Tạp Ghi

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ðọc ‘Hội và Ngộ’ của Trịnh Hội

Ngọc Lan/Người Việt

Ðơn giản, nhẹ nhàng, hài hước và một chút tếu táo, là những gì tôi nghĩ về văn phong của Trịnh Hội trong “Hội & Ngộ,”
bên cạnh những vấn đề đa dạng được ghi lại trong nội dung quyển sách đầu tay của tác giả này.

Image
Sách “Hội & Ngộ” của Trịnh Hội. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Tôi không gọi Trịnh Hội là nhà văn, vì thực sự anh không phải là nhà văn. Tôi cũng không gọi Trịnh Hội là nhà báo, vì anh không phải là nhà báo, dù mấy năm qua anh là người viết cho cột báo thường xuyên “Ði và Học” của nhật báo Người Việt.

Ðơn giản, tôi nghĩ Trịnh Hội là Trịnh Hội, một người làm nhiều công việc khác nhau, nhiều thú đam mê và dùng chữ nghĩa để gom góp, trải bày những điều anh thu nhặt được trong quá trình làm việc, cũng như ghi nhận những cảm xúc, những suy nghĩ chợt có trong bước đường lãng du của mình.

Với suy nghĩ đó, tôi đến với “Hội & Ngộ” của Trịnh Hội trong tâm thế khá thoải mái, không kỳ vọng, không đòi hỏi, chỉ đọc và đọc.

Thế nhưng, lạ là càng đọc càng thấy ngồ ngộ, thấy hay hay, đến khi lật đến trang cuối cùng thì mới ngẩn ra, “Ồ đọc 'Hội & Ngộ' của Trịnh Hội cũng phê lắm chứ!”

***

Quyển sách đầu tay dày hơn 500 trang của Trịnh Hội, người từng tốt nghiệp cử nhân văn chương và luật tại Ðại Học Melbourne (Úc) và thạc sĩ tại Ðại Học Oxford (Anh), được chia ra làm 5 đề mục: Thế Giới, Việt Nam, Văn Nghệ, Chính Trị, và Chuyện Riêng Tư, với tổng cộng 86 bài viết ngắn dưới dạng “blog”. Nếu hình dung một cách giản dị thì cứ như một kiểu nhật ký, không đào quá sâu, không đi vào thật chi tiết bất cứ vấn đề gì. Tất cả cứ như kiểu anh chàng lãng tử bước qua vùng đất này, tới miền lãnh thổ khác, thấy có cái này hay, thấy có cái kia lạ, gặp được người này tài, tiếp xúc với người kia “xấu,” theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, thế là chàng ngoái đầu, hất mặt, đá lông nheo, “Hey, ở đó có chuyện hay lắm, ngộ lắm á!” Còn chuyện hay ra sao, ngộ đến mức nào thì Trịnh Hội chỉ kể lướt qua, ai muốn hiểu sâu hơn, tường tận hơn thì xin tự tìm kiếm thêm.

Với chừng ấy đề mục, chừng ấy bài viết, phải nói rằng Trịnh Hội có cơ may đi nhiều, biết nhiều, như trong lời giới thiệu của nhà xuất bản Người Việt có viết:

“Trịnh Hội đi nhiều, phải nói là quá nhiều. Có những vùng đất trên thế giới khó mà mời gọi những người có hoàn cảnh sống ‘chăn êm đệm ấm’. Vậy mà Trịnh Hội cứ thế lao tới, dĩ nhiên một phần vì công việc bắt buộc, nhưng trên hết, vì óc phiêu lưu, mạo hiểm, khao khát những vùng trời mới.”

Cứ nhìn tựa bài, đã thấy bước chân Trịnh Hội ghi dấu những nơi đâu. Từ một đất nước rộng lớn “Mỹ Quốc” đến thành phố đa văn hóa “New York”, từ “Người Việt ở Canada” đến lời “Xin Lỗi” từ Úc, từ Haiti, Uganda, Kampala, đến Kenya, Nairobo, Dadaab, rồi Granada, Alhambra, Bhutan, thậm chí “Vào Cõi Hoang Vu (Leichtenstein)” hay “Lỡ tới Nam Phi”... tất cả cũng đều được Trịnh Hội ghi lại, để “suy cho cùng cũng nhờ đó mà tôi đã thấy và học được rất nhiều, cảm nhận được rất nhiều những trái ngang trong cuộc sống”.

Ði là để cảm nhận, từ con người đến cảnh vật, từ đời sống văn nghệ đến sắc thái chính trị, và hơn hết, đi là để hiểu về chính mình, những điều rất riêng tư hiện hữu quanh mình. Ðó là điều người đọc có thể bắt nhịp được ngay qua từng bài viết ngắn của Trịnh Hội.

Tuy nhiên, điều thú vị đầu tiên tôi bắt gặp ở tác giả “Hội & Ngộ” chính là ở chỗ anh khá sòng phẳng khi bộc bạch về con người mình qua những trang viết. Anh không tỏ ra khoe khoang vốn hiểu biết của mình. Qua mỗi bài viết, cảm tưởng như gan ruột Trịnh Hội thế nào thì cứ tuồn tuột mà phơi ra, như kiểu “Cái dở của tôi là ở chỗ đó: Biết rõ mình thích làm gì, biết rất rõ ai mình luôn quan tâm, ngưỡng mộ. Nhưng chưa bao giờ tôi có đủ cam đảm để 'rebel' để đi hết đoạn đường còn lại bất kể khó khăn” (‘Nổi loạn chính đáng - Rebel with a Cause’) hay “Ooops. Tôi lại lạc đề nữa rồi. Thiệt là bậy bạ. Xin lỗi quí độc giả nha. (“Cô Tuyết”), hoặc như “Cũng có thể là tôi quá vớ vẩn. Nhưng đấy thật sự là cảm nhận của riêng tôi” (“Một người Việt ở Barcelona”). Thậm chí, Trịnh Hội cũng chẳng thèm che giấu sự yếu đuối, thất vọng về chính bản thân mình, “Sau khi để rơi nước mắt trước mặt người công an không ra gì đó tôi thật sự đã thất vọng ở chính tôi vì tôi không ngờ là mình có thể yếu đuối, dễ để lộ cảm xúc đến vậy... Nó vừa không đáng lại vừa hơi cải lương lai căng kiểu quân tử Tàu... Tôi thất vọng ở chính tôi cũng phải” (“Ngày nảy ngày nay”).

Tuy nhiên, đọc “Hội & Ngộ,” tôi có cảm giác đằng sau dáng vẻ bình dân, ngô nghê, trong Trịnh Hội có một điều gì đó sâu sắc và nhân bản vô cùng. Tôi nhận ra điều này qua những dòng cuối cùng trong bài viết có tựa đề “Tử,” viết về chuyện tác giả đến viếng thăm mộ phần của cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm:

“Thế là gần một nửa thế kỷ đã trôi qua. Vậy mà cho đến giờ này mộ bia của họ vẫn không được khắc ghi tên tuổi.

Ai bảo văn hóa của người Việt là từ tâm, độ lượng? Nghĩa tử là nghĩa tận?

Ai trả lời được giùm tôi xin rất cám ơn.”

***

Trịnh Hội viết không câu nệ, không trau chuốt, nhưng chính cái mộc mạc đó mà tôi lại thấy Trịnh Hội gần gũi, và bình dân quá đỗi, như kiểu anh hay mặc quần ngắn, áo thun, mang dép lê, đi vào tòa soạn báo Người Việt, đứng nói chuyện hỷ hả với người này người kia.

Trịnh Hội chọn kiểu viết như đang đối thoại, kể chuyện trực tiếp với người đối diện, “Các bạn có biết không,” “Hay là thế này nhé. Tôi sẽ chờ các bạn cho biết ý kiến... Các bạn thấy có được không?” “Các bạn có biết tại sao không?” nghe vừa “hiền” vừa “trẻ con” nhưng đồng thời cũng giữ được người nghe phải dừng lại xem Trịnh Hội muốn nói gì vậy.

Một điểm đặc biệt khác trong “Hội & Ngộ” là cách đặt tựa bài của tác giả. Xoáy ngay vào vấn đề mà nội dung sẽ đề cập. Chỉ cần đọc tựa là biết luôn tác giả viết gì trong đó. “Ðông,” “Tuyết,” “Cái loa,” “Viết,” “Thu,” “Ðọc,” “Luật sư và tòa án,” “Thái Lan và Cha Tôi, “Kỳ thị,” “Sở thích,” “Cánh diều vàng,” “Cờ vàng bốn sọc đỏ,”... không cần màu mè, bóng bẩy, làm duyên làm dáng gì hết.

Tuy nhiên, bên cạnh cái bàng bạc, phơn phớt thoáng qua, người đọc cũng có thể bắt gặp trong “Hội & Ngộ” nhiều điều khiến lòng người phải day dứt. Như trong “Ngày Xửa Ngày Xưa,,” Trịnh Hội kể về kỷ niệm của 13 năm trước khi lần đầu tiên trong đời anh biết thế nào là “bị trục xuất ra khỏi chính đất nước của mình”. Ðọc bài này, người ta sẽ cảm thấy ngộ nghĩnh hay cười cay đắng với chuyện “trên đời này đố bạn tìm được ai vừa bị bắt một cách vô lý, đã vậy còn phải tự trả tiền phòng giam giữ cho chính mình!” với giá khoảng $20 cho mỗi đêm?

Từ “Ngày Xửa Ngày Xưa,” Trịnh Hội dẫn người đọc qua “Ngày Nảy Ngày Nay,” kể về chuyện Trịnh Hội bị chụp mũ “là ủy viên trung ương của đảng Việt Tân”. Với tôi, đây là một trong những bài hấp dẫn nhất của “Hội & Ngộ,” vì qua kỷ niệm này, Trịnh Hội vẽ lên được một vở kịch với đủ hỷ nộ ái ố của một xã hội không có luật pháp rõ ràng. Hay nhất của “Ngày Nảy Ngày Nay” là trường đoạn tác giả đối đầu cùng người công an có vẻ “bặm trợn” với khẩu súng lục giắt bên hông.

Trịnh Hội đi từ vẻ hiền lành của chàng công tử không muốn va chạm, thích sự bình yên, qua kiểu nhún nhường trong cách xưng hô, “Xin lỗi anh, anh có thể cho em biết là anh đang nói về vấn đề gì không ạ?” “Xin lỗi anh, anh quy kết em như vậy nhưng anh có bằng chứng gì không?” Ðến lúc sự tức giận trào lên tự lúc nào Trịnh Hội cũng không biết, “Tôi không dám thách ai nhưng tôi cũng không thể nào tin được là tôi bị các anh vu khống như thế!” Rồi đến cao trào: “Tôi nhìn thẳng, trừng trừng vào mắt ông ta, nghiến chặt răng cố đừng để rơi nước mắt. Thế vậy mà tôi đã thất bại. Hôm trước trên phim trường, cả ngày lẫn đêm tôi đã cố rất nhiều nhưng không thể nào khóc được cho một cảnh quay, khi tôi nói lời tạm biệt với người yêu. Thế vậy mà hôm nay chỉ sau vài ba giờ với một người công an không ra gì, tôi đã để mình rơi nước mắt... Tôi thật sự đã thất vọng ở chính tôi vì tôi không ngờ là mình có thể yếu đuối, dễ để lộ cảm xúc đến vậy... Nó vừa không đáng lại vừa hơi cải lương lai căng kiểu quân tử Tàu... Tôi thất vọng ở chính tôi cũng phải.”

Trong “Hội & Ngộ,” câu chuyện có nhan đề dài nhất, cũng là một trong những câu chuyện xúc động nhất. Ðó là “Thái Lan và Cha Tôi và chùa Phật và chuyến đi vượt biển và quá khứ và hiện tại”.

“'Con Hội. Tôi quay lại và nhìn cha tôi đang chầm chậm bước ra cổng chùa đến đứng gần bên cạnh tôi. Ông xin được lá xăm cho tôi và bảo tôi cầm lấy. Bỗng nhiên ông giơ cả hai cánh tay của ông và ôm tôi vào lòng. Lúc ấy tôi chỉ biết đứng lặng yên để cho ông ôm thật chặt. Tôi nghe thấy hình như là ông đang cảm ơn tôi... Tôi cần phải cảm ơn ông vì ông đã dùng mạng sống của chính mình để đi tìm một bến bờ mới cho riêng ông. Và cho cả riêng tôi.”

Và bài viết gần như ngắn nhất, nhưng lại toát lên được tất cả tình cảm sâu lắng lẫn sự hài hước của Trịnh Hội là “Tôi có con”. Tôi bật cười khi đọc câu kết rất “đời”: “Nhưng mà thôi. Chuyện đó chắc còn lâu. Bây giờ điều mà tôi cần phải làm là mau về nhà để thay tã cho con.”

***

Trong lời bạt in cuối tập sách, nhà báo Ngô Nhân Dụng viết: “Trịnh Hội đúng là một nhà văn. Một người thợ mộc cầm miếng gỗ trên tay, nhìn trên nhìn dưới, đo đắn trước sau, âu yếm nâng niu những miếng gỗ trước khi biến chúng thành một cái ghế hay cái bàn.”

Tôi thì lại không nghĩ như vậy. Tôi vẫn không gọi Trịnh Hội là một nhà văn. Nhưng “Hội & Ngộ” với bìa đen chữ trắng của Trịnh Hội, người từng đoạt giải thưởng Người Úc Gốc Việt Trẻ Xuất Sắc năm 1998 và được công nhận là một trong những luật sư trẻ xuất sắc của Úc năm 1999, là quyển sách đọc hấp dẫn hơn sách của một số người được gọi là nhà văn.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Thưa cô! em nghĩ như vậy

Hân hạnh kính chuyển tiếp một bài viết phóng tác... thật sâu sắc,xin đừng bỏ qua và tiếp tay phổ biến,ht

“Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước, thì không phải. Thưa cô! em nghĩ như vậy…”

Kính thưa Cô.

Đến tận bây giờ, gõ những giòng E-mail trần tình này gửi đến Cô em vẫn còn trách ông trời, phải chi cuối tiết "Lịch Sử" hôm ấy trời đừng mưa to thì giảng đường Đại Học không ai còn ngồi lại và Cô cũng đâu có thời gian trò chuyện khuyến khích sinh viên mình… và hôm nay em cũng không phải gõ mail này gửi Cô mà em biết khi đọc Cô sẽ không vui…

Em còn nhớ hôm ấy lời Cô nói "Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, được tái hiện lại, trong hôm nay và ngày mai, phải trung thực, chân thật nhằm cho người sau biết và lấy đó làm kinh nghiệm, xấu xa sai trái thì tránh nếu tốt đẹp có ích thì tự hào để nhân bản thêm lên, vì vậy đề tài bài tham luận: '37 mùa xuân Đại Thắng' nói về'chiến công thần thánh' của quân dân ta chống 'đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nước' của mỗi bạn, cần phải gọt giũa đánh giá cho xứng tầm vĩ đại của dân tộc, trong khi chờ mưa tạnh, chúng ta cùng nói chuyện bên lề ngoài tiết học, các bạn còn điều gì lấn cấn chưa rỏ ở chiều sâu và rộng của bài tham luận mà mỗi bạn sẽ phải hoàn thành, thì cứ hỏi Cô, xem như bạn bè thoải mái bày tỏ quan điểm khách quan và thắc mắc của mình để chúng ta rộng đường suy luận mà viết bài cho sắc sảo có tính thuyết phục cao, ở đây có nhiều bạn theo khoa 'báo chí' mà! nào mời các Phóng Viên tương lai nói chuyện chuyên đề, chờ mưa tạnh…"

Và Cô cười, nụ cười giao lưu rất thoải mái.

Em cũng nhớ, mình là người thứ tư, sau các bạn, vô tư ngập ngừng cười, nói với Cô: "Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì không phải – thưa cô! em nghĩ như vậy…”

Sau lời nói, thoáng nhiên giảng đường im phăng phắt làm em chột dạ bối rối thấy mình tự nhiên như đông cứng lại tại chỗ ngồi… Em nhớ, nghe xong lời em Cô quay nhanh bước ra gần cửa sổ ngóng màn mưa ngoài trời một thoáng rồi trở lại. Cô nhìn em trong ánh mắt tuồng như rất giống ánh mắt mẹ em khi đi chợ nhìn người bán hàng trước khi trả giá mua. Cô nói với riêng em một câu ngắn gọn nhỏ thôi đủ cho em nghe: "Hình như bạn đùa không phải lúc"…. rồi bình thản cô quay lên bục giảng lấy áo mưa, chần chừ chờ giảng đường thưa người Cô ra về sau cùng, không mang theo áo mưa nên em ngồi nán lại, đi ngang qua. Cô dừng chân, như thầy giáo nhắc bài học trò, cô nói với em: "bạn cần phải lên thư viện nhiều hơn, tìm trong sách, ở đó có nhiều câu trả lời cho vấn đề của bạn vừa nêu ra, tôi nghĩ, không khéo danh hiệu Đoàn Viên Thanh Niên CS/HCM ưu tú, xuất sắc, đối tượng của đảng nơi bạn sẽ lung lay…"

Thưa Cô! mail này của em – chắc chắn nó không phải là chất liệu để em trông đợi giữ cho chặt lại cái danh hiệu "ưu tú-xuất sắc" ấy mà đơn giản em muốn chứng minh thông điệp – lời cô nói – lịch sử rất cần sự "trung thực, chân thật". Thưa Cô! Không phải vui đùa đâu ạ! mà em nói thật lòng:"Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì… không phải vậy... ". Xin phép cô, cho em giữ nguyên nhận định này của mình dù em biết có những di lụy nhất định không mong đợi… Bởi vì có rất nhiều dẫn chứng để "ai đó có thể lừa dối một số người trong một lúc, và lừa dối hết mọi người trong vài lúc, nhưng không thể mãi mãi lừa dối được tất cả mọi người" (Abraham Lincoln). Nói lên điều này em biết Cô sẽ phiền lòng. Nhưng….

Thưa Cô! Em tìm thấy trong tác phẩm dịch từ nguyên tác Nhật Bản "12 người làm nên nước Nhật"của Giáo Sư Tiến Sĩ: Đặng Lương Mô (có thể Cô cũng biết!) Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa học New York, năm 1992. Ủy Ban Nhân Dân TP. HCM khen thưởng kiều bào có công với đất nước, năm 2003.

Trong danh sách "12 nhân vật mà người dân Nhật Bản tôn vinh" - 12 người đã lập nên một nước Nhật hùng mạnh ngày nay, chúng ta lưu ý đến người mang số 10 không phải là người Nhật: (1) Thái tử: Shotoku, (2) Chính khách: Hikaru Genji, (3) Lý Thuyết Gia: Minamoto Yoritomo, (4) Anh Hùng: Oda Nobunaga, (5) Kỹ sư: Ishida Mitsunari, (6) Nhà cải cách: Tokugawa Yeyasu, (7) Triết Gia: Ishida Baigan, (8 ) Chính Khách: Okubo Toshimichi, (9) Nhà tư bản học: Shibusawa Ei-ichi,(10) Thống Tướng Hoa kỳ: Douglas MacArthur, (11) Giáo Sư lý thuyết gia: Ikeda Hayato, (12) Doanh Nhân: Matsushita Konosuke.
Image

Ông ta, chính xác là Thống Tướng quân đội Mỹ. Thật không hề dễ dàng chút nào cho gần hai trăm triệu con cháu ”Thái Dương thần nữ” phải nhìn nhận một Tướng Lãnh khét tiếng của Mỹ, kẻ thù không đội chung trời của họ trong Đệ II Thế chiến trên Thái Bình Dương và khắp các mặt trận Châu Á, là Tư lệnh quân đội Mỹ chuẩn thuận văn bản đầu hàng của CP/Nhật Bản sau đó đại diện cho LHQ và CP/Mỹ chiếm đóng Nhật Bản... trở thành một Anh Hùng, ân nhân của Nhật Bản sau 2 quả bom nguyên tử của Mỹ cũng rơi trên lãnh thổ nước này gây nên nhiều tang thương.

Phải là người có nhiều công trạng thực tiễn mang lại một thành quả lớn lao mà giá trị của nó bao hàm đặc tính rõ rệt của chân, thiện, mỹ trong một nhân cách mà người Nhật ví như Anh Hùng (Anh hùng là bậc Chính Nhân Quân Tử) để nhân dân Nhật công nhận, tri ân sánh ngang hàng với Thái Tử và 11 người con cháu ưu tú của "Thần Nữ Thái Dương".

"Nhân vô thập toàn" Thưa Cô! Tướng Mỹ Douglas MacArthur và quân đội của họ không phải là không có nhược điểm, nhưng bù lại họ tạo ra rất nhiều ưu điểm đôi khi vượt lên trên tập quán thông thường mà nhân danh những người chiến thắng đã xử sự với kẻ chiến bại, khiến những nhược hay yếu điểm không còn là đáng kể.

Cuối Đệ II Thế chiến, ở Đông nam Châu Á, đạo quân Mỹ hùng mạnh chỉ huy bởi Tướng MacArthur đã đánh bại và quét sạch quân phiệt Nhật khỏi Indonesia, giải phóng Philippines, hỗ trợ bảo vệ cho Trung Hoa Dân Quốc tại đảo Đài Loan, rồi thay mặt LHQ giải giới vũ khí chiếm đóng Nhật Bản, Sau đó từ Nhật lại tiến qua giải phóng Cao Ly cứu Nam Hàn sắp bị CS Bắc Hàn nuốt chửng. Nhưng thưa Cô! Quân Mỹ đổ máu xương giải phóng (đúng nghĩa giải phóng) các quốc gia này nhưng hoàn toàn không có tham vọng 1cm2 đất đai nào từ các lãnh thổ ấy. Vì sao vậy? Còn bên kia bán cầu, cũng đạo quân Mỹ (xâm lược?) phối hợp với 2 (cựu đế quốc thực dân) Pháp và Anh chiếm đóng, giải giới, quân phát xít Đức, toàn quyền định đoạt số phận một nửa quốc gia Đức, nhưng sao họ không cùng nhau chia phần xâu xé Tây Đức, mà ngược lại bảo trợ toàn diện (kẻ thù của họ ở đầu hôm) phát triển vững mạnh trên cái nền tự do dân chủ đến nỗi cảm hóa được phần phía Đông, giả từ CN/XH thống nhất quốc gia trong yên bình êm ái?

Tại Nhật Bản, Tướng MacArthur và quân đội Mỹ đã áp dụng một chính sách chưa có tiền lệ trong lịch sử thế giới với Nhật Bản "quốc gia tù binh" của họ.

Ông tôn trọng Thiên Hoàng Nhật Bản, không ép buộc thoái vị (dù LHQ và CP/Hoa Kỳ không cấm ông truất phế).

Chưa được QH Mỹ chính thức phê chuẩn nhưng trên cái nền Kế hoạch Marshall (Marshall Plan tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall người đã khởi xướng) nhằm viện trợ tái thiết một nền móng kinh tế chính trị vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu nâng cao mức sống và kiến thức của người dân để đẩy lui chủ nghĩa cộng sản sau Thế chiến II. Trong vòng hai thập kỷ, nhiều quốc gia ở Tây Âu đạt được mức tăng trưởng và phồn vinh chưa từng có nhờ kế hoạch Marshall này.

Chính phủ Mỹ thông qua tướng MacArthur cũng có chủ trương tương tự với Nhật Bản, bên cạnh còn cải tổ hệ thống chính quyền, lãnh đạo, từ chính trị, kinh tế, tới sửa đổi hiến pháp, nghi lễ của hoàng gia, nhất thiết mỗi việc đều do một tay MacArthur quyết đoán, ông chỉ ra những khiếm khuyết trong thời chiến tranh mà giới lãnh đạo Nhật Bản đã có những sai lầm, ông đoan chắc cùng nhân dân Nhật khi Nhật Bản trở thành một nước dân chủ, quản lý một nền công nghiệp chiến tranh chuyển đổi qua thời bình một cách khoa học thì sẽ sớm giàu mạnh, không thua gì nước Mỹ, ông không ngần ngại nói với người dân Nhật rằng, Nhật Bản đã thua Mỹ vì kém về mặt vật chất kinh tế tài chính chứ không phải là tinh thần vì họ đã chiến đấu rất dũng cảm mà vẫn thua, nên đa số dân Nhật thuyết phục bởi sự cải tổ ấy. Ông chủ trương phá bỏ chủ nghĩa quốc gia dân tộc và chế độ phụ thuộc quá nhiều vào ảnh hưởng của Hoàng Gia, để Nhật Hoàng chỉ còn là biểu tượng. Nhật Bản cũng có một nền văn hóa tự do coi trọng sự lựa chọn của cá nhân như nước Mỹ, Thủ Tướng và nghị viện do người dân trực tiếp chọn lựa qua lá phiếu của mình. Một vài chính khách Nhật còn hoài cổ nặng chủ nghĩa cực đoan dân tộc cho rằng Tướng MacArthur là một chính trị gia độc tài áp đặt, nhưng đại đa số người Nhật cho là sự độc tài ấy để cho một nước Nhật hùng mạnh chứ không là nước Mỹ. Rất ngẫu nhiên cái cách mà người Mỹ, tướng MacArthur đã thể hiện trong cuộc chấn hưng nước Nhật sau chiến tranh nó rất gần với tính cách tinh thần võ sĩ đạo của người Nhật (nhân ái, bao dung thay thù hận) nên mang lại ảnh hưởng mãnh liệt trong xã hội Nhật Bản ngày nay. Ở Châu Âu người ta ví von nước Mỹ có công khi biến Nhật Bản thành một Thụy Sĩ Viễn Đông! vì vậy Douglas MacArthur đã được mọi thành phần, khuynh hướng, chính đảng, từ Hoàng Gia đến thứ dân đều chọn làm người thứ mười trong "Mười hai người lập ra nước Nhật" hùng mạnh từ trong điêu tàn đổ nát chiến tranh. Đây là người ngoại quốc duy nhất được chọn trong lịch sử nước Nhật.
Image
Binh sĩ Mỹ đồn trú tại Nhật Bản khai mạc tập trận trên đảo Sasebo (Nhật Bản)

Image
Quân đội Mỹ - Hàn tập trận tại biển Hoàng Hải vào 9/2010

Image
Hạm Đội 7 Hải Quân Mỹ và Hiệp Ước hỗ tương Đông Bắc Á Nhật, Hàn và Đài Loan

Image
Tàu chiến USS Chung-Hoon của Hải quân Mỹ. đến Phillipines 2011


Thưa cô! Lại càng không thể nào đó là bản chất của đế quốc xâm lược thực dân (dù kiểu cũ hay mới) chỉ 6 năm (2/9/1945 – 28/4/1952) sau khi chiếm đóng, nước Mỹ đã trả lại sự độc lập hoàn toàn cho Nhật Bản sớm hơn thời gian trù bị, ngoài sự kỳ vọng của toàn dân Nhật và không hợp logic chút nào khi hiện nay, 2012, chính Phủ và người dân Nhật vẫn còn đài thọ mọi chi phí cho gần 40.000 binh sĩ Mỹ hiện diện trên đất nước mình vì sự an toàn cho nền an ninh quốc gia, không ai vui vẻ trả tiền cho một đạo quân có bản chất "xâm lược" ăn ngủ hơn 2/3 thế kỷ trên đất nước mình?. Và đạo quân "xâm lược" này chỉ đặt chân lên miền Nam VN, sau 20 năm có mặt tại Hàn và Nhật Bản, hai quốc gia nhờ họ mà "màu mỡ" về kinh tế hơn hẳn Việt Nam nhiều lần. Nhưng điều đáng để người Việt Nam suy ngẫm là quân Mỹ có mặt nơi đó mà không màng đến "xâm lược" thì họ xâm lăng một Việt Nam nghèo khó sau Pháp thuộc để làm gì? ngoài ý định cũng thông qua kế hoạch Marshall giúp Việt Nam, cụ thể là miền Nam VN phát triển giàu mạnh ổn định như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan?.

Thưa Cô! Làm sao biện minh? 45.000 quân "xâm lược" Mỹ vẫn hiện diện trên đất Hàn Quốc, một quốc gia khủng hoảng lương thực trầm trọng không đủ cơm gạo cho dân sau chiến tranh Nam Bắc nhưng hôm nay thì: nhiều báo chí ở Việt Nam nói về đất nước này hay thường gọi là Kỳ tích sông Hàn hay Huyền thoại sông Hàn.

Hàn Quốc từ đống tro tàn của cuộc nội chiến Bắc Nam đã vương lên thành một quốc gia phát triển hùng mạnh thịnh vượng hơn hẳn nửa kia ở phía Bắc nghèo nàn lạc hậu. GDP cán mốc 1000 tỷ USD/năm cũng như nhiều tập đoàn lớn nổi tiếng như SamSung, LG, Hyundai, Kia, Daewoo… Nhưng, thành tựu đó họ có được là do đâu? ngoài sự lãnh đạo sáng suốt của các nguyên thủ Hàn Quốc, thì sự hỗ trợ nhiệt tình như là một đồng minh của Mỹ trên tinh thần kế hoạch Marshall là yếu tố quyết định.

Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba ở châu Á và đứng thứ 10 trên thế giới theo GDP năm 2006. Kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới (hạ tầng cơ sở, thiên nhiên, thổ nhưỡng kém xa Việt Nam) trở thành một trong những nước giàu nhất. Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhảy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỷ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007. Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng và vững chắc. Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn quốc như là ”Huyền thoại sông hàn” đến nay huyền thoại này vẫn tiếp tục.

Với Đài Loan và Phillipines: Năm 1950, Không Đoàn 13 của không quân Mỹ đã từng đóng tại Đài Loan. Tháng 12 năm 1954, Mỹ và Đài Loan ký "Hiệp ước phòng thủ chung", đặt Đài Loan vào sự bảo hộ của Mỹ. Cũng nằm trong quỹ đạo của kế hoạch Marshall, Đài Loan được hưởng nhiều qui chế ưu đãi thương mại từ nước Mỹ trong một thời gian dài, đưa nền kinh tế nhanh chóng phát triển ngoạn mục thành một con "Rồng" Châu Á mà ngay chính Trung Quốc cũng phải kiêng dè. Tại Phillipines, quân đội Mỹ cũng từng hiện diện trong một thời gian dài. Hạm Đội 7 Thái Bình Dương chọn vịnh Subíc là nơi đóng quân và trước đó, năm 1935, Douglas MacArthur, được Tổng thống Phillipines Manuel L.Quezon yêu cầu giám sát việc thành lập quân đội Philippines. Ông được phong hàm Thống tướng trong Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippine Army). Ông là sĩ quan cao cấp có tên trên danh sách của Quân đội Philippines ngày nay. Ông cũng là sĩ quan quân sự Mỹ duy nhất giữ cấp bậc thống tướng trong quân đội Philippines. Sau đó tôn trọng quyết định của nhân dân Phillipines vì sự độc lập toàn vẹn lãnh thổ, quân đội Mỹ đã rút khỏi vịnh SuBíc. Nhưng ngày nay (2012) vì an ninh lãnh thổ đe dọa, Phillipines yêu cầu, quân đội Mỹ vẫn quay lại thể hiện sự trách nhiệm trong hiệp ước hỗ tương...

Thưa Cô! Với những gì thuộc thế giới quan mà kiến thức em tích lũy được, thì dù rất muốn hãnh diện về "chiến công thần thánh" của quân dân ta chống "đế quốc Mỹ xâm lược cứu nước” nhưng:Lịch sử rất cần sự "trung thực" đến "chân thật" (lời Cô nói). Nên: Em cũng muốn tin - nhưng không thể, thưa Cô!

Em cám ơn Cô đọc email trần tình này và mong có lời chỉ giáo thêm của Cô.

Em kính chào Cô.

(Lê Vũ Cát Đằng)

Bài viết phóng
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

BIẾT ĐÂU LÀ KHỞI ĐIỂM
CUỘC RONG CHƠI

Mẹ vợ ông Hàn mới chết, con cháu từ xa đổ xô về chịu tang. Các anh chị em vợ của ông chọn một cái hòm do nhà quàn đề nghị, với giá 12 ngàn đô. Ông Hàn chê đắt, bảo khoan quyết định, chờ ông khảo giá đã. Ông Hàn bình tĩnh ngồi bên máy vi tinh, lục tìm khảo giá. Bà vợ ông thì chạy lui chạy tới trong phòng khách, dẫm chân đành đạch trên sàn nhà, khóc bù lu bù loa, rồi đến day áo ông mà nói :

- “Giờ nầy mà anh còn ngồi đây thong dong khảo giá ? Chuyện nầy cấp bách. Có phải mua món hàng gia dụng đâu mà chần chờ ? Tốn kém bao nhiêu anh em chúng tôi cũng chung chịu. Mẹ chết có một lần. Làm chi cái việc hà tiện xấu thế ?”

Ông anh vợ cũng bối rối nói :

- “Giờ phút nầy, thì nhà quàn ra giá bao nhiêu, mình cũng phải nhận. Có đắt hơn ít trăm bạc, cũng không sao. Mình lựa chọn cái hòm đó, chứ họ có ép mình đâu ?”

Ông Hàn quay ngoắt lại, nói với giọng cứng rắn :

- “Ít trăm thì tôi khảo giá làm chi ? Phải ít nhất là mấy ngàn đồng. Có thể tiết kiệm được từ 40% đến 60% toàn bộ chi phí tang lễ. Dù là tiền của ai đi nữa, tôi cũng không muốn phung phí.”

Bà vợ thét lên :

- “Rồi mua phải thứ hòm giả mạo, không tốt. Nó đâu đem đến liền cho mình được, chờ đến bao giờ mới có ? Chậm trể việc ma chay. Mà lỡ nhà quàn không chịu nhận hòm từ nơi khác đưa tới, thì đem cái hòm đi tặng ai, tôi nhất định không cho để trong nhà nầy.”

Ông Hàn cười hề hề, chậm rải trả lời :

- “Giả mạo làm sao được ? Cũng hòm ấy, cùng hiệu, cùng tên, cùng nhà sản xuất. Nhà quàn cũng mua tại các nơi đó thôi. Rồi cọng thêm chi phí, tiền lời, mà tăng giá lên. Ai dại mua thì ráng chịu. Nhà quàn cũng không làm gì sai trái. Họ làm thương mãi, phải kiếm cho được nhiều tiền lời càng tốt. Họ chẳng có gạt gẫm ai. Nhưng nếu mình mua được hòm đúng giá, thì người bán sẽ chuyển ngay đến nhà quàn trong vòng 24 giở. Chắc chắn. Theo luật liên bang Mỹ, bắt buộc nhà quàn không được từ chối quan tài và các vật dụng cần thiết cho người chết do thân nhân mua và đem đến. Trường hợp đó, nhà quàn chỉ lo các dịch vụ tang ma, các lễ lạc mà thôi. Tôi còn phải kêu nhà quàn cung cấp cho mình bảng ghi giá cả của từng mục, gọi là FPL (Funeral Price List) theo luật định. Tôi sẽ so sánh thêm giá cả của từng mục dịch vụ để không bị hố, trả giá cao, đắt. Bà đừng lo, nếu nhà quàn không nhận hòm, thì tôi bán lại kiếm chút lời.”

- “Bây giờ không phải là lúc đùa giỡn được. Anh có chắc hòm được giao đúng thứ mình muốn, và trong vòng 24 giờ không. Giao cho nhà quàn, họ tráo hòm khác thì sao ? Anh đã có kinh nghiệm nào đâu ?”

- “Mình có thể đòi hiện diện trong lúc giao hàng, ai mà đánh tráo được ?”

Cả nhà bực mình, xôn xao vì thái độ kỳ cục của ông Hàn. Một bà chị vợ gay gắt :

- “Có phải vì không là mẹ ruột, nên cậu nhẩn nhơ, và đòi làm những chuyện trái đời ?”

Ông Hàn hơi giận, giọng cứng, gằn :

- “Nầy, chị đừng nói thế. Mấy năm nay ai chăm sóc mẹ ? Ai đưa mẹ đi bệnh viện, làm đủ thứ giấy tờ, nhắc mẹ uống thuốc hàng ngày ? Thằng nầy chứ ai. Thế thì bây giờ mẹ qua đời, tôi không có quyền phụ giúp mẹ và cả gia đình nầy, cử hành tang lễ đàng hoàng hơn, ít tốn kém hơn hay sao ?”

Ông Hàn gầm gừ bỏ đi, lục lọi tìm tòi trong mấy chồng hồ sơ, và quăng ra một tờ bào “US News & World Report” và nói :

- “Các anh, các chị đọc bài “Đừng Chết Trước Khi Đọc Bài Nầy” (Don’t Die Before You Read This) đi, để biết.”

Vợ ông Hàn la lên :

- “Trời ơi, giờ nầy còn bụng dạ nào mà đọc báo ? Mà nó viết gì ? Sao anh không tóm tắt kể cho bà con nghe, xem có lọt tai không ?”

Ông Hàn chầm chậm nói :

- “Tác giả Miriam Horn viết về chuyện linh mục Henry Wasielewsky. Vị linh mục nầy đã vạch trần cách làm ăn thiếu lương thiện, bóc lột quá đáng của một số nhà quàn trong lúc tang gia bối rối. Đã bị những nhà quàn bất lương hăm dọa, nhiều lần kêu điện thoại lúc nửa đêm đòi xin tí huyết, không những thế, ông còn bị cảnh sát địa phương săn đuổi, và cả vị Giám Mục địa phận cũng đày ông đi xa. Bài báo viết rất hay, kể rõ một số thủ đoạn của những nhà quàn thiếu lương thiện.”

Ngưng một lát, uống hớp nước xong, ông Hàn nói tiếp :

- “Tác giả viết thêm rằng, người ta không có kinh nghiệm, không có thì giờ trong thời gian cấp bách, không có đủ bình tĩnh khi đang đau buồn, bối rối, cho nên nhà quàn và nghĩa địa làm giá rất cao. Tang quyến mệt quá, và nghĩ rằng người chết chỉ có một lần, nên giá nào cũng chịu. Cò kè giá cả trong lúc đau buồn nầy, thì thấy có cái gì lấn cấn trong lòng. Trong bài báo nói, giá cái hòm chỉ 675 đô, mà nhà quàn đưa giá 3495 đô, cũng gật đầu chấp nhận. Giá xe tang mỗi giờ vào thời đó chỉ 25 đô mà tăng lên 200 đô hay cao hơn nữa. Cũng như các món khác như là hoa, bia mộ, thiệp cám ơn vân vân, tăng gấp 3 đến 8 lần. Nếu giá chỉ tăng 100% thôi, là đã là phước cho tang chủ lắm.”

Ông Hàn cười, và tiếp lời :

- “Bài báo viết thêm rằng, trường hợp tang chủ kêu đắt, họ nói khéo lắm. Đề nghị bỏ xác vào thùng giấy đem chôn sẽ được rẻ hơn nhiều, tang quyến nghe mà xót xa, đau lòng, tủi thân, nghĩ rằng mình thương người quá cố không đủ, thế là cắn răng chịu giá cao.”

Bà Hàn hỏi thêm :

- “Còn gì nữa không ?”

- “Đây, tác giả viết rằng, có một bà đã khóc và xin bà con bạn bè trợ giúp tiền bạc để làm đám tang cho chồng. Nhà quàn đòi 995 đô cho cái hòm. Khi có người hỏi sao đắt thế, họ bảo đó là loại hòm đặc biệt. Có người không tin, đi khảo giá, cũng hòm đó, loại đó, thì nơi sản xuất bảo rằng đó là loại rẻ nhất bằng ván ép. Người ta đến phàn nàn với nhà quàn, thì họ giảm giá xuống 50%. Có nhà quàn gián tiếp hối lộ cho tu sĩ, giáo sĩ, tặng những vé máy bay đi chơi, du lịch miễn phí, để họ dành cho nhà quàn sắp xếp chương trình tang lễ. Có thế mới ra giá cao được. Có thể tưởng tượng được không, cùng một cái hòm, mà có nơi đưa giá chỉ 1495 đô, mà nơi khác cho giá 9910 đô. Một số nhà quàn kiếm tiền của thân nhân kẻ quá cố dễ dàng, bằng cách bán các phụ kiện trong đám ma. Ví như gắn thêm một tượng kim loại nhỏ, hình Đức Mẹ Maria, giá mua chỉ chừng 3 đến 5 đô, mà tính đến một hai trăm. Người ta ngại, không dám hỏi về những biếu tượng thiêng liêng nầy.”

Ông Hàn đưa tờ báo cho mọi người và thúc hối :

- “Đọc đi, mọi người đọc đi để thấy việc tôi làm đây là đúng hay sai. Nếu không biết, thì để cho người khác làm, đừng cản trở”

Vừa lúc đó, thì có bà Kim đến. Bà nầy trước đây làm việc cho nhà quàn, bà là trưởng giám đốc tang lễ, nay đã về hưu. Ông Hàn như bắt được của quý, xoắn lấy bà Kim, yêu cầu giúp đỡ, hướng dẫn để làm sao giảm thiểu được chi phí đám tang . Bà Kim ngồi cười. Vợ ông Hàn chạy ra phân bua :

- “Giờ nầy mà ông xã em còn khảo giá trên mạng để làm tang lễ. Ông ấy muốn giảm chi phí, vì nhiều nhà quàn thường cho giá cao trên trời. Chị làm trong nghề, xin chị chỉ giúp tụi em với.”

Bà Kim chậm rải :

- “Không phải nhà quàn nào cũng thiếu lương thiện, muốn nhân cơ hội tang gia bối rối mà moi tiền. Rất nhiều nhà quàn đàng hoàng, uy tín, nhưng họ cũng thừa khôn ngoan, để tìm lợi tức tối đa cho cơ sở kinh doanh của họ. Giá cả cũng có cao, nhưng cao vừa phải, không quá lố. Nếu họ có đề nghị, quảng cáo khách hàng mua thêm mục nầy, mục kia, thì là lẽ thường trong việc kinh doanh kiếm lời. Với chủ trương không gạt gẫm ai, nhưng ai muốn có những thứ xa xỉ, đắt tiền, mà có khả năng tài chánh, thì tại sao nhà quàn lại bỏ lỡ cơ hội ? Nhà quàn là nơi làm thương mãi, kiếm lợi tức, chứ không phải nơi làm phước thiện.”

Ông Hàn nhỏ nhẹ :

- “Chị có nhiều kinh nghiệm trong ngành nầy, chúng tôi xin chị vài lời vàng ngọc hướng dẫn cho, làm sao để giảm thiểu chi phí chôn cất thân nhân, tránh những sai lầm tốn kém vô ích.”

Bà Kim cười :

- “Sai lầm lớn nhất của tang quyến, là không chịu khảo giá năm ba nơi khác nhau. Người ta cho giá nào, thì cũng nhận, không dám hỏi mà cũng không dám mặc cả từ quan tài, cho đến đất chôn, và các nghi lễ tốn kém khác. Sai lầm kế tiếp là chọn lựa nhà quàn. Thường chọn gần nhà, hoặc nơi đã có người quen làm đám tang rồi. Nếu không khảo giá vài ba nơi, tang quyến có thể trả giá gấp 3 lần nơi khác. Ví như cùng việc mai táng, có nơi cho giá 2500 đô mà chỗ khác đến 6500 đô. Cũng việc thiêu xác, có nơi chỉ 395 đô, mà nơi khác đến 5600 đô.”

Bà vợ ông Hàn bẻn lẻn nói nho nhỏ :

- “Nếu chị không nói ra điều đó thì em tưởng ông chồng em là người khùng, gàn dỡ, chướng ách. Nhưng em hỏi chị, thì giờ đâu mà đi khảo giá, thân nhân mình chết rồi, có nằm đó mà chờ được không ?”

Bà Kim cười nhẹ nhàng :

- “Cứ thong thả, để xác thân nhân tại bệnh viện, nơi đây có đủ phòng lạnh để tồn trử, không ai đem xác quăng đi hoặc gởi hoá đơn xuống âm phủ đòi tiền người chết. Khi nào tìm được nơi làm tang lễ tốt, giá cả xứng đáng, chịu được, thì mới ký hợp đồng”

Một ông rể trong gia đình xen vào câu chuyện :

- “Trường hợp của gia đình tôi, ông bố vừa tắt thở tại bệnh viện, thì khoảng mười phút sau có nhân viên của nhà quàn đến tiếp xúc với gia đình, nói là họ được kêu điện thoại để đem thi hài thân nhân quý vị về nhà quàn. Chúng tôi vừa ngạc nhiên, vừa mừng là tự nhiên có người lo cho mình, khỏi phải đi tìm, chạy ngược xuôi trong lúc bối rối nầy. Chị có biết tại sao nhà quàn biết giỏi thế ?”

Bà Kim cười :

- “Có gì lạ đâu ? Nhiều nhà quàn liên lạc mật thiết với các y-tá trong các khu cấp cứu, hồi sinh. Khi có người qua đời, thì y tá báo ngay cho nhà quàn biết. Cũng là chuyện làm ăn thường tình”

Ông Hàn hỏi :

- “Làm sao giảm thiểu được chi phí tống táng, mà tang lễ vẫn được trang trọng, bình thường ?”

Bà Kim nói :

- “Đừng gồng mình lên mua tất cả các mục không cần thiết mà nhà quàn liệt kê và khuyến cáo. Mua tối thiểu mà thôi. Vòng hoa trên ngực, vòng hoa trên quan tài, mình mua chỉ mấy chục đô, nhà quàn sẽ tính đắt gấp năm, gấp mười lần. Nếu khôn ngoan, thì làm lễ tưởng niệm tại nhà, tại chùa, nhà thờ. Trang trọng và thân mật hơn.”

Bà Hàn lo lắng hỏi :

- “Chỉ có mua hòm và đất chôn thôi, là đã đủ. Còn chi phí gì khác nữa chăng ?”

Bà Kim cười :

- “Có lẽ ai cũng tưởng chôn cất là đơn giản như chị nghĩ. Không. Cả mấy chục thứ chi phí, tôi kể sơ ra đây mà thôi, nghe chán lằm. Nầy nhé, chi phí cơ bản tại nhà quàn để bàn định việc chôn cất, giấy phép chính quyền, khai tử, mua hòm, vải tẩm liệm, quách bao quanh hòm dưới đất, chuyển xác từ nơi chết về nhà quàn, tẩm xác bằng cách rút hết chất lỏng trong người ra và bơm chất hoá học vào, trang điểm cho người chết, áo quần liệm, giữ xác trong phòng lạnh, mướn phòng viếng thăm, đem xác ra vào, lễ viếng thăm, thức ăn, giải khát, tổ chức cử hành tang lễ, in chương trình tang lễ, cuốn tập ghi khách viếng thăm, vòng hoa trên ngực và vòng hoa trên giá, tụng niệm tôn giáo, ban nhạc, xe tang chuyển hòm từ nhà quàn ra huyệt mộ, xe lớn chở thân nhân theo quan tài, xe chở các vòng hoa ra nơi chôn, đất chôn, đào và lấp mộ, chuẩn bị mặt bằng để làm lễ hạ huyệt, căng lều, ghế ngồi, xếp đặt việc hạ huyệt, bia mộ tạm, đăng cáo phó, bia mộ, khắc chữ, dựng bia vân vân, mỗi mục là tính tiền riêng. Chưa kinh nghiệm thì tưởng chỉ có mua hòm và đất chôn là xong. Cọng tất cả lại, cũng là số tiền rất lớn, tang gia không ngờ được.”

Bà Hàn hỏi :

- “Thế thì mục gì mình có thể từ chối, không mua ?”

- “Còn tùy cách lựa chọn, thường thì mục nầy kéo theo mục kia, nhưng có nhiều mục có thể bỏ qua được. Nếu muốn tránh những chi phí linh tinh, thì tốt nhất là giảm bớt các nghi tức rườm rà, như thăm viếng nhìn mặt, làm lễ tại nhà quàn. Thân nhân có thể làm lễ tưởng niệm tại nhà thờ, chùa hay tại tư gia trong khung cảnh nghiêm trang, và bà con đỡ phải cực nhọc thăm viếng. Người quá cố được đưa từ bệnh viện đến nhà quàn, rồi thẳng ra huyệt mộ. Ngày nay, nhiều gia đình Mỹ tổ chức tang lễ đơn giản cho người quá cố, chỉ riêng trong vòng bà con thật gần gũi thân thiết, không tiếp bạn bè, quan khách, không vòng hoa, không phúng điếu”

Bà Hàn cắt ngang lời :

- “Thế thì không sợ người ta nghị dị, chê cười ? Thiên hạ tưởng gia đình keo kiệt, bần tiện, không dám chi tiền, hoặc người ta chê mình nghèo ?”

Bà Kim thở dài :

- “Quan trọng nhất là ước nguyện của người quá cố. Biết họ muốn gì, và mình làm được gì trong khả năng tài chánh của gia đình. Nhiều người chết, muốn tang lễ đơn giản, mà gia đình sợ bạn bè bà con dèm pha, phải gồng mình lên chi tiêu, nợ nần, mua lo âu vào thân. Cách tốt nhất, là mỗi người, làm sẵn di chúc, viết rõ các ước muốn của mình, trong khả năng tài chánh có thể. Chuẩn bị trước khi chết một chương trình và lối tang lễ mà mình ưa thích, mong muốn, và hợp với khả năng tài chánh sẵn có. Đừng để gánh nặng đè lên vai người còn sống, và đôi khi thực hiện tang lễ trái với ý muốn của mình. Đừng có dặn miệng thôi, không có bằng chứng, con cháu nhiều người quên mà không ai nghe. Khi đó, gia đình đỡ bối rối, vì kẽ muốn thế nầy, người muốn thế kia, gây gổ nhau. Nếu tang lễ có đơn giản, thì cũng không ngại ai chê cười. Nếu những người có dư tiền, muốn hoang phí đem chôn tiền xuống đất, thì cũng không ai trách móc . Bà nội tôi ngày trước, muốn con cháu mặc áo sô, thắt lưng rơm, dép cỏ, khóc lóc, nằm lăn lộn cản đường xe tang. Thuê thêm người khóc mướn làm điếc tai bàng dân thiên hạ. Thấy không đẹp, thiếu văn minh. Nghe đâu ông cố nội của tôi chết, hòm quàn trong nhà gần môt năm dài, tiếp khách viếng tang, chôn xong thì bà cố chết vì quá mệt nhọc, và gia đình sạt nghiệp.”

Ông Hàn hỏi :

- “Trẻ như chúng tôi, có nên viết di chúc không ? Khi nào là lúc nên viết ?”

- “Trên năm mươi tuổi, thì viết được rồi. Những người bệnh nặng, nên viết ngay là tốt nhất. Tôi biết, nhiều người Mỹ giàu hàng trăm triệu, khi chết cũng muốn làm đám tang đơn giản, tối thiểu, không cho ai nhìn mặt, và chỉ có vài chục thân nhân tham dự. Trong nghề, tôi biết khá nhiều gia đình Việt Nam giàu có, khi chết cũng chuyển xác từ bệnh viện thẳng đến nhà thiêu luôn, khỏi phải qua nhiều giai đoạn, nghi thức rườm rà. Rồi bà con bạn bè đến nhà làm lễ tưởng niệm, nhắc chuyện vui buồn liên hệ đến người quá cố trong không khí vui vẻ, bình thường. Tôi nhấn mạnh ở điểm nầy, nếu không muốn cho thân nhân bối rối khi mình qua đời, thì mỗi người lớn tuổi, nên viết sẵn lời dặn dò cho gia đình”

Ông anh lớn nói :

- “Theo tôi nghĩ, người Việt mình bắt chước Mỹ, trưng bày mặt người chết cho bạn bè thân nhân nhìn lần cuối trước khi đem chôn là một việc làm không nên. Vì dù có trang điểm cách nào đi nữa, thì khi đã chết, mặt mày cũng không còn dễ nhìn như khi còn sống, nếu không nói là xấu xí, rờn rợn, hốc hác, tái mét. Cái hình ảnh cuối cùng trong trí của bạn bè rất quan trọng. Nếu không được đẹp đẽ, thiếu sống động như xưa, uổng vô cùng. Nhiều lần đi đám tang bà con, tôi thấy mặt mày người chết hốc hác, méo mó, miệng vẩu, mắt sâu, mà cứ buồn và tiếc mãi, giá như tôi đừng nhìn thấy hình ảnh đó thì hơn, để tôi còn giữ mãi trong trí cái khuôn mặt vui tươi, rắn rỏi, dễ thương ngày xưa. Nhất là nhiều người bạn, cứ nhắc đến tên, là tôi mường tượng ra đôi mắt sáng, nụ cười như hoa tươi, thay được bằng một hình ảnh vêu vao khó nhìn. Tôi cứ muốn quên đi, để lấy lại hình ảnh đẹp đẽ xưa, mà không được. Tôi chắc không ai muốn bị bạn bè nhìn họ với một nhan sắc xấu xí cả. Tuy nhiên, cũng có rất ít trường hợp, thấy mặt người chết đẹp hơn khi còn sống. Đó là những trường hợp người chết chưa bị bệnh lâu dài, nhan sắc chưa bị tàn phá nhiều. ”

Bà vợ ông Hàn nói :

- “Theo tôi, thì vì người trang điểm kém, hoặc chi ít tiền trang điểm, nên người chết không được đẹp”

Bà Kim cười lớn :

- “Một chiếc xe Ford đời cũ, làm sao mà sửa lại thành đẹp bằng chiếc xe Mercedes đời mới. Tô trát cũng có giới hạn thôi, ngoại trừ mang cái mặt nạ khác. Theo kinh nghiệm của tôi, thì không phải đám tang nào của người Mỹ cũng trưng bày mặt người chết cho bạn bè nhìn. Nhất là những người đã đau yếu bệnh hoạn lâu ngày, ngay cả khi chưa chết, họ không muốn ai thấy họ đã ốm o, hốc hác, xấu xí cùng cực.”

Ông Hàn thêm vào câu chuyện ;

- “Khi làm mặt và trang điểm cho người chết, tôi xem chiếu trong phim tài liệu, mà sợ. Ngoài việc moi hết tim gan phèo phổi, dạ dày, ruột non ruột già, thấy người ta còn dùng mấy cây sắt dài chừng nửa thước, to hơn chiếc đũa, xiên từ trong miệng xuống cổ, vào thân, có lẽ để giữ cho cái đầu và xác ở vị trí thẳng. Rồi cắt trong nướu, để dùng dây kẽm may, xâu hàm trên và hàm dưới lại với nhau trong vị trí bình thường, cho miệng khỏi há ra, và may môi lại với nhau. Dùng chất dẻo đắp vào các nơi cần đắp. Sau đó, dùng phấn, màu, thoa lên mặt, tạo thành một lớp giống như da thường. Cắt tóc, cạo hay tiả râu lại cho đẹp. Nếu mình chứng kiến tận mắt khi họ làm cho thân nhân mình, thì đau lòng lắm.”

Ông anh vợ cắt ngang :

- “Thôi, thôi, dượng đừng nói chuyện đó, nghe mà ghê. Khuất mắt, mình không thấy thì đỡ sợ. Sao không trở lại câu hỏi chính, là làm thế nào để chi phí tang lễ ít tốn kém nhất?”

Bà Kim cười :

- “Cách tốt nhất là thiêu xác, và nếu thiếu liền, chuyển xác từ nơi chết, trực tiếp đến lò thiêu, tang lể làm tại nhà, không nhìn mặt, thì đỡ được rất nhiều chi phí khác như tẩm liệm, ướp thuốc, xem mặt, thuê phòng, xe tang. Thường phí tổn chỉ trên 1000 đô thôi.”

Bà Kim hớp thêm ngụm trà, rồi tiếp :

- “Có người nói sợ nóng, không dám thiêu. Nhưng khi chết rồi, thần kinh đã tê liệt, thì đâu biết chi nữa mà nóng hay lạnh. Nếu còn biết nóng lạnh, thì khi nằm dưới đất lạnh lẽo, tối om, chật chội, ngộp, dòi bọ vi trùng đục khoét, mặt mày teo rúm, há hốc mồm miệng, nhăn răng, khô đét, hoặc rữa mũn ra, thì có khó chịu hơn không ? Chưa kể điều mà chủ nghĩa địa bảo là đất ‘vĩnh viễn’, thì thường là 49 năm hay 99 năm thôi. Sau đó thì thông cáo trên báo chí là sẽ dời xác. Con cháu có bao giờ đọc đến cái thông cáo nầy, mà có đọc, cũng không biết đó là mộ của thân nhân mình. Bên Âu Châu, có nhiều hầm nhà mồ, xương chất đẩy, xương của hàng trăm vạn ngôi mộ được đào lên, gom lại, xếp đặt hàng triệu miếng xương lẫn lộn, rất mỹ thuật. Luật lệ nhiều xứ, chỉ cho chôn 5 năm hay 10 năm, hoặc mấy chục năm thôi. Phải bốc mộ sau thời gian đó. Ít có nơi nào là vĩnh viễn hoặc lâu vài ba trăm năm. Ngày nay tại Mỹ, ngưòi ta càng ngày càng ưa thích việc thiêu xác. Các xứ khan hiếm đất đai như Nhật, và cả Tàu, Ấn Độ, đều thiêu xác. Ngoại trừ những vùng xa xôi, còn giữ lại việc chôn dưới đất. Theo thống kê năm 2009, thì mười tiểu bang sau đây, có tỷ lệ thiêu xác cao nhất ở Mỹ : Nevada 73.93%, Washington 69.62%, Oregon 69.24%, Hawaii 68.82%, Vermont 65.67%, Arizona 65.60%, Montana 64.81%, Maine 62.75%, Colorado 62.01%, Wyoming 61.76%”

Bà Hàn xen vào :

- “Người theo đạo Chúa, có thiêu xác được không ?”

Bà Kim cười và tiếp lời :

- “Mãi cho đến khi Đức Giáo Hoàng Phao Lồ Sáu tuyên bố việc hoả thiêu là không trái với Giáo Luật vào năm 1963 và ba năm sau, các linh mục được phép làm lễ cho các đám tang hoả thiêu, thì việchỏa táng được phát triển rất mau. Ngày xưa giáo hữu Thiên Chuá tin rằng, phải còn xác, để chờ ngày phán xét cuối cùng, mà sống lại trên thân xác đó. Chì còn đạo Do Thái là cấm hỏa thiêu thôi, vì họ cho rằng, tro cốt nằm trong hủ, không thể “đất bụi trở về lại với đất bụi được”

Ông Hàn bưng bánh ra mời bà con, và nói :

- “Ông anh rễ tôi kể rằng, thời mới chạy qua Mỹ mấy năm sau 1975, anh em đồng khoá Võ Bị Đà Lạt đi thăm viếng một người bạn đang hấp hối vì bệnh ung thư trong khu chờ chết ở Viện Phục Hồi. Khi đó, đa số đều độc thân, hoặc vợ con còn kẹt lại ở Việt Nam, bơ vơ, không bà con thân thích. Anh em thấy ông bạn nằm thiêm thiếp, bàn nhau đóng tiền thiêu xác. Tưởng hắn mê man không nghe được, nhưng bỗng hắn mở mắt ra và nói rõ ràng : “Ông cóc muốn thiêu, sợ nóng lắm. Chôn mà thôi”. Đám bạn bè giật mình nhìn nhau. Một ông bạn nóng tánh, gằn giọng : “Đưa tiền đây, tụi tao chôn cho. Thằng nào cũng rách mướp, tiền đâu mà chôn mầy.” Một ông bạn khác nháy mắt, rồi nói : “Mầy muốn chôn cũng được, yên tâm đi.” Khi đi ra ngoải, anh bạn nói : “Cứ hứa đại, cho nó yên tâm chết. Sau khi chết rồi, thì cóc biết chó gì nữa, thiêu hay chôn thì cũng thế.” Thời đó, mới đến Mỹ, người nào cũng đi làm việc lao động với đồng lương tối thiểu, lo nuôi thân chưa đủ, lại lo gởi tiền giúp gia đình bên Viêt Nam, tiền đâu mà bỏ ra chôn cất bạn bè, đòi việc ngoài khả năng, làm sao mà thoả mãn được ? Nầy chị Kim, chị biết tại sao ngày nay người ta chuộng việc thiêu xác hơn là chôn không ?”

Bà Kim ăn bánh, uống nước, rồi thong thả nói :

- “Theo nghiên cứu của các nhà xã hội học, người ta chuộng thiêu hơn chôn vì càng ngày người có học thức cao càng đông đảo hơn, việc thiêu xác được quần chúng chấp nhận xem như bình thường, đất chôn không còn dễ dàng và rẻ như xưa, tiết kiệm đất đai cho người còn sống, giáo luật không cấm thiêu, tiện lợi, giản dị và tiết kiệm được nhiều thì giờ, giảm thiểu chi phí không cần thiết.”

Một người khác trong gia đình hỏi :

- “Tôi nghe nhiều người già mua trước toàn bộ chương trình tang lễ, từ đầu tới cuối. Khi nằm xuống thì khỏi bàn cãi lôi thôi gì, và tiền bạc cũng đã thanh toán xong. Gia đình khỏi phải bận tâm. Việc mua trước đó, có thật không, và có lợi hại gì không ?”

Bà Kim gật gù :

- “Mua trước toàn bộ các mục cho đám tang cũng là điều hay. Nhưng phải liệt kê rõ ràng từng danh mục cho minh bạch, đừng thiếu khoản nào. Để sau nầy khỏi phải trả thêm, vì thiếu sót. Cũng có nhà quàn muốn kiếm chác thêm chút chút, khi làm đám tang, nói là hòm loại nầy chưa về hoặc mới hết, phải chờ mua . Nghe chờ mua hòm là đã hết hồn, và chấp nhận trả thêm tiền cho cái hòm đắt hơn.”

Ông Hàn hỏi :

- “Có khi nào mình mua trước, tiền thanh toán hết rồi, mà khi chết, họ chối từ làm tang ma hay không ?”

Bà Kim cười khanh khách :

- “Chuyện gì cũng có thể xảy ra cả. Bình thường, thì không có chuyện rắc rối đó. Ngoại trừ khi nhà quàn bị đóng cửa, hoặc đã đổi chủ. Kẹt nhất là khi mình đổi nơi cư trú quá xa nhà quàn ký hợp đồng làm tang lễ, hoặc mình chết ở một chốn xa xôi nào đó, mang xác về tốn kém hơn là chôn hay thiêu ở nơi chết. Thường thường hợp đồng nầy không trả lui được, không chuyển nhượng cho người khác được. Mua trước cũng có cái lợi, là phí tổn khỏi phài tăng theo thời giá.”

Cả nhà mời bà Kim ở lại ăn cơm, để tham dự cuộc họp gia đình và điện thoại khảo giá việc tang lễ. Cả gia đình bàn cãi sôi nổi, kẻ muốn chôn, người muốn thiêu, bà chị lớn còn muốn làm đám tang linh đình, đủ các nghi thức rườm rà. Cả nhà cãi nhau thành to tiếng, mãi chưa đi đến đâu, thì cô Út lấy trong xách tay ra một là thư, nhìn mọi người và nói với giọng run run đầy nước mắt :

- “Thưa các anh chị, em muốn cho mẹ có được một đám tang bình thường như mọi người. Em để các anh chị quyết định, nhà chúng ta không thiếu tiền, không cần tiết kiệm. Nhưng các anh chị không đồng ý với nhau, có thể sinh ra bất hoà, nên em xin trình lá thư của mẹ gởi cho em từ lâu, để anh chị xem. Đây, em xin đọc lá thư : “…Sau này mẹ chết, thì mẹ ước mong các con làm đám tang đơn giản. Không khăn sô, không tụng niệm, không để bà con xem mặt, không phúng điếu, không vòng hoa, và mẹ muốn được thiêu xác. Tro cốt thì đem thả xuống Thái Bình Dương, để mẹ hoà tan vào biển cả, may ra thấm về thấu tận quê nhà bên kia đại dương. Đừng chôn tiền xuống đất. Tiền tiết kiệm được đem cúng cho hội từ thiện ..”

Cả nhà trách cô Út tại sao không đưa lá thư ra từ đầu, để khỏi bàn cãi lôi thôi, cô khóc mà không trả lời.

Sau khi nhờ bà Kim phối hợp, cả nhà hoàn tất và ký khế ước hỏa thiêu. Chi phí tang lễ chôn cất do nhà quàn đề nghị tổng cộng 34,680 đô, chỉ còn tốn 1676 đô bao gồm toàn bộ thủ tục giấy tờ, chuyển xác, hoả thiêu và bình tro tạm.

Toàn anh chị em trong gia đình góp thêm tiền, đem tặng hội từ thiện 35 ngàn đô. Cả nhà đều vui mừng, nhẹ nhỏm.
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Image


Thử hỏi được mấy “MÙA XUÂN” ?
Việt Nhân
(HNPĐ) Phải thấy cộng sản Việt chúng dốt kém vì chúng phát sinh từ thấp hèn mà ra, chúng thiếu cái chữ và cái văn hóa, khiến người ta lắm lúc phải cười bò vì cái dốt. Nhưng riêng cái mưu ma chước quỷ thì chúng thuộc bậc tổ sư khiến mọi người phải gờm, và trong bảo vệ thành quả cướp được, chúng dùng trăm phương ngàn cách, mà những cái đầu óc mạnh khỏe bình thường không hề ngờ tới.

Với chủ chúng là Tầu cộng, thôi thì chúng lòn chúng nịnh không còn biết thế nào là tự trọng là liêm sĩ - Những gì là đất nước dân tộc không có trong đầu óc chúng, nên đối với dân thì khỏi phải nói, chúng triệt không còn có lấy một con đường sống, mặc tình chúng cướp chúng vơ vét, đương nhiên với đầu óc của kẻ dốt, khi chúng làm thì những chuyện ăn bẫn ăn cắp nó sờ sờ ra đó, mọi người không một ai là không thấy. Những thất thoát của công, những lỗ lả của kinh doanh, những trắng trợn cướp đất cướp tài sản của dân không nơi nào là không có… để làm giàu cho cá nhân và bè đảng, chúng bán tài nguyên đất liền lẫn biển đảo, bán cả luôn người dân đi lao nô làm gái cho thiên hạ - Công an và nhà tù là công cụ chính của chúng.

Chúng thò tay ra cả nước ngoài, kiểm soát ngay những kẻ đã thoát khỏi vòng vây chúng, chúng cũng cố vói tới cho bằng được, bởi những chính sách nhằm khống chế Việt kiều nước ngoài. Một mặt vừa chiêu dụ hợp tác làm lợi cho chúng, mặt khác nhằm triệt những mầm mống chống đối, từ ngoài hổ trợ vào cho các hoạt động phản kháng của người dân trong nước, nghị quyết 36 là một điển hình. Để thực hiên tốt công tác, ngoài người của chúng đưa từ trong nước ra, chúng cũng đã dùng những kẻ có nhân thân tốt với các cộng đồng, để dễ trà trôn hoạt động, tuy nhiên những con chó ghẻ này rất chóng bị phát hiên, như vụ một tờ báo lá cải ở quận Cam này, có cả một tay thiếu úy BĐQ làm tay sai cho chúng.

Một tấm bích chương quảng cáo buổi ca nhạc “Tình ca Mùa Xuân”, được tổ chức đúng ngày 30-04-2012 mới xuất hiện gần đây, quá rõ ràng cho thấy cộng sản đang cố tình nhắm vào ngày, mà toàn thể người Việt kỷ niệm tháng tư đen, đất nước lọt vào tay cộng sản. Vẫn biết trong xã hội tự do kẻ buồn đang khóc không thể cấm người vui không cười. Nhưng thiết nghĩ đây là chương trình giải trí cho người Việt, ai muốn vui thì cứ vui, vả có nhiều lúc để ta vui, và đâu cần phải khiêu khích như thế, vả có cần thiết phải khiêu khích hay không, một tên cộng sản trong nước ngày nào đã nói rồi mà, tháng tư có triệu người vui thì cũng có triệu người buồn. Nhưng liệu với truyền thống đạo đức của người Việt, có thể chấp nhận cảnh nhảy múa hò hát, trước lễ giổ đau thương tang tóc của người khác, mà không bị gọi là “kẻ đốn mạt”, hay “quân bất nhân”? – Nghe nói một nhà giáo đã tổ chức buổi văn nghệ này, một ông sĩ quan chế độ cũ, cũng là nhà văn tác giả vài cuốn truyện ma làm MC.

Vài lời với ông nhà giáo chủ tiệm bán đĩa hát trên phố Bolsa – Thưa ông đa số chúng tôi đây đều là nạn nhận của CS, họ không có nhiều may mắn giống như ông, mà thoát được trong êm xuôi vào tháng tư ngày cuối năm nào, chúng tôi kẻ thì kẹt lại cho tới hôm nay, người có thoát được thì cũng sau bao ê chề nhục nhằn, nên 30-04 là ngày đau buồn chung. Còn ông khi đã vượt thoát, nghe nói ông cũng đã từng nguyện với lòng là không đội trời chung cùng cộng sản. Thế mà sau bao năm ăn nên làm ra nhờ vào đồng tiền của dân Việt tha hương nhớ nhà, nay người ta đã được xem vài đoạn video clips thấy ông ngồi cùng Vẹm, để mà thấy được ông là doanh nhân thành đạt. Trong clips đó, có cả cô MC vốn là một luật sư thuộc gia đình “tăm tiếng”, cùng các ca sĩ trẻ đẹp của ông, cất công đường xa đến tòa lãnh sự Việt cộng, để được ngồi cùng và “giúp vui” những kẻ, mà ngày nào ông sợ chúng đến nỗi phải trốn chạy.

Hay hôm nay ông đã thành công, giai cấp mới cao hơn tư cách sang hơn, thói thường khi dòng đời trở nên hanh thông, những giọt mưa đãi ngộ làm mát mặt, và cờ đã cầm trong tay nên không cần lắm sự tự trọng và liêm sỉ. Hay vì là lúc phú quí cũng nên sính lễ nghĩa, và cũng có thể giàu nên đã đổi bạn - Các người thân cộng rất thần tượng ông, khen ông thức thời bỏ hai triệu về bên ấy mở quán cà fé, vậy xin hỏi chuyện làm ăn của ông lúc này khắm khá không. Yên chí đi rồi đây ông sẽ có tên trong danh sách những khách mời, của phái đoàn chính phủ Việt Xã Nghĩa chiêu đãi dạ tiệc, ở đâu đó như San Francisco hay Dana Point giống ngày nào.

Còn ông MC, nghe nói ông cũng là một người sĩ quan cũ, xin được tâm sự cùng ông, tôi và ông tuổi ngang nhau, tôi cũng là lính cũ cũng là tù, nhưng những cái đó không định được tư cách con người ông ạ. Mà tư cách con người phải đánh giá qua cách sống, còn chức tước địa vị hay sự thành đạt chỉ cho thấy kết quả của công việc thế thôi, ngay người Việt chúng ta có nhiều ông chức tước địa vị thì có, nhưng tư cách thì không, điều này ông đồng ý chứ. Mong ông hiểu cho rằng đã có quá nhiều ông cũng đã từng là này nọ, nhưng cuối cùng việc họ làm đã gây thất vọng và buồn lòng anh em không ít, riêng ông trong một chương trình nào đó tôi được nghe chính ông tự nói mình là sĩ quan - Vậy ngày quì xuống nhận cấp hiệu ông nhớ lời thề gì?.

Với ông MC chưa hẵn có chứng cớ ông nhận chỉ thị của cộng sản, trong thực hiện nghị quyết 36 rõ rệt như ông chủ của ông, nhưng không phải không có dư luận không hay về ông, xin ông hãy ráng sống sao đó để con cháu ông còn hãnh diện. Và cá nhân ông khi nhìn lại đoạn đường trãi qua mà cao đầu tự hào đã không làm nhơ những gì mình đã từng - Ông đã cầm bút chắc ông cũng ít nhiều chữ nghĩa, nhưng trộm nghĩ ông bận kiếm tiền mà đôi lúc có thể quên, tôi xin được mạn phép nhắc câu ông bà ta thường nói là “làm người thì khó làm chó thì dễ” ông ạ - Để kết xin được hỏi ông giáo sư một câu, ngày nào học trò ông đã được ông giảng ra sao về câu “phú quí bất năng dâm. Bần tiện bất năng di”, hay lại được ông dạy là nên theo gương ông, đó mới là xứng cách của đấng trượng phu thời đại Hồ Hán.

Việt Nhân (HNPĐ)
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Tuần Lễ Đen Của TT Obama

Vi Anh
Người Mỹ gốc Việt thường gọi tháng Tư là “Tháng Tư Đen”. TT Obama là người Mỹ gốc Phi châu, cũng bị “văng miểng” trong Tháng Tư Đen thứ 37 này. Tuần lễ thứ ba của tháng Tư năm 2012 này là tuần lễ có vẻ đen của TT Obama.

Tội cho Ông trong thời kỳ tranh cử, quan viên trăm họ, bàn dân thiên hạ đang nhìn Ông, Ông lại rơi vào hòan cảnh nói theo người Mỹ gốc Việt là “quít làm cam chịu” về những tai tiếng “ham vui, thích của lạ” của những nhân viên của Sở Mật vụ lo bảo vệ Ông trong chuyến Ông đi nước Columbia dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Mỹ lần thứ 6.

Và chuyện của một số quan chức của Cơ Quan Dịch Vụ Tổng Quát Hoa Kỳ lạm dụng công qũy tổ chức ăn chơi mút mùa lệ thủy ở Las Vegas.

Và chuyện báo lá cải loan tin Bà Ngọai Trưởng Hillary Clinton bị bắt gặp nhảy múa tại vũ trường cùng ở Cartagena (Colombia) trong chuyến đi của tổng thống.

Ba xôi nhồi một chõ, ba xì can đan nhập lại thành một dư luận chấn động liên tiếp, đây không ít bối rối cho TT Obama vì mũi vại, lái phải chịu đòn.

Một là vụ xì căn đan mười một nhân viên mật vụ và quân nhân tiền trạm bảo vệ TT Obama đi hội nghị ở tại Colombia. Những người này vào ngày trước ngày TT đến họp ham vui, khóai của lạ, dẫn gái mãi dâm lên phòng, bị gái đòi tiền nhiều hơn giá đầu nậu ở vũ trường đã thỏa thuận là 60 USD, cảnh sát đến lập biên bản, gởi tòa đại sứ, đổ bể lớn.

TT Obama tuyên bố phải điều tra nghiêm túc. Cơ Quan Mật Vụ cấp tốc triệu hồi 11 nhân viên mật vụ tiền trạm này về Mỹ. Một trong hai cấp bậc chỉ huy của tóan bị sa thải, một người xin nghỉ hưu, và người thứ ba giữ chức vụ nhỏ hơn đã từ chức. Đại Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Ban Tham mưu Hỗn hợp Hoa Kỳ phải họp báo tại Ngũ Giác Đài cho nhóm nhân viên mật vụ và quân nhân này đã làm cho “cấp chỉ huy thất vọng”, làm chệch hướng dư luận về tầm quan trọng của cuộc họp của Tổng Thống. Còn Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta khẳng định những người liên hệ trong vụ tai tiếng này sẽ buộc phải chịu trách nhiệm về hạnh kiểm của họ. Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi, TT Obama vẫn bày tỏ niềm tin đối với cơ quan Mật Vụ có uy danh lịch sử trong việc bảo vệ yếu nhân này.

Chưa đủ, Quốc Hội đâu có để yên. Chủ tịch Ủy Ban Nội An Và Các Vấn Đề Chính Phủ của Thượng Viện Hoa Kỳ lên tiếng cần phải "trừng phạt nặng". Thương Nghị Sĩ Joe Lieberman, không thuộc đảng nào, chủ tịch Ủy Ban trên nói tình huống gây hại ngoài giờ làm phận sự có thể tạo nên mối nguy cho an ninh quốc gia. Ông sẽ tổ chức một buổi điều trần về sự kiện này.

Giám đốc Cơ Quan Mật Vụ Mark Sullivan trình có ít nhất 9 quân nhân có thể liên quan đến vụ tai tiếng này, ngoài khoảng 11 nhân viên mật vụ bị triệu hồi từ Colombia về Hoa Kỳ.

Nhưng trong số những vệ sĩ đi sát cánh với Tổng thống Obama, không có người nào dính líu vào vụ tai tiếng vừa kể.

Hai là vụ cơ quan GSA của chánh quyền lợi dụng công qũy, lãng phí, tổ chức ăn chơi ở Las Vegas tốn 823,000 Mỹ kim. GSA là Cơ Quan Dịch Vụ Tổng Quát Hoa Kỳ có nhiệm vụ cung cấp phòng ốc và tiếp liệu cho các cơ quan của chính phủ liên bang. GSA phải ra điều trần trước liên ủy ban của Quốc Hội vì báo chí phanh phui, ông lớn, ông nhỏ, khách mời đến 300 người của cơ quan nội dịch này hồi năm 2010 đã tổ chức một cơ hội gọi là hội nghị nhân viên liên bang, tiêu tốn của người thọ thuế tới 823,000 Mỹ kim.
Mà thực chất là tổ chức du hí, phung phí, xa hoa tại khách sạn sang trọng ở Las Vegas. Họ phung phí công qũy, tiền thuế người dân, như quăng tiền qua cửa sổ. Họ chơi xả láng trong 4 ngày. Ăn sáng một phần 44 USD, tiền sushis 7,000 dollars, tiền xe đạp cả chục ngàn.

Du hí không chưa đủ 12 ông lớn của GSA còn muốn thực hiện một cuốn video, quay cảnh một số “quan chức” GSA hát nhạc rap, ca ngợi sự tiêu xài xa hoa của cơ quan mình, sơ sơ chỉ tốn công qũy hết 8,130 dollars cho cái video clip ấy.

Vụ thứ ba là Bà Ngọai Trưởng Hillary Clinton bị bắt gặp nhảy múa tại vũ trường ở Colombia. Không biết xứ Colombia vốn là bến đổ lên đất liền của Tân Thế giới, sau này gọi là Mỹ châu, vui vẻ cỡ nào, mà báo New York Post cho biết không phải mật vụ, và quân nhân tiền trạm bảo vệ tổng thống ham vui, mà Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng ham vui ở xứ sở này.

Báo này viết Bà Clinton là đệ nhứt phu nhân Mỹ một thời mẫu nghi thiên hạ của Mỹ, thượng nghị sĩ đạo mạo một thời, ngọai trưởng của đệ nhứt siêu cường Mỹ, phương dịên quốc gia của Mỹ trên thế giới. Bà lại tóc để xấp xõa, nhảy nhót tưng bừng, và uống bia xả láng với bạn bè ở thành phố du lịch Cartagena, là thành phố mật vụ ham vui gây xì căn đan, làm mở công luận cuộc họp quan trọng của TT Obama...

Báo lá cải New York Post đăng hình hẵn hoi và cho biết chỉ vài giờ sau khi tham dự một buổi tiệc chính thức dành cho các lãnh đạo dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Các Nước Châu Mỹ, bà Clinton đã xuất hiện tại vũ trường Café Havana gần đó để “vui vẻ” cuộc đời.

Hình ảnh của Bà Hillary Clinton nhảy nhót ở vũ trường Café Havana báo tung ra làm bối rối không ít chánh quyền Obama. Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Mark Toner không trả lời câu hỏi liệu hành động của Ngoại Trưởng Clinton có thích hợp hay không, mà chỉ nói bà Clinton đã có “thời gian rất vui vẻ, và chỉ hưởng thụ một chút không khí của cuộc sống về đêm tại Cartagena với các đồng nghiệp”.

Trong một tuần lễ mà ba xì căn đan lớn nhỏ xảy ra trong chánh quyền TT Obama đúng vào mùa bầu cử đông ken tranh cử như vậy, đối thủ đâu có để TT Obama yên. Ô. Romney coi như chắc được Đảng Cộng Hòa chỉ định làm ứng cử viên tổng thống cho đảng Cộng Hòa thêm một lý do nữa để chỉ trích về sự thất bại của TT Obaam trong việc điều hành chánh quyền, qua việc quản trị quá yếu kém này, và chánh quyền quá cồng kềnh của TT Obama.

Người ta bới ra to hơn. Ô. Darrell Issa ở Quốc Hội Mỹ nói “những gì chúng tôi thấy trong vụ này vượt qua 11 người trong nội vụ”. Vụ này liên quan đến cung cách, tác phong và hành động về an ninh quốc gia. Vì theo qui điều bảo mật Mỹ, mật vụ và những người có trách nhiệm công du không được đem gái lên phòng. Dù luật Columbia cho phép làm việc đó với điều kiện, và trả gái trước 7 giờ sáng, thì viên chức Mỹ như mật vụ cũng không được làm vì lý do qui định an ninh, bảo mật.

Chưa đủ người ta banh ra thêm. Kết quả ngọai giao của TT Obama đi họp thượng đĩnh châu Mỹ bị mờ đi trong công luận vì vụ xì căn đan mật vụ. Báo chí cũng như quần chúng có khuynh hướng chú ý nhiều đến xì căn đan hơn là tin tích cực.

Báo Mỹ thường theo chủ trương, có máu mới thành tin hàng đầu. Những xì căn đan trên không có máu nhưng làm mất nhiều niềm tin nơi chánh quyền của TT Obama, mà niềm tin còn quí hơn máu trong chánh trị, nhứt là trong mùa tranh cử.

Nói theo kiều người bình dân Việt, tội cho TT Obama, quít làm cam chịu, mũi vại lái chịu đòn./.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

30 tháng Tư, chúng ta sẽ làm gì?
hoangde
Tui còn nhớ lần 30 tháng Tư đầu tiên tui và cả gia đình đặt chân tới Mỹ đó là ở tiểu bang lạnh Washington, sau vài ngày ổn định chổ ăn ở, thủ tục giấy tờ cho cả nhà.

Bữa đó ông cậu tui chở cả nhà đi dự buổi lể 30 tháng Tư do các anh chị sinh viên của trường đại học Washington tổ chức, buổi lể có khoảng vài trăm người tham dự, lúc bắt đầu buổi lể là phần chào cờ hát bài “Này công dân ơi…”, khi đó Ba Mẹ tui đã chảy nước mắt vì sau mười mấy năm mới được chào lá cờ của những năm trước 1975, còn tui thì đến lúc mọi người hát chung bài hát “Việt Nam,Việt Nam” tự nhiên tui xúc động vô cùng, một xúc cảm dâng trào khó tả giống như mình vừa tìm được cái gì đó quý lắm.

Sau đó khi tui vào đại học, cứ mỗi lần 30 tháng Tư đến mà nhóm tụi tui gọi là “Tháng Tư đen” thì đứa nào cũng bảo nhau là ngày 30 tháng Tư đừng ăn uống, nhậu nhẹt gì cả mà hãy ăn kiêng để tưởng nhớ ngày quốc hận của miền nam Việt Nam.

Nhớ hồi còn đi học, cứ mỗi năm 30 tháng Tư đến là hội sinh viên VN lại tụ họp nhau tổ chức lể tưởng niệm rồi mời bà con đồng hương đến tham dự.

Bây giờ sau 37 năm tui thấy hình như tinh thần 30 tháng Tư không còn “xung” như hồi trước nữa! thì cũng dễ hiểu thôi mà, bây giờ bà con đi đi về về Việt Nam như đi chợ, mà đã vậy những tổ chức, hội đoàn ở đây làm nhiều điều mất uy tín, và thêm nhiều yếu tố khác gây mất lòng tin của đồng bào bởi vậy khí thế chống cộng đi xuống, tinh thần ngày 30 tháng Tư cũng chẳng còn sôi nổi giống như những năm xưa nữa.

Nói thì nói vậy thôi chứ thật ra sau 37 năm tinh thần người Việt hải ngoại không hẳn là chỉ chống cộng mà điều mọi người quan tâm hơn cả đó là tranh đấu cho người dân trong nước có được dân chủ, tự do tín ngưỡng, báo chí và nhất là tự do tranh đấu cho nhân quyền, hay chống lại mưu đồ xâm lược của Trung quốc…

Nhiều lắm nhưng nói cho cùng 30 tháng Tư tới bạn, tui và chúng ta sẽ làm gì cho đúng với một ngày thật ý nghĩa bạn nhỉ?
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ai bán Việt Nam Cộng Hòa cho Hà Nội?

Võ Long Triều

Tôi được mời dự lễ bàn giao giữa Tổng Thống Trần Văn Hương và Ðại Tướng Dương Văn Minh. Ngồi trong phòng khánh tiết Dinh Ðộc Lập, tường kiếng bao quanh nhìn thấy rõ bên ngoài, đột nhiên trời giông gió mạnh làm gãy một nhánh lớn của cây dầu trước sân; tôi hồi tưởng đến những cảnh xuất quân trong truyện Tam Quốc Chí mà cờ soái lệnh đột nhiên bị gẫy là điềm không lành.

Image
Bút tích của Ðại Sứ Bùi Diễm trong bản nháp, viết tay về những điều ông phúc trình với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Ðoạn này có nội dung: “Chúng tôi lúc đó có nói lại rằng: Nếu có sự trục trặc giữa hai chính phủ thì một phần lớn cũng là do ở chỗ hồi tháng 10, khi ông và ông Kissinger mang bản dự thảo thỏa hiệp với cộng sản tới Saigon, các ông đã không hỏi ý kiến chính phủ Việt Nam trước. Về điểm nầy ông Haig nhìn nhận là các ông có lầm lẫn.”

Bên cạnh tôi là anh bạn Nguyễn Thanh Liêm, thứ trưởng Giáo Dục. Khách dự lễ tổng cộng có mấy chục người, năm ba ông dân biểu hiện diện, còn có Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Không Quân, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chức, tổng cục trưởng Công Binh và một số sĩ quan, viên chức của Phủ Tổng Thống.

Không lâu sau lễ bàn giao, một sĩ quan Không Quân, cộng sản nội tuyến, giội bom dinh Ðộc Lập, rồi Việt Cộng pháo kích phi trường Tân Sơn Nhứt như mưa, rồi quân của nó tràn vào tứ phía, từ nhà tôi ở đường Mạc Ðỉnh Chi, đứng ngoài bao lơn nhìn thấy xe tăng cộng sản chạy ngang trên đường Thống Nhứt, chúng đi thẳng vào Dinh Ðộc Lập. Thôi hết rồi. Vận nước đến hồi tận!

Tôi trình diện đi tù với danh nghĩa “học tập cải tạo,” một trong nhiều xảo ngôn, mưu mẹo dùng trong xảo thuật tuyên truyền mà chỉ có cộng sản Hà Nội mới sáng tạo ra được những thứ đó. Rồi tôi đi tù, được thả ra sớm, được dụ dỗ hợp tác phục vụ đất nước. Sự từ chối của tôi buộc phải đi tù một lần nữa, rồi lại được dụ dỗ ngon ngọt hơn, nhưng tôi lại khước từ nên phải trả giá 11 năm hành hạ thê thảm trong biệt giam, trong khu tử hình, trong nhà giam tập thể (xin đọc hồi ký Võ Long Triều Tập II). Nhưng số mạng còn cho phép tôi ngồi đây tìm hiểu ai đã phản bội đồng minh, ai ép chết Việt Nam Cộng Hòa?

Ðược trả tự do năm 1988 tôi có dịp đọc hồi ký của ngoại trưởng Mỹ thời đó là ông Henry Kissinger mới biết rõ, chính ông ta dâng miền Nam Việt Nam cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai khi ông nầy yêu cầu: “Nếu Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam thì các ông lật đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa cho chúng tôi.” Kissinger trả lời: “Vì danh dự và thể diện, chúng tôi không thể làm việc đó nhưng các ông hành động chúng tôi không ngăn cản.”

Sự phản bội này thể hiện qua cuộc thương thuyết mà Kissinger tự ý móc nối, dàn xếp, thương lượng giùm cho Việt Nam Cộng Hòa trong cái “gọi là hội đàm Paris.” Tiếng là Nam Bắc Việt Nam đàm phán tìm giải pháp hòa bình cho Việt Nam nhưng thực tế là Mỹ đàm phán để giao miền Nam cho Hà Nội. Bằng cớ là nhiều tài liệu của Ðại Sứ Bùi Diễm từ Washington, Paris, London gởi trình cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ ngày 5 đến ngày 19 tháng 1 năm 1973 chứng minh hành động của Kissinger và Tướng Haig, thứ trưởng Ngoại Giao, mật đàm với Lê Ðức Thọ bất kể lập trường và ý kiến của Việt Nam Cộng Hòa.

Bản nháp viết tay tờ trình của Ðại Sứ Bùi Diễm trước khi đánh máy gởi Tổng Thống Thiệu như sau:

“[Kissinger] thố lộ rằng những buổi mật đàm với Lê Ðức Thọ trong những năm qua, Lê Ðức Thọ đã đề nghị với ông rằng chỉ cần đánh đổ chế độ miền Nam Việt Nam thì Bắc Việt sẽ chịu hết mọi điều kiện khác. Ông nói ông đã bày tỏ tất cả những đề nghị ‘đi đôi’ của Lê Ðức Thọ trong nhiều năm không thành.”

Và sự kiện chứng minh rõ ràng nhứt, Kissinger và Tướng Haig tự ý thương lượng với Bắc Việt mà không hề hỏi ý kiến chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong khi cả thế giới hiểu rằng sự đàm phán phải do hai bên Nam, Bắc Việt thương lượng điều kiện để tiến tới hòa bình. Hội đàm Paris chỉ là một màn kịch do Hoa Kỳ đạo diễn để trao Việt Nam Cộng Hòa vào tay cộng sản Hà Nội.

Cũng trong bản chép tay của Ðại Sứ Bùi Diễm:

“Chúng tôi lúc đó có nói lại rằng: Nếu có sự trục trặc giữa hai chính phủ thì một phần lớn cũng là do ở chỗ hồi tháng 10, khi ông và ông Kissinger mang bản dự thảo thỏa hiệp với cộng sản tới Saigon, các ông đã không hỏi ý kiến chính phủ Việt Nam trước. Về điểm nầy ông Haig nhìn nhận là các ông có lầm lẫn.”

Mặc dù đã nhìn nhận có lầm lẫn nhưng hai ông Kissinger và Haig vẫn tiếp tục mật đàm riêng với Bắc Việt, bất kể quyền lợi của Việt Nam Cộng Hòa. Vẫn theo bản viết tay của cựu đại sứ Bùi Diễm:

“Trong buổi họp ông đã kể lại những điểm khác biệt giữa bản dự thảo thỏa hiệp mới và bản dự thảo thỏa hiệp tháng 10, những khác biệt mà ông gọi là 'Considerable improvements' lập luận và lời lẽ của ông thì cũng quyết liệt như lập luận và lời lẽ của ông Haig khi gặp chúng tôi ở Hoa Thịnh Ðốn.”

Sau những lời giải thích phi lý luôn luôn có tính cách thuận lợi cho cộng sản Bắc Việt, Kissinger và Tướng Haig giở giọng hăm dọa trắng trợn rằng: Nếu có một thỏa thuận mà Tổng Thống Nixon chấp nhận và Tổng Thống Thiệu bác bỏ thì Mỹ sẽ bỏ rơi Việt Nam. Rõ ràng Kissinger thương thuyết cho quyền lợi của Hoa Kỳ bất kể người đồng minh Việt Nam mà báo chí và chính trị gia Mỹ thường vuốt ve đề cao là “Tiền Ðồn Chống Cộng” trong chiến lược của Hoa Kỳ khi chủ trương “be bờ cộng sản.”

Ðại Sứ Bùi Diễm viết tiếp: “Ông nói: 'If there is an agreement accepted by our president and if your president decides to reject it, it will be the end of everything or in other words it will be the 'abandon' of Việt Nam', ông nói là ông không có một sự nghi ngờ nào về sự quyết tâm của Tổng Thống Nixon.”

Sự hù dọa nầy được Ðại Sứ Bùi Diễm phúc trình như sau: “Còn về phần Hoa Kỳ, khi thái độ của các ông Rogers, Kissinger, Haig có thể chứa đựng một phần nào tính cách 'hù' (hay nói một cách nôm na hơn, tính cách dọa dẫm), tính cách 'hù' đó chỉ là một phần thôi.”

Và sau đó Tướng Haig thực hiện lời đe dọa của ông trong cuộc gặp Tổng Thống Thiệu lần cuối cùng: “Rồi ông kết luận là ông sẽ đi Saigon trong một tương lai gần và lúc đó sẽ là 'moment of truth.'”

Người ta còn nhớ cuộc gặp gỡ của Tướng Haig với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Ðộc Lập, Sài Gòn, ông hăm dọa bằng những lời lẽ như thể đánh tiếng: Sẽ là “moment of truth”? Và Tổng Thống Thiệu có hoảng sợ nghĩ tới số phận của người tiền nhiệm ông là cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm không? Phải chăng vì sợ Mỹ nhiều hơn lòng can đảm dám hy sinh bản thân mình để bảo vệ nhân dân và đất nước mà ông Thiệu luôn luôn chấp nhận mọi điều kiện và sự cố vấn của người Mỹ, kể cả sự rút quân vội vã, trái ngược với ý kiến của nhiều tướng lãnh Việt Nam trong đó có Tướng Ðặng Văn Quang là người thân cận Tổng Thống Thiệu.

Ðể kết luận, người ta có thể mượn lời thú nhận của Kissinger tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ năm trước trong cuộc thảo luận về kinh nghiệm đã qua, ông nói Việt Nam Cộng Hòa mất về tay cộng sản Hà Nội là do lỗi lầm của Hoa Kỳ. Lời thú tội muộn màng của con người xảo quyệt, đã từng khuyến dụ các ông Ðại Sứ Bùi Diễm, Trần Kim Phượng, Vương Văn Bắc là các ông nên “tự tin” phải xem kết quả này là một “thắng lợi” của các ông!

Mặt khác trong tập hồi ký của cố Tổng Thống Richard Nixon, ông viết rằng, khi thấy đoàn người Việt Nam di tản ngơ ngác trước cảnh lạ quê người, ông thầm nghĩ nếu ông còn tại chức sẽ không có cảnh tượng đáng thương nầy. Lòng trắc ẩn thật hay lương tâm bất ổn vì những quyết định tàn nhẫn của chính mình?
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Mời quý NT & quý Bạn đọc thư của một người trẻ ở CHLB Đức
gởi cho MC Nguyễn Ngọc Ngạn

Kính thưa Chú Nguyễn Ngọc Ngạn…

Cháu là Fan bất đắc dĩ của Chú, bất đắc dĩ là bởi vì sau một ngày làm việc mệt nhọc Mẹ của cháu ưa thích ngồi trong góc phòng khách để xem phim Việt Nam: Asia, Paris By Night, Vân Sơn... Thương nỗi đơn độc, nhớ nhà của Mẹ ở xứ người, cháu cố gắng dành thì giờ coi chung cho Mẹ vui, nhờ vậy mà cháu giỏi tiếng Việt, yêu thương quê mình hơn và cũng biết chú MC Nguyễn Ngọc Ngạn.

Cách đây hai ngày Mẹ cho cháu coi đoạn Video phỏng vấn Chú do cô Hoàng Anh thực hiện, đến đoạn Chú Ngạn xin lỗi cô Hoàng Anh và giới trẻ, cháu khoái qúa muốn cười, nhưng Mẹ cháu bảo: "Chú Ngạn có tài soạn kịch và diễn kịch", riêng Bà Nội cháu thì bảo: "Chú Ngạn đạo đức giả".

Cháu rất shock trước những phản ứng gắt gao của Bà và Mẹ.

Tối hôm đó cháu thức khuya coi đi coi lại, và hôm nay viết thư này bày tỏ ý tưỏng của mình với Chú:

Thứ 1: Cháu phục sự nhận xét nói trên cuả Mẹ, người ta coi thì biết là dàn cảnh đó Chú Ngạn.

Thứ 2: Cuộc phỏng vấn nói về đề tài 30 tháng tư của Dân Tộc mình mà cháu có cảm tường như Chú Ngạn là người ngọai quốc nào đó đang nói chuyện bàng quan của người khác chứ không phải là Ngày Quốc Hận của mình, Ngày Đại Tang của Dân Tộc.

Thưa Chú Ngạn, ngày đó cũng là Ngày Đại Tang của gia đình cháu, vì trong những ngày hấp hối của Miền Nam Việt Nam, Ba của cháu cũng là Chiến hữu của Chú đã hy sinh nằm xuống để bảo vệ lý tưởng của một Quân Nhân: Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm.

Chú bảo long weekend cũng không đúng, vì ngày đó xứ Đức của cháu người ta phải đi làm, đi học.

Thứ 3: Những lời Chú nói trong cuôc PV Cháu có cảm tưởng như Chú rành rọt, nghiên cứu và quảng cáo cho cơ quan của CS hơi nhiều, vì Chú đã nhắc đi nhắc lại.

Thứ 4: Chú bảo không xài internet, và cho rằng Internet là Rác. Cháu ngạc nhiên và khâm phục Chú quá chừng, một người không xài Internet mà sao chuyện gì Chú cũng biết, chuyện trên trời dưới đất, biết hơn cả người xài Internet chuyên nghiệp .

Còn chuyện Rác thì theo cháu nghĩ cũng do mình, nếu mình lấy tâm hồn Rác mà xử dụng Internet thì mình trở thành người xấu, còn nếu mình có ý tưởng xử dụng Internet để học hỏi cầu tiến để vươn lên thì chắc chắn sẽ hữu dụng vô cùng đó Chú Ngạn ạ.

Thứ 5: cháu nhận xét Chú Ngạn đã có lòng từ bi, bác ái không đúng chỗ khi Chú thương và tiếc những bầu show phải chịu tốn kém bỏ show 30 Tháng Tư, chú cũng dư biết họ cũng làm bussiness mà, họ chỉ biết tiền và đâu có nghĩ đến nỗi tang thương của người khác, ngoài ra có người là đại gia đó Chú Ngạn à.

Khi coi đến đoạn này cháu tự hỏi: Tại sao Chú Ngạn không nói một lời thương tiếc những Chiến Sỹ Viêt Nam Cộng Hoà đã hy sinh nằm xuồng để cho Chú được có đời sống Tự Do Dân Chủ An Lành ở Miền Nam Việt Nam kể từ khi Chú di cư lánh nạn Cộng sản vào năm 1954?

Tại sao chú không một lời thương tiếc cho những đồng bào ruột thịt cuả mình đã chết bởi ngày 30 Tháng Tư 1975 ở Quê Nhà, trong đó có Chiến Hữu, đồng nghiệp và Thím Ngạn cùng con trai của Chú?.

Tại sao chú không thương tiếc bao người Phụ Nữ Việt Nam bị hải tặc hãm hiếp, mang đi mất tích hoặc bán cho động mãi dâm, có người đã trở thành điên loạn mà cháu đã gặp trong các bịnh viện tâm thần ở khắp nơi?.

Tại sao Chú không thương tiếc cho những những tù nhân lương tâm hiện nay vẫn bị tù tội, và thực tế nhất có nhiều thanh niên trẻ tuổi ở Quê Nhà như cháu ăn chưa no lo chưa tới nhưng muốn bày tỏ lòng yêu nước đã bị giam cầm, đánh đập tra khảo coi như đã mất hẳn tương lai?

Tại sao và tại sao (??) cháu hoàn toàn không hiểu ra đó Chú Ngạn à!

Thưa Chú Ngạn, bà Nội của cháu dạy rằng: Lòng Từ bi , bác ái không đúng chỗ sẽ bị lợi dụng, làm thiệt thòi và làm gương xấu cho người khác.

Thứ 6: Mẹ cháu nói chú Ngạn có tinh thần vọng ngoại, không trung thực khi phê bình về Văn hoá Việt-Nam, vô tình Chú đã bôi bác Cội Nguồn Dân Tộc trước người trẻ như chị Hoàng Anh và chúng cháu mà đáng lẽ ra chú Ngạn phải khuyên nhủ chúng cháu nên có một tấm lòng Tri Ân.

Thực tế trước mắt là nhờ có Văn hoá Việt Nam nên Chú Ngạn có thể làm MC để kiếm cơm thoải mái ở xứ người, trở nên giàu có, được nhiều người mến mộ, riêng cháu thì rất hãnh diện nhờ Văn Hoá Việt Nam đã trở thành một thanh niên hữu dụng ở đất nước tạm dung này.


Thứ 7: Bà nội cháu muốn nhắc với Chú rằng: Ngày xưa khi chúng ta liều chết bỏ Quê hương ra đi vượt biên vượt biển, chúng ta bị lăng nhục là ma cô, đĩ điếm, ngày nay thì Việt kiều yêu nước, khúc ruột ngàn dặm. Xin Chú đừng tin vào những lời ve vãn đó bởi vì với bản chất "vắt chanh bỏ vỏ" cộng sản chỉ xử dụng người trong một thời gian nào đó lúc cần.


Ở trong nước có biết bao Bà Mẹ liệt sỹ, đảng viên có công với cách mạng, khi hết xài họ sa thải, tịch thu nhà cửa, "xử lý" không thương tiếc như Dân Oan đầy đường đó Chú Ngạn à, rồi đến vụ chùa Bát Nhã Lâm Đồng của Thiền sư Nhất Hạnh mà ai cũng biết là từng ủng hộ cộng sản, rồi đến ông Tướng tàu bay, lúc sống quay lưng với nỗi đau của đồng bào, quay lưng với vận mạng nguy vong của dân tộc, ông ấy đã hạ mình hoà hợp hòa giải, và sau khi chết chỉ một nắm tro tàn cũng không được công sản cho phép an nghỉ ở Quê hương.

Thứ 8: Mẹ cháu có nhận định rằng: Trong cuộc phỏng vấn thay vì Chú nói một lời cảm thông với khán giả, là một nhà Mô Phạm, Chú Ngạn đã thiếu tinh thần phục thiện, thiếu tinh thần "Tiên trách hỷ, hậu trách bỉ" lại còn coi thường khán giả và lên tiếng dạy đời những người đóng góp dù rằng không được nhẹ nhàng, chú Ngạn với lòng tự hào là nhà giáo, nhà làm Văn hóa và với sự ăn nói lưu loát của nghề MC, Chú đã biểu diễn một màn xin lỗi cô Hoàng Anh và giới trẻ chúng cháu về khuyết điểm không đáng của người khác.

Dựa trên cách xử sự này thì cháu nghĩ rằng Chú Ngạn cũng đã nợ tuổi trẻ Việt Nam chúng cháu một lời xin lỗi, vì Chú Ngạn đã quên câu UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN.

Kính,

Trần Hưng Quốc
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Sợ vợ – lợi hay hại
Nguyễn Nhật Ánh

Phàm ở đời, không nhất thiết người chồng nào cũng sợ vợ. Nhưng thôi, chúng ta chẳng nhắc đến bọn người vô lương tâm, chỉ nhìn vợ bằng nửa con mắt đó làm gì. Ta chỉ nói đến chúng ta thôi, những người chồng luôn luôn nhìn đắm đuối vợ mình bằng hai con mắt đầy đủ. Và hai con mắt đó lúc nào cũng ánh lên vẻ tha thiết biết lỗi khi vợ cật vấn bằng một giọng nanh nọc: “Sao, đi đâu mà giờ này anh mới vác mặt về?”. Tất nhiên là ta biết ta đi đâu . Những người chồng đứng đắn như chúng ta thì chẳng bao giờ về trễ vì một lý do bậy bạ . Rõ ràng là ta đi họp về muộn. Nhưng lẽ nào lại nói điều đó ra khi vợ mình đang giận. Nói ra, có nghĩa là ta thét vào mặt vợ: “Cô là kẻ chuyên nghi ngờ bậy bạ, không hề biết tí gì về công việc của tôi!”. Ôi, lẽ nào ta lại nhẫn tâm đến như thế! Và nếu ta lỡ mồm nói ra, vợ ta cảm thấy bị mất mặt, nổi cơn lôi đình lên thì sao? Tai họa ai chịu? Thì còn ai nữa ngoài đôi tai sưng tấy lên vì bị véo của chúng ta, những người quen chịu trận. Vì vậy, lỡ rơi vào tình huống nan giải đó, tốt nhất là chúng ta im lặng ra vẻ biết lỗi . Chẳng có gì xấu hổ hết! Ông cha ta chẳng đã nói “Im lặng là vàng” sau bao năm quen nhẫn nại trước các bà, các mẹ của ta đó sao!

Vâng, ta im lặng và âm thầm xuống bếp, lục cơm nguội ra ăn, bởi vì sẽ chẳng có cô vợ giàu nguyên tắc nào lại đợi cơm khi chồng về muộn. Vả lại, vợ ta đã đứng chờ ngồi đợi mỏi mòn con mắt vì ta rồi, lẽ nào ta còn hành hạ cô ta nữa . Những người chồng biết điều hãy cùng ta lặng lẽ xuống bếp xới cơm ăn một mình, vừa ăn vừa gặm nhấm khuyết điểm của mình.

Ăn xong thì hãy lo mà rửa chén, không phải cái chén ta vừa ăn mà cả một đống chén ngỗn nghện từ sáng tới giờ. Gặp thằng chồng khốn nạn thì chắc chắn nó sẽ mặt nhăn mày nhó, nhưng ta thì không, thậm chí ta còn nở một nụ cười hạnh phúc. Bởi vì ta đã quen những thử thách này rồi. Từ hồi lấy nhau đến giờ, ngày nào cũng thế, vợ ta cứ sợ ta bớt yêu nàng nên luôn luôn tạo điều kiện cho ta chứng minh tình cảm trước sau như một của mình. Cái đống chén này là một ví dụ . Vợ ta cứ tưởng ta không biết nên thử thách ta hoài! Ta xắn gối ngồi xuống (bởi ta đã kịp thay đồ đâu!), tay cầm nùi giẻ lên mà trong lòng cứ tội nghiệp vợ: Ôi, nàng phải nhọc lòng thử thách ta biết bao, chứng tỏ nàng yêu ta lắm! Một người chồng mẫu mực phải biết cách rửa chén không gây tiếng động. Lúc này im lặng vẫn cứ còn là vàng! Bởi lúc ta ngồi rửa chén thì vợ ta đang ngủ. Nàng không đủ sắt đá để chứng kiến sự thử thách của mình và vì không nỡ nhìn chồng cặm cụi ngồi rửa một núi chén nên nàng đành phải đi ngủ. Và vì vợ ta đi ngủ, ta phải rửa chén bát êm thắm, lặng lẽ như một nghệ sĩ kịch câm chính cống. Dù sao thì trong chuyện này, tay nghề ta cũng cao lắm rồi . Bình tĩnh nhé, đừng sẩy tay! Ta dặn ta như thế, bởi vì một tiếng động vang lên vào lúc này có khác gì một quả bom nguyên tử nổ. Ai sẽ bảo vệ ta trước cơn thịnh nộ chính đáng của vợ? Không ai cả! Và cái tai tội nghiệp của ta một lần nữa lại chứng minh rằng “tai không chỉ dùng để nghe mà còn dùng để cho người khác trút sự phẫn nộ”.

Rửa chén bát, úp vào chạn xong, ta nhón gót đi lên nhà trên, nhón gót thay đồ, nhón gót đi … vệ sinh và cuối cùng nhón gót mò vào giường. Ô kìa, vợ ta đâu rồi ? Cô ta không có trong giường! Sau một thoáng bất ngờ, ta giận tím cả mặt. Không phải giận vì đêm nay ta lại ngủ một mình mà giận vì ta biết cô ta ở đâu rồi! Cô ta chơi bài tứ sắc ở nhà bên cạnh, các ông bạn đứng đắn của ta ạ! Đêm nào cũng thế, cô ta lỉnh đi chơi bài suốt đêm, có khi một, hai giờ sáng mới về. Nhiều đồ đạc trong nhà đã bắt đầu biến mất một cách kỳ quặc mà ta chưa dám hỏi . Hừ, sớm muộn gì ta cũng hỏi thôi (tất nhiên là muộn)! Sức khỏe cô ta thì sa sút thấy rõ (tai ta độ rày ít đau hơn). Cái hại của cờ bạc rành rành như thế mà cứ đâm đầu vào . Ta là chồng, ta biết phải làm gì trong lúc này chứ! Thế là ta xăm xăm bước qua nhà hàng xóm quyết kêu vợ ta về, mắng nhiếc cho một trận nên thân! Cái gì chứ việc này thì rõ ràng ta đúng.

Ta ló đầu vào tìm kiếm. Kia, vợ ta kia rồi, cô ta đang xòe bài . Ta cố trấn tĩnh hắng giọng:
— Em ơi…!

— Anh làm cái trò gì đó?

Vợ ta lạnh lùng hỏi, đầu không quay lại . Tim ta tự dưng chơi điệu disco, mặc dù ta không thích nhạc trẻ. Đầu ta lỡ thò vào cửa, giờ không biết làm sao . Tự dưng rút ra mà không trả lời nghiêm chỉnh câu hỏi của vợ thì bất lịch sự quá. Mà để cái đầu trong nhà trong khi cái thân ngoài hiên thì coi không được.

Tự nhiên, ta giận ta ghê, đâm đầu vô đây chi không biết! Vợ ta giải trí một chút mà ta cũng quấy rầy, thật là đồ vô lương tâm! Cuối cùng, ta cũng nghĩ ra được một câu đáng điểm mười:

— Anh tính qua hỏi em cần tiền không, anh đưa thêm!

Tất nhiên là vợ ta không từ chối, sợ ta buồn. Còn ta thì dùng mấy trăm bạc mà chuộc được tính mạng, kể cũng hên! Thế là vợ ta ngồi thức bên đó, ta nằm thức bên đây. Cách nhau một bước, xa nhau nghìn trùng. Chuyện đó, đến nay vẫn còn!

Ta nhờ tài học vấn uyên bác nên sợ vợ cũng có dựa trên cơ sở lý luận, nay muốn tìm người trao đổi kinh nghiệm hầu nâng lên thành một học thuyết triết học.

Ta bắt chước Lỗ Tấn: “Liếc mắt coi khinh nghìn lực sĩ. Cúi đầu làm ngựa cho vợ ta”.

Lỗ Tấn nói là “trẻ con” nhưng không có “vợ ta” làm sao có “trẻ con”? Ta sợ vợ ta chứ có sợ vợ ai đâu mà xấu!

Cũng từ Lỗ Tấn ta suy ra: “Vợ nhờ chồng sợ mà thành hùm” (từ câu “Rừng nhờ người đi mà thành đường”). Nghe chí lý thay!

Ta vốn người hào kiệt, coi khinh nghìn lực sĩ, bình sinh chưa biết sợ ai, nhưng sở học lộn xộn nhớ lầm câu “nếu không có cái mình thích thì hãy thích cái mình có” thành câu “nếu không có cái mình sợ thì hãy sợ cái mình có”.

Gia tài ta chẳng có gì ngoài vợ nên từ đó đâm ra sợ vợ mà thành tật. Nay, tính can vợ bỏ bài bạc hoài mà không được

Ta lại ngẫm ra “nếu cứ sợ cái không đáng sợ ắt sẽ hại cái không đáng hại”.

Ôi, phải chăng vì yêu vợ mà ta hại vợ?

Hỡi các ông chồng đứng đắn giống như ta, hãy trả lời!

Sợ vợ, lợi hay hại ?
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Chửi cho sướng mồm?
Nghe ké ông Châu Đình An - tác giả bài hát “Đêm chôn dầu vượt biển” từng làm cả biển người khóc mỗi khi nghe Khánh Ly hát - “nói chuyện với bạn ở Việt Nam”, nhớ lõm bõm được vài câu “đầy ấn tượng”, như “Tôi không làm công việc chửi bới chế độ độc đảng. Tôi cũng không làm công việc nói theo trào lưu chống cộng cho sướng mồm.”, Chổi giật mình, ủa lâu nay mình “chửi bới CS” mà không biết mồm mình được sướng như ông An nói.

Mới bắt đầu đọc kinh “xét mình” xem có được “sướng mồm” khi chống cộng không, thì hình ảnh bà mất gà chửi đứa ăn trộm gà của bà nhảy vào. Trông bà chửi đứa ăn trộm, thấy bà chẳng có gì vẻ gì la sướng mồm cả, mà ngược lại thấy bà đau khổ nữa là khác. Mà chắc chắn là bà đau thật. Con gà của bà, công bà nuôi từ bé chíp chíp, lớn lên nhiều lúc bà thèm làm thịt ăn hay đem bán kiếm tiền để mua sắm chút lặt vặt, nhưng ráng nuôi thêm để nó đẻ trứng; nhà bà lại nghèo, con gà bà mất, có thể bà xem như là cái gia tài nhỏ của bà. Hành động chửi đứa ăn cắp của bà mất của vừa là phản xạ tự nhiên, vừa cố dụng ý tự vệ cảnh cáo bọn kê tặc và báo động cho mọi người biết để canh chừng, chứ không phải bà chửi cho sướng mồm. Nếu chửi mà sướng mồm thì mặt bà tươi rói lên, trông “hồ hởi phấn khởi” chứ không giận dữ, tức tối đến ứa gan lộn mật như ta thấy.

Bà mất gà đã mất của rồi còn mất công chửi. Bà chỉ chuốc thêm mệt cái thân, mỏi cái miệng chứ chẳng “sướng mồm” gì đâu. Những người bị mất đi nhiều thứ quý báu, lớn lao hơn con gà còn cay đắng gấp bội, là mất quyền làm người, mất gia sản, mất cả quê hương đất nước, thì Chổi thiển nghĩ cũng thông cảm cho họ khi họ chửi những đứa ăn cắp. Như bà mất gà, mồm họ cũng chả sung sướng gì đâu, nếu không nói là chỉ có mất thêm công súc miệng khi nhắc đến chúng. Chẳng qua cũng là cảnh chẳng đặng đừng, phải lên tiếng như một đòi hỏi của bổn phận và lương tri.

Nguyễn Bá Chổi
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »


Image

Có những mẹ con thời nay...


Tại trước khu chợ Phúc Lộc Thọ, CA, Phuc Jean cũng đã gặp một bà già Việt Nam lụ khụ ngả nón ăn mày. Không biết bà sang Mỹ đã lâu hay bây giờ mới qua? Tại sao bà lại phải ăn mày ở cái xứ người già có tiền welfare đàng hoàng? Ôi, vì sao? tại sao? làm sao?

Trong giờ lễ Chủ Nhật, tại nhà thờ Saint Columban, linh mục T. đã làm nhiều người nghe phải nhỏ lệ khi ông kể một câu chuyện về một người Mẹ đã nuôi cả mười đứa con thành công về tài chánh, đứa Bác Sĩ, đứa Kỹ Sư, Dược Sĩ, nhưng rồi cả mười đứa con ấy, không nuôi nổi một bà Mẹ già.

Đứa nào cũng có lý do để từ chối không muốn ở với Mẹ. Linh mục T. cũng kể lại lúc ông còn ở Chicago, có một lần trong thời tiết lạnh giá, đến thăm một bà Mẹ, thấy căn nhà rộng mông mênh, không có ai, vì hai vợ chồng đứa con đi làm cả. Điều ông quan tâm là thấy trong nhà rất lạnh, bà Mẹ phải mặc hai áo nhưng vẫn lạnh cóng. Ông có hỏi bà mẹ tại sao không mở máy sưởi, thì bà Mẹ cho biết là không dám mở vì sợ khi con đi làm về, sẽ càm ràm là “tốn tiền điện quá!” Những đứa con sang trọng kia, có thể chờ đến ngày Lễ Mẹ, thì đưa mẹ ra ăn tô phở, hoặc gọi điện thoại về nhà, nói: “I love you, mom!” Thế là đủ bổn phận của một đứa con thành công ở Mỹ đối với người mẹ yêu dấu của mình.

Những Bà Mẹ ở đây là hiện thân của Mẹ Việt Nam đau khổ, đã hy sinh cả cuộc đời cho con cái, nhưng khi con cái phụ rẫy, bỏ bê, cũng im lặng chấp nhận cho đến hết cuộc đời.

Có biết bao nhiêu trường hợp như thế trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại? Biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng tất cả những đau khổ từ khi lấy chồng, sinh con, rồi ráng nuôi dạy con nên người, sau đó lại chấp nhận những đứa con bất hiếu như một định mệnh mà không hề thốt lời than vãn?

Một bà mẹ đã dành dụm bao năm buôn gánh bán bưng để cho con vượt biên một mình, sau đó, khi qua đến Mỹ, thằng con sợ vợ quá, không dám để mẹ ngủ trong phòng, mà bảo mẹ phải ngủ dưới đất trong phòng khách. Một lần, con chó xù của hai vợ chồng đứng đái ngay vào đầu mẹ. Bà mẹ kêu lên, thì đứa con dâu cười, trong khi chồng đứng yên, chẳng dám nói gì.

Bà mẹ khác, không được ở chung với con trai, phải thuê một phòng của người bạn, vì sức khoẻ yếu, lúc nào cũng lo là chết không có ai chôn. Khi nghe nói về bảo hiểm nhân thọ, bà có năn nỉ thằng con trai đứng tên mua giùm, để bà bớt chút tiền già và đóng hàng tháng để mai sau, con có tiền lo hậu sự cho bà, nhưng đứa con dâu nhất định không chịu, cho rằng “tốn tiền vô ích, chết thì thiêu, liệng tro xuống biển là xong, chôn làm gì cho mất thời giờ đi chăm sóc.” Bà cụ uất quá, phát bệnh và qua đời. Không biết rồi bà có được chôn cất đàng hoàng theo ý muốn, hay lại bị cô con dâu vứt tro ra biển.

Không thiếu những bà mẹ khi đến thăm con trai, phải ngồi nhìn vợ chồng ăn uống ríu rít với nhau, vì con dâu không chịu dọn thêm một chén cơm mời mẹ. Một bà mẹ nhớ con nhớ cháu quá, đến thăm con, nhưng sợ con dâu sẽ nhiếc móc thằng chồng, nên vừa vào tới cửa đã vội thanh minh: “Mẹ không ăn cơm đâu! Mẹ vừa ăn phở xong, còn no đầy bụng. Mẹ chỉ đến cho thằng cháu nội món quà thôi!”

Không thiếu những bà mẹ vì lỡ đánh đổ một chút nước trên thảm mà bị con nhiếc móc tơi bời. “Trời đất ơi! Cái thảm của người ta cả vài ngàn bạc mà đánh đổ đánh tháo ra thế thì có chết không?” Có bà mẹ bị bệnh ung thư, biết là sắp chết, mong được con gái đưa về Việt Nam, nhưng con đổ thừa cho chồng không cho phép về, rồi biến mất tăm, sợ trách nhiệm. Mẹ phải nhờ người đưa ra phi trường, nhờ người dưng đi cùng chuyến bay chăm sóc cho đến khi về tới nhà. Từ lúc đó đến lúc mẹ mất, cả con gái lẫn con rể, cháu chắt cũng chẳng hề gọi điện thoại hỏi thăm một lần.

Một bà mẹ già trên 70 tuổi rồi, có thằng con trai thành công lẫy lừng, bốn năm căn nhà cho thuê, nhưng bà mẹ phải lụm cụm đi giữ trẻ, nói đúng ra là đi ở đợ vì phải lau nhà, rửa chén, nấu cơm, để có tiền tiêu vặt và để gộp với tiền già, đưa cả cho… con trai, một thanh niên ham vui, nhẩy nhót tung trời, hai, ba bà vợ. Mỗi khi gặp bà con, chưa cần hỏi, bà đã thanh minh: “Ấy, tôi ngồi không cũng chả biết làm gì, thôi thì đi làm cho nó qua ngày, kẻo ở nhà rộng quá, một mình buồn lắm!”

Trong một cuộc hội thoại, một bà mẹ đã khóc nức nở vì chỉ đứa con gái phụ rẫy, bỏ bà một mình cô đơn. Bà chỉ có một đứa con gái duy nhất, chồng chết trong trại cải tạo. Trong bao nhiêu năm, bà đã gồng gánh nuôi con, rồi cùng vượt biên với con, tưởng mang hạnh phúc cho hai mẹ con, ai ngờ cô con chờ đúng 18 tuổi là lẳng lặng xách vali ra đi. Nước mắt bà đã chảy cho chồng, nay lại chảy hết cho con.

Tại những nhà dưỡng lão gần trung tâm Thủ Đô Tị Nạn, có biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm ngóng con đến thăm nhưng vẫn biệt vô âm tín. Một bà cụ suốt ba năm dài, không bao giờ chịu bước xuống giường, vì biết rằng chẳng bao giờ có đứa con nào đến thăm. Bà đã lẳng lặng nằm suốt ngày trên giường như một sự trừng phạt chính mình vì đã thương yêu con cái quá sức để đến tình trạng bị bỏ bê như hiện tại. Sau ba năm, bà mất vì các vết lở, vì nỗi u uất, mà những người chăm sóc bà vẫn không biết gia cảnh bà như thế nào, vì bà không hề nhắc đến. Có điều chắc chắn là khi bà còn là một thiếu nữ, bà phải là một mẫu người làm cho nhiều người theo đuổi, quyến luyến, tôn sùng. Chắc chắn bà đã trải qua bao năm tháng thật tươi đẹp, vì cho đến khi mất, khuôn mặt bà, những ngón tay bà, và dáng dấp bà vẫn khoan thai, dịu dàng, pha một chút quý phái. Nhưng tất cả những bí ẩn đó đã được bà mang xuống mồ một cách trầm lặng.

Một buổi chiều tháng 5, tại một tiệm phở Việt Nam, một mẹ già đứng tần ngần bên cánh cửa. Khi được mời vào, mẹ cho biết mẹ không đói, nhưng chỉ muốn đứng nhìn những khuôn mặt vui vẻ, để nhớ đến con mình, đứa con đã bỏ bà đi tiểu bang khác, để mẹ ở với đứa cháu là một tên nghiện rượu, đã hăm doạ đánh mẹ hoài. Hắn đã lấy hết tiền trợ cấp của mẹ, lại còn xua đuổi mẹ như cùi hủi. Hôm nay, hắn lái xe chở mẹ đến đầu chợ, đẩy mẹ xuống và bảo mẹ cút đi! Mẹ biết đi đâu bây giờ?

Trong một căn phòng điều trị tại bệnh viện Ung Thư, một bà cụ đã gào lên nức nở khi người bệnh nằm bên được chuyển đi nơi khác. “Bà ơi! Bà bỏ tôi sao? Bà ơi! Đừng đi! Đừng bỏ tôi nằm một mình! Tôi sợ lắm, bà ơi!” Những tiếng kêu, tiếng khóc nấc nghẹn đó lặp đi lặp lại làm người bệnh sắp chuyển đi cũng khóc theo. Người y tá cũng khóc lặng lẽ. Anh con trai của người sắp đi xa, không cầm được giọt lệ, cũng đứng nức nở. Cả căn phòng như ngập nước mắt. Mầu trắng của những tấm trải giường, mầu trắng của tấm áo cánh của bà cụ như những tấm khăn liệm, tự nhiên sáng lên, buồn bã. Bà cụ nằm lại đó đã không có đứa con nào ở gần đây. Chúng đã mỗi đứa mỗi nơi, như những cánh chim không bao giờ trở lại.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Không thể gọi đó là người

Đỗ Thành Nhân
Theo dõi quá trình cưỡng chế đất đai ở Văn Giang và xem clip hai nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam bị đánh hội đồng một cách dã man khi tác nghiệp, thì có thể nói những kẻ tham gia đánh người một cách nhẫn tâm không thể gọi đó “là người” được. Đó là những… con vật, cùng nhảy vào cắn xé đồng loại khi thất thế.

Lịch sử hiện đại, các cuộc chiến tranh quy ước; dù cho trước đó hai bên căm thù nhau ngút trời, nhưng khi một bên thua bỏ súng đầu hàng; thì bên thắng vẫn đối xử với “kẻ địch” theo quy chế tù binh và cũng phải có sự tôn trọng nhất định.

Trên võ đài kể cả đấu tự do, dù hai võ sĩ trước đó thách đấu với lời lẽ đầy ngạo mạn, sẵn sàng ăn tươi nuốt sống, đè bẹp đối thủ. Nhưng khi một võ sĩ bị ngã, không có khả năng phòng vệ; võ sĩ đang ở thế thượng phong sẽ ngưng tấn công; có khi còn trực tiếp chăm sóc, dìu đối thủ đứng dậy.

Các “anh chị” giang hồ cũng không đánh người ngã ngựa, không đánh người không có khả năng tự vệ.

Một xã hội pháp quyền, một cơ quan thực thi pháp luật; những người thực thi pháp luật cùng đánh hội đồng những người thực thi nhiệm vụ được luật pháp cho phép, không có khả năng tự vệ; đánh một cách dã man, đánh theo bản năng (vì rõ ràng những người đánh và bị đánh không có thù hận gì trước đó). Thì đây không phải là những con người thực thi pháp luật, mà là những “con vật” có cơ hội bộc lộ bản năng.

Đó là những phóng viên, tại một điểm nóng đã được biết trước, may mắn được công luận biến đến; trên lãnh thổ này còn bao nhiêu người là nạn nhân của những vụ “cắn xé hội đồng” đành phải chấp nhận như là số phận. Khi lượng nhiều sẽ chuyến hóa thành chất, thì không ai có thể khẳng định đó chỉ là hiện tượng được !

Theo: danlambaovn.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ngày tàn của Bạo Chúa
Một trăm triệu người bị thiệt mạng: Đó là số nạn nhân trực tiếp của các chế độ Độc Tài Cộng Sản trên toàn thế giới. Con số những nạn nhân gián tiếp bị tổn hại về tinh thần và vật chất là không thể tính nổi. Ấy là chưa kể tại tất cả các quốc gia Độc tài Cộng Sản thì người dân phải gánh chịu muôn vàn bất công đau khổ, đất nước chìm đắm trong sự kìm kẹp và lừa mị dối gian. Từ Liên Xô đến Trung Hoa lục địa, từ Cu Ba đến Bắc Hàn và Việt Nam, số người là nạn nhân của những chế độ độc tài đã không ngừng gia tăng. Vì sự tàn bạo và phi nhân mà hệ thống các chế độ bạo tàn tại Liên Xô đã sụp đổ, mang lại sự hồi sinh cho nhân loại. Ngày nay chỉ còn sót lại mấy quốc gia Độc tài Cộng Sản, trong đó có đất nước Việt Nam chúng ta. Thế giới đã Văn minh tiến bộ, không còn chỗ cho sự tàn bạo dã man, vì vậy mà ngày tàn của Bạo Chúa đã điểm, cho dù chúng sụp đổ dưới bất kỳ hình thức nào.

Dù những kẻ cai trị độc tài có cố gắng tìm mọi phương thức để kéo dài sự tồn tại thì cũng không thể ngăn được bánh xe lịch sử. Đó là sự diệt vong tất yếu của thể chế độc tài chà đạp nhân phẩm con người, bóc lột và đàn áp nhân dân. Khi mà sự bất công ngang trái của xã hội đã lên tới đỉnh điểm, khi mà tội ác của chế độ Độc tài đã tràn đầy thì thời điểm tiêu vong của chúng đã cận kề. Vẫn còn chỗ cho họ sửa chữa và sám hối những sai lầm, bằng cách tuyên bố giải thể chế độ độc tài, trả lại chế độ tự do dân chủ cho người dân. Nếu nhà cầm quyền vẫn khăng khăng bảo thủ, cố bám giữ lấy quyền lực sai trái thì sẽ bị nhân dân nổi lên lật đổ, và đó là kết cục thích đáng cho những tên bạo chúa.

Trên đất nước Việt Nam chúng ta, con số những người dân oan là nạn nhân của hệ thống Tư Pháp tay sai nhà nước nhiều không tính xuể. Họ là nạn nhân của một chế độ cướp bóc vô pháp luật. Hàng triệu người bị mất đất, mất nhà do nạn cướp bóc và cưỡng chiếm trắng trợn của nhà nước. Máu và nước mắt đã đổ cho nổi thống khổ bất tận của người dân. Bất kỳ sự phản đối dưới mọi hình thức của người dân đều bị đàn áp thô bạo, nhẹ thì bị quy cho tội danh “Gây rối trật tự công cộng”, nặng thì bị quy cho là phản động với những tội danh “Âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân”, “Tuyên truyền chống phá nhà nước XHCN”, và kết cục là họ bị bỏ tù. Trước bão giông sẽ nổi cơn sấm dậy, những sự kiện Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, Thái Hà, Cồn Dầu, Mỹ Đức ...gần đây đã nói lên điều đó. Như những tiếng sấm báo hiệu cơn giông, báo hiệu của sự nổi dậy ở phạm vi toàn cục của nhân dân để lật đổ chế độ cướp bóc phi nhân.

Khắp thôn cùng ngõ xóm hay phố phường chật hẹp, đâu đâu cũng thấm đẫm những giọt máu và nước mắt của người dân. Với một chế độ Độc tài toàn trị, công an ỷ thế đánh chết người một cách ngang nhiên. Họ đánh chết người trong khi đang thi hành công vụ, triệu tập người dân đến đồn Công an rồi đánh chết họ, rồi gọi người nhà đến nhận xác – nói là người đó đã tự tử. Họ đánh chết người trong tù và đánh chết người trong khi say rượu. Tất cả những hành động đó đều được nhà nước bao che và không bị pháp luật Xã hội chủ nghĩa trừng trị, chỉ thấy nước mắt uất nghẹn của người dân chảy thành suối thành sông. Máu người nông dân đã đổ trong những vụ cưỡng chiếm đất đai, mồ hôi công sức đã bị đánh cướp một cách ngang nhiên. Máu đã đổ trong những vụ đình công, bãi công của công nhân. Tất cả những nổi oan khuất của người dân không được các cơ quan công quyền hay hệ thống Tư Pháp để ý, hệ thống này chỉ lo bảo vệ cho sự trường tồn của chế độ để có chỗ mà cướp bóc nhân dân.

Người dân Việt Nam bị cả một hệ thống mạng nhện của bộ máy nhà nước Độc Tài kìm kẹp, bóc lột và giám sát. Họ được giáo dục và ép buộc phải phục tùng Đảng và Bác Hồ, phải hy sinh những lợi ích bản thân để xây dựng chủ nghĩa xã hội? Họ phải chịu bao tủi nhục và bất công để cho Đảng được quang vinh và Bác Hồ vĩ đại. Mọi hành động đòi quyền lợi hợp pháp và công lý của người dân Việt Nam đồng nghĩa với việc chống Đảng và Bác Hồ. Nếu người dân cam chịu làm nô lệ, để yên cho bộ máy nhà nước Độc Tài cướp bóc và tham nhũng thì trở thành người công dân kiểu mẫu.

Biết bao những trí thức yêu nước chỉ vì muốn có tự do dân chủ cho đất nước mà phải ngồi tù. Những Linh mục và nhà sư đáng kính bị giam cầm và đánh đập chỉ vì đòi tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền. Những người dân biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược biển đảo để bảo vệ chủ quyền đất nước thì bị đàn áp và bỏ tù? Tự do, dân chủ của chế độ Cộng Sản là như vậy sao?

Danh dự và nhân phẩm bị chà đạp, đức tin bị bách hại, tài sản và đất đai bị cướp bóc mà không được lên tiếng phản đối ư? Thử hỏi dưới gầm trời này có chỗ nào như vậy hay không? Ngoại trừ thiên đường Cộng Sản của Đảng và Bác Hồ? Các quyền cơ bản của con người bị cướp mất, tự do bị cầm tù, mà người dân Việt Nam cũng phải biết ơn Đảng và Bác Hồ sao?

Máu đã đổ trên những cánh đồng, bên trong các nhà máy và nhà tù. Máu vương trên Thập Tự Giá Thiên Chúa và Tòa Sen Đức Phật. Chế độ Độc tài khát máu này đã đàn áp không còn thương xót một ai trên con đường tiến tới mục tiêu toàn trị. Mọi sự chịu đựng của con người đều có giới hạn, toàn thể người dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước hãy đồng loạt nổi dậy để lật đổ chế độ Độc Tài, giành lại tự do và sự sống cho mình. Ngày tàn của Bạo Chúa đã đến, giờ khắc tận cùng của thế lực đen tối thống trị đất nước ta mấy mươi năm qua nay đã điểm!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Trăng là gì ???
(Câu chuyện SaiGon.....)

Gia đình tôi với gia đình “hắn” là chỗ thân tình. Cách đây khoảng chục năm, nhân dịp tôi đến khám mắt tại bệnh viện hắn làm việc, hắn say sưa khoe với tôi về nguồn thu nhập hậu hĩnh kiếm thêm từ việc khám và giải phẫu mắt ngoài giờ của mình. Bất ngờ, tôi đặt ra một câu hỏi, chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện hắn say sưa: “Có bao giờ ông dành thời gian ngắm trăng với vợ, con không? Đến lượt tôi bất ngờ vì câu trả lời của hắn: “Trăng là gì?”.

Về nghề nghiệp hắn là bậc cao thủ trong làng chuyên khoa mắt của Sài Gòn. Bệnh nhân của hắn thuộc loại “thứ dữ”. Hắn có nhiều mối quan hệ xã hội “có số, có má”. Do vậy đồng nghiệp và Ban giám đốc bệnh viện, nơi hắn làm việc, nể hắn một phép. Tên tuổi của hắn đã giúp bệnh viện ăn nên làm ra, chuyên khoa mắt lúc nào cũng chật cứng người chờ đợi. Ai muốn được hắn trực tiếp khám và mổ, phải đăng ký trước, rất lâu. Số tiền chi ra cho những lần khám hoặc mổ đó, so với mặt bằng giá ở các bệnh viện khác, cao hơn rất nhiều. Thế nhưng lịch khám của hắn lúc nào cũng dày đặc. Người ta nói với nhau, “được bác sĩ (hắn) đụng tay vào thì dù mắt đang không thấy đường cũng sáng lại”.

Hồi còn đi học phổ thông, tôi với hắn ở chung một quận, quận Nhì. Hồi Việt Cộng vô, khu vực này sát nhập vào quận Nhất. Tôi với hắn bằng tuổi nhau, nhưng hắn sanh sau tôi tám tháng, vì vậy sau này khi hắn lập gia đình và có con, hắn dạy tụi nhỏ gọi tôi bằng bác, bác gái. Nhưng trong giao tiếp hắn gọi tôi bằng “bà”, tôi gọi hắn bằng “ông” và chúng tôi xưng “tui” với nhau.

Tôi quen hắn và vợ hắn lúc chúng tôi cùng sinh hoạt trong Ban liên lạc học sinh cùng lớp, hắn làm trưởng ban, tôi làm phó ban, vợ hắn (lúc bấy giờ nó chưa quen) là một trong những thành viên. Sáng thứ bảy nào Ban liên lạc của chúng tôi cũng gặp nhau tại một nhà hàng cà phê trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba. Chủ nhà hàng này cũng là thành viên trong Ban liên lạc, nhờ vậy chúng tôi ăn uống ít khi phải trả tiền, nếu trả cũng chỉ là tượng trưng.

Cô gái (mà sau này là vợ hắn) đẹp một cách mong manh, vì vậy chúng tôi đặt tên là “cô gái mong manh”. Cô là con gái duy nhất của một gia đình công chức thường thường bậc trung, nhà ở quận Nhất. Cô gái hay đi họp Ban liên lạc bằng cách ngồi trên chiếc xích lô đạp cho người ta chở, thân mình lúc nào cũng diện bộ áo dài lụa màu nhạt, lung linh như mây khói (cho tăng thêm phần mong manh?). Gái Sài Gòn chúng tôi có thói quen đi lại trên chiếc xích lô (5 năm sau ngày giải phóng vẫn giữ thói quen này). Khi ngồi trên xe chúng tôi chú ý giữ cho người thẳng bằng cách lưng không tựa vào thành ghế, tóc buông xõa và tay không giữ tà áo, cố ý để gió luồn vào thổi tung bay. Hình ảnh ấy góp phần làm phố xá mỹ miều. Tại sao gái Sài Gòn không đi bộ hoặc đạp xe đi học như quý cô nương khác trên cả nước? Có lẽ do diện tích Sài Gòn rộng, đi bộ không tới, đi xe đạp ngại mỏi chân. Nhưng còn một lý do tế nhị khác mà chỉ có gái Sài Gòn mới hiểu, ngồi xe xích lô cho người ta chở mới là tiểu thư chính hiệu!

Hắn là con của ông bà chủ hãng xuất nhập khẩu. Nhà hắn có ba anh em trai, cả ba học cùng trường với chúng tôi, chỉ có lớp là khác. Khi đi học, ba anh em hắn có tài xế đưa đón, học xong là về nhà, không la cà phố xá. Những lần hắn tổ chức sinh nhật mời Ban liên lạc tới nhà, tôi thấy gia đình hắn, nhất là bà má, nề nếp qui củ lắm. Trong lớp, chúng tôi bầu hắn làm lớp trưởng vì hắn uy tín, học giỏi và tác phong nghiêm túc. Trong sinh hoạt tập thể hắn luôn là ngọn cờ dẫn dắt chúng tôi. Về ngoại hình thì khỏi chê, chúng tôi hay gọi hắn là “Alain Delon” (tài tử lừng danh của Pháp thời1950-1980) nhưng nếu muốn hắn nổi sung thì thêm chữ “beng” (A len đờ lông beng) đằng sau nữa. Nhiều tiểu thư nhà giàu đạt danh hiệu hoa khôi trường này trường khác mết hắn lắm, nhưng hắn chẳng thèm để ý đến cô nào.

Tới giờ tôi cũng không sao nhớ ra, bằng cách nào cô gái mong manh “lọt” được vào Ban liên lạc của lớp, nơi quy tụ những người “xuất chúng”. Về sắc diện, hình thức, học lực, tài vặt, thành phần xã hội, so với những tiểu thư trong trường, cô thuộc loại trung bình. Về công việc tập thể, Ban liên lạc giao cô phụ trách, cô thực hiện lúc được, lúc không. Nói chung, ngoài cái khoản mong manh làm người ta động lòng, còn thì cô chẳng tạo được một dấu ấn gì cho Ban liên lạc ghi nhớ sự hiện diện của cô. Thế mà đùng một cái chúng tôi thấy cô gái không đi họp bằng xe xích lô nữa mà ngồi trên chiếc xe Vespa Sprint màu xanh da trời, loại 150 phân khối do hắn chở. Thời đó, chỉ có công tử nhà giàu mới sắm nổi chiếc xe hách xì xằng như vậy. Chẳng bao lâu sau Ban liên lạc nhận được thiệp hồng. Ngày hai người cưới nhau tôi thấy hạnh phúc đầy tràn trong mắt tân lang và giai nhân. Khách tới dự tiệc cưới chúc vợ chồng hắn trăm năm hạnh phúc; tôi nghĩ, phải chúc ngàn năm hạnh phúc mới xứng. Thế mà, chỉ hơn hai mươi năm sau đó, vợ chồng hắn rẽ thúy chia uyên.

Lần gặp khoảng chục năm trước, mặc cho bệnh nhân chờ, hắn luôn miệng kể lể với tôi, đã có với cô gái mong manh hai mặt con, một trai một gái, cả hai theo nghề của cha, học chuyên khoa mắt bên Mỹ. Hắn nói, “Tụi nhỏ đứa nào cũng đẹp, học giỏi, thông minh, tụi Tây mết lắm, giống tui ngày xưa vậy”; nói xong hắn cười sang sảng. Tôi hỏi: “Cuộc sống của ông bây giờ thế nào?”. Chỉ chờ có vậy hắn huyên thuyên: “Sáng trước khi tới bệnh viện (Nhà nước), tui mổ hai ca, nếu mổ một con mắt thì hai mươi triệu, nếu mổ hai con mắt thì bốn mươi triệu, sau đó mới đi làm; trưa, tui tranh thủ làm một hoặc hai ca nữa; chiều, khám bệnh ngoài giờ ở dưỡng đường do tui làm chủ, đến tối mịt mới về nhà”.

Còn bà xã thì sao? Tôi hỏi tiếp, hắn trả lời: “Tui xây cho bà ba cái dưỡng đường, mổ xong, tui chuyển cho bả chăm sóc. Chưa kể tiền thuốc, khám sau mổ, chỉ tiền phòng không thôi bà cũng thu được năm triệu một người/ngày. Bả bây giờ trẻ, đẹp hơn xưa. Đó là nhờ tui cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa. Mỗi ngày bà chỉ có việc ngồi trên chiếc xe đời mới nhất (xe cũ tui thay liền) cho tài xế lái đi từ dưỡng đường này qua dưỡng đường khác, xem sổ sách, thu tiền, là hết việc. Chung quanh bả lúc nào cũng có hàng chục người hầu hạ, sung sướng như bà hoàng”.
Đúng đoạn hào hứng này tôi hỏi hắn “chuyện ngắm trăng”. Và tôi nhận được câu hỏi lại của hắn “Trăng là gì?”, kèm theo một nụ cười ngạo nghễ.
……
Hôm rồi cửa sổ tâm hồn của tôi lại trở chứng, nhìn xa bị mờ, nhìn gần mờ hơn nhìn xa. Thấy vậy, bạn bè người khuyên đi mổ, người can ngăn. Tôi chợt nhớ đến hắn, liền đến gặp, tôi cần ở hắn một lời khuyên.
Lần gặp lại này, nếu hắn không chủ động chào tôi trước, tôi sẽ không nhận ra. Trước mắt tôi là ông bác sĩ già khọm, tóc bạc trắng, mặt buồn rười rượi, nước da tối sạm. Đâu mất rồi một ông bạn có gương mặt phơi phới, hình thức lịch lãm và nụ cười ngạo nghễ? Thấy vậy tôi quên mất mục đích đến là để khám mắt, vội hỏi, “Làm ăn thất bát hả?”. Hắn im lặng rất lâu rồi nói một câu chẳng ăn nhập gì đến câu tôi hỏi: “Cô gái mong manh đã bỏ tôi đi lấy chồng khác rồi! Bỏ vội vã đến nỗi không thèm chia gia tài bà ạ”. Tôi giật mình: “Bỏ luôn ba cái dưỡng đường to đùng sao?”. Hắn nghẹn ngào: “Ừ, bỏ luôn, thế mới điên”.

Tôi nhẹ nhàng ngồi bên cạnh, cầm tay hắn, im lặng. Hắn bắt đầu chia sẻ: “Bà có nhớ cái thằng cù lần trong lớp mình không? Cái thằng hâm hâm đi học bằng chiếc Mô bi lết (Mobylette) cà tàng, con của ông già sửa xe đầu đường gần trường tụi mình học đó”. Hắn nói tiếp, mắt hắn như có nước: “Thằng đó coi vậy mà học giỏi, tụi mình không nhằm gì với nó đâu, bây giờ nó làm giáo sư của một số trường Đại học. Nghe nói, tình duyên nó trục trặc sao đó (không chừng hồi nhỏ nó thương thầm vợ tui à nghen) nó ở vậy luôn cho đến giờ. Hôm rồi làm thủ tục ly dị với tui xong, bả kết hôn với nó liền. Thằng đó nghèo rớt mồng tơi, lương thầy giáo nuôi bả gì nổi. Hiện nay bả phải nhận may quần áo thêm cho khách, hai người mới đủ sống. Vậy mà gặp lại tui mặt bả tươi rói, chưa bao giờ ở với tui mà mặt bả tươi rói như vậy”. Rồi hắn nói, như nói với chính mình: “Đàn bà nhiều người kỳ cục lắm, chồng cung phụng cho đủ thứ, nuông chìu hết mực mà vẫn đành lòng bỏ đi lấy người không bằng một góc của chồng mình. Thật không thể hiểu nổi…”.

Chờ hắn vơi bớt nỗi ấm ức tôi hỏi thăm hai đứa nhỏ. Tôi nghe từ hắn một giọng thiểu não hơn: “Tưởng hai đứa nối nghiệp cha, ngờ đâu, từ lâu tụi nó đã chuyển qua học nghề khác, đứa học thiết kế thời trang, đứa học phóng viên báo chí. Đã thế tui gọi về để giao tài sản mà chẳng đứa nào chịu về. Tụi nó nói “Ba mê tài sản hơn má và chúng con thì ba cứ giữ lấy”. Tôi động lòng thương cảm, hỏi: “Bây giờ ông sống như thế nào?”. Hắn nói, “Tui ở luôn trong bệnh viện, về nhà ở một mình, buồn lắm”. Không thể không hỏi thêm: “Thế căn nhà lớn ở quận Nhất và ba cái dưỡng đường ai ở, ai trông coi?”. Hắn nói, giọng nhẹ như gió thoảng: “Lâu lắm rồi tui chẳng ghé về nhà, còn ba cái dưỡng đường đang treo bảng bán hoặc cho thuê”. Thói quen nghề nghiệp, tôi đánh giá: “Ba cái dưỡng đường đó, bán cũng bộn tiền ông ạ”. Hắn ngẩng lên nhìn tôi, mắt hắn sâu thăm thẳm: “Của đó vô thường lắm, không có thật đâu bà”.

Giá mà, mười năm trước hắn nhận ra sự vô thường đó thì đoạn kết của đời hắn đâu đến nỗi buồn như bây giờ?
Tự nhiên tôi nhớ gương mặt phơi phới với nụ cười ngạo nghễ khi hắn hỏi ngược lại tôi “Trăng là gì?”.
Trăng là gì ư? Trăng là ly nước mát của vợ trao tận tay mà hắn quên uống. Trăng là cái bình hoa vợ chăm chút cắm mong chồng để mắt tới, thế mà hắn đành lòng không màng. Trăng là tiếng cười reo của hai đứa con đón hắn sau những giờ làm việc nhưng vì mệt, hắn đã cằn nhằn, quạu quọ. Trăng là những bữa cơm nóng mà khi hắn về thì đã nguội lạnh, rồi cả nhà nhịn ăn theo hắn.
Trăng còn là cái nắm tay âu yếm mà từ rất lâu hắn quên trao cho vợ. Trăng còn là những đêm vì sợ con lạnh, hắn rón rén bước qua phòng kéo mền đắp cho con mà sau này vì mệt mỏi, ngủ vùi, hắn quên. Trăng còn là tất cả những mây và gió, những hương và hoa trong cuộc sống mà do tâm không an, thân không lạc cho nên hắn không thể cảm nhận được.
Trăng là gì nữa? Là người vợ đã bỏ chồng giàu đi lấy chồng nghèo; là những đứa con thà kiếm tiền từ sức lao động và trí tuệ của mình chớ không nhận tài sản của người cha để lại. Trăng còn là kết cục của đời hắn, bỏ mặc căn nhà lớn ở quận Nhất và đóng cửa ba cái dưỡng đường to đùng vào ở trong bệnh viện vì, ở một mình buồn lắm.

Những người chồng bận rộn ơi, nhớ dành thời gian ngắm trăng với vợ và con, đừng để trăng lặn mất, rồi tiếc như hắn, bạn của tôi./.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Image

TÌNH BẠN TRONG ĐỜI

Dù đã sẵn sàng hay còn chưa chuẩn bị, nhưng rồi một ngày kia, chúng ta cũng phải chia tay thế giới này.

Sẽ chẳng còn ánh mặt trời chói chang chào đón, sẽ chẳng còn một ngày mới bắt đầu bằng giọt nắng trong vắt của buổi bình minh.

Sẽ không còn nữa những ngày xuân hiền hòa, ấm áp.

Tiền bạc, danh vọng, quyền lực,… tất cả với ta cuối cùng cũng sẽ trở thành vô nghĩa. Còn ý nghĩa chăng là những gì ta tạo ra đối với thế giới này.

Vậy điều gì là thật sự quan trọng lưu lại dấu ấn của ta trong cuộc sống ?

Quan trọng không phải là những thứ bạn mang theo bên mình, mà là những gì bạn đã chân thành đóng góp cho tha nhân.

Quan trọng không phải là những thứ bạn nhận được mà là những gì bạn đã cho đi.

Quan trọng không phải là những thành công bạn đã có được trong cuộc đời, mà là ý nghĩa thanh cao của chúng.

Quan trọng không phải là những thứ bạn học được, mà là những gì bạn đã truyền lại cho người khác.

Quan trọng không còn là năng lực của bạn, mà chính là tính cách - là những gì mà bạn đã cư xử với mọi người xung quanh.

Quan trọng là những khoảnh khắc cử chỉ, thái độ mà bạn đã vô tình hay cố ý khắc ghi trong lòng người khác, khi cùng chia sẻ với họ những lo âu, phiền muộn, khi bạn an ủi và làm yên lòng họ bằng cách riêng nào đó của mình, hay chỉ đơn giản là một nụ cười hoan hỹ hay một cái nắm tay, đỡ cho một người khỏi ngã.

Quan trọng không chỉ là những ký ức, mà phải là ký ức về những người đã yêu thương bạn.

Quan trọng đâu chỉ là bạn sẽ được mọi người nhớ đến trong bao lâu, mà là họ nhớ GÌ về bạn (tốt hay xấu).

Quan trọng không phải là bạn quen biết thật nhiều người, mà là bao nhiêu người sẽ đau xót khi mất bạn trong đời.

Vậy thì, bạn ơi, hãy nhìn cuộc sống bằng ánh mắt yêu thương và hiểu biết. Bởi vì, chỉ có tình yêu thương, sự hiểu biết mới đem lại những điều kỳ diệu cho cuộc sống, bạn ạ.

Sưu tầm


Bạn bè cũng như tiền vậy ..
Có tờ thật ..
Có tờ giả ..
Có tờ lành ..
Có tờ rách ..


Chỉ tiếc là : Mình không phải máy soi tiền nên không thể biết được...
Nhưng "rách" và "giả" cũng không che được dưới ánh mặt trời, thì gọi đó là "Bèè..è"...

Trong cuộc vui đâu biết ai là
BẠN . . .
Lúc hoạn nạn mới biết bạn là AI.


Bạn thân là gì?

B: Bao dung ♥
A: An toàn ♥
N: Nhường nhịn ♥
T: Thương yêu ♥
H: Hiền hòa ♥
Â: Ấm áp ♥
N: Ngọt ngào ♥
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest