Bình Luận , Quan Điểm

huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »

Một lá phiếu cứu Obamacare

Ngô Nhân Dụng
Người Mỹ chờ đợi phán quyết của Tối Cao Pháp Viện về Luật Cải Tổ Y Tế của Tổng Thống Barack Obama cũng hồi hộp không khác gì người coi trận chung kết giải Euro 12.

Hồi hộp tới phút chót; năm phút chót. Theo tin trong giới cá độ (InTrade) thì có 70% người ta tin là các thẩm phán sẽ bác bỏ đạo luật vì nó vi hiến. Ðơn thưa kiện của 26 tiểu bang nói rằng đạo luật Obama bắt buộc mọi người dân Mỹ phải mua bảo hiểm y tế (nếu không sẽ bị phạt tiền) là vi hiến. Phía chính quyền biện hộ rằng điều này nằm trong quyền của Quốc Hội dựa theo Ðiều khoản Thương mại trong hiến pháp Mỹ; nó cho phép Quốc Hội liên bang làm luật điều hành việc thương mại liên tiểu bang.

Trong phần đầu bản văn dài 59 trang được công bố Chủ Tịch John Roberts đã nêu ý kiến nói rằng việc bắt buộc trên “không thể coi là phù hợp với Ðiều khoản Thương mại”. Những người chống đạo luật cười hân hoan. Phải năm phút sau Thẩm Phán Roberts mới nêu ra ý kiến khác, nói rằng Quốc Hội có quyền đánh thuế những người không mua bảo hiểm y tế; mà thứ tiền mà trong đạo luật gọi là tiền phạt chính là một thứ thuế, nằm trong thẩm quyền của Quốc Hội! Những người ủng hộ đạo luật lúc đó mới bật lên mừng rỡ!

Có lẽ trong năm phút mong manh đó, các đài CNN và Fox News đã cố giành cái vinh dự loan tin sớm nhất. Họ cho tin lên đài: “Tối Cao Pháp Viện bác bỏ luật bắt cá nhân mua bảo hiểm y tế vì vi hiến!”

Từ hai năm nay cả bên, phe chống lẫn phe bênh đạo luật, không ai dùng đến lý luận về thuế má cả. Hồi Tháng Ba, mục Bình Luận này đã đặt câu hỏi tại sao hai năm trước Tổng Thống Obama không mô tả việc đóng tiền phạt này là một thứ thuế, để tránh cho đạo luật khỏi bị kiện là vi hiến. Không ngờ chính Thẩm Phán Roberts đã dùng lối giải thích này để giữ lại đạo luật.

Những người theo khuynh hướng bảo thủ ở Mỹ thường không muốn cho chính quyền liên bang nới rộng thêm quyền hành, lấn áp các tiểu bang hoặc xâm phạm vào quyền quyết định của các cá nhân. Bốn vị phẩm phán bảo thủ (Kennedy, Scalia, Thomas và Alito), do các vị tổng thống Cộng Hòa đề cử, đều nói Ðiều khoản Thương mại không cho phép Quốc Hội liên bang nhiều quyền như trong đạo luật đạo luật Obamacare. Bốn vị có khuynh hướng cấp tiến (Ginsburg, Sonia Sotomayor, Stephen G. Breyer và Elena Kagan) nghĩ ngược lại. Cả hai bên đều dựa trên Ðiều khoản Thương mại; đưa ra những bản ý kiến riêng bổ túc cho phán quyết. Chánh Thẩm John Roberts đồng ý là Ðiều khoản Thương mại không cho phép Quốc Hội bắt dân mua bảo hiểm. Ông đã bỏ lá phiếu quyết định giữ đạo luật, nhưng dùng lý luận dựa trên quyền đánh thuế của Quốc Hội Mỹ.

Ông John Roberts được cựu Tổng Thống Georges W. Bush (Cộng Hòa) đề cử làm chánh thẩm Tối Cao Pháp Viện. Ông đã cứu một công trình lập pháp quan trọng nhất của đảng Dân Chủ trong vòng nửa thế kỷ nay; trong lúc toàn thể đảng Cộng Hòa chống lại đạo luật đó.

Bài học thứ nhất là khi các vị thẩm phán có vai trò độc lập thì quyền của họ rất lớn. Các thẩm phán cấp liên bang ở Mỹ đều được bổ nhiệm suốt đời (các thẩm phán cấp dưới thì do dân bỏ phiếu định kỳ). Ðó là một cách bảo vệ tính độc lập của các thẩm phán; khiến họ không phải chiều theo ý kiến của đảng phái chính trị.

Tính độc lập của các thẩm phán đã bị nhiều người Mỹ nghi ngờ, vì khi các ông tổng thống đề cử ai thì cũng chọn những người cùng quan điểm với mình về các nguyên tắc pháp luật. Năm 2000, phán quyết 5-4 của Tối Cao Pháp Viện Mỹ chỉ kết luận là cuộc kiểm phiếu ở Florida là hợp pháp, có thể kết thúc. Nhưng lá phiếu thứ 5 trong phán quyết đó đã đưa tới hậu quả, là Tổng Thống Georges W. Bush đắc cử.

Lá phiếu thứ 5 của Chánh Thẩm Roberts vừa rồi khiến người Mỹ thấy rõ tính độc lập của quyền tư pháp. Trước đây, các đơn kiện đạo luật Obamacare ở tòa án cấp dưới cũng đưa tới những kết quả bất ngờ. Ở cấp tòa địa hạt, các vị thẩm phán gốc Dân Chủ thường phán là đạo luật chỉ áp dụng Ðiều khoản Thương mại; trong khi các thẩm phán gốc Cộng Hòa thì thấy đạo luật vượt quá quyền hạn của điều khoản đó. Khi lên đến cấp tòa phá án, thì ngược lại, chính vị thẩm phán được ông tổng thống đảng Dân Chủ đề cử lại bác bỏ đạo luật này, còn một vị thẩm phán Cộng Hòa thì lại phán là nó đúng luật.

Cho nên có thể rút ra một bài học khác, là việc giải thích luật pháp và hiến pháp không giản dị, rất khó đoán. Trước khi tòa án tối cao xét xử, nhiều luật gia đoán rằng Thẩm Phán Kennedy sẽ ủng hộ Obamacare, vì trong quá khứ ông đã nhiều lần bỏ phiếu cho chính quyền liên bang thêm quyền hành dựa theo Ðiều khoản Thương mại. Ông Kennedy lại là người viết bản ý kiến dị biệt của các thẩm phán không đồng ý với phán quyết, với những lời lẽ rất cứng rắn và sắc bén. Nhưng Chánh Thẩm Roberts đưa ra lý luận sắc bén nhất về vấn đề áp dụng Ðiều khoản Thương mại. Theo ông hiến pháp cho phép Quốc Hội điều tiết các hoạt động mua bán liên bang, nhưng không có nghĩa là họ cũng có quyền trên những người không mua gì cả. “Nhân danh Ðiều khoản Thương mại để giữ lại đạo luật Y tế này tức là cho Quốc Hội quyền viết luật trên những gì người dân không làm. Các nhà Lập hiến (nước Mỹ vào thế kỷ 18) biết phân biệt giữa hoạt động và không hoạt động gì cả. Họ cho Quốc Hội quyền quy định về hoạt động thương mại, chứ không cho quyền bắt người dân phải dự vào các hoạt động thương mại.”

Năm 2005, khi điều trần trước Thượng Viện Mỹ để được phê chuẩn làm Chánh Án Tối Cao Pháp Viện, ông Roberts đã ví: “Nhà thẩm phán cũng giống các trọng tài. Trọng tài không làm ra các luật giao đấu, họ chỉ áp dụng. Vai trò của một trọng tài, cũng như một thẩm phán là bảo đảm mọi người giao đấu theo đúng luật; một vai trò rất giới hạn. Không ai đến sân banh để xem ông trọng tài cả.”

Nhưng trong trận đá bóng Luật Cải Tổ Y Tế vừa qua, trọng tài John Roberts đã biểu diễn rất ngoạn mục. Một mặt, ông bác bỏ ý kiến của chính quyền Obama, nói đạo luật theo đúng Ðiều khoản Thương mại. Một mặt ông giữ nguyên đạo luật đó, dựa trên một lý luận mà chính quyền không nghĩ đến để dùng khi tự vệ: Quyền đánh thuế. Cuối cùng, có thể nói ông Roberts đã đá trái banh Cải tổ Y tế sang một sân chơi khác, cho các nhà chính trị hai đảng đấu với nhau trong năm tháng tới, bằng cuộc vận động tranh cử.

Ứng cử viên Mitt Romney đã kêu gọi những người chống đạo luật hãy bầu cho ông làm tổng thống, ông hứa sẽ xin cho Quốc Hội bãi bỏ đạo luật ngay khi nhậm chức. Ðảng Cộng Hòa có thể dùng vấn đề này như một đề tài tranh cử tổng thống và Quốc Hội. Một cuộc nghiên cứu dư luận gần đây cho thấy chỉ có 24% dân Mỹ nghĩ là Tối Cao Pháp Viện nên giữ lại đạo luật; 27% nghĩ là nên xóa bỏ điều khoản bắt buộc mua bảo hiểm; và 41% cho là nên xóa tất cả đi. Sau khi Tòa Tối Cao công bố phán quyết, trong một giờ đảng Cộng Hòa đã nhận được 200,000 đô la tiền ủng hộ tranh cử. Trong vòng 24 giờ, Thống Ðốc Romney đã được 43,000 người ủng hộ qua Internet đóng góp cho ông 4.3 triệu đô la để giành lấy ngôi vị tổng thống!

Nhưng ông Romney cũng báo trước những người ủng hộ ông là không nên dồn hết sức vào việc tấn công đạo luật Cải tổ Y tế. Trong dư luận cử tri Mỹ, khi hỏi vấn đề nào là mối quan tâm lớn nhất, chỉ có 5% nói về đạo luật Cải tổ Y tế. Còn 50% các cử tri coi những vấn đề kinh tế, như công việc làm mới là quan trọng nhất.

Lá phiếu của Chánh Thẩm John Roberts sẽ thay đổi đời sống của hàng chục triệu người dân Mỹ, hoặc nhiều hơn. Có tờ báo kể câu chuyện anh Eric Richter ở Ohio. Hai vợ chồng anh đi làm, lợi tức góp lại được 36,000 đô la một năm. Lợi tức đó khá cao, anh không được hưởng Medicaid; nhưng mua bảo hiểm y tế thì tốn kém nên anh quyết định không mua vì ở tuổi 39 không mấy khi bệnh tật. Tháng Tư vừa qua bác sĩ phòng cấp cứu cho biết anh phải mổ một cái bứu nguy hiểm. Vợ anh đi tìm mua bảo hiểm, không nơi nào bán vì anh đã có bệnh rồi. Bà vợ phải quyết định bỏ việc làm, để lợi tức xuống thấp, đủ điều kiện được hưởng Medicaid.

Phán quyết của Tối Cao Pháp Viện cho tiếp tục thi hành luật Obamacare. Ðiều khoản “Bắt buộc bảo hiểm” sẽ được áp dụng vào năm 2014. Sẽ có thêm trên 30 triệu người Mỹ được bảo hiểm y tế. Ai cũng phải mua bảo hiểm, nếu thiếu tiền sẽ được chính phủ trợ cấp. Người nào không mua sẽ phải đóng tiền phạt, bằng 1% lợi tức, đến năm 2016 sẽ tăng lên tới 2.5%. Các công ty bảo hiểm không được phép giới hạn số tiền chi cho mỗi bệnh nhân trong một đời. Những người đang bị bệnh cũng vẫn mua được bảo hiểm, các công ty không được từ chối. Eric Richters sẽ mua được bảo hiểm dù đang bị bệnh. Gia đình anh, với lợi tức $36,000 sẽ phải đóng khoảng 200 đô la bảo hiểm mỗi tháng. Từ năm 2015, các bác sĩ sẽ được trả thù lao dựa trên kết quả việc trị liệu bệnh nhân, thay vì được trả công từng hành động chẩn đoán hoặc chữa trị.

Người dân Mỹ bình thường sẽ không lo bị mất bảo hiểm y tế khi kinh tế suy yếu, hãng xưởng đóng cửa, bị mất việc làm. Không ai lo khi bị tai nạn, hay bất ngờ bị bệnh như Eric Richters, có thể sạt nghiệp vì chi phí chữa trị, hoặc phải tự giảm bớt lợi tức và tài sản để được hưởng Medicaid. Tòa án Tối cao đã bác bỏ một phần điều khoản về Medicaid (Medi-Cal ở California), không cho phép chính phủ liên bang “phạt” các tiểu bang bằng cách rút bớt tiền góp vào quỹ này. Nhưng chương trình Medicaid sẽ được mở rộng thêm trên toàn quốc. Ðiều kiện dễ dàng hơn sẽ giúp khoảng 5 triệu người Mỹ nghèo hoặc quá tật bệnh nhận được Medicaid. Các thống đốc tiểu bang có quyền thi hành điều khoản này theo tốc độ nhanh hay chậm. Dân chúng các tiểu bang sẽ quyết định họ muốn luật được thi hành nhanh hay chậm qua lá phiếu. Cũng như dân Mỹ sẽ bỏ phiếu vào tháng 11 tới; khi bầu cho Romney hay Obama, họ sẽ quyết định cả đạo luật Cải tổ Y tế có nên giữ hay không.

Trước khi Tòa Tối Cao công bố phán quyết, Tổng Thống Barack Obama có lúc than phiền rằng những người không được dân bầu (các thẩm phán) có quyền bác bỏ một đạo luật do các vị dân cử (tổng thống và Quốc Hội) làm ra! Ông Obama từng làm giáo sư về Luật hiến pháp; lời tuyên bố trên khiến nhiều người kinh ngạc. Nếu hiến pháp nước Mỹ ấn định như vậy, tại sao một ông tổng thống còn thắc mắc? Nay thì nhờ Thẩm Phán Roberts, Tổng Thống Obama không còn thắc mắc nữa! Chính trị là chuyện nhất thời. Quy tắc tam quyền phân lập có giá trị lâu dài hơn, nếu không nói là vĩnh viễn!
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Đảng Cộng Sản và niềm tin giãy chết

Nguyên Dung

Tôi đã tự nhủ với mình rằng chẳng nên viết lách gì về cái xã hội và đất nước đảo điên này nữa. Vì rằng có ta thán nhiều hơn, có đau đớn và bức xúc nhiều hơn cũng chẳng thay đổi được gì! Chung quanh tôi, hầu như mọi người đều đã quá quen với những bất công, dối trá nên ai ai cũng mặc nhiên chấp nhận. Lớp chóp bu thì vẫn nghiễm nhiên trơ tráo đeo mặt nạ lãnh đạo đất nước. Lớp ăn trên ngồi trước thì chỉ nghĩ tới 1001 chiêu móc ngoặc, đút lót, câu kết chia chác với các trùm chính trị để dành được nhiều hợp đồng béo bở hơn, xơi miếng ngon hơn dù có phải xây dựng cơ đồ trên máu và nước mắt của người khác cũng không chùn tay. Lớp trung lưu, trí thức thì luồn luồn cúi cúi an phận qua ngày, nỗi SỢ HÃI ngấm ngầm từ đời cha tới đời con trong một chế độ toàn trị đã làm mọi người co rúm lại. Thi thoảng vài tiếng nói đối kháng nổi lên thì đã có sẵn đó cái mũ phản động, khủng bố chụp vào. Lớp thanh thiếu niên (tương lai của dân tộc) thì nhờ vào nền giáo dục tuyệt vời và đội ngũ truyền thông ưu việt XHCN mà giờ đây đại đa số chỉ hứng thú tìm hiểu thời sự Lá Cải, háo hức tìm tòi ngôi sao nào dính scandal nào? Phải chăng người mẫu Y cố tình lộ đồ lót trên sàn diễn? Đại gia X nào đi siêu xe mấy tỷ? Cô hot girl nào phát biểu gây sốc ra sao? Cái ví hàng hiệu được sao K diện hôm ấy giá bao nhiêu tiền? Người mẫu nào có chân trong đường dây mại dâm giá khủng?!

Ngoài những tư tưởng văn hóa rẻ tiền ru ngủ ấy, lớp trẻ cũng phấn đấu đấy chứ, nhưng là sự phấn đấu để sở hữu vật chất! Đổi được cái điện thoại đời mới, cái moto mới là hả hê, mãn nguyện rồi.
Hãy hỏi thế hệ thanh thiếu niên hôm nay biết gì về tình hình đất nước, biết gì về dân chủ, tự do ngôn luận, tự do tư duy, bạn sẽ thấy lòng mình se lại vì thất vọng và cả …sợ hãi cho ngày mai của đất nước! Lớp dân đen bần hàn – tuyệt đại đa số dân chúng thì chẳng còn khái niệm nào khác ngoài khái niệm phải mửa mật chạy ăn từng bữa. Khi cái bụng còn teo tóp gào cơm, con cái nheo nhóc chật vật đóng tiền trường lớp thì họ còn nghĩ gì khác được?

Tôi đã hỏi mình tới hơn ngàn lần: ví dụ một chế độ XHCN ƯU VIỆT như chế độ ta, với dàn lãnh đạo đầy TRI THỨC, ĐẠO ĐỨC cách mạng, thấm nhuần tư tưởng Marxist Leninist vĩ đại – nếu được BÊ nguyên xi qua một quốc gia phát triển nào đó thì liệu nó có thể tồn tại được bao lâu? Tôi tin chắc rằng sẽ không quá một tuần lễ! Tôi cũng tin rằng triệu triệu con người dù sống dù chết, dù phải chịu tù đày, họ cũng nổi lên tống cổ cái chế độ ưu việt không giống ai này vào sọt rác. Vì sao? Vì ở các nước văn minh, tự do là lẽ sống, là đích của cuộc sống, là chân lý, LÀ TẤT CẢ! Còn chúng ta thì khác, chúng ta chỉ cần thở, ăn và ngủ! Tự do tư duy, tự do ngôn luận, báo chí- từ lâu đã thành một khái niệm mơ hồ, xa xỉ đối với dân Việt, chúng ta chắc cũng thèm thuồng lắm, nhưng chẳng dám làm gì để giành lấy!
Dưới sự dẫn dắt của Đảng trong mấy mươi năm qua, từ một dân tộc bất khuất, kiên cường chúng ta đã trở nên cam chịu, nhẫn nhục, an phận và Vô Cảm đến rợn… người…

Tôi đã tự nhủ với mình là hãy làm như mọi người đi, như đám đông đang sống, đang thở và đang co rúm ấy! Nhắm mắt lại đi trước bao điều gai mắt, chung quanh ta cũng bao kẻ nhắm mắt đó thôi! Đừng hy vọng vào bất cứ một điều tốt đẹp nào cho cái đất nước có số phận bi đát, trớ trêu này để rồi lại thất vọng như đã triền miên thất vọng!

Vì cứ y như rằng, khi niềm hy vọng mong manh vừa nhen nhúm lên về một sự cải tổ nhỏ nhoi nào đó trong lòng Đảng để may ra lớp lãnh đạo ít nói một đằng làm một nẽo, ít tham lam, ít ngu xuẩn đi cho dân chúng bớt khổ, đất nước bớt nghèo, bớt lạc hậu thì ngay lập tức tôi và sự ngây thơ cố hữu của tôi lại bị dội một gáo nước lạnh toát vào mặt.

Ngài TBT sau kỳ họp vừa qua vẫn tuyên bố kiên định con đường XNHC, vẫn đinh đóng cột: xí nghiệp quốc doanh là chủ đạo phát triển của nền kinh tế… què quặt, vẫn ra rả đất đai sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý!!!
Các ông nghị, bà nghị hết kỳ họp này tới kỳ họp khác vẫn chỉ là những diễn viên câm điếc của một màn kịch dân chủ cũ rích, vô nghĩa.

Luật pháp vẫn ngang nhiên, mặc cho lời kêu gọi của quốc tế, của lương tâm, xử dụng những điều luật rừng rú để bỏ tù đối kháng như: Âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, xuyên tạc đường lối chủ trương của Đảng, nói xấu lãnh tụ, trả lời phỏng vấn đài địch, bôi nhọ thành quả cách mạng. Ôi những điều buộc tội cứ như trong vở kịch hài trơ tráo, thế mà chua chát thay bao người yêu nước đã bị ném vào ngục tù vì những sự quy chụp vô luân và lạc hậu ấy!
Đau đớn thay cho VN, cho tổ quốc, đã nghèo, đã bị chiến tranh tàn phá triền miên, nay vẫn è cổ đeo cái vòng kim cô của một nhóm người ngu xuẩn, núp sau chiêu bài cách mạng và Đảng để ăn trên ngồi trước cả một dân tộc!

Tôi đã bảo mình chẳng nên viết gì nữa, và nếu được thì hãy học cách che giấu cảm xúc của mình đi. Sống trong xã hội mà mọi người, mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi đều phải đeo mặt nạ để tồn tại- đọc tờ báo chính thống thì đa phần là những lời nói láo được định hướng, hoặc bị cắt xén thông tin theo chỉ thị của ban tuyên huấn – coi tivi thì cũng rặt những phóng sự bịa đặt, hoặc ca tụng Đảng, hoặc hè nhau bôi nhọ một người nào đó cho vừa lòng chính quyền – sách giáo khoa thì khỏi bàn tới, người ta ngang nhiên bịa ra lịch sử, bịa ra những anh hùng, thì Sống Thật, Nói Thật, bày tỏ Cảm Xúc Thật ở xã hội này hôm nay là điều nguy hiểm, là đơn độc lội ngược dòng nước!!!

Thế nhưng hôm nay tôi lại muốn viết, để chia sẽ với các bạn những cảm xúc của tôi sau khi đọc một bài phóng sự trên Dân Trí. Bài báo tả cảnh các em học sinh người dân tộc tại Nghệ An hàng ngày lội bộ trên những quãng đường xa thẳm để đến trường, đã vậy còn phải oằn tấm thân bé bỏng gầy gò địu em nhỏ trên lưng. Những đứa trẻ miền núi nhọc nhằn học chữ một tay vỗ em, một tay chép bài vì cha mẹ còn phải bươn chải nương rẫy kiếm miếng ăn. Quần áo các em mặc, mùa mưa cũng như mùa nắng chỉ độc nhất một bộ tả tơi. Trường học là những bức tường trống hoác, xiêu vẹo, xơ xác tới mức không thể nào xác xơ hơn nữa…

Cổ họng tôi đã thắt lại khi nhìn tấm ảnh cô chị bé xíu hí hoáy chép bài, bên cạnh tấm cửa mục nát của lớp học buộc một sợi dây cho thằng cu em chân đất ngơ ngác đứng chơi.

Trong lòng tôi tràn ngập một thứ cảm xúc khó tả, trộn lẫn giữa sự thương xót và áy náy.

Thương các em nghèo khổ, cơ cực mà vẫn ham học. Áy náy vì thấy cuộc sống con cái của mình so với các em thật là …một trời một vực!

Chen vào những cảm xúc ấy là sự căm phẫn và ghê tởm khi đọc những điểm tin kinh tế đang âm ĩ nóng từ hàng tháng nay như: vụ Vinashin đang hầu tòa, EVN lỗ lã ngàn tỷ, Sông Đà lỗ ngàn tỷ, Petrol VN cũng ngàn ngàn tỷ, Vinalines ngàn ngàn tỷ…Tóm lại rờ tới BẤT KỲ công ty quốc doanh- sân sau của các ông bà chóp bu là chỉ thấy toàn lỗ…và lỗ, với những con số khổng lồ ngoài sức tưởng tượng!

Và ngài thủ tướng, các ngài bộ trưởng, thứ trưởng, những người dự phần chia chác, hoặc có trách nhiệm trong các khoản nợ ấy vẫn đều đặn lên mặt báo, lên tivi! Họ vẫn cười toe toét (một cách nhục mạ đám dân ngu!), vẫn nói mà không đỏ mặt, vẫn ra vẻ lạc quan, vẫn là những bộ mặt nhung nhúc mỡ, đôi mắt him híp, đục màu tham vọng, và tối om sự thông minh, trung thực, vẫn những nụ cười giả tạo trấn an dân chúng, và vẫn điệp khúc muôn đời: Sẽ tiến hành kiểm điểm, tự kiểm điểm, nghiêm túc rút kinh nghiệm… và chấm hết!

Các ông quan, bà quan sẽ tiếp tục tại vị, tiếp tục nghĩ trăm mưu ngàn kế khác mà vơ vét, dù đất mẹ chỉ còn xương bọc da, chồng chất nợ nần. Lòng tự trọng và liêm sĩ của đám lãnh đạo nước nhà ít ỏi biết bao, nhưng lòng tham và sự chây lỳ tham quyền cố vị thì vô tận.

Chỉ tội cho đất nước vô phúc này, tiền bạc, mồ hôi nước mắt, tài nguyên bị ăn cướp trắng trợn như thế mà chỉ vài ba câu xin lỗi suông là huề cả làng, đố ai dám ho he phản đối! Sau những lời nhận khuyết điểm, rút kinh nghiệm “chân thành” ấy là chúng ta- đời con, đời cháu, chắt sẽ è cổ gánh lấy những khoản nợ khổng lồ…Và nhân dân ta ơi, hãy nai lưng làm việc trả nợ đi, đời này và cả đời sau, tuyệt đối không được than van, không được phép nghi ngờ vào sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng, của CHÍNH QUYỀN nhé!

Đảng đã lu loa, treo hàng trăm ngàn biểu ngữ từ năm này qua tháng nọ, cùng khắp đất nước là Đảng sáng suốt,đời đời dẫn dắt nhân dân đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác kia mà!

Cứ nhìn vào nền kinh tế hiện nay, thực trạng xã hội, và nền giáo dục thì mới biết Đảng tài ba thế nào, và chúng ta may mắn biết bao khi được dẫn dắt trên con đường màu nhiệm XHCN!

Vâng, tôi được học nằm lòng những lý luận ấy vì tôi lớn lên dưới ơn mưa móc của Đảng, thế mà sao khi viết những dòng này, cổ họng tôi vẫn cứ đắng chát, mắt cứ cay cay…

Hình ảnh các em miền núi cơ cực, những cụ già đêm khuya còng lưng bươi rác, những trẻ em lang thang rách rưới tìm miếng ăn trên đường phố, khến tôi bần thần nghĩ tới hàng vạn trăm ngàn tỷ kia…nếu được dùng đúng đắn cho những phúc lợi xã hội thì hạnh phúc biết mấy….Thế nhưng khốn nạn thay, đống tiền kếch xù kia chỉ chạy thẳng vào túi một nhóm người, mà người ta gọi là giai cấp đảng viên lãnh đạo. Hỏi xem nơi nào trên thế gian này có giai cấp lãnh đạo tài ba như nước ta, nơi mà thằng tiến sĩ giả được quyền chỉ huy ông tiến sĩ thật? Nơi mà tên học tại chức mua bằng giả lại có thể leo tót lên cái ghế CEO, chỉ huy những người trí thức hàng đầu. Nơi mà từ thứ trưởng, bộ trưởng toàn xài bằng cấp xạo, một câu bẻ que tiếng Anh không biết mà vẫn lăm le xâu xé nhau giành quyền lãnh đạo đất nước! Nơi mà các lãnh tụ chính trị không còn chút khái niệm nào về Sự Liêm Sĩ và Trung Thực. Nơi mà “ phong bì’ và “bồi dưỡng” đã thành văn hóa của cả quốc gia?

Hôm nay trời mưa, bầu trời mù mịt như bầu trời tổ quốc dưới sự dẫn dắt của Đảng vinh quang vậy.

Đảng ơi, bao giờ những người tài giỏi liêm khiết mới được nắm quyền lãnh đạo đất nước?

Đảng ơi, bao giờ những ông kẹ vừa ngu dốt, vừa tham nhũng, vừa gian giảo bị tống vào tù vì đã chia chác hàng trăm vạn tỷ đồng công quỹ, trong khi trên đất nước vẫn còn triệu triệu người dân nghèo lõ đít, không có miếng cơm ăn?

Hàng vạn trẻ em cầu bơ cầu bất không được tới trường?

Đảng ơi, bao giờ Đảng mới trả lại quyền làm người cho nhân dân?

Một người cùng quẫn và khủng hoảng niềm tin vào ngày mai của đất nước…

Nguyen Dung
27/06/2012
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Truyền thông báo chí cộng sản Hà Nội có gì nghịch lý?

Võ Long Triều
Người dân bình thường khi đọc lời tuyên bố của ông Bộ Trưởng Thông Tin-Truyền Thông Nguyễn Bắc Sơn rằng: “Nhà cầm quyền không có kế hoạch cho tư nhân hóa báo chí. Truyền thông là tiếng nói của đảng, nhà nước, và là diễn đàn của nhân dân.”

Người ta không hiểu ông bộ trưởng có biết mình nói gì không? Theo ông, truyền thông báo chí là tiếng nói của đảng, nhà nước, điều đó dư luận biết quá lâu rồi. Ðiều khó hiểu, truyền thông là diễn đàn của nhân dân mà các ông không cho nhân dân xuất bản báo. Từ khi đảng cộng sản Hà Nội nắm độc quyền cai trị đất nước, nhà cầm quyền buộc báo chí, truyền thanh, truyền hình phải luôn luôn viết, nói theo những gì đảng cho phép, hay buộc phải im lặng, hoặc phải thông báo những điều sai sự thật. Ðội ngũ gọi là truyền thông báo chí “lề phải” của nhà nước gồm có 786 cơ quan báo chí, 194 nhật báo in, 590 tập chí, 61 trang tin điện tử, 67 đài phát thanh truyền hình và 17,000 nhà báo được đảng cấp giấy phép hành nghề.

Nhưng điều mâu thuẫn trầm trọng là ông Bắc Sơn vừa tuyên bố: Không cho phép báo tư nhân hoạt động, rồi ông nói tiếp liền, truyền thông là diễn đàn của nhân dân. Người ta không biết ông Sơn đang muốn nói điều gì bởi lẽ hai ý nghĩ hoàn toàn trái ngược nhau. Nếu truyền thông là diễn đàn của nhân dân thì tại sao không cho tư nhân ra báo? Nếu diễn đàn là của nhân dân mà nhân dân mở trang blog diễn tả quan điểm cá nhân của mình, liền bị cấm đoán hay bắt bớ giam cầm, vì tội “lợi dụng dân chủ”... Nếu thật sự đã có dân chủ thì người dân cứ tự nhiên sử dụng đâu cần phải lợi dụng. Các ông bộ trưởng nói bừa, các ông ráp nối những bài học thuộc lòng để mị dân, nào là diễn đàn của nhân dân, nào là tự do và dân chủ, nào là sở hữu của toàn dân, cái gì cũng “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”à

Nhưng đối với đảng viên cộng sản, nhân dân là Ta, là Ðảng. Do đó, khi ông Bắc Sơn nói diễn đàn của nhân dân có nghĩa là diễn đàn của đảng. Một lời nói mị dân theo thói quen gian dối của đảng mà thôi.

Thực tế đảng quá sợ “diễn đàn nhân dân,” cho nên đảng mới khủng bố và đàn áp các blogger và ký giả nào dám viết những điều bất lợi cho đảng, dám nói ngược những điều do đảng phổ biến. Các nhân vật đó lập tức bị theo dõi, khống chế, đàn áp, bắt bớ, giam cầm. Ðiển hình là các Blogger Ðiếu Cày, Tạ Phong Tần, v.v.... và hiện tại Blogger TS. Nguyễn Xuân Diện bị trù dập, bị thuyên chuyển sang Viện Nghiên Cứu Hán Nôm và tại đây ông còn bị côn đồ hành hung, đập phá vật dụng văn phòng.

Phóng viên báo Tầm Nhìn chẳng những bị đe dọa tính mạng mà còn bị hăm bắt cóc các con của ông chỉ vì ông điều tra những sự mờ ám trong nghi án tham nhũng và lạm quyền ở tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa soạn báo Tầm Nhìn báo động ngày 25 tháng 5, 2012 rằng công an tỉnh Vĩnh Phúc đến tòa soạn với lý do không rõ ràng và thái độ ngang ngược, hăm he.

Nhà báo Hoàng Khương bị bắt và tạm giam từ 2 tháng 1, 2012 chỉ vì tạo điều kiện chứng minh công an huyện Bình Thạnh tên Huỳnh Minh Ðức nhận hối lộ để trả lại một xe gắn máy tạm giam vô cớ. Ông Hoàng Khương nhờ người đưa tiền hối lộ để có bằng cớ viết bài do báo Tuổi Trẻ giao trách nhiệm điều tra. Vì Hoàng Khương sợ rằng nếu mình là ký giả trực tiếp giao tiền thì làm sao tên công an Huỳnh Minh Ðức dám nhận và bằng lòng trả xe. Ban biên tập báo Tuổi Trẻ xác định phóng viên Hoàng Khương “thực hiện hoạt động tác nghiệp báo chí.” Thế nhưng Viện Kiểm Sát Nhân Dân thành phố Sài Gòn vẫn truy tố nhà báo Hoàng Khương về tội đưa hối lộ.

Về mặt pháp lý, LS Trương Xuân Tám, ủy viên Hội Ðồng Luật Sư Toàn Quốc cho rằng buộc tội Hoàng Khương đưa hối lộ là không đúng về mặt pháp lý. LS Trịnh Minh Tâm thuộc Ðoàn Luật Sư thành phố Sài Gòn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự của Hoàng Khương. LS Phan Trung Hải biện hộ cho Hoàng Khương cho rằng cáo trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân không phản ảnh toàn bộ bản chất vụ án, không tách rời hành vi khách quan với nhận định chủ quan.

Những sự kiện trên đây cho thấy nhà nước cộng sản lợi dụng danh nghĩa pháp luật, để trấn áp những ai dám phanh phui trước dư luận sự sai trái của giới cầm quyền. Ðó là một đòn tâm lý đánh phủ đầu các ký giả và trí thức còn chút lương tâm nghề nghiệp và sự cương trực của người trí thức.

Hãng thông tấn Pháp AFP trích thuật lời ông Nguyễn Tấn Dũng cảnh cáo rằng: Báo chí không nên loan tải những thông tin bất lợi cho quốc gia. Nghĩa là bất lợi cho nhà nước độc tài cộng sản. Ông Dũng còn xác nhận “sự thật lúc nào cũng là sự thật, nhưng phải chọn thời điểm lúc nào mới có lợi cho quốc gia.” Như vậy cưỡng chế đất đai, đánh đập nông dân bị thương tích trầm trọng là không phải lúc để loan báo, phanh phui vụ tham nhũng ở Vĩnh Phúc, ở Huyện Bình Thạnh cũng không phải lúc vì không có lợi cho nhà cầm quyền. Bởi thế nên TS Nguyễn Xuân Diện mới bị trù dập, nhà báo Hoàng Khương mới bị tù đày.

Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang còn cảnh cáo mạnh mẽ tại Quốc Hội về nguy cơ “chiến tranh mạng” giữa chế độ và phía bên kia là phản động và thế lực thù địch. Họ là những cá nhân, tổ chức, vận động dân chủ hóa Việt Nam ở hải ngoại. Ngoài ra còn có Hoa Kỳ, Liên Âu, các tổ chức bảo vệ nhân quyền, Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả (CPJ) cứ đưa ra những bản phúc trình tố cáo Hà Nội nói một đàng làm một nẻo, ngược những điều Hà Nội cam kết khi được chấp nhận vào Liên Hiệp Quốc. Cùng lúc với sự tố cáo nầy, cộng sản Hà Nội dựng bức tường lửa không cho độc giả vào các mạng của những blogger phổ biến sự thật và diễn tả ý kiến của họ bất lợi đối với nhà cầm quyền.

Các chế độ độc tài đảng trị cộng sản cố nắm giữ độc quyền thông tin, cố bưng bít sai lầm, cố che giấu sự thật? Phải chăng vì họ luôn luôn hành động gian ác, vì họ thua kém tư bản về mọi mặt nên cần lập “bức màn sắt” như Liên Xô để che giấu mọi sự thật từ bên trong, không cho lọt ra ngoài và từ bên ngoài không cho nhập vào trong. Tuy nhiên Liên Xô vẫn bị đài phát thanh tiếng nói tự do từ Âu Châu đâm thủng màn sắt, góp phần làm sụp đổ chế độ độc tài. Cũng như chế độ cộng sản Ðông Ðức bị những tấm bảng quảng cáo hàng hóa tư bản và đời sống xã hội sung túc bên Tây Ðức, những bảng quảng cáo đó đã góp phần làm sụp đổ bức tường Bá Linh.

Ngày nay chế độ Hà Nội cũng run sợ trước những tin tức ca ngợi và cổ vũ “cách mạng hoa lài, hoa sen,” tin tức đó rò rỉ xuyên qua Internet, nên Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang mới báo động có “chiến tranh mạng.” Hà Nội bèn đưa ra nghị định về việc quản lý Internet bao gồm 26 điều. Khoản 8 điều 4 xác định: “Internet Việt Nam là một bộ phận quan trọng... thông tin điện tử trên Internet là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước...” Khoản c Ðiều 5 xác định “quyền kiểm tra, thanh tra và xử lý thuộc Bộ Thông Tin và Truyền Thông.” Khoản 1(a) điều 6 “cấm lợi dụng Internet nhằm mục đích chống lại nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, phá hoại đoàn kết toàn dân...”

Ông bà mình hay nói “vỏ quít dầy có móng tay nhọn.” Hà Nội dựng tường lửa thì có chuyên viên bày vẽ cách vượt tường vào các mạng để tìm hiểu đâu là gian ác, đâu là đứng đắn, đâu là chính nghĩa, đâu là quyền lợi của đất nước dân tộc. Tường lửa của Hà Nội ở vào thời điểm của sự tiến bộ kỹ thuật kỳ diệu ngày nay sẽ khó che giấu được những sự lạm quyền, cướp bóc phương tiện sống của nông dân, sự hèn nhát tham quyền trục lợi của Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản bán nước cho Tàu Cộng. Chúng sẽ không tránh khỏi sự phẫn nộ tột cùng của quần chúng.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »


Trung Quốc sau 61 năm đảng cộng sản thống trị

Nhị Khê
Vài ba ngày nữa, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập được 91 năm (01/07/1921 - 01/07/2012). Trong ít tháng gần đây, dân chúng Trung Quốc liên tiếp gửi đến tầng lớp lãnh đạo ở Trung Nam Hải những “lễ vật” đặc biệt “chào mừng” 91 năm thành lập ĐCSTQ. Đó là những cuộc bạo động biểu tình chống lại sự đàn áp của nhà cầm quyền và những bất công trong xã hội. Đặc biệt ở vùng Tây Tạng hoặc lân cận, thường xảy ra những vụ tự thiêu phản đối sự xâm lược của Trung Cộng. Những cuộc bạo động, biểu tình hoặc tự thiêu nói trên đều bắt đầu từ những nguyên nhân nhỏ, nhưng lại bùng nổ rất lớn, chứng tỏ dưới chế độ độc đảng, mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc. Muốn giải quyết những mâu thuẫn này, không thể nói suông như Hồ Cẩm Đào vẫn thường rêu rao, phải giải quyết những vấn đề cơ bản. Đó là xóa bỏ chế độ độc đảng, mang lại nhân quyền, tự do và dân chủ cho người dân, giải quyết triệt để những bất công ngoài xã hội, trong đó có chênh lệch giữa giàu và nghèo...

Tội ác lịch sử
Từ ngày ra đời đến năm 1949, do hình thái ý thức xã hội khác nhau, ĐCSTQ gây ra cuộc chiến tranh “nồi da xáo thịt” với Quốc Dân Đảng do cụ Tôn Trung Sơn, nhà cách mạng dân chủ sáng lập, khiến cho hàng triệu người dân Trung Quốc tử vong.
Sau khi chiếm được Hoa Lục vào năm 1949, dưới ách thống trị của ĐCSTQ, người dân ngày càng phải sống những ngày đau khổ, lo sợ... Kể từ thập niên 1950, nội bộ ĐCSTQ đấu đá, tranh giành quyền lực, phát động nhiều cuộc vận động chỉnh đốn chính trị và tẩy não, trong đó có các cuộc vận động: “Trấn áp phản động” giết chết nhiều người; “Tam phản ngũ phản” tiêu diệt giai cấp tư sản và tư tưởng hữu khuynh; “Cải cách ruộng đất” giết chết không biết bao nhiêu địa chủ và nông dân vô tội... Điển hình nhất là cuộc “Cách mạng Văn hóa Vô sản” do Mao Trạch Đông đề xướng để thanh trừng những kẻ bất đồng với mình (Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài...), giết oan mấy triệu người, hàng chục triệu người sống những ngày điêu đứng. Năm 1989, Đặng Tiểu Bình ra lệnh quân đội đưa xe tăng vào quảng trường Thiên An Môn đàn áp cuộc biểu tình đòi tự do, dân chủ của sinh viên học sinh Bắc Kinh; giết chết hàng ngàn người. Năm 1999, Giang Trạch Dân bức hại, tàn sát những người theo học Pháp Luân công... khiến cho đất nước ngày càng suy yếu, tầng lớp lãnh đạo ngày càng nhu nhược... Đúng như nhận định của Cheng Li (Lý Thành), Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, thuộc viện Nghiên cứu Brooking (Brooking Institute), trụ sở chính ở Hoa Thịnh Đốn. Ngày 17/06/2012, trong một cuộc hội thảo về tình hình chính trị ở Trung Quốc, Li Cheng nói: Dưới ách thống trị của ĐCSTQ, người dân ngày càng đau khổ. Cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trên quan trường Trung Quốc xuất hiện tình trạng “lãnh tụ yếu hèn, bè phái bành trướng”, “chính phủ nhu nhược, tập đoàn kinh tế hùng mạnh”... Nhiều người còn cho rằng: ĐCSTQ không khác gì... tổ chức mafia.
Bạc Hi Lai bị hạ bệ, Cốc Khai Lai giết chết thương gia người Anh, giới truyền thông Trung Quốc giấu kín, báo chí phương Tây và dân mạng nêu rõ mọi chi tiết và vạch trần các cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trong nội bộ ĐCSTQ, cộng đồng quốc tế mới hiểu rõ đất nước Trung Hoa dưới ách cai trị của ĐCSTQ hiện nay ra sao?
Nhà nghiên cứu Trung Quốc Li Cheng cho biết, trước đây nhiều người từng nhận định, quá trình bàn giao thế hệ lãnh đạo của ĐCSTQ từ Giang Trạch Dân - Lý Bằng sang Hồ Cẩm Đào - Ôn Gia Bảo đã yên ổn, không còn tranh giành, đấu đá lẫn nhau để tước đoạt chức vị, nay xảy ra vụ Bạc Hi Lai, trò hề bè phái, thanh trừng những kẻ bất đồng chính kiến để thống trị đất nước lại tái diễn.
Trong con mắt Li Cheng, Giang Trạch Dân trước kia, Hồ Cẩm Đào hiện nay đều là “con đẻ” của các tập đoàn chính trị và phe phái, uy tín và quyền lực không thể so với các lãnh tụ sáng lập ra Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình... Giang và Hồ chưa kinh qua những ngày chiến đấu gian khổ trong các cuộc “cách mạng”, khi đối diện với những cuộc đấu đá tranh giành quyền lực thường tỏ ra yếu thế, đành phải dựa vào phe phái để bảo vệ địa vị của mình.
Sau khi nghiên cứu kỹ vụ Bạc Hi Lai và vụ Bí thư Thành ủy Thượng Hải Trần Lương Vũ bị hạ bệ năm 2006, Li Cheng nhấn mạnh, trong lịch sử cận đại, bè phái chưa hề bị loại ra khỏi chính trường Trung Quốc, những kẻ được “chỉ định làm lãnh tụ” đều là tay chân của tầng lớp lãnh đạo hiện tại.
Quan trường Trung Quốc hiện nay có thể chia “một đảng hai phe”: Phe dân túy do Hồ Cẩm Đào - Ôn Gia Bảo lãnh đạo, phe tinh anh do Giang Trạch Dân và Ngô Gia Bang, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (tương đương Chủ tịch Quốc hội) cầm đầu. “Đảng Thái tử” và “Bang Thượng Hải” đều thuộc phe tinh anh. Thế lực của hai phe này “tám lạng nửa cân”, buộc phải “chung sống hòa bình”. Có điều, phải chú ý đến một điểm, Trung Quốc ngày càng giàu có, tập đoàn kinh tế ngày càng làm chủ đất nước, chính phủ trung ương ngày càng nhu nhược. TTg chính phủ không quản lý nổi giám đốc xí nghiệp. Phe tinh anh muốn kinh tế phát triển, phe dân túy muốn xã hội ổn định, hai phe không nhân nhượng nhau, ảnh hưởng đến cải cách chính trị, đất nước ngày càng xuống dốc không phanh.
Li Cheng đề nghị, khi tìm hiểu tình hình chính trị ở Trung Quốc, không nên chú ý việc Trung Cộng dựa vào luật pháp nhà nước xét xử Bạc Hi Lai và Cốc Khai Lai, phải xem xét họ có vận dụng phương thức dân chủ bầu ra tầng lớp lãnh đạo xứng đáng mang lại hạnh phúc cho muôn dân và phù hợp với luật pháp hay không?

Nhân quyền và dân chủ ngày càng suy thoái
Năm 1998, Trung Cộng ký Công ước Quốc tế về Quyền lợi công dân và Quyền lực chính trị của Liên Hiệp Quốc. Trong khi đó, từ năm 1990, công ước này đã được đưa vào điều 39 trong Bộ Luật cơ bản của Đặc khu Hành chánh Hương Cảng để thực hiện sau khi Hương Cảng trở về Trung Quốc vào năm 1997, chứng tỏ Trung Cộng đã biết công ước này từ lâu. Ký tên rồi phải chấp hành, nhưng Trung Cộng không thực hiện. Bởi vậy trong các báo cáo hằng năm của Hoa Kỳ đều nói Trung Quốc vi phạm nhân quyền. Thậm chí trong báo cáo nhân quyền gần đây nhất còn nói sau khi Hương Cảng trở về với Trung Quốc, nhân quyền cũng ngày càng thoái hóa.
Trước phản ứng của cộng đồng quốc tế và phê phán của Hoa Kỳ, Trung Cộng thường lấy lý do này lý do nọ biện hộ cho mình và cải thiện chút đỉnh, nhưng còn hạn chế quá nhiều. TTg Trung Quốc Ôn Gia Bảo từng nhiều lần nói đến đổi mới chính trị, cải thiện nhân quyền và đẩy mạnh dân chủ, nhưng chỉ nói, không hề thực hiện. Các nhà lãnh đạo Trung Cộng từng nhắc nhở thuộc hạ, phải căn cứ vào luật pháp nhà nước làm việc, nhưng kẻ thi hành ở địa phương lại không nghe, chỉ làm việc theo “luật rừng”.
Trong hiến pháp Trung Quốc ghi rõ các điều khoản bảo vệ quyền tự do và an ninh cho người dân. Trong luật pháp cũng không hề ghi “đàn áp nhân quyền, phản đối dân chủ”, nhưng người dân vẫn không được hưởng tự do, dân chủ và quyền làm người. Tại sao ở Trung Quốc không có nhân quyền, tự do và dân chủ? Chủ yếu do những người lãnh đạo đất nước và những kẻ chấp hành luật pháp ở địa phương chỉ biết luật rừng, không làm việc theo hiến pháp hay luật pháp nhà nước.
Trước ngày báo cáo nhân quyền năm 2011 của Hoa Kỳ ra đời, “luật sư” mù Trần Quang Thành trốn khỏi sự canh gác của công an địa phương, vào Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh cầu cứu, được đến Hoa Kỳ nghiên cứu luật học. Sau khi bản báo cáo đó ra đời, lúc trả lời phỏng vấn của CNN, Trần Quang Thành tố cáo những hành động bạo tàn đàn áp nhân quyền của Trung Cộng. Trần Quang Thành là người từng tố cáo những vụ cưỡng bức phá thai bị kết án 4 năm tù, ra tù vẫn bị giam lỏng, người nhà bị đánh đập trái pháp luật. Sau khi ông trốn thoát, cháu ruột phải vào tù vì đâm bị thương người nửa đêm xâm nhập vào nhà mình, bị kết tội giết người, không cho người nhà và luật sư đến thăm hỏi. Những chuyện kể trên không phải là khinh thường luật pháp, “coi trời bằng vung” hay sao? Tại sao lại như vậy? Nguyên nhân vì Trung Cộng coi “luật rừng” hơn luật pháp nhà nước.
Muốn đất nước an ninh, xã hội ổn định, Trung Quốc phải coi trọng pháp trị, bảo đảm quyền làm người của người dân, nếu không sẽ “tức nước vỡ bờ”, dân chúng nổi loạn, ĐCSTQ không khác Đảng Cộng sản Liên Xô, tự đào mồ chôn mình, cuối cùng bị diệt vong.
Nhìn lại lịch sử, năm 1900 thời nhà Thanh, Trung Quốc bước vào thời kỳ đen tối nhất. Liên quân 8 nước chiếm lĩnh Bắc Kinh, học giả Trung Quốc thấy nước mình có nguy cơ diệt vong, đi theo con đường các nước phương Tây, mới cứu đất nước thoát khỏi diệt vong. Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi thành công, lập nên chế độ cộng hòa dân quốc, thế hệ trẻ Trung Hoa vươn lên, đi theo nền dân chủ Âu Mỹ, đến nay đã được trăm năm, nền dân chủ hiến chính Đài Loan trở thành mộng tưởng của dân chúng Hoa Lục. Năm 1921, ĐCSTQ ra đời, theo chủ nghĩa Lê-nin, bước vào con đường cực tả, đến năm 1976 Mao Trạch Đông qua đời, mới bắt đầu tỉnh ngộ, kết thúc “vương triều Mao Thái Tổ”.
Năm 1979, Đặng Tiểu Bình đổi mới Trung Quốc theo chiều hướng kinh tế thị trường. Tuy nhiên, đến năm 1989, xảy ra vụ tàn sát học sinh ở Thiên An Môn, Bắc Kinh, Trung Cộng có nguy cơ bị diệt vong như Đảng Cộng sản Liên Xô, may mà họ Đặng bình tĩnh tìm ra lối thoát với câu: “Mèo đen cũng như mèo trắng, miễn là bắt được chuột”. Đặng Tiểu Bình biết cần phải bắt tay với Hoa Kỳ, không khác gì Lưu Bang đánh không nổi Hung nô, đối ngoại phải nhẫn nhục theo chính sách “cầu hòa thân thiện”, mới có thành quả kinh tế phát triển trong vài ba chục năm. Hiện nay, kinh tế Hoa Kỳ và Trung Quốc đứng nhất nhì thế giới, Hoa Kỳ kiên quyết giữ địa vị siêu cường trên thế giới, Trung Quốc vươn lên cũng không được.
Hồ Cẩm Đào ngày nay cũng như Hán Vũ Đế, kế thừa chính sách thân thiện với “hung nô”, không dám khiêu khích Hoa Kỳ. Trước đại hội ĐCSTQ lần thứ 18 dẹp xong “loạn chư hầu” (Bạc Hi Lai), xác lập uy quyền trung ương. Nhưng... nếu Hồ Cẩm Đào không cải cách chính trị, thực hiện tự do dân chủ, bảo đảm quyền làm người của dân chúng Hoa Lục, Trung Quốc sẽ không bao giờ phát triển.
Trung Quốc phải xóa bỏ “luật rừng”, thực hiện pháp trị, không nên tiếp tục đi theo con đường tà ác gia trưởng của Mao Thái Tổ, từ bỏ loại chính trị, văn hóa phong kiến, học tập Quốc Dân Đảng, đón chào nền dân chủ quang minh chính đại, xóa bỏ chế độ “độc đảng”. Nếu không sẽ có ngày bị diệt vong như câu chuyện về “Tảng đá 200 triệu năm có dòng chữ 'Trung Quốc cộng sản đảng vong'”.
Tháng 06/2002, một “tàng tự thạch” (tảng đá ẩn giấu một dòng chữ) có niên đại 200 triệu năm tuổi đã được tìm thấy tại tỉnh Quý Châu, Trung Quốc. Một vết nứt vỡ được hình thành từ 500 năm trước đây trên tảng đá lớn để lộ ra 6 chữ Hoa, khắc nổi trên mặt đá như viết bằng bút lông. Sáu chữ đó là: “Trung Quốc cộng sản đảng vong” (Đảng cộng sản Trung Quốc diệt vong). Riêng chữ “vong” trông đặc biệt lớn. Các phương tiện truyền thông lề phải tại Hoa Lục đều tường thuật tin này, nhưng họ giấu nhẹm chữ “vong”, chỉ nói rằng trên đó viết “Trung Quốc cộng sản đảng”. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ tấm hình đăng trên tờ Nhân dân Nhật báo hoặc báo mạng Tân Hoa Xã, có thể thấy rất rõ chữ “vong”.
Tháng 06/2002, Ban tổ chức triển lãm Nhiếp ảnh Quốc tế Đô Quân coi vùng này là một thắng cảnh để chụp hình. Trong một đợt khai quang như thường lệ, “tàng tự thạch” đã được phát giác một cách tình cờ. “Tàng tự thạch” vỡ làm đôi do rơi xuống đất từ một vách đá. Vết nứt vỡ đủ rộng để chứa hai người. Hai phần của tảng đá rộng 6 mét ở mỗi phần, cao gần 3 mét và nặng khoảng 100 tấn. Những chữ “Trung Quốc cộng sản đảng vong” mỗi chữ to gần 1 mét vuông, có thể được thấy rõ ràng ở mảnh phía bên phải. Các chữ này nhìn rõ tới mức dường như chúng đã được khắc vậy.
Sau khi tới khu vực thắng cảnh thôn Chưởng Bố vào tháng 10/2003, Phó Chủ bút tờ Nhân dân Nhật báo, Lương Hành viết: “Khi ở trên vách đá, người ta có thể phát hiện những đám mây trông giống con chó, hay thứ gì đó trông giống con người hay thú vật, bức tranh hay biểu đồ. Tuy nhiên, tất cả những thứ này đều bị giới hạn bởi bề ngoài của bức tranh. Nếu hôm nay một tảng đá lớn đột nhiên có thể viết, nói, điêu khắc, phát triển kỹ năng viết, hay sử dụng các thuật ngữ chính trị, người ta có tin không? Họ có dám tin điều đó không? Nhưng đối diện với hai mảnh của “tàng tự thạch” bị tách ra, chúng ta không còn cách nào khác ngoài việc phải tin”.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

HOA KỲ BỎ CẤM VẬN BÁN TÀU NGẦM VÀ PHẢN LỰC TÀNG HÌNH CHO VN

California (VietPress USA): Trước đây lối 2 tháng tôi đã có các bài viết, và các buổi phát thanh quốc tế nói trước rằng chắc chắn Mỹ sẽ trở lại Vịnh Cam Ranh và sẽ bỏ cấm vận kỹ thuật cao đối với Việt Nam.

Nay trong chuyến đi họp Hội Nghị Thượng Đĩnh An Ninh Châu Á Thái Bình Dương Shangri-La tại Singapore từ ngày 02 đến 05-6-2012. Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leone Panetta đã mở đầu bằng chuyến viếng thăm thị sát cảng Cam Ranh ngày 02-6 và kết thúc bằng buổi hội kiến với Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tai Hà Nội ngày Thứ Hai 04-6-2012. Dịp nầy Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi Hoa Kỳ bỏ cấm vận kỹ thuật cao để VN có thể mua vũ khí hiện đại của Hoa Kỳ.
Image
Thực sự thì ván bài quốc tế đã được sắp đặt và sắp tới đây Hoa Kỳ sẽ công bố bỏ cấm vận kỹ thuật cao đối với VN và sẽ bán cho VN lối 5 chiếc Tàu Ngầm Nguyên Tử hạng trung loại Silo; và bán lối 12 máy bay tàng hình F18 và có thê F22 nữa.

Chiến thuật chiến lược mới của HK là đưa 60% tổng lực lượng Hải Quân Mỹ qua phòng thủ vùng biển Châu Á Thái Bình Dương từ nay cho đến năm 2020 và chắc chắn là nhắm vào việc ngăn chặn sự bành trướng của Trung Cộng; nhất là trên Biển Đông.

Tứ ngày 21 đến 28-2-1972 khi TT Richard Nixon đến mật đàm với Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Thủ Tướng Chu-Ân-Lai của Trung Quốc theo sự sắp xếp của Henry Kissinger nhằm chuyển giao VNCH cho Trung Cộng và Bắc Việt. Mỹ cam kết đầu tư vào TQ, mua hàng hóa của TQ. Đổi lại TQ cam kết cùng với CS Bắc Việt bảo đảm an ninh cho Mỹ rút quân khỏi chiến trường VN; và nhất là TQ để yên cho Mỹ phá sụp Liên Sô chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh.
Image
Mỹ làm ngơ cho 10,000 quân Bắc Việt và TQ tiến đánh chiếm Căn cứ Caroll ở Ái Tử vào ngày 03-3-1972 và tiến đánh chiếm Đông Hà, Cổ Thành Quảng Trị và hoàn toàn chiếm tỉnh Quảng Tri vào ngày 01-5-1972 để làm áp lực buộc VNCH ngồi vào bàn Hội Nghị Paris. Mỹ cúp hết viện trợ quân sự cho VNCH và buộc VNCH ký Hiệp Định Paris vào 27-01-1973 theo đó Mỹ sẽ rút quân khỏi VNCH; trong khi Bắc Việt được Liên Xô và TQ hỗ trợ đánh nhau với VNCH thi nay Mỹ và TQ công nhận rằng Mặt Trận GPMN được Bắc Việt yểm trợ đánh nhau với VNCH mà không đòi buộc Bắc Việt phải rút 260,000 Bộ Đội Chính Quy ra khỏi Miền Nam VN. Đó là tạo thuận lợi cho Bắc Việt tiến quân chiếm trọn VNCH vào ngày 30-4-1975.

Sau khi Mỹ bàn giao VNCH cho TQ và CS Bắc Việt thì Mỹ cho đầu tư ồ ạt vào TQ, mua 80% hàng hóa TQ sản xuất và TQ đã để yên cho Mỹ đánh sup Liên Xô (USSR) vào năm 1991 khi ông Gorbachev giải thể chế độ Cộng Sản Liên Xô và làmTổng Thống Nga theo chế độ tự do.
Image
Mỹ đã sai lầm tạo cho TQ từ nghèo đói lạc hậu nay trở thành siêu cường kinh tế muốn lật đổ Mỹ. Mỹ đã triệt tiêu các ảnh hưởng của TQ tại Bắc Phi, Afghanistan, Pakistan, Trung Đông và nay Mỹ cũng sẽ dùng con bài Việt Nam để đánh sụp chế độ CS Trung Quốc trong những ngày sắp tới!

Thủ Tướng CSVN nay đã nói thẳng "Hoàng Sa Trường Sa là của VN". Trước đây Tướng Nguyễn Chí Vịnh là Thứ Trưởng Quốc Phòng CSVN qua họp ở TQ đã tuyên bố giải quyết tranh chấp Biển Đông trên căn bản "Song Phương"; nhưng nay tại Hội Nghị Shangri-La vừa qua, Tướng Vịnh đã nói ngược lại là phải giải quyết tranh chấp theo cách đa phương có các bên liên quan cùng họp trên căn bản Luật quốc tế Biển.
Image
Hoa Kỳ đang tăng viện trợ quốc phòng gấp 4 lần cho Phi-Luật-Tân giữa lúc TQ đang cho 22 Tàu Chiến đến vây hãm một khu đảo đang tranh chấp sát thềm lục địa của Phi. Và nay HK sẽ bán vũ khí tối tân cho VN là nhằm đẩy TQ vào thế phải đối đầu. Trước đây VN thường ca bài "con cá nó sống vì nước" nói răng TQ là đồng chí anh em và là đối tác hàng đầu của VN. Nay Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng nói Hoa Kỳ là đối tác hàng đầu của VN!
Image
Một khi TQ lâm chiến với Phi-Luật-Tân và VN thì nội tình củaTQ sẽ bất ổn, nội loạn, suy sụp kinh tế và TQ có thể bị xé ra thành ít nhất là 5 nước nhỏ theo như kiểu Liên-Xô bị tan thành nhiều nước tự trị vậy! Hãy chờ xem bà con ui!

Hạnh Dương
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Mừng Lễ Độc Lập Mỹ

Tác giả : Vi Anh

Gian hàng bán và vị trí bắn pháo bông đã dựng ở các công trường, đường phố ở Little Saigon, cũng như khắp nước Mỹ. Pháo bông sẽ rực trời, dân chúng Mỹ ăn mừng Lễ Độc Lập July 4. Mừng ngày lễ Độc Lập Mỹ, hưởng tự do, dân chủ Mỹ, người Mỹ gốc Việt không thể không nghĩ đến triết lý của cuộc tranh đấu, chiến đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền của nhân dân và chánh quyền Mỹ. Đó là những giá trị đã làm cho đất nước và nhân dân Mỹ thành siêu cường trên thế giới. Và từ đó không khỏi rút kinh nghiệm để vững tin vào tương lai sán lạn của cuộc tranh đấu cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN.

Thực vậy.

Chính vì tự do, dân chủ, nhân quyền, đặc biệt là tự do tín ngưỡng, nhiều người Anh đã rời nước nhà tìm đất hứa ở Mỹ Châu lúc bây giờ gọi là Tân Thế Giới. Vượt Đại Tây Dương đầy sóng gió, chịu khí hậu khắc nghiệt, và những tháng ngày rét buốt, đói khổ ban đầu, gắn bó nhau thành những lãnh thổ, tạo thành 13 tiểu bang gọi chung là Tân Anh Cát Lợi ở Tây Bán Cầu. Tự do, dân chủ, nhân quyền của đất nước nhân dân Mỹ không phải xin mà có, chờ mà được. Đó là thành quả có máu, nước mắt, mồ hôi của các cuộc tranh đấu, chiến đấu, giành lấy, bảo vệ và phát huy, một cách dũng cảm, kiên trì cho niềm tin tư do, dân chủ, nhân quyền. Biết bao máu xương, nước mắt, mồ hôi mới được. Có lúc tưởng như thất bại nhưng thà núi xương sông máu chớ nhứt định không đầu hàng và cố găng tiến lên trong cuộc chiến tranh giành độc lập từ Thực dân Anh.

Hội Nghị Lục đia (Continental Congress) gồm đại diện của 13 tiểu bang sau khi thảo luận, biểu quyết ký ban hành và công bố Bản Tuyên ngôn Độc Lập của Mỹ vào ngày July 4th, 1776. Từ ban đầu, July 4 được xem là ngày sinh nhựt của nước Mỹ tự do, dân chủ. Tuyên ngôn Độc Lập của Mỹ đi liền với quyền tự do, dân chủ, nhân quyền suốt chiều dài lịch sử của quốc gia dân tộc Mỹ -- đối nội cũng như đối ngoại. Cho đến bây giờ July 4 được xem như lễ Tạ Ơn Tổ quốc Mỹ.

Vì tự do, dân chủ, nhân quyền, về quân sự, đại diện 13 tiểu bang kết họp lại đánh đuổi Thực Dân Anh trong cuộc Chiến Tranh Độc Lập kéo dài 7 năm vô cùng gian khổ. Theo sử gia từ 1754- 1763 nhưng thực tế kéo dài 9 năm vì chiến sự đã xảy ra 2 năm trước. Vì năm 1753 từ Virginia George Washington đã gởi dân quân chiếm giao điểm chiến lược Ohio River, Monogahela, Allegony do Anh và Pháp xây hai đồn kiểm soát, Pháp Duquesne Fort, Anh Pitt Fort, nhưng bị thất bại. Năm 1754, Geoge Braddock dẫn quân trở lại và tử thương nên sử gia lấy đó làm năm đầu của chiến tranh.

Nhưng tiếng súng của dân quân Mỹ bắn vào đoàn quân thực dân Anh của Tướng Thomas Gage, Toàn Quyền Boston, đi Concord tại Cầu Lexington, vào ngày 18, 19 tháng 4 năm 1775, mới thực sự vang động quanh thế giới. Ngày 10 tháng 5 năm 1775, Quốc Hội Lục Địa thứ hai họp ở Philadelphia quyết định thành lập Quân Đội, phát triển Hải Quân, cử George Washington là tổng tư lịnh.

Tình thế của 13 thuộc địa hết sức thất lợi so với Thực dân Anh. Trước khi Chiến Tranh Độc Lập bùng nổ, dân thuộc đia chỉ 1 phần 3 đồng ý chiến tranh, 1 phần 3 không ý kiến, và 1 phần 3 chống chiến tranh. Quân binh thuộc địa không được trang bị, huấn luyện, có người phải dẫn ngựa nhà đi tòng chinh. Chánh quyền còn rời rạc, lại phải luôn di chuyển nên khó điều họp nỗ lực chiến tranh, không thâu được thuế, thời gian quân dịch ngắn chỉ có 3 năm, không có ngoại tệ mạnh để mua vũ khí đạn dược, không được các quốc gia lúc bấy giờ có mặt ở Mỹ Châu viện trợ hay cho vay – trừ Pháp sau tham chiến với tư cách đồng minh với Mỹ. Có lúc quân binh bụng đói, không mền, quần áo rách, chân giày lủng, vớ rách, chân rướm máu khi di hành, máu đỏ đồng tuyết. Tướng Washington phải dùng trường kỳ kháng chiến, đánh du kích theo kiểu Da Đỏ, buộc địch quân là Thực dân Anh vào thế căng thẳng không biết bị tấn công ở đâu và lúc nào. Đoàn quân binh của Tướng Washington sẵn sàng rút lui để bảo toàn lực lượng. Tướng Washington là người không bao giờ để phạm sai lầm lần thứ hai. Để sau cùng thắng trận chót, thắng cuộc Chiến tranh Độc Lập, Yortown, Virginia năm 1781, nhận sự đầu hàng của Huân tước Anh Cornwallis. Và Mỹ chấm dứt Chiến tranh Độc Lập với Hòa Ước Paris năm 1783. Anh công nhân nền độc lập của Mỹ. Nước Mỹ định hình, biên giới được phân định. Bắc giáp Đại Hồ; Nam giáp Florida còn thuộc Tây Ban Nha nhưng sau đó Mỹ mua đứt; Đông, Đại tây Dương; và Tây Đông vực sông Missisippi.

Vì tự do, dân chủ, nhân quyền, TT Lincoln giải phóng người Mỹ Da Đen nô lệ, cứu sự tan vỡ của liên bang (union) bằng Nội Chiến, đổi mạng mình cho tư do, dân chủ, nhân quyền, bị ám sát ngay sau khi Nội Chiến chấm dứt. TT Roosevelt đưa quân Mỹ giải phóng Âu Châu trong Thế Chiến 2, Mỹ trở thành đệ nhứt siêu cường thế giới.

Tư do, dân chủ, nhân quyền biến nước Mỹ thành Đất Hứa, Giấc Mơ Mỹ của nhiều dân tộc. 4 đời tổng thống Mỹ đưa quân qua VN ngăn chận làn sóng đỏ CS độc tài đảng trị ở VN, trong Chiến tranh Lạnh. Đó là 3 cuộc chiến tranh làm người Mỹ chết nhiều nhứt để bảo vệ và phát huy niềm tin tự do, dân chủ nhân quyền trong nước và ngoài nước.

Nhờ tự do, dân chủ, nhân quyền mà trên phương diện chánh trị những khó khăn của sư thành hình Hiệp chũng quốc được thông cảm, vượt qua. Hiến Pháp Mỹ của chánh quyền của dân, vì dân, do dân Mỹ thành hình trong thời gian 1789 và 1880. Hai khuynh hướng chánh trị trội yếu, một bên chủ trương liên bang mạnh; một bên, tiểu bang mạnh tranh đấu với nhau phát sinh lưỡng đảng là tiên thân của Đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ở Mỹ. Hai bên tương nhương, thỏa hiệp thành chánh quyền tam lập. Lập pháp là Quốc Hội lưỡng viện, Hành pháp là Tổng Thống. Tư pháp là Tối Cao Pháp viện với hệ thống Tòa Án và một Tổng Chưởng Lý giống như Bộ Trưởng Tư Pháp. Chánh quyền đó được giải thích, phát huy dần dần theo sự lớn mạnh của Mỹ trên tinh thân vì dân, do dân, của dân và nguyên tác cân bằng quyền lực và kiểm soát lẫn nhau. Sau cùng cuộc tranh đấu, chiến đấu gian khổ, xây dựng công phu và đầu thông cảm cho tư do, dân chủ, nhân quyền mà Mỹ trở thành giấc mơ, đất hứa cho nhiều dân tộc trên thế giới.

Tư do, dân chủ là điểu kiện cần và đủ của độc lập. CS Hà nội thiếu điều kiện căn bản đó nên lệ thuộc hết Nga rồi Tàu biến thành một thứ tự thực dân, bên trong khai thác đồng bào mình, bên ngoài thần phục những Anh Cả Đỏ ngoại bang. Đó là một bài học quí giá cho người Việt trong ngoài nước đang đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN.

So tương quan lực lượng, phong trào đấu tranh của người dân Việt trong ngoài nước có thế mà thiếu lực. Thế từ xu thế thời đại của thế giới, tư do kinh tế, dân chủ chánh trị. Thế từ nhân dân, con người sanh ra ai cũng muốn được tư do. Thế quốc tế có thể nói mạnh hơn người Mỹ trong Chiến tranh Độc Lập. Mỹ chỉ có một đại sứ Benjamin Fraklin vận động Pháp yễm trợ. Còn nhân dân VN, chưa bao giờ VN có một số nhà ngoại giao bình dân đông như người Việt Hải ngoại, quốc tế vận hơn Mỹ trong thời giành độc lập tư do. Trước Chiến Tranh Độc Lập dân 13 thuộc đia chỉ có 1 phần 3 đống ý chiến tranh, mà 1 phần 3 không ý kiến, 1 phần 3 chống chiến tranh. Còn dân VN trừ CS có chức có quyền, 10 người như 1, đều muốn tự do, dân chủ, nhân quyền.

Nhưng thế chưa biến được thành lực tổng hợp. 37 năm CS Hà nội thống trị cả nước nói nghe thì lâu dài, dễ mất kiên nhẫn. Nhưng thời gian mười mấy năm thực sự đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN chống lại chế độ CS cai trị trang bị thừa sức diệt chũng, nhiều kinh nghiệm khủng bố, lũng đoạn, và kềm kẹp; thời gian ấy quá ngắn so với những thắng lợi. Vấn đề tư do, dân chủ nhân quyền VN đã đi vào chánh quyền các siêu cường. Biểu tượng tư do, dân chủ, nhân quyền VN đã được chánh quyền của hơn phân nửa dân số Mỹ đệ nhứt siêu cường thế giới công nhận. Vấn dề nhân quyền VN trở thành trở ngại trung tâm trong việc CS Hà nội muốn phát triển đối tác chiến lược với Mỹ, khiến Mỹ là nước bán vũ khí nhứt thế giới mà Thủ Tướng CSVN muốn mua Mỹ vẫn không bán vì CS Hà nội vi phạm nhân quyền.

Trên thế giới này, suốt trong lịch sử Nhân Loại cho đến bây giờ, tư do, dân chủ chưa bao giờ xin mà có, chờ mà được. Chưa có dân tộc nào có tự do, dân chủ, nhân quyền nhờ ngoại bang đem đến. Nội lực dân tộc là chánh. Người dân có tranh đấu, chiến đấu mới có được. Có gạo thiên hạ mới cho mượn chén đủa. Bất cứ ở đâu, bất cứ thời nào, phong trào nhân dân đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền nếu nhà cầm quyền thống trị không diệt được trong buổi ban đầu thì sẽ trưởng thành trên tro tàn của chế độ thống trị, dù là thực dân ngoại quốc như Anh hay tư thực dân như CS Hà nội.
lilac2010
Posts: 103
Joined: Sun Mar 21, 2010 10:45 pm
Contact:

Post by lilac2010 »

BẠN ĐỒNG HÀNH CỦA ĐỘC TÀI
Nguyễn Hưng Quốc


Kết quả các cuộc điều tra quốc tế về mức độ lạc quan hay thỏa mãn đối với cuộc sống của dân chúng thường cho thấy một nghịch lý: phần lớn các nước phát triển, giàu có có trình độ dân trí cao thường bị xếp hạng rất thấp, có khi gần cuối bảng (ví dụ, trong bảng xếp hạng về chỉ số hạnh phúc mới đây, Đan Mạch đứng thứ 110; Bỉ, 107; Mỹ, 105; Singapore, 90; Úc, 76; Phần Lan, 70; Pháp, 50) trong khi đó, các nước kém phát triển, nghèo nàn, và có trình độ dân trí thấp, ngược lại, lại có chỉ số rất cao, có khi, như trường hợp của Việt Nam, đứng đầu bảng, nếu không nhất thế giới thì cũng nhất châu Á (các nước đứng bên cạnh Việt Nam trong chỉ số hạnh phúc là Colombia, El Salvador, Jamaica, Bangladesh và… Cuba!)

Tại sao lại có sự nghịch lý như vậy?

Trong bài trước, tôi đã kể về bà dì họ của tôi, dì Mười, như một ví dụ. Theo tôi, trường hợp như vậy khá phổ biến, từ đó, có thể cho chúng ta một câu trả lời: Tầm nhìn ngắn và hẹp với mấy biểu hiện chính:

Thứ nhất, chỉ quan tâm đến những nhu cầu trước mắt, chủ yếu là nhu cầu kinh tế, trong đó, hầu hết chỉ giới hạn trong chuyện ăn, mặc và ở. Có được nơi để ở và đủ ăn, đủ mặc là đã thấy hạnh phúc lắm rồi. Không những ăn no mà còn có thể nhậu nhẹt, cà phê vào buổi sáng, bia ôm vào buổi chiều lại càng hạnh phúc. Mặc quần áo không những lành lặn mà còn có hiệu, dù là hiệu nhái, lại càng hạBAI" VIETnh phúc hơn nữa.

Trong khi đó, ở các nước Tây phương, người ta không chỉ quan tâm đến các nhu cầu vật chất. Người ta còn để ý đến môi trường, đến sự bình đẳng, không những sự bình đẳng trong nước mà còn trong phạm vi cả thế giới, đến những nhu cầu về tinh thần, đến chuyện du lịch và giải trí. Nếu chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế, người ta cũng lo nghĩ đến ngày mình bị thất nghiệp và tình trạng thất nghiệp của người khác, đến chuyện hưu bổng cho một, hai hay nhiều thập niên tới, đến tình hình kinh tế của quốc gia hay thậm chí, của cả thế giới. Rồi người ta so sánh mức sống ở nước mình với những nước khác. Càng nhìn xa và rộng, người ta càng dễ thấy bất bình và bất an.

Thứ hai, như là hệ quả của tâm lý vừa nêu, người Việt Nam cũng như dân chúng ở hầu hết các nước nghèo và độc tài, hầu như không bao giờ quan tâm đến các chính sách của nhà nước. Với nhà nước, đó là điều cấm kỵ, một “bí mật quốc gia”. Với dân chúng, đó là những chuyện viễn vông. Hiện tượng này khác hẳn các quốc gia Tây phương, nơi dân chúng lúc nào cũng chằm chặp săm soi từng chính sách lớn nhỏ của chính phủ. Họ hạch hỏi. Họ phân tích. Chính vì vậy, họ dễ cảm thấy chính phủ lạc hướng (wrong direction).

Ngay cả khi họ không nghĩ chính phủ lạc hướng, họ cũng thấy chiến lược của chính phủ trong một số lãnh vực nào đó là bất toàn và có thể điều chỉnh hoặc cải thiện. Trong mọi trường hợp, họ ít khi hài lòng với hiện thực. Họ thích tra vấn. Họ yêu cầu phát triển. Họ khao khát sự hoàn thiện và hoàn mỹ.

Cuối cùng, vì thiếu tầm nhìn rộng, người ta rất dễ có ảo tưởng về thực trạng của mình. Cứ thấy xã hội mình như một thiên đường. Ngay trong giới cầm bút, tôi cũng thường thấy hiện tượng đó. Rất nhiều người cứ nghĩ thơ Việt Nam là nhất; truyện Việt Nam cũng là nhất. Lý do thế giới chưa ngã mũ thán phục văn chương Việt Nam là vì họ không biết tiếng Việt. Giả dụ văn chương Việt Nam được dịch nhiều và xuất bản ào ạt thì chắc chắn mọi người sẽ thấy Việt Nam không hề thua kém ai cả. Mà không phải chỉ có văn chương. Thức ăn Việt Nam cũng vậy. Cũng nhất thế giới. Người Việt Nam cũng vậy nữa: nhan sắc thì tuyệt trần, tính tình thì hòa nhã, hiếu khách, lịch sự, dễ thương. Cả đàn ông lẫn đàn bà đều được bọn Tây phương mê như điếu đổ.

Với những tâm lý và tính cách như vậy, việc người Việt Nam được xem là lạc quan hay hài lòng với cuộc sống nhất châu Á hay thậm chí nhất thế giới cũng chẳng có gì khó hiểu cả.

Không khó hiểu, nhưng rất đáng lo. Về phương diện văn hóa và kinh tế, không có tâm lý gì nguy hại cho bằng sự tự thỏa mãn: Nó giết chết mọi sự cố gắng và mọi sự sáng tạo, từ đó, ngăn chận mọi sự phát triển. Ai cũng thấy Việt Nam còn nghèo, rất nghèo, và lạc hậu, rất lạc hậu. Việt Nam hơn, may ra, Lào và Kampuchea cũng như một số nước châu Phi. Hết. Ở vị thế của Việt Nam hiện nay, sự tự mãn chỉ dẫn đến bi kịch: hết nước này đến nước khác qua mặt. Người ta không chỉ qua mặt. Qua mặt xong, người ta sẽ quay lại bóc lột mình. Cuối cùng mình chỉ mãi mãi vẫn là những kẻ làm gia công cho người khác.

Tuy nhiên, đáng lo nhất là về phương diện chính trị. Không có ai cảm thấy có nhu cầu thay đổi nếu lúc nào cũng thấy hài lòng với cuộc sống như vậy. Đó là điều hết sức oái oăm. Từ cái nhìn bên ngoài, hầu như ai cũng thấy Việt Nam có nhiều vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết nhưng chính phủ và đảng cầm quyền thì nhất định cự tuyệt mọi sự thay đổi cần thiết ấy. Sự cự tuyệt ấy thành công vì họ không hề gặp bất cứ một sức ép nào từ dân chúng. Trong khi đó thì dân chúng lại cảm thấy mọi sự đều thỏa đáng cả.

Bởi vậy, có thể nói, sự hài lòng và lạc quan dễ dãi của dân chúng chính là điều mà chính phủ và đảng cầm quyền tại Việt Nam đang mong đợi. Dân chúng càng cảm thấy thỏa mãn và lạc quan, giới cai trị càng bớt lo lắng và có thể tha hồ tập trung vào việc vơ vét tài sản quốc gia để làm giàu cũng như phân phối chức tước và quyền lực cho con cháu.

Có thể nói một cách tóm tắt thế này: sự thỏa mãn và lạc quan là bạn đồng hành của độc tài.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Khỏe re như bò kéo xe

Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Gần đây, các cơ quan truyền thông tiếng Việt ở khắp nơi loan tin, theo bảng xếp hạng “chỉ số hành tinh hạnh phúc” của New Economics Foundation, Việt Nam là quốc gia có chỉ số “hạnh phúc” đứng nhất ở Châu Á và đứng nhì trên thế giới, chỉ sau Costa Rica; và bỏ xa các quốc gia phát triển và giàu có khác, như Nhật (thứ 45), Ðức (46), Pháp (50), Hàn Quốc (63), Canada (65), Mỹ (105), v.v...
Image
Hình chụp năm 2012 tại Hà Giang. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Trước đây, Viện dư luận BVA và tổ chức Gallup cũng xếp hạng Việt Nam là nước lạc quan nhất thế giới (nước đứng cuối bảng là Pháp, được xem là bi quan nhất).

Ðọc những bản tin như thế, thoạt đầu, bao giờ tôi cũng thấy vui; sau, thấy vui vui.

Và cuối cùng, lần nào cũng thế, lại nhớ đến một bà dì họ của tôi. Dì Mười.

Trong giới phụ nữ thuộc bên ngoại của tôi, dì Mười suýt nữa là người đẹp nhất. So với những người khác, dì cao hơn hẳn, da trắng hơn hẳn, mũi thẳng hơn hẳn, và đặc biệt, mắt lớn và sáng hơn hẳn. Tiếc, dì bị một khuyết tật khiến tôi phải dùng chữ “suýt” ở trên: Hồi nhỏ không biết dì bị bệnh gì đó khiến một chân và một tay của dì hơi bị rút lại, còn miệng thì hơi bị méo đi một chút. Dì đi theo kiểu chấm phẩy, một chân bước ngay ngắn, còn một chân thì hơi hụt, kéo lê trên mặt đất, vì vậy ống quần ở chân ấy bao giờ cũng dính đầy bụi đất, dày cộm lên, trông rất dơ bẩn.

Mà dì bẩn thật. Lúc nào cũng bẩn. Quần áo của dì, trong ký ức của tôi, suốt mấy chục năm, hầu như lúc nào cũng màu đen, và lúc nào cũng cũ kỹ, rách rưới, vá chằng vá đụp. Dì lại ăn trầu và hút thuốc, thường là thuốc Cẩm Lệ vấn sâu kèn, lâu lâu lại phun nước miếng phèn phẹt xuống nền đất. Hồi nhỏ, tôi thương dì, nhưng lại cảm thấy ghê ghê, không dám gần dì. Hình như tôi chưa bao giờ bước vào nhà dì, lúc nào cũng là một túp nhà lụp xụp, chật chội, tối tăm, nằm đâu đó ở ngoài rìa làng. Tôi chỉ gặp dì những lúc dì đến nhà tôi. Cũng không thường xuyên lắm. Khoảng vài ba tháng một lần. Thường, đến nhà, dì nói về tướng số người này người nọ, kể chuyện tiếu lâm, không ngần ngại phun ra những chữ rất tục. Dì nói chuyện rất vui và có duyên. Dì nhớ rất nhiều ca dao, tục ngữ, thơ cổ và đặc biệt sấm Trạng Trình.

Những lần dì đến chơi như thế, nói chuyện được một lát, bao giờ mẹ tôi cũng rầy dì. Chuyện tướng số, mẹ tôi không tin, rầy dì nói nhảm. Rồi lại rầy dì không tắm giặt cho sạch sẽ, không bới tóc cho gọn gàng, không chịu làm ăn cho tử tế. Rồi hai chị em cãi nhau. Rồi dì đứng phắt dậy, cầm chiếc nón lá ngoe nguẩy ra về. Với một bàn chân lẹt quẹt kéo lê dưới đất.

Thường, mẹ tôi lại kéo dì lại, dúi vào tay dì ít tiền hoặc kéo ra sau, đưa cho dì ít ký gạo.

Mẹ tôi biết dì và các con dì đang đói.

Có lẽ dì thường xuyên đói. Chồng dì đi lính, chết trận. Dì một mình nuôi bốn năm đứa con nhỏ xíu. Lại tàn tật. Tôi thực tình không biết dì làm gì để sống. Có lẽ chỉ làm thuê làm mướn những việc không quá nặng nề. Và có lẽ bằng việc coi bói. Dì nổi tiếng coi bói hay. Nhưng cũng chỉ nổi tiếng trong làng. Mà làng lại nghèo. Nên có lẽ dì không thể sống hẳn bằng cái nghề ấy được. Coi xong, người ta thương tình tặng cho dì ít tiền hoặc ít lúa gạo. Vậy thôi.

Nhưng dì lúc nào cũng cười. Cũng vui. Khi ai hỏi về đời sống của dì như thế nào, bao giờ dì cũng đáp lại bằng một câu, một câu duy nhất: “Khỏe re như bò kéo xe!” Rồi lại cười hê hê.

Sau năm 1975, dì cũng kéo được mấy đứa con vào Nam, sống ở Ðồng Nai. Cả gia đình dì làm rẫy. Nhưng lúc ấy con dì vẫn còn nhỏ, còn dì thì tàn tật nên sức canh tác và thu hoạch chắc cũng chẳng được bao nhiêu. Lâu lâu dì lại lẹt quẹt kéo lê bàn chân đầy bụi đất đến nhà tôi. Lại nói chuyện bói toán. Lại kể chuyện tiếu lâm. Lại cười hê hê. Khi ai hỏi về đời sống của dì, dì cũng lại đáp: “Khỏe re như bò kéo xe!”

Gần đây, anh tôi về Việt Nam, lại gặp dì. Con cái dì đã lớn, và may mắn, có một đứa làm ăn tương đối khá, dì không còn đói nữa. Nhưng vẫn nghèo. Và già yếu. Bàn chân tật nguyền vẫn lê lẹt quẹt trên đường, lúc nào cũng dính đầy bụi đất. Dì vẫn say sưa với chuyện bói toán, vẫn đoán hậu vận người này kẻ khác, vẫn thích nói chuyện tiếu lâm. Và vẫn cười hê hê.

Hỏi về đời sống của dì, dì vẫn đáp: “Khỏe re như bò kéo xe!”
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Đợt 2 Biểu Tình Chống Trung Cộng
Tác giả : Vi Anh

Ít nhứt cũng phải như vậy. Dù chỉ còn một chút điểm lương tâm Việt Nam, Đảng Nhà Nước cũng phải để cho lương tâm Việt Nam có tiếng nói, con tim khối óc VN có hành động qua đợt hai biểu tình chống TC xâm lăng, ở Hà nội, Saigon, Huế mới đây.

Tổng họp sự kiện và thời sự tin cho biết Quốc Hội của VNCS không “lên lịch”, không ghi vào nghị trình trước, bất ngờ vào phiên họp ngày 21/06/2012, chủ tọa đòan “đột xuất”, như theo thủ tục khẩn cấp, đưa ra phiên họp khóang đại Quốc Hội thảo luận nhanh, biểu quyết lẹ, thông qua Luật Biển gồm 7chương,55 điều, có hiệu lực vào ngày 01/01/2013. Thật là một hành động lập pháp cấp bách như trong tình trạng “khẩn trương” hay “chiến tranh”. Hành động này của Quốc Hội VNCS như cuộc phản công đột kích phản công chống lại quyết nghị đã thành luật của Quốc Hội Trung Cộng trước đây sáp nhập hai đảo Hòang sa và Trường sa của đất nước ông bà Việt Nam làm thành huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam thuộc lãnh thổ, lãnh hải, chủ quyền của TC. Quốc Hội VNCS thông qua bộ Luật Biển VN, với chương 1 của bộ luật này xác định rõ ràng và long trọng rằng «…quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa (…) thuộc chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam...»

Quyết định, biểu quyết này của Quốc Hội VNCS mặc thị phủ nhận, chánh thức hủy bỏ công hàm của Thủ Tướng CS Hà nội Phạm văn Đồng, mặc thị thừa nhận vùng biển trong đó có hai đảo Hòang sa và Trường sa thuộc TC. Một quyết nghị mặc thị bán đất nước, vô thẫm quyền vì lúc bấy giờ hai đảo này thuộc Việt Nam Cộng Hòa.

Ngay sau khi Quốc Hội VNCS biểu quyết với đa số tuyệt đối Luật Biển VN, Trung Cộng như đỉa phải vôi. Họ tức tối, phản ứng lập tức và mất kiểm sóat vì Luật Biển của VNCS chánh thức, công khai, minh thị, long trọng tuyên xưng khẳng khái chủ quyền VN trên lãnh hải và những đảo mà TC đã đơn phương chiếm lĩnh, áp đặt với bản đồ hình lưỡi bò của TC liếm 80% Biển Đông của VN. Trong đó có hai đảo Hòang Sa và Trường Sa của VN mà TC đã xâm chiếm, lập thành Huyện Tam Sa, trực thuộc tỉnh Hải Nam của TC.

TC ăn miếng trả miếng. Họ kêu gọi quốc tế khai thác dầu 9 lô trên Biển Đông. Họ giương oai diệu võ, điều 4 tàu hải giám xuống tuần tra tại vùng quần đảo Trường Sa. Họ tuyên bố nâng cấp hành chánh Hoàng Sa, Trường Sa và Trung Sa thành phố quận lỵ. Họ lập và đặt bộ chỉ huy quân sự ngay trên vùng đảo này.

Cuộc đột kích phản công của nhà cầm quyền VNCS tuy không chiếm lại được vùng đảo và biển trên thực tế nhưng tạo thế pháp lý quốc tế rất cần thiết cho VN. Theo Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia về Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales) nhận định VN thông qua Luật Biển, tạo cho VN dễ dàng cầu viện quốc tế trong cuộc tranh chấp với Trung Quốc tại Biển Đông khi cần thiết. Việt Nam đã lồng Công ước Quốc tế về Luật Biển năm 1982 vào trong Luật Biển quốc gia của mình, tức biến mình thành thành phần được dự sự, có tố quyền, khi tranh tụng về thẩm quyền (của Việt Nam) đối với các vùng biển khác nhau: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, hải đảo và quần đảo.

Phản ứng pháp lý của Quốc Hội VNCS phù hợp với lương tri quốc tế, lòng yêu nước của nhân dân VN. Quốc tế đứng về phía VN, bất bình TC ỷ lớn ăn hiếp nhỏ, xâm chiếm biển đảo và thường xuyên khiêu khích VN. Phù hợp với chiến lược hiện tại của Mỹ dồn dập trở lại Á châu, be bờ bành trướng của TC, ngăn chận TC giành thế hải thượng trên Á châu Thái bình Dương, muốn khống chế con đường hàng hải huyết mạch của thế giới từ Eo Biền Mã Lai đi lên Bắc Thái bình Dương.

Thượng nghị sĩ Mỹ Joe Lieberman, nhiều uy thế trong chính trường Mỹ ngày 28 tháng 6 lên tiếng cho rằng việc Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc CNOOC mời thầu thăm dò - khai thác chín lô trên Biển Đông như được loan báo ngày 23/6 trước đó là một đòi hỏi vô căn cứ và chưa từng thấy vì các lô đó «nằm trong vùng đặc quyền kinh tế được luật pháp quốc tế thừa nhận là của Việt Nam».Ông cả quyết những khiêu khích như vậy phải chấm dứt.

Còn dân chúng Việt Nam trong hòan cảnh bị công an, cảnh sát kiểm sóat chặt chẽ, sách nhiễu, cũng cố gắng uốn mình qua ngõ hẹp, len lỏi huy động, vận động và tham gia biểu tình. Ngày 01/07/2012, ngươi dân Việt tự động xuống đường tại ba thành phố lớn, Hà Nội,Sài Gòn, Huế. Tin ngày 02.07.2012 của đài RFA của Mỹ rất bén nhậy với thời sự trong nước: “Huế, Sài Gòn, Hà Nội đồng loạt biểu tình chống Trung Quốc”. Còn trên đài RFI của Pháp phân tích sâu sắc về tình hình dân chúng VN, có một tấm hình tượng trưng cho thời sự với một biểu ngữ thấy rõ câu “Tổ Quốc Gọi Chúng Con Có Mặt Vì Bình Yên Xã Tắc Sơn Hà” nói lên tiếng gọi của Tổ Quốc VN và quyết tâm của nhân dân đáp lời sông núi. Người dân Việt, ở bắc, ở trung, ở nam và ở hải ngọai lên tiếng, biểu tình lên án TC xâm lăng bờ cõi VN do đất nước ông bà VN để lại.

Theo hãng tin AP của Mỹ, khoảng 200 người cầm cờ, hô khẩu hiệu phản đối TC ở Hà Nội.Trong khi đó, một blogger ở Sài Gòn nói trên 500 người đã xuống đường ở Saigon.Ở Hà Nội diễu hành về phía tòa đại sứ TC."Công an đã ngừng giao thông và không chặn cuộc biểu tình, nhưng khu vực xung quanh tòa đại sứ bị phong tỏa." Ở Saigon công an phòng thủ kỹ nhưng không ngăn trở, đòan biều tình đi từ khu Viện Đại Học cũ đến Tòa Đại sứ TC ở Đường Hai Bà Trưng xưa. Ban đầu cảnh sát có bắt một số người đa số là sinh viên nhưng người dân đấu tranh thì thả sau đó. Còn ở Huế ông Nguyễn Khắc Toàn cho biết, “Đặc biệt ở Huế, hưởng ứng lời kêu gọi của đại lão Tăng Thống Thích Quảng Độ, rất nhiều tăng sỹ, tu sỹ Phật giáo Việt nam Thống nhất đã dẫn đầu cuộc biểu tình. Nhưng họ đã bị công an ở Huế ngăn chặn, đàn áp, bắt giữ rất thô bạo.”Hòa thượng Thích Quảng Độ,Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhứt trước ngày Chủ Nhựt từ Sài Gòn, kêu gọi “toàn thể đồng bào Việt Nam không phân biệt chính kiến, tôn giáo, già trẻ, nam nữ, dân tộc, đảng phái, trong và ngoài nước, hãy cùng nhau xuống đường biểu tình vào ngày Chủ nhật để chống ngoại xâm, cứu nguy đất nước”. Ở hải ngọai giới Phật tử ở Cali, Texas, hai tiểu bang đông người Mỹ gốc Việt nhứt tuyên bố sẽ biểu tình trước Tòa Lãnh sự quán Trung Quốc.

Nhưng CS Hà nội không tin dân và sợ dân nên hạn chế và cản trở không cho dân bày tỏ đúng mức mối thù bị giặc Tàu độ hộ 1,000 năm và đang lăm le tái xâm lăng VN biến VN thành thuộc địa kiểu mới.. Tổ chức Human Rights Watch ra thông cáo chỉ trích nhà cầm quyền CS Việt Nam theo quán tính luôn luôn ngăn chặn mọi hành động bày tỏ ý kiến ôn hoà, dù là ý kiến trùng họp với chính sách của chính phủ đối với Trung Quốc.

Báo chí của VNCS dù bị Đảng Nhà Nước “nắm” như của riêng vẫn tương kế tựu kế “viết lách” nói lên biểu quyết của Quốc Hội VNCS “đột xuất” phản công TC và vạch mặt chỉ rõ hành động “bá quyền nước lớn” của TC hăm dọa trả đũa của TC. Báo chí Pháp cảm nhận được điều này mô tả bằng một tu từ ẩn dụ rất sâu sắc và gợi cảm, gọi là “phát đạn” cho truyền thông của Đảng Nhà Nước tấn công TC. Đảng Nhà Nước mặc thị “ xả cảng” cho báo chí phát tiết ra mối thù 1000 năm Bắc Thuộc, oan hồn của những ngư dân VN bị TC sát hại.

Trong chánh trị khó có thể cầu tòan. Nhứt là trong chế độ CS, CS rất sợ dân, kiểm sóat dân rất khắc nghiệt. Người dân yêu nước tương kế tựu kế, lợi dụng Đảng Nhà Nước CSVN làm lơ phần nào cho người dân biểu tình như thế là quí rồi. Ít nhứt phải như vậy. Có còn hơn không. Có những con kinh, con rạch nhỏ thì mới thành những con sông lớn, Hồng Hà, Sông Hương, Cửu Long.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

400 ngàn người dân Hồng Kông đòi giải tán đảng Cộng Sản

Image

Image

Image


Ngày 1-7-2012 nhân buổi lễ nhậm chức của chính quyền mới Hồng Kông có sự hiện diện của Chủ Tịch Quốc Gia Hồ Cẩm Ðào từ đại lục qua tham dự ,đã có tới trên 400 ngàn người dân Hồng Kông tụ tập tham dự với những biểu ngữ “phục hồi danh dự cho những nạn nhân bị đàn áp trong vụ Thiên an Môn “, ” nhất đảng là độc tài ” ,”giải thể đảng cộng sản ” “trả lại Dân Chủ” ” Trời diệt trung cộng ” ….Chính quyền Hồng Kông huy động trên 6000 cảnh sát, và phải dùng vòi phun nước để giải tán mà không đuợc, tất cả những người biểu tình không một ai cầm cờ Trung Quốc hay cờ đảng cộng sản (cờ đỏ sao vàng và cờ búa liềm) để chứng tỏ họ không chấp nhận chính quyền Trung Quốc và đảng cộng sản .Theo tin từ nhà cầm quyền Hông Kông thì số người biểu tình là 550 ngàn người .


Xem video cuộc biểu tình chống cộng đại quy mô này ở link dưới :

Video 1 http://www.ntdtv.jp/ntdtv_jp/society%E2 ... 82021.html
Video 2 http://www.epochtimes.jp/jp/2012/07/html/d60045.html

Dân Hồng Kông có ý thức và trình độ yêu nước đúng đắn vì đã từng đuợc sống trong Tự Do Dân Chủ nhiều năm, nên mới có những cuộc biểu tình quy mô to lớn như vậy được .
Dân Việt Nam ( chủ yếu là Miền Bắc ) cả đời sống trong kìm kẹp và dân chủ giả hiệu đã quen ,nên chì có những cuộc biểu tình bỏ túi tượng trưng để lãnh tiền thưởng và tiền ủng hộ từ việt kiều ngây thơ mà thôi .
Dù sao nếu Trung cộng đổ thì bọn Việt gian cũng phải đổ theo, hy vọng Trung cộng sẽ đổ sớm .
—————————————-
Dân Hồng Kông cầm cờ Hồng Kông cũ, rầm rộ xuống đường phản đối chính quyền Bắc Kinh
Vào giữa ngày hôm nay, ngày kỷ niệm 15 năm nhượng địa trở lại chủ quyền Trung Quốc, chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã rời Hồng Kông về lại Bắc Kinh sau hai ngày thăm viếng bị chống đối mãnh liệt.
Trong khi đó, người dân Hồng Kông tiếp tục hành động biểu lộ bất mãn đối với chính sách của Bắc Kinh bị xem là « đang cướp đoạt quyền tự do và dân chủ », là làm « đời sống » dân Hồng Kông trở thành đắt đỏ.
AFP mô tả vào lúc 17 giờ chiều, tức là hơn một giờ sau khi đoàn biểu tình tuần hành, nhiều chục ngàn người vẫn còn chờ đến phiên mình tại địa điểm tập trung. Họ mặc y phục màu tang đen trắng và có người mang cờ của Anh Quốc. Họ lên án chế độ Trung Quốc « phá hoại Hồng Kông và quyền dân chủ của người dân ».

Hàng năm, ngày 01/07 vẫn có biểu tình nhưng năm nay lòng bất mãn của dân chúng Hồng Kông lên rất cao. Sự kiện tân lãnh đạo đặc khu hành chánh Lương Chấn Anh tuyên thệ nhậm chức trước sự chứng kiến của chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào được xem là hành động « can thiệp thô bạo ». Diễn văn của chủ tịch Trung Quốc đã bị gián đọa nhiều lần vì lời hô to của một người trong cử tọa « chấm dứt chế độ độc đảng » và « phản đối đàn áp Thiên An Môn ». Ở bên ngoài hội trường, người biểu tình đốt chân dung của Lương Chấn Anh với khẩu hiệu « bài trừ đảng Cộng sản ».
Động thái đầu tiên của lãnh đạo Trung Quốc khi đến Hồng Kông là viếng thăm và dự lễ duyệt binh tại căn cứ của lực lượng quân đội Trung Quốc, được xem là đã nổ súng đàn áp phong trào sinh viên năm 1989, càng làm dân Hồng Kông bất bình thêm.

Theo AFP, dân chúng tại đặc khu hành chánh lên án dân có tiền tại Hoa Lục chạy qua Hồng Kông làm giá nhà đất leo thang, giành chổ của con em địa phương ở trường học và nhà giữ trẻ.

Cuối cùng, chính quyền Bắc Kinh bị tố cáo là đang tiến hành chính sách trấn áp tự do ngôn luận, tự do báo chí bằng biện pháp kiểm duyệt gian trá « chỉ đạo qua điện thoại
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Ván bài vùng Vịnh của Iran đã định hình

Đáp lại lệnh cấm vận dầu của EU bằng việc phô diễn sức mạnh quân sự, nhắc lại đe dọa đóng cửa Eo Hormuz, Iran đang đánh tín hiệu cho phương Tây rằng họ sẽ không cam chịu làm một nạn nhân thụ động của cuộc chiến kinh tế.

Tuần qua các quan chức Iran đã đưa ra những tuyên bố cứng rắn đối với việc Mỹ tăng cường lực lượng ở Vịnh Ba Tư bằng một cuộc diễn tập bắn tên lửa ba ngày. Tổng tư lệnh lực lượng không quân Quân đoàn vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran, Chuẩn tướng Amir Ali Hajizadeh, nói rằng tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ trong khu vực đang nằm trong tầm bắn của tên lửa Iran.

Cuộc tập trận Nhà tiên tri vĩ đại số 7 kết thúc một ngày sau khi “cuộc họp kỹ thuật” giữa Iran và “5+1” kết thúc như dự kiến mà không đem lại một kết quả có ý nghĩa nào.
Image
Các tàu chiến của Iran trong một cuộc tập trận ở eo biển Hormuz. Ảnh: AFP

Mỹ đã cử hai chuyên gia hàng đầu về vấn đề phổ biến vũ khí là Gary Samore và Robert Einhorn, đến cuộc họp nói trên và tỏ ra cam kết với kênh goại giao này. Tuy nhiên người Iran lại không tin rằng Mỹ và các đồng minh phương Tây nghiêm túc muốn đạt được một thỏa hiệp. Đặc phái viên của Iran tại Tổ chức năng tử lượng quốc tế (IAEA), Ali Asghar Soltanieh, đã nhận xét rằng: "một số nước không nghiêm túc trong thương lượng”.

Thậm chí tại nước Mỹ, đang ngày càng nhiều lời phê phán cách tiếp cận của phương Tây đối với Iran, với các nhà bình luận trì trích chính phủ các nước phương Tây đã không dành cho Iran một phần thưởng hữu hình nào để đổi lấy những nhượng bộ mà Tehran đang sẵn sàng đưa ra về vấn đề làm giầu uranium của họ.

Nhà lý thuyết quan hệ quốc tế Kenneth Waltz cũng đã công khai bảo vệ quyền chính đáng của Iran trong việc phát triển một kho vũ khí hạt nhân để cân bằng với việc Israel độc quyền hạt nhân gây mất ổn định ở khu vực.

Độ tin cậy của phương pháp cưỡng chế của phương Tây với Iran đã bị suy yếu và việc tuyên truyền của Mỹ hoặc Israel cũng không thể che giấu sự thật này. Dưới ánh sáng của tình hình ở Vùng Vịnh ngày một nóng hơn, phương Tây sẽ càng thấy khó che đậy chiến lược chống Iran cứng nhắc và thiếu linh hoạt của mình.

Cuộc đấu trên Eo Hormuz

Lo ngại đối với điều luật sắp tới của quốc hội (Majlis) Iran kêu gọi đóng cửa Eo Hormuz, ít nhất là đối với các tầu chở dầu trên đường tới các nước chấp nhận lệnh trừng phạt của Mỹ, Hải quân Mỹ đã tăng cường sự hiện diện của mình ở Vịnh Ba Tư.

Mỹ đã tăng gấp đôi số tầu quét mìn tại vùng biển khu vực lên tám chiếc trong mấy tuần gần đây, cùng một số phi đội máy bay tiêm kích F-22 và F-15 được triển khai đến các khu vực gần các căn cứ quân sự của Mỹ. Những lực lượng này được giao nhiệm vụ giữ cho Eo Hormuz mở trong trường hợp Iran tìm cách đóng nó lại hoặc can thiệp vào việc chuyên chở dầu qua Eo biển.
Image
Tàu sân bay và trực thăng Mỹ trên eo biển Hormuz. Ảnh: AFP
Luật về đóng cửa Eo Hormuz, do Ủy ban an ninh quốc gia và đối ngoại của quốc hội soạn thảo, đã được 100 đại biểu ký (trong tổng số 290) và đang được chuẩn bị đem ra bỏ phiếu trước quốc hội. Nếu được thông qua như dự kiến, điều luật này sẽ thúc đẩy các tư lệnh quân đội Iran phải mạnh dạn hơn trong việc lựa chọn "sức mạnh cứng" để đáp lại các biện pháp trừng phạt của Mỹ.

Một giải pháp quân sự cho cuộc khủng hoảng hạt nhân của Iran dường như là hiện thực hơn bao giờ hết, báo trước một khả năng mong manh tác động đến giá dầu và sức khỏe của nền kinh tế thế giới

Mỹ và các đồng minh phương Tây đang đánh cược rằng Iran sẽ không có hành vi gây rối trong Vùng Vịnh, đơn giản chỉ là do họ không cân sức trong bất kỳ xung đột nào. Tuy nhiên, cách suy luận này dựa trên một giả định sai lầm rằng Iran sẽ bị tê liệt vì các biện pháp trừng phạt và không thể đánh lại. Điều này chỉ chính xác với Iraq dưới thời cựu tổng thống Saddam Hussein trong một thập kỷ rưỡi trước khi Iraq - bị suy yếu đáng kể do các biện pháp trừng phạt – trở thành mục tiêu của một cuộc xâm lược.

Một số vị "diều hâu" ở Iran nói rằng Mỹ và các đồng minh đã chính thức tuyên bố "chiến tranh kinh tế" chống Iran và do đó Tehran cần có phản ứng cứng rắn. Điều này có thể xảy ra dưới các hình thức như nhằm vào các lợi ích của phương Tây trong khu vực, phá hoại ổn định ở Vùng Vịnh, hoặc ủng hộ các lực lượng chống NATO ở Afghanistan.

Tehran có thể quyết định nhắm vào các tàu chở dầu nước ngoài trong một chiến lược tương tự như chiến tranh du kích trên biển, trong khi duy trì chính sách bên miệng hố chiến tranh đâu lại sức mạnh vượt trội của quân đội Mỹ. Các biện pháp khác có thể là đẩy nhanh chương trình làm giàu uranium của mình, thậm chí có thể vượt quá giới hạn 20% plutonium để đạt được mức chế vũ khí, hay giảm hợp tác với IAEA và thậm chí rút lui khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).

Iran có lý khi tính toán rằng nước Mỹ, với nền kinh tế đang rướm máu do can thiệp quân sự vào Iraq và Afghanistan, chưa sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh mới có tác động ngay lập tức đến túi tiền của người tiêu dùng Mỹ thông qua việc giá dầu tăng cao, đặc biệt là trong năm bầu cử.

Theo một giáo sư Đại học Tehran: “Thông điệp của Iran gửi Tổng thống Obama là rất rõ ràng: Chúng tôi không phải là một Iraq và đã học được một bài học đúng từ cuộc xâm lược của Mỹ ở Iraq sau khi làm cho Iran chảy máu nhiều năm”. Và “hầu hết người Iran là những người dân tộc chủ nghĩa. Họ sẽ ủng hộ chính phủ trong trường hợp xảy ra cuộc đối đầu quân sự với “chú Sam”.

Tuy nhiên, cho đến nay danh sách dài gồm 20 nước được miễn trừ trừng phạt do nhập khẩu dầu của Iran đã chiếm đến 80% thị trường dầu của nước này, chứng tỏ có lực cản lớn đối với nguy cơ chiến tranh. Điều này tạo cho Iran một sự đảm bảo tạm thời rằng động mạch cho nền kinh tế của họ sẽ không bị tắc. Lệnh miễn trừ này của chính quyền Obama sẽ được xem xét 6 tháng một lần, tức sau bầu cử tổng thống ở Mỹ vào tháng 11, với mục đích kiềm chế cuộc khủng hoảng Iran. Trong trường hợp Mỹ quyết định rằng cần trừng phạt hầu hết hoặc tất cả các nước đang được miễn, thì Mỹ sẽ gặp phải sự phản đối nghiêm túc từ những nước đó.

Phản ứng của Iran cho đến nay vẫn kiềm chế bởi họ tin rằng vẫn có những sơ hở đáng kể trong các biện pháp trừng phạt để các nước lách luật của Mỹ. Rõ ràng là nếu các nước phương Tây không thay đổi chính sách với Iran, thì cuộc đấu sẽ diễn ra theo kịch bản của Tehran.

Phạm Ngọc Uyển (theo Asia Times)
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Tổng bí thư, chủ tịch nước nói dựa vào dân, thủ tướng CSVN thẳng tay đàn áp dân

Võ Long Triều

Hai vị lãnh đạo tối cao đảng cộng sản Hà Nội vừa mới kêu gọi nhân dân tiếp tay với đảng. Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tuyên bố với cử tri Hà Nội: “Tham nhũng, hư hỏng, nhìn vào đâu cũng có, tôi hết sức sốt ruột. Ðảng quyết tâm chống tham nhũng rất cao, song phải dựa vào nhân dân chứ riêng nội bộ đảng làm không được!” Ông tổng bí thư công khai thú nhận bất lực nên phải cầu cứu đến người dân. Ba mươi bảy năm qua đảng Cộng Sản Hà Nội đã gieo rắc khắp đất nước những cán bộ đảng viên hư hỏng, bóc lột quần chúng, bòn rút của công, vay nợ nước ngoài hàng chục tỷ Mỹ kim mà quốc gia không trả nổi tiền lời (Vinashin bị kiện ra tòa án Anh Quốc). Sau này nhiều thế hệ sẽ phải nai lưng trả trong thời gian lâu dài. Từ xưa đến nay đảng lợi dụng hai chữ nhân dân, nào là quân đội nhân dân, công an nhân dân, nhưng lại đàn áp nhân dân đến nỗi Tướng Lê Ðức Anh, nguyên chủ tịch nước, phê phán quân đội nhân dân là để chống giặc, chớ không phải để đàn áp nhân dân như trường hợp ở Tiên Lãng hay Văn Giang.

Nhà nước tự hào do dân, vì dân, nhưng thực tế mượn tên nhân dân để mang chế độ cầm quyền độc tài ra thi hành, cướp đất của nông dân, chà đạp nhân quyền, đàn áp tôn giáo, cấm đoán báo chí.

Mặt khác, Chủ Tịch Trương Tấn Sang tuyên bố với cử tri Sài Gòn và báo chí: “Chúng tôi cảm thấy có lỗi để cho dân và đảng viên sợ, nhưng mặt khác, đảng viên và người dân cũng phải có trách nhiệm của mình, không thể thụ động”. Phải chăng ông Sang nghĩ xa hơn một chút, ông nhận lỗi vì để cho nhân dân sợ bọn cán bộ “hư hỏng” ác ôn, đòi hối lộ không được nên đánh đập quần chúng, có khi đến chết, một cách vô tội vạ. Ðó là nói về tham nhũng lạm quyền.

Trầm trọng hơn, nguy hại hơn, là sự lo sợ cho an ninh quốc gia và viễn ảnh mất nước về tay Trung Quốc khi Bắc Kinh đang từng bước xâm lăng. Ông Sang dùng chữ “dân sợ” có thể muốn hàm ý sợ Tàu Cộng xâm lăng chăng? Có thể ông cảm thấy để cho dân lo sợ như vậy là phạm trọng tội đối với tiền nhân và dân tộc? Cho nên trước thảm họa đó ông cho rằng dân chúng phải có “trách nhiệm” và không thể ngồi yên “thụ động”. Nếu thật lòng ông Trương Tấn Sang nghĩ như vậy thì với tư cách là một trong những người lãnh đạo tối cao ông phải gấp rút hành động biến đổi tình hình chính trị của đất nước trước khi quá trễ để ông hối hận và toàn dân chịu khổ nạn.

Bình thường các ông trong Bộ Chính Trị xem dân như cỏ rác, thậm chí đối với những người có công, và gia đình họ đã từng góp phần tạo dựng nên chế độ gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa mà thật ra, xã hội này không có chủ nghĩa xã hội chút nào, bởi vì người ta thấy đầy dẫy bất công, muôn dân nghèo đói, trừ các đảng viên ngang nhiên trở thành tư bản đỏ, được ăn trên ngồi trước, hưởng thụ nhờ cướp đất của dân, khiến hàng ngàn gia đình lang thang đầu đường xó chợ, kiếm cơm không đủ sống qua ngày. Và nếu họ có biểu tình phản đối, cho dù cụ già hay cán bộ về hưu, có mang mề đay đỏ ngực cũng bị khiêng quẳng lên xe một cách tàn nhẫn vô nhân đạo. Thế nên dư luận mỉa mai: “Ðạo đức suy đồi, giả dối lên ngôi”.

Ngày nay đảng thừa biết toàn dân mất lòng tin nơi đảng, thậm chí oán hận vì bị bóc lột có khi còn hơn thời thực dân, phong kiến nữa. Bằng cớ là tại kỳ đại hội xây dựng và chỉnh đốn đảng tại Hà Nội ngày 27 tháng 2 năm nay, ông Nguyễn Phú Trọng nói: “Ðiều dáng lo ngại nhứt và cũng là nguy cơ lớn nhứt đối với đảng cầm quyền là có bộ phận suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu, xa dân, vi phạm nhiều nguyên tắc của đảng”.

Ngày nay ông tổng bí thư cảm thấy hết sức sốt ruột vì bất lực nên “phải dựa vào nhân dân”, còn ông chủ tịch nước hối thúc dân “phải lãnh trách nhiệm của mình không thể thụ động”.

Thế mà ngày 1 tháng 7 vừa qua vì dân “sợ” mất nước, nên tập hợp biểu tình một cách ôn hòa, chống Trung Quốc xâm lăng, khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, đúng theo luật biển của Quốc Hội vừa mới biểu quyết thông qua. Thế mà công an lại ngăn cản, đàn áp dân mình, bắt người trái phép, như trường hợp của cô Huỳnh Thục Vy, bị bắt chở đi không cho biết lý do; Trần Kim Tiến bị đưa về nhà, cô đành tuyên bố, “không cho ra đường thì tôi biểu tình tại gia”, cũng với biểu ngữ chống Trung Quốc xâm lăng và Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Dân chúng tưởng rằng thông qua luật biển, đảng và nhà nước đã hồi tỉnh cơn mê. Trước cảnh “sơn hà nguy biến”, giang sơn đất nước do ông cha để lại, bây giờ Tàu Cộng chiếm đoạt công khai, các ông không cho phép dân phản đối rõ là điều nghịch lý. Bởi vì một mặt các ông nói “phải dựa vào nhân dân”, “dân phải có trách nhiệm không thể thụ động”. Vậy mà dân ý thức trách nhiệm, chủ động hô hào chống ngoại xâm, các ông ngăn cấm! Thậm chí còn đánh đập hành hung, theo lệnh của ai? Nếu là của người cầm quyền nào đó đã tự biến mình thành tay sai của Trung Cộng thì phải lập tức điều tra xử phạt và khai trừ.

Nếu các ông sợ mất lòng quan thầy Trung Quốc thì cho ra luật biển làm gì? Hay là luật biển của các ông chỉ là một sự dối gạt quần chúng, đánh lận con đen, che mắt dư luận thế giới?

Nhưng thực tế Hà Nội không thể chối cãi là đã chà đạp nhân quyền. Tổ chức Human Rights Watch đã lên án nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, cản trở công dân tham gia tuần hành ôn hòa là vi phạm nhân quyền, không cho họ bày tỏ quan điểm. Thật là mỉa mai ngay cả khi muốn bày tỏ sự ủng hộ chính sách của nhà nước người dân cũng bị sách nhiễu.

Dư luận cho rằng hành động vô cùng mâu thuẫn của nhà cầm quyền có thể hiểu được như sau:

- Một là vì phản ứng cấp thời và mạnh mẽ của Trung Quốc khi họ nâng cấp huyện Tam Sa trở nên thành phố, họ đặt khu quân sự tại đây và gọi thầu quốc tế khai thác dầu hỏa ngay trên thềm lục địa của Việt Nam. Những điều đó làm cho Bộ Chính Trị đảng run sợ trước thái độ hung hăng của quan thầy Trung Quốc luôn nhắc nhở 16 chữ vàng, nghĩa là phải “hợp tác toàn diện” điều mà đảng Cộng Sản Việt Nam đã từng chấp nhận tuân theo.

- Hai là nhà nước quá lo sợ những cuộc biểu tình ngang nhiên trở thành biển người chống đối, lật đổ nhà cầm quyền “Hèn với giặc ác với dân”.

- Ba là những vụ thanh trừng nội bộ đang ló dạng. Hai ông Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đã gián tiếp quy trách nhiệm cho Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định cử Dương Chí Dũng giữ chức cục trưởng Cục Hàng Hải Việt Nam. Ông này thâm lạm công quỹ hàng tỷ Mỹ kim và đã đào tẩu, đang bị quốc tế truy nã. Trương Tấn Sang công khai đe dọa rằng Quốc Hội sẽ bỏ phiếu bất tín nhiệm viên chức chính phủ.

Mặt khác, trong một cuộc hội thảo khoa học tại Ðại Học Quốc Gia Hà Nội bàn về vấn đề sửa đổi và bổ túc hiến pháp, Giáo Sư Phạm Hồng Thái, chủ nhiệm khoa luật pháp, đề nghị trao thêm quyền cho chủ tịch nước, đặc biệt cho nắm luôn Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An và Bộ Ngoại Giao, còn thủ tướng nắm các bộ còn lại và cấp chính quyền địa phương. Trước dấu hiệu sẽ có thanh trừng nội bộ, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chứng minh lời phát biểu của hai ông Trọng và ông Sang đều không có tác dụng trước bàn tay sắt của công an do ông Dũng nắm giữ trọn quyền từ xưa tới nay.

Hình như trận chiến Hoàng Sa, Trường Sa ít có khả năng xảy ra đối với Trung Cộng mà biến thành chiến tranh nội bộ của đảng Cộng Sản Việt Nam trong tương lai gần. Hãy chờ xem.

(VLT)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Khi Chữ Sợ Đang Dần Dần Biến Mất

Tác giả : Lê Nguyên Bình
Sau gần một năm bị đè nén, phong trào biểu tình đã tái lập thành công trên đường phố Hà Nội và Sài-gòn. Sự kiện hàng trăm người có thể xuống đường trở lại ở Hà Nội và Sài-gòn là một dấu hiệu đáng khích lệ, dù sự thành công này phần nào bao gồm sự "nới lỏng có chủ ý và kiểm soát" của nhà cầm quyền. Với kinh nghiệm cũ và tình hình mới, đợt biểu tình lần hai hứa hẹn nhiều diễn biến khác hơn phong trào xảy ra vào đúng một năm trước.

Chủ quyền đất nước không thể giữ được bằng sự lên án suông, hay các hình thức phản đối mang tính biểu trưng. Lịch sử thế giới, và ở cả nước ta, chứng minh rằng: Lãnh thổ quốc gia chỉ được bảo vệ thành công khi có quyết tâm của cả dân tộc, kể cả những hy sinh bằng xương máu khi cần thiết. Trong bối cảnh chính trị phức tạp hiện nay, chủ trương dùng vũ lực để đấu tranh bảo toàn chủ quyền nước nhà, hay để dân chủ hoá đất nước, có thể không phù hợp. Tuy nhiên, giới hạn đó không bắt buộc nhân dân Việt Nam phải tự bó mình trong các hình thức đấu tranh bị động, khi chính đảng cầm quyền cũng đang tự bó mình trong thế bị động đầy mâu thuẫn. Đấu tranh là phải có sức mạnh, và phải ở thế chủ động!

Chống xâm lăng là việc quốc sự và cần có sự lãnh đạo sáng suốt của chính quyền. Nhưng công cuộc chống xâm lăng có hiệu quả hay không là tuỳ thuộc vào quyết tâm của đa số nhân dân. Nhà nước CSVN sẽ không thể thuyết phục được công luận khi chính họ không thể hiện được một thái độ dứt khoát đối với Trung Cộng; và cứ tiếp tục bắt bớ, ngăn trở những công dân yêu nước bày tỏ nguyện vọng chính đáng của mình. Thái độ lưng chừng của nhà cầm quyền biểu hiện điểm yếu của những người lãnh đạo Việt Nam, và vì vậy không tạo được sự kiêng nễ của Trung Cộng. Tình trạng đó, cộng hưởng với nhu cầu "bảo hộ chính trị" một cách lộ liễu của đảng CSVN trong bối cảnh phong trào dân chủ hoá đang bùng dậy dưới nhiều hình thức... dẫn đến trình trạng nhà cầm quyền Trung Cộng xem thường những lời phản đối mang tính hình thức của nhà nước CHXHCNVN.

Sức mạnh lớn nhất để ngăn chận sự bành trướng của Trung Cộng trên đất liền và biển Đông của Việt Nam là một quyết tâm to lớn và sắt đá của cả chính phủ và nhân dân Việt Nam. Trung Cộng có thể bắt chẹt đảng CSVN nhưng không thể trấn áp cả dân tộc Việt Nam. Có thể nói, chính quyền nào biết dụng sức dân để bảo vệ đất nước, thì chủ quyền nước đó mới có thể được bảo vệ đúng nghĩa và đúng mức.

Đối với phía quốc tế, Việt Nam đã bắt đầu có được một số yếu tố thuận lợi đáng chú ý, đặc biệt là khi Hoa Kỳ công khai khẳng định chiến lược ở vùng Đông Nam Á. Nếu nhà nước CSVN sáng suốt và khôn ngoan đúng mức thì sẽ có thể vận dụng những yếu tố cộng hưởng này một cách hiệu quả cho công cuộc bảo toàn lãnh hải Việt Nam. Tất nhiên Hoa Kỳ sẽ không đánh nhau với Trung Cộng để bảo vệ chủ quyền trên biển của Việt Nam, song Việt Nam có thể vận dụng nhu cầu phát triển chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực biển Đông để tạo thế tương quan quyền lợi như là một ràng buộc mặc nhiên. Phi Luật Tân có thái độ cứng rắn, rõ ràng đối với Trung Cộng về vấn đề chủ quyền lãnh hải được là nhờ chính phủ này không bị lệ thuộc vào Trung Cộng. Chính sách của họ được Hoa Kỳ ủng hộ cũng là nhờ vậy. Yếu tố quan trọng này đáng để cho nhà cầm quyền và nhân dân Việt Nam học hỏi. Vận động thế quốc tế là vô cùng cần thiết song cũng cần phải cảnh giác: Không vận dụng được Hoa Kỳ trong thế trận biển Đông là điều dỡ, song ỷ lại vào sự bảo vệ tuyệt đối nào đó của Hoa Kỳ sẽ là một hy vọng hoang tưởng, ngây thơ.

Đấu tranh bất bạo động để bảo vệ chủ quyền quốc gia hay nhằm dân chủ hoá đất nước cũng đều cần có số đông to lớn, đầy nhiệt huyết và ý chí. Do vậy, dù vài trăm người biểu tình ôn hoà không thể ngăn cản được tình trạng Trung Cộng xâm lấn thô bạo chủ quyền Việt Nam trên biển Đông song quyết tâm của những người yêu nước là chất xúc tác cần thiết trong tiến trình giải quyết những vấn nạn lớn của đất nước. Khi nhà cầm quyền ra sức ngăn trở, giới hạn và thậm chí là bắt bớ, giam cầm những người tham dự biểu tình ôn hoà... thì chính sự kiện đó chứng minh rằng chế độ thừa biết là hiện có một số đông rất lớn khác đang sẵn sàng tham gia tranh đấu. Trong số đó, thành viên các tổ chức đấu tranh đã, đang và sẽ tiếp tục thúc đẩy, yểm trợ cho phong trào. Đó là bổn phận công dân đồng thời cũng là trách nhiệm đoàn thể. Khi thực tế chứng minh được rằng hiện có một tiềm lực hùng hậu sẵn sàng dấn thân đấu tranh chống xâm lăng, độc tài và bất công, thì vấn đề chỉ còn là thời gian và điều kiện để có một hoàn cảnh xúc tác thuận lợi.

Lịch sử Việt Nam từng ghi lại rằng nhân dân Việt Nam đã đứng lên chống lại làn sóng xâm lấn từ phương Bắc nhiều lần, và đều thành công. Đế quốc to lớn này có thể áp chế được nước ta trong một thời gian nào đó, nhưng đều không khuất phục được ý chí vùng dậy đòi độc lập của dân tộc Việt. Hiện nay, đảng Cộng sản Trung Hoa có thể lạm dụng ưu thế đối với đảng CSVN song rõ ràng là họ không đè bẹp được ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia của người Việt Nam. Do vậy, chắc chắn là thế giới sẽ tiếp tục chứng kiến tiến trình đấu tranh vì độc lập, chủ quyền và dân chủ, tự do của người Việt Nam.

Nhà cầm quyền đang lùi và phong trào đấu tranh đang từng bước tiến tới. Nhà cầm quyền có thể bắt vài chục người nhưng không thể bắt hàng trăm, hàng ngàn người yêu nước cùng một lúc. Chế độc độc tài có thể ngăn chận vài trăm người biểu tình song sẽ không dám trấn áp hàng ngàn, hàng chục ngàn người xuống đường cùng lúc. Thực tế cho thấy nhà cầm quyền CSVN đang rất lúng túng và mất tự tin. Họ thừa hiểu việc những người yêu nước phản đối Trung Cộng xâm lấn là đúng. Cho nên, mọi hành động ngăn chận, kể cả bắt bớ... đều chỉ ở hình thức cảnh cáo, tạm giam ngắn hạn...

Khi mọi giới, mọi thế hệ đều hăng hái xuống đường và công khai khôi hài hoá những cuộc tra hỏi, bắt bớ, tạm giam... thì chữ SỢ trong người dân đang dần dần biến mất. Một khi người dân không còn SỢ, hàng hàng lớp lớp người yêu nước chống nô lệ, độc tài, tham ô và bất công sẽ đứng dậy. Khi nhà cầm quyền tiếp tục làm những điều nghịch lý, bất nhân khiến nhiều người phẩn uất đến độ "nổi điên" lên, dám bất chấp hiểm nguy, hậu quả... thì ngày đó Việt Nam có thể cũng sẽ diễn biến như Bắc Phi, Trung Đông!

Lê Nguyên Bình
(ĐVDVN)
huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »

Người biết suy nghĩ, sẽ từ bỏ đảng Cộng Sản

Ngô Nhân Dụng


Trong số những người đi biểu tình chống Trung Cộng vào Chủ Nhật vừa qua, các bản tin và hình ảnh cho thấy rất nhiều người là viên Cộng Sản, một số vị là những nhân vật nổi tiếng.

Chúng ta rất kính trọng thái độ và hành động đó, vì họ can đảm công khai bày tỏ ý kiến ngược lại với những người cầm đầu đảng. Nhưng chúng ta không khỏi ngạc nhiên tự hỏi, tại sao cho đến giờ phút này quý vị đó vẫn còn là đảng viên?

Trong đảng Cộng Sản Việt Nam hiện có không biết bao nhiêu người đang chán ghét đảng, có người còn căm hờn đảng đã đánh lừa mình suốt một cuộc đời. Nhưng họ không thể dứt khoát từ bỏ đảng. Không ai nghiên cứu để biết được chính xác, nhưng tỷ số đảng viên cộng sản vừa chán vừa thù đảng; nhưng có thể rất nhiều, trên một nửa, hoặc cao hơn. Nhiều người đã phản đối thụ động bằng cách ngưng sinh hoạt. Và chờ đợi. Ở bên Nga, bên Ðông Âu hồi xưa cũng vậy. Người ta chán nhưng chưa quyết định từ bỏ vì không biết tương lai đảng còn ngồi trên đầu mình bao lâu.

Vì tâm lý chán ghét và thờ ơ chờ đợi tràn lan cho nên các đảng Cộng Sản Nga và Ðông Âu tan rã rất nhanh. Chỉ cần nghe một tin “bức tường Berlin sập đổ rồi” ở Ðông Ðức, hoặc “cuộc đảo chính chiếm tòa nhà trắng thất bại” ở Nga; hoặc nghe tin “Ceaucesscu bị xử bắn,” ở Rumanie, nghe tin “đảng đã hết thời” ở Hungary, ở Ba Lan, là hàng triệu đảng viên thở phào nhẹ nhõm, trút được một gánh nặng trong đầu, trong tim họ. Họ không còn phải đóng vai đồng lõa với bọn cường quyền vừa nhơ bẩn vừa bất lực, qua vai trò đảng viên vô vị, vô quyền của mình nữa.

Nhưng ở Việt Nam chúng ta chưa thấy triển vọng một biến cố nào giống như vụ tường Berlin hay cuộc đảo chánh ở Maskva. Chế độ Cộng Sản ở Bắc Kinh và Hà Nội đã rút được kinh nghiệm của các đàn anh bên Âu Châu. Họ sẽ không để cho những biến cố như vậy diễn ra. Cho nên không hy vọng có một cuộc thay đổi lớn lao bất ngờ như ở Ðông Âu và Nga. Trung Cộng cũng không khác gì Việt Nam.

Ông Ngụy Kinh Sinh, trong một lần đến trò chuyện với nhật báo Người Việt, đã nói rằng ông nghĩ đảng Cộng Sản Trung Quốc không thể nào tự thay đổi được. Bởi vì dù một hai lãnh tụ ở trên cùng muốn thay đổi, họ cũng không thể phá vỡ được cả guồng máy cán bộ quan chức chằng chịt từ trung ương đến các tỉnh, các huyện, các xã; tất cả đang sống với các đặc quyền, cao sang hơn người, nhờ được guồng máy đó nuôi dưỡng, bảo vệ. Do đó, Trung Quốc chỉ có thể thay đổi thể chế chính trị khi người dân phẫn uất nổi dậy, mà Ngụy Kinh Sinh tin rằng việc đó sớm muộn phải xảy ra. Ông tin ở dân tộc ông, ông tin người Trung Hoa không ngu mà cũng không hèn!

Tôi đồng ý với cách phân tích guồng máy quyền lực của đảng Cộng Sản của Ngụy Kinh Sinh. Nhưng là một người Việt Nam, tôi không quá bi quan như ông. Ðảng Cộng Sản Việt Nam có nhiều lỗ hổng, chứa nhiều nhược điểm, không cứng mạnh như Cộng Sản Trung Quốc. Tôi tin rằng trong số các đảng viên cộng sản có nhiều người không nằm trong guồng máy chia chác; và họ biết suy nghĩ, dám chống lại cả guồng máy. Họ cũng có khả năng mở đường cho một cuộc thay đổi lớn, bằng hành động của chính họ. Hành động đầu tiên có thể gây chấn động tâm lý là việc công khai, dứt khoát từ bỏ đảng, và hô hào các đảng viên khác từ bỏ đảng như mình!

Chỉ cần bình tâm suy nghĩ một chút thì đảng viên nào cũng thấy cần phải từ bỏ đảng.

Quý vị vào đảng Cộng Sản vì tin ở chủ nghĩa Mác, Lê Nin? Bây giờ còn ai tin tưởng ở các lý thuyết duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của ông Karl Marx nữa hay không? Khoa học ngày nay cống hiến biết bao phương pháp, kỹ thuật, mở ra bao nhiêu con đường cho chúng ta hiểu vũ trụ, hiểu lịch sử và xã hội loài người sống theo những quy luật nào. Tại sao mình phải tự bịt mắt, tự dối lòng mình mà đóng vai trò một anh ngu dốt mãi như vậy?

Còn ai thấy các lý thuyết của Lê Nin có ích lợi cho dân tộc mình, hay chỉ là cái gông xiềng buộc chặt lên đầu, lên cổ cả dân tộc? Chủ thuyết quan trọng nhất của Lê Nin là “Nhà nước và Cách mạng,” là dùng guồng máy nhà nước thực hiện cuộc “cách mạng vô sản”. Bây giờ ai cũng biết cuộc cách mạng đó không có thật. Giai cấp vô sản hiện nay đang bị bóc lột một cách triệt để dưới mối liên kết kiên cố giữa tư bản và nhà nước. Lý thuyết nhà nước làm cách mạng chỉ đưa tới một hậu quả là thiết lập một chế độ chuyên chế khắc nghiệt nhất trong lịch sử! Nhà nước càng ngày càng lớn, càng kiểm soát, kìm kẹp dân kỹ hơn, còn cách mạng chẳng thấy đâu cả! Tai họa của những nước Nga, Ðông Âu là chế độ chuyên chế đã làm cho kinh tế trì trệ rồi sụp đổ và đạo đức suy đồi. Họ đã cố thoát ra được, tại sao mình vẫn còn tin ở chủ nghĩa Lê Nin?

Tai họa của nước ta là do những người đã đem chủ nghĩa Mác Lê Nin vào đặt lên đầu lên cổ cả dân tộc. Từ đó, họ đã đi tới những lựa chọn sai lầm tàn phá đất nước, khi biết thì đã quá trễ. Tai họa thứ nhất là tổ chức kinh tế theo lối Liên Xô, mà hiệu quả ai cũng biết. Tai họa thứ hai là tổ chức chính quyền chuyên chế, lấy bạo lực, công an để bảo vệ quyền hành; nhưng sau khi đã dựng lên rồi thì chính guồng máy chuyên chế đó tự phát triển, tự bảo vệ nó; không thể nào nó tự thay đổi được nữa. Tai họa thứ ba là chủ trương gây thù hận, phương pháp dùng dối trá để củng cố quyền hành. Từ thói quen dối trá đó, cả xã hội suy đồi vì người lương thiện không thể sống được. Lựa chọn theo chủ nghĩa Mác Lê Nin đã tạo ra tất cả các tai họa trên.

Cũng vì theo chủ nghĩa Mác Lê Nin cho nên đảng Cộng Sản đã phạm sai lầm ngoại giao lớn trong việc chọn đồng minh; mà không nghĩ tới mối nguy hiểm trong tương lai. Trong cuộc gặp gỡ tay ba ở Maskva, khi Stalin nói ông ta trao hết cho Mao Trạch Ðông sứ mạng dìu dắt đảng Cộng Sản Việt Nam, thì lời phán đó quyết định số phận nước ta được đặt trong bàn tay Trung Cộng. Từ đó mới sinh ra những chủ trương học tập Mao Chủ Tịch, từ trên xuống dưới nhất nhất theo ý kiến các đồng chí “vĩ đại”. Vì vậy mới giết hàng trăm ngàn người vì cải cách ruộng đất; vì vậy mới sinh ra cái công hàm Phạm Văn Ðồng năm 1958. Từ đó mới ngậm miệng làm ngơ không dám phản đối Trung Cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974.

Những sai lầm lịch sử đó, cứ coi như là tội lỗi của những thế hệ lãnh tụ đời trước. Nhưng có lý do nào các đảng viên cộng sản ngày nay cứ phải nhắm mắt chịu đựng các hậu quả tai hại trên đây mà không dám đòi thay đổi?

Người đảng viên cộng sản biết suy nghĩ phải bắt đầu bằng việc từ bỏ tất cả hệ thống tư tưởng Mác Lê Nin; cũng như nhiều người đang biểu tình phản đối cách lựa chọn đồng minh sai lầm trong quá khứ. Nhưng họ phải chính thức, công khai rút ra khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam! Tại sao còn tiếp tục đứng làm bình phong, chịu đóng vai quân cờ; cho các lãnh tụ tham nhũng và bất lực ngồi trên đầu mình đua nhau cướp đất, cướp cơm của dân nghèo và chia nhau các chức quyền trong hệ thống doanh nghiệp nhà nuớc để bỏ túi hàng triệu đô la rồi chuyển ra nước ngoài?

Nhiều đảng viên cộng sản có lòng nhưng không từ bỏ đảng vì họ hy vọng sẽ giúp đảng thay đổi từ bên trong. Nhưng thử hỏi trong ba chục năm nay họ đã thay đổi được những gì? Từ thời ông Nguyễn Hộ, ông Trần Ðộ, đã bao nhiêu người thiết tha vận động việc thay đổi trong đảng. Nhưng tất cả đều vô ích. Bây giờ có ai có thanh thế, có uy tín hơn các ông đó để làm được giỏi hơn, có hiệu quả hơn họ hay không? Liệu những ông Nguyễn Hộ, ông Trần Ðộ thế hệ mới có cam chịu đóng vai “phản biện” một cách vô ích như vậy thêm 20 năm, 30 năm nữa hay không?

Cho nên các đảng viên cộng sản đã nhìn ra những sai lầm của đảng mình, nếu bình tâm suy nghĩ sẽ thấy chỉ còn một con đường là phải công khai, chính thức tuyên bố không chấp nhận đóng vai đồng lõa với băng đảng cầm quyền nữa. Một số người đông đảo và có danh tiếng tuyên bố từ bỏ đảng, họ có thể kêu gọi các đảng viên có lương tâm cùng dứt khoát rút ra khỏi đảng. Khi số người bỏ đảng đông hơn, gây thành một phong trào, các biện pháp trả thù và đàn áp của guồng máy sẽ mất hiệu lực. Các đảng viên khác sẽ không sợ hãi nữa.

Khi số đảng viên bỏ đảng tăng lên, họ có thể châm ngòi tạo ra biến cố trong đám đông dân chúng ngoài đảng. Người ta sẽ được giải phóng về tâm lý, những dân oan không còn cảm thấy sợ hãi nữa, giới thanh niên, trí thức, các người lãnh đạo tôn giáo, giới lao động sẽ cùng mạnh dạn đứng lên đòi các quyền tự do căn bản của mình. Người dân không chấp nhận nghe nói dối, nghe phỉnh phờ nữa. Một phong trào phản kháng bất bạo động như thế chắc chắn sẽ làm cho guồng máy cường quyền phải chịu thua. Lúc đó những ai còn thiết tha đến việc phục hưng đất nước trong thời “hậu cộng sản” sẽ có cơ hội phục vụ.

Chúng ta đang có cơ hội để thực hiện cuộc đổi đời này. Trên các mạng lưới đã xuất hiện bao nhiêu đảng viên viết lời chống lại đảng. Trong các cuộc biểu tình có các đảng viên cộng sản nổi tiếng tham dự. Một đảng viên ở bước đường cùng như Ðoàn Văn Vươn cũng phải buộc lòng chống cự bằng chất nổ. Lòng dân chán ghét và oán hận đang lên cao. Những phụ nữ như Trịnh Kim Tiến, Huỳnh Thục Vy đã phải đứng dậy lên tiếng. Không thể chờ đợi đến ngày “Mỹ sẽ giúp một tay” hay “Trung Quốc sẽ thay đổi”. Chính người Việt Nam có thể quyết định lấy số mạng của mình
huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »

Người biết suy nghĩ, sẽ từ bỏ đảng Cộng Sản

Ngô Nhân Dụng


Trong số những người đi biểu tình chống Trung Cộng vào Chủ Nhật vừa qua, các bản tin và hình ảnh cho thấy rất nhiều người là viên Cộng Sản, một số vị là những nhân vật nổi tiếng.

Chúng ta rất kính trọng thái độ và hành động đó, vì họ can đảm công khai bày tỏ ý kiến ngược lại với những người cầm đầu đảng. Nhưng chúng ta không khỏi ngạc nhiên tự hỏi, tại sao cho đến giờ phút này quý vị đó vẫn còn là đảng viên?

Trong đảng Cộng Sản Việt Nam hiện có không biết bao nhiêu người đang chán ghét đảng, có người còn căm hờn đảng đã đánh lừa mình suốt một cuộc đời. Nhưng họ không thể dứt khoát từ bỏ đảng. Không ai nghiên cứu để biết được chính xác, nhưng tỷ số đảng viên cộng sản vừa chán vừa thù đảng; nhưng có thể rất nhiều, trên một nửa, hoặc cao hơn. Nhiều người đã phản đối thụ động bằng cách ngưng sinh hoạt. Và chờ đợi. Ở bên Nga, bên Ðông Âu hồi xưa cũng vậy. Người ta chán nhưng chưa quyết định từ bỏ vì không biết tương lai đảng còn ngồi trên đầu mình bao lâu.

Vì tâm lý chán ghét và thờ ơ chờ đợi tràn lan cho nên các đảng Cộng Sản Nga và Ðông Âu tan rã rất nhanh. Chỉ cần nghe một tin “bức tường Berlin sập đổ rồi” ở Ðông Ðức, hoặc “cuộc đảo chính chiếm tòa nhà trắng thất bại” ở Nga; hoặc nghe tin “Ceaucesscu bị xử bắn,” ở Rumanie, nghe tin “đảng đã hết thời” ở Hungary, ở Ba Lan, là hàng triệu đảng viên thở phào nhẹ nhõm, trút được một gánh nặng trong đầu, trong tim họ. Họ không còn phải đóng vai đồng lõa với bọn cường quyền vừa nhơ bẩn vừa bất lực, qua vai trò đảng viên vô vị, vô quyền của mình nữa.

Nhưng ở Việt Nam chúng ta chưa thấy triển vọng một biến cố nào giống như vụ tường Berlin hay cuộc đảo chánh ở Maskva. Chế độ Cộng Sản ở Bắc Kinh và Hà Nội đã rút được kinh nghiệm của các đàn anh bên Âu Châu. Họ sẽ không để cho những biến cố như vậy diễn ra. Cho nên không hy vọng có một cuộc thay đổi lớn lao bất ngờ như ở Ðông Âu và Nga. Trung Cộng cũng không khác gì Việt Nam.

Ông Ngụy Kinh Sinh, trong một lần đến trò chuyện với nhật báo Người Việt, đã nói rằng ông nghĩ đảng Cộng Sản Trung Quốc không thể nào tự thay đổi được. Bởi vì dù một hai lãnh tụ ở trên cùng muốn thay đổi, họ cũng không thể phá vỡ được cả guồng máy cán bộ quan chức chằng chịt từ trung ương đến các tỉnh, các huyện, các xã; tất cả đang sống với các đặc quyền, cao sang hơn người, nhờ được guồng máy đó nuôi dưỡng, bảo vệ. Do đó, Trung Quốc chỉ có thể thay đổi thể chế chính trị khi người dân phẫn uất nổi dậy, mà Ngụy Kinh Sinh tin rằng việc đó sớm muộn phải xảy ra. Ông tin ở dân tộc ông, ông tin người Trung Hoa không ngu mà cũng không hèn!

Tôi đồng ý với cách phân tích guồng máy quyền lực của đảng Cộng Sản của Ngụy Kinh Sinh. Nhưng là một người Việt Nam, tôi không quá bi quan như ông. Ðảng Cộng Sản Việt Nam có nhiều lỗ hổng, chứa nhiều nhược điểm, không cứng mạnh như Cộng Sản Trung Quốc. Tôi tin rằng trong số các đảng viên cộng sản có nhiều người không nằm trong guồng máy chia chác; và họ biết suy nghĩ, dám chống lại cả guồng máy. Họ cũng có khả năng mở đường cho một cuộc thay đổi lớn, bằng hành động của chính họ. Hành động đầu tiên có thể gây chấn động tâm lý là việc công khai, dứt khoát từ bỏ đảng, và hô hào các đảng viên khác từ bỏ đảng như mình!

Chỉ cần bình tâm suy nghĩ một chút thì đảng viên nào cũng thấy cần phải từ bỏ đảng.

Quý vị vào đảng Cộng Sản vì tin ở chủ nghĩa Mác, Lê Nin? Bây giờ còn ai tin tưởng ở các lý thuyết duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của ông Karl Marx nữa hay không? Khoa học ngày nay cống hiến biết bao phương pháp, kỹ thuật, mở ra bao nhiêu con đường cho chúng ta hiểu vũ trụ, hiểu lịch sử và xã hội loài người sống theo những quy luật nào. Tại sao mình phải tự bịt mắt, tự dối lòng mình mà đóng vai trò một anh ngu dốt mãi như vậy?

Còn ai thấy các lý thuyết của Lê Nin có ích lợi cho dân tộc mình, hay chỉ là cái gông xiềng buộc chặt lên đầu, lên cổ cả dân tộc? Chủ thuyết quan trọng nhất của Lê Nin là “Nhà nước và Cách mạng,” là dùng guồng máy nhà nước thực hiện cuộc “cách mạng vô sản”. Bây giờ ai cũng biết cuộc cách mạng đó không có thật. Giai cấp vô sản hiện nay đang bị bóc lột một cách triệt để dưới mối liên kết kiên cố giữa tư bản và nhà nước. Lý thuyết nhà nước làm cách mạng chỉ đưa tới một hậu quả là thiết lập một chế độ chuyên chế khắc nghiệt nhất trong lịch sử! Nhà nước càng ngày càng lớn, càng kiểm soát, kìm kẹp dân kỹ hơn, còn cách mạng chẳng thấy đâu cả! Tai họa của những nước Nga, Ðông Âu là chế độ chuyên chế đã làm cho kinh tế trì trệ rồi sụp đổ và đạo đức suy đồi. Họ đã cố thoát ra được, tại sao mình vẫn còn tin ở chủ nghĩa Lê Nin?

Tai họa của nước ta là do những người đã đem chủ nghĩa Mác Lê Nin vào đặt lên đầu lên cổ cả dân tộc. Từ đó, họ đã đi tới những lựa chọn sai lầm tàn phá đất nước, khi biết thì đã quá trễ. Tai họa thứ nhất là tổ chức kinh tế theo lối Liên Xô, mà hiệu quả ai cũng biết. Tai họa thứ hai là tổ chức chính quyền chuyên chế, lấy bạo lực, công an để bảo vệ quyền hành; nhưng sau khi đã dựng lên rồi thì chính guồng máy chuyên chế đó tự phát triển, tự bảo vệ nó; không thể nào nó tự thay đổi được nữa. Tai họa thứ ba là chủ trương gây thù hận, phương pháp dùng dối trá để củng cố quyền hành. Từ thói quen dối trá đó, cả xã hội suy đồi vì người lương thiện không thể sống được. Lựa chọn theo chủ nghĩa Mác Lê Nin đã tạo ra tất cả các tai họa trên.

Cũng vì theo chủ nghĩa Mác Lê Nin cho nên đảng Cộng Sản đã phạm sai lầm ngoại giao lớn trong việc chọn đồng minh; mà không nghĩ tới mối nguy hiểm trong tương lai. Trong cuộc gặp gỡ tay ba ở Maskva, khi Stalin nói ông ta trao hết cho Mao Trạch Ðông sứ mạng dìu dắt đảng Cộng Sản Việt Nam, thì lời phán đó quyết định số phận nước ta được đặt trong bàn tay Trung Cộng. Từ đó mới sinh ra những chủ trương học tập Mao Chủ Tịch, từ trên xuống dưới nhất nhất theo ý kiến các đồng chí “vĩ đại”. Vì vậy mới giết hàng trăm ngàn người vì cải cách ruộng đất; vì vậy mới sinh ra cái công hàm Phạm Văn Ðồng năm 1958. Từ đó mới ngậm miệng làm ngơ không dám phản đối Trung Cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974.

Những sai lầm lịch sử đó, cứ coi như là tội lỗi của những thế hệ lãnh tụ đời trước. Nhưng có lý do nào các đảng viên cộng sản ngày nay cứ phải nhắm mắt chịu đựng các hậu quả tai hại trên đây mà không dám đòi thay đổi?

Người đảng viên cộng sản biết suy nghĩ phải bắt đầu bằng việc từ bỏ tất cả hệ thống tư tưởng Mác Lê Nin; cũng như nhiều người đang biểu tình phản đối cách lựa chọn đồng minh sai lầm trong quá khứ. Nhưng họ phải chính thức, công khai rút ra khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam! Tại sao còn tiếp tục đứng làm bình phong, chịu đóng vai quân cờ; cho các lãnh tụ tham nhũng và bất lực ngồi trên đầu mình đua nhau cướp đất, cướp cơm của dân nghèo và chia nhau các chức quyền trong hệ thống doanh nghiệp nhà nuớc để bỏ túi hàng triệu đô la rồi chuyển ra nước ngoài?

Nhiều đảng viên cộng sản có lòng nhưng không từ bỏ đảng vì họ hy vọng sẽ giúp đảng thay đổi từ bên trong. Nhưng thử hỏi trong ba chục năm nay họ đã thay đổi được những gì? Từ thời ông Nguyễn Hộ, ông Trần Ðộ, đã bao nhiêu người thiết tha vận động việc thay đổi trong đảng. Nhưng tất cả đều vô ích. Bây giờ có ai có thanh thế, có uy tín hơn các ông đó để làm được giỏi hơn, có hiệu quả hơn họ hay không? Liệu những ông Nguyễn Hộ, ông Trần Ðộ thế hệ mới có cam chịu đóng vai “phản biện” một cách vô ích như vậy thêm 20 năm, 30 năm nữa hay không?

Cho nên các đảng viên cộng sản đã nhìn ra những sai lầm của đảng mình, nếu bình tâm suy nghĩ sẽ thấy chỉ còn một con đường là phải công khai, chính thức tuyên bố không chấp nhận đóng vai đồng lõa với băng đảng cầm quyền nữa. Một số người đông đảo và có danh tiếng tuyên bố từ bỏ đảng, họ có thể kêu gọi các đảng viên có lương tâm cùng dứt khoát rút ra khỏi đảng. Khi số người bỏ đảng đông hơn, gây thành một phong trào, các biện pháp trả thù và đàn áp của guồng máy sẽ mất hiệu lực. Các đảng viên khác sẽ không sợ hãi nữa.

Khi số đảng viên bỏ đảng tăng lên, họ có thể châm ngòi tạo ra biến cố trong đám đông dân chúng ngoài đảng. Người ta sẽ được giải phóng về tâm lý, những dân oan không còn cảm thấy sợ hãi nữa, giới thanh niên, trí thức, các người lãnh đạo tôn giáo, giới lao động sẽ cùng mạnh dạn đứng lên đòi các quyền tự do căn bản của mình. Người dân không chấp nhận nghe nói dối, nghe phỉnh phờ nữa. Một phong trào phản kháng bất bạo động như thế chắc chắn sẽ làm cho guồng máy cường quyền phải chịu thua. Lúc đó những ai còn thiết tha đến việc phục hưng đất nước trong thời “hậu cộng sản” sẽ có cơ hội phục vụ.

Chúng ta đang có cơ hội để thực hiện cuộc đổi đời này. Trên các mạng lưới đã xuất hiện bao nhiêu đảng viên viết lời chống lại đảng. Trong các cuộc biểu tình có các đảng viên cộng sản nổi tiếng tham dự. Một đảng viên ở bước đường cùng như Ðoàn Văn Vươn cũng phải buộc lòng chống cự bằng chất nổ. Lòng dân chán ghét và oán hận đang lên cao. Những phụ nữ như Trịnh Kim Tiến, Huỳnh Thục Vy đã phải đứng dậy lên tiếng. Không thể chờ đợi đến ngày “Mỹ sẽ giúp một tay” hay “Trung Quốc sẽ thay đổi”. Chính người Việt Nam có thể quyết định lấy số mạng của mình
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 12 guests