng cho Bắc Quân trên khắp mặt trận tàn khốc suốt 21 năm cuộc chiến Quốc-Cộng phân tranh…Một binh chủng như thế, một đơn vị như thế có xứng đáng để người đời ca ngợi: "Kinh Luân Khởi Tâm Thượng, Binh Giáp Tàng Hung Trung ".....?!!!

Ngồi trên mũi boong tầu dương vận hạm 505 đang xuôi Nam, điểm đến là Quân Cảng Bạch Đằng. Nào ai biết ngày mai rồi sẽ ra sao khi đời quân nhân chỉ biết tuân phục, chấp hành lệnh lạc từ bên trên chỉ xuống …? Bên cạnh Tôi là Đại Uý Nguyễn Chí Thanh (ĐĐT/ ĐĐ6/TĐ81BCND) , Trung Úy Hồng Quang Bảo (ĐĐP), Trung Úy Nguyễn Văn Thinh (ĐĐP) của Tôi, bên dưới lòng tàu lố nhố nam phụ lão ấu chen chút nhau với hành lý là những thùng rương gỗ tạp, valy, túi sách… lẫn lộn với balô nón sắt súng đạn cùng hai chiếc xe jeep của hai Đại Đội… Trong tâm trí mỗi người chắc hẳn có nhiều suy tư riêng tự hỏi sẽ sinh hoạt như thế nào trong khu trại gia binh mới luôn là nơi đất lạ quê người… ? Những quân nhân và gia đình sinh quán ở Nha Trang phần đông đều mang nỗi buồn mênh mang xa xứ ! Những người gốc Sài Gòn, Gia Định, miền Đông, miền Tây mừng rở vì suy tính sẽ có dịp về thăm cận kề gia đình người thân yêu…!!! Không biết trong số hàng quan, quân nầy có ai bi quan tự hỏi:” Biết đâu ngày mai hay ngày mốt còn nhìn thấy đuợc chiếc mũ Green Beret đội lệch ngạo nghễ trên mái đầu ngẩng cao nầy không, một binh chủng đi đông về ít, đi ít về không...hoặc đi luôn không thèm về nữa…"?! Ngày xưa, trước khi Kinh Kha sang sông Dịch được Thái Tử Đan khoản đải yến tiệc linh đình với cung tần mỹ nữ… Ngày nay chúng tôi được “bốc” rồi “thả” vội vàng vào vùng tử địa để tử chiến với quân thù mà bóng dáng tử thần cứ lỡn vởn chực chờ gặt lấy linh hồn phất phơ bay theo tiếng súng cường tập của Bắc Quân, “Kinh Kha Biệt Cách Dù” sang bờ Dịch thuỷ không kèn không trống, chỉ có chút ít thời gian ôm vợ, con hôn từ già với câu hỏi đầy lo lắng: " Em và con có còn đủ gạo ăn tháng này hay không…”?!...rồi với balô, súng đạn lên đường hành quân đột kích và nếu “anh” trở về bằng trực thăng chở xác chờ ban Chung Sự tẩn liệm với "hòm gỗ cài hoa” phủ màu cờ lặng lẽ, có nhiều tiếng khóc trên đường ra nghĩa trang…! Tôi quay sang hỏi Đại Uý Thanh:

- Anh đang nghĩ gì vậy ?

Trước khi về TĐ81BCD, Anh là Trung Úy Tóan Trưởng Biệt Hải, xâm nhập bờ biển Hải Phòng năm 1966 bằng tàu đánh cá cải trang của Hải Quân QLVNCH, toán bị "bể", được cứu thoát với cánh tay phải của Anh lặt lìa, cũng may nhờ Quân Y của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ cứu chữa tuy giữ được nguyên vẹn cánh tay, nhưng thương tật quá nặng nên không hoạt đông được bình thường ! . Vẫn cái giọng nói, cười khàn đục của Anh và cánh tay thương tật vung vẫy:

- Mẹ…! Từ Biệt Hải… tự ái không thèm giải ngũ, về Biệt Cách Dù bây giờ lại về Trinh Sát Dù …Thôi cũng được ! Chứ đưa Tao về “Biệt Ly” là Tao “Biệt Kinh Kỳ” ngay…!!!

Trung Úy Thinh hỏi :

- “Biệt Ly” là cái gì vậy Đại Úy…?

- Là ĐĐT Chung Sự Nghĩa Trang Biên Hòa chứ còn con mẹ gì nữa…!!!

Thanh đưa tay móc bi đông, mở nắp hớp vài hớp khề khà …rồi chuyển sang cho Tôi, Tôi cũng làm một hớp và trời đất ơi “ Ông Già Đi Bộ " (Jonhny Walker) chính hiệu “Huê kỳ” … Tôi chuyền giao tiếp cho Hồng Quang Bảo, rồi cho Thinh… Bảo tư lự chẳng nói năng gì, nhìn bâng quơ vào khoảng trời xanh vô tận… Chắc Anh đang nghĩ đến giòng họ nhà Hồng Quang của Anh đang ở Đài Loan cùng với gia đình nhà họ Tống gốc “Thziên Trziều” Bắc Phương “dzĩ đại” chăng…?!!!. Thinh nắm lấy tay Tôi xiết chặc ân tình:

- Trung Úy, có Tôi bên cạnh đây…!

Rồi thời gian cũng qua mau như là một giấc mơ...

- ĐĐ5/81BCD...cải danh là ĐĐ2TSND

- ĐĐ6/81BCD...cải danh là ĐĐ3TSND

Mang cái tên mới là Trinh Sát Nhẩy Dù. Nhưng gốc nguyên thuỷ xương thịt máu huyết bản thân là Đơn Vị 81Biệt Cách Dù.

Chiến Dịch Hành Quân Lam Sơn 719 Hạ Lào (1971): Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà vượt biên giới tấn công vào căn cứ hậu cần của Việt Cộng đồn trú tại quốc gia Lào: Đại Úy Nguyễn Chí Thanh tử trận, xác không lấy được đã làm thêm xanh tươi cho cây rừng chằng chịt ở nơi ma thiêng nước độc xa lạ nào đó bên Lào, không phải quê cha đất tổ của Anh…! Anh không bị thuyên chuyển về “Biệt Ly” mà là “Biệt Xứ”, Biệt Hải, Biệt Cách hay Biệt gì…gì…đi nữa…thì nay cũng lần chia tay “Vĩnh Biệt” Anh rồi…!...và tiếp nối Hồng Quang Bảo cũng theo Anh, xác được đồng đội gói ghém nhiều lần trong cái poncho rách tả tơi, mà vợ con, gia đình, thân nhân ruột thịt của Anh không nhìn mặt được lần cuối…! Có lẽ giờ đây thân xác các Anh đã rã mục hòa lẫn vào thớ đất phì nhiêu màu mở của núi đồi phía Tây Khe Sanh, Lao Bào, trên dãy Trường Sơn trùng điệp mầu tím thẫm chạy dài vùng Hạ Lào khi hoàng hôn buông phủ…!

Mùa Hè Đỏ Lữa (1972 ) với Mặt trận Tây Nguyên, An Lộcvà cứ điểm đồi Charlie… LĐ 81 BCD triệt xuất vùng Tam Biên, ĐĐ2TSND được điều động thả xuống để đương đầu với Sư Đoàn Thép 320 của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) cùng với đại pháo 130 ly, hỏa tiễn 122, Tant T54…hơn 50 000 quân CSBV vây kín trùng trùng … Nguyễn Văn Thinh nay làm ĐĐT/ ĐĐ111 của TĐ11ND (Song Kiếm Trấn Ải). Khi cộng quân tràn ngập đồi Charlie, Thinh như một “Rambo, Dũng Sĩ Thời Đại, Triệu Tử Long, Trần Bình Trọng” tân thời đơn độc với giầy Saut, quần trận, áo thung ba lỗ, đầu chít khăn viễn thám, ngực quấn đầy dây đạn, hai tay ôm khẩu đại lien M60 đứng sừng sửng trên giao thông hào, miệng không ngớt quát tháo:"ĐM chúng mày lên đây...lên đây ..." tay bóp cò súng bắn rãi đạn như mưa, quạt sang trái, sang phải vào lũ Bắc Quân xiết chặc vòng vây…và rồi Thinh đỗ gục xuống thân xác bị đâm chém hằng trăm nhát mã tấu thù hận và ghim đầy lổ đạn của lũ quỉ dữ trầm luân khát máu tươi từ thời đại sơ khai hỗn độn…! Sau chiến trận Tôi có dịp trở lại Nha Trang đến thăm Mẹ của Thinh, lặng nhìn khung ảnh của Thinh an vị trên bàn thờ ám khói hương và làm sao để trả lời những vấn chuyện về cái chết của Thinh cho người mẹ già thân thể gầy còm, mòn mõi với thời gian chịu đựng cơn đau thấu tâm can vì mất đứa con trai yêu thương …được suông sẽ câu chuyện buồn tang tóc…! Tôi chỉ biết nghẹn ngào trả lời:

- Thinh vẫn còn ở lại Charlie với Đại Tá Nguyễn Đình Bảo…!

Với Trận Hạ Lào Lam Sơn 719,… ĐĐ3TSND tức ĐĐ6/81BCD kể như bị tử thần xóa sổ binh nghiệp !

“Kontum Kiêu Hùng, Quảng Trị Vùng Lên”, ...ĐĐ2TSND tức ĐĐ5/81BCD xa luân chiến, thân xác còn đó…Nhưng thịt xương rã rời, máu huyết tan loãng, mãnh hổ thấm thương thân đầy vết đạn thù và vẫn phải bị “bốc” đi “thả” xuống những mặt trận khốc liệt, hung hiểm…đường đi vào cõi chết để tìm sống những “Kinh Kha thời đại” Chiến Sĩ Biệt Cách Dù…! Tôi không thể nhớ hết và làm để có thể nhớ hết được khi thời gian quá ngắn mà trang Chiến Sử thì quá dài… Đã có bao nhiêu đồng đội thân thương của mình cùng chung một chuyến “tàu há mồm” xuôi Nam, giả biệt trại Hoàng Diệu...đã nằm xuống trên khắp mặt chiến địa mà nay Tôi vẫn còn đây…! Họ nằm xuống cỏ xanh phủ lợp để Tôi được “đỏ ngực” chăng ? “ Đỏ ngực” vì được gắn “huy chương” đầy ngực hay đỏ ngực vì tim Tôi rĩ máu đau thương với Bạn Đồng Đội ngã xuống… vàbao nhiêu tháng năm qua nữa vết hằn thôi ray rức tâm tư mỗi khi tưởng nhớ đến “Họ” …?! Ở đây, thời gian nầy với với những dòng chữ “tâm bút”:

Thiên niên sự trầm hương vàng một nén
Vạn cổ hề trà, rượu trắng ba chung…
Đây “Mủ Đỏ Út Bạch Lan”
Lòng thành tâm cúng Bạn
Có linh thiêng vi vu về đây
Cùng ta “knock” rượu, uống cạn mấy chung trà…?
Đường chinh chiến đã xa rồi như mộng ảo
Ta còn đây ngồi nhớ Bạn biết dường bao…!
Gõ một tiếng chuông
Cho buổi chiều vô minh tan nát…
Tụng một thời Kinh
Để tiễn đưa hương linh Bạn viễn trình…

Sạpê Satta Avêra Hontu Sukhita Hontu
Avijjã Paramam Malam Anicca Dukkha Anatta…

Chày kình một tiếng
Cho cõi trời sắc không vỡ vụn…!!!

Và:

Vốn xưa là hạt là sương…
Thì nay như khói vô thường bay đi
Ta chưa luyến ái điều gì
Ví như mấy bụi trần vi cuộc nầy…

Tôi: “ Thành Kính Truy Điệu Đồng Đội Tử Sĩ Đã Vị Quốc Vong Thân” vì vốn dĩ xưa nay Việt Nam chinh chiến dường bao “Nam Nhi Chinh Chiến Kỷ Nhân Hồi”…!!!

Thượng Sĩ Nhất, Thượng Sĩ, Trung Sĩ Nhất, Trung Sĩ, Hạ Sĩ Nhất, Hạ Sĩ...Họ gọi chung là Hạ Sĩ Quan là những quân nhân ưu tú nhất của QLVNCH, “Họ” là những bậc thầy của Tôi ngày mới ra trường, chính Họ đã huớng dẫn, chỉ bảo, trao truyền kinh nghiệm chiến trường cho Tôi trong những bước chân đầu đời binh nghiệp… Nhớ một lần trực thăng vận vào mục tiêu Ashau, Alưới,… chân vừa chạm đất là chạm địch ngay, Hạ Sĩ Nhất Minh mang Máy PRC25 nắm cổ áo Tôi vật ngã xuống đất và hét :

- ĐM …Thiếu Úy Đà Lạt gì mà ngu thấy mẹ...cứ la xung phong...xung phong là đưa ngực cho nó phạng… chết mẹ hết ráo còn lấy ai xung phong…!!!

Họ là những người lính già thâm niên với tích luỹ “bề dầy” kinh nghiệm chiến trường và tinh quái như “cáo” già trước cạm bẩy tử sinh trận mạc …và rồi họ cũng ngã xuống chiến địa…! Nhưng “cái” tinh anh không bao giờ chết. Họ chỉ nhạt nhòa đâu đó trên Quê Hương và tận cùng đáy lòng sâu kín trong tâm thức của Tôi…Họ ẩn hiện mờ mờ nhân ảnh, chinh nhân ơi có bao giờ Anh trở về bình yên ? “Anh không chết đâu…Anh ! Anh chỉ vừa bỏ cuộc hôm qua…”!

Hôm nay còn lại gì: ?

Phải chăng trong những cõi đời…?
Cõi chôn mộng ước, cỡi vời chân không…!
Phải chăng trong những cõi lòng…?
Ta Bà còn dậy mênh mông khói mờ…!

Có còn chăng chút “ Tình Huynh Đệ” mong manh, dễ tan vỡ như những hạt mưa bong bóng, mới kết đã ly, hợp tan như bèo bọt…! Ta cố gìn giữ hương hoa cho gió thoảng, góp nhặt cảo thơm lần giở trước đèn, tìm tri âm, tri kỷ cùng chí hướng để:

Ví biết lửa hương tìm chấp nối
Là hay vàng đá để trao truyền

Hay chỉ để tâm giao và thâm giao "Quân Tử Chi Giao Đạm Nhược Thủy". Tình Huynh Đệ hôm nay không cần vồn vập sôi nổi như sóng nước vỗ chân cầu để rồi sống sau dồn sóng trước, mà cần lắng kết vào bên trong tâm khảm, thông cãm, bao dung, tha thứ cầu mong điều tốt lành cho nhau, sẳn sàng chia xẻ an nguy, cứu giúp khốn cùn, giải điều phiền muộn…dù phải phá chấp và đón nhận hy sinh… không ra ngoài mục đích hài hòa những mối tương giao tình tự: "Một ngày làm Lính, một đời là Lính: "Mũ Đỏ, Mũ Xanh, Mũ Nâu, Mũ Đen,Mũ Vàng, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Dân Vệ, Bảo An, Cảnh Sát, Vỏ Trang Tuyên Truyền, Xây Dựng Nông Thôn, Thiếu Sinh Quân,...” cùng có đa phần giống như nhau là cưu mang định nghiệp Bảo Quốc-An Dân và đem sinh mệnh phơi thây trên chiến địa, dưới muôn vàng họng súng xâm lăng của quân thù thèm khát máu tươi của người đồng chủng tộc, nòi Việt phương Nam đã cách ly, xé toát tự thân tháo gỡ những ung bào tầm gởi di hại của nòi Hán là “kẻ thù truyền kiếp” Bắc phương.

Nhưng tiếc thay hôm nay:

Có những “Huynh Huynh- Tỷ Tỷ” mau vội quên đi, hay cố tình lãng quên: " Nhất Tướng công thành vạn cốt khô"! Họ quên đi thời thế, thế thời đã đổi thay, vẫn y cứ phường tuồng, sính vai hoàng triều, huê hoè áo mảo, đeo lon lấp lánh, huy chương tạp dề đầy ngực, sum xoe trong những lễ hội tương tế, hoa đăng,cộng đồng,…Nhưng có bao giờ “Họ” tự vấn lương tâm: Đã có bao nhiêu linh hồn uổng tử đang ở bên cạnh cuộc đời báo oán và nguyền rủa…?!...và cũng có những tục nhân luôn khúm núm “Anh…Em”dậu đổ bìm leo, “thời lai đồ điếu thành công dị” phù nhi trực trượng, trồi đạp nhau leo trèo lên những bậc thang “Danh Vị” huyễn ảo như sương mai buổi sớm, nộm thảo ươm hư, bôi mặt, chà đạp thẳng thừng vào ân nghĩa, đồng chí, bậc huynh trưởng đáng được trân trọng, quí mến ít ra trong “tình nghĩa giang hồ” như “hảo Hớn” thời xưa…!

Ngày nay, trong một cuộc sống quá xô bồ, hối hả, căng thẳng với gia tốc của nhu cầu vật chất làm chuẩn mực, thước đo “tài năng, trí trá” phương cách thành đạt biến thiên nhân cách của “Người “ xuống vượn …Ôi, Nước mất nhà tan, hồn Việt linh lạc phiêu diêu thì đã có được mấy ai còn cưu mang Việt Lý Tố Nguyên làm nền tảng để không vì bả phù hoa mà giữ gìn bản sắc thuỷ chung tương hoán với dòng đời và xử thế, thiệp thế y nhân…?! Tôi quán tự thân tâm tĩnh lặng, xã bỏ ít nhiều ưu phiền trong cuộc sống hằng ngày …và mỗi khi hôn trầm, phóng tâm duyên theo quá khứ quê nhà cảnh cũ, gặp lại những hình ảnh thân thương của đồng đội ngày nào còn vui cười nhộn nhịp trên chiếc tàu há mồm xuôi Nam để từ Mũ Xanh thành Mũ Đỏ và mặc màu gì cũng chỉ là màu. Nhưng màu Máu của con người khó mà thay đổi được…và Tôi ở ĐĐ5/81BCD và ĐĐ2TSND: "Chỉ là Một”. Từ khởi đầu và suốt 21 năm trong cuộc chiến Quốc-Cộng kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1975 và mãi cho đến hôm nay ... Đã có rất nhiều những nhà Biên Niên Sử, Chính Trị… nổi tiếng “uyên bác” lên tiếng tham luận trên rất nhiều diễn đàn đề cập đến nguyên nhân thất bại và vội vã cuốn cờ tháo chạy của “Người Mỹ” ra khỏi Việt Nam …! Nhưng đã có mấy ai “Đại Trí” để “Hiểu” vì sao “Người Mỹ” bước chân vào Chiến Tranh Việt Nam ? Ngẩng mặt lên “Trời” cao tìm “Trăng” sáng và hỏi những vì sao “Bắc Đẩu” …đêm đen vẫn lung linh huyền ảo…Ôi thật bí mật làm sao…cho đến bao giờ…?!!!

Trương Văn Út
(Mũ Đỏ Út Bạch Lan)
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Nhà văn trẻ ấy bị thương

Trần Hoài Thư

Đêm giao thừa 1968. Lệnh ngưng bắn đã được đọc trên radio, và qua lệnh lạc. Cám ơn Giao Thừa cho miền Nam này một đêm bình an. Có điều, chỉ một đêm. Một đêm ngắn ngủi. Rồi sau đó, tất cả khúc phim cũ lại tiếp tục diễn. Tàn bạo hơn. Điên cuồng hơn. Thù hận hơn.

Dù sao, đêm nay ta cũng mừng vì khỏi dẫn lính đi nằm tiền đồn. Buổi chiều lính rủ đánh bài cào. Ban đầu ăn, nhưng sau đó thua sạch túi. Trung sĩ nhất Mới, hạ sĩ quan quân số và là chủ câu lạc bộ đã mua vịt quay, heo quay, hoa quả để cúng giao thừa. Hắn mời tôi chia vui giao thừa với vợ chồng hắn. Trong cõi tối mờ mịt của một đêm cuối năm, những người lính không thân nhân gần gũi quây quần trong câu lạc bộ, đánh domino, chơi bài, hay uống rượu. Tôi vào phòng. Căn phòng đã thấy tôi suốt 4 tháng trời. Trên vách ván treo tấm hình cô gái trong tạp chí Playboy. Đôi vú tròn căng, hai tay che phần dưới. Mái tóc tung tóe. Sau lưng là biển xanh ngát. Một chiếc tủ được đóng bằng thùng đạn pháo binh, trên để những tạp chí. Đó cũng là bàn viết. Đó là gia tài của một cây bút trẻ. Làm sao những người độc giả của tôi hiểu được, để đổi lấy những trang giấy đầy bom đạn, sôi sục căm hờn, lờn vờn cõi tử, nóng hổi tiếng gào rú, tiếng nổ, là tác giả của chúng đã phải đổi lại bằng chính sinh mạng của mình&

Tôi ngồi trước bàn viết. Nhắm mắt lại. Giờ này Uyên đang làm gì ở dưới ấy. Ờ, mà tại sao lại hỏi vậy. Nàng có bao giờ hiểu tôi để tôi phải nhớ chứ. Nhưng tình yêu thật kỳ lạ. Bao nhiêu rượu say mềm để tìm quên, nhưng cuối cùng lệ say vẫn là lệ nhớ. Chẳng thà không biết thì thôi/Biết rồi mỗi đứa một nơi cũng buồn. Dù thế nào đi nữa, hồn anh vẫn luôn luôn ngập đầy một vườn xưa, Uyên ơi.

Bây giờ là giao thừa. Những tràng súng nổ như vỡ bùng lòng đêm, và những tia đạn lửa cắt xé ngang dọc. Trời đen như mực xạ. Trong câu lạc bộ, trung sĩ nhất Mới đã cúng giao thừa. Tiếng nhạc mừng xuân rộn ràng. Lòng bỗng nhiên xôn xao bồi hồi vô kể.

Ba giờ sáng ngày mồng Một năm Mậu Thân, chuông điện thoại reo lên tới tấp trong văn phòng đại đội. Tin cho biết địch đã tràn ngập Qui Nhơn, và nhiệm vụ đại đội là phải xuống đồi về giải tỏa thành phố.

Chúng tôi phải vất vả lắm mới tom góp được khoảng 50 người lính. Trong đêm giao thừa, chiếc xe dodge xuống đồi lục lạo khắp trại gia binh. Lính tráng có kẻ vẫn còn vướng rượu. Có kẻ chưa kịp từ giã vợ con. Có kẻ chưa kịp cúng giao thừa. Có kẻ vẫn còn ngái ngủ. Cả doanh trại gia binh như choàng thức giấc.

Bốn chiếc xe mười bánh mở đèn pha lên đồi. Trong một đêm về sáng, lính tráng tập họp điểm danh. Trung đội tôi chỉ có 10 người. Trời ơi, một trung đội chỉ 10 người làm sao mà đi đánh giặc. Ông đại đội trưởng đã lái xe xuống Bộ Tư Lệnh Sư đoàn để nhận lệnh hành quân. Trên sân những bóng người ẩn hiện dưới ánh điện vàng. Và bóng tháp phía cổng trại thấy mập mờ. Tự nhiên, có cái gì bắt tôi phải đến dưới chân tháp, và cầu nguyện. Tôi không thể giải thích tại sao. Trong tâm linh của tôi, tháp không phải là biểu tượng của một sự thăng trầm. Trái lại, tháp là nơi thần linh ngự trị, có thể hiểu tôi, thương tôi và che chở cho tôi và các đứa con của tôi.

Rồi ông đại đội trưởng trở lại đồi. Lần này không cần bản đồ, không cần đặc lệnh hành quân, ông cho biết thêm Bắc quân đã tràn ngập Qui Nhơn mang quần áo QLVNCH. Nhiệm vụ mình là về giải tỏa.

Như vậy, sau gần bốn tháng ở đơn vị, lần đầu tiên tôi mới tham dự vào một trận đánh giải vây, nhưng là trận đánh giải vây thành phố.

Đánh trong thành phố. Chúng tôi chưa bao giờ được huấn luyện lối tác chiến lạ lùng này. Có lẽ những nhà lãnh đạo quân sự của ta không bao giờ nghĩ là Bắc quân một ngày sẽ có mặt trong thành thị như hôm nay. Dù vậy, khi cần, thì cấp trên cứ bốc. Bởi vì nhiệm vụ của chúng tôi là vậy. Trong đêm về sáng, đoàn xe chở một đại đội thiếu hụt quân số, thiếu hụt sĩ quan, xuống đồi. Qua trại gia binh, thấp thoáng những người vợ lính đứng ở bên đường đưa tiễn. Xe qua cầu Bà Di, qua Núi Đá, về hướng Qui Nhơn. Không có dấu hiệu gì của một cuộc tổng công kích. Vào lúc 7 giờ sáng, đoàn xe thả chúng tôi xuống một địa điểm cách Qui Nhơn khoảng hai cây số. Đây là Diêu Trì, với những vườn mía ở hai bên đường. Đơn vị bắt đầu di chuyển bộ. Trên đường, người dân chạy loạn đổ về phía chúng tôi càng lúc càng đông. Xe lam, xe nhà, và người chạy bộ. Có Uyên trong số người chạy loạn đấy không. Uyên ơi, anh đang về. Thành phố ơi, ta đang về. Phải chiếm lại. Phải lấy lại. Nơi có một đám bạn bè, nơi có ngôi nhà ở chợ Qui Nhơn có Châu, có Đồng, có Sáu, nơi có căn phòng thuê ở khu Sáu có Phạm văn Nhàn& và những quán cà phê, quán ăn khách sạn& Phải chiếm lại. Hăm hở như một tên lính tự nguyện lao vào cõi dữ.

Trời đã sáng rõ. Không một bóng xe quân sự, hay trực thăng, hay phản lực, chiến xa hộ tống. Trung đội tôi đi đầu. Khinh binh, tiền sát mang súng trường, binh nhất Võ hồng Nga mang trung liên Bar, tiểu đội trưởng mang M1, và trung đội trưởng mang M2. Chúng tôi hàng dọc tiến vào như tiến vào một mê đồ trận. Đánh giặc ở làng mạc thì quá dễ. Đồng trống, hay vườn tược, hay kênh rạch& Khi khám phá ra địch thì gọi máy bay hay trực thăng pháo binh yểm trợ làm dập mục tiêu. Nhưng ở đây, chỉ có lệnh giản dị. Giải tỏa địch. Nhưng đâu là nơi địch đóng chốt. Đâu là địch bám trụ. Trong những ngôi lầu hai bên đường dẫn vào thành phố, ngôi lầu nào có khẩu cộng đồng ? Không thể gọi máy bay thả bom xuống phố. Rõ ràng chúng tôi được đưa vào, để nhử địch, để khám phá địch. Nếu địch yếu thì tấn công. Nếu địch mạnh thì có đơn vị khác đến yểm trợ. Chúng tôi như những kẻ đi tìm ma quỉ. Đi là đi. Đến đó, súng nổ tức là có địch. Người bị trúng đạn tức là có địch.

Đại đội đã tiến vào cửa ngõ thành phố, bên cạnh núi Hỏa, gần khu Hỏa xa. Bên trái phía xa là Đầm Thị Nại. Bên kia đường là Cây Xăng Ông Tề. Lúc ấy vào khoảng 8 giờ sáng. Phố vắng ngắt. Địch bắt đầu nổ súng chào mừng. Địch đã ở lợi thế, khi họ ẩn núp trên lầu. Những tràng nổ cạch cạch giòn giã của đạn đại liên. May mắn không có ai trúng đạn. Rõ ràng vũ khí họ tối tân hơn chúng tôi. Mùi thuốc nổ còn như vướng theo mùi thuốc pháo. Đơn vị tìm chỗ trú ẩn trong những ngôi nhà dưới chân núi Hỏa. Súng vẫn nổ dữ dội.Tiếng rít cắt nghe rõ mồn một. Địch đã biết trước sau có một đơn vị từ ngoài về giải tỏa và địch đã dọn sẵn thế trận.

Qua máy truyền tin ông đại đội trưởng ra lệnh trung đội tôi bằng mọi giá phải chiếm ngôi lầu Ông Tề ở bên kia đường, sau trạm xăng. Tôi bò đến ông Tướng truyền lại lệnh. Tôi sẽ dẫn một tiểu đội chiếm cây xăng. Ông Tướng sẽ dẫn tiểu đội còn lại, sẵn sàng xung phong vào ngôi lầu sau khi tiểu đội tôi chiếm mục tiêu để làm bàn đạp yểm trợ. Tôi bảo trung sĩ Lợi chuẩn bị sẵn sàng. Hắn truyền lại lệnh xuống các đứa con. Rồi tôi hét: Chạy. Cả bọn cùng ào qua lộ. Đạn đuổi theo, sủi bọt trên đường nhựa. Vô sự. Chúng tôi đã băng qua đường vô sự. Tôi chạy đến phía dưới trụ xăng, ngồi núp đàng sau trụ. Người lính truyền tin chạy theo tôi ngồi bên cạnh. Những người lính của tôi cũng tìm chỗ núp chung quanh. Chỉ còn khoảng 15 thước là đến ngôi lầu. Địch lại bắn rát. Đạn địch sủi bọt trên đường, lỗ chỗ vào vỉa hè xi măng quanh mình. Đạn xuyên qua cây xăng, lửa tóe lên. Chưa kịp ra lệnh gì thêm cho những người lính xung quanh thì bỗng nhiên đầu óc tôi xây xẩm.

Một viên đạn nào đó dịu dàng quá đỗi, hôn lên da thịt tôi, như một cơn gió thoảng, như một nụ hôn của định mệnh, của tuổi trẻ, của chiến tranh, của ngăn chia, của con ngựa chứng& Nó hôn lên tim tôi, hay là móng vuốt của định mệnh đã bấu, cứa làm lồng ngực ôm lấy con tim tôi bị mất đi một mảnh thịt, để máu từ trong lồng ngực tuôn trào. Tôi vẫn chưa bắn được một viên đạn nào. Tôi chỉ nhìn lên thấy ngôi lầu vôi trắng, mái ngói đỏ, có giàn hoa giấy. Tôi chỉ nhìn thấy khung cửa sổ sơn màu đà. Tôi chỉ thấy màu xanh của mây trời vào ngày mồng Một Tết, rất xanh vì có lẽ là ngày đầu năm. Tôi chỉ thấy bên cạnh tôi, là Đông đang lom khom báo cáo. Sau đó tất cả đảo lộn, quay cuồng. Tôi cố gượng, nhưng rõ ràng, tự nhiên một cơn buốt nhức như xé cả da thịt. Tôi chỉ biết kêu Đông: Đông & Người lính truyền tin quay lại rồi la lên: Ông thầy bị thương rồi. Rồi nó hốt hoảng báo cáo về Ban Chỉ huy. Sau đó nó vừa mang máy, vừa dìu tôi trở lại bên kia đường. Đạn địch lại nhắm vào chúng tôi đuổi theo, tua tủa trên mặt lộ.

Chỉ khoảng chừng 15 phút sau là một chiếc trực thăng đã có mặt, phóng rocket xuống ngôi lầu. Chốt địch đầu tiên đã bị diệt. Nhưng để đổi lại, máu của một người lính thám kích đã thấm áo và chảy tuôn xuống đường. Và người lính ấy là tôi, một chuẩn úy mới ra trường mới 4 tháng. Một kẻ duy nhất của đơn vị bị thương trong trận đánh năm Mậu Thân.
Máu tôi đã thấm chiếc áo trận. Không ai ngờ một viên đạn đã xuyên từ ống tay áo bên phải, qua chiếc túi áo phải, qua túi áo trái, rồi cắt xẻo đầu vú ngay trên con tim một mảnh rồi lại xuyên qua ống tay áo bên trái. Chiếc áo mầu nhiệm, và bốn lỗ đạn mầu nhiệm. Chỉ nhích qua một ly mong manh, là đạn sẽ đâm vào tim và tôi không còn ngồi lại đây để mà viết những hàng chữ này. Càng hiểu rằng mình đã được những ân phước, những may mắn chở che. Ôi chiếc áo và 4 lỗ đạn. Chắc tại thân thể tôi gầy quá, hai cánh tay tôi cũng ốm quá, ngực tôi cũng lép quá, để viên đạn đồng không công phá thêm da thịt mình. Chiếc áo đã cũ vì những tháng đầu tiên trong đời lính trận, tôi vẫn hằng mang trong những cuộc làm ăn đêm. Bây giờ nó thêm một lần cũ hơn, rách hơn, tang thương hơn, nhưng nó là cả một chứng tích cho sự kỳ diệu. Bởi vì, nó đã thấy, đã chứng nhân cái quí giá nhất, mà Thượng Đế đã dành cho loài người. Đó là sự sống. Đó là hơi thở của tôi.

Tôi được dìu vào một ngôi nhà bên đường. Trong phòng khách, dưới gầm bàn, thấy một đám người đang trú ẩn. Người y tá đại đội đã băng vết thương tôi. Hắn thốt lên Ông thật may mắn lắm đó. Chỉ một ly là trúng tim. Tôi biết. Tôi đã nhìn vào lồng ngực. Núm vú tôi đâu rồi. Chỉ còn lại là một đường rãnh đỏ tươi in khắc. Nhưng tôi không cảm thấy đau. Có lẽ vì viên đạn xẹt quá nhanh, hay cũng vì quá bất ngờ nên tôi quên tất cả. Nhưng bây giờ, khi người y tá đã dùng bông gòn tẩm cồn chùi rửa vết thương thì tôi phải rên rỉ. Nhức buốt vô cùng tận.

Ngoài đường đã nghe tiếng trực thăng đang nã rocket. Tôi nói với y tá là tôi khát. Hắn hỏi những người trong nhà xin ly nước. Một người con gái đã bò ra khỏi gầm bàn. Nàng đã rót một ly và run rẩy mang đến. Đừng sợ em nhé. Thế nào chúng tôi cũng chiếm lại và trả lại thành phố này cho em.

Chợt ở ngoài cửa sau nhà, nhìn ra đường rầy xe lửa, thấy địch chạy như bầy vịt về hướng đầm Thị Nại. Như vậy là ta đã thắng rồi. Và ít ra vết thương này cũng không đến nỗi vô ích.

oOo

Uyên yêu dấu.

Hôm nay ngày đầu năm, anh nhận được quà mừng tuổi. Quà không phải từ một tấm lòng. Nhưng quà đến từ phía kẻ thù. Cái quà đến từ một viên đạn đồng, sau một lần nheo mắt, và hả hê khi bóp lảy cò. Quà tặng thật kỳ diệu. Bởi nó là kỷ vật, một vết sẹo mãi mãi in trên da thịt thân thể như vết chàm không thể tẩy xóa. Bởi nó là một dấu ấn của cuộc chơi buồn bã, mà anh là kẻ bị bỏ cuộc ngay giờ phút đầu tiên. Nó lại nằm sát con tim, mở ra lòng thịt đỏ, như một cửa ngõ từ con tim của một người lính, một người viết văn trẻ, một tên thanh niên sinh vào tuổi Ngựa, với lòng đất nước cưu mang.

Thế là, anh đã sống sót. Sống sót bằng một nỗi kỳ diệu. Anh vẫn còn thở. Tim vẫn còn đập. Vẫn còn nhìn bên kia khung cửa quân y viện những hàng dương liễu và xa hơn nữa la mặt biển xanh lơ. Anh vẫn còn nghe tiếng sóng dội về, có lúc ầm ầm có lúc thì xa vắng. Và nhất là vẫn còn được nghĩ đến Uyên.

Anh sẽ không hận thù kẻ đã bắn anh. Nó cũng như anh. Nó không còn lối thoát nào trừ tuân phục. Không ai có thể bứt ra khỏi guồng máy. Và dĩ nhiên nhiệm vụ nó và anh là thi hành lệnh. Chỉ oán hận là oán hận bọn đồ tể trói gà không chặt chỉ biết ngồi trong tháp ngà mà xúi bọn trẻ chết thay. Chỉ oán hận là oán hận một lũ không bao giờ muốn thấy đồng bào mình được hưởng, dù chỉ một giờ một phút thiêng liêng nhất như giờ phút giao thừa.

Bây giờ em làm gì bên ấy. Em có lo về Huế của chúng ta hay không. Không biết Huế thế nào. Nghe tin tức khắp nơi tràn ngập phe Bắc quân. Sao mà lại quá dễ dàng như vậy. Tình báo ở đâu. Gián điệp ở đâu. Phòng Nhì ở đâu. Chỉ biết ăn chơi và tham nhũng thôi sao. Chỉ biết tranh giành quyền lực thôi sao. Chỉ biết biểu tình tranh đấu thôi sao. Hay là không biết gì hết.

Bây giờ, là một giờ sáng. Tiếng súng nổ vẫn còn nghe. Người ta nói là ở ngay đài phát thanh và tiểu khu. Không biết đại đội đã giải tỏa xong cửa ngõ thành phố chưa. Có điều là đến lúc này, vẫn chưa thấy một người lính nào thuộc đại đội được tải về. Cũng mừng.

Bây giờ vết thương lại hành hạ. Trời ơi, anh cần một giấc ngủ. Có ai đó không. Em ở bên kia có nghe anh gọi không. Có thần giao cách cảm không. Chắc là không. Thượng Đế ơi, ngài đã cho con được sống sót bằng cả một sự mầu nhiệm, thì xin ngài hãy từ tâm cho con được thêm một giọt lệ. Chỉ một giọt lệ trào xuống, lăn trên má và hòa vào một giọt lệ khác. Hai hạt nước mắt của hai kẻ nam nữ trong một thời hỗn mang nhất của lịch sử.

oOo

Ngày mồng Năm Tết, lệnh từ Quân Y Viện bắt buộc các thương bệnh binh ai nấy phải có mặt tại giường. Có phái đoàn đền từng giường để ủy lạo. Lại có Sư đoàn đến tưởng thưởng huy chương.

Mười giờ sáng thì thấp thoáng bóng những chiếc áo dài ở phòng ngoại thương. Cám ơn họ. Cám ơn một hậu phương đã mang tấm lòng đến những kẻ đã bỏ cuộc sớm như ta. Rồi phái đoàn vào phòng, đông lắm. Rồi mắt ta như hoa, tim ta như òa vỡ, miệng ta muốn reo lên vui mừng quá độ. Uyên. Rõ ràng là Uyên. Uyên có mặt trong đám con gái. Nàng sững sờ. Nàng há hốc mồm, thốt nho nhỏ: Anh Thư. Tôi nhìn lên đôi mắt người mà tôi yêu, tôi giận tôi hờn. Chỉ nói một tiếng: Uyên.

Một người con gái lấy bọc cam, hộp sữa và cả một gói thuốc lá để trên bàn. Nàng nói chúng em đến đây để tỏ lòng biết ơn các anh. Một người con gái khác thì cắt những múi cam. Chỉ có Uyên thì đứng yên. Trời ơi, nói gì để cho em hiểu tấm lòng của anh. Em đã thấy con người thật của anh chưa. Em đã thấy vết thương sinh tử kỳ dị lạ lùng của anh chưa. Có phải cuộc đời là những tình cờ hay chỉ là định mệnh đã sắp sẵn an bài? Không phải tình cờ đâu. Mà là định mệnh. Rõ ràng là định mệnh. Nó cứ cợt đùa, trêu chọc. Nó bắt em cứ gặp một người mà em muốn tránh. Và anh thì cứ gặp một người mà anh muốn quên. Cám ơn, cám ơn những người con gái của trường Sư Phạm Qui Nhơn đã đến với tôi, nhưng lúc này, tôi chỉ muốn được nằm một mình, để mà khóc cho một khu vườn xưa nay trở thành mộ chí.


Trần Hoài Thư
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »


Image

ĐÀ NẴNG
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG


Lam Hà
LTS: Lam Hà là bút hiệu của cựu Đại Uý, cựu Học Sinh TH Phan Chu Trinh Đà Nẵng, Sĩ Quan Tuỳ Viên cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh QĐ1/QK 1 /VNCH. Bài dưới đây trích từ Nhật Ký của một Tuỳ Viên Tưởng Ngô Quang Truởng.

Hôm nay, ngày 23 tháng 10, năm 2010, tôi đi dự lễ tiễn đưa Đại Tá Đặng văn Phước về nơi an nghỉ cuối cùng. Ông là Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 51, và chính ông là người đã nhận tín hiệu cuả tôi qua cái đèn bấm và cái Samsonite, ông đã can đảm đáp xuống cột cờ BTL/HQVI Duyên Hải để cứu Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lịnh Quân Đoàn I và tôi, ra khỏi vùng nguy hiểm vào khoảng 2 giờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975.

Sau đó chúng tôi ghé núi Sơn Chà bốc Chuẩn Tướng Khánh, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Quân, rồi trực chỉ phi trường Non Nước để nhập cùng anh em Thủy Quân Lục chiến Việt Nam.

Tôi muốn giữ im lặng sau cuộc chiến, như bao nhiêu chiến binh chuyên nghiệp khác. Nhưng tôi không thể nào quên được bài báo của Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng đã đăng trong tuần báo Viet Tide cuả ông Vũ quang Ninh (chủ nhiệm) và cô Mai Khanh (chủ bút).

Là người học sử, hay viết sử, phải tôn trọng “sử xanh”, và là những người có phương tiện truyền thông để dẫn dắt dư luận quần chúng, xin diễn đạt vô tư, chính xác, và nhất là để cho các thế hệ con cháu biết sự thật là tại sao thế hệ cha ông phải chiến đấu và đã chiến đấu như thế nào.


Bài báo đã đăng ở trang 71 (Viet Tide số 421)

Lá thư tôi hỏi và trang báo xin đăng đã bị phớt lờ.

Chúng tôi, những người đã tận tình phục vụ quê hương xứ sở, quên cả thân mình, cha mẹ, vợ con cùng thân bằng quyến thuộc, đã làm hết khả năng và bổn phận của người quân nhân trong cuộc chiến, rất buồn lòng khi bị đánh giá sai sự thật.

Hôm nay, giờ này, khi tôi đang viết những dòng chữ nầy thì có nhiều người đã ra đi, có nhiều người ở lại quê nhà, và cũng có nhiều người đang chịu trăm cay nghìn đắng trong khắp bốn phương trời ở xứ người.

Trong lúc đó những ngưòi bạn cũ cũng như quân thù đã tìm cách bôi nhọ, hay đổ tội cho QLVNCH , để nhằm mục đích tự tôn vinh hay che dấu mặc cảm phản bội đồng minh.

Ba câu hỏi của tôi không được trả lời thì bây giờ tôi cũng xin được nói lên để mọi người cùng biết:

1. Khi Đà Nẵng đang cơn hấp hối, tôi đã theo sát Tư Lệnh Quân Đoàn I cho đến ngày ra khỏi nước.

2. Tương quan lực lượng đôi bên.

2a. Lực lượng quân đội Cộng Sản:

Những lực lượng Tiền Phương Cộng Sản đang bao vây Đà Nẵng gồm :

- Các Sư đoàn 324B, Sư Đoàn 325,

- Một Trung đoàn chiến xa,

- Hai Trung Đoàn Pháo làm nỗ lực chính.

Tất cả theo ElephantValley tấn công phía Bắc Đà Nẵng.

-Một nỗ lực thứ hai là Sư Đoàn 711 cùng Mặt trận 44 tiến chiếm khu Kỹ Nghệ An Hòa (quận Đức Dục) và quận Đại Lộc rồi tiến về phía Nam Đà Nẵng.

Thành phố coi như nằm giữa hai gọng kềm của địch.

Tôi nhớ một phái đoàn dân chính gồm có các đại diện dân cử, đảng phái và thân hào nhân sĩ khoảng 10 người, trong số nầy tôi biết dân biểu Phước (cựu HS Phan Chu Trinh và chúng tôi thường gọi là Phước Lít), Giáo sư Trần Ngọc Quế( giáo sư trường Phan chu Trinh và là một thành viên cuả một đoàn thể chính trị), họ đến để yêu cầu Tư Lệnh Quân Đoàn có biện pháp quân sự để Đà Nẵng không nằm chịu trận địa pháo như lòng chảo Điện Biên Phủ.

Những đơn vị địch ở phía bắc đèo Hải Vân như

- Các Sư Đoàn 304, SĐ 308, SĐ 320 B và SĐ 312 đang ở đâu? Có phải chúng đang ở sau lưng những nổ lưc chính không?

Đó là chưa kể những đơn vị địch ở Quân Khu II dồn lên vì QĐ II đã mất trước rồi.

2b. Lực lượng phía QĐVNCH gồm có:

- Sư Đoàn 3/BB, Sư Đoàn /TQLC trừ (vì Lữ Đoàn 147 xem như đã xoá sổ ở phía bắc đèo Hải Vân).

- Không Quân thì tất cả máy bay phải xuôi nam theo lệnh Bộ Tổng Tham Mưu.

- Pháo binh còn vài khẩu.

- Hải Quân chỉ có khả năng vận chuyển hạn chế.

- Sư Đoàn Dù thì đã hoàn toàn rút về Nam.

Quân thất trận đi tìm gia đình, dân lánh nạn từ phía Bắc và phiá Nam đổ về Đà Nẵng, khoảng 1.5 triệu người. Bình thường Đà Nẵng chỉ có khoảng 300,000 dân. Người đi đứng chật đường không thể chen chân được; dĩ nhiên trong số hổn loạn nầy có cả đặc công cùng tiền sát viên pháo binh Cộng Sản..

Đến đây thì Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng cùng quí độc giả đã thấy được quân số tham chiến đôi bên.

Sơ lược những biến cố cuối cùng tại Huế và Đà Nẵng:

- Đêm 25 tháng 3, 1975 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh các lực lượng ở Huế rút về ĐN.

- Ngày 26 tháng 3 Trung Tướng Trưởng và tôi bay trực thăng dọc theo bờ biển và tôi thấy tận mắt quân dân bồng bế, gánh gồng dẫn dắt nhau di chuyển về phía Nam. Đi đầu là ĐPQ/NQ tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Kế đến là SĐ 1 rồi đến TQLC. Dân chúng thì chạy lẫn lộn trong đoàn quân và phiá sau. Đa số trong số họ là gia đình quân nhân. Trông thảm thương như cảnh Lưu Bị dắt dân Tân Dã chạy về Diễn Châu trong chuyện Tam Quốc Chí.

Trung Tướng Trưởng muốn tôi lên tầng số để Trung Tướng nói chuyện với Đại Tá Lương, Lữ Đoàn Truởng LĐ 147. Về sau tôi được biết qua Trung Tâm hành Quân QĐI là đoàn người đến cửa Tư Hiền thì tan tác vì không qua được cửa Tư Hiền. Hải Quân và Công Binh nhận lãnh công tác đánh đắm một chiếc tàu Hải Quân làm cầu nổi như dự định trong buổi họp trước đó tại BTL/QĐI, nhưng họ đã không thực hiện được

Thêm nữa đoàn người bị VC tác xạ và mạnh ai nấy chạy. Bộ Binh và ĐPQ/NQ về đến Đà Nẵng được khoảng 1/3; Nhưng số nầy tan hàng trong hổn loạn để lo đi tìm gia đình nên không còn kiểm soát được.

Sư Đoàn 1 coi như bị xoá sổ cùng với ĐPQ/NQ ở phía Bắc đèo Hải Vân.

Trong ngày 26 tháng 3, 1975 Lữ Đoàn 147 TQLC không bốc được nên Lữ Đoàn đã chiến đấu đến khi hết đạn. Một số tự tử và một số bị địch bắt.

Ngày 26 tháng 3, 1975 Huế xem như đã mất.

Tình hình phía Nam đèo Hải Vân cũng bi đát chẳng kém gì Huế.

Ngày 10 tháng 3 thì hai quận Hậu Đức và Tiên Phước bị tràn ngập bởi Trung Đoàn 52 và Sư Đoàn 711 của VC.

Ngày 24 tháng 3 Tiểu Khu Quảng Tín rút chạy về Đà Nẵng, và cũng ngày nầy Tiểu khu Quảng Ngãi rút về Chu Lai.

Ngày 26 tháng 3 Sư Đoàn 2 rút ra Cú Lao Ré. Thành phố Đà Nẵng lên cơn sốt hổn loạn. Cướp bóc đã xảy ra tại kho gạo gần thương cảng.

Sáng ngày 28 tháng 3 Tư Lệnh Quân Đoàn cho triệu tập các cấp chỉ huy để tìm biện pháp vãn hồi trật tự và tái trang bị cho những đơn vị có mặt trong thành phố. Nhưng kế hoạch không thi hành được vì không đủ quân số tác chiến, và hầu như một số lớn sĩ quan đã bỏ phòng sở để đi lo chuyện gia đình. Tôi thấy chỉ có văn phòng Tư Lệnh còn làm việc còn tất cả phòng ban trong bộ tư lệnh hầu như ngừng lại hết.

Vào khoảng 2 chiều ngày ngày 28 tháng 3 Tiểu khu Quảng Nam xem như mất liên lạc. Trung Tướng Trưởng và Tôi chỉ bay đến chi khu Hoà Vang rồi phải trở lại BTL/QĐ. Chi Khu Hòa Vang ở sát phi trường Đà Nẵng. Như vậy QĐI chỉ còn lại Thành Phố Đà Nẵng và Phi Trường chưa bị VC chiếm mà thôi.

Lực lượng đáng kể để phòng thủ Đà Nẵng chỉ còn Sư Đoàn 3 và 3 Lữ Đoàn TQLC mà thôi

Trong suốt những tháng ngày ở Mỹ, Trung Tướng Trưởng vẫn thường gặp và đặt giả thuyết với các cấp chỉ huy thuộc quyền rằng nếu khi ấy chúng ta tử thủ Đà Nẵng thì chúng ta có giữ được không? Và việc gì sẽ xãy ra.?

Bây giờ tôi xin chuyển câu hỏi nầy lại cho quí độc giả.

Đến đây tôi cũng xin nhắc đến Sư Đoàn 3.

Sư Đoàn được thành lập với chủ lực là Trung Đoàn 2 cuả SĐ1 BB cùng với quân nhân đủ mọi thành phần: quân nhân văn phòng, quân phạm, hay bị trù dập và bị tống ra Sư Đoàn 3, và Sư Đoàn nầy ra trấn ải địa đầu giời tuyến. Sư Đoàn bị mang tiếng “chạy làng” khi VC ồ ạt tràn quavùng giới tuyến phi quân sự, để tấn công quân ta . Ai giỏi hơn ai để không “chạy làng”?

Khi lực lượng Đồng Minh chưa rút đi, thì lực lượng cuả họ gồm

- Sư Đoàn 3/ TQLC/ Hoa Kỳ

- Thêm Trung Đoàn 1/ TQLC/ Hoa Kỳ tăng phái.

- Sư Đoàn 101 Nhảy Dù/ HK,

- Lữ Đoàn 5 Cơ Giới.

Một tiểu đoàn cuả họ vừa tăng phái lẫn cơ hữu vào khoản 1,500 quân nhân – bằng quân số một trung đoàn chiến đấu của ta.


Hoả lực cuả một Sư Đoàn / Hoa Kỳ chấp cả Hoả lực cuả QĐVNCH không địch nổi. Họ có hỏa lực cuả Không, Hải, Lục yểm trợ tối đa. Mất một sư đoàn là rung chuyển cả nước Mỹ. Một sư đoàn chiến đấu nhưng cả 250 triệu người yểm trợ cả phương tiện lẫn tinh thần. Ngày tôi theo Tiểu Đoàn 3/1 TQLC /Hoa Kỳ hành quân ở vùng Quảng Nam thì một hồi chánh viên nói cho biết rằng các đơn vị VC rất sợ đụng trận với Mỹ. Tôi hỏi lại anh ta: vậy chúng tôi, QLVNCH, đánh giặc dở hơn Mỹ phải vậy không thì anh ta trả lời rằng không phải vậy - Chúng tôi ít sợ các anh vì các anh bắn ít hơn nhiều, còn Mỹ thì họ bắn như mưa. Anh xem các cây trong làng, có cây nào không đầy vết đạn chằng chịt. Thế nhưng ngày tôi theo Tiểu Đoàn 2/1 TQLC / Hoa Kỳ, tăng phái cho Sư Đoàn 3 / TQLC / Hoa Kỳ, tại phía nam Cồn Thiên vẫn phải chịu trận pháo kích 61 và 82 ly cuả quân chính qui cộng sản mấy tháng trời.

Đám quân sinh Bắc tử Nam còn dám tấn công các đơn vị Mỹ ở vùng phi quân sự như ở Cồn Thiên, Khe Sanh huống gì một Sư Đoàn tân lập như Sư Đoàn 3?

Những ngày cuối cùng cuả Đà Nẵng nếu không có Sư Đoàn 3, thì Sư Đòan / TQLC / VN không rút xuống tàu được. Sư Đoàn 3 đã bị hi sinh ngăn chận địch và không có kế hoạch bốc Sư Đoàn 3.

Tổng Thống Thiệu đã đặt câu hỏi cho Trung Tướng Trưởng là nếu rút, thì rút được bao nhiêu quân? . Ưu tiên vẫn là rút Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn /TQLC để có lực lượng làm hơi thở cuối cùng cuả VNCH.

Lữ Đoàn I Dù còn lại sau cùng chỉ được dùng để ứng chiến nhằm nâng cao tinh thần quân dân mà không được phép xử dụng tác chiến. Sư Đoàn / TQLC cũng vậy; phải làm sao rút được về Sài Gòn.

Khi Tư Lệnh Sư Đoàn 3 về họp lần cuối cùng đêm 28 tháng 3 tại BTL / Hải Quân/ VIDH thì chỉ được biết bất ngờ là phải rút về vùng Horse Shoe gần sông Thu Bồn mà không thấy nói di tản Sư Đoàn 3.

Phương tiện và tình thế chỉ có thể lo cho 2 Sư Đoàn tổng trừ bị mà thôi. Đến đây tôi xin trả lời nghi vấn cuả Đại Tá Phạm Bá Hoa trong “Đôi Dòng Ghi Nhớ” rằng không có quan Xịa nào khuyên đừng đánh cả. Phiá Việt cũng như Mỹ và kể cả Trung Tướng Trưởng chỉ muốn bảo toàn lực lượng để lo chuyện khác về sau, và khả năng chỉ có thể lo cho hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị mà thôi. Sư Đoàn 3 đã bị làm con chốt thí.

Trong quân sử chiến tranh Cao Ly: khi chí nguyện quân Cộng Sản Trung Hoa ồ ạt tấn công thì quân Mỹ và Nam Hàn phải rút về phiá Nam. Sư Đoàn 1/ TQLC/ Hoa Kỳ phải làm nút chận cho quân bạn rút lui . Sư Đoàn nầy đã chiến đấu oanh liệt; nhưng họ phải trả một giá quá đắt: hơn 800 Sĩ Quan và nhiều ngàn binh sĩ hi sinh sau khi họ tự giải cứu và rút sau cùng.

Sư Đoàn 3 cuả chúng ta không làm được như vậy, không có quân bạn gíúp đở, để dựa lưng, trưóc mặt là địch, sau lưng là bạn. Sư Đoàn đã phải tứ bề thọ địch.

Hơn nữa chính phủ và nhân dân cuả Sư Đoàn 1 / TQLC / Hoa Kỳ không bỏ rơi họ, trong khi các bạn (Sư Đoàn 3) hoàn toàn bị bỏ rơi. Các bạn ( Sư Đoàn 3) đã chiến đấu oanh liệt trong một hoàn cảnh nghiệt ngã. Xin đứng nghiêm kính chào các chiến hữu Sư Đoàn 3 đã nằm xuồng, hoặc đang quằn quoại đau thương tại quê hương Quảng Đà.


Giờ phút cuối cùng tại Đà Nẵng:

Sáng sớm ngày 29 tháng 3, năm 1975 chúng tôi tiến ra bờ biển để lội lên tàu. Ngoài TQLC ra , tôi đếm BB có khoảng 13 người: Tr/T Trưởng, Tôi , Đại Tá Duệ (Tỉnh trưởng Thưà Thiên), Đại Tá Kỳ (Tỉnh Trưởng Quảng Trị), Trung Tá Tuân (Phòng 3 QĐI) và mấy người nữa tôi không nhớ tên.

Tôi đi lòng vòng để tìm một cái phao cho TR/T Trưởng nhưng không tìm được. Các phi cơ trực thăng và Chinooks đang tiếp nhiên liệu bằng cái mũ sắt. Họ phá hai chiềc để lấy nhiên liệu đổ vào một chiếc. Đi đến đâu thì những người trên phi cơ cũng đều chĩa súng vào tôi.

Tôi gặp thiếu tá Hiếu, người trước đây từng lái trực thăng cho Tr/T Trưởng, và ông la to,

” Đừng bắn nó, nó là bạn tao,”

Ông hỏi: “ Mầy có đi thì lên đi với tao.”

“Không,” tôi trả lời”

Thiếu tá có cái phao nào cho tôi một cái cho Tr/T Trưởng.”

“ không, tao không có.

Mầy có đi không?” Ông lại hỏi

” Không, tôi còn phải lo cho Tr/T Trưởng ” tôi trả lời.

Ông chúc tôi may măn và tôi cũng chúc lại ông may mắn.

Tôi trở lại tìm TR/T Trưởng thì thấy Thiếu Tá Phương (TQLC) đã nhường cái phao mang cho Tr/T Trưởng mặc dù Th/T Phương không biết lội. Đại Tá Trí kẹp Tr/T trưởng một bên, một bên thì Th/T Phương kẹp. Tôi vớ một khúc gỗ cuả một cái bunker cũ để làm cái phao. Một tay tôi nắm thắt lưng TR/T Trưởng để đẩy ông, một tay ôm khúc gỗ và cả ba chúng tôi dìu ông lội ra tàu.

Biển động, sóng lớn, không có cầu tàu. Nhiều lúc sóng phủ tôi bị chìm lĩm. Chúng tôi lội đến vừa lút đầu thì lên được tàu.

Sau khi lên đến nơi thì TR/T Truởng mê sảng và tôi cũng ngất đi một khoảng thời gian dài vì một phần đói, một phần uống nhiều nước mặn khi sóng phủ, một phần vì quá mệt.

Theo Trung Uý Bình, Hạm Phó LST 404, thì Tr/T Trưởng đã nói trong lúc mê sảng:

”Bây giờ Tổng Thống biểu tôi phải làm gì?”

“Làm như vậy thì làm sao tôi nói với các Tướng dưới quyền tôi được.”

Khi tàu đang lênh đênh ngoài khơi Đà Nẵng thì chúng tôi nhận được lệnh Tổng Thống Thiệu phải tái chiếm ĐN.

“Bây giờ tôi đi với ai và lấy gì để tái chiếm.”

Tr/T Trưởng nói một mình và ông ra lịnh cho HạmTrưởng đưa ông và TQLC xuôi Nam.

Trên đường xuôi Nam, tôi và Chuẩn Tướng Khánh , mỗi bữa hai người chia nhau nửa muỗng cơm và nữa muỗng nước của anh em hải quân nhịn miệng để dành cho. Chúng tôi không có thực phẩm và nước uống. Theo anh em HQ cho biết tàu vừa xong công tác và trên đường về bến thì nhận được lệnh quay trở ra Đà Nẵng vận chuyển QĐ I nên không có tái tiếp tế

Về đến Saì Gòn thì Tr/T Trưởng đã kiệt lực nên được đưa vào Tổng Y Viện Cộng Hoà. Vài ngày sau ông tỉnh táo lại và đã khóc khi tôi đứng bên giường bệnh cuả ông, và ông đã than thở rằng: “Nhờ trời giúp tôi với Hòa mới vào được tới đây.”

Còn nhiều chi tiết nhưng bài báo giới hạn. Một ngày nào thuân tiện tôi sẽ viết nhiều hơn. Trước khi tạm chấm dứt bài nầy tôi xin thưa rằng trong sách “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” cuả Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng vừa mới phát hành có đề cập đến Sư Đoàn 1 tự động tan hàng ở Huế là không đúng. Đối với Tr/T Trưởng một đôi khi một đaị đội BB do một Thiếu Úy chỉ huy đang chạm địch ông cũng đáp xuống xem xét và tôi đã toát mồ hôi hột vì sợ không bảo vệ được ông. Chuyện một đại đơn vị cấp Sư Đoàn tự động giải tán mà Tr/Tướng Trưởng không biết, thì không thể nào có thể xảy ra được. Chuyện lệnh lạc tiền hậu bất nhất cuả Tổng Thống Thiệu thì có và đúng “solid 100%”. Tôi còn vài tài liệu để chứng minh điều này.

Ngày tháng qua đi, qua đi…Mọi sự rồi cũng chẳng còn gì cả. Tổng Thống Thiệu đã ra đi, Đại Tướng Viên đã ra đi, vị tướng tài ba và đức độ Tr/T Ngô Quang Trưởng ngày nào của lòng tôi kính mến cũng đã ra người thiên cổ. Các niên trưởng cuả tôi như Chuẩn Tướng Khánh, Đ/T Duệ, Đ/T Phước cũng đã ra đi, và rồi chúng tôi cũng sẽ mờ dần theo năm tháng…Nếu có còn chăng là đôi dòng lịch sử vây xin tôn trọng “sử xanh” và đừng bẻ cong ngòi bút vì bất cứ lý do nào.

“Biết thì nói rằng biết, không biết thì nói rằng không biết.” Nếu dẫn chứng cho lập luận cuả mình thì xin nêu rõ xuất xứ (foot notes). Xin đừng nói rằng nghe người nầy, người kia nói, là vô căn cớ.

Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng và Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã làm buồn lòng những người đã ra đi và những kẻ còn ở lại. Chúng tôi đã từ bỏ tất cả kể cảgia đình thân yêu để làm hết sức mình cho tổ quốc, cho quân đội và cho lý tưởng.

Quân đội nào cũng có một vài cấp chỉ huy hèn mọn, khi địch chưa đến đã bỏ chạy. Quân Đoàn I cũng không ra ngoài cái thông lệ tầm thường đó; nhưng không phải tất cả cấp chỉ huy đều hèn nhát bỏ chạy về đến Sài Gòn trong lúc còn 100,000 quân còn ở lại chiến đấu tại Đà Nẵng.

Tôi là một cá nhân nhỏ bé tầm thường nhưng may mắn còn sống sót sau biến cố 1975. Ở một góc độ nhỏ bé nào đó tôi đã thấy, đã nghe và đã chịu đựng những điều đã xảy ra vì vậy tôi phải nói cho những người không còn nói được nữa, hay họ không bao giờ muốn nói.

Hà Lam
California, đầu thu 2010
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Image

Trận Tử Chiến của Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù tại căn cứ Charlie tháng 4/1972

* Tổng lược về trận chiến tại Charlie

Như đã trình bày, trong số trước, vào thượng tuần tháng 4/1972, tại Cao Nguyên đã xảy ra trận đánh giữa Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù và các binh đoàn CQ thuộc sư đoàn 320 Cộng quân (CQ) tại các cụm đồi thuộc hệ thống phòng ngự của căn cứ hỏa lực Charlie, ở phía Tây Bắc Kontum.. Phần tổng hợp kỳ này được biên soạn dựa theo tài liệu của cựu Trung tá Bùi Đức Lạc, cựu Thiếu tá Trương Dưỡng (Biệt đội trưởng Tác chiến Điện tử Sư đoàn Nhảy Dù).

Trở lại với cuộc diện trận chiến, như đã trình bày, căn cứ Charlie là một cụm tuyến gồm 3 đỉnh đồi: 960, 1020, 1050 nối liền nhau bằng sườn dốc thoai thoải như yên ngựa. Hướng Tây Bắc của Charlie là ngã ba biên giới 3 nước Đông Dương, phía đông là sông Pôkô và Quốc lộ 14. Ngày 11 và 12 tháng 4/1972, Cộng quân đã liên tục pháo hàng ngàn quả đạn: 130 ly, 122 ly và hỏa tiễn đủ loại vào các cứ điểm thuộc hệ thống phòng ngự của căn cứ này. Gần 9 giờ sáng ngày 12/4/1972, Cộng quân tiếp tục pháo loại đạn nổ chậm. Hầm chỉ huy của Trung tá Nguyễn Đình Bảo-Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù bị trúng nguyên một trái đạn, hầm bị sập toàn bộ, và xác vị tiểu tiểu đoàn trưởng anh hùng này bị mảnh đạn cắt đứt nhiều chỗ. Khoảng 10 giờ sáng, Cộng quân từ chân đồi tràn lên đỉnh 960 của căn cứ Charlie. Đại đội 111 do Trung úy Thinh chỉ huy đã bắn hạ hàng trăm địch quân. Khi chuẩn bị đánh cận chiến bằng lưỡi lê đánh cận chiến thì đại đội 111 được lệnh của Thiếu tá Mễ-tiểu đoàn phó, xử lý thường vụ tiểu đoàn trưởng, rút về đỉnh 1020 của bộ chỉ huy tiểu đoàn.

Để tiếp ứng cho đại đội 111, Thiếu tá Mễ đã điều động đại đội 112 của đại úy Hùng "Móm" xuống đón đại đội này, đồng thời tổ chức phòng ngự từ xa để chận địch tràn lên tấn công vào khu vực trung tâm căn cứ. (Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù có hai đại đội trưởng cùng tên Hùng, cùng khóa 22 Võ Bị Đà Lạt. Để phân biệt, anh em trong tiểu đoàn đã đặt thêm tên cho 2 sĩ quan này: Hùng móm và Hùng mập.) Sau khi đại đội 111 rút khỏi, Pháo binh Nhảy Dù và Không quân đã hỏa tập vào đỉnh đồi 960. Bị thiệt hại nặng, Cộng quân buộc phải rút lui.

* Đại đội 111 mở đường máu: đại đội trưởng, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng tử trận...

Ngày 13 tháng 4/1972, Đại úy Hùng "móm" dẫn đại đội 112 tổ chức phản công chiếm lại đồi 960 để bảo vệ nguồn nước và bãi đáp dành cho trực thăng ở khu yên ngựa của cụm đồi. Binh sĩ đại đội này từ trên đỉnh cao của căn cứ tuột xuống thì bị Cộng quân sử dụng sơn pháo trực xạ vào đội hình của các trung đội. Để tránh tổn thất, bộ chỉ huy tiểu đoàn cho lệnh đại đội rút trở lại đỉnh đồi 1020. Lúc bấy giờ, đại đội 111 của Trung úy Thinh ở gần đó được lệnh tung quân đi tìm nguồn nước và làm bãi đáp trực thăng để di tản thương binh và quân nhân tử trận. Trung úy Thinh cho tiến quân về hướng Tây Bắc nhưng gặp sự kháng cự mạnh của địch, vị đại đội trưởng rất trẻ này đã cho chuyển quân qua hướng Đông Nam. Lúc bấy giờ cả đại đội 111 chỉ còn hơn 50 chiến binh. Tất cả tuột đồi 1020 để xuống hướng Đông Nam. Di chuyển được 200 thước thì đại đội bị Cộng quân bố trí sẵn để phục kích. Địch quân khai hỏa từ bốn phía để cố triệt hạ đại đội Nhảy Dù.

Dù bị phục kích bất ngờ nhưng Trung úy Thinh đã nhanh nhẹn điều động quân sĩ xung phong để phá vòng vây. Cộng quân đã dàn sẵn đội hình để phục kích đại đội 111. Trong lúc đang điều động quân sĩ, Trung úy Thinh đã bị một tràng đạn AK bắn vào người. Anh ngã xuống cạnh người hiệu thính viên truyền tin. Xuất thân khóa 25 trường Bộ binh Thủ Đức vào đầu năm 1968, Trung úy Thinh được đồng đội mô tả là một sĩ quan rất đẹp trai và đánh giặc rất gan lì. Anh đã lập nhiều chiến tích từ trận Damber ở Căm Bốt cho đến trận Hạ Lào (Lam Sơn 719). Trong những ngày bị Cộng quân bao vây quanh căn cứ Charlie, trung úy Thinh đã "tả xung hữu đột" để bảo vệ điểm tiếp tế và bãi đáp trực thăng. Cuối cùng anh đã vĩnh viễn ở lại Charlie với Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Bảo (khóa 14 Đà Lạt) và nhiều đồng đội khác.

Đại đội trưởng tử trận, cấp sĩ quan chỉ huy trong đại đội chỉ còn lại Chuẩn úy Ba, một trung đội trưởng. Anh đã nhào lên điều động quân sĩ bắn trả để vượt thoát vùng tử địa, nhưng chỉ một lát sau, người trung đội trưởng anh hùng này cũng bị trúng đạn tử trận như trung úy Thinh. Cả toán quân bây giờ chỉ còn 1 sĩ quan tăng phái: đó là thiếu úy Khánh, sĩ quan tiền sát viên tiểu đoàn 1 Pháo binh Nhảy Dù. Vị sĩ quan này ủy nhiệm Trung sĩ Lung dẫn tổ khinh binh xung phong mở đường máu để có thể đưa anh em còn lại vượt thoát về bộ chỉ huy tiểu đoàn.

* Triệu Tử Long của tiểu đoàn 11 Nhảy Dù:

Trung sĩ Lung là một hạ sĩ quan giàu kinh nghiệm trận mạc, bị thương nhiều lần. Từ một binh nhì khinh binh, anh đã bốn lần được đặc cách thăng cấp tại mặt trận lên đến trung sĩ nhờ chiến công. Trong trận đánh ngày 13 tháng 4/1972, khi chứng kiến cấp chỉ huy lần lượt ngã xuống trong tức tưởi, như một Triệu Tử Long trong truyện Tam Quốc, anh cầm đại liên xung trận như tên lửa. Anh bóp cò, quay đại liên theo hình cánh quạt, tác xạ liên tục về các ổ súng của đối phương để mở đường cho đồng đội rút đi. Anh ở lại cuối cùng để cản địch tràn ra. Đối phương nhiều lần cố xông lên để hạ hoặc bắt sống anh nhưng đã bị anh quạt ngã. Khi cả đại đội đã phá được vòng vây, trung sĩ Lung đã bị 1 quả B 40 bắn vào người. Cả người anh tung lên như một quả bóng rồi ngã xuống như một hiệp sĩ, một thiên thần gãy cánh...

Trung úy Thinh, Chuẩn úy Ba, trung sĩ Thinh và nhiều chiến binh khác đã "ở lại" với núi rừng Tây Nguyên để cho anh em còn lại thoát hiểm. Vừa ra khỏi vòng vây địch, số còn lại gần phân nửa đã được đại đội trên núi xuống tiếp ứng. Cùng lúc đó, một số khu trục cơ của Không quân xuất trận oanh kích địch, nên các "đứa con" của đại đội 111 đã về được đỉnh 1020 (bộ chỉ huy tiểu đoàn).

* Trận đánh cuối cùng ở phòng tuyến Charlie:

Ngày 14 tháng 4/1972, Cộng quân tiếp tục trận mưa pháo ghê hồn. Vừa dứt pháo, Cộng quân tràn lên tấn công vào Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù. Cộng quân liên tục gọi tên thiếu tá Mễ-xử lý thường vụ tiểu đoàn trưởng, và Thiếu tá Hải-trưởng ban 3 tạm quyền tiểu đoàn phó, ra đầu hàng. (CQ biết tên các sĩ quan này có lẽ do khai thác tù binh). Thiếu tá Lê Văn Mễ tức giận ôm khẩu M16 ra giao thông hào quạt tới tấp, một quả lựu đạn loại bộc phá của Cộng quân ném vào, anh bị sức ép của hơi làm ngã người ra. Thiếu tá Mễ tưởng mình bị thương nặng nhưng sau đó y sĩ trưởng tiểu đoàn là bác sĩ Tô Phạm Liệu khám người anh, cho biết do tinh thần bị căng thẳng mấy ngày nay nên yếu sức ngây ngất mà thôi.

Đang nằm để bác sĩ khám, Thiếu tá Mễ được đại đội trưởng 114 Nguyễn Cảnh Cho báo là Cộng quân đã phá được một phần tuyến phòng thủ của đại đội này.

Đại đội trưởng Cho nói trong máy:

- Trình Mê Linh, tụi nó lấy của tôi một khúc ruột (Mê Linh: danh hiệu truyền tin của thiếu tá Mễ).

- Cố gắng lấy lại tôi sẽ cho C.V.T phủ đầu nó.

* Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù vĩnh biệt Charlie:

Vào lúc này Thiếu tá Mễ biết rõ là đơn vị đã hết đạn và cạn lương thực, từ ngày 7/4/1972 đến nay, tiểu đoàn không nhận được tiếp tế đạn dược, lương thực. Trong 7 ngày qua, tất cả tiểu đoàn đã tiếp tục cầm cự với tất cả dũng khí trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã. Lúc bấy giờ, xác địch ngổn ngang khắp căn cứ, thi thể nhiều người lính Nhảy Dù vẫn còn trên chiến địa chưa kịp tải thương. Trước hoàn cảnh bi tráng đó, cuối cùng thiếu tá Mễ bàn với thiếu tá Hải là cần phải rút quân để cứu lấy những người còn sống. Để thực hiện kế hoạch này, thiếu tá Mễ đã xin bộ chỉ huy lữ đoàn 2 Nhảy Dù nửa giờ sau cho bắn đạn nổ chụp ngay trên đồi 1020, rồi sau đó, anh ra lệnh cho các đại đội "nhổ trại" theo hướng Đông Bắc, phương giác 800 để tìm đường rút về Tân Cảnh (bộ chỉ huy hành quân Sư đoàn 22 Bộ binh) thay vì về Võ Định (căn cứ của bộ chỉ huy lữ đoàn 2 Nhảy Dù) vì vị trí này quá xa căn cứ Charlie.

5 giờ chiều ngày 14 tháng 5/1972, cả 5 đại đội và bộ chỉ huy tiểu đoàn đồng loạt rời cao điểm 1020. Cộng quân tràn lên chiếm Charlie thì bị hỏa pháo Nhảy Dù đồng loạt dội vào căn cứ này. Cùng lúc đó, 6 chiếc B 52 xuất hiện dội hàng ngàn tấn bom. Ba tiểu đoàn CSBV vừa tiến lên căn cứ chưa kịp báo cáo về bộ chỉ huy thì đã bị tan nát dưới trận mưa bom B-52.

Tác giả bài viết: VƯƠNG HỒNG ANH
( Tân Sơn Hòa chuyển )
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Ngày tháng sau cùng . . . Anh ở đâu ?

Phila Tô

Những ngày tháng sau cùng của tháng 3, tháng 4 năm 1975 bạn ở đâu, làm gì, thế nào, tại sao, là đề tài ai cũng thích kể cho người khác nghe và ai cũng thích không nghe người khác kể. Biết vậy nhưng tôi vẫn cứ kể, viết lung tung khắp nơi. Nay nhân dịp kỷ niệm 37 năm mất nước tôi xin trích một vài đoạn gọi là để nhắc cho cái đầu ở tuổi cổ lai hy đừng quên những gì mình đã khóc ở tuổi 33

Quận Thuần Mẫn mất ngày 7/3, gia đình cháu Tô Thị Liên, con anh ruột tôi, với 4 nhân khẩu ở đó, chưa biết sống chết ra sao phiêu bạt nơi nào. Ban Mê Thuột mất ngày 11/3, dòng dân quân, xe cộ súng đạn chen chân trên Tỉnh Lộ 7B, xác người đứng, ngồi, nằm lại đây.

Chiến sự lan nhanh sang Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng khiến mẹ tôi cứ rối lên, bắt tôi đi hỏi tin tức về gia đình cháu Liên ở Thuần Mẫn, thằng con út của cụ là Tô Văn Cáp và thằng cháu đích tôn Tô Văn Minh, cả 2 đang ở Đà Nẵng. Tôi biết hỏi ai bây giờ? Thấy bà mẹ quê khóc đứng khóc ngồi, vừa khóc vừa đọc kinh, rồi lại bắt tôi đi hỏi, tôi phải nghĩ cách nói dối:

_ Mẹ cứ yên tâm, con đã nhờ mấy người bạn cùng khóa làm lớn lắm ở TTM rồi.

_ Ừ cứ đi hỏi đi con, tốn bao nhiêu mẹ lo cho, cố mà năn nỉ người ta.

Bạn cùng khóa tôi làm lớn ở TTM thì nhiều nhưng mẹ tôi thì chỉ có cỗ tràng hạt, một cơi trầu, chứ giầu có ba mươi chín nghìn gì đâu mà đòi “lo cho” con, cho cháu. Tội nghiệp các bà mẹ thật thà cứ bị những thằng con quỷ quái nói dối, nói dối từ lúc còn là quỷ ma trốn học.

Sáng 19/3/75, tôi vừa đi xin được thùng mìn chống CX từ một người bạn thủ kho đạn ở Long Bình về để tăng cường phòng thủ cho căn cứ Sóng Thần thì nhận được lệnh của ông đại tá TMT gọi ra trình diện hành quân ở Quảng Trị gấp. Tôi sang gặp Tr/Tá Nguyễn Đức Ân, CHT/TTHL kiêm CHT/CCST, ông cùng các sĩ quan đang ăn cơm trưa, trong đó có CHP là Trần Xuân Bàng K19, Vũ Thế Khanh K20, Nguyễn Kim Thân K21 v.v.. Tôi nói:

_ “Tr/ Tá cho người sang Sóng Thần để tôi bàn giao kế hoạch phòng thủ, tôi cần một ngày và sẽ chỉ ra trình diện hành quân vào ngày 21/3 mà thôi”.

Tuy là kiêm CHT/ST nhưng Tr/Tá Ân bận lo chuyện bên TTHL nên giao toàn quyền cho CHP. Qua 4 đời CHT từ Th/tá Trần Ngọc Toàn, Tr/tá Lê Bá Bình, Đ/Tá Nguyễn Năng Bảo, rồi Tr/Tá Ân, tôi vẫn chỉ là người cầm can cho các ông đ.., nên ông nói: “tùy cậu”.

Cùng nhận lệnh với tôi có Th/Tá Doãn Thiện Niệm K21, anh đã đi ngay ngày 19/3. Chuyện gia đình đang rối như canh hẹ, tôi mà báo cho mẹ tôi biết phải ra Quảng Trị, nơi thằng con út và cháu cụ đang chiến đấu ở đó thì chắc cụ thăng thiên sớm, nên tôi lại nói dối mẹ là đi nghỉ phép ở Vũng Tàu.

Đúng lời hứa, tôi đến BTL/HQ tại căn cứ Non Nước ĐN chiều ngày 21 tháng 3/7. Vừa, gặp tôi, Đ/Tá TMT Lê Đình Quế đã chỉ mặt:

_ “Lệnh gọi từ ngày 19, sao bây giờ ông mới đến? Sau chuyến hành quân này, tôi sẽ đưa ông ra tòa án quân sự. Bây giờ đi liên lạc với TĐT/THD để phòng thủ căn cứ Non Nước”!

À ra thế, tôi đâu có ngờ gặp ông ở đây, ông là TMT thường trấn thủ Thủ Đô Sài Gòn, chắc ông bị tư lệnh gọi ra hành quân nên ông hành ..quân cấp dưới: “tao ra mày cũng ra”.

Ruột đang nẫu như dưa hấu phơi nắng, nghe ông mắng và dọa sẽ đưa ta tòa án quân sự tôi cũng phải bật cười, nhưng không nói gì mà vạch… ra coi, đồng hồ chỉ 3 giờ chiều ngày 21/3/75. Cũng may, nếu trễ thêm 3 tiếng, tôi mà gặp ông lúc 6 giờ thì hỏng to. Thấy tôi mỉm cười, ông không nói thêm mà bỏ đi.

Phòng thủ cái khỉ gì khi tôi không có quân trong tay mà chi có cây colt? Buồn tình tôi đi tìm hai tên K19 đang làm việc ở đây là Huỳnh Văn Phú và Trần Vệ. Giữa tiếng bom đạn và đầy âu lo mà nghe Trưởng Phòng TLC Sư Đoàn “nổ” và nói phét thì vui như tết, anh em lên hay xuống ..tinh thần là do Phú-Phét, còn Trung Tâm Trưởng TTHQ Trần Vệ thì đang hò hét với dàn máy. Hai chàng cắm cúi làm việc, tôi đi lang thang, bất ngờ gặp Lê Quý Bình, chàng hỏi thăm:

_ “Mày đang ở Sóng Thần mà ra đây làm cái giống gì?”

_ “Ông Le-Qu gọi tao ra để hành (quân), thế mày trồng củ cải gì ở đây?”

_ “Tao làm phó cho ông Trần Ngọc Toàn K16”.

_ “Ông Toàn đang coi Tiểu Đoàn 4 mà”

_ “Vừa bàn giao cho Đinh Long Thành để về đây thành lập Tiểu Đoàn 18”.

Đinh Long Thành là người thứ hai của K19/TQLC được làm tiểu đoàn trưởng sau Trần Văn Hợp trong số hơn 30 tên. Thành “được” bàn giao giữa tiếng súng nổ đạn bay, tiểu đoàn trưởng chưa kịp biết mặt biết tên các trung đội trưởng thì cái “đinh bị long”, TĐP Th/Tá Nguyễn Trí Nam K22 và ĐĐT Đ/Úy Tô Thanh Chiêu tử trận, và rồi tiểu đoàn bị xóa sổ vào ngày 27/3 trên pháp trường cát Thuận An!.

Tình hình chiến sự biến chuyển từng giờ, ai cũng tối tăm mặt mũi, chúi đầu vào làm việc mà tôi lại lang thang như chó d.. chỉ vỉ cái lệnh quái đản thì yếu quá. Là lính, vứt chuyện cá nhân, chuyện gia đình qua một bên, tôi vào TTHQ xin việc, để theo dõi và biết được tin tức LĐ.147/TQLC đang kẹt tại bãi biển Thuận An.

Trước khi mất BMT, ba Lữ Đoàn Dù 1, 2, 3 trấn thủ Đà Nẵng, 4 LĐ/TQLC ở Huế, QT, như vậy là 2 Lực Lượng Tổng Trừ Bị bị biến thành ĐPQ&NQ để giữ đất đóng đồn!. Ngày 11/3 Ban Mê Thuột thất thủ, ngày 13/3 Tonton ra lệnh rút Dù về SG làm tổng trừ bị, trong số những Mũ Đỏ này hằn là có nhiều K19 như Hải Khều Đoàn Phương Hải chẳng hạn. TQLC kéo 3 lữ đoàn từ Huế vào Đà Nẵng trám chỗ Dù, chì còn để lại Huế LĐ.147/TQLC mà thôi.

Lữ Đoàn Trưởng LĐ147 là Đ/Tá Nguyễn Thế Lương, LĐP là Tr/Tá Nguyễn Đằng Tống K16, gồm có các Tiểu Đoàn 3, 5, 7 của các TĐT K20 là Nguyễn Văn Sử, Phạm Văn Tiền, Phạm Cang và TĐ.4 của K19 Đinh Long Thành. LĐ.147/TQLC và SĐ.1/BB là lực lượng của QĐI Tiền Phương đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tr/Tướng Lâm Quang Thi.

Khi bỏ Huế, Tướng Thi cho lệnh rút quân ra bãi biển Thuận An, xuôi Nam vào Đà Nẵng bằng cách dùng tàu thuyền vượt qua cửa biển Tư Hiền, nhưng đi nửa đừơng thì ông tướng cho lệnh dừng lại để chờ tàu Hải Quân vào đón, vì cầu qua cửa Tư Hiền không làm được. (?). Nhưng than ôi! Không có tầu nào vào đón trừ con tầu ma*, thế mới kỳ! Kỳ ơi là Kỳ! Do kỳ đà nào cản mũi tàu không vào bốc quân, không tiếp tế, quân trên bờ hết đạn, hết lương thực, hết nước uống, địch bao vây tấn công, Cọp Biển đành bị hy sinh “oan uổng”, chết đủ kiểu, chết trên bờ, chết dưới nước, chết trong lòng con tầu ma*, chết tức tưởi, chết vì hỏa lực từ trên các đồi cát xả xuống, chết vì chửi thề rồi ôm nhau rút chốt lựu đạn mini! Trong số này có Th/Tá Nguyễn Trí Nam và Đ/Úy Tô Thanh Chiêu, em tôi! (* một chiếc tàu bốc quân, nhưng vì số lượng đông quá sức chứa, tàu mắc cạn đang loay hoay tìm cách lui ra biển thì bị B40 bắn, người chết trong tầu, người chết trên boong, người rơi xuống biển “chết vì nước” nên tôi gọi đó là con tàu ma)

Hiện nay, năm 2011, đồng bào thôn An Dương và các thôn dọc theo bờ biển Thuận An đã và đang mới chỉ thu gom được 132 bộ xương trôi dạt vào bờ, trồi lên mặt cát rồi các ân nhân này đem tập trung vào một khu gọi là nghĩa trang với bia đá: “Thập Loại Cô Hồn Hiển Hách Chi Mộ”.



Cám ơn đồng bào thôn An Dương tuy đang sống dưới chế độ XHCN, nhưng vẫn nhớ thương đến người lính VNCH đã thu gom hài cốt để lập mộ, dù biết những hài cốt này là ai, nhưng bị nhà cầm quyền làm khó nên đành ghi bia đá “Thập Loại Cô Hồn”! Tổng hội TQLC đã gửi $về để nhờ đồng bào lập trai đàn cầu siêu nhưng “9-quyền” địa phương không cho phép! Thế đấy, tụi ác quỷ nhớ dai nhưng người Việt tỵ nạn CS thì mau quên!

Chi tiết về thảm họa trên đây đã có trong các bài viết “Ngày Tháng Không Quên” của Đ/Tá Nguyễn Thành Trí, TLP/TQLC, “Tháng Ba Gẫy Súng” của MX Cao Xuân Huy, đã có Phạm Cang viết về TĐ.7 Di Tản, đã có “Người Lính Bị Bỏ Rơi” của Phạm Vũ Bằng và “Hồn Hoang Trên Pháp Trường Cát Thuận An” của Philato. Trong câu chuyện kể nghe cho “tức chơi” này tôi xin được không nhắc lại nữa.

Lính cầm súng chiến đấu thì cầm chắc cửa tử trong tay, không chết nay thì mai, đang nhai miếng cơm xấy thì đạn bắn toét miệng, cơm, máu và óc văng vào mặt thằng bên cạnh! Họ không kêu không than không trách vì đó là bổn phận, nhưng nếu chết vì cấp chỉ huy cẩu thả, “đem con bỏ chợ” thì không hiểu được, chỉ biết chửi thề.

Dù là tấn công hay lui binh đều cần có ít nhất là hai kế hoạch, vậy mà một cuộc lui binh cấp sư đoàn (+) lại chỉ có đường duy nhất là rút ra bờ biển, ra bờ biển thì bắt buộc phải có cầu hay tầu. Nhưng rồi Tướng Thoại HQ chẳng làm nổi một “cái cầu” để TQLC đi, Tướng Thi không ra lệnh nổi một cái tàu há mồm vào đớp lính. Nếu có kế hoạch hai, lấy QL1 làm trục lui binh cho SĐ.1BB và TQLC thì quân ta rộng đường tiến thoái, dẫu có thiệt hại cũng không bị lâm vào cửa tử như đã xẩy ra! Những bí mật này chỉ có Tướng Thoại, Tướng Thi biết, rất tiếc nhị vị tướng quân đang mải mê… Tức thế đủ rồi, tôi mời các bạn vào Đà Nẵng.

Ngay khi có lệnh rút khỏi Huế từ chiều 24/3, người dân từ Bắc xuôi Nam, người từ Tam Kỳ QN ngược lên, tất cả đổ vào cái rọ Đà Nẵng, bao thảm cảnh xảy ra tại đây, hẳn là có nhiều K19 chứng kiến, trong đó có Th/Tá Hoàng Trai, CHT/TTHL/SĐ.1BB. Tôi ở Non Nước, em tôi ở Sơn Trà, cháu tôi ở phi trường mà không thể liên lạc được với nhau.

Sáng ngày 29/3/1975, lúc 6 giờ, trước cửa TTHQ/SĐTQLC, tôi đứng nói chuyện với hai anh Trung Tá Xuân Phúc và Hữu Tùng, trưởng và phó LĐ.369/TQLC và Trâu Điên Trần Văn Hợp, chuyền tay nhau ca café đen và điếu thuốc, hít khói vào thở ra hơi buồn và thở dài! Chúng tôi hỏi nhau về kế hoach 5W, vì đã có lệnh bỏ Đà Nẵng mà chưa biết đi về đâu bằng đường nào? Con đường duy nhất là biển Đông.

Non Nước sáng hôm 29/3 ấy trời âm u vì khói đạn pháo kích đêm qua còn bao phủ, ngột ngạt, khó thở. Bất chợt có tiếng ồn ào, mọi người hướng ra biển khơi có ánh đèn nhấp nháy, đó là tín hiệu cùa 2 tàu LSM vào đón TQLC. Lệnh trên cho ban tham mưu, các đơn vị yểm trợ ra bờ biển trước. Tôi đứng nghiêm chào hai anh Phúc-Tùng và Hợp, bắt tay nhau mà nước mắt chảy vòng quanh, tức trào máu họng, các anh ở lại điều quân, tôi tham mưu đi trước, nhưng đi trước tôi là Trung Tướng Tư Lệnh QĐI Ngô Quang Trưởng.

Chiều tối 28/3, khi các tư lệnh đang họp tại BTL/HQ ở Tiên Sa thì VC pháo kích, buổi họp tan, quý tướng lãnh tan hàng. Tướng Thoại HQ thì không còn tàu đón, trực thăng của Tướng TQLC bị hỏa tiễn chém gãy cánh, hai ông đi bộ men theo sườn núi tìm “thuyển ra cửa biển”, còn Trung Tướng Tư Lệnh QĐI là Ngô Tướng Quân thì về với TQLC, thật là trớ trêu! Đêm qua, Tướng Trưởng “qua đêm” trong TTHQ/TQLC và sáng 29/3, ông cũng bơi như chúng tôi và đã được dìu lên tàu an toàn.

Sóng to gió lớn mà tàu thì đậu mút tầm thềm bắn 300 m thì làm sao đây? Nhìn những anh em Công Binh, THD bơm xuồng Zodiac, mang phao vào cổ mà thèm. Họ ung dung ngồi chờ trên bãi cát, sóng dội lên bờ rồi rút họ ra theo, phao và xuồng cao su được kéo ra tuốt ngoài xa, tưởng như đến được tàu, nhưng không, sóng sau dồn sóng trước, hất ngược những zodiac lên bờ, còn những cái phao màu vàng cam thì bị sóng dập vùi, trôi dạt tứ phía, lững lờ như những đám lục bình trôi, và qua vài con sóng dập vùi, những người mang phao đã nằm bất động.

Cùng tắc biến, tôi chợt nghĩ đến bài học vượt sông bên bờ hồ Than Thở, dùng poncho làm phao, sóng cao thì ngụp xuống cho sóng qua đầu nên không bị kéo trở lại, đuối quá rồi, vào cái lúc sắp xuôi tay, miệng đọc “nhân danh cha” thì một sợi dây thừng từ trên tàu bay tới, tôi chụp vội và được kéo lên, gật đầu cám ơn những người quăng dây, tôi nhìn thấy nụ cười của anh Phạm Văn Sắt K16 và Th/Tá Phan Công Tôn, nhưng Đ/Úy Nguyễn Văn Hưởng được kéo lên nửa chừng thì bị rơi trở lại, chìm vào đáy tầu.

Từ trên boong nhìn xuống nước, tôi thấy mặt những người cột phao quanh cổ ngửa mặt tím ngắt lên trời, nằm bất động, họ đã chết thật rồi, vớt người sống chưa xong thì ai mà nghĩ chuyện vớt xác, coi như thủy táng, “lính thủy đánh bộ” mà, đằng nào cũng chết vì nước.

Image
(Bờ biển Non Nước sáng 29/3, những cái đầu ngụp lặn sắp chết “vì nước”)

Trong lúc bao nhiều người đang cố gắng tìm cái sống trong cái chết để bơi ra tàu thì VC pháo kích, khói bụi mịt mờ trên bờ nơi anh Phúc Tùng và Hợp còn trên đó, người người tán loạn. Đạn rơi tõm-tõm quanh tầu, tầu bèn de ra khơi, kéo theo những người bơi chưa tới, và họ không bao giờ tới được tàu HQ nên đành về Thủy Cung hay Thiên Quốc.

Số phận hai anh Phúc và Tùng “mất tích” từ đó, ngay sau những loạt hỏa tiễn 130 ly, không ai biết các anh đi về đâu, những ai không tận mắt chứng kiến thì đừng phịa chuyện rằng các anh đã lên trực thăng. Trần Văn Hợp thì khá hơn, chúng tôi đã gặp nhau khi về đến Vũng Tàu. Nhưng còn một K19/TQLC khác cũng mất tích như hai anh Phúc-Tùng, đó là Hồ Ngọc Hoàng. Hoàng là TĐP/TĐ.6 của Tr/Tá Lê Bá Bình, Bình lên tàu được, nhưng cánh B của Hoàng thì kẹt lại và đã nhập chung với TĐ.9 của Th/Tá Lâm Tài Thạnh, họ chiến đấu suốt ngày đêm 29/3 ở chủng viện Sơn Trà và Hoàng mất tích trong đêm đó. Tất cả diễn tiến này đã được Đ/Úy ban 3 TĐ.9 là Đoàn Văn Tịnh K22 viết chi tiết “Xưa Nay Chinh Chiến Mấy Ai Về” trong đặc san Sóng Thẩn 2011.

SĐ (-) TQLC về đến Vũng Tàu ngày 1-4, đóng quân trong căn cứ Úc Đại Lợi sát với bãi sau để bổ sung quân số và tái trang bị. Chiều xuống, sau khi xong việc, Hợp và tôi ngồi trên bãi cát, chân thò xuống nước, tai nghe trasistor loan tin chiến sự, mắt nhìn ra biển khơi, tầu bè tới lui, đêm xuống xa xa cuối chân trời, thành phố biển sáng đèn, tàu xếp hàng ngang đi về đâu không biết, trên đó có bao nhiêu thượng cấp, lãnh đạo của đất nước tôi! Bất giác liếc sang bên phải là bãi biển “mộng mơ” mà trước đây đã một lần tôi dẫn người yêu ra đây ngắm trăng mật, chúng tôi tính chuyện gọi vợ con ra Vũng Tàu “nghỉ mát” mà trong đầu không hề nghĩ tới chuyện “tìm đường bỏ nước” ra đi.

Vợ chưa kịp ra thì ngày 16/4 mặt trận Phan Rang thất thủ, TQLC được lệnh lên đường tăng cường cho Quân Đoàn III, từ mặt trận Long Khánh, Long Thành, Biên Hòa, rồi Long Bình và tử thủ tại căn cứ Sóng Thần vào sáng ngày 30/4/75. Một điều đau thương nhưng cũng rất hãnh diện để nhắc lại là vào thời điểm dầu sôi lửa bỏng này, TQLC được bổ sung một số thiếu úy Võ Bị vừa làm lễ tốt nghiệp mãn khóa trên đường di tản, các đệ này đã chiến đấu và rồi nhiều anh em đã gục ngã khi trên ba-lô còn mang theo cái mũ SVSQ, họ là những khóa 28, 29.

Sáng 30/4/75 khoảng 10 giờ, tại căn cứ Sóng Thần, Tango Đ/Tá TLP Nguyễn Thành Trí họp cùng các đơn vị trưởng, dù trong tình thế tuyệt vọng nhưng ông hài lòng khi thấy tất cả các đơn vị trưởng đều có mặt, các đơn vị vẫn chỉnh tề hàng ngũ, súng vẫn cầm tay. Nhưng vận nước đã không được quyết định bởi những người trực tiếp cầm súng, mà ở tận mãi đâu đâu, ở lầu 3 góc hay 5 góc, lầu cao gác tía, Tonton ra lệnh đầu hàng, quân sĩ ngỡ ngàng ngơ ngác!

_ “Là quân nhân, nhưng không làm gì khác được, thôi anh em về với đơn vị, giải thích cho các cấp biết, nhiệm vụ cầm súng của chúng ta đã bị kết thúc”.

Tango nói với các đơn vị trưởng xong quay sang tôi:

“Cần Thơ ở lại để bàn giao căn cứ cho phía bên kia”!

Tôi biết ông lập lại câu nói của TT Big Minh cho có lệ và cũng là lúc Hợp bấm tay tôi rồi đi về TĐ.2, hiểu ý cái bấm tay của Hợp, tôi “bất tuân thượng lệnh”, không bàn giao cái củ cải cho củ cải nào cả mà đi theo thằng bạn về vị trí đóng quân của nó cho có đôi vào lúc khoảng cách sinh tử là sợi chỉ.

Sau khi nói lời cuối cùng với quân sĩ, Hợp vốn bản tính bình tĩnh lầm lì cũng phải quay đi lau nước mắt rồi cùng tôi kẻ trước người sau đi ra khỏi căn cứ ST. Như cái xác không hồn, chúng tôi nương theo dòng người men theo ven xa lộ để về trại gia binh Cửu Long Thị Nghè. Vừa tới đoạn ciment Hà Tiên thì nghe súng nổ ròn phía trước, chỗ ngã ba Cát Lái. Tụi nón cối dạt về sau, lum khum chạy núp hai bên đường bắn trả, tôi nghe tiếng Bắc Kỳ quen quen:

_Địt mẹ bọn Trâu Điên ngoan cố.

Thần hồn nhát thần tính, hễ thấy rằn ri là chúng gọi “Trâu Điên”. Chúng vẫy tay ra hiệu cho đồng bào cứ đi trước đi. “Các anh bộ đội tử tế quá”! Tôi liếc Hợp rồi hất hàm, đi. Nào ngờ đồng bào đi trước, giặc cướp trộn trấu theo sau, vì dĩ nhiên “lòng súng nhân đạo, cứu người lầm than” của những người anh em Trâu Điên tách bầy, chiến đấu tới cùng đã không bắn vào quân dân ta có VC đi lẫn trong đó. Tôi chửi thầm đúng điệu quê hương BK:

_ Địt mẹ con cháu ba-ác tàn ác, lấy dân làm bia đỡ đạn.

Về đến Thị Nghè thì thấy phía trước một toán băng đỏ đi ngược chiều, tay cầm súng M16 thỉnh thoảng nổ ông Thiên, chúng đang xô đẩy một bộ rằn ri bị trói 2 tay phía sau. Tránh đâu bọn trâu đánh này? Tôi xẹt vào một cáí sân nhà bên đường, núp sau những chậu bông mai tứ quý, liếc phía sau, thấy Hợp cũng xẹt vào con hẻm gần đó.

Đang lấp ló ngó xem bộ rằn ri kia là ai thì có ai đó nắm gáy áo tôi kéo giật vào phía sau, đóng cửa lại nói khẽ:

_ Muốn chết hay sao mà lấp ló đó, tụi nó đang đi lùng sục các anh, sáng nay chúng mới bắn Ch/Uy an ninh trại gia binh ở ngay đầu cầu Dầu* đấy.

(*cầu Dầu nằm trên đường Dương Công Trừng, cách trại Cửu Long chừng 100m).

Tưởng ai xa lạ, hóa ra là cô Ba Dung, chủ tiệm café mà trước đây miếng đất trống trước cửa tiệm bị TPB của Nguyễn Rô đến cắm dùi. Lúc đó tôi là trưởng khối thặng số thương bệnh binh BV Lê Hữu Sanh TQLC Thị Nghè, tôi chịu trách nhiệm TPB/TQLC tại Thị Nghè, vì không muốn TPB/TQLC bị mang tiếng lây là cắm dùi nên tôi đã yêu cầu nhóm anh em thuộc TPB Nguyễn Rô đi ra khỏi khu vực Thị Nghè, cô Ba Dung tưởng tôi làm việc này vì cô! Lầm, nhưng kệ, cải chính làm gì, lạ rồi cũng nên quen. Nào ngờ chuyện nhỏ lúc trước nay bị nhận diện

Chưa kịp cám ơn cô thì có tiếng gõ cửa và nói vọng vào:

_ “Chị Ba ơi, vào họp với chú Năm Sửu”

_ “Ừa, chị thay đồ rồi vào ngay”

Nói xong cô đẩy tôi vô tuốt vào phòng trong, môi ghé tai nói nhỏ:

“Muốn sống thì nằm đây, sân nhà anh đang là chỗ thanh lọc, em vào họp chút rồi về ngay, mọi chuyện sẽ giải thích sau”.

Cô vội vàng thay đồ đen, quấn khăn sọoc rằn, di di ngón tay trỏ vào trán tôi rồi đi ra, không quên khóa cửa bên ngoài. Chuyện gì xẩy ra sau đó với tôi thì không phải của bài này.

Bài viết này xin kết thúc ở đoạn tuyệt đại đa số các cấp chỉ huy TQLC đang “nghỉ mát” ở Vũng Tàu, thiên thời địa lợi nếu muốn “vượt biển một mình” nhưng vì nhiệm vụ lại kéo nhau ngược trở vào đất liền, tử thủ ở CC/ST rồi rủ nhau vào tù. Cùng một đội tù tại Long Giao gồm có Trần Văn Hợp, Huỳnh Văn Phú, Tô Văn Cấp, TQLC/17 Trần Kim Hoàng, Lê Văn Cưu, TQLC/21 Trần Quang Duật, Doãn Thiện Niệm và Quách Ngọc Lâm cùng Lê Xuân Sơn k21, và nhiều VB, TQLC khác nữa. Những mất mát liên tiếp xảy đến trong ngục tù là tự tử, tử nạn như các Tr/Tá Nguyễn Văn Nhiều K14, Nguyễn Đằng Tống K16, Huỳnh Văn Lượm K17, Đoàn Thức, Nguyễn Hữu Cát, Th/tá Trần văn Hợp K19 v.v......và tôi được tặng gần 10 cuốn lịch.

Kết thúc những ngày tháng cuối cùng của chúng tôi là như thế, như thế, còn bạn thì sao?

Phila Tô
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »


Image

Mời xem những diễn biến cuả lá cờ VIỆT NAM


Bạn sẽ cảm động chảy nước mắt khi nghe ban Đại Hòa Tấu Ukraine, một nước thuộc Cộng Sản Liên Xô trước kia, trình tấu bản Quốc Ca VNCH...

mudo
Posts: 21
Joined: Sat May 29, 2010 7:40 am
Contact:

Post by mudo »

Bình Long An Lộc -
Niềm Kiêu Hãnh của QLVNCH


Sơn Tùng

Cách nay 36 năm, Cộng Sản Bắc Việt đơn phương xóa bỏ hiệp định Ba Lê mà chúng đã ký kết, xua quân chiếm trọn miền nam, đưa toàn thể dân tộc vào cảnh "THIẾU NHÂN QUYỀN, DƯ TÙ TỘI, THIẾU CƠM NO, THỪA BỆNH HOẠN". Thế hệ trẻ Việt Nam tại hải ngoại, qua vô số tài liệu ngoại quốc (trình bày cuộc chiến Việt Nam theo cái nhìn chủ quan một chiều hay thiển cận của người viết), có thể sẽ không tránh khỏi một vài nhận định sai lạc về thế hệ cha anh và về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa . Không ! người lính Việt Nam Cộng Hòa đã không hèn! Họ đã chiến đấu rất dũng mãnh, "rất tới". Họ đã làm đồng minh khâm phục. Họ đã làm kẻ thù khiếp sợ ! Dù sứ mạng giữ nước đã không tròn. Không tròn chỉ vì họ đã không may sinh không nhằm thời nên bị đặt dưới sự chỉ huy của một vài cấp lãnh đạo "bất tài vô đức" (xin miễn bàn đến yếu tố chính trị thế giới và quyền lợi ngoại nhân). Họ đã bẻ gảy Tổng Công Kích Mậu Thân. Họ đã cao ngạo đứng vững trong Mùa Hè Đỏ Lửa.

Phải! Người Lính Việt Nam Cộng Hòa - xin được viết hoa - đã không hèn. Không bao giờ đủ bút mực để viết về gương hào hùng và chiến công đầy dẫy của họ . Chỉ xin góp nhặt một vài trang sách cũ về một địa danh đã đi vào chiến sữ thế giới: An Lộc. Để vinh danh Người Lính Cộng Hòa và đặc biệt để tưởng niệm tướng Lê Văn Hưng, người hùng An Lộc, một trong những vị tướng lãnh tài đức của QLVNCH, đã chấp nhận tự chọn cái chết vào ngày 30-4-1975 để giử tròn tiết tháo của người dũng tướng. An Lộc cũng đã cho phép người cựu chiến binh VNCH được ngửng mặt với đời, dù phải lưu lạc xứ người vì sứ mạng giữ nước vẫn chưa tròn.
Image
Tướng Lê Văn Hưng, người hùng An Lộc

AN LỘC ANH DŨNG

Một thông tín chiến tranh trẻ của Nga, Konstantine Simonoff từng chứng kiến chiến trận Stalingrad giữa lúc thành phố này bị công hãm đã viết lại rằng "quả đất như lay chuyển dọc chiến tuyến dài 40 dậm kéo dài ngang thành phố Stalingrad. Đường phố Stalingrad tắc nghẽn. Phụ nữ trẻ em không di tản được khỏi thành phố đã phải trú ẩn trong những hầm hố đào sâu trong các lòng suối dẫn đến con sông Volga. Các oanh tặc cơ của Đức rơi chất đống trên thành phố... Không có thời gian để chôn người chết... Các bộ chỉ huy trú phòng Stalingrad được đặt sâu dưới lòng đất...
Những ngôn từ diễn tả trận chiến Stalingrad trước đó 30 năm bây giờ lại được người ta mô tả chiến trường An Lộc. Nếu bút mực, phim ảnh trong 30 năm đó vẫn chưa nói lên hết thảm trạng chiến tranh ở Stalingrad, thì An Lộc 36 năm sau cũng vậy .
Image
PHÁO ĐÀI B-52: cơn ác mộng kinh hoàng của hàng trăm ngàn cán binh Cộng Sản.

VỀ MỨC ĐỘ TÀN PHÁ CỦA B-52:

Ngày 19 tháng 5, một toán Biệt Kích VNCH được tung vào vùng tình nghi, 16 km tây nam Bình Long. Nhận đúng tọa độ, toán biệt kích gọi về bộ chỉ huy hành quân. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau, 6 phi vụ B-52 liên tiếp dội bom xuống vùng này. Nguồn tin này cho hay 80% nhân mạng chung quan bộ tham mưu của Cộng Sản Bắc Việt đã bị chôn vùi trong hố bom. Và vào ngày 22 tháng 5, một trung đoàn Việt Cộng đang di chuyển gần thị xã An Lộc đã bị một trận mưa bom B-52 tiêu diệt tan tành.

An Lộc nhỏ bé, nhưng chiến thắng An Lộc quá vĩ đại. An Lộc điêu tàn nhưng chiến thắng An Lộc là một hào quang rực rỡ. Vĩ đại đến nỗi một cựu tướng lãnh pháp tại Đông Dương, tướng Paul Vanuxem, đã tạm gác công việc tại Paris để bay ngay sang Việt Nam thăm cho được thành phố nhỏ bé này, và sau đó đã ca ngợi trên tờ Carefour xuất bản tại Ba Lê như sau: "Chiến thắng An Lộc là chiến thắng lịch sử vĩ đại hơn bất cứ một chiến thắng nào trên thế giới. An Lộc đúng ra phải thất thủ ngay từ lúc đầu của cuộc tấn công. Nhưng hai tháng sau An Lộc vẫn còn đứng vững. Trừ Stalingrad người ta có thể coi một cách vẻ vang rằng trong lịch sử chiến tranh cận đại không có một chiến thắng nào tương tự như thế. An Lộc đã trở nên một biểu tượng của sự chịu đựng anh hùng. An Lộc đã đứng vững dưới những trận bão lửa là nhờ ở sự can đảm của chiến sĩ VNCH... An Lộc đã đứng vững cho chúng ta, cho sự tự do của chúng ta, và cho tương lai của chúng ta..."
Càng ngẩn ngơ trước cảnh đổ nát của An Lộc, tướng Vanuxem càng ngưỡng mộ người lính VNCH, ngưỡng mộ đến nỗi ông ta nói lên ý định đưa con cháu sang đầu quân dưới cờ Việt Nam .

CUỘC CHIẾN AN LỘC

An Lộc, tỉnh lỵ của Bình Long anh dũng, trước đây là một thị trấn nhỏ gọi là Hớn Quản thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, vì nhu cầu hành chánh, tỉnh Bình Long được thành lập gồm 3 quận Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh. Từ ngày đó, quận Hớn Quản mang tên mới là An Lộc. Quận An Lộc gồm cả thành phố tỉnh lỵ rộng 740 cây số vuông với khoảng 44 ngàn dân, đa số tập trung vào xã Tân Lập Phú.

Tỉnh Bình Long nằm sát biên thùy Kampuchea với diện tích 2,240 cây số vuông, gồm trên 76 ngàn dân . Chung quanh tỉnh lỵ và quận lỵ là những đồn điền cao su ngút ngàn, vài ngọn đồi thoai thoải . Đồi Gió, Đồi 100, Đồi Đồng Long là những cứ điểm quân sự quan trọng bảo vệ thị trấn An Lộc.
Cộng Sản Bắc Việt nhắm vào An Lộc là vì tỉnh Bình Long nằm sát biên giới Kampuchea nơi che dấu những căn cứ địa của Cộng Sản Bắc Việt. Thị trấn này về mặt chiến lược còn nắm vai trò chủ yếu phòng thủ cho Bình Dương và sau đó là thủ đô Sài Gòn. Do đó, tuy An Lộc chỉ là một thị trấn nhỏ bé, nơi đặt cơ sở hành chánh điều hành tỉnh Bình Long, nhưng đã được Cộng Sản Bắc Việt chọn làm mục tiêu tấn công hy vọng đạt một chiến thắng dễ dàng đồng thời tạo một kinh hoàng, đe dọa thủ đô.

Rạng ngày 5-4-1972, vào lúc bình minh, Bộ Chỉ Huy Hành Quân của CSBV ban ra một mệnh lệnh khô khan: "Phải chiếm được An Lộc bằng mọi giá trước ngày 20-4" với ý đồ sẽ trình diện chính phủ lâm thời của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào ngày 8-6 tại đây. Để dứt điểm An Lộc, CSBV tung vào 4 công trường (tương đương với sư đoàn) gồm các công trường 5, 7, 9, tăng cường thêm công trường Bình Long, được yểm trợ bởi 2 trung đoàn 202, và 203 Thiết Giáp và hằng hà sa số pháo đội 105, 155, 130, 107, 122 và các pháo đội phòng không đủ loại. Tính ra, với quân số ít nhất cũng trên 40,000 quân với hỏa lực pháo binh hùng hậu, CSBV tin chắc sẽ nuốt trững An Lộc chỉ được sư đoàn 5 bộ binh bảo vệ

MƯA PHÁO

Để duy trì áp lực trên thành phố An Lộc, hoặc ngay cả trước khi mở cuộc "hậu xung", Cộng Sản Bắc Việt đã dành cho thị trấn nhỏ bé này những trận pháo kích chưa từng thấy trong lịch sử chiến cuộc thế giới. Không còn danh từ nào tượng hình hơn danh từ "mưa pháo" mà người dân và chiến sĩ ở đây đã gọi. Một sĩ quan cao cấp, đại tá Mạnh Văn Trường, đã ví những trận pháo kích của Cộng Sản Bắc Việt như một chiêu thức võ hiệp "Mãn Hoa Thên Vũ" (mưa hoa bay đầy trời).

Diện tích An Lộc chừng vài cây số vuông trong 2 tháng trời đã lãnh đủ mọi thứ đạn của Cộng Sản Bắc Việt có lúc đến gần 8,000 quả trong 1 ngày như ngày 11-5. Tính chung hơn 2 tháng trời bi. pháo liên tục, thành phố An Lộc đã chịu đựng hơn 200,000 quả đạn đủ loại .

Ít người được dịp chứng kiến tận mắt thành phố An Lộc hoang tàn sau những cơn mưa pháo bất tận, nhưng ai ai cũng có thể hình dung những đổ nát của thị trấn nhỏ bé này với một tưởng tượng rằng cứ chừng 20 thước vuông đất thì bị tàn phá bởi một quả đạn pháo kích của Cộng Sản Bắc Việt. Với "mật độ" này, không có một vật gì ở thị trấn An Lộc không ghi nhận dấu vết tàn phá của đạn pháo kích. Từ cột điện, cây cối cho đến chiếc lon sữa bò vứt ngoài đường phố cũng ít nhất bị trúng miểng pháo, đừng nói gì đến nhà cửa ....

An Lộc còn có những bi thảm mà thế giới văn minh không ai có thể tin là sự thật. Dưới trận mưa pháo kinh hoàng của đoàn quân xâm lược, thật ít người được chết chỉ 1 lần. Vắng tiếng pháo, người sống vội vã lo cho người chết, đào tạm cái hố, gom vội thi hài để người chết được 1 nơi yên giấc và cũng để tránh cảnh xác người sình thối trước mặt người sống. Thế nhưng giấc ngủ của kẻ chết cũng không yên dưới tay giặc Cộng. Mộ mới đắp vài phút, đạn pháo kích của quân thù lại rơi vào. Xác người chết vốn không còn nguyên vẹn lại bị sát hại thêm một lần nữa bởi mộng xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt .
Image
Tướng Lê Văn Hưng và ban Tham Mưu chiến trường An Lộc Hè 1972


Người dân còn kẹt ở An Lộc, người lính quyết tâm tử thủ bảo vệ thành phố này đã cố gắng chịu đựng đến tột cùng của sự cố gắng trước cái kinh hoàng của mưa pháo để thành phố không thất thủ. Những tiếng nổ khủng khiếp liên hồi hàng chục ngày rồi cũng trở thành những âm thanh dịu vợi vì quen quen thuộc. Cái kinh hoàng bây giờ không còn phải ở hai tai mà đôi mắt khi nhìn thấy những người đi thu lượm chấp nối để thi hài của thân nhân bạn hữu được đầy đủ trước khi vùi sâu dưới lòng đất lạnh .

Ngày 15-4 hơn 10 ngàn dân chúng chạy vô khu nhà thờ và nhà thương An Lộc, hy vọng cộng quân không tấn công 2 địa điểm này, bởi nếu còn có chút lòng người không một cấp chỉ huy quân sự nào có thể ra lệnh bắn vào nhà thương và nhà thờ. Chữ "thương" và chữ "thờ" với sự tượng trưng đặc thù, tự nó đã nói lên tất cả ý nghĩa của sự việc dân chúng tìm hai nơi này lánh nạn. Tuy nhiên cộng quân vẫn tập trung hỏa lực để pháo kích vào hai nơi này. Gần 2 tháng sau, khi kể lại vụ nhà thờ 15-4 cho chúng tôi, người lính tử thủ vẫn còn kinh hoàng và sự kinh tởm cho dã tâm của Cộng Sản Bắc Việt. Anh nói : "Cả chục ngàn người đang ở khu vực nhà thờ, họ cùng các vị lãnh đạo tinh thần chỉ còn biết cầu xin đấng duy linh tối thượng, thương xót cho một đám dân lạc loài qua cảnh đao binh Không ai có thể hình dung cảnh hỗn loạn, thảm khốc khi hơn 10 ngàn người đạp lên nhau chạy thoát khỏi khu nhà thờ. Số thương vong không biết sao kể xiết". Một thành phố nhỏ như An Lộc dễ dàng trở thành mục tiêu tốt cho bất cứ pháo thủ nào chỉnh súng để pháo vào đó, bởi vậy An Lộc đã chẳng còn gì sau hơn 60 ngày bị pháo kích. Điều may mắn còn lại cho những người tử thủ là đạn rơi trúng hâm` thì mới chết chứ cách hầm vài thước ít ăn thua gì, vì cộng quân không có nhiều loại đầu đạn delay, loại đạn nổ chậm, chui sâu khoảng 10 thước mới phát nổ gây tàn phá hầm trú ẩn rất khủng khiếp.

Kể cả căn hầm của tướng Hưng, ở An Lộc hầu như không có công sự nào chịu nổi một phát 130 hay hỏa tiển 122, có điều thượng đế còn "ngó lại" nên phần trên của căn nhà của tướng Hưng chỉ bị mấy trái cối 82. Đạn 82 không xuyên phá, khi nổ văng nhiều mảnh nhưng chỉ có thể làm xập mái nhà mà thôi. Một vài trái hỏa tiển 122, 107 và cả đạn delay đã rơi chung quanh bộ chỉ huy của tướng Hưng, rất may mắn không có trái nào trúng hầm và chỉ làm hư hại phần ngoài của khu vực này.

Đã nói tới pháo kích tức nhiên phải nghĩ đến những tàn phá và thảm cảnh, những điều này mới chính là biểu trưng vĩ đại nhất cho sự chịu đựng tinh thần kiên quyết của người tử thủ cho dù đó là quân nhân hay những thường dân hoàn toàn không võ trang. Với 200 ngàn trái đạn trong hơn 2 tháng, cộng quân đã làm An Lộc sụp đổ toàn diện, 4 ngàn binh sĩ và thường dân VNCH thiệt mạng bên trong thị trấn nhỏ bé. Nhưng tại sao thành phố anh hùng này vẫn đứng vững và trở thành biểu tượng cho tinh thần chiến đấu của tất cả mọi công dân Nam Việt Nam hay nói 1 cách không thậm xưng, một biểu tượng của thế giới tự do trước làn sóng đỏ xâm lăng .

TẤN TĂNG

Sau mỗi đợt "mưa pháo", Cộng Sản Bắc Việt tung chiến xa, những chiếc T-54 bề thế, vừa lầm lì tiến tới, vừa nả đạnnhư mưa vào tuyến trú phòng, mở đường cho các đơn vị bộ binh Cộng Sản Bắc Việt "tùng thiết" theo sát phía sau . Người lính An Lộc, không có chiến xa, không còn đại pháo, chỉ còn biết trông cậy vào những khẩu M-72 chống chiến xa với tầm hiệu quả không quá 150 thước. Học núp mình dưới giao thông hào, chờ tăng địch đến gần, đến thật gần, mới đứng lên khai hỏa. Từng chiếc tăng địch bốc cháy, lựu đạn tung ra, lưỡi lê tuốt trần, người lính VNCH đã phải cận chiến để đánh bật từng đơn vị cộng quân đã xâm nhập vào thị trấn. Cộng quân dùng xa luân chiến để vùi dập quân trú phòng, nhất định không cho quân ta nghĩ ngơị Thiếu đạn, thiếu súng, thiếu ăn, thiếu ngủ, người lính An Lộc, sau này được tăng phái thêm Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đã giử vững tuyến phòng thủ qua bao ngày vây hãm.

Ngày 8-6, Tiểu Đoàn 6 Dù, sau khi bị tan nát tại Đồi Gió và được tái lập với 3/4 lính mới, những người lính chưa kịp được học tác xạ M-16, đã rửa hận, đánh thật tuyệt vời, mở được đường vào "bắt tay" với An Lộc, sau khi vượt qua trùng trùng điệp điệp các đơn vị Bắc Quân, chấm dứt 68 ngày vây hãm An Lộc của quân Cộng Sản Việt Nam.
Image
Tư Lê Văn Hưng bắt tay Đại tá Nhảy Dù vào giải tỏa An Lộc


Quân phòng thủ An Lộc tung ra mở rộng phòng tuyến, chiêm' lại từng điểm chiến lược trong thị trấn, tạo an toàn bải đáp cho quân tăng viện. Ngày 9-6, lần đầu tiên từ hơn 2 tháng nay, một đoàn trực thăng 23 chiếc đã đáp xuống An Lộc, vừa đổ quân, vừa tiếp tế, vừa bốc thương binh về hậu cứ.
Ngày 12-6, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù chiếm lại Đồi Đồng Long, một cao điểm chiến lược bên ngoài thị xã. Khi lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ phất phơ trên đỉnh Đồng Long, tướng Hưng ngắn gọn tuyên bố với thông tín viên đài VTVN: "Thành phố An Lộc đã được hoàn toàn giải tỏa". Về sự nhiệm mầu đã giúp cho An Lộc đứng vững. Tướng Lê Văn Hưng người hùng tử thủ An Lộc đã viết như sau : "An Lộc đã đứng vững suốt 3 tháng cam go nhờ vào tinh thần chiến đấu kiên cường của toàn thể quân dân anh hùng nơi thị xã nhỏ bé thân yêu của đất nước".


Sơn Tùng
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

MẶT TRẬN TAM BIÊN 1972

Một Cựu Chiến Binh VNCH

Đầu năm 1972, đơn vị chúng tôi: Trung đoàn 44 Bộ Binh thuộc Sư đoàn 23BB, có nhiệm vụ bảo vệ an ninh trục lộ 19 Pleiku - Bình Định - Qui Nhơn. Tôi là một trong 4 Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 4/44 Bộ Binh. Chúng tôi có nhiệm giữ an ninh đèo Manjang. Một địa danh mà thời Pháp thuộc đã xãy ra một cuộc phục kích của Việt Minh làm tiêu tan bao đơn vị và thiết giáp của quân Pháp. Ngày ngày, đại đội tôi lãnh trách nhiệm mở đường từ chân đèo này quan chân đèo kia. Rồi chiến sự bùng nổ, miền Tân Cảnh, Võ Định: vùng đất mà mỗi năm đều có một trận ác chiến giữa quân CS Bắc Việt và Quân lực VNCH. Tin chiến sự dồn dập: Tân Cảnh, Võ Định thất thủ. Sư đoàn 22 Bộ Binh của VNCH bị tràn ngập; mấy Lữ đoàn Biệt động, mấy Tiểu đoà Dù tan nát. Các chiến binh sống xót về tới An Khê, Bình Định cho chúng tôi hay súng M72 của mình bắn T54 của Liên xô không cháy. Bắn vào chúng chẳng nhằm nhò gì, chúng cứ thản nhiên tiến ào ào vào vị trí tàn sát quân ta. Tư lịnh Sư đoàn 22BB bị bắt sống. Sư doàn này tan rã; tàn binh rút về Bình Định, Qui Nhơn để củng cố lại.
Tin súng M72 bắn thiết giáp CS không cháy làm chúng tôi bàng hoàng lo lắng. Vì trấn thủ miền Cao nguyên có 2 sư đoàn chính: Sư đoàn 22BB và Sư đoàn 23BB. Giờ đây Sư đoàn 22BB đã bị đánh tan, còn lại một là Sư đoàn 23BB với danh hiệu: Nam bình, Bắc phạt, Cao nguyên trấn. Chúng tôi được lịnh nhận nhiệm vụ mới. An ninh của quốc lộ 19 được giao cho một đơn vị khác.
Đơn vị tôi chuyển về Pleiku: thành phố của lính, phố núi cao, phố núi đầy sương...đi 3 bước đã về chốn cũ. Pleiku vẫn nắng bụi, mưa lầy. Nhưng trong cái nắng, cái bụi như đang mang mang một cái gì không yên, chứa đựng một cái gì bồn chồn lo âu trên mọi nét mặt từ dân tới lính. Dăm ba trái hỏa tiễn 122 ly của CS rớt vào Bộ tư lịnh Quân đoàn 2, càng tạo một không khí chiến tranh thực sự đã về sát Bộ tư lịnh Quân đoàn 2. Một điều từ trước đến giờ không thể xảy ra được.
Đêm không vận
Ngày N, 9g đêm, ba-lô súng đạn. Ngoài cấp số đạn bình thường, mỗi quân nhân còn được trang bị thêm một cây M72 chống chiến xa. Đơn vị được đoàn quân xa chở ra phi trường Pleikụ Từng chuyến C130 bốc chúng tôi đi trong đêm. Bây chừng nửa giờ, máy bay hạ cao độ đáp xuống phi trường. Trời tối đen, không một ánh đèn. Cả đại đội vội vã rời phi cơ. Chiếc C130 cũng tất tưởi trở lại phi đạo, cất cánh mất hút vào đêm đen. Thình lình tiếng đạn rít lên...ầm ầm. Tiếng nổ rung động cả phi trường: địch pháo. Đó là những trái hỏa tiển 122 ly quân CS đang nã vào phi trường Kontum.
Từ phi trường, đơn vị chuyển vào thị xã Kontum, tiến về hướng Bắc thị xã. Bây giờ là ngày N+1. Tảng sáng, chúng tôi nằm dọc quốc lộ 14 nối liền Tân Cảnh - Kontum, cách thị xã Kontum khoảng 2km.; nguyên Trung đoàn 44BB thành lập một tuyến phòng thủ chắn ngang quốc lộ 14. Đại đội tôi có nhiệm vụ làm lực lượng trừ bị cho Trung đoàn, đóng quân phía sau Bộ chỉ huy Trung đoàn, qua một thung lũng nhỏ khoảng cách chừng hơn 1km đường chim bay. Từ vị trí đóng quân này, tôi nhìn qua thung lũng thấy rất rõ Bộ chỉ huy Trung đoàn.
Hỏa tiên TOW diệt địch
Khoảng 4g chiều cùng ngày N+1, một chiếc xe Jeep do 2 người Mỹ lái vào vị trí đóng quân của đại đội tôi, thiết kế một dàn hỏa tiễn TOW, một loại hỏa tiển chống chiến xa mà chúng tôi chưa bao giờ được thấy. Khoảng 15 phút họ bắn 1, rồi 2 trái. Những tiếng départ vang động núi rừng. Trái đạn được huớng dẫn bằng computer. Họ cho chúng tôi hay, cách đó khoảng 3-4km đằng trước đã có 2 chiến xa cháy do 2 trái hỏa tiễn vừa bắn. Sau đó họ thu dọn, lái xe đi biệt tích.
Đêm thử lửa
Sau khi các người bạn Mỹ rút đi rồi, bây giờ chỉ còn ta với mình. Trời bắt đầu trở màu xám xuống đồi núi chập chùng, cũng là lúc pháo binh CS bắt đầu điều chỉnh tác xạ vào mục tiêu. Vài trái nổ vào thung lũng giữa tôi và Bộ chỉ huy Trung đoàn 44BB. Những trái sau đó đã rớt trúng vào BCH. Bọn tiền sát địch đã bám sát vị trí và điều chỉnh các khẩu đội của họ thật chính xác. Hơn nữa các khẩu pháo của họ đều đặt trên các triền đồi núi. Nên họ quan sát rất rõ trái nổ của họ. Tưởng cũng nên biết sơ về địa thế của Kontum: Kontum là một thị xã nằm trong một thung lũng, chung quanh là đồi núi cao. Vì thế quân CS Bắc Việt đã phối trí các pháo đội của họ từ trên triền đồi, triền núi tập trung vào thị xã.
Trời sụp tối, pháo địch dồn dập nã vào BCH Trung đoàn. Núi rừng chuyển động từ mọi phía, các khẩu pháo của CS đồng loạt tác xạ. Đúng là trận địa pháo: đủ loại tầm xa, tầm gần. Cả vị trí Trung đoàn bây giờ chìm mất giữa khói lửa, bụi, khói khổng lồ. Không còn cảnh tàn phá nào kinh khủng hơn. Khói, lửa, tiếng nổ, tiếng đạn rít, ầm ầm sôi sục như cơn địa chấn, đất đá thành bụi, bụi cháy thành lửa, tất cả như cơn cuồng phong gầm thét, xoay xoáy phá tàn núi rừng. Tôi chưa bao giờ chứng kiến một trận pháo kích điên cuồng như thế. Số phận Trung đoàn ra sao? Rồi đại đội của tôi?
Mặc dầu đơn vị tôi vẫn yên tĩnh vô sự. Chẳng lẽ bọn CS muốn xóa sổ Trung đoàn 44BB bằng hỏa pháo? Từ hệ thống truyền tin PRC25, tôi chỉ còn nghe những âm thanh hỗn độn hò hét. Dường như vị trí bị tràn ngập. Chúng tôi đã sẵn sàng tử chiến, hoặc tiếp viện lên Trung đoàn khi có lịnh. Tôi nghe rõ báo cáo xe tăng địch đã tràn vào vị trí.. Rồi chỗ này báo cáo xe tăng cháy, chỗ nọ xe tăng kia đang tiến vào, tiếng reo hò vang động vọng vào máy. Chẳng lẽ bộ binh của CS đã tràn vào? Những đường đạn lửa đỏ, xanh đủ màu, tiếng súng lớn, súng nhỏ rộn rã từ mọi phía, tạo thành một màn lưới màu khổng lồ chụp xuống Trung đoàn. Tôi quan sát trận địa, nghe tiếng súng nhỏ đủ loại dòn dã, với chút kinh nghiệm chiến đấu, tôi nghĩ đơn vị phòng thủ đang chống trả. Như vậy phòng tuyến của trung đoàn vẫn chưa bị đè bẹp, và đang phản công lại. Cho tới tảng sáng, khói lửa vẫn còn mù mịt.
Nhưng rồi trận chiến đã lắng xuống và chỉ còn những tiếng súng, tiếng nổ thưa thớt lẻ tẻ. Qua hệ thống điện đài, tôi biết trung đoàn vẫn còn giữ vững. Tại tuyến phòng thủ, chiến xa địch một số bị mìn chống chiến xa nằm liệt trên đường tiến vào vị trí, một số bị bắn cháy ngay trong sân.
Tôi được các binh sĩ bạn kể lại, hồi đêm T54 của CS tràn vào vị trí của Bộ chỉ huy, các trung đội viên Viễn thám của tiểu đoàn đã xách B40, B41 chạy ra sân và lính CS tưởng là bộ binh của họ, đứng trên pháo tháp vẫy tay cười cười. Quýnh quá, quân ta cũng vẫy tay cười cười, đưa ngay B40, B41 nhắm vào thiết giáp của CS phơ hết. (Đa số các Trung đội Viễn thám đều trang bị súng của CS). Vừa diệt gọn hết tăng, cũng cùng lúc VC thiệt xếp hàng một tiến vào phòng tuyến. Quân ta đã rảnh tay, thừa thắng xông lên, quay súng ra trước phòng tuyến tác xạ tối đa vào hàng ngũ cán binh CS đang lũ lượt ùa vào. Đám cán binh này lầm lũi tiến vào, vì họ nghĩ thiết giáp của họ đã thanh toán xong mục tiêu, họ chỉ yên trí thản nhiên xếp hàng vào để...thu hoạch chiến lợi phẩm (giống trường hợp của Sư đoàn 22BB trước đó vài tuần). Họ đâu có biết bao nhiêu con cua sắt của họ đã bị rang muối hết. Để rồi hàng hàng, lớp lớp cán binh của họ lãnh đủ hỏa lực phản công của ta, thây của họ chồng chất ngoài phòng tuyến. Tới khi bọn chỉ huy ngu muội phát giác thì đã quá trễ, biết bao nhiêu cán binh của họ đã bỏ mạng trước phòng tuyến. Họ không thể tiến tới nữa, đành rút lui.
Kết quả trận đánh
- Mười mấy chiếc T54 Liên xô (loại chiến xa hạng nặng) đều cháy hết.
- Bộ binh CS chết đếm không kể siết. Kể như Cộng quân đã thất bại nặng nề trong trận tấn kích hồi đêm.
Hoán chuyển nhiệm vụ
Không khí còn khét mùi lửa đạn, trung đoàn được lịnh di chuyển, nhường vị trí phòng thủ lại cho đơn vị khác. Chúng tôi lui vào thị xã. Tin tức cho chúng tôi biết từ hướng Tây Bắc, mũi quân khác của CS đã xâm nhập thị xã.
Mặt trận Tòa Tổng giám mục Kontum
Tiểu đoàn 4/44BB do Đại úy Võ Anh Tài chỉ huy được lệnh tiến chiếm dọc theo nghĩa trang tiến về Tòa Tổng giám mục. Tiểu đoàn, trừ một cánh, tiến dọc theo nghĩa trang tiến về Tòa Tổng giám mục. Đại đội tôi một mũi tiến đánh bọc hông.
Tiểu đoàn vừa tới nghĩa trang, đã đụng địch ác liệt. Địch đã từ hồi đêm, đào công sự phòng thủ khắp nghĩa trang. Trận chiến rất ác liệt giành giựt từng nấm mộ.
Riêng đại đội tôi vừa giàn đội hình tiến chừng vài chục mét, địch đã từ các nhà dân nổ dòn giã chào đón mấy đứa con đầu của tôi.
- Anh Dũng. Anh Dũng. Non Nước.
- Nghe nói.
- Địch từ trong nhà dân bắn rát quá, mấy đứa em lên không nỗi.
- Được, cho con cái núp sau các gốc cây, tôi sẽ tới.
Tôi không muốn ra lịnh trên PRC25. Tôi biết địch đã xen vào tầng số để theo dõi sự điều quân của ta. Tôi gặp anh Trung đội trưởng, cho lệnh anh ta sai 3 thằng em đem 3 cây M72 bò gần vào căn nhà có cây súng cộng đồng của địch. Cùng lúc 3 cây đại liên M60 cùng mấy cây M79, tôi cho tác xạ tối đa vào mục tiêu yểm trợ cho 3 thằng em bò vào thanh toán căn nhà. Ầm...ầm...ầm... 3 trái hỏa tiễn M72 đều trúng vào căn nhà, lửa bốc thành ngọn. Tức khắc tôi cùng thằng em đầu ào tới bồi thêm ít trái M26. Mục tiêu được thanh toán chơp nhoáng. Chúng tôi tịch thâu 1 súng ngựa trời, mấy cây AK, B40. Nhóm cán binh CS bị diệt gọn. Vừa lúc đó, một đám dân còn bị kẹt ở mấy căn nhà chung quanh chạy ào về phía chúng tôi, miệng la oải oải “dân đừng bắn”. Thật là khó khăn, nếu bọn CS bám theo đám dân này thì thật là phiền. Nhưng rất may mắn là chúng tôi đã đưa được số dân chúng này về phía sau bình yên.
Bọn CS không dám bám theo. Đưa được dân chúng đi rồi, tôi rảnh tay tiến quân chiếm từng căn nhà, hướng về Tòa Tổng giám mục. Địch đã đào hầm phòng thủ vững chắc, nên khi tiến quân, tôi đã phải giao chiến thật ác liệt và vất vả. Suốt ngày kịch chiến giành từng căn nhà. Trời sụp tối, đại đội tôi vẫn chưa bắt tay được với tiểu đoàn. Phía tiểu đoàn đã thanh toán gọn mọi tên địch, vào được Tòa TGM.
- Anh Dũng. Anh Dũng. Ó Đen (tên trong lệnh truyền tin của tiểu đoàn).
- Tôi nghe, Đại Bàng.
- Rán bắt tay với gia dình để uống rượu lễ.
- Căng quá, bọn nó hầm hố, bám chặt quá Đại Bàng.
- Thôi được, cho con cái trải ổ đi.
- Năm trên năm. Đại Bàng.
- Cẩn thận trong đêm nghe, Anh Dũng.
- Yên tâm, Đại Bàng.
Đêm đó tiểu đoàn phòng thủ tại Tòa TGM.
Tôi tìm vị trí phòng thủ ban đêm, dẫn đơn vị vào một khu nhà, chung quanh có tường cao và kẽm gai, tương đối tốt cho việc phòng thủ: Đó là nhà dòng của Kontum, tôi không gặp một ai, các cửa đều khóa. Có lẽ nhà dòng đã di tản rồi. Tôi bố trí một số trên lầu 2 và sân thượng, một số ở dưới đất. Suốt một ngày quần thảo với bọn CS. Có thể dêm nay bọn chúng lại quật ngược lại mình. Tôi dặn dò con cái yên lặng tối đa. Tuyệt đối không được hút thuốc. Nếu phát hiện địch, chỉ dùng lựu đạn tấn công chúng để khỏi lộ vị trí. Nửa đêm, họ di chuyển ngoài đường. Y lệnh, mấy thằng em âm thầm gởi ngay xuống từng chục trái na (lựu dạn), bọn VC lớp chết, lớp chạy tán loạn vào nhà dân. Sau đó tình hình yên tĩnh cho tới sáng. Tảng sáng, đơn vị tôi được lệnh lui về sau để nhận nhiệm vụ khác. Hồi hôm, tôi còn kẹt một số thương binh phải mang theọ Lại không biết địch đã vây bọc sau tôi hồi đêm hay không. Tôi thận trọng cho đơn vị lui lại thị xã. Rất may không đụng ổ địch nào. Nhưng dọc đường pháo địch rơi đủ mọi nơi. Chúng tôi vừa đi vừa ẩn núp tránh pháo địch, lại tiến về thành phố.
Mặt trận Bệnh viện 2 Dã chiến
Chúng tôi được lệnh tiến vào Bộ tư lệnh tiền phương Sư đoàn 22BB cũ và Bệnh viện 2 Dã chiến. Bộ chỉ huy Trung đoàn và các Tiểu đoàn 1, 2, 3, 4 đã giàn một phòng tuyến phòng thủ đối diện với Bệnh viện 2 Dã chiến, vì bệnh viện đã bị địch chiếm và phòng thủ. Đơn vị tôi dừng lại bố trí ngoài cổng Bộ tư lệnh, được lệnh tiến công đánh bọc hông bệnh viện.
Thăm dò lực lượng địch
Để chiếm được bờ đất nằm cạnh bệnh viện, chúng tôi vượt qua một sân bóng đá, không có vị trí ẩn núp. Vượt qua sân trống, trong lúc địch đã sẵn sàng ở bên kia. Đơn vị tan nát dễ lắm đấy.
Đại đội tôi được 3 chiếc M113 yểm trợ hỏa lực để tiến chiếm mục tiêu. Đội hình Bộ binh thiết giáp vừa chuyển động chừng 20m, pháo địch cùng với lực lượng phòng thủ bên kia sân bắn xối xả phủ chụp xuống toàn sân. Mấy chiếc M113 khai hỏa tối đa và thối lui, bất kể có bạn xung quanh. Tan nát, tán loạn, không còn ai nhìn thấy ai cả. Bụi, khói, lửa, đạn bay, pháo dập. Trong cơn kinh hoàng giữa sân trống, tôi kéo giật mấy thằng em mang máy lui lại, nhảy xuống mấy hố cá nhân dọc bên đường dẫn vào cổng Bộ tư lệnh. Chừng 5, hoặc 10 phút thì pháo địch dứt, tôi nhìn lên sân trống mù mịt bụi đỏ, không còn gì cả, mấy chiếc M113 rút ga lui đâu mất hút. Đơn vị tôi thất tán đâu hết.
- Ó Biển, . Ó Biển. Anh Dũng gọi.
- Ó Biển nghe. Đơn vị tôi bị trải thảm thất tán hết rồi.
- Bây giờ anh ở đâu?
- Đại Bàng, tôi còn ở trước cổng Bộ tư lệnh.
- Đem con cái còn lại vô gặp gia đình.
- Rõ Đại Bàng.
Sau cuộc điện đàm với Tiểu đoàn trưởng, tôi thu vén còn được mấy thằng em, dẫn nhau vào cổng.
Phòng tuyến ngăn đôi Bệnh viện 2 Dã chiến
Như một phép lạ, sau trận pháo dậy ngoài sân, đơn vị tôi chỉ hỗn loạn, chứ không thiệt hại gì cả. Khi tôi vô tới tiểu đoàn, các thằng em của tôi đã nhanh chân rút hết vào Bộ tư lệnh rồi. Thế là gia đình lại đoàn tụ. Chắc bọn Vẹm chắc mẩm đã pháo nát gọn một đơn vị rồi. Đoàn tụ gia đình vui vẻ, tôi lại được trấn ngay lên tuyến đầu, đối diện với địch. Bên trái tôi hướng về địch là Tiểu đoàn 1 và 2, bên phải tôi là Tiểu đoàn 3. Riêng Tiểu đoàn 4 có một đại đội tôi ở tuyến đầu. Chắc ông Tiểu đoàn trưởng thấy tôi thâm niên, đánh hoài, chẳng thấm hay sao đây, nên tin tưởng để tôi đối đầu với địch. Từ phòng tuyến ta qua phòng tuyến địch chi cách một sân rộng. Quan sát chiến tuyến, tôi dự đoán “điểm” của địch phải là đại đội tôi và Tiểu đoàn 3 bên phải. Tôi bố trí đơn vị và tiên liệu phương cách chống trả, nên địch mở mũi tấn kích vào đại đội tôi.
Có 2 chiến thuật địch sẽ áp dụng:
- Tiền pháo hậu xung - biển người.
- Tùng thiết Bộ binh - Thiết giáp. Đây là chiến thuật mà CS áp dụng để tràn ngập Sư đoàn 22BB trước đâỵ
Để chống lại 2 chiến thuật trên, nhất là chiến thuật 2, tôi quyết định dùng tối đa súng phóng hỏa tiển M72 và lựu đạn. Tôi rất hoang mang về tin súng M72 bắn T54 của CS không cháy. Tôi nghĩ phải thật bình tĩnh và can đảm mới diệt được bọn tăng này. Tôi chỉ thị cho cả đơn vị, nếu thấy Thiết giáp CS tiến vào, hãy can đảm, bình tĩnh chờ đợi, khi thấy thật gần cùng châu vào cả loạt cùng bắn. Một trái không lay chuyển, nhưng 3, 4 trái đồng loạt vào pháo tháp, vào hông, vào xích, tôi nghĩ bọn cán binh trong đó sẽ không chịu nổi sức nóng và sức nổ dội. Còn nếu CS dùng chiến thuật 1, thì sau khi địch dứt pháo, lựu đạn được dùng tối đa thảy ra trước phòng tuyến, nếu cần, dùng luôn M72 để chống biển người.
Tôi yêu cầu tiểu đoàn cung cấp tối đa súng M72 và lựu đạn, cùng giải thích cho binh sĩ biết rằng chỉ có một con đường sống duy nhất là phải thắng địch. Mọi mệnh lệnh của tôi phải được tuyệt đối giữ đúng. Địch chỉ qua được phòng tuyến này khi nào tôi chết.
Thăm dò tình hình địch
Khoảng xế trưa, tôi cho vài thằng con đột kích qua phòng tuyến địch. 5 thằng em lẹ làng vượt qua sân banh, chiếm ụ đất sát một căn nhà bệnh viện. 5 thằng vừa bám chân ụ, lãnh đủ pháo, hỏa lựa đổ tới, không thoát thằng nào. 2 thằng đi luôn, 3 thằng còn lại rên la cầu cứu. Tức tốc, tôi ra lệnh tiểu đội thám báo của đại đội chuẩn bị, khi nào tôi lên được ụ đất, lập tức ào lên đưa mấy thằng em về. Tôi chộp vội vàng chiếc nón sắt. gồm một nón lựu đạn, chạy ào qua sân tung lựu đạn qua bờ đất bên kia. Tiểu đội thám sát ào lên kéo hết 5 thằng về. Liệng liên tiếp mấy trái lựu đạn nữa rồi chạy lui về an toàn. Mặc dầu bị hy sinh mấy thằng em, nhưng tôi biết rõ tình hình địch.
Trận địa pháo
Trời vừa sập tối, những trái pháo lẻ tẻ, rớt bên phải, bên trái, trước, sau, rồi ngay phòng tuyến. Tôi biết bọn tiền sát địch đang điều chỉnh các khẩu đội của họ. Khi nào những trái nổ ngay tọa độ họ cần, họ sẽ giữ yếu tố để tập trung. Theo kinh nghiệm các trận hỏa pháo trước đây ít ngày, họ sẽ dùng đủ loại để thanh toán mục tiêu, từ 122 ly, 100 ly, 130 ly, 105 ly, 82, 62, cùng các loại hỏa tiển tầm nhiệt.
Ầm...ầm...ầm. Đàng trước, đàng sau, ngay giao thông hào. Tiếng đạn gào thét, khói lửa, bụi. Đúng là cơn bão lửa ập xuống đơn vị tôị một vài đoạn giao thông hào bị sụp đỗ, nghẽn đường di chuyển. Pháo địch thưa đi, tôi cầm cây M16 nhảy lên khỏi giao thông hào thét lớn: lựu đạn, quăng lựu đạn! Trước tuyến của tôi, rực lên một khối pháo bông, vừa kịp đón tiếp bọn cán binh CS trờ tới. Đầu, mình, tay, chân, máu, lửa. Hết đợt này, đợt khác chúng tràn lên. Như bây giờ thiêu thân lao vào đóng lửa. Bãi đất trống bây giờ là bãi máu xương, thịt, súng đạn bầy nhầy, trở thành một chướng ngại kinh hoàng mà bọn cán binh CS không thể vượt qua nổi nữa. Như sau mùi khói lửa, tôi cho lệnh khai hỏa M72. Ầm...ầm. Những trái hỏa tiễn chống biễn người lao thẳng vào hàng ngũ rối loạn của địch. Họ tán loạn thụt lui về vị trí phòng thủ. Thật là hãi hùng: chân, tay, thịt, xương, đầu, có chiếc mắt còn mở trừng trừng đeo lủng lẳng khắp tấm lưới để chống B40. Còn cảnh tượng nào rùng rợn hơn, kinh hoàng hơn trên thế gian này?
Tảng sáng, vài thằng em, thấy nhiều súng quá nhảy ra quơ ít cây, lãnh ngay mấy loạt AK xả tới, may không đứa nào bị. Bên này, cũng như bên kia, chỉ thoáng bóng nón cối hoặc nón sắt là có đạn bay tới rồi. Suốt ngày đó hai bên chỉ rình bắn sẻ nhaụ
Không bên nào dám động binh
Đúng như tôi tiên liệu, họ đã áp dung chiến thuật “tiền pháo, hậu xung” và đã rước thảm bại đau đớn. “Tri kỷ, tri, bách chiến, bách thắng”, mà mũi dùi chính lại ngay đại đội tôi. Thế là tôi đã lãnh ngay cái “điểm” của địch.
Thất bại trong chiến thuật 1, họ phải dùng cường lực công phá chọc thủng cho bằng được “điểm”. Thiết giáp sẽ được tung vào trận chiến, chờ coị
Tùng thiết, Thiết giáp, Bộ binh
Theo thế trận, khi dùng “tiền pháo hậu xung”, đại đội tôi là “điểm” để họ chọc thủng. Nhưng trong chiến thuật với thiết giáp bộ binh, thì Tiểu đoàn 3 bên phải tôi sẽ lãnh luôn. Vì CS chẳng ngu gì, xe tăng xếp hàng một tiến chiếm mục tiêụ Với đội hình hàng ngang, họ sẽ càn vô đè bẹp chúng tôi. Nên tôi và Tiểu đoàn 3 phải lãnh đủ. Tiên liệu mọi sự, tôi yêu cầu tiểu đoàn tăng cường thêm quân trám vào sự thiệt hại hồi đêm qua, cùng cung cấp thêm M72. Tiểu đoàn thỏa mãn mọi yêu cầu của tôi
Một đêm không trăng sao suốt đời ăn sâu vào hồn
Tối xuống thật nhanh. Cảnh kinh hoàng đêm qua nguyên vẹn còn đó. Những đôi mắt thao láo của những chiếc đầu treo lưng lẳng, còn trừng trừng trăng ngã, không nhắm lại được, vì quá kinh hoàng.
Ầm...ầm... những trái hỏa tiễn 122 ly xẹt qua phòng tuyến rớt vô Bộ tư lệnh. Phía sau tôi lãnh nhiều đợt hỏa tiễn. Và rồi đủ mọi loại pháo lại chụp xuống phòng tuyến. Lẫn trong tiếng nổ đạn pháo, tôi nghe cả tiếng đại liên. Với cây M16 tôi lên khỏi giao thông hào, quan sát trước, hai bên. Chung quanh tôi đạn nổ, đạn bay qua xéo lại, cày sới đất đá. Tôi chẳng còn cảm thấy những thứ giết người đó. Đứng giữa vùng lửa đạn, kiểm sát phòng tuyến, phòng mọi bất trắc như việc binh lính có thể sợ quá, tháo lui. Một, hai, rồi ba bốn binh sĩ đơn vị bên phải tôi trồi khỏi giao thông hào, chạy lui lại xạ Phản ứng tức khắc, nguyên băng M16 cày trước mặt tốp lính tháo lui. Cả tốp lính đơn vị bạn quay ngược lại giao thông hào chiến đấu. Mọi việc xảy ra như lằn chớp. Bây giờ tôi nghĩ đúng là số đơn vị chưa bị tràn ngập. Nếu tôi không đứng trên giao thông hào lúc đó, làm sao ai phát hiện được tốp binh sĩ sợ quá tháo lui này, để kịp thời chặn lại. Và rồi cái sẩy đã nảy cái ung rồi. Một lỗ bung nhỏ, đã làm bể con đê? Chẳng một cấp chỉ huy nào nhìn thấy hành động bé nhỏ đó cả. Chính tôi lúc đó cũng chẳng bao giờ nghĩ có được hành động quả cảm này.
Tiếp tục trận đánh. Sau khi đã đẩy lui tốp lính đơn vị bạn trở lại giao thông hào, tôi nhảy lên lô cốt Bộ chỉ huy đại đội nhìn về phía trước trận tuyến. Mặc cho đạn bay, bom nổ. Trong màn dày đặc khói lửa, tôi nhìn rõ 2 chiếc thiết giáp địch, một bên cánh phải, một đang tiến thẳng tới tuyến đơn vị tôi. Tôi chỉ kịp thét lên: xe tăng, M72! Rồi một sức mạnh vô hình nào đó, chớp lên, cùng với tiếng nổ đưa tôi lên, vật tôi xuống đất. Sau đó, như phản xạ tự nhiên, tôi quờ quạng chụp lại được chiếc nón sắt và cây M16, vụt đứng trở lại. Cùng lúc đó, tôi nghe tiếng reo hò của binh sĩ: Xe tăng cháy, xe tăng cháy! Khói lửa vẫn mịt mùng. Mọi thứ đạn vẫn đang qua xéo lại đầy màu sắc. Lúc đó ý niệm sống chết không còn ở trong tôi. Mọi hành động như là bản năng tự vệ để sinh tồn. Tôi không thể để địch tràn qua phòng tuyến này. Nhìn phía trước, tôi thấy 1 xe tăng nằm bất động trước giao thông hào khoảng 20m. Cây 100 ly trên pháo tháp nằm ngang chỉa thẳng vào lô cốt tôi đang đứng. Hắn là thủ phạm hất tôi lên vật tôi xuống. Trước khi xe tăng này bị bắn, nó đã nã trái 100 ly làm sập lô cốt. Nhưng tôi vẫn không hề hấn chi như ở trên tôi đã nói. Bây giờ, nghĩ lại phải có một bàn tay thiêng liêng vô hình che chở tôi lúc đó. Bao nhiêu bao cát tan nát sụp đổ, tôi vẫn nguyên vẹn để chiến đấu. Vẫn trơ trơ giữa vùng lửa đạn. Đó là sự thật 100%. Khó ai tin được điều đó. Chỉ có tôi bằng xương bằng thịt vẫn còn hiện diện, để nói lên sự kỳ diệu đó của đấng toàn năng che chở tôi. Tôi tin tưởng mãnh liệt như vậy. Cũng bởi đó, trận tuyến vẫn chẳng nao núng trước sự tấn công vũ bão của địch. Tôi còn, phòng tuyến còn. Lúc đó chẳng có cấp chỉ huy nào của sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn có thể nhìn thấy sự dũng cảm của một tên đại đội trưởng nhí đó cả. Tôi cam đoan điều đó.
Sau khi 2 chiếc T54 của CS Bắc Việt cháy ngay trước phòng tuyến: một trước phòng tuyến của tôi, một ở bên cánh phải của Tiểu đoàn 3. Mấy chiếc còn lại de lui chui vào mấy căn nhà để trốn, nên tránh được từng loạt M72 của chúng tôi phóng tới.
Đúng như dự liệu, mấy chiếc T54 không thể chịu nổi liên tiếp 3-4 trái M72 do binh sĩ của đơn vị đồng loạt bắn vào. Sau khi nó tặng tôi trái 100 ly, nó lãnh ngay mấy trái M72 và nằm luôn. Mấy chiếc sau chạy trốn. Trận tiến công bằng thiết giáp của CS hoàn toàn thất bại.
Cuộc chiến đấu giằng co
Sau các thất bại nặng nề của hai chiến thuật 1 và 2, CS không còn khả năng mở những cuộc tấn công lớn. Họ chỉ còn thủ. Càng ngày địch càng suy sụp và sau đó, hơn một tuần, các phi vụ A37 của Không Quân đã được gọi tới, đánh đủ mọi loại bom xuống đầu địch. Bom xăng, bom nổ, lớn nhỏ. Các phi công của A37 đánh thật can đảm và chính xác. Mặc dù phòng không của địch dầy đặc, họ đã bay thật thấp đánh thật sát. Có luc' bom lửa tràn cả vào phòng tuyến của ta. Cả tuần bị ăn bom tơi bời. hai bên đều mệt mỏi. Đêm không ngủ, ngày không ăn.
Trận quyết định
Chúng tôi biết địch quá kiệt quệ, nhưng cố bám vị trí chiến đấu. Ngày N+..., tôi được lệnh chuẩn bị yểm trợ cho Tiểu đoàn 1 và 2/44 cùng đánh vào hông địch. 2 tiểu đoàn thay nhau tấn công mãnh liệt vào từ hướng đông của Bệnh viện 2 Dã chiến. CS chống cự yếu dần, lui dần. Tôi đứng trên pháo đài nhìn rõ sự hỗn loạn của địch, rút từ căn nhà này sang căn nhà khác. Tôi báo tiểu đoàn tình hình địch. Đồng thời với cây đại liên M60, tôi khai hỏa tối đa vào hàng ngũ địch đang tháo chạy ra bìa rừng. Nòng này dơ, tôi thay nòng khác. Tội nghiệp cho bọn các binh CS, lớp chết, lớp bị thương, lớp chạy tán loạn vào bìa rừng, chui nhủi như bầy chuột.
Chúng tôi hoàn toàn kiểm soát khu Bệnh viện 2 Dã chiến.
Người chết hai lần thịt da nát tan. Đại đội tôi tiến vào một khu trong bệnh viện. Dọc theo hành lang, một cảnh thương tâm và kinh hoàng hiện ra trước mắt tôi. Tất cả thương binh của ta trước đó di chuyển không kịp đều bị CS giết sạch. Để rồi nằm đó chịu cảnh bom đạn xào qua trộn lại, chỉ còn sự hôi thúi bầy nhày. Ở đây, không phải là người chết hai lần, mà là người chết vô số lần, thịt da nát tan...
Chiến lợi phẩm
Chúng tôi đã gom cả đống súng đủ loại: AK, B40, B41, thượng liên, súng cối. Hai chiếc T54 còn nguyên vẹn đuợc thiết giáp tháo mang chạy về trưng tại Bộ tư lệnh.
Mặt trận Bệnh viện 2 Dã chiến đã chấm dứt, CS hoàn toàn tan rã, và cũng kết tthúc mặt trận Kontum của Mùa Hè Đỏ Lửa 72. Một Kontum kiêu hùng đã ghi vào chiến sử, cùng với mặt trận Bình Long, Quảng Trị.
Kết quả và lực lượng hai bên trong trận Kontum
Dựa theo tài liệu của tù binh, vũ khí, quân dụng tịch thu được, ta biết:
1. Cộng quân gồm
- 2 sư đoàn chính quy Bắc Việt: Sư đoàn 320 Thép Điện Biên, Sư đoàn 3 Sao Vàng.
- 1 chiến đoàn chiến xa nặng T54 do Liên xô sản xuất.
- Các trung đoàn sơn pháo.
- Các lực lượng địa phương.
2. Lực lượng quân đội VNCH
- Sư đoàn 23BB.
- Trung đội pháo binh diện ddịa.
So sánh lực lượng: Địch lấy 4 chọi 1. Lực lượng mạnh 4 lần này của CS đã bị đánh tan, không còn khả năng chiến đấu.
Truy kích địch
Sau khi vòng đai Kontum được giải tỏa, chúng tôi lục soát dọc quốc lộ 14 tiến về Tân Cảnh - Võ Định. Không gặp một sức kháng cự nào. Chỉ còn hoang tàn, cùng đạn dược, quân trang của Cộng quân rải rác đầy rừng núi. Dọc đường bao nhiêu hài cốt binh lính Bộ Binh, Biệt Động Quân, Dù, vẫn còn la liệt nguyên đó trong trận tràn ngập Tân Cảnh - Võ Định của Thiết giáp CS Bắc Việt vào Sư đoàn 22BB trước đó. Đủ mọi sắc áo, họ đã anh dũng chiến đấu cho tự do, cho quê hương miền Nam và đem xương máu trả nợ cho núi sông. Trước sức tấn công như vũ bão bằng chiến xa nặng của CS Bắc Việt. Họ không có vũ khí đối đầu T54. Nhưng họ đã can trường chiến đấu, chết trước xích sắt của quân địch. Chúng tôi trở lại vùng đất máu: máu thù, máu bạn. Tất cả chỉ còn là hoang tàn, chết chóc, xú uế: chim không dám bay ngang, thú không còn sống dót, cây không lá, đá không toàn vẹn.
Nhưng rồi chúng tôi được lệnh rút về Kontum. Mặc dầu chúng tôi chưa vào được Tân Cảnh - Võ Định, mà cũng chẳng gặp một tên Cộng quân nào.
Bây giờ tôi nghĩ, nếu ngày ấy thừa thắng xông lên, tại sao ta không lấy lại luôn Tân Cảnh - Võ Định để củng cố lại vùng Cao nguyên?

Một Cựu Chiến Binh VNCH
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Chiến Đoàn A TQLC và Trận Đánh Phụng Dư

Mũ Xanh Hoàng Tích Thông
Ấp Phụng Dư là một ấp nhỏ, lèo tèo vài căn nhà lá nằm dưới các hàng dừa cao vút.
Sau khi quân đội làm cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền Ngô Ðình Diệm, tình hình an ninh và chiến sự tại miền Nam Việt Nam đã xấu lại càng xấu hơn. Các tướng lãnh cầm đầu guồng máy cai trị không có khả năng chính trị mà còn quá tham vọng về ngôi vị lãnh đạo đã gây ra chia rẽ.

1. Tình hình chung:

Sau khi quân đội làm cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền Ngô Ðình Diệm, tình hình an ninh và chiến sự tại miền Nam Việt Nam đã xấu lại càng xấu hơn. Các tướng lãnh cầm đầu guồng máy cai trị không có khả năng chính trị mà còn quá tham vọng về ngôi vị lãnh đạo đã gây ra chia rẽ. Vấn đề phe nhóm kình chống nhau đã làm cho quân đội suy yếu hẵn đi, không còn tham gia tích cực vào các cuộc hành quân tiểu trừ Việt cộng như trước nữa. Thêm vào đó là việc hủy bỏ chính sách Ấp Chiến Lựợc có từ thời Ngô Ðình Diệm để thay vào bằng Ấp Tân Sinh, khiến cho các vùng nông thôn rơi dần vào sự kiểm soát của Việt cộng ngày cũng như đêm. Ðặc biệt là tại miền Trung, thuộc quân khu II tình hình thật là bi đát, chính quyền và quân đội chỉ còn kiểm soát được các quận lỵ và các làng xã nằm ven quốc lộ và tỉnh lộ. Các quận lỵ ở vùng cao nguyên như Dakto, Tân Cảnh đã bị đánh chiếm.

Trước tình hình đó, một Chiến đoàn của Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến, lực lượng Tổng trừ bị của Tổng Tham mưu, được lệnh tăng phái cho Sư đoàn 22 của Quân đoàn II mà Bộ chỉ huy đóng tại núi Bà Di, ngoại vi thành phố Quy Nhơn. Chiến đoàn vừa mới được thành lập theo nhu cầu nhiệm vụ chiến thuật, do Trung tá Nguyễn Thành Yên chỉ huy, gồm có 2 Tiểu đoàn tác chiến 1 và 2 cùng một Pháo đội 75 ly. Tiểu đoàn 1 do Thiếu tá Tôn Thất Soạn chỉ huy, và Tiểu đoàn 2 do Thiếu tá Hoàng Tích Thông đảm trách. Pháo đội 75 ly gồm 4 khẩu do Trung úy Ðoàn Trọng Cảo làm Pháo đội trưởng.

Vào tháng 4/1965 Chiến đoàn di chuyển từ sân bay Tân Sơn Nhất ra Quy Nhơn bằng máy bay C.123. Sau đó tới Bộ tư lệnh Sư đoàn 22 bằng quân xa, nhận được lệnh xong Chiến đoàn tiếp tục di chuyển tới quận lỵ Bồng Sơn để chuẩn bị tham gia cuộc hành quân giải tỏa xã Tam Quan ở về phía Bắc quận lỵ


2. Tình hình an ninh và địa thế trong khu vực hành quân:

Quận lÿ Bồng Sơn nằm trên quốc lộ 1, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 60 cây số về phía Bắc. Ðây là một quận lÿ khá trù phú và cũng là đầu mối con đường vào xã An Lão để đi lên cao nguyên Kon Tum, nên rất quan trọng về mặt chiến lược và chiến thuật. Trước năm 1954 nơi đây đã là vùng kiểm soát của Việt cộng mà quân đội Pháp đã không đánh chiếm được. Do ảnh hưởng của tình hình chính trị hỗn loạn sau 1963 nên vùng phía Bắc của Bình Ðịnh, tiếp giáp với tỉnh Quảng Ngãi thuộc quân khu I, lại càng bị Việt cộng lấn chiếm thêm. Chúng cô lập quận lÿ Bồng Sơn và cắt đứt hoàn toàn quốc lộ 1. Trong tình hình đó, Sư đoàn 22 cũng như Tiểu khu Bình Ðịnh hoàn toàn bất lực, vì không đủ lực lượng để mở các cuộc hành quân quy mô chống lại các đơn vị chủ lực của Sư đoàn 3 Sao Vàng (Việt cộng) hoạt động ở phía Bắc Bình Ðịnh, và các lực lượng địa phương, du kích ở khắp nơi nổi dậy. Ðịa thế vùng này rất hữu lợi cho Việt cộng trong việc phòng ngự và bất lợi cho ta trong việc phản công. Từ quận lÿ Bồng Sơn tới ấp An Ðỗ (Ðồi 10) giáp ranh với quận Ðức Phổ tỉnh Quảng Ngãi (Quân khu I), về phía Tây là đồi núi cao rừng dừa bát ngát. Về phía Ðông là làng mạc được bao quanh bởi những vườn dừa kéo dài ra tận bờ biển. Tại xã Tam Quan, mục tiêu của cuộc hành quân, cũng nằm trên quốc lộ, cách quận lÿ Bồng Sơn khoảng 7-8 cây số, nằm gọn trong các hàng dừa cao bao quanh nên rất khó khăn cho việc tấn công. Từ xã Tam Quan theo quốc lộ 1 đến ấp An Ðỗ (Ðồi 10) là đồng ruộng trống trải, nhất là về phía Tây. Chạy song song với quốc lộ 1 là con đường sắt nằm về phía Ðông.

Theo tin tức tình báo ghi nhận thì lực lượng của Sư đoàn 3 Sao Vàng Việt cộng vẫn còn đang nằm ẩn ở rặng núi phía Tây để chờ thời cơ thuận lợi để chiếm quận lÿ Bồng Sơn, đang được các đơn vị của 1 Trung đoàn thuộc Sư đoàn 22 do Thiếu tá Long tự Thìn chỉ huy. Còn các lực lượng địa phương và du kích trấn giữ tại các xã ấp mà chúng chiếm được.


3. Diễn tiến hành quân:

A. Nhiệm vụ

- Chiến đoàn Thủy Quân Lục Chiến sẽ giải tỏa xã Tam Quan, đồng thời quốc lộ 1 nối liền từ Bồng Sơn đến ấp An Ðỗ - đèo Bình Ðê giáp ranh quận Ðức Phổ tỉnh Quảng Ngãi (Quân khu I).
- Duy trì an ninh và giúp quận thiết lập lại chính quyền xã Tam Quan và các ấp phụ thuộc.

B. Quan niệm hành quân

Chiến đoàn áp dụng chiến thuật trực thăng vận từ sân bay Bồng Sơn xuống bãi đáp phía Nam ấp An Ðỗ và đánh chiếm Ðồi 10. Thiết lập căn cứ hỏa lực để yểm trợ tiến chiếm xã Tam Quan và giải tỏa quốc lộ 1 tới quận lÿ Bồng Sơn.

* Tiểu đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến
- Giai đoạn 1: Tiểu đoàn 2 xuất phát lúc 8 giờ sáng, xử dụng trực thăng H.21 đổ quân xuống bãi đáp Alfa cách ấp An Ðỗ 100 thước về phía Nam. Tiến chiếm ấp và đồi 10.
- Giai đoạn 2: Dưới sự yểm trợ của Pháo binh, Tiểu đoàn tiến quân hai bên quốc lộ và thiết lộ, đánh chiếm mục tiêu là xã Tam Quan cách xa 2 cây số về phía Nam.
- Giai đoạn 3: Từ xã Tam quan, Tiểu đoàn tiếp tục tiến quân về phía Nam để giải tỏa quốc lộ 1 và bắt tay với đơn vị trú đóng tại Bồng Sơn.
- Giai đoạn 4: Nới rộng và bảo vệ vòng đai an ninh xã Tam Quan, trợ giúp chính quyền xã tái cũng cố.
* Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến
Ðổ quân tiếp theo Tiểu đoàn 2 xuống bãi đáp Alfa.
- Giai đoạn 1: Tiến quân lục soát chung quanh ấp An Ðỗ và chiếm giữ đèo Bình Ðê (ranh giới giữa Quân khu I và Quân khu II).
- Giai đoạn 2: Thay thế Tiểu đoàn 2 chiếm giữ ấp và đồi 10, thiết lập căn cứ hỏa lực bảo vệ Bộ chỉ huy Chiến đoàn và Pháo đội tại Ðồi 10. Thành phần trừ bị, sẵn sàng tiếp ứng cho Tiểu đoàn 2 khi tình hình cần đến.
* Bộ chỉ huy Chiến đoàn và Pháo đội Thủy Quân Lục Chiến:
- Giai đoạn 1: Cùng với Tiểu đoàn 1 đổ quân xuống bãi đáp Alfa. Pháo đội được trực thăng câu thẳng tới chân đồi 10, sau đó di chuyển lên đỉnh đồi.
- Giai đoạn 2: Bộ Chỉ huy Chiến đoàn có thể lưu động theo các Tiểu đoàn khi tình hình đòi hỏi. Pháo đội sẵn sàng yểm trợ Tiểu đoàn 2 tiến chiếm xã Tam Quan và Tiểu đoàn 1 hoạt động trong vùng

C. Diễn tiến hành quân

* Tiểu đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến

- Giai đoạn 1: một Ðại đội dưới sự yểm trợ của trực thăng võ trang, đổ quân xuống bãi đáp Alfa lúc 8 giờ 15, vô sự, không có phản ứng của địch. Tiến chiếm bờ ấp An Ðỗ và giữ an ninh bãi đáp. Các Ðại đội còn lại tiếp tục đổ quân và hoàn tất lúc 12 giờ trưa. Sau đó Tiểu đoàn chiếm giữ ấp An Ðỗ và đồi 10 an toàn.

- Giai đoạn 2: Tiểu đoàn 2 rời khu vực chiếm giữ lúc 3 giờ chiều, sau khi Tiểu đoàn 1 và Bộ Chỉ huy Chiến đoàn cùng Pháo đội hoàn tất đổ quân, để tiến về mục tiêu ấn định là xã Tam Quan. Tiểu đoàn tiến quân bằng hai cánh theo quốc lộ 1: Cánh A gồm Bộ chỉ huy Tiểu đoàn và 2 Ðại đội ở phía Ðông. Cánh B với 2 Ðại đội còn lại do Tiểu đoàn phó chỉ huy ở phía Tây. Trên đường tiến quân không gặp sức kháng cự nào của địch vì địa thế trống trải, quan sát dễ dàng. Nếu có chạm địch là lúc đột nhập vào xã Tam Quan, nhưng kết quả vô sự. Tình hình dân chúng, tuy có thưa thớt nhưng vẫn bình tĩnh làm ăn, đi lại không có vẻ gì là sợ sệt. Tiểu đoàn tiến vào trung tâm xã lúc 4 giờ chiều, Bộ chỉ huy tạm đóng quân tại nhà hộ sinh (đã bỏ trống từ khi Việt cộng chiếm Tam Quan). Một Ðại đội bố trí chung quanh để bảo vệ Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Ba Ðại đội còn lại tiếp tục tiến quân về phía Nam. Ðại đội 3 Thủy Quân Lục Chiến do Ðại úy Nguyễn Năng Bảo chỉ huy, tiến quân dọc theo quốc lộ 1 về phía Bồng Sơn. Ðại đội 4 do Ðại uý Ngô Văn Ðịnh chỉ huy, tiến quân ở phía Tây quốc lộ và chiếm giữ một cao địa ở phía Tây Nam ấp Phụng Dư (cách Bộ chỉ huy Tiểu đoàn khoảng 7-8 trăm thước). Ðại đội 1 do Ðại úy Phạm Nhã chỉ huy tiến quân về phía sau ấp Phụng Dư và bố trí ngừng quân lúc 6 giờ chiều. Trên đường tiến quân, Ðại đội 3 đã chạm địch ở phía Tây Nam ấp Phụng Dư khoảng 400 thước, phải ngừng lại và tất cả được lệnh đóng quân đêm. Khi được báo cáo Ðại đội 3 chạm địch thì Bộ chỉ huy Tiểu đoàn quyết định rời vị trí tới địa điểm đóng quân của Ðại đội 1 lúc 6 giờ 30 chiều để quan sát tình hình. Riêng Ðại đội 2 của Ðại úy Hai (tức Hai Chùa) kiêm nhiệm chức vụ Tiểu đoàn phó đóng quân tại chỗ. Tình hình yên tĩnh cho tới quá nửa đêm.

Lúc 1 giờ khuya, Việt cộng áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung. Khởi đầu là hàng loạt súng cối 82 và 60 ly được bắn tập trung vào trung tâm vị trí đóng quân. Một trái đạn mở màn đã nổ ngay đầu hồi nhà, gần ngay chỗ Tiểu đoàn trưởng và cố vấn Mỹ ngủ. Mảnh đạn làm xì hơi tấm nệm cao su lót nằm nhưng không gây thương tích cho cả hai. Tiếp đó súng của hai bên nổ ran, hướng tấn công chính của địch là từ phía Tây tới.

Ấp Phụng Dư là một ấp nhỏ, lèo tèo vài căn nhà lá nằm dưới các hàng dừa cao vút. Với địa thế không lấy gì làm thuận lợi cho việc phòng thủ nên Ðại đội đã cố gắng làm một phòng tuyến với giao thông hào bao quanh, dù đã quá mệt nhọc. Do đó hàng đợt tấn công xung phong của địch đều liên tiếp bị đánh bật ra.

Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn đã liên lạc báo cáo với Bộ chỉ huy Chiến đoàn và điều chỉnh Pháo binh từ đồi 10 bắn yểm trợ. Có điều cần biết là súng 75 ly chỉ bắn xa tối đa là 9 cây số nên chỉ yểm trợ được ở phía Bắc vị trí mà thôi. Ðể bù vào chỗ thiếu sót đó, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ra lệnh cho Ðại đội 4 ở phía Tây Nam xử dụng cối 60 ly và đại liên 30 bắn yểm trợ về sườn phía Tây của tuyến phòng ngự, và cũng là mũi tấn công chính của địch. Ðồng thời cũng ra lệnh cho Ðại đội 2 ở phía Bắc và Ðại đội 3 ở phía Nam chuẩn bị di chuyển để tăng viện.

Cuộc tấn công của địch vào Bộ chỉ huy Tiểu đoàn và Ðại đội 1 vẫn tiếp diễn. Hỏa lực địch ngày càng mạnh, kể cả súng cối và hỏa tiễn B.40, B.41 mà địch mới xử dụng ở chiến trường miền Nam, phòng tuyến ta có lúc muốn bị chọc thủng. Trong khi đó thì hỏa lực của ta chỉ bao gồm súng trường M.1, trung liên BAR, đại liên 30, súng phóng lựu, súng cối 81, 60 và 57 ly không giật. Vào khoảng gần sáng thì Ðại đội trưởng Ðại đội 1 báo cáo là đạn gần cạn và yêu cầu Tiểu đoàn tăng cường Tiểu đội bảo vệ của Bộ Chỉ huy và khẩu đại liên 30 sang phòng tuyến phía Tây. Tình hình có vẻ hơi nao núng mà cường độ tấn công của địch vẫn không sút giảm. Vào lúc rạng sáng thì Ðại đội 3 của Ðại úy Bảo tiến tới vị trí của Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn và Ðại đội 1. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ra lệnh cho Ðại đội 3 cùng với Ðại đội 1 phản công vượt qua phòng tuyến tiến đánh địch. Cùng lúc thì Ðại đội 4 cũng được lệnh tiến quân vòng lên phía Tây Bắc để chận địch rút lui. Ðại đội 2 ở phía Bắc tiến theo hướng Tây Nam để khóa chặt vòng vây.

Trước khí thế phản công mãnh liệt của ta, địch rút chạy, nhưng chỉ có một số ít thoát được, còn lại đa số chạy ẩn núp vào một ruộng mía ở trước phòng tuyến và một giao thông hào từ hướng Tây chạy tới mà chúng xử dụng để tiến sát vào vị trí đóng quân. Tất cả đã không chịu đầu hàng và đều bị hỏa lực của ta tiêu diệt gọn. Khi trời vừa sáng rõ thì trận đánh chấm dứt. Quan sát phòng tuyến thì có những thi thể Việt cộng nằm chết trước phòng tuyến khoảng 3-4 thước, còn dưới giao thông hào và ruộng mía thì địch nằm chết ngổn ngang.

Kết quả sau 5 tiếng đồng hồ chiến đấu dũng cảm, trước sức tấn công dồn dập của Trung đoàn thuộc Sư đoàn 3 Sao Vàng địch, Tiểu đoàn, đặc biệt là Ðại đội 1 Thủy Quân Lục Chiến đã chiến thắng vô cùng xuất sắc, chỉ bằng hỏa lực của đơn vị và dưới sự yểm trợ duy nhất và ít hữu hiệu của Pháo binh Chiến đoàn vì tầm xa hạn chế và sức công phá không đủ mạnh. Một tiếng đồng hồ sau khi trận đánh chấm dứt thì Bộ Chỉ huy Chiến đoàn và Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến (-) cũng được điều động tới. Sau đó thì Tư lệnh Sư đoàn 22 khi đó là Chuẩn tướng Nguyễn Thanh Sằng tới thăm. Vào buổi chiều thì Tướng Nguyễn Hữu Có, Tư lệnh Quân đoàn II từ Pleiku xuống quan sát chiến trường rồi phát biểu là một đơn vị đóng quân ở một vị trí như vậy mà chiến thắng được địch quả là đáng khen.

Tổng kết trận đánh thì địch đã bị loại ngay tại trận khoảng 150 tên, bắt sống trên 10 tên, vũ khí tịch thu khoảng 100 khẩu đủ loại, bao gồm cá nhân và cộng đồng. Về phía Tiểu đoàn thì sự thiệt hại hầu như quá nhẹ so với địch, điều mà không ai có thể tin được, chỉ có 4-5 binh sĩ bị tử thương, số bị thương khoảng 10 người, vũ khí bảo toàn.
Ðại úy Ngô văn Ðịnh và Ðại úy Nguyễn năng Bảo tại Phụng Dư
Sau khi thu dọn chiến trường, các Ðại đội được tiếp tế đạn dược đầy đủ, các binh sĩ bị thương và tử thương được đưa về bệnh viện Quy Nhơn thì Tiểu đoàn được phối trí lại để sẵn sàng ứng phó với một cuộc tấn công khác của địch để chúng lấy lại xác của những tên Việt cộng đã chết mà đồng bọn không mang đi được.

Bộ chỉ huy Tiểu đoàn vẫn trú đóng với Ðại đội 1, nhưng được tăng cường phòng thủ bởi Ðại đội 2. Còn hai Ðại đội 3 và 4 di chuyển về vị trí cũ để chuẩn bị làm nhiệm vụ kế tiếp là giải tỏa quốc lộ về tới Bồng Sơn. Sau chiến thắng này, tinh thần binh sĩ lên rất cao. Ðúng như dự đoán, gần nửa đêm thì địch tấn công lại, nhưng lần này cường độ không mạnh lắm trước sự phòng thủ chặt chẽ của Tiểu đoàn. Khoảng 15-20 phút tấn công không kết quả, địch vội vã rút lui. Về sau theo tin tức ghi nhận được thì đợt tấn công sau địch chỉ có mục đích duy nhất là lấy lại xác đồng bọn, trong đó có một vài cán bộ chỉ huy cao cấp. Những ngày sau đó, Tiểu đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến hoàn tất nhiệm vụ kiểm soát xã Tam Quan và giải tỏa quốc lộ 1 từ quận lÿ Bồng Sơn tới đèo Bình Ðê và duy trì an ninh yểm trợ chính quyền cũng cố lại cơ sở xã ấp. Từ đó cho đến ngày Chiến đoàn rời khỏi khu vực hành quân thì không còn một trận đánh quy mô nào xảy ra nữa.


Nhận định:

Sau khi trận đánh kết thúc, kiểm điểm lại thì thấy sự chiến thắng của ta rất đáng khích lệ, vì sự thiệt hại của Tiểu đoàn rất nhẹ, trong khi địch bị thiệt hại nặng nề. Trung đoàn Sao Vàng của Việt cộng gần như tê liệt, phải mất một thời gian dài mới hoạt động lại được. Sự chiến thắng này không những làm cho tinh thần chiến đấu của quân nhân trong binh chủng lên cao mà còn tạo cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa được tin tưởng hơn trong lúc tình hình an ninh của toàn lãnh thổ miền Nam đang ở trong tình trạng bết bát qua các trận: Bình Giả (thuộc tỉnh Phước Tuy - Quân khu 3) vào cuối năm 1964, trận chiếm lại Tân Cảnh đưa tới việc mất quận lÿ Dakto, đồn Ðức Cơ thuộc Lực Lượng Ðặc Biệt ở biên giới Việt Miên, quận Phú Bổn bị bao vây cô lập và 2 tỉnh lộ: 19 nối liền Pleku với Quy Nhơn, 22 nối liền Ban Mê Thuột với Nha Trang bị cắt đứt... Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến nói chung và Tiểu đoàn 2 nói riêng đều đã có mặt trong các cuộc hành quân giải tỏa đó.

Một yếu tố không kém phần quan trọng đã đem lại sự chiến thắng là tình báo địch theo dõi hoạt động của Tiểu đoàn không chính xác. Chúng yên trí là chỉ có một Ðại đội đóng quân đêm ở ấp Phụng Dư, chứ không theo dõi lúc Bộ chỉ huy Tiểu đoàn di chuyển tới vị trí của Ðại đội 1 khi nhận được báo cáo Ðại đội 3 đã chạm địch. Do đó hệ thống phòng thủ của Ðại đội 1 đã được thay đổi, chủ lực được chuyển qua tuyến phòng ngự ở mặt Tây, nơi có địa hình thuận lợi cho việc tấn công. Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn và các thành phần yểm trợ như Trung đội súng cối 81 ly, Tiểu đội bảo vệ, Tiểu đội Truyền tin bố trí về phía Ðông. Khi địch mở cuộc tấn công, đúng như dự đoán, chúng đã gặp ngay sức kháng cự mãnh liệt của ta, dù đã tung ra nhiều đợt xung phong 4-5 tiếng đồng hồ. Ngoài ra địch cũng không ngờ các Ðại đội khác trong kế hoạch phối trí yểm trợ hổ tương của Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn kéo về tiếp ứng, và Ðại đội 1 đã xữ dụng súng cối 60 ly và đại liên 30 bắn vào sườn địch rồi cùng với Ðại đội 2 khóa chặt đường rút lui về phía Tây của địch, khiến chúng tháo chạy không kịp mang theo đồng bọn chết và bị thương. Một số lớn bị bao vây mà không chịu đầu hàng đã bị hỏa lực ta tiêu diệt.

Qua chiến thắng này cũng như những cuộc đụng độ sau đó, trận đánh tại ấp Phụng Dư xã Tam Quan đầu năm 1965 là một chiến tích đẹp nhất của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến nói chung cũng như của Tiểu đoàn 2 nói riêng. Vì vậy Tiểu đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến đã được địch gắn cho danh hiệu Trâu Ðiên, vì mỗi lần đụng độ là Tiểu đoàn chỉ có tiến tới, bất kể hỏa lực và bố trí phòng ngự kiên cố của địch. Nói một cách khác là trong thời gian phục vụ cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tôi thấy Tiểu đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến chưa lần nào chiến bại trước quân thù cả. Riêng cá nhân tôi, trải qua bao nhiêu chiến trận, từ cấp Ðại đội cho tới Lữ đoàn, tôi rất hài lòng với trận đánh Phụng Dư của Tiểu đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến và đó cũng là kỷ niệm đẹp, oai hùng nhất trong cuộc đời quân ngũ của tôi. Xin dành một phút để tưởng nhớ tới những chiến binh đã hy sinh anh dũng trong chiến trận đó.

Mũ Xanh Hoàng Tích Thông
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Tình Anh Lính Chiến Biệt Động

Nguyễn Khắp Nơi
Chồng sắp cưới của em tên Tốt, ảnh với anh Thân ở cùng xóm với em.
Lớn lên, ảnh thương em, đòi ba má ảnh qua nhà em xin cưới.
Em thấy ảnh tảnh tình hổng có hạp với em nên không chịu, nhưng ba má ảnh cứ đeo theo em nói riết hà, anh Tốt cũng theo em hoài, luôn hai ba năm trời như vậy đó, làm cho em cũng thấy tội nghiệp ảnh.
Cuối cùng, em suy nghĩ, thấy mặc dù hổng hạp, nhưng ảnh cũng có thành tâm, nên em chịu lấy ảnh.

Bữa làm đám nói, em có rao trước với ảnh rằng:
“Anh quen tui từ nhỏ, anh biết tánh tui rồi, tui nói gì thì tui làm cái nấy. Anh nói thương tui bảo bọc được đời của tui thì tui chiụ. Nhưng hễ tui thấy anh làm hổng đúng như vậy, tui . . .bỏ anh liền đó.”
Anh Tốt thề sống thề chết là sẽ yêu thưong lo lắng cho em suốt đời, ba má ảnh cũng chịu làm chứng, nên em chịu làm đám cưới với ảnh.
Nhà em ở bên sông, nhà ảnh ở bên chợ, nên bữa đám cưới, nhà ảnh rước dâu bằng ghe.
Ảnh với em và đám bạn bè ngồi chung một chiếc ghe chèo đi trước, phía nhà trai một chiếc, nhà gái một chiếc đi theo sau.
Bạn bè em ai cũng chúc mừng em lấy được chồng xứng đôi, biết thương mình.

Đoàn ghe cưới chèo đi ngon lành, sắp tới nhà trai rồi, hai bên bờ bà con lối xóm đứng tụ dài dài coi đám cưới, vui lắm.
Tài công sửa soạn tấp ghe vô, anh Tài lo đốt pháo mừng, tụi bạn bè em phần vui vẻ, phần sợ pháo rơi trúng cháy quần áo, nên chộn rộn đứng lên đứng xuống.
Ngay lúc đó, có một chiếc ghe máy chạy ngang, chiếc ghe lớn mà lại chạy mau nữa nên làm sóng lớn đánh ào lên ghe cưới, nước lọt vô tùm lum, chiếc ghe muốn lật. Tụi em la hoảng quá chừng, kiếm đồ múc nước ra, nhưng ghe đám cưới đâu có đồ múc nước, lính quýnh một hồi, chiếc ghe bị lật luôn.
Tụi em đều là dân quê, đứa nào cũng biết lội, nhưng mấy đứa con gái tụi em bữa đó hổng làm sao mà lội hết mình được, vì đứa nào cũng bận áo dài gài bông đeo nữ trang tùm lum hết. Phần em còn nhiều hơn nữa, có đôi khoen tai má em mới cho, lại chiếc cà rá đám nói rộng rinh muốn sút nên em hổng dám đụng mạnh, chỉ ráng thả nổi chờ có ai cứu. Em nghe trên bờ người ta đứng coi la lối chỉ chỏ um xùm:
“Cô dâu bị chỉm, cô dâu bị chìm, cứu cô dâu cho mau . . .”
Em thấy anh Tốt đang lội ở đằng trước, em la lên:
“Anh Tốt, cứu em . . .”
Ãnh dòm lại thấy em đang chới dới mà ảnh làm như hổng thấy em hổng nghe tiếng em kêu, ảnh cứ lội riết vô bờ.
Đám con gái tụi em ráng đập tay đập chân, đứa nào cũng la cầu cứu om xòm. Em đưa tay lên ngoắc anh Tốt một lần nữa, la thiệt lớn:
“Anh Tốt . . . Cứu em . . . Em lội hổng nổi, bị chìm rồi nè . . .”
Em há miệng lớn quá, bị nước vô miệng hụt hơi chìm luôn, thôi chết cho rồi.
Bất ngờ, em thấy có bàn tay của ai đó kéo em lên, rồi ôm lấy em mà lội vô bờ.

Lên tới bờ, em muốn xỉu nhưng cũng ráng dòm coi anh Tốt ở đâu? Coi ảnh có bị gì hông?
Em thấy anh đang đứng trên bờ lo cởi giầy cởi áo lau người thì cũng đỡ lo.
Bà con lối xóm đi coi thấy em được cứu, người ta mừng quính, la lên:
“Cô dâu được cứu rồi . . . Cô dâu xỉu rồi, mau đem vô nhà đám cứu tỉnh . . .”
Lúc đó ghe hai bên nhà trai nhà gái cũng cặp bến được rồi, ông bà già ảnh cũng nhào lên, đỡ em vô nhà đám.
Ba má em lo đi lấy khăn quấn cho em, kiếm quần áo khác cho em thay, hỏi em có sao hông?
Bà con chòm xóm cũng bu lại hỏi thăm em.
Em chờ hoài mà hổng thấy anh Tốt đâu hết trơn, làm em tủi thân, em khóc quá chừng.

Chuyện chèo ghe chìm xuồng ở xứ này, bữa nào cũng có, nhưng em thấy rõ ràng anh Tốt không có lo cho em, ảnh chỉ lo cho mình ên ảnh thôi.
Chính cái miệng ảnh nói sẽ lo cho em suốt đời, vậy mà thấy em bị chìm xuồng, bỏ luôn hồng thèm cứu; đã vậy, em lên tới bờ cũng hổng thèm chạy lại hỏi thăm coi em có bị gì hông?
Người gì mà ác nhơn ác đức quá trời đi. hỏi sao em không buồn cho được.
Một hồi sau, cả hai gia đình tụ tập lại hết rồi, anh Tốt cũng đã thay đồ mới rồi, lúc đó ảnh mới tới hỏi thăm em.
Em có hỏi ảnh:
“Anh có thấy tui bị chìm hông? Anh có nghe tui kêu anh cứu tui hông?”
Ảnh trả lời tỉnh như không:
“Anh thấy, nhưng nghĩ rằng em biết lội, tự lội vô bờ được, đâu cần anh lo đâu!
Mà hồi sau cũng đã có mấy người nhảy xuống cứu em đưa lên bờ rồi nên anh mới lo đi thay đồ đặng lát nữa làm đám cưới tiếp...
Sao em không đi thay đồ đi mà còn ngồi đó, để trễ giờ rồi.”
Em giận quá chừng là giận, nói với ảnh:
“Anh lo cho tui cái kỉểu đó đó hả? Anh đã hổng cứu tui, giờ còn bắt lỗi tui sao hổng đi thay đồ hả?
Nếu không có người ta cứu tui, tui chết chìm rồi, lấy ai cho anh làm đám cưới...”
Em vô trong nhà thay đồ, lấy bộ đồ thường ra bận, chứ hổng chịu bận đồ mới.
Tới khi ba má ảnh đứng lên chào bà con rồi kêu em ra lạy bàn thờ ông Tổ, em một mình đứng lên nói với ba má ảnh và ba má em nói với chòm xóm:
“Thưa ba má, các bác các dì, bữa nay là đám cưới của con với anh Tốt. Hồi làm đám nói, con có thưa với ba má và anh Tốt, ảnh phải bảo bọc được đời con thì con mới ưng ảnh. Bữa nay, con bị chìm xuồng, con kêu ảnh cứu con, ảnh hổng thèm cứu con, lo lội lên bờ mình ên. Tới khi con được cứu lên bờ rồi, ảnh cũng hổng thèm tới thăm, dòm ngó coi con còn sống hay chết.
Hên là con được người ta cứu, chứ nếu không, con chết mất rồi, đâu còn đứng đây mà làm đám cưới.
Cũng hên là con thấy cái bản mặt của ảnh ra sao[chân diện mục] trước khi làm đám cưới.
Người như ảnh, làm sao lo cho con, bảo bọc được đời con?
Con xin ba má hai bên, bỏ qua cái đám cưới này đi.”
Em day qua anh Tốt, nói với ảnh:
“Anh Tốt, bữa đám nói, anh hứa lo cho tui, bảo bọc đời tui. Vậy mà bữa nay, tui bị chìm xuồng, anh lo mình ên anh, hổng thèm cứu tui, cũng hổng thèm dòm coi tui sống chết ra sao. Tui . . . hổng lấy anh nữa đâu.
Nè, cà rá của anh nè, tui trả lại cho anh đó.”

Em nói một hơi, anh Tốt đứng xụi lơ, ba má ảnh cứng họng ngồi một đống, hổng nói được một tiếng.
Tới khi thấy em trả lại cái cà rá, ổng bả hoảng quá, chạy lại ôm em, khóc:
“Con ơi, con thương ba má đi, ai đời đám cưới mà nói gì tùm lum vậy.
Vợ chồng có gì mai mốt đóng cửa chỉ biểu nhau, làm gì mà con làm dữ vậy con.
Thôi con bớt giận đi, làm đám cưới cho rồi đi!”

Ba má em thấy em đứng sững, hổng thèm trả lời ba má ảnh. Ổng bả hổng hiểu cho em còn nổi giận la em:
“Mày dám từ hôn bữa nay hả? Thằng Tốt nó thấy mày được cứu rồi thì nó lo đi thay đồ chứ còn gì nữa mà bắt lỗi nó.
Mày mà hổng chịu làm đám cưới bữa nay, tao . . .từ mày luôn đó!”
Em hổng nói gì thêm, xá ba má ảnh, ba má em rồi bỏ đi về.
Bà con lối xóm bu theo em, người thì nói em có lý, chồng cỡ đó bỏ đi là phải, người thì nói em xui xẻo quá. . . tùm lum hết.
Em cứ lặng thinh bỏ đi một nước.

Đang đi, chợt em thấy mặt thằng Thìn, em mới hỏi nó:
“Mày có thấy hồi nãy. . . ai cứu tao hông?”
Thằng Thìn chỉ người con trai đứng kế bên, đang cởi cái áo lính vắt nước cho khô:
“Thằng này nè.”
Em nhìn người con trai, xụp xuống lạy ảnh một lạy:
“Tui thiếu anh một mạng đó.”
Rồi đứng lên đi ra bờ sông kiếm ghe về nhà.

. . . . . .
Kể tới đó, Lan nắm tay Hải, cười như mắc cở.
Hải tiếp lời vợ:
“Thiếu úy biết hông, bữa đó, tiểu đoàn được về hậu cứ nghỉ, cho đi phép 24 tiếng. Em về Cần Thơ hổng kịp nên đi theo thằng Thìn về nhà nó chơi.
Về tới nhà, ba má thằng Thìn cho hay bữa nay con Lan kế bên làm đám cưới. Thằng Thìn nói với em:
“Vậy là trúng mối rồi, tao với mày đi. . . ăn ké cho vui.”
Nó dẫn em ra bờ sông, dòm nhà trai nhà gái rước râu bằng ghe, cũng ngồ ngộ.
Đang coi thì thấy có chiếc ghe máy chạy ngang, làm sóng lớn lật chìm luôn chiếc ghe cô dâu.
Em thấy người ta bị té dồn cục dưới nước, lội lủm chủm, có người lội không nổi, muốn chìm, em kêu thằng Thìn:
“Mau cứu người ta, cởi giầy ra lẹ lên. . .”

Em và thằng Thìn nhào xuống sông lội một hơi, thấy một cô coi bộ muốn chìm lỉm, em lội tới đỡ đưa cô vào bờ rồi lội trở ra phụ thằng Thìn cứu thêm người khác.
Tới khi tất cả đã được cứu rồi, tụi em mới lên bờ, cởi áo cởi vớ lau mặt lau người chờ khô. Đang đứng xớ rớ, tự nhiên có một ai đó tới kế bên xụp xuống lạy em một lạy, làm em hoảng quá, nhẩy nai, hổng hiểu chuyện gì hết?
Khi cô đó đi rồi, thằng Thân mới cho em hay:
“Mày hổng nhớ hả? Con nhỏ đó là . . .cô dâu đó. Nó bị chìm xuồng, chính mày cứu nó đưa vô bờ đó. Thằng rể cũng bị chìm xuồng cùng với cô dâu, nhưng lo lội vô bờ mình ên, hổng lo cho nó, nó tức quá, lên tới bờ, nó . . .từ hôn, hổng thèm lấy thằng đó nữa.
Nó mới đi ngang, hỏi tao ai cứu nó? Tao chỉ mày, nên mới xụp lạy mày cám ơn cứu mạng đó.”

Quần áo khô đỡ rồi, tụi em thả bộ ra chợ ăn uống đầy một bụng, tính đi về nhà thằng Thìn ngủ một giấc, ngày mai đi trình diện tiểu đoàn, lội tiếp.
Về ngang qua chòm cây gần bờ sông, thằng Thìn chợt thấy có bóng người đang ngồi chu hu dựa gốc cây. Nó thọc cùi chỏ em:
“Giờ này mà còn ai ngồi bờ sông coi bộ buồn hiu dzậy! Tới coi coi. . .”
Tới gần, thằng Thìn dòm cô gái một hồi, cái mặt nó cũng buồn hiu, nói nhỏ với em:
“Coong nhỏ Lan chớ ai, con nhỏ cô dâu hồi sáng đó.
Chắc nó đang buồn vì đám cưới của nó hổng xong nên mới ra đây ngồi đó.
Mình tới nói với nó vài tiếng cho nó đỡ buồn đi, chứ để nó buồn, nó dám . . .nhảy sông chết, uổng công mày cứu nó hồi sáng.”
Tụi em tới nơi nói chuyện, Lan dòm thằng Thân một cái rồi dòm tiếp ra mé sông, hổng muốn nghe mà cũng hổng trả lời trả vốn gì hết.
Một hồi sau Lan mới nói tâm sự của mình ra: buồn vì tưởng lấy được người chồng xứng đáng bảo bọc được cuộc đời của mình, ai dè đụng chuyện mới biết anh ta chết nhát chỉ biết lo cho thân mình.

Lan buồn vì tình duyên mắc cở với chòm xóm, lại bị cha mẹ từ, cô muốn bỏ xứ mà đi cho rồi nhưng lại sợ ba má buồn nên hổng biết làm sao.
Em mới khuyên Lan:
“Cô đừng có buồn ba má. Tại ba má cô thương cô, lo cho tương lai của cô vậy thôi.
Ai cũng có số mạng, biết đâu sau này anh Tốt suy nghĩ lại, sẽ biết thương biết lo cho cô.”
Lúc đó Lan mới ngó qua em, hỏi em:
“Anh là ai... mà bữa nay đi ngang đây dzậy?
Anh hổng quen hổng biết gì tui, khi không nhảy xuống cứu tui . . .chi dzậy?
Anh coi bộ . . .gan cùng mình đó.
Hồi nãy, tôi có . . .xá cám ơn anh rồi đó, anh nhớ hông?”
Em trả lời Lan:
“Thấy ai bị nạn thì mình cứu, đâu có cần quen biết gì đâu.
Đánh trận với Việt cộng, sống chết mỗi ngày mà tui còn hổng ngán thì nhằm nhò chi mấy cái lẻ tẻ cứu người đó mà cô phải cám ơn tui. . .
Kế đó, em mới nói cho Lan biết em tên gì ở đâu...
Em nói một hồi, hổng biết nói gì thêm, ngồi lặng thinh.
Lan nghe tới hết, cũng ngồi làm thinh.
Thằng Thìn chạy đi đâu mất tiêu, chỉ còn em với Lan ngồi đó.
Lan ngồi một hồi, ngó lên nhìn em, vui vẻ cười nói:
“Ngộ há! Anh dám nhảy xuống sông cứu tui, lại nói . . .nhằm nhò chi.
Tui. . . phục anh thiệt đó.
Bộ anh hổng có biết ba má anh là ai hết hả? Buồng quá dzậy!
Sao hổng. . . lấy dzợ đi, có người lo cho anh?”
Em cũng cười lớn, nói với Lan:
“Tui như cục đá từ trên trời rớt xuống, hổng có bà con, hổng có cha mẹ gì ráo. . .
Cái mạng cùi của tui, tui còn lo hổng xong, nói chi tới lấy dzợ. Tui bây giờ là . . .Tứ Hải Giai Huynh Đệ, đâu cũng là nhà, có mấy thằng bạn lính là dzui rồi, hổng cần gì khác hết.”
Hai đứa cùng cười thiệt là vui. Lan lại ngồi bó gối suy nghĩ một hồi nữa, chợt nói với em:
“Anh Hải à, tui. . . thiếu anh một mạng, mà tôi cũng. . . phục anh lắm.
Anh mới là người có thể bảo bọc cho đời tui . . .
Tụi . . .chịu anh đó . . .
Anh . . .chịu . . . tui hông?”
Em nghe cổ nói, mới dòm kỹ lại cổ. Lan coi bộ trắng trẻo, dễ thương. . .
Mà cổ coi bộ cũng là. . . thứ thiệt, dám nói dám làm.
Hổng ưa ai thì dám nói hổng ưa mà thương ai thì cũng dám nói là thương.
Em chịu thứ con gái như vậy, chứ hổng thích cái thứ nhỏng nhẽo làm chảnh.
Em dòm Lan, nắm tay Lan, từ từ nói:
“Tui có mình ên, không bà con chòm xóm, cuộc đời chưa biết đi về đâu, Lan dám . . .chịu tui hả?”
Lan cũng nắm lấy tay em, nói:
“Em phục ai thì lấy người đó. Anh là người hổng nói nhưng mà dám làm. Em chịu anh là như vậy đó.”
Em vẫn còn ngại ngùng, nói với Lan:
“Anh hổng có ba má đứng làm đám cưới, ba má em. . . có chịu hông?”
Lan nhìn em, trả lời liền:
“Hễ mình thương nhau là có ông Trời chứng giám. Mấy cái chuyện nhỏ đó, để em lo cho.”
Vậy là tụi em hứa với nhau.
Lan dẫn em về ra mắt ông bà già:
“Thưa ba má, đây là anh Hải, người cứu con hồi sáng.
Tụi con gặp nhau, nói chuyện với nhau hạp lắm, rồi tụi con. . . thương nhau. Con muốn . . . lấy ảnh.”
Ba má Lan cùng với bà con đã mời dự đám cưới hồi sáng đã tụ tập về nhà đông đủ, chưng hửng nhìn tụi em.
Một hồi sau, ba má Lan mới nói:
“Mới hồi sáng đây, mày từ hôn với thằng Tốt, giờ đem đứa khác về đây đòi cưới?
Bộ tụi bay quen biết với nhau trước, rồi . . .dàn cảnh chọc tức ba má hay sao đây? ”
Hai đứa em ngồi xuống nói chuyện với ba má suốt buổi chiều.
Anh Hải thưa ngày mai sẽ về Tiểu đoàn làm đơn xin cưới vợ. Chừng nào được phép, sẽ tổ chức đám cưới, mời ba má bà con lối xóm.
Ba má em hổng biết làm sao nhưng thấy anh Hải hiền lành dễ thương, có gan cứu tử em thì ba má em cũng đành chấp nhận.
Sẵn đồ ăn tiếp nhà trai còn dư hồi sáng, ba má em dọn ra, mời bà con . . .ăn cưới luôn, vui hết sức vậy đó.
Sẵn ba má em đang vui, em cũng xin ổng bả cho em theo anh Hải về đơn vị xin chỗ ở, mai mốt được cấp nhà ở, sẽ làm đám cưới luôn.
Em đưa Lan về nhà dượng Há, dượng của Lan, và cũng là Tiểu đội trưởng của tụi em, đặng nhờ ổng giúp đỡ.
Vừa mới bước vô, dượng Há nắm cứng lấy hai người lính, giọng nói lạnh tanh:
“Tụi bay đi đâu mà tao kiếm quá trời hổng ra. Tiểu đoàn phải đi hành quân gấp, đang cho Quân cảnh đi kiếm hết tụi bay về đó, vô trại với tao liền đi. Còn con Lan, sao mày lại đi chung với hai cái thằng trời đánh này?”
Lan nghe ông dượng la lối om xòm, hoảng quá, vội vàng chỉ em nói với dượng:
“Dượng à, anh Hải . . .là chồng mới của con đó.
Con . . .ưng ảnh, ba má con cũng chịu rồi, tụi con tới gặp dượng đặng nhờ dượng làm đơn xin phép cho ảnh làm đám cưới với con đó.”
Dượng Há đứng chết trân dòm hai đứa tụi em.
Dì Há nghe la lối, cũng ở phía sau chạy lên.
Khi nghe Lan nói, dì Há cũng đứng chắp tai sau đít dòm hai đứa tụi em, rồi cười nói:
“Hai đứa tụi bay như dzầy mới xứng. Chứ mày lấy cái thằng Tốt gà chớt đó mà coi sao cho đặng!”
Dượng Há lúc giờ mới chêm vô:
“Thấy ghe bay bị chìm, tao cũng có nhảy xuống cứu bay, lên tới bờ, nghe mày từ hôn thằng Tốt, tao . . .chịu lắm.
Thằng chồng gì mà thấy con vợ bị chìm, sợ chết hổng dám cứu, lên tới bờ cũng hổng thèm dòm.
Thứ chết nhát đó, đem bỏ trôi sông cho rồi chớ lấy làm chồng sao được.
Khi thấy mày đi dzìa, tao thấy cái đám cưới coi như là hổng có nữa, nên tao cũng dắc dì mày đi dzìa luôn.
Thằng Hải trọc này thì được lắm,
nhưng mà nó đâu có bao giờ đi cua gái đâu, mà cũng hổng phải dân Bạc Liêu mình, sao mà mày . . .dzớc được nó hay dzậy?
Mà thôi, trễ giờ rồi, xe GMC sắp lại đây rồi đó, tụi bay vô trại hết đi, mai mốt gặp ông Thiếu úy Nam, muốn gì thì nói dzới ổng.”

Em nghe ổng hối, không biết tính làm sao:
“Nhưng mà còn con dzợ của con đây, con đâu biết để nó ở đâu bây giờ?”
Dượng Há cũng hổng biết làm sao, gấp quá rồi:
“Thì. . . đi hết vô trại đi, rồi tính sau.”
Em kiếm trong ba-lô bộ đồ Biệt Động đưa cho Lan bận vô, lấy đôi giầy và cái nón sắt cũ của dượng Há mang vô, coi cũng . . .ngầu lắm.
Lan khoái chí đi tới đi lui ngắm mình trong gương.
Vừa xong là xe nhà binh chạy lại gôm hết tụi em vô trong trại.
Lan di theo tụi em hành quân từ bữa đó, tới mấy bữa sau mới lên trình diện Thiếu úy Nam, ổng la tụi em quá trời, nói phải trả Lan về hậu cứ trong chuyến tiếp tế tới. . .
Nghe xong câu chuyện tình của Hải và Lan, tôi mỉm cười nhìn cả hai:
“Câu chuyện tình thật đẹp. Hai người thật xứng đôi vừa lứa.
Anh chúc cho hai em thương nhau trọn đời, sống với nhau suốt đời suốt kiếp.
Anh chỉ ghé đây có bữa nay, mai lại đi nữa rồi, có thể không có dịp gặp lại hai em nữa đâu.
Hai em có muốn anh giúp chuyện gì không? Anh sẽ ráng làm trong khả năng của anh.”
Hải và Lan nhìn nhau, một lúc sau, Hải ấp úng nói:
“Thiếu úy, tụi em mới gặp Thiếu úy, tự dưng. . . có cảm tình với Thiếu úy nhiều lắm.
Sẵn Thiếu úy hỏi, tụi em hổng dám, nhưng ngày mai tụi em làm đám cưới, nhỏ nhỏ thôi, Thiếu úy có thể. . . làm anh lớn của em, đại diện bên nhà trai, đặng tụi em làm đám cưới, được không Thiếu úy?”
- Được quá đi chứ!
TÌNH LÍNH THÌ PHẢI . . .TÍNH LIỀN.

*
Đoạn chót của câu chuyện “Tình Anh Lính Biệt Động”
Ngày 10 tháng 4 năm 2010,
Chào Thiếu úy mạnh giỏi.
Vợ chồng em kiếm được Thiếu úy, thiệt là mừng hết sức. Tụi em hổng thể ngờ là có ngày kiếm ra Thiếu úy đó chớ.
Sau bữa đám cưới của tụi em, em có hỏi xin địa chỉ để mai mốt còn liên lạc, Thiếu úy trả lời là hổng biết mình sẽ đi tiểu đoàn nào thì làm sao mà có KBC cho được, chỉ cần nhớ địa chỉ của tụi em thôi, để mai mốt tính . . .
Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, cả tiểu đoàn của em còn đang hành quân, nghe đầu hàng, tụi em buồn muốn chết. Sau đó nghe tin các Sĩ quan của tiểu đoàn bị đi học tập hết, tụi em coi như là không còn hy vọng gì có ngày mai trở lại.
Ở Bạc Liêu khó sống quá, vợ chồng em lên Cần Thơ, em lo chạy xe ôm, vợ em bán quán.

Vào khoảng năm 1989, có một bữa, em chở người ta đi ngang một công sở, em thấy rất nhiều người tóc vàng tóc đỏ, da trắng da đen, mắt xanh biển mắt xanh lá cây giống như em, đang đứng xếp hàng. Em cũng chạy vô coi, thì ra chỗ đó làm hồ sơ cho con lai lính Mỹ đi Mỹ. Em đâu có biết mình lai cái giống gì? Ba mình là ai? Nhưng cũng làm gan xếp hàng đại. Khi làm hổ sơ cho em, người ta chỉ hỏi em tên gỉ? Rồi hẹn ngày tới khám sức khỏe.

Em về nhà nói cho con Lan hay, vợ em nó mừng quá, nhưng mà lại nói là . . . hổng chắc, vì em đâu phải con lai Mỹ đâu. Em cũng nghĩ như vậy nên không để ý tới chuyện đó nữa. Tới bữa khám sức khỏe, em cũng đi cho biết. Người ta chỉ nhỏ thuốc vô tóc của em, vô mắt của em để coi em có nhuộm tóc hay là có nhuộm con ngươi hay không mà thôi, chứ hổng hề hỏi ba em là Mỹ hay là cái giống gì?
Khoảng ba tháng sau, em nhận được thơ, nói rằng em được chấp nhận đi Mỹ với vợ và hai đứa con. Em như đang ở trên trời rớt xuống đất, hổng tin được chuyện như vậy có thể xẩy ra.

Rồi tụi em được đi Mỹ thiệt!
Vợ chồng em được gia đình người bảo trợ tới định cư ở tiểu bang Minesota. Hai đứa em lo cho hai đứa nhỏ đi học, tụi em cũng đi học luôn. Con vợ em nó lanh lắm, học một hồi nó nói tiếng Mỹ còn giỏi hơn em nữa. Gia đình người bảo trợ có một hãng nuôi gà, bán gà và trứng gà. Tụi em cũng thích nuôi gà, nên theo học nghề này. Thấy tụi em siêng năng, nên ông bà bảo trợ nhận cho tụi em làm và chỉ dẫn cho em từng chút. Tới khi ổng bả về hưu, giao nguyên cái farm cho tụi em coi, lần hồi bán luôn cái farm cho tụi em. Cuộc sống của tụi em từ đó được thoải mái, vững vàng.

Một bữa, em vô trong internet đọc truyện, em thấy người nào đó tên Nguyễn Khắp Nơi có viết chuyện “Cà Phê Nha Chuẩn Úy?” trong đó có nhắc tới thời gian ba người Sĩ quan Biệt Động Quân đi thực tập ở Tiểu Đoàn 42 của tụi em. Em nghi một trong ba người đó là Thiếu úy, em kêu vợ em cho nó đọc lại cho chắc ăn. Tụi em đọc tới đọc lui ba bốn lần, chắc chắn là có Thiếu úy ở trỏng, nên đã theo địa chỉ trong báo Việt Luận mà hỏi thăm.
Thiếu úy gởi email trả lời cho tụi em. Đúng là Thiếu úy Đen, người đã làm đại diện nhà trai cho em lấy vợ. Tụi em mừng quá trời, coi như ông Trời có mắt cho tụi em được gặp lại Thiếu úy.

Thiếu úy nói trong thơ, cỡ tháng 5 năm 2011 Thiếu úy sẽ đi thăm mẹ ở Canada, sẵn dịp sẽ đi thăm bạn bè ở Los Angeles, tụi em mừng quá, vội vàng gởi thơ lại liền, xin địa chỉ hotel của Thiếu úy đặng mua vé máy bay đưa hết cả nhà tới trình diện Thiếu úy. Giờ này mới là tháng 1 năm 2011, còn lâu lắm, tụi em mong sao cho chóng tới ngày đó đặng gặp lại Thiếu úy.
Cầu chúc Thiếu úy mạnh giỏi, giữ gìn sức khỏe.

Lê Văn Hải & Lê thị Lan.


Nguyễn Khắp Nơi
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

M A I
TRẦN NHƯ XUYÊN
Năm 1969, Tiểu Đoàn tôi đang hành quân chung quanh Bến Lức thì được lệnh di chuyển về Đức Hòa, một quận nhỏ thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, về Đức Hòa để bảo vệ Bộ Tư Lệnh SĐ25 đang đóng ở đây. Hậu Nghĩa có lẽ là một tỉnh nhỏ nhất của miền Nam, nguyên nó là 1 xã của Đức Hòa hay Đức Huệ gì đó, vì tính cách chiến lược, ông Ngô Đình Diệm lập nên tỉnh này.

Rời khỏi Bến Lức với con sông Vàm Cỏ Đông lòng tôi bùi ngùi, nửa năm ở đây, thường các cuộc hành quân là ủi bãi cùng với Hải Quân , VC hai bên bờ như rươi, con sông chạy dài tới tận Tây Ninh, mỗi lần tầu đi, chúng phục 2 bên bờ bắn B40 như pháo bông, 4 ngày cuối cùng trước khi về Đức Hòa thì Thiếu Úy Hạnh, khóa 18 TĐ, Đại Đội phó của ĐĐ tôi hy sinh, tầu bị phục kích, khi bị bắn, tầu ủi bãi, Hạnh xua quân xông lên, vài phút sau tin báo Hạnh trúng đạn chết.

Tới Đức Hòa, TĐ được phân công phòng thủ quanh vòng đai ngoài của bộ chỉ huy SĐ, Đại Đội tôi được chỉ định đóng tại Bình Hữu, tung các điểm phục kích chặn những đường tiến sát địch có thể xâm nhập vào Bộ TL, Bình Hữu là một xã nhỏ, nằm trên đường đi lên Đức Huệ, con đường Bình Hữu nhỏ, ngắn, được 3,4 chục căn nhà, Ban Chỉ huy Đại Đội tối đóng quanh quẩn trong mấy ngôi nhà đó, các trung đội vừa có toán phục kích, vừa bảo vệ ĐĐ, thỉnh thoảng hành quân nhảy trực thăng, thường là nhẩy xuống mật khu Lý văn Mạnh hoặc xa hơn nơi biên giới Đức Huệ, Lý Văn Mạnh là một khu dinh điền thời TT Ngô Đình Diệm, nay bỏ hoang đã lâu, VC bám trụ ở đây, thỉnh thoảng tập trung tấn công các đồn bót của ĐPQ, NQ, chúng bám trụ nơi này để giữ đường giao liên từ Long An, qua Đức Huệ để tới Kampuchia.

Chiều hôm đó, sau cuộc hành quân tảo thanh về, thay quần áo xong thì Xuân, Trung Úy, bạn cùng khóa 21 VB, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2 cùng TĐ đóng ở Bình Tả gần đó lái xe jeep qua, rủ đi uống cà phê, có cái quán nhỏ xế chỗ tôi đóng quân, bước vào, quán đã sẵn mấy anh Thiếu úy pilot trẻ lái trực thăng đang ốn ào, huyên thuyên, Xuân không kêu cà phê nữa, nó gọi bia nhậu với cá lóc nướng, mấy hôm sau tôi mới hiểu vì sao các anh chàng pilot trẻ này cứ lượn ra lượn vào ở cái quán cà phê này.

Cũng tội nghiệp bà chủ quán tên là Dì Năm, khoảng 50 tuổi, có tụi tôi trong quán, lính không dám vào, quán bị ế, cả mấy anh pilot thấy 2 ông Trung Úy trẻ, tác phong rõ ràng là dân tác chiến chứ không phải SQ của bộ Tư Lệnh, ngồi tì tì với bia thì chút sau cũng phú lỉnh, tôi gọi máy kêu 2 Trung đội trưởng của ĐĐ lên nhậu, lúc sau ngà ngà, nói chuyện với Xuân về Hạnh mới bỏ mình bên bờ Vàm Cỏ, tôi muốn khóc, ôm chai bia đứng dậy loạng quạng bước theo bước tango : đời tôi quân nhân, chút tình riêng gửi núi sông…đời lính, biết bao nhiêu lần say ? mà có phải chỉ có chút tình riêng gửi núi sông đâu, SQ/VB là gửi cả cuộc đời cho núi sông ấy chứ, như thằng Hạnh chẳng hạn, gửi cả cuộc đời cho núi sông khi còn quá trẻ, mới ngoài hai mươi chứ mấy, thế là xong hết. Trong lúc ngật ngưỡng ôm chai bia, tôi bắt gặp một cặp mắt đen láy nhìn tôi qua cái rèm cửa sổ thông với buồng trong, tôi khựng lại nhìn đôi mắt ấy, chiếc rèm khép vội lại, đôi mắt mất hút. Tôi lẩm bẩm : ê, nhìn trộm hả, rồi nhún vai :

em là gái trong song cửa
anh là mây bốn phương trời
anh theo cánh gió chơi vơi
em vẫn nằm trong nhung lụa
( Một mùa đông : Lưu trọng Lư )

đúng rồi, anh là mây bốn phương trời, vấn vương chi với những đôi mắt, nhất là mắt đàn bà con gái, tôi nói lớn hỏi Sơn : Ê Xuân, đàn bà con gái làm bận rộn mình quá hả, quẳng hết đi phải không mày, Xuân gục đầu ầm ừ: quẳng gì thì quẳng nó vẫn bám cứng chân mình như thường, quả thực thằng Sơn này vướng nhiều đàn bà quá, khi làm tới Quận trưởng, lính gác quận đường canh VC thì ít mà canh đàn bà thì nhiều, nhưng thôi nó cũng xứng đáng, bị thương 3,4 lần, bay mất một mắt thành độc nhỡn như Moshe Dayan, tôi liền cánh, liền cành với nó từ ngày ra trường tới mãi 1973 khi nó làm QT, mà nào có dứt ra được đâu, thỉnh thoảng nó vẫn kêu lên SĐ xin TĐ tôi biệt phái bảo vệ Quận nó để 2 thằng bù khú.

Trở lại với Bình Hữu, Đức Hòa, cũng một buổi chiều rảnh rỗi Sơn lại kiếm tôi rủ uống cà phê, lần này thì uống cà phê thực sự, tôi và Sơn không phải là những người nát rượu, thỉnh thoảng nổi hứng hay buồn quá mới uống, khoảng chiều, một cô gái nhỏ nhắn, mặc áo dài trắng nữ sinh, loại áo dài mà tôi thích nhất trong các kiểu áo dài, người con gái ôm cặp trước ngực, bước vô quán, nàng chào hai đứa tôi, tay vuốt mái tóc xõa trên trán, ánh mắt lướt nhanh qua nhưng tôi cũng kịp ngờ ngợ : đôi mắt này, phải rồi, đôi mắt tối nọ nhìn trộm mình đây mà! Cô gái bước vô trong còn ngoái lại nhìn tôi, môi mím lại như muốn cười nhưng không dám cười, tôi cũng toét miệng ra gật đầu, cô ta dáng dấp nhỏ bé, có lẽ bé thật, tóc ngang vai, khoảng 16,17 chứ mấy, với tôi thế là quá bé dù tôi cũng chưa già là bao, mới hơn 20 chứ bao nhiêu, ôi thôi, mà lẩn thẩn chi vậy, chuyện gì nữa đây, chắc cô ta thấy tôi tối đó ngồ ngộ hoặc chưa bao giờ thấy một người say ôm chai bia loạng quạng nhẩy ?

Xuân đá đá chân tôi : ôi chao phí của, mày ở đây, địa phương mày mà không quen cô bé này thật là phí của, tao ra lệnh cho mày, 10 ngày nữa mày phải ôm cô bé trong tay, thôi, ôm thì vội quá, mày phải nắm được tay cô ta và nói nàng hãy bảo mấy anh lái trực thăng kia đi chỗ khác chơi, mày không làm được thì không đáng là Sĩ quan Võ Bị, rõ chưa.

Rồi tôi cũng biết, nàng tên Mai, một mẹ một con, ông bố có bà hai đi đâu mất tiêu, bà Năm, mẹ của Mai mở quán cà phê, lợi tức cũng đủ cho hai mẹ con đắp đỗi qua ngày, hình như tôi cũng đang bị điều tra, thằng tà loọc nói dì Năm hỏi về trung Úy nhiều lắm, tôi cũng không để ý, lời Xuân khích bác tôi cũng không để ý, những cuộc hành quân liên miên làm không có thì giờ nhiều, ưu tiên lo lắng an toàn cho đơn vị, mỗi lần chạm địch có người chết, tim tôi cứ thắt lại khi thấy những người vợ lính lên tìm chồng, vành khăn tang trắng, đứa bé còn bồng trên tay. SĐ quần tụi tôi như cái mền rách vì an ninh của BTL, từ ngày về đây, chỉ có đụng chạm nho nhỏ, SĐ chưa một lần bị pháo kích.

Thường mỗi tối, khu vực ĐĐ tôi phụ trách đường phố giới nghiêm, chẳng cần thông báo, tối là mọi người ở trong nhà, Ban CH/ ĐĐ đóng xéo với quán cà phê Dì Năm, một tối, tôi lững thững sang đó uống cà phê, chẳng có mục đích gì với lời nói của Xuân, Mai ngồi nơi quầy, nàng cầm cuốn tập trong tay, tôi gọi ly cà phê sữa đá rồi hỏi :

- Mai siêng thế này chắc học giỏi lắm hả?

lần đầu tiên đối diện cô ta và cũng lần đầu tiên trò chuyện mà tôi nói tỉnh bơ làm như đã biết nhau lâu lắm. Mai tròn mắt nhìn khi thấy tôi gọi đúng phóc tên nàng :

- Đâu có, quá dốt là đằng khác, sao Tr/U biết tên Mai ?

- Ồ, tôi biết Mai từ buổi tối Mai nhìn tôi qua cái cửa sổ kia kìa, tối đó chắc tôi say làm Mai buồn cười lắm hả ?

- Ôm chai bia mà cứ tưởng là ôm cô nào thì không biết có thể gọi là buồn cười hay không !

Hay, cô này biết nói chuyện đây dù tuổi còn nhỏ, mới 17 và đang học ở Trung Học Quận, có lẽ Tam, Tứ gì đó.

Cũng một tối khác sang chơi, Mai hỏi tôi giải giúp một bài toán phương trình bậc 2, tôi hỏi về toán, cô ta chẳng biết gì cả, dốt toán quá, tôi giảng cho Mai – giảng mấy lần mà vẫn chưa hiểu, tôi buột miệng:

- dốt quá thế này

Mai sửng cồ:

- thì Mai đã nói Mai dốt rồi mà, chê người ta mai mốt qua uống cà phê em bỏ muối vô cho xem

- có bỏ muối cũng không giỏi toán hơn được, chịu khó làm bài tập nhiều vào, và muốn thật giỏi hơn, phải hối lộ thầy.

- Tr/U muốn Mai hối lộ gì ?

- hối lộ gì sẽ cho biết sau nhưng trước hết không được gọi tôi là Tr/U nữa, cô có phải là lính của tôi đâu.

Hai tuần sau, Xuân hỏi :

- tình hình đến đâu rồi, đã nắm tay cô ta chưa, sao mày ụt quá vậy.

Tôi trả lời:

- tao chưa nắm được tay nàng nhưng nàng nắm tay tao thì sao ?

Xuân trợn mắt :

- thật không ? vậy là mày vượt quá chỉ tiêu rồi còn gì, sao có chuyện ngược đời vậy ?

Chẳng có gì là ngược đời và sao lại không thật, chỉ tình cờ thôi, tối đó khi giải cùng Mai bài toán xong, tôi về, chợt Mai nắm tay tôi :

- em còn một câu toán nữa quên hỏi anh.

Cái nắm tay đó rất tự nhiên, rất thật thà của cô gái mới lớn nhưng không hiểu sao tôi lại không nhận ra cái thật thà đó, tôi nghịch ngợm biến sự thật thà đó thành điều có ý nghĩa hơn, tôi im lặng không nói gì nhìn Mai, sự im lặng của tôi làm Mai bối rối, chút sau nhận ra, nàng rụt tay về nhưng tôi giữ chặt lại, được một lúc, bàn tay không còn có vẻ muốn rút về nữa, hình như nó muốn được nằm yên như vậy, tay Mai mềm đi trong tay tôi và tôi biết trái tim nàng cũng đang mềm đi, 17 tuổi rồi, không lẽ không biết rung động là gì sao, còn tôi thì tỉnh táo như con sói nhìn con cừu, hai tay tôi nắm tay Mai, giờ mới thấy được tay Mai run run, sau này có nhiều bàn tay cũng run run trong tay tôi nhưng những bàn tay đó có sự xúc động khác, không tinh khiết như cô học trò nhỏ này, vậy là vấn vương rồi ư.

Một lần hành quân về, nhẩy trực thăng, người đầy sình, tắm rửa xong thì lính nói Dì năm kêu Tr/ U sang ăn cháo, vừa đói vừa lạnh, có tô cháo gà nóng, tỉnh cả người, vừa ăn tôi vừa nghĩ : vậy là sâu đậm rồi đây. Mai dốt toán nhưng lại giỏi văn chương, cứ tưởng cô học trò nhỏ ở cái quận đèo heo hút gió này thì biết gì nhưng Mai hiểu khá nhiều về thơ văn, cách nói chuyện cũng khéo léo, một lần nói về ý nghĩ này, Mai lại sửng cồ : đèo heo hút gió cái gì, từ đây về SG có 1, 2 tiếng đồng hồ chứ mấy, không được coi thường người ta ạ. Một tối, sau khi dậy Mai học, lúc về, Mai chợt đứng phắt dậy ôm lấy tôi, ô hay, tối nay sao bạo thế này, nàng thì thầm :

- hôm nay em được 18 tuổi rồi, mừng sinh nhật em đi

cách bày tỏ này là tự nhiên hay sắp đặt trước ? thây kệ, tôi ôm Mai đặt lên trán nàng nụ hôn :

- mừng em được 18, với anh, em vẫn là cô học trò bé nhỏ, còn anh vẫn là mây bốn phương trời, quen lính khổ lắm nghe em, để ý đến anh hồi nào vậy ?

- Thì cái tối anh uống bia say đó, anh và ông Tr/U Sơn nhắc về một người nào mới chết, em thấy anh buồn, rồi anh ôm chai bia nghêu ngao hát, trông anh lúc ấy thật tội nghiệp, hôm nay em 18, đến tuổi đi bầu rồi, có quyền công dân rồi, không được coi em như con nít nữa, mọi lần nói chuyện với anh, em thấy anh như chẳng để ý gì lời em cả, lúc nào cũng coi em như con nít, này anh, có phải ông Nguyên Sa yêu bà ấy lúc bà mới 13 phải không, anh trễ hơn ông ta 5 năm rồi đấy.

- Vậy ư, 13 nhỏ quá, em biết Phạm Thiên Thư chứ, thuộc thơ như em hẳn phải biết ông này, tà áo trắng mỗi chiều em học về, anh đứng nhìn lơ mơ thấy em là cô Hoàng thị Ngọ: em tan trường về, anh theo Ngọ về…Mai ngắt ngang : anh mà theo ai, anh chẳng theo mà cũng làm chết người ta đây này.

Thế ra tôi đóng ở đây cũng khá lâu mà không biết, Mai đã được18 rồi đấy. Mấy ngày sau sinh nhật Mai, ĐĐ tôi được lệnh chuyển lên Đức Huệ, hành quân chung với một ĐĐ của SĐ 9 Mỹ, hôm lên xe di chuyển, tôi thấy ánh mắt ấy khuất sau cánh cửa quán cà phê nhìn theo, chắc có ngấn lệ, đã nói rồi mà, anh là mây bốn phương trời, yêu lính khổ lắm, u uẩn chiều ly biệt như thơ Quang Dũng. Tới Đức Huệ, BCH/ ĐĐ tôi đóng chung với BCH/ĐĐ Mỹ trong nhà máy đường Hiệp Hòa, nhà máy đồ sộ to lớn cao sừng sững, đã lâu nhà máy không còn hoạt động vì chiến tranh, máy móc còn nhưng cũng không biết ai đã gỡ đi một ít. Thời gian phối hợp ở đây, tôi mới thấy cách tổ chức của quân đội Mỹ quá lớn, Tiểu Đoàn Trưởng có trực thăng riêng, ĐĐT Mỹ thì như TĐT của VN, họ cho các Trung đội hành quân riêng lẻ, ĐĐT ngồi một chỗ chỉ huy thành ra tôi cho các Trung đội phối hợp với Mỹ, không phải lội theo, một lần chạm địch, tôi dẫn Trung đội trừ bị vượt sông Vàm Cỏ tiếp ứng, đi chung với Mỹ nên họ gọi pháo binh, Cobra, các phản lực rất nhanh, còn ta hành quân pháo binh thì có nhanh nhưng các phương tiện yểm trợ khác thì chậm, có người bị thương, họ kêu Medevac có ngay. Đức Huệ gần biên giới Kampuchia nên VC nơi đây khá nhiều nhưng với phương tiện dồi dào của Mỹ, chúng không thể tập trung đông vì pháo binh Mỹ bắn suốt ngày, hơi có chút nghi ngờ là máy bay bay lên dội bom ngay, một lần hành quân mở rộng lục soát, ban chỉ huy ĐĐ tôi thoát chết trong đường tơ kẽ tóc vì mìn bẫy, người lính mang máy đá phải sợi dây căng mìn của VC, may mà chỉ có hạt nổ kích hỏa, còn trái 155 nằm chình ình như con heo dấu dưới lớp cỏ, trái pháo bị lép, nếu không, mấy thầy trò chỉ còn cách hốt xương vô poncho.

Một hôm đang ngồi nghiên cứu bản đồ khu vực hành quân ngày mai thì viên ĐĐT Mỹ kêu tôi:

- ra đây tao chỉ cho coi cái này

hắn dẫn tôi xuống dưới gần cái giếng, chỉ vào một người lính của ĐĐ tôi đang loay hoay cạo lông cái lỗ tai heo, lỗ tai còn bám đầy đất cáu bẩn, lông lá tua tủa. Hắn nói :

- lính mày ăn cái gì mà dơ quá vậy, bộ C Ration không đủ cho tụi mày à ?

Tôi mắc cở đỏ mặt, cái lỗ tai heo đó là do chính tôi sáng nay nói với anh chàng đầu bếp nấu ăn là ra chợ Đức Huệ kiếm cái lỗ tai heo, tao thèm chấm mắm nêm với chuối chát quá, cũng may, chiều đó trong chuyến tiếp tế, Mai ghé hậu cứ gửi cho tôi một cạp lồng cháo gà, cái lỗ tai heo, tôi cho người lính nấu ăn, tôi thấy họ bàn tán với nhau đi mua xị đế. Gần 1 tháng hành quân chung với ĐĐ Mỹ, ĐĐ tôi trở nên “giầu có “ lựu đạn, claymore, khói mầu…dư giả.

Sau một tháng ở đây, ĐĐ trở về mái nhà xưa, TĐ tôi vẫn còn nhiệm vụ bảo vệ BTL/SĐ, vì thông thuộc địa thế, tôi vẫn trông giữ Bình Hữu, đôi mắt đen như hạt nhãn đón tôi trong reo cười, trong tôi cũng có bâng khuâng rộn ràng , chiều đó lại có cháo gà. Tối tối tôi thường sang Mai, nàng không còn hỏi tôi nhiều về toán nữa, chuyện giờ là những nhớ nhung của những ngày xa cách, khi nói chuyện, Mai thường hay nắm tay tôi, tôi hỏi:

- nắm tay anh hoài không chán ư ?

- không, em vẫn có linh cảm rồi anh sẽ bỏ đây đi xa, giữ được anh lúc nào hay lúc đó, không anh lại bỏ đi

- thì anh vẫn nói với em rồi mà, anh là mây bốn phương trời, anh theo cánh gió chơi vơi, lính tác chiến chứ có phải lính Phủ Tổng Thống đâu.

- không, đừng làm mây bốn phương trời, hãy là những áng mây che phủ ngọn núi gì mà anh hay kể em nghe đó, ừ, đúng rồi, ngọn núi Lâm Viên nơi hồi xưa anh học ở Đà Lạt, những ngày mùa đông, mây tụ trên đỉnh núi, anh hãy như những áng mây đó, tung bay bốn phương trời làm chi, ở đây với em, tình yêu làm người ta ích kỷ, em biết ước muốn của em mong manh như những sợi tơ trời, tơ trời chỉ giữ được con ruồi, con muỗi, làm sao giữ được chân anh, em sợ ngày đó quá anh ạ .

Có níu kéo cũng không thể được đâu, đã nói rồi mà, thôi chào em, chào người con gái bé bỏng tội nghiệp, anh cũng đâu có muốn bỏ đi, nhưng lính mà em. Ít lâu sau, TĐ tôi di chuyển lên Tây Ninh, lần ra đi này tôi nghĩ khó có dịp quay lại Đức Hòa vì nơi sắp đến là nơi mịt mù khói lửa, không có những tối yên bình để chúng ta ngồi bên nhau, tình hình chiến sự biên giới có vẻ sôi động, sau thời gian dài Sihanouk cho VC sử dụng đất Kampuchia sát Việt Nam làm nơi chứa quân và vật dụng chiến tranh để tấn công miền Nam, trước đây, khi truy kích VC mà lỡ xâm phạm biên giới, Sihanouk làm rùm beng, đưa vấn đề ra LHQ, giờ ông ta bị lật đổ, Lonol lên làm Thủ Tướng, Lonol thỏa thuận với chính phủ VNCH cho ta mở cuộc hành quân biên giới đánh đuổi VC, SĐ 25 là một thành phần của cuộc hành quân này cùng với Nhẩy Dù, TQLC, BĐQ…Quân Đoàn 3 dưới sự chỉ huy của vị Tướng lừng danh Đỗ Cao Trí, người Mỹ gọi ông là Patton của Mỹ, Patton là tướng Thiết Giáp mà Mỹ đã gọi ông ta là America’s greatest General, Tướng Trí không phải là Tướng Thiết Giáp nhưng trong các cuộc hành quân ở Kampuchia, ông sử dụng TG rất tài tình trong nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp, cuộc chiến ở Kampuchia đã tạo nên những vị Thiết Đoàn Trưởng nổi tiếng như Đại Tá Trần quang Khôi ( sau là chuẩn Tướng ), Đại Tá Quang, Đại Tá Đồng…Những vị Thiết Đoàn Trưởng này rất gần gụi với Tướng Trí vì ông luôn sử dụng họ phối hợp với bộ binh, tạo được nhiều chiến thắng vẻ vang, ngược lại Tướng Hoàng Xuân Lãm là Tướng Thiết Giáp nhưng trận Hạ Lào Lam Sơn 719, ông không sử dụng TG được như Tướng Trí.

Tháng 3-1970, quân ta rầm rộ vượt qua biên giới sau khi có lệnh là lời hiệu triệu của TT nguyễn Văn Thiệu với toàn dân : Thưa quốc dân đồng bào, khi tôi đang nói những lời này cùng đồng bào thì Quân Đội ta vừa vượt qua biên giới Kampuchia để đánh đuổi quân CS xâm lược…

Lệnh xuất phát ban ra, từng cánh quân tràn qua biên giới, ĐĐ tôi được “cõng” bởi Chi Đoàn 2 Thiết Đoàn 10, Chi Đoàn Trưởng là Đ/U Nhuận, chưa vượt được bao xa thì chạm địch liền, không phải chỉ riêng cánh quân tôi mà hầu như suốt dọc biên giới, chỗ nào cũng chạm địch, chứng tỏ chúng ung dung ở đây đã lâu, xây dựng các cơ sở hậu cần vững chắc, quân ta với hỏa lực hùng hậu cùng sự yểm trợ của phi pháo, lúc này Hoa Kỳ vẫn còn yểm trợ ta nên các cánh quân tiến như chẻ tre, chiếm mục tiêu đầu, vượt qua cánh rừng chồi tới khoảng trống, tôi thấy trải dài theo biên giới ngút ngàn, khói lửa mù mịt, máy bay quần thảo tứ tung, mồ hôi trán đổ xuống mắt cay sè với cái nóng tháng 3, tôi nhận tin cánh quân bên cạnh, người bạn cùng khóa 21 VB của Trung Đoàn 49, Đại Đội Trưởng Nguyễn văn Bình vừa hy sinh, hồi trong trường, Bình chung ĐĐE với tôi, đạn nổ ròn rã từ các khẩu 12.7 của Thiết vận xa, đạn VC xé gió bay tới khiến tôi chẳng kịp bùi ngùi cho người bạn vừa nằm xuống, chiều các mục tiêu ấn định thanh toán xong, VC bỏ lại nhiều xác cùng vũ khí, tối quây tròn phòng thủ cùng với Chi Đoàn Thiết vận xa, nằm ngửa trên cái poncho bên cạnh hầm trú ẩn mới đào, người còn nguyên quần áo, hôi rình vì mồ hôi, cát bụi của cuộc quần thảo ngày hôm nay, người lính hỏa thực mang lại bịch gạo sấy với miếng thịt ba lát :

- ăn chút đi ông thầy, sáng tới giờ ông chưa ăn gì cả

chưa ăn gì mà có thấy đói đâu, chỉ khát nước, nhệu nhạo nhai vài ba miếng, nhớ tới Mai, ngước lên bầu trời, các vì sao lấp lánh, tôi thấy đôi mắt hạt nhãn như đang nhìn mình : chàng từ đi vào nơi gió cát, đêm trăng này nghỉ mát phương nao? nghỉ ở đâu ư Mai, anh đang trên vùng biên giới đó em, với mùi thuốc súng và mùi máu người. Em ạ, như anh nói rồi đấy, đời lính khổ lắm, yêu lính cũng khổ theo, chẳng biết rồi sẽ như thế nào, rất dễ dàng như Bình bạn anh hôm nay, với anh đã đành, phải chấp nhận và quen rồi, chỉ cầu xin em đủ nghị lực thôi.

Sau mấy tháng hành quân liên tục không ngừng nghỉ, tôi được thăng Đại Úy tại mặt trận, một ngày tháng 7-1970, TĐ tôi tách ra, hành quân chung với Thiết Đoàn 15 chiến xa, tiến vào vùng Mỏ Vẹt và chạm địch nặng tại đây, mục tiêu sát bìa rừng, một ngôi làng trải dài với hàng tre dầy kiên cố, 10 giờ sáng chạm địch, sau 2 lần xung phong không chiếm được mục tiêu, hầm hố địch rất kiên cố với đủ loại hỏa lực, ta bị cháy mất 2 chiếc M41, một số bị chết và bị thương của cả Thiết giáp và BB.

Khoảng 3 giờ chiều, một chiếc trực thăng lượn vòng vòng rồi đáp xuống, tôi ở gần đó đang chuẩn bị dàn quân cho cuộc xung phong tới, nhẩy ra khỏi trực thăng là Tướng Trí và một người đàn bà người Âu, cả 2 mặc đồ dù, Tướng Trí đội cái mũ lưỡi trai mầu đen, ông thoăn thắt bước lên chiếc xe nơi tuyến đầu mà thỉnh thoảng VC vẫn cầm chừng bắn về phía ta ( chúng ta nên biết Tướng Trí rất bận rộn vì bao quát nhiều cánh quân của QĐ 3, hầu như đâu cũng chạm địch, với ông lúc đó chỉ là lệnh và lệnh + sự điều động và theo dõi các trận đánh. Ông đáp xuống đây chắc SQ Tham Mưu bay cùng ông báo cáo cánh quân này chạm nặng và chưa tiến lên được ), nhìn vào mục tiêu quan sát một hồi, tôi thấy ông ta cầm cái can gõ gõ lên cái nón sắt của Trung Tá Đồng, Thiết đoàn Trưởng Thiết Đoàn 15 :

- Đù mẻ, lên ngay nghe Đồng, cháy bao nhiêu xe tao cho bấy nhiêu, phải chiếm cho được mục tiêu trước tối nay nghe chưa.

Trung Tá Đồng đứng nghiêm chào Tướng Trí nhận lệnh, Thiết giáp và BB xốc lại hàng quân, máy bay của ta và Mỹ quần thảo gầm rú trút bom xuống mục tiêu, xong tới pháo binh, cuối cùng TG và BB căng hàng ngang nhất tề xung phong, ông Tướng 3 sao đứng ngay phía sau, cả Thiết Đoàn Trưởng và Tiều Đoàn Trưởng đều xông lên, địch còn bắn ra nhưng yếu đi nhiều, giờ thì liều, chết cũng phải xông lên chứ không còn lui được nữa, xe và Bộ Binh tràn như nước vỡ bờ, địch tung hầm bỏ chạy, ta chiếm được mục tiêu, có sự trả giá đắt, ĐĐ tôi, Ch/U Thái trung đội Trưởng hy sinh, Đại Úy Xuân, Đại Đội Trưởng ĐĐ2, bạn cùng khóa, người ra lệnh cho tôi 10 ngày phải nắm được tay Mai, bị thương nặng, Thiết giáp cháy thêm một xe và một số chết + bị thương, xác địch và vũ khí vương vãi khắp nơi, ngay lúc đó TĐT cho tôi biết Tướng Nguyễn Viết Thanh, Tư Lệnh vùng 4 vừa tử nạn máy bay khi đang điều động Quân Đoàn 4 đánh qua biên giới, chiếc CNC của ông đụng phải chiếc Cobra của Mỹ, 2 phi công Mỹ và Ban Tham Mưu + Tướng Thanh, tất cả đều hy sinh.

Có một điều thú vị và cảm động, trong một lần tiếp tế, tôi dặn Sĩ Quan chỉ huy hậu cứ mua cho cái bắp cải vì cứ ăn gạo sấy hoài, háo người quá, cái bắp cải có cộng với một cạp lồng cháo gà, viên HSQ hậu cứ theo chuyến trực thăng tiếp tế nói cô Mai lên tận Tây Ninh gửi cái này cho Đ/U, tôi gọi 3 Trung đội Trưởng sớt cho mỗi người ít cháo và mấy lá bắp cải, rau rửa qua loa vì nước rất quý, mọi người nhai ngấu nghiến, gạo sấy hoài, xót cả ruột.

TĐ tôi tạm rời vùng Mỏ Vẹt, tiến theo trục Quốc Lộ 1, đường lên Neak Luong, giữ đường cho TQLC hành quân đưa người Việt sống ở Kampuchia về, nhiều người Việt bị giết khoảng thời gian này, trong lần lục soát một ngôi làng ở vùng Kampong Trabek, vài người Tầu còn lại dẫn chúng tôi ra mấy cái giếng chỉ xuống cho coi, tôi thấy xương người, tóc tai, quần áo đầy dưới đó, họ nói trong làng có chục gia đình người Việt tất cả bị chặt đầu (cáp duồn) trong đó có nhiều trẻ con đều bị giết xô xuống giếng, thái độ lính trong ĐĐ thay đổi hẳn khi thấy điều này, tuy vẫn giữ kỷ luật nhưng đâu đó tôi thấy có sự xô đẩy và quát tháo mấy người Miên ở đây, tôi vội rút ĐĐ đi chỗ khác và ngăn chặn âm mưu của 3 Trung đội Trưởng, họ bàn với tôi là dàn dựng một cuộc chạm địch giả rồi nói: thẩm quyền xin pháo binh đi, tụi này tàn ác quá mà, tôi nói họ thôi, trong làng có đàn bà và trẻ con, không phải tất cả đều tàn ác - nếu không, với cuộc đụng trận giả, pháo binh sẽ làm không còn cái nhà nào đứng vững trong ngôi làng này.

Tôi được tin TĐ sẽ về lại Đức Hòa dưỡng quân, tin làm tôi thật vui, như vậy sẽ gặp lại Mai, xa nhau cũng mấy tháng rồi còn gì, tội nghiệp Mai, vò võ đợi chờ, còn tôi với bao bận rộn có thể quên đi được, trước khi về, ông Tiểu Đoàn Trưởng cho biết tôi có 2 ngày cho một Đại Đội lính Kampuchia( Lonnol ) theo tôi thực tập, hôm ra ngoài quốc lộ nhận ĐĐ này tôi mới tá hỏa, không phải 1 ĐĐ mà đông nghẹt tới 4,5 ĐĐ vì lính Kampuchia đi hành quân mang theo cả vợ con, gà vịt, nồi niêu soong chảo. Tối đóng quân, lính mình nằm vòng ngoài, đào hầm hố phòng thủ, họ nằm giữa còn nổi lửa nấu nướng linh tinh, tôi phải ra lệnh tắt hết lửa nhưng cũng vô ích, khuya trẻ con khóc, chó sủa, gà gáy…may là vùng này lúc đó tạm yên, giả như tối mà VC tấn công, tôi không biết lo toan sao với đám “lính” này. ĐĐT của lính Miên là 1 anh Tr/U Tầu lai, đeo 2 vạch vang trên cầu vai như quân đội Pháp, tay cầm bản đồ, địa bàn nhưng cầm cho lấy có, anh ta không biết cách sử dụng, cũng chẳng hiểu tốt nghiệp quân trường nào, nói chuyện với nhau phải dùng tiếng Pháp, may là suốt 7 năm Trung Học tôi chọn sinh ngữ 1 là Pháp nên cũng tạm hiểu nhau, họ nói tiếng Pháp rất thông thạo.

Cuối cùng chúng tôi cũng lên đoàn xe trở về Đức Hòa, có lẽ tại hậu cứ TĐ tôi vẫn còn ở đây dù SĐ đã chuyển về Cử Chi, tới nơi, Thiếu Úy Cư, ĐĐ phó nói với tôi : Đ/U cứ đi gặp chị Mai đi, để tôi sắp xếp ĐĐ cho. Tôi xuống xe jeep bước ngay vào nhà, Mai ôm chầm lấy tôi, nàng khóc chưa bao giờ tôi thấy khóc như vậy, lòng tôi cũng chùng xuống, mình cũng yêu Mai quá mất rồi, bắt đầu chỉ là tinh nghịch thôi, ai ngờ, người ta bảo đừng đùa với lửa mà. Ngày mai, tôi nhận sự vụ lệnh đi đơn vị mới : Đại Đội Trinh Sát, ở các đơn vị BB, hiếm có ĐĐT là Đ/U lắm nên việc tôi và Xuân chuyển làm nhiệm vụ khác cũng dễ hiểu. Xuân sau khi xuất viện đi làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2 , tối đó là tối cuối còn ở Đức Hòa, tôi và Mai ngồi nói chuyện tới tận khuya, lúc đứng lên, Mai quấn chặt lấy tôi, có tiếng thút thít, thân thể con gái thơm tho ấm áp, mềm mại qua làn áo mỏng, khi thấy ánh mắt tôi nhìn nàng khẽ gật đầu, Mai run rẩy :

- em xin anh, hãy giữ gìn cho em, giữ gìn cho chúng ta, giữ gìn cho ngày hạnh phúc.

Tôi thở dài, tôi trân trọng Mai, giữ cho nàng, tôi biết nếu tôi muốn hơn nữa, Mai cũng chịu thua thôi, nàng đang mềm như sợi bún, không còn là chính nàng lúc này, tôi hối hả quay ra, tôi cũng không còn là chính tôi lúc này.

Về nắm ĐĐ Trinh sát, quanh quẩn suốt ngày với núi rừng, tuy nhiên cũng thường ở Hậu cứ sau những chuyến đi nguy hiểm, những lần như vậy. tôi cho xe về đón Mai lên, bây giờ thì đã có toan tính về tương lai, về những hoạch định chính thức, trước đây cứ nghĩ lấy vợ sẽ là một người ở Sài Gòn, nhưng SG xa quá và ít có thời gian ở đây, mà con tim thì sao biết được, Mai có gì cho mình phải suy nghĩ đâu? trước mắt, nàng được tất cả, yêu mình nồng nàn, chuyện là do chai bia biết nhẩy tango, cũng buồn cười, có phải tôi xuất hiện đúng lúc và nỗi buồn “may mắn” của tôi cũng đúng lúc.

Năm 1972, chiến trường lại bùng lớn, ĐĐ Trinh Sát không còn len lỏi bờ bụi rình rập nữa mà trực diện đánh nhau với VC như một ĐĐ bộ binh, tôi và Xuân lại có duyên với nhau, tôi được tăng phái cho Xuân lúc này là TĐT/TĐ2, cuộc chiến rất khốc liệt, VC sử dụng nguyên một SĐ rải chốt từ Chơn Thành lên tới Bình Long, mục đích không cho ta dùng đường bộ tiếp tế cho An Lộc, cả tôi và Xuân đều thiệt hại nặng, thậm chí có lúc Trinh Sát hết cả Sĩ Quan mà phải để Trung sĩ coi trung đội, một lần nữa, Xuân lại bị thương vì pháo, mất mất một mắt, nó rất tiếu lâm :

- mỗi lần bị thương trước tiên tao sờ xem cái đó còn không, còn là tao yên tâm

Xuân lên Thiếu Tá và đi làm Quận Trưởng sau đó. Tôi nghĩ, giá Tướng Đỗ Cao Trí không bị “tai nạn” nổ trực thăng, có lẽ không có trận An Lộc này, Cục R của VC bị ông dí bắt, chiến trường ông mang ra xa khỏi miền Nam, ông làm chúng te tua, cái chết của ông lúc đó người ta chưa hiểu gì nhiều, cũng có suy nghĩ nào đó nhưng chưa rõ ràng, phải sau khi miền Nam rơi vào tay CS, lý do cái chết của ông ngày càng sáng tỏ hơn, bàn tay lông lá của Mỹ tạo ra sự việc này khi ông được điều động ra vùng 1 cứu nguy cho Lam Sơn 719. Đầu năm 1973, tôi rời Trinh Sát, về nắm Tiểu Đoàn 3/46, sau hiệp định Paris, tôi dẫn TĐ về bảo vệ Quận Dầu Tiếng, một quận nhỏ heo hút nằm sâu trong vùng đồn điền Michelin, ba phía trước mặt là mật khu, sau lưng là con sông, chỉ có chiếc cầu độc nhất nối liền với Quận Khiêm Hanh, có lần tôi tập họp Tiểu Đoàn nói chuyện cùng binh sĩ :

- nếu địch tấn công phải ráng mà đánh trả, đây không có đường rút, con sông đó lội qua được không hay chết đuối. Vị trí như thế này, tôi nhớ tới một Tướng nào trong chuyện Tam quốc Chí thì phải đã đóng quân dựa lưng vào cái chết như thế này, nhưng nhờ vậy mà binh sĩ phải dốc lòng chiến đấu, không còn đường nào khác.

Mai xuống xe ở Khiêm Hanh, chuyển qua chiếc xe đò vô Dầu Tiếng, Mai lên thăm không báo trước, nàng nghĩ thầm : thôi kệ, để anh ấy bất ngờ, mọi lần thì có xe đón Mai lên, hôm nay Mai cứ sao xuyến trong lòng, mấy cái thiệp cưới đã in xong, nàng muốn đưa lên ngay để : anh ấy kịp gửi mời bạn bè. Chiếc xe cũ kỹ mệt mỏi lăn trên con đường đất đỏ, dân Dầu Tiếng cũng không đông mấy nên chuyến xe cũng không đến nỗi chật chội, đường vô Dầu Tiếng là con đường độc đạo, 2 bên đã được phát quang mỗi bên 200m, khi chiếc xe còn cách ngã ba Đất Sét 3 trăm thước thì bỗng một loạt đạn vang lên từ trong bìa rừng, tiếp theo là một tràng dài nhắm vào chiếc xe, chiếc xe cũ kỹ rung lên, VC lén lút mò ra bắn cả vào xe đò dân chúng di chuyển, Mai thấy nhói ở ngực, một vệt máu loang trên chiếc áo dài trắng, chiếc áo dành cho chàng, một loạt đạn nữa vang lên, Mai giật nẩy người gục xuống, nàng thảng thốt kêu lên :

- anh ơi !

nàng thấy ánh sáng mờ dần, Mai còn thấy chiếc cạp lồng đựng cháo ngả xuống, nàng với tay muốn giữ nó lại nhưng bàn tay không đưa ra được nữa rồi, nó buông thõng xuống, mấy cái thiệp cưới Mai vẫn giữ trong tay rớt xuống sàn xe, nhiều tiếng người kêu khóc, một làn gió thổi tới, mấy tấm thiệp bay tung theo bụi đỏ.

Khi nghe tin, tôi lái xe hộc tốc ngay ra chỗ chiếc xe đò bị bắn, chiếc xe đầy vết máu và vết đạn, tôi nhặt được một cái thiệp còn lại trên xe, cầm cái thiệp, người tôi run lên, không, không phải, Mai không sao hết, em không sao hết, những người chết và bị thương người ta cho biết đã được chuyển về Bệnh Viện Tây Ninh, tôi hối tài xế chạy ngay lên đó, tới nơi, tôi xông vào, người y tá trực hỏi:

- thưaThiếu Tá cần điều chi ?

tôi nói về chiếc xe đò bị bắn ở giữa Khiêm Hanh và Dầu Tiếng

- Dạ, có 4 người chết và 6 người bị thương, mời Th/Tá theo tôi,

anh ta dẫn tôi vô một cái phòng, trên một cái bàn, tôi thấy Mai nằm đó, nàng nằm ngửa, 2 tay đặt trên ngực, chiếc áo dính đầy máu, tôi nấc lên nắm tay Mai :

- em ơi, Mai ơi, anh đây, cầm lấy tay anh

trong hốt hoảng tôi mong Mai sẽ cử động mà nắm lấy tay tôi, chớp chớp mắt khi nghe tiếng tôi nói, điều đó nghĩa là Mai chưa đến nỗi nào, hãy còn sự sống, nhưng bàn tay bất động và giá lạnh. Người y tá đến bên tôi :

- thưa Thiếu Tá, chị ấy đi rồi !

Nước mắt dàn dụa, tôi nhìn khuôn mặt ngây thơ của Mai, nàng như đang ngủ, tôi cúi hôn lên vầng trán, vuốt vuốt mài tóc rối bời vương bụi đỏ, tôi đặt lên tay nàng chiếc thiệp cưới tôi nhặt được trên xe : ôi hạnh phúc của em đây, một hạnh phúc nhỏ nhoi em đang ngụp lặn mà người ta nỡ nhẫn tâm cướp đi của em. Tôi gục xuống.

Người ta bảo rồi thời gian sẽ xóa nhòa hết nhưng cho mãi nhiều năm sau này, tôi không bao giờ quên được hình ảnh Mai nằm trên chiếc bàn ở bệnh viện Tây Ninh máu loang chiếc áo học trò, khuôn mặt ngây thơ không chút hận thù : tôi có làm gì nên tội mà sao cướp đi hạnh phúc tôi, tôi đi gặp người yêu dấu của tôi mà? sao không cho tôi hưởng hạnh phúc của ngày lấy chồng, tôi mới đặt chân vào thiên đường thì lại xô tôi ra ? - Hữu Loan còn có đồi sim để những lần hành quân nhớ về người vợ trẻ chết vùng quê xa, tôi cũng có những lần hành quân nhưng không có đồi sim đi qua mà nhớ về Mai, không còn đôi mắt hạt nhãn chờ đợi như trước, nhưng tôi vẫn còn Bình Hữu, còn căn nhà xưa đầy ắp kỷ niệm để quay về, tôi trở lại đây biết bao lần, ngôi mộ ở giữa vườn sau nhà, Mai nằm đó cô đơn, hai bên mộ, má Mai trồng mấy cây huệ trắng, trắng tinh khiết như mầu áo học trò nàng mặc khi xưa, lần nào tôi cũng đứng lặng hàng giờ trò chuyện cùng nàng, tội nghiệp em, người đi chinh chiến đầy hiểm nguy thì không sao, tội nghiệp em đang say sưa ngụp lặn trong hạnh phúc, đang hân hoan với cuộc đời mầu hồng. Trong căn nhà, cái bàn Mai thường ngồi học mỗi tối vẫn để nguyên vậy, cái khung ảnh có hình Mai 2 tay chống dưới cằm, ánh mắt nhìn tôi cười nghịch ngợm : thì đã nói người ta dốt mà, chê người ta mãi, em bỏ muối vô cà phê cho xem.

TRẦN NHƯ XUYÊN
( Trích : Đoạn Đường Chiến Binh )
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Người con gái sông Hương

(Một câu chuyện có thật)
Cuộc chiến Việt Nam đã để lại biết bao nhiêu cuộc tình éo le sầu thảm.

Một thời để yêu và một thời để chết. Một thời bên nhau, đại bác xa xa vọng về và hỏa châu thắp sáng chân trời. Rồi tù đầy chia cắt. Anh trở về dang dở đời em. Nhiều trường hợp sau hơn 10 năm ngục tù, anh trở về , em đã đem con qua Mỹ và đi xa hơn nữa, em đã sang ngang. Cũng như hàng trăm người khác, chuyện cô gái sông Hương mà tôi kể cho quý vị hôm nay cũng vậy mà thôi.

Image
Cô Lan Hương

Nhưng đây là câu chuyện trong gia đình anh chị em cùng khóa của chúng tôi, xin kể lại để quý vị nghĩ rằng đây là khổ đau hay hạnh phúc.

Ðặc biệt đây là câu chuyện liên quan đến mặt trận Quảng Trị năm 1972.

Chàng là sĩ quan thủy quân lục chiến, tốt nghiệp Ðà Lạt, cùng khóa với chúng tôi. Năm đó đã trên 30 tuổi, ly dị vợ, sống độc thân, đẹp trai và có thể nói là hào hoa phong nhã.

Ðời thủy quân lục chiến, 12 tháng anh đi, nay đây mai đó. Còn nhớ bài ca của lính mũ xanh. Tháng hai đem quân ra Huế... và ở đó trung tá Nguyễn đã gặp cô Lan Hương, sinh viên văn khoa, người con gái sông Hương. Lúc đó vào đầu thập niên 70, em mới 20 tuổi. Cô gái Huế cũng có nhiều bạn trai theo đuổi và phần cô cũng rất đào hoa. Ðược coi là người đẹp văn khoa xứ Huế. Gặp chàng sĩ quan Bắc Kỳ, áo mầu lính biển với mũ xanh, mang vóc dáng của người hùng thời chinh chiến, Lan Hương bỏ tất cả để theo chàng.

Chị cả một gia đình lễ giáo bảo thủ, cha mẹ cô hoàn toàn chống đối cuộc hôn nhân hết sức phiêu lưu. Anh chàng Bắc kỳ hơi lớn tuổi, quá khứ chẳng biết ra sao, đi thứ lính không biết chết ngày nào, không ai lại muốn con gái sớm thành góa phụ.

Nhưng cô gái sông Hương bướng bỉnh đã bỏ nhà theo sư đoàn thủy quân lục chiến vào Saigon mất tăm dạng. Nàng chỉ trở về với đứa con trong bụng để rồi gia đình cũng phải đành chấp nhận cho chàng rể bất đắc dĩ ra mắt nhạc gia và chờ đón đứa cháu ra đời.

Lúc đó đúng vào giai đoạn trung tá Nguyễn cùng với lữ đoàn đang chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị. Lan Hương đau bụng vào nhà thương khi Bắc quân tấn công thủy quân lục chiến tại Ái Tử.

Hương kể rằng đại bác chẳng biết từ đâu vọng về ngày đêm. Rồi bom nổ, tiếng máy bay xé ngang trời. Dân chúng bị thương, bị chết đem vào bệnh viện cho đến ngày 6 tháng 4 năm 1972 đứa con trai đầu lòng của cô gái sông Hương ra đời. Ðặt tên cháu là Vũ.

Cũng ngày hôm đó, từ mặt trận trung tá Nguyễn bay trực thăng về hậu cứ, rồi xe nhà binh cùng với binh sĩ ào vào thăm vợ con được ít phút rồi lại ra đi.

Lính tráng đi với ông thầy, súng đạn đầy người, áo quần tơi tả, đến rồi đi tưởng như trong phim ảnh.

Cô sinh viên nay trở thành bà mẹ trẻ ôm con khóc không biết rồi đây anh có trở về không ? Ðó là những ngày đầu của người con gái nếm mùi đau thương chinh chiến. Mấy năm trước, dù Mậu Thân với bom đạn và xác người chôn ở vườn nhà, tuy có sợ hãi nhưng vẫn còn ở tuổi ngây thơ. Bây giờ chiến tranh mới thâm nhập vào da thịt.
Image
Lan Hương với quân phục Thủy Quân Lục Chiến

Suốt 6 tháng dài từ tháng 4 tới tháng 9 năm 1972 Lan Hương thực sự sống với chiến trường Quảng Trị. Theo tin chiến sự mỗi ngày. Quân ta quân địch đánh nhau ở đâu.

Thủy quân lục chiến rút lui ra sao, rồi đơn vị về Huế dưỡng quân để lên đường vượt Mỹ Chánh thế nào.


Người con gái sông Hương cùng thở theo hơi thở của cả đoàn quân mũ xanh. Khi đánh vào Cổ Thành, lính bên ta chết bao nhiêu, xác đem về đầy các xe nhà binh, máy bay chở về Saigon không kịp còn nằm chờ ở phi trường.

Cô sống trong những cơn ác mộng ngày đêm, không đêm nào là không có cơn mộng dữ. Ðứa con đầu lòng đã sống trong niềm lo bất tận của mẹ.

Tiếp theo là 1 tin vui trong giai đoạn mới của binh nghiệp. Trung tá Nguyễn đổi về Saigon làm trung đoàn trưởng 1 trung đoàn bộ binh. Mặt trận miền Ðông cũng không kém phần ác liệt, tuy nhiên không khí thủ đô làm cho gia đình có được những giây phút tương đối an toàn.

Mới đây, từ bên Arizona, đọc những bài viết về trận Quảng Trị và dự trù làm phim, cô Lan Hương đã viết cho gia đình tôi một đoạn email.
“Ðọc những chuyện về trận Quảng trị 37 năm về trước, em hết sức xúc động. Ðó là một phần cuộc đời của em không bao giờ quên được. Cuộc đời làm vợ lính thủy quân lục chiến, làm mẹ lần đầu. Và do những tình cờ em lại quen biết với gia đình anh chị suốt bao năm nay.”

Tháng Tư, ngày định mệnh

Mặc dù là bạn cùng khóa, nhưng tôi không hề biết về gia cảnh của trung tá Nguyễn. Hai tuần trước ngày 30 tháng 4-1975, tôi có dịp đi cùng người anh của Nguyễn lên chiến trường miền Ðông để thăm trung đoàn tại Bến Cát. Anh của Nguyễn là trung tá Tâm, cùng làm việc với chúng tôi tại Tổng Tham Mưu.

Xem tình hình tại chỗ, thấy hoàn cảnh của Nguyễn, với trách nhiệm chỉ huy tại chiến trường, rõ ràng là việc di tản hoàn toàn không có điều kiện.

Sáng 30 tháng 4-1975, chúng tôi đi bằng tàu quân vận tại Khánh Hội, theo sau đoàn tàu Hải quân. Gia đình anh Tâm chạy theo chúng tôi lại có cả cô em dâu và 1 đứa con 3 tuổi. Cô em dâu lại đang mang bầu, chính là Lan Hương của trung tá Nguyễn. Người con gái sông Hương của thủy quân lục chiến và đứa con trai là thằng bé ra đời trong thời gian mùa hè 72 tại Quảng trị.

Mang bầu đứa con thứ hai, với thằng bé 3 tuổi, chạy theo anh chị, xuống tàu ra khơi. Lúc đó, thực sự tất cả chúng tôi cũng mơ hồ không biết đi đâu. Có thể về miền Tây, ra Phú quốc, ra Côn sơn theo Hải quân hay chờ tàu Mỹ vớt. Nhiều gia đình hy vọng thoát cơn hồng thủy, nhưng Lan Hương tan nát trong lòng. Biết thế này em ở lại Saigon chờ anh Nguyễn.

Sau cùng, trải qua chuyến hải hành đầy nước mắt, mẹ con theo anh chị đến đảo Guam thì cô quyết định xin ghi danh theo con tàu Việt Nam Thương Tín để trở về. Tuy nhiên vì sắp đến ngày sanh, lại thấy những người xin về có những hoạt động đấu tranh quá dữ dội nên sau cùng cô ở lại. Khóc thì vẫn khóc.

Qua đến miền đông nước Mỹ, Lan Hương sanh đứa con trai thứ nhì trong trại tỵ nạn Fort Chaffee đặt tên là thằng Việt.

Họ Ðạo miền Trung Mỹ bảo trợ cho Lan Hương nuôi con. Hai đứa bé còn thật nhỏ. Những bà vú Hoa Kỳ tình nguyện thay phiên đến trong nhà trông con để mẹ đi học. Xứ Huế với dòng sông Hương, gia đình cha mẹ, các em vẫn xa tít mù khơi. Không có tin tức gì về anh Nguyễn. Nào biết còn sống hay chết. Ðã đi tù hay mất tích.

Những buổi tối mùa đông của miền băng giá, cô vẫn lặn lội đi học. Xa cách những vùng có đông người Việt. Gia đình anh chị bên nhà Nguyễn cũng bận rộn về sinh kế. Những đứa con còn nhỏ dại. Cô sinh viên văn khoa của sông Hương lầm lũi trở thành bà mẹ trẻ học trò tỵ nạn trong kiếp sống cô đơn.

Lỡ bước sang ngang

Trong hoàn cảnh đó, trải qua gần 5 năm hấp thụ nền văn minh Mỹ quốc, Lan Hương gặp ông giáo sư dạy chương trình điện toán. Ông thầy Mỹ cũng đã ly dị vợ từ lâu đem lòng thương yêu cô gái Việt và xin cưới.

Trung tá Tâm, anh của Nguyễn, điện thoại cho chúng tôi nói rằng 2 người đến nói chuyện để xin phép được lập gia đình. Tuy là vai anh chồng và là bác của những đứa con nhưng làm sao trả lời được.

Ai mà có thể quyết định Yes hay No.

Nếu không đồng ý thì cũng không ngăn cản được. Vả lại, nếu cô Hương ở vậy làm sao nuôi con thành người . Những đứa nhỏ sắp sửa vào trường. Rồi trung học, đại học. Tin nhà không có. Biết Nguyễn sống chết ra sao và sẽ chờ đến bao giờ.

Hơn nữa cũng chẳng phải thuần túy vì sinh kế. Cô gái sông Hương ngày xưa đã có một thời nhiệt tình để yêu. Ðã có can đảm bỏ nhà đi theo sư đoàn thủy quân lục chiến.

Ngày nay nàng đã tìm thấy hơi ấm tình yêu mới bên cạnh ông thầy đại học vào những lớp tối mùa đông. Cô ở vào tuổi 30 khi gặp anh chàng người Mỹ, cũng cao lớn đẹp trai vững vàng như trung tá Thủy quân lục chiến của mùa hè Quảng Trị ngày xưa.

Ngày cưới đã ấn định. Tháng 7 năm 1980. Hai đứa con trai nhỏ vô tư vui vẻ làm quen với người cha Hoa Kỳ bao dung và tận tụy.

Nhưng số mệnh vẫn còn nhiều cay đắng. Ba ngày trước khi làm đám cưới, Lan Hương nhận được thư nhà từ Huế gửi qua. Kèm theo là mẩu giấy nhỏ nhắn tin của Nguyễn, còn sống, vẫn ở tù, chẳng biết ở đâu. Không biết còn sống được bao lâu. Nhưng còn sống.

Lan Hương nhớ lại, những ngày xa xưa của năm 80, gần 30 năm về trước là những giờ phút hết sức trăn trở. Vui mừng cho 2 đứa con vẫn còn bố. Nhưng bẽ bàng cho duyên phận. Sau cùng, đám cưới vẫn tiến hành qua những ngày đầy nước mắt.

Rồi ngày tháng trôi qua, cuộc sống trên đất Mỹ với người chồng yêu thương, hết sức quân tử đã tạo thành 1 gia đình kiểu mẩu. Lan Hương có nhiều cơ hội giúp đỡ cha mẹ và các em. Gửi quà về tiếp tế cho Nguyễn trong trong trại tù từ Bắc vào Nam.

Từ trong trại, anh Nguyễn mơ hồ biết là vợ con đã qua Mỹ nhưng không có nhiều tin tức. Sau hơn 13 năm “ lao động cải tạo “ người anh hùng TQLC một thời được trở lại Saigon.

Biết tin vợ con hạnh phúc trong gia đình mới. Anh tìm lại người vợ cũ, làm hồ sơ HO đưa tất cả qua Hoa Kỳ. Ðịnh cư tại miền Trung Mỹ. Tuy giấy tờ là 1 gia đình nhưng Nguyễn vẫn sống độc thân như thời kỳ trước 75 . Gia đình mới của Lan Hương bây giờ đã dọn qua sống tại miền Tây.

Anh trở về, dang dở đời em...


Mùa xuân năm 1991, cô gái sông Hương giờ đây đã 40 tuổi, đem 2 con qua miền Ðông gặp bố lần đầu tiên. Trước khi đi, người chồng Mỹ cầm tay Hương mà nói rằng: “Em hãy đi và thử hỏi lòng mình 1 lần cho rõ ràng. Nếu đây là lần chúng ta chia tay, anh cũng đành chấp nhận. Chuyện của chúng ta sau 10 năm, đến đây là đoạn cuối. Nhưng nếu em trở lại, thì xin nói lời chia tay rõ ràng với Mr. Nguyễn. Ðối với anh, Nguyễn luôn luôn là 1 người anh hùng. Nếu cần thì anh cũng phải hy sinh. Cảm ơn em đã cho anh một gia đình trong 10 năm hạnh phúc.

Tiếp đến cuộc gặp gỡ đầy đau thương của vợ chồng và bố con ông HO. Trời mùa đông Hoa Kỳ hình như có cả cơn gió Lào thổi về Quảng trị. Nguyễn cũng có tâm trạng ước mong đoàn tụ nhưng rồi chợt biết là đã ngàn trùng xa cách. Nàng đã có gia đình mới. Mẹ con thấm nhuần văn hóa Mỹ. Anh không thể và cũng không có khả năng phá vỡ được bức tường ngăn cách đã xây dựng từ 15 năm qua.

Ðành để cho định mệnh đóng vai trò quyết định. Dự trù ra đi 1 tuần nhưng 4 ngày sau Lan Hương đã đem con trở về với ông bố Mỹ. Và 1 lần nữa người cha Hoa Kỳ sung sướng đón mẹ con Việt Nam trong vòng tay mở rộng. Gia đình Lan Hương sống tại San Francisco nên có cơ hội gần gia đình chúng tôi như cô em gái. Chúng tôi biết hết gia cảnh, và cô cũng vui lòng kể hết chuyện đời.

Cay đắng nở hoa...

Tháng 5 năm 2002, chúng tôi nhận được thiếp mời đi dự đám cưới cháu Việt tại Arizona. Bác sĩ Việt 27 tuổi lấy cô vợ Mỹ, bạn học thời sinh viên tại nơi tiểu bang đồng khô cỏ cháy nhưng mang đầy truyền thống hết sức Hoa Kỳ.

Gia đình nhà vợ giàu có và bề thế. Bạn bè anh chị em nhà cô dâu Mỹ rất khích động ồn ào khi đón được chú rể bác sĩ Việt Nam đẹp trai độc đáo như tài tử Kong Fu Bruce Lee.

Lễ cưới cử hành long trọng tại nhà thờ. Ông bố vợ đại diện gia đình nhà gái chào mừng nhà trai và quan khách. Nhà trai của bác sĩ Việt gồm cả 2 quốc gia Hoa Kỳ-Việt Nam từ bốn phương kéo về.

Ông bố chồng Hoa Kỳ đứng lên giới thiệu ông bố chồng Việt Nam là trung tá Nguyễn của chúng ta. Vị giáo sư điện toán của đại học nói rằng đây là người anh hùng Thủy quân lục chiến Việt Nam, đã chiến đấu 20 năm cho miền Nam tự do từ Tết Offensive 68 cho đến Easter Offensive 72. Ðã trải qua hơn 13 năm làm tù binh trong trại tù cộng sản. Mr. Nguyễn là anh hùng của ngày xưa và là anh hùng của ngày hôm nay.

Image
Hình 3 người cha của bác sĩ Việt, Cha nuôi, Cha ruột và Cha vợ

Với tư cách là bạn bè và là khách của nhà trai, tôi có dịp lên tiếng nhắc lại những ngày Nguyễn chiến đấu tại Quảng Trị, những ngày anh ở lại Bến Cát cho đến khi Tư lệnh sư đoàn tự vẫn và ông bị bắt vào tù. Mrs. Nguyễn mang bầu đi cùng chúng tôi ra khơi, được tàu Mỹ vớt, sanh cháu Việt trong trại tỵ nạn. Ðặt tên Việt để nhớ mãi về quê hương. Và hôm nay... Không khí cảm động và hơi căng thẳng, nên chúng tôi tìm cách kết luận nhẹ nhàng,... và hôm nay, Dr.Việt bỏ người cha Marin Corp Việt Nam và cả người cha giáo sư đại học Hoa Kỳ để về ở rể với người cha vợ Arizona chỉ vì cậu bác sĩ của chúng tôi đi theo tiếng gọi của ái tình...

Tiếp theo, MC là em gái của cô dâu giới thiệu bà mẹ Lan Hương đi lên chứng kiến lễ cưới của con trai. Ông chồng cũ Việt Nam đi 1 bên, ông chồng hiện tại Hoa Kỳ đi 1 bên. Cô gái sông Hương khoác tay cả 2 chàng đi lên bàn thờ. Quan khách vỗ tay tán thưởng còn nhiều hơn là dành cho cô dâu chú rể.

Trong đời chúng tôi, chưa từng dự 1 đám cưới nào như vậy. Chú rể mới chụp hình kỷ niệm với 3 ông bố. Bức hình là một di tích lịch sử của gia đình.

Họp khóa mùa Xuân

Tháng 3 năm 2004, kỷ niệm 50 năm của 1 khóa quân trường. Anh em chúng tôi vào trường Ðà lạt tháng 3 năm 1954. 50 năm sau anh em gặp lại tại Orange County, điểm danh xem ai còn ai mất.

Cô Lan Hương đến dự đi cùng gia đình chúng tôi. Anh Nguyễn độc thân từ miền Ðông về gặp anh em. Ði cùng gia đình trung tá Tâm, chúng tôi đều là những ông già 70 tuổi.

Riêng cô gái sông Hương vẫn còn trẻ như ngày xưa. Anh em họp mặt hết sức cảm động. Giới thiệu từng trung đội của năm 1954 xa xôi. Thời gian đó chúng tôi xa Hà Nội năm lên 18 chưa từng biết yêu. Ðến năm 1975 thì bao nhiêu mộng đẹp bay ra thành khói tan theo mây chiều.

Từ Vũ thế Quang, Nguyễn hữu Luyện và anh Nguyễn của đại đội 5, cho đến các bạn của đại đội 6 như Lại Thọ, Trần quốc Lịch, Lê xuân Ðịnh.

Tiết mục sau cùng là người đẹp trao vòng hoa chiến thắng một đời cho các chiến sĩ cao niên. Chị Thiều, nữ sinh Sài Gòn trao vòng hoa cho nhẩy dù Ngô quang Thiều như chuyện tình năm xưa của thời chiến dịch Hoàng Diệu. Lan Hương của xứ Huế trao hoa cho anh Nguyễn, thủy quân lục chiến.

Bây giờ anh Thiều và một số bạn khác đã ra đi, nhưng Nguyễn và Lan Hương vẫn còn đây. Vẫn là cha mẹ của những đứa con, là ông bà của các cháu, nhưng chàng trai Hà Nội và cô gái xứ Huế chỉ còn biết nhau trong tình bạn.

Vì đây là chuyện thật nên vào tháng 10 năm nay 2009, nếu các bạn tò mò muốn biết mặt những nhân vật từ trong tiểu thuyết bước ra cuộc đời, thì xin đến San Jose. Khóa chúng tôi họp mặt lần cuối, kỷ niệm 55 năm kể từ khi ra trường tháng 10 năm 1954.

Sau này, có lẽ lực bất tòng tâm. Năm 2014 kỷ niệm 60 năm nhập ngũ, anh em chúng tôi sẽ tổ chức tại gia. Nhà ai nấy làm. Chỉ có thể mời cô Lan Hương đến dự. Vì cô gái sông Hương mãi mãi tuổi 20.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

NĂM NĂM BẾN CŨ
TRẦN NHƯ XUYÊN

( Kính tặng hương hồn cố Trung Úy Lê Đình Long, K21 Võ Bị Đà Lạt )
Vầng trăng từ độ lên ngôi
năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
( Huy Cận )

( HNPĐ )Nguyện bước xuống xe, trời đã về chiều, Đà Lạt đang giữa mùa đông, chưa tối mà thành phố đã mơ màng như sương khói phủ, Nguyện co ro cài lại chiếc áo len mà từ lúc xe ra khỏi Blao nàng chỉ khoác hờ trên vai, bến xe hơi vắng, có lẽ chuyến xe của mình là chuyến cuối cùng từ Sài Gòn ra, nàng sách chiếc va li lững thững bước đi.

Nguyện cũng không hiểu sao giờ này mình lại ở đây, mới mấy ngày trước thôi, dù những khẩn khoản của Long mời nàng lên dự lễ mãn khóa của chàng, Nguyện vẫn giữ ý định là sẽ không đi, Nguyện ngại vì chưa bao giờ nàng đi xa một mình. Vậy mà...chả là tuần trước buổi chiều đi làm về, nàng có thói quen ngày nào cũng vậy, thả bộ dọc theo đường Tự Do đầy lá me, đúng là con đường có hàng cây lá xanh gần với nhau. Nguyện thích con đường này từ hồi còn đi học, giờ, từ ngân hàng nơi nàng làm việc, Nguyện đi bộ dọc suốt con đường, tới Bưu điện, nàng chờ xe bus để về Đa Kao.

Hôm đó, đang ngang qua cái công viên xéo La Pagode ngó qua, buổi chiều còn chút nắng, hình như trời sắp mưa, một cơn mưa cuối mùa còn sót lại. Nguyện bước trên con đường sỏi nhỏ, gió thổi tung bay mái tóc, nàng đưa tay giữ lại, Nguyện chợt nhớ lời Long nói:" em lên đây với anh, gió sẽ mừng vì tóc em bay đó", cái anh chàng Như, bạn của Long còn chêm vào:" cả thành phố này cũng sẽ mừng vì tóc Nguyện bay nữa!", Nguyện mỉm cười nhớ tới sự lém lỉnh của họ, " lính mà cũng bầy đặt lãng mạn".

Nguyện cúi nhặt một chiếc lá trên lối đi, mình cũng lãng mạn đấy thôi, hay là tại Long, hay mình đang nghĩ tới chàng? Mấy hạt mưa bắt đầu rơi, Nguyện bước vào một mái hiên đứng núp, ngắm nhìn những hạt mưa trên lá me, Nguyện nghe trong lòng như có tiếng hát:" em bước chân qua thềm, mưa vẫn rơi êm đềm..."nàng nghĩ thầm: lòng mình cũng êm đềm quá chứ phải không, vậy sao mình không lên thăm Long và dự lễ mãn khóa của chàng! một quyết định bất chợt như cơn mưa bất chợt ùa đến.

Đâu phải tại cơn mưa- Nguyện đỏ mặt- nếu không là tình yêu!

X X X

Long quen Nguyện trong một dịp tình cờ, hôm về Sài Gòn diễn hành Quốc Khánh cuối năm thứ nhất, ghé thăm người anh thì gặp Nguyện ở đó, Long đi với Như, một người bạn thân cùng khóa. Nguyện làm chung sở với người chị dâu, hôm đó nàng tới để tập hát cho buổi liên hoan tất niên.

Long, Như ngồi nói chuyện với người anh, Nguyện và người chị hát nho nhỏ: vầng trăng từ độ lên ngôi, năm năm bến cũ em ngồi quay tơ, em ngồi quay tơ....

Chị đang hát chợt ngừng lại:

- Long, chú thấy tụi này hát có đúng không?

Long cười:

- Em biết gì về hát với hò, chị hỏi thằng Như này này, nó là trưởng ban văn nghệ của trường đó.

Chị quay sang Như:

- Vậy hả, sao, Như thấy thế nào? tụi này chỉ hát thôi, còn đám khác múa, không biết có ra gì không..

Như đáp:

- Nếu thế chị phải phối hợp với mấy người múa nữa chứ, lời hát và động tác múa phải ăn khớp với nhau, còn bài hát thì chị và cô Nguyện phải luyến láy cho rõ thì mới thấy được cái guồng tơ đang quay.

Như với lấy chiếc guitar để cạnh đó:

- Nào, chị và cô Nguyện hát đi, tôi chỉ thêm cho.

Đấy, Long gặp Nguyện trong trường hợp như thế, thực ra từ lâu, anh chị cũng muốn giới thiệu Long với Nguyện nhưng chưa có dịp. Nguyện cò trẻ, dáng dấp như một nữ sinh hơn là một người đi làm, mái tóc xõa dài, làn da trắng mịn là điểm nổi bật nơi Nguyện. Hôm sau, anh chị mời Long và Như tới nhà ăn cơm và dĩ nhiên có cả Nguyện, lúc ngồi uống nước, người chị kéo Như ra một chỗ làm như có điều gì hỏi, để mặc Long cùng Nguyện, sự sắp xếp như thế dù có vẻ như vô tình nhưng cũng đủ cho Nguyện hiểu. Nguyện hồn nhiên hỏi Long:

- Sao Nguyện thấy các anh ăn mặc khác với các người lính khác vậy, ở Sài Gòn này, Nguyện chỉ toàn thấy các ông lính mặc quần áo xanh hoặc rằn ri thôi, đằng này mầu kaki, áo bốn túi, lại có cầu vai mầu đỏ nữa.

- Thế Nguyện thấy xấu hay đẹp?

- Dĩ nhiên là đẹp rồi, không phải nịnh đâu, trông các anh có vẻ thư sinh hơn, không dữ dằn như mấy ông kia.

- Đây là bộ dạo phố mùa hè, tụi anh nhiều quần áo lắm, càng nhiều càng khổ, còn dữ dằn thì làm gì có lính nào dữ dằn.

- Thật đấy, trước kia Nguyện cứ thấy mấy ông lính là Nguyện thấy thế nào ấy, không hiểu vì sao.

- Nguyện nói trước kia thì như vậy, thế còn giờ thì sao?

- Anh khéo cài người ta, thôi được cũng cứ nói, nhưng một lần nữa, không phải nịnh đâu, các anh nói chuyện hay hơn, có vẻ hiền hơn, và - Nguyện cười khúc khích - bảnh bao hơn.

Long nói như mời:

- Vậy thì mấy ngày nữa, anh đi diễn hành, Nguyện đi coi đi, sẽ thấy tụi anh còn bảnh bao hơn thế này nhiều.

- Nguyện biết chỗ nào đâu mà coi.

- Nguyện tới đây đi với anh chị Thanh, anh chị ấy cũng đi coi, chắc Nguyện sẽ không nhận ra tụi này đâu vì trông ai cũng giống ai, khó mà nhận ra.

Nguyện chỉ có hai chị em gái, không biết tí gì về lính tráng, bố là công chức bộ tài chánh. Sau ngày diễn hành, Long chỉ còn có bốn ngày nữa phải trở về Đà Lạt, chưa có gì là rõ ràng cả nhưng bốn ngày còn lại đó, họ gặp nhau thường hơn, Long đưa Nguyện đi chơi để có dịp tìm hiểu hơn về nhau, có những điều không cần phải nói, cả hai cùng nghĩ như vậy, nhưng buổi cuối cùng, khi Long nhắc

- Mai anh phải về Đà Lạt rồi.

Mắt Nguyện chợt thăm thẳm, bàng hoàng, Nguyện không muốn Long cho mình là vội vàng, dù quen biết nhau chưa được bao lâu nhưng những lần nói chuyện, Nguyện mơ hồ thấy nhen nhúm trong mình một tình cảm nào đó, rất nhẹ nhàng, nàng thấy vui những lúc có Long, ánh mắt nhìn nhau mà họ hiểu chẳng cần phải nói nhiều.

Long hỏi như một lời ướm:

- Chắc chỉ sau ngày mai thôi, Nguyện sẽ quên tụi này ngay mà, dù sao thì cũng cám ơn Nguyện đã cho anh những ngày thật vui, về lại Đà Lạt, anh sẽ đem theo biết bao kỷ niệm đẹp.

Trong một cử chỉ bất ngờ dù nhủ lòng đừng để Long hiểu lầm mình là người quá vội, Nguyện cầm tay Long áp lên má mình, một điều đó thôi, không cần phải nói gì cả mà như là đã nói rất nhiều, có phải thế không anh - Nguyện nói thầm - mưa vẫn rơi êm đềm, và lòng em cũng rất êm đềm.

Tết năm đó, Long được về phép 15 ngày, giờ thì không còn gì gọi là quá vội để bầy tỏ tình cảm cho nhau. trong những lần đi chơi, Long thường dẫn Nguyện vào Givral:

- Hồi còn đi học, anh cùng bạn bè hay ngồi ở đây ngắm các cô làm ở ngân hàng về, tà áo dài đồng phục làm mát cả đường phố.

- Hóa ra anh đã để ý đến em từ hồi nào, đùa vậy chứ lúc đó em vẫn còn ở mãi đâu đâu, em thì chiều nào làm về cũng ngang qua đây, đi suốt con đường Tự Do này để nhớ đến anh, có lần chị Thanh trông thấy em gọi mà em cũng chẳng nghe thấy, hôm sau vào, chị trêu quá trời.

Long nhìn Nguyện nồng nàn và nàng cũng vậy.

- Chừng nào anh mãn khóa?

- Tháng 11, cuối năm.

- Rồi anh ra mặt trận?

- Anh ra đơn vị chứ không phải ra mặt trận.

- Anh ạ, em mới đọc cuốn "Đêm nghe tiếng đại bác" của Nhã Ca, em sợ quá, sao lại có chiến tranh để làm gì nhỉ?

- Có gì đâu em, đâu phải ai cũng vậy, đừng nghĩ vẩn vơ, tôi đứng lên, mình dạo phố một lát.

Những ngày phép qua nhanh, họ có nói với nhau về tương lai, tuy chỉ mơ hồ. Long nói với Nguyện là sau ngày ra trường, nếu chúng ta còn nghĩ đến nhau, chúng ta sẽ chính thức sống chung, Long thấy Nguyện run lên trong tay mình.

X X X

Ba người ngồi trong một quán cà phê nhỏ cuối dốc Duy Tân, Long rối rít:

- Sao em lên mà không cho anh hay, anh cứ nghĩ lễ mãn khóa này anh sẽ chán chết, thằng Như còn có bà cụ nó lên nữa là.

- Vậy hả, cụ đâu rồi Như?

- Bà đang trong nhà người quen, mấy hôm nay thằng Long cứ đòi đưa cụ đi chơi, giờ thì chắc thôi rồi phải không Long!

- Em, tụi anh lúc này rất bận, vừa tập lễ mãn khóa, vừa tập vở kịch, sẵn có người quen của thằng Như ở đây, anh nhờ họ dẫn em đi chơi, tuần sau mãn khóa thì anh hoàn toàn thong thả.

- Eo ơi, trông các anh sao mà đen thế, hết đẹp trai rồi, sao em lại quen với mấy ông chà và này nhỉ.

- Tụi này mới ở dục Mỹ về chưa được bao lâu, đó là trung tâm tàn phá sắc đẹp mà Nguyện, không sao, tháng sau lại đẹp trai như thường, lúc đó ai cần ai không biết.

- Ông Như, Nguyện lên đây mà có thấy ai mừng vì tóc Nguyện bay đâu, ông chỉ khéo làm thơ, nghe Long nói ông biết làm thơ nữa hả, hôm nào làm cho Nguyện bài thơ đi.

- Long nó ngâm thơ cho Nguyện nghe nhiều rồi, cô còn cần thơ ai nữa.

Nguyện vỗ vỗ tay Long:

-Em nghe nói trên này có cà phê Tùng ngon lắm phải không? cho em lại đó đi.

- Không được đâu, chỗ đó toàn tụi anh không hà, em vào đó chẳng khác nào hoa lạc giữa rừng gươm.

Nguyện cười:

- Thì cứ cho em lại đó, các ông đen thui như thế này thì ai nhìn thấy ai, thế nào trước khi về Sài Gòn, anh phải dẫn em lại đấy đấy.

X X X

Hôm mãn khóa, Nguyện đi cùng với mẹ Như vào trường Võ Bị, buổi lễ rất trang trọng và đông thân nhân tham dự, mẹ Như hỏi Nguyện:

- Cô có thấy thằng Như nó đứng chỗ nào không?

- Con cũng không biết nữa, trông người nào cũng như người nào, cả Long con cũng chẳng thấy đâu nữa.

Buổi lễ xong, Như đưa mẹ Như và Nguyện ra lại Đà Lạt, tối dạ vũ ở Palace, Nguyện theo Long và Như, líu ríu như cô gái nhỏ, tối nay, Nguyện mặc chiếc áo dài mầu vàng, khoác cái manteau mầu chocolat đậm, Nguyện cứ nhắc đi, nhắc lại:

- Nhớ nhé, em nhẩy không giỏi đâu đấy, đừng có mà"phăng" lung tung làm em té lăn quay ra là chết, bạn bè nó dậy em mới lơ tơ mơ thôi.

Lúc Long mời nàng, Long mới thấy Nguyện thực không nhẩy giỏi, chứng tỏ Nguyện cũng không đi chơi nhiều.

Rời Palace, đêm mát lạnh, Nguyện đi giữa Long và Như, gió khuya thổi bay tóc Nguyện, Như nói:

- Giờ thì Nguyện có thấy nhiều người mừng vì tóc Nguyện bay chưa?

- Có thấy gì đâu Như!

-Nguyện không thấy mấy đứa bạn tụi anh ngắm Nguyện quá chừng à, không có anh và Long thì phải biết.

Long đỡ lưng Nguyện:

-Em có đói bụng không, mình kiếm cái gì ăn nghe, tối nay em là " la plus belle pour aller manger" đấy.

- Ừ, em cũng thấy đói rồi, em đề nghị thế này, mình về thay quần áo, xuống phố đi ăn bụi ngoài đường một bữa, cứ ăn tiệm mãi phát chán.

Cả ba thay quần áo, lang thang ngoài phố ăn cháo khuya, hột vịt lộn...xong lại kéo nhau về cái quán cà phê dưới con dốc Duy Tân. Hai ngày sau, Đà Lạt vắng hẳn bóng dáng các Sĩ quan vừa mãn khóa, mọi người háo hức về với gia đình. Như đưa mẹ ra bến xe về lại Sài Gòn, còn chàng phải đi máy bay vì vấn đề an ninh. Long và Nguyện cứ giữ Như ở lại chơi với họ ít ngày nữa nhưng Như từ chối, để họ được tự do.

X X X

Long và Như chọn cùng Sư Đoàn 25, mấy ngày phép còn lại, Long và Nguyện quấn quýt bên nhau, Nguyện đưa Long về giới thiệu với Ba, Má. Cùng tình yêu say đắm nhưng không làm chùn bước người sĩ quan trẻ mới ra trường, Long mang tình yêu đó ra đơn vị, những bỡ ngỡ ban đầu qua đi rất nhanh, Long dần vững vàng trong vai trò của một sĩ quan chỉ huy đơn vị tác chiến. Sau 6 tháng vừa là Trung đội Trưởng vừa là Đại Đội Phó, như đa số K21 ra BB lúc đó, đều nắm Đại Đội Trưởng. Năm 1967, Long An VC chưa nhiều, SĐ 25 nhận trách nhiệm bình định đúng với trên của khóa là " Chiến thắng nông thôn".

X X X

Long ngồi trên bờ ruộng, nheo mắt nhìn vào hàng dừa nước trước mặt rồi nhìn vào bản đồ để xác định mục tiêu, chỗ này, theo tin tình báo, địch tập trung tới cấp Đại Đội, hồi nãy đi ngang xóm nhà phía ngoài, Long thấy dân chúng hớt hải bồng bế nhau chạy ra phía đường lộ, chẳng cần phải hỏi chàng cũng biết tình hình như thế nào rồi.

Đám lá cao ngất rước mặt, che kín cả một vùng sông rạch, Long càu nhàu:

- Mẹ nó, xứ gì mà chỗ nào cũng là lá với lá, hôm nay có chuyện lớn đây.

Chàng gọi máy nói chuyện cùng Tiểu đoàn Trưởng, bộ chỉ huy TĐ đặt ngoài con lộ:

- Đại bàng có thấy dân họ chạy ra ngoài đó không, chắc tụi nó khá đông đấy.

- Tôi thấy rồi, xử dụng pháo thật nhiều rồi hãy cho con cái vào, tôi đã xin cả phi cơ cho anh.

Long quay sang sĩ quan " đề lô " đứng cạnh:

- Cậu kêu tất cả các khẩu pháo của Cần Giuộc, Cần Đước, Rạch Kiến ưu tiên cho mình, đọc tọa độ cho họ đi, hôm nay là em khô cổ đó em.

Long biết, nếu cho quân từ ruộng trống như thế này mà vào thì chỉ tổ làm bia cho địch bắn, còn tạt trái mà men theo rạch thì tiến rất chậm, còn bị mìn bẫy nữa.

Chàng gọi Đoàn, Trung đội Trưởng trực chính hôm nay, Chuẩn úy ra trường gần một năm, đánh giặc cũng ngon lành, bị thương mới về lại đơn vị;

- Cậu có thấy đám lá trước mặt đó không, tụi nó ở trong đó đó, tôi sẽ kêu pháo bắn rồi cậu cho mấy đứa nhấp thử xem sao.

Pháo từ Cần Đước bắn vào mục tiêu, từng loạt đạn nổ vang rền, khi pháo ngưng, năm người lính thuộc Trung đội Đoàn chạy băng lên phía trước, nước lấp xấp tung tóe dưới chân họ, khi còn cách đám lá khoảng 50 thước, họ đồng loạt khai hỏa, ngay lúc ấy, từ trong đám dừa lá, đạn VC bắn ra như mưa, cả năm người lính mất hút sau một bờ ruộng, không biết ai trúng đạn, ai không.

Tiểu Đoàn cho lệnh Long ngừng lại, sĩ quan ban ba gọi Long trên máy:

- Thẩm quyền chờ cho pháo bắn thêm nữa, sẽ có phi tuần lên cho mình.

Lúc sau, pháo từ ba, bốn phía bắn dồn dập vào mục tiêu, những thân cây dừa nước bị mảnh pháo chém bay tung lên trời, đám lá đã quang đi được một ít, đất bụi mù mịt, Long không biết có phá được nhiều hầm không nhưng chắc chắn là chúng có thiệt hại. Không chờ phi cơ, Long nói với TĐT cho mình lên thử, chàng gọi Đoàn cho Trung đội tiến lên, Đại Đội sẽ theo ngay sau. Đoàn dẫn Trung đội chạy ngang qua thửa ruộng, khôn khéo hơi chếch về phía trái một chút, mấy người lính đầu tiên đã bám được bờ rạch, không thấy địch phản ứng, Long cầm bản đồ, phất ĐĐ theo ngay sau Đoàn, khi Long còn cách con rạch khoảng 15 thước, một loạt AK tứ trong đám lá bắn ra, đang chạy, Long thấy như có một sức thật mạnh đẩy chàng bật ngược trở lại, Long vật xuống bờ ruộng, người lính mang máy chạy sau Long hốt hoảng la to:

- Y tá đâu, y tá đâu, thẩm quyền bị thương rồi!

Không, anh ta lầm, Long không bị thương, chàng đã không kịp nghe người lính gọi y tá, không cả kịp kêu lên hai tiếng đáng kêu nhất: Nguyện ơi. Khi người lính mang máy chạy tới ôm lấy chàng, một dòng máu từ thái dương thấm ướt cả áo anh ta, anh ta kêu lên:

- Trời ơi, ông thầy ơi!

X X X

Sài Gòn, ngày...tháng...năm...

Như thân mến, vậy là Long chết rồi, chết thật rồi, Như có hiểu nỗi đau của Nguyện như thế nào không. Nguyện giờ là chiếc bóng của chính mình, em sợ quá, biết thế em không thèm đọc cuốn đêm nghe tiếng đại bác làm gì, nó đã ứng nghiệm vào em, biết thế cũng đừng quen Long để giờ em khỏi phải đau khổ, sao định mệnh khắc nghiệt quá. Như có biết không, gió đâu còn mừng vì tóc em bay nữa vì em đã cột tóc mình lại, cột cả trái tim mình lại. Như ơi, sẽ chẳng còn ai mừng vì tóc em bay nữa đâu.

Nguyện vẫn mỗi chiều đi lại con đường cũ, hàng me vẫn vậy, công viên vẫn vậy, chỉ có lòng em thay đổi vì chẳng còn gì làm em tha thiết cả, em giờ đây như rừng thu. Ngày xưa mỗi bước chân em còn quấn quýt với hình bóng của Long, giờ mất hết rồi, ngày xưa những chiếc lá me lăn tròn chia vui dưới chân em, giờ chúng lặng lẽ u sầu, em cũng lặng lẽ u sầu. Em nghĩ lại cũng chẳng hối tiếc gì sao lại gặp Long, anh ấy đã cho em bao là êm đẹp, hai mươi tuổi đầu em mới thấu hiểu thế nào là đau thương, trời bắt em đau thương quá sớm, Long mới ra trường chưa được bao lâu, em mới ngụp lặn trong tình yêu chưa được bao lâu.

Em không còn viết nổi nữa, chẳng lẽ than van với anh mãi sao, em sẽ cầu nguyện cho anh đừng bị như Long, em thấy thương những người như anh, như Long, thương tất cả những người ngày đêm cận kề với cái chết mà vẫn bình thản, chẳng hề than vãn, các anh thật lạ lùng, chưa bao giờ thấy các anh nói về những hiểm nguy mà các anh phải chịu đựng, các anh sợ những người thân lo âu chăng, các anh đã lựa chọn một cuộc sống, trời ơi, một cuộc sống mà cái chết có thể đến bất cứ lúc nào và Long đã bình thản đi vào nơi đó. Như ơi, em lại khóc nữa rồi, thôi em ngưng đây.

X X X

Ba tháng sau ngày Long chết, Như mới có dịp về phép, chàng tới thăm Nguyện, khi ngồi nói chuyện, nàng nhìn Như đăm đăm như cố tìm lại một hình bóng nào.

- Anh có vẻ ốm đi, chắc hành quân nhiều lắm phải không?

- Cũng vậy thôi, ngày nào cũng là ngày hành quân cả, ngay cả lúc nghỉ dưỡng quân, ai nghỉ chứ anh có nghỉ đâu mà mập nổi.

- Anh khác hẳn ngày trước, ý em muốn nói lúc hãy còn trong trường Đà Lạt, mặc quần áo trận vào cộng với sự gian khổ trông có vẻ dầy dạn hơn, dạo còn sống Long về thăm em, em cũng thấy như vậy, các anh lạ lùng quá, không sợ chết à?

- Nói không sợ cũng không đúng, nhưng ngày nào cũng như ngày nấy riết rồi nó quen đi, rồi lại thấy vui nữa là đằng khác, em nhớ tụi anh là sĩ quan hiện dịch mà.

- Anh đưa em ra phố đi, lâu rồi, em chẳng đi đâu cả.

Như đưa Nguyện ra phố, nàng mặc lại cái áo vàng ngày nào ở Palace, lúc nói chuyện vẫn phảng phất nụ cười nhưng không còn tươi tắn như ngày xưa. Nguyện đòi Như đưa nàng vào Givral, nàng chọn cái bàn gần nơi cửa kính:

- Long và em vẫn thường ngồi ở đây.

Trầm ngâm một lúc, chợt Nguyện nói một câu rất mơ hồ:

- Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ, buồn quá hả anh.

Bên cạnh Như, Nguyện thấy thật gần gũi, nàng cảm tưởng như có Long bên cạnh, hai người là bạn thân, cuộc tình của Nguyện và Long, Như tham dự nhiều trong đó, Nguyện chợt giật mình, nàng thấy hai người như là một.

Buổi tối, Như đưa Nguyện vào vũ trường Tự Do, vũ trường này, cả ba đã từng vào đây nhẩy mấy lần hồi mới ra trường. Như kéo ghế, rót nước cho nàng, trong bóng tối, mắt Nguyện vẫn long lanh như đêm nào ở Palace, khi Lệ Thu xuất hiện:" ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo, em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi " thì Nguyện chợt nắm tay Như, Như hiểu, không phải Nguyện cố ý, nàng đang xúc động, một cái nắm tay vô thức, Nguyện đang nhớ tới một kỷ niệm nào đó, khi bài hát hết, Nguyện hỏi Như:

- Sao anh không mời em nhẩy bản này

- Lệ Thu hát hay quá, ngồi nghe thôi, nhẩy nó phí đi.

Trong bóng tối, khi hai người đang dìu nhau giữa piste, Nguyện đã nép vào Như:

- Anh và Long thân nhau nên khi ở cạnh anh, em thấy có sự êm ấm lạ thường, may sao mất Long, còn anh như một chỗ dựa tinh thần cho em.

Nguyện định nói gì thêm nhưng nàng ngưng lại, có tiếng thở dài, Như thấy ươn ướt ở ngực áo, Nguyện đã khóc tự hồi nào.

X X X

Năm 1970, đang tham dự cuộc hành quân vượt biên ở Kampuchia thì Như nhận được thư Nguyện:

................anh vẫn khỏe chứ, sao lâu quá anh không về thăm em làm chẳng có ai đưa em đi chơi cả, vậy chứ coi chừng có ngày anh về sẽ chẳng còn em để đi chơi nữa đâu, đừng giật mình, em nói thật đấy, đừng có cười. Để em kể anh nghe chuyện này, hôm nọ tới thăm mẹ anh, có lúc cụ nắm tay em nói: ước gì con là con dâu của bác, em thấy lòng xốn xang, đừng cười em nghe, em có xốn xang thì có gì là không phải đâu, em đã nói rồi mà, chẳng lẽ em cứ ngồi đếm thời gian để mà quay tơ mãi sao. Cụ bảo thằng Như cũng đã đến lúc cần có người bên cạnh. Anh có cần ai ở cạnh không hay cứ mãi ôm mộng công hầu khanh tướng. Tối ngủ nghe tiếng đại bác từ xa vọng về, cụ nói chỗ đó chắc là chỗ thằng Như đóng quân, em phải gạt ngang: không phải đâu mẹ, đấy là tiếng đại bác anh Long con vẫn còn tiếp tục gọi bắn lên đầu quân thù đó, anh Như thì chắc chẳng nghĩ gì tới ai đâu mẹ ạ. Em gọi mẹ là mẹ đấy, kệ, dù cho anh có không bằng lòng. Em nghe tin tức thấy tình hình chiến sự có vẻ nặng lắm, ráng giữ gìn sức khỏe, em vẫn hàng đêm cầu nguyện cho anh, nhớ về thăm em.

X X X

Chiến sự trở nên sôi động khi Tướng Minh thay Tướng Trí bị tử nạn máy bay, đang từ chủ động, ta trở thành bị động, cứ lui dần, lui dần. Trận đầu tay của Tướng Minh là trận Dambe của TĐ 11 Dù, Dũng, K22A chết trong trận đánh này. TĐ Như vừa rút về gần Thiện Ngôn được hai ngày, chưa kịp nghỉ ngơi, chỉnh đốn thì được lệnh lên giải tỏa căn cứ Krek do TĐ 30 BĐQ đóng giữ đang bị bao vây, Th/Tá Thủy, K19 là TĐT bị tử thương, bạn cùng khóa với Như, Hoàng kim Truy(H21) là ban ba của TĐ này. Tại sao ta cứ co dần không còn như thời còn Tướng Trí, Thiện Ngôn bị cắt đứt, Dù đổ vào hành quân ở đây để khai thông quốc lộ 22 từ Tây Ninh lên, một NT khóa 20 của Lữ đoàn Dù bay trên CNC trúng đạn VC từ dưới bắn lên bị tử thương.

Đang lúc quay cuồng như thế, Như nhận được thư của Nguyện trong chuyến trực thăng tiếp tế, kèm theo một thiệp cưới.

Sài Gòn, ngày...tháng...năm 1971.

Anh thân mến, em biết anh cũng chẳng buồn khi nhận được thư này, Như ơi, người con gái của Huy Cận ngồi bên khung cửi để dệt tơ, còn em ngồi mãi với tháng năm để dệt nỗi buồn, thôi, em không thể ngồi mãi, bây giờ em đứng lên đây, ngồi mãi chờ anh mà anh có thèm đưa tay để đỡ em dậy đâu. Anh ạ, em cứ ước ao phải chi người bên cạnh em mãi mãi sẽ là anh, nhưng em biết anh chưa muốn thế, ở anh chưa có biên giới, anh còn lãng đãng như mây trời, em không thể ngắm mây cứ mãi trôi. Giả như anh có tội nghiệp mà nhận em, em biết sẽ làm vướng bận anh thôi, anh còn nhớ cuốn phim Cimaron không, anh là chàng lãng tử Glenn Ford, còn em sẽ là Maria Schell sầu muộn, những lần đi chơi với nhau, nhìn vào mắt anh, em đọc được như thế. Anh còn nhớ tối hôm ở Tự Do không, em đã khóc vì sung sướng khi nghĩ rằng thật may cho em khi mất Long còn có anh, nhưng em đã lầm.

Thôi anh nhé, mừng cho em đi, người em sắp lấy làm chồng cũng ở trong quân đội, ông ấy là Thủy thần mũ xanh, eo ơi, thủy thần gì mà không biết bơi, quăng xuống nước là chìm nghỉm. Em không muốn ông ấy là thần, là thánh gì cả, em chỉ muốn ông ấy đừng bỏ em như Long, đừng vời vợi như anh, trước đây cứ sợ những người lính nhưng giờ lại thật thương họ, mà bây giờ không lấy lính thì lấy ai hả anh, cả nước đi lính mà, không lẽ lấy mấy ông nhà đèn Chợ Quán!

Như nhớ về dự đám cưới em nghe, cho ta được thấy nhau lần cuối.

X X X

Nhưng họ không thấy nhau được lần cuối như Nguyện mong muốn, Như không về dự đám cưới Nguyện được, cuộc chiến càng thêm mãnh liệt, cái hòa đàm Paris đổ thêm lửa vào các trận đánh. Mùa hè đỏ lửa, mấy tháng liền lăn lộn từ Bầu Bàng lên Chơn Thành, rồi suối Tầu Ô, khai thông Quốc lộ 13 để giải tỏa Bình Long, lá thư theo chàng cùng năm tháng, đôi lúc có phút rảnh rỗi, Như lại mở ra đọc, lãng mạn như một bài hát tiền chiến, mà là thư cứ dần vàng đi thật, cứ lấy ra, lấy vào mãi, mỗi lần đọc xong, Như lại thừ suy nghĩ: không biết Nguyện giờ như thế nào.

1973, hiệp định Paris được ký két, cứ ngỡ là hòa bình rồi nhưng lúc này đánh nhau còn hăng hơn bao giờ vì những vi phạm liên tục của VC. Ngưng bắn da beo, một từ quái lạ mà đánh nhau lúc này cũng quái lạ, có đụng thì pháo binh chỉ bắn ba trái thôi, hết đạn rồi, bây giờ chiến tranh theo kiểu nhà nghèo.

Như giờ là Tiểu Đoàn Trưởng, sau hiệp định Paris mấy ngày, chàng dẫn TĐ về bảo vệ Dầu Tiếng, một quận nhỏ lẻ loi, chung quanh là mật khu Dương minh Châu, Bời Lời, Tam giác Sắt...Giữa năm 73 Như được cái phép về thăm bà cụ đau nặng, một cái phép hiếm hoi cho một TĐT, thực ra cũng lâu lắm rồi, Như có biết phép tắc là gì đâu, chàng tìm lại Đa Kao thăm Nguyện, nhà đã dọn đi nơi khác, nhớ lá thư Nguyện viết: coi chừng có ngày anh sẽ không gặp lại em nữa đâu, quả thực, mình mất Nguyện thật rồi, sao trong ta nhiều mâu thuẫn quá.

Như vào Givral, ngồi lại cái bàn Nguyện vẫn thích ngồi, buổi chiều nắng đã nhạt, chàng hi vọng Nguyện đi làm về sẽ ngang qua đây, " em biết rằng sẽ không bao giờ giữ được anh", đúng đấy Nguyện, chính anh cũng không hiểu mình muốn gì, anh không ôm mộng công hầu khanh tướng gì cả, cũng chẳng có hoài bão chi lớn lao nhưng cuộc đời lính có nhiều bấp bênh, những bất trắc luôn chờ nơi tụi anh. Có mấy người làm ngân hàng ngang qua, không thấy Nguyện đâu cả.

Như đi dọc theo con đường Tự Do , những chiếc lá me lăn tròn như một điệu nhạc luân vũ, gió vẫn mừng vì tóc em bay đó chứ Nguyện, em vẫn còn trong sáng nơi anh, chỉ có anh là u mê, cái gì mất đi rồi mới tiếc.

Trở lại Givral ngồi nữa, người tài xế thấy tối mà chưa thấy chàng ra, ló cổ vào tìm, Như uể oải đứng dậy.

X X X

Mười năm đi tù CS, cuối 88, Như vượt biên tới Úc, chàng không đi Mỹ vì có người em ở Úc bảo lãnh, nhờ vậy, như một phép lạ, trong một lần đi phố ở khu người Việt, Như gặp Nguyện, Nguyện sững sờ một lúc mới thốt lên được:

- Như, phải Như đấy không! trời ơi, em thật không ngờ.

Nguyện khác đi nhiều, dĩ nhiên, thấy Như nhìn mình đăm đăm, Nguyện cười:

- Em thay đổi nhiều lắm phải không anh, ba chục năm rồi còn gì.

Tóc Nguyện đã có sợi bạc, mắt vẫn ánh lên nét nghịch ngợm nhưng đã có vài vết nhăn. Nguyện đi cùng với một bé gái khoảng 4,5 tuổi, thấy Như nhìn đứa bé, Nguyện nói:

- Nó là cháu ngoại em đấy.

- Anh ấy đâu rồi Nguyện?

Mắt Nguyện chợt xa xăm:

- Em cũng không biết nữa, trong cuộc lui quân ở Đà Nẵng, không thấy anh ấy trở về, em có ra ngoài đó dò tìm nhưng không có tin gì cả, em có mỗi đứa con gái, đây là con của nó. Còn anh, được mấy cháu rồi, cuối năm 74, em đọc được tin vui của anh trên báo, cũng gan lì nhỉ, mãi tới lúc đó mới chịu lấy vợ, chị đâu?

- Bà ấy ở nhà.

- Hôm nào dẫn chị lại em chơi.

- Vâng, để hôm nào tôi sẽ dẫn bà ấy lại thăm Nguyện, tôi có kể cho nhà tôi nghe về Nguyện.

Nguyện cười:

- Thế anh có kể cho chị ấy nghe chuyện em đã khóc làm ướt áo anh không?

- Giờ Nguyện sống với ai?

- Em ở vậy một mình từ ngày anh ấy mất, giờ thì già rồi, hơn nữa đã hai lần để tang, một lần tang trong lòng, một lần tang trên mái tóc, em không lấy được Long nên Long vẫn nhiều hình ảnh đẹp trong em, em không lấy được anh( cười), anh vẫn đẹp trong em, giá mình mà lấy nhau, giờ biết đâu hai đứa đã chẳng ly dị từ hồi nào rồi( lại cười), tháng sau em sẽ về Việt Nam thăm đứa em gái, Nga đó, anh còn nhớ không? À mải nói chuyện quên mất, cụ như thế nào anh?

- Cụ mất lâu rồi, khi tôi còn trong tù.

Trước ngày Nguyện về Việt Nam, Như tới thăm, chàng đưa Nguyện một bài thơ:

- Gửi Nguyện, Nguyện yêu cầu tôi làm cho Nguyện một bài thơ hôm Nguyện lên dự lễ mãn khóa, còn nhớ không? hơn ba chục năm sau, giờ bài thơ mới làm xong, tặng Nguyện trước khi về Việt Nam.

Nguyện đọc bài thơ rồi ngẩng lên:

- Vâng em sẽ thắp dùm anh nén nhang cho Long, cho những người đã nằm xuống.

Ngày về Việt Nam, Nguyện đáp xe lên Đà Lạt tìm về kỷ niệm cũ, cũng là những ngày của tháng 11, chiếc áo len khoác hờ, lững thững sách chiếc va li, nàng thấy mình một cô Nguyện bé nhỏ của năm 1966, ngày lên dự lễ mãn khóa của Long. Nguyện tìm lại quán cà phê cuối con dốc Duy Tân, quán vẫn còn đó, nàng ngồi xuống gọi ba ly cà phê, người bán hàng ngạc nhiên khi chỉ thấy có mỗi mình Nguyện, nàng khoanh tay lại, nhắm mắt, gió se lạnh, Nguyện thấy như có Long và Như đang ngồi trước mặt mình, bên ly cà phê, như năm nào, họ còn rất trẻ, nụ cười rạng rỡ trên môi với mầu đỏ alfa nơi vai áo.

Úp mặt vào hai bàn tay, giọt nước mắt ứa trên khóe mắt, Nguyện kêu lên nho nhỏ: Đà Lạt ơi!

TRẦN NHƯ XUYÊN.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Những nén nhang cho Lại Quyền Thế, người lính Biệt Động Quân !

Còn vài ngày nữa là đến Lễ Giáng Sinh, tôi vừa nhận được tin em đã qua đời khoảng hơn mười năm trước đây qua lời nhắn trên trang mạng Phố Núi Pleiku ngay dưới bài tôi viết hồi tháng tư năm 2011 trong đó tôi đã ngỏ lời nhớ ơn và tha thiết muốn được biết tin tức về em !

Cũng còn hai ngày nữa là tôi sẽ bước qua tuổi đời 67 trong khi em đã mất đi vào tuổi chưa tròn 55, ngày trùng phùng mong đợi của tôi với em sẽ không bao giờ có nữa !
Cuộc đời có phải đúng là không bao giờ như ý mình muốn như em đã nói với tôi khi nhắc đến chuyện em phải rời bỏ mái trường !?

Mọi khi tôi đốt một nén nhang hay thắp một ngọn nến mỗi khi được tin một em cựu học sinh nào đó của tôi đã qua đời, hôm nay với riêng em những nén nhang sẽ được liên tục nối tiếp nhau cho đến cuối ngày như một lời thương tiếc sâu xa !

Lời em nói để trấn an tôi khi em cùng tôi dán sát người xuống lòng chiếc mương cạn gần đầu cầu Sông Ba trong khi những tiếng đạn xé gió bay ngang đầu " bữa nào về tới Tuy Hoà thầy trò mình uống một bữa thật say nghe thầy " đang văng vẳng bên tai tôi....
Hình ảnh em trong bộ đồ trận Biệt Động Quân tay trái cầm ngang khẩu M16 tay phải hướng dẫn cho từng chiếc xe lách qua khúc đường hẹp trên con đường tỉnh lộ 7B đang như trước mắt....!


Tôi thật sự chỉ hơn em những ngày tôi đứng trên bục giảng và lúc em ngồi ở hàng ghế học trò dưới mái trường Trung học Pleiku !
Suốt 5 ngày trên con đường 7B em thưa gửi với tôi như những ngày em còn cắp sách tới trường nhưng bên cạnh em tôi đã chỉ như một cậu bé mới chập chững vào đời !

Em bình thản đi giữa một đám người hỗn loạn hoảng hốt.....giúp người này căng chiếc bạt che nắng giúp người kia nhóm chiếc bếp nấu cơm trước gió. Em ngồi một góc xa xa lẳng lặng hút thuốc thỉnh thoảng đưa mắt kín đáo nhìn tôi như nhắc nhở tôi và gia đình hãy yên giấc ngủ vì bên cạnh đã có em trông chừng.......
Tôi nhớ khuôn mặt rạng rỡ của em một sáng tay khua khua lon sữa nói là em có quà cho đứa con nhỏ của tôi !

Chiếc cầu bắc ngang sông Ba dang dở trước mặt chận đường đi của hàng ngàn chiếc xe đủ loại về hướng Tuy Hoà, con đường trở lại đằng sau là cõi chết đầy ắp những tên lính cộng sản không chùn tay xả súng vào những người dân vô tội !

Tôi đã dậy em những bài học về khoa học dưới mái trường nhưng tôi đã thụ động chịu thua hoàn cảnh và chính em đã tìm ra đường sống sau khi quan sát những chiếc trực thăng chuyên chở vật liệu xây cất cầu đáp xuống rồi trở về không.

Tôi nhớ ban đêm khuất mắt mọi người em đã chỉ vẽ tôi cách lao mình vào sàn trực thăng khi chiếc máy bay càng chưa chạm đất, tôi nhớ em đã dặn tôi những chỗ trực thăng em đoán sẽ đáp, tôi nhớ em đã dặn đi dặn lại phải dậy sớm để sáng sớm hôm sau sẽ là người đầu tiên tiến sát lại gần máy bay......
Thế rồi mọi sự diễn ra gần đúng như kế hoạch em đã dự đoán, chiếc máy bay chật ém chở tôi và gia đình cùng một số người nữa đáp xuống Tuy Hoà an toàn nhưng em lại không có đó ! Nếu em không lo lắng cho tôi thì chỗ đầu tiên trên chiếc trực thăng chắc chắn đã phải là của em !

Tôi nhớ khi em cầm súng tới tìm tôi trong bộ quần áo rằn ri tại một góc vắng khi chiếc xe be em làm áp lực cho tôi và gia đình quá giang tạm dừng ở làng Cũng Sơn, tôi đã không nhận ra em là ai nên đã sợ run cho tới khi nghe được tiếng "thầy ! " em gọi !
Em đã không buồn khi tôi không nhận được ra em mà còn nói giỡn "em học dở quá nên thầy không nhớ em ha !".

Con người em giản dị, em không có chức vị nào trong đời nhưng tấm lòng đại lượng của em, cách em đối xử với đời với người đã làm tôi thay đổi khá nhiều sau này trong cách đối xử và phán xét người khác.

Mùa đông đang phủ trên nơi tôi sống một mầu tuyết trắng để đón Giáng Sinh, xin cám ơn em đã đưa tôi đến được miền đất an bình !

Tôi đã nợ em, vào tuổi này trong cuộc đời, tôi cũng đã nợ biết bao người khác nữa và tôi cũng biết rằng tôi sẽ chẳng bao giờ trả được những món nợ đó như đã nợ em !

Nguyễn Đăng Dự
Ngày 15 tháng 12 năm 2012
Québec, Canada
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: Baidu [Spider] and 1 guest