Tạp Ghi

hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »


Image

Họa sĩ tham tiền

Thiền sư Gessen là một họa sĩ. Trước khi vẽ một bức tranh, ông luôn đòi hỏi phải được trả tiền trước với một giá rất cao. Mọi người thường gọi ông là “họa sĩ tham tiền”.

Có lần, một kỹ nữ đặt ngài vẽ một bức tranh. Ông hỏi: “Cô trả được bao nhiêu?”

Cô gái trả lời: “Ông muốn bao nhiêu cũng được, nhưng ông phải vẽ trước mặt tôi.”

Thế là, một ngày kia cô kỹ nữ cho gọi ông đến. Cô ta đang chiêu đãi một khách làng chơi.

Gessen vẽ bức tranh với một phong cách tuyệt vời. Khi vẽ xong, ông đòi một giá cao nhất thời bấy giờ!

Sau khi trả tiền, cô kỹ nữ quay sang nói với người khách của mình: “Người họa sĩ này chỉ biết tham tiền. Những bức tranh của ông ta rất đẹp, nhưng tâm hồn ông ta thật bẩn thỉu. Tiền bạc đã làm cho tâm hồn ông ta lấm bùn. Một tác phẩm xuất phát từ tâm hồn nhơ nhớp đến thế không xứng đáng để được trưng bày. Nó chỉ đáng để trang trí trên đồ lót của tôi thôi.”

Rồi cô ta cởi váy ra và bảo Gessen vẽ một bức tranh khác phía sau váy lót của mình.

Gessen hỏi: “Cô trả tôi bao nhiêu?”
Cô gái đáp: “Ồ, bao nhiêu cũng được.”

Gessen đòi một giá cực kỳ cao rồi vẽ bức tranh đúng theo yêu cầu, Xong, ông bỏ đi.

Chỉ về sau người ta mới biết được rằng ngài Gessen có 3 lý do sau đây để tham tiền:

1. Nạn đói khủng khiếp thường xảy ra ở quê ngài. Những người giàu lại không giúp đỡ người nghèo, nên ngài Gessen đã lập một nhà kho bí mật, không ai biết. Ở đó ngài cất giữ lương thực, chuẩn bị cứu giúp khi những trận đói ngặt nghèo xảy ra.

2. Con đường từ làng ngài đến ngôi Quốc tự rất xấu và nhiều khách bộ hành phải khổ sở khi đi qua đó. Ngài muốn làm một con đường tốt hơn.

3. Vị thầy của ngài đã viên tịch mà không thực hiện được ước nguyện xây dựng một ngôi chùa, và ngài Gessen muốn hoàn tất tâm nguyện của thầy.

Sau khi cả 3 điều trên đã hoàn tất, ngài Gessen vất bỏ cọ vẽ và tất cả những đồ dùng vẽ tranh, lui về ẩn trong một dãy núi và không bao giờ vẽ tranh nữa.

Viết sau khi dịch

Bị làm nhục bởi một người kỹ nữ theo cách như thế, dù là một họa sĩ thông thường hẳn cũng không sao chịu nổi, đừng nói là một vị tăng! Thế nhưng ngài Gessen vẫn có thể an nhiên bất động trước mọi sự việc, chỉ một lòng hoàn thành những tâm nguyện cao quý của mình, có thể nói là ngài đã đạt được sự giải thoát tâm ý ngay trong những triền phược của đời sống.

Những kẻ tầm thường quả là không sao thấu hiểu được tâm nguyện và hành trạng của một vị Bồ Tát độ sinh!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Sài Gòn hay Hồ Chí Minh

Nguyễn Thanh Nam

Mỗi mùa xuân về trên quê hương Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến địa danh Sài Gòn.

Sài Gòn, tự nó đã đầy đủ ý nghĩa. Không cần phải thêm thủ đô hay thành
phố gì cả. Hai chữ Sài Gòn đã in sâu vào từng tâm hồn của ngưòi dân
Việt Nam mà còn quen thuộc với người ngoại quốc với tên gọi không có
dấu: “Saigon”. ...

... Để rồi từ đó mọi người đều có thể viết chữ Sài Gòn dính liền lại
với nhau mà không bỏ dấu “SAIGON”.

Không biết bao nhiêu bài luận văn của các em học sinh từ tiểu học đến
trung học tả về Saigon. Không biết bao nhiêu thi sĩ, nhạc sĩ viết về
Saigon. Saigon nằm soi mình bên dòng sông cùng tên Saigon, thật lãng
mạng và kêu ngạo cùng tuế nguyệt.

Chúng ta hãy lắng động tâm hồn để tìm về sự mộc mạc của người Việt Nam
đối với Saigon thân yêu.

1. Thưa cô đi đâu?

- Saigon.

2. Bà ngoại đi đâu?

- Lên Saigon.

3. Mầy từ đâu về?

-Từ Saigon.

Chỉ cần một chữ Saigon là đầy đủ rồi.

Nhưng trong 30 năm qua, Saigon bị mất tên, bị thay thế bằng tên của
nhân vật Hồ Chí Minh. Sàigon ngậm ngùi tức tưởi, thổn thức với lời ca
trong bài Vĩnh Biệt Saigon: “...ta mất người như người đã mất tên…”.

Người Cộng Sản Việt Nam rất lấy làm hãnh diện với cái gọi thành phố Hồ
Chí Minh. Cái tên nghe vừa dài vừa chói tai, lúc nào cũng phải thêm
chữ “thành phố”. Nếu thiếu chữ “thành phố” thì nguy to. Bởi vì kêu Hà
Nội thì ai cũng hiểu là điạ danh Hà Nội, nhưng kêu Hồ Chí Minh khơi
khơi thì có khi người ta không biết kêu cái quái gì?

Bây giờ xin mời những người Cộng Sản Việt Nam cùng chia xẽ có nên để
tên Hồ Chí Minh hay nên trả tên lại cho Saigon. Nếu quí vị nhất định
khư khư giữ nguyên tên Hồ Chí Minh, thì nên cùng thưởng thức những mẫu
chuyện và truyền khẩu từ ngưòi này sang người khác, từ nơi này sang
nơi khác mà tạm gọi là truyền khẩu dân gian, hãy xem như một cuộc
trưng cầu dân ý có được không?

1. Bây giờ nói về tệ nạn xã hội:

- Người ta thường kêu là “Du Đãng Saigon” nay xin sửa lại: “Du Đãng Hồ
Chí Minh”

- Saigon ngày xưa ít thấy bây giờ Saigon nhiều quá. “Đĩ Saigon” xin
đổi lại là “Đĩ Hồ Chí Minh”

- Saigon ngày xưa ít thấy mấy thằng điếm bây giờ phải coi chừng mấy
thằng điếm. ‘Điếm Sàigon” xin đổi lại là “Điếm Hồ Chí Minh”.

2. Bây giờ nói về dân gian:

Khi nói đến dân gian thì không phải như viết văn chương, chỉ nói tắt
hiểu là được. Không cần chính tả hay văn phạm.

- Mầy lấy vợ ở đâu? dạ em lấy vợ Saigon. ”Lấy vợ Saigon" xin đổi lại
là “Lấy vợ Hồ Chí Minh”.

- Chị mua gà ở đâu? mua gà Saigon. Gà Saigon xin đổi lại là “Gà Hồ Chí Minh”.

- Đi Saigon nhớ coi chừng chó, chó Saigon dữ lắm. “Chó Saigon” xin đổi
lại là “chó Hồ Chí Minh”

- Má ơi lên coi truyền hình kìa xe đụng ghê lắm. Xe đụng chỗ nào? Xe
đụng Saigon. Xe đụng Saigon xin đổi lại là “xe đụng Hồ Chí Minh.”

- Thịt chó Saigon ăn ngon quá. Thịt chó Saigon xin đổi lại là “thịt
chó Hồ Chí Minh”

- Đừng làm giả đồ của Pháp bị bắt đó nghe. Vỏ Paris, ruột Saigon là
phạm pháp. Xin đổi là: “Vỏ Paris, ruột Hồ chí Minh”.

- Saigon nóng đổ mồ hôi, xin đổi lại là “Hồ Chí Minh nóng đổ mồ hôi”.

- Saigon nóng muốn lột quần lột áo. Xin đổi là “Hồ Chí Minh nóng muốn
lột quần lột áo”.

- Đi Saigon thì phải mua giầy da Saigon. Xin đổi lại “Giầy da Hồ Chí Minh”

- Gió thổi mạnh quá nên nhà Saigon bị sập. Xin đổi lại ‘nhà Hồ Chí
Minh bị sập’.

Và còn nhiều nhiều lắm lắm……….

Hãy cùng nhau qua truyền khẩu dân gian để thay thế cái gọi là Hồ Chí
Minh vào “Saigon” để cả 82 triệu người dân Việt Nam có dịp thi thố tài
văn chương dân gian của mình để có những trận cười hả hê mà người ta
gọi là chuyện cười dân gian.

Trăm năm bia đá cũng mòn,

Ngàn năm bia miệng vẩn còn trơ trơ

Để người cộng sản Việt Nam hiểu được sức mạnh của quần chúng. Ai đã
đổi tên Saigon? Bây giờ họ phải gánh chịu “gậy ông đập lưng ông”.

Các địa danh như, Hà Nội, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Cần Thơ, Cà Mau…
Mà hình như tất cả các điạ danh ở Việt Nam chỉ cần nói tên là người ta
hiểu được liền đâu cần phải thêm chữ: thành phố hay tỉnh…. Vây nói
khơi khơi Hồ Chí Minh thì là cái con khỉ khô gì? Thật là cười ra nước
mắt.

Chú lơ xe đò gọi hành khách: Saigon không? Saigon đây? Hành khách đứng
dưới đường vẫy tay trả lời : Saigon, Saigon….. Bây giờ sửa lại : Chú
lơ xe đò gọi hành khách: Hồ Chí Minh, không? Hồ Chí Minh đây? Hành
khách đứng dưới đường vẫy tay trả lời: Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh… Có
thể trong đám hành khách đó có cả đảng viên đảng CSVN.

Việc đổi tên Saigon và áp đặt cái gọi là Hồ Chí Minh là do chính những
người công sản Việt Nam tạo ra. Nay chỉ xin được dùng cái gọi là Hồ
Chí Minh để thay thế những lời nói dân gian. Nghĩa là cứ chỗ nào có
chữ Saigon thì thay vào đó là chữ Hồ Chí Minh. Quí vị CSVN nghĩ sao?
Quí độc giả nghĩ sao?

Người cộng sản Việt Nam đã sai lầm giữa địa danh và tên nhân vật, mà
cái ác nhất lại là tên của nhân vật được những người cộng sản Viêt Nam
sùng bái. Cái thây ma nằm giữa Ba Đình, mỗi năm phải tiêu phí biết bao
nhiêu tiền của nhân dân Việt Nam? Người cộng sản sống thì tham nhũng,
tham lạm tài sản quốc gia. Người cộng sản chết cũng ăn bám nhân dân
Việt Nam, đó chính là cái thây ma Hồ Chí Minh.

Người chết phải trở về cát bụi. Thây ma thì phải đem chôn hay thiêu.
Có một người vào xem xác chết của Hồ Chí Minh, khi về nhà không dám
ngủ, mà nhắm mắt lại là thấy ác mộng hay nói đúng hơn là thấy thây ma
Hồ Chí Minh. Cuối cùng phải đi xem bác sĩ tâm lý. Bác sĩ tâm lý
khuyên: bạn đừng nghĩ tới cái xác đó nữa, cứ xem như nhìn thấy xác của
một con vật nào đó, thí dụ như xác con gà, con cá bán ở chợ là được
rồi.”

Đất nước Việt Nam đã bị người cộng sản tàn phá. Không biết bao nhiêu
bút mực của các nhà văn, nhà phê bình, nhà bình luận… của rất nhiều
thế hệ lên án. Người cộng sản cần phải thức tỉnh một cách thật sự mà
hãy trả lại những gì của Việt Nam cho dân tộc Việt Nam.

Cỏ cây còn biết hờn sông núi

Giang sơn gấm vóc phải ngậm ngùi.

Saigon phải được trân trọng trả lại tên cho Saigon. Saigon mãi mãi là Saigon
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Quên

Nguyễn Tài Ngọc

Người nào ngày xưa nói câu “càng già, càng dẻo, càng dai” chắc có lẽ một là trẻ con hỉ mũi chưa sạch không biết kinh nghiệm già cả là gì, hai là ở túc trực tại nhà thương điên Biên Hòa nên phát ngôn bừa bãi không hiểu chính lời mình nói, ba là một bà già 90 tuổi xưa nay độc thân vẫn còn trinh lần đầu tiên trong đời lên xe hoa về nhà chồng, và bốn là làm ở cơ quan truyền thông tuyên truyền chống đế quốc Mỹ nói xuyên tạc mãi thành ra thói quen, cứ tưởng những gì mình phát biểu là đúng sự thật.

Không, càng già không càng dẻo và nhất định không càng dai. Ngược lại, “càng già, càng mỏi, càng quên”. Tôi đã quá 50, cũng đã bắt đầu già. Những người cùng lứa tuổi già với tôi suy nhược giống nhau nên điều mỏi mệt không làm tôi lo ngại. Điều lo ngại là gần đây tôi hay quên làm tôi lo lắng sốt mông sốt vó là bắt đầu có dấu hiệu của bệnh mất trí nhớ Alzheimer’s. Cái bệnh quên của tôi rất đặc biệt ở chỗ tôi không nhớ tên đàn bà. Tên đàn ông thì tôi nhớ, nhưng đàn bà thì không. Nhân viên làm trong sở không nói chuyện vài tháng là tôi quên tên. Ngay cả những bà vợ láng giềng trong khu nhà tôi ở mà tôi cũng quên tên của họ.

Buổi chiều đi làm về lái xe đậu trước cửa garage, vừa bước ra xe thì một bà cũng mới đi làm về, hớn hở vẫy tay chào “ Hi, David!”. Sáng Thứ Bẩy hay Chủ Nhật ra trước cửa nhặt báo đem vào nhà thì bà trước nhà cũng ra trước sân nhặt báo, nhoẻn miệng cười : “Hi, David!” Tối Thứ Năm đem thùng rác ra đường cho người ta đổ rác vào sáng hôm sau, bà láng giềng kế bên cũng mang thùng rác ra cùng một lúc, “Hi, David!”. Mỗi lần như thế tôi đều đứng thộn mặt ra, không nhớ tên người láng giềng của mình là gì, chỉ ú ớ: “Oh, hi…!”. Không lần nào là tôi không thấy xấu hổ, không cảm thấy mình quá bất lịch sự không gọi đích danh của họ để chào trả lễ. Đôi lúc tôi phải chạy thật nhanh vào nhà hỏi vợ con nhắc cho tôi biết tên họ là gì rồi trở lại ra ngoài nói chuyện với họ “ Hi Debra….”, “Hi Maria….”, “Hi Peggy….”. Sau này, không muốn mấy bà ấy nghĩ tôi khinh người không gọi họ bằng tên, tôi viết tên của họ vào một mảnh giấy, để vào ngăn đựng bao tay trong xe để không thể nào quên tên của họ.

Trong những năm gần đây, một số ca sĩ, nhạc sĩ, MC, sinh sống ở hải ngoại có căn bệnh quên giống như tôi (MC: Master of Ceremonies, người điều khiển chương trình của ban Tùng Lâm). Họ không nhớ lý do nào rời quê hương hơn 35 năm về trước. Bây giờ tất cả lần lượt khăn gói quả mướp về lại Việt Nam (lần này cao cấp hơn ngày ra đi là đựng khăn gói quả mướp trong hành lý Samsonite hay Louis Vuitton). Nhưng khác với cái quên của tôi là một căn bệnh của tạo hóa dành cho những người có mái tóc muối tiêu nhân loại không thể nào tránh khỏi, cái quên của họ là một cái quên cố tình, cái quên của họ là một cái quên có chủ ý, cái quên của họ chỉ với mục đích duy nhất là kiếm tiền cho cá nhân họ với một đầu óc hẹp hòi hoàn toàn không suy xét.

Triết lý gia nổi tiếng người Mỹ gốc Tây Ban Nha George Santayana nói một câu rất nổi tiếng: “Người không nhớ quá khứ chắc chắn sẽ tái phạm lỗi lầm” ("Those who cannot remember the past are condemned to repeat it"). Những ca sĩ, nhạc sĩ, MC, này là những người không nhớ quá khứ trong câu nói của ông George Santayana. Trong cái bối cảnh khốc liệt của chiến tranh, của chiến thắng của đại quân Bắc Việt, họ đã quên những chuyện đau thương, căm hờn, khổ ải, tước đoạt, xót xa, chết chóc, thân nhân muôn đời vĩnh biệt của hơn 35 năm về trước. Họ đã quên trăm nghìn dân chúng trong nỗi kinh hoàng gia tài chỉ là mảnh vải che thân hay bao bố đội trên đầu, kẹt cứng trên một con đường duy nhất đầy máu đổ để có thể thoát thân vào SàiGòn lánh nạn khi Tổng Thống Thiệu quyết định bỏ tử thủ vùng Cao nguyên. Họ quên đi cả nghìn thuyền nhân boat people đã bỏ mạng nơi biển cả, trong tay hải tặc Thái Lan trên con đường ra khơi tìm tự do. Họ đã quên đi cả trăm nghìn chồng, cha, chú, bác, anh, em, trong quân đội đi tù với cả nghìn người đã vĩnh viễn không có cơ hội đoàn tụ với gia đình. Họ đã quên đi những bà mẹ điên đầu xoay sở làm cách nào tìm được từng củ khoai, từng bát bo-bo để nuôi nấng bố mẹ, chồng con của mình qua thời gian nghèo đói kinh hoàng nhất của lịch sử Việt Nam. Họ đã quên đi là một phần tử trong một tập thể chiến bại, sinh mạng của họ trở nên vô nghĩa, rẻ hơn một con thú vật, như chỉ mành treo chuông, có thể bị lấy mất đi bất cứ lúc nào không một ai hay biết.

Họ quên đi tất cả chỉ vì lý do gì? Tìm lại mạng sống của mình? Thưa không, các quốc gia hải ngoại bảo toàn tối đa sinh mạng công dân của họ. Đóng góp vào việc hỗ trợ dân nghèo, giúp ích xã hội? Thưa không, đã có chính phủ Hoa Kỳ hay tư nhân người Mỹ trắng như Bill Gates, Warren Buffet… lo. Họ quên đi tất cả chỉ vì một mục đích duy nhất: kiếm tiền để làm giầu cho cá nhân của họ.

Giá vào cửa show của họ lên đến hai hay ba triệu đồng Việt Nam ($100-$150 dollars) / một vé. Lương tháng của một anh làm nghề bảo vệ hay cắt tóc đàn ông của một người ở Việt Nam thậm chí không bằng một vé xem show của họ. Tôi thắc mắc không hiểu lương tâm của họ có bao giờ hỏi chính họ là những người tạo ra vật giá leo thang đắt đỏ ở Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến dân nghèo càng túng quẫn không tìm đủ miếng ăn? Thế nhưng tự hỏi là tự trả lời: lòng tham của họ là một lòng tham không đáy.

Điều ngạc nhiên tôi nhận thấy là những người này khi trở lại bên Mỹ, họ vẫn ngang nhiên kiếm tiền như thường, không một ai chê trách. Các chương trình DVD vẫn bán chạy như tôm tươi. MC, ca sĩ ở đây vẫn tiếp tục điều khiển, hát hò trong chương trình với họ như không có chuyện gì xẩy ra. Họ vẫn tiếp tục đòi tiền thù lao cao tận trời vì vẫn có người bằng lòng trả tiền họ đòi hỏi. Tôi biết một cô ca sĩ hàng đầu ở đây đòi tiền thù lao $5000 dollars cho một xuất hát ba tiếng đồng hồ. Không những thế, cô ta đòi phải trả tiền máy bay cho chồng đi theo! Thế mà vẫn có bầu show hay tập đoàn tư nhân trả số tiền đòi hỏi đó.

Chúng ta, những người bỏ tiền mua vé đi xem show của họ hát ở bên Mỹ hay chuyển tiếp email video của họ hát cho bạn bè xem, là những người đã trực tiếp hay gián tiếp đồng ý với hành động của họ làm, nối giáo cho giặc. Bernie Madoff, cựu Giám Đốc Thị Trường Chứng Khoán NASDAQ lừa gạt khách hàng trị giá 65 tỷ đô-la làm vài người tự vẫn vì số tiền mất mát quá lớn. Chính người con cả của ông ta, Mark Madoff tự tử vào tháng 12 năm ngoái vì xấu hổ với hành động của bố mình làm, và vì những cơ quan đầu tư thưa kiện để lấy lại tiền. Andrew Madoff, người con thứ hai, trong chương trình “60 minutes” vào Chủ Nhật tuần vừa rồi , tuyên bố là anh đã từ bố mình, cắt đứt tất cả mọi liên lạc vì hành động của ông ta quá đê hèn, làm hại cả trăm nghìn người.

Khi thấy cha mình làm một điều sai quấy, Andrew Madoff còn từ bỏ cha mình được thì tại sao người Việt hải ngoại không có một thái độ dứt khoát với các ca sĩ về Việt Nam hát?

Hoa Kỳ là một xã hội tư bản, tiền là động lực chính yếu thúc đẩy tất cả mọi sự. Netflix là một hãng cho mướn phim ở Mỹ. Khi một người trả tiền lệ phí hàng tháng, họ có thể xem bằng hai loại: Netflix gửi DVD đến nhà hoặc họ xem trực tiếp trên TV streamlined (Netflix chiếu phim thẳng trên TV như mình xem TV những chương trình thường lệ). Vài tháng trước đây, Giám Đốc Netflix là Reed Hastings quyết định không gửi DVD đến nhà nữa. Ai muốn thì phải trả thêm tiền. Chính sách này làm những hội viên mướn phim Netflix nổi giận. Chỉ trong một tháng mà 800,000 người hủy bỏ thẻ hội viên!

Dịch vụ thẻ lấy tiền debit card ở nhà băng Mỹ từ xưa đến nay miễn phí. Vài tuần trước đây, Bank Of America tuyên bố tính tiền khách hàng $5 dollar/ một tháng. Khi chính sách này áp dụng, cả nghìn người hủy bỏ trương mục ở Bank Of America và mở trương mục mới ở ngân hàng khác. Mất một số khách hàng khá lớn làm Bank Of America cách đây hai ngày quyết định sẽ không tính tiền thân chủ $5 nữa, debit card sẽ được miễn phí như cũ.

Chúng ta có thể bắt chước hội viên của Netflix hay thân chủ của Bank Of America, không nên tiêu một xu cho các ca sĩ này.

Không bỏ tiền mua vé đi xem những ca sĩ, MC, hải ngoại về Việt Nam trình diễn; không chuyển tiếp email tin tức, video liên hệ đến họ là một hành động thực tiễn nói cho họ biết là những gì họ đang làm là sai lầm. Thế nhưng buồn thay người Việt hải ngoại chúng ta không có can đảm gióng tiếng chuông lương tâm cho họ biết. Chính chúng ta là những người gián tiếp cổ võ hành động của họ bằng cách mua vé đi xem show, chuyển tiếp email liên quan đến họ. Do đó, chúng ta cũng như họ, không khác biệt một tí nào.

Họa sĩ Walt Kelly vào năm 1941 trong một tranh hoạt họa khá nhiều người ưa thích, vẽ con thú Pogo tuyên bố với bạn nó, con cá sấu Albert: “We have met the enemy, and he is us”. Câu nói này thật hợp tình hợp lý với tất cả người Việt chúng ta ở hải ngoại trong vấn đề này:

“Chúng ta đã gặp kẻ thù, và kẻ thù đó là chính chúng ta”.

Nguyễn Tài Ngọc
http://www.saigonocean.com/
November 2011
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Một mùi gió bấc quen thuộc…
Không như nhà thơ nọ đo tuổi mình qua ánh mắt cố nhân, tôi đo tuổi mình qua cách xưng hô của các bà mẹ bế con đến khám bệnh.
Trước đây họ gọi tôi bằng anh, sau gọi bằng chú, rồi bằng bác, và rồi mới đây thôi, một chị hãy còn rất trẻ đưa bé đến khám bệnh, lúc bé la khóc, chị dỗ nín đi, nín đi cho ông ngoại khám con, thì tôi mới biết mình đã lên đến ông ngoại rồi mà không hay.

Tôi hỏi theo thói quen chị là gì của cháu, chị trả lời ngon ơ, dạ, bà ngoại.
Nhìn ngắm mình, nhìn ngắm bạn bè mình mới bật cười cái “Ôi cát bụi tuyệt vời” mà thầm cám ơn anh bạn nhạc sĩ họ Trịnh đã nói giùm mình nhiều quá.
Thật ra già là gì, lúc nào thì già, lúc nào thì chớm già, sắp già, mới già, đã già.
Có tuổi nào là tuổi “hườm hườm” chăng?
Một người bạn ở tuổi hườm hườm hỏi, sao, ông bác sĩ, ông đã viết nào cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, nào cho tuổi mới lớn, sao không viết một chút gì đó cho tuổi sắp già, tuổi hườm hườm, tuổi xế bóng, tuổi gió heo may đã về xem sao.
Tôi lần lữa hẹn. Phải già một chút nữa cho biết đã rồi mới dám viết chứ, phải không?
Không như nhà thơ nọ đo tuổi mình qua ánh mắt cố nhân, tôi đo tuổi mình qua cách xưng hô của các bà mẹ bế con đến khám bệnh.
Trước đây họ gọi tôi bằng anh, sau gọi bằng chú, rồi bằng bác, và rồi mới đây thôi, một chị hãy còn rất trẻ đưa bé đến khám bệnh, lúc bé la khóc, chị dỗ nín đi, nín đi cho ông ngoại khám con, thì tôi mới biết mình đã lên đến ông ngoại rồi mà không hay.
Tôi hỏi theo thói quen chị là gì của cháu, chị trả lời ngon ơ, dạ, bà ngoại.
Nhìn ngắm mình, nhìn ngắm bạn bè mình mới bật cười cái
“Ôi cát bụi tuyệt vời” mà thầm cám ơn anh bạn nhạc sĩ họ Trịnh đã nói giùm mình nhiều quá.
Một người bạn nghe, bảo này đừng có mà hù doạ người ta đó nghe, đừng có làm cho người ta sợ hãi, làm cho người ta thấy ra sự thật phũ phàng đó nghe…
Còn một người bạn khác thì khuyên cứ nói rõ ra, thà biết trước còn hơn, biết trước để chuẩn bị tâm lý và để thích nghi, để điều chỉnh.
Phải, chấp nhận, thích nghi, điều chỉnh như dòng sông kia vẫn đứng im mà chảy mãi, biết thích nghi, tự điều chỉnh mình qua bao thác ghềnh để nhập vào biển khơi.

Khả năng thích nghi, điều chỉnh ấy là khả năng của một sức khoẻ lành mạnh, xứng đáng cho một tuổi già lành mạnh, cho nên, không phải cứ chờ thật già mới viết cho tuổi chớm già, mà ngay giờ đây vừa gậm nhấm nó, vừa rình rập nó, quan sát nó và ghi lại,
Không phải nó chỉ là mình mà là của tất cả bạn bè chung quanh rồi sắp xếp lại, biết đâu mua vui cũng được một vài trống canh?.
Vậy, hỡi những người bạn yêu qúy của tôi, xin hãy vui với những dòng chữ chân tình này, và nếu có bực mình thì cứ tự nhủ làm gì có, hù doạ đó thôi….
Còn nếu có bắt gặp hình ảnh chính mình trong những dòng chữ này thì cũng hãy mỉm cười mà thứ lỗi…

Vì sáng hôm nay, một chút gió heo may đã về, những chiếc lá vàng đã rơi lác đác trên những con đường thành phố, một mùi gió bấc quen thuộc đã len vào giữa những hàng cây….

BS Đỗ Hồng Ngọc
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Có con đường nào còn vắng dấu giày ta?

Đỗ Trung Quân

Thỉnh thoảng đi qua đường Lý Tự Trọng lại cười khẽ một mình. Cú tròn mắt của người bên cạnh dễ hiểu lắm “gã này hâm“. Đường Gia Long cũ của Sài Gòn chưa cũ lắm… 40 năm trước lấy của hắn vô số dép, cuốc bộ trên vỉa hè đi học là phải ném vài chùm me rất “gợi cảm” trên đầu. Kết quả: Me còn – dép mất. Chân đất đến trường. Về nhà tất nhiên lãnh vài roi mây của ông chú tàn ác.

Thêm vài năm sau nữa thành gã Tú Tài đôi. Gặp một anh cao gầy, tóc tai bờm xờm, ăn mặc lôi thôi người gốc Biên Hòa, hắn lớn hơn mình vài tuổi, thành danh khi chưa quá 30. Nguyễn Tất Nhiên – kẻ để lại trên con đường Gia Long này những câu thơ tình không ướt át, nó kiêu bạc bất ngờ

“Tình cũng khó theo thời cơm áo khó
Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần…
[đi dưới vòm me đường Gia Long]


thi sĩ luộm thuộm, giang hồ lại đi yêu cô tiểu thư gốc Bắc. Thất tình là cái chắc nhưng sau những hờn giận oán thù

Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc
Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền
Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang
Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt …


Nàng gái Bắc tên Duyên xinh đẹp và ngoan đạo cũng lưu danh mãi mãi trong nhạc và thơ [Thà như giọt mưa – Phạm Duy].


Bây giờ những tối khuya khoắt, ngồi vỉa hè Gia Long nhìn mưa đêm thành phố. Hè phố vắng, mặt đường ướt sũng. Cô độc, mà không cô đơn. Mưa mặc mưa. Trùm áo mưa ngồi trong mưa ly rượu cũng tràn mưa với vài người bạn đến tận khuya khoắt. Con phố nào đi ngủ chẳng đáng yêu. Ô cửa sổ khép hờ hắt ánh đèn vàng - con mắt thức khuya buồn nhưng ấm.
Thành phố này còn bao nhiêu con đường in dấu giày ta?

Duy Tân – Phạm Ngọc Thạch nhé. Hàng cây sao hay thả những cơn mưa chong chóng bay vào tận cửa sổ phòng làm việc của một anh nhà báo trẻ. Tòa soạn một tờ báo từng làm việc thời 25 tuổi nằm ở con đường này.Khi cao ốc chưa xây, những biệt thự màu vôi vàng cổ kính tĩnh lặng nép mình sau những tàng khế hoa tím trước cổng, trong sân. Những ngõ sâu im lìm trong nắng trưa, mặc hàng rào cứ dần cháy đỏ những chùm lá Trạng Nguyên. Trưa nào cũng êm đềm như bầu trời cư xá. Con đường với Chiếc dù che màu tím nào đó từng đi qua đây để ông nhạc sĩ đa tình Phạm Duy vớ được, dại gì không mang ngay vào nhạc… "con đường Duy Tân cây dài bóng mát …” thời sinh viên ai chả hát lệch cả mồm.

Con đường tình chúng ta đi nó đấy. Người thiếu nữ ngày xưa chắc đã xếp chiếc dù màu tím vào ngăn lãng quên? Chàng thanh niên ngày nào vẫn còn đi qua con đường ấy chỉ khác tí: Hắn đã già.

"Này em anh đã già
Tuổi cao thiếu sức khỏe
Chỉ sống với trái tim cằn khô…
[Phạm Duy – Bình ca 1].


Thành phố này còn bao nhiêu con đường in dấu giày ta? Đơn giản thôi, kẻ lớn lên ở đây hàng chục năm bao nhiêu dâu bể, biến động thời cuộc hắn cũng có ra khỏi Sài Gòn đâu. Thằng bé thả diều thành thanh niên. Anh thanh niên thành gã trung niên. Gã trung niên thành lão điên điên…

Bây giờ, đôi khi nhớ phố tìm ra vỉa hè Nguyễn Trung Trực ngồi với ly bia nhìn Sài Gòn dần chìm vào đêm. Trước khi tĩnh lặng thành phố thở những hơi dài Trompet. Mùi gió sông, những vỉa hè ồn ào nhịp sống khác, Sài Gòn không bao giờ ngủ. Nếu có, nó chỉ thiu thiu khép hờ mí mắt. Khu phố Tây Phạm Ngũ Lão – Đề Thám những con mắt đêm chong sáng với đồng tử nhiều màu. Đa quốc tịch. Ở đấy, trong một đêm cuối năm mưa trái mùa. Có kẻ liêu xiêu trong hơi rượu nhẹ, thấy đôi chân về khuya lấp lánh dấu lân tinh trên mặt đường loang ướt ánh đèn màu.

Ánh đèn quảng cáo loang trên mặt đường
Sau cơn mưa muộn
Ta nhảy một điệu nhảy cổ xưa trên mặt lộ
Thây kệ người đi đường
Ta nhảy trên đôi giày sũng ướt
Đẫm màu…
Đêm Sài Gòn mờ hơi sương lạnh
Quán bar bên kia đường sắp đóng cửa
Chẳng sao
Ta nhảy
Một điệu nhảy không biết tên gì trên mặt lộ
Một mình
Nhảy...
Nhảy...
Và nhảy...
Vòm me còn sót lại vắt rũ rượi mảnh trăng non mềm oặt như chân ta
Nhảy, nhảy và nhảy...
Anh cảnh sát giao thông kè xe quát một phát
“Hê! Cha nội có xỉn không?
Leo lên lề giùm con đi ông!”
Ta nhảy
Nhảy...
Và nhảy...
Một điệu nhảy mơ hồ như kiếp trước
Hai bàn chân đẫm màu
Rực sáng...
Vết lân tinh...
Quán bar bên kia đường điệu Blues đã tắt
Tiếng kèn khàn...


Image
Tóc bum bê. Sài Gòn 1973...
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

LÒNG TỰ TRỌNG CỦA CON CHÓ

Ngô Nhược Tăng

Loài chó còn biết tự trọng hơn con người - câu nói này rất đúng với những người đạo đức giả, nhất là với các người tham nhũng, vừa bóp nặn vơ vét tiền của dân, vừa lên mặt lãnh đạo dân.
Năm ấy tôi quen một huấn luyện viên dạy chó nghiệp vụ trong quân đội. Tôi hỏi anh: Loại chó thông minh nhất có thể đạt được tới trình độ như thế nào? Anh trả lời: Trừ chuyện không biết nói ra, chúng không khác gì người. Câu trả lời của anh khiến tôi sửng sốt. Tôi hỏi tiếp: Phải chăng câu này của anh có lẫn lộn nhiều màu sắc tình cảm? - Không đâu! Anh nói.
Rồi anh kể cho tôi nghe dăm ba câu chuyện về loài chó, đều là những chuyện chính anh từng trải qua. Có mấy chuyện tôi đã quên mất rồi, duy chỉ có một chuyện sau đây thì cho đến nay tôi vẫn còn nhớ như in.
Trong doanh trại của anh có một con chó cực kỳ thông minh tên là Đen. Để trắc nghiệm năng lực phản ứng của nó, một hôm mấy huấn luyện viên dạy chó nghĩ ra một biện pháp đặc biệt. Họ chọn hơn chục người xếp thành một hàng, sau đó cử một người trong số đó vào trong doanh trại “lấy cap”(' một vật đem giấu đi, rồi lại trở về đứng trong hàng. Khi mọi việc đã xong xuôi, huấn luyện viên dạy chó dắt con Đen đến, bảo nó đi tìm vật bị mất. Con Đen chạy đi, chỉ một loáng sau đã thấy nó ngoạm vật kia mang đến. Huấn luyện viên dạy chó cả mừng vỗ vỗ lên đầu nó tỏ ý khen ngợi. Rồi anh chỉ tay vào hàng người kia, bảo con Đen đi tìm kẻ đã lấy cắp vật ấy. Nó chạy đến dí mũi hít hít ngửi ngửi hết người này đến người khác, chẳng mấy chốc đã cắn quần một anh lôi ra ngoài hàng, đúng là anh “kẻ cap”(' kia.
Phải nói rằng như vậy con Đen đã hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ được giao, thế nhưng huấn luyện viên dạy chó lại cứ một mực lắc đầu bảo nó: Không, không phải người ấy! Tìm lại đi!
Con Đen tỏ ý hết sức ngạc nhiên, mắt nó ánh lên nỗi nghi hoặc, thắc mắc, vì nó tin chắc rằng mình không hề tìm nhầm người; nhưng mặt khác nó lại tuyệt đối tin tưởng vào huấn luyện viên của mình. Đây, đây là chuyện thế nào nhỉ? - nó nghĩ. Không phải người ấy! Đi tìm lại đi! Huấn luyện viên cứ khăng khăng bảo. Con Đen tin vào huấn luyện viên, nó quay lại tìm... Nhưng sau nhiều lần thận trọng ngửi đi ngửi lại, cuối cùng nó vẫn cứ cắn quần anh chàng kia lôi ra. Không! Không đúng! Huấn luyện viên lại lắc đầu. Tìm lại đi!
Con Đen mỗi lúc một thêm nghi hoặc, đành chạy lại chỗ hàng người kia. Lần này nó đánh hơi ngửi rất lâu, rất lâu để xác định ai là kẻ cắp. Sau cùng, nó đứng lại bên cạnh anh “kẻ cap”(' kia rồi quay đầu nhìn huấn luyện viên, tỏ ý - tôi cảm thấy chính là người này đây... Không! Tuyệt đối không phải người ấy! Huấn luyện viên lại quát to, nét mặt trở nên nghiêm nghị.
Lòng tự tin của con Đen bị đập tan tành. Dĩ nhiên nó tin vào huấn luyện viên hơn là tin vào bản thân nó. Rốt cuộc nó bỏ tên kẻ cắp kia và đi tìm người khác. Nhưng người khác... đều không đúng mà?
Nó ở trong hàng người ấy đấy! Mau tìm ra ngay! Huấn luyện viên quát lên.
Con Đen vô cùng thất vọng chán nản. Nó dừng lại bên chân mỗi người một lúc, nhìn nhìn ngó ngó xem người đó có giống tên kẻ cắp hay không, rồi quay đầu nhìn ánh mắt của huấn luyện viên, hy vọng có thể tìm thấy chút ít tín hiệu hoặc biểu thị gì đấy... Cuối cùng, khi nó nắm bắt được một chút xíu biến đổi trong ánh mắt của huấn luyện viên, nó cắn quần người đứng bên cạnh và kéo ra.
Tất nhiên, lần này thì nó đã nhầm.
Nhưng huấn luyện viên của nó cùng mấy người kia thì lại cười ha hả. Tiếng cười khiến con Đen trở nên lú lẫn. Sau cùng huấn luyện viên gọi “kẻ cap”(' bước ra ngoài hàng, rồi bảo con Đen: Lần đầu mày tìm đúng rồi, nhưng mày sai ở chỗ không kiên trì mình đúng...
Một điều khiến huấn luyện viên và tất cả mọi người có mặt lúc ấy không thể hiểu được và vô cùng kinh ngạc, vô cùng ân hận, là ngay trong khoảnh khắc ấy họ đã nhìn thấy: Khi con Đen hiểu ra chuyện vừa rồi là một vụ lừa dối, nó “ngoao”` lên một tiếng vô cùng đau khổ, mắt ứa ra những giọt nước mắt nóng hổi. Sau đấy nó ủ rũ gục đầu nặng nề, thui thủi từng bước bỏ đi...
Đen! Đen! Mày đi đâu thế hả? Huấn luyện viên sợ hãi đuổi theo hỏi tới tấp.
Con Đen chẳng hề đoái hoài tới người rèn dạy nó, cứ cắm cúi đi ra khỏi doanh trại.
Đen! Đen! Tao xin lỗi mày! Huấn luyện viên oà lên khóc.
Nhưng con Đen chẳng hề xúc động, nó không thèm ngoái lại nhìn chủ mình.
Đen! Đừng giận! Tao chỉ đùa mày một tí thôi mà! Huấn luyện viên chạy đến ôm chặt lấy con chó, nước mắt nóng hổi từ mặt anh lã chã rơi xuống con Đen.
Con chó giãy giụa tuột ra khỏi vòng tay của huấn luyện viên, rồi nó thủng thẳng, lừ đừ từng bước đi lên quả đồi ở bên ngoài doanh trại, tìm một chỗ khuất gió xoài bốn chân nằm xuống đất.
...
Mấy ngày sau đấy con Đen không ăn không uống, ủ rũ chán chường. Mặc cho huấn luyện viên dỗ dành, nựng nịu thế nào đi nữa, nó cũng nhất định không chịu tha lỗi cho anh.
Lúc bấy giờ mọi người mới hiểu ra: Dù chỉ là con chó thôi, nó cũng cần sự tự trọng của mình!
Hoặc nói ngược lại, chúng còn biết tự trọng hơn con người!
...
Chuyện về sau ư? Sau này con Đen không còn tin tưởng vào huấn luyện viên của nó nữa, thậm chí không tin bất cứ người nào. Đồng thời tính tình của nó cũng thay đổi hẳn, mắt không còn sáng quắc như trước, bốn chân không còn phi như bay nữa, mất hẳn dáng vẻ oai vệ dữ dằn của một con chó nghiệp vụ... Cuối cùng, huấn luyện viên chẳng còn cách nào nữa, đành đau xót cho nó giải nghệ.
...Ôi, con Đen, chao ôi!*

Nguyễn Hải Hoành
dịch
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Thiên đàng và địa ngục

Huy Phuong
“Bọn chúng ta hèn như bầy thỏ đế
Khổ đau chia, khi sung sướng một mình
Lúc lửa đỏ bèn cao bay xa chạy
Còn nhớ gì nghĩa huynh đệ chi binh!” (HP)
(Viết cho những hội cứu trợ thương binh)

Nhà văn Ba Tây, Paolo Coelho có một câu chuyện kể được xếp hạng là một trong những câu chuyện hay, đại khái như sau:

Một người đàn ông đang rong ruổi trên một con đường cùng hai con vật bạn đường thân yêu là một con ngựa và một con chó. Chẳng may họ bị sét đánh và cả ba đều qua đời, tuy vậy người đàn ông không biết mình đã chết, linh hồn của người và vật vẫn tiếp tục con đường của mình đi. Con đường dài và gian nan, người và vật phải qua bao nhiêu ngọn đồi dưới cơn nắng cháy da, họ đổ mồ hôi nhễ nhại và vô cùng khát nước. Vừa qua khỏi một ngọn đồi, trên một triền núi, người lữ hành trong thấy một lâu đài tráng lệ, bèn đến gõ cửa. Ông nói với người gác cổng:

- Thưa ông, cho phép tôi hỏi, lâu đài đẹp đẽ này gọi là gì?
- Ông không biết đó thôi. Nơi này gọi là Thiên Ðàng.

Trong hoàn cảnh của người và vật bấy giờ, Thiên Ðàng hay Ðịa Ngục đối với họ không là gì cả, họ chỉ cần nước:

- Chúng tôi hoàn toàn kiệt sức và cần nước uống, tôi có thể vào đây để xin nước uống được không.
- Vào đây, ông muốn uống bao nhiêu nước cũng được, và muốn gì cũng có.

Người gác cổng mở cửa cho người lữ khách bước vào nhưng khi hai con vật bạn đường của ông tiến lên, người gác cổng ngăn chúng lại:

- Chỉ mình ông thôi, hai con vật này không được vào đây.

Nghe vậy người lữ khách đứng sững lại. Mặc dầu khát khô cổ họng, ông không thể uống nước một mình. Ông cám ơn người gác cổng và mệt mỏi kéo hai con vật rời khỏi lâu đài.

Họ lại đi qua mấy ngọn đồi cát, gần như kiệt lực, cuối cùng thấy một chiếc cổng đã cũ nát, dẫn vào một con đường có bóng mát và trồng đầy hoa. Tiếng động của họ đánh thức một ông già đang nằm ngủ dưới gốc cây. Người lữ khách lên tiếng:

- Chào ông, chúng tôi quá khát nước, hai con vật này cũng vậy.
- Có một con suối sau tảng đá kia, ông muốn uống bao nhiêu cũng được.

Sau khi đã no nê với những ngụm nước mát, họ trở lại con đường gặp ông già để cám ơn.

Ông già nói:

- Không có gì, chừng nào thấy khát thì quý vị cứ trở lại đây!
- Ðây là đâu? Thưa ông?
- Ðây là Thiên Ðàng!

Người lữ khách ngạc nhiên:

- Ðằng kia người ta cũng nhận đó là Thiên Ðàng. Mình có thể nào ngăn chận một sự lạm danh như thế này không?
- Không cách nào cả ông ạ! Thật ra họ cũng chấp nhận một đặc ân lớn cho những ai có thể bỏ được bạn bè tốt nhất của mình, đều ở lại đó hết!

Ðừng bao giờ bỏ bạn bè của chúng ta, những người bạn chân thật đã cho chúng ta sự yêu thương và đồng hành. Ðừng bao giờ bỏ rơi họ, đừng bao giờ! Trên đời này có một người bạn là được một ân huệ. “Có được một người bạn là được một món quà. Giữ gìn và không bỏ bạn đạo đức. Ðược làm bạn của một người bạn là một vinh dự”.

Vậy mà chúng ta ra đi vào cổng “Thiên Ðàng” uống nước một mình, để lại biết bao nhiêu người gọi là “chiến hữu”, là “đồng ngũ”, là “huynh đệ chi binh”- danh xưng đó còn cao hơn cả tình bạn bè- mơ một ngụm nước giữa cơn khát cháy khô cổ họng. Tháng 4-1975, chúng ta đã có bao nhiêu anh hùng liệt sĩ hy sinh cho tròn danh tiết, như người hạm trưởng không bỏ con tàu lúc lâm nguy. Dần dà chúng ta còn tìm ra không biết bao nhiêu con người dũng cảm khí phách như Nguyễn Ðình Chi tự sát tại nhiệm sở, như Nguyễn Văn Long nổ phát súng vào đầu giữa công trường trong ngày Saigon thất thủ, như Nguyễn Hoàng Ân lao máy bay xuống biển không để lọt vào tay giặc khi phải bỏ miền Trung, như những người lính vô danh choàng tay chụm đầu chia nhau những mảnh đạn trên bãi biển Tư Hiền hay ở ngã ba Ông Tạ trên đường rút quân. Không phải ai cũng hành động được như họ. Họ không nỡ bỏ nhau, họ không thể bỏ bạn bè.

Nhưng chúng ta bỏ lại quá nhiều chiến hữu sau lưng. Nhiều người mất xác trong trại tù. Nhiều người chết ngoài biển Ðông. Chúng ta ra đi quá lành lặn, nhiều người còn đem theo của cải tích lũy từ máu xương của những người bạn đường cùng đi với chúng ta trong hai mươi năm. Chúng ta để lại hàng nghìn, hàng nghìn cô nhi quả phụ thương binh trong vùng đất địch. Ba mươi sáu năm nay, chúng ta đã thấy có vị tướng “công thành” nào nhớ đến “vạn cốt khô,” làm lấy một hành động có ý nghĩa cho những người “bạn đường” năm cũ đang giữa cơn đói khát nhục nhằn chưa? Kể cả một buổi lễ tưởng niệm, cầu siêu cho những người lính thuộc quyền ở lại chiến đấu anh dũng và chết oan khuất cho cấp chỉ huy lên máy bay lành lặn ra đi, cũng không thấy bóng dáng người tư lệnh năm xưa. Họ như “kẻ chăn chiên quay đầu chạy, bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng!” Nhiều người đã trở về trận địa cũ năm xưa, không phải để tìm lại những chiến hữu ngày tháng cũ mà để bắt tay với kẻ thù hay đi tìm lạc thú, xát muối thêm vào vết thương của người ở lại.

Và chúng ta đang vào một nơi gọi là Thiên Ðàng để được sung sướng một mình. Những người lương thiện khi bỏ bạn bè, dù đang được no ấm, cũng có cảm tưởng mình đang ở địa ngục.

Thiên đàng như vậy phải chăng là nơi chúng ta có bạn bè và không bao giờ bỏ bằng hữu.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Thiền sư Ajahn Brahm
Image
HAI THỨ TỰ DO


Có hai thứ tự do trong cuộc đời này: tự do thỏa mãn các dục vọng và tự do thoát khỏi những dục vọng.
Nền văn hóa phương Tây hiện đại chỉ công nhận loại tự do đầu tiên, tự do thỏa mãn dục vọng. Và nó tôn thờ loại tự do ấy bằng cách đưa lên trang đầu các bản hiến pháp và tuyên ngôn nhân quyền. Người ta có thể nói rằng tín điều căn bản của hầu hết các nền dân chủ phương Tây là cố hết sức bảo vệ quyền tự do thỏa mãn mọi dục vọng của con người. Nhưng điều đáng chú ý là trong những đất nước như thế người ta không cảm thấy tự do cho lắm.
Loại tự do thứ hai là tự do thoát khỏi dục vọng, chỉ được ca ngợi trong một vài cộng đồng tôn giáo.Ở đó người ta ca ngợi sự bằng lòng, bình an, giải thoát. Điều đáng chú ý là ở những nơi thanh bần như thế, như ở tu viện của chúng tôi, người ta cảm thấy tự do.


Các bạn mong muốn thứ tự do nào?
Một hôm có hai vị sư người Thái được mời thọ trai ở nhà một cư sĩ. Trong phòng khách nơi họ được mời vào và ngồi chờ có một bể nuôi nhiều loại cá. Vị sư nhỏ tuổi hơn tỏ ý không bằng lòng vì việc nuôi cá trong bể là không hợp với giáo lý từ bi của Phật giáo. Việc ấy cũng giống như nhốt cá vào tù vậy. Lũ cá đã làm gì đáng phải bị giam giữ trong một nhà tù bằng kính như vậy? Chúng cần được tự do bơi lội trong dòng sông hay ao hồ tùy thích. Tuy nhiên, vị sư thứ hai không đồng ý. Vị ấy lý giải rằng, quả là những con cá ấy không được tự do theo đuổi sở thích riêng của chúng, nhưng sống trong bể thì chúng thoát khỏi nhiều mối nguy cơ. Rồi vị ấy liệt kê ra các loại tự do ấy như thế này:
1. Có bao giờ quí vị thấy người đi câu buông câu trong một bể cá trong nhà? Chưa! Vậy thì tự do đầu tiên mà những con cá kia có được là không bị người đi câu đe dọa. Hãy tưởng tượng hoàn cảnh của cá trong tự nhiên. Khi chúng thấy một con sâu béo mập hay một con ruồi ngon lành chúng không thể biết chắc là đớp mồi có an toàn hay không. Chắc chắn là chúng đã từng trông thấy bà con hay bạn bè nuốt một con sâu trông ngon lành rồi đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời của chúng vĩnh viễn. Đối với một con cá trong tự nhiên, việc ăn chất chứa nhiều nỗi hiểm nguy và thường kết thúc một cách bi thảm. Bữa ăn đem đến tai họa. Ắt hẳn con cá nào cũng bị chứng khó tiêu mãn tính do luôn luôn lo lắng, và con nào bị bệnh thần kinh hoang tưởng chắc là nhịn đói tới chết luôn. Cá trong tự nhiên có thể bị mắc bệnh tâm thần hết. Còn cá trong bể được tự do khỏi mối hiểm nguy này.
2. Cá trong tự nhiên thường lo bị cá lớn nuốt. Thời buổi này ở nhiều sông, lội ngược dòng vào ban đêm ắt hẳn không còn an toàn như trước! Thế nhưng không có người nuôi nào lại thả những con cá lớn vào để ăn những con cá mình nuôi. Vậy thì những con cá trong bể thoát khỏi mối hiểm nguy bị cá lớn ăn thịt.
3. Trong tự nhiên, có những lúc cá có thể không tìm được thức ăn. Còn cá trong bể thì như thử sống gần một nhà hàng vậy. Cứ ngày hai lần, bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng được giao đến tận nơi, còn hơn là đặt mua bánh pizza giao tại nhà vậy vì không phải trả tiền. Cho nên những con cá trong bể không bị cái đói đe dọa.
4. Khi bốn mùa thay đổi, sông hồ phải chịu những nhiệt độ khắc nghiệt. Vào mùa đông thì lạnh buốt, có thể bị băng tuyết che phủ. Vào mùa hè có thể rất nóng, thậm chí là nước bị cạn khô. Còn cá trong hồ thì cứ như ở trong phòng có máy điều hòa hai chiều. Nhiệt độ trong bể luôn được giữ không thay đổi và dễ chịu suốt ngày, quanh năm suốt tháng. Như thế, con cá trong bể có được tự do thoát khỏi thời tiết nóng lạnh thất thường.
5. Trong tự nhiên, khi cá bị bệnh, chẳng có ai săn sóc, điều trị. Còn cá trong bể thì được bảo hiểm y tế. Khi có ốm đau, chủ nhà liền mời thầy thuốc đến khám bệnh, mà cũng không cần phải đi bệnh viện nữa. Như thế con cá trong bể được tự do khỏi mối nguy cơ không có bảo hiểm y tế.
Vị sư lớn tóm tắt lại lập luận của mình. Làm thân cá trong bể được hưởng nhiều thuận lợi. Quả thật là chúng không được tự do theo đuổi các sở thích của mình và bơi đi đây đi đó, nhưng chúng thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nỗi khó chịu.
Vị sư lớn tiếp tục giải thích rằng đời sống của những người sống cuộc đời đạo hạnh cũng như thế. Quả thật là họ không được tự do theo đuổi những dục vọng và thỏa mãn những mong muốn này nọ, nhưng họ thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nhiều điều khó chịu.
Còn bạn muốn thứ tự do nào?


Thế giới tự do
Một hôm, một vị sư ở tu viện của chúng tôi được thỉnh đi dạy thiền ở trong một nhà tù mới gần Perth, nơi mà tình hình an ninh được kiểm soát hết sức chặt chẽ. Một nhóm tù nhân đã trở nên quen biết và kính trọng thầy ấy. Vào cuối một thời pháp thoại, họ bắt đầu hỏi thầy về nếp sống hằng ngày trong một tu viện Phật giáo.
Thầy trả lời: “ Buổi sáng chúng tôi thức dậy lúc 4 giờ. Đôi khi cũng lạnh lắm vì phòng chúng tôi không có máy sưởi. Chúng tôi ăn mỗi ngày một bữa, tất cả thức ăn đều bỏ chung vào một bình bát. Vào buổi chiều và tối chúng tôi không ăn. Dĩ nhiên là cũng không có chuyện sex hoặc rượu chè. Chúng tôi cũng không có vô tuyến truyền hình, truyền thanh, hay âm nhạc. Chúng tôi không bao giờ xem phim, mà cũng không chơi thể thao. Chúng tôi nói ít, làm việc nhiều, và dành thời gian rảnh ngồi tọa thiền, theo dõi hơi thở. Chúng tôi ngủ trên sàn nhà.”
Những người tù tỏ ra hết sức ngạc nhiên về sự kham khổ của nếp sống tu hành. So sánh với tu viện, thì nhà tù hết sức nghiêm nhặt này trở thành một khách sạn năm sao. Quả thật, một người tù đã quá thương cảm hoàn cảnh thanh bần của vị sư đồng môn của tôi đến độ quên khuấy là mình đang ở đâu và anh ta chợt nói, “ Sống trong tu viện cực khổ quá. Hay thầy đến ở đây với chúng con đi!”
Mọi người trong phòng ai cũng bật cười. Tôi cũng bật cười khi nghe thầy ấy kể lại câu chuyện. Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ:
Quả thật tu viện của tôi kham khổ hơn cả nhà tù khắc nghiệt nhất, tuy nhiên nhiều người tự nguyện đến đây và họ cảm thấy hạnh phúc. Trong khi đó, nhiều người lại muốn thoát khỏi nhà giam kia, và không cảm thấy hạnh phúc ở đó. Tại sao như thế?
Bởi vì các thầy muốn sống ở tu viện, còn phạm nhân thì không muốn ở tù. Sự khác nhau là ở chỗ đó.
Bất cứ nơi nào mà bạn không muốn ở thì dù cho có tiện nghi đến đâu chăng nữa, đối với bạn, nó cũng là một nhà tù. Đây là ý nghĩa thật sự của chữ “tù”. Nếu bạn đang làm một công việc mà mình không thích thì bạn cũng đang ở tù. Nếu bạn đang có một mối quan hệ mà mình không mong muốn thì các bạn cũng đang ở tù. Nếu các bạn đang ở trong một thân thể ốm đau bệnh hoạn mà bạn không muốn thì thân thể ấy cũng là một nhà tù đối với bạn. Nhà tù là bất cứ một hoàn cảnh nào mà bạn không muốn mà lại dính mắc vào.
Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi các nhà tù của cuộc đời?
Dễ thôi. Hãy thay đổi quan niệm về hoàn cảnh mà bạn đang sống. Thậm chí là ở ngay nhà tù San Quentin, hay thua một chút là ở tu viện của chúng tôi đi, mà bạn thấy muốn sống ở đó thì nơi ấy không còn là một nhà tù đối với bạn nữa. Bằng cách thay đổi quan niệm về công việc, về mối quan hệ, về thân thể ốm đau, bằng cách chấp nhận hoàn cảnh thay vì không ưa muốn, thì nó không còn là một nhà tù nữa. Khi các bạn bằng lòng thì các bạn được tự do.
Tự do là bằng lòng với nơi chốn mình đang ở. Nhà tù là nơi mình không muốn ở. Thế Giới Tự Do là thế giới mà người bằng lòng sinh sống. Tự do thật sự là giải thoàt khỏi dục vọng chứ không bao giờ là tự do thỏa mãn dục vọng.

Trần Ngọc Bảo
trích dịch
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nhà Văn Huy Phương, Cây Thánh Giá Và Đường Khổ Ải

Nguyễn Xuân Nghĩa


Kính thưa quý vị, việc chúng tôi lên đây phát biểu thật ra là một tai nạn!


Ít ra là tai nạn cho tôi vì chẳng ai dự trù, chính chúng tôi cũng vậy, khi còn ngổn ngang nhiều việc khác, kể cả Giai phẩm Xuân Việt Báo năm Nhâm Thìn. Nhưng mong rằng tai nạn của mình không là cái vạ cho quý vị khi quý vị ưu ái đến tham dự buổi ra mắt ngày hôm nay.


Trong một phút nghiêm túc như một nhà giáo, trước khi miên man nói mà không cần nhìn vào đồng hồ hay xuống bãi đáp, tôi xin trịnh trọng trình bày tóm lược nội dung phát biểu. Ít ra cũng là cái khung cho mình khỏi lạc đề làm quý vị thấy não nề.
Từ sự chủ quan của mình, chúng tôi xin lần lượt nêu hai câu hỏi:
- Vì sao Huy Phương viết Tạp Ghi?
- Huy Phương viết như thế nào?
Nhưng câu mở đầu vẫn là vì sao chúng tôi đứng ở đây!
***
Người bạn thân của chúng tôi là Đinh Quang Anh Thái gặp vấn đề về tổ chức buổi ra mắt cuốn "Quê Nhà Quê Người", tuyển tập Tạp Ghi thứ sáu của Huy Phương. Anh Thái bèn nhớ đến bạn mà điện thoại cho tôi. Như một cầu thủ bóng tròn đầy phong độ, anh đã "trao trả gắn bó" và tung máy cho Huy Phương nói chuyện. Thế là tôi kẹt và phải thoái thác.
Nhưng duyên nghiệp đưa đẩy thế nào mà đúng lúc đó tôi lại nhìn thấy cái tượng nhỏ của ông thầy tôi, một nhà sư Tây Tạng đã viên tịch. Tôi nhớ đến lời thầy dạy, rằng ở đời phải biết làm việc có lợi cho người khác, chứ đừng tính toán từ quyền lợi của mình.
Và tôi bỗng dưng nhận lời, khi nói với Huy Phương, rằng "tôi là một Phật tử!" Chuyện lảng nhách!
Vì bộ chỉ có Phật tử mới làm chuyện ấy sao, khi chương trình ra mắt hôm nay có sự tham dự của một vị linh mục, Cha Joseph Nguyễn Thái của Trung Tâm Công Giáo!
Nhưng dù sao mặc lòng, tôi đã nhận lời vì tình bằng hữu và cái thiện tâm nhỏ nhoi của mình. Do đó, quý vị mới phải chịu khó nghe phần phát biểu này! Mong rằng đấy không là một tai nạn....
***
Cũng hoàn cảnh đó khiến tôi tự hỏi vì sao Huy Phương viết Tạp Ghi, rồi trả lời bằng yếu tố tôn giáo. Và xin nói trước là sẽ không giảng đạo. Tôi nghĩ đến cây Thánh giá.
Không là người Công giáo, tôi vẫn tin rằng ai ai trong chúng ta cũng có cây thánh giá trên mình. Người thì đeo trước ngực, đôi khi bằng quý kim có nạm kim cương nặng tới mấy carat. Người khác thì oằn minh với cây thánh giá bằng gỗ, bằng sắt, đôi khi còn có kẽm gai trên lưng.
Là một Phật tử, Huy Phương đã nhận cây thánh giá nặng nề, như phần nhiệm vụ của mình trong thời chiến khi nhập ngũ. Khi chiến tranh kết thúc thì vác thêm cây thánh giá còn nặng gấp bội, qua bảy năm bị tập trung cải tạo. Ra khỏi vùng đất u tối hãi hùng của quê hương và đặt chân lên nước Mỹ, ông tiếp tục bưng cây thánh giá, nay đã thành cây bút ngàn cân, để hàng tuần viết tiếp....
Nhưng khác với ngày xưa, Huy Phương không viết văn và làm thơ nữa, mà trở thành cây bút sâu sắc, bền bỉ và xuất sắc với thể loại tạp ghi.
Ông viết như người gánh vác nỗi trầm luân của người khác. Không phải là đứa con trai duy nhất của Đức Hùng Vương, mà có lẽ cũng chẳng bị Tổ Quốc đòi nợ, ông viết trong tinh thần làm tròn bổn phận của con dân và để duy trì được cái Việt tính cao quý mà thật ra rất mơ hồ của dân tộc.
Chúng ta có thể gọi đất là cái nghiệp. Chúng tôi xin gọi đây là cái duyên, cho chúng ta.
Chỉ vì giữa trăm ngàn câu hỏi lớn nhỏ hàng ngày về cách sống và suy nghĩ trong một môi trường hết còn là Việt Nam, Huy Phương vẫn điềm đạm, bền bỉ và duyên dáng nói về cách hành xử ông cho là thích hợp nhất, suy từ chuyện xưa qua chuyện nay, chuyện quê nhà và quê người.
Cho nên, theo thiển ý, Huy Phương viết mà không để làm văn và để có chỗ đứng trên văn đàn.
Ông viết vì sự thôi thúc vô hình của một quan niệm về đạo lý. Ông tiếp tục kê vai vào cây Thánh giá chung của cả dân tộc dù chẳng ai bắt, không ai đòi và dù nhiều người trau chuốt một cây thánh giá lấp lánh trên ngực. Động lực có thể là tình bằng hữu với các chiến binh Việt Nam Cộng Hoà, hay lòng yêu nước, hoặc sự ái ngại về quê hương, xã tắc, đồng hương, đồng bào....
Cũng có thể là một trí nhớ không hề nguôi ngoai về một Việt Nam lý tưởng chưa có mà đã mất.
Trí nhớ ấy mới là mảnh kim cương vằng vặc trong tim của tác giả.
Cho nên, nếu ra khỏi nỗi ám ảnh về cây Thánh giá mà nói theo người Phật tử, tôi xin liều lĩnh phát biểu rằng Huy Phương viết để "giải nghiệp", không phải cái nghiệp của bản thân mà cả cái "cộng nghiệp" của dân tộc.
***
Tôi xin bước qua câu hỏi thứ hai, tác giả viết như thế nào?
Mỗi người cầm bút lại có một động lực và hoàn cảnh sáng tác riêng. Với Huy Phương, và có lẽ từ trong vô thức, ông cầm bút như một nhà luân lý. Không phải vì ông từng là một nhà giáo mà có lẽ vì ông thấy bất bình về quá nhiều chuyện chung quanh nên viết là để phân định đúng sai.
Như đã tự ôm lấy một cây thánh giá, ông còn tự chọn lấy một chặng đường khổ ải.
Vì, như các cụ mình thường nói, "biết ai dại, biết ai khôn"? Và trong cái lẽ "thị phi biện biệt" của Phật giáo thì làm sao xác định cái đúng trong đời sống, nhất là đời sống bên Mỹ này, là môi trường hàng ngày của tác giả?
Một thí dụ là nước Mỹ có vô tình hay không? Thí dụ khác là ta nên sống theo hoàn cảnh mới, ở bên Mỹ này, hay vẫn cứ phải ngoái về quá khứ? Khi ăn cưới thì nên tránh thói tật gì, mà để làm chi, nếu không phải là tìm ra một luân lý hợp lý khác trong lối sống, trong hoàn cảnh mới?
Nói thì có vẻ lớn lao, chứ thật ra, Huy Phương có ý chí làm thay đổi cách sống và suy nghĩ của chúng ta để khỏi cúi đầu phản ứng mà chủ động hành xử sao cho tử tế hơn. Từ cái nhân đó trong tâm, ta mới hy vọng gieo mầm cho kết quả tốt đẹp hơn cho gia đình, cộng đồng và đời sống.
Nhưng khi là nhà luân lý như vậy thì người ta rất dễ gây động chạm.
Thay vì cùng đám đông ồn ào kêu gọi "xin quý vị cho một tràng pháo tay" để mọi người tâng bốc nhau trong tinh thần tự mê, Huy Phương viết thẳng ra những điều ông cho là sai. Cũng với tinh thần luân lý đó, tác giả phê phán chế độ đang cai trị Việt Nam hiện nay, không từ góc cạnh tư tưởng ý thức hệ như nhiều nhà lý luận về chính trị, mà từ giác độ của đạo lý con người.
Và quả nhiên là ông làm nhiều người phật ý vì đi ngược với đám đông. Khi nhiều người muốn sống theo lối "đừng lay tôi nhé cuộc đời", Huy Phương lại là người lay động. Và chấp nhận trả giá cho việc đó. Ông không chỉ có cái bi mà còn có cái dũng, là không sợ.
Cầm bút viết tạp ghi, mà lại viết đều đặn hàng tuần từ cả chục năm nay, chưa kể nhiều tiết mục khác phải hoàn tất trong ngày trong tuần, người viết nào cũng gặp vấn đề là chọn đề tài. Viết gì đây cho tuần này, nhất là trong những ngày không có thời sự hay tập quán lễ lạc làm cái đinh cái mốc cho bài viết?
Tôi thiển nghĩ rằng Huy Phương không gặp vấn nạn đó.
Lý do là lòng ông thường trực mở ra 360 độ, như một con cầu gai, để thấy bất cứ gì ở chung quanh cũng có thể là đề tài. Từ chuyện thi hoa hậu đến chuyện mấy ông sư ca hát trong chùa, từ chuyện tử tế của vợ chồng người Mỹ gốc Mễ ở ven bờ xa lộ đến cách người ta không thèm giữ cửa tự động cứ để bật vào mặt kẻ đi sau, v.v... chuyện gì ông cũng quy vào đạo lý Việt Nam và cách hành xử cho văn minh, nhân bản.
***
Kính thưa quý vị, đấy là vài đặc tính của Tạp Ghi Huy Phương mà bản thân chúng tôi nhìn ra từ sự chủ quan của mình.
Kết luận ở đây là "kết quả ra sao"?
Ra ngoài chợ, chứ không ở trong chùa hay trong nhà thờ, đôi khi ta có gặp nhiều người đứng đường giảng đạo, hoặc cảnh báo về ngày tận thế, hoặc kêu gọi loài người chấn hưng đạo đức.... Chúng ta phải kính trọng những người đó. Nhưng thường thì bước qua chỗ khác.
Tò mò lắm thì đứng xa xa để nghe. Hào phóng lắm thì lấy ra vài đồng quyên góp hay úy lạo và tự nhủ rằng hôm nay ta đã làm một việc thiện.
Nhưng như mọi người đều biết, và đã nói, về một hiện tượng gọi là sự mệt mỏi của từ tâm. Chán rồi cũng chẳng ai muốn nghe muốn hiểu thêm về sự hoạn nạn hay khổ ải của người khác. Hoặc tại sao chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ và hành xử? Số phận của các nhà luân lý thường là sự hẩm hiu, sự cô đơn giữa đám đông.
Huy Phương không gặp số phận đó.
Ngoài một tác phẩm văn chương, ông đã xuất bản sáu cuốn Tạp Ghi và sở dĩ còn xuất bản là vì còn có người đọc. Huy Phương không thuộc loại người ăn nên làm ra nên làm thơ, in lấy thơ mình để giúi vào tay người khác như một hình phạt. Ông có độc giả của ông.
Lý do là nhà luân lý này viết truyện rất hay, dẫn chuyện rất khéo, với nghệ thuật rất thâm thúy.
Mà trong lời phê phán thì vẫn có thái độ ái ngại, ân cần, một chủ đích hướng thiện. Cái tâm và cái tài của ông giải thích sự thành công đó. Độc giả không giận mà còn cám ơn ông về những nhắc nhở dí dỏm, những giai thoại mà mình nên biết và không thể quên.
Chúng ta rất mừng là trong cõi đời vật chất vàng thau lẫn lộn, trắng đen nhập nhòa này, cộng đồng chúng ta vẫn còn những cây bút như vậy. Đó cũng là một biểu hiện khác của văn minh.
Xin kính mừng tác giả, cảm tạ quý vị đã chịu khó theo dõi lời phát biểu này, và mong rằng mỗi người nên có một cuốn Tạp Ghi cho gia đình. Và vài cuốn khác cho những bằng hữu họ hàng mà mình quý trọng.

(Bài phát biểu hôm ra mắt cuốn "Tạp Ghi" của Huy Phương, chiều 19 Tháng 11 tại Hội quán Người Việt, miền Nam California.)
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »


Image

Hà Nội có Phố “Cam Đai”

- Nhiều người đàn ông thường úp mặt vào tường hay gốc cây trên các con phố Hà Nội đích thị bị mắc “bệnh đái đường”.
Bệnh không chỉ tàn phá... đường mà còn giết chết nhiều thứ vô hình khác.
“Triệu chứng lâm sàng” của “bệnh đái đường” thế nào, xin dạo một vòng qua các con phố Hà Nội sẽ được thấy tận mắt...


Đái bậy ở phố “Cấm Đái Bậy”

Con phố rất đẹp, mọc lên từ chợ 19.12, nối phố Hai Bà Trưng với phố Lý Thường Kiệt nhưng lại bị các cư dân hay qua đây gọi là phố “cấm đái bậy”. Phải mang cái tên đó bởi tuy chỉ dài 200m, nhưng con phố này “cõng” trên mình hơn chục cái biển “cấm đái bậy”. Những tấm biển và cả những dòng chữ viết tay cùng nội dung hiện lên rất dày trên hai bức tường chạy dọc phố. Cũng như muốn tìm rác hãy đến nơi có biển “cấm đổ rác”, ở Hà Nội, nơi nào xuất hiện chữ “cấm đái bậy” thì tại đó có rất nhiều người đái bậy.

Anh xe ôm đứng đầu đường bảo với tôi: “Trong vòng mười phút mà không có người úp mặt vào tường thì tôi xin bỏ nghề luôn”.

Chỉ 30 giây sau, một người đàn ông dừng xe máy, nhảy xuống tè ngay vào luống hoa cúc bên đường. Phía đầu phố Hai Bà Trưng, hai ba người đàn ông khác cũng dừng ôtô, điềm nhiên “xả”. Trong khoảng tám phút, tôi đã đếm được năm người tè ngay dưới tấm biển... “cấm đái bậy”.

Một quý ông mặc veston thản nhiên “tưới” vào luống hoa cúc, trở thành người thứ 39 tè bậy. “Người thứ 40 sẽ là ai nhỉ?” Tôi hỏi anh xe ôm. Anh xe ôm bảo: “Là tôi”, rồi bước tới bức tường cạnh khách sạn Melia và “xả”. Xong, anh ta cười: “Ở quê quen tiểu đồng, giờ thì tiểu phố chứ biết đi vào đâu. Anh cứ đứng đó sẽ trở thành người thứ 41”.

Vắng, không hàng quán, lại có nhiều bụi hoa che lấp bên hai bức tường, con phố “cấm đái bậy” này trở nên rất thuận tiện cho những ai không biết xả chỗ nào. Thế nên, nhiều người nước ngoài ở khách sạn năm sao Melia ngay cạnh đứng thứ trên tầng cao nhìn xuống, không hiểu vì sao lại có nhiều người đàn ông úp mặt vào tường đến vậy. Có em bé mẹ chở ngang phố ấy cũng thắc mắc: “Mẹ ơi, mấy chú kia bị cô giáo phạt hay sao mà cứ đứng úp mặt vào tường?”

Lại có chuyện một ông khách du lịch người nước ngoài đến thủ đô ta đã thắc mắc: “Tôi đã đi thăm hai vịnh rất nổi tiếng ở Việt Nam là “Ha Long bay” và “Cam Ranh bay” nhưng chưa biết “Cam dai bay” nằm ở đâu? (từ “bay” trong tiếng Anh nghĩa là vịnh)

Tôi đã cảm thấy choáng khi nhìn thấy những người đàn ông úp mặt vào bức tường và đưa tay vẩy vẩy ở trước cổng Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Trên con đường gốm sứ dài nhất thế giới vừa khánh thành vào dịp ngàn năm Thăng Long, khách đi đường thản nhiên “tưới... nước trong lòng” vào những hoa sen, chim lạc... Thứ nước ấy cũng đã chảy xuống những gốc cây bên hồ Gươm vào những đêm sáng đèn đường.

Bất cứ chỗ nào kín đáo một chút ở trên phố, người ta đều có thể “giải quyết nỗi buồn”. Chuyện thật như đùa: có ông đã phê phê bia rượu, dừng ôtô trên đường cao tốc, vẫn để nổ máy và đi ra phía lốp sau để “xả”. Khi đang “xả” thì có kẻ lẻn vào mở cửa lái xe đi mất hút. Lại có kẻ đang đái bên đường sắt thì đoàn tàu đi ngang chia cắt người một bên, xe máy một bên. Khi tàu đi qua thì không thấy xe máy đâu nữa. Đến trình báo, công an hỏi: “Có ai làm chứng việc anh mất cắp xe máy không?” Anh này trả lời: “Có cả đoàn tàu Bắc – Nam chứng kiến ấy chứ”.

Chuyện đái đường bị trả giá đắt như vậy cũng thỉnh thoảng xảy ra nhưng “bệnh” vẫn ngày càng tăng. Đái đứng, đái ngồi, lại thêm độc chiêu đái nằm. Một ngày đẹp trời ở trong công viên Thống Nhất, tôi thấy có ông già nằm trên ghế đá, có vẻ như đang thiu thiu ngủ. Nhưng một vòi nước cầu vồng bỗng tuôn chảy từ ghế đá. Xung quanh, công viên vẫn nhiều người qua lại, có cả bảo vệ đeo băng đỏ mà chẳng ai phát hiện ra.

Sức tàn phá của “bệnh đái đường”

Những ai từng đái đường đều “trần tình” rằng làm cái việc đó ở thành phố quả thật vạn bất đắc dĩ, khổ ải chứ chẳng xếp được vào “tứ khoái”.

Trên vườn hoa gần đường Lý Thánh Tông, một bác xe ôm sau khi đã “xả” vào gốc cây, lắc đầu bảo: “Chẳng muốn đái bậy đâu, nhưng ngặt vì muốn làm người lịch sự cũng khó, ở đây không tìm đâu ra nhà vệ sinh công cộng, mà cứ nhịn mãi thì vỡ bàng quang mất. Các ông lịch sự cứ thử ra phố đi bộ một buổi sáng xem ở Hà Nội này có bao nhiêu nhà vệ sinh công cộng?”

Nỗi “khổ tâm” ấy chưa giải quyết được nhưng trên thực tế, hậu quả của nó có sức tàn phá vượt xa hình dung của nhiều người. Một ngày nọ, cây đa trên phố Lò Đúc bỗng nhiên bật gốc. Cư dân quanh đó không hiểu vì sao cây đa cổ thụ rễ chùm rễ cọc bám sâu là vậy sao lại đổ kềnh ra? Hoá ra “cụ” đa ngày nào cũng phải hứng chịu hàng trăm lượt người tè vào gốc rễ. Thứ dung dịch ấy cứ tích tụ lại và ăn mòn, ăn rỗng hết cả rễ chùm rễ cọc, khiến cho “cụ” đa đã chết một cách lãng xẹt.

Ngay cả những bức tường gạch được xây chắc chắn cũng đã đổ sập vì nước đái. Bức tường trên phố Nguyễn Trãi sau nhiều năm bị người đi đường “tưới” vào chân móng, đã ngã xuống vào một ngày không hề có gió mưa. Cũng ở đường Nguyễn Trãi, một nhà chờ xe buýt đã đổ sập vị phải hứng chịu những “trận” đái đường năm này qua tháng khác.

Nhiều cột điện cũng chịu chung số phận như vậy. Cột điện bằng sắt đầu phố Nguyễn Bỉnh Khiêm đang như “ngọn nến trước gió” khi chân cột bị ăn mòn đến mức chỉ còn một lõi sắt bằng ngón tay. Nước chảy đá mòn, huống gì thứ nước có rất nhiều axít ấy.

Bệnh đái đường là cả một nỗi kinh hoàng cho nhiều người dân ở gần đường. Mùi hôi hám rất đặc trưng ấy bay vào nhà, gây buồn nôn, gây khó chịu. Có không ít gia đình mất ngủ triền miên vì thứ nước chứa nhiều chất amoniắc ban đêm cứ xộc vào.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

“Vô ơn bạc nghĩa”

Tạp ghi Huy Phương
Mùa Tạ Ơn, nhà nhà, người người nói chuyện báo ân đáp nghĩa, chúc tụng nhau những lời chúc tốt đẹp, mà mình đi nói chuyện ngược đời, không biết bạn đọc có mở lòng tha thứ không?

Năm 1621, bữa tiệc tạ ơn đầu tiên được những người sống sót trên tàu May Flower tổ chức để cám ơn những người thổ dân da đỏ đã cưu mang và nuôi sống họ qua những ngày giá buốt, khó khăn đã trở thành một ngày lễ truyền thống của nước Mỹ về ý nghĩa của sự tạ ơn. Nhưng những điều ấy có nghĩa gì khi ngày nay chúng ta nhìn lại cộng đồng người da đỏ trên đất Bắc Mỹ đã bị diệt chủng như thế nào trong lịch sử!

Dưới ngọn đuốc “mọi người đều bình đẳng” chính phủ Mỹ đã không tôn trọng nguyên tắc này, sự xóa môi trường và chính sách tàn độc nhằm tiêu diệt, đồng hóa và tước đoạt quyền sở hữu đất đai của các bộ lạc người Da Ðỏ có thể bị xem là tội ác lớn nhất của những con người “chịu ơn” trả cho những người mà họ “mang ơn”.

Vào đầu thế kỷ XIX người Da Ðỏ bị tập trung vào những khu dành riêng cho họ gọi là “reservation”, chẳng qua là những trại tập trung. Trong đó người Da Ðỏ buộc phải bỏ y phục dân tộc, cắt tóc ngắn, tập ăn muỗng nĩa, đặt tên lại theo cách của người da trắng, phải học tiếng Anh và Kinh Thánh. Những thói quen như dùng tên ná, đan lát đều được cấm tiệt. Chính phủ Mỹ cưỡng ép một nền giáo dục, gọi là “văn minh hóa” bằng cách dùng võ lực cưỡng ép trẻ da đỏ vào các trường nội trú.

Năm 1832 sau khi thành lập các trại tập trung để cầm giữ người da đỏ, chính phủ Mỹ thành lập “Văn Phòng Ðặc Trách về người da đỏ” thi hành các luật lệ và phân phối thực phẩm cùng các nhu yếu phẩm khác cho các bộ lạc (có khác chi thời bao cấp, tem phiếu của VC). Chính quyền thi hành chính sách truyền đạo cưỡng bức để bắt người da đỏ sang đạo Cơ Ðốc. Không thành công thì chính phủ lại quay sang cấm tất cả việc cử hành các nghi thức tôn giáo cổ truyền và đưa ra tòa “tòa án xử tội phạm da đỏ” thành lập năm 1883, để xét xử bất cứ người da đỏ nào không tuân lệnh, cắt bỏ khẩu phần (kiểu 13 cân của VC trong các trại tập trung) và bị bỏ vào nhà giam (thời đó chắc chưa có “conex”!).

Vào ngày 29 tháng 12 năm 1890, khi các chiến sĩ của bộ lạc Sioux và gia đình khoảng ba trăm năm chục người đóng trại ở Wounded Knee Creek, ở South Dakota ngày nay, bị Trung đoàn Kỵ Binh số 7 bao vây ra lệnh phải giao nạp vũ khí. Trong không khí căng thẳng ấy, người ta nghe tiếng súng nổ và bắt đầu một cuộc thảm sát đẫm máu xẩy ra, kỵ binh Mỹ bắn xối xả vào các chiến binh Sioux và gia đình gồm vợ con, cha mẹ của họ, làm cho 300 người da đỏ bị thương vong.

Ðến cuối những năm 1800 thì phần lớn đất đai của người da đỏ đã bị chiếm đoạt, vì chính phủ muốn chiếm đất của người da đỏ chia cho dân da trắng đến định cư. Một đạo luật mang tên: “General Allotment Act” năm 1887 cắt các khu đất đai mênh mông thành lô chia cho những người da đỏ, nhưng chính phủ Mỹ làm chủ nắm bằng khoán đất trong thời gian hai mươi lăm năm, sau đó cho phép chính phủ “mua lại” để phân phối cho dân da trắng đến định cư. Con cháu của những người trên con tàu May Flower ngày xưa đã chiếm đoạt đất đai và bóc lột đẩy người da đỏ bảo bọc cha ông họ ngày trước vào chỗ nghèo đói, văn hóa bị suy tàn và dần dà bị diệt chủng.

Sau người Mỹ hơn 100 năm, con cháu những người Anh đi trên 11 chiếc thuyền buồm mang theo 950 tù nhân nam nữ Anh quốc, đặt chân tại vùng đất phía Nam của nước Úc ngày nay đã đối xử với thổ dân Úc là những người chủ nhà, không khác người Mỹ đã đối với dân da đỏ. Một chính sách đồng hóa và tiêu diệt thổ dân khốc liệt đã được thi hành. Từ năm 1930 đến 1970, 500 nghìn trẻ em thổ dân đã bị tách khỏi gia đình khi còn rất nhỏ từ tay cha mẹ, có người chỉ mới mười tháng tuổi, và đem nuôi tại khoảng 500 cô nhi viện, nhà thờ hay các gia đình trên khắp nước Úc để xóa bỏ tên tuổi, văn hóa, cội nguồn của chúng. Hầu hết các em phải chịu đau đớn về tinh thần, bị đánh đập, đôi khi bị xâm phạm tình dục, lao động vất vả hay bị bỏ đói...

Ngày 16 tháng 11 năm 2008, Thủ Tướng Australia Kevin Rudd đã thay mặt chính phủ liên bang đọc lời xin lỗi gửi tới “Thế hệ những người Úc bị đánh cắp” (Australia's Stolen Generation) về những “đau khổ, mất mát và dằn vặt” mà họ phải gánh chịu trong lịch sử, thừa nhận sự ngược đãi đối với khoảng người từng sống trong các trại trẻ mồ côi trên khắp nước này trong suốt nửa thế kỷ qua.

Không phải ai cũng dốc lòng nghĩ đến ân huệ cho những người đã ra ơn, giúp đỡ, mà trong nhiều hoàn cảnh người mang ơn đã có thái độ phản trắc nhắm ngay những ân nhân của mình. Trong phong trào cải cách ruộng đất năm 1949 tại Bắc Việt, biết bao nhiêu những đứa con nuôi, kẻ ăn người ở, khi đói rét, thiếu ăn được những người phú nông cưu mang trở lại đấu tố, lên án đem lại cái chết cho hơn 15,000 người. Ðiển hình cho sự “vô ơn bạc nghĩa” của những người Cộng Sản là bản án tử hình dành cho bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Thanh Long ở Hà Nội, mẹ nuôi của Lê Ðức Thọ, Phạm Văn Ðồng và Trường Chinh, có con trai một là trung đoàn trưởng một trung đoàn của quân đội CS Bắc Việt. Trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà cũng đã hiến 100 lượng vàng cho chính quyền mới thành lập.

Chịu sự vô ơn, ai cho bằng những bà mẹ đào hầm nuôi quân, che chở, nuôi ăn, liên lạc cho những cán bộ nằm vùng xưa kia, ngày nay đã trở thành những bà mẹ “dân oan” nghèo đói, bị cướp đất, cơm đùm gạo bới đi hằng trăm cây số gặp những đứa “mẹ mẹ, con con” ngày xưa, để khiếu kiện, kêu oan. Mới đây trong một vụ án “vu khống, mạ lỵ” xẩy ra trong cộng đồng người Việt tại Austin Texas, thiên hạ rất đỗi ngạc nhiên khi biết nạn nhân bị vu khống mạ lỵ lại là người đã kiếm việc làm, cho mượn tiền “down” và đứng “co-sign” mua nhà cho kẻ chịu ơn, và con người phản phúc, vô ơn này đã trở lại vu khống, mạ lỵ ngay ân nhân của mình.

Thế giới này biết bao nhiêu kẻ đã chịu ơn người, bao nhiêu người đã ra ơn cho kẻ khác. Người ban ơn đôi khi đã quên, người chịu ơn ít người còn nhớ đến ai đã giúp đỡ mình. Nhưng ít ra đã làm người, không trả ơn thì cũng đừng như quân vô ơn phản trắc, bội bạc!
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

"Thủ phủ" hiếp dâm tập thể của thế giới

"Thủ phủ" hiếp dâm tập thể của thế giới
Nếu là lần đầu tiên bạn đặt chân tới miền đông Congo, bạn sẽ thấy tràn ngập những điều kỳ lạ và khác thường,
đó có thể là các loài động thực vật nơi đây, hoặc là những điều kì dị nhưng có thật -
như là cánh của một chiến đấu cơ của Nga bị cắt rời để bên vệ đường, hoặc là một cậu bé tay lăm lăm súng.

Image
Những người phụ nữ bị cưỡng bức đều được cứu giúp tại trang trại của Masika Katsuva.

Mảnh đất này hít thở theo độ nóng và năng lượng của những con người đang đấu tranh để sống thêm dù chỉ một ngày nữa. Nhưng bạo lực tại đây lại vô cùng dữ dội bởi sự pha trộn giữa cả những điều đẹp đẽ và tồi tệ nhất của một châu Phi say mê và cả tàn bạo.
Đại diện đặc biệt của Liên Hợp Quốc là Margot Wallstrom đã gọi miền đông Congo là "thủ phủ hiếp dâm tập thể của thế giới". Bản báo cáo đã đưa ra thông tin khủng khiếp - cứ mỗi giờ lại có 48 phụ nữ bị cưỡng bức.

Nhà báo Fiona Lloyd-Davies đã tới một thị trấn nằm sâu trong rừng có tên Shabunda. "Đó là vào năm 2001 và tình cảnh đã khiến cho tôi tới Congo mà không phải là Afghanistan. Một máy bay với động cơ kép nhỏ xíu là con đường duy nhất để ra - vào nơi đây" - Fiona viết.
Lúc đó, chiến tranh đang ở đỉnh điểm, Fiona đi cùng với đội Bác sĩ Không biên giới trở lại Congo. Họ đã rút khỏi nơi này bởi các cuộc tấn công liên tục và thị trấn, nhưng sau đó lại quyết định quay trở lại vì thấy việc cứu trợ là rất cần kíp.

Chiếc máy bay hạ cánh liều lĩnh trên mặt cỏ, khi đó, Fiona hiểu rằng họ đã "tạm biệt" lối thoát duy nhất khỏi vùng lửa đạn. Cô cùng mọi người ở đây trong một tuần.

Đó là một tuần phải nghe những câu chuyện kinh hoàng về tra tấn và cưỡng bức. Các vụ cưỡng bức tập thể. Bạo lực, cưỡng bức tàn bạo. Cưỡng bức cùng với những gậy, súng - và cả lưỡi lê.

Những người phụ nữ kể cho Fiona về lựa chọn thường nhật của họ - một là ngồi ở nhà và chết đói. Hai là ra ngoài ruộng để kiếm ăn và bị cưỡng bức. Hầu hết phụ nữ phải chọn cách thứ hai. Đó đã là một thông lệ.

Chiến tranh tiếp tục kéo dài cho tới năm 2003 khi một hiệp ước hòa bình được ký kết. Cuộc chiến đã ngưng một cách chính thức, nhưng vẫn chưa chấm dứt. Nạn cưỡng bức cũng vậy.

Năm 2005, Fiona lại trở lại Shabunda để tìm người phụ nữ mà cô đã phỏng vấn và chụp ảnh 4 năm trước. Đó là một cuộc kiếm tìm lành ít dữ nhiều, vì hầu hết phụ nữ đã chết hoặc biến mất trong rừng sau các cuộc tấn công, không ai nhìn thấy họ nữa.

Những phụ nữ mà Fiona gặp lần này có hoàn cảnh dã man tương tự. Nhưng lại có một uẩn khúc. Những người nhà báo gặp lần này lại liên quan tới các trại hiếp dâm tập thể có tổ chức, với những cuộc "gọi" hàng ngày. Tần suất cưỡng bức cũng khác, và nó trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của những nhóm phiến quân. Một người phụ nữ nói rằng: điều đó đang diễn ra một cách có hệ thống.

Năm 2009, Fiona lại quay trở lại mảnh đất dữ này, cùng với một bộ phim về nạn cưỡng bức và cô lại phát hiện ra một xu hướng khác tệ hơn.

Những người phụ nữ nói với Fiona về cách mà họ bị cưỡng bức. Không chỉ một, mà là rất nhiều lần. Họ nói về những vụ cưỡng bức tập thể - 3 hoặc 4 lần gì đó. Đôi khi thì "chỉ" có hai tên, nhưng thường thì có rất nhiều, 10 - 20 người, cứ như vậy từng tên một.

Nhiều người kể về việc trẻ con và các bé gái, thậm chí cả những em bé chỉ vài tháng tuổi, cũng bị cưỡng bức.

Nạn cưỡng bức trở nên phổ biến.

Tại bệnh viện Panzi, Bukavu, bác sĩ Mukwege vẫn làm việc không ngừng nghỉ để chữa trị các vết thương này cho các phụ nữ. Fiona đã gặp một trong số các bệnh nhân tại đây. Đó là một em bé trẻ trung vui tươi, không ai có thể làm tắt nụ cười trên khuôn mặt em.

Người y tá nhìn thấy Fiona chơi với em bé lập tức cảnh tỉnh: "Cô cần biết là cháu bị nhiễm HIV dương tính". Em bé mới chỉ 3 tuổi. Chị gái sinh đôi của em đã bị giết trong khi em và mẹ của mình đang bị cưỡng bức. Bản thân em cũng được sinh ra từ một vụ cưỡng bức.
Image
Masika Katsuva
Sự thật rất khó để chấp nhận, nhưng không đến mức khó khăn như với những nạn nhân của các vụ cưỡng bức - những người phải sống với hậu quả và những "vết nhơ" còn lại.
Nhưng ít nhất là không phải với một người phụ nữ đặc biệt như Masika Katsuva. Cô có vóc người nhỏ bé, nhưng ẩn trong đó là nghị lực phi thường. Câu chuyện của cô lay động mọi người, nó đau thương nhưng cũng chất chứa hy vọng bởi cô đem lại câu trả lời cho những người phụ nữ xấu số.

Cũng giống như rất nhiều nạn nhân cưỡng bức còn sống sót, cô đã không thể chịu nổi khi cô và hai đứa con gái nhỏ đều bị các tay súng cưỡng bức. Chồng của cô bị giết ngay trước mắt, cô bị ép phải nuốt một số bộ phận trên người của chồng.

Hai con gái của cô là Rachel và Yvette đang ở độ tuổi 15 và 13. Cả hai đều mang thai. Gia đình chồng của Masika đã xua đuổi cô. Ba mẹ con và những đứa trẻ phải tới một thị trấn khác ở khu vực hồ Kivu để xây dựng lại cuộc sống.

Lần này, Fiona làm phim về Masika và công việc mới. Lúc này, Masika đang quản lý 170 phụ nữ, họ gọi cô là "Mẹ Masika". Trong suốt 10 năm qua, cô đã giúp đỡ hơn 6.000 nạn nhân bị cưỡng bức, giúp và chăm sóc họ tận tình - về cả sức khỏe, tâm lý và thực hành.

Cô đã tạo nên một cộng đồng trong một khu vực ít khi bị tấn công, giúp đỡ bất kỳ ai đang cần giúp, và cô dùng một nông trại để họ có thể sống ở đó.

Mảnh đất đó là niềm hy vọng, nơi họ chữa trị và cũng là nguồn sống của họ. Những người tới nơi đây đều là nạn nhân của nạn cưỡng bức, bị gia đình và cộng đồng địa phương nguyền rủa và chối bỏ. Họ trồng trọt, chăm bẵm và thu hoạch những sản phẩm của riêng họ.

Masika trở thành người mẹ của những nạn nhân xấu số và những đứa trẻ sinh ra từ những vụ cưỡng bức. Cô cố gắng mơ ước tới một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng cũng rất thực tế. Cô mong muốn những phụ nữ này bớt dần lao động đồng áng và học thêm các kỹ năng khác như may vá. Nhưng để làm được điều đó, Masika tin rằng xung đột và nạn cưỡng bức phải chấm dứt.

Masika nhìn vào mắt của Fiona, rồi ra dấu hiệu và nói: "Nhưng hôm nay tôi không hề thấy nạn cưỡng bức cũng như xung đột đang kết thúc".

Lê Thu (theo CNN)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Chuyện Chuột & Người
Cách đây chưa lâu, có bữa, ký giả Hoàng Nam của tờ Tiền Phong hớn hở đi tin:

Ngày 6 tháng 9 năm 2011 Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) cho biết, một nhóm các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện 2 cá thể sống (một đực, một cái) của loài thú được cho là đã tuyệt chủng cách đây 11 triệu năm tại vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình).

Tin cho hay, các nhà khoa học đã phát hiện trong những loài chuột rừng được đồng bào Rục, xã Thượng Hóa (Minh Hóa) bẫy bắt để ăn thịt có loài chuột đá, tên khoa học Laonastes aenigmamus. Trước năm 2005, khi xem xét các mẫu hóa thạch, các nhà khoa học khẳng định loài chuột đá đã tuyệt chủng cách đây 11 triệu năm. Loài chuột đá này có mình như chuột, đuôi như đuôi sóc, lông mịn như cầy và người Rục gọi là con Ninh Cùng.

Tôi vốn tuổi Mẹo nên không quan tâm gì (mấy) đến sự sống còn của chuột, bất kể là loại chuột gì. Hơn nữa, điều mà ký giả Hoàng Nam vừa mô tả là một phát hiện quan trọng (nói nào ngay) cũng không quan trọng gì cho lắm.

Trướcđó, vào ngày 15 tháng 12 năm 2008, BBC đã có chưng hình loại chuột này, với lời chú thích rất bất ngờ: The Laotian rock rat (Laonastes aenigmamus) was first recorded by scientists at a food market in Laos. Remarkably, researchers say this species is the sole survivor of an ancient group of rodents understood to have died out 11 million years ago.

Nguồnảnh: BBC

Coi: loài chuột đá mà thiên hạ cứ tưởng đã tuyệt chủng từ lâu (thiệt ra) đang được dân Lào bầy bán cả sâu ngoài chợ, mua về nhậu lai rai mệt nghỉ, có qúi hiếm gì đâu mà phải làm rầm rĩ vậy - mấy cha? Tuy thế, cái địa danh xã Thượng Hoá - trong bài viết thượng dẫn - lại cứ khiến tôi băn khoăn mãi. Nó nhắc nhớ đến một bài viết khác (Vào Rục Ứa Nước Mắt) của nhà báo Dương Minh Phong - trên blog Cu làng cát:

Cuối tuần, gọi mấy nhà báo lão luyện lên Rục (Thượng Hoá, Minh Hoá, Quảng Bình) anh nào cũng ởm ờ, mình lên núi, bà con gọi điện về nói hết gạo, ăn sắn cầm hơi, ăn cả củ nhút, củ mài trong lũ...

Vào chạn bếp đồng bào, lạnh tênh. Bữa trưa nhiều gia đình chỉ có sắn và sắn, Nhà khá hơn có chút ngô. Nhà tốt hơn chút còn hai bữa gạo nấu cháo cho trẻ con ăn.

Bữa trưa. Ảnh Dương Minh Phong chụp vào tháng 10 năm 2011.

Nhiều người ăn sắn đến gầy rạc người. Hỏi Cao Thị Thanh thèm cơm không? Thanh nói: Cơm mà không thèm thì thèm chi. Thèm thịt cá không:

Thanh: Thèm chơ, nhưng chừ thèm cơm nhất, thịt cá mơ cũng không có mô, chừ thèm cơm thôi, mình đang có thai, thèm cơm quá. Thật sự giấc mơ nhỏ của người Rục chẳng lớn lao gì, họ không dám mơ bữa ăn có thịt cá như người dưới xuôi, mà mơ có cơm, cơm họ thèm đến quặn lòng, họ nói thèm cơm mà nghe thắt ruột.

Với họ có bữa cơm là ấm bụng, có bữa cơm gân cốt như mạnh thêm lên, có bữa cơm họphấn chấn tinh thần hơn. Một ngày vào Rục, ứa nước mắt khi nhà mình bưng bát cơm trắng, thức ăn đôi lúc chê vợ nấu dỡ, còn đồng bào, thèm cơm đến lạ lùng. Họ từngđược bộ đội biên phòng cấp gần 6kg gạo chống đói trung lũ, nhưng mỗi khẩu nhưthế bị lũ quần 40 ngày, ăn chỉ trong chưa đầy năm ngày hết veo. Bởi bữa ăn của họ không có thức ăn ngoài muối trắng đâm ớt. Cơm chấm ớt ăn qua ngày, hết năm ngày ngồi bóc sắn nhai đắng họng.

Bữa trưa của trẻ con ngày mình vào Rục. Ảnh Dương Minh Phong chụp tháng 10/2011

Trên blog Quê choa, với tựa đề là Người Rục Đang Đói, nhà văn Nguyễn Quang Lập còn cho biết thêm vài tình tiết (ly kỳ) khác nữa:

Nhà báo Dương Minh Phong đã gắn bó với người Rục hơn chục năm nay. Năm 2006, anh đã cùng các nhà báo Phan Phương, Nguyễn Quang Vinh đấu tranh vô cùng gian khổ chứng minh người Rục đang đói trong khi cả tỉnh ủy lẫn UBND tỉnh Quảng Bình ra sức che đậy việc bỏ đói người Rục. Việc này Nguyễn Quang Vinh đã viết phóng sự 9 kì có tên Sự thật, ai muốn xem bấm vào đây: Sự thật kì 1, Sự thật kì 2, Sự thật kì 3, Sự thật kì 4, Sự thật kì 5, Sựthật kì 6, Sự thật kì 7, Sự thật kì 8, Sự thật kì 9...

Loạt bài phóng sự này có nhiều đoạn, và nhiều hình ảnh, xem khó mà cầm nước mắt:

Chúng tôi vào thôn.

Khủng khiếp.

Tôi không hình dung được, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa lại có một thôn sống trong cảnh lay lắt như vậy. Tan hoang. Nhà nào cũng đói. Nhà chị Cao Thị Liên đang ngồi ômđứa con nhỏ, đói lả, bên chị là cái nồi chứa những con nòng nọc. Đó là món ăn duy nhất còn lại trong ngày của nhà chị.

Chị Cao Thị Liên và rổ đựng nòng nọc. Ảnh Nguyễn Quang Vinh chụp tháng 10 năm 2006.

Nhà ông Cao Xuân Hiếu, 7 người đang ngồi, nằm trên nền đất, đói lả. Nhà nào cũng nhưvậy. Cái đói bao trùm.

Ông Cao Xuân Hiếu nói: Đói lắm cán bộ ạ. Ảnh Nguyễn Quang Vinh chụp tháng 10 năm 2006.

Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia:

Tộc người Rục được một tiểu đội Công an Quảng Bình phát hiện vào ngày 12 tháng 8 năm 1959 trong hang sâu tại vùng hang động Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc xã Thượng Hóa huyện Minh Hóa (Quảng Bình) gồm 11 hộ với 34 người. Người Rục có tập quán rất lạc hậu, quen ở hang sâu, săn bắt, hái lượm, nhưng họ cũng có một cuộc sống tinh thần phong phú với những nhạc cụ núi rừng như đàn trơ bon, đàn môi, sáo dọc và làn điệu cà lưm cà lềnh. Do tập quán lạc hậu, sống trong hang đá, săn bắt, hái lượm tận rừng sâu, người Rục có nguy cơ suy giảm dân số hết sức nghiêm trọng.

Trong hơn 40 năm, người Rục đã làm một cuộc hành trình về với cộng đồng. Đến cuối năm 2006, nhân khẩu đã lên đến 414 người và được phân bố trong bốn bản Phú Minh, Ón, Yên Hợp và Mò O - Ồ Ồ thuộc xã Thượng Hóa, ở xen với các tộc như Sách, Mày, Kinh.

Cuộc hành trình về với cộng đồng của người Rục được GS.TS Trần Trí Dõi, chuyên gia nghiên cứu về dân tộc Chứt, đánh giá khá cao:

Với một tộc người đang sống hồng hoang, mặc vỏcây, lấy lửa bằng đá… thì nửa thế kỷ hoà nhập cộng đồng của người Rục là quãng thời gian ngắn ngủi. Cộng đồng đã làm được nhiều việc cho người Rục và người Rục cũng đã tiến được chặng đường rất dài.

Những chặng đường tiến rất dài này được nhà báo Dương Minh Phong, tác giả bài viết dẫn thượng (Vào Rục Ứa Nước Mắt) ghi nhận với đôi mắt dè dặt hơn - chút xíu:

Người Rục rời hang đá 50 năm đã có chi bộ đảng, hội phụ nữ, hội thanh niên, đoàn viên, hội phụ nữ, hội nông dân…tức là đủ thứ hội. Mình thấy thế thì quả là thiên tài cho ai sắp xếp được ở đây các hội này. Nhưng hội đầy đủ thế mà bà con vẫn 6 tháng không có gạo ăn là nổi đau vô cùng. Nhà nước trợ cấp 6 tháng gạo, mỗi khẩu 15kg một tháng cho người Rục, 6 tháng còn lại chỉ biết sắn và củ quả rừng.

Khách quan mà nói thì những chặng đường tiến của người Rục - rõ ràng - dài hơn, và nhanh hơn, những bước (chân dép lốp đi vào vũ trụ) của đồng bào dưới miền xuôi nhiều lắm. Họ phóng (cái rẹt) từ Thời Kỳ Săn Bắt, nhẩy băng qua qua giai đoạn bán định canh và định canh, để bước (cái rột) lên Thời Kỳ Xã Hội Chủ Nghĩa chỉtrong một thời gian rất ngắn: năm mươi năm chẵn. Kỷ lục này thiệt là đáng kể, đáng nể và cũng (vô cùng) đáng ngại!

Không hiểu trước đó thì người Rục sinh sống ra sao trong hang động giữa rừng sâu nhưng từ khi được phát hiện (vào năm 1959) thì chỉ qua năm sau là họ bị đói khùng luôn - từ năm 1960 đến nay theo như ghi nhận của nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Hơn nửa thế kỷ qua người Rục vẫn tồn tại như một phép lạ, ở tỉnh Quảng Bình - nơi mà cả tỉnh ủy lẫn UBND tỉnh ra sức che đậy việc bỏ đói họ. Phép lạ này chắc không kéo dài mãi được. Ngoài loài chuột đá ( Laonastes aenigmamus) ở Việt Nam, tôi trộm nghĩ, Tổ Chức Bảo Tồn Động Thực Vật Hoang Dã Quốc Tế cũng ghi thêm tên người dân tộc Rục vào danh sách những chủng loại có nguy cơ bị biến mất khỏi mặt đất này.

Trẻ thơ người Rục. Ảnh Lam Phong/SGTT

Cá nhân tôi không đủ từ tâm, cũng như lòng bao dung, để quan tâm gì (nhiều) đến sựtồn vong của chuột. Sự hiểu biết vô cùng giới hạn của một thường dân cũng không giúp tôi hiểu thấu được sự hiện diện của loài chuột đá quan trọng ra sao với hệthống sinh thái của quả địa cầu. Tôi chỉ biết thêm được (đôi điều) về những đồng bào người Rục qua Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, như sau:

Người Chứt, còn gọi là người Rục, người Sách, người A rem, người Mày, người Mã liềng, người Tu vang, người Pa leng, người Xe lang, người Tơ hung, người Cha cú, người Tắc cực, người U mo, người Xá lá vàng, là một dân tộc ít người sinh sống tại Lào và Việt Nam..

Người Chứt là tộc người sử dụng ngôn ngữ cùng ngữ hệ với tiếng Việt. Tiếng Chứt được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm vì gần gũi với tiếng Kinh nguyên thủy. Giáo sưTrần Trí Dõi đã nhận xét tiếng Chứt như 'bảo tàng lưu giữ các giai đoạn phát triển của tiếng Việt. Văn hóa của người Chứt cũng cho phép tìm lại lịch sử phát triển của người Việt cổ.

Nhấtđịnh mang chi bộ đảng, hội phụ nữ, hội thanh niên, đoàn viên, hội phụ nữ, hội nông dân ... để xen vào đời sống của những bộ tộc này (cho bằng được) là một việc làm ngu xuẩn. Còn bỏ họ sống dở (và chết dở) trong đói lạnh lại là một tội ác. Trong cái tội ác tầy đình này chưa biết ai là chính phạm nhưng tất cả chúng ta sẽ đều là tòng phạm.

Theo hướng dẫn của nhà văn Nguyễn Quang Lập Ai có điều kiện hãy cùng nhau góp gạo cứuđói cho người Rục, hãy Bấm vào đây! Chúng tôi cũng sẽ có bài viết kế tiếp vềThời Đại Bấm Nút (đáng buồn), vào tuần lễ tới, cũng trên diễn đàn này.

Tưởng Năng Tiến - RFA
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Sợ thâm không sợ ác

Tạp Ghi Huy Phương
Xem phim bạo lực Mỹ thấy cái ác dữ dội, nhưng nhớ chuyện Tàu thấy cái thâm độc mới ghê gớm. Thời Ðông Châu Liệt Quốc, nước Việt thua trận nước Ngô, vua Việt là Câu Tiễn bị vua Ngô bắt làm con tin.

Câu Tiễn nuôi chí phục thù, ngày đêm phục dịch hết lòng để lấy lòng tin của Ngô Phù Sai, dắt ngựa đi giật lùi, nếm phân vua Ngô, nằm gai nếm mật để tìm cơ hội phục thù. Ðược Ngô Phù Sai tha về, Việt Câu Tiễn quyết tâm phục hận, một mặt chọn Tây Thi và Trịnh Ðán là gái đẹp nước Việt triều cống để Phù Sai ngày đêm vui chơi, rượu chè, đàn hát mà bỏ bê việc nước, một mặt bí mật chiêu binh, mãi mã, chờ cơ hội phục hận.

Nước Việt lấy cớ mất mùa, sang nước Ngô xin vay lúa, hẹn năm sau đến mùa gặt xin hoàn trả. Ðược lúa, Câu Tiễn đem cấp phát cho dân nghèo trong nước được trăm họ ca tụng công đức. Năm sau nước Việt được mùa to, Câu Tiễn lựa lúa tốt trả lại cho nhà Ngô, nhưng trước đó đã đem luộc chín. Vua Ngô trúng độc kế đem phân phát lúa luộc cho dân. Năm ấy khắp nước Ngô đều gieo lúa nước Việt, nhưng lúa không mọc, dân Ngô bị đói to, nhân cơ hội này, Câu Tiễn đem quân đi đánh Ngô toàn thắng, vua Ngô phải tự vẫn.

Nước Tề muốn thôn tính Sở, loan truyền Tề Hoàn Công rất quý hươu bao nhiêu tiền cũng bỏ ra mua, một con hươu trị giá cả nghìn cân lúa. Nước Sở nông cạn, nghĩ vua Tề tham chơi hươu quý, thế nào cũng lơ là việc quân binh. Thương nhân nước Sở tập trung tất cả vào việc buôn hươu, nông dân bỏ việc ruộng đồng đi săn hươu, lính tráng xao lãng, lấy vũ khí đổi dụng cụ đi bắt hươu. Năm ấy nước Sở mất mùa nhưng tiền chất đống không mua được lương thực. Tề ra lệnh cấm vận, không cho chư hầu bán lúa cho Sở, người ngựa trơ xương. Nắm thời cơ, Quản Trọng cất quân đánh Sở.

Việt Cộng trong bao nhiêu năm làm chư hầu đã học được những điều quỷ quyệt gian hùng từ đàn anh, còn chúng ta lấy sự ngay thẳng của Bụt mà đối đấu với Ma là thất bại. Tháng 5, 1975, Việt Cộng ra thông báo chơi chữ, “quân cán chính chế độ cũ trình diện đem theo 15 ngày tiền ăn,” mà không hề nói là đi tù 15 ngày, vậy mà cả nước miền Nam mắc mưu, cứ nghĩ là đi “học tập” hai tuần là có thể về nhà. 15 ngày có khi thành 15 năm, và nhiều người đã mất xác trong các trại tù khắc nghiệt.

Ngày nay, Việt Cộng thâm độc, nhưng ở bên cạnh nước Tàu Cộng cũng không địch nổi những tay chính trị gian hùng luôn luôn muốn cho đàn em năm xưa không cất đầu nổi. Những chiêu thức của Bắc Kinh ngày nay tuy không bằng cha ông chúng ngày trước nhưng cũng làm cho đàn em thất điên bát đảo. Một mặt vì dân chúng không có ý thức, không được giáo dục, lại tham tiền vì nghèo đói, chính phủ lại không bảo vệ chủ quyền, để con buôn Trung Cộng vào ra đất nước như chỗ không người.

Trong năm nay, báo chí Việt Nam đưa tin có người ở Hải Phòng, Lào Cai đứng ra thu mua đỉa để xuất cảng sang Trung Cộng, mà không biết họ mua đỉa để làm gì, có nguồn tin cho rằng con buôn mua đỉa để dùng làm thuốc. Thế là dân đua nhau đi bắt đỉa trên đồng, ao hồ, đầm lầy, thấy lợi nông dân nuôi đỉa để bán, giá bán một ký lô đỉa được hơn một triệu đồng. Với nông dân, đây là số tiền khá lớn, không bắt được thì ráng nuôi. Phong trào nuôi đỉa tràn lan tới miền Nam như ở Sài Gòn, Tây Ninh. Ðỉa là một loại sinh vật sống ở trong mọi thời tiết, sinh sản nhanh, sống bằng cách hút máu của các động vật có xương sống, rất dễ sinh sôi nảy nở nhưng rất khó tiêu diệt. Nếu việc nuôi đỉa phổ biến, một khi chuyện thu mua chỉ là chuyện đồn đãi vô căn cứ thì rồi đây ao hồ, cánh đồng đầy những đỉa, sẽ là nỗi kinh hoàng cho nông dân có việc phải xuống đồng.

Ốc bưu vàng lại là một chuyện đau đầu khác. Thời gian gần đây, nhiều lái buôn đổ về vùng nông thôn các tỉnh ở Hậu Giang, để mua ốc bươu vàng xuất sang Tàu, mục đích để làm thuốc, làm thức ăn cho gia súc hay để nhậu.Thịt ốc được mua với giá từ 12,000-13,000 đồng/kg. Có cơ sở thu mua ốc bươu vàng, mỗi ngày mua khoảng 8 tấn ốc bươu vàng, để xuất cảng sang Trung Cộng. Tham tiền, muốn lời nhiều, nông dân có kế hoạch nuôi ốc bươu vàng để xuất cảng. Chỉ cần một mùa mưa lụt là ốc bươu vàng tràn ra ruộng lúa. Khi việc nuôi ốc bươu vàng rộ lên và việc thu mua chỉ là giả trá như phong trào chim cút của miền Nam trước đây thì nông dân phải nhận hậu quả khốc liệt khi ốc bươu vàng tràn lan phá hại mùa màng.

Chuột ăn lúa phá hoại mùa màng, dân nuôi mèo để bắt chuột, Trung Cộng mở chiến dịch mua mèo Việt Nam với giá cao đem về nước, gọi là “tiểu hổ” thịt ăn ngon mà bổ. Người dân VN lùng sục khắp các thôn bản, ngõ ngách, nhà nào có mèo là mua về, thậm chí còn trộm mèo hàng xóm để bán sang Tàu với giá cao, sinh ra đại dịch chuột hoành hành năm 1997-1978.

Vào khoảng 2003-2004 Trung Cộng tung bọn lái buôn qua các chợ ở vùng nông thôn Việt Nam thu mua móng trâu với giá rất cao. Bốn cái móng của một con trâu có giá cao hơn một con trâu, còn lại trâu đem xẻ thịt bán thêm được một món tiền nữa, dại gì không giết trâu bán móng. Ở nông thôn lại sinh ra tệ nạn trộm móng, giữa đêm kẻ trộm lẻn vào chuồng trâu, chặt chân trâu mang đi, sinh ra tình trạng thiếu trâu cày.

Có một thời gian dân miền Bắc thi nhau cắt dây cáp viễn thông quốc tế Việt Nam-Thái Lan-Hồng Kông để bán “ve chai” cho Trung Cộng. Tính ra có đến 11 km dây cáp bị cắt, thiệt hại hàng chục triệu đô la.

Trung Cộng muốn thu mua cà phê, thu mua gạo, thu mua trà… chỉ cần đem xe sang, đến tận vựa, tận vườn, tận công ty sản xuất… như trong vườn nhà, mua xong chở về nhà, qua biên giới, không cần phải Bộ Ngoại Thương hay theo kế hoạch xuất cảng như các quốc gia khác. Năm 2007, con buôn Trung Cộng sang các tỉnh trồng trà ở biên giới và trung du, thu gom toàn bộ các loại trà, đẩy giá trà lên cao khiến các nhà máy trong nước thì điêu đứng vì không có nguyên liệu chế biến, thiếu nguyên liệu, nhiều hợp đồng bị hủy, hàng nghìn công nhân không có việc làm.

Ðây chỉ là những đòn “dạy cho Việt Nam một bài học” tương đối còn nhẹ nhàng và chỉ có tính chất thăm dò, cảnh cáo. Cắt móng trâu, diệt mèo, chuyện sờ sờ trước mắt mà thiên hạ giả đui vì món lợi nhỏ. Bọn Hán gian mỗi khi “ra quân” tôi nghĩ dân Việt Nam không đỡ nổi. Chính phủ thì ươn hèn, nhu nhược, không nhìn xa, dân thì đói khổ, thấy gì lợi trước mắt thì làm bừa, không nghĩ đến hậu quả, cho nên nuôi đỉa, cắt móng trâu, bán mèo, nuôi ốc bươu, vớt rong mơ, chặt cây tai ngựa, tìm đinh lăng, mua vải thiều… cái gì có lợi thì làm, kể cả phá rừng, phá biển. Cái ác còn đỡ nổi, cái thâm mới thật khó lường.

Nhưng nghĩ cho cùng, những chuyện này đâu phải nỗi lo âu cho những ai đang cầm vận nước, mà nước đang mang số phận chư hầu của Trung Cộng.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Lời nhắn ...
Một người không tốt với bạn, bạn không nên quá bận tâm. Trong cuộc sống của bạn, không ai có nghĩa vụ phải cư xử tốt với bạn trừ cha mẹ. Còn với những người tốt với bạn... bạn nên trân trọng và biết ơn điều đó. Hãy luôn nhớ... Họ tốt với bạn không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến bạn.Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của bạn. Vì thế, nếu sau này người bạn yêu thương không còn ở bên, hay họ không còn là nơi bạn có thể đặt niềm tin, bạn cũng đừng bi lụy.Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, bạn đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích.

Người ta tham vọng sống lâu...nhưng bạn chỉ cần sống hạnh phúc mỗi ngày. Hãy trân trọng và yêu lấy cuộc sống hiện tại của bạn.Trên đời này không có gì là nhất cả, tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời bạn, nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi. Nếu như người đó rời xa bạn, bạn hãy học cách chờ đợi. Hãy để thời gian rửa sạch vết thương, để tâm hồn bạn lắng lại rồi nỗi đau của bạn cũng sẽ dần biến mất. Bạn đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo, cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.Bạn có thể bắt mình phải giữ chữ tín, nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình.

Bạn có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người, nhưng bạn không thể kì vọng người ta sẽ làm đúng như vậy với bạn. Khi bạn tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với bạn. Hãy nhớ điều này nếu không bạn sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau, cho dù trong cuộc sống bận rộn bạn ít khi gặp mọi người, nhưng bạn hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ, hãy dành cho họ thời gian để yêu thương bạn hơn.

Tức giận là lấy sai lầm của người khác trừng phạt chính mình, cứ mãi nhớ và không quên khuyết điểm của người khác thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bản thân mình, bởi lẽ để có được niềm vui và cuộc sống thanh thản ta không nên truy cứu lỗi lầm cũ của người khác.Yêu thương như bạn vẫn thường yêu thương, sống như bạn vẫn thường sống nhưng với một niềm tin là bạn không thể có cuộc sống này lần nữa.Hạnh phúc mà bạn đang có hay nỗi đớn đau mà bạn đang mang là duy nhất, bạn hãy chấp nhận và thưởng thức. Như bạn chỉ có thể sống được ngày hôm nay, còn ngày mai, ngày mai đó chưa tới và chắc chắn, ngày mai đó vẫn sẽ tới, nhưng có thể sẽ không còn có bạn.

Love always,
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest