Thời Sự, Bình Luân

caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Ngày Trở Về

(05/30/2012)

Tác giả : Trần Khải
Hình ảnh ngày trở về không hẳn lúc nào cũng vui. Dĩ nhiên, nếu ngày đoàn tụ mà tất cả mọi người đều bình an thì là vui chứ, nhưng nếu không, tất hẳn là cũng có ngậm ngùi. Vì đời người, đâu dễ lúc nào cũng bình an.

Dòng nhạc Phạm Duy một thời quen thuộc với hình ảnh trở về mô tả như sau:

Ngày trở về, anh bước lê
Trên quãng đường đê đến bên lũy tre
Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về
Mẹ lần mò, ra trước ao
Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ
Tiếc rằng ta đôi mắt đã loà vì quá đợi chờ...

Đó là khi anh về được, dù là bước lê. Đó là mẹ già ra đón được, dù là mắt đã lòa.

Nhưng tại Seoul, thủ đô Nam Hàn, nơi đất nước cũng còn chia đôi và một thời cũng nội chiến dữ dội... có hình ảnh ngày trở về bi thảm hơn, ngậm ngùi hơn.

Bản tin Yonhap 12 di cốt lính Nam Hàn tử trận ở Bắc Hàn trong thời Cuộc Chiến Triều Tiên đã về lại Seoul hôm Thứ Sáu 25-5-2012 xuyên qua đường Hoa Kỳ, và đây là đợt hồi hương đầu tiên của tử sĩ Nam Hàn kể từ khi có cuộc ngưng bắn năm 1953.

Đợt này là 12 di cốt, trong đó có 2 di cốt đã nhận dạng được lai lịch, là trong nhóm 226 bộ di cốt đào được từ phía bắc Bắc Hàn bởi một nhóm đaò di cốt Hoa Kỳ từ năm 2000 và 2004, trước khi Mỹ ngưng chiến dịch tìm di cốt chung với Bắc Hàn vì quan ngại về an toàn và an ninh của nhân viên đàò tìm di cốt.

Bản tin nói, sau khi thử nghiệm DNA, cơ quan liên hợp Hoa Kỳ về POW/MIA ở Hawaii xác nhận hồi tháng 8-2011 rằng một số di cốt là của lính Châu Á.

Từ đó, Seoul và Washington mới phân tích chung để nhận dạng di cốt, và 12 di cốt xác minh là của chiến binh Nam Hàn, theo lời Bộ Quốc Phòng Nam Hàn cho biết.

Nhóm 12 di cốt hôm Thứ Sáu từ Mỹ chở tới một sân bay quân sự ở Seongnam, phía nam Seoul, nơi được đón bằng nghi lễ quân sự với tham dự của Tổng Thống Lee Myung-bak, Bộ Trưởng Quốc Phòng Kim Kwan-jin và Tướng Mỹ James Thurman, Tư Lệnh Quân Mỹ ở Nam Hàn.

Như thế là hơn 60 năm, các di cốt mới về lại Seoul.

Tổng Thống Lee nói với thân nhân tử sĩ trước nghi lễ đón tiếp, “Cộng Hòa Triều Tiên được bảo vệ nhờ các chiến binh tác chiến và sẵn sàng hy sinh thân mạng. Chúng ta phải tìm họ, ngay cả là di cốt, nnhững người hy sinh thân mạng cho đất nước, tới tận cùng. Không có người yêu nước lớn lao nào hơn họ. Có nhiều việc phải làm, nếu thống nhất đất nước xảy ra, nhưng chuyện này có lẽ là việc đầu tiên chúng at phaỉ làm, Đi tìm di cốt những tử sĩ hy sinh trong khi bảo vệ đất nước là một việc quan trọng chúng ta phải làm như là việc đầu tiên.”

Đây là lần đầu tiên di cốt lính Nam Hàn chết ở Bắc Hàn thời Cuộc Chiến Triều Tiên được về lại Seoul kể từ khi ký kết ngưng bắn năm 1953, theo lời Đạị Tá Park Shin-han, Giám Đốc Sở Tìm và Nhận Dạng Tử Sĩ.

Park nói, việc đón di cốt hồi hương mang ý nghĩa lớn vì nó cho thấy quốc gia nhận trách nhiệm bằng mọi giá đối với những người hy sinh cho tổ quốc. Park cũng cảm ơn Mỹ đã hỗ trợ trong việc đaò tìm và nhận dạng di cốt tử sĩ.

Hai di cốt nhận ra lai lịch là các Binh Nhì Kim Yong-soo và Lee Kap-soo, bị mất tích sau một trong những trận đánh đẫm máu có tên là trận Battle of Jangjin "Chosin" Reservoir cuối năm 1950.

Trận này xảy ra ở hồ trữ nước nhân tạo ở phía bắc Bắc Hàn, sớm ngay sau khi quân đội Trung Quốc tham chiến, với hơn 100,000 chiến binh TQ bao vây 30,000 chiến binh Mỹ, trong đó 2 binh nhì Nam Hàn giữ nhiệm vụ hỗ trợ quân Mỹ vì rành địa lý và các ngôn ngữ điạ phương.

Theo dữ kiện chính phủ, có khoảng 140,000 chiến binh Nam Hàn tử trận trong cuộc chiến kéo dài 3 năm, trong khi 450,000 bị thương.

Có khoảng 215,000 chiến binh Bắc Hàn ước tính đã tử trận, cùng khoảng 300,000 bị thương. Khoảng 2.5 triệu thường dân chết trong cuộc chiến Triều Tiên.

Ước tính từ 30,000 tới 40,000 di hài chiến binh Nam Hàn chôn trên lãnh thổ Bắc Hàn, theo lời các viên chức quân sự.

Một kết cuộc không giống như Cuộc Chiến Việt Nam. Cũng không thấy triều đình họ Kim theo gương ông Hồ để dai dẳng tấn công Nam Hàn nhằm thống nhất đất nước. Hay phải chăng, họ Kim có lòng từ bi, không nỡ làm chết thêm dân trong cuộc Nam Tiến?

Hay phảỉ chăng, Bắc Hàn không tin rằng lính Mỹ đang trú đóng ở Nam Hàn là “đế quốc xâm lược”? Có mét vuông đất nào của Nam Hàn trở thành lãnh thổ Hoa Kỳ chưa?

Hay phải chăng, Bắc Hàn muốn chờ đợi cho tới khi kinh tế Nam Hàn đạt những kỳ tích nhiều hơn, để rồi sẽ đánh một trận cực kỳ lớn để thống nhất, để miền Nam nhận họ và miền Bắc nhận hàng? Có trời mà hiểu nổi.

Nhưng thâý rõ, ngày trở về nào sau nội chiến cũng đầy những ngậm ngùi, thương khóc.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Hơn 7 triệu lượt người đã vào đọc truyẹn ngắn này

Linh Nghiệm

Tác giả:Trần Huy Quang, Hà Nội 1992, Internet 2005
LTS. Nhân Ngày Lễ Mẹ, trong khi khắp thế giới vinh danh hình ảnh phụ nữ với vai trò người mẹ, nhiều nhà nghiên cứu bùi ngùi vì thấy tội nghiệp cho các phụ nữ bị Ông Hồ vùi dập, bỏ rơi, như quý bà Nguyễn Thị Minh Khai, Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Xuân, Irene… Truyện ngắn “Linh Nghiệm” của nhà văn Trần Huy Quang đã được lưu hành trên các trang web trong dịp Lễ Mẹ này. Truyện viết về ông Hồ Chí Minh, gọi tắt là HINH, đã từng đăng nhiều năm trứơc trên báo quốc nội và tức khắc, cả báo và nhà văn cùng bị kỷ luật. Truyện cho mùa Lễ Mẹ này như một bản tiểu sử HCM cực ngắn mà rất đầy đủ như sau.


Hinh là con trai thứ ba trong một gia đình nông dân, không nghèo nhưng cũng chẳng giàu có gì lắm. Cha anh ta có đỗ đạt, đã từng làm quan nhưng tính khí thất thường, lòng đầy ham hố nên quan trên không mặn mà gì nên đã bỏ quan, khi đi dạy học ở chốn kinh kỳ, khi ngồi bốc thuốc ở vùng sơn cước. Hinh thừa hưởng ở dòng họ và khí chất của vùng chôn rau cắt rốn cái nết cơ bản cần cho kẻ có hoài bão tham chính là tính đa mưu túc kế, lòng dạ thật không bao giờ lộ ra mặt, bạn bè cùng lứa không ai dám kết làm bằng hữu. Hinh sáng dạ, lại có chí, học đâu biết đó, hai mươi tuổi làm thơ chữ Hán, đọc Rút-xô, Mông-tét-ski-ơ…bằng nguyên bản, nhưng Hinh chán học, chỉ nhăm nhăm một dạ xuất ngoại. Đạo học không có đường tắt, mà lập thân bằng con đường học vấn thì mù mịt, xa vời quá. Bằng văn chương thì chỉ khi thế cùng lực tận, bất đắc dĩ mà thôi.
Hằng ngày Hinh sống như người nuốt phải quả chuỳ gai vào bụng, buốt nhói, nhăn nhó, bồn chồn, vừa ngồi đã đứng lên, mới ngủ đã vùng dậy, trán nhăn tối, mắt xa xăm. Như đang phải lòng một tiểu thư khuê các. Nhưng Hinh đâu phải là người dại dột, không bao giờ để phí chí khí, sức lực vào chuyện đàn bà. Vớ vẩn ! Chiếm mười trái tim đàn bà đâu có khó nhưng một trái tim nhân loại thì phải vượt trùng dương. Hinh ngước cái đầu mong đợi lên bầu trời, hoài vọng bóng dáng một con tàu, tìm kiếm một phép thần thông, mong đợi một dấu vết của cõi Thiên hoặc hơi hướng của miền Cực lạc để đưa về cho chúng sinh.

Tháng ngày như sợi chỉ căng mà lòng khao khát làm trai hải hồ, khắc khoải mong một phút được quỳ dưới chân bậc Chí Thánh và nói :"Ơn người. Người là nguồn ánh sáng dẫn dắt chúng con…Lũ chúng sinh con khao khát được gặp Người…"
Thế rồi, như sự linh nghiệm của lời nguyện cầu, một đêm giông tố bão bùng đất trời như trong cơn đau sinh nở, Hinh đã lên chín tầng Thánh địa để được gặp đấng Chí linh.
Bắt đầu là một ngọn nến, ánh lửa dịu ấm, toả một quầng sáng hình nón. Vầng sáng ấy toả hào quang, tia hào quang không thẳng mà có hình gấp khúc. Cuối cùng ở trung tâm vầng sáng ấy hiện ra khuôn mặt kiều diễm của một cô gái tóc vàng.
- Kính thưa…Hinh bàng hoàng thốt lên.
- Không phải ! – cô gái mỉm cười độ lượng – Tôi chỉ là sứ giả của đấng Lập đạo. Anh có lời thỉnh cầu gì gấp lắm không ? Người đang bận, việc hành đạo chỉ ở bước khởi đầu.
- Kính thưa, tôi là người của xứ Nhọc nhằn tăm tối…
- Thôi, anh không cần phải nói, chàng trai ạ, người xứ Nhọc nhằn có khát khao ánh sáng thì việc hành đạo mới càng được dễ dàng. Đây anh cầm lấy, theo Đạo thư này, anh sẽ tìm được chân lý.

Vị sứ giả trao cho Hinh Đạo thư quý giá ấy rồi nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi chỉ còn như một cái chấm chính giữa vầng hào quang rồi biến mất giữa bao la. Hai tay đỡ cuốn sách trước trán, Hinh vẫn quỳ và thành kính đặt lên đó một cái hôn, rồi anh run run dở ra đọc :
"Hãy đi về phía Nam theo con đường một bên là cây và một bên là nước, cuối con đường có quán bia hơi và thịt chó ; đừng nhìn vào chốn đam mê ấy và đi thật chậm. Dọc đường sẽ có người hỏi :"Có đi không ?" thì đừng đi. Đó cũng là người cần lao chứ không phải ma quỷ cám dỗ, nhưng phải đành từ chối. Đi tiếp, sẽ gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt đã là vườn hoa nhỏ. Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm bước từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất để "tìm cái này". Cứ thế…chỉ cần một lúc sau,anh sẽ có được thiên hạ."
Hinh ấp cuốn Đạo thư vào ngực tức tưởi : "Trời ơi,bảo bối, bảo bối…". Hinh sung sướng hét toáng lên. Tiếng anh vang rất to trong đêm và lúc ấy Hinh mới biết mình vừa qua một giấc mơ. Nhưng trời ơi, tại sao những điều anh nung nấu trong tâm can bấy lâu nay lại được giải đáp trong mơ. Anh sung sướng và cảm động đến mức nước mắt giàn giụa. "Ôi chúng sinh nhọc nhằn và tăm tối của ta, bảo bối này sẽ soi sáng đường chúng ta đi…"

Sáng hôm sau, Hinh thành kính chuẩn bị lên đường. Quần áo tươm tất ,mũ miện đàng hoàng. Trước nhà anh có một đại lộ chính Nam, có lẽ đúng là con đường này nên anh dấn bước ra đi. Một bên cây và một bên nước, hay một bên rừng một bên biển. Anh cứ đi, qua vài đoạn phố nữa thì anh thấy mình đi đúng con đường men theo cái hồ. Và giữa phố có hàng bia hơi thịt chó mà vài lần anh cũng đã bị cuốn vào đó. Ôi sự linh nghiệm không sai một dấu phẩy. Đường phố trong veo, lui cui mấy chiếc xe đạp chở kẹo bánh, than tổ ong đi bỏ mối cho các hàng nước vỉa hè, lọc cọc đôi chiếc xích-lô cà tàng đi tìm khách. Vài cô gái điếm vật vờ.
- Có đi không ?
Một cô gái điếm rủ rê. Hinh nhớ đến giấc mơ mà thấy lạnh xương sống ; trong mơ cũng ba chữ ấy. Đến cuối phố, Hinh thấy một ki-ốt sách báo thật ; chủ quán vừa mở cửa. Tại sao có sự kỳ diệu thế này, khi tỉnh anh nào có biết chỗ này có một quán sách ? Đi tiếp gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt là vườn hoa nhỏ. Hinh liền rẽ trái, đi một đoạn qua các cửa hàng bách hoá đã thấy vườn hoa Mùa Xuân.

Kẻ hành đạo không chần chừ đắn đo, đi tới giữa vườn hoa, lòng ngây ngất hơi men, một nửa muốn bay lên, một nửa trì xuống. Mắt Hinh hoa lên, đâu Thiên Thần, đâu Địa Thánh, không biết con đang đứng giữa Địa đàng hay mặt đất. Rồi anh chợt tỉnh lại..."Tìm cái này" là tìm cái gì , anh không hiểu nhưng không dám nghi ngờ lời vàng ngọc của đấng Tiên tri. Vườn hoa nằm cạnh đại lộ, lúc này đang vắng hoa, chỉ có mấy ông già tập thể dục muộn, dăm chàng thanh niên đá bóng và một tốp học sinh cấp ba đi học sắp qua. Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất… Hinh vừa cúi lom khom chăm chú tìm kiếm vừa lẩm nhẩm đọc. Anh như bị thôi miên, không biết mình đang tìm cái gì, nhưng anh cứ trung thành với lời chỉ gíáo, người cúi lom khom, mắt dán xuống đất và bước từng bước một chậm rãi.

Những người đang qua đường lấy làm lạ. Bắt đầu là nhóm học sinh cấp ba, mấy đứa con trai vốn hiếu kỳ đi đến và tự hỏi, không biết ông kia tìm cái gì nhỉ ? Chúng không thể tự giải đáp được.
- Anh ơi, anh tìm cái gì đấy ?
Hinh mải mê không hề nhìn lên, chỉ buột miệng trả lời :
- Tìm cái này.
Đối với chúng, câu trả lời ấy, làm ngứa ngáy chân tay. Nhất định cha này mất nhẫn, dây chuyền hay hạt xoàn gì đó thôi, chúng mình mà vớ được thì hay lắm.
Thế là cả bọn, cặp sách dồn lại một đống, nhảy vào cuộc tìm kiếm. Khi cả một đám người bò ra sục sạo tìm kiếm thì sự lạ càng tăng lên hàng chục lần. Người đi qua vườn hoa không bao giờ hết, dân lang thang thất nghiệp, dân nhà quê bỏ ra thành phố kiếm cơm…đang đói rách hy vọng vớ được một chút may mắn, những người này đi đến và không thể không hỏi:
- Tìm cái gì đấy ?
Lần này thì tụi trẻ con đã mau miệng trả lời :
- Tìm cái này !
Câu này đối với người lớn làm ngứa ngáy đầu óc. Thế là họ bỏ cả gồng gánh, xe cộ, nhảy vào quảng trường.
Rồi tiếp đến... Bây giờ là dân xích-lô, ba gác, dân ăn xin, trẻ mồ côi bán báo, dăm cô điếm, đám bụi đời móc túi nghe tin cũng tìm đến.
- Tìm cái gì đấy ?
- Tìm cái này.
Mả mẹ chúng nó, giấu như mèo giấu cứt. Nhất định là hạt xoàn, ru-bi, có lẽ tối qua tụi đào đá đỏ qua đây đánh nhau đổ ra một bị đá đỏ không chừng. Mẹ chúng nó, ông mà biết trước, ông rào lại, ông đuổi tất. Ông kia được một viên rồi hả , bắt nộp phạt, chúng mày !

Cứ thế...
Và số người hy vọng có một chút no ấm bò lê trên vườn hoa để tìm vật báu, đến lúc này đã đông như đàn kiến.
Hinh chợt nhận ra tiếng ồn của đám đông và anh ngạc nhiên đứng nhìn họ. Hoá ra thiên hạ đang bu lại xung quanh mình. Một lúc sau anh sẽ có được thiên hạ. Hinh sung sướng đến rơm rớm nước mắt và mãn nguyện ra về.

Cái đám đông ấy cứ như dòng nước trong lòng sông, trôi đi chứ không cạn. Người đến trước thất vọng ra về trước, người đến sau thất vọng ra về sau. "Tìm cái này" là cái gì thì không ai biết, nhưng cứ hy vọng có chút no ấm mờ mờ phía trước cũng đã hấp dẫn lắm, để họ trở thành một dòng nước.
Trưa.
Rồi chiều.
Và... vẫn còn đám đông xúm xít giữa vườn hoa Mùa Xuân.

Trần Huy Quang

(Truyện ngắn này được đăng trên tuần báo Văn Nghệ, số 27 ra ngày 04.7.1992. Bị thu hồi và có lệnh hủy sau khi phát hành 4 ngày, nhưng càng được tìm đọc. Tác giả Trần Huy Quang bị treo bút 3 năm. Tổng biên tập lúc ấy là Hữu Thỉnh, tuy đi vắng, vẫn bị nghiêm khắc khiển trách. Tác giả cho biết phải suy nghĩ hơn 10 năm mới viết được truyện ngắn cô đọng này ; anh phải suy nghĩ chọn từng câu, từng chữ, từng ý, từng hình ảnh...)
phaobinh
Posts: 51
Joined: Mon Mar 05, 2012 10:53 pm
Contact:

Post by phaobinh »

Trung Quốc kêu gọi Philippines kiềm chế

Báo Trung Quốc nói rằng bộ trưởng Quốc phòng nước này kêu gọi Manila thể hiện "sự thận trọng trong cả phát ngôn và hành động",
trong khi báo chí Philippines cho biết cả hai bên đều cam kết "kiềm chế"

Image
Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt và người đồng cấp của Philippines Voltaire Gazmin trong một cuộc gặp năm ngoái.
Ảnh: The Global Herald

Theo China Daily, phát biểu của ông Lương được đưa ra trong cuộc hội đàm với người đồng cấp của Philippines, ông Voltaire Gazmin, hôm 28/5 vừa qua, bên lề Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN tại Phnom Penh, Campuchia. Đây là cuộc đối thoại trực tiếp đầu tiên giữa người đứng đầu về quốc phòng hai nước và cũng là cuộc gặp cấp cao nhất giữa chính phủ Trung Quốc và Philippines nhằm trao đổi quan điểm về các vấn đề song phương, kể từ khi vụ va chạm ở bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham xảy ra cách đây hai tháng.

Ông Lương đổ lỗi cho Manila trong tranh chấp hiện nay ở bãi cạn và cho rằng các bước đi của Philippines "làm phức tạp tình hình".

Ông Li Guoqiang, phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Biên giới và Địa lý, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, cho rằng ông Lương đang gửi đi những tín hiệu quan trọng trong phát biểu của mình.

"Phát biểu của ông Lương cho thấy Trung Quốc muốn giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp chính trị và cũng chứng minh quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của chúng tôi", China Daily dẫn lời ông Li nhận định.

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc cũng cho rằng Bắc Kinh đã thực hiện nhiều giải pháp khác nhau nhằm thúc đẩy trao đổi song phương. Đáp lại, ông Gazmin cho biết Bộ Quốc phòng hai bên cần giữ đường dây liên lạc mở để tìm kiếm giải pháp hòa bình và thích hợp.

Trước đó, báo chí Philippines dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Gazmin cho biết sau cuộc gặp của hai bộ trưởng, hai bên đều nhất trí sẽ "kiềm chế" trong các động thái liên quan đến tranh chấp bãi cạn trên Biển Đông.

Trong khi căng thăng vẫn tiếp tục leo thang, cuộc gặp giữa hai bên được đánh giá là một tín hiệu tốt, theo ông Yang Baoyun, giáo sư Đông Nam Á học, đại học Peking. Điều này cho thấy hai bên đều sẵn sàng xoa dịu căng thẳng. Tuy nhiên, ông Yang cũng cảnh báo rằng lời kêu gọi về liên lạc mở của ông Gazmin không có nghĩa là Manila đã thay đổi lập trường.

Philippines không chỉ viện đến sự hỗ trợ của Mỹ mà còn mở rộng hợp tác quân sự với các nước như Nhật Bản và Ấn Độ. Ba tàu huấn luyện của hải quân Tokyo vừa cập cảng Manila trong một chuyến thăm kéo dài 5 ngày và cam kết cung cấp cho quốc đảo 10 tàu tuần tra trước cuối năm nay để tăng cường khả năng bảo vệ hàng hải và lãnh thổ.

Scarborough/Hoàng Nham vốn là bãi cạn không có người sinh sống cách đảo lớn Luzon của Philippines khoảng 230 km về phía tây. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh thổ với bãi cạn này, trong khi Philippines cũng khẳng định bãi nằm gọn trong vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý của mình. Kể từ khi va chạm xảy ra hồi đầu tháng 4, hai bên đã liên tiếp điều tàu ra bãi cạn, có những phát ngôn và động thái đối đầu gay gắt. Hiện hai nước đều đã ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở đây.

Anh Ngọc
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Clinton: 'Obama sẽ dễ dàng tái cử'

Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton hôm qua cho rằng tổng thống Barack Obama sẽ tái đắc cử dễ dàng tại Nhà Trắng,
dù các cuộc thăm dò cho thấy một cuộc đua sát nút của hai ứng cử viên.

Image
Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton. Ảnh: AFP

"Tôi vẫn nghĩ tổng thống sẽ thắng với hơn 5 hoặc 6 điểm", Bill nói trên CNN trong cuộc phỏng vấn với nhà sản xuất phim Harvey Weinstein.

Obama sẽ đối mặt với ứng cử viên đảng Cộng hòa Mitt Romney trong cuộc bầu cử 6/11. Chiến thắng trong cuộc bầu cử sơ bộ ở Texas hôm 29/5 giúp ông Mitt Romney giành đủ số phiếu để thành ứng viên tổng thống của đảng Cộng hòa.

Romney đã vượt lên trên Obama ở bang trọng điểm Florida với tỉ lệ 47-41%, theo báo cáo mới đây của Quinnipiac University Polling Institute. Tuy nhiên, Obama và Romney hiện hòa nhau trong một số thăm dò cấp quốc gia.

Reuters dẫn lời Bill Clinton, ông Romney và Obama có những chiến dịch tranh cử khác nhau, nhưng những kế hoạch của Obama sẽ có lợi hơn nhiều cho nền kinh tế Mỹ và hầu hết người dân Mỹ, so với của Romney.

Ngay trước cuộc bầu cử tổng thống tháng 11/2008, ông Bill Clinton đã thể hiện sự tin tưởng đối với Obama. "Tôi dự đoán rằng Thượng nghị sĩ Obama sẽ thắng (thượng nghị sĩ John McCain) và thắng một cách rất dễ dàng”, ông Bill cho biết trên CNN.

Đầu tháng 4 vừa qua, Bill Clinton cũng cho rằng Obama có thể chiến thắng dễ dàng nếu thuyết phục được cử tri rằng ông đã củng cố được một nền kinh tế trước đó bị lung lay.

Trọng Giáp
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »



Biệt kích Mỹ, Hàn bí mật nhảy xuống Triều Tiên

Tạp chí The Diplomat gây chấn động khi đưa tin một tướng Mỹ tại Hàn Quốc tiết lộ biệt kích Hàn Quốc và Mỹ
đã nhảy xuống lãnh thổ CHDCND Triều Tiên để do thám các cơ sở quân sự dưới lòng đất.

Image
Biệt kích Mỹ tại Hàn Quốc tham gia một cuộc tập trận gần khu phi quân sự - Ảnh: Reuters
Báo này cho biết tại một cuộc hội thảo ở Florida (Mỹ) tuần trước, chuẩn tướng Neil Tolley, tư lệnh Lực lượng chiến dịch đặc biệt Mỹ (USSOF) tại Hàn Quốc, cho biết kể từ sau chiến tranh Triều Tiên, Bình Nhưỡng đã xây dựng hàng ngàn đường hầm dưới lòng đất. “Vệ tinh của chúng ta không thể thấy hệ thống hạ tầng ngầm đó - chuẩn tướng Neil Tolley khẳng định - Do đó, chúng tôi đã cử biệt kích Hàn Quốc và Mỹ nhảy xuống CHDCND Triều Tiên để do thám”.

Ngày 29-5, theo tin AFP, đại tá Jonathan Withington, người phát ngôn của lực lượng Mỹ tại Hàn Quốc, đã phủ nhận thông tin này và cho rằng The Diplomat đã xuyên tạc lời chuẩn tướng Tolley. Tuy nhiên, phóng viên nổi tiếng David Axe, tác giả bài báo, khẳng định ông trích dẫn nguyên văn những gì chuẩn tướng Tolley đã nói. “Ông ấy nói rất kỹ ở thì hiện tại” - nhà báo Axe nhấn mạnh.4 đường hầm bí mật dưới khu phi quân sự

Chuẩn tướng Tolley tiết lộ toán biệt kích đã nhảy dù xuống lãnh thổ CHDCND Triều Tiên với các thiết bị gọn nhẹ để tránh bị quân đội nước này phát hiện. Toán biệt kích sử dụng thiết bị cảm biến nhỏ, nhẹ, có khả năng quan sát các cơ sở quân sự của CHDCND Triều Tiên từ cự ly xa an toàn. Họ còn sử dụng máy radio tần số cao để quân đội Bình Nhưỡng không thể dò tìm và phát hiện nguồn gốc sóng radio. Họ được trang bị hệ thống truyền điện không dây hiện đại, nhờ đó không cần mang theo các loại ăcquy nặng nề để tiếp điện cho radio và các thiết bị khác.

Theo tướng Tolley, trong số các cơ sở quân sự ngầm của CHDCND Triều Tiên có 20 sân bay bán ngầm, hàng ngàn điểm đặt trọng pháo và ít nhất bốn đường hầm nằm dưới khu vực phi quân sự (DMZ), nơi chia cắt hai miền Triều Tiên. Theo trang Global Security, từ năm 1974 đến 1990, lực lượng Hàn Quốc và Mỹ đã phát hiện được bốn đường hầm này, nhưng lúc đó Bình Nhưỡng khẳng định đây chỉ là những đường hầm dẫn tới mỏ than. Tuy nhiên, Washington và Seoul lại xác định các đường hầm này được đào để chuẩn bị một cuộc tấn công quân sự của Bình Nhưỡng.

Ngày 15-11-1974, toán thám kích Mỹ - Hàn Quốc đã phát hiện đường hầm đầu tiên khi thấy hơi nước bốc lên từ mặt đất. Đường hầm này sâu tới 45m, dài 3,5km, trong đó 1km lấn sâu vào khu DMZ. Bên trong đường hầm, toán thám kích Mỹ - Hàn còn phát hiện đường dây điện, hệ thống đèn, đường sắt và xe chạy trên đường ray...

Ngày 19-3-1974, toán thám kích Mỹ - Hàn lại phát hiện đường hầm thứ hai dài 3,5km, sâu 50-160m dưới lòng đất, cách Seoul 101km. Quân đội Mỹ ước tính khoảng 3.000 lính có vũ trang cùng xe tăng, xe thiết giáp, pháo cối có thể đi qua đường hầm này trong vòng một giờ. Đường hầm thứ ba lộ diện ngày 17-10-1978, chỉ cách Seoul 44km. Khoảng 30.000 binh lính có vũ trang có thể đi qua đường hầm này trong một giờ. Còn đường hầm thứ tư được phát hiện vào tháng 3-1990.

Tất cả nằm dưới lòng đất
Trong những năm qua, truyền thông Hàn Quốc và phương Tây từng phỏng vấn nhiều người CHDCND Triều Tiên trốn sang Hàn Quốc về hệ thống đường hầm do Bình Nhưỡng xây dựng. Từ năm 2003, tình báo Hàn Quốc đã ước tính CHDCND Triều Tiên có hàng trăm cơ sở quân sự quy mô lớn trong lòng đất và hơn 10.000 cơ sở nhỏ hơn.

“Đó là cách chúng tôi trốn kẻ thù. Tất cả ở CHDCND Triều Tiên đều nằm dưới lòng đất” - báo Los Angeles Times dẫn lời một người CHDCND Triều Tiên từng làm việc trong một đường hầm ở tỉnh Bắc Hamgyong cho biết.
Tương tự, báo mạng Hàn Quốc Daily NK từng dẫn lời ông Han Young Jin, một người trốn khỏi CHDCND Triều Tiên, mô tả quốc gia miền Bắc là “nền cộng hòa trong lòng đất”. Ông Han cho biết hệ thống tàu điện ngầm ở Bình Nhưỡng nằm dưới độ sâu 80-100m dưới lòng đất, nhưng các cơ sở quân sự còn nằm sâu hơn. Trang Global Security cho biết trên thực tế, quân đội CHDCND Triều Tiên đã bắt đầu xây dựng các đường hầm ngầm ngay sau chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 do Bình Nhưỡng lo ngại nguy cơ bị Mỹ không kích.

Lim Young Sun, người từng làm việc tại một căn cứ ngầm ở CHDCND Triều Tiên từ năm 1980 đến 1993, cho biết Bình Nhưỡng chủ yếu sử dụng công nghệ đào hầm của Nhật, nhưng sau này nhập thiết bị từ châu Âu. Một người từng làm nội gián cho Bộ chỉ huy tình báo quốc phòng Hàn Quốc (DIC) với cái tên giả Kim Ju Song tiết lộ tính đến năm 2009, Bình Nhưỡng đã xây ít nhất 800 boongke ngầm gần khu DMZ.

“Mỗi boongke có thể chứa 1.500- 2.000 quân được vũ trang đầy đủ - ông Kim Ju Song cho biết - Ngoài ra, trong các boongke còn chứa pháo cối, thuốc nổ, đủ mọi loại đạn dược”.
Nhà phân tích quân sự Daniel Pinkston thuộc Trung tâm nghiên cứu chống phổ biến vũ khí khẳng định kể cả khi Mỹ tấn công CHDCND Triều Tiên bằng bom xuyên phá thì “Mỹ cũng chẳng bao giờ xác định được các mục tiêu ở CHDCND Triều Tiên”.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nguyễn Phú Trọng không đọc sách

Ngô Nhân Dụng
Một bài trên mạng VietNamNet mới phỏng vấn và nêu lên các con số cho thấy người Việt Nam hiện nay rất ít đọc sách. Theo bài này thì trung bình mỗi năm một người Việt Nam chưa “đọc hết” một cuốn sách. Ðem tổng số sách (không kể sách giáo khoa) chia cho dân số, tính bình quân cứ mười người Việt đọc được bảy cuốn sách. Trong số đó, phần lớn chỉ là sách giải trí mà không bồi bổ trí thức. Một giám đốc nhà sách bi quan hơn nữa, nghĩ rằng chắc số sách đọc còn ít hơn nữa. Những cuốn sách có giá trị trên thế giới, được dịch ra tiếng Việt chỉ in chừng 500 cuốn, trong một nước dân số 85 triệu. Có người so sánh, cho biết dân Thái Lan mỗi năm trung bình một người đọc khoảng năm cuốn sách, tức là đọc nhiều gấp bảy lần một người Việt.

Người ta đọc sách nhiều thì chắc trình độ hiểu biết cao hơn, cách suy nghĩ cũng chín chắn hơn. Nói chung, việc đọc sách chắc chắn phải ích lợi cho cả nền kinh tế quốc dân. Các nhà nghiên cứu phát triển cho biết khi dân một nước đọc sách nhiều hơn thì họ dễ gia nhập vào đời sống kinh tế hiện đại hơn vì bây giờ làm nghề gì cũng phải có kiến thức. Ở các nước chậm tiến thì dân ít đọc sách. Nhưng việc đọc sách đem tới ích lợi kinh tế nhiều hơn khi phổ cập trong toàn thể xã hội chứ không tập trung trong một tầng lớp “ưu tú” ở các thành phố. Bài báo trên VietNamNet đã nêu thí dụ về nước Mỹ, nhận định: “Cái hay ở Mỹ là tri thức sách vở, kiến thức của mọi người được lan tỏa đến số đông hơn là chỉ một nhóm người như ở Châu Âu.” Vì trình độ kiến thức chung cao cho nên “Chỉ có nước Mỹ mới sinh ra những tỉ phú như Bill Gates, Steve Jobs... - những người sống bằng khoa học, trí tuệ.”

Người Việt Nam bây giờ ít chịu đọc sách, chắc vì người lớn thì coi phim bộ, thanh niên thì coi trình diễn nhạc trẻ và coi báo đăng hình quần áo giầy dép mốt mới nhất. Cho nên mới có cảnh các thiếu nữ tôn thờ ca sĩ ngoại quốc, ôm hôn cả cái ghế mà thần tượng mới ngồi lên. Mới có cảnh một cô chủ tịch công ty xây dựng đi thăm công trường đầy xi măng, nhôm với sắt mà lại mặc váy hồng, đi giầy cao gót cũng màu hồng giống như đang đi mua sắm.

Nhưng không nói gì đến người dân thường, mà cả những người lãnh đạo đảng cộng sản cũng không chịu đọc sách nữa. Như ông Nguyễn Phú Trọng chẳng hạn. Trong hội nghị Trung Ương Ðảng mở rộng vừa rồi, ông tổng bí thư khẳng định đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không chấp nhận “tam quyền phân lập”. Riêng câu này đủ để ghi tên Nguyễn Phú Trọng vào lịch sử sự thoái hóa trong nhân loại. Loài người tiến bộ, mình không theo kịp, rồi còn đi thụt lùi, cho nên gọi là thoái hóa. Từ thế kỷ 17, 18, trong nhân loại đã nẩy ra ý kiến phải đặt giới hạn trên quyền hành của những người cai trị. Vì thế phải tách ra ba thứ quyền: Có người soạn ra luật pháp; có người chỉ lo thi hành luật pháp; và những người khác nắm quyền phán đoán xem có hành động nào sai luật luật pháp hay không. Từ thế kỷ 18 đã nhiều quốc gia thí nghiệm ý kiến này trong tổ chức chính quyền. Ðó là những quốc gia đạt được tiến bộ nhanh nhất và cao nhất về kinh tế, văn hóa, và xã hội. Loài người đã rút kinh nghiệm như vậy hơn 200 năm nay. Bây giờ ông Nguyễn Phú Trọng nhất định bác bỏ không chấp nhận “phân quyền!” Như vậy chẳng phải là thoái hóa thì gọi là cái gì? Ðiều đáng kinh ngạc là, sau khi ông Nguyễn Phú Trọng nói trâng tráo như thế, không thấy có ai trong Quốc Hội và trong tòa án tối cao ở Việt Nam mở miệng bàn một câu nào cả! Trên lý thuyết họ nắm quyền lập pháp và tư pháp; nhưng đành ngậm miệng. Tình trạng thoái hóa không phải là độc quyền của ông tổng bí thư đảng cộng sản!

Lời tuyên bố trên cũng chứng tỏ ông Nguyễn Phú Trọng không chịu đọc sách. Có một cuốn sách bán đầy ở Hà Nội, ai có thời giờ làm ơn mua một cuốn gửi cho ông tổng bí thư đọc để giúp ông mở mắt ra. Ðó là cuốn “Người Trung Quốc và những căn bệnh trong nhân cách” của Hà Tông Tư, do Phạm Bá dịch, nhà xuất bản Công An Nhân Dân in năm 2007. Ông Hà Tông Tư kịch liệt đả kích chế độ chuyên chế ở Trung Quốc trong hơn 2,000 năm lịch sử. Cho nên ông viết rõ ràng chỉ có phân quyền mới thật sự dân chủ.

Hà Tông Tư nhiệt liệt ca ngợi chế độ tự do dân chủ, thể hiện qua việc cai trị bằng hiến pháp, luật pháp, mà ông gọi là Hiến Chính. Ở trang 40 cuốn sách trên, tác giả viết: “Nguyên tắc cơ bản của pháp trị là: Mở rộng tự do cá nhân với khả năng lớn nhất, hạn chế tối đa quyền hạn của kẻ cầm quyền.” Trang sau, ông nêu ra tiêu chuẩn: “Bản thân hiến pháp có bao hàm tư tưởng thực sự hạn chế và ràng buộc quyền lực chính trị không. Và trên thực tế nó có ràng buộc, hạn chế quyền lực chính trị một cách có hiệu quả hay không?” Và Hà Tông Tư khẳng định: “Nguyên tắc phân quyền là đặc trưng cốt lõi của Hiến Chính; chủ yếu là tách biệt quyền tư pháp với quyền hành chính, thể hiện ở chỗ tư pháp phải được độc lập.”

Chắc chắn ông Nguyễn Phú Trọng chưa hề để mắt đến những ý kiến nêu trên. Mà đây không phải là ý kiến của “những thế lực thù địch” nào cả. Ðây là một tác giả người Trung Quốc, sách đã phổ biến ở Trung Quốc, lại được nhà xuất bản Công An Nhân Dân ở Việt Nam in ra. Trong hàng ngũ công an cũng có những người muốn phổ biến những ý kiến tiến bộ như vậy. Thế mà cả ông tổng bí thư lẫn những người về họp cùng với Trung Ương Ðảng chẳng ai chịu đọc sách cả!

Nhân lúc ở Việt Nam đang bàn sửa hiến pháp, cũng xin trích ý kiến của Hà Tông Tư giải thích tại sao cần phân quyền: “Ràng buộc và hạn chế quyền hạn và hành vi của chính phủ, đó là nhiệm vụ chủ yếu của hiến pháp.” Ai đọc qua bản hiến pháp nước Mỹ thì thấy rõ ý Hà Tông Tư. Hầu hết các điều trong bản hiến pháp ngắn ngủi đó toàn là những giới hạn quyền hành của chính phủ liên bang. Ðọc cuốn sách của Hà Tông Tư thấy ông cho là chính chế độ chuyên chế gây ra bao nhiêu điều đáng xấu hổ cho người Trung Hoa; thí dụ như tính ỷ lại, không có tinh thần trách nhiệm, nịnh trên nạt dưới, hèn yếu, nhu nhược, vân vân!

Hà Tông Tư trích lời triết gia người Anh John Stuart Mill: “Chế độ chuyên chế, xét từ bản chất, nó đã có khuynh hướng dùng chính sách ngu dân!” (trong bản dịch đã viết nhầm tên triết gia Mill thành Miel, nhiều lần; mặc dù cuốn sách Bàn về Tự Do của J.S. Mill đã được dịch và in ở Việt Nam). Ở trang 703, Hà Tông Tư còn bình luận: “Chính sách ngu dân bao giờ cũng đi đôi với việc bế quan tỏa cảng, cấm tự do ngôn luận... cùng dựa vào nhau mà thành hình.” Mười trang sau, ông viết thêm: “Tội ác chuyên chế là tội ác lớn nhất trên thế gian! Hạn chế tự do ngôn luận là thâm hiểm nhất, xảo trá nhất, bỉ ổi nhất, tàn nhẫn nhất trong các thủ đoạn chính trị!”

Nếu mấy ông bà trong Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam chịu khó đọc Hà Tông Tư thì trước hết họ sẽ thấy phải trả lại quyền tự do ngôn luận cho người dân, để ít nhất tránh khỏi những lời kết tội: “Thâm hiểm nhất, xảo trá nhất, bỉ ổi nhất, tàn nhẫn nhất;” và cái tội “ngu dân”. Trên hết, phải bắt đầu tôn trọng và thực hiện quy tắc phân quyền; đừng có nghe ông Nguyễn Phú Trọng.

Bao giờ đất nước có tự do thì người dân mới có hứng thú đọc sách. Như tác giả bài trên VietNamNet viết về những Bill Gates và Steve Jobs thành công trong xã hội Mỹ: “...chỉ ở môi trường đó mới giúp những người có phát minh, sáng kiến có thể giàu có được. Họ chính là những người đang làm ra sản phẩm và hàng hóa hỗ trợ con người. Ở Việt Nam thì không thể có chuyện như vậy.”

Thực ra không thể nói có liên hệ nhân quả trực tiếp giữa trình độ kiến thức của dân chúng Mỹ với sự thành công của những nhà kinh doanh Bill Gates và Steve Jobs. Hai hiện tượng diễn ra song song; cả hai đều cùng do một nguyên nhân gây nên, là xã hội tự do. Khi các ngành báo chí, xuất bản được tự do thì dân chúng sẽ đọc sách nhiều hơn; khi các nhà kinh doanh được tự do thì những người có sáng kiến táo bạo dễ thành công lớn. Muốn bảo đảm xã hội được tự do thì phải tổ chức theo quy tắc phân quyền, mọi người Việt Nam phải nhắc nhở cho ông Nguyễn Phú Trọng điều đó để ông đọc thêm. Hy vọng ông sẽ hiểu ra rằng cưỡng lại không phân nhiệm ba quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp tức là cản trở sự tiến bộ kinh tế của cả dân tộc.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Trung Quốc cảnh báo Mỹ về Biển Đông

Truyền thông nhà nước của Trung Quốc cảnh báo Washington về việc can thiệp vào Biển Đông,
sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nói sẽ đưa phần lớn hạm đội hải quân tới Thái Bình dương cho tới năm 2020.

Image
Tàu chiến đấu Littoral của Mỹ được cử tới Singapore tập trận. Đây là một trong những chiến hạm của hải quân Mỹ
hoạt động tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ảnh: US Navy

"Một vài nước nên được khuyên can về việc kiềm chế để không làm dậy sóng ở đó", hãng tin Xinhua của Trung Quốc cho hay, với ý nhắc đến Biển Đông, vùng biển thuộc Thái Bình dương và là nơi có những tuyên bố chủ quyền chồng lấn.

Tại Biển Đông, Trung Quốc có tranh chấp chủ quyền với các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như Việt Nam, Brunei, Malaysia và Philippines.

Hãng tin của Trung Quốc nối rằng có bên liên quan trong tranh chấp tại Biển Đông nhận được sự ủng hộ từ quan điểm mới của Mỹ, và điều này được Bắc Kinh cho rằng không có lợi cho tình hình chung.

Xinhua cũng nhấn mạnh rằng Bắc Kinh có mong muốn thực sự trong việc đưa Biển Đông trở thành một vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác. Toàn bộ những nhận định kể trên được đăng trong bài viết có tiêu đề "Không làm dậy sóng Biển Đông".

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta hôm qua thông báo tại Đối thoại Shangri-La quyết định triển khai thêm nhiều chiến hạm tới Thái Bình dương, như một phần trong chiến lược quân sự mới có nội dung chuyển dịch dần trọng tâm sang khu vực châu Á - Thái Bình dương.

Ông Panetta cho rằng đó là một phần của nỗ lực bền bỉ và thận trọng để nâng cao vai trò của Mỹ tại một khu vực có ý nghĩa quan trọng với tương lai của nước này. Bộ trưởng Panetta cũng cho hay sự thay đổi chiếc lược này không phải là nhằm thách thức Trung Quốc.

Nhật Nam
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tham mưu trưởng liên quân Mỹ đến Phillipines

Chỉ huy cấp cao nhất của quân đội Mỹ, chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân Martin Dempsey,
tới Philippines để bàn về tăng hợp tác quốc phòng hai nước.


Image
Tướng Martin Dempsey, Tham mưu trưởng liên quân Mỹ. Ảnh: AP

Trong chuyến công du, tướng Martin sẽ thảo luận với người đồng cấp Phillipines là tướng Jessie Dellosa, và hội kiến Tổng thống Phillipines Benigno Aquino III.

Phát ngôn viên quân đội Philippines cho biết chuyến thăm và các cuộc thảo luận trong hai ngày nhằm tiếp tục thực thi Hiệp ước an ninh chung giữa Mỹ và nước chủ nhà, hai quốc gia đồng minh lâu năm.

Báo Phillipines The Star dẫn lời một nguồn tin quân sự cho biết vấn đề lãnh hải có thể sẽ được đưa ra thảo luận, sau khi Mỹ tuyên bố kế hoạch tăng cường sự hiện diện tại Thái Bình Dương. "Nhiều khả năng, nó (bãi cạn Scaborough/ Hoàng Nham) sẽ là một phần trong cuộc thảo luận", nguồn tin này cho biết.

Đại tá David Lapan, phát ngôn viên của ông Martin Dempsey, cho hay chuyến thăm này thể hiện cam kết với các đối tác và đồng minh quan trọng, nhằm thảo luận về việc tăng cường mối quan hệ quân sự trong khu vực, một phần trong chiến lược mới của Mỹ ở Thái bình dương.

Trước khi đến Philippines, tướng Dempsey đã tham dự Hội nghị an ninh cấp cao châu Á tại Singapore, nơi phái đoàn của Mỹ lần đầu tiên nêu chi tiết việc thực hiện chiến lược của Washington ở khu vực.

Trọng Giáp
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Báo Giấy Và Báo Điện

Tác giả : Vi Anh
Mới đây tờ báo lâu đời 175 năm tuổi (thành lập vào năm 1837), nhựt báo Times-Picayune ở New Orleans, từng được giải thưởng Pulitzer và nhiều giải khác, phải giảm chỉ còn ra ba số báo một tuần, khiến thành phố lớn nhất tiểu bang Louisiana,đột nhiên trở thành một nơi khơng có nhật báo hàng ngày nữa. Không phải chỉ có nhật báo giấy Times-Picayune ở New Orleans đầu hàng Internet làm việc này, mà ba tờ nhựt báo giấy của công ty Advance Publications là The Huntsville Times, Mobile Press-Register và Birmingham News Times ở tiểu bang Alabama, cũng giảm số báo ngày, chỉ ra báo giấy một tuần ba ngày thôi. Công ty này cho biết lý do chánh của việc cắt giảm số lần phát hành báo in xuống còn 3 ngày, là bốn nhựt báo của công ty đã phải hứng chịu hòan cảnh thiệt hại do càng ngày các độc giả càng lên Internet đọc tin tức càng nhiều và các báo phải giảm ngày ra báo tập trung làm báo điện tử.

Chủ nhiệm báo Times-Picayune là ông Ashton Phelps trong thông tri nội bộ cho biết thay đổi này sẽ phải cho nghỉ việc một số người trong ban quản trị, biên tập, và phát hành của tờ báo. Ba tờ nhựt báo lâu đời, qui củ của Mỹ như vậy mà phải thay đổi vì và do thời đại mới, thời đại của khoa học kỹ thuật cao tin học, dùng kỹ thuật số để làm báo như vậy. Huống hồ gì báo chí giấy bằng tiếng Việt ở Mỹ mới có mặt trên ba mươi mấy năm trên mảnh đất quê hương của Internet, cái nôi của computers là nước Mỹ này. Thời đại mới, kỹ thuật mới, con người mới, thì nghề báo cũng mới, người làm báo cũng phải mới, và độc giả cũng phải đổi mới. Định luật của sự sống, không biến đổi là bị đào thải thôi.

Muốn hay không muốn truyền thông đại chúng bây giờ cũng đóng vai trò lớn không chối cãi được trong cuộc sống của thời đại này. Để một bên quảng cáo tràn ngập trên các loại hình truyền thông đập vào mắt vào tai mỗi người một ngày không biết bao nhiêu lần, còn có thông tin, nghị luận, và giải trí - có thể nói quá phong phú đến thừa mứa nữa. Tạm lấy người Mỹ như một điển hình tiên tiến trong thời đại truyền thông đại chúng vì muốn hay không muốn người Mỹ là người sử dụng và hưởng dụng truyền thông đại chúng nhiều nhứt. Để từ đó thử phân tích tin tức là một thứ giải trí hay là một nhu cầu công ích.

Một, khảo nghiệm của đại học cho biết người Mỹ là người dùng truyền thông nhiều nhứt. Dùng hai phần ba thời gian thức để vô Internet, xem TV, nghe nhạc, hay nói điện thoại. Vừa vào Internet vừa làm việc khác như xem truyền hình, nghe nhạc, xem thư. Đó là kết quả do Trung tâm nghiên cứu của Đại học Indiana làm một cuộc khảo sát khoa học và công phu. Kết quả cho biết trung bình một người Mỹ sử dụng 30% thời gian thức để tiếp cận với truyền thông và 20% để làm việc. Theo nhận xét của Giám đốc Trung Tâm là Ô Michael Bloxham, tham khảo truyền thông có nghĩa thí dụ như xem TV, nghe radio, đọc báo. Kết quả này không có gì đáng ngạc nhiên, nó xác nhận khuynh hướng chung rất phù hợp với những khảo nghiệm những năm trước đây; nó cũng xác nhận vai trò rộng lớn của truyền thông trong đời sống của người Mỹ.

Khảo nghiệm cũng cho biết trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng, có hai loại người. Loại thứ nhứt xem truyền hình trung bình 240 phút (4 giờ đồng hồ) một ngày. Loại thứ hai xem computers 135 phút (2 giờ 15 phút) một ngày. Loại hai xem những gì trình bày, loan tải trên mạng qua Internet, như điện thư, điện tín khẩn, báo chí, nhạc. Và có một điều ngạc nhiên đầy thích thú là thời gian xem computers theo khảo nghiệm bằng với thời gian nghe nhạc mỗi ngày, nghe từ nhiều thứ máy, như radio, nhạc phát từ nhiều chương trình trên mạng.

Hai, tiếp cận với truyền thông chánh yếu để giải trí và biết tin tức. Vậy tin tức là một trò giải trí hay một nhu cầu vì công ích. Theo Jim Lehrer, một người dẫn chương trình đáng kính của truyền hình PBS, được mời chất vấn ứng cử viên tổng thống nhiều lần, khẳng định tin tức không phải là một thứ giải trí, mà là một nhu cầu công ích. Cơ quan truyền thông vì thế không phải là nơi làm kỹ nghệ giải trí.

Nhưng Victoria Corderi, người dẫn chương trình Dateline của Truyền hình hình NBC nói ngược lại, tin tức là một thứ giải trí.

Bất đồng ý kiến này có lý do. Truyền thông đại chúng bây giờ so với 20 năm trước phát triển thành nhiều loại, báo chí, phát thanh, truyền hình, websites, blogs, v.v... Khán thính giả rộng đường thông tin nghị luận, nhưng cũng có thể tạo cho mình một ốc đảo về quan điểm lập trường, cái gì thích thì nghe nhìn, cái gì không thích thì bỏ qua. Vậy tin tức đúng là một nhu cầu công ích để người nghe nhìn các dữ kiện để so sánh, nhận định, tự chọn cho mình một quyết định. Chính vì vậy hơn bao giờ hết, trong thời đại này, tin tức vô tư, trung thực, chính xác, kịp thời là một nhu cầu công ích để tạo niềm tin — là cần thiết hơn bao giờ hết.

Nhưng càng ngày truyền thông càng tỏ ra không thành công với thiên chức đó. Nhiều xì căn đan xảy ra, do chính nhà báo gây ra, trong những tờ báo lớn như USA Today, New York Times, và hệ thống truyền hình lớn. Nếu đà này tiếp diễn chắc chắn niềm tin của quần chúng sẽ bị xói mòn.

Truyền thông đại chúng cũng gặp vô vàn khó khăn do thời đại gây ra. Nhiều bàn tay đang trói chặc truyền thông. Độc giả báo ngày càng bớt. Quảng cáo là nguồn lợi lớn nhứt cho đời sống vật chất của truyền thông. Thêm vào đó một người chỉ cần có một máy quay phim, đóng một số tiền rất nhỏ mua vùng trên Internet là có thề làm ra vô vàn tin tức.

Chính trong cảnh vàng thau lẫn lộn đó, tin tức đúng hơn lúc nào tỏ ra vô cùng thiết yếu, như nhu cầu công ích vậy. Đúng theo nghĩa truyền thống là vô tư, độc lập, trung thực, chính xác và kịp thời. Quần chúng cần những thứ đó để biết sự thật. Do vậy tin tức không thể là một trò giải trí. Tin tức là tin tức. Nó có thể tốt, làm vui với người, phe đảng này, nhưng xấu, làm bực người, phe đảng khác. Nhưng cái giá trị cốt yếu của nó là sự thật. Bóp méo sự thật dù một chút thôi để làm vừa lòng phe đảng nào đó, như một thứ giải trí là không còn là tin tức nữa.

Ba và sau cùng, Internet không giết chết báo chí được, trái lại nó kiện tòan cho báo chí. Phần chánh của báo chí nói chung là thông tin, nghị luận. Không web, blog cá nhân nào thay thế được. Báo chí có phóng viên, ký giả, ban biên tập, chủ bút, chủ nhiệm, có kỹ thuật và chuyên môn phối kiểm tin tức, và chính danh chịu trách nhiệm với quần chúng nên đáng tin cậy hơn blog cá nhân và web cá thể.

Báo chí cũng đang thích nghi để sinh tồn, sử dụng Internet để phát triễn thay vì để cho Internet đào thải. Có báo giấy bớt số phát hành, bớt ngày ra báo, tinh giảm nhân sự để nhẹ gánh tài chánh điều hành. Nhưng hầu hết các báo giấy ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc châu đều có điện tử hóa tờ báo giấy của mình. Hầu hết việc làm báo, làm tin, viết nghị luận, gởi bài vở, hình ảnh, lên khuông, gởi nhà in bây giờ làm bằng kỹ thuật số, qua Internet. Rất đỡ tốn hơn xưa. Từ một tờ báo gởi in ra giấy đến việc chuyển lên Internet làm thành tờ báo điện tử hầu như chẳng tốn kém gì. Hẩu hết báo giấy bây giờ đều có hình thức điện tử trên Internet. Báo có mở blog mở web trên cho báo giấy của mình, để mở rộng độc giả, thu thêm quảng cáo, và tiền mua bài có tính tòan cầu. Có nhiều thông tin, nghị luận độc giả báo điện tử phải ghi danh, trả lệ phí như mua bài mới mở đọc được. Báo điện tử có một kỹ thuật quảng cáo rất thành công, thu hút rất nhiều chủ hàng quảng cáo và bắt người đọc phải xem quảng cáo rồi mới vào đọc thông tin, nghị luận được. Thương mại bây giờ có tính tòan cầu với WTO. Buôn bán trên mạng bây giờ rất phổ thông, tiện lợi, xem, chọn hàng, trả giá mua trên mạng, trả tiền trên mạng, hàng gới tới tận nhà, quá tiện và nhanh, khỏi đến tiệm buôn bán, mất thì giờ./.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Những bài báo sáo rỗng

Bùi Tín (Blog VOA)

Thỉnh thoảng tôi mở mạng đọc “Nhân Dân online” để biết thêm chút ít tình hình các mặt trong nước, để so sánh báo lề phải với báo lề trái.

Do đã từng làm việc hàng chục năm ở báo Nhân Dân, tham gia lên lớp đào tạo nhiều khóa nhà báo trẻ, tôi luôn bị dị ứng về văn phong của báo đảng CS, từ báo Pravda của đảng CS Liên Xô, cho đến Nhân Dân Nhật Báo Bắc Kinh của đảng CS Trung Quốc, rồi đến báo Nhân Dân của đảng CS Việt Nam. Báo chí CS đã hô hào tự đổi mới mấy chục năm, nhưng càng đổi mới lại càng... vẫn thế, vẫn là ông Vũ Như Cẩn, lắm tin sáo, tin rỗng, tin không có nội dung. Thật đáng ghê sợ.

Ðó là một thứ văn phong theo lối thông báo của văn kiện nhà nước, tràng giang đại hải, theo lối công thức quan liêu, nội dung thông tin rất nghèo nàn, đọc đoạn trước đã đoán ra đoạn sau, thậm chí có những tin tức rỗng ruột, nghĩa là không có một nội dung nào có giá trị cả.

Vừa qua tôi đọc trên Nhân Dân online ngày 27 tháng 5 năm 2012, bị một hạt sạn vỡ răng, rùng mình.

Xin kể lại với các bạn và chia sẻ với cả làng báo ở trong nước.

Ðó là tin đầu vị, được coi là quan trọng nhất của cả số báo, tường thuật “Lễ trao giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật lần thứ 3 và trao danh hiệu nghệ sĩ ưu tú lần thứ 7 cho các tác phẩm, cụm tác phẩm, cụm công trình và cho các văn nghệ sĩ trong cả nước”.

Ðọc tin quan trọng này, dài cả một trang báo lớn, cả hàng ngàn chữ, người đọc báo được biết những gì? Ðược biết rằng lễ trao rất trọng thể, vừa qua, tại Nhà Hát Lớn thủ đô Hà Nội, do ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang chủ tọa, với diễn văn mở đầu của ông bộ trưởng Bộ Văn Hóa-Thông Tin và Du Lịch Hoàng Tuấn Anh và huấn thị của ông chủ tịch nước.

Cả bài diễn văn và bài huấn thị đều nhắc đi nhắc lại rất là chung chung, theo công thức, đến “công sức, thành tích của đông đảo văn nghệ sĩ nước ta đã lao động cần cù và sáng tạo”, “phản ánh cuộc sống lao động và chiến đấu anh hùng của nhân dân ta”, do đó đã có được “nhiều tác phẩm có giá trị cao, đậm đà bản chất dân tộc”...

Người đọc báo chỉ muốn biết những tác phẩm, cụm tác phẩm, cụm công trình văn hóa nghệ thuật được Giải thưởng Nhà Nước đó là những tác phẩm, công trình gì, của những ai? Mang tên gì? Theo thể loại gì? thì chịu, không có lấy tên một người, không có đầu đề của một tác phẩm nào cả. Cũng không biết đó là tiểu thuyết, truyện ngắn, hồi ký hay phim truyện, phim thời sự, phim lịch sử, phim phóng sự, hay sách phê bình văn học, hay tác phẩm hội họa, điêu khắc hay nhiếp ảnh. Chỉ có vẻn vẹn 2 con số, “là đã có 129 tác phẩm, cụm tác phẩm, cụm công trình được Giải thưởng Nhà Nước và 356 nghệ sĩ được danh hiệu Nghệ sỹ Ưu tú”. Cả trang tin, chỉ có một dòng gồm 30 chữ trên đây là có giá trị.

Không một tên nghệ sĩ nào, không một tên tác phẩm nào trong bản tin hệ trọng này, ngoài tên của 2 ông Trương Tấn Sang và Hoàng Tuấn Anh được nhắc đi nhắc lại 2 lần. Cái mà người đọc muốn biết nhất thì lại hoàn toàn không có gì. Những ai được thưởng? Thưởng về những tác phẩm gì?

Cả một làng báo, từ tổng biên tập, phó tổng biên tập, ban biên tập chuyên ngành (chính trị, quốc tế, kinh tế, văn hóa nghệ thuật, thể thao...) ban thư ký tòa soạn, qua bao nhiêu năm đổi mới, quan hệ với làng báo quốc tế, vậy mà vẫn thủ cựu, lạc hậu như xưa, không được huấn luyện lại, để dọn ra những món ăn hợp khẩu vị của khách hàng là bạn đọc, dự đoán trước người đọc thường muốn biết điều gì để phục vụ cho sát mong chờ của khách.

Trong tin trên đây, người đọc bình thường nhất cũng chỉ mong biết có những tác phẩm nào của những văn nghệ sĩ nào, thuộc ngành nào, tên là gì, hay ở chỗ nào để rồi tìm hiểu tiếp.

Tất cả đều không thấy đâu, đều ẩn dấu, đều như chuyện cơ mật, hay đánh đố người đọc báo.

Mở đầu buổi học về làm tin, viết tin, tường thuật, ở đâu người ta cũng dạy người viết báo phải tự đặt ra câu hỏi: Ai? Ở đâu? Chuyện gì? Bao giờ? - Who? Where? What? When? theo tiếng Anh. Những ai được thưởng? Về những tác phẩm gì? Bản tin này rỗng ruột.

Ðây là thói quan liêu, tệ độc đoán, là cái bệnh cố hữu coi thường nhân dân, khinh thường bạn đọc đã thâm căn cố đế, không sao tháo gỡ, mãi mãi xa rời, bất cần, vô lễ với người đọc là nhân dân.

Ðó là những tin dài lê thê nhưng trống rỗng, không có nội dung, vô hồn, tốn giấy mực, tốn công in, tốn tiền, tốn thời gian của người mua, người đọc báo.

Chẳng lẽ trong số 129 tác phẩm, công trình được Giải Thưởng Nhà Nước lần này lại không có lấy mươi công trình hay chí ít là vài ba công trình đáng kể nhất để thông báo cho bạn đọc hay sao? Và trong 356 nghệ sĩ tiêu biểu được tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú lần này lại không có thể kể ra một vài tên tiêu biểu cho mỗi thể loại hay sao?

Ðây là nét điển hình của làng báo Việt Nam tuy theo kinh tế thị trường nhưng còn cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa không giống ai, không giống ở đâu trên thế gian này.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Anh em cứ tưởng họ tới rồi đi

Ngô Nhân Dụng

Chuyện mấy thương gia người Trung Quốc sang nước ta thuê người Việt đứng tên nuôi cá bè, quý vị đã đọc hết trên báo này cũng như trên các mạng lưới. Một điều nhiều người phải đặt câu hỏi là phản ứng và thái độ của các cán bộ lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam khi những chuyện này được báo chí phanh phui. Họ làm như không biết gì cả!

Mỗi năm vùng Cam Ranh cung cấp hàng ngàn tấn đồ biển loại cao giá, phần lớn được các đầu nậu thu mua rồi bán qua Trung Quốc. Theo báo chí trong nước, chung quanh vịnh Cam Ranh hiện có đến 300 ha mặt nước nuôi cá mú, cả nước không đâu nhiều bằng; ngoài ra còn có 15,000 lồng nuôi tôm hùm. Phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị nói rằng hầu hết dân chúng cũng như giới buôn bán trong vùng Cam Ranh đều biết các đìa cũng như lồng bè nuôi cá, tôm đều do người Trung Quốc làm chủ.

Ông Nguyễn Thành Long, thuộc đội quản lý thị trường số 3 biết là đang có ít nhất bốn cơ sở thu mua và một cơ sở nuôi bè hải sản của người Trung Quốc, nhưng do người Việt Nam đứng tên. Một khu rộng 500 mét vuông ghép những chiếc bè kiên cố nuôi cá chim; trong khu bè đó họ dùng thức ăn nuôi cá mang bao bì hoàn toàn viết bằng chữ Trung Quốc, vi phạm luật lệ thương mại bắt phải viết thêm tiếng Việt cho người tiêu thụ Việt Nam hiểu được.

Một nguồn tin khác là ông Trần Văn Ớt, phó phòng kinh tế Cam Ranh lại nói rằng không một cá nhân hay doanh nghiệp nào được cấp phép nuôi trồng thủy sản trên vịnh Cam Ranh. Tuy nhiên thành phố hiện có đến 800 ha nuôi trồng thủy sản, khoảng 11,400 lồng nuôi, chủ yếu là nuôi trồng tự phát. Ðiều được báo chí trong nước nêu lên báo động dư luận là nhiều bè, lồng nuôi cá do người Trung Quốc tổ chức chỉ cách quân cảng Cam Ranh có 300 mét! Trên nguyên tắc thì quân cảng là một địa điểm phải được bảo vệ kín đáo hơn! Chính vì báo chí ở Sài Gòn lên tiếng cho nên chính quyền địa phương mới tỏ vẻ “giật mình” và “chỉ đạo các cơ sở cấp dưới báo cáo!”

Báo trong nước viết: Ngày 31 tháng 5, lãnh đạo Thành ủy Cam Ranh đã chỉ đạo phải rà soát lại các hoạt động kinh doanh, thu mua, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố Cam Ranh. Cùng ngày, chính quyền tỉnh Khánh Hòa có văn bản khẩn yêu cầu Cam Ranh báo cáo công tác quản lý hoạt động của người nước ngoài trên địa bàn cho Ủy Ban Nhân Dân tỉnh trong một tuần lễ!

Cứ theo bản tin trên thì những người có trách nhiệm trong cả “đảng” và “nhà nước” ở Cam Ranh, Khánh Hòa đều chờ các nhà báo loan tin rồi mới ra lệnh cho cấp dưới phải báo cáo! Nếu không báo nào loan tin, thì chắc là các ông các bà không biết chuyện người Trung Quốc đang thuê người Việt đứng lên làm bè nuôi cá ngay trước mắt thiên hạ, và chỉ cách quân cảng 300 mét! Nếu như các nhà báo được các ông chủ Trung Quốc hoặc các đầu nậu Việt Nam đãi đằng rượu trà, bao thư đầy đủ, không báo nào loan tin thì chắc đến giờ các “đồng chí lãnh đạo” vẫn không biết gì cả! Có ai tin được như vậy hay không?

Nhưng Cam Ranh chỉ là một địa điểm được lái buôn Trung Quốc chiếu cố. Tiếp theo, lại đến tin tại Vũng Rô, tỉnh Phú Yên, người Trung Quốc cũng đã “đóng gần 200 lồng nuôi cá trải rộng trên diện tích hàng ngàn thước vuông trị giá hàng trăm ngàn đô la”. Riêng một người Việt Nam làm giám đốc công ty thương mại “đứng mũi chịu sào” cho người Trung Quốc làm hơn 100 lồng bè nuôi cá.

Sài Gòn Tiếp Thị còn cho biết ngày 1 tháng 6, vụ trưởng Vụ Nuôi Trồng Thủy Sản thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã xác nhận tin người Trung Quốc đang nuôi cá bằng bè ở Cam Ranh, Phú Yên và Bà Rịa, Vũng Tàu. Như vậy là quan chức ở trung ương đã biết chuyện, trong lúc các quan lớn ở địa phương thì làm bộ chưa biết, bắt cấp dưới báo cáo! Một nhân vật cao hàng thứ nhì ở Cam Ranh thú nhận ngay tình: “Việc người Trung Quốc nuôi hải sản ở vịnh Cam Ranh đã có từ mấy năm nay rồi, chứ không phải mới đây. Anh em cứ tưởng họ tới mua hải sản rồi đi, chứ không biết rằng họ trụ lại đó để làm ăn!”

Nói như vậy tức là “anh em” có biết người Trung Quốc đã đến kiếm chác trên phần mặt biển, phần đất nước do mình quản nhiệm. Biết, và chấp thuận, chứ nếu không thì làm sao “họ” làm ăn được? Có thằng dân Việt Nam nào đứng ra làm ăn mà qua mặt được “anh em” đâu? Nhưng “anh em cứ tưởng họ tới mua hải sản rồi đi!” Viên chức cao cấp ở Cam Ranh còn nói thật: “Mấy năm nay họ mượn danh nghĩa người Việt Nam nuôi cá, nuôi tôm, mua bán kiếm lời mà không đóng một đồng thuế nào cả!” Một chế độ con muỗi bay qua cũng không lọt, làm sao “cứ tưởng” như vậy? Một bà bán khoai cũng không được quên nhiệm vụ đóng tiền thu phí, làm sao bao nhiêu bè cá mà không đóng thuế được? Thật không thể tin nổi! Họa chăng những thương gia Trung Quốc này có đóng, có góp, nhưng không gọi là thuế!

Tóm lại, phản ứng của chính quyền cho thấy họ đã ăn rồi cố gắng “chùi mép” một cách vụng về! Họ có thể thả lỏng cho con buôn Trung Quốc vào khai thác đất, khai thác biển của địa phương mình; vì họ biết từ trên xuống dưới cũng đều theo một “chủ trương nhất quán” đó cả. Trên thì cho thuê đất, thuê rừng hàng 50 năm hay cả thế kỷ. Trên cao nữa thì cho khai thác quặng mỏ, bô xít, cho trúng thầu những công trình xây dựng lớn để tiêu tiền viện trợ. Lớn ăn đường lớn, nhỏ ăn đường nhỏ. Biết ở trên đã bất chính rồi thì đám quan chức bên dưới có “làm loạn” cũng chẳng cần kiêng nể gì cả! Mỗi tỉnh là một sứ quân, mỗi thành, mỗi quận, huyện đều có những sứ quân chỉ lo vét được đồng nào hay đồng đó! Cả nước Việt Nam là cái “sân chơi” cho họ khai thác!

Nhưng chúng ta tự hỏi: Ví thử người Việt Nam thật sự được làm chủ đất nước mình, thì nếu được hỏi ý kiến, dân ta có nên để cho các thương nhân Trung Quốc sang đặt lồng, đóng bè nuôi cá ở bờ biển nước mình hay không?

Xin góp ý kiến ngay: Cho phép chứ sao lại không cho?

Giữa Việt Nam và các nước Ðông Nam Á đã có thỏa ước tự do mậu dịch. Giữa Trung Quốc và các nước ASEAN cũng đã ký thỏa ước trao đổi kinh tế tự do. Không riêng gì người Trung Quốc mà dân bất cứ nước nào trong khối ASEAN cũng được phép đầu tư, kinh doanh ở các nước khác theo đúng luật lệ và các thỏa ước quốc tế đã ký. Người Trung Quốc có quyền nuôi cá bè ở Việt Nam hay ở Brunei, nếu như người Việt Nam, người Brunei cũng có những quyền tương tự ở Trung Quốc. Các thỏa ước mậu dịch tự do nhắm thúc đẩy tự do cạnh tranh, nếu được thực hiện theo đúng luật lệ thì tất cả mọi người tham dự đều được lợi.

Yếu tố quan trọng nhất là “theo đúng luật lệ;” nghĩa là mọi sự diễn ra minh bạch, công khai; phải cho mọi người cơ hội bình đẳng. Chúng ta không những không nên cấm người Trung Quốc đầu tư vào nước ta trong ngành thủy sản mà còn có thể mở cửa các ngành khác nữa. Còn nên khuyến khích các nhà đầu tư nước khác đến làm ăn thi đua với nhau. Hơn thế nữa, phải khuyến khích các tư nhân Việt Nam đầu tư cạnh tranh với các người ngoại quốc. Chính phủ có quyền khuyến khích người Việt Nam bằng chính sách thuế khóa và tín dụng ưu đãi; trong một thời gian có giới hạn vừa đủ để giúp doanh nhân Việt đủ sức cạnh tranh với người nước ngoài giầu tiền và giầu kinh nghiệm hơn. Với điều kiện tất cả các nhà đầu tư phải tuân thủ mọi luật lệ dành cho người ngoại quốc vào làm ăn ở nước ta!

Nếu dân Việt Nam được quyền quyết định về số mạng của mình thì chúng ta không nên theo một chủ trương chống người Trung Quốc, hay người bất cứ một nước nào khác, khi họ muốn vào kinh doanh ở nước ta một cách minh bạch. Cứ như vậy chúng ta sẽ tránh được những cảnh dành độc quyền cho người Trung Quốc vào làm ăn lúc nào đó mà mình thì “cứ tưởng họ tới rồi đi!”

Từ trên xuống dưới mà ông nào bà nào cũng “cứ tưởng họ tới rồi đi” như thế thì có ngày cả nước sẽ đầy các đồng chí Trung Quốc lúc nào không hay! nhìn đằng sau thấy một ông Trung Quốc mình “cứ tưởng họ tới rồi đi;” nhìn bên cạnh lại thấy có mấy ông Trung Quốc, quay nhìn phía trước lại thấy mấy ông Trung Quốc “cứ tưởng họ tới rồi đi” nữa! Cứ như vậy thì có ngày nước Việt Nam sẽ giống như nước Tây Tạng!
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Thủ tướng & Chủ tịch QH bịt miệng nhân dân thì bị xử tội gì?
Các báo trong nước đưa tin “Nguyễn Văn Bình và Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng đều không có trong danh sách chính thức các thành viên Chính phủ sẽ trả lời chất vấn trực tiếp tại kỳ họp này.”


VNEconomy viết tiếp “Lý giải cho việc không chọn Thống đốc Nguyễn Văn Bình, dù có nhiều ý kiến đại biểu đề nghị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, thời gian qua, trong quản lý, điều hành của ngân hàng đã có những chuyển biến khá tích cực… Đồng thời tại kỳ họp thứ hai vừa qua, Thống đốc cũng đã được các vị đại biểu chất vấn, việc thực hiện lời hứa đang được Quốc hội, cử tri theo dõi, đánh giá. Vì vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị chưa bố trí Thống đốc trả lời tại kỳ họp này nhưng vẫn bố trí để ông tham gia báo cáo giải trình về những nội dung liên quan đến trách nhiệm của ngành khi chất vấn bộ trưởng khác.

Tương tự, với “tư lệnh’ ngành giao thông, mặc dù có nhiều vấn đề bức xúc liên quan đến phạm vi quản lý của Bộ, được nhiều đại biểu và cử tri, dư luận xã hội quan tâm, nhưng tại kỳ họp thứ hai Bộ trưởng đã trực tiếp trả lời chất vấn…
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá, Bộ Giao thông Vận tải đã tích cực triển khai thực hiện nghị quyết sau chất vấn tại kỳ họp trước và đạt được kết quả bước đầu… Vì thế, Bộ trưởng Thăng sẽ chỉ ở vị trí “chia lửa” khi chất vấn các bộ trưởng khác có nội dung liên quan mà thôi.”
Mặc dù đã bị kiểm duyệt đến từng milimet, song báo VNEconomy vẫn phải kêu lên“Giải thích này đã không hoàn toàn nhận được sự đồng tình của một số vị đại biểu”

Cả hai Bộ trưởng “con cưng” của Thủ Tướng, hiện đang bị nhân dân cả nước phẫn nộ vì các vụ án vinashin, Vinaline, Sông Đà…. Thất thoát vài chục ngàn tỷ đồng, vậy mà Chính Phủ còn lên kế hoạch 100.000 tỷ đầu tư cho Vinaline… Đặc biệt trong các măm tài khoá của nhà nước, Bộ giao thông vận tải luôn đứng đầu được cấp ngân sách… Vậy không biết bao nhiêu tỷ tấn lúa của nông dân đã bị Chính Phủ dung túng ‘nuông chiều những đứa con hư’ là các tập đoàn nhà nước phung phí, chia chác cho nhau? Biết bao câu hỏi của nhân dân đang nằm chờ vì những điều bất bình thường đến phi lý của Chính Phủ Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gây ra và vẫn đang tiếp tục dấn tới như không hề có điều gì xảy ra…

Riêng đối với Thống đốc Bình – Người đã triển khai thực hiện hàng loạt vụ như ép buộc các Ngân hàng trong nước phải xoá nợ đến 80% cho Vinashin để cứu Thủ Tướng; hay việc Ngân hàng nhóm 4 mất thanh khoản Phương Nam với sự tiếp tay rót 10.000 tỷ của Ngân hang nhà nước đã thôn tính ngân hàng Samcombank chỉ trong vòng 2 tháng gây trấn động dư luận, hay việc bà Thái Hương – Chủ nhân của Ngân hàng Bắc Á rút tiền của ngân hàng tài trợ cho các dự án của riêng mình làm cho NH Bắc Á mất thanh khoản, không bị xử lý mà Thống đốc Bình lại thông qua Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Agribank và BIDV để tài trợ 10.000 tỷ từ nguồn vốn ưu đãi lấy cớ là phát triển nông nghiệp để cứu bà Thái Hương khỏi vòng lao lý; hay hệ quả của việc bóp méo ‘Đề án tái cấu trúc ngân hàng’ phục vụ nhóm lợi ích một cách trắng trợn làm cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp chết… mà gần như 100% các đoàn đại biểu Quốc hội thay mặt cử tri cả nước đã nêu rất gay gắt khi họp tổ thảo luận…

Tất cả những bức xúc của nhân dân đều là những vấn đề nước sôi, lửa bỏng, vậy mà Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội đứng đầu là Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng sau khi họp với Chính Phủ đã quyết định ‘giải thoát’ cho hai Bộ trưởng đang được người dân ngóng chờ, biết rằng cũng không trông mong ‘để hỏi cho ra nhẽ’ song cũng có thể hỏi được dăm điều!

Vậy là nhân dân lại bị bịt miệng tiếp! Chú công an chỉ bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý đã làm cả thế giới phẫn nộ. Còn Chủ Tịch Quốc Hội đồng loã với Thủ Tướng bịt miệng nhân dân thì cần phải xử lý thế nào?

Dân nghèo thành thị
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Ai nguy hiểm hơn ai?

Nguyễn Hưng Quốc

Tất cả những người có chút tên tuổi từng tham gia biểu tình đều được ba, bốn công an cặp kè như vậy. Thời ấy, người ta gọi đó là hiện tượng “người mọc đuôi”. Tại sao với các trí thức được họ đào tạo, có người là đảng viên của họ, họ lại sợ đến như vậy mà với người Trung Quốc thì không? Tại sao?

Mấy tuần vừa rồi, báo chí trong nước làm ồn ào khá nhiều về việc một số người Trung Quốc nuôi cá bè lậu ở cảng Cam Ranh. Sự kiện này có ba ý nghĩa đáng chú ý: một, về phương diện xã hội, phần lớn những người Trung Quốc này đều di trú không đúng quy định của luật pháp; hai, về kinh tế, công việc của họ hoàn toàn là lậu, nghĩa là không có giấy phép, quy trình sản xuất và sản phẩm của họ làm ra không được kiểm tra; và ba, nghiêm trọng nhất, về phương diện quốc phòng, sự hiện diện của họ ở một địa điểm “nhạy cảm”, sát sạt quân cảng Cam Ranh - có thể quan sát toàn bộ các hoạt động ở quân cảng được xem là nổi tiếng nhất của Việt Nam, có thể dẫn đến những hậu quả không thể lường hết được.

Khi ông Nguyễn Tấn Tuân, Phó bí thư tỉnh Khánh Hòa cho việc để những người Trung Quốc ấy nuôi cá lậu ở Cam Ranh tuy là một “sơ suất và là điều rất đáng lo ngại” nhưng hậu quả của nó “chưa nghiêm trọng”, có lẽ ông chỉ chú ý đến khía cạnh xã hội và kinh tế. Còn về phương diện an ninh quốc phòng, làm sao biết được trong nhiều năm qua, những người Trung Quốc này có làm gì không, có thu thập được những tài liệu gì quan trọng hay không, có móc nối được ai ở địa phương, hoặc thậm chí, có xây dựng được một cơ sở hoạt động bí mật nào ở ngay cạnh quân cảng Cam Ranh hay không thì làm sao khẳng định được?

Tuy nhiên, điều khiến người ta quan ngại nhất là ở điểm này: Tại sao những người Trung Quốc đến làm lậu ở Cam Ranh lâu đến vậy mà chính quyền Việt Nam không phát hiện được? Mà họ đâu phải ít. Tin tức sơ bộ cho biết ở tỉnh Khánh Hòa có ít nhất 23 người nuôi trồng hải sản lậu như thế.

Hơn nữa, các bè cá của họ rất đồ sộ, lớn hơn hẳn các bè cá của người Việt trong vùng. Nói không ai thấy là vô lý. Đó là chưa kể, báo chí còn cho biết, ngay từ năm 2009, lực lượng biên phòng của tỉnh Khánh Hòa đã báo cáo về việc này. Và cũng trong năm 2009, Phòng kinh tế Cam Ranh đã “xử phạt hành chính” những người Trung Quốc hoạt động trái phép. Vậy mà họ vẫn tiếp tục. Vẫn ngang nhiên tiếp tục.

Vẫn có thể dễ dàng quan sát và theo dõi toàn cảnh quân cảng? Chỉ đến gần đây, khi dân chúng tố cáo và một số cơ quan truyền thông loan tin và bàn tán ồn ào, chính quyền mới bắt đầu “chỉ đạo” các cơ quan chức năng “rà soát” lại tình hình làm lậu của người Trung Quốc trên địa bàn “nhạy cảm” này.

Tại sao?

Cách giải thích đơn giản và không chừng chính xác là cán bộ trong các “cơ quan chức năng” ở địa phương, từ phòng Kinh tế đến công an, đều bị mua chuộc. Nhận tiền từ những người Trung Quốc làm ăn trái phép này, tất cả mọi người đều ngoảnh mặt làm ngơ cho họ muốn ở đâu thì ở, muốn làm gì thì làm. Mặc kệ. Điều đó cũng chả có gì lạ. Ai mà chẳng biết nạn tham nhũng ở Việt Nam phổ biến và trầm trọng đến độ nào. Thế nhưng người ta vẫn băn khoăn: Tại sao đối với những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia mà chỉ vì tiền, chính quyền lại bất cẩn và mất cảnh giác đến như vậy?

Mà không phải chỉ ở Cam Ranh hay tỉnh Khánh Hòa mà thôi. Từ mấy năm nay, báo chí trong nước cũng từng lên tiếng về vấn đề người Trung Quốc làm lậu tràn lan ở Việt Nam. Tỉnh nào cũng có. Ở một nhà máy đạm tận U Minh thuộc Cà Mau cũng có hơn 1000 người Trung Quốc làm việc.

Ở nhà máy đạm ở Ninh Bình cũng có hơn hai ngàn người Trung Quốc, trong đó hai phần ba là không có giấy tờ gì cả. Ở các nhà máy thủy điện ở Quảng Nam cũng đầy người Trung Quốc. Rồi trên Cao nguyên. Rồi ở vùng biên giới Hoa Việt. Ở đâu cũng có người Tàu.

Điều đáng nói là không ai nắm được con số những người Tàu này là bao nhiêu cả. Chỉ biết mỗi tháng có khoảng từ 60.000 đến 90.000 người Tàu sang Việt Nam du lịch. Còn số người nhập cư trái phép qua đường bộ thì không ai biết. Ngay cả với những người đi du lịch rồi ở lại và làm việc lậu, chính quyền cũng mù tịt.

Đáng nói hơn nữa là những người Trung Quốc này làm gì ở Việt Nam? Nếu họ chỉ làm lậu không thì về phương diện kinh tế và xã hội, hậu quả đã rất đáng lo ngại. Còn nếu họ làm thêm việc gì khác nữa thì hậu quả thật không thể lường hết được. Nhất là khi tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc không còn kìm giữ được nữa. Trong trường hợp ấy, rõ ràng là Trung Quốc đã có sẵn một lực lượng nằm vùng khổng lồ. Có khi không cần đánh, họ cũng thắng.

Bất cứ người nào có chút lương tri cũng đều biết điều đó. Nhưng tại sao chính quyền Việt Nam có vẻ như không biết? Tại sao họ vẫn dửng dưng? Nó vượt ra ngoài khả năng quản lý của họ ư? Họ thiếu nhân sự ư?

Nhất định là không phải.

Trong đợt trí thức và quần chúng Hà Nội xuống đường biểu tình chống Trung Quốc vào giữa năm 2011, để theo dõi nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên - một đảng viên của họ, họ có thừa thãi nhân lực đến độ cử cả sáu tên lính túc trực dưới cửa nhà ông cơ mà!

Còn đối với tiến sĩ Nguyễn Quang A, cũng trong đợt biểu tình chống Trung Quốc ấy, có lúc có đến 3 công an và 3 người thuộc tổ dân phố đến chận đường.

Tất cả những người có chút tên tuổi từng tham gia biểu tình đều được ba, bốn công an cặp kè như vậy. Thời ấy, người ta gọi đó là hiện tượng “người mọc đuôi”.

Tại sao với các trí thức được họ đào tạo, có người là đảng viên của họ, họ lại sợ đến như vậy mà với người Trung Quốc thì không?
Tại sao?

Thực tình, tôi không hiểu.

Không thể hiểu.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Bài viết vể 30 tháng Tư của Huỳnh Thục Vy tại Sàigòn

Nhửng gì người đẹp nầy viết không có gì mới mẻ nhưng viết rất hay!
Ngay tại Saigon mà cô dám viết như vậy thì thật khâm phục!!
Do đó, cô bi Công An mời "làm việc" .


Huỳnh Thục Vy - Tôi sinh trưởng sau năm 1975 và gia đình tôi không có liên quan gì nhiều đến cả hai phía trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì thế mối tương quan tình cảm của tôi với những sự kiện lịch sử và hoàn cảnh chính trị xã hội trong cuộc chiến hầu như rất ít nếu không muốn nói là không có. Những gì ít ỏi mà tôi được hiểu biết về nó chỉ đơn thuần là kiến thức. Đứng trong vị thế đó, tôi tạm thời có thể yên tâm rằng lập trường của tôi, và những gì tôi nói ra sau đây sẽ được hiểu một cách thiện chí và không bị gán ghép hay chụp mũ. Tôi không sợ bị chụp mũ, nhưng thiết nghĩ điều đó cùng với những nguỵ biện không có lợi cho sự tiến bộ.

Gần đây, tôi tình cờ đọc được một nhận xét của tướng William Childs Westmoreland- Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam- về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội Bắc Việt như sau: "Of course, he was a formidable adversary.... By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius...". Xin được tạm dịch là: "Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm....Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự...."

Dù chúng ta là ai, đứng bên nào của cuộc chiến, chúng ta cũng phải đồng ý với Westmoreland rằng, một chiến thắng quân sự dựa trên chiến thuật đẫm máu, coi thường sinh mạng binh sĩ chỉ có thể tạo nên một kẻ thù nguy hiểm chứ không tạo nên một thiên tài quân sự như nhiều người vẫn rêu rao. Câu nói này của viên tướng Hoa Kỳ làm tôi suy nghĩ rất nhiều về sự "nguy hiểm" của những người Cộng sản Việt Nam. Họ nguy hiểm bởi họ là những người luôn hành động theo phương châm"mục đích biện minh cho phương tiện", nghĩa là bất chấp mọi thứ, miễn đạt được mục đích. Đối với tôi, nó không chỉ là lời nhận xét về tướng Giáp mà là một câu nói nêu bật lên bản chất của những người Cộng sản Bắc Việt, và cả chế độ mà họ dựng nên. Và những việc họ đã làm suốt từ những ngày đầu có mặt tại Việt Nam đến nay, từ việc "trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ" đến gần đây nhất là vụ cướp đất của nông dân đã chứng minh tất cả.

Một kẻ đối địch ghê gớm có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất, đó là một kẻ thù đáng gờm, là đối thủ khó đánh bại vì có mãnh lực vũ trang, có chiến lược, chiến thuật hành động khôn ngoan... Nhưng khi nhìn xoáy vào chữ "formidable" mà Westmoreland đã dùng, tôi chú ý nhiều đến nghĩa "arousing fear" (gợi nên sự sợ hãi) . Với nghĩa này, nó gần giống với "terrorise" (làm cho sợ hãi). Mà làm cho người khác sợ hãi có nghĩa là "khủng bố". Chúng ta có thể hiểu theo hai cách về một "đối thủ ghê gớm" như tôi đã tạm phân tích ở trên. Nhưng biết đâu, cách hiểu thứ hai mới là điều mà ông tướng Mỹ kia ngụ ý? Xin hãy cho tôi tiếp tục trình bày mà tạm quên đi những mối thành kiến nào đó có thể đang dâng lên trong lòng quý vị.

Khi căn cứ vào những dữ kiện lịch sử- những điều không thể chối bỏ, những điều đã được trải nghiệm bằng chính xương máu của những người đã kinh qua cuộc chiến ấy- chúng ta sẽ có cái nhìn tường minh hơn. Riêng phần mình, với kiến thức ít ỏi về chiến tranh Việt Nam, tôi đã có thể tìm thấy những hình ảnh có khả năng "làm cho sợ hãi" của quân đội Bắc Việt qua nhiều biến cố như Tết Mậu Thân, và các "trận đánh" của đội Biệt động Sài Gòn như: "trận đánh" tàu nhà hàng Mỹ Cảnh, "trận đánh" cư xá Brinks...; và chưa kể đến những câu chuyện ghê gớm mà tôi từng được nghe những người già kể lại về vô số những "trận đánh" như thế vào trường học, khu dân cư, cầu cống....Đến nỗi, khi nghe nói quân đội Cộng sản Bắc Việt sắp vào đến ngã ba Cai Lang, thành phố Đà Nẵng, những người dân sống ở Đà Nẵng khi đó đã run cầm cập vì nghe tin đồn rằng người Cộng sản mà vào họ sẽ rút hết móng tay móng chân người dân. Đó có thể là điều sợ hãi thái quá, nhưng nó cho chúng ta thấy khả năng gieo rắc sợ hãi đến trình độ đỉnh cao của những người tự xưng là "quân giải phóng".

Những ai đọc lịch sử, những ai có đủ lương tâm và tầm tri thức trung bình, đều thấy rằng, những cái mà quân đội Bắc Việt và những người "nằm vùng" gọi là "trận đánh" gây nhiều tiếng vang đều không nhằm vào những mục tiêu trên tiền tuyến, để giành chiến thắng quân sự trực tiếp mà đánh vào những nơi ăn chốn ở cốt để gây sợ hãi. Gây sợ hãi cho người dân nhằm làm xáo trộn xã hội, gây sợ hãi đánh vào tâm lý Quốc hội và dư luận Mỹ.... Ngày nay, ai đi qua đường Hai Bà Trưng, đều nhìn thấy "Bia chiến công trận đánh cư xá Brinks". Cái mà người ta gọi là trận đánh thực ra là một cuộc đánh bom một nơi ở của cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam do hai thành viên Biệt Động Sài Gòn thực hiện. Điều mà họ gọi là "trận đánh" sao tôi thấy nó hao hao giống cách làm của những kẻ khủng bố Hồi giáo cực đoan, chỉ khác một chỗ là họ không tự sát. Đối với thế giới ngày nay, những kẻ đánh bom như thế thật sự là những kẻ "nguy hiểm", "ghê gớm".

Ngoài cái cách thể hiện "formidable" như trên, quân đội Bắc Việt còn khiến người ta sợ hãi hơn gấp bội vì sự coi thường tính mạng binh sĩ của họ. Thông thường, con người sợ hãi những kẻ thù tấn công mình một cách tàn ác, nhưng người ta sẽ kinh hoàng đến rợn người khi biết về những hành động coi tính mạng của người phe mình như cỏ rác, cốt chỉ nhằm đạt được mục đích của kẻ chỉ huy. Người Cộng sản đã lấy chính nghĩa chống giặc ngoại xâm để lừa dối, tuyên truyền, kích động hàng triệu Thanh niên miền Bắc lao vào cuộc chiến như con thiêu thân. Chúng ta được nghe nói rất nhiều về những tấm gương đầy nhiệt huyết và sự hy sinh anh dũng của những người trẻ tuổi mới chập chững vào đời. Đối với những cái chết đó, tôi không có bất cứ tình cảm tích cực nào ngoài sự thương tiếc. Cả một thế hệ người đã bị lừa gạt vì không nhận chân được bản chất của chế độ, của cái chủ thuyết mà nó rêu rao. Âu tất cả cũng chỉ là những sản phẩm lịch sử của một thời đại!

Để rồi sau cái ngày "thống nhất" ấy là những chuyến vượt biên vượt biển của hàng trăm ngàn người, và đã có cả hàng ngàn người phải bỏ xác ngoài biển khơi; là những năm tháng bao cấp, đói khổ đến cùng cực; đến nay đỡ đói khổ một chút, nhưng dân Việt ta vẫn chưa thoát khỏi thân phận làm thuê, ở đợ cho thiên hạ; đặc biệt vẫn còn cam chịu làm thần dân phục tùng các ông vua Cộng sản. Thế nhưng bất chấp cái thực tế đau buồn ấy, nhiều ngụy biện về thống nhất, về "công lao chống Mỹ cứu nước của Đảng" vẫn tồn tại ngay cả trong lớp người "có học" ở Việt Nam.

Thiết nghĩ một sự hy sinh chỉ nên có và đáng được ngợi ca khi đánh đổi với nó là một giá trị to lớn hơn. Bằng lập trường đề cao cá nhân, tôi cho rằng, mọi ý niệm: thống nhất, giải phóng dân tộc, kẻ thù...phải được đặt trong mối tương quan của chúng với những giá trị an sinh hạnh phúc thực sự của người dân. Suy cho cùng, mọi thứ bao gồm: thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chính trị...chỉ là những phương tiện để đạt đến những giá trị nhân bản, để bảo vệ và phục vụ con người. Mọi định chế, mọi nỗ lực chính trị và xã hội đều nhằm vào cái đích đến quan trọng nhất của nó là CON NGƯỜI. Nếu mục đích cuối cùng ấy không đạt được thì mọi phương tiện kia chỉ là mưu đồ của kẻ lãnh đạo. Thật điên rồ thay cho những kẻ luôn hô hào "mục đích biện minh cho phương tiện". Chúng ta biết rằng, việc đánh giá tính chính đáng của phương tiện tuỳ thuộc vào mối tương quan về bản chất của nó đối với mục tiêu. Nói rõ hơn, chúng ta không thể dùng một phương tiện phi nhân để giành lấy một mục tiêu nhân bản.

Kết quả là, "sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước" đã không khiến Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn, dân tộc ta trở nên kiêu hãnh hơn; mà đơn giản chỉ là biến một miền Nam trước "giải phóng" hơn hẳn Hàn Quốc, sau gần bốn mươi năm thống nhất, cùng với cả nước lẹt đẹt chạy theo sau cả Thái Lan. Nếu ta lấy cứu cánh là sự phồn thịnh của quốc gia, là an sinh hạnh phúc, là tự do nhân phẩm của mỗi một người dân làm chuẩn thì liệu sự thống nhất ấy có nghĩa lý gì?

Đó là khi vấn đề được đặt dưới lăng kính lý luận. Còn thực tế thì mọi sự đã quá rõ ràng. Cái mà người ta gọi là "kháng chiến chống Mỹ cứu nước" ấy thực chất chỉ là để giúp Trung Quốc "đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng". Hay như Lê Duẩn từng nói :XHC "ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước , cho cả nhân loại". Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hoá một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt.

Đã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày "giải phóng", giải phóng miền Nam khỏi mối quan hệ đồng minh với Mỹ để trở thành chư hầu hèn mọn của Trung Cộng. Sự thống nhất, sự giải phóng đó mới đau đớn làm sao! Gần bốn thập niên đã qua đi, dấu vết chiến tranh trên mảnh đất quê hương Việt Nam đã dần phai nhạt, nhưng những tổn thương của lòng người vẫn còn hằn sâu, thậm chí ngày càng sâu hơn. Thống nhất hai vùng địa lý nhưng vẫn vắng bóng một sự Hoà hợp trong tình tự dân tộc. Vết thương cũ do cuộc tiến chiếm miền Nam chưa kịp lành thì chúng ta lại có thêm những chia cắt mới : chia cắt giữa một bên là một nhóm người cam phận làm tay sai cho ngoại bang, với một bên là những con người yêu nước không khoan nhượng; chia cắt giữa một phía là nhóm người lãnh đạo Quốc gia cùng những kẻ ăn theo cố gắng bám giữ ngôi vị độc tài để tiếp tục nô lệ hoá người dân, với một phía là những người đấu tranh và chấp nhận hy sinh cho tự do và phẩm giá con người. Tôi vẫn nghĩ rằng, một con người trở nên dũng mãnh nhờ có ý chí. Một dân tộc trở nên hùng mạnh, cũng như vậy, phần nhiều dựa vào tinh thần và khí chất. Nhưng tinh thần và khí chất ấy chẳng thể có được nếu dân tộc ấy chia rẽ. Chính sức mạnh của tinh thần đoàn kết, sự Hoà hợp dân tộc có thể góp phần giúp chúng ta tạo lập một mãnh lực mới cho dân tộc.

Chỉ e Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục bỏ lỡ những chuyến tàu thời đại nếu trong lòng dân tộc còn có những chia cắt chí mạng như thế. Nhưng thiết tưởng, sự Hoà hợp có khả năng xoá bỏ mọi ngăn cách, hàn gắn mọi vết thương, mang mọi người Việt về trong cùng một chí nguyện chỉ có thể đạt được trên tinh thần Hoà giải thiện chí, trên quyền lợi dân tộc và trên những nguyên tắc hướng thiện chứ không phải là sự thoả hiệp với cái xấu ác. Chỉ e những người Cộng sản Việt Nam quá u mê và tham lam để khởi động một chương trình Hoà hợp, Hoà giải và thay đổi chính trị đầy tham vọng như thế. Chỉ e những người Cộng sản chẳng thể làm nổi những gì mà nhà cầm quyền độc tài Miến Điện đã làm. Chỉ e.... Bởi đến hôm nay, họ vẫn một lòng một dạ coi mối quan hệ với Trung cộng là "chủ trương nhất quán", là "ưu tiên hàng đầu" như lời Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã tuyên bố mới đây tại Bắc Kinh.

Mỗi năm tháng Tư về, bao nhiêu lễ lạt, đình đám vẫn diễn ra bất chấp mối hoài niệm về quá khứ vẫn nặng trĩu trong lòng nhiều người Việt, bất chấp mối ưu tư về tương lai đất nước vẫn canh cánh trong lòng những người có tâm huyết với đất nước. Những con người có lương tâm và tự trọng không bao giờ vui sướng được trong nỗi thống khổ to lớn ấy của dân tộc. Thử hỏi xương máu của hàng triệu con người đã ngã xuống trong cuộc chiến chỉ để tạo nên một Việt Nam thống nhất trong chia rẽ, thống nhất trong sự Hán hoá, thống nhất trong sự mất tự do và quyền làm người hay sao? Ba mươi tháng Tư- xin cầu nguyện cho tự do và nhân phẩm, cho sự Hoà hợp dân tộc và nền công lý.

Huỳnh Thục Vy
Sài Gòn, ngày 20 tháng 4 năm 2012
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Quan sát viên quốc tế ngừng hoạt động tại Syria

Đoàn quan sát viên của Liên Hợp Quốc tại Syria ngừng tuần tra từ hôm qua do tình trạng bạo lực leo thang.

Image
Các quan sát viên Liên Hợp Quốc tại thủ đô Damascus của Syria chào đón những đồng nghiệp trở về từ thành phố Haffa hôm 16/6. Ảnh: AP.

Tướng Robert Mood, trưởng đoàn quan sát viên Liên Hợp Quốc tại Syria, thông báo rằng các nhóm quan sát viên không có vũ khí đã tuần tra tại các thành phố nguy hiểm nhất tại Syria, bao gồm Homs và Hama. Tuy nhiên tình trạng bạo lực gia tăng trong 10 ngày qua đang đẩy 300 quan sát viên vào tình cảnh nguy hiểm. Vì thế họ buộc phải tạm ngừng hoạt động tuần tra để đảm bảo an toàn, nhưng không rời Syria, AP cho biết.

Vài ngày trước, một đám đông tấn công đoàn xe chở quan sát viên Liên Hợp Quốc bằng đá, thanh thép và súng khi đoàn xe tới thành phố Haffa, nơi binh lính chính phủ giao tranh với phe đối lập. Hôm 15/5, một quả bom phát nổ gần những xe chở quan sát viên quốc tế sau khi họ gặp phe đối lập tại thành phố Khan Sheikoun ở phía bắc Syria. Một tuần trước đó, một quả bom nổ tại Khan Sheikoun chỉ vài giây sau khi xe của tướng Mood vừa chạy qua vị trí của bom.

Chính phủ Syria đổ lỗi cho phe đối lập về tình trạng bao lực leo thang.

“Hoạt động phạm pháp của các nhóm khủng bố tăng lên trong thời gian qua khiến tính mạng của các quan sát viên bị đe dọa”, Bộ Ngoại giao Syria tuyên bố.

Trong khi đó, phe đối lập khẳng định quân đội chính phủ cố tình gây ra các vụ tấn công gần vị trí của quan sát viên quốc tế.

Sự hiện diện của đoàn quan sát quốc tế tại Syria là một phần trong sáng kiến hòa bình do cựu tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan đề xuất. Nhiệm vụ của họ là giám sát thỏa thuận ngừng bắn giữa chính phủ và phe đối lập từ ngày 12/4. Tuy nhiên, cả chính phủ Syria và phe đối lập đều tỏ ra không tôn trọng thỏa thuận đình chiến.

Phe đối lập tại Syria thông báo khoảng 50 người thiệt mạng vì bạo lực tại nhiều thành phố trong ngày 16/6.

Chí Linh
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest