Bình Luận , Quan Điểm

khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Những thế hệ ngồi chờ

Trần Quốc Việt (danlambao)- Chúng ta là chiếc bóng của lịch sử. Khi chúng ta ngồi chờ,lịch sử ngồi chờ theo, khi chúng ta hành động, lịch sử bắt đầu trở mình, và khi chúng ta sợ hãi triền miên lịch sử sẽ đứng yên. Lịch sử là chúng ta. Vâng, lịch sử là chúng ta nhưng chúng ta khôn ngoan chờ người khác đi trước. Thế là tất cả chúng ta ngồi ngó nhau và chờ lẫn nhau. May thay lịch sử cũng rất kiên nhẫn chờ theo. Bóng đèn cuối cùng tắt trên ga Chờ nhưng chuyến tàu Lịch sử sao vẫn chưa chuyển bánh?

Việt Nam chúng ta ngày nay là một đất nước của những thế hệ ngồi chờ.

Chúng ta đã bắt đầu chờ những lời hứa hão. Đó là độc lập, tự do, và hạnh phúc.

Chúng ta vẫn chờ độc lập khi những phần đất của tổ quốc đang trong tay Trung Quốc,khi lãnh đạo Việt Nam đang gập người hướng về Thiên triều để chờ được rót ban ân huệ "độc lập" nửa vời.

Chúng ta vẫn chờ tự do nhưng tự do không bao giờ đến cho đa phần tâm hồn nô lệ trong chúng ta. Những ai chờ không được đã lìa xứ ra đi ngay từ đầu; những ai nán lại thì về sau qua muôn vàn cách họ cũng lên đường tìm tự do. Những ai ở lại thấy nữ thần Tự do trong lòng mình run rẩy trước bóng công an.

Hạnh phúc là sự mưu cầu chỉ có thể đạt được nếu chúng ta có được độc lập và tự do đích thực vì chúng là mảnh đất màu mỡ để ươm mầm hạnh phúc cho tất cả mọi người. Bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ khẳng định con người có các quyền thiêng liêng như quyền sống, quyền tự do, nhưng hạnh phúc thì phải mưu cầu.Hạnh phúc là sự mưu cầu dựa trên tài năng, tính cách, và nhất là sự lao động nhưng hạnh phúc không bao giờ có cho đại đa số khi độc lập và tự do không tồn tại. Hạnh phúc không phụ thuộc vào giàu nghèo. Hạnh phúc phụ thuộc chính vào tự do như lời của một vị thẩm phán ở Toà án Tối cao Hoa Kỳ cách đây hơn tám mươi năm:

"Những người đã giành độc lập cho chúng ta tin rằng cứu cánh cuối cùng của nhà nước là tạo tự do cho con người phát triển hết mọi khả năng... Họ coi trọng tự do vừa như là cứu cánh vừa như là phương tiện. Họ tin tự do là bí quyết của hạnh phúc và can đảm là bí quyết của tự do."

Cho nên chúng ta hiểu tại sao dân chúng ở các nước toàn trị đa phần không có hạnh phúc như có đến 94% dân Trung Quốc không có hạnh phúc dù cuộc sống của hàng triệu người trở nên khá hơn. Còn hạnh phúc của người dân Việt ở đâu khi đạo đức bị trốc rễ, khi cuộc sống là sự mưu sinh đầy nhọc nhằn, khi sợ hãi và lòng bất an theo ta khi ta thức dậy và theo ta vào giấc ngủ, khi ta thấy ngộp trước hiện tại và ngộp hơn khi nghĩ đếntương lai.

Vì chúng ta không có can đảm nên chúng ta chấp nhận số phận nhưng chúng ta trong lòng vẫn thiết tha chờ ngày mai trời sáng hơn. Những thế hệ Việt Nam chờ mãi.Chúng ta chờ giáo dục tốt hơn khi con chúng ta phải đu dây, phải bơi qua sông để kiếm chữ. Chúng ta chờ đường xá tốt hơn khi lô cốt vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt và khi đường xuống cấp còn nhanh hơn mưa. Chúng ta chờ bớt tham nhũng hơn dù khi chúng ta phải bắt đầu chung chi theo tháng và theo năm và khi chúng ta hiểu đó là thứ khổ tất yếu mà ta phải chấp nhận thêm vào những thứ khổ triền miên như sinh, tử, bệnh,lão. Quan trọng nhất chúng ta chờ tự do.

Chúng ta chờ từ tóc xanh đến tóc bạc, chờ từ nhà ra nghĩa địa. Chúng ta không được lạc quan như "lãnh tụ" khi ông viết ra câu "thơ" "Ngồi trên hồ xí đợi ngày mai".Nhưng chúng ta được phép thực thi quyền ngồi chờ của chúng ta một cách kiên nhẫn.

Vì quá quen chờ nên không ai ngạc nhiên khi chúng ta bắt đầu có thói quen ngồi chờ yêu nước trong công viên hay trong quán nước. Thử hỏi trên thế giới này có ai chờ được như ta? Có nước nào mà lòng yêu nước phải ngồi chờ không? Câu trả lời là có nếu người dân nước ấy tự xem mình là nô lệ, vì thân phận nô lệ chỉ quan tâm đến con roi mà không quan tâm đến kẻ cầm roi.

Ước gì chúng ta đừng có con để tránh kéo dài cuộc đời nô lệ khốn khổ của chúng. Hãy nhìn vào mặt các con mỗi ngày để thấy rằng hiện tại của chúng ta in hằn trên nét mặttương lai của chúng. Rồi chúng cũng chờ như ta vì thế hệ cha anh không có can đảm không chờ.

Chúng ta là chiếc bóng của lịch sử. Khi chúng ta ngồi chờ lịch sử ngồi chờ theo, khi chúng ta hành động lịch sử bắt đầu trở mình, và khi chúng ta sợ hãi triền miên lịch sử sẽ đứng yên. Nhà văn Nga Alexander Solzhenitsyn viết: "Nếu chúng ta chờ đợi lịch sử ban cho chúng ta tự do và những món quà quý giá khác, chúng ta có nguy cơ chờ đợi trong vô vọng. Lịch sử là chúng ta."

Vâng, lịch sử là chúng ta nhưng chúng ta khôn ngoan chờ người khác đi trước. Thế là tất cả chúng ta ngồi ngó nhau và chờ lẫn nhau. May thay lịch sử cũng rất kiên nhẫn chờ theo. Bóng đèn cuối cùng tắt trên ga Chờ nhưng chuyến tàu Lịch sử sao vẫn chưa chuyển bánh?

Lẫn trong khói hương và bao khóc than tiễn đưa ta lần cuối cùng về thế giới bên kia là ánh mắt của con cháu ta trách ta không làm gì cả để hôm nay chúng cũng phảibắt đầu chờ đợi như ta. Linh hồn nào phiêu diêu nổi trong niềm đau uất nghẹn sau lưng ấy.

Trần Quốc Việt
(danlambao)danlambaovn.blogspot.com
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

VĂN MINH RỖNG RUỘT
* ĐINH LÂM THANH *

Muốn đánh giá văn minh tiến bộ của quốc gia nào đó, người ta bắt buộc phải xét đến ba lãnh vực quan trọng là giáo dục, y tế và trình độ văn hóa của dân, chứ không thể căn cứ vào các hình thức hào nhoáng bên ngoài của các hạ tầng cơ sở để kết luận một cách vội vã. Một điều thật đau lòng là, đa số người hải ngoại du lịch Việt Nam về thường rêu rao tuyên truyền cho cộng sản rằng, Việt Nam bây giờ đã hoàn toàn đổi mới : xa lộ thênh thang, nhà cao cửa rộng… Riêng vấn đề ẩm thực, du hí cũng như tình dục thì còn nổi bật hơn cả Thái Lan. Họ còn cho biết ở Việt Nam khách muốn ăn gì, muốn kiếm gái loại nào, muốn làm vua dổm vài giờ… dù bất cứ ở đâu, giờ nào đều có người phục vụ tại chỗ mà giá cả lại rẻ mạt. Thật ra đây là những miếng mồi dụ dỗ mà việt gian cộng sản đặc biệt dùng để câu một số lượng lớn người Việt hải ngoại về du hí hàng năm. Thành phần người gốc Việt nầy đầu óc còn thiển cận, chỉ biết những gì trước mắt mà quên mất cái căn bản cần thiết nhằm phục vụ đời sống con người một cách thiết thực, hữu hiệu và lâu dài…

Đối với các xứ văn minh Âu-Mỹ, vấn đề y tế được các quốc gia tại đây chú trọng và đưa lên hàng đầu trong chương trình phục vụ đời sống hằng ngày của người dân. Tùy theo chế độ y tế, mọi người dù thuộc giai cấp nào cũng được hưởng, không nhiều thì ít, chương trình giúp đở và trợ cấp của chính phủ về vấn đề sức khỏe cá nhân. Trong đó, một số lớn quốc gia ở Âu-Châu gần như hoàn toàn miễn phí cho những người lớn tuổi cũng như những gia đình có mức lợi tức thấp. Ngoài ra đối với những trường hợp cấp cứu, sinh đẻ hoặc các bệnh khó chữa trị cũng được nhà nước nghiên cứu và miễn phí cho dân chúng, nhất là đối với những bà mẹ và người lớn tuổi. Người ta thường thấy, khi một bệnh nhân cần cấp cứu hoặc phải chữa trị gấp, bệnh viện xử dụng tất cả phương tiện để ưu tiên cứu người, xong xuôi đâu đó mới tính đến chuyện phí tổn…Nhưng nếu bệnh nhân không có khả năng chi trả thì cơ quan nầy hoặc tổ chức khác của chính phủ đứng ra thanh toán giùm. Ngược lại tại Việt Nam, một xứ mà bách phân người bị bệnh rất nhiều so với tổng số dân chúng, nhưng vấn đề y tế thì tồi tệ vô địch thế giới. Thứ nhất, thiếu nhà thương, thiếu giường, thiếu dụng cụ y khoa và thiếu luôn cả bác sĩ cũng như y tá. Thứ hai, bệnh nhân mất cả ngày chờ đợi, phải vượt qua hàng rào hối lộ từ anh gác cổng, chị làm công, cô y tá cho đến bác sĩ để được khám dưới một phút, (thời gian khám cho một bệnh nhân - theo báo cộng sản trong nước) rồi trả tiền xin toa (ordonnance) và bắt đầu thủ tục mới với các nhà thuốc! Bệnh nhân thường than vản, đi nhà thương khám bác sĩ, kết quả bệnh tình chưa biết ra sao nhưng với ‘thủ tục hành hạ’ moi tiền bệnh nhân thì thà chết còn sướng hơn là để cho thân nhân phải chạy tiền bạc, hầu hạ van xin và mua chuộc nhân viên nhà thương !!! Thứ ba, trường hợp nếu được nhập viện nằm điều trị, bệnh nhân phải mua của y tá từ miếng băng, cục bông gòn đến việc phải thuê với nhân viên phục vụ từ cái mền cho đến chiếc chiếu để được phép nằm dưới đất ! (dù người nhà có mang theo).

Tiếp đến, việc giáo dục cũng là một vấn đề quan trọng nhất đối với các xứ văn minh Âu-Mỹ. Trẻ em bắt buộc phải đến trường khi đã chập chững biết nói. Ngoài việc miễn học phí, nhà nước còn cung cấp phương tiện đến lớp, sách vở, giấy bút, áo quần cho học sinh cũng như sinh viên qua học bổng và tiền phụ cấp vào các mùa nhập học…Có quốc gia, chính phủ phải trả tiền cho gia đình để cha mẹ cho con cái đi học (các xứ dầu lửa ở Trung Đông) ! Chương trình học không có môn chính trị một chiều mà các quốc gia đều đặt nặng về vấn đề giáo dục con người về phương diện văn hóa cũng như đạo đức. Đối với vài trường hợp học sinh ngang bướng bỏ đi bụi đời thì chính phủ, nhà trường cũng như các hiệp hội tư nhân đều có những môi trường và phương pháp để giữ chân thành phần trẻ nầy ở lại tiếp tục việc học.

Và sau cùng, trình độ văn minh người dân là bộ mặt quan trọng của xã hội. Du khách đến Việt Nam nghĩ thế nào khi ngang qua một thành phố ở đó chỉ có ăn uống nhưng hoàn toàn thiếu hẳn nhà vệ sinh công cộng, nếu cần thì bắt buộc phải đi tiểu đi tiêu vào gốc cây vách tường. Dân ra đường khạc nhổ, xã rác xuống đất, chạy xe không cần đèn xanh đỏ, người đi bộ xô đẩy chen lấn nhau. Hoặc vừa thấy du khách là xúm lại làm tiền một cách bỉ ổi từ ngoài đường phố, chợ búa khu du lịch cho đến các nhà hàng khách sạn! Như vậy những người văn minh nước ngoài chỉ cần thoáng qua vài hình ảnh trên thì sự kính trọng của họ khi đến Việt Nam chắc chắn không còn căn cứ trên những khách sạn nhiều sao, nhà cao tầng, hí viện quốc tế, dinh thự cán bộ, xe Porche, Gamborgini, BMW, Mercedes mà phản ứng tự nhiên bắt họ phải hành động tức khắc : hai tay giữ chặt từ cái bóp, cặp mắt kính cho đến chiếc máy ảnh…vì không biết chúng sẽ biến mất lúc nào ! Cũng chưa bao giờ thấy một xứ nào trên thế giới mà nhân viên bán hàng cầm dao đuổi rượt người nước ngoài khi họ tò mò đứng nhìn một quầy hàng bán thịt rừng ngay giữa đường lộ. Thật là xấu hổ cho cái văn minh rỗng ruột dưới chế độ việt gian cộng sản hiện nay !

Thật vậy, đối với Việt Nam sự thật đã chứng minh, sau gần 40 năm ngưng tiếng súng cộng thêm hàng ngàn tỷ ngoại tệ đổ vào do viện trợ nhân đạo, vay mượn quốc tế và của Người Việt hải ngoại gởi về, tập đoàn cộng sản đã thực hiện được gì cho con người và đất nước ? Nhất là đối với thành phần lao động, chiếm trên một nửa dân số đang sống quá thấp dưới mức nghèo khó. Thật ra, Hà Nội chỉ quan tâm đến những hình thức hào nhoáng bên ngoài nhằm đánh bóng chế độ, nhất là tạo cơ hội để dễ dàng tham nhũng. Thử nhìn những lầu đài, khách sạn, nhà cao từng, khu kỹ nghệ, các cơ sở sản xuất là của ai và do người nào đứng tên khai thác hưởng lợi ? Không cần trả lời, vì tất cả mọi người đều biết lợi nhuận hoàn toàn nằm trong tay tập đoàn việt gian cộng sản và con cháu dòng họ của chúng. Thực tế những công trình vĩ đại đó là cái vỏ đang che giấu một xã hội bất công, che giấu hàng chục triệu người nghèo đang đói khát bệnh tật, che giấu hàng triệu trẻ con thất học đi bụi đời vì gia đình không có khả năng (thông tin của việt cộng năm 2011), và hàng trăm ngàn sinh viên bỏ trường vì tương lai đen tối.

Đồng ý rằng cầu cống, xa lộ cần cho nhu cầu lợi ích chung thì cũng có xây dựng được một phần nào. Nhưng tôi cho đó là những hình thức hoàn toàn giả tạo, vì tính xem thời gian xử dụng được bao lâu với những công trình bị ăn chận từ việc chấm công, xén bớt vật liệu xi măng, sắt thép, đá sỏi rồi pha chế chắp nối để đạt chỉ tiêu theo lệnh trên. Nhìn hình dáng bên ngoài thành phố có vẽ mỹ quan nhưng nếu tính phẩm chất bên trong là những công trình rỗng ruột. Cầu xây chưa xong cầu đã sập, đường đắp ngã trước sụp lỗ phía sau, nhà cất chưa ở thì nhà đã lún !!!. Riêng đối với vấn đề nhà cửa, tôi cũng đồng ý bây giờ được xây cất đồng loạt, từ thành phố quận lỵ đến thôn quê. Nhưng thử hỏi mục đích để làm gì và ai là chủ nhân ? Có phải là thành phần nồng cốt (nông-công-nhân) của chế độ bịp bợm cộng sản ? Có phải công nhân viên cấp nhỏ nhà nước hoặc người dân bình thường sinh sống bằng đồng lương cố định ? Hay thuộc thành phần lao động buôn thúng bán bưng ? Không, chủ nhà chính là cán bộ đảng viên nhà nước. Điều nầy mới nghe thật khó tin, vì đồng lương chính thức của thành phần cao cấp nầy chưa đủ bao gái một đêm thì làm thế nào để có thể trở thành chủ nhân ông những bất động sản trị giá hàng triệu, hàng tỷ bạc ? Vậy muốn giàu có, chúng phải hành nghề ăn cướp và muốn trở thành tỷ phú một cách thần thánh thì chỉ còn cách là cái gì có thể đút túi được thì bọn việt gian cộng sản sẽ dùng luật rừng, kẽm gai và súng đạn để biến thành của riêng của chúng ! Như vậy ‘hoành tráng’ bên ngoài chỉ là cái võ để che đậy những thối tha khốn nạn bên trong mà đảng cộng sản đã và đang gieo lên đầu đất nước cũng như dân tộc Việt Nam kể từ sau ngày xâm chiếm miền Nam.

Nhưng rồi một khi dân trắng tay, tài sản quốc gia cạn kiệt, nguyên liệu bán sạch ra ngoài thì việt gian cộng sản lại nghĩ ra cách khác, bày nhiều trò mới để có cơ hội rút tỉa của công và ăn cắp tài sản cũng như sức lao động dân chúng. Tôi xin đưa ra vài thí dụ rất đơn giản nhưng thật quan trọng :

1. Chương trình ‘quy hoạch’ thủ đô, thành phố và quận lỵ là một âm mưu để cướp tài sản dân chúng tận gốc rễ. Đảng viên cán bộ ngồi phòng lạnh, chỉ cần đưa cây bút khoanh vòng một khu vực nào đó là sẽ có tiền tỷ đi vào túi. Công việc thật quá dễ dàng : đất đai của dân, ăn cắp tiền giấy nhà nước để bồi thường, vật dụng là tài nguyên quốc gia, chúng cho nước ngoài đấu thầu, xây xong chia 3/7 (nhà thầu 3, cán bộ 7). Cứ mỗi chương trình ‘quy hoạch’ tối thiểu cũng đem lại cho đảng viên cán bộ hàng trăm biệt thự lầu, hàng ngàn căn nhà (appt) đúng tiêu chuẩn quốc tế. Thử làm bài tính thì thấy bọn chúng sẽ thu vào hàng trăm, hàng ngàn triệu bằng vàng khối hoặc bằng ngoại tệ. Đây chính là một hình thức văn minh rỗng ruột vì những gì đang có, mang tiếng là tài sản của Việt Nam, nhưng đâu phải do người dân Việt Nam làm chủ đứng tên ! Bọn cán bộ bán các bất động sản nầy ra cho người nước ngoài, nhất là bọn Tàu đỏ đang hăm hở bỏ tiền ra xí phần trước trên phần đất Việt Nam mà trước sau gì cũng trở thành một tỉnh của bọn chúng trong nay mai !!!

2. ‘Công trình hoành tráng’ rỗng ruột, để chứng minh sự tham nhũng vô độ của bọn cán bộ địa phương, tôi xin đưa ra vài ba thí dụ :

a. Tỉnh Quảng Nam xây tượng đài Mẹ VN với kinh phí lên quá 410 Tỷ Đồng, rồi tượng đài mẹ sẽ đẻ ra hàng trăm tượng đài con tại các nơi khác trong lúc dân tỉnh nầy đang nằm trong thành phần nghèo đói.

b. Ngoài việc tu bổ xác chết già Hồ tại Ba Đình, cộng sản việt gian đã bóp họng dân nghèo mấy trăm tỷ đồng để xây lăng tẩm cho cha già Hồ (Nguyễn Sinh Sắc) tại Vĩnh Long và mẹ già Hồ (Hoàng Thị Loan) ở Nghệ An.

c. Xây Crown Convention enter tại Nha Trang để tổ chức thi hoa hậu năm 2008 với tổng kinh phí đầu tư 9,8 triệu USD năm 2008 và…bây giờ thì bỏ trống không xử dụng !

d. Xây nhà hát hơn 10 triệu USD để chuẩn bị cho cuộc thi hoa hậu năm 2012 tại NinhThuận để khoe khoang với thế giới.


Thực tế với tình trạng chạy ăn từng bữa, người dân không cần nhịn đói để đi ngắm tượng đài Mẹ Anh Hùng Việt Nam, là những người mà trước đây đã ngu dại nuôi ong tay áo, nhịn ăn nhịn uống để đùm bọc kẻ thù, rồi ngày nay phải trở thành dân oan nằm nắng phơi sương để xin lại nhà cửa đất đai đã bị tịch thu. Việt gian cộng sản cũng biết rằng người dân không tiền và cũng không rỗi rảnh để mua vé xem các chương trình đại nhạc hội thi đua hoa hậu, trình diễn áo dài. Bọn cộng sản cũng biết người dân cóc cần đến các lăng tẩm để thắp hương trước mộ một tội đồ dâm tặc bán nước và dòng họ của nó. Nhưng tại sao tập đoàn cộng sản lại bắt dân dốc túi và tiền của ra để xây dựng những cái tượng đài ‘ba láp’ và lăng tẩm ‘nâng bi đội đĩa’ rỗng ruột để làm gì ? Đó chẳng qua việt gian cộng sản dùng làm bình phong để phô trương và trục lợi.

Người dân đang ngay cần những chuyện tầm thường như, bắt cầu cho học sinh đến trường để chúng khỏi lội qua sông mỗi ngày vài ba bận. Người dân cần mỗi khi đau ốm được đến nhà thương chữa trị mà không phải qua thủ tục‘đầu tiên’ và bị nằm la liệt dưới sàn xi măng. Người dân đang cần xây cầu tiêu công cộng trong các thành phố, nhất là tại những khu du lịch để tránh bị bể bọng đái cho họ cũng như khách quốc tế. Vậy đối với các tượng đài lăng tẩm, nếu nói về trách nhiệm của nhà nước, thì chính là những xa xỉ phẩm rỗng ruột của một tập đoàn cai trị mà trên một nửa dân số thiếu ăn thiếu mặc và đang sống dưới mức nghèo khó từ trên 60 năm nay.

Tóm lại tại VN, từ tổ chức thượng tầng cơ sở như văn hóa, giáo dục, y tế, thương mãi, ngoại giao…xuống đến hạ tầng phục vụ đời sống người dân đều hoàn toàn rỗng ruột. Nhưng có một điều trái ngược, bao tử người nào dưới chế độ cộng sản cũng đầy ắp, vì :

dân đen thì ‘sình bụng’ với cháo-trắng-ngô-khoai, còn đảng đỏ thì ‘phát ách’ vì vàng-thoi-ngoại-tệ !

Đinh Lâm Thanh
Paris, 01.01.2012
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Nước Nga của nhiều ẩn số

Tác giả: Bùi Tín

Tình hình nước Nga và thủ đô Moscow đang thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận thế giới.

Sau cuộc bầu cử Nghị viện Đuma, nhiều cuộc biểu tình lớn có 20 vạn người tham gia diễn ra ở Moscow, lan rộng lên thành phố St. Petersburg và Kaliningrad ở phía Bắc, sang hải cảng Vladivostock ở phía Đông, cùng một chục thị trấn khác.

Cuối tháng 1 năm 2011, cuộc biểu tình ở Moscow lên đến hơn 50 vạn người. 20 năm nay, từ khi Liên bang Xô viết bị giải thể, đảng CS Liên Xô tan vỡ, nay mới có những cuộc xuống đường đông đảo đến vậy. Năm ngàn, 10 ngàn, lên đến hơn 20, rồi 50 ngàn công dân thủ đô mang biểu ngữ, hô khẩu hiệu, tập trung và tuần hành, làm náo động khu trung tâm, tố cáo cuộc bỏ phiếu gian lận, đòi thủ tướng V. Putin ra đi, đòi những cải cách dân chủ, chế riễu cuộc “nhảy múa, trò đổi ngôi giữa Tổng thống và Thủ tướng” của Tổng thống Medvedev với Thủ tướng Putin. Hàng vài trăm công dân bị bắt giữ. Hàng ngàn cảnh sát vũ trang được huy động. Các tổ chức bảo vệ nhân quyền đưa ra con số hơn 1 ngàn công dân bị xét hỏi và giam giữ.

Dư luận nước Pháp xôn xao. Giới báo chí, các nhà bình luận chính trị đưa ra nhiều nhận định khác nhau. Các đài vô tuyến mở ra nhiều cuộc trao đổi, tranh luận về tình hình Liên bang Nga, phán đoán về ý nghĩa của các sự kiện, về triển vọng của tình hình.

Qua báo chí và truyền hình, có thể nói tình hình Liên bang Nga mang nhiều câu hỏi hơn là lời giải đáp, mang nhiều ẩn số hơn là các đáp số. Các đài vô tuyến Pháp TF2 và TF3…thu thập các câu hỏi của bạn xem truyền hình, liệt kê ra hàng trăm câu hỏi của công chúng cần được giải đáp. Nhiều nhà bình luận quốc tế, nhiều nhà Xô viết học lão luyện, thành danh, có uy tín thú nhận rằng 20 năm nay, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, đã lơi lỏng trong việc theo dõi, thu lượm tin tức, trao đổi nhận định về tình hình mọi mặt của Liên bang Nga, để đến nay không sao nhận cho rõ được tình hình.

Các nhà am hiểu thời sự của các mạng truyền hình Pháp đều cho rằng tình hình liên bang Nga quá tù mù về chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, khó đoán cả về hiện tại, tương lai gần và xa, rất cần những cuộc tìm hiểu sát sao và khoa học.

Dưới đây là những đề tài và câu hỏi công luận các nước đang đặt ra mong được sáng tỏ dần.

Trước hết là về chế độ chính trị. Hiện nay chế độ chính trị – kinh tế liên bang Nga là thuộc chế độ nào, mô hình nào. Chủ nghĩa xã hội kiểu Mác-xít đã chấm dứt chưa? Chủ nghĩa tư bản hình thành ra sao? Chế độ độc đoán kiểu Sa hoàng và thời cộng sản đã qua hẳn chưa?

Chế độ dân chủ đa nguyên đã được thiết lập ở mức nào? Nga đã gia nhập vào cộng đồng thế giới ở mức nào, hội nhập hoàn toàn hay chưa? Tại sao một số nhà dân chủ Nga lại gọi ông Putin là “Sa hoàng thời hiện đại”, hoặc là “một Brejnev tái sinh”; đây là một kiểu chụp mũ, đả kích hay hàm chứa ít nhiều sự thật? Sao ông Putin, một nhân vật cốt lõi của cơ quan tình báo cộng sản cũ KGB kinh khủng một thời, lại có uy quyền đến vậy?

Rồi đây tình hình chính trị có thể diễn biến ra sao? Cuộc bầu nghị viện vừa qua có còn giá trị vững vàng không? Đảng Nước Nga Đoàn kết của ông Putin chưa đạt 50% ghế sẽ ở vào thế ra sao? Nếu biểu tình lan rộng thêm, kéo dài thêm, hàng trăm ngàn như phe đối lập dự tính vào ngày 14/1/2012 tới, thì tình hình chính trị mất ổn định to, có thể xảy ra đàn áp ngày càng lớn, tình hình sẽ ra sao? Có thể trở thành như ở Tunisia, Ai Cập, Libya hay không? Ở Moscow đã có khẩu hiệu tiến tới Mùa Xuân Nga, như Mùa Xuân Ả-rập hiện nay. Khẩu hiệu trên biểu ngữ: “Putin hãy ra đi”, và bài hát đồng ca trên đường phố “nước Nga không có Putin” với cả tranh đả kích ông Putin, sẽ có ảnh hưởng ra sao đến cuộc bầu cử tổng thống liên bang Nga dự định vào tháng 3/2012 sắp đến?

Thanh niên Nga, sinh viên nam nữ rất năng động, đang dùng internet, điện thoại cầm tay, Facebook, tổ chúc “những ngày phẫn nộ” – les jours de Colère – theo kinh nghiệm Bắc Phi.

Nhân vật Putin sẽ có thể đối phó ra sao? Ông ta đã trải qua 2 khóa tổng thống dân cử, rồi xuống làm thủ tướng một khóa, – chỉ để tránh điều khoản trong hiến pháp không được làm tổng thống liên tiếp quá 2 khóa, – nay còn tỏ tham vọng làm tổng thống 2 khóa liền nữa, ông ta vẫn tỏ rõ quyết tâm và tự tin tiến tới, sẽ đưa tình hình đến đâu?

Nếu đàn áp nhân dân xuống đường nổ ra, xô xát kéo dài, đổ máu trên đường phố, một số nhân dân Nga kêu gọi thế giới can thiệp, Liên Hợp Quốc và các nước dân chủ sẽ có thể đáp ứng như thế nào? Xã hội dân sự ở Nga đã đủ mạnh hay chưa?

Thế lực dân chủ trong liên bang Nga ra sao? Mặt trận Công dân do danh thủ cờ vua Garry Karparov lãnh đạo chưa đủ mạnh, nhưng phát triển nhanh. Nhà tỷ phú Mikhail Prokhorov lại vừa tuyên bố ra ứng cử tổng thống. Các đảng Cộng sản, đảng dân chủ Cấp tiến, đảng Công lý Nga đều yếu ớt, chỉ dưới 15 % cử tri, sẽ có ví trí nào?

Xã hội Nga 20 năm nay chuyển biến ra sao? 15 nước thành viên của liên bang khác nhau ra sao? Chênh lệch giàu nghèo mở rộng khác thường như thế nào? Sau thời kỳ sùng bái vô sản là cơn sốt làm giàu, chạy đua kiếm tiền, tậu nhà, hưởng thụ vật chất, tạo nên tầng lớp tỷ phú mới, không từ cạnh tranh trong tự do kinh doanh, lại theo mánh mung phi pháp kiểu phe nhóm maphia hậu cộng sản, đã làm xã hội Nga phồn vinh về hình thức, nát ruỗng trong tim gan như thế nào?

Theo công bố của các nhà dân chủ, tài sản của Putin, Medvedev và các bộ trưởng Nga đều vào hàng triệu phú mới, có người là tỷ phú đô la. Họ dẫn chứng khá nhiều triệu phú Nga gửỉ tiền, tậu biệt thự, cho con đi học ở Thụy Sỹ, Thụy Điển, Canada, Hoa Kỳ, Pháp; theo tin từ Moscow 20 năm qua có đến hơn 3 triệu công dân Nga bỏ nước ra đi, trong đó không ít là trí thức, thanh niên, nhà kinh doanh ngay thẳng, lương thiện, không muốn gia đình sống trong môi trường bất bình thường đầy cạm bẫy về pháp luật và đạo đức, xã hội còn có mặt sa sút hơn cả thời đảng CS Liên Xô. Đâu là sự thật đích thực, hay là tin đồn, dư luận?

Biết bao điều công luận Pháp và thế giới mong mỏi muốn biết rõ về liên bang Nga hiện nay.

Câu hỏi mấy ngày nay là tại sao trước đây Liên bang Nga không dùng quyền phủ quyết khi Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc lên án và trừng phạt Ai Cập, Libya, – là những dấu hiệu tốt – nay lại ngăn cản việc trừng phạt Syria, khi ông al-Assad đã tàn sát đến 5 ngàn thường dân? Một câu hỏi nóng hổi nữa là quan hệ Nga-Hoa Kỳ sẽ ra sao, khi Hoa Kỳ mong muốn ở Nga có những cuộc bầu cử dân chủ công bằng và Moscow đáp lại là Hoa Kỳ muốn gây bất ổn ở Nga, rằng các cuộc biểu tình lớn là do Hoa Kỳ xúi giục.

Một câu hỏi nữa là ảnh hưởng của ông M. Gorbachov hiện ra sao khi ông lên tiếng yêu cầu ông Putin hãy xuống đài, 3 kỳ liền làm tổng thống và thủ tướng là đủ rồi.

Có thể nói hàng trăm câu hỏi về liên bang Nga cần làm rõ, giải đáp. Liên bang Nga rộng lớn, hơn một trăm triệu dân, vẫn là một cường quốc có vũ khí nguyên tử, có thế và lực rất đáng kể trên bàn cờ toàn thế giới. Liên bang Nga luôn có vị trí có ý nghĩa quyết định trong châu Âu.

Nhiều câu hỏi chứa đựng nhiều ẩn số về liên bang Nga gợi ý cho ta suy nghĩ về nước Nga, vì Liên Xô cũ vốn từng được coi là người anh Cả của nước Việt Nam XHCN; hàng loạt câu hỏi trên cũng làm cho ta chạnh lòng nghĩ về nước ta, một nước không ra xã hội, cũng chẳng ra tư bản, một đảng mang tên cộng sản mà không có gì là chất cộng sản, các quan chức đều giàu sang phú quý có tài sản riêng tư gấp trăm ngàn lần các đại địa chủ và đại cường hào bị coi là thù địch thời trước, một chế độ chính trị – kinh tế cũng khó lòng nhận diện và gọi tên cho chính xác. Những danh từ dân chủ, nhân quyền, pháp quyền, xã hội bình đẳng, văn minh…đều mơ hồ, tù mù, mỉa mai, như đánh đố mọi người vậy.

Bùi Tín – VOA
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Báo động từ bên trong: đảng lâm nguy!
Bùi Tín viết riêng cho VOA
Nguy cơ gì vậy? Xin thưa: nguy cơ chế độ bị tan vỡ, đảng cộng sản bị mất quyền lãnh đạo.

Ai thổi còi báo động vậy? Xin thưa: Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong cuộc họp lần thứ tư khóa XI, tại Hà Nội, những ngày cuối năm 2011.

Vì sao vậy? Vì tình hình suy thoái đạo đức trong đảng đã sâu rộng đến mức cực kỳ nghiêm trọng, dẫn đến tình hình đạo đức xã hội cũng sa sút theo đến mức băng hoại chưa từng có.

Trong đảng thì dột từ nóc dột xuống. Tham nhũng cũng do đảng làm gương xấu, quan chức trên cao làm gương cho cấp dưới. Mức độ tham nhũng cá nhân thì lên đến hàng tỷ, hàng chục tỷ đồng, Làm hại công quỹ do tham ô tập thể thì lên đến hàng trăm tỷ, hàng nghìn tỷ đồng.

Chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã báo động trong cuộc họp rằng: chỉnh đốn đảng đang là điều kiện quyết định sự tồn vong của chế độ.

Bức tranh toàn cảnh tham nhũng và tình trạng chênh lệch giàu nghèo đang thách thức lương tri mọi người dân lương thiện.

Nhà xã hội học Tương Lai và giáo sư Chu Hảo cảnh báo nghiêm khắc Bộ Chính trị và chính phủ là nếu chỉ dám nếu lên vấn đề mà không thật sự dám xắn tay áo giải quyết đến nơi đến chốn thì sẽ là tai họa cho chế độ và cho đảng cầm quyền.

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và tướng Công an đã về hưu Khổng Minh Dụ cũng nêu lên những vụ án kinh tế kinh hoàng, các đại doanh nghiệp Nhà nước như các tập đoàn đóng tàu Vinashin, dầu Pétrolimex, điện EVN, hàng không VN Airline…đã đốt của, làm tiêu tan hàng tỷ, tỷ đô la như đốt giấy vàng mã ra sao, quan chức các cấp bệ rạc khắp nơi thì làm sao mà xã hội không bần cùng, lạm phát không phi mã, nhân dân không phẫn nộ được.

Thế rồi ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lên giọng cam kết: sẽ quyết tâm cao, sẽ phê bình và tự phê bình nghiêm, từ Bộ Chính trị, Ban bí thư sẽ gương mẫu, vì sự sống còn của đảng.

Như để minh họa cho tình hình cực kỳ nghiêm trọng, tin được phổ biến và bàn tán rộng: 2 viên chức đảng viên ở Sóc Trăng đánh cờ tướng cá cựợc nhau mỗi ván đến 1 tỷ đồng, được thua lên đến 22 tỷ, rồi đe doạ, xiết nợ, thuê bọn du côn xã hội đen ra tay… là một dẫn chứng cho tình hình đồi bại đến đâu. Viên chức ở cấp tỉnh lẻ mà ở đâu ra lắm tiền, thừa thãi tiền đến thế?

Thế rồi từ Úc, từ Nhật Bản, Hoa Kỳ, từ Anh quốc báo chí thế giới cảnh báo về việc chính phủ Hà Nội không chịu hợp tác tham gia phối hợp phá các vụ án lớn PMU 18, Securency, Nexus Technologies, vụ nợ lớn của tập đoàn Vinashin cùng 20 công ty phụ thuộc, trưng ra bộ mặt đã xấu còn trơ lỳ để bênh che cho các quan chức đồi bại và các doanh nghiệp Nhà nước bế bối đã hiển nhiên.

Nội dung cuộc họp Trung ương lần này cho thấy nguy cơ thực sự đe dọa sự tồn vong của đảng không phải từ xa, từ bên ngoài, từ “bọn đế quốc” hay “bọn phản động và tay sai”, mà hiển nhiên từ trong nội bộ đảng cầm quyền, từ những viên chức biến chất ở khắp nơi, đục khoét công quỹ, ăn chơi đàng điếm, cờ bạc rượu chè, đàn áp dân yêu nước, những bầy sâu cần loại bỏ, theo cách nói của ông Trương Tấn Sang.

Đứng ngoài, ông cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cũng ngứa ngáy vào cuộc, cũng nêu rõ tình hình suy thoái, xuống cấp về đạo đức trong đảng là cực kỳ nghiêm trọng, ông còn góp ý là mở cuộc đấu tranh cho quyết liệt, tuyên chiến với tội tham nhũng như với kẻ thù nguy hiểm nhất, với tinh thần ra trận, tổng công kích.

Vậy ông Phiêu có thể cho biết tiền đâu mà ông xây biệt thự 5 tầng? và cặp ngà voi cũng như chiếc trống đồng được coi là tài sản lịch sử của quốc gia ông đặt giữa nhà riêng là từ đâu mà có? Ông có thể vui lòng làm gương trong cuộc tổng công kích - tự phê bình, công khai hóa tài sản riêng của mình hay không?

Đầu năm, nghe những lời hứa hẹn, hô hào, cam kết của các vị Trung ương đảng qua cuộc họp lần thứ tư khóa XI, nào là quyết tâm cao, nào là đây là việc phải làm ngay, ngăn chặn nguy cơ đảng tan rã, chế độ đang lâm nguy vì đảng suy thoái, phải hành động cấp bách…mà sao vẫn còn tồn tại nhiều nỗi niềm.

Chẳng lẽ họ nói mạnh, nói rõ, kêu đúng bệnh, biết rõ bệnh hiểm nghèo, bệnh chết người, chết đảng, chết chế độ đến thế mà rồi vẫn chỉ là trên giấy, trên miệng lưỡi hay sao?
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Từ “Hoa Nhài” đến Thái Bình Dương
Thế giới 2011 nhìn vào 2012
TS Ðinh Xuân Quân

WESTMINSTER - Năm 2011 có quá nhiều biến cố - rất nhiều biến cố khó ngờ và bất ngờ,
và các biến cố này là nhân chứng của sự ra đi của các nhà độc tài, từ Ben Ali (Tunisia) đến Mubarak (Ai cập) hay Gadhafi (Libya).

Image
Hàng ngàn người dân Libya tại Benghazi ăn mừng, ba ngày sau khi nhà độc tài Gadhafi bị hạ sát. (Hình: Abdullah Doma/AFP/Getty Images)

Kết quả này là nhờ vào “sự bùng dậy tự phát” của các phong trào dân chủ tại nhiều nơi trên thế giới. Thế giới năm 2011 có những sự kiện đáng để ý:

- Trung Ðông: Phong trào “Hoa Nhài,” hay sự nổi dậy tự phát từ Tunisia thành “Mùa Xuân Ả Rập”;

- Trung Á: Trùm khủng bố Osama Bin Laden bị triệt hạ - chấm dứt dự hiên diện quân Mỹ tại Iraq nhưng vẫn chưa giải quyết được khó khăn tại Afghanistan;

- Á Châu: Từ Fukushima đến quốc tế hóa tranh chấp Biển Ðông, hay sự trở lại của Hoa kỳ tại Thái Bình Dương; và

- Âu Châu: Kinh tế khó khăn - sự xuống dốc của các nước Âu Châu.

Hãy thử duyệt qua các biến cố quan trọng trong năm 2011.

“Hoa Nhài Tunisia” đến “Mùa Xuân Ả Rập”

Từ chỗ một anh bán hàng rong tự thiêu vì bị cảnh sát chèn ép, Tunisia mang đến sự ra đi của nhà độc tài Ben Ali qua biến cố có tên “Cách Mạng Hoa Nhài.”

Nhiều chính quyền tại Trung Ðông mất sự ủng hộ của quần chúng và đã phải cuốn gói ra đi vì các cuộc “xuống đường ôn hòa và tự phát,” còn gọi là nổi dậy Hoa Nhài. Sau Tunisia là Ai Cập, Bahrain, Yemen, Libya, và nay là Syria, đều bị ảnh hưởng.

Trong cuộc nổi dậy tại Tunisia, Ai cập, Yemen, dân chúng xuống đường không dùng khẩu hiệu Hồi Giáo mà chỉ có khẩu hiệu “dân chủ, chống tham nhũng, kêu gọi bầu cử...,” không có gì là quá khích. Tại Ai Cập và tại Tunisia, phe Hồi Giáo quá khích đóng vai trò rất nhỏ trong cuộc nổi dậy Hoa Nhài. Bài học của các cuộc nổi dậy cho thấy:

“Cơm no - áo ấm” chưa đủ để thỏa mãn đòi hỏi của dân. Giới trẻ có học hơn, họ không chỉ đòi hỏi cho bao tử mà còn đòi hỏi về trí tuệ. Phe Hồi Giao theo “thế tục - ôn hòa và thiên về dân chủ” đang trên đà thắng thế, muốn giải quyết các vấn đề xã hội qua việc quản lý tốt đất nước và xã hội dân chủ.

Internet - Facebook, Twitter đã giúp họ tranh đấu dân chủ. Giới trẻ có học, biết dùng các mạng xã hội như Facebook và Twitter đã bắt đầu được thử lửa trong cuộc nổi dậy của tuổi trẻ Iran năm 2009. Các mạng xã hội trở thành công cụ giúp người phản kháng phối hợp hành động và lôi kéo thêm thành viên mới và giúp cho thế giới bên ngoài biết được sự đàn áp. Vào tháng Giêng, 2010, Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố, tự do lưu chuyển thông tin trên mạng là mục tiêu chính thức trong chính sách ngoại giao Hoa Kỳ. Vị trí các mạng xã hội được khẳng định với các cuộc cách mạng của nhân dân Ả rập trong năm nay. Kịch bản ở Iran được lặp lại ở Tunis, Cairo, v.v. nhưng lần này thì giới trẻ đã thắng.

Năm 2011, một nhân viên Ai Cập làm việc cho Google, là Wael Ghonim, lập một trang Facebook dùng làm nơi hội tụ cho những người nổi dậy ở Cairo. Bị bắt giam 11 ngày nhưng khi được trả tự do anh trở thành một trong những phát ngôn viên của tuổi trẻ Ai Cập.

Qua các cuộc nổi dậy ta thấy các các vụ ám sát hay đe dọa của phe quá khích không hữu hiệu bằng các vụ xuống đường ôn hòa khiến các chế độ độc tài và công an trị sụp đổ. Các chế độ này sụp đổ mau chóng vì dân không còn sợ hãi nữa - cũng như các vụ nổi dậy tại các nước Ðông Âu làm sụp chế độ Cộng Sản trước đây.

Hồi giáo quá khích - ảnh hưởng của Osama Bin Laden dùng vũ lực chưa bắt rễ. Các tổ chức trực thuộc Al Queda, như tại Bắc Phi gọi là AQIM, hay al-Queda tại Arập Saudi gọi là AQAP, không nhiều ảnh hưởng đối với đa số dân chúng Ả Rập. Cuộc nổi dậy hoa nhài cho thấy các cuộc “xuống đường ôn hòa” hiệu nghiệm hơn vũ lực.

Bài học là nơi nào có bất công, có nghèo đói nơi đó Hồi Giáo có thể lợi dụng. Các cuộc nổi dậy cho thấy, ôn hòa, bất bạo động hữu hiệu hơn vũ lực, đàn áp. Dân chúng tại các nước này ngày càng có học, hiểu biết về tin học, Twitter, Facebook, Paltalk... cho nên chính quyền độc đoán khó có thể bưng bít bằng công an, tường lửa hay mua chuộc, bằng kiểm soát Internet, hay đàn áp để tạo sợ hãi.

Bài học nữa là phong trào này không mang tính đảng phái, cũng không có lãnh tụ. Ngay cả lãnh tụ nổi lên từ phong trào cũng không có. Mọi người xuống đường tự phát và hoạt động của họ được điều hướng chủ yếu qua các mạng xã hội, từ facebook đến twitter hay tin nhắn trên điện thoại di động. Không có lãnh đạo nhưng rất nhịp nhàng!

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và Qatar cũng bị lung lay, và khối Ả Rập phải ra tay. Tại Yemen, phong trào nổi dậy đã buộc TT Saleh hứa sẽ ra đi và xung đột ở Syria vẫn đang tiếp diễn.

Những biến động ở Bắc Phi đã gây một hiệu ứng lây lan nhanh chóng sang nhiều khu vực khác trên thế giới. Bắc Kinh và các chế độ khác lo sợ trước “Mùa Xuân Ả Rập,” và họ đã phải huy động một đội ngũ công an hùng hậu để ngăn cản các cuộc tập hợp được dự trù tổ chức hầu tránh một thứ “Hoa Nhài” tại đây.

Nói tóm, trong năm 2011, một loạt các nhà độc tài cầm quyền từ 20 đến 40 năm ở Tunisia, Ai Cập và Libya đã bị người dân “quét đi” qua một làn sóng “phản kháng tự phát” chưa từng có. Làn gió dân chủ đó hiện tại đang đe dọa Syria. Câu hỏi còn lại: Khi nào đến phiên Iran và Châu Á?

Bin Laden bị thanh toán, Mỹ rút khỏi Iraq, và câu chuyện Afghanistan

Sau 10 năm truy lùng, biệt kích Hoa Kỳ đã tiêu diệt được trùm khủng bố Osama Bin Laden. Việc này gây ấn tượng lớn tại Mỹ trong năm 2011.

Tại Iraq, quân nhân cuối cùng đã đến Kuwait. Vào cao điểm, Hoa Kỳ đã có 170,000 binh sĩ và hơn 500 căn cứ hoạt động ở Iraq. Gần 4,500 lính Mỹ hy sinh kể từ khi Hoa Kỳ tấn công Saddam Hussein vào năm 2003 và tổn phí cho ngân sách lên gần một nghìn tỷ Mỹ kim.

Lực lượng Hoa Kỳ kết thúc sứ mạng chiến đấu ở Iraq từ 2010 và bàn giao các vai trò này cho chính phủ sở tại. TT Obama ca ngợi binh sĩ Hoa Kỳ, nhưng cũng thừa nhận cuộc chiến “gây tranh cãi” (không được Liên Hiệp Quốc ủng hộ; không tìm thấy khí giới hủy diệt hàng loạt và nay Mỹ đã thả ông thần - giáo phái shiai và sunny - ra khỏi chai).

Theo ông thì các binh sĩ Mỹ để lại “một Iraq có chủ quyền, ổn định và tự chủ”. Tuy nhiên, sự ra đi của quân đội Mỹ sẽ để lại chỗ trống (mặc dù một số quân còn đóng ở Kuwait và Bahraim), có nhiều nguy cơ Iran sẽ lợi dụng, hệ thống chính trị chưa đủ mạnh hoặc khả năng tự vệ biên giới còn hạn chế. Người ta cũng lo ngại Iraq có thể rơi trở lại xung đột giáo phái do Iran giật dây, gây bất ổn trong vùng. Dù sao TT Obama cũng có thể khẳng định ông giữ lời hứa khi tranh cử; cho dầu đây vẫn là “an unfinished job - một công việc còn dở dang”.

Mỹ có mặt tại Afghanistan từ năm 2001. Ai cũng bi quan, tự hỏi liệu Hoa Kỳ có đủ ý chí và kiên nhẫn để đi đến thành công. Tổn phí tại Afghanistan đang là trở ngại trong thời kỳ kinh tế Mỹ bị suy thoái và thâm thủng ngân sách cao. (1)

Từ khi Liên Xô (cũ) rút khỏi Afghanistan năm 1989, các phe phái tại Afhganistan lâm vào nội chiến. Nội chiến kéo từ 1992-1996, và hòa bình trở lại khi phe Taliban bị lật vào năm 2002. Sau đó Liên Hiệp Quốc (LHQ) giúp các phe phái xây dựng một Hiến Pháp (HP) vào năm 2003, giúp bầu cử Tổng Thống (TT) và Quốc Hội (QH). Trên 8 triệu người tham gia bầu cử TT (năm 2004) và 6.4 triệu người tham gia bầu cử QH năm 2005.

Năm 2001, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) ước đoán GDP đầu người là $170, chỉ 10% đường được tráng nhựa, 30% biết đọc biết viết, 25% trẻ em đi học, và cả nước có chừng 50,000 xe hơi. Afghanistan có 4 triệu dân di cư với khoảng 1.2 triệu “di cư nội địa.” Tuổi thọ trung bình là 42 tuổi và tử suất nơi trẻ em trước 5 tuổi là 165/1000, gấp 4-5 lần một nước bình thường.

Từ 2001 trở đi, Liên Hiệp Quốc (LHQ) chi trên $19 tỷ trong những năm 2001-2009 để tái xây dựng Afghanistan. LHQ cũng giúp xây dựng guồng máy hành chính, xây dựng cơ cấu dân sự trong khi về an ninh thì có quân ISAF (International Security Armed Forces) - lực lượng quốc tế - gồm trên 40 nước dưới sự điều khiển của LHQ cố gắng đào tạo cảnh sát và xây dựng quân đội quốc gia. LHQ dự trù có 40,000 quân lính quốc gia để giữ an ninh trật tự và Mỹ đã chi $4.4 tỷ đào tạo 36,000 quân cho quân đội quốc gia (ANA - Afghan National Army).

Năm 2003, ISAF có 5,000 lính; năm 2005 chỉ có 10,000 lính; và năm 2006 chỉ có 20,000 quân Mỹ tại Afghanistan. Nói tóm, từ 2001-2009, quân ISAF bỏ trống Afghanistan, trừ vài tỉnh như Kabul, Mazar-e-Sharif hay Herat. Sự yếu kém của chính phủ trung ương và tình trạng thiếu quân LHQ/ISAF đã giúp sự trở lại của Taliban. Mỹ bắt đầu tài trợ cho quân đội Afhgan từ $1.9 tỷ vào 2006 lên $12.5 tỷ/năm vào 2011. Họ giúp nâng quân số quân chính phủ từ 36,000 năm 2006 lên đến 170,000 và năm 2014 quân đội và cảnh sát được dự trù 400,000 người. Năm 2009, Mỹ nâng quân từ 22,000 lên 100,000 dưới sự chỉ huy của Tướng McChrystal và quân NATO từ 21,000 lên 39,000, nâng tổng số tại Afghanistan lên 150,000 vào 2011.

Lầm lỗi của LHQ và Mỹ là đánh giá sai về khả năng quân sự và hành chính của Afghanistan và hơn nữa vì Iraq cho nên Afghanistan bị bỏ rơi (2001-2008). Từ khi Mỹ đổ thêm quân số (2009) thì có phần khả quan hơn nhưng cường độ tranh chấp cao hơn vì các nước láng giềng như Iran, Pakistan không muốn Mỹ thành công.

Afghanistan có phần tiến bộ rõ ràng, xây dựng hạ tầng cơ sở, giáo dục và y tế và phát triển nông thôn rất rõ. Afghanistan cũng tìm thấy nhiều tài nguyên khoáng sản (vàng, đồng, uranium, sắt, đất hiếm, dầu khí...). Với thời gian, quốc gia này có thể tự cường và phát triển.

Các tiến bộ về guồng máy dân sự còn chưa đi song song với các tiến bộ quân sự. Nói tóm: Không có phép lạ tại Afghanistan vì còn trong xã hội kém mở mang. Liệu Mỹ có đủ kiên nhẫn?

Từ Fukushima đến Biển Ðông - Cuộc đọ sức Mỹ-Trung

Sau sóng thần tại Nhật Bản, cả thế giới dõi theo từng bước của nhà máy hạt nhân Fukushima vì nếu điều bất trắc xảy ra, những đám mây phóng xạ không phân biệt ranh giới quốc gia, sẽ đe dọa rất nhiều nước.

Trận sóng thần gây thiệt hại cho nhà máy hạt nhân Fukushima và có thể gây ô nhiễm qua mây phóng xạ bay trong bầu khí quyển hay trong nước thải.

Ngoài vấn đề hạt nhân, trận thiên tai sóng thần gây rối loạn cho ngành công nghệ điện tử cao cấp thiết bị điện tử chủ chốt của Nhật Bản, như Sony, Mishubishi, Hitachi. Hàng loạt các nhà máy chế tạo điện tử và xe hơi từ Hàn Quốc, đến Ðài Loan, sang đến Châu Âu rồi qua Mỹ đều lần lượt bị ảnh hương vì thiếu linh kiện từ Nhật Bản.

Ngoài ra, các dây chuyền cung ứng của các xí nghiệp tin học, điện tử và xe hơi đều bị tác động nặng nề. Tác động lan sang Hoa Kỳ; công ty chuyên về thiết bị tin học Hewlett Packard cũng gặp khó khăn với những nhà cung cấp linh kiện của Nhật. General Motor cũng phải tạm thời đóng cửa nhà máy tại Lousiana với lý do tương tự. Các hãng xe hơi Pháp, như Renault, Peugeot, cũng phải cắt giảm sản xuất. Hãng Toshiba thông báo đóng cửa tạm thời một cơ sở lắp ráp màn hình tinh thể lỏng (LCD). Hậu quả kinh tế, trong tháng 3 và 4 năm nay, Nhật tăng trưởng “âm” (-1.9%).

Biển Ðông và sự trở lại của Hoa Kỳ

Từ nhiều năm, Trung Quốc dùng chính sách “khống chế Việt Nam” qua việc xâm lược Hoàng Sa, Trường Sa, cung cấp vũ khí - trợ giúp cho Khơme đỏ gây hấn năm 1978, và chiến tranh biên giới với Việt Nam 1979.

Năm 2011, Trung Quốc cắt cáp các tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam trong khu vực độc quyền kinh tế Việt Nam, hăm dọa Philippines và các nước trong vùng Thái Bình Dương. Lần đầu tiên Việt Nam lên tiếng phản đối hành động hung hăng của Trung Quốc và trong nhiều năm qua, Hà Nội có nhiều cố gắng xích gần Washington để cân bằng với Bắc Kinh tại Biển Ðông.

Thái độ Trung Quốc khiến các nước láng giềng lo lắng và không chỉ là ASEAN mà cả Mỹ, Nhật, Ấn Ðộ và Úc cũng lo ngại. Các hành động gây hấn trên Biển Ðông hay biển Ðông Hoa quá rõ ràng. Họ gởi tàu ngư chính tuần tra tại vùng Hoàng Sa, đe dọa các tàu đánh cá Việt Nam, đe dọa tàu thăm dò dầu lửa của Việt Nam và Philippines... Không chỉ tranh giành tại Biển Ðông, Trung Quốc còn biểu lộ tham vọng kiểm soát Ấn Ðộ Dương.

Năm 2011 là năm phản công quy mô của Hoa Kỳ qua chuyến công du Thái Bình Dương của TT Obama.

Tại Úc, TT Obama cho triển khai 2,500 Thủy Quân Lục Chiến đến Darwin. Ông nói: “Hoa Kỳ là một thế lực Thái Bình Dương, và chúng tôi sẽ duy trì tư thế đó.” Sau đó, tại hội nghị APEC tại Hawaii, Mỹ cho thúc đẩy đàm phán TPP (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương, hay Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement, bao gồm 9 thành viên, khởi động từ 2005, nhằm xây dựng một khu vực thương mại tự do hai bên bờ Thái Bình Dương, không có sự tham dự của Trung Quốc). Rút kinh nghiệm WTO, là nơi Trung Quốc không giữ các cam kết mở thị trường của họ, Mỹ đề nghị TPP - một tiến trình hội nhập tư do thương mại kinh tế liên quan tới 9 nền kinh tế năng động, chiếm 25% sản lượng kinh tế thế giới, có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là $16,000 tỷ trong một thị trường với 472 triệu dân. Nhiều nước ASEAN muốn tham gia TPP gồm Singapore, Malaysia, Brunei và Việt Nam, chưa kể các nước khác như Úc, Tân Tây Lan, Chile, Peru, Canada, Mexico và Nhật. Tại Thượng đỉnh Ðông Á Bali ngày 19 tháng 11, 2011, Biển Ðông được quốc tế hóa và TT Obama tái xác định lập trường “tự do lưu thông” tại Biển Ðông, đồng thời nhắc rằng các tranh chấp chủ quyền phải dựa trên luật quốc tế, kể cả luật biển của LHQ, gọi là UNCLOS. Ðối với TQ, việc hồ sơ Biển Ðông được quốc tế hóa tại một diễn đàn gồm 18 nước là một thất bại chính trị cho Bắc Kinh. Phản công của Hoa Kỳ cho thấy Trung Quốc “bơ vơ - bị chiếu tướng”.

Âu Châu khủng hoảng nợ công

2011 là năm khu vực đồng Euro gây quan ngại. Giám đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, bà C. Lagarde, kêu gọi tất cả các quốc gia trên thế giới cùng hợp lực xua tan đám mây đen bao phủ toàn cảnh kinh tế thế giới.

Bà quan ngại về khủng hoảng khu vực Euro vì có thể dẫn tới một sự mất niềm tin ở quy mô quốc tế có nguy cơ dẫn kinh tế toàn cầu vào vòng suy thoái.

Tình trạng khủng hoảng nợ công của Hy Lạp kéo dài từ năm 2010, lan sang nhiều thành viên khác trong khối Euro: Ireland, Bồ Ðào Nha (Portugal), Tây Ban Nha và ngay cả của Ý (nền kinh tế thứ ba của khối Euro với nợ công lên tới 1,900 tỷ Euro, hay 120% GDP - tổng sản phẩm nội địa) chỉ vì vấn đề nợ công. Các nước như Áo, Ðức cũng trở thành mục tiêu tấn công của các thị trường tài chính cho dù Áo là quốc gia có chính sách chi tiêu chừng mực, tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp, tỷ lệ nợ công ở mức trong giới hạn và không bị thâm hụt cán cân thương mại. Ðức thì trong đợt phát hành công trái phiếu gần đây đã chật vật lắm mới huy động được vốn như ý muốn. Tại Pháp, chính phủ cho ra đời hai kế hoạch thắt lưng buộc bụng nhưng các nỗ lực của Paris đến giờ vẫn chưa đủ sức thuyết phục ba cơ quan thẩm định tài chính đầy quyền lực, là Fitch, Standard & Poor's và Moody's.

Trong khi Âu Châu điêu đứng vì nợ công thì 27 nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu và 17 thành viên khối Euro chưa đưa ra được biện pháp cụ thể nào để tháo gỡ bế tắc. Giải pháp duy nhất là thi hành các biện pháp cắt giảm chi tiêu - giảm bội chi ngân sách, hạ tỷ lệ nợ công / GDP từ nay cho đến ít nhất là 2014 nhằm giữ điểm tín nhiệm ở mức cao nhất. Các chính sách khắc khổ mất lòng dân vì đồng nghĩa với việc cắt giảm chi tiêu công cộng, giảm trợ cấp xã hội, giảm lương hưu, tăng thuế.

Từ Madrid, Paris, Athènes, Roma hay Lisbon, người dân xuống đường bày tỏ phẫn nộ. Các biện pháp cắt giảm trợ cấp xã hội, lương hưu hay giảm các chi tiêu công khiến dấy lên phong trào phản đối. Nhiều cuộc tổng đình công diễn ra tại Hy Lạp, Bồ Ðào Nha, Ý, và kể cả tại Anh, nơi người dân vốn cam chịu.

Nhiều chuyên gia đánh giá việc cắt giảm chi tiêu là sai lầm vì theo họ cần xem lại tỷ giá hối đoái của đồng Euro. Nước Ðức là một ngoại lệ vì ngành xuất khẩu của Ðức vẫn rất năng động và cán cân thương mại của chính quyền Berlin không bị thiếu hụt. Ðây là lý do dẫn đến tình trạng “tê liệt” trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính Châu Âu, một trận chiến kéo dài thực ra là từ hơn một năm nay. Hiện tại, Âu Châu coi như tê liệt.

2011 là năm cách mạng tự phát đã giúp hạ bệ nhiều nhà độc tài tại Trung Ðông. Các nước tại Á Châu nay sợ điều gọi là Cách Mạng Hoa Nhài. Trùm khủng bố Osama bị hạ bệ, Mỹ rút khỏi Iraq nhưng vấn đề Trung Ðông chưa hóa giải xong, và Washington vẫn còn kẹt tại Afghanistan. Tại Á Châu, Mỹ phản công vì các nước muôn cân bằng ảnh hưởng của một Trung Quốc đang lên với nhiều tham vọng đế quốc kiểu “Ðại Hán”.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Sức mạnh mềm (Made in China)

Ngô Nhân Dụng

Cuối năm 2011 tôi được giới thiệu với một người Mỹ cùng tuổi, nghe nói anh rất thích văn hóa Á Ðông, đọc và viết chữ Hán, nói tiếng Quan Thoại trôi chảy từ hồi còn trẻ.

Dick đã hẹn gặp mấy người bạn nên lái xe chở tôi đi cùng. Thế là tình cờ tôi gặp cả một nhóm người Mỹ và người Trung Hoa từ lục địa qua. Họ đều tham dự trong một tổ chức ở Ðại Học Wisconsin, Platteville, mang tên “Confucius Institute”! Tôi biết Bắc Kinh đã mở ra 300 cái “Confucius Institute” nho nhỏ khắp thế giới, riêng nước Mỹ có 75 cái, người Trung Quốc gọi là Khổng Tử Học Viện. Nhưng tôi không ngờ tại thành phố Platteville bé nhỏ này, với 11 ngàn dân mà trong đó ba phần tư là sinh viên, cũng có một Confucius Institute, do một bà giáo sư người Mỹ làm chủ tịch, và mấy thầy cô giáo từ Vũ Hán, Bắc Kinh, Quảng Châu qua tận tiểu bang Wisconsin dậy tiếng Tàu cho sinh viên Mỹ học!

Quả nhiên, Dick nói tiếng Tàu rất giỏi, anh còn đứng lên hát chung với một cô giáo Tàu, đối đáp từng câu, trông như thật! Một thầy giáo trẻ tuổi đang dậy tiếng phổ thông ở Confucius Institute Ðại Học Platteville ngồi kế bên tôi. Anh ta họ Hạ, nhưng yêu cầu gọi tên Jack, cho “hòa hài” với các người bạn Mỹ mới. Sau mấy câu chuyện xã giao, tôi hỏi Jack: “Nếu anh dậy thêm được một người Mỹ nói tiếng Tàu thông thạo, chắc anh coi đó là một thắng lợi cho nước anh, phải không?” Jack vui vẻ gật đầu. Tôi nói tiếp: “Người Mỹ họ cũng nghĩ như vậy đấy. Nếu có thêm một người Mỹ nói thông thạo tiếng Tàu, nước Mỹ họ cũng có lợi!”

Tôi nêu thí dụ: “Coi anh Dick đây này, nửa thế kỷ trước Dick bị động viên; đi lính không quân đóng ở Okinawa, Nhật Bản. Chính phủ Mỹ lúc đó cấp học bổng, thuê người vào trại lính dậy ngoại ngữ, anh ấy chọn học tiếng Tàu, chỉ vì tò mò. Khi học xong còn được gửi sang Ðài Loan thực tập nữa.” Jack nghe, tỏ ý thú vị, tôi giải thích thêm: “Khi trả tiền cho những anh lính như Dick học tiếng Tàu, tiếng Nhật, Cao Ly, chính phủ Mỹ đã đầu tư vào cuộc đời của họ. Ða số dân Mỹ lười, ít ai thích học tiếng ngoại quốc, khi cần kiếm không ra. Thêm một người Mỹ biết một tiếng ngoại quốc, cũng giống như học được một nghề, một kỹ thuật mới vậy; chính phủ Mỹ cho là nước họ trước sau cũng có lợi. Cũng giống như khi họ đầu tư vào giáo dục; cứ một người dân giỏi thêm về một món nào đó, cả quốc gia sẽ có lợi! Thành ra anh Jack, anh đang giúp nước Mỹ đấy nhé!”

Tôi chắc đến giờ này Jack vẫn chưa hiểu hết vấn đề này. Các giáo viên như anh được tập huấn rằng họ sẽ đi dậy tiếng Tàu cho người ngoại quốc, tức là truyền bá văn minh Trung Hoa. Anh đóng vai một chiến sĩ văn hóa, cũng giống như các phái bộ truyền giáo Tây phương hồi thế kỷ 16 đưa người sang Tàu vậy. Thật là khó hiểu, nếu những giáo sư được Bắc Kinh trả lương lại đang “phục vụ” cho cả nước Mỹ! Ðây là một vấn đề lập trường và quan điểm chứ không nhỏ! Người dân các nước cộng sản vẫn có thói quen suy nghĩ theo lối chơi “zero-sum game” tức là ở đời này “thằng này ăn, thằng kia phải thua”. Họ không hiểu được trên đời lại có cuộc chơi mà mình thắng lợi thằng kia nó cũng được lợi!

Người Trung Quốc vẫn chưa quen với lối suy nghĩ này. Chỉ cần nghe ông Hồ Cẩm Ðào nói cũng đủ biết là Jack chưa thế nào quen. Trong tuần lễ đầu năm 2012, tạp chí Cầu Thực, một cơ quan lý thuyết của đảng Cộng Sản Trung Quốc đã đăng một số lời phát biểu của ông Hồ. Trong một bài huấn thị trước các cán bộ cao cấp của đảng, ông Hồ đã cảnh cáo: “Các thế lực thù địch quốc tế đang gia tăng âm mưu chiến lược” với mục đích tấn công, xâm nhập trường kỳ vào “các lãnh vực chủ thuyết cùng văn hóa” của Trung Quốc!

Tại sao ông Hồ phải nói như vậy? Vì đảng Cộng Sản sợ. Họ dư biết chủ nghĩa Mác Lenin Mao lạc hậu, ngớ ngẩn, dở hơi, chẳng ai thèm tin nữa. Nhưng họ vẫn muốn kiểm soát chặt chẽ cái gì chứa trong đầu hơn một tỷ người Trung Hoa! Vẫn phải chiếm độc quyền thông tin, độc quyền trên báo chí, điện ảnh, truyền hình, vân vân. Ðảng Cộng Sản sợ những hiểu biết mới, ý kiến mới, tư tưởng, quan niệm mới; không dám cho xâm nhập vào đầu óc người dân Trung Hoa, đặc biệt là các thanh niên, trí thức.

Trong khi đó, Cộng Sản Trung Quốc vẫn muốn lợi dụng cái tên ông Khổng Tử để gây ảnh hưởng khắp thế giới, một thứ ảnh hưởng bây giờ quen gọi là “Sức Mạnh Mềm”. Soft Power là một từ do Giáo Sư Joseph Nye, Ðại Học Havard bày ra để phân biệt với Sức Mạnh Cứng (Hard Power) của một quốc gia, như quân đội, vũ khí, tiền bạc. Một nước có thể gây ảnh hưởng trên thế giới mà không cần dùng tiền tài hay vũ lực, nếu có các sức mạnh mềm. Người Trung Hoa dịch Soft Power là “Nhuyễn Thực Lực,” nhuyễn nghĩa là mềm. Bắc Kinh có chủ ý mở các Viện Khổng Tử, làm một “mũi nhọn” tấn công bằng sức mạnh mềm.

Nhưng đảng Cộng Sản Trung Quốc có thể biến Khổng Tử thành một “chiến sĩ tiền phương” cho cuộc chinh phục thế giới bằng “Sức Mạnh Mềm” hay không? Có một nhà trí thức Trung Hoa đã trả lời là không thể nào được!

Giáo Sư Bàng Trung Anh (Pang Zhongying), Ðại Học Nhân Dân ở Bắc Kinh, nghiên cứu vấn đề “Nhuyễn Thực Lực” từ lâu. Ông đã phân tích khái niệm này để đặt câu hỏi xem nước ông có thể tạo được Sức Mạnh Mềm bằng cách nào. Ông liệt kê các sức mạnh gọi là mềm theo cách trình bày của Joseph Nye. Có thể kể ra: Hệ thống sản xuất kinh tế; hệ thống giáo dục; rồi đến những kinh nghiệm phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa mà nước khác có thể học được; lại thêm sức lôi cuốn từ các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật; số giải Nobel đã nhận được; các ngôi sao thể thao, văn nghệ được thế giới hâm mộ; và nói chung, uy tín tinh thần khiến người nước khác kính nể; khả năng ảnh hưởng trong các định chế quốc tế; vân vân. Không quốc gia nào có được tất cả các sức mạnh kể trên; nước nào càng đạt được nhiều yếu tố thì càng mạnh.

Sau khi liệt kê các tiêu chuẩn của sức mạnh mềm, Giáo Sư Bàng Trung Anh nhận xét nếu nhìn trên các yếu tố tạo thành Nhuyễn Thực Lực thì Trung Quốc hiện nay còn rất nhiều vấn đề, không thể sánh với Mỹ được. Bàng Trung Anh thú nhận trong thế giới bây giờ Trung Quốc chưa có cái gì để làm mẫu cho các nước khác noi theo cả. Nước Trung Hoa hiện đóng vai Xưởng Máy của Thế Giới (World Plant). Và đóng vai Người Làm Công của thế giới (World Employed Laborer). Như vậy chưa đủ. Muốn tạo được Sức Mạnh Mềm, Bàng Trung Anh viết, thì một quốc gia phải tin tưởng vào một số giá trị phổ quát (Universal Values, người Trung Hoa gọi là Phổ Thế Giá Trị); và cùng chia sẻ các giá trị đó với các dân tộc khác. Tự do tư tưởng, Quyền con người, đó là những giá trị đang được loài người chia sẻ. Nhưng hiện nay, giới lãnh đạo Trung Quốc đều phủ nhận những “Phổ thế Giá trị;” trừ ông Ôn Gia Bảo lâu lâu tỏ ra là thuộc “Phổ thế phái”. Theo Giáo Sư Bàng Trung Anh , chưa ai thấy Sức Mạnh Mềm nào Made in China cả!

Về việc sử dụng hình ảnh Khổng Tử, Bàng Trung Anh nhận thấy khi đem một nhà tư tưởng sống trước đây 2,500 năm ra làm khuôn mẫu, hành động đó chỉ chứng tỏ cảnh thiếu thốn, nghèo nàn! Nước Trung Hoa bây giờ không có được một kiểu mẫu, một thần tượng đương thời nào cho nên mới phải khiêng một ông thánh đời xưa ra trưng bày!

Bàng Trung Anh nói thẳng: Không nên nghĩ đến việc khai thác Khổng Tử. Nếu Trung Quốc muốn có “Nhuyễn Thực Lực” thì hãy lo phát triển một nền giáo dục phổ cập cho toàn dân; lo bảo vệ đạo đức trong xã hội. Hãy hướng về tương lai, đi tìm các tư tưởng, các giải pháp phù hợp với thế giới trong tương lai đó. Ông nói thẳng: Sức Mạnh Mềm đáng kể nhất thời nay là chế độ dân chủ.

Chúng ta không hy vọng đa số người Trung Hoa có thể đồng ý với Giáo Sư Bàng Trung Anh. Thường họ dám suy nghĩ ngoài những khuôn khổ do các ông Ðặng Tiểu Bình cho tới Hồ Cẩm Ðào cho phép. Họ vẫn được nhào nặn theo lối nghĩ “zero-sum game,” trò chơi “ăn bù thua”. Thí dụ, công ty Disney của Mỹ mới khởi công xây dựng một khu giải trí ở Thượng Hải, sẽ đầu tư khoảng bốn tỷ đô la. Tân Hoa Xã loan báo tin này, kèm theo lời bình luận coi khu giải trí này sẽ là “một đấu trường về Sức Mạnh Mềm (Nhuyễn Thực Lực) giữa các dân tộc”. Một blog bên Tàu cũng báo động: “Sức mạnh mềm của Mỹ đang tấn công vào nền văn minh rực rỡ 5,000 năm của Trung Quốc!”

Ðây là dấu hiệu của tình trạng thiếu tự tin: Nhìn đâu cũng sợ hãi. Trong một “xã hội mở,” người ta không sợ cho dân chúng tiếp xúc và học hỏi những cái mới lạ, thí dụ, học một ngôn ngữ khác. Người ta cũng sẵn sàng đón nhận những hiểu biết mới, các ý kiến, quan điểm mới, các sinh hoạt nghệ thuật, giải trí mới. Vì biết rằng cuối cùng quốc gia sẽ được lợi nhiều hơn là bị thiệt. Trên thế giới bây giờ trẻ em thích các trò chơi của Disney cũng như mê phim hoạt họa Nhật Bản, người lớn mê coi phim bộ Ðại Hàn; nam phụ lão ấu đều mê coi đá banh; trẻ con Mỹ cũng hâm mộ Yao Ming, cầu thủ bóng rổ người Tàu; giới thẩm âm thích nghe Yo Yo Ma hay Lang Lang đàn. Tại sao không nhìn thấy tất cả những cuộc trao đổi đó là có lợi cho tất cả mọi người? Tại sao nhìn một khu giải trí lại lo lắng nó sẽ thành cái đấu trường trong đó có người ăn phải có người khác thua? Ðúng là thần hồn nát thần tính!

Chỉ riêng cách suy nghĩ đó đã chứng tỏ nước Trung Hoa vẫn chưa có Sức Mạnh Mềm. Một quốc gia có Sức Mạnh Mềm thì trước hết phải rất tự tin. Họ không sợ hãi khi phải gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi, thi đua với các sản phẩm văn hóa, giáo dục, các tin tức, các ý kiến, quan điểm từ các nước khác tới. Khi ông Hồ Cẩm Ðào còn tưởng tượng ra các “thế lực thù địch” lo chúng sẽ ảnh hưởng trên bộ óc của người Trung Hoa, thì nước ông còn chưa đủ mạnh. Không những thế, các người lãnh đạo đảng Cộng Sản Trung Quốc cứ lo như vậy tức là họ đang kìm hãm dân Trung Hoa khiến họ không quen suy nghĩ độc lập; còn lâu mới phát triển được sức mạnh mềm. Ðời xưa những thế hệ các ông Khổng Tử, Lão Tử, truyền tới Mạnh Tử, Trang Tử, Hàn Phi, đã dựng lên cơ sở cho Sức Mạnh Mềm của văn minh Trung Hoa. Họ đã ảnh hưởng tới các nước Á Ðông trong hai ngàn năm. Ngày nay thế giới đã thay đổi. Loài người đã khám phá ra những giá trị mới trong ba trăm năm gần đây. Giờ đây ai cũng thiết tha với giá trị tự do, với các luật chơi dân chủ; ai cũng tin rằng phẩm giá của từng con người phải được tôn trọng. Năm 2011 đánh dấu cuộc thức tỉnh của hàng trăm triệu người Á Rập do giới thanh niên, trí thức dẫn đầu. Nếu thanh niên Trung Hoa vẫn bị bịt tai, che mắt, không được biết đến các giá trị đó, không được chia sẻ và thảo luận với nhau, thì còn lâu Trung Quốc mới tiến được. Chính cái đầu chật hẹp của giới lãnh đạo Cộng Sản Trung Hoa mới nguy hiểm; chính họ làm cho Trung Quốc chậm tiến!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Những con tắc kè ảo vọng

Hoàng Thanh Trúc
(danlambao)

Image
Nguyễn Đắc Xuân - "Huế: Những ngày tháng sục sôi"
Khác với thông lệ, năm nay tìm đỏ con mắt trên các giai phẩm Báo Xuân không còn thấy bóng dáng hào hùng của vị Anh Hùng dân tộc Quang Trung Hoàng Đế oai phong lẫm liệt trong chiến bào trên lưng tuấn mã, vung gươm chỉ huy ba quân trong ngày đầu Xuân, Bắc Tiến đại phá quân tàu (MãnThanh) xâm lược, giãi phóng Thăng Long thành, ngược lại người ta đọc thấy trên bốn số báo Tuổi Trẻ/tp/HCM liên tiếp (hôm nay 8/1 đăng kỳ 4) có cái tựa “Sinh viên Huế tuyên chiến” trong hồi ký nhiều kỳ mang tên “Huế - Những Tháng Ngày Sục Sôi” của tác giả Nguyễn Đắc Xuân kể lại việc tham gia cùng sinh viên và phật tử miền trung tổ chức chống đối chính quyền VNCH và cố TT Ngô Đình Diệm.

Thật lòng thì rất nhiều, nếu không muốn nói đa phần người trong nước hiện nay không rõ lắm về “ất giáp” của quá khứ này, vì thời gian như lớp bụi phủ mờ và một số đông nhân vật có biết và liên quan sự kiện ấy đang định cư ở nước ngoài. Nhưng qua các chi tiết thuật lại trong hồi ký, chắc hiện nay nhiều người cũng phải thầm “cảm ơn tác giả” đả phát thảo lại cho lớp người trẻ hôm nay thấy và hiểu được như thế nào là quyền “Tự Do” ngôn luận, thể hiện chính kiến của xã hội miền Nam lúc bấy giờ, để tự hỏi, không biết nó có “gấp vạn lần” Tự Do thể hiện chính kiến trong cái thể chế CSXHCN hôm nay chưa? ( nói cho gần với ẩn dụ của bà PCT/ nước Nguyễn thị Doan ) và đến bây giờ qua lời tự thuật ấy, chắc tác giả Nguyễn Đắc Xuân sẽ rất hài lòng để xoa tay tự hào “mình đã góp một phần công lao” cho một cuộc cách mạng Phật Giáo, để bất cứ Chùa Chiềng nào trong cả nước hiện nay cũng phải có một “chi bộ đảng” hay tối thiểu, ít nhất, cũng có một hai “đảng viên thượng tọa” giám sát việc tụng kinh gõ mõ cho nó thêm nồng nàn câu kinh: “yêu Phật Pháp là yêu XHCN”. Và vì vậy chúng ta cũng nên biết qua tác giả Nguyễn Đắc Xuân là ai? để nếu bất chợt có gặp nhau giữa chợ đời mà ngưỡng mộ…. “điểm mặt” với nhau.

– Đắc Xuân! thú vị thật, cái tên thể hiện sự đắc chí viên mãn, thủ đắc được trong mùa Xuân, không biết đó có phải là nhân duyên tiền định,tiền ngộ gì không ? mà ông là một trong những nhân vật nổi bật trong biến cố mùa Xuân Mậu Thân 1968 tại cố đô Huế được đề cập trong Hồi Ký “Giải Khăn Sô Cho Huế” của nữ văn sĩ Nhã Ca, một cây viết gốc Huế đầy uy tín, được nhiều người yêu mến trong văn học Miền Nam Sài gòn trước kia. Và chắc bà con gốc “Thần Kinh” Huế trong và ngoài nước những ngày này bên cạnh “Huế, những tháng ngày sục sôi” thì cũng thầm “cảm ơn” tác giả Nguyễn Đắc Xuân qua bài hồi ký ấy đã nhắc nhỡ mọi người cũng sắp đến Tết rồi cùng nhau sữa soạn cho đám giỗ hơn 8000 vong linh người thân, nhân dân bị tàn sát trong Xuân Mậu Thân để cho: “Huế…Những Ngày Không Thể Nào Quên…”

“Rất tiếc khi vào Googel gỏ tìm tư liệu, thì hầu hết các danh mục, dù có tiêu đề giới thiệu về Nguyễn Đắc Sơn nhưng xuất phát từ Hải Ngoại đều bị chận lại với “Server not found” (trang,máy chủ không tìm thấy ? còn từ trong nước viết thì thoải mái ?? ). Phải “vượt lửa leo tường” thì mới đọc được những gì cần và đáng đọc về nhân vật này... và sở dĩ dưới đây phải giới thiệu nhà văn Nhã Ca vì trong Hồi Ký: Giải Khăn Sô Cho Huế, bà đã chỉ ra nhân vật Nguyễn Đắc Xuân là ai ?.
Image

Trên trang Blogs: Viet Land (Hồi Ký Giải Khăn Sô Cho Huế) của nhà văn nữ Nhã Ca
http://www. vietlandnews. net/forum/showthread. php/5523- nguyen dac xuan toi do giet nhan dan Huê.
Khái quát thân thế sự nghiệp nhà văn : Nhã Ca

Nhã Ca sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960-1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ,bút ký và tiểu thuyết. Cũng vì nội dung trong những tác phẩm của bà, sau năm 1975, Nhã Ca bị chính quyền CSVN giam cải tạo hai năm vì tội "biệt kích văn hóa" ?. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ thì bị giam cải tạo 12 năm. Do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc Tế phối hợp với hội Ân Xá Quốc Tế và thủ tướng Thụy Điển Ingvar Carlsson, bà được sang Thuỵ Điển tỵ nạn. Năm 1992 bà cùng gia đình sang California định cư và lập hệ thống Việt Báo Daily News.

Phim Đất Khổ do Hà Thúc Cần sản xuất và hoàn tất năm 1973, là một phần dựa theo cuốn Giải khăn sô cho Huế và Đêm nghe tiếng đại bác, do Nhã Ca viết đối thoại. Tại hải ngoại, bà tiếp tục sáng tác, như: Hồi ký một người mất ngày tháng-- Đường Tự Do Sài Gòn (2006). Tác phẩm dịch ra ngoại ngữ: Đêm nghe tiếng đại bác đã được dịch sang tiếng Pháp với tựa Le cannon tonnent la nuit, Đoàn nữ binh mùa thu được Barry Hilton dịch sang tiếng Anh với tựa The Short Timers, Phim “Đất Khổ” được hãng Remis phát hành với tên Land of Sorrows (Wikipedia).

Trong Văn Học Miền Nam (quyển "Thơ Miền Nam"), nhà văn Võ Phiến đã nhận định về Nhã Ca như sau: “…Tự do, bà thích nói đến tiếng ấy: tự do trong thể xác, trong đời mình. Và văn chương bà, dù là văn chương viết về tuổi trẻ, vẫn trĩu nặng ưu tư. Nghệ thuật của bà là cuộc đời trước mặt. Ở bà, cá nhân là chính trị, là xã hội. Bà có chân dung đầy góc cạnh nhọn, như những bức tranh của Braque, của Picasso. Nhã Ca là một nhà văn độc lập và bất khuất, bà cũng là một tiêu biểu rõ rệt nhất cho nền văn chương nhân bản của miền Nam trong thời kỳ 1954-1975 ”. ( Wikipedia ).

Sau tết Mậu Thân 1968.. . đến năm 1969 nhà văn Nhã Ca đã cho ra đời Bút ký: "Giải Khăn Sô Cho Huế" và được trao giải thưởng của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu (1970), mới đây tháng 2-2008, sách mới "Giải Khăn Sô Cho Huế" ấn bản đầu tiên tại hải ngoại do Việt Báo ấn hành, sách dày 640 trang, khổ lớn, bìa cứng và đã phát hành tại Mỹ. Cuốn sách là hình ảnh sống động miên tả lại hầu như toàn cảnh của biến cố tết Mậu Thân. Vì tác giả của nó trực tiếp sống và bị cuốn theo dòng chảy của những ngày xảy ra chiến sự gây nên nổi tang tóc kinh hoàng mà lịch sử và nhân dân Huế không thể nào quên…..

“Cám ơn Thầy Từ Thái, một nhân chứng sống, một tăng thân tu học ở chùa Tây Thiên vào thời điểm xẩy ra biến cố Mậu Thân, đã khẳng định xác nhận những ghi chép của nhà văn Nhã Ca trong hồi ký "Giải Khăn Sô cho Huế" là hoàn toàn đúng với sự thật

Xin kính chuyển đến quý Anh Chị nhân mùa Đại-Tang-Tết-Mậu-Thân-Huế”

(Nguyễn Đắc Xuân, ảnh trong hồi ký Giải Khăn Sô Cho Huế )

Nguyễn Đắc Xuân (trái) Hoàng P. Ngọc Tường (phải) liên quan mật thiết đến cái chết hơn 8000 ngàn người dân Huế trong biến cố đau thương “Tết Mậu Thân 1968 (trích Giải khăn Sô Cho Huế : Nữ văn sĩ Nhã Ca ) VietLan Blogs.

Nhã Ca: Hồi Ký Giải Khăn Sô Cho Huế (trích đoạn liên quan Nguyễn Đắc Xuân)

“Nguyễn Đắc Xuân, một sinh viên Huế. Thập niên 60 trong phong trào thanh niên sinh viên bị Việt Cộng nằm vùng giật giây, Nguyễn Đắc Xuân làm thơ, tranh đấu, rồi bỏ vào khu theo Việt Cộng. Để rồi MÙA XUÂN 1968 theo Việt Cộng trở lại Huế có mặt trong những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loạt người dân Huế với tội “phản cách mạng”. Đích thân Xuân đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích với Xuân từ trước, ra đứng bên hố, để xử tử. Cậu bạn của Nguyễn Đắc Xuân, tên Tý, dơ cái băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Nguyễn Đắc Xuân :

- Em lạy anh. Bây giờ em theo các anh rồi mà. Em có mang băng đỏ rồi mà. Cách mạng muôn năm... Hồ chủ tịch muôn năm...

Nhưng mặc Tý năn nỉ, hoan hô, Nguyễn Đắc Xuân vẫn lạnh lùng nổ súng vào người bạn nhỏ của mình không chút đằng đo...”

Thư của Đặng Văn Âu, bạn thân từ Hải ngoại gửi cho Nguyễn Đắc Xuân (Trích đoạn)

“...Bây giờ mày hãy trả lời câu hỏi chót của tao, trước khi tao trả lời câu hỏi của mày viết trong email gửi cho tao. Có bao giờ mày chứng kiến những người dân chạy nạn trong các cuộc giao tranh giữa hai bên mà họ bỏ chạy về phía“vùng giải phóng” của Việt Cộng không? Hay là họ chạy về phía Ngụy bọn tao? Nếu mày bảo có thì mày giống Hoàng Phủ Ngọc Tường, nói dối như Vẹm. Nếu mày bảo không hề thấy nạn nhân chiến tranh chạy qua “vùng giải phóng Việt Cộng” mà mày cho rằng mày theo Việt Cộng là làm nghĩa vụ lịch sử thì tao không còn gì để nói với mày. Cái khác nhau giữa chế độ ở Miền Nam và ở Miền Bắc là: nếu mày bị An Ninh VNCH bắt thì tao dù chỉ là một Thiếu tá thôi, nhưng có thể ký giấy bảo lãnh cho mày ra tù. Nhưng nếu năm 1975 tao kẹt lại bị tù cải tạo thì “lão thành cách mạng” như Hùm Xám Đặng văn Việt cũng không thể bảo lãnh cho một thằng như tao. Tao sẽ bị bỏ xương nơi rừng thiêng núi thẳm vì cái tính không chịu khuất phục bẩm sinh. Mày nên hiểu, nếu Miền Nam áp dụng chế độ “công an trị” như Miền Bắc thì chẳng bao giờ những thứ như Ngô Bá Thành, Nhất Hạnh, Tôn thất Dương Tiềm, Tôn thất Dương Kỵ, Trí Quang, Nguyễn Ngọc Lan có đất sống! để sau năm 1975 múa may quay cuồng làm những con rối cho CS bắc Việt.

Về cuốn nhật ký của mày, tao được một Đại Úy VNCH cho biết quân đội Hoa Kỳ chuyển giao một số tài liệu Việt Cộng tịch thu được trong một cuộc hành quân lục soát, trong đó lại phát hiện có hồi ký mang tên Nguyễn Đắc Xuân. Nghe đến tên Nguyễn Đắc Xuân, tao liền nhớ đến thầy Lê văn Thi – nguyên giáo sư Lý Hóa trường Quốc Học – bị VC trong đoàn quân mà mày dẫn đường về Huế thảm sát trong Tết Mậu Thân là tao giận sôi gan lên rồi,tao không thèm tò mò đọc làm gì. Tao chỉ hỏi ông Đại Úy VNCH, Nguyễn Đắc Xuân viết cái gì trong hồi ký đó thì được ông ta cho biết mày tường thuật cuộc đánh bom B-52 và kêu lên hai tiếng “Mẹ ơi!” vì quá khiếp đảm.

Nguyễn Đắc Xuân ơi! Mày chọn lầm đường rồi! Chế độ dân chủ của Miền Nam hãy còn phôi thai, chưa phải là chế độ hoàn hảo vì vừa mới thoát ra khỏi bàn tay thực dân, thì bị bọn VC nằm vùng phá hoại và vì bị những hạng trí thức dở hơi toan tính theo đóm ăn tàn tiếp tay cho cộng sản Miền Bắc xâm lăng dưới chiêu bài giải phóng dân tộc. Giữa cái chưa tốt và cái tồi tệ, mày lại đi chọn cái tồi tệ nhất để cho tình trạng nước nhà hôm nay bị suy đồi về mọi mặt từ đạo đức đến giá trị con người. Miền Bắc xâm lăng Miền Nam để hiến toàn cõi đất nước cho Trung Cộng, chứ giải phóng, thống nhất cái quái gì?

Những gì tao viết ở trên, mày đừng nghĩ tao chửi mày. Tao thương mày vì sự mê muội của mày và tao giận mày vì sự ngoan cố của mày tới giờ này mà chưa tỉnh ngộ! Những người đi làm “cách mạng” với mày, năm xưa xúi mày biểu tình đốt tòa Lãnh sự Mỹ giờ trốn biệt đâu hết rồi ? Sao ngày nay mày không tập hợp lại để tái lập chiến đoàn quyết tử Nguyễn Đại Thức, để đốt tòa Đại sứ Trung Cộng như năm xưa hăng say chống Mỹ cứu nước? Những Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng đang bán nước cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc mà sao không thấy nhà “cách mạng”sinh viên nào đăng đàn như năm xưa đọc diễn văn đả đảo quân phiệt Thiệu Kỳ ? Khí thế “cách mạng” bị “đảng ta” nghiền cho nát hết rồi sao? Trương Tấn Sang, người Việt gốc Tầu, mới viết bài cương quyết chống “diễn biến hòa bình” để Việt Nam được sáp nhập vào nước Tầu, mày đã đọc chưa?

Thư viết cho mày đến đây đã khá dài. Hẹn mày thư sau. Nhắc lại, tao không chửi mày. Tao chỉ nói sự thật. Hãy cố gắng mở mắt to ra mà nhìn cho hết sự thật trên đất nước ngày nay ra sao.

Bằng Phong Đặng văn Âu, người bạn học thân thiết năm xưa của mày.
© Đàn Chim Việt

Nhiều người am hiểu sự việc nói trên, mỗi khi có ai nhắc đến, họ tủm tỉm cười nhớ đến câu chuyện “con Tắc Kè”. Sinh ra lớn lên trong rừng cây,bốn mùa xanh tốt, thay đỗi màu da di truyền cho thích nghi với rừng lá, trên ngọn cây, con tắt kè nhìn ra biển cát một màu trắng xóa mênh mông mơ mộng, chỉ phải duy nhất một lần thay đổi màu da và trong cơn bão cát bất chợt, nó nhắm mắt tung mình cho gió cuốn đi,cuốn đi vào biển cát, nó bừng tỉnh trong hoang vắng như sa mạc, nắng nung người và giá buốt đêm thâu, không có lấy một chiếc lá che thân, nó không thể thay một màu da duy nhất để hóa trang lẫn tránh kẻ thù,và biển cát cũng không dung nạp nó vì cái màu loang lỗ trên thân, nó cô đơn trong tuyệt vọng thất thểu mơ về một rừng lá xôn xao….

Hoàng Thanh Trúc
danlambaovn.blogspot.com
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Chớ khóc thương tao làm chi

J.B. Nguyễn Hữu Vinh
(Trích: jbnguyenhuuvinh.wordpress.com)

Nhìn những hình ảnh cả dân tộc khóc thương khi Kim Cóc chết làm tôi lại nhớ đến ngày xưa.

Image
Quân nhân Bắc Hàn khóc trong tang lễ Kim Jong Il. (Hình: Kyodo News/AFP/Getty Images)

Ngày ấy, vào quãng ra Tết đến Tháng Tư là những ngày nguyện ngắm trong Mùa thương khó. Mùa thương khó là mùa người Công Giáo suy ngẫm về cái chết của Ðức Giê su để chuộc tội cho thiên hạ. Vào mùa đó, mọi người hạn chế tiệc tùng, đám cưới, phim ảnh, cười đùa, v.v. không khí trong vùng Công Giáo lúc đó là một không khí tang tóc. Tất cả chờ ngày lễ Phục Sinh. Tất cả các nhà thờ, việc nguyện ngắm về 15 sự thương khó Ðức Chúa Giê su phải chịu vì tội lỗi thiên hạ diễn ra thường xuyên.

Ở quê tôi việc ngắm nguyện rất cẩn trọng, từ việc phiên thứ giờ ngắm phải được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, người được cắt cử phải có tiêu chuẩn đàng hoàng. Ðến giờ ngắm nguyện người lên ngắm phải mặc áo dài the, đội khăn đóng, có đoàn Thiên thần rước từ dưới cửa nhà thờ rước lên trong tiếng trống rước tưng bừng. Ðặc biệt khi ngắm không được sai dù là động tác, chưa nói đến từ, ngữ. Chẳng hạn quy định: Khuyên ngân, chấm nghỉ, Thánh hiệu Giê su bái đầu... Hồi đó ngắm nguyện chưa nhiều sách quốc ngữ mà bằng sách chữ nôm, chúng tôi thường gọi là chữ nho. Một người đứng ngắm, thì bên cạnh có một người cầm chăm chăm cuốn sách để soi, chỉ cần sai một động tác, một dấu chấm, phẩy, từ ngữ liền bị một tiếng trắc vang dội. Nếu không bị tiếng trắc nào, thì sau khi ngắm sẽ được đoàn thiên thần rước về rất vẻ vang, vinh dự. Nhưng sau tiếng trắc đầu tiên, đoàn thiên thần rút về và người ngắm xong lủi thủi đi về một mình. Nếu bị ba trắc, thì buộc phải nghỉ để người khác ngắm lại...

Tôi nhớ câu ngắm thứ chín như sau: “Thứ chín thì ngắm: Khi ấy cả và thiên hạ theo mà xem, song le những người mến Ðức Chúa Giê su thì thương khóc lóc. Bấy giờ Người giở mặt lại mà rằng: ‘Ơ con thành Giêrusalem, chớ khóc thương Ta làm chi, một khóc thương bay, cùng con cháu bay ngày sau phải khốn mà chớ.’”

Khi đó tôi không hiểu tại sao Ðức Chúa Giê su đi chịu nạn, chịu chết, người ta đã thương khóc lóc lại còn bảo đừng khóc thương mình mà hãy thương cho những người đang than khóc và con cháu họ? Cuộc đời Ngài có làm gì nên tội để chịu cái chết đau đớn trên Thánh Giá? Suốt 30 năm ở cùng Ðức Mẹ và 3 năm đi giảng dạy, ngài chỉ dạy người ta những sự tốt lành và đạo đức, để cuối cùng chết nhục nhã trên Thánh Giá giữa những người trộm cướp. Ngài đáng được khóc thương, ngài đáng để mọi người đau đớn.

Với sự suy nghĩ non nớt của tôi, tôi cứ thắc mắc và vì thế nhớ mãi câu ngắm đó đến sau này.

Lớn lên dần dần tôi hiểu ra rằng Chúa Giê su không muốn họ khóc thương Ngài dù Ngài phải chịu oan ức, đau đớn và chịu chết vì hy sinh mạng sống mình chuộc tội cho Thiên hạ. Mà Ngài nhắn với những người đang than khóc và thành Giêrusalem hãy than khóc cho chính tội lỗi của mình và những hậu quả mà họ và con cháu họ sẽ gặp phải vì tội lỗi của họ, hãy ăn năn thống hối để lãnh nhận lấy ơn cứu chuộc từ giá máu của người.

Thì ra là vậy, Chúa Giê su đã sinh ra để hy sinh, chịu chết vì tình yêu loài người với mục đích “Ta đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28).

Ðấy là Chúa Giê su với cái chết của Ngài hai ngàn năm trước.

Tôi không được thấy những người dân thành Giêrusalem khóc Ðức Giê su, nhưng tôi được nghe tiếng Người nói với dân thành Giêrusalem và cả thế giới rằng: Hãy khóc cho tội lỗi của các ngươi để đón nhận những ơn cứu chuộc ta đã đem lại cho các người.

Ngày nay, nhìn cả đất nước Bắc Hàn đua nhau khóc lóc lăn lộn khi Kim Cóc chết, nếu có thể nói được với họ, Cóc sẽ nói gì?

Cóc sẽ nói gì khi cuộc đời của Cóc là “Ðến để được phục vụ mà không phải để phục vụ” thậm chí mọi người phải dâng hiến mạng sống của mình phục vụ bản thân và gia đình Cóc.

Có thể Cóc sẽ nói với họ rằng: Tao muốn chúng bay khóc thật nhiều hơn nữa để chứng tỏ lòng trung thành với tao. Bởi chỉ phục vụ, nô bộc tao khi còn sống thì chưa đủ.

Cũng có thể lương thiện hơn, Cóc sẽ nói với họ rằng: Chớ khóc thương tao làm chi, hãy khóc thương cho chúng bay và con cháu bay ngày sau. Bởi tất cả đang và sẽ hưởng những thành quả mà tao và gia đình tao để lại.

Rất có thể là như thế, bởi:

Hai ngàn năm đã đi qua, khi Ðức Chúa Giê su chịu chết, thiên hạ đang đau đớn trong tội lỗi. Thiên hạ đang mong đợi về Thiên đường, đang cần ơn cứu chuộc và thống hối để về nước Thiên đường đích thực Chúa đã hứa ban.

Còn ngày nay, khi Cóc chết thì người dân Bắc Hàn đang được sống trong thiên đường Xã hội Chủ nghĩa, một thứ thiên đường hiếm hoi còn sót lại trên thế giới này mà người dân đang ngày đêm muốn thoát ra khỏi đó.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ðá bóng cũng thối nát
Tuesday, January 10, 2012 7:14:54 PM

Ngô Nhân Dụng


Tuần trước mục này đã viết về “Sức Mạnh Mềm” (Soft Power) của Trung Quốc, nhắc đến ý kiến của một giáo sư ở Bắc Kinh. Ông Bàng Trung Anh, Ðại Học Nhân Dân, nói rằng nước ông bây giờ chẳng có Sức Mạnh Mềm nào cả. Trung Quốc không có cái gì với sức hấp dẫn đủ mạnh mẽ khiến người nước khác muốn bắt chước theo. Hệ thống chính trị, không. Mô hình kinh tế, không. Hệ thống tư pháp, hệ thống giáo dục, đều không nốt. Ca nhạc, hội họa, thể thao, điện ảnh, thời trang, cũng còn lâu mới thu hút được người ngoài.

Ðến thức ăn Tàu nổi tiếng, bây giờ cũng xuống dốc, vì ai cũng sợ mỡ, sợ đường, sợ bột ngọt, nhất là những người có tiền. Cứ đến một thành phố lớn ở Âu Châu, Mỹ Châu, Úc, Tân Lây Lan, sẽ thấy tiệm cơm Tàu bây giờ chỉ dành cho thực khách bình dân. Người ăn sang muốn nếm hương vị phương Ðông sẽ đi tìm tiệm Nhật, tiệm Thái, tiệm Hàn Quốc, và cả tiệm Việt Nam nữa. Chả giò với phở đều đã thành các món ăn bình dân quốc tế rồi; bỏ công nhiều mà mức lời thấp. Sẽ đến ngày người mình dùng khoa tiếp thị biến mấy chục “món gỏi” hay “món cuốn” của mình thành những món ăn quốc tế vừa sang, vừa đẹp, vừa lành mạnh, lại vừa đắt giá!

Trở lại câu chuyện Soft Power, Sức Mạnh Mềm, của Trung Quốc. Phải nhắc ông Bàng Trung Anh đã quên, không nói đến một thức Sức Mạnh rất Mềm của nước ông. Nó đã được đem ra thi triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và gây được ảnh hưởng rất đáng kể, nhiều người phát ghen, muốn làm theo mà không làm được. Ðó là món Hối Lộ!

Cứ nhìn các công ty Trung Quốc đang đi khai thác tài nguyên quặng mỏ, rừng, biển, từ Phi Châu tới Nam Mỹ và các nước Trung Á, Ðông Nam Á Châu thì biết họ đã biết sử dụng sức hấp dẫn của đồng tiền hối lộ một cách có hiệu quả! Làm sao chuyên chở về Tàu được đủ những thứ như đồng và nhôm ở Congo, dầu lửa từ Sudan, Nigeria, gỗ và ngọc thạch từ Miến Ðiện, sắp tới bô xít từ Việt Nam? Thế mới biết Trung Quốc cũng có một thứ Sức Mạnh Mềm rất hiệu quả.

Tại sao Giáo Sư Bàng Trung Anh lại bỏ qua không nói đến thứ sức mạnh mềm này? Chắc vì ông biết, cái đó là một chất độc. Dùng nó đầu độc người khác thì chính mình cũng bị nhiễm độc! Các nước Âu Châu, Nhật Bản, Úc và Mỹ Châu đã làm luật cấm các xí nghiệp của họ không được hối lộ quan chức các nước khác, chính vì lý do đó.

Sở dĩ người Trung Hoa đến nay vẫn dùng món độc dược này vì nó đã nằm sâu trong cơ thể của nước họ, một thứ văn hóa hối mại quyền thế “thâm căn cố đế” chưa biết cách nào tẩy rửa được! Gốc rễ của căn bệnh này nằm trong hệ thống chính trị độc quyền, độc đảng. Báo Economist, số cuối năm viết một bài về Túc Cầu tại Trung Quốc, dẫn lời một viên chức giấu tên trong ngành công an: “Các bạn biết tất cả các vấn đề xã hội mà người ta đổ lỗi cho hệ thống chính trị chưa? Muốn biết hãy nhìn vào tình trạng môn túc cầu!”

Môn đá banh được người Tàu hâm mộ từ khi tiếp xúc với người Anh. Hội Túc Cầu Toàn Quốc (gọi là CFA) được thành lập từ năm 1924, thời Quốc Dân Ðảng. Năm 1931 họ được gia nhập FIFA, tổng hội đá banh thế giới. Người Trung Hoa vẫn hãnh diện khoe rằng môn đá banh phát xuất từ nước Tề, vùng Sơn Ðông bây giờ, vào đời Chiến Quốc (500 đến 200 năm trước Công nguyên), trong môn chơi gọi là Xúc Cúc (Cuju), nghĩa là quả banh da, đẩy bằng chân. FIFA công nhận sự kiện này, và còn cho thấy một bức tranh cổ vẽ cảnh Vua Tuyên Tôn nhà Minh (1426-1435) ngồi coi đá banh (hay đánh Golf?).

Nhưng hiện nay đội đá banh quốc gia của Trung Quốc đứng hàng thừ 77 trên thế giới, và tháng trước mới thua một trận trước đội Iraq, sẽ bị loại không được dự giải Ðá Bóng Thế Giới World Cup năm 2014! Trận thua Iraq này thật là nhục nhã, cả nước muốn khóc. Một nhà báo thể thao viết: “Ví thử chúng ta thua Nhật Bản hay Hàn Quốc thì đáng thua, vì họ đá giỏi thật. Thua Saudi hay Qatar cũng được đi, vì họ bỏ rất nhiều tiền nuôi cầu thủ. Còn thua Iraq? Nước họ vẫn còn chưa hết nội chiến, sân banh trong nước họ còn chưa dùng để đá banh được! Thế mà Iraq vẫn đánh bại Trung Quốc 1-0! Ðội banh Trung Quốc chỉ được vào đấu Giải Thế Giới (World Cup) một lần, năm 2002. Và trong ba trận năm đó thua cả ba, các cầu thủ Trung Quốc không làm được một bàn nào cả!

Có phải người Trung Quốc thể lực yếu, hay không thích thể thao? Không phải. Họ chiếm nhiều huy chương nhất trong Thế Vận Hội 2008 ở Bắc Kinh! Khán giả các đài ti vi đều theo dõi những trận đá banh, không khác gì dân Mỹ coi bóng bầu dục. Vậy tại sao ngành bóng đá ở Trung Quốc thảm hại như vậy?

Lý do chính là vì chế độ độc tài, tập trung quyền hành, không có gì minh bạch, công khai; những người nắm quyền không chịu trách nhiệm trước công chúng, không ai được bàn chuyện các quan chức làm ăn. Ai hé miệng sẽ bị trừng trị!

Tổ chức đá bóng ở Trung Quốc đầy tham nhũng, nói chung là cái gì cũng mua được, có tiền là đổi trắng thay đen. Mà nạn tham nhũng sinh sôi nẩy nở là vì các quan chức trông coi ngành đá bóng đều phải do đảng chỉ định. Họ không chịu trách nhiệm với các đội banh, không lo báo chí, không lo dân ghiền đá banh soi mói. Từ nguồn gốc đó, tất cả các cầu thủ, trọng tài, cho đến chủ nhân các đội banh (trên nguyên tắc đều là của chính quyền) đều có thể đi mua và bị người khác mua chuộc. Ai mua? Những người đánh cá độ. Một trọng tài ra tòa vì tội ăn tiền đã thú nhận rằng chỉ có một lần ông từ chối không nhận tiền để làm cho một đội thắng trận đá, vì đã có quan trên trong Hội Túc Cầu bảo ông hãy thiên vị đội bên kia! Các quan trên Trung Quốc không bao giờ nói thẳng ra như vậy. Nhưng các ám hiệu họ đưa ra đều hiểu được: Khi quan trên điện thoại nói: “Nhớ công bằng nhé;” câu đó nghĩa là phải cho đội chủ nhà thua đội khách!

Nghề trọng tài hái ra tiền, vì công “xếp đặt ai thua ai thắng,” tiếng Anh là “fix”. Một trọng tài họ Dương khai đã kiếm được 12 triệu nguyên (1.90 triệu Mỹ kim) kể từ khi được bổ nhiệm năm 1995. Một ông họ Lữ kể rằng ông được hối lộ tới 800,000 đô la cho một trận quốc tế. Ông họ Dương kể trước một trận đấu, đội cầu Thượng Hải đã đem bao thư 700,000 nguyên đến tận văn phòng ông. Ông chia cho ông Lữ một nửa! Trọng tài là Trương Kiến Cường (Zhang Jianqiang) đã khai trước ti vi là ông kiếm được 2 triệu 6 đồng nhân dân tệ, tương đương với 410,000 đô la Mỹ.

Tất nhiên các cầu thủ cũng được mua, giám đốc các đội banh cũng biết bán độ! Một cầu thủ muốn được đưa vào hàng ngũ “đội quốc gia” cũng phải hối lộ khoảng 110,000 đồng nguyên (tương đương 15,500 đô la). Cùng trong nền văn hóa tham nhũng đó, chủ nhân đội cầu của Thành Ðô đã đút tiền cho chủ nhân một đội khác để họ đá thua, nhờ thế Thành Ðô được xếp vào “Trung Quốc Túc Cầu Hiệp Hội Siêu Cấp Liên Trại” thường gọi tên là Trung Siêu Liên Trại. Hiện hai đội Quảng Châu và Thành Ðô đã bị đưa ra tòa và đuổi ra khỏi Trung Siêu!

Có cách nào để ngành đá banh Trung Quốc thoát khỏi nạn tham nhũng, hối lộ hay không? Lần đầu tiên họ bị điều tra là năm 2007, do cảnh sát Singapore yêu cầu công an Trung Quốc, vì khám phá “bán độ” trong một trận cầu ở Singapore! Ðến lượt báo chí bên Anh loan tin các trận đấu “giao hữu” giữa đội banh Thẩm Quyến với Manchester United năm 2007 (Thẩm Quyến thua 6-0) và trận Thượng Hải với Sydney (Thượng Hải thắng) năm 2003 đều bị bán độ. Mãi tới năm 2011 mới có những vụ bắt bớ, rồi đến cuối năm thì xét xử. Năm 2010 các cuộc điều tra từ từ bắt đầu.

Ðứng đầu ngành đá bóng Trung Quốc là Hiệp Hội Túc Cầu, gọi tắt là CFA. Hai ông cựu chủ tịch Nam Dũng (Nan Yong) và phó chủ tịch và Dương Ích Dân (Yang Yimin ) đã bị bắt vào Tháng Ba năm rồi, cùng với ông Tạ Á Long (Xie Yalong), một phó chủ tịch khác mới bị bắt vào Tháng Mười. Ông này đã mất chức sau khi đội banh Trung Quốc bị loại trong Thế Vận Hội 2008. Vụ xét xử các ông tai to mặt lớn, các trọng tài và cầu thủ diễn ra từ ngày 18 Tháng Mười Hai năm 2011. Nhưng họ lại xử kín! Giống như xử lý nội bộ vậy! Họ không dám cho công chúng và báo chí tham dự, vì sợ các bị cáo sẽ lôi ra các quan chức cao cấp hơn trong đảng!

Với tình trạng tham nhũng như trên, người Trung Hoa hết hy vọng vào tương lai nền túc cầu nước họ. Cha mẹ không muốn cho con đá banh. Từ năm 1990 đến 2000, nước Tàu có khoảng 600,000 trẻ tham dự các đội banh chính thức. Trong 5 năm tiếp theo, con số xuống chỉ còn 180,000 thanh thiếu niên. Và hiện giờ các quan chức CFA ước tính còn độ 100,000.

Một tác giả về thể thao, Declan Hill mới xuất bản cuốn sách về nạn bán độ, tên là The Fix. Ông có đưa ra Mười Ðiều Răn để tránh khỏi nạn này. Thí dụ: Phải bảo đảm lương bổng cho các cầu thủ, cùng với an toàn trong việc làm, không sợ bị đuổi. Phải bảo vệ những người tố cáo nạn bán độ. Phải có những biện pháp khích lệ cho các cầu thủ sống ngay thẳng, lương thiện.

Chỉ cần đọc ba điều đó thôi cũng thấy là khó. Vì nếu người ta thực hiện được ba điều đó trong Túc Cầu Siêu Cấp thì họ đã đem áp dụng cho cả guồng máy cai trị nước Trung Hoa rồi! Sở dĩ túc cầu Trung Quốc thối nát là vì đảng Cộng sản nuôi một guồng máy thống trị thối nát!

Tình trạng túc cầu cho chúng ta hình dung được những ngành sinh hoạt khác ở Trung Quốc như thế nào. Liệu một quốc gia sống trong không khí thối nát như vậy có tương lai hay không? Họ có thể dùng hối lộ đi mua chính quyền các nước chậm tiến để khai thác rừng, biển, quặng mỏ của người ta. Nhưng họ làm sao trở thành một quốc gia mẫu mực cho các nước khác noi theo; để tính chuyện dùng Sức Mạnh Mềm gây ảnh hưởng trên thế giới?
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Quần Chúng Tự Phát?

Vi Anh
]“Quần chúng tự phát”, CS Hà nội lại đặt thêm một từ ngữ để che dấu hành động tội ác có tổ chức của họ. Từ lâu và nhiều lần CS Hà nội và CS Bắc Kinh, đã mặc thị cho công an, mật vụ, cảnh sát chìm, dân quân, dân phòng và du côn, du đãng giả dạng thường dân, ra chửi mắng, đánh đập những người dân biểu tình ôn hòa. Người dân Việt Nam gọi họ là “xã hội đen” và CSVN gọi là “quần chúng tự phát”.

Khi một chế độ cai trị, một nhà cầm quyền dùng hình thức khủng bố nhà nước trá hình như vậy; khi một chế độ cai trị, nhà đương cuộc tổ chức du thủ, du thực, du côn, côn đồ hành động tội ác có tổ chức như Mafia vậy, thì chế độ cai trị đó trở thành quân khủng bố nhà nước, những mafia, không đáng gọi là “chánh quyền” cũng không đáng gọi là nhà cầm quyền nữa. Và giai đọan cai trị theo kiểu đó là thời mạc pháp, thời phi pháp đã tơi rồi, báo hiệu thời suy tàn hay sụp đổ của chế độ bởi một cuộc đổi thay lớn như cách mạng hay đảo chánh.

Dù dùng xảo thuật tuyên truyền dụng danh đạt quả, CS Hà nội gọi cuộc biểu tình của người dân là “tụ tập đông người”, CS Bắc Kinh là “sự cố tập thể”. Còn người dân sử dụng quyền tự do ngôn luận thì CS gọi là “lợi dụng dân chủ tuyên truyền chông phá nhà nước” dù trong chế độ CS làm gì có tự do, dân chủ mà lợi dụng, nhưng CS cứ tỉnh bơ nói. Nhưng CS bây giờ không còn gạt ai được nữa. Trong một cuộc hội thọai với người trong nước trên RFA, người trong nước nói hụych tọet ra, chẳng thèm sợ CS nữa. Xin trích, “Thực ra “quần chúng tự phát” thì (cười) cũng là họ thôi, cũng là đảng viên hết chớ đâu phải là người ngoài đâu”. “CS dùng quyền và tiền để mướn du đãng làm.” “Thầy ơi, họ cho con có 200 ngàn mà biểu con tới đó rồi nói xấu này kia nọ, thì bây giờ nếu mà tự nhiên mất có nửa tiếng đồng hồ mà con có 200 ngàn thì thôi chớ, mình chịu khó một chút có sao đâu.”
Vụ quần chúng tự phát trong vụ tu viện Bát Nhã , “Thầy Chơn Minh nói: Trong cái vụ đó thì những thành phần “quần chúng tự phát” toàn là gái điếm, dân giang hồ, xì ke ma túy, họ chở tới nguyên một xe, họ đổ xuống. Họ chở từ Sài Gòn hay ở đâu đó, họ chở tới gần chùa rồi đổ xuống. Họ bảo mỗi người khi vô rồi ra lấy được một món đồ nào đó của một ông thầy, một tăng thân hoặc một sư cô thì kể như được 200 ngàn. Có bằng chứng đàng hoàng thì sẽ được 200 ngàn.”
“Còn như cái vụ ở nhà thờ Thái Hà vừa rồi có cái bà gì ở hội phụ nữ đó, đều là người của họ không, làm gì có quần chúng tự phát! Bản chất bên trong của nó thì những người trong nước họ hiểu rất rõ.”

Đây là khủng bố nhà nước (state terrorism) do Đảng Nhà Nước, nhà cầm quyền CS làm. Đây là tội phạm có tổ chức, đây là tội phạm quán hành do công an, cảnh sát làm theo lịnh của CS. CS làm không biết bao nhiêu lần, suốt từ Bắc chí Nam, chế độ CS Hà nội đã để, đã tổ chức cho công an CS giả dạng hay tổ chức cho du đãng dùng gậy gộc, hung khí hay vũ khí bén nhọn hành hung những người dân đấu tranh đòi quyền lợi vật chất hay tinh thần. Như các tôn giáo đòi tự do tôn giáo, cơ sở thờ tự; trí thức đòi dân chủ và nhân quyền; dân nghèo ở thành thị và thôn quê đòi nhà đất bị trưng thu trả rẻ mạc như bị cướp – tất cả đòi hỏi cách ôn hòa, nhưng CS trấn áp bàng bạo lực.

Trong nước người dân thích phim trinh thám Hồng Kông, Đại Hàn, Đài Loan và “báo đài” của Đảng Nhà Nước CS muốn dấu bàn tay lông lá của nhà nước, cụ thể là công an tổ chức, bảo kê, thị thiềng cho những kẻ giả dạng du đãng để đánh đập dân, nên lấy chữ “xã hội đen” để chỉ loại người du thủ, du thực, côn đồ ấy. Còn CS thì như đã nói ở trên đặt ra một từ ngữ mới gọi là “quần chúng tự phát”. Ở hải ngoại thấy trong nước xài cũng xài luôn như một thông tín viên của Đài RFA dùng cả một bài truyện thời sự dài để phân tích.

Nhưng chữ dùng thích hợp nhứt có lẽ là chữ “khủng bố nhà nước” (state terrorism) hay “tội phạm có tổ chức”. Khủng bố nhà nước ở đây có nghĩa là hành động của nhà nước khủng bố người dân dưới hình thức công khai hay âm thầm, mà hình thức dùng du đảng hay công an giả dạng du đảng hành hung dân là một trong những cách. Chữ “ khủng bố nhà nước”này đã có trong danh từ chánh trị và xã hội học lâu rồi. Hai môn học Chánh trị Học và Xã hội học đã sữ dụng chữ này trong sách giáo khoa như cuốn Society: The Basics của John J. Macionis năm 2000 đã xuất bản lần thứ 5 rồi. Hầu hết sinh viên đại học Mỹ nào cũng học . Một cách đại tổng, định nghĩa của chữ “khủng bố nhà nước” này là hình thái khủng bố do người của nhà nước như công an, quân đội trực tiếp thực hiện hay do người của nhà nước giả danh, giả dạng thường dân hoặc người do nhà nước mướn như du đảng để thực hiện. Với định nghĩa đó người ta thấy CS Hà nội đang thi hành kế hoạch khủng bố nhà nước đối với các cá nhân tham gia phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN và phong trào đòi quyền sống, quyền sở hữu của nông dân và quyền lao động của công nhân. Còn “tội phạm có tổ chức” là một tội đại hình do một tổ chức như mafia làm ra.

Bao nhiêu nhà tranh đấu dân chủ bị công an giả dạng thường dân, du đãng chẹt xe, bắt cóc trên đường đi. Từ luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, nhà báo tự do Điếu Cày, Cựu Trung Tá Bộ Đội CS Bắc Việt Trần Anh Kim, Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn, LM Phan Văn Lợi, LM Nguyễn Văn Lý, Lê Nguyên Sang, Trương Minh Đức, nhà văn Nguyễn Xuân Nghiã, cô Phạm Thanh Nghiên, ông Phạm Văn Trội và nhà giáo Vũ Hùng; tất cả đều,cách này hay cách khác, bị công an, du đãng khủng bố nhà nước. Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy bị liệng phẩn vào nhà 14 lần.

Sở dĩ CS dùng côn đồ thực hiện cuộc khủng bố nhà nước vì dùng lực lượng võ trang chính thống mà đàn áp dân thì mang tiếng với thế giới, vì thế họ phải muợn tay du đãng để khủng bố trấn áp người dân.

Độc tài CS đã biến khủng bố thành một kỹ thuật và nghệ thuật tinh vi, cao kỳ để khủng bố tinh thần và vật chất con người trước rồi, từ trứơc, trong và sau cuộc Cánh Mạng Vô sản ở Nga. Điều mà nhà cầm quyền CS Hà nội để cho các nhà cầm quyền địa phương và công an CS dùng côn đồ để khủng bố tinh thần và vật chất người dân đòi quyền sống và đòi tài sản là một thứ khủng bố nhà nước. Đối với CS Hà nội cứu cánh là giành, giữ, bám độc quyền cai trị toàn diện cho Đảng CS. Mọi hành vi cá nhơn hay tập thể đi ngược lại hay thách thức quyền bính đó của Đảng, thì Đảng buộc tội là phản động, phản cách mạng, CS diệt với bất cứ giá nào, bằng mọi phương tiện dù sắt máu, ác độc, ác đức nhứt, trong đó khủng bố nhà nước là một cách CS Hà nội thường dùng./.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Iran-Venezuela có loại bom đặc biệt dành cho Mỹ
TT Iran và người đồng nhiệm Venezuela dành hết lời ca tụng lẫn nhau, chế nhạo Mỹ và đùa rằng họ có quả bom đặc biệt dành cho Washington.

Trong cuộc gặp người đồng nhiệm ở Venezuela, Ahmadinejad nói với ông Hugo Chavez: “Dù có nhiều kẻ kiêu ngạo không muốn chúng ta ở bên nhau nhưng chúng ta vẫn sẽ gắn bó mãi mãi”.

Bất chấp khoảng cách địa lý, hai quốc gia thành viên OPEC và có thái độ chống Mỹ này ngày càng có quan hệ bền chặt, dù họ chưa có kế hoạch cụ thể nào ngoài những lời tuyên bố hùng hồn.

“Sự điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc lại có dịp “bùng phát” theo cái cách mà chúng ta chưa thấy trong một thời gian dài vừa qua”, ông Chavez phát biểu trong buổi lễ chào mừng ông Ahmadinejad tại dinh Tổng thống ở Caracas.

Cả hai vị Tổng thống đều tỏ ra rất thân mật với những cái ôm chặt, nụ cười rạng rỡ, nắm tay nhau và dành cho nhau những lời khen ngợi nhiệt tình.

Như vẫn thường thấy, ông Chavez đùa giỡn rằng ngay dưới thảm cỏ khu dinh thự Miraflores, đang có một quả bom. “Cái đồi nhỏ đó sẽ mở ra và có một quả bom nguyên tử khổng lồ đang chờ sẵn ở dưới. Những người theo chủ nghĩa đế quốc nói rằng Ahmadinejad và tôi sẽ đi xuống dưới tầng hầm của Miraflores, hướng tầm nhìn về Washington bấm nút bắn đại bác và tên lửa. Điều này thật buồn cười”, hai người đàn ông cùng cười lớn trước câu đùa của ông Chavez.

Lãnh đạo Venezuela và Iran hầu hết giới hạn các thảo luận của mình trong những lời lẽ ca tụng lẫn nhau và xỏ xiên Mỹ. “Tổng thống Chavez là nhà vô địch trong cuộc chiến chống chủ nghĩa đế quốc”, ông Ahmadinejad khen ngợi.

Ông Chevez cũng “không vừa”: “Những quả bom mà chúng tôi đang sở hữu là những quả bom chống lại sự nghèo đói và khổ cực”. Ông cũng cho biết thêm 14.000 ngôi nhà mới đã được xây dựng tại Venezuela và Iran thời gian vừa qua.
Image
Tổng thống Iran và Venezuela dành cho nhau nhiều lời ca tụng.
Các quan chức của Tổng thống Barack Obama bày tỏ sự quan tâm tới mối quan hệ thân mật giữa Venezuela và Iran. Họ lo sợ rằng ông Chavez sẽ tác động nhằm làm suy yếu các biện pháp trừng phạt để mở lối “thoát hiểm” Tehran.

Mỹ và các đồng minh cáo buộc Iran cố tình sản xuất vũ khí hạt nhân trong khi nước này cho rằng chương trình hạt nhân của mình chỉ phục vụ cho mục đích hòa bình.

Bên cạnh Venezuela, ông Ahmadinejad có kế hoạch tới thăm Nicaragua, Cuba và Ecuador, một chuyến đi mà Washington gọi đó là để “tìm kiếm bạn bè trong tuyệt vọng”.

Trước lễ chào đón ông Ahmadinejad, chính phủ Ecuador cũng bày tỏ sự ủng hộ Iran, cam kết “phớt lờ” lệnh cấm vận của phương Tây. “Chúng tôi tuyên bố rõ ràng rằng chúng tôi không chấp nhận những lệnh cấm vận trên. Chúng tôi là một quốc gia có chủ quyền, chúng tôi không có cha để phải chịu phạt hay bắt quay vào tường vì hành động không phải phép”, Bộ trưởng Ngoại giao Ricardo Patino trả lời phóng viên.

Chính phủ của các quốc gia kể trên có cùng quan điểm về tình hình quốc tế với Tổng thống Venezuela nhưng không có ưu thế về kinh tế như Venezuela và không thể cung cấp cho Iran bất kỳ sự giúp đỡ đáng kể nào.

Trong khu vực còn có Brazil, quốc gia đã chào đón nhiệt liệt lãnh đạo Iran dưới thời ông Luiz Inacio Lula da Silva. Tuy nhiên, chuyến thăm của ông Ahmadinejad không nhắc đến cường quốc kinh tế mới nổi này

Phan Anh
(theo Reuters, Miami Herald)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image


Năm RỒNG và Triết lý của RỒNG
Hà Sĩ Phu

Trong 12 con giáp thì 11 con là Thực, chỉ có Rồng là Mộng, do con người tưởng tượng mà ra. Rồng được lấy gốc từ một loài bò sát như rắn nhưng lại có chân, na ná như thằn lằn, như con kỳ nhông, lại phảng phất một chú khủng long Dinosauria tiền sử.

Có lẽ lấy một thân hình như vậy làm “cốt” (armature draft) người ta dễ chế tác, dễ chắp thêm những cấu tạo, những chi tiết, những chức năng…tuỳ theo trí tưởng tượng của mình để tạc nên một hình tượng biểu trưng cho sức mạnh phi thường.

Con người thuở xưa mơ ước một hình tượng của sức mạnh là điều dễ hiểu, khi thấy mình quá nhõ bé và yếu ớt trước những sức mạnh của thiên nhiên và những trói buộc của xã hội. Những sức mạnh của mãnh thú như hổ báo, như voi ngà, như tê giác, cá voi, như chim ưng…quả là đáng quý nhưng tất cả những sức mạnh có thật ấy không đủ để chế ngự những tai hoạ mà con người phải đương đầu, con vật mạnh mặt này thì yếu mặt khác. Con người hằng ước mơ có một“đấng sinh vật” hoàn thiện như thần thánh, tổng hợp được mọi sức mạnh của muôn loài gộp lại. Những thần dân lao động thấp cổ bé họng cần một sức mạnh như thế đã đành, nhưng giới vua chúa cũng cần một uy vũ tuyệt đối như vậy để bảo chứng, bảo kê cho cái ghế oai phong tột đỉnh của mình khỏi bị xâm phạm.

Được thúc đẩy bởi khát vọng ấy, con người từ thế hệ nọ sang thế hệ kia cứ mặc sức đem trí tưởng tượng mà tô vẽ, mà điểm xuyết vào cơ thể một con vật tưởng tượng, từ đó mà thành Con Rồng với những mẫu mã thiên biến vạn hóa.

Rồng trở thành một lối thoát tâm linh. Thật vậy, chỉ trong tưởng tượng con người mới có thể hoàn toàn tự do, không bị ràng buộc vào bất cứ quy luật thực tế nào, con người được bay lên khỏi mặt đất, thấy mình hoàn toàn sung sướng, thấy mình như có sức mạnh vô biên, như được làm chủ hết cả thế giới.

Chẳng thế mà Rồng vừa biết trườn như rắn, lại thêm chân, thêm móng, vừa có cánh bay trên trời, vừa bơi trong nước, vừa chạy băng băng trên bộ như khủng long…Rồng có thể hút nước, phun mưa, lại khạc ra lửa, làm chủ trên mọi môi trường, trên mọi địa hình địa vật. Một mình Rồng kiêm cả Thuỷ Lục Không quân. Rồng vừa mềm mại nhu thuận như đấng quân vương chở che dân lành, lại vừa trừng mắt, nhe nanh, múa vuốt để sẵn sàng xé xác bất cứ kẻ nào chống lại.

Về hình thể có lúc như rắn, biến màu như kỳ nhông, như khủng long bay Pterosaurus, có lúc như chim, như bướm, có khi như cá, có khi như hổ báo, có khi như ngựa, như người…Chỉ trong tưởng tượng, trong khát vọng, người ta mới có quyền, và có thể vô lý đến như thế, nghĩ ra một thứ không thể có thực trên đời.

Rồng là bản ghi chép thật đầy đủ, nó cho biết con người đang thiếu thốn những gì, đang yếu ở những điểm nào, đang ở trình độ ra sao và đang ước muốn những gì. Khát vọng đương nhiên là chân chính, nhưng chỉ có sự PHI LÝ đến tận cùng, mâu thuẫn đến tận cùng, mới thoả mãn được sự “tổng hoà” những ước vọng vô cùng vô tận ấy. Ví dụ một con vật có cấu trúc chắc nịch và hùng dũng để làm chúa trên mặt đất làm sao có thể nhẹ nhàng bay trên trời, làm sao một con vật chuyên hút nước tưới cho mùa màng như Rồng nhưng ở nơi khác lại phun ra lửa…Rồng cũng có đôi, sóng đôi như âm với dương, nhưng hài hoà đến mức con người phải ghen tỵ: “Thế gian được vợ hỏng chồng, đâu có như Rồng mà được cả đôi?”. Ra thế, Rồng là tượng trưng của sự hoàn thiện.

Cho nên nhìn bộ sưu tập Rồng con người sẽ nhận ra hình bóng mình trong đó, rất gần gũi trong tâm tưởng, nhưng lại cao xa như ở chốn Bồng lai, vừa hữu lý lại vừa vô lý (mời xem thêm ở phần phụ bản).

Mười một con giáp có thật chính là thế giới thật, nhưng thế giới thật không đủ thỏa mãn cho con người. Con người cần một thế giới giả, một thế giới tưởng tượng không bị ràng buộc để được tha hồ bơi trong đó, để bay trong đó, tung tăng chạy nhảy trong đó, để thư giãn, để hồi tỉnh, để phục hồi năng lượng trước khi trở về thực tế với những con Chuột tiểu nhân, con Hổ bạo lực, con Khỉ tinh ranh, con Dê tự do, con Trâu hiền lành, con Lợn ụt ịt…

Trong lịch sử của mình, con người đã nhiều lần muốn hiện thực hóa cái thế giới siêu hình lý tưởng ấy, tìm cách đem cái thế giới tưởng tượng, đem “THẾ GIỚI RỒNG” về giữa thế gian. Đã từng có những nhà khoa học viễn tưởng vĩ đại như Saint – Simon, Fourier, Owen, và cuối cùng là Karl Marx…đưa ra những đề án đẹp như Rồng nhưng cuối cùng cũng theo Rồng giã từ hạ giới mà lên tiên, vì những mô hình ấy cũng phi lý như Rồng vậy.

Người dân Việt có thể kể lại sự tích Lý Công Uẩn nhìn thấy “Rồng lên” như một huyền thoại đẹp, nhưng xin chớ ba hoa rằng sáng nay ra ngõ gặp Rồng, rằng Rồng trên toàn thế giới đang liên hiệp lại để cứu rỗi cái nhân loại chưa biết cách làm người.

Những ảo tưởng muốn đưa loài người bay lên ấy bề ngoài là lạc quan (lạc quan tếu) kỳ thực là những tiếng kêu thương bế tắc của con người trước những vấn nạn của thiên nhiên và xã hội, mà trình độ nhận thức xã hội và khoa học kỹ thuật lúc ấy chưa đủ sức để gỡ ra. Ước mơ chân thành, dù là viễn vọng hay ảo vọng cũng đáng ghi nhận và thấu hiểu, nhưng giữa ước mơ và ‘ma tuý’ phải có một khoảng cách!

Rồng gắn bó với con Người vì đó chính là ước muốn, là tư duy của Người, nên Rồng chẳng những được thêu lên Long bào, Long cổn, thêu lên tà áo dài phụ nữ thướt tha, được tạc vào đồ thờ, được xăm lên ngực lên tay…mà con Người còn muốn chính mình biến thành Rồng, một thứ Rồng có nhân hình, nhân diện nữa mới thỏa. Có Rồng hình Người, lại có Người hình Rồng. Diễn viên huyền thoại của sức mạnh và võ nghệ Trung quốc Lý Chấn Phiên 李振藩 lấy hiệu là Lý Tiểu Long 李小龍(tức con Rồng nhỏ) đủ biết vai trò thần tượng lôi cuốn của Rồng như thế nào. Người với Rồng gắn bó tuy hai mà một vậy.

Rồng là Người, chẳng thế mà con Rồng châu Âu cũng rành mạch như tính tình của người phương Tây, Rồng ở Tây hiện hình đầy đủ chứ không khuất trong mây. Khác với Rồng châu Á nghiêng về Thiện, Rồng châu Âu lại là nghiêng về Ác, vì nó có quyền lực phi thường, có lẽ vì hiểu như thế nên người châu Âu đã đi đầu trong phương án “phân chia quyền lực” để các quyền lực kiềm chế lẫn nhau và cái Ác không thể lộng hành chăng?

Tại sao cũng con Rồng mà phân ly hai ngả: Rồng Âu phần lớn tượng trưng cho Ác, Rồng Á thì phần lớn tượng trưng cho Thiện. Đây cũng là một triết lý, quyền lực dù được tập trung để làm điều Thiện thì chính nó cũng dễ dàng biến thành sức mạnh để làm điều Ác, đó là nguyên lý “lạm quyền” cố hữu của quyền lực. Đối với quyền lực như Rồng thì ranh giới giữa Thiện hay Ác cũng chỉ mong manh như sợi tóc, Thiện đấy mà Ác đấy nên Rồng châu Á không chỉ có Thiện, Rồng châu Âu không chỉ có Ác.

Tại sao châu Âu coi Rồng là Ác thì chính nơi đây lại đi đầu trong quá trình Dân chủ hoá, tức là sớm đạt đến cái Thiện (thân thiện) với con người và với thiên nhiên, trong khi Rồng châu Á khuyến thiện thì cái Thiện trong Dân chủ ở châu Á lại đến quá muộn? Triết lý là: Đặt cái Ác lên bàn để mổ xẻ thì tránh được cái Ác, đấy là nguyên lý của Pháp trị. Trái lại cứ bầy cái Thiện lên bàn để ngợi ca và phủ dụ thì sớm muộn Thiện cũng bị biến thành cái vỏ rất đẹp để Ác chui vào và chiếm lĩnh, đấy là nguy cơ của Đức trị trong xã hội tinh khôn ngày nay. Cái Thiện được kết tinh vào Luật pháp đáng giá hơn mọi điều Thiện trên môi.

Con Rồng châu Á đã dài lại uốn khúc hình “Sin”, uốn lượn nhiều khúc nhưng vẫn luân hồi, luân hồi nhưng thường ẩn hiện trong mây, khó lòng nhìn thấy trọn vẹn khuôn hình của nó. Giấu mình giữa những làn mây, Rồng châu Á vừa mềm mại, nhu thuận như ôm lấy để chở che ta, vừa muốn cuốn tất cả thiên hạ vào trong nanh vuốt…

Các cụ nhà ta có câu “Người làm sao, của Chiêm bao làm vậy”. Hiểu theo nghĩa “Chiêm bao” là sức tưởng tượng, là nằm mơ, là ước vọng trong giấc ngủ nửa vời thì đem câu ngạn ngữ ấy chiếu vào con Rồng châu Á châu Âu sao mà nghiệm vậy! Dân ta “vốn không rành mạch bao giờ” (lời thơ Nguyễn Duy) nên con Rồng Thiện với con Rồng Ác cứ lồng vào nhau như một “cặp đôi hoàn hảo” cứ nhùng nhằng ổn định, khiến cuộc canh tân bị bùng nhùng mãi chỉ vì “cái dân tộc mình nó thế” (Hoàng Ngọc Hiến).

Con đường cứu nước của thiên tài Phan Chu Trinh không vội vã đuổi ngay kẻ thù tàn bạo phương Tây, tất nhiên sẽ phải “đánh cho Pháp cút” nhưng trước khi “cút” hãy tận dụng phần văn minh của nó, để tiếng kèn văn minh châu Âu ấy góp phần đánh thức “giấc chiêm bao” chìm đắm của dân mình, một thứ “chiêm bao” chỉ được đánh thức bởi những giá trị của văn minh, chứ không thể bằng gươm giáo. Cụ Phan phải viết “Tỉnh quốc hồn ca” cũng nhằm việc đánh thức ấy, vì dẫu cho đã đuổi được một kẻ thù này mà hồn Dân chưa thật tỉnh (hoặc lại chuyển sang mê một cái gì đó) thì biết đâu lại chẳng sa vào tay một kẻ thù khác còn nguy hại gấp vạn lần, như bài học nhỡn tiến đó thôi!.

Năm Rồng, lục lại gia phả nhà Rồng mà quên mất anh Rồng bằng gốc tre thì e sai sót. Tháng 6 năm 1922, vào dịp vua Khải Định sang Pháp dự Hội chợ Thuộc địa, nhóm mang tên chung Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác vở kịch Con Rồng tre với nội dung đả kích bọn phong kiến bù nhìn bán nước, tóm tắt như sau: “Có những cây tre thân hình quằn quẹo, những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con Rồng. Nó là một đồ chơi. Là con Rồng nhưng thật ra chỉ là khúc tre. Là khúc tre nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con Rồng. Tuy vậy chỉ là một quái vật vô dụng”. Câu chuyện “con quái vật” này đã qua tròn một thế kỷ mà nghe chừng vẫn như viết cho hôm nay.

Kỷ nguyên Internet đang soi rọi vào từng centimet của cuộc sống nhân loại, những huyền thoại còn được lưu lại chăng cũng chỉ bởi cốt lõi là cái hồn Ái quốc và Nhân văn trong đó. Chứ dựng huyền thoại như cha con “Ủn-Ỉn” bên nước Triều Tiên Cộng sản thì cũng chỉ là một trò con nít lố lăng. Tích “Rồng lên” giữa đất Thăng Long còn sức sống là bởi người dân Thăng Long vẫn giữ được cái hồn Lý Thái Tổ yêu nước thương dân nên soi rọi vào “Lá cờ Trung quốc thừa sao” là thấy hiện ngay ra hình bóng một Lê Chiêu Thống đang chui vào ống tay áo của Đại Hán tham tàn.

Kẻ sĩ Thăng Long đã nhiều phen vạch trần tính mị dân và phản quốc trong “16 chữ vàng” và“láng giềng 4 tốt” đầy tính giả mạo, nhưng vải thưa ấy không che được “mắt thánh” của một Dân tộc đã giành kỷ lục Guiness 1000 năm…Bắc thuộc. Ngôi “tiểu tinh” xuất hiện trên lá cờ Trung quốc thừa sao lập tức bị tóm quả tang còn ví như tóm một tên Việt gian đặc công đang chơi trò ú tim “lộng giả thành chân” đùa giỡn, toan chơi những “sự đã rồi” cho quen dần đi. Dân đã nhìn rất rõ, nhưng Dân chưa đủ sức lôi cổ những trò sàm ngôn – ngụy thuyết ấy ra trị tội mà thôi.

Tết con Rồng đã đến gần. Cũng nghĩ ngày Xuân chỉ nên nói chuyện vui, chẳng nỡ làm mọi người bận tâm những điều nợ…nước. Vì thế mà đắn đo, viết xong lại bỏ. Nhưng lại nghĩ, nếu cứ sợ chuyện lo buồn làm “sái” ngày vui thì làm gì có chiến thắng Đống Đa hiển hách, đánh tan 20 vạn quân Thanh giữa ngày Tết Kỷ Dậu 1789, cùng lúc sánh vai với cuộc Cách mạng Pháp 1789 và bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” vang dội (26.8.1789), mà Hồ Chí Minh đã tôn vinh nhân ngày Quốc Khánh sau này? Thôi thì “Ngày Xuân bàn chuyện nước non, nhớ ngày Giỗ Trận Tây sơn thì về”.

Lại cũng chính Hồ Chí Minh năm 1948 (khi cuộc đánh Pháp mới bắt đầu và chưa nối liền với Trung Quốc) đã nói “Một người yêu nước thì không sợ gì hết, và nhất thiết không được sợ gì”. Câu này các biểu tình viên yêu nước nên biết, anh em công an đang phải ngăn cấm biểu tình lại càng nên biết và nên nhớ. Thử hỏi yêu nước là cái “quái” gì mà oai thế? Vì người có tấm lòng thiết tha yêu nước thì có sức mạnh phi thường như thần Ăng Tê dẫm chân lên đất Mẹ. Nơi ấy cũng có những con RỒNG huyền thoại sẵn sàng nâng cánh ta lên.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Iran-Trung Quốc-Mỹ thay nhau hù dọa
Võ Long Triều

Những ngày cuối năm con mèo, tình hình chính trị thế giới có phần sôi động. Dư luận sợ rằng có thể xẩy ra xung đột ở vùng Vịnh với sự đe dọa của Iran và phản ứng của thế giới tự do, đặc biệt là Hoa Kỳ và các nước thị trường chung Âu Châu. Thử phân tích những sự kiện và lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo hay quan chức có trách nhiệm thuộc các quốc gia đương cuộc xem lời tuyên bố của họ có giá trị khiêu khích, đe dọa, và hành động thật hay chỉ là hù dọa có mục đích răn đe cảnh cáo mà thôi.

* Vùng Vịnh

Iran tiếp tục chuẩn bị chế tạo bom nguyên tử dưới chiêu bài sử dụng uranium trong mục đích hòa bình. Nhiều năm qua khi thì Iran cho phép Cơ Quan Nguyên Tử Năng Quốc Tế (AIEA), nôm na là ủy ban kiểm soát năng lượng hạt nhân (commission conjointe de contrôle nucléaire) của Liên Hiệp Quốc xem xét hoạt động của các cơ sở hạt nhân, khi thì Iran cấm thành viên của ủy ban này không được phép tra cứu việc tinh chế uranium. Có lúc Iran khai báo thật thà về những hoạt động vô hại, có lúc họ che giấu những điều quan trọng không cho quốc tế biết. Liên Hiệp Quốc đã áp đặt 4 lần chế tài Iran về việc tinh chế uranium. Ngày 8 tháng 11 năm 2011, AIEA đã ấn hành một bản báo cáo xác nhận Iran đã thực hiện những công tác nhắm tới việc chế tạo vũ khí hạt nhân.

Pháp thúc đẩy các nước Âu Châu chấp thuận trừng phạt Iran mạnh hơn bằng cách là phong tỏa tài sản ngân hàng và cấm vận dầu xuất cảng của Iran trong kỳ họp các bộ trưởng ngoại giao và nguyên thủ quốc gia ngày 30-01-2012 tại Bruselles. Hoa Kỳ đã quyết định sẽ có biện pháp trừng phạt mọi tổ chức ngân hàng của mọi quốc gia, kể cả ngân khố Hoa Kỳ, nếu những ngân hàng nầy làm trung gian trang trải tài chánh trong việc mua dầu của Iran.

Lập tức phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Iran, ông Ramin Mehmanparast tuyên bố: “Tây phương không có khả năng loại trừ Iran khỏi việc trao đổi năng lượng trên thế giới và biện pháp trừng phạt sẽ đưa tới tổn hại của tất cả mọi bên”. Nếu cấm vận, Iran sẽ đóng eo biển Hormuz và để hỗ trợ cho sự đe dọa nầy, Iran cho bắn hỏa tiễn tầm trung “Ðịa Không” và “Ðịa Ðối Hải Ghader” tầm xa. Ðô Ðốc Mahmoud Moussavi còn khoe loại hỏa tiễn Ghader có khả năng chống mục tiêu “tàng hình”.

Phải chăng những lời hù dọa trên đây là của những người lãnh đạo Iran thấy rõ nguy cơ to lớn có thể gây tổn hại không lường đối với một quốc gia sống bằng việc xuất cảng dầu hỏa như Iran. Sự hù dọa của thằng liều đứng trước thảm họa một còn một mất.

Giáp lời những hù dọa ghi trên, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ trả lời: “Hoa Kỳ sẽ không khoan nhượng việc Iran đóng eo biển Hormuz, coi đó là giới tuyến đỏ và Hoa Kỳ sẽ phản ứng”. Chủ tịch Ban Tham Mưu Liên Quân Mỹ, Ðô Ðốc Dempsey nói: “Chúng tôi trông đợi Iran là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, không ngăn cấm quyền tự do hàng hải đi lại, chúng tôi kiên quyết không để họ thụ đắc một vũ khí hạt nhân”. Lại một sự hù dọa của Hoa Kỳ đáp lại sự hù dọa của Iran.

Nhưng theo Riad, một chuyên gia về vấn đề quân sự tại Dubai, thì các quốc gia trong Vùng Vịnh chuẩn bị chiến tranh, nhưng không một quốc gia nào muốn có chiến tranh.

Còn giáo sư học viện cao đẳng quốc tế ở Genève nhắc nhở rằng: “Iran đưa ra các lời tuyên bố cứng rắn như vậy có thể là để chuẩn bị cho lời yêu cầu tái lập các cuộc thương thuyết với Bruxelles để tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng về chương trình nguyên tử của họ”.

Thực tế, nếu Iran đóng eo biển Hormuz thật, chắc chắn Hoa Kỳ thừa khả năng khai thông với lực lượng quân sự mạnh gấp nhiều lần hơn, đó là chưa kể Israel sẵn sàng chờ cơ hội tham gia đánh bại những kẻ thù lân cận.

Ðiều đó Iran vẫn biết rõ.

Riêng đối với Hoa Kỳ sau hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan, khả năng kinh tế, quân sự vẫn còn nhưng cũng không muốn tiêu hao thêm trong tình trạng khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Chưa kể Hoa Kỳ còn phải đương đầu với sự vùng lên và tinh thần bành trướng của Bắc Kinh đang muốn thay Hoa Kỳ làm bá chủ thế giới. Do đó ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Panetta xác định: “Quân đội Hoa Kỳ có khả năng chiến đấu trong nhiều vụ xung đột cùng một lúc và đối đầu đánh bại hơn một địch thủ cùng một lúc”. Nhưng điều chắc chắn ông Panetta phải biết là dư luận quần chúng Hoa Kỳ không sẵn lòng chấp nhận chiến tranh trong hoàn cảnh hiện tại.

* Châu Á Thái Bình Dương

Sách lược quốc phòng mới của Hoa Kỳ làm cho Trung Quốc nổi giận. Ðó là những lời tuyên bố của Tổng Thống Obama: “Lực lượng quân sự của Hoa Kỳ sẵn sàng đối với các trường họp bất trắc và sự hiện diện của Hoa Kỳ trong vùng Châu Á Thái Bình Dương sẽ được tăng cường”. Còn thêm những thỏa thuận ký kết với Úc Châu, Ấn Ðộ, Singapore và những sự thắt chặt với Nhật Bản, Ðại Hàn, Philippines và Việt Nam. Rõ ràng là một sự bao vây, Trung Quốc biết rõ nên phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Cộng, ông Lưu Vi Dân cho rằng: “Sự tăng cường hiện diện quân sự của Hoa Kỳ ở Châu Á là dựa trên một sự tính toán sai lầm”. Một tướng lãnh thuộc Viện Nghiên Cứu Quốc Phòng Trung Cộng khuyến cáo nguy cơ bị Hoa Kỳ bao vây. Nhưng trong một bài báo ông viết trên báo Quân Ðội Nhân Dân kêu gọi không nên hoảng hốt, phải thông minh đối phó với ý đồ thật sự của Washington. Tướng La Viện nhận định Hoa Kỳ muốn ngăn chận Trung Cộng phát triển. Nhưng cuối cùng viên tướng thuộc phe diều hâu của Bắc Kinh cũng phải kêu gọi có một “đối sách ngoại giao thông minh”.

Trước đây không lâu những lời tuyên bố nẩy lửa của Bắc Kinh như: “Các quốc gia chống đối sẽ nghe tiếng súng đại bác”. Tư Lệnh Không Quân Trung Quốc khoe khoang: “Không Lực Trung Cộng có khả năng đưa chiến tranh ra ngoài biên giới Trung Quốc”.

Có lẽ những sự hung hăng và hành động thô bạo cướp của trên biển Ðông của Trung Cộng có giá trị áp đảo đối với các nước nhược tiểu lân bang. Nhưng từ khi Hoa Kỳ nhận thấy có quyền lợi kinh tế và chiến lược quân sự toàn cầu của mình tại Châu Á Thái Bình Dương, nên mới quyết định trở lại và tăng cường sự hiện diện của mình tại vùng nầy. Cũng từ khi đó Trung Quốc có diễu võ dương oai nhưng càng ngày càng xuống nước khi vấn đề biển Ðông được quốc tế hóa do Hoa Kỳ ủng hộ.

Tóm lại Trung Quốc thừa biết sức mạnh quân sự của họ còn kém xa Hoa Kỳ. Hải quân chưa có được một chiếc hàng không mẫu hạm trong khi Hoa Kỳ đã có hàng chục, đó là chưa kể hải quân Nhật Bản, Ấn Ðộ, Úc Châu. Cho nên những lời hù dọa sẽ nghe tiếng súng đại bác chỉ là rung cây nhát khỉ mà thôi. Chiến tranh lạnh thì có, điểm nóng chưa có khả năng xẩy ra trong thời điểm nầy, trừ khi có một tên chỉ huy nào quá khích, vô kỷ luật làm bừa thì đó là một tay nạn giới hạn chớ không thuộc chủ trương của các quốc gia đang đối đầu vì sự tồn tại như Iran hay vì tranh giành quyền lãnh đạo trật tự thế giới mới như Hoa Kỳ hay Trung Quốc.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Hà Nội Ăn và Tiêu

Vũ Thanh Bình - Lâm Hoài
Ăn sáng bằng một tô phở 650.000 đồng, ăn tối trong một căn phòng vàng và đêm đến thì ngủ ở một khách sạn với giá 6.200 US đô la một đêm...? Hà Nội là nơi có thể thỏa mãn bất cứ ai có tiền bằng những dịch vụ đắt tiền như thế.

Trên những con phố Hà Nội chật chội, ngột ngạt vì kẹt xe, vỉa hè ngập tràn những quán vịt om sấu hay bún ốc, ít ai ngờ rằng thủ đô có những chốn “xứng danh kim tiền” đến vậy.

Ấn tượng đầu tiên về khách sạn Grand Plaza Hà Nội khánh thành mới đây trên đường Trần Duy Hưng, gần Trung tâm hội nghị quốc gia, là từ sảnh lớn cho tới nhà vệ sinh đều dát kim loại màu vàng. Khách sạn có 618 phòng khách cao cấp và phòng hạng sang cùng nhiều nhà hàng mang nhiều phong cách ẩm thực, phòng tiệc, hội nghị...

Có hai phòng tổng thống với giá cao ngất: phòng 325m2 giá 3.900 USD/đêm, còn phòng 410m2 giá 6.200 USD/đêm, tức hơn 125 triệu đồng. Kim loại màu vàng dát đầy trên các chi tiết trang trí trong phòng, theo như lời kể của ban quản lý khách sạn. Bước vào căn phòng này, sờ tay vào cái giường ngủ của “tổng thống”, ta có cảm giác như mình đang bước vào một bảo tàng kim hoàn.

Nếu đã ở phòng “tổng thống” thì sao không đi ăn tối theo kiểu “hoàng đế”, với một phòng ăn được gọi là phòng vàng tại nhà hàng Long Đình trên phố Quán Sứ? Nhà hàng này nhìn bên ngoài cũng khá bình thường, nhưng có thêm những phòng ăn đặc biệt gọi là phòng vàng, phòng bạc. Những ly tách muỗng nĩa trên bàn lấp lánh màu của kim tiền. Thực đơn của quán toàn những món với tên gọi hào nhoáng và tiền thì tất nhiên cũng... xả láng. Cô Phạm Thị Vân Anh, phụ trách PR của công ty sở hữu nhà hàng này, cho biết một bát xúp vi cá giá 72 USD, một bữa tiệc có giá ít nhất cũng 800 USD.

Anh Việt, một doanh nhân Hà Nội từng mời bạn hàng Trung Quốc đến nhà hàng Long Đình, kể: “Người ta đến đây để hưởng cảm giác yến tiệc hơn là để ăn. Hôm đó năm người, tôi phải thanh toán hết gần 2.000 đô...” - anh cười. Cung cách phục vụ như thế nào là tùy theo ý muốn của khách, nhưng theo giới thiệu của nhà hàng thì khi ngồi ở phòng vàng, thực khách được phục vụ như “hoàng đế”.

Bát phở giá bằng cả tạ thóc

Bát phở bò này có giá 650.000 đồng, bằng giá một tạ thóc nếu tính giá cao 6.500 đồng/kg. Nhưng “có người sáng nào cũng ăn, có người kéo cả gia đình ba bốn thế hệ đến thưởng thức, thanh toán tiền ăn sáng hết vài triệu đồng là chuyện bình thường” - ông Tô Lâm, tổng giám đốc khách sạn Vườn Thủ Đô kiêm ông chủ nhà hàng trong khuôn viên khách sạn, nơi duy nhất ở Hà Nội bán loại phở bò đắt khủng khiếp này, kể về khách hàng của mình. Bãi đỗ xe nhà hàng chật ních những loại xe sang trọng, đắt tiền như Porche, Lexus...

Có gì khác biệt giữa hai loại phở? Phở Sagagyu 650.000 đồng được đặt trong tô bằng sứ có mạ vàng với một cái muỗng cong, còn bát phở bò Mỹ 125.000 đồng đặt trong tô thường, muỗng thẳng. Cũng khác biệt so với phở thường nữa là ở chỗ nhân viên chỉ mang bát phở có nước dùng ra, phần thịt bò được thái mỏng bằng máy và bọc trong một đĩa riêng để khách hàng tự tay nhúng. Khi cho vào bát phở chỉ sau chốc lát thịt bò đã chuyển từ màu đỏ sang màu sẫm. Cho vào miệng nhai có cảm giác miếng thịt tan rất nhanh, mềm, đậm đà và thơm. Ngoài ra còn có loại phở Kobe giá 500.000 đồng chế biến từ thịt bò Kobe, hoặc “mềm” hơn là phở Wagyu với thịt bò Úc có giá 220.000 đồng.

Làm khách sạn hơn 20 năm, bán phở đã năm năm nhưng chỉ hơn một năm trở lại đây ông Lâm mới bán phở bò Kobe . Ban đầu ông chỉ có mong muốn đơn giản là mang đến cho khách hàng những món ăn truyền thống đậm đà hương vị xứ Bắc. Nhận thấy thị hiếu khách hàng đất Hà thành ngày càng cao, ông quyết làm một bước đột phá: bán loại phở bò thượng hạng. Không ngờ món phở bò “quý tộc” này lại thu hút nhiều khách hàng đến vậy.

Ông Tô Lâm cho biết mặc dù đắt đỏ là vậy, nhưng nhiều hôm cả ba nhà hàng của khách sạn phục vụ 150 suất ăn một lúc vẫn bị quá tải. Lượng khách thưởng thức món phở này khá phong phú nhưng theo lời ông Lâm, hầu hết là giới doanh nhân tiếp đối tác, bàn chuyện làm ăn. Khách cuối tuần thường là gia đình giàu có.

Đứng dậy cầm hóa đơn thanh toán, dù biết trước giá cả nhưng chúng tôi không khỏi “xót ruột” khi trả hơn 800.000 đồng cho hai bát phở bữa sáng. Chợt nghĩ tới hóa đơn thanh toán của những người kéo cả gia đình đến ăn sáng bằng phở bò Kobe . Giá tiền trả cho một bát phở Sagagyu có thể đủ cho một bữa tiệc 5-6 người với vịt om sấu và rượu vodka - món ăn thuộc loại thịnh hành nhất trên vỉa hè Hà Nội hiện nay.

Hà Nội còn rất nhiều thứ xa hoa khác đang phô diễn trên những “ngõ nhỏ, phố nhỏ”, từ những chiếc xe siêu sang cho đến những cửa hiệu thời trang dành cho người có thu nhập rất cao. Những thương hiệu thời trang danh tiếng nhất trên thế giới khi vào Việt Nam vẫn chọn Hà Nội là điểm đến đầu tiên. Chẳng hạn như nhãn hiệu Hermes tại Việt Nam hiện chỉ có ở Hà thành, trong một khách sạn nổi tiếng nhất tại trung tâm thành phố. Và bây giờ là khách sạn 6.200 USD/đêm, là bữa tiệc vàng...

Còn bò Kobe hay Sagagyu? Vấn đề khiến người ta ngỡ ngàng không phải ở chỗ nó là món thịt đắt nhất vì chúng vẫn được bán nhiều trong các nhà hàng khác ở Việt Nam đấy thôi, mà là chuyện nó nằm trong một tô phở - món ăn vẫn bán đầy vỉa hè ngoài kia. Chẳng đâu xa, chỉ cần bước ra khỏi Vườn Thủ Đô mấy trăm mét, ta gặp ngay một cái bàn ven đường dưới tấm vải bạt, nơi những sinh viên, công nhân đang xì xụp những tô phở 15.000-20.000 đồng nghi ngút khói.


Việt kiều dành dụm mang tiền về nước làm từ thiện c
ho nhà giầu Hà Nội ăn chơi xa hoa

Phóng sự của Đài BBC của Anh, Alastair Leithead từ Hà nội gởi về nói về dân nhà giàu ăn chơi. Tựa đề phóng sự là “Ăn Phở 35 Đô Ở Nước Việt Nam Cộng Sản”. Chơi xe máy dầu Harley Davidson mà một thành viên người ngoại quốc của câu lạc bộ nhận xét "Ông sẽ không bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới." Chơi xe hơi mắc, mới, lạ không thể tưởng. Xe Porsche hai cầu dù Alastair Leithead là nhà báo đi nhiều nhưng chưa biết có loại xe đó; xe Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người đặt hàng mua.

Tin RFA, thống kê của Bộ Công thương của CS Hà nội công bố trong năm 2010, Việt Nam CS đã “nhập khẩu“ những mặt hàng xa xỉ lên đến 10 tỷ đô la. Ô tô và xe máy chỉ chiếm khoảng 1 tỷ đô la, trong khi “hàng hiệu” được xem là xa xỉ phẩm như: điện thoại di động loại mới, mỹ phẩm, rượu bia, thuốc lá, đồ trang sức, đá quý và quần áo loại sang chiếm 9 tỷ đô la.

Số triệu, tỷ phú đô la nổi ở trong nước mỗi năm đều tăng lên. Có người chẳng những mua xe sang mà mua luôn máy bay để đi nữa. Số triệu, tỷ phú chìm ắt còn nhiều hơn nữa nhưng họ dấu kín. Đó là những cán bộ đảng viên có quyền khi tham nhũng trở thành quốc nạn. Tài sản họ cướp được của đất nước và nhân dân nhiều vô số kể.

Làm gì trong bối cảnh tham nhũng là quốc nạn, một thiểu số 3 triệu 6 cán bộ đảng viên CS không hối mại quyền thế, tham ô nhũng lạm, dĩ công vi tư khi họ đang cầm quyền, nắm tiền, nắm của của nước Việt Nam. Họ giàu có, thừa mứa, mỗi năm xài hết 10 tỷ Mỹ kim cho hàng “nhập” xa xí. Họ là những người làm giàu nhờ nguời dân trong nước thì khi người dân gặp thiên tai thì họ là người phải gíup trả lại một phần cho cộng đồng chớ.

Người Việt hải ngoại đâu có giàu như họ, phải làm việc một tuần 40 giờ, hàng chục thứ hoá đơn phải trả, đóng thuế cao, đâu có được hưởng quyền lợi gì ở VN như họ, tại sao khi có thiên tai thì lại bị kêu gọi góp tiền đem về cứu trợ.

Hỏi có người Việt Hải ngoại nào ăn tô phở bò 35 Đô mắc như vàng, đi xe máy dầu loại dầu Harley Davidson hạng sang, xe hơi Porsche hai cầu, Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người chủ mua. Có mấy người mua Iphone 4 mới ra giá tương đương 900 Đô.

Thử tính sơ đi, sẽ thấy cán bộ, đảng viên và những người ăn theo trong nước việt cộng giàu thế nào trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái thời Đảng Nhà Nước và bọn tài phiệt theo cướp của quốc gia, bóc lột công người lao động như thời kinh tế tư bản hoang.

Từ hải ngoại, người Việt hải ngoại cũng đóng góp cho cái giàu của đảng viên, cán bộ và bọn tài phiệt ăn theo trong nước. Mỗi năm “Việt Kiều” gởi về nước 8 tỷ Đô và về chơi mang theo để xài tối thiểu cũng 6 tỷ nữa ( 300,000 người về, mỗi người tốn 2000$ để xài). Liên Hiệp Quốc viện trợ 3 tỷ. Sơ sơ Đảng Nhà Nước thu được 17 tỷ là giá chót. Đó là chưa nói số ngoại tệ Đảng Nhà Nước bòn vét tài nguyên dầu khí, cao su, gạo, v.v đem bán thô cho ngoại quốc. Phải hàng chục tỷ nữa.

Nếu so sánh với chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà thời trước 75 ở Miền Nam mới thấy CS họ hoang phí vô độ. Việt Nam Cộng Hoà khi xưa chỉ nhận viện trợ dân sự 700 triệu Mỹ Kim mà phải lo cho 17 triệu dân với giáo dục công lập, y tế công cộng miễn phí. Tài trợ cho đồng bào Miền Trung ăn gạo giá có thể chịu được.

Thế nhưng khi có thiên tai bão lụt, nhân dân và chánh quyền đùm bọc lấy nhau, đâu có ngửa tay xin ngoại quốc. Và công dân VNCH lên máy bay đi ngoại được các nước xem là công dân của một nước có nền kinh tế phát triển, hơn Đài Loan , Nam Hàn, Thái Lan.

Còn bây giờ, Đảng Nhà Nước Cộng Sản Hà nội là cơ quan có nhiệm vụ pháp lý và đạo lý phải lo cứu trợ. Luật CS Hà nội qui định không tổ chức nào trong và ngoài nước được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Thế mà Đảng Nhà Nước giàu nứt đổ đổ vách lại lơ là không làm. Mà người Việt Hải ngoại đi làm một việc Đảng Nhà Nước CS cấm không cho làm.

Người Việt hải ngoại làm là trái luật của CS Hà nội. Nên đa số thu tiền ở hải ngoại đem về nước làm từ thiện đều tuyên bố khi thu rằng sẽ giúp trực tiếp cho dân. Nhưng kinh nghiệm cho thấy tất cả đều phải qua nhà cầm quyền CS ở địa phương mới đi đứng, gặp gỡ người cần gíúp được. Ở trong xứ CS không thể họp dân mà nhà cầm quyền không hay biết.

Trong việc cứu trợ nhà cầm quyền địa phương có uyển chuyển với những người ngoại quốc vì có lợi cho họ. Họ không đòi hỏi phải giao tiền và quà cứu trợ cho họ vì họ biết đòi hỏi như thế “Việt Kiều” sẽ không đồng ý. Họ cho Việt Kiều đứng ra phát để chụp hình đem về chứng minh và làm thành tích của hội đoàn ở hải ngoại. Nhưng họ nắm quyền lợi của CS bên trong. Họ được “Việt Kiều” phải quấy với họ, làm “thủ tục đầu tiên” khi gặp để xin phát cho dân. Họ chọn người được phát đa số là thân nhân, bè bạn của họ.

Số tỷ, triệu phú Đô la ở VNCS hiện rất nhiều. Đảng Nhà Nước CS Hà nội rất giàu. Họ quá giàu đến đổi phải hoang phí. Không lý do gì người Việt hải ngoại lại đi làm vú sữa cho họ nữa. Mấy mươi năm đã quá thừa rồi. Không lý do gì để CS và những người chuyên sống bằng nghề từ thiện lợi dụng tình đồng bào, khai thác tai nạn của dân chúng để móc túi người Việt hải ngoại nữa. Người Việt có thương ai, giúp ai cứ gởi trực tiếp, đường dây chuyển tiền bây giờ quá dễ./.


(Vi Anh)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

'Mỹ không chấp nhận việc độc chiếm Biển Đông'


Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain phát biểu tại Hà Nội rằng vì lý do an ninh hàng hải, Mỹ không chấp nhận việc một quốc gia nào độc chiếm Biển Đông,
đồng thời bày tỏ mong muốn tăng hợp tác chiến lược với Việt Nam.


Image
Thượng nghị sĩ John McCain. Ảnh: Phan Lê
Thượng nghị sĩ bang Arizona, John McCain, cùng với nhóm Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman (bang Connecticut), Sheldon Whitehouse (bang Rhode Island) và Kelly Ayotte (bang New Hampshire) tới Việt Nam hôm qua.

Ông McCain cho biết ông và nhóm Thượng nghị sĩ Mỹ hôm nay đã có những cuộc gặp gỡ và trao đổi hiệu quả với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh. Nội dung được trao đổi là tình hình quan hệ song phương, và cả các vấn đề mà hai bên cùng quan tâm như vấn đề Biển Đông.

"Hiện nay, đang có căng thẳng gia tăng với Trung Quốc liên quan tới vấn đề Biển Đông và những vấn đề khác, nhưng chúng tôi cho rằng phương pháp tiếp cận đa phương với Trung Quốc, cũng như là việc tăng cường mối quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Việt Nam sẽ giúp giải quyết những vấn đề này", Thượng nghị sĩ McCain phát biểu mở đầu buổi họp báo.

Thượng nghị sĩ bang Arizona cho biết nhóm thượng nghị sĩ Mỹ đã có những cuộc thảo luận với các nhà lãnh đạo Việt Nam về lĩnh vực an ninh hàng hải, cụ thể là về tìm kiếm và cứu nạn. Hai bên đã nói về những cách thức tiếp cận đa phương với những vấn đề như Biển Đông hay vấn đề tự do hàng hải.

"Về hợp tác an ninh, trong Quốc hội Mỹ cũng có một số người muốn có thể bán được những vũ khí có sức tấn công cao cho Việt Nam, để giúp tăng cường an ninh hàng hải trên Biển Đông. Tuy nhiên, việc này sẽ chỉ đạt được sau khi những cuộc đối thoại giữa Mỹ và Việt Nam về nhiều vấn đề có được kết quả như mong muốn của cả hai bên", Thượng nghị sĩ Lieberman tiếp lời ông McCain.

Về vấn đề Biển Đông, ông Lieberman cho rằng Việt Nam và Mỹ rõ ràng có những mối quan ngại chung về việc Trung Quốc khẳng định chủ quyền đối với Biển Đông. "Đây là điều không chấp nhận được đối với cả Việt Nam và Mỹ", Thượng nghị sĩ Lieberman khẳng định. "Ở một khía cạnh nào đó, chúng tôi là đồng minh của Việt Nam và kể cả Philippines, vì chúng tôi không chấp nhận sự khẳng định chủ quyền của một cường quốc trên Biển Đông".

Theo vị thượng nghị sĩ bang Connecticut, việc khẳng định chủ quyền phải thông qua biện pháp thương lượng hòa bình hoặc thông qua luật pháp quốc tế. "Trong các cuộc thảo luận của chúng tôi với lãnh đạo Việt Nam, chúng tôi thấy các nhà lãnh đạo này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò lãnh đạo của khối ASEAN", ông Lieberman nói.

Nhóm thượng nghị sĩ Mỹ do ông McCain dẫn đầu đang có chuyến công du châu Á. Trước khi tới Việt Nam, nhóm thượng nghị sĩ này đã tới Philippines. Tại Manila, ông McCain và các thượng nghị sĩ Mỹ đã nhất trí với phía Philippines trong việc tăng cường mối quan hệ quân sự, dù Mỹ chưa có kế hoạch thiết lập bất cứ một căn cứ quân sự nào tại quốc đảo Đông Nam Á. Sau Philippines và Việt Nam, nhóm thượng nghị sĩ Mỹ sẽ tới thăm Myanmar, trong bối cảnh hai nước có những bước đi rõ rệt trong việc bình thường hóa quan hệ.

Thượng nghị sĩ McCain từng là phi công trong chiến tranh Việt Nam và từng có 5 năm ngồi tù tại nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội, sau khi máy bay của ông bị bắn rơi ở hồ Trúc Bạch vào năm 1967. Ông McCain được coi là một anh hùng và là một chính khách nổi tiếng ở Mỹ. Ông là người có nhiều đóng góp cho quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Mỹ, cũng như việc phát triển quan hệ giữa hai nước những năm qua.

Phan Lê
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest