Việt Nhân
“30 tháng Tư Sàigòn thất thủ” có người nói nó đồng nghĩa với chuyện nước VNCH, mãi mãi bị chôn vùi sâu dưới ba thước đất, không ai sẽ còn nhớ cho một đất nước đã từng tồn tại 21 năm, một thể chế mà người dân miền Nam đổ bao xương máu cho sự sống còn của nó. Tháng tư đen ập đến người ta đã thấy, là ngày những trại “cải tạo”, được cộng sản mở ra khắp nơi, để giam giữ bách hại hàng bao trăm ngàn Quân nhân Cán chính VNCH. Đồng thời những gì thuộc về chế độ cũ, đều được xóa sạch do một chính sách cùng chủ trương rõ ràng của một nhà nước cộng sản rập khuôn của Nga -Tầu, càng làm chắc cho người ta nghĩ VNCH sẽ đi vào quên lãng, coi như là một thực thể chưa từng hiện hữu tại Việt Nam, còn nếu có thì đó là những lời tuyên truyền, nói là nó xấu xa tồi tệ nên đã bị đào thải, và cần phải được quên đi.
Những gì còn lại trong ký ức anh em chúng tôi, những người sống sót qua cuộc chiến, qua tù đày cộng sản, thì những năm cuối sau Hiệp Định Paris 1973, VNCH cùng QL.VNCH lâm vào tình thế vô cùng khó khăn và thiếu thốn trong chiến đấu. Nhớ đã có lúc nhiều anh em đùa nhưng ngẫm lại thật là đúng khi nói miền Nam “chiến đấu chống cộng theo kiểu con nhà nghèo”, tiết kiệm từng viên đạn từng lít xăng, nhưng chúng tôi vẫn chiến đấu trong cam go. Chúng tôi luôn biết rằng chúng tôi đang chiến đấu cho sự sống còn của chính mình, tuy chiến đấu trong đơn độc nhưng không phải vì thế mà kém phần kiên cường, mà ngược lại nó có phần dũng cảm hơn bao giờ hết, 1973, 1974, và vào những giờ phút cuối 1975.
Nhưng cũng phải thấy quân dân VNCH vô cùng thất vọng, cho cái gọi là người đồng minh Hoa Kỳ trong chuyện viện trợ từ 2,1 tỷ năm 1973, rồi 1,4 năm 1974, và cuối cùng 0,7 cho 1975, vì thực tế phải thấy rằng VNCH chỉ có thể đương đầu với cả khối CS, khi có sự hỗ trợ của Mỹ và Đồng Minh. Nhưng khi “liên minh chống cộng” này không còn thì người dân miền Nam không thể một mình chống lại quân CS Bắc Việt với sự hỗ trợ của CS Nga–Tầu - Thế rồi 17 tháng 4 khoản viện trợ khẩn cấp trị giá 722 triệu Mỹ kim mà chính phủ Gerald Ford đề nghị đã bị thượng viên Hoa Kỳ từ chối, không tiền có nghĩa là không có đạn dược nhiên liệu, đã đưa VNCH đi đến chổ không thể tạo được đủ vị thế về quân sự.
Hôm nay đài BBC loan tin, một cuốn sách mang tên “Tháng Tư Đen” của tác giả là George J.Veith đã phát hành, cái tin này đã đem đến sự bất ngờ, cả lẫn cái không ngạc nhiên cho chúng tôi. Xin được nói về sự bất ngờ trước - Cái bất ngờ là sau 37 năm vẫn có người nhớ đến QL.VNCH, những tưởng không ai còn nhớ đến đoàn quân đó, đã có một thời chiến đấu cho lý tưởng Quốc Gia, mà những người cộng sản xách mé gọi là Ngụy. Chúng tôi vô cùng bất ngờ vì trên thật tế mà nói thì QL.VNCH là một đoàn quân không còn nữa, ở đây ta có thể nói đùa là Ông Veith đã đi gom những mảnh vỡ gương xưa mà tìm bóng, vả trong chuyện này cũng không dễ dàng trong thu thập tài liệu, cho đề tài ông muốn viết - Đã 37 năm trôi qua thì còn nguồn tin nào, ngoài những tin tức không trung thực từ phía của CSBV.
Vì trong khoảng thời gian sau 1973 Hiệp Định Paris, trong thời gian đó, lực lượng chiến đấu của Mỹ đã rút, nên truyền thông báo chí nước ngoài cũng rất ít quan tâm đến Việt Nam, vì thế không dễ tìm được tài liệu để tham khảo. Và cái chúng tôi không ngờ nữa, là Ông Veith đã đưa ra được cái nhận xét thất bại trong tháng Tư năm 1975 rất chính xác – Đó là không phải do sự lúng túng của chính quyền VNCH, và càng không phải do sự yếu kém trên chiến trường của chiến sĩ QL.VNCH. Như trên ta đã biết VNCH đã lần lượt trong ba năm từ 1973-1975, bị cắt giảm viện trợ xuống dần chỉ còn 1/3 - Ông Veith nói rằng rằng nguyên nhân gốc rễ đưa đến thất bại của miền Nam Việt Nam chính từ chuyện Quốc hội Hoa Kỳ đã cắt giảm viện trợ.
Từ nguyên nhân này đã đưa đến thất lợi cho phía VNCH, sự thiếu hụt nhiên liệu máy bay và phụ tùng, không cho phép không quân chuyển vận binh sĩ, đến để giữ vững phòng tuyến biên giới phía Tây dài gần 1500 km, do đó CSBV được tự do tập trung, các cuộc tấn công với số lượng lớn, áp đảo vào các thị xã thành phố chính yếu. Sự thiếu hụt không quân cũng làm cho VNCH bị hạn chế rất nhiều, trong không tập quân CSBV ngay cả khi biết nơi chúng tập trung, bởi vậy CSBV dễ dàng điều động được một lực lượng lớn, trước khi tấn công vào các mục tiêu - Trong khi đó thì Quốc hội Hoa Kỳ lại dùng một nghị quyết đã được thông qua năm 1973 là “War Power Act” để buộc Tổng thống Gerald Ford không được ném bom miền Bắc.
Còn về cái không ngạc nhiên khi đọc bản tin về cuốn sách này, là những chuyện Ông Veith nói về cái kiên cường anh dũng của QL.VNCH, Ông Veith đã dùng tới các sử liệu từ phía Việt Nam bao gồm của cả CSBV và các cuộc phỏng vấn của ông với các tướng lĩnh VNCH trong quá trình nghiên cứu để viết sách. Theo ông QL.VNCH, bao gồm nhiều chỉ huy từng đẩy lùi cuộc tấn công của miền Bắc hồi năm 1972 và đã có những trận đánh thành công nhưng ít được biết tới trong giai đoạn 1973-1975. Một số trận đánh kiên cường của QL.VNCH được ông nhắc tới xảy ra trong tháng Ba và tháng Tư năm 1975 như các trận Mỏ Tàu, Núi Bồng và Bến Cầu, Chơn Thành vùng biên gới phía tây, cũng như trận Cần Thơ và Long An ở miền nam.
Chuyên gia tư vấn quốc phòng Mark Moyar, người cũng là tác giả cuốn “Thắng lợi Bỏ lỡ: Cuộc chiến Việt Nam, 1954-1965”, nhận xét “Tháng Tư Đen” đã xuất sắc "điền vào khoảng trống lịch sử" của giai đoạn 1973-1975 khi Hoa Kỳ đã rút quân và Cuộc chiến Việt Nam không còn là mối quan tâm hàng đầu của các phóng viên Hoa Kỳ.
Còn trong phần kết thúc bài điểm sách cuốn “Tháng Tư Đen”, chuyên gia quốc phòng Moyar nói, cuốn sách là lời nhắc nhở Hoa Kỳ về cái giá phải trả, bằng nhân mạng khi rời bỏ một đồng minh. Ông nói 100.000 lính Nam Việt Nam, những người từng sát cánh với Hoa Kỳ trong các trận đánh cuối cùng, đã bỏ mạng, bị hành quyết tức thì hay chết vì bị cộng sản hành hạ trong các trại "cải tạo" khổng lồ. Hơn nửa triệu người Nam Việt Nam cũng bỏ mạng trên biển khi bỏ trốn chế độ cộng sản - Riêng Hà Nội ước tính họ mất 6.000 bộ đội chỉ trong vài ngày cuối tháng Tư năm 1975.
Những điều thú vị thay cho lời kết - Bọn MTGPMN những ngày sau tháng tư chúng ra rả, là nhân dân miền Nam đã vùng lên làm cách mạng thành công lật đổ nhà nước VNCH, nhưng theo Ông Veith nói “việc Bắc Việt Nam giết hại những người không cầm súng ở Huế năm 1968 và dọc Quốc lộ 1 năm 1972 khiến người dân phát hoảng và họ đã tràn ra các ngả đường khi quân miền Nam rút đi”.
Và chúng ta cũng đã biết tại Mặt trận Long Khánh Xuân Lộc ngày 19/04, là thời điểm các đơn vị rút khỏi phòng tuyến Xuân Lộc, lúc 9.00 giờ đêm, các đơn vị Nhảy Dù / LĐ1ND vừa rút ra tới QL1, và một hoạt cảnh rất cảm động xảy ra, tất cả dân làng già trẻ lớn bé của các xóm Bảo Định, Bảo Tồn và Bảo Hoà đã tập trung sẵn hai bên vệ đường để theo chân lính Dù di tản.
Thú vị hơn hết - Có kẻ miêng lưỡi cộng sản, đã viết những điều không phải là sự thật, với ý đồ để hạ nhục người lính VNCH, hắn nói “kể từ Ban Mê Thuột vào trung tuần tháng 3, hàng vạn quân nhân Quân lực VNCH trên cả 4 vùng chiến thuật bỏ đơn vị, tan hàng, vất vũ khí, cởi quân phục tìm đường thoát thân cho đến sáng ngày 30-4”. Trong khi đó trong “Tháng Tư Đen”, Ông Veith đã nhắc cho người Mỹ về một mặt trận lớn của QL.VNCH vào tháng 04-1975, đó là trận chiến Xuân Lộc, ở đó một sư đoàn của quân đội VNCH đã đập tan 3 sư đoàn CSBV.
Đã 37 năm qua, một người nước ngoài đã kể lại chuyện về người lính QL.VNCH - Trên dư luận mỗ tôi thiết nghĩ, một lời nói của George J.Veith sẽ có giá trị nhiều lần hơn, lời nói về mình của người lính QL.VNCH, và dĩ nhiên giá trị bằng trăm ngàn lần lời huênh hoang dối trá của bọn cộng sản – Cuối cùng mỗ tôi xin phép được trích lại lời của Ký giả người Úc D.Warner viết về trận chiến Xuân Lộc 12 ngày đêm “Với 3 sư đoàn 6, 7 và 341, Văn Tiến Dũng tin tưởng sẽ chiếm được Xuân Lộc một cách dễ dàng - Ông ta đã lầm…Trong những ngày cuối cùng của chiến tranh VN, sư đoàn 18 BB đã chiến đấu một cách dũng cảm, không những họ đã giữ vững được trận địa mà lại còn phản công mỗi ngày”
Xin cảm ơn sự nói lên những những điều là sự thật, và xin nhận nơi đây lời cảm ơn chân thành của người lính cũ VNCH về sự chia sẻ đó.
Việt Nhân
(HNPĐ)


