Tạp Ghi

lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Phúc, Lộc, Thọ - các cụ là ai?
Theo truyền thuyết của người Hoa Hạ, ông Lộc là một quan tham chuyên ăn của đút lót. Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông cung nữ nhiều chẳng kém ở cung vua. Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.

Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, có nhà còn làm cả bàn thờ rõ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang thì có cả ba cụ bằng gốm Tàu rõ to, rõ đẹp. Người tầm tầm thì bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…

Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.

Hãy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.

Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn". Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ diện phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy. Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:

- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du. Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:

- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…

Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.

Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc. Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:

- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?

Còn cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua. Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy âm để dưỡng dương.

Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:

- Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì.

Cụ Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:

- Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?

Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội.

Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì?

Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.

Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi

Dương Duy Ngữ
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

ĐẤT NƯỚC ĂN TRỘM CHÓ

Hiện nay trong nước,nhiều chuyện chó đã xẩy ra. Dịch nhậu thịt chó phát triển khắp hang cùng ngỏ hẽm, do đó sinh ra tệ nạn bắt chó, trộm chó khắp nơi, thậm chí dân chúng không cần qua pháp luật, kết án kẻ trộm chó bằng cách đánh chết và thiêu xác ngườitrộm chó tại chỗ. Những người đã nuôi và yêu thương chó biết là nỗi đau của người mất những con vật thân yêu của họ lớn lao như thế nào. Bài viết sau đây từ trong nước và xin phép tác giả Lê Quốc Quân được phổ biến bài này để chúng ta cùng đọc. –

Huy Phương

Tôi suy nghĩ nhiều lắmkhi đặt cái tít bài này. Vì dán nhãn một đất nước ăn trộm chó thì mình cũngkhác nào thằng bắt chó. Nhưng đó là câu nói của thằng em họ tối qua khi nó mất đến con chó thứ 4, Những kẻ lưu manh lạ lùng trong xã hội này ngang nhiên cướp chó ngay giữa thanh thiên bạch nhật.
Bọn cướp dùng dây phanh làm một cái thòng lọng và tung vào cổ chó. Kẻ đằng trước rú ga, con chó chống cự lại đến mức tất cả chân của nó trượt trên đường,bật máu, sau đó nó quỳ xuống, đầu gối lết trên mặt đường đá khô khốc, máu bật ra và nước mắt chảy. Khi lịm đi thì bọn cướp giật lên, ôm ngang người và bỏ chó vào bao tải.


Cậu em nhìn thấy liền lấy xe máy phóng lao theo, rượt theo lên đoạn cánh đồng làng trên, bọn trộm chó dừng xe, rút kiếm ra và vẫy cậu em lại. Thương chó lắm, nhưng nó đành lau nướcmắt và quay xe. Nó bảo thương con chó vô cùng, đau buồn đến nỗi nghĩ đến chuyện uống thuốc tự tử hoặc tự mình làm một quả bom nổ tung xác.

Gọi nhờ tư vấn, nó bảo: “Anh Quân ơi, tồn tại làm chi giữa đất nước ăn trộm chó này nữa”. Tôi bảo bình tĩnh vì nếu không mấy thằng phản động sẽ cười vào mũi nó, nói: “làm cách mạng gì cái ngữ mày, mất có con chó quèn mà cũng dọa ôm bom lên ủy ban”. Thực tâm, thằng em chỉ muốn có chế độ mới không có kẻ trộm chó. Nó bảo ngày xưa Lão Hạc, Chị Dậu đói khổ đến mấy, nuôi được con chó vẫn có thể bán kiếm tiền. Còn bây giờ ông Nam trong làng nghèo, neo đơn, chỉ có con chó làm bạn mà cũng vưà bị câu mất cách đây 3 tuần.
Theo nó, bắt trộm chó giờ đã trở thành phổ biến, trải dài từ thành thị đến nôngthôn, từ vùng đồng bằng đến miền núi.

Đêm đêm kẻ trộm chà đi xát lại những vùng quê miền trung nghèo đói, xác xơ để tìm cách bắt chó. Nó bắt của người khá giả lẫn cả những người mà tài sản chỉ có một con chó. Chúng đi xe máy, rồ ga, vòng đi vòng lại, kích thích chó trong nhàlao ra sủa, khi đó nó sẽ tung dây thòng lọng ra xiết cổ lôi đi. Nếu chó khỏe,tỳ chân chống cự lại thì vung gậy sắt quật ngang mõm, chó bất tỉnh ngay lập tức và chúng bắt bỏ vào bao tải. ChúKiên có con chó 40 cân, sợ không kéo đi được nên bọn chúng dùng thuốc để đánh bả. Thuốc độc mua từ Trung công, 250 ngàn một viên rất nhỏ dùng đánh được cả mấy tạ chó. Chó chết người việt cũng ăn tất !

Không chỉ ăn trộm ở trong nước, kẻ trộm chó còn sang tận lào bắt hết chó Lào,chó ở Lào ít đi, Bọn trộm chó lại tràn sang bắt cả chó ở Thái Lan. Là đất nước theo đạo Phật, người Thái quý trọng và không bao giờ ăn thịt chó. Vì vậy, Chính quyền Thái đã bắt bỏ tù một số kẻ chuyên đi bắt trộm chó xuyên quốc gia. Nhưng những kẻ trộm chó người Việt vẫn chui lủi đi đập chó và vớt chó chết ở khắpvùng Đông Bắc Thái Lan.

Năm 1996, tôi gặp 1 khách du lịch Mexico anh ấy bảo: “Người Việt Nam vui vẻ nhưng sao họ cứ bắt chó nhốt trong lồng vậy. Những con chó đó đi đâu ? ”. 15 năm trôi qua, hôm nay qua mạng facebook cô bạn người Anh kiên quyết nói không baogiờ đi du lịch Việt Nam nữa: “Vì những ánh mắt khẩn nài của các con chó sắp chết bị chở đi trên đường phố cứ ám ảnh mãi”
Đã bao giờ bạn nuôi chó hoặc nhìn sâu vào ánh mắt của một con chó quý chưa ?Nếu rồi, chắc bạn sẽ thấy sự khốn nạn của những tay trộm chó. Nhưng khốn nạn hơn là cơ chế nào để tạo ra những con người lương thiện Việt nam năm nào đã trở thành những kẻ ăn trộm chó lạnh lùng, thản nhiên. Có tên trộm bị dân đập chết,đốt xác, coi mạng người như mạng chó nhưng vẫn tiếp tục có nhiều người ăn cướp chó.

It đứa suy nghĩ sâu như thằng em họ. Nó bảo rõ ràng Chính quyền xã nó bảo kê cho bọn trộm chó. Nó bảo vì có những quan chức ăn cắp hàng tỷ đồng mà vẫn lênTV giảng đạo đức “oách” cho nên bọn trộm chó nó nghĩ mình tội trộm chó chỉ bằng trộm cái lông chân của dân nên cũng nhơn nhơn, thách thức. Nó bảo công an xãbảo kê vì có những chủ vựa chó trộm xây được nhà lầu, đào hầm ngầm để nhốt chótrộm ngay trong xã cứ 2 ngày xuất đi Hà Nội một chuyến hàng trăm con, dân biếthết mà Chính quyền vẫn làm ngơ. Sau đó nó trầm tư: “làm sao mà có được cái thòng lọng để trặc cổ chính quyền xã như trặc chó”.
Tôi can, bình tĩnh, bình tĩnh !

Lê Quốc Quân

ĐẤT NƯỚC ĂN TRỘM CHÓ[/align]

Hiện nay trong nước,nhiều chuyện chó đã xẩy ra. Dịch nhậu thịt chó phát triển khắp hang cùng ngỏ hẽm, do đó sinh ra tệ nạn bắt chó, trộm chó khắp nơi, thậm chí dân chúng không cần qua pháp luật, kết án kẻ trộm chó bằng cách đánh chết và thiêu xác ngườitrộm chó tại chỗ. Những người đã nuôi và yêu thương chó biết là nỗi đau của người mất những con vật thân yêu của họ lớn lao như thế nào. Bài viết sau đây từ trong nước và xin phép tác giả Lê Quốc Quân được phổ biến bài này để chúng ta cùng đọc. –

Huy Phương

Tôi suy nghĩ nhiều lắmkhi đặt cái tít bài này. Vì dán nhãn một đất nước ăn trộm chó thì mình cũngkhác nào thằng bắt chó. Nhưng đó là câu nói của thằng em họ tối qua khi nó mất đến con chó thứ 4, Những kẻ lưu manh lạ lùng trong xã hội này ngang nhiên cướp chó ngay giữa thanh thiên bạch nhật.
Bọn cướp dùng dây phanh làm một cái thòng lọng và tung vào cổ chó. Kẻ đằng trước rú ga, con chó chống cự lại đến mức tất cả chân của nó trượt trên đường,bật máu, sau đó nó quỳ xuống, đầu gối lết trên mặt đường đá khô khốc, máu bật ra và nước mắt chảy. Khi lịm đi thì bọn cướp giật lên, ôm ngang người và bỏ chó vào bao tải.


Cậu em nhìn thấy liền lấy xe máy phóng lao theo, rượt theo lên đoạn cánh đồng làng trên, bọn trộm chó dừng xe, rút kiếm ra và vẫy cậu em lại. Thương chó lắm, nhưng nó đành lau nướcmắt và quay xe. Nó bảo thương con chó vô cùng, đau buồn đến nỗi nghĩ đến chuyện uống thuốc tự tử hoặc tự mình làm một quả bom nổ tung xác.

Gọi nhờ tư vấn, nó bảo: “Anh Quân ơi, tồn tại làm chi giữa đất nước ăn trộm chó này nữa”. Tôi bảo bình tĩnh vì nếu không mấy thằng phản động sẽ cười vào mũi nó, nói: “làm cách mạng gì cái ngữ mày, mất có con chó quèn mà cũng dọa ôm bom lên ủy ban”. Thực tâm, thằng em chỉ muốn có chế độ mới không có kẻ trộm chó. Nó bảo ngày xưa Lão Hạc, Chị Dậu đói khổ đến mấy, nuôi được con chó vẫn có thể bán kiếm tiền. Còn bây giờ ông Nam trong làng nghèo, neo đơn, chỉ có con chó làm bạn mà cũng vưà bị câu mất cách đây 3 tuần.
Theo nó, bắt trộm chó giờ đã trở thành phổ biến, trải dài từ thành thị đến nôngthôn, từ vùng đồng bằng đến miền núi.

Đêm đêm kẻ trộm chà đi xát lại những vùng quê miền trung nghèo đói, xác xơ để tìm cách bắt chó. Nó bắt của người khá giả lẫn cả những người mà tài sản chỉ có một con chó. Chúng đi xe máy, rồ ga, vòng đi vòng lại, kích thích chó trong nhàlao ra sủa, khi đó nó sẽ tung dây thòng lọng ra xiết cổ lôi đi. Nếu chó khỏe,tỳ chân chống cự lại thì vung gậy sắt quật ngang mõm, chó bất tỉnh ngay lập tức và chúng bắt bỏ vào bao tải. ChúKiên có con chó 40 cân, sợ không kéo đi được nên bọn chúng dùng thuốc để đánh bả. Thuốc độc mua từ Trung công, 250 ngàn một viên rất nhỏ dùng đánh được cả mấy tạ chó. Chó chết người việt cũng ăn tất !

Không chỉ ăn trộm ở trong nước, kẻ trộm chó còn sang tận lào bắt hết chó Lào,chó ở Lào ít đi, Bọn trộm chó lại tràn sang bắt cả chó ở Thái Lan. Là đất nước theo đạo Phật, người Thái quý trọng và không bao giờ ăn thịt chó. Vì vậy, Chính quyền Thái đã bắt bỏ tù một số kẻ chuyên đi bắt trộm chó xuyên quốc gia. Nhưng những kẻ trộm chó người Việt vẫn chui lủi đi đập chó và vớt chó chết ở khắpvùng Đông Bắc Thái Lan.

Năm 1996, tôi gặp 1 khách du lịch Mexico anh ấy bảo: “Người Việt Nam vui vẻ nhưng sao họ cứ bắt chó nhốt trong lồng vậy. Những con chó đó đi đâu ? ”. 15 năm trôi qua, hôm nay qua mạng facebook cô bạn người Anh kiên quyết nói không baogiờ đi du lịch Việt Nam nữa: “Vì những ánh mắt khẩn nài của các con chó sắp chết bị chở đi trên đường phố cứ ám ảnh mãi”
Đã bao giờ bạn nuôi chó hoặc nhìn sâu vào ánh mắt của một con chó quý chưa ?Nếu rồi, chắc bạn sẽ thấy sự khốn nạn của những tay trộm chó. Nhưng khốn nạn hơn là cơ chế nào để tạo ra những con người lương thiện Việt nam năm nào đã trở thành những kẻ ăn trộm chó lạnh lùng, thản nhiên. Có tên trộm bị dân đập chết,đốt xác, coi mạng người như mạng chó nhưng vẫn tiếp tục có nhiều người ăn cướp chó.

It đứa suy nghĩ sâu như thằng em họ. Nó bảo rõ ràng Chính quyền xã nó bảo kê cho bọn trộm chó. Nó bảo vì có những quan chức ăn cắp hàng tỷ đồng mà vẫn lênTV giảng đạo đức “oách” cho nên bọn trộm chó nó nghĩ mình tội trộm chó chỉ bằng trộm cái lông chân của dân nên cũng nhơn nhơn, thách thức. Nó bảo công an xãbảo kê vì có những chủ vựa chó trộm xây được nhà lầu, đào hầm ngầm để nhốt chótrộm ngay trong xã cứ 2 ngày xuất đi Hà Nội một chuyến hàng trăm con, dân biếthết mà Chính quyền vẫn làm ngơ. Sau đó nó trầm tư: “làm sao mà có được cái thòng lọng để trặc cổ chính quyền xã như trặc chó”.
Tôi can, bình tĩnh, bình tĩnh !

Lê Quốc Quân
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Image


Lấy vợ Mễ
Nhiều người trong chúng ta khi mới đến Hoa Kỳ không phân biệt được người Mỹ trắng và người Mễ, thấy họ khác chúng ta và nhất là thấy không phải là ông Mỹ đen thì trong thâm tâm rất lấy làm kính trọng.

Dăm ba tháng, một vài năm sau thì tình hình đổi khác, tự nhiên ta thấy họ lùn, mập, da không được trắng, đi xe xấu, ở nhà tồi, hay đánh nhau, ăn cắp, ở dơ, làm công việc " hạ tiện ", uống bia, không biết tôn trọng hàng xóm khi mở nhạc chát chình chát chinh om xòm v v... thôi thì đủ thứ tật xấu !

Chẳng phải chúng ta tự tìm ra điều đó, mà do những người đến trước dè bỉu, phê bình, mà có chắc đâu những lời phê bình đó là đúng.

Hãy đến các công sở ở vùng Orange County mà coi, người làm việc ở đây hầu hết là người gốc nói tiếng Tây Ban Nha, họ nắm giữ nhiều chức vụ cao trong guồng máy chính quyền ( mà người Việt đã được mấy người ). Chắc ai trong chúng ta cũng đều biết và tôn trọng bà Dân Biểu Loretta Sanchez, bà đã từng sát cánh với người Việt trong nhiều vấn đề mà cộng đồng quan tâm.

Người Mễ tánh tình cởi mở và thân thiện, gặp là Como esta Senõr rối rít cả lên. Họ dù có giấy tờ hợp lệ hay không đều chịu khó làm những công việc vất vả nặng nhọc, mà các sắc dân khác không ai thèm làm kể cả người da đen.

Tôi không thể tưởng tượng được nếu không có người Mễ thì xứ Mỹ này ra sao, những ai sẽ là người dang nắng dầm mưa hái cho chúng ta từng trái dâu cho đến cái bắp cải (?)

Những người làm nghề xây dựng sẽ lấy đâu ra công nhân đào đất, tráng xi măng hay lợp mái nhà.

Họ có sức khoẻ và không đòi lương cao, nhưng có điều họ không hề chung thuỷ : Tôi làm nghề Construction khá lâu và chưa thấy anh Amigo nào ở bền với mình, cho dù tôi đã từng cho một anh cái xe truck khá mới; Noel hay tết đều có phong bao lì xì riêng cho từng công nhân.

Họ hơi giống những người miền quê sông nước của tôi là bóc ngắn cắn dài, làm tới đâu lủm tới đó, không mấy khi để dành. Mua xe thì lựa mua chiếc nào chiếc nấy bự tổ chảng, uống xăng như chủ nó uống bia vậy. Mấy người làm với tôi không bao giờ chịu mua từng xâu nước ngọt 99 cent, bỏ trong thùng đá mà uống cả ngày, mà mỗi lần có xe lunch tới thì họ mua 1$/1 chai mà uống. Họ đi chợ thì ôi thôi mỗi gia đình chất đồ ăn đầy lên có khi tới hai xe lặc lè.

Chúng ta thường than phiền là người Mỹ không coi chúng ta bình đẳng, cho dù chúng ta đã thành công trên công việc và thương trường, con cháu chúng ta học rất giỏi, nhưng hãy tự xét lại chúng ta khi đối xử với những sắc dân khác coi thế nào ?

Có khi nào chúng ta lại là " Chúa chổm " phân biệt chủng tộc hay không (?)

Có rất nhiều người vẫn quen miệng gọi người da trắng là " Ông Mỹ trắng ", nhưng gọi người gốc Phi Châu là " Thằng cha Mỹ Đen ", đến người Mễ thì tụt xuống hạng thấp hơn nữa : " Mấy thằng Amigo " !

Cứ khu nào đông Mỹ trắng thì nhà có mắc hơn nhiều chúng ta cũng lăn xả vào mua; thấy ai ở khu nào đó có đa số dân Mễ là chê bai ở khu xập xệ, nhiều tội ác.

Đó là nói chung chung, còn việc cô con gái cưng mà lại dẫn về giới thiệu một anh Mễ thì ôi thôi ... cả nhà phản đối ngay lập tức.

Có những bậc cha mẹ có con lấy người Mỹ, Mễ rất phiền lòng, chẳng phải họ sợ con họ sau này khổ sở hay người đồng hương phê bình này nọ, mà ngay từ khi tổ chức đám cưới đã thấy trật rơ, nó lạt lẽo làm sao ấy, tiệc cưới ở nhà hàng cũng vậy; rồi tình suôi gia, tình bố vợ con rể nó cũng lạt nhách, gặp nhau thì cũng " How are you; I am fine; I'm glad to see you ... " rồi thế là tịt ngắc, đâu có cái cảnh anh chị suôi người Việt chúng ta ngồi kề cà nói chuyện quê hương, tâm sự hay chia sẻ vấn đề học hành của con cái v v..

Người con gái Việt lấy đàn ông Mễ không nhiều, mà có chăng nữa thì ông này cũng phải thuộc dạng cao ráo đẹp trai và tương đối có chức vụ, nhưng con trai Việt lấy gái Mễ thì khá đông, mà kết quả sống lâu dài với nhau hầu như không có mấy.

Giống dân Mễ ( nhất là con gái ) lai giữa người bổn xứ Da Đỏ và người Âu Châu rất đẹp: Da trắng, tóc dợn sóng, đôi mắt to và lông mi cong vút, còn đồ phụ tùng thì nói theo kiểu bình dân là "Vú cho một vú; đít cho một .. đít ! "

Có người nói ông trời sanh ra giống người da đen để chơi thể thao, âm nhạc và .. làm tình.

Người Mễ cũng không khác người da đen là mấy.

Họ khoái đá banh, họ mê âm nhạc một cách lạ lùng, lúc nào cũng cứ cái điệu nhạc Fox chát chình, chát chinh ấy mà nghe cả ngày, mà lại mở lớn tối đa.

Họ rất thích mở Party vào ngày Thứ Bảy. Thường thì họ qui tụ bạn bè ở một công viên nào đấy, mang đồ ăn ra đó mà nướng, nghe nhạc hoặc ca hát với nhau tới chiều. Trời thật tối họ mới kéo nhau về một nhà rồi nhảy nhót đến ba bốn giờ sáng Chúa Nhật mới vãn.

Những ông chồng người Việt khởi đầu cũng còn chiều vợ mà đi dự hàng tuần, nhưng đến những chỗ này thì cứ ngồi nghệt mặt ra, vì vợ mình với bạn bè cứ xổ rặt tiếng Mễ. Khi vào Party thì ông không thích nhảy, cứ phải ngồi chờ vợ bèn nản củ tỉ quá, toàn ngồi ngáp ruồi.

Rồi càng ngày ông càng chán cái kiểu họp mặt đó, than mệt, ở nhà coi con để vợ đi chơi một mình.

Cho dù có tin vợ cách mấy đi nữa, mà cô vợ hây hẩy ấy cứ đi gần sáng mới về với chồng thì thế nào cũng có vấn đề rạn nứt tình cảm.

Tại sở làm hay khi bù khú với bạn bè, ai cũng nói gái Mễ .. " cái vụ đó " khiếp lắm, họ xay như xay lúa. Khởi đầu những chàng Trai Việt cũng thích lắm, nhưng rồi đường xa mỏi gối chồn chân, đến khi sanh một vài đứa con thì không biết vì nòi giống họ như thế, hay tại ăn uống thả dàn, cứ đậu bean và bánh bột bắp mà ních, nên bà nào bà ấy sồ ra, ba vòng bằng nhau, sau đó cái vòng cần nhỏ nhất lại vượt lên đứng đầu.

Người ta nói " Người gầy là thầy ...đ. " nhưng như vậy không có nghĩa là người béo chịu kém thớ đâu nghen, về vụ này họ cũng khiếp lắm đấy nhé. Chạy xe dọc đường mà thấy mấy bà đẩy cái xe con nít trên side walk thì mười bà có đến chín bà là Mễ béo rồi. Họ sanh nhiều và mắn như thỏ vậy.

Có những cặp chồng Việt vợ Mễ trông rất đẹp đôi, có công việc vững chắc thế mà chỉ trên dưới 10 năm là rã !

Ngoại trừ khác biệt về văn hoá, người Việt mà ăn đồ Mễ hoài ngán lắm, như ông chồng muốn ăn canh chua cá kho tộ thì phải nấu lấy mà ăn, và cô vợ dĩ nhiên chê cái mùi nước mắm làm ông chồng tự ái phải nổi lên, thế là to tiếng cãi vã.

Anh NNT nói rằng " Chớ có bao giờ mời Mễ đi ăn đám cưới kiểu Việt Nam, mời họ một thiệp thì họ đi hai vợ chồng với bốn đứa con cộng thêm ông bà già vợ nữa, kéo vô ngồi gần kín một bàn, mà họ nghĩ như là đi party, nên không tặng phong bì, chỉ đem gói quà là một hộp mấy cái ly hay cái bàn ủi mà thôi, mời Mễ đi nhiều thì lỗ chỏng gọng lên ".

Tôi cũng nghe có anh kia lấy gái Mễ, nhà gái đi dự khá đông. Đám cưới xong anh được gần 20 chiếc đồng hồ treo tường, anh tặng lại cho bạn bè một mớ, còn bao nhiêu phải đem ra chợ trời bán được 8$/1 cái. Lời khẳm !

Nói tóm lại, dầu tình yêu không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ... nhưng giả dụ con tôi mà dẫn về giới thiệu một đứa con gái Mễ, thì tôi cũng chẳng thể cản ngăn, chỉ buồn thôi vì biết chắc rằng tương lai của thằng con trai mình sẽ thê thảm, sẽ phải è cổ ra trả tiền child support cho đến chết, vì trước sau gì thì rồi chúng cũng bỏ nhau.

Thê thảm thật !


Tân Ngố
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Paris phở

“Đến Paris hãy tới quận 13 ăn phở. Phở ở đó giống như quê nhà!”, bạn tôi ở Đức dặn dò khi biết hành trình đi bụi của tôi có dừng tại Pháp.

Image
Phố phở ở quận 13, Paris (Pháp) - Ảnh: N.T.Tâm


Paris là thành phố đa văn hóa nhất ở châu Âu. Người Pháp gốc châu Phi, người Ấn thường sống ở một nơi, còn người châu Á tập trung phần lớn ở phía đông. Vừa bước ra khỏi ga tàu điện ngầm Porte d’Italie ở quận 13, ngay lập tức cảm giác như mình đang ở đâu đó tại TP.HCM. Đập vào mắt là hàng loạt bảng hiệu quán phở, tiệm bán thịt heo, gạo, cửa hàng vàng… bằng tiếng Việt.

Dạo một vòng Trung tâm thương mại Olympiades, hay còn gọi là chợ Tàu, dễ dàng nhận ra giọng nói quen thuộc của nhiều người Việt. Nhưng ở khu chợ Tang Freres cách đó chừng 100 m mới thật sự là nơi tập trung đông đảo đồng hương nhất. Tôi ghé vào siêu thị mini bán tạp hóa của cô Sáu Đào trong khu Tang Freres vì thấy lạ trước cái bảng hiệu: chợ Bến Thành.

Siêu thị bán nhiều món hàng nhập khẩu từ Việt Nam, như cà phê Trung Nguyên, bánh tráng, chả giò, mắm nêm, mắm cá lóc, mắm tôm chua, mắm ruốc xào xả, mắm cá cơm; thậm chí có bảng “coi bói tình duyên”. Bà chủ quê gốc Sóc Trăng này khoe ở đây cô còn có nghệ danh là Ngọc Tâm, chuyên hát vọng cổ trong những buổi diễn nghệ thuật của cộng đồng người Việt. Hỏi quán phở nào ngon nhất quận 13, cô Sáu bảo có nhiều quán như phở Mùi mang hương vị bắc, phở 14 hương vị miền Nam… “Nhưng theo tui, cậu nên tới quán phở Bi-da, ra khỏi khu chợ này là tới”, cô Sáu dặn.

Ở khu Tang Freres có rất nhiều quán phở. Bảng hiệu ghi rõ ràng là phở, chứ không cần dịch ra tiếng Tây và tự hào là đặc sản Việt Nam. Phở đúng là đã nghiễm nhiên trở thành một thương hiệu quốc tế. Tiến sĩ - nhà báo Paul Janositz, người Đức làm cho tờ Tagesspiegel nằng nặc đòi tôi giới thiệu nơi nào ở Berlin bán phở ngon như ở Hà Nội.

Ông từng tới Hà Nội dự một cuộc họp về môi trường hồi năm 2010 và có dịp thưởng thức món phở đặc trưng của người Việt. Về Berlin, ông lặn lội tìm đến nhiều quán phở ở chợ Đồng Xuân tận Đông Berlin nhưng vẫn cảm thấy chưa thật sự ngon miệng dù hương vị phở ở đây tương đồng với phở Bắc. Nhưng tệ một chỗ là phở nấu bằng bánh phở khô. Ở châu Âu, đa số các quán bán phở bằng sợi phở khô, không giống như ở quê nhà là sợi phở tươi, dai và mềm…

Tuy nhiên, ở nơi xứ người, nhiều ngày ăn qua ăn lại món phô mai, bánh mì... thì dẫu có nhìn thấy tô phở nấu sợi bánh khô nghi ngút khói thơm mùi hành lá, thịt bò cũng đã ấm bụng. Paris những ngày trời lạnh mưa rả rích, bưng tô nước phở lên húp một cách dân dã như đang ở nhà thật khoan khoái. Chưa có một cuộc bình chọn nào nhưng tôi chắc rằng, phở ở Paris ngon nhất châu Âu! Quán phở Bi-da mà cô Sáu chỉ tôi tới có không gian rộng rãi, ngay mặt tiền đường, du khách Nhật Bản, Trung Quốc... vào ra tấp nập. Cũng là loại bánh phở khô như ở Berlin, nhưng có lẽ do nước lèo nấu hoa hồi hương thơm ngát nên phở ở quán Bi-da rất hấp dẫn.

Không chỉ ở quận 13 mới có phở. Hôm tôi vừa ngoi ra khỏi ga tàu điện ngầm Opera ở trung tâm Paris đã thấy bảng hiệu nhà hàng Việt Nam. Bà chủ họ Nguyễn, tên thường gọi là Ly, nói giọng Huế, bán món Huế và món đặc biệt là phở. Nếu phở ở quận 13 giá 8 euro (khoảng 240.000 đồng/tô), thì quán của cô Ly bán giá gấp đôi, 15 euro. Cô Ly chỉ vào một tờ báo được photo dán trên tường và kể rằng, đây là nhà hàng Việt Nam lớn nhất và lâu năm nhất ở Paris. Nhà hàng có từ thập niên 1950, do vợ chồng một bác sĩ gốc Việt thành lập, sau đó sang nhượng lại.

Xung quanh quán Việt này có rất nhiều ngân hàng, công ty nên khách vào quán của cô Ly đa số là người Pháp. “Họ đặc biệt thích phở!”, cô khẳng định. Quán được trang trí thuần chất Việt Nam, với hình ảnh áo dài, nón lá, tường tre… “Cả thế giới ai cũng biết phở là món ngon của xứ mình rồi. Tôi thấy ở nhiều nước cộng đồng người Việt mở tiệm phở, ở Hồng Kông cũng có, ở Nga cũng nhiều. Hình như người nước ngoài tới Việt Nam ăn phở rồi đi đâu cũng nhớ phở. Cách quán một đoạn, trên đường Saint Anne cũng có một quán phở, nhưng bán chung với món ăn Campuchia, cạnh tranh với nhiều nhà hàng món Hoa, món Nhật gần đấy. Nhà bạn tôi sống ở Pháp lâu năm, nhưng cả hai vợ chồng đều giữ truyền thống ẩm thực của người Việt. Các cháu nhỏ mỗi sáng đều ăn bún, phở tự nấu ở nhà với các nguyên liệu mua ở chợ Tây, chợ Tàu.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image
South Australia Kangaroo Island

TẠP GHI: ÚC CHÂU, MỘT NƠI "CHẲNG CÓ RÕ"
NGUYỄN XUÂN QUANG


Đã từ lâu tôi muốn đi xuống thăm Úc châu một chuyến nhưng chờ dịp mãi không có. Chờ giới Bác sĩ Việt Nam ở Úc châu tổ chức đại hội ở miệt Hạ Dưới để có cơ hội xuống chơi nhưng các đồng nghiệp của tôi ở miệt dưới sợ bà con ngại đường xá xa xôi không xuống "miệt vườn" (lời của một thân hữu của tôi) tham dự nên đến nay vẫn còn do dự. Không phải các đồng nghiệp ở Úc e ngại là không chính đáng, cứ nghĩ tới phải ngồi trên máy bay 16 giờ từ Hoa Kỳ tới Úc châu những người ít mạo hiểm sẽ thấy ngại ngay. Người Âu Mỹ gọi Ú c châu là xứ Down Under, tôi dịch là miệt Hạ Dưới. Từ Down Under này nghe có vẻ âm u quá. Đã Down rồi mà lại còn Under nữa. Đã Hạ (thấp) rồi mà còn Dưới nữa. Down Under nghe thấy thăm thẳm quá, nghe thấy xa xôi diệu vợi quá, nghe thấy kỳ bí, nghe thấy lưu đầy quá . Down Under còn có nhiều ẩn ý nữa, "Chẳng Có Rõ" hết được. Down Under đối với dân Anh trước đây quả là xứ lưu đầy. Tổ tiên của người Úc da trắng ở đây là con cháu của những kẻ lưu đầy từ Anh Quốc. Dĩ nhiên những kẻ lưu đầy này có những người xấu như những kẻ tội phạm nhưng những kẻ lưu đầy cũng có thể chỉ là những người bất chính kiến như trường hợp vua Hàm Nghi và những nhà Cần vương như Kỳ Đồng của chúng ta chẳng hạn. Tuy nhiên xứ lưu đầy nào đi nữa cũng vẫn là một nơi biệt xứ , một chốn xa hun hút, một chỗ mịt mùng, một chốn thâm u… Chẳng cần nói gì đến thân phận của những kẻ lưu đầy, mà ngay cả những người phải đi canh giữ những kẻ lưu đầy cũng thấy mình bị lưu đầy. Đến Sydney chúng ta sẽ được nghe nói tới một bà thống đốc tên là Mac Quaries chiều chiều ra mỏm đá nhìn ra cửa bể:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
mà nhớ quê xa Anh Cát Lợi:
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.

Chiều chiều bà ngồi đó trông ra cửa biển chờ những con tàu từ Anh đến mang theo những lá thư nhà, ngồi đó từ năm này qua tháng nọ. Bà ngồi đó, cái trôn chai thành đá, đúng như Việt ngữ gọi là chai đá và cái mỏm đất chỗ bà ngồi mòn trơ đá ra trở thành cái Ngai Đá Bà Thống Đốc. Cái trôn của bà đã trở thành cái ngai mà tiếng Nga gọi là cái trôn, Anh Pháp gọi là cái throne (Việt ngữ trôn chính là Nga ngữ trôn, Anh Pháp throne, đều liện hệ tới cái chỗ dùng để ngồi). Ngày nay cái ngai đá này trở thành một địa danh du khách đến tíu tít chụp ảnh mà ít ai thấu hiểu được cái tâm trạng Down Under của bà lúc đó. Người Úc da trắng ngày nay cũng còn thấp thoáng thấy ít nhiều cái mặc cảm Down Under này, họ vẫn "nhìn lên" các xứ Anh Mỹ, Âu châu với ít nhiều mặc cảm Down Under. Và cũng vì cái Down Under này mà chính phủ Úc đã để mất đi nhiều dịp cải tiến, để mất đi nhiều chất xám, nhiều nhân tài. Những chất xám này bỏ Úc ra đi tìm nơi thích hợp để phát triển tài năng. Nhân dịp xuát bản quyển Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và được các văn hữu, thân hữu ở Hạ Dưới khuyến khích, ở Sydney có bác sĩ Liêu Vĩnh Bình cùng phu nhân là bác sĩ Trần Thị Xuyên và nhóm tạp chí Y Học & Đời Sống cùng anh Nguyễn Vi Túy, chủ nhiệm tờ Việt Nam Thời Nay, ở Melbourne có giáo sư Nguyễn Cung Thông và bác sĩ Trần Quốc Đông cùng phu nhân là dược sĩ Kiều Ánh…, tôi quyến định đi thăm Úc nhân dịp lễ Tạ Ơn được nghỉ ở Hoa Kỳ, mặc dầu rất gấp gáp chỉ trong vòng vài tuần lễ ngay sau khi vừa mới lu bu ra mắt sách ở Quận Cam xong. Tôi hân hoan đi Úc vì những cảm tình vì cái nhiệt tình của các thân hữu dưới đó. Thật ra làm khách như tôi chỉ vác xác tới, chủ nhà mới là những kẻ vất vả, nếu không có lòng yêu mến thì chẳng ai dám nhận lời vác gánh nặng vào người trong một khoảng thời gian gấp rút. Sau 12 giờ bay, ngồi bó gối, chỉ chợp mắt chập chờn, cuồng chân, đầu nặng, cổ khô, máy bay đáp xuống phi trường Fiji cho hành khách nghỉ ngơi thư dãn. Từ Fiji tới Sydney khoảng 4 giờ bay nữa. Khách sạn của chúng tôi ở khu Darling Harbour. Tắm rửa nghỉ ngơi xong chúng tôi thả bộ đi thăm viếng khu Darling Harbour ngay. Sydney với khu Darling Harbour đẹp tuyệt vời gợi nhớ lại khu Nội Cảng của Baltimore. Nổi tiếng khắp thế giới là cái hí viện Opera House với mái trông như những cánh buồm căng gió. Đây là biểu tượng của Sydney và gần như là của nước Úc về mặt kiến trúc. Nhìn gần những cái mái cánh buồm căng gió của hí viện có hình những mảnh vỏ ngao sò rạng đông viên mai (scallop) đang mở ra đón gió ngàn khơi. Với cái tính têu tếu, tôi đặt tên nôm na là cái Nhà Hát Ngao hay nôm na có hơi mách qué một chút là Nhà hát Ngao Hóng Gió. Cái hay ở chỗ là Hát Ngao Hóng Gió là vữa đi vừa hát ngao, vừa hát nghêu, vừa hát nghêu ngao vứa hóng gió mà còn có một nghĩa mách qué nữa.

Buổi tối Anh chị bs Liêu Vĩnh Bình và bs Trần Thị Xuyên, bs Võ Văn Phước, bs Vũ Ngọc Tấn bao chúng tôi một chầu Darling Harbour by night. Đêm nay có trăng. Ở Hoa Kỳ chỗ chúng tôi ở thuộc nơi quê mùa (agriculture zone), không có đèn đường, có thể trồng trọt, chăn nuôi được, những đêm rằm vẫn có trăng sáng nhưng không có nước. Cali đất khô sa mạc, sông cạn quanh năm. Lâu lắm rồi đêm nay mới sống lại cùng trăng nước, mà lại là cảnh trăng nước Sydney.

Ngoạn cảnh xong, chúng tôi được cho ăn tối ở một tiệm ăn Tầu Imperial Pekin, nhìn ngay ra cảnh trăng nước Nhà hát Ngao Hóng Gió. Nguyên cái view này cũng đã phải trả một giá đắt rồi. Cua ở Úc sống ở bùn nên gọi là "mud crab" khác với cua ở ghềnh đá gọi là cua đá. Định bụng đến Úc phải nếm các món bản địa nên khi được các đồng nghiệp chủ nhà khuyến khích, chúng tôi nhận lời "mạo hiểm" ăn món steak kangaroo. Thịt kangaroo mềm, ngọt, không oi như thịt bò, ăn lần đầu cũng đã thấy ngon.

Buổi tối về, không biết có phải tại ăn thịt kangaroo hay không mà thấy rậm rật, bắp thịt trong người "máy" như chuột chạy. Người Trung Hoa gọi kangaroo là đại thử, tức chuột lớn và các nhà cơ thể học gọi bắp thịt là muscle, cũng có nghĩa là con chuột dựa vào sự kiện là bắp thịt cũng nhúc nhích trông như chuột chạy. Bằng chứng thấy rõ nhất là khi bị bắp thịt co rút chúng ta nói là bị chuột rút. Như thế ăn thịt đại thử kangaroo chắc có ảnh hưởng đến chuột bắp thịt. Con kangaroo có một đặc tính hi hữu là nó đi, chạy bằng cách nhẩy tưng tưng. Sở dĩ chạy nhẩy nhanh được là nhờ kangaroo có cái đuôi to khỏe. Nếu áp dụng quan niệm Đông phương cho rằng ăn gì bổ nấy thì ăn kangaroo chắc là bổ nhất cái… đuôi. Cũng may là đêm nay có vợ nằm bên.

Sáng hôm sau, vì thời gian ở Sydney ít, chúng tôi đi một tua thành phố để có một khái niệm tổng quát về Sydney. Sydney là một thành phố cảng đẹp, một trong những thành phố đẹp nhất thế giới. Đâu đâu cũng thấy chuẩn bị và quảng bá cho Thế Vận Hội năm hai ngàn ở Sydney. Dĩ nhiên Sydney có mang nhiều nét của nền văn minh Anh quốc. Lái xe bên trái. Người Úc nói tiếng Anh còn dư âm của thứ Anh ngữ "lưu đầy", còn dùng nhiều từ có nghĩa cổ khác với Anh ngữ hiệm kim ví dụ chào nhau họ nói hi mate, g’d day mate, Anh Mỹ hiện kim mate chỉ những người cùng ở chung như inmate (bạn tù), room mate ( bạn ở chung phòng)… nhưng từ mate thường làm liên tưởng tới việc truyền giống của thú vật như mating season (mùa truyền giống), mua bán người Úc dùng nhiều từ trade còn mang âm hưởng của sự mua bán ngày xưa bằng cách trao đổi hiện vật gọi là trade (từ trade liên hệ với Việt ngữ tráo, trao); thức ăn mang đi họ nói là take away thay vì nói take out, to go như Anh Mỹ… Tiếng Anh ở Úc mang sắc thái riêng Down Under. Dĩ nhiên Sydney cũng đủ các khu trung tâm tài chánh, thương mại, văn hóa bên cạnh các khu ăn và uống, ăn và chơi, khu "gay", khu đèn đỏ (red light)…. Hàng năm có ngày lễ hội "gay" rất lớn với những xe hoa thu hút giới đồng tính khắp nơi trên thế giới đổ về đi hội, nhất là các nước vùng Nam Hải và các đảo Thái Bình Dương, nơi còn giữ nền luân lý cổ truyền rất chặt chẽ. Khu đèn đỏ, nếu muốn nói theo chữ Hán Việt là hồng lâu, ở đây có một con đường nổi tiếng của các chị em … người ta. Đây là một con đường dốc, các cô hạng sang thường đứng chờ khách trên đầu cao của dốc, còn càng xuống dốc các cô càng bình dân, dĩ nhiên giá cả càng cao ở trên đầu dốc và càng thấp khi càng tụt dốc và các nàng với giá tiết kiệm nhất, rẻ nhất, vừa "budget" nhất là các nàng đứng ở cuối con dốc, xế ngang của tiệm cho mướn xe BUDGET. Sydney có nhiều bãi biển đẹp, dĩ nhiên cũng có những bãi của những người giàu tiền nhưng nghèo quần áo. Bãi công cộng nổi tiếng nhất ở đây phái nữ cũng thấy đó đây có người phơi bánh dầy, bánh ú, phơi cau, phơi mướp, phơi dành (bình tích nước)… Ông trời cứ mở mắt to ra mà nhìn, hèn gì nắng Sydney bốc lửa… hoa cả mắt!

Buổi chiều đi một vòng tua hải cảng xong chúng tôi lấy xe lửa ở khu Circular Quay xuống khu Việt Nam ở Bankstown. Bác sĩ Xuyên đóng của phòng mạch sớm đón chúng tôi ở nhà ga đưa về thăm Bankstown. Khu phố Việt Nam xinh xinh, ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ, đường được ngăn lại không cho xe cộ đi qua, cửa hàng nằm sát nách nhau khiến cho có cảm tưởng như đang dạo phố tại một nơi nào đó ở Việt Nam. Rất tiếc là đến đây đúng lúc các cửa hàng bắt đầu đóng cửa. Ở Úc năm giờ mọi dịch vụ đều đóng cửa (ngoại trừ ngày thứ 5 ?) kể cả phòng mạch bác sĩ. Ôi sao mà hạnh phúc đến thế ! bác sĩ mà năm giờ chiều đã nghỉ làm việc! Buổi trưa tôi có liên lạc với một số đồng nghiệp nhưng không gặp ai cả, sau mới biết là bác sĩ ở đây nghỉ trưa siesta. Ôi sao mà hạnh phúc thế, bác sĩ mà có được giờ nghỉ trưa tùy hứng. Mấy chục năm trời hành nghề ở Mỹ sao mà cực quá vậy! Bác sĩ có ai nghèo đâu, chắc chắn ở Úc này cũng vậy. Sau đó chúng tôi về Cabramatta, thủ đô của người tị nạn Việt tại Úc châu. Cabramatta thực sự đã gây cho tôi một xúc động mạnh. So với Little Saigon, Cabramatta nhỏ không có những khu thương xá lớn nhưng ấm cúng. Tôi đã đi qua nhiều khu phố Việt Nam ở hải ngoại nhưng chưa thấy ở nơi nào trên "cổng làng" có đề những chữ Việt bên cạnh chữ địa phương. Ở đây trên cổng làng có đề câu ca dao Việt Nam LÁ LÀNH ĐÙM LÁ RÁCH. Sau cổng là pho tượng con trâu và con nghé. Đây không có lân hí cầu, rồng phượng như thường thấy ở các khu phố Việt-Tầu khác. Nơi đây có trâu, hình bóng của Lạc Việt ruộng nước. Nơi đây có trâu là vật tổ của Lạc Việt. Nơi đây có trâu là vật biểu của Lạc Long Quân Mặt trời-Nước. Cổng đầu đàng kia có tượng nghê với sừng hai mấu, có cốt là con hươu sủa (barking deer) Mang gạc Munctjac , Kì Dương, vật biểu của Kinh Dương vương, vị vua đầu tiên của Xích Quỉ Việt Mặt trời rạng ngời. Ở đây chỉ thiếu hình bóng Cò Lang, Cò rạng ngời Hùng vương. Không biết có phải do trời định hay không mà người Việt đã đến Cabramatta lập nghiệp. Cabramatta có nghĩa là Xứ Rắn (Cabra gần cận với cobra và matta gần cận với mart, market, Việt ngữ mạc trong từ làng mạc). Chúng ta là con cháu Rắn Rồng Âu cơ- Lạc Long Quân dòng nước, dòng Rắn nên đã tìm đến Xứ Rắn Cabramatta dung thân. Phải chăng là thiên định? Theo truyền thuyết, thổ dân Úc cũng có ba vị thần tổ là ba con rắn Great Phallic-headed Serpent (Rắn có đầu là qui đầu, đây là thể lưỡng hợp âm dương), Rainbow Serpent (Rắn Cầu Vồng) và Wanabe Serpent. Ở hải đảo họ có nguồn gốc liên hệ với dòng Nước là chuyện hợp lý. Tại đây chính quyền xây cho cộng đồng Việt một building đậu xe rất ư là thiết thực. Úc châu có đủ cây trái nhiệt đới, bây giờ là mùa xuân đang mùa chôm chôm, vú sữa, xoài đủ loại, những trái xoài tượng to hơn ở quê nhà. Ở đây đất rộng người thưa. Cây trái ở đây mỗi thứ trồng hàng ngàn mẫu với kỹ thuật canh tác tân tiến. Một ngày nào đó các cây trái nhiệt đới của Việt tị nạn ở Úc sẽ nhập cảng vào Hoa Kỳ như hiện nay ở California về mùa đông vẫn có các cây trái mùa xuân, nhiệt đới từ Nam Mỹ nhập cảng vào. Các nhà trồng tỉa Việt Nam ở Úc châu nên xúc tiến việc này. Hơn một triệu khách hàng người Việt ở Hoa Kỳ về mùa đông đang chờ ăn cây trái nhiệt đới của Úc châu gởi sang.


Buổi tối chúng tôi đi ăn tối ở tiệm Bạch Đằng với các món ăn Việt khoái khẩu, trong đó có món cua bùn rang me. Nền nhạc kara oke ở đây cũng thấy thịnh hành…

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi ra phi trường sớm đi Melbourne. Trời còn tinh mơ mà các quán cà phê vỉa hè đông nghẹt như những buổi sáng ở Saigon ngày xưa. Chuyến máy bay Quantas từ Sydney đi Melbourne sớm nhất trong ngày hành khách toàn là những tay mại bản, kinh doanh, tài chính mặc đồ lớn… họ đi máy bay bằng thẻ hàng tháng như đi xe bus dùng thẻ dài hạn. Bác sĩ Trần Quốc Đông và phu nhân Dược sĩ Kiều Ánh nghỉ việc đón chúng tôi ở phi trường rồi đưa chúng tôi về khu Việt Nam ở Footscray ăn phở. Đây cũng là một khu Việt Nam sầm uất. Melbourne lạnh hơn Sydney, cây cỏ xanh tươi hơn. Theo lịch trình buổi chiều tôi sẽ nói chuyện về cuốn Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt ở đây.

Buổi chiều bị kẹt xe nên đến nơi nói chuyện bị trễ. Giáo sư Nguyễn Cung Thông và nhóm Đồng Tâm cùng bác sĩ Đông đã giúp cho buổi họp mặt này thành hình. Mặc dầu được thông báo rất cận ngày nhưng khoảng 40 thân hữu đã có mặt, trong đó có các báo chí địa phương nhứ báoNhân Quyền và nhiều các nhà văn hóa khác nữa không nhớ hết tên. Thật là xúc động. Một bàn thờ quốc tổ Hùng vương đã được dựng lên. Trước khi nói chuyện giáo sư Nguyễn Cung Thông trưởng ban tổ chức, các vị trong nhóm Hùng vương, tác giả đều dâng hương trước bàn thờ tổ. Buổi nói chuyện rất thân mật. Xin xem tường thuật của Người Melbourne in trong số này. Số tiền bán sách thu được đóng góp vào quỹ phát huy quốc tổ Hùng vương.

Buổi tối vì anh Thông ăn chay nên không đi dùng cơm tối với chúng tôi được. Anh chị Đông và anh chị Dũng đã cho chúng tôi một bữa ăn ngon miệng tại nhà hàng Shark Fine Restaurant. Đặc biệt nhất là món bào ngư tươi vớt từ trong hồ nước ra. Bào ngư già vỏ có chín lỗ. Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt tôi đã đề cập tới sự kiện là bào ngư cũng được nhiều tộc xem là biểu tượng cho vũ trụ giống như trứng hư vô. Những tộc này quan niệm vũ trụ là một cái bọc có vỏ cứng như đá (giống như con "cá bọc" bào ngư). Truyền thuyết Trung Hoa bà nói rằng bà Nữ Oa nấu đá ngũ sắc vá trời cũng cho thấy vỏ vũ trụ giống như vỏ xà cừ lóng lánh nhiều màu sắc của bào ngư. Ốc Âu cơ đội lốt ốc bọc bào ngư vũ trụ nên cũng đẻ bọc. Vũ trụ ốc bọc bào ngư sau đó phân cực. Cực dương thành mặt trời Nọc, Việt (Viêm Đế) sinh ra bốn mặt trời cõi tứ hành và bốn mặt trời cõi thế gian (ứng với Đế Minh, Kinh Dương vương, Lạc Long Quân và Hùng vương), tổng cộng là chín mặt trời. Truyền thuyết cổ Mường Việt chúng ta có 9 mặt trời. Bào ngư tương ứng với bọc vũ trụ và chín lỗ tương ứng với chín mặt trời Nọc Việt.

Ngày hôm sau còn ít thời giờ tự do chúng tôi xuống Richmond ăn phở Hùng vương và đi thăm vài nơi nữa trước khi đáp máy bay về Sydney. Anh Cung Đình Thanh chủ nhiệm báo Tư Tưởng và cậu con trai đã thương mến ra phi trường đón và đưa về nhà chơi. Sau đó chúng tôi về Cabramatta để nói chuyện với các thân hữu tại đây. Anh Nguyễn Vi Túy chủ nhiệm báo ViệtNam Thời Nay là trưởng ban tổ chức, Bác sĩ Liêu Vĩnh Bình làm điều hợp viên, anh tiết lộ cho biết anh vốn là một độc giả hâm mộ những truyện ma của tôi viết hồi còn làm tờ báo Trắng ở trường Y Khoa. Tại đây cũng có nhiều thân hữu, trong số này phải kể đến bác sĩ Nguyễn Nguyên đã từng có bài cộng tác với Y Học Thường Thức, bác sĩ Vũ Ngọc Tấn, người bạn cùng lớp với tôi cùng nhiều các bác sĩ khác, những nhà làm văn hóa như anh Cung Đình Thanh báo Tư Tưởng cùng nhiều báo chí khác như báo Dân Việt… Điều đáng quí là chị Ngọc Hân phóng viên đài SBS mặc dù bận rộn cũng đã đến dự và phỏng vấn tác giả cho thính giả toàn thể lục địa Úc châu. Đài SBS do chính phủ Úc tài trợ (xem thêm phóng sự bằng hình). Nhờ tài "mại bản" của bác sĩ Võ Văn Phước, bao nhiêu sách tác giả mang theo bán hết sạch và tiền bán sách thâu được đóng góp vào quĩ cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung Việt Nam.

Nửa đêm về sáng nhóm thân hữu và chúng tôi đi ăn cháo thật là vui làm nhớ lại những ngày đi ăn đêm lúc trước ở Saigon.

Ngày hôm sau bà xã đi mua sắm cho tới lúc lên xe ra phi trường đi Fiji. Chúng tôi ở lại Fiji mấy ngày để hồi phục trước khi về Hoa Kỳ kéo cầy trở lại.

Rời Úc đầu óc tôi vẫn thắc mắc không hiểu tại sao lại gọi con thú biểu của Úc
châu là kangaroo, kangoroo? Hỏi ai cũng trả lời gọn lọn là không có biết, chẳng có
biết? Chắc chắn là kangaroo phải có một cái nghĩa nào đó. Về tới Hoa Kỳ tôi đi
đào tìm xem kangaro có nghĩa là gì? Cuối cùng tìm thấy một tài liệu giải thích cái tên kangaroo như sau: một vị thuyền trưởng người Anh khi đem đám tù nhân bị lưu đầy lên đất Úc châu đã kinh ngạc, bàng hoàng về những giống thú lạ ở đây. Một hôm thấy con kangaroo ông hỏi một người thổ dân: Cái con gì vậy? Người thổ dân trả lời: kangoro. Thế là từ đấy con vật đó có tên là con kangoro, kangaroo, kangourou, kanguru… Về sau các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu tiếng thổ dân mới biết rõ nghĩa của từ kangoro là "don’t know", "không biết rõ". Con kangoro là con "không biết rõ" (Esperanto L…, Đặng Xuân Điện dịch in trong Khoa Học tạp chí số 55 ngày 1er Oct 1933 tr.8).

Và chuyến đi Úc kỳ này tôi lại khám phá ra từ kangoro ruột thịt với Việt ngữ ! Kangoro có kang- = chẳng (k=ch như kênh = chênh), go- = có (g=c như gài = cài) và -ro = rõ. Kangoro = Chẳng có rõ. Con kangoro là con Chẳng có rõ, con "don’t know". Sự khám phá này coi như là một món quà tặng các thân hữu ở Úc đã có lòng quí mến chúng tôi và riêng tặng anh Nguyễn Cung Thông, tác giả "Tiếng Việt Tuyệt Vời-âm M trong tiếng Việt", người cũng thích nghiên cứu tiếng Việt như tôi. Hy vọng các nhà văn hóa ở Úc châu kiểm điểm lại. Nếu kangaro, kangoro tiếng thổ dân Úc có nghĩa là "không biết" thì quả đúng kangoro ruột thịt với "Chẳng-có-rõ" của Việt ngữ. Chắc chắn trong các thổ dân Úc có những tộc liên hệ với người cổ Việt. Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, tôi đã nhắc đến một điểm giống nhau của người cổ Việt và thổ dân Úc châu là trong vũ trụ tạo sinh cả hai đều quan niệm vũ trụ có nhiều cõi và sự tạo sinh của mỗi cõi là một vòng tạo sinh riêng nhưng đội lốt lẫn nhau. Nếu kangoro đúnglà "không biết" là "Chẳng-có-rõ" xin phổ biến cho toàn thể dân Úc biết rằng kangaroo ruột thịt với Việt ngữ, nếu không muốn nói là tiếng Việt.

Úc châu, xứ kangaroo, kangoro, xứ CHẲNG-CÓ-RÕ, một thế giới còn đầy kỳ bí. Chắc chắn tôi sẽ trở lại thăm Úc châu và ăn thịt kangaroo để kiểm chứng lại…

Tác giả: Nguyễn Xuân Quang, MD.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Khi Con Cháu Hỗn
Bạn thân,

Chuyện con cháu hỗn với ba mẹ bây giờ đã thường gặp hơn. Mà có điều lạ, trẻ em Miền Nam ít hỗn với ba mẹ hơn là trẻ em Miền Bắc. Nói thế là nhìn chung thôi, vì vẫn là cá biệt. Nhưng các nhà nghiên cứu xã hội cần để tâm chuyện naỳ, vì khi con chaú bất kính ba mẹ, nghĩa là xã hội bị đảo lộn. Hay ít nhất, cái chúng ta học hồi nhỏ là “Tam Cương” -- tức là ba giềng mối phải tôn kính: Quân, Sư, Phụ... tức là Vua, Thầy, và Ba Mẹ... -- không còn được giữ gìn nữa.

Có phải đó là hậu quả rơi rớt của một thời đấu tố ở Miền Bắc? Hay là di hại văng miểng từ cái gọi là Cách Mạng Văn Hóa ở bên Tàu? Hay chỉ đơn giản, rằng chính phủ không còn bận tâm đaọ đức nữa, cứ để mặc cho vui chơi xả láng để an lòng dân? Nhưng may mắn, ngay cả thiếu niên cũng có em nhận ra rằng hỗn với ba mẹ là hỏng.

Thí dụ như báo Pháp Luật Xã Hội trong một số báo đầu tháng 2-2012, đã có bài của 1 người trẻ bày tỏ nhức nhối hiện tượng hỗn với ba mẹ. Bài tựa đề “Nhức nhối chuyện teen phát ngôn hỗn xược với người lớn” của Hồng Ngọc & Ái Nhi ngày 7/2/2012, trong đó có những dòng thiết tha:

“...Nghĩ về mẹ, hẳn bạn sẽ thấy ấm áp trong tim lắm lắm. Vậy mà, thử nghĩ xem, đã có một teen girl Việt chửi... mẹ ruột của mình, với những lời lẽ rất tục tĩu đấy, bạn ạ. Khó ai tin được rằng chủ nhân của những câu chửi hỗn xược này lại được phát ngôn từ một bạn gái. Bất cứ ai khi đọc dòng status này đều "choáng" khi cô bạn này phát ngôn rất xấc xược. Nói bậy, chửi tục dù là với bạn bè đồng trang lứa thì vẫn rất khó chấp nhận rồi, huống hồ cô bạn này còn chửi mẹ ruột của mình...

...bạn sẽ còn "sốc" hơn nhé, khi mới đây thôi, một bạn nữ khá dễ thương và xinh xắn khác lại viết những câu status Facebook đầy giận dữ và chửi bới... cô giáo chủ nhiệm của mình. Teen girl này đã chửi cô giáo bằng những câu từ rất khó chấp nhận: "óc heo", "cái loại bà", "ngậm mồm vào"... Đạo lí "Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy" đâu rồi? Truyền thống "Tôn sư trọng đạo" từ muôn đời nay của người Việt đâu mất rồi? Đọc câu status này, bất giác, chúng mình không còn cảm thấy "sốc", thấy "choáng", mà thấy buồn thay cho một người cô quan tâm đến ý thức và thái độ học tập của cô học trò nhỏ, sát sao với tình hình học sinh của mình, vậy mà lại bị những lời lẽ hỗn xược xúc phạm như thế. Rồi thấy giận nữa, giận bạn gái này sao có ăn, có học đàng hoàng, vậy mà cách ứng xử và nói năng thì còn không bằng những em học trò nghèo không được đến lớp, đến trường nhưng vẫn yêu quý cô giáo của mình hết mực. Bạn ơi, bạn có biết, không có thầy cô dạy dỗ, thì làm sao chúng ta có thể hiểu biết, lớn khôn và vững chãi khi ra ngoài đời?”

May mắn, cực kỳ may mắn còn có những thiếu nữ nhìn ra tai họa hỗn laó với ba mẹ, với thầy cô. Tuổi trẻ Việt Nam có thể không hiểu ý nghĩa Tam Cương như thời chúng ta hiểu, vì các em không học kiểu như thời mình học Luận Ngữ của ông Khổng Tử, nhưng chắc chắn đây là điểm ẩn tàng lương tâm của nhân loạị.

Tự trong lòng đã biết ngay phải trái, đúng sai... rồi. Hay có thể phần nào như thế. Hãy tin vào thế hệ trẻ, những người tự tránh khỏi những sai lầm của thế hệ...
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Ðại Vệ Chí Dị - Thời của âm binh

Người Buôn Gió
(Nguồn: nguoibuongio1972.multiply.com)

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67.
Dân oan bị cướp đất kéo nhau đi kiện khắp nơi.
Kinh tế suy thoái, nợ nước ngoài chồng chất.

Quân Tề nhân cơ ấy, tung hoành ngoài lãnh hải, ngư thuyền đi đánh bắt hải sản dàn hàng ngang trên biển Vệ. Khiến cho ngư dân Vệ khiếp đảm không dám ra khơi hành nghề.

Vì thế mà nước Vệ yên ổn, tránh được chuyện binh đao với Tề. Quả thật một điều nhịn chín điều lành như cha ông dạy. Triều Vệ nghị sự, các quan bàn rằng, chúng nó (ý nói bọn Tề) đánh hết hải sản, thu hết tài nguyên tức khắc phải kéo về. Cứ án binh bất động là kế hay nhất.

Trong nước người dân bất mãn, ca thán, tiếng vang động đến trời cao. Triều Vệ nghị, sự, các quan bàn rằng. Cứ cấm chúng nó than vãn, thì gần cũng chả nghe thấy, huống chi là trời cao vời vợi kia.

Bèn lựa lúc mùa hạ oi bức khiến bá tính khó chịu vô cùng, mới sai bọn truyền thông thanh tra những người hay phổ biến tin tức trong nhân dân để khép tội.

Lúc ấy ở kinh thành có tiến sĩ họ Nguyễn, Nguyễn nguyên người xứ Ðoài, năm 38 tuổi đậu tiến sĩ khóa Mậu Tí đời Vệ Cường Vương, làm quan thủ thư tại viện Cổ Ngữ. Tay ấy rành kinh sử, hay chọn lọc được những tin tức quý giá trong dân phổ biến cho mọi người xem. Ước thiên hạ người đọc tin của tiến sĩ có đến hàng triệu.

Ðại thần nghị chính kiêm phó tể tướng là Phước được triều đình tín nhiệm, giao cho xử việc trấn áp Nguyễn. Phước cầm lệnh bài triệu tập các bộ liên quan là bộ Lễ, bộ Hình lại, cắt đặt việc đâu ra đấy. Trước là dùng pháp lệnh để nắn Nguyễn tìm chứng cứ cho bộ Hình vào cuộc, tiếp nữa là dùng bọn bồi bút công kích hạ thấp uy tín của Nguyễn. Ðồng thời lệnh cho những kẻ đặc tình cài trong hàng ngũ nhân dân hưởng ứng cuộc hạ uy tín này tạo thành hai mũi giáp công. Dọn đường khi trấn áp được Nguyễn, hạ được uy tín, gieo rắc tiếng xấu cho những người đưa tin trong bốn cõi là đưa pháp lệnh siết chặt việc truyền tin trong dân gian vào thi hành.

Nào ngờ mưu ấy bị lọt ra ngoài, làm mất đi cái chính danh của pháp lệnh. Khắp nơi đường chợ người ta đều hiểu đó là mưu để bịt miệng nhân dân, không để tiếng than vãn lọt đến trời xanh. Dân vì thế mà không phục.

Nhà Sản thấy khó, bèn xoay chuyển sang hướng khác. Ðưa tin bọn ca kỹ, diễn viên bán dâm hàng chục lượng vàng tràn ngập khắp bảng tin trong nước. Dân trí Vệ còn thấp, nghe được tin lạ xúm xít vào bàn tán, làm thế cho loạn tin. Một cách làm bấy lâu nay vẫn thành công. Trước gây loạn có cớ dẹp, trong lúc dẹp thì mượn gió bẻ măng.

Bọn lưu manh kẻ chợ ngồi mách chuyện với nhau. Xưa nay chúng ta bảo kê chỗ nào như nhà hàng, quán chợ, bến bãi, trước tiên cho người vào hàng quán quậy phá, gây loạn cho lòng người hoảng sợ. Sau đó đứng ra bảo kê thu tiền với cớ là giữ gìn trật tự. Nay triều đình dùng kế đem mỹ nhân bán dâm gây loạn thiên hạ, sau đó chấn chỉnh việc truyền tin trong nhân dân. Liệu có giống nhau không nhỉ?

Có người nói:

- Giống phần nào thôi, chúng ta là lưu manh, côn đồ, chúng ta dùng vũ lực. Dù sao đi nữa chúng ta cũng là người ngay thật. Chứ dùng váy của đàn bà mà để làm chuyện đó thì xưa nay trong giới chúng ta không ai làm việc đó cả.

Dân kẻ chợ, nghe bọn đó nói chuyện, ai cũng ngao ngán nói với nhau.

- Ðúng là thời của âm binh.

NGUỒN TỚI: http://nguoibuongio1972.multiply.com/jo ... em/589/589
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Làm Báo thời Thổ Tả

Đoan Trang

- Liệu bài có được đăng không?
- Không biết… nhưng hy vọng là ổn. Anh TBT đã bảo là "có gì sẽ trao đổi với phóng viên trực tiếp trong ngày hôm nay”. Tinh thần chỉ là sửa bớt những chỗ quá cụ thể, còn thì sẽ đăng và phải đăng.
- Ái chà chà. Thế cơ à?
- Vì ảnh bảo, có những lúc, nếu chúng ta không nói, sẽ là có tội. Sau này về già, còn mặt mũi nào nhìn con cháu mà chém gió: “Ngày xưa ông làm báo thế đấy!”.
- Quá chuẩn! Thế mới là TBT chứ! Sao anh tổng nhà tôi không được như thế?
- Há há, lêu lêu…
- Sướng nhỉ? Đang nghĩ là nếu bài được đăng, bà con bên Văn Giang sẽ mừng lắm đây. Nhớ mua lấy mấy chục tờ mang về biếu bà con.
- Ấy, đừng vội mừng sớm... Nói thế chứ vẫn lo lắm. Đã đăng đâu, mới là “sẽ đăng” thôi. Mà đưa một bài lên, bị thổi còi ngay chẳng hạn, là xong…

*

“Ngày xưa ông làm báo thế đấy!”.

Mô típ “chúng ta nói gì với con cháu chúng ta” hẳn là đã được sử dụng nhiều trong văn học, sách báo, phim ảnh. Như nhà văn Phan Tứ (1930-1995) viết trong tiểu thuyết nổi tiếng “Mẫn và tôi” về tình yêu thời chiến tranh: “Bầy cháu nội ngoại sẽ nghe tôi kể: “Ông gặp bà giữa hồi núi sụp rầm rầm, nước dâng như chưa hề ghi trong sử sách…”. Chúng cười khì, tưởng tôi mượn chuyện thời vua Hùng. (…) Đành vậy, lớn lên chúng sẽ biết, sẽ nhớ. Tôi phải giúp chúng nhớ. Đừng để những bông hoa mai sau tự rứt mình ra khỏi cây vì không muốn dính dáng với bầy rễ cắm vào bùn”.

“Đánh Chu Lai, chắc Mẫn lại kẹp cácbin đưa các anh đặc công lội trắng đêm trên cát và đời nào em tôi chịu vắng bóng trong đợt pháo hoa cuối cùng. Tôi chia lửa cho Mẫn là phải, riêng tây gì đâu. Phải không em, Mẫn, dù anh đi khắp chân trời góc biển, mỗi lần ra trận chúng mình lại gặp nhau; có phải lúc này em đang quấn quít bên anh, em gần đến nỗi anh chỉ đẩy ngón tay đặt nên tim là nghe ngay tiếng người thương rủ rỉ trong tai, kể rằng quê ta thắng Mỹ rất ngon, và hai đứa mình là bông bạc vẫy hai ngón giữa dòng?”.

Nghe nhà văn viết những dòng thủ thỉ, thấy tình yêu của hai nhân vật chính – Mẫn và Thiêm – sao mà đẹp đến lý tưởng. Đúng là cuốn tiểu thuyết “một thời khuấy động hàng triệu con tim”, cũng chẳng khác gì “những nhạc phẩm lừng danh của Trịnh Công Sơn”, “đầy phẫn nộ, khát khao cho một niềm hy vọng chung của cả dân tộc”… (*)

Lũ nhà báo bây giờ sau này kể lại cho con cháu nghe chuyện làm báo của mình thời nay, sợ rằng không được đẹp như thế. Nó thảm hại hơn nhiều, lố bịch hơn nhiều, hèn nhát hơn nhiều…

*

Nó là câu chuyện của những nhà báo hễ xuất hiện ở điểm nóng nào là chỉ đi cùng “lực lượng chức năng”, áo nhiều túi, máy ảnh trước ngực, vẻ mặt nghiêm trọng. Cũng là câu chuyện của những phóng viên về Văn Giang lúc xế chiều để chứng kiến một cánh đồng tung tóe, cây cối đổ nát nghiêng ngửa. Dân quê thấy người lạ vào, chẳng ai buồn ngẩng lên, vẫn cắm cúi đào bới, nhặt nhạnh, xúc, đổ đất… Nhưng đến khi thấy “người lạ” lúi húi lấy máy ghi âm, sổ và bút ra, thì họ vây lấy, thẫn thờ: “Sao đến giờ nhà báo mới về? Mất rồi. Mất hết rồi!”.

Rồi họ nhất định kéo nhà báo vào nhà, để họ pha trà, mời nước, và nghe họ kể lể chuyện “mất hết rồi”. Hàng xóm lục tục kéo đến, người nào cũng phải xán lại, nhìn, chạm tay vào áo khách một cái, khẩn khoản: “Nếu nhà báo giúp được chúng tôi đòi lại được đất, thì chúng tôi mang ơn nhà báo suốt đời”. Màn đêm buông xuống, trai tráng trong làng rầm rập đưa xe máy hộ tống nhà báo về. Người dân nông thôn bao giờ cũng là vậy, họ có thể khôn ngoan hay thực dụng, nhưng vẫn có cái hồn hậu chất phác – nên không để ý thấy nhà báo đang cúi gằm mặt, lủi thủi rời khỏi hiện trường.

Và từ ấy, ngày nào họ cũng ngong ngóng ra bưu điện huyện, chờ xem có báo nào đưa tin, viết bài “về xã mình” không. Những mảnh báo hiếm hoi nhắc đến vụ việc của làng họ được photocopy ra hàng chục bản, và truyền tay nhau nhiều quá, đã nát ra rồi…

*

Họ không nhìn thấy cảnh nhà báo phóng xe máy rời làng, đầu cúi gằm. Họ cũng không biết đến chuyện, có những lần, nhà báo về làng khi trời vẫn còn chưa tối. Trên đường đi, dưới ánh hoàng hôn, cây lá trong vùng vẫn xanh biếc như thế, triền đê vẫn mườn mượt cỏ, gió vẫn lồng lộng, và nhà báo dở hơi bỗng nghĩ tới lời thề của danh tướng Trần Quốc Tuấn thời xưa: “Trận này không phá xong giặc Nguyên, quyết không về bến sông này nữa”. Thì chúng cháu cũng vậy, Hưng Đạo Đại Vương ơi! Chúng cháu cũng muốn đứng trên đê, nhìn xuống cánh đồng xanh mượt mà thề: “Chuyến này không đăng được bài, quyết không về chốn này nữa”. Nhưng nói vậy thôi, chúng cháu sao dám gở miệng như thế - vì chúng cháu hiểu, sẽ còn nhiều, rất nhiều những vụ cưỡng chế đất đai, những bạo lực, đổ máu, hận thù, bất mãn… mà nếu còn nghĩ tới chuyện làm báo thì còn phải chứng kiến, và viết. Không ở đây thì cũng ở nơi khác mà thôi.

Những người dân quê chất phác. Họ chẳng biết gì tới sự căng thẳng của ban biên tập, nỗi dằn vặt của phóng viên. Họ cũng chẳng biết đến Internet, cùng những cuộc cãi vã xô xát trên đó, bảo rằng họ tham lam, đã nhận tiền rồi nay thấy ít nên lại đòi tăng, rằng họ bất mãn nên bị bọn phản động lợi dụng, rằng cưỡng chế đất đai là việc không thể tránh khỏi trên con đường phát triển của Việt Nam (chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, tóm lại là “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”).

Họ càng không biết tới Hiến pháp, tới bài toán phát triển kinh tế của đất nước – toàn những thứ vĩ mô đến thế. Họ chỉ biết vào cái buổi sáng hôm ấy, hàng chục xe cam nhông, xe tải chở lính, đã “bò như cua” vào thôn làng họ, và họ bị xô đẩy, dồn ra ngoài cái mảnh đất cho đến rạng sáng vẫn còn là của họ trong tiếng loa oang oang nhắc nhở: “Không phận sự miễn vào”. Không chống lại được thì họ cự lại, phản ứng, họ chửi, khóc, ngồi bệt, rồi lăn cả ra đấy, uất ức như những đứa trẻ bị cướp đồ ăn.

Lúc ấy, ai còn dám lý luận với họ về những vấn đề cao siêu, ví dụ, về sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất?

Nhưng nếu đặt câu hỏi ngược lại, rằng giả sử cuộc cưỡng chế diễn ra căng thẳng và khốc liệt, rồi một nhân viên công vụ bị đánh trọng thương, máu me be bét, lực lượng cưỡng chế buộc phải rút lui trong thất bại, thì có ai vui mừng hả hê với chiến thắng của “phe nhân dân” không? Câu trả lời, với những người làm báo nghiêm túc, sẽ là không. Đơn giản bởi vì người ta ai cũng xương cũng thịt. Ai cũng là tinh cha huyết mẹ mà thành.

Báo chí không thể ủng hộ, cổ vũ bạo lực dưới bất kỳ hình thức nào. Một điều mà các nhân viên an ninh “ít chữ” rất hay muốn làm rõ là “Anh/chị viết bài vì động cơ gì?”. Họ không hiểu rằng với nhà báo, sự thật là tối thượng, và nếu có thể gọi đấy là “động cơ”, thì nhà báo chỉ có động cơ duy nhất là phản ánh sự thật. Đôi khi, một nhà báo viết hết, phản ánh hết – đúng 100% - những gì một bên đưa ra (ý kiến, bằng chứng…), mà vẫn là không chấp nhận được. Bởi vì như vậy là không đủ khách quan, công bằng: Mọi bên đều phải có cơ hội thể hiện quan điểm như nhau.

Nếu dân sai thì ngay cả có bị dí súng vào đầu bắt viết “vu vạ” cho công an, người làm báo cũng không viết. (Ở đây, phải giới hạn là không phải tất cả các nhà báo đều như nhau, ngoài ra, nhiều khi họ không viết xấu về chính quyền không phải vì tôn trọng sự thật khách quan, mà là vì không đủ bằng chứng, hoặc vì sợ bị trừng trị). Ngược lại, nếu chính quyền sai thì dù có cố đến đâu cũng khó lòng bênh nổi.

Ai đó đã nói về “chiến dịch” đưa tin của báo chí trong và sau các vụ Tiên Lãng, Văn Giang như sau: “Một cuộc vật lộn để được nói sự thật”. Thực tế còn hơn thế nữa: Một cuộc vật lộn để được biết sự thật, để được viết sự thật, và để được khách quan (tất nhiên cũng chỉ dám mong ở mức độ tương đối). Thế mà, cho đến giờ, cái đích ấy vẫn chưa đạt được.

*

37 năm sau ngày thống nhất đất nước. Hơn nửa thế kỷ sau cải cách ruộng đất. 67 năm sau ngày thành lập nước. Sáu thế kỷ sau thời kỳ tích lũy tư bản nguyên thủy ở phương Tây. Bước vào thời đại toàn cầu hóa, hội nhập, ở Việt Nam, vẫn còn diễn ra những cuộc cưỡng chế đất đai nhốn nháo, tiếng la hét chửi bới của dân lẫn trong khói hơi cay và tiếng oàng oàng chói tai của “quả nổ nghiệp vụ”.

Tệ hơn nữa là chuyện ấy lại diễn ra cùng với đây đó những mệnh lệnh (miệng) yêu cầu báo chí “hạn chế đưa tin”, và những cuộc tranh cãi ầm ĩ, đầy ngụy biện, trên mạng, về quan tham, dân gian và bọn báo chí lề phải, blogger lề trái ngu dốt, phản động.

“Ngày xưa ông làm báo thế đấy”.

Ghi chú:
(*) Lời giới thiệu album “Sơn Ca 7” của Khánh Ly.
Nguồn: Blog Đoan Trang
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

NƯỚC MẮT CON TRÂU
(Weekly World News) – Tâm Minh lược dịch
Theo tin được phổ biến bởi “Tin Tức Nhân Dân” (People’s News) của Trung Quốc có một chuyện bất ngờ xảy ra ở Hong Kong, nghe có vẻ khó tin nhưng lại có thật.

Tờ “Tin Tức Thế Giới Hàng Tuần” (Weekly World News) tường thuật rằng có một nhóm nhân công dắt một con trâu vào trong một lò sát sinh để sửa soạn giết thịt làm bíp-tết và hầm ra-gu.

Khi họ đi tới trước cửa lò thời con vật thình lình đứng khựng lại, không chịu tiến bước thêm nữa. Chú trâu qùy xuống bằng hai chân trước và tuôn rơi nước mắt. Tại sao trước khi vào lò sát sinh mà một con trâu lại có thể hay biết rằng nó sắp bị xẻ thịt. Điều này tỏ ra nó có vẻ nhậy cảm hơn nhiều con người.

Tay đồ tể SHIU TAT-NIN kể lại chuyện đó một cách hoàn toàn xúc động: “Khi tôi trông thấy một con vật dường như ngu đần mà lại biết khóc, cặp mắt của nó còn lộ vẻ đầy hãi sợ và buồn khổ, tôi bỗng rùng mình!” Anh chàng kể tiếp: “Tôi vội vàng gọi mọi người tới coi và tất cả đều ngạc nhiên như tôi. Chúng tôi cùng xúm vào để người thì đẩy và người thì lôi kéo chú trâu đi nhưng nó không chịu nhúc nhích, nó chỉ ngồi đó và tiếp tục khóc!”

Chủ lò sát sinh BILLY FONG nói: “Con người luôn nghĩ rằng những con vật này không giống người, đâu biết khóc, nhưng chú trâu này quả thật đã khóc như một đứa trẻ nít!”

Vào lúc đó có ít nhất là cả chục con người khoẻ khoắn và vạm vỡ hiện diện nhưng tất cả đều mủi lòng khi thấy chú trâu khóc. Riêng những đồ tể thường có nhiệm vụ hàng ngày phải giết trâu bò trong lò sát sinh thời súc cảm hơn nữa, họ cũng nhỏ lệ.

Khi các tay đồ tể từ các lò sát sinh khác nghe thấy tin này họ cũng kéo nhau chạy tới xem. Tất cả đám đông đều rất ngạc nhiên vì những chuyện xảy ra trước mắt họ. Ba người đồ tể trong nhóm đó quá súc động đến nỗi họ tuyên bố rằng kể từ lúc này mỗi khi họ phải làm thịt các sinh vật khác họ cũng sẽ không thể quên hình ảnh nước mắt của chú trâu này.

Kết thúc sẽ giải quyết như thế nào? Thấy cả trâu lẫn người đều nhỏ lệ chúng ta biết rằng chú trâu sẽ không bị xẻ thịt nữa. Quả thật vậy, một số người bỏ tiền mặt ra mua chú trâu đó rồi gửi chú vào trong một ngôi chùa Phật giáo để nơi đó quý Tăng sẽ chăm sóc nó chu đáo hơn và chú trâu có thể an lành sống đến tận cuối đời!

Một chuyện kỳ lạ khác lại xảy ra. Sau khi có quyết định trên, chú trâu linh cảm rằng sinh mạng chú được bảo đảm, chú tự đứng dậy và đi theo họ. Đồ tể SHIU TAT-NIN ngạc nhiên nói: “Tại sao một con trâu lại hiểu được những lời nói của con người? Dù bạn có tin hay không nhưng chuyện lạ lùng này quả có thật.”

Hiển nhiên chú trâu này đã làm lay chuyển cuộc sống của những nhân công làm việc trong lò sát sinh !
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

20 năm vào ra Nusing Home mỗi ngày thăm vợ
Huy Phương

Năm nay ông đã 82 và bà cũng đã được 80, nhưng hai mươi năm ở cuối chặng đường, chữ nghĩa nặng hơn chữ tình.
66 năm hôn nhân với 16 đứa con.

Họ đã đi với nhau một đoạn đời 66 năm, đã có với nhau 16 đứa con, vừa sống vừa chết.
Xuất thân trong một gia đình buôn bán ở xứ Ðạo Bùi Chu, gia đình neo người nên họ kết hôn từ lúc chàng trai mới 16 tuổi và cô gái lên 14.
Năm nay ông đã 82 và bà cũng đã được 80, nhưng hai mươi năm ở cuối chặng đường, chữ nghĩa nặng hơn chữ tình.

Image
Ông Nguyễn Văn Thịnh đọc sách cho vợ nghe. (Hình: Huy Phương)


Hai mươi năm mỗi ngày bà lặng lẽ trong thế giới riêng của mình, và ông mỗi ngày cần mẫn vào ra nursing home đúng giờ giấc, nhưng hai người không hề trao đổi với nhau một câu chuyện hay một lời tâm tình nào. Từ hai mươi năm nay, bà bị tai biến mạch máu não, khuôn mặt thay đổi, trí nhớ không còn. Bà được y tá đẩy xe lăn từ giường bệnh ra phòng tiếp khách, nơi có đầy đủ ánh sáng và người qua lại để thay đổi không khí cho bà vui, và có lẽ vui hơn, mỗi sáng, ông ngồi cạnh bà, đọc cho bà nghe vài trang Kinh Thánh... hay một mẩu chuyện trong cuốn sách mà ông mang theo. Bà có nghe, có hiểu không cũng không ai biết, không thấy bà cau mặt hay mỉm cười. Những lúc ông từ giã ra về, bà đưa cánh tay lên, nói những lời không nghe rõ như muốn giữ ông lại, những lúc ông vào, ông biết bà mừng rỡ nhưng không thốt ra được lời nói, nên ông phải lựa lời lúc từ giã: “Tôi về uống thuốc”; “Tôi đi bác sĩ!” cũng như lúc vào ông nói: “Nào hôm nay bà khỏe không!” Bà không nói gì, chắc hẳn thấy vui khi có ông ngồi bên cạnh, và ông như chiếc kim đồng hồ đều đặn mỗi ngày đều có mặt ở đây.

Tên ông là Nguyễn Văn Thịnh, sinh năm 1930 tại Bùi Chu, Nam Ðịnh. Bà, Nguyễn Thị Tuất, nhỏ thua ông hai tuổi, người cùng quê với ông. Mặc dù là một người kinh doanh giỏi, cuộc đời hai lần di cư, trước năm 1975 ông đã thành công trên thương trường, qua đến Mỹ nuôi được một đàn con 11 trai, gái ăn học thành tài, ở nơi ông thể hiện một con người chơn chất thật thà của một người làm nghề biển.

Ông kể chuyện:

- “Hồi di cư vào Nam, ‘tàu ông Diệm’ lớn lắm, đậu ngoài khơi, chúng em đi tàu nhỏ ra và được kéo lên tàu. Mất hai ngày hai đêm, tàu mới đến Cap Saint Jacques (tên cũ của Vũng Tàu). Chính phủ cấp tiền, nơi tạm cư và đồng bào, tùy hoàn cảnh chọn lựa nơi sinh sống. Chúng em vốn làm nghề biển ở Nam Ðịnh, thấy Vũng Tàu đẹp đẽ, dân cư hiền hòa, dễ làm ăn nên ở lại đây. Thuở ban đầu, gia đình chỉ làm nghề xúc tép cũng đủ sống, tiền trợ cấp dựng được một ngôi nhà lá. Từ nhà lá lên nhà ngói, rồi nhà lầu. Chỉ bốn năm sau, đã có tiền mua đất, cả một hòn núi nhỏ ở bãi trước, thuê công binh quân đội bỏ cốt mìn phá núi, xây nhà lầu khang trang, nhưng đó cũng là năm gia đình ‘em’ chịu mất mát nhiều nhất, trong bốn năm liền, vợ em sinh ba đứa con, không đứa nào nuôi được quá ba tháng (?)”
Image
Gia đình sum họp những ngày bà Thịnh chưa vào Nursing Home.


Ông Thịnh dù đã lớn tuổi có thói quen xưng “em” với tất cả mọi người.

- “Hồi đó gia đình em làm nghề bán máy tàu loại lớn đi biển, đóng tàu rồi mua đi bán lại, nên cuộc sống rất khá giả. Vào những ngày cuối cùng trước khi rời Việt Nam, nhà có đến ba tàu trọng tải khoảng 300 tấn, nếu vượt biển có thể chở hàng trăm người, nên chuyện ra đi quá dễ dàng. Rời Vũng Tàu vào khoảng trưa ngày 29, khi ra tàu, còn thấy du kích Việt Cộng chạy trên bờ. Trên tàu có đủ 10 đứa con và gia đình nội ngoại. Ra khơi chừng ba cây số đã có tàu Mỹ đón. Cuộc đời mình không ngờ lại có chuyện ra đi lần thứ hai.”

Mối lo của người chồng tình nghĩa

Ðến Mỹ, ông bà Nguyễn Văn Thịnh sinh được thêm hai người con nữa, như vậy là đủ nhân số cho một “tiểu đội tác chiến”. Cách đây hai năm, người con trưởng của ông qua đời vì bệnh ung thư, nên ngày nay ông bà chỉ còn lại 11 người con, tất cả đã thành đạt và đều sinh sống, làm việc quanh quẩn trong vòng quận Cam. Ông bà Thịnh có hơn 30 đứa cháu nội ngoại mà ông khó nhớ hết tên tuổi.

Tuy đàn con trai, gái có nhà cửa khang trang, đầy đủ tiện nghi, mời ông Thịnh về ở chung nhưng ông đều từ chối. Ông thuê một căn phòng nhỏ cách nursing home có 5 phút lái xe, tự lo bữa ăn hàng ngày cho mình, để có thể dễ dàng đến thăm vợ mỗi ngày. Ðúng 9 giờ sáng ông có mặt bên vợ, 12 giờ trưa, sau khi bà dùng bữa xong, y tá đỡ bà về phòng nghỉ thì ông ra về. Chiều lại vào, sợ vợ trông hay chính ông cũng cảm thấy lòng không yên. Tuy đông con, nhưng ông không tin, khi ông qua đời trước bà, khó có đứa con nào, đều đặn sớm hôm bên cạnh bà, an ủi bà như ông đã làm.

Tuy đã 82 tuổi, trông ông Thịnh còn minh mẫn, lanh lẹ, còn lái xe được, nhưng vì sao ông lại có ý nghĩ như vậy? Ông Thịnh cho biết: - “Em biết một bà cụ năm nay đã 90 tuổi, bị ‘tai biến’ đã 28 năm, tưởng không qua khỏi, nhưng bà vẫn sống cho đến nay, dù phải nằm một chỗ. Tuy vẫn nhờ nền y tế ở Mỹ là chủ yếu, nhưng cánh đàn ông như mình có lẽ dễ ‘đi’ hơn! Ðó chính là mối lo của em! Nếu em đi là do ý Chúa, nhưng chỉ tội cho bà ấy!”

Tôi quay sang hỏi ông Nguyễn Na, người phụ trách phần bệnh nhân người Việt về tỷ lệ nam nữ vào nursing home này. Ông cho biết “bệnh nhân hết 70% là nữ, chỉ có 30% nam hay ít hơn”. Ðồng ý với ông Thịnh, ông nói: “Có lẽ đàn ông dễ chết hơn phụ nữ!”

Người chồng tử tế chỉ sợ mình chết sớm trong khi còn người vợ ốm đau, quạnh hiu tuổi già trong nursing home không ai lo lắng.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Chỉ có những bài học,
không có thất bại… trong cuộc đời làm người


Vào những năm 1970, văn hào Nguyễn Mạnh Côn, trong hai tác phẩm danh tiếng, mang tựa đề là "Yêu anh vượt chết" và "Giấc mơ của Đá", đã mô tả tình yêu như một "năng lực siêu việt, huyền nhiệm" vượt thắng mọi trở ngại lớn lao trong cuộc đời. Thậm chí Thần chết hay là Vua đá cũng bị tiêu vong, hoại diệt… trước vòng tay ôm ghì chặt của hai người đang trở thành « một xương, một thịt ».

Chắc hẳn, Nguyễn Mạnh Côn sẽ dễ dàng tương đắc với Gabriel Marcel. Nhà văn hào người Pháp nầy đã khẳng định :

" Yêu ai là khẳng quyết với người ấy : Em không bao giờ chết. Em bất diệt trong suốt cuộc đời của anh."

Sau 70 tuổi đời, ngày ngày làm chứng nhân trực tiếp, trước bao nhiêu vấn đề phức tạp và phiền toái của con người, trong thế giới ngày hôm nay, tôi muốn điều chỉnh lại những câu nói của các tác giả trên đây :

"Tình yêu chỉ làm cho con người trở thành bất diệt, khi tình yêu ấy là một kỳ công đối thoại thực sự giữa hai người".

Nói như vậy tôi muốn nhấn mạnh và khẳng quyết hai điều :

1- Chỉ có tình yêu thực sự, khi tình yêu ấy biết đối thoại trong mọi hoàn cảnh, với bất kỳ trở ngại nào.

2- Chỉ có đối thoại thực sự, khi đối thoại tạo điều kiện cho con người biết yêu thương nhau, như anh chị em và có khả năng cùng nhau ngồi lại giải quyết những vấn, đề do cuộc sống đặt ra.

Trong tinh thần và ý thức ấy, đối thoại phải kết thúc bằng việc làm cụ thể : xây dựng với nhau một thế giới, một quê hương, trong đó mỗi người không trừ sót ai, bất kể vì lý do gì, đều có quyền thương và được thương. Ai ai cũng bắt tay vào công việc, với tất cả năng lực và điều kiện hiện thực của mình. Không một ai chỉ ngồi chờ « quả sung từ trên cao tự nhiên rơi vào miệng ». Mỗi người là một con én làm nên mùa xuân, trên từng tấc đất của Quê hương và cuộc đời.

Câu chuyện sau đây minh họa một cách ý vị thế nào là làm nên mùa xuân bằng đối thoại.

1- Câu chuyện về Trạng và công cuộc cải tổ triều đình

Tôi không biết Trạng được nói tới trong câu chuyện nầy là ai, ở xứ nào. Có thể đó là một đạo sĩ, một thiền sư hay là một nhà hiền triết, một bậc thánh nhân.

Trong câu chuyện, Trạng là người thấu suốt sự đời. Trạng đi lang thang, khắp đó đây, gõ cửa mọi nhà, đem tình thương và hơi ấm cho nhiều người thiếu phương tiện. Bất kể phương tiện nào, vật chất hay tinh thần, của cải hay tiền bạc.

Chỗ nào Trạng đi qua, theo như lời truyền tụng, vợ chồng yêu nhau hơn. Con cái nghe lời cha mẹ. Cha mẹ biết chuyện trò với con cái.

Khi có một vấn đề hơi phiền hà và phức tạp xảy ra, Trạng đến, Trạng mĩm cười. Ăn trầu với người nầy, hút thuốc với người kia. Chơi đùa chạy nhảy với các em bé trong làng...Thế rồi, bao nhiêu vấn đề cũng từ từ biến tan. Không ai hiểu được vì lý do gì. Họ hỏi Trạng, muốn theo học với Trạng, Trạng chỉ mĩm cười trả lời : "Trạng biết gì đâu mà chỉ dạy ! Thôi, hãy đi tìm một vị thầy ở chỗ khác mà học !".

Thế mà Triều đình Nhà Vua hay tin về Trạng. Chính lúc ấy, Triều Đình đang gặp nhiều khủng hoảng trầm trọng. Và không một ai có thể xác định khủng hoảng xuất phát từ đâu, vì lý do gì.

Trạng được triệu về hoàng cung. Lâp tức, Trạng đưa ra điều kiện : Mỗi lần được triệu về, Trạng xin Triều đình ứng trước 50 lượng vàng, bằng không Trạng không về, mặc dù bị chém đầu. Khi hay tin như vậy, mọi người dân ngơ ngác, bỡ ngỡ, kinh hoàng :

"Có bao giờ Trạng lấy của ai một đồng xu nhỏ. Thế sao bây giờ Trạng đòi hỏi một giá tiền quá cao như thế?".

Chính nhà Vua cũng nổi giận lôi đình, sai quân lính đi chém đầu Trạng. Nhưng tất cả Triều Đình sụp lạy và can ngăn :

"Xin nhà Vua hãy thư thả. Hãy chấp nhận điều kiện, cho Trạng về. Nếu sau đó, Trạng không làm gì được, Nhà Vua hãy chém đầu. Làm sao Trạng có thể chạy Trời khỏi nắng ?".

Lần đầu tiên, sau khi nhận lãnh 50 lượng vàng, Trạng đã về trình diện :

"Thưa Triều đình, tôi được triệu về để giải quyết nhiều vấn đề. Triều đình đã họp nhau lại, kê khai và viết thành văn bản những vấn đề ấy chưa ?".

Triều đình ngơ ngác, không biết trả lời thế nào.

Lập tức, Trạng đứng dậy ra về :

- "Trạng không thể giải quyết gì cả, nếu Triều đình chưa họp lại, kê khai những câu hỏi rõ ràng và chép thành văn bản".

Sau ba tháng, Triều đình đã làm xong bản báo cáo. Trạng được triệu về lần thứ hai, sau khi nhận lãnh thêm 50 lượng vàng.

Lần nầy Trạng đặt câu hỏi :

- "Triều đinh đã cùng nhau họp lại suy nghĩ, đề nghị nhiều cách giải quyết khác nhau, cho mỗi vấn đề chưa ?"

Lại một lần nữa Triều đinh ngơ ngác. Trạng đứng dậy ra về.

Sáu tháng sau, Triều đình đã khảo sát xong xuôi mọi vấn đề. Trước mỗi bế tắc, Triều đình đã đề nghị sáu cách giải quyết khác nhau.

Lần nầy cũng như mấy lần trước, Trạng nhận lãnh 50 lượng vàng và được triệu về lần thứ ba :

"Trong sáu cách giải đáp cho mỗi vấn đề, Triều đình đã ngồi lại thảo luận và chọn lựa cách nào gọi được là hữu hiệu nhất chưa ?"

Lần sau cùng, khi Triều đình đã viết thành văn bản cách chọn lựa và quyết định của mình, Trạng được triệu về.

Lần nầy Trạng mang về trả lại cho Triều đình bốn lần 50 lượng vàng. Tổng cộng là 200 lượng.

Trước mặt Vua quan, Trạng đã kết luận :

"Từ nay, Triều đình đã có phương pháp làm việc".

Trước mỗi vấn đề, chúng ta phải trao đổi, trao đổi và trao đổi. Ít nhất ba lần trao đổi, trước mỗi quyết định. Mỗi cách giải quyết đều có tính tạm thời. Không có gì vĩnh cửu dưới trời đất nầy. Những vấn đề sẽ trở lại nay mai... Chúng ta cũng sẽ phải ngồi lại khảo sát, trao đổi và chọn lựa với nhau.

Kính thưa quí vị !

Từ giờ phút nầy, Quê Hương không phải chỉ có một Trạng mà thôi. Co bao nhiêu người dân, là có bấy nhiêu Trạng, với đầy đủ khả năng giúp nhà Vua lãnh đạo đất nước.


2- Những bài học do Trạng để lại

Câu chuyện trên đây cho phép mỗi người trong chúng ta ghi nhận những bài học hay là những cách giải quyết "tan đá, chảy vàng" và "vượt thắng sự chết".

Thứ nhất : Trạng được triệu về để giải quyết những vấn đề khủng hoảng trong nội bộ triều đình. Nhưng thực ra, Trạng không giải quyết gì hết. Nói đúng hơn, Trạng từ chối can thiệp từ ngoài. Trạng không hành xử như một vị cứu tinh đến từ trên, có mọi quyền năng và phù phép siêu việt, thần thánh. Trạng không đến với một "giải pháp có sẵn" trong túi áo của mình.

Thứ hai : Trạng không chấp nhận làm việc không công. Trạng đòi hỏi một số vàng lớn lao, tượng trưng sự quyết tâm vững chãi của Triều đình muốn đổi mới nội bộ. Không có điều kiện tiên quyết nầy, Triều đình sẽ không bao giờ giải quyết vấn đề với tất cả thực chất, thực lực và thực tâm của mình.

· Thực ở đây có nghĩa là sự thực, thực tại, không giả dối.

· Tuy nhiên, thực còn có nghĩa là nồi cơm, ba bữa ăn hằng ngày. Cái gì đụng đến nồi cơm, cái ấy mới có khả năng đòi hỏi chúng ta dấn thân, nhập cuộc. Nồi cơm cũng có ý nghĩa tương đương với sinh mạng. Cho nên Trạng là con người đầu tiên có khả năng khẳng định lòng quyết tâm của mình, bằng cách sẵn sàng đưa cổ cho Nhà Vua chém.

Thứ ba : Cuộc sống làm người bất kỳ với ai, ở đâu, dưới thời đại nào...luôn luôn có vấn đề. Ở đâu con người phải chung sống với nhau, ở đó những va chạm, xung đột…là lẽ thường tình, Nói cho cùng, làm người, không ai có thể "sống một mình" mà không cưu mang người anh chị em đồng bào, đồng loại, trong tâm tư và hoài bão của mình. Thậm chí, đó là một thiền sư, một vị tu hành... đang lấy Trời làm nhà, lấy Đất làm chiếu và lấy rừng núi cô liêu làm bạn tri kỷ...Và khi vấn đề nầy được giải quyết xong xuôi, thì vấn đề khác lại xuất hiện. Không vấn đề nào giống vấn đề nào. Cho nên, không có một lối giải quyết "độc nhất vô nhị", làm chìa khoá mở ra được mọi cánh cửa.

Thứ bốn : Khi có một vấn đề xảy ra, bất kể ở địa hạt hay là mang thức dạng nào... mọi người trong cuộc lớn bé, già cả, địa vị cao thấp, thuộc phái nam hay phái nữ, đều là những người có quyền, có bổn phận và trách nhiệm tham dự vào công việc giải quyết. Cho nên, mọi người trong cuộc có quyền được lắng nghe, phát biểu, đóng góp ý kiến.

· Lãnh đạo không phải là một mình giải quyết một cách đơn phương mọi vấn đề của tập thể mà mình có trách nhiệm hướng dẫn.

· Trong một xã hội, không phải chỉ những thành viên có tiền tài, quyền lực và chức vị mới có tiếng nói. Phàm là người, ai ai cũng phải được cư xử, như là một con người có tiếng nói.

· Trong một gia đình, không phải chỉ có cha mẹ mới có tiếng nói và con cái phải "dựa cột mà nghe".

· Nếu không được nói, không học tập để nói và để được nghe, không lạ gì con cái chúng ta sẽ trở thành cao bồi, du đảng, trác táng, vào tuổi vị thành niên. Phải chăng đó là cách nói, của những con người không bao giờ có tiếng nói, trong cuộc đời làm người?

Thứ năm : Khi có một trăm người phát biểu thì sẽ có một trăm ý kiến hay là một trăm cách giải quyết khác nhau. Đó là lẽ thường tình trong cuộc đời. Hẳn thực, có người mơ thấu trời. Có người lặn xuống biển. Có người bay tà tà ngang mặt đất. Tất cả mọi người có nhu cầu được lắng nghe và được tham khảo. Và sau khi được lắng nghe, nghĩa là được coi trọng, có lẽ họ không còn coi ý kiến của mình là số một. Thêm vào đó, ý kiến của mỗi người đã từ từ thay đổi, biến dạng, bên cạnh những ý kiến khác khi được phát biểu. Một hạt nước ở bên cạnh một hạt nước khác, đã bắt đầu làm nên đại dương.

Thứ sáu : Tuy dù bá nhân bá tánh, như tôi vừa mới trình bày, nhiều ý kiến sẽ từ từ hội tụ. Và có những ý kiến sẽ ly tán, tách rời khỏi trung tâm đầu tiên, để lập thành một trung tâm thứ hai. Rốt cuộc, sau một buổi trao đổi, chia sẽ qua lại, ba bốn trung tâm sẽ thành hình một cách rõ rệt.

Trong câu chuyện trên đây, Trạng đã chọn sáu trung tâm. Đó là một cách chọn lựa đại lượng, cởi mở và can đảm. Thông thường, trong những cuộc trao đổi, tập thể chỉ chọn lựa ba hoặc bốn trung tâm là quá đầy đủ.

Thứ bảy : Để lấy quyết định cuối cùng, Trạng đã sử dụng tiêu chuẩn "nồi cơm", có nghĩa là thực tế và sinh mạng. Nói cách khác, cái gì là quan trọng số một cho chúng ta ? Vì cái gì, tôi sẵn sàng mất nồi cơm hằng ngày ? Còn hơn thế nữa, vì cái gì, tôi không sợ mất mạng ? Vì cái gì tôi cố quyết bắt chước Thượng đế, trở nên bất diệt và bất tử, không còn lo sợ gì cả ?

Thứ tám : Mặc dù với phương pháp làm việc nghiêm chỉnh, đặt nền móng trên sự tôn trọng lẫn nhau, theo ý của Trạng, chúng ta vẫn có thể sai lầm. Nếu không thành công, sau một thời gian được tiên liệu, chúng ta hãy cùng nhau đánh giá và quyết định lại. Xét lại, tìm cách chuyển hóa những sai lầm… đâu phải là điều xấu hổ.

Hẳn thực, mỗi ngày, chúng ta có trách nhiệm quyết định lại cuộc đời của mình. Nếu công việc không thành tựu ở đây, chúng ta hãy can đảm làm chuyện khác, một cách khác, ở nơi khác, với người khác ...Tâm lý ngày nay dạy chúng ta: "No failure. Only feed-back". Tôi xin chuyển ý :

Không có thất bại tuyệt đối, trong cuộc đời làm người. Đó chỉ là bài học dạy chúng ta rút kinh nghiệm, thay đổi. Thất bại không còn là thất bại nếu thất bại ấy có khả năng “đút cơm và nuôi sống” giá trị làm người của chúng ta.


Nguyễn Văn Thành
Lausanne, Thụy Sĩ
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Đẹp mặt chưa mấy thằng?
Nhân dân ta có truyền thống đặt đúng tên sự vật. Người, dù ở địa vị nào, học hàm học vị thế nào giàu sang thế nào nhưng hễ mắc tội bán nước thì đều được gọi là thằng.

Điển hình thời nhà Trần có đại vương gia Trần Ích Tắc. Thời nhà Lê có " quốc vương" Lê Chiêu Thống. Cả hai vị vương này đều được nhân dân Đại Việt gọi là thằng: thằng Trần Ích Tắc, thằng Lê Chiêu Thống khi hai thằng này định đem Đại Việt dâng cho Tầu. ( ảnh Phiên tòa xét xứ người yêu nước)

Mấy ngày nay, từ khi Quốc hội nước ta thông qua Luật Biển ngày 21 tháng 6 năm 2012, trong đó ghi Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam thì Tầu Cộng, từ Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao cho đến Quốc hội đều thi nhau phản đối, thậm chí còn triệu Đại sứ Nguyễn Văn Thọ của nước ta tại Bắc Kinh đến Trung Nam Hải để rằn mặt.

To mồm chưa xong, Tàu Cộng còn tuyến bố sẽ sử dụng vũ lực trên Biển Đông và tráo trợn hơn, Tầu Cộng còn ngang nhiên mời thầu quốc tế khai thác nguồn lợi trên Biển Đông, có nơi chỉ cách đất liền của Việt Nam có 35 km.

Đẹp mặt chưa mấy mấy thằng kiên trì lập trường tư tưởng với Tầu Cộng?

Cứ buộc quân dân Việt Nam phải học đi học lại cho đến chín nhừ:

" Bên ni biên giới là nhà
Bên kia biên giới ( Trung Quốc) cũng là quê hương";

Cứ bắt quân dân Việt Nam phải khăng khít:

"Môi hở răng lạnh" ;

Cứ bắt quân dân Việt Nam phải tin tưởng:

"không có vấn đề gì không giải quyết được vì là hai nước là anh em, đồng chí; hai nước là hai Đảng Cộng sản cầm quyền" ;

Cứ bắt quân dân Việt Nam phải trui rèn theo đạo đức:

"Đồng chí tốt, Bạn bè tốt, Láng giềng tốt, Đối tác tốt" - ( 4 tốt)

"Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai "- (16 chữ vàng).

Hơn cả "sợi chỉ đỏ" chỉ đường này, mấy thằng còn bắt quân dân Việt Nam không được chống trả và phải chết khi Tầu Cộng nổ súng chiếm Hoàng Sa năm 1974 và chiếm Gạc ma năm 1988, tàn sát 74 bộ đội Hải Quân Việt Nam. Trợn trạo hơn nữa, chúng còn thường xuyên buộc ngư dân nước mình phải chập nhận cảnh bị bắt bớ, tra tấn, đánh đập, cướp tài sản, bắt nộp tiền chuộc cho Tầu Cộng.

Đấy là chuyện trên Biển Đông.

Trên đất liền, mấy thằng cũng thể hiện sự kiên quyết không kém " anh" Tầu Cộng bằng cách huy động cả bộ máy công quyền dọa nạt, đánh đập, bắt bớ, bỏ tù người yêu nước, bất kể họ phản kháng Tàu Cộng dứơi hình thức nào, từ nhiều người cho đến 1 người; từ đi động cho đến tọa thiền và vu cho người yêu nước đủ mọi thứ tội.

Như một kẻ " nhắm mắt làm ngơ", mấy thằng còn kiên quyết duy trì đường lối và hành động như vậy và vẫn tin rằng chúng đang giữ hòa bình và "toàn vẹn lãnh thổ" cho Việt Nam. Vì vậy, chẳng may có chiến sĩ bị hy sinh, người dân bị chết hoặc bị bị tàn tật, tàn phế khi Tầu Cộng đánh mình hoặc khi "quân mình đánh quân mình", mấy thằng cũng vẫn xem đó như là thứ "phân bón" tăng thêm phần màu mỡ cho cây hữu nghị Việt - Trung " Mãi mãi xanh tươi/ Đời đời bên vững", mà thôi. Tệ và ác thế!

Bây giờ mấy thằng đã thấy chưa? "Anh em môi hở răng lạnh" như thế đấy; "không có vấn đề gì là không gỉai quyết được bằng tình đồng chí" như thế đấy, " 4 tốt", 16 chữ vàng" như thế đấy…

Như thế đấy đã hết sức rõ ràng mà mấy thằng vẫn không thấy chúng đã sổ toẹt vào luật pháp Việt Nam và trắng trợn đe dọa, trắng trợn truyên bố cướp đất, cướp của của Việt Nam.

Như thế đấy. Mấy thắng đã kỳ công bắt dân Việt Nam yêu mến Tầu Cộng có biết xấu hổ không? khi Tầu Cộng ngang nhiên chà đạp lên người và lãnh thổ Việt Nam như vậy. Mấy thằng có kềm chế được gì không? có ngăn chặn được gì không? có làm gì được nó không? có to nhỏ mang nguyên tắc, tình hữu nghị, và cả luật pháp quốc tế ra bảo được nó không? có bú cặc được nó không??? Rõ ràng là không. Không, không, không, nhất định là không, vậy mấy thằng bắt dân phải trường kỳ nỉ hảo với Tàu Công đã thấy mặt mình "đẹp mặt" với quân dân nước Việt chưa?

Và nay Tau Cộng đã chinh thức xâm lược Việt Nam mấy thằng biến đi đâu mất rồi mà chẳng thấy lên tiếng gì?

Cùng với mấy thằng này, Hội Hữu nghị Việt Trung nơi treo khẩu hiệu to tướng " Mãi mãi xanh tươi/ Đời đời bên vững" cũng biến đi đâu mất rồi; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thường xuyên "trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau" cũng biến đi đâu mất rồi? Học sinh, sinh viên Hồ Chí Minh cũng biến đi đâu mất rồi…

Mấy thằng thấy thế nào, khi mấy thằng ra công vun đắp, ra công trao đổi, học tập,… nhưng nay Tàu Cộng trắng trợn " phủi đít" lên pháp luật nước mình, trắng trợn tuyên bố cướp đất nước và của cải của nước mình, mấy thằng thấy mặt mình có đẹp lên không? Mấy thằng từ nay có còn khủng bố dân mình nữa không? hay vẫn cứ bắt dân mình ngày ngày phải hót bài ca hữu nghị với Tàu Cộng?

Đẹp mặt chưa mấy thằng?

BĐX
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Image

OK: Sản phẩm văn hóa vĩ đại nhất của nước Mỹ

Không ai có thể ngờ một từ xuất phát từ một trò đùa đã trở thành một sản phẩm vĩ đại nhất của nước Mỹ, vì nó phản ánh văn hóa, tư duy của dân Mỹ, và trên thế giới không ai không dùng đến nó.

Ông Allan Metcalf viết nguyên một cuốn sách về OK . Ông nói OK không chỉ là một từ vĩ đại, nó còn là một từ quan trọng, một sản phẩm thành công nhất mà người Mỹ đã xuất khẩu đi khắp thế giới. Nó còn bao gồm triết lý sống và cách suy nghĩ của người Mỹ.

Ông nói cái hay của nó là chỉ vỏn vẹn hai mẫu tự mà vừa đẹp, vừa đơn giản, vừa tiết kiệm.

Nó còn mang tính thực dụng của người Mỹ. Nó không hàm ý mọi chuyện đều hoàn hảo, vượt mức mong đợi, mà chỉ mang tính trung lập, có người còn gọi là ba phải.

Khi có ai hỏi bạn có khỏe không, bạn trả lời tôi OK, như vậy không có nghĩa là bạn khỏe như voi và cũng không có nghĩa là bạn đang bệnh liệt giường.

Có nhiều giai thoại về xuất xứ của OK, ở đây chỉ xin kể ba giai thoại.

Thứ nhất, từ này bắt đầu do một trò đùa. Ngày 23 tháng 3 năm 1839, một tờ báo ở Boston dùng từ này đầu tiên, và giải thích rằng “ok” là viết tắt của “all correct,” mọi thứ đều chính xác. Nhưng tại sao lại chính xác khi “o” không bắt đầu cho “all” và “k" không bắt đầu cho “correct?” Do đó, ngay từ đầu, những gì gọi là chính xác cũng chưa hẳn là chính xác, mà chỉ là OK.

Thứ hai, một năm sau đó, 1840, ông Martin Van Buren ra tranh cử tổng thống lần nữa. Ông này vốn xuất thân từ khu Kinderhook của New York. Những người ủng hộ ông tái tranh cử gọi ông là lão già ở Kinderhook - Old Kinderhook - và nhiều nơi trên nước Mỹ lập ra những nhóm ủng hộ ông, lấy tên là OK Club. Thế là cái từ này gây ồn ào trở lại.

Thứ ba, người ta đồn rằng Tổng thống Andrew Jackson, lãnh đạo Hoa Kỳ từ 1829 đến 1837 thường hay phê “OK” vào các văn thư trình lên ông để tỏ ý chấp thuận. Trong vòng 20 năm sau đó, các vị lãnh đạo trong các ngành nghề khác bắt chước lối phê này để ra điều mình cũng làm như tổng thống. Tác giả Allan Metcalf nói sự thực Tổng thống Andrew Jackson không hề phê “OK” vào các văn thư, nhưng tin đồn đó đã tạo ra một phong trào và giúp biến từ này thành một từ thông dụng.

Tác giả Allan Metcalf vẫn còn dạy môn Anh ngữ tại trường cao đẳng MacMurray ở thành phố Jacksonville, tiểu bang Illinois. Ông còn là Tổng thư ký lâu năm của hội các nhà Phương ngữ Hoa Kỳ.

Ông vẫn cố vận động để cả nước Mỹ xem ngày 23 tháng 3 là ngày ‘OK Day’ để kỷ niệm ngày từ này xuất hiện đầu tiên.

Ông nói ngoài ông ra còn một người nữa, Thomas Harris, cũng viết một quyển sách có tựa 'I'm OK -- You're OK.' Theo ông, sách này phản ánh tâm lý yêu chuộng tự do của người Mỹ:

"'I'm OK' có nghĩa là tôi có thể làm những gì tôi muốn. 'You're OK' có nghĩa là bạn có thể làm những gì bạn muốn. Có thể là chúng ta không làm giống nhau, nhưng như vậy cũng OK.”
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

ĐI XA VỀ NHÀ NÓI PHÉT!

Mấy ông nhà văn, nhà trí thức VC là chúa cái vụ… đi xa về nhà nói phét!

Năm ngoái, ông giáo sư Nguyễn Huệ Chi, người rất “nổi nang” mấy lúc gần đây với trang mạng bauxitvietnam đã lộ rõ bộ mặt đối lập… cuội của mình qua bài phát biểu ca tụng lên tới tận mây xanh “công đức vô lượng” của người cầm đầu WJC (William Joiner Center) Kevin Bowen, kẻ đã cùng tên Việt gian Nguyễn Bá Chung thực hiện chương trình “viết tờ căn cước đỏ” cho 3 triệu người Việt tỵ nạn cộng sản.

Hình như đa số mấy anh chị dính líu tới chuyện WJC đều có cái “gen” “đi xa về nhà nói phét” của Ngài Chủ tịch nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa khi ông này “vô cùng nổi tiếng” là “Triết phét” với vụ vụ tuyên bố đã “làm phân hóa nước Mỹ”!

-Hai nhà văn VC và “VC nằm vùng” nổi tiếng đi xa về nhà nói phét trong vụ WJC đầu tiên là Ngụy Ngữ và Lê Lựu.

Ngụy Ngữ, một nhà văn VC nằm vùng đã từng được nhà văn Võ Phiến và Nguyễn Xuân Hoàng “lăng xê” hồi trước năm 1975 đã được qua Mỹ trong cái vụ WJC viết tờ căn cước đỏ” cho 3 triệu người Việt tỵ nạn cộng sản. Sau khi “đi xa (tới Mỹ)” “về nhà” Việt Nam anh ta bèn viết bài “Gặp Gỡ Ở Mỹ” chê bai “tự do ở Mỹ như miếng bíp-tết thối” và đăng tải bài viết trên tờ Đoàn Kết của “Việt kiều yêu nước VC” ở Paris khiến mấy ông nhà văn lưu vong Việt Nam ở Mỹ được nhắc tới như Nguyễn Xuân Hoàng, Mai Thảo (đã quá cố), Thái Lãng… “đính chánh, đính tà” lia chia.

Anh nhà văn VC Lê Lựu mới là… nói phét như VC! Bố này sau khi được Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung “thí” cho một ít “phân” (fund) của W(J)C bèn về nước viết quyển “Nước Mỹ, Một Thời Lầm Lỗi” phịa chuyện có người ở Mỹ đề nghị “biếu không” cho anh ta một căn nhà để anh ta sống và… viết văn! Chưa hết! Chuyện còn động trời hơn là anh ta phịa chuyện tờ Washington Post đã mời anh ta làm chủ bút tờ báo này (sic!). Ai nghe chuyện này cũng đầu lắc đầu mà rằng: "Đúng là nói phét còn hơn VC!”.

Ai cũng biết, lúc đó, trình độ “đái ra Anh văn” như ông “doctor-to-be” Nguyễn Ngọc Bích, người nổi tiếng là chưởng môn nhân của “trường phái Bể Dâu” vì đã “dám” dịch hai chữ “Bể Dâu” ra Anh ngữ là “mulberry sea” mà còn chưa dám “nổ sảng” như anh nhà văn VC Lê Lựu. Sau này, nghe nói ký mục gia Bùi Bảo Trúc có “phát hiện” là tờ Washington Post có mời Đại Tá VC Lê Lựu cộng tác với tờ báo này là để thay thế ông nhân công… lau chùi restroom của tòa báo vừa mới qua đời sau một tai nạn xe cộ!(?)

Một anh nhà văn khác… đi xa về nhà nói phét còn vào bậc thượng thừa hơn cả ông Chủ tịch nước VNXHCN Nguyễn Minh Triết. Ông nhà văn này sau khi đi xa bèn về nhà nói phét bằng cách kể lại rằng anh ta và phái đoàn nhà văn VC đi “tham quan Niu-Oóc” thì gặp một anh chàng nhạc sĩ da đen thổi kèn saxophone trổi lên bài “Tiến Quân Ca” đã nhận được… một trận mưa xu từ anh ta và phái đoàn nhà văn VC! Nói phét cái kiểu này mới xứng đáng là… “con cháu Bác Hồ!” - như tên đồ tể này đã nhỏ những giọt nước mắt cá sấu ăn năn, ăn lát sau cái vụ Cải Cách Ruộng Đất! Như “ông nhà báo cò mồi có lai-sân” Bùi Tín đã “bênh vực Bác Hồ” là “nếu Bác Hồ còn sống thì đâu có cái vụ cả triệu quân dân miền Nam bị lùa vào “trại cải tạo”!

Ở Mỹ mà nghe nói chuyện một anh nhạc sĩ da đen thổi kèn saxophone bài “Tiến Quân Ca”, bài quốc ca chó chết của VC thì ai cũng phì cười vì biết đây là một chuyện diễu dở, nhưng đồng bào ở trong nước đâu có ai biết chuyện bịa đặt này nên cứ tin là sự thật và hít hà khen lấy khen để!

Cũng không phải chỉ có nhưng nhà văn VC dính líu tới cái Trung Tâm William Joiner là những kẻ bịa điều, đặt chuyện để nói phét mà ngay cả anh Kevin Bowen cũng đã trắng trợn nói phét khi lên tiếng bảo rằng cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi đã tiếp rước hai ông học giả Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi. Trong khi ai cũng biết mấy ông này chỉ âm thầm đến, ở nhà của “mấy ông bà Việt kiều yêu nước VC” và mua sắm thứ này, thứ nọ của “đế quốc Mỹ” để về nhà (VN) nói phét với bà con, chòm xóm. Điển hình như năm ngoái, ông giáo sư Nguyễn Huệ Chi “khoe” đã tới San José và ở nhà ai, nhà ai. Tội nghiệp cho cái bà thân mẫu của ông nhà văn VHQ nào đó ở San José nếu quả tình bà có tiếc là đã đóng góp cho ông Nguyễn Hữu Luyện 20 đô-la để ông này “kiện” ông Nguyễn Huệ Chi. (Nếu quả là chuyện này có thật, xin bà liên lạc với chúng tôi để chúng tôi hoàn trả lại số tiền này (xin tính luôn tiền lời) vì chính chúng tôi là một trong những người tổ chức tiệc gây quỹ và đã được đồng bào Bắc California đóng góp trên 30,000 Mỹ kim để “người tù kiệt xuất” Nguyễn Hữu Luyện và 11 người khác “kiện” WJC! Còn nếu chỉ là câu chuyện làm quà cũng xin bà lên tiếng cho LẼ PHẢI VÀ SỰ THẬT!)
*
Không ai trách gì ba cái chuyện đi xa về nhà nói phét của Lê Lưu, Ngụy Ngữ và cái anh nhà văn bịa chuyện anh nhạc sĩ da đen ở Niu-Oóc (viết theo kiểu của anh nhà văn VC) thổi saxophone bài “Tiến Quân Ca”! Nhưng, ông học giả Nguyễn Huệ Chi thì lại khác!


Giữa cái gọi là “Hội thảo Văn học Việt Nam - Hoa Kỳ sau chiến tranh do Đại học Văn Hoá Hà Nội và Trung Tâm William Joiner thuộc Đại học Massachusetts phối họp tổ chức” mà ông học giả lại LÀM CHUYỆN VÔ VĂN HÓA là phịa chuyện ông Nguyễn Hữu Luyện “kiện” WJC vì HÌNH NHƯ là vì ông này không được nhận vào làm ở Đại học Massachusetts và WJC LÀ MỘT CHUYỆN NÓI PHÉT TRẮNG TRỢN! Việc làm này nó còn thô bỉ hơn chuyện của mấy ông Lê Lưu, Ngụy Ngữ và cái anh nhà văn phịa chuyện anh nhạc sĩ da đen thổi saxophone bài “Tiến Quân Ca” để nhận một trận mưa xu nhiều. Bởi vì dù sao ông cũng là MỘT NHÀ VĂN HÓA.

Kết thúc bài “Ngẫm nghĩ về ba tư cách văn hóa của tôi trong những ngày làm việc ở William Joiner Center”, “nhà văn hóa” Nguyễn Huệ Chi có viết:

"Sau gần 10 năm, đến năm 2001, tôi lại có dịp đi sang Hoa Kỳ tiếp xúc với cộng đồng người Việt hải ngoại, đặt lại yêu cầu này trên một nền tảng tư tưởng vững vàng, sáng rõ hơn hẳn. Nếu không có WJC tôi đã không làm được điều ấy. Cuộc hội thảo hôm nay là cơ hội cho tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với WJC và ông Giám đốc Kevin Bowen, MỘT CON NGƯỜI MANG LẼ SỐNG NHÂN ÁI KHIẾN NHỮNG AI ĐÃ TIẾP XÚC VỚI ÔNG ĐỀU PHẢI KÍNH NÊ”.

Liêm khiết trí năng vốn là tính mà một người làm văn hóa phải có! Nghề thổi ống đu đủ của “nhà văn hoá” Nguyễn Huệ Chi ca tụng công đức vô lương của ông Giám Đốc Kevin Bowen đúng là vào bậc thượng thừa nhưng ông Nguyễn Huệ Chi KHÔNG NÊN LÀM CHUYỆN VÔ VĂN HOÁ là bịa chuyện ông Nguyễn Hữu Luyện kiện WJC vì không xin được việc làm!

Ông Nguyễn Hữu Luyện, người tù biệt kích bị Đảng và Nhà Nước của ông Nguyễn Huệ Chi giam cầm 27 năm trời khi đang theo học Cao Học đã phát hiện ra chuyện trớ trêu về “cái vụ viết tờ căn cước đỏ” do WJC khởi xướng nên mới xảy ra vụ kiện. Ông Nguyễn Huệ Chi vì nhu cầu “mót” ca tụng WJC và ông Giám đốc Kevin Bowen thì cứ ca tụng, SAO LẠI ĐI LÀM CHUYỆN VÔ VĂN HÓA là bịa chuyện ông Nguyễn Hữu Luyện đi kiện WJC vì chuyện đi xin việc làm không được nên đi kiện?!

“Nhà văn hoá” Nguyễn Huệ Chi lại nói chuyện tiếu lâm khi bảo rằng ông Nguyễn Hữu Luyện vì không được nhận vào làm việc tại UMASS Boston và WJC nên đi kiện WJC “và được đồng bào hải ngoại ủng hộ 300,000 Mỹ kim.”

Bịa chuyện MỘT CÁCH VÔ VĂN HÓA như thế mà cũng nói được thì đúng là “NO WATER SAY” tức là “HẾT NƯỚC NÓI” (dịch theo trường phái Bể Dâu!).

Thiệt là “hết nước nói” với mấy ông VC đi xa về nhà nói phét!

LÃO MÓC
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Image

Tại sao các người đẹp Vietnam Airlines không bao giờ cười?

Chuyến bay VN831 Hà Nội - Bangkok hôm ấy, được mấy "nàng tiên" áo dài Vietnam Airlines phục vụ làm tôi nhớ đến "cô hàng xóm" của thi sỹ Nguyễn Bính. Không ít chàng rung động, kể cả người viết bài này khi ngắm tà áo bay.

Giá đừng có dậu mùng tơi
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng...
Chả bao giờ thấy nàng cười
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên.

Hẳn người thiếu nữ trong thơ phải đẹp kiêu sa dù pha chút thoáng buồn. Người yêu thơ tưởng tượng ra người ấy bên “dậu mùng tơi” để nhớ. Nhưng tôi không thích nàng chút nào. Tại sao ta lại yêu một thiếu nữ đẹp mà “chả bao giờ cười”.

Một nàng áo dài đỏ thắm, mặt trái xoan, tóc vấn cao, cổ cao ba ngấn, trông thoáng qua cũng biết là một giai nhân tuyệt sắc, hẳn sánh được với “láng giềng” của cố thi nhân. Nếu nàng mỉm cười hẳn sẽ hút hồn bao đấng nam nhi

Vị khách xứ Mỹ nhiều lần đi máy bay, xin nước chè lại đưa cái ly thủy tinh. Nàng nói thầm nhưng như quát : đưa cái tách đây, cốc thủy tinh này không dùng cho nước chè nóng. Môi nàng trái tim, rất xinh nhưng không một nụ cười khi mời khách. Có lẽ nàng giận người yêu tối qua đón muộn nên trưa nay khách bị vạ lây.

Vì sao các "nàng tiên" không cười được?

Hơi trách nàng nhưng một lúc sau, tôi bắt đầu hiểu tại sao những người đẹp VN Airlines không thích cười. Có lẽ “dậu mồng tơi” ở đây chăng?
Vừa lên máy bay, đám khách Việt Nam chạy nhốn nháo, gọi nhau ầm ỹ. Túi lớn, túi nhỏ, tay xách nách mang. Chưa ngồi yên chỗ trên hàng đầu đã tìm người bạn dưới hàng ghế cuối để tán chuyện. Thấy người đẹp đi lại các anh thi nhau oang oang bình phẩm.

Mấy tà áo dài đỏ chạy đôn đáo để nhắc nhở mãi mới hết được đám khách về chỗ và thắt dây an toàn. Vừa cất cánh được chục giây đã thấy “lách cách” tiếng tháo khóa dù máy bay đang vượt đám mây chòng chành, rất nguy hiểm. Hình như làm thế, khách ta cảm thấy là “người hùng” trước các hoa hậu trên không ?

Anh bạn cạnh tôi còn giải thích là không nên thắt dây an toàn vì như thế khi có "sự cố" trên máy bay, không kịp mở khóa mà chạy. Anh có biết đâu, nếu máy bay trên mặt đất mới có thể thoát hiểm. Nếu đang ở trên cao 11km, gặp vùng không khí loãng, máy bay bị giảm độ cao đột ngột vài chục mét thì anh định chạy đi đâu? Khi đó, không thắt dây an toàn thì anh sẽ rơi tự do trong máy bay như quả bóng.

Đi trên máy bay mà khách ta cười nói ầm ầm, tán chuyện như đi xe đò miền Đông. Có bia rượu, các chàng thi nhau gọi uống, mặt đỏ phừng phừng. Ai đó bấm vào nút gọi tiếp viên. Người đẹp chạy lại hỏi “anh cần gì” thì khách cười toe toét “thử cái nút tý!”.

Ăn xong, mỗi "bác" một cái tăm trong miệng, vừa xỉa quèn quẹt vừa chép miệng. Có chị còn ngậm tăm ở khóe miệng, đi lại trong khoang thoải mái như đang ở đình làng sau đám cỗ. Vào phòng vệ sinh sẽ biết thủ phạm trước là một bác trai nào rồi. Nước tiểu tung tóe trên bồn cầu trên chiếc Airbus 310 mới tinh.

Máy bay sắp hạ cánh. "Loa" nhắc mọi người “dựng thẳng đứng ghế ngồi, gấp bàn ăn và cài dây an toàn” nhưng hình như không ai để ý, trừ các bạn Tây. Kêu mọi người thắt dây xong, người đẹp vừa về chỗ thì vài "bác" ngồi cạnh lối đi lại bỏ dây ra, đứng lên, nghển đầu ra cửa sổ để xem "đường cao tốc" Bangkok khi nhìn từ trên cao có đẹp không.

Nàng không thể cười, hai mắt nàng như có nước...
Một chàng khác cạnh tôi thản nhiên rút điện thoại di động, bật lên để thử sóng mobile ở độ cao 500 mét. Tôi nhắc làm thế sẽ nhiễu hệ thống điều khiển của sân bay, rất nguy hiểm thì bị lườm “anh già nên sợ chết”.

Máy bay vừa "tiếp đất" vài giây thì đã nghe tiếng “lách cách” hàng loạt để tháo dây an toàn. Hai ba chàng thanh niên đã đứng lên để chuẩn bị lấy đồ trên ngăn hành lý. Một bà Tây đi cùng sợ quá nhắc nhở, các anh ơi đừng làm thế, nguy hiểm lắm, máy bay đang ở tốc độ trên mặt đất là 200-300 km/giờ, nhỡ nó quay ngang trên "đường băng" thì các anh đập đầu vào thành máy bay mà “đi” luôn đấy.

Ở cửa máy bay, thay vì cười, cảm ơn và good bye khách, các nàng bận nhắc nhở, các anh các chị đừng chen lấn, xin đi hàng một. Khi tôi cảm ơn thì nàng áo đỏ trong mộng cũng không thể cười được nữa vì quá mệt.

Chúng ta hay chê tiếp viên HKVN không cười. Họ là những tượng Venus biết đi, vô hồn và vì bay trên không nên xa cách trần thế. Có thể họ chưa học nghệ thuật “nghiến răng để cười” với khách. Nhưng hôm nay chứng kiến họ phục vụ đám khách trên tôi lại nghĩ khác. Dù có niềm nở đến đâu cũng dễ trở thành hàng xóm “không nhếch mép” của thi nhân Nguyễn Bính.

Muốn “không có dậu mồng tơi” ngăn cản ta đến với người đẹp trên cao, xin những hành khách sang trọng, vì người sang mới đi máy bay, hãy giúp họ vui bằng cách ăn uống nhỏ nhẹ, nói chuyện đủ nghe trong khoang, vào nhà vệ sinh giữ cho sạch sẽ, thắt dây an toàn trên suốt chuyến bay và đừng bật di động khi máy bay cất hay hạ cánh.

Tôi mong người đẹp của Vietnam Airlines vui để thấy nụ cười quyến rũ.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest