Bình Luận , Quan Điểm

KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Ðức, Pháp và Hòa Lan triệu hồi đại sứ ở Iran về nước
Wednesday, November 30, 2011 6:32:21 PM

LONDON (AP) - Anh ra lệnh cho Iran phải rút tất cả nhân viên ngoại giao ra khỏi nước trong vòng 48 giờ, l
ệnh này được đưa ra hôm Thứ Tư sau khi có cuộc tấn công vào Tòa Ðại Sứ Anh và khu cư trú ở Tehran,
đây được xem là một trong những vụ trả thù ngoại giao chống lại Iran quan trọng nhất kể từ cuộc khủng hoảng Tòa Ðại Sứ Mỹ năm 1979.

Image
Ngoại trưởng Anh, William Hague, loan báo rút tất cả nhân viên ngoại giao ở Tehran về nước hôm 30 tháng 11,
đồng thời yêu cầu Iran triệu hồi nhân viên ngoại giao của mình ở Anh. (Hình: AP/Sang Tan)

Anh cho hay rất giận dữ về cuộc tấn công và đốt phá cơ sở ngoại giao của mình ở Tehran, do thành phần sinh viên quá khích và lực lượng dân quân Basij gây ra, lấy lý do để trả thù việc Anh và các quốc gia Tây Phương có biện pháp phong tỏa kinh tê quốc gia này vì chương trình nguyên tử.

Cuộc tấn công cũng cho thấy sự chia rẽ sâu đậm trong hàng ngũ lãnh đạo Iran về cách thức đối phó với áp lực ngày càng gia tăng của thế giới đang có ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh tế vốn đã tệ hại.

Cuộc tấn công, khiến dư luận thế giới nhớ lại hình ảnh của cuộc chiếm đóng Tòa Ðại Sứ Mỹ năm 1979, có vẻ là hành động của phía bảo thủ cứng rắn đang kiểm soát quốc hội Iran trong cuộc đối đầu với Tổng Thống Mahmoud Ahmadinejad và nhằm buộc ông phải theo đòi hỏi của họ là trục xuất đại sứ Anh.

Trong cuộc tranh chấp với Tây Phương, ông Ahmadinejad và các bộ trưởng đã cho thấy không có ý muốn nhượng bộ trước đòi hỏi Iran phải chấm dứt chương trình nguyên tử nhưng vẫn tìm cách có sự trao đổi liên lạc nhằm giới hạn các biện pháp trừng phạt.

Ngoại trưởng Anh, William Hague, cho biết Anh Quốc cũng rút toàn bộ nhân viên ngoại giao ra khỏi Iran, sau khi đám người giận dữ hạ cờ Anh, đốt một xe hơi và quăng giấy tờ trong tòa đại sứ ra khỏi cửa sổ.

Hành động hiếm hoi, đuổi toàn bộ nhân viên ngoại giao một quốc gia về nước, đánh dấu mối quan hệ tẻ nhạt giữa Iran với Tây Phương, vào thời điểm Tehran bị nghi có theo đuổi chương trình vũ khí nguyên tử. Căng thẳng cao độ hồi tháng 10 khi Hoa Kỳ cáo buộc nhân viên của Lực Lượng Quds thuộc Vệ Binh Cách Mạng, có vai trò trong âm mưu sát hại đại sứ Saudi Arabia ở Hoa Kỳ.

Ðức, Pháp và Hòa Lan hôm Thứ Tư cho triệu hồi đại sứ ở Iran về nước để tham vấn. Na Uy cũng đóng tòa đại sứ ở Tehran vì lý do thận trọng.

Tòa Bạch Ốc mạnh mẽ kết án vụ tấn công Tòa Ðại Sứ Anh, đồng thời Liên Âu mở phiên họp vào ngày Thứ Năm để xét đến biện pháp đối phó. Tòa án quốc tế ở Hague cũng ca ngợi Nga, Ba Lan, Trung Quốc và United Arab Emirates đã lên tiếng ủng hộ và bày tỏ sự quan tâm. (TP & VGiang)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cầu cứu "Chính quyền Việt Nam Cộng Hoà"

Lê Quốc Tuấn - X-CàfeVN
Hai ngày nay, khi dùng đến bốn chữ "Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa" để nhắc đến chế độ Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam trước 1975 trong phần trả lời trước quốc hội của mình, thủ tướng chính phủ CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã gây nên nhiều suy nghĩ trong dư luận trong , ngoài nước. Đây là lần đầu tiên, một giới chức lãnh đạo cao nhất của đảng CSVN, nhắc đến chính quyền chế độ miền nam VN, một cựu thù của mình trước đây - bằng đúng danh xưng hợp pháp lẽ ra cần phải xử dụng tự bao lâu nay. Biểu hiện này còn đặc biệt hơn đối với cá nhân ô. NTD, nhân vật từng được dư luận biết đến như một người có ác cảm sâu sắc đến chế độ miền nam Việt Nam, qua tiết lộ của Wikileaks gần đây.

Những người lạc quan, nhìn động thái này như một tín hiệu tốt của một chính quyền đảng trị, độc tài từng công khai chối bỏ dòng sinh mệnh lịch sử của 17 triệu người dân miền Nam Việt Nam trải suốt từ năm 1954 đến ngày 30/4/1975.

Những người hoài nghi, đang lặng lẽ chờ xem những gì ẩn khuất đàng sau biểu hiện ấy của chính quyền đảng CSVN nói chung và của cá nhân vị thủ tướng từng tuyên bố nhiều điều gây nhiều tranh cãi từ khi tại chức đến nay.
Tuy nhiên, thật quá sớm để đưa ra những suy diễn lạc quan từ tín hiệu ấy. Đặc biệt là những suy diễn về một sự thay đổi trong quan điểm của những người CS Việt Nam về chế độ cựu thù của họ ở miền Nam Việt Nam.
Ngay tại thời điểm này, chỉ có một nguyên nhân rõ ràng cho việc phải dựng lại danh xưng hợp pháp của chế độ miền nam Việt Nam: Việt Nam Cộng Hòa là một sự thực lịch sử mà chính quyền CSVN hiện nay đang cần đến để trám lại vết hổng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa về lịch sử.

Nhìn lại cuộc tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc; bắt đầu từ những căng thẳng về đảo Trường Sa vào năm 1988 lên đến các cao điểm gần đây giữa hai nước, ngoài việc khẳng định hiện diện lịch sử của mình trên hai quần đảo này từ thời nhà Đường, Trung Quốc còn luôn luôn nhắc đến Công Hàm ký kết năm 1958 giữa P.V Đồng và Chu Ân Lai như một cam kết pháp lý giữa hai chính phủ.
Trước luận điệu của TrungQuoc, về mặt công khai, chính quyền VN lại chưa bao giờ minh giải được trước công chúng của mình về bản Công Hàm này. Dù nhiều nhà lý luận, nghiên cứu Sử học của Việt Nam ở trong nước cũng đã góp phần giải thích về ý nghĩa, giá trị của bản công hàm này, nhưng tất cả vẫn chỉ là những giải thích không chính thức từ nhà nước. Điều này càng cho thấy sự lúng túng khó xử của chính phủ VN hiện nay về một văn kiện lịch sử đã cũ trong quan hệ giữa hai đảng anh em từ quá khứ.

Trong khi đó, từ trong nước: đời sống dân chúng ảnh hưởng nặng nề từ những thủ đoạn phá hoại nham hiểm của lái buôn TrungQuoc, kinh tế vĩ mô bế tắc, lạm phát tăng cao, đồng bạc mất giá, việc biến VN thành xưởng thợ nhân công rẻ không còn hấp dẫn giới đầu tư nước ngoài như trước nữa... Đồng thời,. Dù tạm thời dẹp yên được các cuộc biểu tình suốt tháng Bảy vừa qua nhưng chính quyền luôn hiểu rằng lòng cảnh giác Bắc phương lúc nào cũng canh cánh trong lòng mọi người, lúc nào cũng có thể là ngọn lửa thổi bùng thành một loại Mùa Xuân Ả Rập ở VN.

Trước nguy cơ có thể bị "mất dân trước khi mất nước" như blogger Thanh Chung từng cảnh báo, chính quyền CSVN đang phải đánh ván bài khác: xử dụng đến sự liên tục của lịch sử để vô hiệu phần nào hóa Công Hàm PVĐ và minh định hơn nữa sự hiện diện của người Việt Nam trong hai quần đảo đang bị TQ tranh chấp này. Bởi vì, chỉ sự minh định tính chính danh của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mới có thể hóa giải được thế kẹt mà bản công hàm PhamVanĐong từng gây nên cho chế độ CS Việt Nam bao lâu nay.

Như các nhà luật gia, nghiên cứu sử học ở Hải Ngoại nhiều lần lên tiếng, cụ thể là lời nhận xét sau đây của Thạc sĩ Hoàng Việt, thành viên Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông :
"Thứ nhất, ông Đồng hay bất cứ ông nào ở miền Bắc lúc đó cũng chẳng có quyền gì mà có thể nói chuyện công nhận hay cho ai cái gì được cả. Bởi vì theo hiệp định Geneve 1954 thì [Việt Nam] đã chia đôi, từ vùng vĩ tuyến 17 trở về bên ngoài là chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý lãnh thổ đó, từ vĩ tuyến 17 vào trong là chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý. Và như vậy là rõ ràng là các ông ở miền Bắc, dù có là ông nào đi chăng nữa, tôi nghĩ rằng cũng chẳng có quyền gì mà lại tuyên bố được với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc một chính quyền khác quản lý. Thế Việt Nam Cộng Hòa có phải là một quốc gia không ? Là một quốc gia chứ ! Là một quốc gia bình thường và thậm chí năm 1957 Liên hiệp quốc còn định đưa trở thành một thành viên chính thức của Liên hiệp quốc, nhưng mà sau đó có một phiếu phủ quyết của Liên Sô. Nếu không thì [đã được gia nhập Liên hiệp quốc rồi]. Thật ra Việt Nam Cộng hòa vẫn là một quốc gia bình thường. Và rõ ràng là anh không thể tuyên bố hay cho nhận cái gì của cái không phải là của mình, không do mình quản lý".

Tóm lại là chế độ Việt Nam Cộng Hoà, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đang được nhắc lại, để cầu cứu đến trong hoàn cảnh cuộc tranh chấp hiện nay tại Biển Đông. Bởi vì chính quyền CSVN với thế kẹt không thể lý giải được trước công luận trong, ngoài nước vì những nhượng bộ - bằng văn bản - trong quá khứ với phía TQ , hiện chỉ còn một lối ra: xử dụng đến dòng tiếp diễn lịch sử của chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam trước 75 để minh chứng chủ quyền trong cuộc tranh cãi với TrungQuoc.

Tuy nhiên, để đánh ván bài này, không chỉ đơn giản là nhắc đến chế độ miền nam Việt Nam bằng danh xưng hợp pháp của chế độ như ông NTD vừa làm. Còn phải chờ xem những động thái sắp tới của chính quyền VN để thấy rõ là họ đánh ván bài này như thế nào, đặc biệt trong vị trí éo le, thiếu minh bạch trước lịch sử và công chúng của họ từ bao lâu nay.

Xin nhac nho*' "Dung nghe nhung gi` VC noi' ma` hay~ xem nhung gi` VC lam`"

Và, cũng chẳng phải là một điểm đáng khen khi ông NTD thẳng thắn lên tiếng trước quốc hội về tình hình tranh chấp ở Biển Đông, dù rằng đấy cũng là một động thái tương đối mới của một chế độ vốn xem thường dư luận dân chúng mình. Nói cho cùng là: họ không còn cách nào khác nữa ngoài việc phải nói thẳng, nói thật một lần.

Bởi họ cũng hiểu rõ, sức dân có thể trở thành những cơn sóng, dữ hơn sóng Biển Đông, có thể lật úp con thuyền chèo vụng của Đảng CSVN bất cứ lúc nào.

Lại nhớ đến hồi đầu tháng 3 năm nay, trên facebook, một người ký tên Tiên Sa từng lên tiếng yêu cầu "Hãy để cho Việt Nam Cộng Hoà được lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên". Bài viết ấy tạo nên một phản ứng khá râm ran trong cộng đồng mạng. Tưởng đã yên, nay "Việt Nam Cộng Hòa" lại bị ông Nguyễn Tấn Dũng chiêu hồn về để gỡ rối cho chính quyền CS của ông. Nghĩ thật mỉa mai và chua cay cho một chế độ đã bị bức tử, bị đày đọa, nay lại còn bị cầu về để cứu nguy cho những kẻ hãm hại mình !
Nếu như ông Nguyễn Tấn Dũng quả đúng là một người "yêu sự thật, ghét sự giả dối" thì đâu phải chờ đến hôm nay ông mới cầu hồn "Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa" lên như thế ?
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

'Vũ khí mới' của Mỹ chống Trung Quốc đáng sợ tới đâu?
Hiệp định thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trở thành chủ đề chính của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương APEC 2011.

Đầu tiên là quan điểm của một nhóm các nhà phân tích cho rằng, TPP chỉ mang lại lợi ích cho các tập đoàn đa quốc gia chứ không phải người dân hay Chính phủ tham gia thỏa thuận này.

Một bằng chứng là trong tháng này, các cuộc đàm phán TPP đạt được kết quả bước đầu sẽ cho phép các tập đoàn nước ngoài kiện Chính phủ của một quốc gia để được bồi thường thiệt hại nếu Chính phủ đó có những hành động xâm hại đến lợi ích của họ.

Nhóm các nhà phân tích trên giải thích rằng, cơ chế bảo vệ các nhà đầu tư đặc biệt này chỉ là một cách để TPP “trói” các Chính phủ và bảo vệ lợi ích tối đa cho các tập đoàn đa quốc gia.

Sẽ giống như các quy định tương tự trong các thỏa thuận thương mại trước đó, các tập đoàn đa quốc gia luôn lợi dụng các tòa án nước ngoài để phản đối các chính sách bất lợi cho họ tại một quốc gia mà họ đang đầu tư. Những chính sách này bao gồm chính sách về môi trường và y tế, các vấn đề về quy hoạch và điều kiện đầu tư cũng như các quy định về việc sử dụng các chất độc hại và nhiều vấn đề khác.

Mối quan ngại còn xuất phát từ vụ rò rỉ bản dự thảo do Mỹ đề xuất liên quan đến dược phẩm và các thiết bị y tế gần đây tại các cuộc đàm phán bí mật.

Nếu bản dự thảo này của Mỹ chính thức được thông qua, giá thuốc sẽ bị đẩy lên khá cao. Những người dân nghèo lẫn người có thu nhập trung bình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ có ít cơ hội được hưởng các chế độ chăm sóc sức khỏe hơn bởi luật độc quyền vô lý và quy định cấm Chính phủ các quốc gia không được có chính sách hỗ trợ nhằm bình ổn giá. Giới phân tích kết luận dự thảo này của Mỹ sẽ mang lại khoản lợi nhuận vô tận cho các tập đoàn dược phẩm kếch xù.

Trong khi đó, một nhóm các nhà quan sát khác đưa ra giả thuyết rằng TPP thực chất là công cụ giúp Chính phủ Mỹ củng cố quyền lực ở vành đai Thái Bình Dương, tước đi các cơ hội thương mại của Trung Quốc và loại bỏ con rồng châu Á ra khỏi các cuộc chơi kinh tế.

Khó lòng kìm chế sự nổi lên của con rồng châu Á bằng các biện pháp quân sự và một cuộc chiến Trung – Mỹ là điều không tưởng, Washington chuyển chiến thuật, lợi dụng TPP làm đòn bẩy chống Bắc kinh.

Thông qua việc soi thấu tâm lý quan ngại của các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương rằng con rồng châu Á đang giành được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn trong khu vực và chính sách tiền tệ của họ đang cản trở và khiến các nước này bị lép vế trong các cuộc chơi kinh tế, Mỹ đang thúc đẩy các cuộc đàm phán TPP trong đó, tích cực đưa ra các đề xuất có lợi nhất cho họ.
Image
Một số nhà phân tích cho rằng, Mỹ đang tìm cách "loại" Trung Quốc. Ảnh minh họa: Csmonitor.

Trong khi đó, nhiều nhà phân tích người Trung Quốc lại cho rằng TPP hoàn toàn không phải là một khuôn khổ hợp tác kinh tế đáng ngại và do đó, Trung Quốc không cần thiết phải bận tâm đến nó hay ý đồ của người Mỹ.

Họ đưa ra giải thích rằng sẽ có rất nhiều thách thức và khó khăn chờ đợi các quốc gia tham gia vào TPP bởi việc mở rộng hơn nữa thị trường về phía Mỹ khi nền kinh tế của cường quốc số 1 thế giới đang trên đà lao dốc, chưa kể đến các chính sách bảo hộ thương mại và hàng hóa nội địa của Mỹ luôn là rào cản ngăn hàng hóa nước ngoài xâm nhập quá ồ ạt vào thị trường Mỹ.

Do đó, TPP sẽ cần một quá trình đàm phán kéo dài và chẳng ai dám chắc các nỗ lực đàm phán này sẽ đâm hoa kết trái. Do đó, viễn cảnh của TPP vẫn còn quá mong manh.

Hơn nữa, ngay cả trong lòng nước Mỹ, triển vọng cho sự thành công của TPP cũng không nhiều. Nhiều nhà phân tích nhận định thỏa thuận này thực tế chỉ là một tính toán chiến lược của Bộ Ngoại giao Mỹ, bỏ qua quan ngại rằng việc tiếp tục mở cửa thị trường nội địa sẽ làm nảy sinh nhiều nguy cơ cho nền kinh tế Mỹ.

Những thỏa thuận như TPP sẽ khiến thị trường nội địa của cường quốc số 1 thế giới không còn được bảo hộ và do đó, dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết. Trước đó, kể từ khi bắt đầu rơi vào suy thoái kinh tế hồi năm 2009, bảo hộ thương mại trở thành xu hướng ở các quốc gia phát triển như Mỹ. Tuy nhiên, TPP lại đi ngược lại với những xu hướng này.

Tuy nhiên, cũng có những quan điểm tích cực hơn cho rằng TPP có thể tạo đà cho tự do hóa thương mại ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, thậm chí còn có sức lan tỏa ra phạm vi toàn cầu. Những người này nhấn mạnh TPP không thể bỏ qua hay xem nhẹ vai trò của Trung Quốc bởi nó không thể trở thành cơ chế kinh tế thành công mà không có sự tham gia của con rồng châu Á; đồng thời đề xuất Trung Quốc nên tự do hóa nền kinh tế, chấp nhận các quy luật thương mại quốc tế nhằm duy trì sự tăng trưởng của họ.

Mới đây, việc Nhật Bản quyết định tham gia đàm phán TPP được đánh giá là động thái tích cực để thúc đẩy tiến trình đàm phán TPP. Thủ tướng Nhật Noda biểu lộ niềm tin mạnh mẽ rằng TPP sẽ thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế Nhật Bản, mở rộng thị trường và thúc đẩy nền kinh tế nước này tăng trưởng trở lại.


Lê Dung (theo Global Times)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cấm Chiếu Hoàng Sa?

Trần Khải
Hoàng Sa... Hoàng Sa... Nghe như còn xưa hơn chuyện cổ tích Tấm Cám, vì tuổi trẻ ở VN không được học tử tế, học công khai, học đầy đủ về quần đảo Hoàng Sa, nơi có 120 đảo nhỏ và bãi cạn đã bị Trung Quốc chiếm hoàn toàn từ cuộc hải chiến với Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trong năm 1974.

Câu hỏi để suy nghĩ: trong khi chính phủ Hà Nội muốn sửa đoạn kết chuyện Tấm Cám cho có vẻ nhân đaọ hơn, phần vì không muốn cho thấy hình ảnh Tấm Cám tương tàn (nghe như một thời nội chiến Nam và Bắc VN trước 1975), thì có ai cản được chính phủ Hà Nội sửa lại đoạn kết Hoàng Sa, một chuyện có vẻ còn xưa hơn cổ tích đối với trẻ em VN?
Tuy nhiên, những ngày cuối tháng 11-2011, bất ngờ Trung Quốc công bố chương trình mở tuyến du lịch Hoàng Sa, nghĩa là mời du khách toàn cầu tới để vui chơi trên nơi một thời là đảo của dân tộc Việt Nam.

Có phải đó là đoạn kết có hậu với Bắc Kinh, nếu Hà Nội im lặng cho đoạn kết chuyện cổ tích này? Nhìn toàn cảnh, trước giờ chính phủ Hà Nội vẫn tìm cách ém các thông tin nhạy cảm về Hoàng Sa nói riêng, và Biển Đông nói chung. Chuyện có vẻ như kiểu Bắc Kinh tiên đoán rằng đàn em vẫn tuân thủ chỉ thị từ Công Hàm 1958 do ông Phạm Văn Đồng ký để công nhận chủ quyền các vùng biển do TQ áp đặt thời đó.

Nhưng may mắn, Việt Nam từ cuối năm 2007 đã có một cuộc biểu tình đầu tiên phát khởi tại Sài Gòn, do Điếu Cày và nhóm Nhà Báo Tự Do, lúc đó mặc áo đen, giăng biểu ngữ ra đứng ở tam cấp Nhà Hát Lớn Sài Gòn để phản đối Trung Quốc thiết lập huyện đảo Tam Sa, trong đó bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa.

Điếu Cày hiện còn ở tù, chưa được ra, dù đã mãn án, nhưng tiếng vang cuộc biểu tình này đã đánh thức giới trí thức, và là cảm hứng cho nhiều cuộc biểu tình khác trong năm 2011.
Bộ Ngoại Giao VN đã phản đối TQ vụ du lịch Hoàng Sa, và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trong ngày 25-11-2011 đã nói trước Quốc Hội rằng Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa năm 1974, và lúc đó, theo lời ông Dũng, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (cô Tấm nói về cô Cám? Hay cô Cám nói về cô Tấm?) đã kiện lên tận Liên Hiệp Quốc.
Đó là lần đầu tiên Tấm Cám biết ơn nhau?

Tại sao ông Dũng không nói rằng vào tháng 12-2007, nhân dân Việt Nam (nói trống không, nếu ông Dũng không muốn nhắc tới tên của anh Điếu Cày và các bạn nhà báo tự do) đã đứng biểu tình giữa Sài Gòn?
Và tại sao ông Dũng không nói rằng liên tục 12 tuần lễ trong năm 2011, nhân dân VN (cứ nói trống không, nếu ông Dũng không muốn nhắc tới Lê Hiếu Đằng, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Xuân Diện, Trịnh Kim Tiến, Phương Bích và vân vân) đã biểu tình để đòi chủ quyền Hoàng Sa?

Nhưng thôi, kể công VNCH như thế cũng là bước đi tiến bộ của ông Dũng, dù chúng ta chưa rõ có cạm bẫy nào trong lời nói này không.
Đài BBC khi tường thuật đã ghi lời Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia về Việt Nam, trích:
“Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm nay, một lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam công khai tuyên bố rành rẽ về vấn đề Hoàng Sa...
"Khác với Trường Sa, vốn được cho là khu vực tranh chấp, Hoàng Sa luôn được Trung Quốc coi là lãnh thổ của nước này một cách hiển nhiên và không bao giờ đặt Hoàng Sa vào trong nội dung các cuộc đàm phán."...”(hết trích)?
Dù vậy, trong khi công an vẫn còn cấm biểu tình (dù là về Hoàng Sa), các cơ quan truyền thông chính thống đã nương lời ông Nguyễn Tấn Dũng để nói tới Hoàng Sa, dù là còn dè dặt.

Thí dụ, lời kêu gọi hiếm hoi này đưa ra từ báo Tuổi Trẻ, qua bài viết hôm Thứ Ba 29-11-2011, có nhan đề “Toàn dân góp sức đòi lại Hoàng Sa” của tác giả Giáp Văn Dương, trích:
“Đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình là một việc lớn và lâu dài. Có rất nhiều việc phải làm và điều chắc chắn là phải huy động lực lượng và cần có thời gian. Đây chắc chắn phải là sự nghiệp toàn dân.
Bước đầu tiên trong việc đòi lại Hoàng Sa là để cho toàn dân thấy được sự thật và tạo điều kiện cho người dân tham gia sự nghiệp này.
Muốn vậy, trước hết cần công khai hiện trạng Hoàng Sa đang bị Trung Quốc cưỡng chiếm cho toàn dân biết. Và ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã làm việc này tại Quốc hội.

Báo chí - truyền thông không chỉ tường thuật một lần mà phải nhắc đi nhắc lại thường xuyên liên tục, để vấn đề đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình đến được với mọi người dân, tạo cơ sở cho toàn dân góp sức.
Trên thực tế, ngay từ khi Hoàng Sa vẫn còn bị cho là “vấn đề nhạy cảm”, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng cần thực hiện chiến lược 3C: Công khai - Công luận - Công pháp đối với tranh chấp biển Đông.
Có thể diễn giải chiến lược 3C này sơ lược như sau: trước hết, cần công khai hiện trạng tranh chấp biển Đông nói chung và Hoàng Sa bị cưỡng chiếm nói riêng, đồng thời công khai lập trường của các bên, công khai các sự kiện nghiêm trọng xảy ra cho toàn dân biết.

Từ đó, sử dụng công luận, mà cụ thể là báo chí - truyền thông, nói cho toàn dân và nhân dân thế giới biết sự thật về tranh chấp biển Đông, trong đó có việc Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1974 để đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại biển Đông...”(hết trích)
Như thế, công khai về Hoàng Sa, nghĩa là trước giờ chính phủ CSVN ém tin khá kỹ, may nhờ Internet mới lộ hàng ra hết. Đặc biệt trên trang báo Tuổi Trẻ đó còn có một thông tin cho thấy chính phủ không cách nào bịt miệng nổi, trích: “Theo ông Đặng Công Ngữ - chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa, cuốn sách Kỷ yếu Hoàng Sa dày hơn 200 trang, gồm các phần: Hoàng Sa là của Việt Nam, Công tác quản lý nhà nước đối với huyện Hoàng Sa, Hoàng Sa và những nhân chứng lịch sử, Cảm nghĩ của người Đà Nẵng về Hoàng Sa. Ngoài ra Kỷ yếu Hoàng Sa còn giới thiệu cho người đọc về vị trí địa lý, tầm quan trọng cùng những nội dung cơ bản của quá trình xác lập, khai thác, quản lý và bảo vệ chủ quyền của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ trong lịch sử.
Điểm nổi trội của cuốn sách này là sự hiện diện của 24 nhân chứng sống từng có một thời làm việc tại Hoàng Sa trước năm 1974...”(hết trích)
Hóa ra, còn 24 nhân chứng sống về Hoàng Sa 1974. Nghĩa là những người của thời cổ tích VNCH.

Điều khó hiểu rằng, tại sao chính phủ cho in, cho xuất bản sách Kỷ Yếu Hoàng Sa này, với thông tin từ và về 24 nhân chứng thời 1974 ở Hoàng Sa? Có phaỉ là đã cởi mở, biết tôn trọng thôngt in cần để giữ nước, giữ biển? Trong khi đó, CSVN lại cấm chiếu phim về Hoàng Sa mới đây?
Bản tin đài RFA ngày 2-12-2011 kể:
“Bộ phim “Hoàng Sa Việt Nam - Nỗi đau mất mát” nói về cuộc sống của ngư dân huyện đảo Lý Sơn và Bình Châu do ông André Menras-Hồ Cương Quyết hợp tác với Đài Truyền hình TPHCM thực hiện năm 2011 đã bị cấm chiếu ra mắt vào đêm 29 tháng 11 tại quận Bình Thạnh vừa qua.
Theo lời ông André Menras Hồ Cương Quyết tác giả bộ phim kể lại thì vào lúc 17 giờ 30 tối hôm 29 tháng 11 ông cùng bạn bè cũng như anh em trong đoàn làm phim của hãng phim TFS dự định chiếu ra mắt cuốn phim Hoàng Sa Việt Nam - Nỗi đau mất mát trong vòng thân hữu tại quán cà phê Ami thuộc khu du lịch Văn Thánh, Quận Bình Thạnh TPHCM.

Cấm chiếu bằng cách cắt điện
Tuy nhiên cuốn phim đã gặp phải sự cấm đoán của cơ quan an ninh và theo lời thuật lại của nhiều nhân chứng thì hàng rào chào đón cuốn phim do an ninh thiết lập từ bên ngoài đã rất dày dặc...”(hết trích)
Có thể thấy rằng, sách Kỷ Yếu Hoàng Sa cho in, vì đó là sách thực hiện bởi “Nhà xuất bản Thông Tin & Truyền Thông (Bộ Thông tin - truyền thông) đã họp với Hội đồng thẩm định trung ương do giáo sư Phan Huy Lê - chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam.”

Còn phim “Hoàng Sa Việt Nam - Nỗi đau mất mát” bị cấm chiếu, bởi vì không có bàn tay nhà nước nhào nắn, không chịu kể công Đảng CSVN -- ngắn gọn, “thiếu tính đảng.”
Ngắn gọn, nhân dân, đất nước không là cái gì hết. Sẽ bị bịt miệng cả nước.
Chỉ có đảng trên hết, phải không, hỡi những người cấm chiếu bộ phim Hoàng Sa?
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Niềm hy vọng của Miến Ðiện

Ngô Nhân Dụng

Bà Aung San Suu Kyi nói bà sẽ ra ứng cử, sẵn sàng “đánh cá” là chính quyền quân phiệt Miến Ðiện có ý định thật sự muốn tiến bước trên đường dân chủ hóa.

Ðây là một quyết định can đảm; thêm một biểu hiện của đức can đảm mà bà Suu Kyi từng chứng tỏ từ hơn hai chục năm qua.

Năm 1997 bà Suu Kyi hoàn toàn không tin tưởng nhóm quân phiệt; khi họ hứa sẽ cho phép bà trở về nếu đi London thăm ông chồng người Anh đang bị ung thư, chờ chết. Bà không đi, thà xa chồng còn hơn xa đất nước. Chính quyền Miến đã từ chối không cấp chiếu khán cho ông Michael Aris vào Miến Ðiện gặp vợ lần chót; mặc dù có lời yêu cầu của Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II, và các chính phủ Anh, Mỹ. Hai năm sau, ông qua đời, không được nhìn vợ, sau lần gặp cuối cùng vào năm 1995. Bà Suu Kyi cũng phải xa cách hai người con trai; mặc dù thời còn trẻ họ đã từng vào chùa, cạo đầu, sống theo phong tục Miến, cho tới năm 2011 họ mới được phép về thăm mẹ. Người phụ nữ này đã hy sinh tình cảm gia đình, vì một lý tưởng: Cứu nước khỏi nạn độc tài. Chế độ độc tài đã gây nên tình trạng chậm tiến, hơn 50 triệu dân sống trong cảnh nghèo đói nhất Châu Á, mặc dù khi còn sống dưới chế độ thực dân Anh Miến Ðiện vốn là một nước giàu nhất Ðông Nam Á.

Năm 1988 nghe tin thân mẫu, bà Khin Kyi đang lâm bệnh nặng, ngày hôm sau Aung San Suu Kyi bay về nước trông nom mẹ. Lúc đó bà chưa hoạt động chính trị. Trong 9 tháng cho tới khi mẹ qua đời, Suu Kyi chứng kiến cảnh đất nước suy vong, nhân dân nghèo khó và mất hết tự do. Trước giờ hạ huyệt, Aung San Suu Kyi đã phát nguyện trước linh hồn cha mẹ là bà sẽ tiếp tục công cuộc tranh đấu cho người dân Miến Ðiện được tự do, dù có chết cũng không ngần ngại. Từ đó, bà đã cương quyết ở lại quê hương tham dự cuộc tranh đấu đòi dân chủ như cha mẹ đã theo đuổi suốt đời. Ðó là một hành động can đảm đáng ngưỡng mộ.

Nước Miến Ðiện đã nếm mùi sống dân chủ sau khi được Anh trao trả độc lập năm 1947; ông Aung San thân phụ bà vốn là một lãnh tụ kháng chiến đã bị ám sát năm đó, thân mẫu bà nuôi ba con, có lúc đã đưa bà sang sống ở Ấn Ðộ, khi nhậm chức đại sứ ở đó. Aung San Suu Kyi mang tên cả mẹ lẫn cha, Suu là tên bà nội. Năm 1962, Tướng Ne Win đảo chính xóa bỏ chế độ dân chủ, với chiêu bài “xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa theo lối Miến Ðiện”. Ông tiếm quyền cho tới năm 1988 mới từ chức sau những cuộc biểu tình phản đối chế độ độc tài trên toàn quốc. Chính quyền vẫn nằm trong tay nhóm quân phiệt. Kinh tế Miến Ðiện xuống dốc, các quyền tự do bị tước bỏ, quốc gia bị cả thế giới tẩy chay, trừ các nước độc tài còn giao dịch; trong đó Trung Cộng đứng hàng đầu.

Suu Kyi đã trở thành ngọn hải đăng cho cả phong trào dân chủ ở Miến Ðiện, sau khi bà diễn thuyết lần đầu tiên lên tiếng đòi tự do dân chủ vào năm 1988, trước ngôi chùa Shwedagon nổi tiếng mà bà Clinton mới được đi thăm trong chuyến công du Miến Ðiện đầu tiên của một ngoại trưởng Mỹ kể từ năm 1955. Bà Suu Kyi cùng các người cùng chí hướng thành lập Liên Ðoàn Dân Tộc vì Dân Chủ (NLD), bà đi diễn thuyết khắp nơi, mặc dù bị chính quyền cấm đoán.

Chính quyền quân phiệt đã hứa hẹn thay đổi chế độ một lần năm 1990, tổ chức bỏ phiếu bầu Quốc Hội. Aung San Suu Kyi và đảng NLD đã tin tưởng và tham dự cuộc bầu cử này. Ðảng NLD thắng 60% số phiếu bầu và chiếm 80% số ghế trong Quốc Hội. Chính quyền quân phiệt đã trắng trợn bãi bỏ kết quả bầu cử, bắt giam các dân biểu đối lập, cấm NLD hoạt động. Bà Aung San Suu Kyi bị bắt giam nhiều lần. Cả thế giới văn minh đã tạo áp lực trên chính quyền quân phiệt đòi trả tự do cho Aung San Suu Kyi, trừ chính quyền Trung Quốc. Năm 2009 chính quyền quân phiệt quyết định quản thúc bà Suu Kyi 18 tháng, mục đích không cho bà tham dự cuộc bầu cử năm 2010. Các nước khối ASEAN tính lên tiêng kêu gọi Miến Ðiện trả tự do cho bà, nhưng bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam phản đối. Phát ngôn viên Lê Dũng nói Hà Nội luôn luôn ủng hộ chính quyền Miến Ðiện, kể cả quyết định quản thúc mới này.

Nhưng năm nay, nước Miến Ðiện đang biến chuyển. Các người lãnh đạo mới của nhóm quân phiệt đã đưa ra những hành động bầy tỏ thiện chí nới lỏng vòng kềm tỏa trên dân chúng. Họ đã thả một số tù nhân chính trị, cho phép các mạng lưới được tự do hơn, và đã chính thức mời bà Suu Kyi tái lập Liên Ðoàn Dân Tộc Dân Chủ, và tham dự cuộc bầu cử bổ túc sắp tới để điền khuyết 48 ghế dân biểu trong Quốc Hội bầu vào năm ngoái. Ngày bỏ phiếu chưa được quyết định, nhưng sau khi gặp lãnh tụ nhóm quân nhân, bà Aung San Suu Kyi đã quyết định sẽ ra tranh cử!

Các hành động có vẻ bất ngờ của các lãnh tụ quân phiệt thực ra đã được bắt đầu từ năm ngoái, khi họ đưa một người dân sự (tướng về hưu) ra làm thủ tướng. Chính phủ mới này đã bắt đầu nới lỏng tự do, sửa đổi đạo luật bầu cử để chứng tỏ thiện chí, chuẩn bị cho các bước tiến mới hiện nay. Khi đồng ý tham dự cuộc bầu cử, bà Aung San Suu Kyi đã giúp cho nhóm quân phiệt được tiếng tốt, và bà chấp nhận cuộc tranh đấu ở nghị trường giữa đa số các dân biểu “gia nô” do chính quyền tuyển chọn. Chắc phải có những dấu hiệu vững chắc từ phía các tướng lãnh mới khiến bà Aung San Suu Kyi chấp nhận cuộc “đánh cá” lịch sử này. Bà tuyên bố, “Tôi tin tưởng đa số nhân dân Miến Ðiện muốn diễn ra một cuộc dân chủ hóa bình an và hòa hài... Tôi nghĩ là một số người trong chính quyền bắt đầu nhìn thấy nước Miến Ðiện không thể tiếp tục con đường hiện nay được nữa.” Bà nhấn mạnh điều quan trọng là phải thiết lập một thể chế trọng pháp luật, quan trọng hơn cả việc thả tù nhân chính trị. Bởi vì dù thả hết tù nhân chính trị, nếu không tôn trọng luật pháp thì lúc nào họ cũng có thể bắt lại.

Cuối cùng, vì thấu hiểu lòng người dân, cho nên Aung San Suu Kyi quyết định tham dự cuộc đánh cá này bắt lấy một cơ hội với hy vọng dân chủ hóa đất nước. Một dấu hiệu của lòng dân Miến Ðiện thấy rất rõ là phong trào chống lại tình trạng Trung Quốc bành trướng thế lực trên quê hương họ. Lòng dân sôi sục qua các cuộc biểu tình khắp nơi khiến chính các tướng lãnh quân phiệt cũng bị động tâm, lòng yêu nước của họ được đánh thức dậy.

Từ hai chục năm qua, Trung Quốc đương nhiên chiếm độc quyền về ngoại giao và thương mại với Miến Ðiện khi các nước Âu, Mỹ cấm vận chính quyền quân phiệt để đòi thi hành dân chủ. Trung Quốc đã đầu tư với những dự án nhiều tỷ đô la Mỹ, để khai thác tài nguyên Miến Ðiện, trong đó có dầu lửa và khí đốt, gỗ rừng, ngọc thạch, vân vân, tổng số đầu tư đã trên 14 tỷ Mỹ kim. Trung Quốc mở hải cảng trên bờ Vịnh Bengal nhìn qua Ấn Ðộ Dương, một quân cảng đã khiến chính phủ Ấn Ðộ phản đối. Một đường ống dẫn hơi đốt đi từ vịnh Bengal lên tới tỉnh Vân Nam, giúp Trung Quốc nhập cảng năng lượng mà không phải đi qua đường biển vùng Ðông Nam Á. Trung Quốc hiện là nước giao thương lớn nhất của Miến Ðiện (cũng như của Việt Nam), đang tràn ngập thị trường nước này với hàng hóa Made in China. Các công ty Trung Quốc đã đưa mấy trăm ngàn công nhân sang làm việc ở Miến Ðiện, trong các khu khai thác rừng, mỏ, làm đường, xây đập, không khác gì ở Lào và Việt Nam. Nhưng vụ “Bô Xít Miến Ðiện khiến lòng công phẫn bùng nổ là vụ xây đập Myitsone, đe dọa sẽ thay đổi khung cảnh thiên nhiên cả lưu vực con sông Irrawaddy. Nhân dân Miến Ðiện đã biểu tình phản đối khắp nơi. Ngày 30 Tháng Chín, chủ tịch nước Thein Sein đã phải ra lệnh ngưng cả dự án này mặc dù Trung Quốc đầu tư 3.6 tỷ đô la, hy vọng sẽ sử dụng 90% điện lực do con đập đó sản xuất. Khi công bố quyết định ngưng dự án đập Myitsone, ông Thein Sein giải thích là làm “theo ý nguyện của nhân dân”. Chính quyền Trung Quốc đã sững sờ trước quyết định này, và lập tức tố cáo chính quyền Barack Obama nhúng tay xúi giục Miến Ðiện.

Nếu chính quyền Mỹ có can dự vào các quyết định gần đây ở Miến Ðiện thì cũng nằm trong chính sách chung của họ là trở lại vùng Á Châu Thái Bình Dương; như họ đã lên tiếng trong suốt hai năm qua. Trước sau, các chính phủ Mỹ đều theo đuổi chủ trương cấm vận Miến Ðiện để gây áp lực dân chủ hóa. Ông Obama đã nhanh chóng gửi bà Hillary Clinton sang Miến Ðiện khi thấy có dấu hiệu chính quyền nước này sẽ thay đổi, vì họ không chịu được áp lực của Trung Quốc trong khi nhân dân thì phản kháng.

Có những tín hiệu từ các lãnh tụ quân phiệt, trong đó có lãnh tụ tối cao Than Shwe, cho thấy họ đã cảm thấy “ngột ngạt” dưới sức ép của Trung Quốc. Ðám quân nhân cầm đầu Miến Ðiện không có những ràng buộc về “chủ nghĩa” hay “ý thức hệ” với đảng Cộng Sản Trung Quốc. Họ coi chế độ độc tài như một phương tiện để sử dụng quyền hành mưu đồ lợi ích cho bản thân và gia đình, chứ không vì muốn theo một chủ nghĩa bắt buộc phải chuyên chính. Cho nên họ có thể thay đổi chế độ nếu thấy có một con đường khác đạt được các mục tiêu cá nhân.

Các lãnh tụ quân phiệt biết rằng một chế độ độc tài quen bất chấp pháp luật sẽ có ngày làm hại chính họ hoặc con cháu họ. Không có gì bảo đảm một nhóm độc tài khác, trong 10 năm hay 20 năm nữa, sẽ tôn trọng những tài sản mà các nhà độc tài thời nay thu góp cho gia đình hưởng. Chỉ có một thể chế tôn trọng pháp luật mới bảo vệ quyền tư hữu lâu dài. Ðó có lẽ là lý do chính khiến nhóm lãnh tụ quân phiệt muốn thay đổi.

Bà Aung San Suu Kyi chắc biết rõ tình hình nội bộ của chính quyền quân phiệt cho nên đã tỏ ra tin tưởng họ muốn dân chủ hóa thật sự. Năm ngoái, đảng NLD còn tẩy chay không tham dự cuộc bầu cử Quốc Hội; năm nay, không những chấp nhận ra tranh cử, Suu Kyi còn chuẩn bị mở các trụ sở đảng ở nhiều nơi, sẽ xuất bản báo chí; để đòi các quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận phải được tôn trọng. Chúng ta mong ước bà sẽ thành công khi “đánh cá” tham dự vào diễn trình dân chủ hóa mà bà tin là có thật. Bà là niềm hy vọng của nước Miến Ðiện. Bà cũng mang hy vọng cho một Mùa Xuân Á Châu, đang tiếp theo sau cơn gió Xuân từ các nước Á Rập và Trung Ðông.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Cuộc chiến ngầm chống Iran đã bắt đầu?
Theo giới phân tích quốc tế, cuộc chiến ngầm chống Iran của phương Tây đã nổ ra vì nếu không Mỹ và Israel đã chẳng mất công phá hoại các điểm hạt nhân, tiêu diệt các nhà khoa học chủ chốt của Iran.

Những vụ nổ bí hiểm tại các địa điểm hạt nhân, những vụ "ám sát" các nhà khoa học, máy bay không người lái gặp nạn đã làm đậm thêm những lo sợ rằng cuộc chiến ngầm chống Iran của phương Tây đã bắt đầu.

Lực lượng vệ binh cách mạng Iran hôm 6/12 đã sẵn sàng chiến đấu khi chỉ huy của nước này chỉ thị quân đội sẵn sàng cho các chiến dịch. Mệnh lệnh do Tướng Mohammed Ali Jaafari được ban ra sau khi Iran tuyên bố bắn hạ một máy bay không người lái của Mỹ và tấn công đại sứ quán Anh tại Tehran, làm cư dân phương Tây lo sợ rằng Iran đang đẩy mọi việc lên tới một cuộc xung đột lớn.

Cuộc chiến thế kỷ 21

Trước đó, hàng loạt vụ nổ bí hiểm xảy ra tại các cơ sở hạt nhân Iran, một sốnhà khoa học nước này bị bắt cóc và ám sát, các máy tính ở những nhà cơ sở hạt nhân Iran bị phá hoại bằng virus. Những sự kiện này khiến cho ngày càng nhiều chuyên gia nhận xét, cuộc chiến đã thực sự nổ ra - "cuộc chiến thế kỷ 21".

Tranh cãi chủ chốt ở đây là chương trình hạt nhân của Iran phát triển quá nhanh dù Tổng thống Iran Mahmoud Ahmedinejad khăng khăng cho rằng nó chẳng mởrộng một mảy may nào.

Các lệnh trừng phạt và sức ép ngày càng tăng của quốc tế dường như không thuyết phục được Iran giảm tốc việc làm giàu uranium. Và nhiều nhà quan sát tin rằng các vụ nổ tại các cơ sở hạt nhân và việc nhằm vào các nhà khoa học chủ chốt của Iran là một cách hạn chế tham vọng Iran trực tiếp hơn.

Patrick Clawson, thuộc Viện Washington về các chính sách Cận Đông nói, ông không ảo tưởng về những gì đang diễn ra. "Nó giống như một hình thái chiến tranh của thế kỷ 21. Có vẻ như đó là một chiến dịch ám sát và chiến tranh mạng, cũng như bán thừa nhận về chiến dịch phá hoại". Những gì không rõ ràng là ai đứng sau những vụ tấn công vào các địa điểm hạt nhân Iran.

Một quan chức Mỹ đã về hưu nhưng luôn được cập nhật các thông tin tình báo nói: "Có thể nói người Israel rất tích cực". Ông này cũng nói thêm về những nỗlực của Mỹ như sau: "Mọi thứ mà ứng viên Tổng thống đảng Cộng hòa Mitt Romney nói chúng ta nên làm như siết chặt cấm vận, tiến hành các hoạt động ngầm và sức ép của cộng đồng quốc tế - là những thứ mà chúng ta thực sự đang làm".

Chiến dịch phá hoại bán công khai?

Ngày 12/11, một vụ nổ lớn đã xảy ra và san phẳng một căn cứ của vệ binh cách mạng Iran tại Bid Kaneh, làm 17 người gồm cả người sáng lập chương trình tên lửađạn đạo của Iran thiệt mạng. Tuần trước, một vụ nổ riêng rẽ cùng gây thiệt hại nặng cho một cơ sở làm giàu uranium tại Isfahan.

Hai nhà vật lý hạt nhân Iran đã thiệt mạng và người đứng đầu Tổ chức năng lượng nguyên tử Fereydoun Abbasi-Davani cũng bị thương do quả bom gắn vào xe của họ hoặc phát nổ gần họ hồi năm ngoái.

Mark Hibbs, một chuyên gia hạt nhân tại Carnegie Endowment ở Đức nói, các hoạt động dữ dội của chiến tranh ngầm cho thấy đó là nơi Mỹ và Israel đổ sức mạnh vào ở thời điểm này. "Nếu Mỹ hoặc Israel quyết tâm hạ gục hẳn các cơ sở hạt nhân của Iran thì họ sẽ không tốn thời gian nhằm vào từng nhà khoa học của nước này như vậy".

Tuy nhiên, ông này cũng chỉ ra rằng trước khi Israel tấn công lò phản ứng Osirak của Iraq năm 1998 thì cũng có một loạt vụ mưu sát nhằm vào các nhà khoa học Iraq diễn ra.

Ông Hibbs nói thêm: "Trong cộng đồng chuyên gia có tồn tại lo ngại rằng chúng ta đã tung ra một lực lượng mà giờ không thể kiểm soát được". Lực lượng không kiểm soát được chính là virus máy tính Stuxnet, con virus đã hoành hành tại các cơ sở hạt nhân Iran năm 2010 và được cho là tác phẩm của các kỹ sư Mỹ và Israel.

Tuy nhiên, một nguồn tin cấp cao trong chính quyền Obama đã phủ nhận và nói Mỹ không hề liên quan.

•Hoài Linh (Theo DailyMail)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Hoa Kỳ Chuyển Thế - Chúng Ta Làm Gì ?.
Nguyễn Quang Duy
Vào thời điểm 1975, khi Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam, mấy ai trong chúng ta đóan trước Khối Cộng Sản Đông Âu và Nga Sô nay không còn. Rồi Trung cộng, Việt Nam, Lào, Cuba đều phải chạy theo kinh tế thị trường, đều phải nới lỏng kiểm sóat chính trị và phải đối đầu với những khó khăn về mọi mặt.

Gần đây Hoa Kỳ trở lại Á Châu xây dựng một đội hình kinh tế quân sự bao vây Trung cộng cũng là chuyện khó tin. Rồi Miến Điện và Lào từ chối sự bảo hộ của Trung cộng để xích gần hơn với thế giới tự do và những tranh chấp trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng công khai lộ liễu.

Về phía Trung cộng cũng khó ai ngờ được họ đang lâm vào khủng hỏang kinh tế và chính trị trầm trọng. Trong một bài diễn văn vào đầu tháng 12-2011, ông Zhou Yongkang ủy viên Bộ Chính trị đảng Cộng sản Trung Hoa đã tự thú họ chưa có được một cơ chế quản lý xã hội hoàn chỉnh để đối diện với những trì trệ kinh tế ngày một gia tăng và bất ổn chính trị có thể xảy ra.

Rồi Trung cộng hung hăng đe dọa chiến tranh làm thế giới càng lo sợ và càng dễ dàng cho Hoa Kỳ chuyển từ thế thủ sang thế công, tạo cơ hội cho các dân tộc đang bị cộng sản chiếm đóng đứng lên giải thể cộng sản mang tự do dân chủ đến tòan cầu. Trong tình hình như vậy chúng ta phải làm gì ?

Hoa Kỳ Hòa Giải Với Các Dân Tộc Đông Dương
Khi Đông Dương lọt vào tay cộng sản, không ít người trước đây từng sát cánh, từng ủng hộ Hoa Kỳ và thậm chí cả nhiều người Mỹ đều chua cay cho rằng “Hoa Kỳ đã phản bội các dân tộc Đông Dương”. Những người Đông Dương không theo cộng sản tìm mọi cách chống lại hay rời bỏ quê hương của họ. Hoa Kỳ đã mở rộng bàn tay nhận lãnh hằng triệu người tỵ nạn. Riêng trong trường hợp Việt Nam, Hoa Kỳ còn đón nhận hằng trăm ngàn quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa theo dạng HO.

Cộng đồng người Việt đã lên đến gần 2 triệu và trên nhiều lãnh vực nhiều người Mỹ gốc Việt đã hết sức thành công. Bằng nhiều phương cách và phương tiện khác nhau họ luôn hướng về Việt Nam cùng đồng bào quốc nội từng bước đấu tranh cho một Việt Nam tự do. Là công dân Hoa Kỳ, vũ khí chính của họ là liên tục đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam.

Thêm vào đó, hằng trăm ngàn người Việt sang Hoa Kỳ du học tu nghiệp hay du lịch. Họ thay đổi cách nhìn cách suy nghĩ và trở những người bạn của Hoa Kỳ. Nhiều người trong số họ đang công khai hay ngấm ngầm vận động thay đổi hệ thống chính trị tại Việt Nam.

Ngược lại nhà cầm quyền cộng sản vừa thiếu đức, vừa kém tài, đưa đất nước vào đói nghèo khủng hỏang, và luôn sử dụng bạo lực đàn áp mọi tiếng nói bất đồng. Từ đó người Việt ngày càng công khai biểu lộ thái độ thân thiện với Hoa Kỳ.

Tháng 11-2000, Tổng Thống Bill Clinton sang thăm Việt Nam. Chuyến đi này đã được không ít người diễn tả như dấu hiệu “Mỹ đi rồi Mỹ lại về”. Hằng triệu người đã đứng hai bên đường từ phi trường Tân Sơn Nhất đến khách sạn New World để đón chào. Ông cũng được người dân Hà Nội nồng nhiệt tiếp đón. Cảm tình mà người Việt dành cho Bill Clinton nói riêng và Hoa Kỳ nói chung đã nói lên tinh thần hòa giải đạt được giữa Hoa Kỳ và người dân Việt. Người viết dám thách thức nhà cầm quyền Cộng sản tổ chức được những cuộc đón chào nồng hậu như thế với giới chức cộng sản Trung Hoa.

Mạng Thông Tin tòan Cầu mang thông tin vượt thời gian và không gian đến quảng đại quần chúng, là một đóng góp vô cùng to lớn từ phía Hoa Kỳ. Một phương tiện đã được người dân tại các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông sử dụng để tiến hành Cách Mạng Hoa Lài. Phương tiện này càng ngày càng được những người đấu tranh sử dụng một cách hiệu quả hơn. Nó trở thành một cầu nối giữa những người đấu tranh trong nước với nhau và giữa họ với quần chúng Việt Nam.

Tháng 8-2002, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn chỉ vì dịch bài viết "Thế nào là dân chủ" bị tuyên án 13 năm tù. Ngày nay những người viết bài hay những người đưa tin trên mạng chỉ còn bị công an cộng sản khủng bố hay quấy rầy thay vì tù tội như trước đây. Những người nhận email hay vượt tường lửa không còn lo sợ công an mạng như trước đây. Tình trạng trở nên tốt hơn không phải vì cộng sản tôn trọng “nhân quyền”, mà vì chịu áp lực từ thế giới tự do nói chung và từ Hoa Kỳ nói riêng. Phương tiện thông tin tòan cầu lại càng ngày càng trở nên hiện đại, người dân nay biết ro nhà cầm quyền Hà Nội thiếu khả năng để kiểm sóat không còn lo sợ như trước đây. Có so sánh như thế chúng ta mới thấy được những nỗ lực đóng góp của phía Hoa Kỳ.

Đầu tháng 12-2011, Trương Quốc Huy một thành viên của Khối Dân Chủ 8406, bị kết án 6 năm tù vào tháng 1-2008 được thả trước kỳ hạn 2 năm. Luật sư Lê Công Định cũng sẽ bị trục xuất sang Hoa Kỳ. Nhưng cùng lúc công an cộng sản bắt cóc Tạ Phong Tần và Bùi Thị Hằng, khủng bố nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn và hai con Thục Vy và Trọng Hiếu, đàn áp tu sỹ và giáo dân Thái Hà. Mặc dù giới chức Hoa Kỳ có lên tiếng nhưng xem ra áp lực từ phía Hoa Kỳ còn rất giới hạn.

Có người còn cho rằng nhà cầm quyền cộng sản ranh mãnh lấy nhân quyền để trao đổi viện trợ và vay mượn. Điều này không sai, ngày 6-12-2011 vừa qua các nhà tài trợ quốc tế cam kết cho nhà cầm quyền cộng sản vay 7,39 tỷ Mỹ Kim, họ chỉ thúc giục giới chức cộng sản phải cải thiện tình trạng nhân quyền. Đây là một sự thực cần nắm rõ, việc tranh đấu cho tự do là việc của chúng ta, vận động cho nhân quyền chỉ đóng góp phần nhỏ trong công cuộc đấu tranh này.

Một đọan video vừa được đưa lên Youtube, một số bạn trẻ trong bóng đêm tay bật những que diêm còn miệng thì gào to “Trả Tự Do Cho Bùi Hằng”. Lập lèo trong ánh các que diêm, các khuôn mặt thật trẻ, những giọng cả nam lẫn nữ của cả ba miền Việt Nam. Các bạn không thụ động đợi chờ (wait and see) “Mỹ đi rồi Mỹ lại về”. Các bạn không đợi đến phiên mình bị bắt. Các bạn liên kết đấu tranh. Các bạn chủ động và sáng tạo bảo vệ lẫn nhau bảo vệ những người đang đấu tranh. Nhà cầm quyền cộng sản đang sợ hãi hành động của các bạn. Các bạn là niềm tin là tương lai của Tổ Quốc Việt Nam.

Tranh Chấp Nội Bộ Càng Ngày Càng Rõ Nét

Việc Hoa Kỳ trở lại Á Châu gây không ít phân hóa giữa tầng lớp cầm quyền cộng sản với nhau và giữa họ với nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh. Theo người viết đây là yếu tố quan trọng mà chúng ta cần tập trung khai thác để tối đa hiệu quả đấu tranh.

Vào đầu tháng 11-2011, trước hội nghị thường niên Khối APEC Trương Tấn Sang công khai ngỏ lời cảm ơn Hoa Kỳ vì nước này quan tâm đến tranh chấp trên Biển Đông. Để taọ cân bằng ảnh hưởng của Trung cộng, Trương Tấn Sang như đang nhận lãnh vai trò xây dựng một thế liên hòan với Hoa Kỳ và các quốc gia khác,

Trong khi ấy thì uy tín Nguyễn Tấn Dũng lại càng ngày càng giảm sút. Cuối tháng 11-2011, trước Quốc Hội Cộng Sản Nguyễn Tấn Dũng đã phải chống đỡ lập luận “không cần có luật biểu tình” của Hòang Hữu Phước, thuộc phe cách Tấn Sang. Tấn Dũng cho biết phải sọan luật biểu tình vì “quyền biểu tình” đã được ghi trong “Hiến Pháp” nhưng lại chưa có luật để theo đó thi hành. Ai cũng biết “Hiến Pháp” và “Luật Pháp” chỉ làm cho có hình thức, còn chế độ cộng sản thì không bao giờ người dân có quyền tự do biểu tình.

Nguyễn Tấn Dũng cũng chính thức xác nhận quần đảo Hòang Sa thuộc chủ quyền Việt Nam Cộng Hòa và đã bị quân đội Trung cộng dùng bạo lực chiếm đóng. Xét ra đây chính là thành quả của công cuộc đấu tranh đòi đảng Cộng sản phải xác nhận sự thật và đòi họ phải bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lãnh hải Việt Nam. Vì nắm rõ sự kiện lịch sử nói trên mọi người đã nhanh chóng bảo nhau: “đừng nghe những gì Tấn Dũng nói mà hãy nhìn kỹ những gì Tấn Dũng làm”. Điều này còn cho thấy đảng cộng sản đã mất hẳn niềm tin từ quần chúng Việt Nam.

Những người đấu tranh quốc nội không ngồi mà đợi (wait and see). Họ đã sáng tạo và chủ động biến lời tuyên bố ông Dũng thành một thử thách cho chính ông và đảng Cộng sản. Vào Chủ Nhật 27-11-2011, họ cho tổ chức một cuộc biểu tình “Ủng Hộ Luật Biểu Tình của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng”. Họ đã bị an ninh cộng sản thẳng tay đàn áp và giải tán. Cách hành xử của công an Hài nội nói lên sự thực “cộng sản nói một đằng làm một nẻo” và “Tấn Dũng bảo dưới không nghe”.

Trong cuộc chơi, Quân Đội và Công An là hai lực lượng được cả Tấn Dũng lẫn Tấn Sang o bế. Tháng Bảy vừa qua, Tấn Dũng ký quyết định thăng chức cho một loạt quan chức quân đội. Tuần này ngày 6-12-2011 Tấn Sang lại quyết định thăng chức cho 9 thượng tướng quân đội và công an. Nguyễn Chí Vịnh là một trong số những người này. Tấn Sang nói rõ trách nhiệm của họ là “bảo vệ vững chắc độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời” và đồng thời “bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội”.

Có lập luận cho rằng hiện tượng Tấn Sang công khai đối đầu Tấn Dũng cho thấy nội bộ cộng sản cũng phần nào có “dân chủ”. Thực ra đây chỉ là những tranh giành quyền lực và quyền lợi giữa các phe cánh trong đảng Cộng sản. Dân chủ chỉ thực sự có khi các chính trị gia công khai đề ra các chính sách và phương cách để thực hiện chính sách. Người dân có quyền tự do chọn lựa giữa các chính trị gia, chọn lựa những chính sách tối ưu cho quyền lợi của đất nước.

Việc tranh chấp quyền lực giữa Tấn Sang và Tấn Dũng càng ngày càng trở nên khốc liệt, thay vì chỉ xem chúng đánh nhau, chúng ta cần chủ động phân tích và nắm bắt tình thế để đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

Chiến Tranh Sẽ Xẩy Ra ?

Trong khi Hoa Kỳ công khai xây dựng một đội hình quân sự bao vây Trung cộng, lẽ đương nhiên nhà cầm quyền Bắc Kinh không thể làm ngơ. Vào tháng 11-2011, thủ tướng Trung cộng Ôn Gia Bảo đã lên tiếng cảnh cáo về sự can thiệp của “các thế lực bên ngoài” vào những tranh chấp ở Biển Đông, nơi mà Trung cộng khẳng định thuộc chủ quyền không thể tranh cãi.

Tuần này ngày 6-12-2011, trong một bài diễn văn đọc trước Quân ủy Trung ương, Hồ Cẩm Đào lên tiếng thúc giục Hải Quân Trung cộng phải sẵn sàng chiến đấu và hiện đại hóa để bảo vệ an ninh quốc gia và hòa bình thế giới.

Ông George Little, Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, xác nhận cảnh cáo nói trên là nhắm vào Hoa Kỳ. Ông cho biết trong cuộc đối thọai vào thứ Tư 7-12-2011 tại Bắc Kinh vấn đề này sẽ được nêu lên.

Về phía Việt Nam, báo Quân Đội Nhân Dân đưa tin từ ngày 1 đến 5/12-2011 tại Trường bắn TB1 ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Quân chủng Phòng không - Không quân đã thực tập bắn đạn (phòng không) thật với quy mô lớn. Có phải Hồ Cẩm Đào cũng lên tiếng cảnh cáo Việt Nam ?

Trong bài trước “Sau Sự Kiện Tầu Bình Minh Bị Cắt Cáp” người viết đã nhắc dư luận không mấy thuận lợi cho giới cầm quyền Bắc Kinh. Các cơ quan tuyên truyền chính thức của Trung cộng từ lâu đã tạo cho dân chúng Trung Hoa hiểu sai là 80 phần trăm Biển Đông thuộc lãnh hải Trung Hoa. Nay Hoa Kỳ lại dùng Biển Đông và các quốc gia trong vùng bao vây Trung cộng. Việc này đang được các thành phần chủ chiến trong đảng và quân đội Trung cộng triệt để khai thác. Nó tạo sự bất mãn Bắc Kinh quá mềm yếu không đủ sức bảo vệ chủ quyền lãnh hải Trung Hoa. Tình trạng căng thẳng nếu tiếp tục sẽ giúp thành phần chủ chiến thêm sức mạnh và rất dễ dẫn đến chiến tranh.

Thêm vào đó những thất bại về kinh tế và xã hội càng ngày càng bộc lộ, giới cầm quyền Bắc Kinh cũng sẽ dễ dàng chấp nhận chiến tranh.

Bài Học từ hai cuộc thế chiến cho thấy Hoa Kỳ sẽ chỉ nhẩy vào vòng chiến phút cuối khi đã bị tấn công. Vì thế cuộc chiến tranh sẽ không phải xẩy ra giữa Hoa Kỳ và Trung cộng. Chiến tranh sẽ xẩy ra giữa Trung cộng và các quốc gia trong vùng. Dưới nhãn quan của người Tầu, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn thường được xem như một lũ “lừa thầy phản bạn” cần dạy cho một bài học thứ hai. Vì thế chiến tranh giữa hai đảng Cộng sản sẽ rất dễ xẩy ra.

Nếu chiến tranh lại xảy ra, nguyên nhân vẫn là tranh chấp giữa những kẻ cầm quyền. Chiến tranh sẽ làm cho chúng ta quên đi các thất bại về ngọai giao, chính trị, văn hóa, giáo dục… và nhất là kinh tế đang dẫn đến sự sụp đổ của cả hai chế độ cộng sản Việt Trung. Cần hiểu rõ điều này để thấy rõ chiến tranh sẽ tránh được khi Việt Nam có tự do dân chủ. Nhưng nếu chiến tranh xẩy ra và nếu chúng ta biết chủ động thì chiến tranh cũng là thời điểm để thay đổi hệ thống chính trị đang trong thời kỳ sụp đổ.

Trên thực tế gián điệp Trung cộng được cài khắp các cơ quan công quyền và lực lượng vũ trang Việt Nam. Quân đội Trung cộng cũng trá hình dưới dạng công nhân, thương nhân và du khách có mặt cùng khắp Việt Nam. Trung cộng sẽ không để mất Việt Nam. Vì thế có thể họ sẽ tạo ra một cuộc đảo chánh hợp thức hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam.

Những thành phần chống Trung cộng bên trong Quân Đội cũng sẽ không ngồi im chờ đợi bị phe cánh theo Tàu thanh trừng. Họ có thể đang sửa sọan đảo chánh và sau đó sẽ tiến hành những thay đổi chính trị để hòa giải với dân tộc và tìm sự ủng hộ của thế giới. Sáng suốt, chủ động nắm bắt và chuyển hóa tình hình là nhiệm vụ của mỗi người chúng ta.

Tạm Kết

Đấu tranh đòi nhân quyền chỉ là một phần nhỏ mà người Việt có thể đóng góp. Chúng ta còn có thể yểm trợ cả vật chất lẫn tinh thần cho công cuộc đấu tranh chung.

Giải Nhân Quyền Việt Nam được Mạng Lưới Nhân Quyền hằng năm tổ chức nằm trong mục đích nói trên. Năm nay giải được
trao cho cho Luật sư Cù Huy Hà Vũ và Cô Đỗ Thị Minh Hạnh. Buổi trao giải sẽ được tổ chức tại Kensington Community Recreation Centre, Melbourne, góc đường Kensington và Altona, từ 1:30 giờ đến 4 giờ chiều ngày thứ bảy 10/12/2011. Sự hiện diện hay hướng về buổi lễ sẽ nói lên tấm lòng mong muốn tự do và dân chủ của chúng ta.

Hoa Kỳ thừơng tránh không trực tiếp xen vào chuyện nội bộ của Việt Nam. Vì thế đóng góp của Hoa Kỳ và thế giới tới nay có mặt giới hạn của nó. Chủ yếu họ chỉ tìm cách để cải thiện nhân quyền giúp tiệm tiến cải tạo thể chế chính trị.

Hoa Kỳ nay đã đổi từ thế thủ sang thế công bao vây Trung cộng. Làm yếu Trung cộng hay thay đổi thể chế chính trị tại Trung Hoa sẽ góp phần không ít trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

Chiến tranh, đảo chánh hay cách mạng - thật khó đóan trước chuyện gì sẽ xảy ra và khi nào sẽ xảy ra. Đấu tranh giành lại tự do là nhiệm vụ của chính chúng ta. Tiếp tục xây dựng niềm tin, vận động quần chúng, liên kết hành động và sẵn sàng chủ động đứng lên chính là việc chúng ta có thể làm.

Nguyễn Quang DuyMelbourne, Úc Đại Lợi
12/08/2011
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Dân Chủ ích lợi gì?

Ngô Nhân Dụng

Ở các nước dân chủ, mỗi lần có một cuộc vận động tranh cử, người ta lại thấy nhiều bất mãn về không khí chính trị.

Như cuộc vận động tranh cử hiện đang diễn ra ở nước Mỹ chẳng hạn. Ngược lại, tại một nước độc tài, một cuộc bầu cử hơi tự do một chút cũng khiến mọi người thêm tin tưởng rằng cơ chế chính trị dân chủ hy vọng sẽ giúp quốc gia sẽ tiến bộ hơn. Như tình trạng ở Nga trong mấy ngày nay. Chế độ dân chủ giống như một cái bánh: Ðược nếm một chút thì người ta thèm muốn ăn nhiều hơn; nhưng khi được ăn mãi thì lại dễ thấy chán!

Sang năm nước Mỹ mới có bầu cử tổng thống và Quốc Hội. Nhưng không khí chính trị đã sôi nổi, hào hứng nhờ các nhà chính trị bên đảng Cộng Hòa đang giành nhau để được đảng đưa ra làm ứng cử viên tổng thống. Một tháng nữa mới có những cuộc bầu cử sơ bộ ở Iowa nhưng từ nửa năm nay đã có hàng chục nhà chính trị rất sáng giá vận động hòng được đảng đưa ra đối đầu với đương kim Tổng Thống Barack Obama. Hãy tạm coi họ đều là những ứng cử viên tổng thống. Với tình trạng kinh tế đang trì trệ và khó hy vọng khá lên nhiều trong 12 tháng tới, ai chính thức được làm ứng cử viên Cộng Hòa sẽ hy vọng được làm tổng thống nước Mỹ từ năm 2013.

Nhưng chính cuộc vận động sôi nổi này làm nhiều người thấy chán nản. Theo dõi các cuộc tranh luận của họ, có những vị ứng cử viên tổng thống làm người ta phát chán. Nhiều người Mỹ tự hỏi: Cái ông (hay bà) này mà sẽ làm tổng thống của tôi hay sao? Thí dụ như ông Herman Cain, nhà triệu phú chủ nhân nhiều tiệm ăn thành công, có tài ăn nói, có lúc đã vượt lên đứng hàng đầu. Ông đưa ra một chính sách thuế rất giản dị, ai cũng hiểu được, gọi là “999,” ba thứ thuế cái nào cũng đánh 9%. Ai cũng biết các suất thuế như vậy sẽ làm ngân sách chính phủ Mỹ thiếu tiền tiêu, nhưng nếu có ai đặt câu hỏi thì ông Cain coi như chuyện đó không quan trọng! May mắn cho đảng Cộng Hòa, có đến 4 phụ nữ xuất hiện tố cáo ông đã sách nhiễu tình dục họ; rồi chính ông cũng thú nhận đã từng ngoại tình. Sau cùng ông Cain phải rút lui, ai cũng thở phào nhẹ nhõm.

Một ứng cử viên sáng giá khác là ông Rick Perry, thống đốc tiểu bang Texas. Ông có những khẩu hiệu rất hay, dựa trên thành tích đã quản trị thành công trong một tiểu bang vào hạng lớn và giầu nhất nước Mỹ. Có lúc ông đã vượt lên chạy hàng đầu, qua mặt cả Mitt Romney và Newt Gingrich; được coi như niềm hy vọng của đảng. Nhưng bây giờ ông đã xuống, rất thấp. Ông Perry có cái tật hay quên một cách thảm hại, đặc biệt là quên tên! Ðãng trí một lần thì dễ được bỏ qua, vì ai cũng có lúc quên; nhưng quên đến mấy lần, quên toàn những chuyện quan trọng, thì những người ủng hộ ông cũng phải lo! Một lần, lên ti vi tranh luận với các ứng cử viên khác, ông trình bày dự án chính trị sẽ thi hành khi lên làm tổng thống: Chính phủ liên bang to lớn quá, phải cắt bớt (Ai cũng đồng ý!). Cho nên Tôi, Perry, sẽ xóa bỏ bớt ba bộ trong chính phủ Mỹ. Thứ nhất là Bộ Thương Mại; thứ hai là Bộ Giáo Dục; và thứ ba là bộ... bộ nào nhỉ, quên mất rồi!

Mới ngày hôm qua, ông Rick Perry lại biểu diễn tính đãng trí một lần nữa. Ðang đi vận động ở Iowa, nói chuyện với ban biên tập tờ báo lớn nhất tiểu bang, The Des Moines Register, ông Perry chỉ trích Tổng Thống Obama đã Ðề Cử Hai Thẩm Phán Tối Cao, “thí dụ như là...” Nói tới đó ông Perry lúng túng nghĩ không ra cái tên vị thẩm phán này. Ông tự hỏi thầm, nhưng ai cũng nghe thấy, “Không, không phải là Montemayor...” Một nhà báo có hảo ý nhắc tên vị nữ thẩm phán: “Sotomayor.” Ông Perry sung sướng nhắc lại: “Sotomayor, đúng, Sotomayor.” Sau đó, ông chỉ trích các quan tòa Tối Cao Pháp Viện đã can thiệp vào “quyền tự do cầu nguyện” ở trong các trường học. Ðó là một đề tài rất hấp dẫn. Cho nên ông lên tiếng phản đối “Tám vị thẩm phán tối cao không do dân bầu ra; thành thật mà nói, họ không chịu trách nhiệm với ai hết!” Ý kiến này sẽ được nhiều người đồng ý. Chỉ có một điều bất ổn, là Tối Cao Pháp Viện nước Mỹ xưa nay vẫn có chín vị thẩm phán. Ðề tài Tối Cao Pháp Viện là do ông Perry chọn, để ông phê phán định chế này. Tôn giáo là một lãnh vực ông được rất nhiều người tán thưởng. Vậy mà ông quên cả con số 9 người hay 8 người. Nhiều người sẽ tự hỏi: Sao ông không chịu học trước khi lên trả bài?

Chắc cuối cùng ông Rick Perry khó qua mặt được Mitt Romney và Newt Gingrich để giành lấy vai trò ứng cử viên chính thức của đảng Cộng Hòa. Nhưng các màn biểu diễn tính hay quên khiến nhiều người đã thất vọng về khả năng chính trị của ông. Và nếu ông cứ tiếp tục vận động thêm vài tháng nữa, có lúc người ta sẽ thất vọng cả về những chuyện tranh cử và bầu cử sơ bộ. Liệu hai chính đảng lớn ở Mỹ không tìm ra cách nào khác để chọn một ứng cử viên chính thức hay sao?

