Bình Luận , Quan Điểm

MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Gian Nan Với Anh Tàu

Tác giả : Trần Khải

Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi bàn tay quậy phá của Trung Quốc, tuy rằng luôn luôn nhường nhịn, hy vọng sẽ có lúc đàn anh mở lòng từ bi.

Thực tế, lẽ ra Trung Quốc phải nhìn VN như là đồng minh xã hội chủ nghĩa, thay vì nhìn nhau như là chư hầu phương Nam, không đẹp tí nào.

Thế cho nên, anh Tàu không ưa khi anh Mỹ bước vào Biển Đông, bất kể rằng TQ vẫn ngang ngược không chỉ với VN, mà ngang cả với Phi Luật Tân. Trong khi Việt Nam lăng ba chi bộ, đánh võng giữa Biển Đông, thì lặng lẽ anh Tàu đưa dân tràn ngập, mở mặt trận biển người ở Hải Phòng, cấy du kích biển ở ven cảng Cam Ranh, cửa biển Vũng Rô, hay vùng Côn Đảo... Anh Tàu muốn gì? Có phải muốn VN tung hô vạn tuế Bắc Vương? Thì đã tung hô rồi.

Thế nên, khi VN có vẻ thân với anh Mỹ thì lại ra vẻ giận.

Bản tin RFI cho biết, Bắc Kinh muốn đẩy Việt Nam khỏi vòng ảnh hưởng của Mỹ.

RFI nhắc rằng, trong hai ngày 03/06 và 04/06/2012 vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã viếng thăm Việt Nam, một chuyến đi mang đầy tính biểu tượng: lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh Việt Nam, một Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đến thăm cảng Cam Ranh, một trong ba căn cứ quân sự mà quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Hành động này thể hiện quyết tâm của Washington tăng cường hơn nữa quan hệ với kẻ thù cũ Hà Nội. RFI viết:

“Về phía Việt Nam cũng đã thể hiện mong muốn cải thiện thêm bang giao với Mỹ, qua việc Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh loan báo quyết định mở rộng các khu vực tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh. Ông Phùng Quang Thanh cũng đã có một cử chỉ khác nhắm đến dư luận Hoa Kỳ, qua việc trao cho đồng nhiệm Leon Panetta những bức thư của một lính Mỹ viết cho gia đình trước khi tử trận ở Việt Nam năm 1969. Đổi lại, ông Panetta trao cho ông Thanh cuốn nhật ký của một binh sĩ Bắc Việt mà quân đội Mỹ lấy được sau khi anh lính này hy sinh.

Trong bầu không khí nồng ấm, thân hữu Mỹ-Việt, các nhà lãnh đạo Hà Nội, cụ thể là bộ trưởng Phùng Quang Thanh và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi tiếp ông Panetta đều kêu gọi Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam, những vũ khí mà Hà Nội đang rất cần để tăng cường tiềm lực quốc phòng trước mối đe dọa Trung Quốc. Thế nhưng, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã nói rõ là việc tăng cường hợp tác quân sự của Mỹ tuỳ thuộc một phần vào những tiến bộ nhân quyền ở Việt Nam. Nói khác hơn, do những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, nên Hoa Kỳ chưa thể bán vũ khí sát thương cho Việt Nam...

...Trung Quốc dĩ nhiên đã theo dõi rất sát những hành động của Hoa Kỳ trong những ngày qua. Tuy Bắc Kinh chưa tỏ thái độ chính thức, nhưng tờ nhật báo bằng Anh ngữ China Daily hôm nay vừa đăng một bài nhận định, trong đó tác giả bài báo đã nói thẳng rằng, điều mà Trung Quốc không muốn nhìn thấy nhất, đó là những nước như Nhật Bản, Philippines và Việt Nam " bắt tay với Hoa Kỳ để chống Trung Quốc".

Như vậy là trên bàn cờ châu Á hiện nay, hai cường quốc Mỹ Trung đang tiến hành một chính sách gọi là "kéo" và "đẩy". Hoa Kỳ thì cố lôi kéo những nước chưa phải là đồng minh như Việt Nam, trong khi Trung Quốc thì cố đẩy những nước như Việt Nam ra khỏi vòng ảnh hưởng của Mỹ...”(hết trích)

Trong khi đó, TQ ngang ngược ở Biển Đông. RFI trong bản tin khác cho biết, “Bắc Kinh tuyên bố không rút khỏi vùng đảo đá ngầm Scarborough.”

Bản tin nói:

“Hải thuyền của chính phủ Trung Quốc tiếp tục «canh chừng» tại vùng đảo đá ngầm Scarborough theo tên gọi của Philippines mà Trung Quốc gọi là Hoàng Nham. Trên đây là nội dung lời tuyên bố của bộ Ngoại giao Trung Quốc sau khi Manila thông báo rút hết tàu tuần tra và tàu đánh cá ra khỏi khu vực tranh chấp để «làm giảm bớt căng thẳng».

Chiến thuật nhượng bộ của Philippines không được Trung Quốc đáp trả. Tuần trước, Manila thông báo rút hết thuyền đánh cá và tầu tuần ra khỏi khu vực bãi đá ngầm Scaborough và phía Trung Quốc đã rút hai tàu hải giám để giảm bớt căng thẳng. Philippines tỏ hy vọng hai bên sẽ tìm ra một giải pháp thương lượng «ôn hòa» tuy rằng vẫn còn 30 tàu cá của Trung Quốc săn bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Nhật báo Daily Inquirer của Philippines hôm nay cho biết thực tế không như Manila mong đợi. Phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân trong bản tuyên bố cuối tuần khẳng định thuyền đánh cá Trung Quốc tiếp tục hoạt động trong vùng biển Hoàng Nham một cách bình thường và không còn bị phá rối...

Ông Lưu Vi Dân còn tuyên bố là không muốn thấy phía Philippines «có hành động khiêu khích xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc» và chính phủ Trung Quốc sẽ «tiếp tục liên lạc với Manila về cách xử lý sự số Hoàng nham hầu cải thiện quan hệ song phương»....”(hết trích)

Trong khi đó, Việt Nam lặng lẽ nhường nhịn anh Tàu. Cụ thể là ém thông tin về TQ gài người vào Cam Ranh nuôi cá.
Báo Người Lao Động viết:

“UBND tỉnh Khánh Hòa sáng 11-6 đã họp với các ban ngành liên quan, giải quyết việc người Trung Quốc nuôi cá trái phép tại cảng Cam Ranh.

Báo chí không được dự cuộc họp này. Theo ông Huỳnh Ngọc Bông, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Khánh Hòa, do tỉnh đang làm văn bản báo cáo lên Văn phòng Chính phủ nên chưa thể cung cấp cho báo chí ý kiến chính thức của tỉnh như đã phát ngôn trước đó.”

Và một chiến lược biển người đang được TQ phát động ở Hải Phòng. Báo Đất Việt kể:

“Hải Phòng tràn ngập lao động Trung Quốc

Phía nhà thầu Trung Quốc tìm mọi cách hạn chế tuyển dụng lao động của Việt Nam, đồng thời đưa lao động phổ thông của họ sang làm các công việc thủ công như đào đất, phụ hồ, mang vác, quét dọn, đổ bê tông - những công việc mà lao động Việt Nam có thể đảm đương.

Dự án Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng (xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên) được triển khai từ tháng 11.2005. Đây là dự án do nhà thầu Trung Quốc và Nhật Bản thực hiện cung ứng, thi công và lắp đặt toàn bộ thiết bị (EPC) với hai hạng mục: nhà máy nhiệt điện 1 và nhà máy nhiệt điện 2. Để hoàn thành dự án đúng tiến độ, số lượng công nhân có mặt trên công trường luôn đảm bảo ở con số 2.000 - 3.000 người.

Xử ép tiền lương lao động trong nước

Trên lý thuyết, dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Hải Phòng sẽ giải quyết được hàng chục ngàn việc làm tại chỗ cho lao động địa phương. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Ông Đỗ Văn Hải, Trường phòng hành chính, Công ty CP Nhiệt điện Hải Phòng cho biết, có thời điểm phía nhà thầu Trung Quốc đưa sang hơn 2.000 lao động phổ thông. Hiện số công nhân Trung Quốc đang lao động tại công trường nhà máy số 2 gần 1.300 người...”(hết trích)

Không dễ giải quyết trước cuộc chiến đa diện như thế, từ biển tới rừng, từ hàng lậu tới người lậu... Chỉ tới thời này mới sáng mắt ra trước tình hữu nghị 2 nước đời đời khả vấn như thế.

Ai bảo anh Tàu có văn hóa? May ra chỉ với Đài Loan, là Bắc Kinh nhân nhượng.

Anh Tàu không hề như Hà Nội, luôn luôn giở trò kích động 3 dòng thác cách mạng để xúi Hà Nội đánh phá, triệt hạ Sài Gòn...Nhưng Bắc Kinh luôn luôn nhìn Đài Bắc như tình anh xem cốt nhục, không chơi trò tự đẩy dân mình Sinh Bắc Tử Nam làm chi.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Cái đứng đằng sau pháp luật

Vương Trí Nhàn
(Nguồn: vuongtrinhan.blogspot.de)
... Ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hóa để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó...

Luật pháp thường được định nghĩa trong các từ điển như là những quy định mọi người nhất thiết phải tôn trọng trong khi đạo lý suy cho cùng chỉ có nghĩa là những ước lệ hợp với lương tâm cho con người lại được xã hội thừa nhận và khuyến khích nên theo, ai theo được có nghĩa đấy là người tốt.

Một hành động bị coi là phạm pháp, khi nó xâm phạm đến quyền lợi hoặc của cả cộng đồng hoặc của các thành viên trong cộng đồng, do đó, phải bị trừng phạt. Còn một hành vi bị coi là thiếu đạo đức tức là đã bị cộng đồng lên án. Có thể bảo sự lên án này chỉ dừng lại ở phạm vi một dư luận, song đối với người có lương tâm trong sáng, đã là một cái gì rất nặng nề. Lẽ tự nhiên là trong việc phân biệt một hành vi đạo đức và một hành vi phi đạo đức, một cộng đồng đã tự nói về mình rất nhiều. Sau hết, cũng nên ghi nhận rằng mặc dù những tiêu chuẩn đạo đức thường có tính nhân bản, nghĩa là chung cho mọi dân tộc, nhưng đi vào cụ thể ở mỗi dân tộc nó lại mang những sắc thái riêng. Ðến đây, bắt đầu thấy xuất hiện vai trò của văn hóa, nó là lối sống, lối nghĩ, các quan hệ giữa con người với thiên nhiên và con người với con người, tất cả đã trở thành nề nếp ở từng dân tộc và làm nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác.

... Thỉnh thoảng, tôi cứ phải giở sách ra để ôn lại những ý tưởng trên, nhất là gần đây, đọc báo chí, nghe đài, được biết thêm nhiều hành động mà chúng ta quen gọi là hiện tượng tiêu cực. Nhiều người nông dân hám lợi, mang bán thứ rau quả phun thuốc trừ sâu, ăn vào gây ra độc hại. Các lò mổ bò mổ lợn thường là kém cỏi về mặt vệ sinh nghĩa là ủ sẵn bệnh tật hại người. Nhà máy, bệnh viện hàng ngày tống ra đủ thứ chất thải làm ô nhiễm môi trường. Rồi hàng hóa thì làm ẩu, cốt bán rẻ để cạnh tranh giá kể người mua mang về có không dùng được, thì cũng không quản ngại. Cho đến gần đây lại xảy ra những vụ tham nhũng ghê gớm, tham nhũng đến mức người ta tin rằng các đương sự phải mất hết lương tâm thì mới bảo nhau vét sạch tiền của nhà nước đến như vậy! Có biết bao hành động ngang tai trái mắt đang xảy ra chung quanh, và có cơ ngày một phát triển. Mà lấy luật pháp để trị nhau thì không phải dễ. Tội lỗi ở đây như cái cây, gieo mầm hôm nay, hôm sau mới “kết quả”, lúc bấy giờ người có lỗi đã cao chạy xa bay, ai làm gì nổi! Vả chăng, trong tình trạng xã hội hỗn hào, mọi người chen chúc nhau để sống, muốn lần ra đầu mối của cái ác sẽ gặp muôn vàn rắc rối, dễ gì bắt tận tay day tận trán để luận tội? Nhưng ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hóa để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó.

Chắc chắn là không có gì khiên cưỡng khi gắn một số hiện tượng tiêu cực nói trên và các hành động tương tự với lối làm ăn (kèm theo là lối sống nếp nghĩ) có tự ngày xưa, khi người ta sống theo kiểu khôn vặt (ăn cỗ đi trước lội nước đi sau) và vô trách nhiệm (sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi) chỉ biết đến quyền lợi của gia đình mình (đèn nhà ai nhà nấy rạng), chỉ biết đến cái làng của mình là cùng (trống làng nào thì làng ấy đánh, thánh làng nào thì làng ấy thờ), ngoài ra, bỏ qua mọi chuyện, bởi “có chết thì cả làng cùng chết”. Tóm lại, đồng thời với việc truy cứu về mặt pháp luật, cần xem xét ngay cội rễ của các hiện tượng nói trên về mặt đạo đức-văn hóa, để bắt mạch cho trúng. Ðến lượt nó, mỗi tội lỗi, và phản ứng trước tội lỗi - kể cả những tội lỗi nhỏ, hoặc quá tinh tế, pháp luật không kết luận nổi - lại cũng nói lên một điều gì đó về tình trạng tâm lý xã hội nói chung. Nếu như ở đây có sự dửng dưng, tức thờ ơ, mặc kệ kẻ có tội và không sao hình thành nổi dư luận cũng như không cắt nghĩa được nguyên nhân sâu xa dẫn đến tội lỗi, thì đó chính là một bằng chứng cho thấy sức khỏe tinh thần nói chung của xã hội đang có vấn đề, và sự chữa chạy cho mỗi cá nhân không thể kết quả, nếu không có sự chữa chạy cho cả cộng đồng nói chung.

Ðang nghĩ vân vi như vậy thì gần đây, qua báo Nông Thôn Ngày Nay, số ra 12.6.99, tôi lại được biết thêm về một hiện tượng phải nói là kỳ cục giữa công ty X và công ty Y có sự tranh chấp. Ðể trả thù, bên Y liên tiếp gửi tới bên X những chiếc quan tài và các vòng hoa tang, trong đó đề rõ tên tuổi kẻ thù của mình. Như một phóng viên Nông Thôn Ngày Nay nhận xét, đây quả là kiểu khủng bố chưa từng có ở Việt Nam. Sự việc “độc đáo” đến mức các nhà chức trách đang phải theo dõi để tìm cách luận tội cho chính xác. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, nhiều bạn dọc của chúng ta, khi nghe chuyện, hẳn không khỏi nhớ tới những cách trả thù vốn có từ xưa, và còn lưu truyền lại qua lời đồn đại của dân gian; căm giận ai thì đi dò hỏi mồ mả ông cha người ta rồi đào lên để hạ nhục. Hoặc làm hình nhân thế mạng, viết tên kẻ thù của mình lên đóm rồi lấy kim châm vào chỗ hiểm và thuê thầy địa lý về yểm vào đất độc. Hoặc như trong truyện Tấm Cám, cái đầu của Cám sau khi chết được Tấm mang ra làm mắm để gửi về cho người mà Tấm vẫn gọi là mẹ ghẻ (cũng tức là mẹ đẻ của Cám). Thì ra, cái hành động kia không hẳn đã đơn độc như chúng ta tưởng tượng. Trong khi lên án nó và đồng tình với mọi sự trừng trị đích đáng, đồng thời phải thấy nó thuộc về một cái gì di truyền trong tâm lý xã hội, do đó, có khi hoạt động ngoài ý muốn từng con người cụ thể. Nói cách khác, trong cái hành động kỳ cục kia thấy có cả những căn nguyên văn hóa sâu xa (văn hóa ở đây không chỉ bao gồm tinh hoa mà như các nhà nghiên cứu khoa học xác định, còn bao gồm cả những cặn bã cần vứt bỏ). Và như vậy là trên đường suy nghĩ về hiện tượng tiêu cực, chúng ta có thể phần nào yên tâm vì đã lần đến đầu mối cuối cùng, còn như việc lo chữa chạy thì sao, đấy lại là chuyện khác.

Chắc chắn, mỗi khi đứng trước một hiện tượng tiêu cực, lại còn lo lần ra căn nguyên đạo lý văn hóa của nó, công việc phải làm sẽ trở nên vô cùng bề bộn. Chẳng phải là lâu nay nhiều người chúng ta có thói quen suy nghĩ một cách đơn giản “truyền thống căn bản là tốt”, “đạo lý nhìn chung là lành mạnh”, để xuê xoa mọi chuyện. Nhưng chính bởi thế, nay lại chính là lúc xã hội phải lo nhận thức cho thấu đáo hơn. Bề bộn mấy thì bề bộn, để giải quyết đến cùng mọi chuyện tiêu cực, không thể có cách nào khác. Bởi các vấn đề đạo lý văn hóa không chỉ liên quan đến pháp luật mà còn liên quan đến mọi mắt xích khác trong guồng máy xã hội. Nói như một viện sĩ người Nga, ông D. Likhachev: Không có văn hóa, xã hội không thể trở thành xã hội có đạo lý.

Và nếu không có cả văn hóa lẫn đạo lý, thì mọi cải cách trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học đều trở nên vô nghĩa, tức không thể thực hiện.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Tâm thư của Tiến Sĩ Sử Học Hãn Nguyên Nguyễn Nhã gửi các bạn trẻ Việt Nam
Hoàng Sa ơi, Việt Nam ơi,
Hoàng Sa mãi mãi của người Việt ta
Ðừng ai vô cảm Hoàng Sa
Ðể mà mang tội ông cha muôn đời

Cũng đừng làm nước suy đồi,
Lịch sử phán xét ôi thôi còn gì!
Mỗi người kế hoạch khả thi
Sao cho nội lực ai bì kịp ta!

Xâm lăng, tàm thực tránh xa
Ðừng hòng làm nhục nước nhà Việt Nam,
Biển Ðông bắt nạt ngư dân!
Ðừng hòng xử ép, nào thân nỗi gì!



Tháng 8 năm 2011, tôi cùng nhà cựu ngoại giao Dương Danh Dy nói chuyện về Hoàng Sa & Trường Sa tại Trường Ðại Học Ngoại Thương ở Hà Nội. Một nữ sinh viên đã phát biểu một câu nói bất hủ: “Bất cứ ai vô cảm với Hoàng Sa & Trường Sa đều có tội với Tổ tông và dân tộc,” sau khi nghe tôi nói: “Bất cứ ai làm cho đất nước suy hèn đều có tội với Tổ tông và dân tộc!

Tôi cũng đã từng nói: “Sự thật lịch sử chỉ có một. Lịch sử rất công bằng và nghiêm khắc với bất cứ ai kể cả nhà sử học!”

Gần đây xảy ra câu chuyện giữa một du học sinh Việt Nam với các du học sinh Trung Quốc, du học sinh Việt Nam trên đã tỏ ra rất lúng túng khi trao đổi về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Ðông!

Từ hồi tôi còn trẻ, hơn 30 tuổi cho đến nay đã bảy mươi tư tuổi, tôi vẫn đeo đuổi đi tìm sự thật về chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa.

Ngày 20 tháng 1 năm 1975, nhân kỷ niệm một năm ngày Trung Quốc dùng võ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa, tôi cùng Võ sư Trần Huy Phong và GS Ngô Gia Hy tổ chức triển lãm trưng bày tư liệu lịch sử minh chứng chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa ở Thư viện Quốc Gia tại Sài Gòn. Với tính cách trưởng ban tổ chức, tôi phát biểu, đã xúc động không cầm được nước mắt và như Báo Sóng Thần hồi ấy đưa tin mọi người ôm nhau khóc ròng!

Trong cuộc hội thảo quốc tế về Biển Ðông lần thứ ba tại Hà Nội cuối năm 2011 vừa qua, một học giả Trung Quốc đã phát biểu rằng trong các thế kỷ vừa qua Trung Quốc đã bị các nước phương Tây xử ép và làm nhục; thời nay đã khác và kêu gọi các nước Á Ðông đoàn kết với Trung Quốc! Tức thì tôi đã phát biểu rằng vậy thì Trung Quốc có chia sẻ với Việt Nam đang bị xử ép và làm nhục không? Cũng trong hội thảo quốc tế trên, để phản bác một học giả khác của Trung Quôc phát biểu rằng sự kiện Trung Quốc đăng ký với Ủy ban Ðăng ký Thềm lục địa LHQ “Ðường lưỡi bò” ở Biển Ðông chỉ là sự kế thừa lịch sử.

Tôi đã hỏi rằng vậy quí học giả đã kế thừa, tiếp cận được hay không sự kiện lịch sử năm 1909, chính quyền Quảng Ðông cho là Paracels tức Hoàng Sa là đất vô chủ (res-nullius), đã tổ chức chiếm hữu theo phương cách phương Tây như đem tàu chiến đến bắn 21 phát súng, cắm cột mốc chủ quyền... và đã tiếp cận được hay không biết bao tài liệu của phương Tây bằng nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha,... Paracel đã thuộc về từ lâu chủ quyền của xứ An Nam hay Cochin China - Xứ Ðàng Trong của Ðại Việt hay chưa? Và có biết đến luận án tiến sĩ sử học của tôi về “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa” hay không? Và để lấp đầy sự khác biệt về lịch sử, tôi đề nghị nên có một hội thảo quốc tế về chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa.

Ngày 16 tháng 6 năm 2012, từ Việt Nam ,mặc dù tuổi đã cao, tôi vẫn cố lặn lội đến Boston, chỉ cốt nói với các du học sinh tại trường Ðại Học Harvard, một đại học uy tín chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới về sự thật lịch sử chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa với ước mong các bạn du học sinh ở trường Harvard giúp tôi hoàn chỉnh bản tiếng Anh hơn 500 trang hồ sơ tư liệu về chủ quyền củaViệt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa, cùng giúp tôi đưa đến các thư viện có trong danh sách mà năm 1960, Headquarters, U.S. Pacific Broadcasting and Visual Activity AP0331 đã gửi tài liệu “Analysis on The Spratley-Paracel Islands Dispute,” no 010660.

Trong hơn 500 trang tư liệu kể trên,tôi chỉ mong các bạn lưu ý, tập trung thảo luận và quảng bá 3 thông tin chi tiết cụ thể sau đây:

Một là Ðại Việt sử ký tục biên (1676-1789) do các sử thần thời Lê-Trịnh biên soạn theo lệnh của Trịnh Sâm năm 1775, đã nói rõ về hoạt động của đội dân binh Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải và có đoạn viết: “Ðặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào đội ấy, cắt lượt nhau đi thuyền đến đảo mò tìm sản vật. Mỗi năm cứ Tháng Ba ra đi, mang lương ăn sáu tháng, đi thuyền ra biển ba ngày ba đêm mới đến đảo...,” “Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được... (quyển 2, từ tờ 82b-85a).

Hai là Ðại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 52 (đời vua Gia Long) một lần nữa lại ghi rõ ràng: “Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816), vua Gia Long ra lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình...” Trong khi những tài liệu của những người phương Tây từng hoạt động trong Triều Gia Long như Chaigneau, Taberd đã công bố những hành động của vua Gia Long cụ thể hơn. Chaigneau, đã viết trong hồi ký “Le mémoire sur la Cochinchine” “Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy” hay Giám Mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816 mà ngài (vua Gia Long) đã long trọng cắm tại đó lá cờ của xứ Ðàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam.” Ðặc biệt năm 1838, Giám Mục Taberd đã vẽ bản đồ có tọa độ An Nam Ðại Quốc Họa Ðồ đính kèm trong cuốn tự điển Latin-An Nam ghi rõ Paracel seu Cát Vàng; seu tiếng Latin có nghĩa hay là.

Ba là phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836 ) trong tập châu bản Minh Mạng 55 trang 336, ghi lời châu phê của vua Minh Mạng: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ: “Năm Bính Thân (Minh Mạng thứ 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu.” Vua cũng phê rằng, “thuyền đi đâu, phải cắm cột mốc đến đó để lưu dấu. Phúc tấu cũng còn ghi chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật được phái từ Thuận An vào Quảng Ngãi để đi công tác Hoàng Sa.

Trong khi chính sử, Ðại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 (đời vua Minh Mạng), viết rất rõ quan điểm của Bộ Công và hoạt động của Bộ này tại Hoàng Sa: “Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Ðạo Quang thứ 16 đời nhà Thanh) Bộ Công tâu: ‘Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ riêng về hình thế xa rộng, ta mới chỉ vẽ được một, rồi lại cũng chưa biết vẽ nên làm thế nào. Hàng năm, thường phái người đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần Tháng Giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức thì cứ chiếu chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, và nước biển, bãi biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở bình dị thế nào, phải xem xét đo đạc rõ ràng, vẽ thành bản đồ...’’” Ðại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 còn chép: “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật điều binh thuyền đi đem theo 10 cái bài gỗ dựng bàn dấu mốc, chủ quyền.” Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ Hán: “Minh Mạng thập thất niên (1836), Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa đương độ chí thủ lưu chí đẳng tự.”

Với kiến thức về pháp lý quốc tế từ đầu thế kỷ đến nay cùng những thông tin lịch sử cụ thể trên thì chắc chắn các bạn không thể lúng túng khi tranh luận với các bạn trẻ Trung Quốc về Hoàng Sa & Trường Sa. Dù thế nào đi chăng nữa, dù lý của kẻ mạnh như thế nào chăng nữa thì lịch sử dân tộc ta không cho phép chúng ta hèn yếu. Như tôi đã từng nói: “Muốn lấy lại Hoàng Sa, giữ những gì còn lại của Trường Sa thì mỗi người Việt Nam phải có một kế hoạch nhỏ xây dựng nội lực đất nước hùng cường.”

Ðầu thế kỷ 20, cụ Phan Bội Châu đã khởi xướng phong trào Ðông Du hầu canh tân đất nước hùng cường để cứu nước. Nay chúng ta đang có phong trào thế giới du. Không có cách nào khác, trước những nguy cơ chưa từng có tại Biển Ðông, các bạn trẻ Việt Nam không phân biệt chính kiến, hãy cùng nhau dẹp bỏ những gì “xấu xí” của người Việt như quá ham những tư lợi hại nước hại dân, thiếu đoàn kết, đố kỵ khích bác lẫn nhau... mà phải có lòng yêu nước chân chính có tâm, có tầm như người Nhật Bản để cùng nhau xây dựng nội lực đất nước hùng cường. Mong vậy thay!

Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Tiến sĩ Sử học
Email: hannguyen1940@yahoo.com
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Ði Trung Quốc: Cẩn tắc vô áy náy!

Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)

Một phái đoàn quân sự cao cấp của Úc, do Bộ Trưởng Quốc Phòng Stephen Smith dẫn đầu, đi thăm Trung Quốc vào ngày Thứ Tư 6 tháng 6, 2012. Theo thông báo báo chí ngày 3 tháng 6, đây là chuyến viếng thăm Trung Quốc đầu tiên của Stephen Smith với tư cách bộ trưởng Quốc phòng (vị tiền nhiệm của ông Smith đi thăm Trung Quốc lần cuối cùng là vào năm 2007).

Một trong những địa điểm chính của cuộc thăm viếng là hạm đội Nam Hải ở tỉnh Trạm Giang, trung tâm chỉ huy cuộc tranh chấp trên mặt biển của Trung Quốc với các nước láng giềng, đặc biệt, với Việt Nam và Philippines và cũng là nơi chịu trách nhiệm chính trong tham vọng quân bình cán cân lực lượng hải quân với Mỹ của Trung Quốc. Mục tiêu chính của cuộc viếng thăm là để thảo luận với giới lãnh đạo Trung Quốc về an ninh trong khu vực và về mối quan hệ song phương giữa hai nước.

Xin lưu ý là quan hệ giữa Úc và Trung Quốc kể từ sau cuộc chiến tranh lạnh càng ngày càng được thắt chặt. Hiện nay, có trên 120,000 sinh viên Trung Quốc đang du học tại Úc (chỉ đứng sau Mỹ). Mỗi năm có khoảng nửa triệu người Trung Quốc đi du lịch ở Úc, mang lại cho Úc khoảng tiền trên 4.6 tỉ đô la. Kim ngạch thương mại giữa hai nước là trên 100 tỉ đô la mỗi năm. Số tiền đầu tư của Trung Quốc vào Úc trong vòng sáu năm, từ 2005 đến 2011, là trên 38 tỉ Mỹ kim (cùng thời gian ấy, Trung Quốc đầu tư vào Mỹ chỉ có 30.5 tỉ và vào Brazil 18.3 tỉ).

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Úc. Có thể nói trong những năm vừa qua, lý do chính khiến Úc trở thành nước duy nhất trong các quốc gia phát triển thoát khỏi cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu là nhờ nguồn hàng dồi dào được bán sang Trung Quốc, chủ yếu là quặng và khoáng sản.

Quan hệ về kinh tế dẫn đến quan hệ về chính trị. Chuyến công du của bộ trưởng Quốc phòng Úc nhằm thắt chặt mối quan hệ về chính trị đó. Nó nhằm tăng cường sự hiểu biết, sự thông cảm đồng thời sự tin cậy giữa hai nước. Không biết những mục tiêu to tát ấy có thực hiện được hay không. Chỉ biết, báo chí Úc, trong mấy ngày vừa qua, không chú ý gì mấy đến những lời phát biểu của các nhà lãnh đạo hai bên. Họ chỉ tập trung vào một sự kiện duy nhất:

Trước khi bay sang Trung Quốc, phái đoàn Úc ghé Hồng Kông, và trước khi rời Hồng Kông, ông Stephen Smith ra lệnh cho mọi người, kể cả các cố vấn về truyền thông, phải để lại toàn bộ thiết bị điện tử, từ điện thoại di động đến laptop, ở Hồng Kông. Mỗi người được phát cho một máy điện thoại di động mới với số mới để sử dụng trong thời gian ở Trung Quốc.

Lý do?

Người ta sợ gián điệp mạng của Trung Quốc ăn cắp mật khẩu lén vào các thiết bị ấy để lấy trộm thông tin.

Khi được các phóng viên gạn hỏi, ông Smith cho điều đó chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả. Nhiệm vụ của các viên chức cao cấp của chính phủ là phải bảo mật. Ðối với những vấn đề liên quan đến quốc phòng lại càng cần phải bảo mật. Hơn nữa, ông cũng dặn dò: Không phải chỉ có các nhân viên chính phủ mà cả dân chúng và những người làm việc trong các công ty tư nhân cũng cần cẩn thận.

Tuy nhiên, khi phóng viên hỏi thêm: Ông và chính phủ Úc có áp dụng biện pháp bảo mật kỹ lưỡng như vậy khi đến các nước khác, ngoài Trung Quốc, không thì ông từ chối trả lời.

Thì từ chối trả lời cũng là một cách trả lời.

Cách trả lời ấy được Google xác nhận một ngày trước đó khi họ cảnh cáo những người sử dụng Gmail cần cẩn thận vì email của họ có thể là mục tiêu tấn công của các tin tặc được nhà nước bảo trợ. Họ không nói rõ. Nhưng hầu như ai cũng biết “các tin tặc được nhà nước bảo trợ” ấy không ai khác hơn là Trung Quốc.
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Ðá bóng thối nát

Ngô Nhân Dụng

Trên thế giới nhiều người đang đánh cá xem đội banh nào sẽ thắng giải bóng tròn Âu Châu năm nay. Những nước được nêu tên nhiều nhất là Ðức, Nga, Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha. Người Việt và người Trung Hoa thường tham gia cá độ hăng hái nhất.

Nhân mấy hôm nay ai cũng chăm chú theo dõi các trận đá bóng ở Châu Âu mà quên coi những tin tức khác, tòa án ở Trung Quốc đã đem hai cán bộ cao cấp lãnh đạo ngành bóng đá Trung Quốc ra xử tù. Bản án được công bố tại các thành phố trong tỉnh Liêu Ninh phía Ðông Bắc, chứ không xử tại Bắc Kinh, cho nên dân mải coi đá bóng, không mấy ai quan tâm. Vì đây là một mối “quốc sỉ,” nhục nhã cho cả nước, theo báo chí bên Trung Quốc!

Hai người mới bị án từng lãnh đạo ngành đá bóng Trung Quốc là Nam Dong (Nan Yong) và Tạ Á Long (Xie Yalong), và một thủ quân của đội tuyển quốc gia, mỗi người lãnh mười năm tù rưỡi hôm Thứ Năm vừa qua. Nam Dong nối nghiệp Tạ Á Long làm chủ tịch “Trung Quốc Túc Cầu hiệp hội siêu cấp liên trại” là liên hội đá bóng hạng nhất của Trung Quốc, cả hai bị tố cáo đã ăn hối lộ. Riêng đồng chí Nam Dong còn bị phạt một triệu 500 ngàn đồng nguyên, tương đương với 235,000 đô la Mỹ. Tạ Á Long thì bị tịch thu tài sản; tất cả các món tiền hối lộ đã nuốt rồi cũng phải nhả ra, tổng cộng trị giá 900,000 đồng nguyên. Nhưng khi ra tòa ông họ Tạ phản cung; nói những bản thú tội ông đã ký trước đây là do ông bị ép buộc phải ký, sau khi bị tra tấn! Không biết có ai tra tấn không mà năm ngoái ông Tạ Á Long lên đài truyền hình trung ương khai ra rằng năm 2006 ông đã được hối lộ 200,000 đồng nguyên để “bố trí” cho đội tuyển Sơn Ðông thắng giải vô địch “Trung Siêu.” Hồi cuối năm ngoái, một giáo sư luật hình sự ở Ðại Học An Ninh đã tiên đoán hai ông Nam và Tạ chắc sẽ bị kết án tử hình để làm gương; nay chỉ bị tù là quá nhẹ!

Nhưng không phải chỉ có hai người trên phạm tội ăn hối lộ; mà tội của họ cũng không phải chỉ là tội tham nhũng không thôi.

Cuối năm 2011, một loạt các quan chức và trọng tài, cầu thủ nổi tiếng, tổng cộng 60 người đã bị đưa ra tòa. Các vụ xử đều diễn ra ở các thành phố nhỏ nằm ở phía Ðông Bắc nước Tàu. Một người nổi bật là Dương Ích Dân (Yang Yimin), ông thú tội kể từ khi làm quan chức đá bóng, năm 1995, ông đã nhận được “quà biếu” trị giá lên tới 12 triệu đồng nguyên (gần 2 triệu đô la Mỹ)! Một trọng tài nổi tiếng là Lộc Quân (Lu Jun), đã từng được mô tả là “cây còi vàng,” cho biết đã có lần được hối lộ 800,000 Mỹ kim để cho một đội thắng trong trận tranh giải quốc tế. Những vụ xử tham nhũng trong nghề đá bóng kể trên đều không cho công chúng và nhà báo tham dự, người ta chỉ biết tin qua thông tấn xã của đảng Cộng sản!

Nhưng dân hâm mộ bóng tròn trong cả nước Trung Hoa kết tội cả bè lũ cán bộ lãnh đạo “túc cầu” là đã phá hoại tất cả ngành thể thao phổ thông nhất này; chưa kể là phá hoại cả tinh thần, đạo đức trong giới thanh niên muốn bước vào các ngành thể dục thể thao!

Giới hâm mộ túc cầu đồn đãi với nhau rằng ông Tập Cận Bình, chủ tịch tương lai của đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã tỏ ý muốn trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông các cầu thủ Trung Quốc phải mang về một cái giải túc cầu quốc tế, dù nhỏ hay lớn. Nhưng đó là một tham vọng quá lớn. Những dự án như đóng hàng không mẫu hạm, phóng vệ tinh nhân tạo, đưa người lên mặt trăng, vân vân, có vẻ dễ thực hiện đúng ngày đúng tháng. Còn thắng giải túc cầu quốc tế? Hơi khó đấy!

Hội Túc Cầu Trung Quốc đã thành lập từ năm 1924, thời Quốc Dân Ðảng cai trị nước Tàu. Năm 1931 hội này được gia nhập tổng hội đá banh thế giới FIFA. Nhưng gần đây, đội đá banh Trung Quốc chỉ được vào đấu Giải Thế Giới (World Cup) một lần, năm 2002. Và trong năm đó họ bị loại ngay vòng đầu, đấu ba trận thua cả ba! Một kỷ lục khác của họ là trong ba trận đấu đó các cầu thủ Trung Quốc không thèm đá một bàn nào khuôn thành đối thủ cả!

Có phải người Trung Quốc thể lực yếu ớt? Hay là dân chúng không thích thể thao? Không phải. Các lực sĩ của họ chiếm nhiều huy chương nhất trong Thế Vận Hội 2008 ở Bắc Kinh! Khán giả các đài ti vi đều theo dõi những trận đá banh không kể đêm ngày, không khác gì dân Mỹ coi bóng bầu dục hay bóng chày. Vậy tại sao ngành bóng đá ở Trung Quốc thảm hại như vậy?

Lý do chính là các tổ chức đá bóng toàn quốc ở Trung Quốc đầy tham nhũng, nói chung là cái gì cũng mua được, có tiền là đổi trắng thay đen, một vài bàn bóng đá thắng hay bại cũng đâu có gì là khó! Mà nạn tham nhũng sinh sôi nẩy nở là vì các quan chức trông coi ngành đá bóng đều phải do Ðảng chỉ định. Ðảng chọn người chỉ huy không cần biết đến khả năng hay đạo đức mà chỉ chú trọng đến lòng trung thành đối với cấp trên. Trong việc hành chánh, kinh tế vẫn như vậy, có lý do nào bảo ngành đá bóng không theo quy tắc đó?

Các quan chức lãnh đạo các đội banh và các trọng tài không chịu trách nhiệm với các đội banh (trên nguyên tắc các đội banh đều nằm trong tay chính quyền các cấp hay các địa phương tỉnh, thành phố, vân vân). Các cán bộ này cũng không lo báo chí soi mói tìm hiểu, không lo bị dân ghiền đá banh chỉ trích hay phản đối. Họ chỉ cần được Ðảng tín nhiệm! Vì thế, cái gì cũng có thể bán được nếu có người muốn mua! Tất cả các cầu thủ, trọng tài, cho đến chủ nhân các đội banh đều có thể đi mua hoặc bị người khác mua chuộc. Ai mua? Nhiều nhất là những người đánh cá độ.

Tất nhiên các cầu thủ cũng được mua, giám đốc các đội banh không những bán độ mà còn bán cả cái chân cầu thủ! Một cầu thủ muốn được đưa vào hàng ngũ “đội quốc gia” cũng phải hối lộ cho các quan, khoảng 110,000 đồng nguyên (tương đương 15,500 đô la) mỗi người. Có cầu thủ được hối lộ đã “vô tình” đá banh vào ngay lưới của đội mình! Cùng trong nền văn hóa tham nhũng đó, chủ nhân đội cầu của Thành Ðô đã đút tiền cho chủ nhân một đội khác để họ chịu đá lấy thua! Nhưng nhờ thế mà đội Thành Ðô được xếp vào hàng ngũ Trung Siêu Liên Trại để tiền đánh cá lên cao hơn!

Ðá banh chỉ thể hiện nền văn hóa tham nhũng tràn ngập trong xã hội. Dân Trung Quốc đã quen nghe tin các món đồ chơi cho trẻ em chứa nhiều chì quá làm hại sức khỏe, cho tới chuyện hãng sản xuất sữa Tam Lộc chứa chất độc làm chế mấy em bé. Dân chỉ còn biết riễu cợt: “Sữa Tam Lộc, độc quyền cung cấp cho Ðội tuyển Bóng đá Trung Quốc!” Cả hệ thống tham nhũng đó được đảng Cộng sản bảo vệ, che đậy, có gì thì đem “xử lý nội bộ” còn công chúng không ai được ngó tới!

Từ khi có phong trào bài trừ tham nhũng trong ngành đá bóng, đã có những đội đặt ra các quy tắc mới, thí dụ chỉ cho các cầu thủ biết mình có được dự vào trận đấu hay không trong một buổi trước trận đấu. Các cầu thủ cũng được lệnh khi đã được dự đấu thì không được dùng điện thoại di động nữa!

Cuối cùng, nguồn gốc gây ra tham nhũng, trong bóng đá cũng như trong toàn thể xã hội Trung Quốc là do một chế độ độc tài, tập trung quyền hành, không chấp nhận minh bạch, công khai. Những người nắm quyền đều có một băng đảng độc quyền lãnh đạo chỉ định; không ai chịu trách nhiệm trước công chúng. Trong xã hội không ai được bàn chuyện các quan chức làm ăn, ai hé miệng sẽ bị trừng trị!

Nghề trọng tài hái ra tiền, vì công “xếp đặt ai thua ai thắng.” Một trọng tài ra tòa vì tội ăn tiền đã thú nhận rằng chỉ có một lần ông từ chối không nhận tiền để làm cho một đội thắng trận đá. Lý do vì trước đó quan trên trong Hội Túc Cầu đã bảo ông hãy thiên vị cho đội bên kia thắng! Một trọng tài Trương Kiến Cường (Zhang Jianqiang) khai đã kiếm được 2.6 triệu nguyên (hơn 400 ngàn Mỹ kim) để xếp đặt kết quả các trận đấu. Ông kể có lần đội Thượng Hải đem biếu ông 700 ngàn nguyên, ông chia một nửa với ông Lộc Quân. Lộc Quân, người Trung Quốc đầu tiên được làm trọng tài World Cup, kể rằng ông được hối lộ tới 800,000 đô la cho một trận quốc tế. Một quan chức túc cầu, ông Dương Ích Dân (Yang Yimin) thú nhận đã được biếu quà cáp và tiền mặt trị giá 12 triệu nguyên (1.89 triệu Mỹ kim) kể từ khi ông gia nhập hàng ngũ lãnh đạo túc cầu từ năm 1995!

Có cách nào để ngành đá banh Trung Quốc thoát khỏi nạn tham nhũng, hối lộ hay không? Lần đầu tiên họ bị điều tra là năm 2007, vì cảnh sát Singapore yêu cầu công an Trung Quốc, sau khi khám phá có “bán độ” trong một trận cầu ở Singapore! Ðến lượt báo chí bên Anh loan tin các trận đấu “giao hữu” giữa đội banh Thẩm Quyến với Manchester United năm 2007 (Thẩm Quyến thua 6-0) và trận Thượng Hải với Sydney (Thượng Hải thắng) năm 2003, cả hai đều bị bán độ.

Với tình trạng tham nhũng như trên, các phụ huynh người Trung Hoa không muốn cho con đá banh nữa. Từ năm 1990 đến 2000, nước Tầu có khoảng 600,000 trẻ tham dự các đội banh chính thức. Trong 5 năm tiếp theo, con số xuống chỉ còn 180,000 thanh thiếu niên. Và vào năm 2012 các quan chức CFA ước tính còn độ 100,000.

Tình trạng túc cầu cho chúng ta hình dung được những ngành sinh hoạt khác ở Trung Quốc như thế nào. Liệu một quốc gia sống trong không khí thối nát như vậy có tương lai hay không? Họ có thể dùng hối lộ đi mua chính quyền các nước chậm tiến để khai thác rừng, biển, quặng mỏ của người ta. Nhưng họ làm sao trở thành một quốc gia mẫu mực cho các nước khác noi theo; để dậy dỗ cho Cộng sản Việt Nam về “mô hình phát triển kiểu Trung Quốc;” như họ mới họp ở Hạ Long cùng với các nhà lý luận và cán bộ tuyên giáo cao cấp nhất của đảng Cộng sản Việt Nam?
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

Kẻ thù của chế độ

Nguyễn Hưng Quốc


Giới lãnh đạo Việt Nam thường chỉ tay về hướng này hướng nọ và la toáng tên: “Kẻ thù!” Cái gọi là “kẻ thù” ấy mang nhiều tên khác nhau, từ “phản động” đến “diễn biến hòa bình”, nhưng phần lớn đều có một xuất xứ: ngoại nhập. Con đường ngoại nhập có hai hình thức: hoặc do các lực lượng bên ngoài xúi giục hoặc chịu ảnh hưởng từ nước ngoài một cách gián tiếp.

Dân chúng xuống đường chống con đường lưỡi bò ngang ngược của Trung Quốc bị gán tội: âm mưu chống phá cách mạng từ nước ngoài. Nông dân chống lại lệnh cưỡng chế đất đai ở Văn Giang cũng bị gán tội bị phản động từ bên ngoài xúi giục. Tu sĩ, cư sĩ và tín đồ Phật giáo theo hệ phái Làng Mai dựng chùa để tu tập cũng bị lên án tham gia vào “diễn biến hòa bình”. Giáo dân Công giáo đòi đất vốn thuộc về Giáo Hội cũng bị chụp cái mũ phản động theo sự giật dây của nước ngoài.

Nếu cứ nghe theo lời của giới lãnh đạo Việt Nam, người ta có cảm tưởng Việt Nam đang tứ bề thọ địch. Đâu đâu cũng có kẻ thù. Kẻ thù nào cũng cực kỳ xảo quyệt và hung ác.

Cái lối tuyên truyền như vậy có nhiều cái sai và cái hại.

Cái sai thì đã rành rành. Nhưng còn cái hại? Cũng nhiều. Nhưng trong đó cái hại lớn nhất là nó che khuất những kẻ thù thực sự.

Kẻ thù thực sự của chính quyền và đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là ai?

Trung Quốc chăng? Từ mấy năm nay, trên khắp thế giới, ai cũng thấy rõ là Trung Quốc đang âm mưu lấn chiếm hải đảo của khá nhiều nước láng giềng: họ giành bãi đá ngầm Scarborough (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham) với Phillipines, quần đảo Senkaku (Điếu Ngư Đài) với Nhật Bản; Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam. Ngoài hải đảo còn có lãnh hải: với con đường lưỡi bò (còn gọi là đường chữ U hay đường chín đoạn, Cửu đoạn tuyến, 九段線), họ lấn gần hết vùng biển chung của các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia. Trên cả hai phương diện, hải đảo và hải phận, nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của âm mưu bành trướng từ phía Trung Quốc chính là Việt Nam.

Có thể nói, đối với Việt Nam hiện nay, không có ngoại thù nào nguy hiểm cho bằng Trung Quốc. Có khi đó là kẻ thù duy nhất có thể dẫn đến xung đột về quân sự.

Tuy nhiên, tôi vẫn không tin là Trung Quốc có ý định tấn công lãnh thổ Việt Nam. Lấn chiếm hải đảo: Có. Lấn chiếm hải phận: Có. Nhưng tung quân đánh nhau trên đất liền như năm 1979: Không.

Tại sao ư?

Có ba lý do chính. Một, trong khi chưa trở thành siêu cường quốc số một trên thế giới, Trung Quốc không dại gì tự biến mình thành đối tượng bị đả kích, và từ đó, cô lập trên trường quốc tế. Hai, tham vọng chính của Trung Quốc hiện nay vẫn dừng lại ở vùng biển với những con đường vận chuyển trên biển và những nguồn nguyên liệu nằm sâu dưới đáy biển. Họ có thể đạt được những tham vọng ấy mà không cần phải đánh nhau thực sự. Ba, Trung Quốc thừa khôn ngoan để biết họ không nên đánh bại chính phủ Việt Nam hiện nay: Không dễ gì họ có được một kẻ thù hiền lành, nhẫn nhục, nhún nhường và sẵn sàng nhượng bộ đến như vậy.

Cho nên, Trung Quốc có thể là kẻ thù của dân tộc Việt Nam nhưng lại không phải là kẻ thù của chế độ Việt Nam hiện nay.

Kẻ thù của chế độ cộng sản không ai khác hơn là chính họ.

Họ trở thành kẻ thù của chính họ khi họ phản bội lại những lý tưởng mà họ theo đuổi từ trước: độc lập dân tộc và bình đẳng trong xã hội. Những lý tưởng ấy, trước, chưa chắc họ đã tin hẳn. Nhưng ít nhất là họ cũng làm cho nhiều người tin là họ tin. Vì tin như thế nên rất nhiều người sẵn sàng ủng hộ họ. Bây giờ, không có chút xíu lý tưởng nào còn giá trị. Về chuyện độc lập, càng ngày những tin tức trong cung đình của họ được tiết lộ ra ngoài càng cho thấy cách hành xử của họ không khác gì các quan lại thời thuộc địa. Mà không cần những thứ được gọi là tin mật ấy. Cứ nhìn cách họ trấn áp những người dân chống Trung Quốc từ Sài Gòn đến Hà Nội thì cũng đủ thấy. Cách họ đục bỏ chữ Trung Quốc trên các tấm bia tưởng niệm liệt sĩ thời chiến tranh chống Trung Quốc năm 1979 ở Lạng Sơn thì lại càng rõ. http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110 ... g-hai.aspx

Họ trở thành kẻ thù của chính họ khi họ tham nhũng. Phải nói ngay là tham nhũng thời nào cũng có. Và ở đâu cũng có. Sự khác biệt chỉ là ở mức độ. Mức độ tham nhũng ở Việt Nam có lẽ đã lên đến mức cao nhất trong lịch sử hiện đại. Trong ký ức người Việt, ít nhất từ đầu thế kỷ 20 đến nay, dường như chưa bao giờ tham nhũng lại hoành hành như bây giờ. Ở đâu cũng gặp tham nhũng. Lớn ăn lớn; nhỏ ăn nhỏ. Cứ hễ có chút chức tước là có tiền tràn đến. Khi tham nhũng như thế, người ta chỉ biết và chỉ chạy theo lợi ích cá nhân. Lợi ích của đất nước trở thành chuyện phù phiếm. Bởi vậy không có gì ngạc nhiên khi thấy chính quyền hiện nay đang làm những chuyện hầu như ai cũng biết là không nên làm: cho Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn, khai thác bauxite, trúng thầu vô số công trình có ý nghĩa chiến lược mang tầm quốc gia, khăng khăng đòi giải quyết song phương với Trung Quốc về những vấn đề vốn tự bản chất có tính chất đa phương và cần được đa phương hóa… Tất cả cũng chỉ vì sự ích kỷ của những kẻ tham nhũng.

Nhưng quan trọng nhất, họ trở thành kẻ thù của chính họ khi họ quay lưng lại với nhân dân. Ngày xưa, họ tạo dựng lực lượng và sức mạnh của họ từ nhân dân. Chiêu bài nhân dân được họ sử dụng khắp nơi. Còn bây giờ? Họ cướp đất của nhân dân. Họ xua đuổi nhân dân ra khỏi những mảnh đất màu mỡ và béo bở nhất. Họ xua công an và côn đồ trấn áp nhân dân. Họ đạp vào mặt nhân dân. Họ còng tay nhân dân đẩy lên những chiếc xe bít bùng rồi chở đến đồn công an hoặc chuyển thẳng đến các trại phục hồi nhân phẩm. Họ ném vào túi nhân dân những chiếc “bao cao su đã qua sử dụng” để có cớ bắt bớ. Họ vu cho nhân dân tội “trốn thuế” để đẩy họ vào tù. Họ đánh nhân dân đến gãy cổ hoặc chết thê thảm rồi hô hoán lên là nhân dân tự tử.

Quay lưng lại với nhân dân như vậy, chế độ dựa vào ai để tồn tại? Thứ nhất là công an. Họ đặt “điều kiện” đổi chác với công an: “Còn đảng, còn mình”. Họ mặc kệ công an làm thánh làm tướng gì cũng được miễn là đừng quay súng lại về hướng họ. Cuối cùng công an biến thành một đám kiêu binh như cuối thời Lê Trịnh ngày xưa. Thứ hai, là đám thương binh bị côn đồ hóa, tự biến mình thành những sai nha sẵn sàng lao vào ăn vạ hoặc đánh đập những kẻ bị xem là “đối tượng” của chế độ.

Nhưng chọn lựa xây dựng chế độ trên hai lực lượng như thế cũng có nghĩa là chọn con đường diệt vong.

Trong năm 2011, đã có bao nhiêu chế độ có “chiến lược” tương tự đã bị sụp đổ.

Họ bị sụp đổ không phải bởi một kẻ thù nào cả. Họ tự làm cho họ sụp đổ.
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Chính trị quyết định tương lai Euro

Ngô Nhân Dụng

Liên Hiệp Âu Châu có 27 quốc gia, trong đó 17 nước đã đồng ý dùng chung một thứ tiền: Ðồng Euro. Dùng chung một đồng tiền, kể từ năm 1999, nhưng các nước này vẫn lo bảo vệ quyền quyết định của họ trong nhiều lãnh vực khác, như thuế khóa, ngân sách, hệ thống ngân hàng riêng, vân vân.

Họ đã thí nghiệm một cuộc cải tổ kinh tế khi dùng chung một đồng tiền, vì biết nó sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế; nhưng đồng thời họ vẫn cưỡng lại nhu cầu cải tổ chính trị. Ðiều này dễ hiểu: Các nhà chính trị ký kết các thỏa ước hiệp nhất tiền tệ nhưng họ vẫn muốn bảo vệ quyền quyết định của chính họ trong phạm vi từng quốc gia.

Cuộc khủng hoảng của Ðồng Euro trong hơn một năm qua chứng tỏ cuộc thí nghiệm trên gặp chướng ngại, nếu không nói là trên đà thất bại. Khi ngân sách các nước ở phía Nam cạn tiền, không trả được nợ, và tất nhiên không thể đi vay nợ mới, các nước phía Bắc phải họp nhau chung tiền để lập quỹ cứu nguy cùng với Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Việc cứu cấp được thực hiện từng bước ngắn, khi nào thấy kết quả chưa đủ thì lại bước thêm một bước ngắn nữa. Càng kéo dài thì nguy cơ của các nước thâm thủng càng nặng nề hơn; và cho đến nay vẫn chưa thấy một giải pháp dứt khoát để giải quyết cuộc khủng hoảng trong lâu dài.

Tuần trước, thế giới chờ coi kết quả cuộc bỏ phiếu của dân Hy Lạp; trong đó có hai phe. Một bên là liên minh những đảng cương quyết chống lại kế hoạch “kham khổ” mà các nước khác ép Hy Lạp phải thi hành nếu muốn tiếp tục được trợ giúp. Bên kia là những đảng đồng ý sẽ thắt lưng buộc bụng theo đề nghị của các nước khác. Hôm Chủ Nhật vừa rồi, dân Hy Lạp bỏ phiếu bầu cho liên minh các đảng “thân Euro,” khiến nhiều người thở ra nhẹ nhõm: Hy Lạp sẽ không rút ra hoặc bị đá ra ngoài khối Euro. Nhưng ai cũng thấy, quyết định của dân Hy Lạp chưa đủ giúp cho Ðồng Euro thoát hiểm. Lại thêm Tây Ban Nha đang gặp khó khăn, và không chừng sẽ thêm cả nước Ý.

Nỗi khó khăn của Ðồng Euro trong năm qua khiến kinh tế nhiều nước suy yếu. Muốn thoát cơn khủng hoảng thì chính Hy Lạp, Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha phải phục hồi kinh tế nước họ. Khối Euro bị chia làm hai: Những nước phía Bắc như Ðức, Phần Lan, cho tới Hòa Lan không muốn dùng tiền thuế của dân nước họ cứu giúp các nước phía Nam. Người phía Bắc, chính phủ Ðức, đòi Hy Lạp và các nước được cứu trợ phải áp dụng chương trình “kham khổ,” chấm dứt cảnh đi vay nợ quá nhiều để chi tiêu như trong quá khứ. Nhưng đòi hỏi trên không giúp giải quyết cơ khủng hoảng. Những nước kinh tế đang suy yếu mà lại áp dụng chính sách kham khổ, tức là chính phủ không chi tiêu thêm để kích thích số cầu, thì sẽ suy yếu thêm chứ không thể phục hồi được. Cho nên, trong hội nghị Khối G 20 đang họp ở Mexico ngày hôm qua, nhiều chính khách quốc tế đã ngỏ ý đề nghị bà thủ tướng Ðức, lãnh đạo nhóm Bắc Âu, nên bớt cứng rắn đối với Hy Lạp. Thủ tướng Anh và bộ trưởng tài chánh Canada nói thẳng điều đó không úp mở. Tổng thống Mỹ cũng ngỏ ý đó nhưng nói một cách nhẹ nhàng hơn. Lãnh đạo các nước mới lên như Trung Quốc, Ấn Ðộ, thì không tuyên bố thẳng, nhưng chắc chắn sẽ khuyến cáo bà Angela Merkel khi gặp gỡ riêng. Mọi người xúm lại khuyên lơn, vì ích lợi của chính nước họ. Trong năm qua, khi kinh tế Âu Châu suy yếu, không những hàng xuất cảng của Trung Quốc, Ấn Ðộ bị ảnh hưởng, mà chính nước Mỹ cũng bị lây: Âu Châu mua 22% số hàng Mỹ bán ra ngoài!

Chính phủ các nước phía Bắc vẫn phải tiếp tục đòi hỏi các nước phía Nam phải áp dụng chính sách khắc khổ. Vì họ khó lòng giải thích với dân chúng tại sao cứ phải góp tiền giúp chính phủ những nước phía Nam chi tiêu trong các chương trình y tế, xã hội, hay chi phí quân sự của họ? Ðây là một vấn đề chính trị chứ không phải kinh tế nữa. Các nhà chính trị Âu Châu đã hô hào việc “thống nhất” Âu Châu từ hơn 60 năm qua; chương trình này được thực hiện từ tốn, từng bước một; việc 17 nước dùng chung Ðồng Euro là một bước mạnh bạo sau cùng để tạo Âu Châu thành một khối thống nhất có sức nặng kinh tế ngang với Mỹ. Nếu bây giờ khối dùng Ðồng Euro tan rã thì không những kinh tế các nước Âu Châu sẽ gặp nguy mà kinh tế các nước khác, từ Mỹ cho đến Trung Quốc, cũng bị suy yếu theo.

Cuối cùng, câu hỏi mà dân Ðức, dân Hòa Lan, vân vân, phải trả lời là: Họ có muốn giữ mối liên hệ mật thiết giữa các nước Âu Châu, chặt chẽ hơn hay không? Câu hỏi đặt cho các nhà chính trị Âu Châu là họ có muốn giảm bớt quyền hành của chính họ để có một guồng máy trung ương của cả Âu Châu mạnh hơn không?

Tức là Âu Châu sẽ phải quyết định “thống nhất hơn” trong việc chia sẻ quyền chính trị, chứ không phải chỉ lập ra một đồng tiền chung mà đủ. Cuộc thí nghiệm Ðồng Euro trong hơn mươi năm qua cho thấy “Ý chí chính trị sẽ quyết định hậu quả kinh tế.” Vì việc phối hợp chính sách tiền tệ và ngân sách giữa các nước còn rất lỏng lẻo cho nên đưa tới cuộc không hiện nay. So sánh khối Euro ở Âu Châu với nước Mỹ, chúng ta thấy ngay Âu Châu cần giải quyết một vấn đề chính trị chứ không phải chỉ có chuyện tài chánh, kinh tế.

Cuộc khủng hoảng trong khu vực các nước dùng Ðồng Euro rất giống cuộc khủng hoảng địa ốc ở Mỹ năm 2008, đưa tới cảnh kinh tế trì trệ kéo dài đến bây giờ. Cùng là cảnh những người đi vay không có tiền trả nợ, vì thế các ngân hàng lo phá sản, cả hệ thống có thể bị sụp đổ. Ở nước Mỹ những năm 2007, 08 nguồn gốc khủng hoảng là những người vay nợ mua nhà. Tại Âu Châu những năm 2011, 12 thì nguyên nhân là các chính phủ Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Bồ Ðào Nha, vân vân đã đi vay rồi thiếu tiền trả nợ vì ngân sách khiếm hụt. Các ngân hàng ở Âu Châu cũng đang lo phá sản. Nhưng ở Mỹ, có một chính phủ liên bang đủ mạnh để quyết định cứu chữa. Sau khi ngân hàng Lehman Brothers khai phá sản, chính Tổng Thống Gorges W. Bush đã quyết định xin Quốc Hội 700 tỷ đô la để cấp cứu các ngân hàng lớn còn lại. Ở Âu Châu không ai có quyền quyết định nhanh chóng như một ông tổng thống Mỹ.

Giáo Sư Paul Krugman (Giải Nobel Kinh tế học) đã lấy trường hợp Hy Lạp để so sánh với một tiểu bang ở Mỹ. Thí dụ bây giờ kinh tế Florida đang gặp nguy khốn vì thị trường địa ốc sụp đổ; chính phủ Florida thiếu tiền chi trong các chương trình y tế, xã hội. Nhưng họ không lo như chính phủ Hy Lap; vì đã có chính phủ liên bang ở Washington sẵn sàng đưa tiền. Cũng giống như vậy, cuối thập niên 1980, một hệ thống các ngân hàng tiết kiệm sụp đổ cũng vì cho vay quá dễ dãi, không khác gì cuộc khủng hoảng địa ốc vừa qua. Nhiều tiểu bang bị thiệt hại nặng, đặc biệt là Texas. Nhưng chính phủ Mỹ ở Washington cùng Quốc Hội đã sẵn sàng có mặt để mua lại các món “nợ xấu” giúp nhiều ngân hàng thoát khỏi tai họa. Âu Châu chưa thiết lập một hệ thống cấp cứu tự động như vậy, vì chưa phải là một quốc gia như nước Mỹ. Cho nên cuộc cứu chữa rất chậm chạp và ngập ngừng, cơn khủng hoảng ngày càng nặng hơn.

Cho nên, cuộc khủng hoảng trong khu vực Ðồng Euro hiện nay không hoàn toàn là một vấn đề kinh tế, tài chánh; mà chính là một thử thách đối cho ý chí thống nhất của các nhà chính trị và dân chúng 17 quốc gia. Nếu các nước phía Nam chấp nhận sẽ “sống kham khổ” hơn, giảm bớt các món chi tiêu của chính phủ; trong khi các nước phía Bắc chấp nhận cứu trợ và không đòi hỏi những điều kiện quá khắt khe như hiện nay, thì khối Euro mới tìm được đường thoát. Không thể chữa các con bệnh kinh tế như Hy Lạp, Bồ Ðào Nha bằng cách bắt giảm bớt chi tiêu ngay lập tức; một thứ “thuốc đắng” như vậy có thể làm cho bệnh nặng hơn.

Cuộc bỏ phiếu của dân Hy Lạp cho giới lãnh đạo Âu Châu thêm thời giờ để đưa ra các giải pháp lâu dài. Một bước tối thiểu phải thực hiện để khối Euro tránh được khủng hoảng trong tương lai là việc thống nhất hệ thống các ngân hàng thương mại. Phải có một hệ thống bảo đảm chung cho mọi người gửi tiền trong các ngân hàng khắp Âu Châu; nếu một ngân hàng suy sụp thì người gửi tiền không lo bị mất hết. Và phải có chung một cơ quan để giám sát các ngân hàng. Các cơ chế đó sẽ giúp bảo vệ lòng tin tưởng vào cả hệ thống. Khi dân chúng gửi tiền cũng như các xí nghiệp và các nhà đầu tư đặt niềm tin vào hệ thống thì sẽ không lo cảnh dân rủ nhau đi rút tiền, các xí nghiệp chuyển tiền ra ngoại quốc, vân vân.

Thống nhất hệ thống ngân hàng chính là giảm bớt quyền của chính phủ các nước, và tăng quyền hành cho mấy cơ quan ở trung ương. Ðó sẽ là một bước thay đổi tương quan chính trị giữa các nước dùng Ðồng Euro; các chính phủ quốc gia chuyển nhượng quyền cho các cơ quan tài chánh chung. Ðó là cái giá chính trị phải trả để đạt được những kết quả kinh tế; nếu dân chúng các nước đều mong muốn hưởng những ích lợi mà việc sử dụng chung một đồng tiền đem lại!

Liệu dân chúng các nước Ðức, Áo, Hòa Lan có quyết tâm bảo vệ đồng Euro hay không? Nếu họ muốn thì phải chấp nhận giúp các nước phía Nam thoát con hiểm nghèo hiện nay, rồi sẽ tính chuyện cải tổ cả hệ thống dần dần. Chậm trễ trong việc cứu giúp sẽ khiến nền kinh tế các nước đang khiếm hụt nguy ngập hơn, việc cứu trợ sẽ càng tốn kém hơn. Nhưng muốn biết ý nguyện của dân các nước phía Bắc thì phải chờ kết quả những cuộc bầu cử sang năm! Dân Hy Lạp đã bầy tỏ ý kiến của họ, họ muốn tiếp tục sống trong khu vực đồng Euro. Sẽ đến lượt dân các Hòa Lan, Ðức, bày tỏ ý kiến. Các nhà chính trị ở những nước này phải trình bày rõ ràng, như các đảng ở Hy Lạp đã làm, cho dân biết họ muốn trả giá nào để tiếp tục dùng chung một đồng tiền Euro. Cuộc khủng hoảng tiền tệ đòi hỏi phải được giải quyết bằng chính trị. Chỉ trong chế độ tự do dân chủ người dân mới có quyền tự lựa chọn như vậy khi cần quyết định về tương lai chung.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Trò Hề Chất Vấn, Điều Trần

Tác giả : Vi Anh


Nhớ lần đầu vào năm 2008, phái đòan Thủ Tướng Việt Cộng, Ông Nguyễn tấn Dũng đến khoá họp thứ 12 của cái gọi là Quốc Hội của CS Hà nội, trình bày một số vấn đề. Một số “đại biểu nhân dân” hỏi. Một vài bộ trưởng trả lời vài việc, không trả lời đôi điều, viện lý do an ninh hay bí mật quốc gia. Thế là “báo đài” của Đảng Nhà Nước đua nhau tô lục chuốt hồng: Quốc Hội chất vấn, chánh phủ điều trần công khai, cởi mở; chế độ “chuyển hoá”; dân chủ tiến bộ.

Nếu nhìn năm mươi mấy năm lịch sử của cái gọi là Quốc Hội của CS Hà nội, và hàng chục nhiệm kỳ của “đại biểu nhân dân” của cái tổ chức CS Hà nội gọi là Quốc Hội do Đảng cử dân bầu ấy, thì thấy chẳng có gì thay cũ, đổi mới cả. Vẫn “trước sau như một”, Quốc hội là của Đảng, vì Đảng, do Đảng CSVN. Lúc nào Đảng cũng “cơ cấu” trên 90% “đại biểu nhân dân” phải đảng viên CS. Nhiệm vụ Đảng giao cho cơ quan này là sơn lớp sơn nhân dân lên ý và quyết định của Đảng để cai trị tòan dân. Đại biểu nhân dân vì thế phải cúc cung tận tụy trung hiếu với Đảng, phục vụ Đảng là cha sanh mẹ đẻ, tương lai sự nghiệp của mình. Lúc nào cũng làm gia nô CS, ngậm miệng ăn tiền, bám chức, bám quyền. Thì những cái gọi là Quốc Hội chất vấn, chánh phủ điều trần là một bi hài kịch CS Hà nội tự biên, tự diễn đầy kịch tính.

Nếu so sánh tập tục chất vấn và điều trần lành mạnh của các Quốc Hội đại diện dân, của dân, vì dân, do dân thì không khỏi buồn cười những trò hề của cái gọi là Quốc hội đảng cử dân bầu của CS Hà nội. Một cách đại tổng, phổ thông và giản dị, chất vấn là quyền của Quốc Hội nhơn danh quyền được biết của quốc dân, quyền giám sát ngăn chận để Quốc Hội có đủ yếu tố làm luật, để quyền làm chủ của dân được thể hiện trong sinh hoạt quốc gia. Quốc Hội chẳng những có quyền chất vấn hành pháp mà còn có quyền chất vấn các tổ chức quần chúng. Điều trần là nhiệm vụ của Hành Pháp phải trả lời. Cuộc đối thoại này được ghi vào biên bản công chứng. Câu trả lời có giá trị hữu thệ, tức nếu trả lời gian dối sẽ bị tội bội thệ như khai gian trước toà.Chất vấn của Quốc Hội và điều trần của hành pháp có thể đưa đến những khuyến nghị, quyết nghị, quyết định có tính cưỡng hành với hành pháp, từ bất tín nhiệm thành phần chánh phủ đến khuyến cáo, quyết nghị sửa đổi đường lối điều hành chánh sách của nội các.

Chẳng những Quốc Hội khoáng đại có quyền chất vấn mà Ủy Ban Quốc Hội cũng có quyền này đối với các bộ đồng nhiệm. Chỉ có nhân viên chánh phủ, thành phần được quyền họp hội đồng nội các như Thủ Tướng, Phó thủ Tướng, Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Đổng Lý là những chức vụ chánh trị then chốt của nội các và các bộ có quyền họp hội đồng nội các mới có quyền điều trần. Chớ phụ tá, tổng giám đốc, giám đốc là những công chức của bộ hay phủ dù chuyên môn thật, nắm vững vấn đề thật, nhưng ít khi Quốc Hội hay Uy ban Quốc Hội cho điều trần vì không có thẩm quyền trong nội các. Quốc Hội có quyền hỏi, nội các có nhiệm vụ trả lời, chớ nội các không có quyền hỏi Quốc Hội. Quốc Hội có quyền lớn như vậy vì Quốc Hội đại diện cho quốc dân được quốc dân ủy quyền làm luật, quyết định hành thu, hành chi qua ngân sách bản chất là một đạo luật phải làm hàng năm và giám sát hành pháp. Nên người ta thường nói Quốc Hội là cơ quan quyền lực cao nhứt.

Hiến pháp của CS Hà nội cũng nói Quốc Hội là cơ quan quyền lực cao nhứt. Nhưng CS nói vậy mà không phải vậy. Hiến pháp CS Hà nội chỉ hữu danh mà vô thực. Quyền hạn của nhân dân và của Quốc Hội chỉ có trên danh nghĩa mà không thực chất, không có trên thực tế, trong thực tiễn của việc điều hành việc nước, chuyện dân. Tất cả quyền lực nằm gọn trong tay Đảng CS mà bộ Chánh Trị của Đảng Nhà Nước là cơ quan quyền lực tối cao. Nhưng trớ trêu thay, đó là một bộ mà trình độ văn hoá thấp kém nhứt so với mấy chục bộ của Đảng Nhà Nước CS Hà nội.

Vài thí dụ về trò tung hứng của Đảng viên CS chiếm đa số tuyệt đối trong Quốc Hội CS. “Đại biểu nhân dân” do Đảng cử dân bầu tung chất vấn, và chánh phủ cũng do đảng cử Quốc Hội thông qua hứng điều trần – tuy hai mà một—mới đối đáp mấy câu về việc mở rộng phạm vi Hà nội sẽ tốn kém vô số tiền thuế của dân, di dời bao nhiêu nhà cửa của dân trong qui hoạch, hai bên mới nói đôi câu, thì Quốc Hội biểu quyết thông qua một cái rụp. Quốc Hội chấp thuận kế hoạch của chánh phủ, trọn gói với đa số áp đảo 90% ngang với tổng số đảng viên mà Bộ Chánh trị Đảng đã “cơ cấu” trong Quốc Hội!

Về những vấn đề có thể đưa đến khủng khoảng kinh tế tài chánh làm dân nghèo nước mạt, như vật giá gia tăng, lạm phát phi mã, việc nhà nước tuồng công quỹ cho Tổng Công Ty Kinh Doanh Đầu Tư Vốn Nhà Nước, SCIC làm lợi cho nhà giàu hại cho dân nghèo khi thị trường chứng khoán bên bờ vực thẳm, làm cho dân quá khổ, bộ trưởng không buồn trả lời, không nói ra con số lời lổ, viện lý do bí mật”, coi dân biểu như những người không đáng tin, không đáng kể.

Nhưng các “đại biểu nhân dân” làm gì hơn được. 90% là đảng viên. Kỷ luật đảng CS là kỷ luật sắt. Chống lại đảng là tiêu sinh mạnh cá nhân, gia đình trên phương diện chánh trị, và sự sống vật chất. Tuân lịnh Đảng thì còn giữ được đảng quyền, quyền hành chánh, làm chức này chức nọ với xe hơi nhà lầu. Đại biểu nhân dân CS được quyển kiêm nhiệm chức vụ trong đảng và trong guồng máy công quyền, ai cũng kiêm nhiệm hai ba chức, hai ba bên.

Trong khi Bộ Chánh trị có thể vẽ voi vẽ chuột đường lối, chánh sách, mà tại sao CS Hà nội phải mất thì giờ, công sức dàn dựng trò hề cho gia nô đại biểu nhân dân cùng diễn với bên nhà nước như vậy? Không phải để mà con mắt các nhà quan sát ngoại quốc đâu, họ quá rành CS rồi. Điều CS Hà nội muốn là lập lờ đánh lận con đen VN. Đối với người Việt trong nước, CS Hà nội cho làm thế là để xì sú páp bất mãn của dân trước cảnh vật giá gia tăng, lạm phát phi mã, dân oan và công nhân mới mấy tháng đầu năm mà đã biểu tình, đình công trên 1000 vụ. Dân thấy đại biểu nhân dân giáng thập điều chánh phủ, coi như có người nói dùm mình rồi, yên trí lớn chờ “đèn trời soi xét”, thế là nồi sốt de bất mãn từ dân chúng đối với Đảng Nhà Nước CS bị xì hơi, áp suất giảm. Tạo cảm giác cho người Việt hải ngoại, rằng Đảng Nhà Nước sẽ đổi mới chánh trị, dân chủ hoá dần dần. Tạo điều kiện cho tuyên truyền quốc ngoại lôi kéo hải ngoại về cùng Đảng “xây dựng quê hương”. Tạo hy vọng cho những chánh khách ít kinh nghiệm CS mà nhiều tham vọng chia ghế tham chánh qua con đường bầu cử, dùng Quốc Hội cải tiến chế độ. Nhứt là đối với lớp trẻ ở hải ngoại chưa có kinh nghiệm CS, sống trong chế độ dân chủ từ nhỏ tới lớn, tưởng đâu CS cũng tổ chức chánh quyền tam lập, Quốc Hội có quyền như ở Tây Phương, dân chủ từ từ “chuyển hoá”./.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Tưởng niệm 13 liệt sĩ Quốc dân đảng lên đoạn đầu đài
Cuối thế kỷ thứ 19 thực dân Pháp đô hộ Việt Nam từ năm (1884). Quân dân, sĩ phu Việt Nam liên tiếp nổi lên nhiều phong trào chống giặc giành chủ quyền. Các cuộc khởi nghĩa Văn Thân, Cần Vương đều thất bại nhưng không dập tắc được lòng yêu nước của người Việt Nam. Ðầu thế kỷ 20, các phong trào cách mạng rút được kinh nghiệm thất bại của hai phong trào trên nên thay đổi chiến thuật. Phong trào Ðông Du (1905-1908) của Phan Bội Châu (1867-†1940) được Tăng Bạt Hổ (1858-†1906) giúp đưa du học sinh sang Nhật Bản, nhằm đào tạo giới trẻ khi tốt nghiệp về canh tân đất nước, Phan Bội Châu chủ trương theo chế độ quân chủ, đồng thời nhờ Nhật giúp để đánh Tây..

Phong trào Duy Tân (1905-1908) Phan Châu Trinh chủ trương khai trí dân tộc, tân văn hóa đề cao thuyết Dân Quyền, khuyến khích phát triển nông, thương nghiệp cổ động học chữ quốc ngữ. Phong trào được phát động mạnh tại Quảng Nam và được lan rộng trên toàn quốc. Tại Hà Nội trường Ðông Kinh Nghĩa Thục được thành lập từ (1907-1908), các phong trào hoạt động chủ trương bất bạo động hoặc bạo động đều với mục đích cứu nước. Nhưng bị thực dân Pháp theo dõi và đàn áp, bắt các nhà cách mạng đày ra Côn đảo hay kết án tử hình

Thực dân Pháp đặt ách thống trị tàn bạo tại Việt Nam, nhưng không thể tiêu diệt được lòng yêu nước của toàn dân Việt Nam tiếp tục chống Pháp để thoát khỏi vòng nô lệ. Các cuộc khởi nghiã chống giặc để bảo vệ đất nước, mà tiền nhân bỏ xương máu dành lại độc lập suốt thời gian gần một ngàn năm bị Bắc Thuộc.

Cuộc khởi nghĩa ở Huế năm 1916 của Việt Nam Quang Phục Hội chủ trương của Trần Cao Vân (1866-†1916) và Thái Phiên (1882-†1916) đời vua Duy Tân (1907-1916). Cuộc nổi dậy của Phan Xích Long ở Sài Gòn năm 1913, ở Thái Nguyên do Trịnh Văn Cấn (?-†1918) và Lương Ngọc Quyến (1890-†1917)

Chủ xướng Nam Ðồng Thư xã, năm 1926 Phạm Tuấn Lâm (Dật Công), Phạm Tuấn Tài (Mộng Tiên) và Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống) cùng nhau thành lập Nam Ðồng Thi Xã (NÐTX), lúc đầu chủ trương in sách viết về các nhà cánh mạng như Tôn Dật Tiên, Gandhi một thời gian bị cấm sách bị tịch thu, nhưng các nhân vật trong NÐTX tiếp tục hoạt động và vận động lập một đảng cách mạng. Cuối năm 1927 Hồ Văn Mịch (?-†1932) Nguyễn Thái Học (1901-†1930) gia nhập vào NÐTX chi bộ đầu tiên được thành lập. Nguyễn Thái Học được bầu làm chi bộ trưởng, tên là chi bộ Nam Ðồng Thư Xã. Hoạt động khắp nơi được nhiều người tham gia, số người gia nhập nhiều, cần mở rộng tổ chức. Nhân dịp lễ Giáng sinh thành phố Hà Nội náo nhiệt người vui chơi. Pháp khó kiểm soát tổ chức Ðại Hội Việt Nam Quốc Dân Ðảng, các đảng viên được triệu tập vào lúc 20 giờ ngày 25-12-1927 tại nhà ông Lê Thành Vị, làng Thể Giao, Hà Nội. Nhưng giửa buổi họp bị báo động có mật thám theo dõi, đại hội tạm thời giải tán và bí mật di chuyển đến chỗ khác và tái hội lại lúc 2 giờ 30 sáng ngày 26-12 ngay tại trụ sở Nam Ðồng Thư Xã. Ðại hội quyết định thành lập một Ðảng cách mạng lấy tên là Việt Nam Quốc Dân Ðảng.

Mục đích và tôn chỉ của đảng là làm cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, lập nên một nước Việt Nam Ðộc Lập Cộng Hòa, đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của họ đặc biệt các lân quốc Lào và Cao Miên“ (Hoàng Ðào sđd tr.33)

Hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Ðảng giống như cách thức của Trung Hoa Quốc Dân Ðảng mỗi chi bộ 19 người, đại biểu chi bộ họp thành tỉnh bộ, đại biểu tỉnh bộ họp thành Kỳ bộ .(Trước 1975 VNQDÐ tổ chức có Thành bộ, tỉnh Ðảng bộ..Cơ quan ngôn luận các tờ báo Hồn nước, Sao Trắng.. nhưng sinh hoạt của VNQDÐ không đoàn kết, chia quá nhiều hệ phái. Nguyễn Thái Học và cờ VNQDÐ chỉ còn ý nghĩa trong những ngày Khởi nghĩa và Hy sinh ..)

Tờ báo Hồn Cách Mạng phát hành hạn chế và bí mật đến năm 1929 ngưng hẳn. VNQDÐ tổ chức đại hội bầu ban chấp hành tổng bộ nhiệm kỳ 2 ngày 1-7-1928 tại nhà Nguyễn Ngọc Sơn ở Gia Lâm Hà nội vì theo điều lệ sáu tháng bầu một lần. (Phạm Văn Sơn sđd tr.149.).

Nguyễn Thái Học tái đắc cử Nguyễn Thế Nghiệp và Ðặng Ðình Ðiển không giữ chức vụ trong ban chấp hành lo nhiệm vụ khác (Nguyễn Thế Nghiệp vào Sàigon xuất bản tạp chí Revue Economique hoạt động liên lạc và phát triển VNQDÐ. Ðặng Ðình Ðiển vào Huế tháng 10-1928 liên lạc với Phan Bội Châu thời gian nầy được an trí tại Huế. Mời Phan Bội Châu giữ chức „Chủ tịch Danh dự VNQDГ Cụ Phan nhận lời hổ trợ tinh thần nầy chứng tỏ ông đồng ý với đường lối hoạt động của VNQDÐ chủ trương giải phóng dân tộc ra khỏi nô lệ. Trong vòng vài năm VNQDÐ. phát triển mạnh mẽ khắp Bắc-Nam-Trung. Theo tài liệu của sở mật thám Pháp viết VNQDÐ thành lập được 120 chi bộ và hơn 1500 Ðảng viên (có thể do sự phát triển nhiều đảng viên, không kiểm soát được hoạt động các đảng viên, thiếu huấn luyện học tập, nên một số ít người phản đảng làm tay sai cho thực dân).
Đại hội toàn quốc lần thứ 3 ngày 09-12-1928 lần nầy bầu ra ba cơ quan độc lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nguyễn Khắc Nhu làm chủ tịch và phó chủ tịch lập pháp. Nguyễn Thế Nghiệp và Lê Xuân Hy làm chủ tịch và phó chủ tịch hành pháp, ban tư pháp chưa được bầu. Sau khi đại hội kết thúc quyết định mở rộng hoạt động về ngoại giao liên lạc để kết hợp với các đảng cách mạng khác, được sự đoàn kết gây sức mạnh hơn, gởi người sang Trung Hoa Nhật Bản hoạt động.

Các chi bộ tại Sài Gòn có Ðỗ Xuân Viên, Nguyễn Hòa Hiệp, Nguyễn Phương Thảo, Võ Công Tôn, Nguyễn Hiền Lương, Cao Hữu Tạo, Phạm Xuân Việt, Hà Thuận Hồng và các chi bộ tại miền Ðông và miền Tây Nam Kỳ, trong đó có nhiều người được võ trang vũ khí. Tại Bắc Kỳ sinh hoạt kín đáo phát triển đảng viên. Tên trùm René Bazin tổ chức mộ phu, đi làm nô lệ bị bóc lột và hành hạ rất tàn nhẩn. Bazin mướn bồi bút làm thơ để dụ dân quê đi làm đồn điền cao su

Bà con ơi! Bà con ơi!
Cao su sống thật là nhàn
Vào đây có xóm có làng hẳn hoi.

Nhà tô nhà ngói lại nhà lầu
Tất cả mọi thứ nhu cầu
Chủ nhân bán rẻ ai mà chẳng ham
Tội chi ôm lấy xóm làng
Mau mau một chuyến vào Nam xem nào!“

Nhiều người bị lường gạt gây thêm lòng phẩn nộ, trước trình trạng nầy đảng viên VNQDÐ cử Nguyễn Văn Viên trình bày lại ý kiến yêu cầu xử tử tên Bazin, với các nhà lãnh đạo Tổng đảng bộ. Nguyễn Thái Học không đồng ý nếu giết Bazin, thực dân Pháp truy lùng tất cả các đảng viên và tổ chức sẽ tan rã (rút kinh nghiệm trong phong trào xin xâu kháng thuế năm 1908 tại Trung Kỳ và vụ đầu độc quân đội Pháp tại Hà Nội Pháp bắt bỏ tù và tử hình).

Nguyễn Thái Học yêu cầu các đảng viên bình tĩnh chờ đợi cơ hội lật đổ chính quyền trước, lúc đó bắt Bazin tử hình không muộn. Trong khi đó Việt Nam Thanh niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội rải truyền đơn chống việc buôn bán nô lệ của Bazin, để cạnh tranh hoạt động gây niềm tin phát triển đảng viên. Nguyễn Văn Viên nóng lòng dù đề nghị với Tổng bộ bị từ chối, nhưng ông ta tự ý cùng Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Ðức Lung (Ký Cao) theo dõi Réne Bazin. Vào 20 giờ tối ngày 30 tết tức 09.2.1929 Réne Bazin ở số 110 phố Huế, chợ Hôm Hà Nội. Nguyễn Văn Viên ra lệnh Nguyễn Ðức Lung đến trao cho Bazin phong thư, trong đựng bản án tử hình, ngoài bì đề tên hãng tàu thủy Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Văn Lân tiến đến bắn hai phát súng kết liểu tên trùm buôn bán phu thợ (Hoàng Ðào sđd tr.55-56)

Bazin bị ám sát sau đó thực dân và tay sai truy lùng các đảng Cách Mạng Việt Nam. Máu của đảng viên VNQDÐ đổ ra, bước đường cùng phải phản công chống thực dân. Ngày 17.2.1929 sở mật thám Pháp được các người chỉ điểm bắt khoảng 227 đảng viên VNQDÐ. Hội đồng đề hình quyết xét xử công khai lần đầu ngày 2.7.1929; 149 người được thả còn 78 người phải ra tòa bị kết án tử hình, bị đày ra Côn đảo hay các ngục tù ở thượng du Bắc Việt.

Tổng bộ Nguyễn Thái Học thoát được và sau đó ra lệnh thanh trừng các phần tử phản bội làm tay sai cho Pháp như: Nguyễn Văn Kinh, Phạm Thành Dương, Nguyễn Văn Ngọc. Theo điều lệ mới về tổ chức cơ quan lãnh đạo tối cao của đảng là „Tổng Bộ Chiến Tranh.“ chương trình hành động trở nên gấp rút, phải tổng khởi nghĩa trong thời gian tới, ra lệnh cấp tốc chế tạo thêm vũ khí, tạc đạn, bom.. Nhưng thiếu chuyên viên chế tạo, bất cẩn gây tại nạn phát nổ, mục tiêu bị bại lộ theo thống kê của Pháp từ cuối tháng 10.1929 đến 01.1930 khám phá được 70 địa điểm chôn dấu vũ khí quân nhu trên các tỉnh ở phía Bắc.

Ngày 26-01-1930 tại Võng La một cuộc đại hội bí mật triệu tập khoảng 20 đại biểu tham dự Ðảng trưởng Nguyễn Thái Học tuyên báo: người ta bảo cần phải đứng trước ở chỗ không thua, nhưng chúng ta thì đứng trước ở chỗ thua mất rồi ! Thế nhưng liệu chúng ta hãy hoãn để tổ chức lại rồi mới đánh có được không? Tôi tin rằng không thể được! cuộc đời là cả một canh bạc, gặp canh bạc đen, người ta có thể thua sạch hết cả vốn. Gặp thời thế không chiều mình, đảng chúng ta có thể tiêu hao hết lực lượng. Một khi lòng sợ sệt đã xen vào trong đầu óc quần chúng, khiến họ hết hăng hái ,hết tin tưởng thì phong trào cách mạng có thể nguội lạnh như đám tro tàn, rồi của sẽ không tiếp, người sẽ bị bắt lần, vô tình đã xô đẩy anh em vào cái chết lạnh lùng mòn mỏi ở các phòng ngục trại giam, âu là chết đi để lại cái gương hy sinh phấn đấu cho người sau nối bước chúng ta không thành công thì thành nhân có gì mà ngần ngại. ( Hoàng Ðào sđd 68-70)
Cuộc họp sôi nổi nhiều ý kiến tranh luận gay gắt. Nguyễn Khắc Nhu đứng dậy nói bằng giọng đanh thép: Hiện tình đang khẩn trương lắm.Tôi thấy bọn thực dân và bọn Việt gian đang đẩy chúng ta đến thế chân tường rồi. Chúng ta chỉ còn chọn lấy hai tư thế hoặc ngồi trong bóng tối chờ chúng đến còng tay tống vào Hỏa Lò, đày ra Côn Lôn hoặc vùng lên đánh chúng để cướp lấy thời cơ. Tôi ủng hộ ý kiến của anh Nguyễn Thái Học là phải đánh phải đánh (Nguyễn Thái Học tác giả Lê Minh Quốc sđd tr 81)
Ðại hội được đa số đồng ý tổng khởi nghĩa, bàn thảo kế hoạch thực hiện ở Hưng Yên, Lâm Thao, Phú Thọ và Yên Bái. Những tỉnh trung du do Nguyễn khắc Nhu chỉ huy, Các tỉnh đồng bằng Sơn Tây, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Bắc Ninh, Ðáp Cầu, Phả Lại do Nguyễn Thái Học chỉ huy. Riêng Sơn Tây do Phó Ðức Chính phụ trách, tại Hà Nội do Ðặng Trần Nghiệp tức Ký Con phụ trách đoàn quân cảm tử cầm chân quân Pháp. Ngày khởi nghĩa được chọn là tối mồng 09.02 rạng ngày10.02.1930 tức mồng một Tết âm lịch. Tấn công Yên Bái do Nguyễn Văn Khôi (Thanh Giang) Nguyễn Nhật Thân, Ngô hải Hoằng (Cai Hoằng) chỉ huy và hai nữ đồng chí Nguyễn Thị Bắc và Nguyễn Thị Giang tiếp tế vũ khí.. Số đảng viên tham chiến khoảng 300 người. Giết được đại úy Jourdain trung úy Robert bốn trung sĩ Pháp. Ðến sáng máy bay Pháp tham chiến nén bom nên phải rút lui để bảo tồn lực lượng.

Chuẩn bị đánh Sơn Tây sau khi thất bại ở Yên Bái, Phó Ðức Chính trốn về Sơn Tây cùng Cai Tân, Nguyễn Văn Khôi ngày 13.02.1930 họp nhau tại nhà Quản Trạng bị lộ mục tiêu Pháp tấn công bắt tất cả. Tấn công Hưng Hóa và Lâm Thao do Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy, lúc 1 giờ sáng 11.02.1930, nhưng Pháp được báo động trước không thể tấn công đồn Hưng Hóa, đổi sang đánh phủ Lâm Thao, quân Pháp được tiếp viện, Nguyễn Khắc Nhu bị thương tự sát bị thương nặng chưa chết bị bắt sau đó tự tử lần thứ 2 chết trong nhà tù Hưng Hóa.

Tại Hà Nội không có cuộc tấn công nào, nhưng Ðặng Trần Nghiệp (Ký con) và số đảng viên cắt đường dây điện thoại, ném bom vào một số cơ sở Pháp. Ngày 16.02 Pháp cho phi cơ tới ném 57 trái bom tiêu hủy làng Cổ An. Ngoài ra Pháp mở các cuộc hành quân đốt phá các làng mạc nghi ngờ có sự hoạt động của Việt Nam QDÐ. Cuộc tổng khởi nghĩa tạm chấn dứt. Trong dân gian truyền tụng bài thơ, cho rằng đó là sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Kìa kìa gió thổi lá rung cây
Rung Bắc rung Nam rung tới Tây
Tan tác kiến kiều an đất nước
Xác xơ cổ thụ sạch am cây
Lâm giang nổi gió mù thao cát
Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy
Một ngựa một yên ai sùng bái
Nhắn tin nhà vĩnh bảo cho hay

Thực dân và tay sai truy lùng, nhiều đảng viên khuyên Nguyễn Thái Học nên ra nước ngoài một thời gian, làm ngoại giao có lợi cho Ðảng để có ngày phục hưng lại phong trào, nhưng Nguyễn Thái Học đã nói :
Anh hùng tự cổ nan vi phụ
Hào kiệt hà nhân cánh cổ gia

Ðể xúc tiến việc cải tổ và xây dựng lại đảng tại làng Thôn Trụ, huyện Lương Tài từ ngày 14 đến 19.02.1930. Sau khi bế mạc hội nghị, các đồng chí đề nghị Nguyễn Thái Học đi về bằng đường thủy, có hộ tống an toàn hơn nhưng công việc gấp đi đường thủy chậm. Anh đi đường bộ ngày 20.02.1930. cùng người cận vệ giỏi vỏ nghệ tên là Sư Trạch quê Hải Dương, đi ngang Chí Linh qua lãnh vực đồn điền Cổ Vịt của tên thực dân Klieber. Chẳng may bị phát giác đối đầu với bọn tuần phu Nguyễn Thái Học bị bắn ở chân không thể chạy thoát, bị bắt đưa đến tòa sứ tỉnh Hải Dương để nhận dạng sau đó đưa về giam ở Hỏa Lò Hà Nội.
Các phiên tòa của Hội đồng Ðề hình xét xử liên tục. Khoảng 1000 đảng viên VNQDÐ bị bắt và kết án 35 tử hình; 145 khổ sai chung thân, 20 năm tù cấm cố. Ngoài ra còn số người đã hy sinh qua các cuộc tấn công, và bị tra tấn chết trong tù hoặc tự tử. Ngày 24.03.1930 Hội đồng Ðề hình tuyên án thêm 39 tử hình, 33 khổ sai chung thân, 9 khổ sai 20 năm, 5 người bị đi đày.

Máu của đảng viên VNQDÐ đổ ra cho Tự Do Ðộc Lập Việt nam. Làm sáng ngời tuổi trẻ Việt Nam lúc bấy giờ dù trưởng thành trong chế độ, nhưng không bao giờ chịu sống dưới kiếp nô lệ. Nguyễn Thái Học nhận tất cả trách nhiệm qua cuộc khởi nghĩa xin tha mạng cho những người khác. Chấp nhận bản án tử hình và viết thư gởi cho Hạ viện Pháp nêu những quan điểm của người công dân yêu nước Việt Nam:

Người Pháp không hề có thực lòng với người Việt, và tôi chẳng giúp ích được gì cho Tổ Quốc tôi, đồng bào, dân tộc tôi cả, trừ khi là đuổi người Pháp ra khỏi nước tôi. Bởi vậy năm 1927, tôi bắt đầu tổ chức một Ðảng cách mạng, lấy tên là VNQDÐ, mục đích là đánh đổ và lập nên chính phủ Cộng Hòa Việt Nam, gồm những người thật lòng tha thiết đến hạnh phúc của quần chúng.

Bản án trên được hội đồng đề hình cho Tổng thống Pháp Gaston Doumergue giảm án tử hình từ 39 người bị kết án như đã đề nghị; 26 người ra khổ sai chung thân, chỉ còn lại 13 người y án tử hình. Chiều ngày 16.06.1930 mười ba tử tù được rời hỏa lò Hà Nội chuyển lên Yên Bái, Nguyễn Thái Học vừa đi vừa nói: Chúng tôi đi trả nợ nước đây. Các anh em còn sống cứ công nào việc ấy nhé! Cờ độc lập phải nhuộm bằng máu ! Hoa tự do phải tưới bằng máu! Tổ quốc còn cần đến sự hy sinh của con dân nhiều nữa, nhiều nữa! Rồi thế nào cách mạng cũng thành công! Thôi kính chào các anh ở lại.

Trên đường đi Nguyễn Thái Học vui vẽ không lo sợ trước máy chém đang chờ Anh vẫn ngâm bài thơ Pháp văn nói lên lòng yêu nước, chết cho Tổ quốc đó là số phận đẹp đẽ nhất..

Mourir pour sa patrie
C’ est le sort le plus beau
Le plus digne d’ envie…

Lúc 5 giờ sáng 17.06.1930 cùng với 12 đồng chí lên đoạn đầu đài .Nguyễn Thái Học người thứ 13, bị chém đều hô Việt nam Vạn tuế! Quan tài của 13 Anh Hùng nầy mai táng dưới chân đồi, bên cạnh đền thờ Trần Quán, cách ga Yên Bái độ một km. Ngày hôm sau 18.06.1930 tại ngã ba Bồ Ðề, chỗ rẽ vào làng Phù Tang người vợ của Nguyễn Thái Học chị Nguyễn Thị Giang(?-1930) về thăm thân mẫu Nguyễn Thái Học xong, làm bài thơ trước khi dùng súng lục tự sát, trong lúc chị mang thai được mấy tháng, chị không muốn giặc Pháp bắt làm nhục, người chị ruột là Nguyễn thị Bắc cũng hy sinh cao cả, không khác gì hai Bà Trưng để lại nét son hào hùng của nữ nhi nước Việt. Nguyễn thị Giang lưu lại bài thơ tuyệt mạng

Thân không giúp ích cho đời
Thù không trã được cho người tình chung
Dẫu rằng đương độ trẻ trung
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh
Con đường tiến bộ mông mênh,
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết bao?
Bây giờ hết kiếp thơ đào
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây
Dẫu rằng chút phận thơ ngây.
Số đồng chí đã có ngày ghi tên
Chết chi dạ những buồn phiền
Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình.
Quốc kỳ phất phới trên thành,
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ
Cực lòng lỡ bước sa cơ,
Chết sầu chết thảm có thừa xót xa
Thế ru? Ðời thế ru mà?
Ðời mà ai biết, người mà ai hay..

Cuộc tổng nổi dậy của VNQDÐ thất bại bị đàn áp tàn bạo hàng trăm người giết, hàng ngàn người bị tù đày, Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí lên đoạn đầu đài, nhưng vụ án Yên Bái khơi động lòng yêu nước, đốt sáng ngọn lửa đấu tranh của toàn dân Việt Nam trên khắp nẻo đường đất nước.

Chúng ta cùng đốt nén nhang để tưởng niệm 13 Liệt Sĩ: Bùi Tử Tuần, Bùi văn Chuẩn, Nguyễn An, Hà Văn Lạo, Ðào Văn Nhít, Ngô Văn Du, Nguyễn Ðức Thịnh, Nguyễn Văn Tiềm, Ðỗ Văn Sứ, Bùi văn Cửu, Nguyễn Nhu Liên, Phó Ðức Chính, Nguyễn Thái Học và những anh hùng vô danh nằm xuống cho đại nghiã chống giặc bảo vệ quê hương.

© Đàn Chim Việt
———————————————–

Tài liệu Tham Khảo:
-Những ngày chưa quên của Ðoàn Thêm và Một Cơn Gió Bụi của Trần Trọng Kim)
-Bộ Quân sử QLNVCH
-Những kỳ án trong lịch sử tác giả Trần Gia Phụng NxB Non nước Toronto
-Việt Nam quôc Dân Ðảng tác giả Hoàng văn Ðào NxB Sàigon
-Nguyễn Thái Học tác giả lê Minh quốc NxB Văn Nghệ

http://www.danchimviet.info/archives/60083
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Tôn Trọng Luật Biển?

Tác giả : Trần Khải
Luật Biển vừa được Quốc Hội Việt Nam thông qua. Những chi tiết của bản văn chưa được phổ biến, nhưng được biết rằng Luật Biển khẳng định các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền Việt Nam. Trung Quốc ngay lập tức phản đối dữ dội.

Vấn đề là, cụ thể bản văn Luật Biển sẽ viết những gì? Tại sao chủ quyền thiêng liêng của đất nước lại phải giấu biến đi, hay trì hoãn phổ biến – có phảỉ là còn thương lượng gì với Bắc Kinh để rồi sẽ sửa đổi bản văn? Nhưng, câu hỏi cốt tủy là, cả Bắc Kinh và Hà Nội đều là những chế độ không biết tôn trọng những gì họ đã ký kết (thí dụ, Hiệp Định Paris, hay Tuyên Ngôn Nhân Quyền LHQ đều bị nhà nước Hà Nội vi phạm), vậy thì Luật Biển có giá trị gì? Hay chỉ để xoa dầu cù là cho những người bất mãn?

Cũng không phảỉ tình cờ, một ngày sau khi Luật Biển được thông qua, một tàu Hải Quân Hoa Kỳ tiến vào Đà Nẵng. Như thế, Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn đã tính toán những gì?

Mà tàu này không phải chỉ ghé bến vui chơi như những tàu trước đầy đã thăm VN, mà tới để hợp tác nghiên cứu và huấn luyện nghiên cứu Biển Đông, nghĩa là có công tác gắn liền với Biển Đông.

Bản tin VTC cho biết, vào sáng 22/6, tàu nghiên cứu khoa học Roger Revelle (Hoa Kỳ) đã cập cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), chính thức bắt đầu chương trình hợp tác nghiên cứu về hải dương học biển Đông Việt Nam. VTC viết:

“Theo đó, tàu Roger Revelle sẽ thực hiện 2 đợt tập huấn về nghiên cứu hải dương học và sử dụng các thiết bị nghiên cứu hiện đại cho hơn 40 nhà nghiên cứu khoa học thuộc Bộ KH-CN và các trường ĐH của Việt Nam trong thời gian 1 ngày rưỡi/đợt.

Hoạt động nằm trong khuôn khổ "Chương trình nghiên cứu hợp tác chung về hải dương học biển Đông Việt Nam và tương tác Biển và lục địa” giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Văn phòng Nghiên cứu Hải quân Hoa Kỳ....

Dự kiến, tàu Roger Revelle sẽ lưu lại Đà Nẵng trong thời gian 7 ngày và rời Đà Nẵng vào ngày 22-29/6/2012.”

Cho dù có những khiếm khuyết thế nào đi nữa, riêng lời công nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa trong Luật Biển cũng là một dấu mốc lớn trong quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh: leo thang giành chủ quyền Biển Đông.

Bản tin RFI cho biết, hôm Thứ Năm 21/06/2012 Quốc hội Việt Nam vừa thông qua Luật Biển, trong đó khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Ngay lập tức Trung Quốc đã lên tiếng kịch liệt phản đối. Theo báo chí Việt Nam, Luật Biển đã được 495/496 đại biểu bỏ phiếu tán thành.

RFI ghi nhận, Đại biểu Quốc hội đồng thời là nhà sử học Dương Trung Quốc đã xác nhận với AFP việc Quốc hội Việt Nam hôm Thứ Năm đã thông qua Luật Biển, trong đó có đoạn «khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa». Tuy nhiên, ông cho biết bộ luật này chưa được công bố trong nhiều ngày tới. Còn theo báo chí Việt Nam, Luật Biển đã được 495/496 đại biểu bỏ phiếu tán thành, đạt tỉ lệ 99,2%.

Ông Dương Trung Quốc nói thêm: «Việc thông qua Luật Biển hôm nay là rất quan trọng đối với Việt Nam. Luật này sẽ củng cố việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa». Ông nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên Việt Nam có được một bộ luật về Biển Đông.

Ngay lập tức Trung Quốc đã kịch liệt phản đối. Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân đã triệu đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, ông Nguyễn Văn Thơ, lên để chính thức trao kháng nghị. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi trong cuộc họp báo hôm Thứ Năm tuyên bố, Trung Quốc cực lực phản đối và kiên quyết bác bỏ việc Việt Nam xem cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển bao quanh là lãnh thổ Việt Nam.

Câu hỏi chúng ta thắc mắc là, lá phiếu thứ 496 không tán thành Luật Biển là của ai? Không có thông tin nào về nhân vật bí ẩn này.

Ngay hôm Thứ Sáu 22/6/2012, trên báo China Daily, bản tin của phóng viên Zhou Wa nói rằng Luật Biển VN, trong đó tuyên bố chủ quyền chồng lên “các đảo Trung Quốc,” sẽ “nghiêm trọng gây thiệt hại quan hệ giữa VN-TQ.”

Bản tin cũng ghi lời Ruan Zongze, chuyên gia trong viện nghiên cứu China Institute of International Studies, đấu tố VN là Luật Biển VN không tranh được chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa.

Ruan cũng hù dọa là, Việt Nam có thể nghĩ là Mỹ ủng hộ lập trường VN, nhưng “đó là ngộ nhận.”

Thực tế, Hà Nội không có lựa chọn nào đẹp hơn là thông qua Luật Biển. Bởi vì nỗi đau khổ của ngư dân Việt đã tràn bờ.

Bản tin Infonet hôm Thư´ Ba 19/06/2012 đã kể về sự áp bức của tàu TQ nơi biển VN qua bản tin nhan đề “Thêm nhiều tàu cá gặp nạn do bão và tàu lạ.”

Bản tin này viết:

“Theo Trung tâm Phòng chống lụt bão miền Trung - Tây Nguyên (đóng tại Đà Nẵng), bão số 2 và cả tàu lạ mang ký hiệu có chữ Hán đã khiến thêm nhiều tàu đánh cá của ngư dân miền Trung gặp nạn khi đang hoạt động đánh bắt hải sản trên biển Đông.

Sáng 19/6, Trung tâm Phòng chống lụt bão (PCLB) miền Trung - Tây Nguyên (đóng tại Đà Nẵng) cho hay, theo báo cáo mới nhất của Ban chỉ huy PCLB - Tìm kiếm cứu nạn các tỉnh, thành từ Quảng Trị đến Phú Yên, tính đến 22 giờ đêm qua (18/6) đã kiểm đếm và thông báo cho 23.986 tàu, thuyền đang hoạt động trên biển biết vị trí, hướng đi chuyển của bão số 2 để chủ động phòng tránh...

Tại Bình Định, tàu cá BĐ95289TS của ông Vũ Văn Vinh với 10 ngư dân đang hoạt động đánh bắt ở vùng biển 11034 vĩ độ Bắc, 112000 kinh độ Đông thì bị tàu lớn có ký hiệu MFHL có 02 chữ Hán phía sau đâm mạnh lúc 9g15 ngày 15/6. Tàu BĐ95289TS bị vỡ vỏ, hỏng nặng. Đến 15g cùng ngày, tàu này đã được tàu BĐ51069TS đến lại dắt vào bờ. Hiện hai tàu đang trên đường về cảng Nha Trang.”

Tàu lạ có chữ Hán? Có phải tàu của “đế quốc Mỹ” hóa trang để gây chia rẽ tình anh em xã hội chủ nghĩa “vĩ đại”?

Luật Biển VN hình thành trong hoàn cảnh cả nước bị bao vây bởi những tàu lạ có chữ Hán như thế. Thông qua Luật Biển là một bước đi đúng.

Nhưng cả Bắc Kinh và Hà Nội đều biết tẩy nhau rồi: không ai tôn trọng bất kỳ văn bản luật pháp nào hết.

Và chúng ta đành phải chờ để đọc kỹ bản văn, và các diễn tiến tiếp theo vậy. Nhưng cần nhớ lời ông Thiệu, rằng đừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Thời sinh viên ở Sài Gòn

Trần Trung Đạo

- Các anh các chị, có thể không phải là thủ phạm nhưng không thể phủ nhận là những người đã góp phần gây ra những điêu tàn đổ nát hôm nay. Xin đừng im lặng nữa. Nếu không đủ sức để hành động, hãy viết, hãy nói, hãy kể lại cho các thế hệ trẻ những bài học dù thất bại, những ước mơ dù bị phản bội, những kinh nghiệm dù được đổi bằng xương máu của mình. Là những người có lương tâm, hôm nay, không có tòa án nào kết án các anh chị nặng bằng tòa án lương tâm của chính các anh chị. Là những người vốn nặng tình cảm, hôm nay, không có tình cảm nào cấu xé các anh chị bằng tình cảm các anh chị đã từng dành cho đất nước. Xã hội Việt Nam băng hoại, trụy lạc, tha hóa ngày nay là chiếc gương, các anh chị hãy soi vào đó để thấy lại chính mình...


Nhân dịp đọc bài viết của Hoàng Thanh Trúc trên Dân Làm Báo và qua đó đọc thêm các bài viết khác Không hổ thẹn về một thời trai trẻ của một nhóm tác giả và Cuộc họp mặt “có một không hai”của Huỳnh Tấn Mẫm trên báo Tuổi Trẻ sau buổi hội thảo “tầm vóc và ý nghĩa của phong trào đấu tranh của sinh viên – học sinh trí thức, văn nghệ sĩ… tại các đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975” được tổ chức tại Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) trong hai ngày 19 và 20-5-2012, tôi chợt nhớ lại một bài thơ tôi viết từ lâu lắm cũng có nhắc đến các anh chị này.

Bài thơ Đêm cuối đi qua trường Luật viết ra trong những ngày mới đến Mỹ nhưng bắt nguồn từ những ý hiện lên trong một đêm mưa tháng Sáu 1981 ở Sài Gòn. Tôi không ghi lại ngày tháng viết bài thơ nhưng có in trong tập thơ đầu tay ở Mỹ năm 1991. Bài thơ khá dài, dưới đây là một đoạn có liên quan đến bài viết này:

Trời Sài Gòn tháng Sáu mưa đêm
Như từng nhát dao chém xuống đời vội vã
Tôi ra đi dặn lòng quên tất cả
Những hẹn thề toan tính thuở hoa niên

Bốn phương trời lưu lạc một bầy chim
Đã lạc lối về sông Dương Tử
Tổ quốc Việt Nam
Bốn nghìn năm lịch sử

Còn lại hôm nay là những tang thương
Tôi nhìn qua bên góc kia đường
Tấm bảng Hội Liên Hiệp Sinh Viên
Vẫn còn đong đưa trên vách

Chợt nhớ ra tên các chị các anh
Những Huỳnh Tấn Mẫm, Trịnh Đình Ban
Những Nguyễn Hoàng Trúc, Võ Như Lanh

Các anh, các chị
Giờ nầy chắc vẫn còn đang thức
Để viết xong bài tự kiểm trước nhân dân
Nhớ viết thật nhiều về những chiến công

Đã đốt bao nhiêu xe Mỹ Ngụy
Đã bán đứng bao nhiêu bè bạn anh em
Đã cắm được bao nhiêu cờ mặt trận
Tôi không hề trách các anh

Vì chẳng bao giờ ai trách
Những tên cầm cờ, khiêng kiệu
Hãy cố cong lưng và thu mình thật nhỏ
Hãy biết dại khờ và biết ngây ngô

“Độc lập, Hòa Bình, Thống Nhất, Tự Do”
Phải nhớ luôn luôn là tất yếu
Kể cả chuyện tình yêu trai gái
Cũng phải học thuộc lòng

Định nghĩa mới hôm nay
Đừng bao giờ nhắc những chuyện không may
Như những Ủy Ban Đòi Quyền Sống
Những Phong Trào Dân Chủ Tự Do

Dân Việt Nam bây giờ
Không có gì đáng để lo
Hơn những chuyện cháo rau, khoai sắn
Và không có một chút quyền

Dù chỉ là quyền để than thân trách phận.

Tôi từ Đà Nẵng vào Sài Gòn cuối tháng Tám 1972. Nơi tôi ghi danh học đầu tiên là trường Luật. Có thể nói tôi là một trong những tân sinh viên nộp đơn vào năm thứ nhất niên khóa 1972-1973 trễ nhất. Ghi danh vào trường Luật không cần phải thi, chỉ cần trình bằng tốt nghiệp Tú Tài phần hai là đủ. Phòng ghi danh là một khu nhà lụp xụp phía sau trường chung một hàng rào với đại học Kiến Trúc. Tôi được phát một thẻ sinh viên tạm. Số sinh viên của tôi dài tới năm số. Tôi không nhớ chính xác nhưng hai số thứ tự đầu đã lên đến trên mười ngàn. Trường Luật, được chính thức thành lập dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa, là một trong những trường già nua về cả hình thức lẫn chiều dài lịch sử, trong số các trường đại học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Trường không có nhiều đất trống ngoại trừ khoảng sân không mấy rộng giữa trường. Cổng trường còn lại những viên ngói đỏ rêu phong từ khi mới thành lập. Giảng đường chỉ là những phòng học dài nối nhau. So với các trường trung học như Gia Long, Petrus Ký, trường đại học Luật Khoa Sài Gòn nhỏ hẹp và chật chội hơn nhiều. Vì số thẻ sinh viên của tôi cao trên mười ngàn nên có lần tôi viết câu thơ mô tả trường Luật “mười ngàn sinh viên trong giảng đường vài trăm chỗ / học suốt năm không thấy mặt thầy”.

Công việc đầu tiên của một tân sinh viên sau khi ghi danh, nhận lớp, là đi mua “cua” tức sách giáo khoa giảng dạy của các thầy, từ dân luật, hình luật đến cổ luật. Vì hiếm khi gặp mặt thầy, không có “cua” là rớt. Sau khi ghi danh ở Luật, tôi sang ghi danh Ban Kinh Tế khoa Khoa Học Xã Hội ở đại học Vạn Hạnh. Khoa Khoa Học Xã Hội ở Vạn Hạnh phải thi vào nhưng cũng chỉ thi cho đúng thủ tục vì tôi không nghe ai thi rớt vào khoa Khoa Học Xã Hội ở đại học Vạn Hạnh bao giờ.

Trường Luật chật hẹp mà sinh viên lại quá đông, chúng tôi thường la cà trong những quán cốc. Nhiều nhất là chung quanh công trường Quốc Tế, thường gọi là Hồ Con Rùa, bên ngoài trụ sở “Tổng Hội Sinh Viên” số 4 Duy Tân hay góc Thư Viện Quốc Gia trên đường Gia Long. Các quán cà phê thường không có tên. Ngoài quán cà phê Bà Vú bên ngoài đại học Vạn Hạnh, phần lớn các quán chung quanh trường Luật do sinh viên tự đặt tên bằng địa điểm để dễ hẹn nhau. Số sinh viên ghi danh vào Luật cao nhưng bỏ trường ra đi sớm rất đông và thi rớt cũng nhiều. Trong số những người bỏ cuộc có tôi. Tôi học cả hai trường và vì kỳ thi cuối khóa cùng ngày nên tôi không theo đuổi việc học Luật hết năm thứ nhất. Bạn bè tôi phần đông học Luật nên mỗi tuần tôi đều trở lại trường. Ở đó, dưới những gốc me, vỉa phố, bên những ly cà phê đen, cà phê sữa, trên những ghế thấp, cạnh những chiếc bàn vuông, chúng tôi để cho những thao thức về chiến tranh và số phận đất nước có dịp tuôn trào. Tuổi đời còn rất trẻ nhưng chiến tranh đã làm chúng tôi già sớm hơn tuổi mười tám của mình.

Khi sang Vạn Hạnh tôi có dịp học với thầy Trần Văn Tuyên môn Chính Trị Quốc Nội và thầy Vũ Quốc Thông môn Luật Hiến Pháp Đối Chiếu. Đây là hai môn học tôi thích nhất. Luật Sư Trần Văn Tuyên không mang theo sách vở hay tài liệu giảng dạy gì và những bài giảng của thầy là kinh nghiệm sống trong thời hoạt động chính trị. Vì thầy dạy không theo giáo khoa nên giảng đường lúc nào cũng đông. Sinh viên phải có mặt để ghi lời thầy giảng. Tôi thường tìm cách gần gũi thầy Trần Văn Tuyên để hỏi những chuyện đất nước trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954. Thầy Trần Văn Tuyên đơn giản, tóc cắt cao và thường mặc áo sơ-mi trắng ngắn tay. Thầy Vũ Quốc Thông thì khác, lúc nào cũng đường bệ, chuẩn bị kỹ càng và luôn đến lớp với một cặp-táp (le cartable) đầy tài liệu giảng dạy. Tôi hay thắc mắc với thầy Vũ Quốc Thông về cách dùng chữ. Ví dụ thầy dùng chữ “Chủ nghĩa Tập Sản” thay cho “Chủ nghĩa Cộng Sản”. Tôi cho rằng khái niệm “Chủ nghĩa Tập Sản” hay “Chủ nghĩa Bình Sản” được nhắc đến nhiều trước năm 1975, chỉ là một phạm trù thuần kinh tế, nghĩa hẹp nhiều so với chủ nghĩa Cộng Sản vốn là cả một hệ thống triết học giải thích toàn bộ đời sống con người, xã hội và vũ trụ. Thầy chăm chú lắng nghe ý kiến nhưng không thay đổi cách gọi “tập sản” của mình. Thầy Vũ Quốc Thông dạy tận tụy và trích dẫn nhiều từ các sách Pháp, trong đó có cả Tuyển tập Marx-Engel. Thầy chúng tôi, Giáo sư Trần Văn Tuyên chết trong tù Cộng Sản năm 1976 và Giáo sư Vũ Quốc Thông chết năm 1987, chỉ một thời gian ngắn sau khi ra khỏi nhà tù. Tình nghĩa thầy trò ở miền Nam, dù tiểu học, trung học hay cả đại học đều thắm thiết, thân thương, đáng kính, đáng yêu và đáng nhớ. Tôi cố gắng rất nhiều nhưng không phải là người tự học. Kiến thức của tôi là của các thầy cô trao lại. Đứa sinh viên năm thứ nhất ngày xưa không còn trẻ nữa nhưng mỗi khi nghĩ đến các thầy cô tự nhiên thấy mình nhỏ lại thật nhiều.

Thời gian từ năm 1973 đến năm 1975 là thời gian yên tĩnh. Chương trình bình định đại học khá thành công. Mùa hè năm 1973, một nhóm sinh viên chúng tôi đại diện cho trường tham dự trại hè sinh viên toàn quốc do Bộ Giáo Dục và Thanh Niên tổ chức ở Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Đông sinh viên du học cũng về tham dự trại. Dĩ nhiên không có “lãnh tụ sinh viên” đường phố nào. Đó là những ngày vui nhất của mùa hè. Không chỉ sinh viên Sài Gòn, Vạn Hạnh, Minh Đức mà cả Huế, Cần Thơ, Đà Lạt và các trường đại học tư mới thành lập cũng cử phái đoàn tham dự. Buổi tối chúng tôi quây quần trong sân cờ của trường Thiếu Sinh Quân trao đổi kinh nghiệm học hành, chuyện đất nước và hát nhạc Du Ca như có lần tôi đã kể lại trong bài viết Khi bài hát trở về. Ngoại trừ các nhóm chống chính phủ bốn mùa của các bà Ni Sư Khất Sĩ Huỳnh Liên, Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành, năm 1973, các phong trào sinh viên tranh đấu ở Sài Gòn do Cộng Sản tổ chức phần lớn đã được dập tắt. Các “lãnh tụ sinh viên học sinh” mặt nổi như Huỳnh Tấn Mẫm, Trịnh Đình Ban, Trần Thị Lan, Lê Văn Nuôi, Võ Như Lanh, Nguyễn Xuân Lập v.v... đã bị kết án và vừa được trao trả tù binh.

Nhắc đến chuyện trao trả tù binh không thể quên tác phẩm Tù Binh và Hòa Bình của nhà văn Phan Nhật Nam, trong đó anh dành trọn một chương để viết về những người mà anh gọi là “Những người lỡ làng”. Hôm đó, buổi chiều ngày 27-3-1973, những “lãnh tụ sinh viên” sắp được trao trả về phía Cộng Sản đang tụm nhau ngồi trong một chiếc lều để chờ được nhận. Những bài hát của Phạm Thế Mỹ, Trịnh Công Sơn được cất lên từ chiếc lều nhỏ. Họ gồm Võ như Lanh, Trịnh đình Ban, Cao thị quế Hương, Trần thị Lan, Trần thị Huệ, Nguyễn thành Công. Không ai biết họ hát để nung cao khí thế hay hát để che đi sự lo âu trước tương lai mờ mịt núi rừng đang chờ đợi họ. Trong quan điểm đấu tranh giai cấp, dù các anh chị là đảng viên Cộng Sản cũng chỉ là đảng viên thành phố, gốc tiểu tư sản, vừa gia nhập và không được tin tưởng hoàn toàn. Nhà văn Phan Nhật Nam tả cảnh anh Nguyễn Thành Công khi tiếp xúc với viên Đại Tá Hungary trong “đôi mắt có vẻ lạc thần, giọng nói đã đượm màu mệt mỏi”. Anh Phan Nhật Nam viết đoạn đó thật cảm động. Anh không giận hay trách móc những tù binh gốc sinh viên anh sắp sửa trao trả mà cảm thông cho sự bồng bột tuổi trẻ của họ nhiều hơn:

“Phải, tôi hiểu rằng nhóm sinh viên đang ngồi ở dưới tàn cây cao su, đang gảy nên những âm thanh trầm lắng với tiếng hát nhiệt thành trong sáng kia quả tình không thể nào là những người cộng sản được. Họ không thể nào là những người cộng sản chuyên chính, dù cho họ đã vào khu học tập, dù đã là cán bộ nội thành làm nhiệm vụ sinh viên vận theo đường lối và kỹ thuật đấu tranh phát xuất từ Cục R, kiểm soát và điều hành bởi ủy viên thanh niên thuộc thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn. Họ cũng không phải là cộng sản dù có chứng minh thư xác nhận là thành viên của đảng lao động, hoặc thành viên của đoàn thanh niên trong mặt trận giải phóng… Vì tiếng hát, điệu đàn, nét mặt và lời nói tất cả vẫn là phản ảnh của một hoài bão, hoài bão bất diệt của tuổi trẻ. Muốn thoát khỏi hoàn cảnh bít bùng của đời sống hiện tại, đấu tranh và xây dựng một quê hương rạng rỡ tốt đẹp hơn. Và chính phát xuất từ ý định đẹp đẽ mơ tưởng này, hoài bão của họ đã được đồng hóa với mục tiêu chiến thuật đoản kỳ của cộng sản. Và họ trở thành loại cán bộ tiền phong đắc lực thực hiện những mục tiêu hạn chế trong đường phố Sài Gòn, nơi Giảng Đường, trong lòng cộng đồng tuổi trẻ Việt Nam.”

Trong bài viết Những người đi tìm tổ quốc trên talawas năm 2006, tôi cũng viết về các anh chị đó:

“Thời sôi nổi trong giảng đường đại học, trên đường phố Sài Gòn đã là dĩ vãng, giữa rừng cao su Lộc Ninh họ là những thanh niên thành phố đang bước vào một cuộc đời mới ở một nơi hoàn toàn xa lạ. Như những con cá bị vớt khỏi sông và bỏ vào trong chậu, ngơ ngác, rụt rè, sợ hãi. Họ không còn là bè bạn của nhau, không còn gọi nhau bằng tên, bằng thứ mà sẽ là đồng chí. Đồng chí cũng đồng nghĩa với nghi ngờ, kiếm soát và dò xét lẫn nhau. Họ hối hận không? Họ thật sự có phải là Cộng sản không? Họ có phân biệt được, dù chỉ là căn bản, những điểm khác nhau giữa xã hội mà họ vừa bỏ lại và xã hội mà họ đang tìm đến không? Không ai hỏi và họ cũng sẽ không trả lời thật với lòng. Có những tâm sự, sống giữ kín chết mang theo, chứ không bao giờ chia sẻ với ai. Hồi xưa tôi cũng có cái nhìn khắt khe về những người bỏ đi. Các anh có quyền biểu tình, có quyền chống độc tài, chống tham nhũng, chống độc diễn nhưng khi bỏ đi sang hàng ngũ của những người ném lựu đạn vào quán ăn, pháo kích vào trường học, đặt mìn trên quốc lộ, các anh đã phản bội quyền sống trong hoà bình của nhân dân miền Nam. Giống như những đứa con lớn lên trong một gia đình nghèo, có bà mẹ bịnh tật, có người cha say rượu hay đánh đập con cái và còn một bầy em nhỏ dại. Thay vì khuyên răn người cha, săn sóc người mẹ, che chở cho đám em khờ, các anh lại bỏ đi, và chẳng những đã bỏ đi mà còn dắt kẻ gian về đốt phá nhà mình.”

Ngày nay, các tài liệu của Đảng đều xác nhận hoạt động của các phong trào chống đối chính quyền VNCH chẳng phải là tự phát chống bất công, độc tài, độc diễn gì mà đều được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành Đoàn Thanh Niên Cộng Sản trực thuộc Thành ủy Sài Gòn Gia Định nhắm vào mục tiêu duy nhất là đánh sụp chế độ Cộng Hòa non trẻ ở miền Nam và áp đặt chế độ Cộng Sản độc tài toàn trị trên phạm vi cả nước. Tất cả tổ chức, phong trào, tôn giáo, đoàn thể đều được Đảng khai thác, vận dụng một cách tinh vi để phục vụ cho mục đích cuối cùng của đảng Cộng Sản.

Những tên tuổi, hình ảnh được báo chí đối lập và thân Cộng ở Sài Gòn đánh bóng mà nhà văn Phan Nhật Nam nhắc đến chỉ là những khuôn mặt đấu tranh công khai trên đường phố Sài Gòn. Họ không biết những đảng viên Cộng Sản nòng cốt thực sự điều khiển phong trào từ bóng tối là ai. Những kẻ mài dao giết người thường trốn kỹ trong rừng. Những kẻ trao lựu đạn cho sinh viên để ném vào nhà hàng, trường học, chợ búa thường giấu mặt. Họ không gọi nhau bằng tên thật, bằng mày tao thân tình trong quán cà phê bên ngoài khuôn viên đại học Văn Khoa, Luật Khoa mà gọi bằng bí danh, bằng thứ tự.

Những “anh ba”, “chị năm” đó bây giờ đang sống trong những biệt thự cao sang, có kẻ hầu người hạ và những chàng sinh viên một thời bồng bột nay chỉ là những “kẻ lạ của hoàng hôn” “lặng nghe những dư âm sâu lắng của quá khứ đọng lại, rồi trôi theo những món ăn với một vị đắng đắng” như anh Hạ Đình Nguyên, một trong những “lãnh tụ phong trào sinh viên” đã viết trong bài Về một vị đắng sau buổi họp mặt kỷ niệm “Phong trào Đấu tranh của Thanh niên-Sinh viên-Học sinh Sài gòn” năm ngoái.

Khi tôi vào năm thứ nhất, nhiều trong số anh chị tham gia xuống đường vài năm trước vẫn còn học năm thứ ba, thứ tư, và qua họ tôi biết con số sinh viên tham gia biểu tình không đông như báo chí thân Cộng mô tả và cũng không mang tầm vóc “quốc tế” chỉ với vài chàng thanh niên phản chiến Mỹ như bài ký thổi phồng của anh Huỳnh Tấn Mẫm. So với nhiều chục ngàn sinh viên liên khoa thuộc đại học Sài Gòn và các đại học tư tại miền Nam thời đó, vài trăm anh chị bị xúi dục xuống đường chỉ là con số nhỏ. Thành thật mà nói, phần đông những sinh viên đi biểu tình là những người nặng tình cảm dành cho đất nước nhưng vô cùng nông nỗi. Các anh chị bất mãn trước các bất công trong xã hội và phẩn uất khi nhìn cảnh điêu tàn đổ nát do cuộc chiến gây ra nhưng không nhận thức đúng nguyên nhân sâu xa của thực trạng bi thảm đang diễn ra trên đất nước và không đủ trưởng thành để cân nhắc trước một chọn lựa sinh tử của đời mình.

Tuổi trẻ ở đâu cũng thế, nhiệt tình, phản kháng, cương trực, vô tư, nhưng như tôi có lần đã viết, tại Việt Nam những đặc tính đó của tuổi trẻ bị Đảng Cộng sản lợi dụng tận cùng, không chỉ tiếng hát lời ca, mà còn cả thịt xương và từng giọt máu.

Bài hát quen thuộc trong giới sinh viên trước năm 1975 nói lên một mơ ước chân thành của thế hệ trẻ “Rồi hòa bình sẽ đến, đến cho dân tộc Việt, đôi bồ câu trắng rủ nhau về làng xưa…”, nhưng sau năm 1975, đàn bồ câu đã biến thành bầy kiến gặm nhấm vết thương dân tộc đang mưng mủ. Tiếng hát của các anh chị trên đường phố được thay bằng những tiếng rên của những bà mẹ đang bán máu ở các nhà thương. Lời ca của các anh chị sau được thay bằng là tiếng khóc của em thơ trên các vùng kinh tế mới. Đất nước chìm đắm trong độc tài và đói khát. Hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, chết trên biển cả, chết dưới bàn tay hải tặc.

Các anh các chị, có thể không phải là thủ phạm nhưng không thể phủ nhận là những người đã góp phần gây ra những điêu tàn đổ nát hôm nay. Xin đừng im lặng nữa. Nếu không đủ sức để hành động, hãy viết, hãy nói, hãy kể lại cho các thế hệ trẻ những bài học dù thất bại, những ước mơ dù bị phản bội, những kinh nghiệm dù được đổi bằng xương máu của mình. Là những người có lương tâm, hôm nay, không có tòa án nào kết án các anh chị nặng bằng tòa án lương tâm của chính các anh chị. Là những người vốn nặng tình cảm, hôm nay, không có tình cảm nào cấu xé các anh chị bằng tình cảm các anh chị đã từng dành cho đất nước. Xã hội Việt Nam băng hoại, trụy lạc, tha hóa ngày nay là chiếc gương, các anh chị hãy soi vào đó để thấy lại chính mình.

Chế độ dân chủ non trẻ mà các anh chị góp phần đánh gục, đã quỵ xuống sáng ngày 30-4-1975 nhưng không chết. Và tại Việt Nam hôm nay, các gía trị dân chủ quý giá đó không chỉ là của miền Nam thôi, không chỉ là của Việt Nam Cộng Hòa thôi mà đang là tài sản, hành trang và mục tiêu chung của cả dân tộc.

Dân chủ là khúc khải hoàn ca đang được nhân loại cất vang trên mọi nơi của quả địa cầu, từ Bắc Phi sang Đông Á nhưng không có nghĩa chỉ mới bắt đầu vài năm qua mà từ nhiều ngàn năm trước. Có người bàn về dân chủ như một mục đích đòi hỏi nhiều tiền đề và điều kiện. Điều đó không đúng. Dân chủ không phải là hải đảo xa xôi phải cần ghe tàu, lương thực, thời gian mới đạt tới nhưng là một thực tế gần gũi trước mắt và thậm chí có thể nắm bắt trong tay. Dân chủ không phải món quà của ai ban cho khi đến tuổi trưởng thành mà là quyền làm người bắt đầu từ trong bụng mẹ.

Quốc gia Mông Cổ, một quốc gia không có truyền thống dân chủ, là một ví dụ. Nhiều người cho Mông Cổ khó có thể trở thành một nước dân chủ sau một giai đoạn phong kiến hàng ngàn năm nối tiếp bằng một chế độ Cộng Sản chuyên chính chư hầu Liên Xô suốt hơn bảy chục năm. Khi tôi viết bài này, nhân dân Mông Cổ đánh dấu tròn 20 năm được sống dân chủ. Đôi cánh thiên thần đó đã giúp đưa Mông Cổ từ một quốc gia cô lập, bất ổn cùng hạng với Afghanistan, Nigeria và Somalia trở thành một trung tâm du lịch an toàn và đầy hấp lực văn hóa. Hai mươi năm trước đường phố thủ đô Ulaanbaatar gần như hoang vắng nhưng ngày nay tấp nập và phồn vinh. Theo tạp chí Economist, dù kinh tế thế giới còn đầy khó khăn, mức phát triển kinh tế của Mông Cổ trong ba tháng giữa 2011 đã tăng 21% so với cùng thời kỳ trong năm trước đó. Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dự đoán kinh tế Mông Cổ sẽ tăng trung bình 14% từ 2012 đến 2016. Là một quốc gia trong vị trí trái độn với vỏn vẹn 2.5 triệu dân và không có chiều dày truyền thống dân chủ như nhiều quốc gia khác, Mông Cổ sẽ còn gặp nhiều khó khăn nhưng cơ chế chính trị mới giúp cho người dân sống yên tâm trong tự do, thanh bình, no ấm và nỗ lực vì một tương lai tươi đẹp cho con cháu họ.

Việt Nam thì khác.

Sau 37 năm, tiếng súng đã vắng đi trên đất nước Việt Nam, non sông liền một dãi nhưng người dân vẫn sống trong nỗi bất an lo sợ, hàng trăm ngàn người con gái Việt phải rời bỏ quê hương đi ăn mày, làm điếm, ở đợ khắp thế giới, phần lớn trong số hơn hai triệu người Việt hải ngoại vẫn còn bị xem là “thành phần phản động bám theo chân đế quốc”, và trong nước, những quyền căn bản như ngôn luận, đi lại, thờ phụng của người dân vẫn chưa có được, hàng ngàn người yêu nước vẫn còn bị tù đày. Đó là sự thật, không ai tuyên truyền ai, không ai xúi giục ai.

Sau 37 năm, mấy chục ngàn thân xác thanh niên làm bia đỡ đạn cho đảng CSVN trong chiến tranh biên giới năm 1979, hàng ngàn xác thanh niên Việt Nam bị đốt cháy thành than trong trận Lão Sơn 1984, hàng trăm xác thanh niên Việt chìm sâu quanh bờ đảo Gạc Ma năm 1988, hàng trăm ngư dân Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi bị bắn thủng ngực, hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thân yêu như đôi mắt Việt Nam bị đã bị kim Trung Quốc tẩm thuốc độc đâm sâu và đang chảy máu. Đó là sự thật, không ai tuyên truyền ai, không ai xúi giục ai.

Nhìn những gì đang xảy ra trên thế giới đã làm những người Việt đang quan tâm đến vận mệnh đất nước không khỏi cảm thấy thẹn thùng. Dù ban ngày vẫn phải sống bằng thái độ tích cực, trả lời phỏng vấn bằng ngôn ngữ tự tin nhưng ban đêm thế nào cũng gác tay lên trán âm thầm tự hỏi tại sao Liên Xô, Đông Âu cho tới Bắc Phi, Miến Điện nhưng viễn ảnh một Việt Nam tự do, dân chủ, hùng mạnh vẫn còn là một mục tiêu chưa đến. Nỗi lo lắng và niềm đau xót này không phải của riêng ai mà của tất cả người Việt Nam còn biết xót xa, còn biết hổ thẹn trước sự lạc hậu của Việt Nam so với đà tiến quá nhanh của nhân loại.

Một câu hát trong bài Tự Nguyện quen thuộc trong giới sinh viên trước năm 1975 “nếu là hoa, tôi sẽ làm một đóa Hướng Dương”, chưa bao giờ hơn lúc này Việt Nam cần những người yêu nước biết vươn cao, đứng thẳng như những cành Hướng Dương Dân Tộc. Con người đến và đi nhưng lịch sử Việt Nam như dòng sông không ngừng chảy. Đất nước sẽ vượt qua và lớn lên như đã từng vượt qua và lớn lên sau ngàn năm Bắc Thuộc.

Trần Trung Đạo
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

1 Năm Đáp Lời Sông Núi

Tác giả : Vi Anh
Đài phát thanh "Đáp Lời Sông Núi" từ hải ngoại phát thanh về VN vào 15 tháng 5, năm 2011. Và ngày 15 tháng 5 năm 2012 này là được tròn một năm “đáp lời sông núi”. Nhơn ngày ấy, Đài “Đáp Lời Sông Núi” khiêm nhường không dùng những chữ lớn như “ kỷ niệm đệ nhứt chu niên, báo cáo thành tích” mà chỉ dùng chữ “tường trình, đánh dấu một năm họat động” thôi.

Nhưng qua liên lạc riêng của thân nhân, bè bạn còn kẹt trong nước, tiếng nói của Đài Đáp Lời Sông Núi là niềm tin và hy vọng của nhiều người. Một vài đồng viện cựu dân biểu ở thủ đô Saigon và Tây đô khi xưa, một số đồng đạo Hòa Hảo ở Vĩnh Long, An giang, Châu đốc lúc trước, đã theo dõi nghe Đài này nghe Đài, cho biết thì đồng bào nghe Đài đi từ ngạc nhiên thích thú đến mừng thầm và van vái Trời Phật cho Đài bình yên, tiếp tục thông tin, nghị luận, đem niềm tin, hy vọng tư do, dân chủ, nhân quyền VN.

Qua các chiến dịch đặc biệt của Đài, đồng bào trong nước biết rõ hơn CS quá gian ác hơn, cướp cạn đất đai, nhà cửa của dân, tài nguyên của đất nước, vay nợ ngọai quốc ba đời dân trả không nổi. Đồng bào biết rõ có người, có tổ chức dù khó khăn, nguy hiễm cũng rải truyền đơn, biểu tình, lãng công, chống CS ác với dân, bóc lột, độc tài nhưng nhát với TC để mất đất, mất biển. Phản ứng với những chiến dịch này, CS Hà nội tỏ ra điên dại, biến dân thành lực lượng thù địch, đụng một chút là chụp mũ khủng bố, tuyên truyển chống phá nhà nước, lật đổ chánh quyền. Bất mãn của dân VN cao độ, nguy ngập hơn tình hình dân chúng ở Tunisia, Ai cập và Libya trước khi cuộc cách mạng dân chúng đứng lên lật đổ độc tài, tạo nên Mùa Xuấn Á rập.

Như đã biết đài phát thanh "Đáp Lời Sông Núi" là cơ quan truyền thông của Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc. Trong lực lượng này có Linh mục Nguyễn hữu Lễ là một người chống Cộng kiên định lập trường, từ trong tù cải tạo cũng như khi ra ngoài, rất nhiều người biết. LM Nguyễn Hữu Lễ giữ chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn và Yểm Trợ của Lực Lượng này. Phong trào Đòi Trả lại Tên Saigon và DVD Sự Thật về Hồ chí Minh mà nhà đấu tranh này cùng các thân hưu công tác thực hiện và phổ biến, người Việt hải ngoại còn dán trên kiến xe và để dành trong tủ DVD gia đình. DVD cũng được bằng nhiều cách chuyển về cho đồng bào xem, báo Công an và An ninh Thủ Đô của CS Hà nội tức lồng lộn lên.

Giữa cao trào chống Cộng đó, người ta thấy tại nhiều thành phố và thủ đô của một số nước có cộng đồng người Việt hải ngoại ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc châu, có nhiều lễ ra mắt của Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc.

Và có thêm đài phát thanh “Đài Đáp Lời Sông Núi” từ hải ngoại sẽ phát thanh về Việt Nam, một cách rất qui mô, chuyện nghiệp. Đài đặt cơ quan tại Mỹ ( tiểu bang California đông người Việt định cư nhứt) và nước Úc nơi có một cộng đồng gốc Việt chống Cộng rất mạnh.. Nhưng trạm phát tuyến sẽ từ một quốc gia Châu Á đưa làn sóng tiếng nói của Đài về VN. Đài phát về VN trên làm sóng AM 1503 KhZ ( đó là làn sóng của Đài BBC cũ, BBC ngưng Đài Đáp Lời Sông Núi mướn lại), từ 9: 30 đến 10 giờ tối giờ VN. Trên Internet tòan cầu có thể mở nghe qua web.radiodlsn.org liên lạc với email:liênlac.dlsn@gmail.com Điện thoại (408)663-9860.

Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình VHN-TV phát tòan quốc Mỹ và Úc, ngày Chủ Nhựt 24-6- 2012,ông Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương của Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc cho biết đài được tổ chức như sau. Quan niệm tổ chức, Đài là một phương tiện đấu tranh. Phát trên tân số 1503 K của BBC sau khi BBC ngưng phát chương trình tiếng Việt. Lực Lương thuê làn sóng đó để phát. Đối tượng là người Việt trong nước. Mục tiêu: phá vỡ thông tin một chiều của “ báo đài” CS, nỗ lực trình bày sự thật về VN để người Việt thấy rõ tiền đồ của đất nước đang nguy hiểm như thế nào, để người dân biết rõ quyền lợi của mình, chẳng hạn như là quyền công nhân, và trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc.

Thời lượng, mỗi lần phát thanh 30 phút, từ 9 giờ 30 cho đến 10 giờ tối hàng ngày, mỗi ngày, nghe được ở VN. Chương trình có tin tức và những chuyên mục.

Đài kỳ vọng trở thành tiếng nói của những người VN còn tha thiết đến vận mạng nước non, tiền đồ dân tộc để cùng góp sức xây dựng hạnh phúc của toàn dân. Nên ngoài thông tin, nghị luận, Đài có những chuyển mục đa dạng. Như theo lời Ông Bảo sẽ thực hiện những chiến dịch, thí dụ tố cáo tích cách phản dân chủ của cuộc bầu cử ngày 22 tháng Năm tới đây của CS Hà nội, tố cáo chống tham nhũng, vạch trần những tội đồ gian ác của CS Hà nội dối với quốc gia dân tộc VN.

Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc biết rõ tình hình CS Hà nội phá các đài phát thanh từ hải ngoại phát về VN, gây khó khăn cho thính giả. Như phá sóng, cấm nghe, áp lực đài phát sóng không cho mướn. Theo Ông Bảo, khó làm nhiễu sóng trung bình AM hơn sóng ngắn shortwave. Còn vấn đề áp lực thì “chúng tôi có khá nhiều kinh nghiệm bởi vì trước đây chúng tôi có thực hiện đài Tiếng Nói Tự Do từ Mạc Tư Khoa vào năm 1991, 1992. Trước khi thuê chương trình này thì chúng tôi có nghiên cứu và biết chắc rằng về mặt chính trị thì CSVN không có cách thức nào có thể gây trở ngại đối với đài thuê mà chúng tôi thuê ở tại Đài Loan phát về VN.” “Còn người nghe có bị trở ngại hay không thì chúng tôi nghĩ là đảng CSVN khó có thể kiểm soát được, cho nên chúng tôi không quan ngại nhiều về những điều đó.”

Tài chánh: “Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc phải tự túc dù ngân sách hàng năm như vậy có thể tốn từ 160 ngàn cho đến 200 ngàn, và khi mà mọi người biết hiệu quả của nó thì đồng hương những người có lòng khắp nơi sẽ ủng hộ để mà đài này có thể tồn tại.”

Và giáo sư Nguyễn thanh Trang cùng Ô. Bảo khẳng định dù số tốn kém khá lớn đối với những tổ chức và cá nhân đấu tranh bằng phương tiện khiếm tốn của mình, nhưng tất cả quyết tâm giữ tiếng nói. Và đồng bào rất thông cảm có giúp đỡ cho việc làm đáng làm này. Một năm qua qua cố gắng của anh chị em và đồng bào, Đài đã chứng tỏ anh phải sống và đã sống và vạn sự khởi đầu nan, một năm qua tốt đẹp, năm thư hai cũng sẽ tốt đẹp .

Như đã biết trong hội nghị tổng kết công tác năm 2010 và “triển khai nhiệm vụ năm 2011”, Bộ Thông tin - Truyền thông của Đảng Nhà Nước CSVN báo cáo, tính đến cuối năm 2010, toàn quốc có 728 cơ quan báo chí in với hơn 900 ấn phẩm, 34 báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh truyền hình trung ương và địa phương...”. Nhưng dưới mắt đồng bào trong nước, tất cả ngần ấy “ báo đài” chỉ có một tổng biên tập, đó là Đảng CSVN. Nói một cách khác, tất cả “ báo đài” trong luồng là của Đảng, vi Đảng, do Đảng; Đảng CSVN dùng làm phương tiện và công cụ tuyên truyền cho Đảng.

Mới đây Báo Nhân Dân là tiếng nói chánh thhức của Đảng CSVN, là tờ báo được ngân sách nhà nước rót nhiều tiền nhứt, trụ sớ lớn như bộ Công an, đặc phái viên khắp các tỉnh và ở nhiểu nước. Nhưng theo tin BBC online mới đây, Tổng Bí thư của Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng ngày 09/06/2012 đến thăm tờ báo này, “ phán” cho hai chữ “ khô khan”. Trả lời BBC, Ông Trương Duy Nhất, một cựu phóng viên báo Đại Đoàn Kết, nói “Báo Nhân dân là loại báo không có nhân dân nào đọc”.

Nên hầu như đồng bào chán “ báo đài “ của Đảng như cơm nếp nát và “ nhạt nhẻo” như nước ốc. Và chính vì lý do đó mà truyền thông ngoài luồng, báo điện tử, trang mạng xã hội, blog chánh trị của nhà báo tư do, những dân báo độc lập được dân chúng đặc biệt thích thú vì nói lên sự thật.

Và cũng vì vậy mà các đài quốc tế như RFA, VOA, RFI, Úc có chương trình tiếng Việt đồng bào trong nước dù lén nghe cũng ráng nghe, dù bị phá cũng ráng bắt. Mà người Việt hải ngoại cũng thế rất tin vào những thông tin nghị luận của những đài này.

Nay người Việt trong ngoài nước thêm một tiếng nói nữa. Rất mừng. Một năm “ đáp lời sông núi”, Đài đài phát thanh "Đáp Lời Sông Núi" đã biền niềm tin và hy vọng của người Việt trong ngòai nước thành sư thật. Một năm “ đáp lời song núi” của Đài đài phát thanh "Đáp Lời Sông Núi" đã góp thêm bàn tay, tim óc làm cho truyền thông đại chúng tiếng Việt ở hải ngoại trở thành “kết tụ tinh anh của bốn phương, muôn màu muôn vẻ lại muôn hương ( thơ Bùi khánh Đản)” của sự thật. Sư thật là phạm trù đầu của giá trị chân, thiện, mỹ mà Con Người hướng tới. Bao lâu đồng bào biết sự thật, biết CS gian ác, hết sợ CS thì ngày đó là ngày tàn của CS./. ( Vi Anh)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Chờ bản án của Tòa Tối Cao

Ngô Nhân Dụng
Sau ba tháng giữ kín kết quả cuộc bỏ phiếu của họ, nay mai chín vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện sẽ cho dân Mỹ biết quyết định về số phận của Luật Cải Tổ Hệ Thống Y Tế của Tổng Thống Barack Obama, tên chính thức là “Luật Y Tế Dễ Thụ Hưởng” (Affordable Care Act), thường gọi là Obamacare.

Những người Mỹ bi quan về hình ảnh “bát nháo” trong hệ thống chính trị nước họ được an ủi: Tối Cao Pháp Viện vẫn là một định chế tôn nghiêm; vì họ giữ kín được bí mật trong suốt ba tháng qua! Không ai hé miệng, trong số 9 vị Thẩm Phán Tối Cao (Chúng tôi viết hoa bốn chữ này vì người Mỹ thường viết như vậy). Ngoài 9 vị đó, có ít nhất 36 người nữa đã biết trước kết quả: Các thư ký của tòa án cũng như của mỗi thẩm phán không một ai tiết lộ; những người đánh máy cho nhà in, người xếp sách, đóng bìa để phát cho công chúng, cũng không ai tiết lộ. Tối Cao Pháp Viện vẫn là một định chế khả kính!

Cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, và hai ứng cử viên tổng thống Obama và Romney, đều chuẩn bị ít nhất ba lời tuyên bố, và sẽ chọn một để đưa ra, bày tỏ phản ứng ngay sau khi phán quyết được công bố: Một phản ứng nếu tòa bác bỏ toàn thể đạo luật; một phản ứng khác nếu tòa chỉ xóa bỏ một phần; và một bản tuyên bố khác trong trường hợp tòa để nguyên cho đạo luật được thi hành! Từ đây tới cuối năm, các cuộc vận động tranh cử của hai ông Obama và Romney, và của các ứng cử viên đại biểu Quốc Hội, sẽ thay đổi tùy theo phán quyết của Tòa Tối Cao! Người ta hồi hộp chờ đợi không khác gì dân ghiền bóng tròn chờ coi kết quả Euro 12 (Euro là tên Giải Túc Cầu, không phải tên đồng tiền!)

Tuy nhiên, cuộc tranh Giải Euro 12 tương đối dễ hiểu, còn phiên Tòa Tối Cao nước Mỹ xử vụ này đã gây rất nhiều hiểu lầm, nên nói cho rõ.

Trước hết, Tối Cao Pháp Viện không phán quyết về chuyện nước Mỹ cần cải tổ y tế hay không. Ai cũng thấy hệ thống bảo hiểm y tế của Mỹ đầy khuyết điểm: Tốn tiền nhất so với các nước tiên tiến khác, mà kết quả không tốt hơn, có khi không bằng, trong việc giữ sức khỏe cho dân. Chưa kể là có 50 triệu người không có bảo hiểm. Thế nào cũng cần “chữa trị” cho cả hệ thống.

Thứ hai, phán quyết của Tòa Tối Cao cũng không nhằm “chấm điểm” đạo luật Obamacare và các hậu quả của nó đối với sức khỏe dân Mỹ, ngân sách chính phủ Mỹ và nền kinh tế Mỹ. Nhiều người ở Âu Châu hay hiểu lầm, khi họ hỏi: Tại sao các thẩm phán có thể bác bỏ ý kiến mọi người Mỹ phải có bảo hiểm y tế, như dân Ðức, dân Anh hay dân Canada vẫn được hưởng? Tại sao Thẩm Phán Scalia lại ví việc bắt buộc dân phải có bảo hiểm y tế giống như việc bắt dân phải ăn rau cải? Sự thật là: Tòa Tối Cao Mỹ không phán xét xem quy tắc “mọi người phải có bảo hiểm y tế” là đúng hay sai.

Vấn đề chính được đưa ra tòa là Ðạo luật Obamacare có hợp hiến hay không? Ðiều được 26 tiểu bang nêu ra để thưa kiện là đạo luật đó buộc dân Mỹ ai cũng phải phải có bảo hiểm y tế (nói rõ hơn, là phải “mua bảo hiểm,” nếu không sẽ bị phạt tiền)! Vấn đề quan trọng nhất là: Chính phủ Liên bang Mỹ có quyền bắt buộc dân “mua” như vậy hay không? Vì thế nên điều khoản đó được ví với việc bắt dân mua rau broccoli!

Hầu hết các điều khoản quan trọng trong bản Hiến Pháp nước Mỹ là để hạn chế quyền hành của chính phủ liên bang, trong đó có cả Quốc Hội và chính phủ. Dân Mỹ đã từng bị “bắt buộc phải ăn broccoli” nhiều lần: Ai lái xe cũng phải mua bảo hiểm! Ai lái xe gắn máy phải đội mũ an toàn. Chở trẻ em trên xe phải có ghế ngồi an toàn! Luật lệ bắt dân phải mua nhiều thứ lắm. Nhưng đó là những đạo luật do các tiểu bang ban hành. Chính phủ liên bang thì bị giới hạn quyền hành, do điều thứ nhất, phần thứ 8 trong Hiến Pháp Mỹ, cho phép Quốc Hội liên bang có quyền “quy định việc thương mại với ngoại quốc, giữa các tiểu bang, và với các bộ lạc da đỏ;” thường gọi tên là Ðiều khoản về Thương mại.

Những người, các tổ chức và tiểu bang đi kiện luật Obamacare đã nhân danh Ðiều khoản Thương mại đó; họ cho là năm 2010 Quốc Hội Mỹ đã lạm quyền khi bắt tất cả dân chúng phải ăn món broccoli gọi là bảo hiểm y tế. Họ muốn, nếu tiểu bang nào thích quy tắc đó, hãy để cho tiểu bang đó quyết định, như Massachuttsett đã làm.

Các vấn đề như có nên cải tổ hệ thống y tế hay không, phải cải tổ cách nào, là các vấn đề chính trị. Ðó là việc của các chính trị gia được dân bỏ phiếu bầu lên. Tối Cao Pháp Viện chỉ xét đạo luật coi có phù hợp với bản Hiến Pháp nước Mỹ hơn 200 tuổi, đặc biệt là Ðiều khoản Thương mại, hay không. Việc giải thích Ðiều khoản Thương mại có thể thay đổi tùy theo phán đoán của các vị thẩm phán đương nhiệm.

Nhưng phán quyết của tòa án sẽ có những hậu quả chính trị. Cả hai đảng và các ứng cử viên tổng thống năm nay đã chuẩn bị các bước cờ mới tùy theo phán quyết của tòa án. Mà hậu quả của phán quyết, dù đi theo chiều hướng nào, cũng không giản dị, là có một đảng được lợi, đảng kia sẽ bị thiệt hại, như người ngoại cuộc tưởng.

Trong một văn thư gửi các đồng viện thuộc đảng Cộng Hòa, Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner tuần trước đã yêu cầu họ đừng có ăn mừng ồn ào nếu Tòa Tối Cao bác bỏ một phần hay toàn thể luật Obamacare. Ông dặn dò đảng các ứng cử viên Cộng Hòa phải nhớ là trong cuộc vận động năm nay cần nhấn mạnh đến tình trạng kinh tế còn chưa bình phục, đừng để cho các vấn đề như bảo hiểm y tế chiếm diễn đàn, dân sẽ quên mất luôn đề tài kinh tế!

Nếu đạo luật được Tòa Tối Cao để yên, Tổng Thống Obama có thể tuyên bố chiến thắng, nhưng Thống Ðốc Mitt Romney sẽ có một đề tài tranh cử nóng bỏng. Ông sẽ nhắc lại lời hứa “Rút lại Luật Obamacare trong 100 ngày” sau khi đắc cử, với hy vọng thu hút và huy động được rất nhiều cử tri bảo thủ có thể đang còn thờ ơ đối với ông. Ông sẽ hô khẩu hiệu đòi chấm dứt cảnh “chính quyền liên bang đang chiếm lấy thêm quyền hành” khiến cho dân Mỹ, vốn vẫn nghi ngờ khả năng và hiệu quả của chính quyền, ngả sang phía Cộng Hòa! Ông sẽ nói họ cần bỏ phiếu cho ông, như một cơ hội cuối cùng để chấm dứt một xu hướng lấn chiếm quyền hành nguy hiểm, và xóa bỏ một đạo luật đã bị nhiều người ghét!

Ngược lại, nếu Tòa Tối Cao hủy bỏ một phần hay cả đạo luật, Tổng Thống Obama lại có được nhiều đề tài tranh cử hấp dẫn. Ông sẽ nêu lên những hậu quả tốt đẹp mà đạo luật có thể đem lại cho dân Mỹ: Cấm các hãng bảo hiểm không được từ chối thân chủ vì họ có bệnh sẵn; cho trẻ em được hưởng bảo hiểm của bố, mẹ cho đến năm 26 tuổi; cấm không được giới hạn chi phí y tế cho mỗi thân chủ; phải bồi hoàn tiền cho thân chủ nếu không dùng hết (80%), vân vân. Ông sẽ nhắc nhở rằng vừa có 13 triệu người Mỹ được các hãng bảo hiểm trả lại 151 đô la tiền đã đóng, nhờ đạo luật cải tổ y tế của ông. Ông Obama sẽ mô tả đối thủ Romney và cả đảng Cộng Hòa như là những người đã cản trở việc cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế, không quan tâm đến 50 triệu người không được bảo hiểm! Trong các cuộc tranh luận truyền hình, ông Obama sẽ nhắc đi nhắc lại câu hỏi là ông Romney có kế hoạch nào để thay thế, cho việc cải tổ hệ thống y tế hay không? Ông Romney khi làm thống đốc Massachutssett đã ký một đạo luật giống như Obamacare. Ông sẽ phải giải thích tại sao ông lại chống đạo luật của ông Obama. Và những lời giải thích ngắn gọn trong dăm ba phút trước ống kính ti vi sẽ khó làm cho người coi hiểu được rõ ràng đầy đủ.

Một điều đảng Dân Chủ có hy vọng thu hút nhiều cử tri cho mình, là họ sẽ trình bày cho công chúng thấy cả guồng máy lãnh đạo nước Mỹ đang nghiêng hẳn về khuynh hướng bảo thủ. Hạ Viện Mỹ đang do đảng Cộng Hòa kiểm soát, Tối Cao Pháp Viện có 5 vị thẩm phán với khuynh hướng bảo thủ rõ rệt (nếu phán quyết bác bỏ Obamacare được biểu quyết với tỷ số 5/4). Do đó, đảng Dân Chủ sẽ kêu gọi dân Mỹ phải ngăn chặn lại, để giữ cân bằng cho chính trị quốc gia. Nếu một ứng cử viên Cộng Hòa đắc cử tổng thống năm nay, ông ta sẽ có cơ hội đề cử và bổ nhiệm vài vị Thẩm phán Tối cao bảo thủ trong 4 năm tới, vì ít nhất có hai vị đã già rồi. Và như vậy là cả Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp có thể đều ngả hẳn về phía bảo thủ! Nhiều người Mỹ thấy ngay viễn tượng này có thật, và có thể vì thế các cử tri cấp tiến và độc lập sẽ cất công đi bỏ phiếu cho ông Obama!

Tóm lại, phán quyết của Tối Cao Pháp Viện dù theo cách nào cũng sẽ được cả hai đảng sử dụng để vận động cử tri, không nhất thiết bên nào được lợi ngay. Nhưng đối với những người Mỹ bình thường, thì hậu quả của phán quyết rất rõ ràng.

Nếu Tối Cao Pháp Viện để yên cho đạo luật Obamacare thì không có gì thay đổi. Nếu đạo luật bị bác bỏ, có lẽ các hãng bảo hiểm cũng không thay đổi chính sách của họ ngay, thí dụ họ vẫn thi hành điều khoản cho các con được hưởng bảo hiểm của bố mẹ cho tới năm 26 tuổi. Những người đang có bệnh thì nên đi dạo mua bảo hiểm ngay, vì các công ty bảo hiểm sẽ có quyền từ chối các thân chủ bệnh sẵn, mặc dù họ có thể không làm điều đó ngay lập tức, sợ mang tiếng xấu. Những người có con nhỏ cũng nên mua riêng bảo hiểm cho con, vì không biết bao giờ các công ty bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm cho các thanh niên dù dưới 26 tuổi. Trước khi đạo luật bị xóa bỏ, mọi người nên tìm bác sĩ xin đi khám ngực (mammograms), khám ruột già (colonoscopies,) và chích ngừa (immunizations) ngay, vì nếu luật này không còn áp dụng thì có thể sẽ mất các quyền lợi đó. Những người đang hưởng medicare (bảo hiểm y tế cho người về hưu) cũng có thể không được khám nang thượng thận (prostate), khám ung thư ngực và ruột già miễn phí nữa.

Nói chung thì nếu đạo luật Obama bị xóa bỏ, tiền mua bảo hiểm của nhiều người sẽ tăng lên và các dịch vụ được hưởng sẽ giảm bớt. Mọi người Mỹ sẽ tìm mua bảo hiểm ở những công ty không ấn định số chi phí y tế tối đa suốt đời (lifetime caps), một điều mà đạo luật Obamacare cấm. Dù đạo luật vẫn được thi hành, thì người mua bảo hiểm y tế vẫn phải coi kỹ các hợp đồng mình sẽ ký, vì các khoản đóng góp thay đổi theo từng công ty, từng loại hợp đồng (co-pays, co-insurance, premiums, vân vân). Dân những nước như Anh, Ðức, Canada không ai phải đọc kỹ những hợp đồng như vậy, vì tất cả đều do chính phủ lo.

Trước khi Tòa Án Tối Cao công bố phán quyết, cũng nên biết điều khoản bắt buộc mọi người Mỹ phải có bảo hiểm y tế rất khó áp dụng! Vì ai không mua bảo hiểm cũng chỉ phải đóng món tiền phạt, rất thấp so với số tiền phải trả nếu mua bảo hiểm! Một người khỏe mạnh bình thường có thể chấp nhận đóng tiền phạt còn hơn mua bảo hiểm! Ðiều khoản này đã từng được đảng Cộng Hòa chủ trương và cổ võ trước đây 30 năm; mà trong thời gian đạo luật Obamacare được Quốc Hội thảo luận cũng không thấy ai phản đối điều đó, cho tới cuối năm 2010 mới nổi lên. Tổng Thống Obama thì lại chống điều đó khi ông giành địa vị ứng cử viên tổng thống với bà Hilarry Clinton năm 2008. Bây giờ chính điều khoản này là nguyên nhân khiến đạo luật Obamacare phải ra tòa!
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

VIỆT CỘNG TRUNG CỘNG ĐẨY NHAU VÀO THẾ
DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA SIÊU CƯỜNG MỸ
Chuyến thăm và làm việc tại Việtnam của trợ lý ngoại trưởng Mỹ, ông Andrew Shapiro ngày 20/06/12, sau việc bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Leon Panetta đến Camranh và Hànội vào hồi đầu tháng Sáu vừa qua, đã đem lại sự cam kết giữa Mỹ-Việt về an ninh khu vực và lời khẳng định một lần nữa cho quan điểm rằng: “An toàn và tự do hàng hải là lợi ích chung của cộng đồng quốc tế”. Thì ngày 21/06/2012, Quốc hội Cộng Sản Việtnam biểu quyết thông qua Luật Biển Việtnam, bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việtnam, với 495/496 phiếu thuận. Chỉ có một phiếu chống duy nhất thuộc về một kẻ nào đó là tay sai trung kiên của Tầu Cộng. Được biết 14 ủy viên Bộ Chính Trị và toàn thể Ban Chấp Hành Trung Ương Cộng Sản Việtnam, cũng như chính phủ Hànội đều là thành viên của Quốc Hội và cùng hiện diện trong phiên họp này. Như vậy là lãnh đạo Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đã nhất trí tán thành việc không chấp nhận để cho Trung Cộng tự nhận hai quần đảo Hoàng sa, Trường sa, mà họ đã chiếm đoạt của Việtnam năm 1974 và 1988 thuộc chủ quyền của Trung Cộng.

Ngay trong ngày 21/06/12, Trung Cộng liền lên tiếng cực lực chỉ trích, gọi:”Luật Biển Việtnam là phi pháp và vô giá trị”. Thứ trưởng ngoại giao Trung Cộng, Trương Chí Quân triệu tập đại sứ Việt Cộng, Nguyễn Văn Thơ đến, yêu cầu: “Hànội phải chỉnh sửa ngay, vì luật mới của Việtnam vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Trung Quốc ở Biển Đông”. Phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung Cộng nói: “Hành động đơn phương của phía Việtnam làm phức tạp thêm tình hình, đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo 2 nước, không phù hợp với tinh thần Tuyên Bố Ứng Xử các bên ở Biển Đông”. Cùng ngày, chính phủ Trung Cộng lại nâng cấp quy chế hành chính ba quần đảo Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa (Hoàng sa, Trường sa của Việtnam) từ cấp Quận lên cấp Huyện. Lập tức Việt Cộng lên tiếng kiên quyết bác bỏ chỉ trích vô lý của Trung Cộng và phản đối việc Trung Cộng thành lập thành phố Tam Sa để quản lý cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việtnam. Phát ngôn viên bộ ngoại giao Việt Cộng nhấn mạnh: “Trường Sa, Hoàng Sa được đề cập đến trong Luật Biển Việtnam vừa thông qua, là một hành động lập pháp bình thường, chính đáng, vì Việtnam có đủ cơ sở pháp lý và chứng cớ lịch sử về chủ quyền không thể tranh cãi tại hai quần đảo Trường Sa – Hoàng Sa trên Biển Đông”.

Xem vậy, không biết trong hậu trường, Việt Cộng và Trung Cộng đã quay lưng lại với nhau chưa, nhưng về mặt công khai thì 2 bên đã “Đối Mặt” với nhau để Tranh Cãi, Tranh Chấp về Chủ Quyền ở 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa rồi. Trung Cộng lại còn học theo cách của Việtnam là mời các nước ngoài vào khai thác dầu khí tại Biển Đông nữa. Ngày 23/06/12, tổng công ty Dầu Khí Hải Dương của Trung Cộng - CNOOC, thông báo chấp nhận mời thầu quốc tế tại 9 lô dầu khí trong khu vực mà Việtnam tuyên bố thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việtnam. Người phát ngôn bộ ngoại giao Hànội tuyên bố: “Việc Trung Quốc ngang nhiên mời thầu quốc tế tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việtnam là hành động phi pháp và không có giá trị, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia chính đáng của Việtnam, vi phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển Năm 1982, mà chính Trung Quốc là quốc gia thành viên, làm phức tạp tình hình và gây căng thẳng ở Biển Đông”. Để xem có quốc gia nào tham gia đấu thầu khai thác dầu khí với Trung Cộng ở đây hay không? Nếu không có công ty của một cường quốc dân chủ nào muối mặt làm việc đó, thì Trung Cộng bị vỡ mặt! Trung Cộng từ trước tới nay vẫn lớn tiếng chống lại chủ trương “Quốc Tế Hóa” Biển Đông của Việtnam và Thế Giới, nay phải mời quốc tế vào cùng khai thác ở đây, tức là buộc phải xuống nước chấp nhận “Quốc tế Hóa” Biển Đông rồi vậy.

Trong khi đó toàn bộ tàu Trung Cộng, hôm 23/06/12, đã nhận được lệnh rời khỏi khu vực bãi cạn Scaborough, sau khi Bắc Kinh và Manila đạt được thỏa thuận tạm thời để làm giảm căng thẳng về tranh chấp lãnh hải giữa Trung Cộng và Philippines. Ngày 25/06/12 báo mạng Thái Lan The Nation đăng bài phỏng vấn thứ trưởng ngoại giao Trung Công bà Phó Doanh nói về vai trò của ASEAN với Trung Cộng. Bà kêu gọi: “Các thành viên Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á – ASEAN không nên đóng vài trò khán giả, hoặc trở thành công cụ của các cường quốc lớn, trước các thách thức mới, trong bối cảnh chính trị, kinh tế thế giới hiện nay”. Bà nói: “ASEAN nên có những nhận định độc lập, để thúc đẩy khu vực này tiến lên phía trước. Nếu ASEAN đứng về một bên nào đó, khối này sẽ mất đi sự xác đáng”. Đã muộn rồi! Chính vì sự kiện Trung Cộng chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việtnam, nhân đó đòi làm chủ 80% diện tích Biển Đông, và hung hăng đe dọa dùng vũ lực để thôn tính toàn vùng, đã đẩy các nước ASEAN và toàn thể Á châu về phía Mỹ. Nay Mỹ lại đã triển khai Chiến Lược Toàn Cầu của họ, là dồn 60% lực lượng quân sự của họ về Châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, và thương lượng với các nước Đồng Minh và Đối Tác để cho Hải Quân Mỹ được sử dụng Hải Cảng của các nước đó, khi cần. Hầu như không nước nào từ chối việc Mỹ triển khai lực lượng quân sự nhằm “Ngăn Bành Trướng Trung Cộng” và thúc đẩy các nước tự thay đổi quan điểm chính trị và thể chế theo thế “Diễn Biến Hòa Bình”.

Từ trước tới nay, Việt Cộng quyết liệt chống lại chủ trương “Diễn Biến Hòa Bình” và cho rằng: “Đi với Mỹ thì mất đảng”. “Đi với Tầu thì mất nước”. Mà họ đã chọn: “Thà Mất Nước, chứ không chịu Mất Đảng”. Nên họ theo Trung Cộng, học Trung Cộng, chấp nhận để bị Hán Hóa toàn diện. Đến nay, họ mới nhận ra là đi với Tầu thì không những mất nước, mà còn mất luôn đảng nữa. Vì Trung Cộng cũng không sao thoát khỏi Tự Diễn Biến Hòa Bình, vì đó là nhu cầu của Quốc Dân Trung Hoa, mà Trung Cộng đã và đang bắt đầu phải áp dụng tại tỉnh Quảng Đông, ngay sát nách Việtnam. Chính vì vậy, mà lãnh đạo Việt Cộng đã phải cho Quốc Hội của họ nhất trí thông qua Luật Biển Việtnam, tạo ra cảnh Việt Cộng, Trung Công quyết liệt đẩy nhau rơi mau vào thế “Diễn Biến Hoà Bình của Siêu Cường Hoa Kỳ”. Nội bộ Việt Cộng không còn 2 phe thân Tầu, hay chống Tầu, mà hầu như tất cả đều muốn đi theo Mỹ. Nhưng 2 nhân vật nổi tiếng có khuynh hướng “thân” Mỹ là Trương Tấn Sang chủ tịch nước và Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việt Cộng lại mưu định loại nhau. Về vụ tham nhũng Dương Chí Dũng cục trưởng Cục Hàng Hải đang bỏ trốn. Nguyễn Tấn Sang nói: “Đương nhiên người ký quyết định bổ nhiệm trường hợp như thế phải chịu trách nhiệm”. Nghĩa là Nguyễn Tấn Dũng phải chịu trách nhiệm. Vâng! Có thể nói, bọn Việt Cộng có quán tính coi Dân là kẻ thù, hết làm tay sai cho Nga, đến làm tay sai cho Tầu, nay muốn làm tay sai cho Mỹ. Nhưng Mỹ lại chỉ đòi họ phải tôn trọng Nhân Quyền của Dân Việt, nên giờ này mới gây khốn khó cho bọn họ đấy! Kỳ sau phân giải.

LÝ ĐẠI NGUYÊN
Little Saigon ngày 26/06/2012.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Khi chủ tịch nước cũng kêu buồn
Ðào Tuấn
(Nguồn: daotuanddk.wordpress.com)

Trả lời Tuổi Trẻ, chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói “Không thấy có những lời lẽ nào khó nghe, mà thậm chí tất cả đều là những lời cần nghe. Tôi muốn nghe sự thật”. Còn trên Tiền Phong: “Ở Việt Nam chưa có văn hóa từ chức. Nghe mà buồn quá”. Nhân dân sẽ là người phải nói lời xin lỗi vì đã làm ông buồn?

Cả “trăm vấn đề” đã lại được đặt ra trong buổi chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri.

VietNamNet dẫn lời cử tri Bùi Công Sự bày tỏ lo ngại về tình trạng quản lý lỏng lẻo khi để cho người nước ngoài vào mọi địa bàn thu mua nông, hải sản, nuôi trồng không tuân thủ luật lệ của nhà nước, thao túng giá cả, gây thiệt hại cho người dân, có dấu hiệu phá hoại nền kinh tế. Cử tri này đề nghị: Quốc Hội, nhà nước xem lại con người trong hệ thống của mình. Ðặc biệt là cần quy trách nhiệm tập thể, cá nhân gây ra hậu quả, chứ không thể nói mãi việc rút kinh nghiệm nghiêm khắc, nhưng nói xong cho an dân rồi để đấy.

Cử tri Hoàng Hữu Hiền thì bức xúc trước thực trạng một số tổng công ty, tập đoàn nhà nước như Vinalines, Vinashin... đã làm thất thoát hàng ngàn tỷ đồng, nhưng không thấy ai đứng ra nhận trách nhiệm, không thấy ai đưa đơn từ chức mà chỉ nói rút kinh nghiệm: “Người dân chúng tôi rất không đồng tình. Cá nhân làm sai, tập thể phải chịu, toàn dân phải gánh nợ, điều đó thật không công bằng”.

Cử tri cũng phàn nàn lãi suất cho vay của các ngân hàng là quá cao. Tình trạng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đang đứng trên bờ vực phá sản do thiếu vốn, trong khi trên thực tế chẳng mấy doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi để vực dậy sản xuất.

Cử tri đề nghị Quốc Hội, chủ tịch nước giám sát tình trạng sản phụ, thai nhi tử vong ngày càng nhiều; tình trạng đầu cơ, thu gom đất; tình trạng thiếu giáo viên trầm trọng; tình trạng mạng lưới y tế tuyến dưới yếu kém dẫn đến quá tải tuyến trên; tình trạng phòng khám Trung Quốc thành lập nhiều, quảng cáo rầm rộ nhưng chất lượng khám chữa bệnh bị buông lỏng; bất cập trong công tác thu hồi đất, đền bù, giải tỏa; và vấn đề tham nhũng đang gây nhức nhối trong xã hội...

Ðúng là cả “trăm vấn đề”, cả “ngàn nỗi bức xúc”. Những “vấn đề” đó, là thực tế cuộc sống. Những bức xúc đó, là nỗi lòng người dân. Bức xúc trước thực tế cuộc sống. Và buồn vì cái gọi là trách nhiệm.

Chỉ đáng tiếc đây là những vấn đề lại được đặt ra ngay sau kỳ họp Quốc Hội. Không mới hơn so với những gì người dân đã gửi gắm trước kỳ họp. Cũng chẳng có gì khác so với những kỳ họp trước. Sự lặp đi lặp lại những vấn đề, những tình trạng, và những nỗi bức xúc từ kỳ họp này sang kỳ họp khác, từ năm này qua năm khác cho thấy việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri là chưa được rốt ráo, hoặc ít nhất việc giải quyết cũng chưa làm thỏa mãn, chưa làm vơi đi nỗi bức xúc trong lòng người dân. Người đáng buồn, có lẽ phải là nhân dân.

“Nhiều lần tiếp xúc cử tri, tôi rất chạnh lòng. Bà con cô bác nói ở nước ngoài, chỉ cần sập cầu, ngay lập tức bộ trưởng từ chức. Ở Việt Nam chưa có văn hóa từ chức. Nghe mà buồn quá. Tôi khẳng định việc bỏ phiếu tín nhiệm sẽ được thực hiện trong năm nay” - Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói trên Tiền Phong. Cụ thể hơn là: Trung ương đảng sẽ họp kiểm điểm cụ thể theo tinh thần nghị quyết trung ương 4 trước tháng 10 năm 2012.

Khi được hỏi cảm nhận của mình về bầu không khí “bức xúc, có lúc gay gắt, ít thấy lời khen” trong buổi tiếp xúc cử tri, chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời Tuổi Trẻ “Tôi không thấy có những lời lẽ nào khó nghe, mà thậm chí tất cả đều là những lời cần nghe. Tôi muốn nghe sự thật chứ không phải đến và mất thời gian để nghe những lời hoa mỹ, không đúng sự thật”.

“Cuộc sống đang diễn ra như thế nào thì cần nói thế đó, không được quy kết thế này thế kia. Những gì dân còn muốn nói với người đại biểu của mình, muốn lãnh đạo biết, hay các phản ánh của báo chí thì suy cho cùng những ý kiến đó cũng nhằm mong muốn phản ánh sự thật, phản ánh những điều nóng bỏng của cuộc sống, mong muốn sớm được giải quyết, chứ không có ý làm cho vấn đề nóng lên hay làm phức tạp thêm” - Câu này cũng là của chủ tịch nước.

Người dân xin cảm ơn chủ tịch nước cũng như các đại biểu Quốc Hội đã lắng nghe sự thật. Duy chỉ có điều, họ mong muốn chủ tịch, mong muốn các vị đại biểu Quốc Hội thể hiện bằng việc làm cụ thể, trên diễn đàn của cơ quan quyền lực nhà nước tối cao là Quốc Hội để sau mỗi kỳ họp, cử tri không còn thấy ông nói buồn quá.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 7 guests