Chưa hết, hãy chờ đến sang năm. Khi đảng Cộng Hòa chọn xong rồi, cuộc tranh cử giữa ông Barack Obama với, hoặc ông Mitt Romney hoặc ông Newt Gingrich, sẽ diễn ra với những cảnh đấu đá, chê bai, bới móc và có khi bôi bẩn nhau rất nặng nữa. Dân chúng sẽ còn chứng kiến nhiều cảnh không phải lúc nào cũng hay ho, đáng ngưỡng mộ. Vậy mà, sau cùng, một trong mấy người đó sẽ lên làm tổng thống cai trị dân Mỹ trong bốn năm! Có cách nào khác hay không?

Nhưng khi nhìn lại những vị tổng thống được kính trọng nhất trong lịch sử Mỹ, như ông Lincoln, như hai ông Roosevelt, ta thấy ông nào cũng đều đã trải qua những cuộc tranh cử giống y như vậy cả! Ðọc lịch sử nghe những điều các đối thủ bôi nhọ ông Lincoln, phải thấy là kỳ lạ!

Chế độ Dân Chủ có một khuynh hướng kỳ lạ này, là rất thích phơi bầy những cái xấu của mình! Sống giữa các cuộc vận động tranh cử, nhiều người phải phát chán. Một người quan sát ngoại quốc sẽ lại đặt câu hỏi: Có cách nào khác (coi lành mạnh và sạch sẽ hơn), để chọn một người cai trị quốc gia hay không?

Ở một nước độc tài thì khác hẳn. Chế độ độc tài rất giỏi trong nghề che đậy, giấu diếm. Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại. Dân chúng biết càng ít càng tốt!

Thử nhìn ông Vladimir Putin mà coi. Ông ta chỉ xuất hiện trước công chúng để đóng trò một người hùng; chỉ thua Thống Chế Stalin ngày xưa mà thôi! Putin bắn súng. Putin đấu võ. Putin cưỡi ngựa (cởi trần, khoe bộ ngực lực sĩ). Putin lái máy bay, lái cả tầu ngầm. Putin đứng giữa đoàn nữ vệ binh (các cô y phục rất khiêm tốn). Ðầy rẫy trên truyền hình, trên báo, trên màn ảnh lớn, trên cả nhãn hiệu Vodka. Ông Putin còn được các đồng chí Trung Quốc chọn trao giải Hòa Bình mang tên ông Khổng Tử nữa!

Trước đây hai tháng cả nước Nga và cả thế giới chỉ thấy một chính quyền Putin vô địch, được toàn dân ngưỡng mộ, kính yêu, không ai thay thế nổi; sang năm ông chắc chắn sẽ làm chúa tể Ðiện Kremlin thêm 12 năm nữa. Ai than vãn hay tỏ ý nghi ngờ sẽ bị công an mật vụ hỏi thăm, nhiều nhà báo can đảm đã mất mạng.

Nhưng chỉ cần cho dân chúng bỏ phiếu tự do hơn một chút, bầu không khí đã thay đổi. Tự nhiên hàng chục ngàn người dân bỗng thấy họ mạnh dạn hơn. Họ dám xuống đường tố cáo bầu cử gian lận! Một phụ nữ nói, “Trước đây tôi không bao giờ đi biểu tình. Vì sợ cũng có, mà còn vì tôi nghĩ đi biểu tình cũng chẳng thay đổi gì được. Nhưng bây giờ khác. Chủ Nhật này tôi sẽ đi biểu tình!” Một người dân bình thường bỗng thấy can đảm. Vì bắt đầu tin tưởng vào những quyền tự do căn bản của thể chế tự do dân chủ: Tự do hội họp; và tự do phát biểu. Chắc những quyền đó phải hấp dẫn, phải đưa tới những kết quả tốt hơn tình trạng độc tài! Một điều chắc chắn: Những người Nga đi biểu tình ngày mai, Chủ Nhật 11 tháng 12 năm 2011, đều mong muốn đất nước họ được tự do dân chủ hơn.

Ðể làm gì? Tất nhiên, để cuộc sống kinh tế, xã hội tốt đẹp hơn. Ðể con cháu họ sống hạnh phúc hơn. Nhưng, sẽ đến ngày nước Nga tự do dân chủ thật, các cuộc bầu cử sẽ có nhiều ứng cử viên tham dự, họ sẽ tranh luận với nhau trước công chúng, cãi nhau như mổ bò, y như ở Mỹ bây giờ. Và sau đó nhiều người sẽ thất vọng, sẽ tự hỏi: Có cách nào khác để chọn người cai trị mình hay không?

Nhưng chúng ta biết, chế độ dân chủ tự do không bảo đảm sẽ tìm ra những người lãnh đạo tốt nhất, giỏi nhất, đẹp trai hay xinh gái nhất nước để trao quyền. Dân chủ tự do là một chế độ không hoàn hảo, và không hứa hẹn những kết quả hoàn hảo. Dân chủ tự do không cam kết sẽ tạo ra một xã hội “lý tưởng” - như các chủ nghĩa viển vông thường mê hoặc những người dại dột.

Vậy thì đâu là giá trị đặc biệt của thể chế dân chủ tự do khiến loài người đã mất bao công tranh đấu, theo đuổi, muốn thực hiện bằng được? Hiện nay ở nước Miến Ðiện người ta cũng náo nức đặt những viên đá đầu tiên xây dựng con đường tự do dân chủ cho các thế hệ tương lai. Nhiều người dân các nước Á Rập cũng đang hào hứng xây dựng xã hội mới dân chủ tự do hơn.

Ưu điểm của chế độ tự do dân chủ là nó tạo ra một cái khung, cái sườn cho cuộc sống chung; để giới hạn quyền hành của những người đóng vai cai trị. Khi sống trong khung cảnh pháp lý đó, có thể ngăn ngừa được những tai hại do tình trạng lạm quyền sinh ra. Chỉ cần cho người dân quyền thay đổi người cầm quyền một cách tự do, khuynh hướng lạm quyền sẽ bị hạn chế. Trong một nước độc tài thì tham nhũng, bất công, đàn áp, tham quyền cố vị sẽ khó sửa chữa được. Khi được tự do, người ta có hy vọng thay đổi. Dân chủ tự do không hứa hẹn thiên đường. Nhưng sẽ giúp xã hội loài người tránh rơi xuống địa ngục. Vì vậy loài người vẫn tiếp tục khát khao tự do dân chủ.
huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »

Thế chiến thứ 3 có thể nổ ra ở châu Á – Thái Bình Dương?
Lo sợ quân đội Trung Quốc phát triển vượt bậc mỗi ngày, Mỹ tìm mọi cách kìm chế mà việc tăng cường hợp tác quân sự với Australia là động thái mới nhất.

Bất chấp thất bại trong cuộc chiến ở Triều Tiên và Việt Nam, hơn nửa thế kỷ qua, Mỹ vẫn duy trì vai trò thống trị ở khu vực Thái Bình Dương, nơi cư ngụ của một nửa dân số thế giới.

Tuy nhiên, mọi thứ đang thay đổi. Với sự tăng trưởng thần kỳ của nền kinh tế, giới phân tích ví von rằng Trung Quốc - “người khổng lồ ngủ say” bắt đầu thức giấc.

Điều đáng nói là, sức mạnh kinh tế đang mang lại cho Trung Quốc một nguồn sức mạnh mới: Sức mạnh quân sự khi đi kèm sự thịnh vượng là khả năng hiện đại hóa quốc phòng. Và Trung Quốc không ngần ngại phô trương các khả năng này ngay tại châu Á – Thái Bình Dương với tham vọng kiểm soát khu vực vốn từ lâu là lợi ích của người Mỹ.

Điều này vô hình chung đánh thức nỗi ám ảnh về một cuộc đối đầu giữa hai siêu cường như cuộc đối đầu Liên Xô – Mỹ trong quá khứ.

Quan sát quan hệ Trung – Mỹ thời gian qua, nhà báo kỳ cựu Max Hastings cảnh báo nếu căng thẳng giữa Washington và con rồng châu Á tiếp tục bị đẩy lên cao thì một cuộc chiến thực sự giữa hai bên ngay tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương là điều khó tránh.

Đồng quan điểm, chiến lược gia kỳ cựu người Mỹ Paul Stares cũng nhấn mạnh: “Soi vào các sự kiện từng xảy ra trong quá khứ giữa hai nước, nếu những căng thẳng, bất đồng và thái độ thù địch hiện nay giữa Bắc Kinh và Washington không được điều hòa hiệu quả sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng trầm trọng trong tương lai giữa hai bên”.
Image
Giới phân tích phương Tây quan ngại đối đầu Trung - Mỹ. Ảnh minh họa: AFP.

Quan ngại của giới phân tích phương Tây xuất phát từ sự khiêu khích, gây hấn, đối đầu mà Bắc Kinh công khai nhằm vào Washington từ đầu năm đến nay và sức mạnh đang gia tăng từng ngày của quân đội nước này.
Đầu tiên là sự kiện hồi tháng giêng. Khi sắp đón Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sang thăm, Trung Quốc "làm lễ ra mắt" mẫu chiến đấu cơ tàng hình J-20 với thiết kế vô cùng phức tạp và tinh vi. Ngay lập tức, giới phân tích phương Tây dồn dập chỉ trích động thái nhằm phô trương tiềm lực quân sự này của Trung Quốc.

Thứ hai là sự kiện Bắc Kinh từ chối cho không các tàu hải quân của Mỹ cập cảng của họ để trú bão khiến người Mỹ "tức điên". “Trung Quốc đang thách thức và hủy hoại các quy tắc và luật pháp toàn cầu bởi lối hành xử vô lý, quá quắt của họ”, ông Michael Auslin, đại diện cho quan điểm của nhiều người Mỹ mạnh mẽ lên án.

Dường như việc làm phật lòng hay chọc giận Washington trở thành thói quen khó sửa của Bắc Kinh. Việc Trung Quốc “bênh chằm chặp người anh em” Triều Tiên liên trong vụ tàu chiến Cheonan của Hàn Quốc, “đồng minh ruột” của Mỹ và sau đó là vụ nã pháo vào đảo Yeonpyeong khiến Washington sôi sục.

Dù Bắc Kinh giải thích rằng họ luôn đánh giá sự việc một cách công tâm và chỉ đang cố kìm chế các bên, Mỹ vẫn đáp trả bằng việc ra lệnh cho lực lượng hải quân triển khai các tàu chiến ở biển Hoàng Hải để hỗ trợ và bảo vệ đồng mình chiến lược của họ.

Tiếp theo là, Trung Quốc do phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ dồi dào của Iran nên cùng với Nga kiên quyết giữ lập trường phản đối Mỹ và phương Tây áp dụng các biện pháp trừng phạt Tehran liên quan đến chương trình hạt nhân, nối dài mâu thuẫn Trung – Mỹ. Xuất phát từ động thái này của Trung Quốc, nhiều nhà phân tích phương Tây ái ngại về chính sách đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay khi cho rằng nước này đang bỏ ngoài tai yêu cầu hợp lý của phương Tây và hành động với niềm tin rằng: là một lực lương toàn cầu mới, họ phải đóng một vai trò nhất định trong việc thiết lập trật tự thế giới mới. Chứng minh cho nhận định của mình, nhóm các nhà phân tích trên dẫn lời một lãnh đạo Trung Quốc rằng: “Trong nhiều thế kỷ qua, phương Tây đã lợi dụng trật tự thế giới để làm những gì mà họ muốn để thỏa mãn lợi ích của họ. Nay đến lượt chúng tôi để thiết lập trật tự toàn cầu mới phù hợp với những lợi ích của chúng tôi”.

Ngoài ra, Ngoại trưởng Trung Quốc trong một bài phát biểu gần đây còn công khai thể hiện tư tưởng nước lớn đối với các quốc gia láng giềng Đông Nam Á khi nhấn mạnh rằng họ chỉ là những nước bé bên cạnh một Đại lục rộng lớn.

Ông Michael Auslin, chuyên gia tại viện Doanh nghiệp Mỹnkịch liệt lên án bài phát biểu trên và cáo buộc đây là chính biểu hiện của tư tưởng nước lớn ức hiếp nước nhỏ.

Không dừng lại ở đó, trong kỷ nguyên máy tính kiểm soát gần như mọi thứ, căng thẳng Trung – Mỹ còn bắt nguồn từ những vụ tấn công mạng nhằm vào Mỹ bởi các tin tặc người Trung Quốc. Mục tiêu “ưa thích” của giới tin tặc Trung Quốc là hệ thống máy tính của Chính phủ cũng như của giới quân sự Mỹ và thậm chí, không “tha” cho các tập đoàn hay các công ty lớn của đối thủ. Nguyên nhân thứ 2 khiến giới phân tích phương Tây chìm trong nỗi quan ngại về một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ còn xuất phát từ việc Mỹ vô cùng quan ngại sức mạnh ngày càng vượt trội của quân đội đối thủ nhờ chủ trương hiện đại hóa quân sự của chính phủ nước này.

Trong đó đáng chú ý nhất là việcTrung Quốc tìm mọi cách để gia tăng các khả năng cho hải quân nhằm đối trọng với Mỹ, quốc gia sở hữu sức mạnh hải quân “đỉnh” nhất thế giới nhằm đối đầu với cường quốc số 1 thế giới tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Được trang bị tàu sân bay và các hệ thống tên lửa tinh vi, hải quân Trung Quốc đang phát triển thần tốc, khiến Mỹ vô cùng quan ngại.

Việc Trung Quốc không tiếc tiền của để hiện đại hóa quân đội và thực tế đã thu được nhiều thành tựu đáng chú ý khiến Mỹ nhận ra nguy cơ là các căn cứ quân sự của họ ở Tây Thái Bình Dương có khả năng nằm trong tầm ngắm của tên lửa Trung Quốc.

Nguy cơ này thúc đẩy Mỹ “kết đôi” với Australia nhằm tăng cường hợp tác quân sự giữa hai bên với một thỏa thuận lịch sử vừa đươc ký cho phép triển khai 2.500 thủy quân lục chiến tinh nhuận của Mỹ trên lãnh thổ phía Bắc nước này.

Ngoài ra, Richard Haas, Chủ tịch Hội đồng Quan hệ đối ngoại Mỹ cũng nhấn mạnh: "Chính sách của nước Mỹ phải đặt mục tiêu để tạo ra sự liên kết khu vực chặt chẽ nhằm kìm chế nỗ lực gia tăng ảnh hưởng ở bên trong lẫn bên ngoài khu vực Thái Bình Dương của Trung Quốc”.

Điều này phản ánh quan ngại của giới lãnh đạo Mỹ khi tưởng tượng đến viễn cảnh với đà đầu tư hiện đại hóa quân đội như hiện nay thì chỉ trong khoảng một thập kỷ nữa thôi, khi các lực lượng vũ trang của Trung Quốc lớn mạnh, họ sẽ không ngần ngại sử dụng vũ lực để giành lấy những gì mà họ muốn.

Dĩ nhiên, Bắc Kinh kịch liệt lên án thỏa thuận này với lời cảnh cáo rằng đây không phải là thời điểm "thích hợp để tăng cường và mở rộng liên minh quân sự và điều này có thể không mang lại bất cứ lợi ích nào cho các quốc gia trong khu vực”.

Điều đáng nói là quan điểm này của Bắc Kinh nhận được sự đồng tình của một số nhà chuyên gia Australia, trong đó có quan điểm của ông Hugh White, công tác tại ĐH Quốc gia Australia.

Ông White cho rằng thỏa thuận hợp tác quân sự Mỹ - Australia đầy rủi ro và rằng trong một thế giới mới, tốt nhất Mỹ nên từ bỏ tham vọng bá chủ tại khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương và nên chia sẻ quyền lực với Trung Quốc cũng như các quốc gia khác.

Tuy nhiên, phản ứng giận dữ từ phía Bắc Kinh hay quan ngại của một số nhà phân tích Australia không thể ngăn được chiến lược ngăn chặn Trung Quốc của Mỹ. Hơn thế nữa, không chỉ thiết lập liên minh với Australia, Washington còn đang tiến hành chiến thuật “ve vãn” Myanmar, đồng minh truyền thống và chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á. Chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton đến Myanmar hồi đầu tháng này là minh chứng mạnh mẽ nhất cho kế hoạch của Washington để kéo nước này ra khỏi “vòng tay” của Bắc Kinh, có nguy cơ khiến đối đầu Trung – Mỹ leo thang. Ngoài ra, “đổ thêm dầu vào lửa”, ông Michael Auslin mới đây đưa ra tuyên bố gây sốc rằng: "Vai trò lãnh đạo toàn cầu và địa vị của nền kinh tế nước Mỹ trong tương lai phụ thuộc vào việc duy trì vai trò của chúng tôi trong khu vực năng động nhất của thế giới”. Tất nhiên, Trung Quốc không ngồi yên để Mỹ thích làm gì thì làm. Do đó, trong những thập kỷ tới, hòa bình tại khu vực châu Á, thậm chí toàn cầu sẽ bị đe dọa bởi những động thái “không ai nhường ai” của cả Mỹ lẫn Trung Quốc. Và nếu những mâu thuẫn, căng thẳng truyền thống giữa hai cường quốc không được kìm chế hiệu quả thì cuộc đụng độ Trung – Mỹ tại Ấn Độ - Thái Bình Dương sẽ không chỉ là cảnh báo của giới phân tích nữa mà sẽ là thực tế khủng khiếp mà khu vực này lẫn cộng đồng thế giới phải đối mặt. >> Tổng thống Obama: 'Mỹ không sợ Trung Quốc'

Lê Dung
(Daily mail)
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Trung Quốc càng rắn càng thiệt thân?
Tổng thống Obama đang ra sức thúc đẩy sự hình thành của một khu mậu dịch tự do xuyên Thái Bình Dương bao gồm nhiều đối tác thương mại chính của Trung Quốc nhưng lại có vẻ muốn đẩy Bắc Kinh ra rìa.

Thực tế, Trung Quốc vẫn có khả năng “chơi chung" với Mỹ và các quốc gia trong khu vực bởi không gì ngăn cấm họ gia nhập Hiệp ước đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Song nếu thực sự tham gia vào TPP, họ sẽ phải chấp nhận luật chơi của TPP, có thể phần lớn bị thao túng bởi Mỹ.

Do đó, nếu TPP được hoàn thiện và trở thành cơ chế thương mại chung của châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt thêm sự góp mặt của hai thế lực lớn là Mỹ và Nhật Bản, nền kinh tế Trung Quốc sẽ thực sự đối mặt với nhiều nguy cơ bị đẩy ra rìa.

Trong khi đó, trên mặt trận an ninh, Trung Quốc luôn chìm trong nỗi lo bị xâm hại bởi thực tế, họ không có bất cứ đồng minh thật sự nào trừ Triều Tiên, quốc gia từ lâu núp dưới ô an ninh của Bắc Kinh.

Dù không tiếc tiền của đầu tư cho lĩnh vực quốc phòng và hiện đại hóa quân đội, tiềm lực và các khả năng quân sự của Trung Quốc vẫn chưa thể nào “chọi” lại được với Mỹ.
Image
Quân sự của Trung Quốc vẫn chưa thể "chọi" lại được với Mỹ. Ảnh minh họa: Rachelburger.

Tuy nhiên, dường như không biết lượng sức mình, trong vài năm trở lại đây, Trung Quốc lại cố phô trương sức mạnh quân sự vốn được thúc đẩy nhờ đà tăng trưởng “nhanh như vũ bão” của nền kinh tế.

Và mục tiêu thử nghiệm mà Bắc Kinh nhắm đến là khu vực biển Đông.

Tuy nhiên, đây là một lựa chọn không khôn ngoan của Bắc Kinh. Nguyên nhân chính là vì miếng cắt rộng lớn của khu vực Thái Bình Dương này là huyết mạch thương mại quan trọng bậc nhất của thế giới và được dự đoán là “rốn dầu và khí đốt” dồi dào, béo bở, trong khi đó, sự tăng trưởng thành công của Bắc Kinh lại nhờ quá trình toàn cầu hóa.

Do đó, hiển nhiên Trung Quốc muốn kiểm soát khu vực này nhằm tối đa hóa lợi ich riêng của họ. Song tham vọng này của Bắc Kinh lại “đụng chạm” đến lợi ích của các quốc gia trong khu vực nên vấp phải sự phản đối dữ dội từ phía họ. Kết quả là để kìm chế con rồng châu Á, nhiều quốc gia trong khu vực không ngần ngại bắt tay với quyền lực hải quân mạnh nhất thế giới là Mỹ.

Hiện, Washington được khuyến khích và được tiếp thêm động lực bởi sự ủng hộ này từ nhiều quốc gia châu Á – Thái Bình Dương.

Điều này khiến Mỹ tích cực hơn trong việc thực thi các cam kết của họ đối với khu vực và là lý do để chính quyền Obama nhanh chóng rút khỏi “vũng lầy” Trung Đông và Afghanistan để trở lại với khu vực năng động bậc nhất thế giới.

Tất nhiên, việc Washington gia tăng ảnh hưởng ở châu Á – Thái Bình Dương khiến Bắc Kinh không vui vẻ gì và quan hệ Trung - Mỹ ít nhiều vì vấn đề này mà bắt đầu trở nên căng thẳng. Tuy nhiên, trong khi Tổng thống Obama cố xoa dịu Bắc Kinh bằng việc khẳng định rằng “sự trở lại châu Á – Thái Bình Dương” của Mỹ không có nghĩa là Mỹ muốn kìm chế Trung Quốc như nhiều suy đoán và thậm chí, cáo buộc từ phía Chính phủ Trung Quốc thì Bắc Kinh dường như lại muốn duy trì trạng thái đối địch với Washington hơn.

Các học giả Trung Quốc lẫn nhiều tầng lớp người Trung Quốc khác không hề được ủy nhiệm phát ngôn chính thức nhưng lại liên tục tuôn ra hàng loạt những lời cáo buộc, chỉ trích Mỹ trong những ngày gần đây.

Họ thậm chí công kích cả Ấn Độ liên quan đến kế hoạch tăng quân đồn trú dọc biên giới với Trung Quốc của Delhi. Không dừng lại ở đó, những người này cũng chỉ trích Philippines quá phô trương và ầm ĩ trong việc tiếp đón Ngoại trưởng Hillary Clinton khi bà có chuyến thăm tới Manila mới đây.

Cụ thể, một bài bình luận của tờ People's Daily, một tờ báo hàng ngày của Trung Quốc, mạnh mẽ đe dọa rằng: “Philippines đang chỉ ra các hành động khiêu khích đối với Bắc Kinh và động thái này chỉ tổ ảnh hưởng tiêu cực đến cục diện chính trị của khu vực và rằng Chính phủ Trung Quốc phải có biện pháp trả đũa thích hợp đối với Manila”.

Thực tế, lợi ích kinh tế và thương mại của Trung Quốc có ở gần như mọi nơi và chủ yếu được hoan nghênh. Tuy nhiên, việc Trung Quốc cố phô trương sức mạnh quân sự một cách quá đáng, xâm hại đến lợi ích và an ninh của các nước láng giềng trong khu vực nhưng lại không thèm đếm xỉa đến quan ngại và những yêu cầu chính đáng của họ mới chính là yếu tố gây bất ổn cho nền chính trị trong khu vực. Hậu quả là các quốc gia láng giềng sẽ ngày càng “xa lánh” Bắc Kinh để sà vào “vòng tay” của Mỹ.


Lê Dung (theo Realclearpolitics)
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Những Cảm Hứng Tứ Miến Điện
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Miến Ðiện đang được dư luận thế giới, đặc biệt là các nước Ðông Nam Á quan tâm.
Người Việt Nam chúng ta có thêm nhiều lý do để chú ý đến đất nước cổ kính ở gần ta này.

Image
Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton (trái) ôm bà Aung San Suu Kyi trong chuyến viếng thăm Miến Ðiện lần đầu tiên của bà mới đây.
(Hình: Saul Loeb/AFP/Getty Images)

Miến Ðiện là nước khá lớn ở Ðông Nam Á. Rộng gấp đôi Việt Nam, dân khá đông, hơn 60 triệu.

Mấy tuần nay, từ đầu tháng 10, báo chí Miến Ðiện đưa tin khác hẳn trước, tự do hơn, cân bằng hơn. Báo chí nhắc đến những nhân vật lịch sử bị cấm nói đến hơn 20 năm nay, như người anh hùng dân tộc, Tướng Aung San, thân sinh bà Aung San Suu Kyi; như nguyên Thủ Tướng U Nu từng bị Tướng Ne Win lật đổ qua cuộc đảo chính quân sự tháng 3, 1962; như Tướng Tin Oo, từng là tổng tư lệnh quân đội năm 1976, bị nhóm quân phiệt bạc đãi vu cáo, hiện vẫn còn là người lãnh đạo của Liên Minh Dân Chủ Toàn Quốc (NDL).

Về Aung San (2/1915-7/1947), báo chí Miến Ðiện gần đây nhắc lại công lao lập quốc của ông. Khi trẻ ông là chủ tịch Hội Sinh Viên trường Ðại Học Rangoon, hoạt động chống thực dân Anh. Năm 1939, Thế Chiến Thứ 2 bùng nổ, khi 24 tuổi ông thành lập đảng Cộng Sản Miến Ðiện, nhận chức tổng bí thư đảng CS, nhưng ngay sau đó ông bị quân đội Nhật bắt giam. Vượt trại giam, đầu năm 1941 ông từ bỏ đảng CS, thành lập quân đội mới với một nhóm 30 người trên đất Thái Lan rồi đưa về nước. Sau khi Nhật thua trận năm 1945, Anh quay trở lại, ông Aung San là chủ tịch Liên Ðoàn Chống Phát Xít, chủ trì việc thương lượng để Anh trao trả lại độc lập. Hiện người dân Miến vẫn coi Aung San là anh hùng dân tộc, vừa là cha đẻ nền độc lập, vừa là cha đẻ của quân đội quốc gia. Ông bị ám sát tháng 7, 1947, được làm quốc tang. Khi đó cô bé Suu Kyi mới lên hai. Vợ ông, bà Khin Kyi, là một trí thức, từng làm đại sứ ở New Delhi, Ấn Ðộ. Ảnh chân dung Aung San nay lại được trưng ở nhiều nơi.

Báo chí Miến Ðiện gần đây cũng nhắc nhiều đến U Nu (5/1907-2/1996), thủ tướng đầu tiên của nước Miến Ðiện độc lập. Ông là một trí thức, người tin cẩn của Aung San. Năm 1947, lúc mới 40 tuổi, ông từng ký với phía Anh quốc mọt hiệp ước về việc Anh trao trả độc lập, được gọi là Hiệp Ước Attlee-U Nu, theo tên thủ tướng Anh là Attlee. Tháng 3, 1962 ông bị Tướng Ne Win đảo chính, lập nên chế độ độc tài quân sự. U Nu nổi tiếng là nhà trí thức xuất sắc về luật pháp, trong sạch, rất mộ đạo Phật, bị nhóm Tướng Ne Win, Than Shwe tuyên án 4 năm tù do họ sợ uy tín rất lớn của ông ngoài xã hội. Trong tù cũng như khi ra tù, ông không ngừng đấu tranh lên án nhóm quân phiệt, vẫn khẳng định mình là thủ tướng hợp pháp. Năm 1969 khi còn bị quản chế, ông bí mật sang Ấn Ðộ rồi Anh quốc. Ðến tháng 6, 1980 khi nhóm quân phiệt ban lệnh đại ân xá, ông trở về nước, đứng ra lập đảng Dân Chủ Lập Hiến nhưng bị nhóm quân phiệt đe dọa, kiềm chế. Năm 1989 ông sang Hoa Kỳ, đi tuyên truyền vận động cho nền dân chủ Miến Ðiện, ủng hộ bà Aung San Suu Kyi, còn tham gia giảng dạy ở đại học Mỹ, cho đến khi mất tháng 2, 1996. Báo Miến Ðiện gần đây cho biết U Nu là một nhân vật nổi bật có ảnh hưởng nhiều đến cộng đồng Miến Ðiện ở hải ngoại, nhất là ở Anh quốc và Hoa Kỳ, cho đến hiện nay.

Một nhân vật khá quan trọng là Tướng Tin Oo, sinh tháng 3, 1927, hiện còn sống. Khi bà Aung San Suu Kyi bị tù và quản thúc năm 2003, ông Tin Oo được cử làm phó chủ tịch rồi chủ tịch của NDL. Tin Oo cũng là một nhân vật lịch sử. Ông tham gia quân đội của Tướng Aung San tháng 2, 1946 khi 19 tuổi, được phong tướng năm 1972 khi 26 tuổi, là phó tổng tham mưu trưởng, rồi lên thay Tướng San Yu làm tổng tư lệnh năm 1974. Ông tỏ ra không đồng tình với nhóm quân phiệt trong Hội đồng Nhà nước Phục hồi Luật pháp và Trật tự (SLORC) mà ông là một thành viên, ông bị buộc phải từ chức tổng tư lệnh tháng 3, 1976, bị nhóm quân phiệt vu cáo âm mưu phản loạn, tháng 1, 1977 bị kết án 7 năm khổ sai. Sau cuộc đại ân xá năm 1980 ông học đại học luật, tham gia tích cực NDL của bà Aung San Suu Kyi, nhận chức phó chủ tịch rồi chủ tịch của liên minh này vào cuối năm 1988. Năm 1989 ông lại bị kết án 3 năm tù. Ra tù ông bị quản thúc ở Rangoon, cho đến ngày 13 tháng 2, 2010 mới được thật sự tự do, như bà Aung San Suu Kyi. Tuy hiện nay ông đã 84 tuổi, ảnh hưởng của ông trong quân đội cũng như ngoài xã hội rất cao, các tướng lĩnh ở trong Hội đồng Nhà nước về Hòa bình và Phát triển (SPDC) mới đây đều là thuộc cấp của ông Tin Oo.

Về nhóm quân phiệt cầm quyền từ năm 1962 đến gần đây, dư luận chú ý đến những nhân vật sau đây.

Tướng Than Shwe, sinh năm 1933 được coi là người hùng trong SLORC, thay cho Tướng Saw Maung từ năm 1992, cầm đầu nhóm quân phiệt cho đến 30 tháng 3, 2011, khi tổng thống vừa được bầu Thein Sein ký quyết định giải thể SPDC - tên sau này của SLORC - nhường toàn quyền cho chính phủ dân sự. Gần đây báo Miến Ðiện có dịp bật mí nhiều điều vốn cấm kỵ về nhóm quân phiệt, đặc biệt là về ông Than Shwe. Có tin ông Than Shwe đã bị buộc phải về hưu, không còn hoạt động, không còn chức vụ gì. Báo Miến Ðiện ở Anh và Hoa Kỳ tố cáo Than Shwe là trùm tham nhũng, kể rằng trong đám cưới cho con gái rượu ông đã chi đến 50 triệu đôla về lễ cưới, mua sắm tài sản, châu báu, trang sức cho con gái, con rể và nhà trai - đây là một số tiền bằng 3 lần ngân sách cho ngành y tế; rằng 2 vợ chồng mê tín dị đoan loại kỳ quặc, từng tìm mua voi trắng cưỡi đi quanh chùa ngày cúng lễ Phật để cầu may; rằng ông tướng này còn theo ý kiến của một thầy phù thủy, cưỡi một con lợn nái đi quanh nhà để hòng giải hạn và trừ tà. Theo báo chí, Than Shwe có bà vợ còn mê tín dị đoan hơn và tàn ác hơn cả chồng, tên là Kyaing Kyaing; bà này từng xui chồng ra lệnh bắn xả vào đoàn sư sãi đi biểu tình. Cộng đồng Miến ở Anh quốc yêu cầu truy tố 2 vợ chồng Than Shwe về tội ác chống nhân dân và chống nhân loại. Hiện có tin Than Shwe đã chính thức nghỉ hưu và sống ẩn dật.

Trong khi đó nhiều tin tức nói về tướng về hưu Thein Sein, cùng sinh năm Ất Dậu - 1945 với bà Aung San Suu Kyi, năm nay 66 tuổi, được dư luận trong nước và hải ngoại đánh giá là một con người hiểu biết, kín đáo, sùng đạo Phật, sống bình dị, được Quốc Hội cùng với Hội Ðồng Quân Sự bầu làm tổng thống dân sự tháng 3, 2011. Tổng Thống Thein Sein đã cử ra chính phủ gồm có 30 thành viên, trong đó chỉ có 3 viên tướng còn tại ngũ, được mặc quân phục. Trong không khí ôn hòa không bạo động, sự thay đổi vào mùa Xuân 2011 ở Miến Ðiện cùng thời với mùa Xuân Ả Rập-Bắc Phi, được đánh giá là có ý nghĩa sâu sắc hơn là một cuộc đảo chính.

Nó chấm dứt chính quyền quân phiệt kéo dài gần nửa thế kỷ, từ năm 1962. Nó mở ra lối thoát cho tình thế của Miến Ðiện đang bế tắc, với nền kinh tế lụn bại do bị phương Tây cấm vận từ năm 1962. Tuy nhóm quân phiệt độc đoán một thời trưng ra chủ nghĩa xã hội, ngả về phía Liên Xô và Trung Quốc - về sau ngả về Trung Quốc, nhưng mối quan hệ với Bắc Kinh luôn hàm chứa đắng cay, vì Trung Quốc nuôi dưỡng nhiều nhóm dân tộc bạo loạn Shan, Karen ở vùng biên giới; hơn nữa, xã hội Phật Giáo ăn sâu rất dị ứng với chủ nghĩa cộng sản vô thần. Thế của Trung Quốc còn mong manh ở Miến Ðiện lại đang bị cô lập rõ trên thế giới, bị mắc kẹt bởi tham vọng bành trướng ở Châu Á. Miến Ðiện có một cộng đồng mạnh ở Anh, Hoa Kỳ và Ấn Ðộ, có trình độ học vấn khá cao, thái độ chính trị thuần nhất, chống nhóm quân phiệt, ủng hộ dân chủ, có ảnh hưởng lớn đến giới trẻ và trí thức trong nước.

Các bạn dân chủ Miến Ðiện ở Anh và Pháp cho rằng trong xã hội Miến hiện nay, những nhân vật như anh hùng dân tộc Aung San, như nguyên Thủ Tướng U Nu, như nguyên Tổng Tư Lệnh Tin Oo, bà Aung San Suu Kyi vẫn còn có ảnh hưởng không nhỏ, là những giá trị tinh thần còn sống động trong xã hội hiện đại.

Không phải ngẫu nhiên mà nhà nghiên cứu-nhà báo có uy tín Andrew Selth, làm việc tại Griffith Asia Institute-Úc, vừa viết bài trên Asia Times sau khi đi Miến Ðiện về, cho rằng theo ông Tổng Thống Thein Sein có thể là “một Gorbachov của Miến Ðiện.” Nghĩa là ông Thein Sein có thể lãnh đạo công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế thật sự, lâu bền. Nhận định này có sức nặng vì Andrew Selth từng sang Moscow nghiên cứu, sưu tầm tài liệu viết về nhân vật Gorbachov, người đã kết thúc số phận của Liên Xô và đảng CS Liên Xô. Ông nhìn thấy ở Thein Sein qua lý lịch tướng quân một trí thức có tư duy độc lập, chuộng công lý công tâm hơn là vụ lợi và hiếu danh, mộ đạo Phật ở nguồn tinh túy nhân ái, vị tha, lại tỏ ra có bản lĩnh nhận định tình thế và xoay chuyển tình thế khéo léo, lại quả đoán.

Ðây là một giả thuyết cần theo dõi tiếp. Chủ trương trả tự do thật sự cho bà Aung San Suu Kyi và cho ông Tin Oo. Mời bà Aung San Suu Kyi lên thủ đô Naypydaw để hội đàm, đưa Tướng Than Shwe về nghỉ hưu. Thả hàng 300 tù chính trị và hứa còn thả tiếp. Lập Ủy Ban Nhân Quyền với trách nhiệm thật sự. Quyết định hoãn công trình khổng lồ Myitsone giá trị 3.6 tỷ đôla do nhu cầu bảo vệ môi trường cho dân. Thực hiện tự do báo chí và cho phóng viên ngoại quốc vào. Ðể xã hội tự do ca ngợi các nhân vật lịch sử như anh hùng dân tộc Aung San, nguyên Thủ Tướng U Nu, nguyên Tổng Tư Lệnh Tin Oo, bà Aung San Suu Kyi, rồi để Liên Minh NDL hoạt động trở lại, để bà Aung San Suu Kyi ra ứng cử Quốc Hội mới... đều là những quyết định sâu sắc, có ý nghĩa đột phá và đổi mới, mở ra nhiều triển vọng.

Bộ trưởng ngoại giao mới là Wunna Maung Lwin từng là đại sứ ở Liên Hiệp Quốc cũng có những phát biểu có ý nghĩa, cam kết sẽ có những bước đổi mới có thực chất, thẳng thắn tỏ hy vọng sớm nhận viện trợ kinh tế-tài chính và hỗ trợ kinh tế kỹ thuật của thế giới. Ông tỏ ra rất mừng khi Miến Ðiện được giao tổ chức Sea Games 2013 và điều quan trọng hơn nữa là được đảm nhận chức chủ tịch ASEAN năm 2014. Ðây là dịp để trưng ra bộ mặt mới của Miến Ðiện.

Bộ Trưởng Quốc Phòng-Tổng Tư Lệnh Min Aung Hlaing, một người thân cận của Tổng Thống Thein Sein, cũng phá tục lệ, mới đây đã ghé thăm Việt Nam trước khi sang thăm Bắc Kinh.

Không phải ngẫu nhiên mà trong chuyến viễn du Châu Á và Châu Úc, Tổng Thống Barack Obama nhiều lần nói đến Miến Ðiện, ông đã nói chuyện trên điện thoại khá lâu với bà Aung San Suu Kyi, sau đó chính ông báo tin Ngoại Trưởng Hillary Clinton sắp sang thăm Miến Ðiện để tìm hiểu tại chỗ tình hình. Một chuyến đi rất quan trọng, đang giúp công luận có điều kiện đánh giá tính hình rõ hơn, sâu hơn.

Miến Ðiện là láng giềng gần của Việt Nam. Tình hình Miến Ðiện gợi lên nhiều suy nghĩ cho nhân dân ta, tạo ra cảm hứng thú vị cho những chiến sĩ dân chủ và trí thức nước ta đang có chung khát vọng vươn tới tự do, thoát khỏi ách chuyên chế, dù là chuyên chế quân phiệt hay chuyên chế cộng sản phi nhân tính.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trung Cộng đã bắt đầu bị vỡ trận
Từ năm 2010 đến nay ngoại giao Mỹ đã có những bước đi ngoạn mục, đó là sự dọn đường quang quẻ cho sự trở lại của Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương. Sự trở lại được coi như là “nhu cầu tất yếu của khu vực”. Sự hiện diện của Hoa Kỳ làm cho địa chính trị vốn đang thay đổi dưới sự tác động của Trung Quốc lại càng diễn ra nhanh chóng hơn. Trung Quốc đã bắt đầu vỡ trận.

Nếu như ai đó cho rằng Trung Quốc-một quốc gia Cộng sản kinh tế tăng tốc phát triển như vũ bão, sẵn sàng soán ngôi siêu cường số 1 mà Mỹ không “để mắt” tới Trung Quốc là nhầm. Chẳng qua là Mỹ chưa rảnh tay, lợi ích của Trung Quốc với Mỹ còn nhiều nên đang chơi con bài lẫn nhau đó thôi. Tuy nhiên, đánh chặn từ xa trừ hậu họa không phải là điều Mỹ không dám. Châu Phi, Trung Quốc đầu tư vào rất nhiều tiền của nhằm đảm bảo nguồn năng lượng cho tương lai. Tại Sudan, dưới sự đạo diễn của Mỹ, nước nam Sudan thành lập với ¾ trữ lượng dầu mỏ khiến Trung Quốc ngậm đắng nuốt cay. Li bi thì họ ủng hộ Cadafi, tuồn vũ khí vào nhưng cuối cùng cũng hoàn toàn mất trắng. Nói chung những tử huyệt quan trọng về năng lượng của Trung Quốc đều bị Mỹ khống chế.

Dù vậy, việc nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ cao, GDP xấp xỉ Mỹ và vượt Nhật đã làmTrung Quốc lóa mắt quên đi tất cả. Bộ máy tuyên truyền của Mỹ thì không ngừng thổi phồng lên sức mạnh quân sự của Trung Quốc, nào là tàu ngầm Trung Quốc đuổi tàu SB Mỹ, nổi lên cách vài trăm mét mà Mỹ không biết; nào là trong 5-10 năm tới Trung Quốc sẽ đuổi kịp và vượt Mỹ…Trung Quốc cũng tự mình xếp hạng đứng thứ 2 sau Mỹ về quân sự. Việc chiếc máy bay trực thăng của Mỹ bị rơi trong vụ tấn công tiêu diệt Bin Laden là cố tình hay vô tình thì không dám chắc nhưng việc Mỹ để lại phần đuôi là cố ý. Mỹ chứng tỏ cho thế giới biết là trùm khủng bố bị tiêu diệt, đồng thời với loại máy bay tàng hình này Mỹ có thể tấn công kẻ khủng bố cho dù nó ở bất kỳ đâu, ở quốc gia nào mà Mỹ cho là cần thiết. Đây giống như sự “lộ hàng” của một cô hoa hậu thế giới vừa đạt vương miện khiến giới mày râu phát sốt. Trung Quốc cũng chả kém. Khoe hàng với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, các phóng viên nhiếp ảnh cắm trại cạnh sân bay chờ khi chiếc máy bay J20 được gọi là tàng hình cất cánh là ghi hình khoe khoang…Mặc dù đây giống như sự “lộ hàng” của cô gái làng chơi rẻ tiền chẳng ai để ý nhưng bộ máy tuyên truyền Mỹ được phen tung hô…

Một thực tế là Trung Quốc có tiến bộ vượt bậc về kinh tế và quân sự khiến thế giới ca ngợi. Nhưng với bản tính bá quyền, nước lớn cộng với sự thổi phồng sức mạnh của bộ máy tuyên truyền Mỹ làm Trung Quốc mất tỉnh táo sinh ra ngộ nhận. Thứ nhất họ cho rằng Mỹ bị khủng hoảng kinh tế, sa lầy ở Iraq, Afghanistan nên suy yếu, việc Trung Quốc đuối kịp và vượt chỉ là vấn đề thời gian. Thời cơ soán ngôi đã đến. Thứ hai là tiềm lực quân sự của họ cho phép họ tuyên bố “lợi ích cốt lõi” (là lợi ích mà Trung Quốc có quyền dùng vũ lực để bảo vệ hoặc chiếm giữ) ở nơi mà họ muốn (trước mắt là biển Đông, tiếp theo là Châu Á TBD chẳng hạn).

Cái bẫy của Mỹ giăng ra, Trung Quốc chui vào không ngần ngại. Trung Quốc lập tức thay đổi thái độ và hành động với các quốc gia láng giềng, khu vực. Thái độ thì hung hăng, hiếu chiến, nước lớn. Hành động thì ngang ngược, chèn ép, bắt nạt, đe dọa dùng vũ lực. Ngay như Nhật Bản - siêu cường biển châu Á thật sự mà vụ Nhật bắt Thuyền trưởng tàu đánh cá TQ xét xử mà TQ gầm lên hùng hùng hổ hổ (đúng là nghé không sợ cọp). Vậy thử hỏi những nước nhỏ khác trong khu vực Trung Quốc coi ra gì? Ai dám bắt tay thân thiện với một quốc gia như thế mà không bất an? Họ sẽ làm gì, chịu hòa tan, lệ thuộc, nô dịch hay là tìm lối khác? Và đây là những bước đi của họ.

Đầu tiên là tăng cường tiềm lực quân sự, hợp tác với nhau để tạo nên sức mạnh. Việt Nam là một trong những nước có tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc nhiều nhất và đương nhiên bị gây căng thẳng, đe dọa nhiều nhất. Bởi vậy tăng cường tiềm lực quân sự, xây dựng Hải quân hiện đại đủ sức đương đầu với nguy cơ xâm lược là điều không thể không làm. Thực tế, với sự hợp tác với Nga, Ấn Độ về quân sự, Việt Nam đã tăng cường đáng kể sức mạnh phòng thủ của mình, có đủ tự tin để quan hệ với Trung Quốc một cách bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hòa bình và cùng phát triển. Việt Nam đã học được từ lịch sử bài học không nên đặt niềm tin vào những lực lượng bên ngoài. Nhưng Việt Nam cũng đang đứng trước một cơ hội khác thường trong việc xây dựng một liên minh quốc tế và khu vực hiệu quả trong việc bảo vệ những tuyên bố chủ quyền hợp pháp. Rõ ràng Việt Nam không còn đứng một mình trong việc phản đối bá quyền Trung Quốc. Các nước khác như Philippine, Malaisia, Indonisia… cũng có những bước đi như vậy.

Bước đi tiếp theo là tìm đối tác để đối trọng, cân bằng với sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc (Mỹ, Nga, Nhật, Ấn Độ…) và Mỹ là sự lựa chọn tối ưu. Hoa Kỳ cũng chỉ chờ có thế. Giống như một vở kịch có 3 màn tuyệt phẩm. Màn thứ nhất: Bi kịch tàu ngầm Hàn Quốc bị đánh chìm. Không cần biết nguyên nhân ai là thủ phạm chỉ biết rằng mối quan hệ giữa Mỹ - Hàn tưởng như đã nguội lạnh bỗng nhiên ấm áp trở lại. Một cuộc tập trận ở Đông Hải với sự hiện diện của hơn 500 quả tên lửa Tomahawk loại bắn đâu trúng đấy trước mũi Trung Quốc. Màn thứ hai: Sự kiện tranh chấp với Nhật Bản. Những tưởng Mỹ không còn chỗ đứng chân trên đất Nhật nào ngờ thái độ như muốn ăn tươi nuốt sống Nhật Bản khiến cho Liên minh Mỹ Nhật có thêm sức sống mới. Trung Quốc vô tình khiến Nhật nổi máu “Võ sĩ đạo”.

Và bước đi cuối cùng là giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Một nước như CHDCND Triều Tiên mà quan hệ với Nga để giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc thì đủ biết sự lệ thuộc vào Trung Quốc nó phức tạp như thế nào. Đối với các nước Asean thì Myanmar là một minh chứng sinh động. Ngả theo phương Tây đã đành Myanmar còn quyết định ngừng hợp đồng xây thủy điện với Trung Quốc khiến ông lớn hàng xóm tức ói máu mà chịu. Tư lệnh các lực lượng Vũ trang Myanmar sang thăm Việt Nam để “học hỏi kinh nghiệm” khiến Trung Quốc lo ngại. Không nói cũng rõ hoạt động đối ngoại Việt Nam trong tháng 10/2011 đã chứng tỏ sự linh hoạt, tính quyết đoán trên nguyên tắc độc lập, tự chủ, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi.

Nhìn lại trong thời gian qua Trung Quốc thu được gì? Bạn làm ăn xa thì bị phá, láng giềng gần thì tự mình khiến họ xa lánh, mất lòng tin. Trung Quốc không có bạn, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Việc Mỹ đường đường chính chính hiện diện ở Châu Á TBD, triển khai quân ở Australia làm Trung Quốc phải “thốt” lên “Trung Quốc chưa từng thành lập một liên minh quân sự như vậy” ( Lưu Vi Dân). Tại sao vậy Trung Quốc? Tại sao Mỹ làm được, các nước họ tin Mỹ mà sao Trung Quốc lại không?

Có thể nói các diễn biến ở Đông Bắc Á kết hợp với tính hiếu chiến và cách hành xử ngoại giao gây bất mãn của Trung Quốc ở Đông Nam Á dường như là dấu hiệu của sự suy yếu, bất lực hơn là sức mạnh. Trong khi chờ vào một sự thay đổi ở một thế hệ lãnh đạo mới năm 2012, giới lãnh đạo Trung Quốc hiện tại có lẽ phải gặm nhấm một sự thất bại ê chề. Gần 3 thập kỷ xây dựng lòng tin… họ chỉ phá trong phút chốc. Thế trận bị vỡ.

Động thái của Mỹ, không còn hồ nghi gì nữa, họ đang cô lập, kiềm chế Trung Quốc, bắt Trung Quốc như họ nói “là phải tuân thủ theo luật chơi”. Trước tình thế này liệu Trung Quốc và Mỹ có xảy ra một cuộc chiến tranh hay không?

Rõ ràng là khi quyết định tiến hành phát động một cuộc chiến tranh thì không có chỗ cho sự ngộ nhận về sức mạnh theo kiểu hiếu chiến, bầy đàn. Không thể lấy kết quả từ sự phô trương thanh thế phục vụ cho mục đích chính trị làm cơ sở xây dựng quyết tâm chiến tranh mà phải có sự đánh giá, so sánh thế và lực khách quan, khoa học, chính xác. Thế và lực của Trung quốc hiện nay như nào so với Mỹ? Khi Mỹ tự tin, quyết đoán trong việc triển khai lực lượng ở Châu Á TBD; Khi Mỹ đã chuẩn bị trong cách tiếp cận chiến tranh nếu xảy ra sẵn sàng và bình tĩnh thì điều đó có nghĩa thế và lực của Mỹ đã vượt trội so với Trung Quốc, có nghĩa là cuộc chiến nếu xảy ra hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của Mỹ. Tuy nhiên nó sẽ không bao giờ xảy ra bởi Trung Quốc thừa biết khả năng của mình đến đâu và phải làm gì.

Lê Ngọc Thống
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Mỹ cắt viện trợ cho Pakistan vì 2 nhà máy phân bón

Quyết đinh cắt viện trợ của Mỹ có thể làm xấu thêm quan hệ vốn đã căng thẳng và khơi dậy tinh thần chống Mỹ ở nước Hồi giáo này.

Tại Mỹ, ngày càng có nhiều tiếng nói kêu gọi chính phủ của ông Obama trừng phạt Islamabad vì không hành động chống lại các nhóm khủng bố, thậm chí, còn giúp các nhóm này, nhất là sau chiến dịch tiêu diệt lãnh tụ al-Qaida Osama bin Laden tháng 5/2011.

Mỹ đã quyết định đóng băng khoản viện trợ trị giá 700 triệu USD cho Pakistan cho đến khi nhận được sự đảm bảo từ Islamabad rằng họ giúp đỡ trong cuộc chiến ngăn chặn sự phổ biến các loại bom, mìn tự chế (IED). Hành động này rất có thể sẽ làm cho quan hệ hai bên căng thẳng thêm.

IED là các loại vũ khí hiệu nghiệm nhất được các du kích quân Hồi giáo cực đoan sử dụng để chống lại Quân đội Mỹ và đồng minh tại Afghanistan. Các loại bom, mìn tự tạo này thường được làm từ ammonium nitrate, một loại phân hóa học thông thường nhập lậu qua biên giới Pakistan.

Việc đóng băng số viện trợ của Mỹ được nhất trí như là một phần của một dự luật về cắt giảm quốc phòng dự kiến sẽ được thông qua trong tuần này.

Dân biểu Cộng hòa, Howard McKeon nói với báo chí rằng phía Mỹ muốn có “được sự đảm bảo rằng Pakistan đang chống lại IED đang được sử dụng chống lại các lực lượng liên quân ở nước họ”.

Kể từ năm 2001 Mỹ đã phân bổ khoảng 20 tỷ USD trong viện trợ về an ninh và kinh tế cho Pakistan, phần lớn là dưới các hình thức bồi hoàn cho sự giúp đỡ trong cuộc chiến chống các nhóm khủng bố.

Dù khoản tiền 700 triệu USD chỉ là phần nhỏ trong gói viện trợ cho Pakistan, nhưng nó báo trước một sự cảm cắt giảm thậm chí còn lớn hơn.

Quan hệ Mỹ-Pakistan

Ông Salim Saifullah, Chủ tịch Ủy ban đối ngoại thượng viện Pakistan cảnh báo, quan hệ hai nước, vốn đã rất xấu, có thể sẽ xấu hơn sau quyết định này của lưỡng viện Mỹ. “Tôi không cho rằng đây là một nước cờ thông minh. Nó có thể làm phương hại quan hệ. Thay vào đó cần có những nỗ lực để thúc đẩy hợp tác. Tôi không thấy có gì tốt đẹp từ quyết định này”. Saifullah nói.

Các quan chức dân sự Pakistan trước đó từng cảnh cáo việc cắt viện trợ có thể sẽ tăng thêm công luận chống Mỹ. Và họ - người Pakistan - luôn cho rằng đang làm tất cả chống lại al-Qaeda và Taliban. Hàng nghìn binh sĩ Pakistan đã hy sinh trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ ở khu vực, kể từ năm 2001, trong đó, có những người chết vì súng đạn của NATO.

Islamabad buộc tội NATO đã chủ định giết hại 24 lính Pakistani trong một vụ oanh kích gần biên giới với Afghanistan tháng trước và họ đã tức giận đóng cửa các tuyến đường vận chuyển hậu cần cho quân đội nước ngoài ở Afghanistan.

Nhà phân tích quốc tế Talat Masood nhận xét: “Tôi cho rằng phía Pakistan sẽ hiểu được loại tín hiệu được phát đi. Nó không chỉ là vấn đề về viện trợ”.

Toàn bộ thái độ của Mỹ và quan hệ song phương sẽ bị tác động bởi các biện pháp này bởi vì họ biết rằng Pakistan sẽ không thể ở trong vị thế có thể kiểm soát được buôn lậu.

Hai nhà máy phân bón

Các nghị sỹ Mỹ nói rằng rất nhiều IED làm từ phân bón hóa học được phiến quân vận chuyển lậu qua biên giới giữa Pakistan và Afghanistan.

Tuần trước Thượng nghị sỹ John McCain nói tại Thượng viện: “Phần lớn các chất được sử dụng trong các thiết bị nổ cải tiến là nhằm chống lại quân đội Mỹ ở Afghanistan là bắt nguồn từ 2 nhà máy chế tạo phân bón hóa học ở Pakistan”.

Một báo cáo của cơ quan nghiên cứu quốc hội Mỹ nói hồi tháng 10 rằng các nhà máy này của Pakistan, do một công ty lớn nhất Pakistan, Pakarab, sở hữu đã sản xuất 300.000 tấn phân bón hàng năm kể từ năm 2004.

Mỹ đã yêu cầu Pakistan phải kiểm soát chặt chẽ lượng phân phối ammonium nitrate cho Afghanistan. Cho đến nay phía Pakistan mới chỉ đưa ra một bản dự thảo luật về vấn đề này.

Nền kinh tế mong manh của Pakistan chủ yếu dựa vào ngành nông nghiệp. Vì vậy, nếu cắt giảm sản lượng phân bón sẽ ảnh hưởng xấu đến khu vực này.

Điều khoản đóng băng 700 triệu USD viện trợ được các nhà lãnh đạo của các ủy ban quốc phòng từ hai đảng ở Hạ và thượng viện, kể cả ông McCain. Nó là một phần của pháp luật về thỏa hiệp cho phép các chương trình phòng thủ của Mỹ dự kiến ​​sẽ được phê duyệt trong tuần này, McKeon cho biết.

Bản dự luật này cũng đòi hỏi Lầu Năm Góc phải đưa ra một chiến lược nhằm cải thiện hiệu quả của viện trợ Mỹ cho Pakistan.

Phạm Ngọc Uyển (theo NBC News)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Vì sao Mỹ chưa thể tấn công Iran?


Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thừa nhận một cuộc tấn công quân sự vào Iran lúc này sẽ gây những hậu quả khôn lường không chỉ với Mỹ mà cả thế giới.

Image
Siêu bom 15 tấn của Mỹ
Nhìn từ tình hình thực tế hiện nay có thể thấy trong thời gian tới, Mỹ và các nước thành viên chính của NATO có khả năng tấn công Syria và Yemen nhưng về cơ bản không có khả năng tấn công Iran. Mối đe dọa từ phương Tây đối với Iran trên thực tế chỉ là tấn công bằng dư luận, cũng giống như chính quyền Bush trước kia nhiều lần đe dọa.

Sau báo cáo ngày 8/11 của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) về tình hình Iran, Mỹ, phương Tây và Israel liên tục có những phát biểu và động thái đe doạ tấn công Iran. Không quân Mỹ mới đây thậm chí đã nhận một loại siêu bom nặng gần 15 tấn được thiết kế để xuyên phá những mục tiêu nằm sâu dưới lòng đất mà Mỹ nghi ngờ là các cơ sở hạt nhân của Iran. Tuy nhiên, đó cũng có thể chỉ là nhằm răn đe Iran.

Điều này càng rõ ràng hơn khi phát biểu với báo giới có mặt trong chuyến đi Canađa, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta tuyên bố trong hồ sơ hạt nhân Iran nếu vượt qua khuôn khổ các lệnh trừng phạt và ngoại giao thì sẽ có những hậu quả kinh tế không mong muốn, không chỉ đối với Mỹ mà còn cả thế giới.

Ngoại trưởng Pháp Alain Juppe ngày 14/11 cũng cảnh báo rằng việc áp dụng biện pháp quân sự với Iran vì chương trình hạt nhân của nước này sẽ cuốn thế giới vào một "vòng xoáy không thể kiểm soát."

Ngoài ra không thể không kể đến nhân tố Nga và Trung Quốc. Tổng thống Mỹ Barack Obama bên lề Hội nghị thượng đỉnh APEC diễn ra ở Hawaii mới đây đã nỗ lực tìm kiếm sự ủng hộ của người đồng nhiệm Nga Dmitry Medvedev và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân Iran nhưng hai nhà lãnh đạo này đã lặng thinh.

Giới phân tích đưa ra những lý lẽ cho thấy một cuộc tấn công quân sự của Israel hay Mỹ vào Iran lúc này sẽ để lại những hậu quả không thể dự tính được.

Kết cục bi thảm

Tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran được ví như việc cắt cỏ: Nếu không diệt tận gốc, cỏ sẽ mọc trở lại. Tuy nhiên, gần như chắc chắn là không có một chiến dịch không kích nào có thể hủy diệt toàn bộ những cơ sở và kho nhiên liệu hạt nhân của Iran. Quốc gia Hồi giáo này sở hữu nhiều cơ sở kiên cố ở những địa điểm bí mật rất khó bị tấn công. Thậm chí ngay cả khi chiến dịch quân sự có thể phá hủy toàn bộ các cơ sở hạt nhân của Iran thì nước này có thể tập trung toàn lực đầu tư và phục hồi sản xuất chỉ trong vòng từ 2 tới 3 năm. Như vậy Israel sẽ phải tấn công Iran “theo định kỳ” 18 tháng một lần. Nếu trường hợp này xảy ra, Israel và Iran sẽ ở trong trạng thái đối đầu thường trực và Trung Đông sẽ bị nhấn chìm trong biển lửa.

Iran không phải là Libya của Muammar Gaddafi hay Iraq thời Saddam Hussein. Iran có tiềm lực quân sự lớn thứ 12 thế giới vì thế một cuộc tấn công từ bên ngoài sẽ đối mặt một cuộc đáp trả quyết liệt, thậm chí một cuộc chiến tranh hạt nhân gây lo ngại và để lại hậu quả khôn lường cho cả thế giới.
Image
Nhà máy điện hạt nhân của Iran


Trung Đông hỗn loạn, Iran nâng tầm ảnh hưởng

Iran là thế lực chiến lược quan trọng tại Trung Đông, tấn công Iran sẽ đẩy cả khu vực Trung Đông vào hỗn loạn.

Gần đây, các quốc gia Arab đều ủng hộ Palestine trở thành thành viên chính thức của Liên Hợp Quốc, tạo nên áp lực chính trị quốc tế lo lớn cho Mỹ và Israel, do đó cũng tăng nhân tố bất ổn cho khu vực này. Nếu trong bối cảnh này tấn công Iran, rõ ràng sẽ đẩy khu vực vào hỗn loạn, chẳng hay ho gì cho một nước Mỹ đang mải lo cuộc tổng tuyển cử.

Cấm vận không bao giờ có thể ngăn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân nếu họ thực sự muốn, nhưng đã cô lập hóa quốc gia Hồi giáo này. Một vụ tấn công do Israel thực hiện sẽ phá bỏ đi sự cô lập kể trên và mang lại nhiều tác động xấu, đặc biệt trong thời điểm thế giới Arập đang rối loạn bởi các cuộc biểu tình như hiện nay. Theo các chuyên gia, nhiều quốc gia Arập sẽ muốn thấy một Iran bị kiềm chế và suy yếu nhưng một vụ tấn công trực tiếp của Israel sẽ để lại một “bãi lầy” mà Mỹ sẽ phải vất vả để dọn dẹp. Người Hồi giáo trên thế giới sẽ thêm lý do để ghét Mỹ.

Tổn thất về kinh tế với Mỹ và thế giới

Iran nằm bên eo biển Hormuz, tuyến hàng hải nhộn nhịp trung chuyển 40% lượng dầu mỏ thế giới. Một cuộc tấn công quân sự sẽ là cái cớ để Iran phong toả tuyến đường hàng hải trọng yếu này đẩy giá dầu mỏ tăng vọt. Điều này sẽ khiến kinh tế thế giới vốn đang bị ốm yếu bởi nợ công và khủng hoảng khó lòng mà phục hồi.

Thêm nữa, Iran cũng có thể can thiệp vào Afghanistan và Iraq, khiến tình hình an ninh tại các quốc gia này trở nên hỗn loạn. Về khả năng quân sự, Iran khó có thể vươn tới Mỹ nhưng dễ dàng tới khu vực Trung Đông, Bắc Phi… Và họ “có thừa” khả năng phát động một cuộc thánh chiến chống lại các lợi ích của Mỹ và Israel tại đây.

Nền kinh tế Mỹ vẫn còn trong giai đoạn phục hồi mong manh. Dù Tổng thống Mỹ Obama đã tuyên bố rút quân khỏi Iraq, nhưng việc phân bổ thêm nguồn lực cho khu vực Trung Đông sẽ lần nữa gây ra những vấn đề căng thẳng cho ngân sách Mỹ, vốn đang thâm hụt trầm trọng. Thêm một cuộc chiến nữa, cho dù sự tham gia của Mỹ là hạn chế, cũng sẽ đặt rất nhiều áp lực về tài chính lên chính quyền Obama, nhất là trong bối cảnh cuộc bầu cử tổng thống đang đến gần.

Do đó, trước kỳ bầu cử năm sau ở Mỹ, tuy không thể loại bỏ khả năng Mỹ tấn công Iran, nhưng khả năng này dường như là rất nhỏ./.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Dân Chủ là một thứ bảo hiểm
Ngô Nhân Dụng

Sau bài bình luận tuần trước một vị độc giả đã viết thư tỏ ý ông thích một lời kết luận: “Dân chủ tự do không hứa hẹn thiên đường. Nhưng sẽ giúp xã hội loài người tránh rơi xuống địa ngục.”

Ý tưởng đó chắc không mới. Nhiều người chắc đã nghĩ, đã nói từ hàng trăm năm nay rồi, vì đó cũng là một bản chất của chế độ dân chủ tự do. Tự do dân chủ không phải là một bảng lộ trình hứa hẹn ở cuối đường sẽ tới những bồng lai tiên cảnh. Ngược lại, những phong trào chống lại thể chế dân chủ tự do thì lại hay vẽ ra viễn tượng một xã hội hoàn hảo; khi biết là chúng chỉ là những lý thuyết viển vông thì đã muộn.

Trên thế giới đã nhiều lần có những người nổi lên chống thể chế dân chủ, như các đảng cộng sản, các đảng phát xít, hay các đảng tự gọi là theo chủ nghĩa “xã hội quốc gia” từng nắm quyền ở Ðức “quốc xã,” ở Ai Cập thời 1950-60, cho tới Miến Ðiện của Tướng Newin từ đầu thập niên 1960. Những phong trào đó đều đưa ra các chủ nghĩa, các khẩu hiệu nức lòng người; có lúc đã lôi cuốn hàng triệu người tin theo, nhiều người sẵn sàng chết để xây dựng một thiên đường hạ giới. Khi đề cao Tự do, người ta không vẽ ra những hình ảnh viển vông mà chỉ hứa hẹn mọi người sẽ không bị thúc ép.

Quyền tự do của mỗi con người và quyền tự do của một dân tộc, cùng một chữ mà trong hai trường hợp có ý nghĩa khác nhau. Những dân tộc bị lệ thuộc người nước khác đều khao khát tự do; nghĩa là muốn thoát khỏi cảnh bị người nước khác cai quản. Họ có thể hy sinh mạng sống cho đồng bào mình được tự do. Nhưng khi được tự do rồi, người ta sẽ sử dụng quyền tự do đó như thế nào? Trong xã hội mới đó, mỗi người được tự do hay không? Chưa biết, vì khi đang tranh đấu đòi độc lập, người ta chưa bàn, sợ mất tình đoàn kết. Người ta chấp nhận hai chữ Tự Do một cách chung chung. Ít thấy ai khi tranh đấu lại hô hào: “Tự do hay là chết, với điều kiện chúng ta sẽ tổ chức xã hội như thế này, như thế này, vân vân!” Hô một khẩu hiệu như thế thì dài quá, khó lôi cuốn người ta hô theo!

Bởi vậy, mới có những cảnh “hoán nô dịch chủ;” đổi kiếp từ nô lệ người chủ này sang làm đầy tớ cho chủ khác. Chúng ta đã chứng kiến cảnh nhiều lãnh tụ anh minh kêu gọi người khác hãy theo mình tranh đấu cho tự do, thà chết cũng không sợ; nhưng sau đó chính họ lại cai quản mọi người mà chẳng thấy ai được tự do cả. Nhiều dân tộc đã trải qua kinh nghiệm này, sau khi tranh đấu đòi được độc lập, thường phải bắt đầu tranh đấu đòi tự do trở lại!

Chủ nghĩa Cộng sản là một thứ tín ngưỡng trần tục, hứa hẹn một xã hội lý tưởng không khác gì thiên đàng; cho nên đã mị hoặc nhiều người hàng thế kỷ. Ngoài ra, còn những đảng chủ trương dân tộc cực đoan kiểu quân phiệt Nhật Bản cũng hấp dẫn nhiều người vì họ đề cao một nước, một sắc dân. Họ hứa hẹn đưa cả dân tộc lên đỉnh vinh quang, cho mọi người thấy họ cũng tham dự trong đó, chia sẻ một cõi huy hoàng. Lời hứa hẹn của các nhóm tín ngưỡng cực đoan như al Qeada còn lôi cuốn mạnh mẽ hơn nữa vì người ta được hứa hẹn sẽ sống vĩnh viễn trên một cõi thiên đường.

Trong khi đó, người ta chỉ tha thiết đòi tự do, khi các quyền tự do bị chà đạp; ít thấy ai không dưng đề nghị một “chủ nghĩa dân chủ,” vẽ ra một cảnh thiên đường hạ giới, lôi cuốn người khác. Thường chỉ có ai đã phải sống trong nô lệ đến mức không chịu nổi, mới thiết tha đòi được tự do với khẩu hiệu “Tự do hay là chết.” Ðối với những người chỉ mới nghe về hai chữ tự do, nó chỉ là một khái niệm trừu tượng. Vì thể chế tự do dân chủ không hứa chắc sẽ đưa mọi người đến một cõi tốt đẹp hoàn hảo!

Thể chế Dân chủ Tự do chỉ tạo ra một khung cảnh để mọi người sống chung với nhau. Nó cống hiến một hình thức xã hội để sống chung chứ không hứa hẹn một nội dung cụ thể. Nội dung, tức là con người sẽ sống với nhau như thế nào trong xã hội dân chủ, nội dung này tùy theo đặc tính mỗi dân tộc mà thể hiện. Có xã hội thích tranh luận, dùng lý lẽ chiếm phần thắng như ở Pháp; có nơi muốn giữ trật tự, hòa hợp, nhường nhịn như ở Nhật. Có những xã hội muốn nhấn mạnh đến đức công bằng như ở Ðức, ở Na Uy; do đó giảm bớt nhiều quyền tự do lựa chọn của cá nhân, trao cho guồng máy nhà nước nhiều quyền hành. Có xã hội lại đề cao tự do cá nhân nhiều hơn, như ở Mỹ. Ở nước Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1930 đa số ngả về đức công bằng, chịu hy sinh một số quyền tự do lựa chọn. Ðến thời kinh tế trì trệ trong thập niên 1970, người Mỹ lại thấy cần khuyến khích sáng kiến tư nhân, bèn giảm bớt quyền hạn của nhà nước. Nếu trong cùng một thời gian mà nhiều nhóm người ý kiến khác nhau thì sao? Chỉ có một cách quyết định chung, là bỏ phiếu, một “luật chơi dân chủ”. Luật chơi ở đây là đa số thắng thiểu số. Nhưng nếu một khối đa số cứ thắng hoài, rồi lạm dụng quyền hành bắt nạt những người thiểu số thì sao? Phải thêm vào “luật chơi” một điều nữa để đặt thêm giới hạn trên quyền hành. Ðó là bảng liệt kê những “quyền làm người,” nhân quyền. Dù các anh có liên tiếp thắng cử nhờ chiếm đa số, các anh không được xâm phạm đến những quyền căn bản của người thiểu số; như quyền tự do phát biểu, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, vân vân. Chính vì vậy, các phong trào dân chủ bao giờ cũng nhấn mạnh đến nhân quyền.

Với cái khung tự do dân chủ, có dân tộc thiết lập chế độ nghị viện để Quốc Hội nắm nhiều quyền; có nước lại chọn một chế độ trao nhiều quyền hành cho một vị tổng thống. Trong mỗi loại đó, vẫn còn có thể vẽ ra nhiều kiểu tổ chức xã hội khác nhau. Nước Na Uy khi mới độc lập, vào đầu thế kỷ 20, đã chọn chế độ quân chủ lập hiến thay vì chế độ cộng hòa. Nghị viện nước này mời một ông hoàng Ðan Mạch sang làm vua, ông hoàng đã yêu cầu phải trưng cầu dân ý, dân chấp thuận ông mới nhận chức. Một ông vua được mời như vậy có lợi hay không? Hơn một thế kỷ sau cuộc lựa chọn đó, dân Na Uy bây giờ vẫn có vẻ rất hài lòng! Bởi vì hiến pháp đã tạo một cái khung cho cuộc sống cả xã hội, có một ông vua cũng không ngại gì, được một ông vua tốt càng may. Nhiều người nói rằng chế độ dân chủ tự do ở nước Mỹ cho phép một người rất tầm thường cũng có thể làm tổng thống. Vì người đó không nắm mọi quyền quyết định; mà nếu ông hay bà ta tệ quá thì cùng lắm cũng chỉ làm khổ dân trong bốn năm thôi!

Kết luận là cùng một cái khung dân chủ tự do, người dân mỗi nước có thể chọn những nội dung khác nhau. Tất nhiên, trình độ dân trí, nhất là trình độ của những người làm chính trị cao hay thấp, sang hay ngu, sẽ quyết định nội dung của cuộc sống xã hội. Nhưng dù nội dung như thế nào, thể chế dân chủ có thể giúp chúng ta tránh nhiều cái xấu, cái ác thường do chính quyền gây ra; nhờ có những giới hạn trên quyền bính. Nếu quyền hành không được giới hạn, thì không phải là một chế độ dân chủ.

Nhiều người không để ý đến tính chất “phòng ngừa” này, vì họ mơ mộng và không đủ tự tin hoặc không tin vào người dân. Họ không tin trong chế độ dân chủ người dân có khả năng đóng vai ngăn ngừa cái ác, cái xấu; cho nên họ đi tìm những thể chế chính trị ba xạo hão huyền. Chúng ta phải thận trọng khi nghe các nhà chính trị hứa hẹn những giấc mơ lớn, đưa ra những viễn ảnh lý tưởng. Cuối cùng, khi biết không thể thực hiện được những điều mơ mộng, lý tưởng đó, người ta sẽ phải nói dối. Họ nói dối làm cho mọi người bắt chước, ai cũng học nói dối cho giỏi. Ðạo đức cả xã hội sẽ suy đồi.

Phải lo việc ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, vì đó là một mối rủi ro bất trắc trong cuộc sống chính trị. Ở nước nào cũng vậy, kể cả các nước dân chủ lâu đời rồi, người nắm quyền, dù cấp cao hay cấp thấp, cũng hay lạm quyền, mối rủi ro đó lúc nào cũng có thật. Thường khi muốn đề phòng rủi ro bất trắc, người ta đi mua bảo hiểm. Thiết lập một thể chế dân chủ chính là “mua bảo hiểm” cho xã hội. Tức là đề phòng khuynh hướng lạm quyền của nhà nước bằng cách đặt ra trước các giới hạn bắt họ phải theo. Ai đã sống trong một xã hội mà nhà nước nắm hết mọi thứ quyền, mới thấy khi cả xã hội “không được bảo hiểm” thì rất nguy hiểm! Nếu trình độ của những người nắm quyền lại quá thấp thì mối nguy hiểm đó càng lớn!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest