Văn Nghệ Văn Gừng

Thơ nhạc trữ tình, thơ nhạc lính, video...
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Khánh Ly, Chuyện kể sau 40 năm
Chương 2

Ngày di cư tôi, tôi mới 9, 10 tuổi.Chưa kịp làm quen với Sài Gòn, còn đang lạ lùng với cách nói cười rộn ràng rất Nam kỳ, còn thích thú xé tờ giấy một đồng làm hai, gọi là 5 cắc đủ mua một ly đá nhận xi-rô, đã theo gia đình lên Dalat. Đó là năm 1956. Bố tôi – tức dượng nếu gọi theo tiếng miền Nam, tôi gọi dượng bằng bố theo lời mẹ tôi dặn – làm việc ở Ty cảnh sát Dalat. Gia đình tôi ở một biệt thự khu Chi Lăng. Căn nhà nằm lưng chừng con dốc ngắn và tất cả đều xây một kiểu giống nhau. Tôi chưa bao giờ đi hết con dốc đó để biết còn gì phía sau vì tôi bắt đầu đi học.

Trường tiểu học Phan Chu Trinh nằm ngay một ngã tư.Trước mặt nó là khu đất trống có con đường nhỏ dẫn vào đồi Bà Miên, nơi mà ít năm sau này, lại chính là nơi mẹ con tôi ở. Con đường đó cũng đưa vào trường Đại Học Quân Sự và khoảng đất trống trước mặt trường Phan Chu Trinh năm nào nay đã xây đầy những biệt thự của các ông Tướng. Căn đầu tiên là nhà của tướng Thái Quang Hoàng, cách 2 căn là tướng Đỗ Cao Trí. Tôi vào học lớp một vì chuyển qua chương trình Việt, nên chẳng hiểu gì cả, thậm chí không biết đọc tiếng Việt, trong khi chị tôi, chị Lệ Yến, lại được bố mẹ tôi cho học tại trường Domaine de Marie, chương trình Pháp-Việt
Từ nhà đến trường không xa lắm mà cũng không gần. Tôi đi bộ lúc đi và cả lúc về. Bấy giờ, ngoài Ngọc Anh, tôi biết mình có thêm 3 đứa em nữa. Duyên Hải, Tố Loan, Tố Uyên. Sau giờ đi học, tôi làm những gì mẹ tôi bảo làm nhưng thường trốn nhà ra hồ Chi Lăng chơi. Chân không mang giày dép, thơ thẩn đi quanh tụt xuống ven hồ mò ốc hoặc lượm …cứt để chơi – tôi tưởng đó là thuốc tể như của bà nội. Ở đó có một biệt thự to lắm. Người ta bảo nguyên khu Chi Lăng này, ngày xưa dành cho người Pháp, và các căn biệt thự của chúng tôi cũng vậy! Cái Hotel Chi Lăng với cái giếng nước giả xây trước mặt cũng là nơi người Pháp thường đến nghỉ hè. Thời đó chưa có tên Chi Lăng mà là Saint Benoit. Mãi sau này vẫn còn những người gọi thế.

Tan học tôi thường không đi theo đường chính mà chui qua những bụi cây, những hàng thông, những khóm lay-ơn đủ màu mọc khắp mọi nơi nhưng không bao giờ tôi bẻ hoa, chỉ tìm loài dây leo để đem về chơi nhảy dây. Bố mẹ tôi ít khi nhìn thấy tôi, ông bà gần như không để ý, không hỏi đến nếu không có gì để sai bảo, dặn dò. Tôi lại cảm thấy khoái hơn dù đôi lúc cũng tủi thân khi không được mẹ ngó ngàng

Ngoài con đường từ nhà đến trường và ngược lại, ngoài khung cảnh yên tĩnh của hồ Chi Lăng, tôi chui xuống cái rảnh nước chảy quanh nhà, đắp đất trồng bắp cải từ những cuống cải già bị cắt bỏ, có chút xíu mầm, mà tôi tưởng là sẽ sống được. Tôi có thể lang thang trong những khoảng đất trồng đầy cỏ dại để tìm hái trái mâm xôi, bứt dây rừng, xuống hồ Chi Lăng vọc nước, bắt ốc, hoặc ngồi dưới cái rảnh nước ấy cả ngày, nếu không có ai tìm.

Qua đến năm 1957, gia đình tôi phải chuyển về Saigon. Hơn một năm ở Dalat, có một vài điều đã khắc sâu vào tâm trí non nớt của tôi và không bao giờ tôi quên. Nó là những vết cháy dẫu đến ngàn năm vẫn còn hằn dấu…. Trước ngày di cư, Hà-nội mở một Hội Chợ, ở đâu thì tôi không nhớ nhưng có lẽ do người Pháp tổ chức sau khi hội nghị Gienève được ký kết. Tôi đi hội chợ với một thằng nhỏ ở cùng đường, tên nó tôi còn nhớ, nó là thằng Đồng. Hội Chợ thì thường có nhiều trò chơi, vậy mà tôi chỉ nhớ là có một gian hàng nhỏ có dựng sân khấu cho mọi người thi hát, tôi đã leo lên và hát bài “Thơ Ngây”…. Khi ấy em còn thơ ngây, đôi mắt chưa vướng lệ sầu …, rồi leo xuống lủi mất tiêu. Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi cất tiếng hát. Lúc còn học nội trú St Marie, tôi cũng được lên sân khấu, chỉ đội lốt làm con thỏ mà thôi, nhưng trước đó, trước đó gần chục năm…

….Tôi sinh ra vào một buổi chiều ngày 6 tháng 3 năm 1945 tại nhà thương Bạch Mai. Ba ngày sau đảo chính Nhật, dân Hà-nội sơ tán về các vùng xa thành phố, bố mẹ tôi cũng mang chị em tôi chạy ra khỏi Hà-nội.Mới có 3 ngày, tôi làm sao biết được những gì đã xảy ra nhưng khi hơn 1 tuổi, tôi đã nhận biết và nhớ cho đến ngày hôm nay và một vài sự việc mà lúc nào tôi cũng tưởng như còn rất mới… Hai chị em chúng tôi được gánh đi, mỗi đứa ngồi một cái thúng, chị Yến được chú Tích cõng. Cùng vài người nữa, cả nhà tôi cứ xuyên rừng, lội sông, lội suối, trèo đồi, trèo núi mà đi. Một ngày trên đường đi gặp ngôi chùa hoang, mẹ tôi đặt tôi nằm trên cái bệ cao và kết quả là tôi ngã xuống giập cằm vào cái bệ xi-măng. Vết thương sâu lắm, ăn cơm lòi cả cơm ra ngoài. Bố tôi lấy vải trắng băng lại và buộc trên đầu. Vết sẹo khá dài vẫn còn đây. Bố tôi đã làm dữ vì với ông, tôi là…hòn ngọc đen yêu quý của ông.

Cả nhà tôi cứ đi mãi như thế, càng ngày càng xa Hà-nội. Chỉ thấy rừng và rừng. Đoàn người đi cùng với gia đình tôi thưa dần, chẳng biết họ đi đâu. Một lần qua sông trên một cái mảng ghép bằng các thanh tre, lúc chuyển đám trẻ con xuống, tôi là đứa bị rớt xuống sông, chắc không phải là sông vì tôi còn nhớ nước ở đó có màu như đen, đen một cách kỳ cục lắm chứ không phải là xanh thẫm khiến mình tưởng là đen. Bố tôi nhảy xuống vớt tôi lên và khi qua tới bờ bên kia mới biết được cái người chèo mảnh đó chuyên giết người lấy tiền vì anh ta biết là dân Hà-nội sơ tán, ít nhiều gì cũng có tiền hay vàng. Qua suối cũng khổ, bố tôi phải cột dây thừng ngang bụng, mọi người ở lại giữ đầu mối dây, bố tôi lội qua con suối rộng, nước đổ từ trên cao tung toé dữ dằn, sùng sục giữa những tảng đá đầy rên trơn trợt. Qua tới bờ bên kia, bố tôi tìm cây cột dây rồi lại lội ngược trở qua. Người lớn buộc trẻ con trên lưng và cứ nắm sợi dây ấy lần từng bước. Tôi là người được bố cột trên lưng.

Có những ngày qua khỏi cánh rừng lại thấy làng mạc ruộng vườn. Trời thì rét. Bố tôi ủ tôi trong chiếc áo Trấn Thủ dầy cộm vào những trại gà, tìm những cái trứng mới đẻ còn ấm, bố chọc 2 đầu trứng cho tôi húp sống. Có những chiều bố công kênh tôi trên vai đi giữa những ruộng lúa xanh rì, ghé vào quán lá, mua cho tôi cái kẹo bột nhỏ xíu, tôi cứ ở trên lưng, trên vai ông và bố tôi vừa đi vừa nói …bố đánh ton – ton đánh bố …Hết trại gà, hết nhà cửa ruộng vườn, gia đình tôi lại xuyên rừng mà đi. Tôi nhớ có một đêm, trời tối lắm, chẳng ai nhìn thấy ai, tất cả nằm mọp ở một cửa rừng ngong ngóng nhìn vào đêm tối… lâu lắm, lâu lắm…bỗng có ánh đèn loé lên ở xa chớp tắt 2,3 lần, thế là bố tôi lại ôm tôi lao theo hướng ánh sáng đó. Tất cả mọi người đều chạy, ngậm tăm mà chạy… Sau này, mẹ tôi bảo để tránh Tây và tránh cả Cộng sản nữa, vì gặp phe nào lúc đó, mình cũng chết.

Từ lúc chạy khỏi Hà-nội, tôi mới có 3 ngày tuổi.Tôi lớn lên dần trong rừng sâu, ăn khoai sắn độn cơm vì chỉ bố tôi là được ăn cơm trắng. Tôi lớn lên trên lưng, trên vai, trên chiếc áo Trấn Thủ của ông và quan trọng hơn cả là trong tiếng đàn, tiếng hát của ông. Tôi không còn nhớ ông hát hay ra sao nhưng chắc chắn là không dở và tiếng đàn của ông, tiếng đàn măng-đô-lin cùng với tiếng hát…Trên đồi xanh, chiều đã xuống dần. Mặt trời lấp ló sau đồi chiều vàng… đã đi vào trái tim non nớt của tôi và ở lại đó vĩnh viễn. Chắc chắn ông cũng không thể ngờ rằng, những ca khúc ông hát cho đứa con gái xấu xí của ông ngày đó, lại có lúc mở ra cánh cửa định mệnh gần như dành sẵn cho nó, đứa con chịu nhiều thiệt thòi nhất trong gia đình, chắc chắn bố tôi cũng không hề nghĩ rằng, những ca khúc buồn bã ấy sẽ ảnh hưởng như thế nào trên cuộc đời của tôi. Bố tôi lại càng không bao giờ nghĩ đến cái lúc ông nằm xuống và ra đi trong cơn điên loạn, không một người thân bên cạnh, trong trại tù Lý Ba Sơ, giữa rừng thiêng nước độc. Những câu nói cuối cùng trong cơn điên loạn vẫn cứ là lời ông dành cho vợ con mà tôi là đứa con ông thương nhất.

… Từ chương trình Pháp tôi được học 5 năm tại Hà-nội, nay chuyển qua chương trình Việt, tôi chẳng hiểu gì. Kể ra thì vô lý vì tôi học lại từ đầu nghĩa là từ lớp Năm, có gì khó khăn, mà không thể hiểu được, nhưng rõ ràng là, chữ nghĩa không hề chui vào đầu tôi ngoài môn học thuộc lòng. Tôi nhớ ngôi trường cũ đẹp thênh thang, cái sân chân vuông vứa có một cây xoài khá lớn ở một góc. Tôi nhớ cái buồng ngủ như trại lính với 3 dãy giường giống hệt nhau. Mỗi chân giường là một cái ghế trên đó để sẵn chiếc váy xanh nước biển đậm, áo sơ-mi trắng bóng có dây cài ngang và đôi vớ trắng. Màn trắng, chăn gối, niệm trắng. Đêm đến các sơ Pháp bỏ tóc dài quá lưng, tay cầm tràng hạt vừa đi vừa kiểm soát, vừa đọc kinh. Lạy Chúa, trong đời tôi, tôi chưa thấy hình ảnh nào đẹp như thế...

4 giờ rưỡi sáng, những mái tóc dài đã biến mất dưới cái lúp trắng. Bà đứng đầu phòng vỗ tay đánh thức chúng tôi. Chỉ 15 phút làm vệ sinh thôi, chúng tôi dù còn tiếc giấc ngủ cũng chẳng thể làm sao hơn, nhỏm dậy làm giường rất nhanh rồi túa nhau vào phòng tắm. Mỗi đứa có riêng đồ vệ sinh cá nhân. Một chậu rửa mặt men trắng, khăn mặt, bàn chải đánh răng, cốc. Tất cả một cỡ và giống nhau như quần áo, vớ giầy. Sau 15 phút, chúng tôi lại túa xuống lầu như một bầy vịt con. 2 chiếc bàn dài đầy mũ nồi đủ màu sắc, mạnh đứa nào chụp được cái nào thì chụp, đội lên đầu rồi tất cả theo nhau vào nhà nguyện của trường dự lễ sớm nhất của ngày. Đó là lễ Misa. Lễ xong, chúng tôi qua phòng ăn sáng, rồi bắt đầu một ngày học. Tôi không có gì xuất sắc nhưng cũng như những đứa trẻ lớp một bình thường bắt đầu bằng a, b, c nhưng chúng tôi được dạy tổ tiên chúng tôi là người Gaulois. Tôi cũng tin như thế. Tôi và chị Yến được mẹ tôi cho học piano. Khốn nạn cho tôi, sao ngày ấy tôi ngu và nhát thế hay tại các thiên thần của tôi đánh dữ quá, mười đầu móng tay bé bỏng của tôi mà mấy bà sơ chẳng thương xót gì, cứ roi mây mà quất. Thế là con bé sợ quá… xin mẹ cho thôi… Thật chưa có cái ngu nào giống cái ngu nào. Cả hai chị em cùng thôi. Chúng tôi được dạy cách ăn, cách ngồi ăn. Được dạy cách đi với cuốn sách dày cợm trên đầu… Nghĩa là đủ cả để sẵn sàng trở thành đầm con.

Tôi nhớ thương sâu đậm những năm tháng ngắn ngủi bởi với tôi đó là một trong vài khoảng đời đẹp, hạnh phúc và đau buồn nhất … Nỗi nhớ mong hình dáng to lớn, xinh đẹp của mẹ mỗi chiều thứ sáu đến mỏi mòn tuyệt vọng. Nước mắt vòng quanh, tôi tủi thân lấp ló, thèm thuồng nhìn các bạn hớn hở tung tăng theo chân bố mẹ rời trường. Cả một ngôi trường to lớn bỗng trở nên vắng lặng. Sự im lặng khiến tôi cảm thấy ngôi trường dường như lớn lên gấp trăm lần và những tiếng đọc kinh rầm rì của các sơ thường ngày rất nhỏ như tiếng mẹ ru con, chiều thứ sáu cũng như cao hơn, vang vọng trầm bổng trong không gian, như muốn sưởi ấm những trái tim non nớt cô đơn, ngăn những dòng nước mắt tủi thân đừng rơi xuống quá sớm.

Mẹ tôi phải làm việc ở xa để kiếm tiền nuôi mấy chị em tôi - Ngọc Anh mới được sinh ra vài tháng sau khi mẹ nghe lời bố mang chúng tôi từ biên giới Trung Hoa trở về Hà-nội tìm người bảo lãnh bởi lúc đó, Pháp đã nắm chính quyền. Cộng sản cũng thành lập Đảng - Bố tôi không muốn theo Cộng sản nhưng đã từng chống Pháp, giờ khó an toàn nếu không có người quen biết bảo đảm - Mẹ được bố tôi – bây giờ - giúp đỡ công việc buôn bán và vì thế khi chúng tôi đến tuổi đi học, mẹ gởi hai chị em tôi vào nội trú, còn anh tôi ở với bà nội. nhà 106 Hàng Bông…., tiền học hai chị em tôi gần 50 ngàn mỗi năm là một số tiền không phải nhỏ, không phải ai cũng có và cũng dám làm. Giờ nghĩ lại, tôi thương sự hy sinh của mẹ, tôi hiểu vì sao có những chuyện khiến tôi đau lòng xảy ra. Tôi hiểu. Tôi hối hận vì có những lúc… không phải với mẹ dẫu lòng tôi vẫn buồn đau vì sự mất mát tình yêu của người cha là điều không thể thay thế được – không ai có thể làm được điều đó nhất là với tôi.

Mê hát do thừa hưởng dòng máu văn nghệ của cha nên khi nghe Saigon tổ chức cuộc tuyển lựa ca sĩ nhi đồng, tôi không thể gạt bỏ ý nghĩ liều lĩnh của một đứa bé gái mới trên 10 tuổi. Tôi chỉ nói điều này với anh vì anh Sơn cũng thích hát, thích vẽ. Anh hứa sẽ không cho bố mẹ biết nhưng cả hai chúng tôi đều biết rõ, biết rõ hậu quả của sự việc vì không thể nào bố mẹ tôi không biết đến sự vắng mặt của tôi. Mẹ tôi vốn là em út trong một gia đình có 3 chị em gái. Khi di cư, bác Tư tôi ở lại với bà ngoại. Gia đình bác Tuất tôi ở Saigon mà bác gái lại rất thương tôi. Bác Tư ở lại Hà-nội có anh Hùng, anh Tín sau này còn có thêm anh chị nào thì tôi không biết, nghe nói hai anh tôi đều đã đi học và tốt nghiệp ở nước ngoài. Cả hai anh có vào Saigon tìm gia đình tôi một lần rồi thôi, không liên lạc gì cho đến bây giờ. Mẹ tôi đã tiếp đãi các anh theo đúng tinh thần Quốc-Cộng. Điều đó có lẽ khiến hai anh buồn lòng. Không có lần thứ hai. Tôi trách mẹ vì dù Quốc hay Cộng cũng không thể cắt đứt tình máu mủ ruột thịt và chẳng hiểu vì sao, ngay cả chị Yến tôi dù ở lại, dù đã đi Hà-nội chơi mấy lần, cũng không tìm thăm lại các anh em của mình và mộ của ông bà ngoại.

Nhưng năm đó thì gia đình bác Tuất ở Saigon.Các chị Tuyết, Kim, Oanh, Nghiệp, anh Bảo, anh Toàn đều hát hay và vì bác Tuất trai sử dụng kèn Clarinette từ trước di cư. Tôi tin bác sẽ cho tôi ở vài ngày và che chở cho tôi. Thế là tôi quyết định ra đi. Mượn quần soọc, áo sơ-mi của anh, tôi tới bến xe hàng chuyên chở rau xin quá giang. Đêm đó, tôi nằm sau xe tải ôm đám bắp cải ngủ cho tới khi xe tới Saigon. Ông tài xế già tốt bụng còn dặn nếu muốn trở lại, cứ tới bến tìm, ông sẽ cho trở về. Tôi không nhớ rõ nhưng chắc chắn gia đình bác Tuất đã ghi tên cho tôi dự cuộc thi tuyển đó. Em bé Lệ Mai ghi danh bài “Từ Giã Kinh Thành” nhưng bị từ chối. Con nít không được hát bài đó.Tôi nhớ ngay đến “Ngày Trở Về” của ông Phạm Duy và được chấm đậu hạng nhì, thế thôi nhưng đủ làm tôi sung sướng đến có thể chết đi được và không cần biết chuyện gì đang chờ đón tôi ở nhà. Nửa thế kỷ đã trôi qua, không biết còn mấy ai nhớ đến con bé đen ngòm, tóc tém, mặc quần soọc trắng, áo sơ-mi ca-rô xanh… hùng dũng hát “Ngày Trở Về” trong buổi thi tuyển ca sĩ nhi đồng tại rạp Norodom. Đối với tôi, dẫu sau đó bị một trận đòn thê thảm, tôi vẫn cho rằng việc làm liều lĩnh của tôi ngày đó là đúng, không có gì, không còn gì đúng hơn.
__________________

con` tiep
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Khánh Ly, Chuyện kể sau 40 năm

Chương 3

Đà Lại được một năm, gia đình tôi lại chuyển xuống Sài Gòn. Chúng tôi dồn vào một căn nhà khá xinh trên đường Sương Nguyệt Ánh mà nhiều năm sau đó nữ nghệ sĩ Kiều Hạnh, rồi cô Thái Thanh dọn về. Cạnh đó, đường Bùi Thị Xuân, là nơi bà nội sau, tức là mẹ dượng tôi, cũng là nơi vợ chồng ông Lân cô Thanh Nga bị sát hại ngay trước cửa. Ông Đồng Lân là em ruột bố dượng tôi nên tôi gọi cô Thanh Nga bằng Thím. Nhưng đó là chuyện về sau.

Trong cái cư xá gồm khoảng 10 căn, tôi cùng đám trẻ con không phân biệt Bắc Nam cùng chơi trò …tạc hình dù mẹ tôi ngăn cấm. Bà thường tặng tôi những trận đòn nhớ đời mà tôi chẳng hiểu lý do vì sao. Tự nhiên mẹ tôi lôi ra đánh, bắt xin lỗi. Tôi có lỗi gì đâu mà xin. Đánh nữa cho bỏ cái tật lì lợm. Không khóc hả, đánh nữa, đánh nữa. Tôi không bao giờ khóc ngay lúc đó, thường là sau mỗi trận đòn, tôi trốn trong nhà tắm hoặc đầu ngõ, kiếm một chỗ khuất để khóc một mình và những lúc ấy, tôi nhớ Bố tôi biết bao nhiêu. Ừ, nếu có Bố ở đây, mẹ sẽ không bao giờ đánh tôi như vậy.

Mấy người chị họ như chị Tuyết, chị Kim đều được bác Tuất cho đi hát. Chị Yến tôi cũng được đi hát theo, và người để ý đến chị Yến chính là nhạc sĩ Lam Phương, bấy giờ ông vừa làm xong bài hát “Khúc Ca Ngày Mùa”. Tôi không còn nhớ các chị hát ở đâu bởi lúc đó, Sài Gòn chưa có một phòng trà nào, mà dẫu có, các chị cũng chưa đủ tuổi để vào những nơi đó. Điều đó chứng tỏ là mẹ và dượng tôi (từ nay tôi sẽ gọi dượng bằng bố) không hề có ác cảm với việc con mình đi hát. Chuyện hát hò có lẽ chỉ nghiêm khắc đến nghiệt ngã đối với tôi, mà cho đến bây giờ lý do tại sao tôi vẫn không hiểu.

Lại dọn nhà nữa, có lẽ vì ở gần bà nội, mẹ tôi cứ bị ông em của bố tôi qua tận nhà chửi bới, thậm chí còn xông vào muốn đánh mẹ. Ông này là em dưới ông Đổng Lân…trong có 2 năm, dọn nhà 3 lần, tôi mất trắng những ngày được đi học. Tuy vậy, tôi cũng lờ mờ hiểu được rằng… bên nội sau không thích mấy anh chị em tôi, nhất là không ưa mẹ tôi chút nào, không tán thành cuộc hôn nhân của bố mẹ. Có lúc tôi hỏi mẹ… Sao mẹ không nhận lời cái ông Tây yêu mẹ và yêu cả các con. Cái ông Toàn Quyền ở Hà Nội ấy…Mẹ tôi cười. Ôi! tình yêu. Thì ra mẹ tôi yêu bố tôi, quên đến nỗi quên hẳn bố ruột tôi đang trông chờ tin tức của vợ con, quên hẳn mình đã có 3 đứa con, quên luôn rằng lúc đó bố tôi đang ở với bà Lan Phương (em bà Ái Liên, dì ruột của ca sĩ Ái Vân).

Nhà chúng tôi nằm cạnh Nha Quân Nhu đường Trần Hưng Đạo. Lúc này, tôi đã vào nếp như ý mẹ tôi mong muốn, nhưng tôi chẳng làm sao quên được hình ảnh của một buổi chiều mẹ đến mẹ đến nhà bà nội tôi ở Hàng Bông. Sau khi nói chuyện với bà nội, mẹ bảo với chúng tôi ….Bố các con chết rồi. Hôm đó mẹ rất đẹp, mẹ mặc áo dài mút-sơ-lin màu tím hoa cà, có những chấm tròn trắng, quần đen, kính đen và to.Tóc mẹ chảy ngược ra sau, bới lại. Mẹ, hôm đó đẹp lắm. Mẹ tôi lúc nào cũng đẹp. Bà không chịu được cái gì xấu, không chấp nhận cảnh nghèo, không chịu thua kém ai và dĩ nhiên, bà muốn các con của bà nếu không theo kịp cũng có phần nào cái đẹp của bà, dẫu bà nợ nhiều lắm. Mẹ tôi vẫn cứ, bà vẫn cứ là cái đinh trong mắt … 2 bà nội của chúng tôi.

Như thế, tôi có hai bà nội. Ngày giỗ bố tôi, mẹ và các em tôi đều có mặt… ăn giỗ Bố Viễn… các em tôi bảo nhau như vậy. Chúng tôi sống chung hoà thuận, không hề có chuyện Bố tao, Bố mày bởi chúng tôi cùng một mẹ sinh ra. Với tôi, cho dù bố mẹ không thương cũng không hề tị nạnh ganh ghét các em. Một gia đình, thoạt trông vào quả là hạnh phúc qua những đứa con, nhưng vẫn có những cơn sóng ngầm dữ dội. Bố Viễn tôi ngày xưa yêu và bằng mọi cách cưới mẹ cho được. Gia đình nội tôi khá giả. Bố tôi học trường Tây đến hết trung học, ông đi Hongkong. Tôi không hiểu rõ ông đến Hongkong làm gì nhưng bà nội cho biết ông nói được 7 thứ tiếng Tàu, tiếng Mỹ. Một thời gian làm việc với Nhật nhưng sau đó, ông theo phong trào chống lại Pháp. Vậy việc ông đi Hongkong có liên quan gì đến đảng cộng sản được chính thức thành lập sau này hay không, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng hơn là bố cưới mẹ tôi ở Hongkong. Khi hai ông bà trở về, mẹ đã có thai và bà nội tôi đành phải cưới vợ cho con, người con độc nhất của bà.

Theo lời mẹ kể, bà nội tôi là người nghiệt ngã, ông nội thì nhu nhược hiền lành nhưng vẫn có thêm vợ. Bà tôi khai thác mỏ phốt phát và nuôi cả nhà. Mẹ bảo …Bố tôi là người hiền như cục, bố rất tốt với bạn bè. Ai xin gì cũng cho. Cho hết quần áo của mình, về nhà lấy quần áo của ông nội, cho luôn. Đi làm nhưng chẳng bao giờ ông mang tiền về nhà. Mẹ có hỏi ông bảo …cho hết rồi. Bà nội và mẹ tôi không phàn nàn gì trước cái lối vung tay của cậu Ấm. Bà tôi kể… Năm đó, bà đã 26 rất giỏi giang công việc buôn bán dù không biết chữ nhưng muộn chồng vì bà không được đẹp (Mẹ thường bảo tôi giống bà nội). Ông nội nhà giàu, không có con trai, nhờ người mai mối thế là bà tôi về làm lẽ. Một hôm bà đang ngồi trước cửa, có ông thầy bói đi qua, bà tôi đang phiền muộn về nỗi chậm con bèn nhờ ông ta coi, bà cũng kể lể nỗi niềm hiếm muộn của mình. Ông thầy nói với bà rằng… Bà sẽ có một người con nhưng người con này sẽ không ở với bà lâu vì tiền kiếp của đứa bé này là một người Tàu, ông này làm quan và chết trẻ… Thế rồi bà tôi sinh bố tôi và chỉ một lần đó thôi.

Tôi không quan tâm đến chuyện giàu có của bà nội và khi gặp mặt lần đầu tiên tôi đã 5 tuổi rồi. Bà nội ở một mình, 106 Hàng Bông. Nhà rất rộng, căn ngoài bà mở depot nước đá, căn thứ hai có một cái giường lớn, cái bục thì đúng hơn, lát đá hoa, trưa hè Hà Nội nóng nực, nằm xuống, sướng không chỉ cái lưng. Qua một khoảng sân rộng ngổn ngang những dụng cụ điện làm bằng sứ trắng tới phòng của bà và chúng tôi. Lại một khoảng sân đầy dụng cụ nữa, mới tới nhà vệ sinh. Sau khi hồi cư, mẹ để chúng tôi ở với bà, còn mẹ đi buôn bán, nghe đâu ở Hải Phòng. Tôi rất ngại đến gần bà vì bà tôi rất nghiêm, ít khi hỏi tới các cháu và luôn luôn có ác cảm với mẹ tôi. Phần tin tức bố tôi cứ mù tăm, hoặc là bà có biết, mẹ có biết nhưng nghĩ chúng tôi còn bé dại, có nói cũng vô ích.

Tôi bị nhức trong xương, bà bảo là tê thấp, phong thấp gì đó và từ nhỏ, tôi đã phải uống những chén thuốc Bắc đắng nghét. Dù bà không nói nhiều với chúng tôi nhưng bà săn sóc rất đầy đủ. Bà hay nấu cháo hoa cho tôi ăn với đường, bà cho anh Sơn ăn cao ban long, cao hổ cốt do chính bà nấu và bán. Bà tôi còn biết làm xà bông nữa, những thỏi xà bông màu xanh được cắt vuông vức. Bà còn chơi hụi và thỉnh thoảng bà dắt chúng tôi đến những buổi lên đồng, gọi là “lấy lộc”, tụi tôi rất khoái cái màn này. Uống thuốc Bắc, ăn sáng bằng cháo hoa, đi xem lên đồng và nằm ngủ trưa trên cái giường lát đá hoa cho đến lúc mẹ cho chị Yến và tôi vào nội trú. Tôi không hiểu vì sao mẹ không gởi anh Sơn theo chương trình Pháp nơi trường bố tôi đã học. Chắc mẹ có lý do riêng. Tôi thắc mắc không hỏi để đến bây giờ thì quá trễ rồi.

Gần như chúng tôi chỉ được mẹ đón một lần mỗi tháng. Mẹ đón, nhưng lại đưa chúng tôi về nhà bà nội, rồi lại đi mất. Tôi đã quen sự ơ hờ của mẹ và những ngày cuối tuần của tôi rất thần tiên. Tôi không phải bưng đĩa rau dền xay nhuyễn với bơ lên văn phòng của Bà Nhất để vừa khóc vừa ăn, tôi gọi món đó là …cứt trâu. Về với bà nội dù chỉ 2 ngày, tôi tung tăng chạy khắp phố Hàng Bông, được ăn bánh mì paté gan cháy, xôi lúa hoặc thơ thẩn trước các cửa hàng nghe lóm nhạc. Tôi biết nghe “Bà Mẹ Quê, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê…”. Tôi quen cái vị đắng khó uống của những thang thuốc Bắc và thích đặt lưng lên cái sạp lót đã hoa, mát đến lạnh người. Mỗi tháng chỉ uống thuốc được 4, 5 lần nên tôi ôm cái bệnh gọi là phong thấp cho đến bây giờ và cũng một phần vì nó, tôi làm quen với thuốc ngủ.

Nhạc của Phạm Duy và của các ông nhạc sĩ thời bấy giờ đã len lỏi ấn núp trong trí nhớ thơ dại của tôi từ những ngày lang thang trên con phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Ra khỏi nhà, nếu đi thẳng, tôi sẽ đến bờ hồ. Rẽ tay phải là Hoả Lò. Rẽ trái tới phở Phú Xuân và rạp xi-nê Kinh Đô. Thời đó, chúng tôi hay sưu tầm program in mầu đẹp lắm và tôi nhớ mãi cái phim Ấn Độ “Magala cô gái Ấn”. Ôi! cái phim buồn làm sao, tôi khóc quá sức khi thấy trên màn ảnh hai người vừa khóc, vừa hát vừa chia tay nhau. Tôi cũng được xem phim “Cô Gái Việt” mà tôi nhớ bài hát chính của phim… Lời sông núi bừng vang bốn phương trời… Trong những ngày cuối tuần đó, tôi cũng đến ở với bác Tuất. Nhà bác ở ngay cạnh Quốc Tử Giám. Chỉ băng qua đường, tôi có thể vào leo lên lưng mấy con rùa to tướng bằng đá. Đêm đến cả nhà kéo đi xem cải lương. Tất cả chục mạng chất trên một chiếc xích lô. Tôi thích cô Kim Chung, Bích Hợp, Kim Xuân và danh hài Tứ Vững, Phúc Lai. Tôi cũng mê cải lương từ đó. Nghĩa là cái gì có ca, diễn là nó đi thẳng vào đầu tôi.

Bố mẹ tôi có ngôi biệt thự lớn lắm. Cả một con đường toàn những biệt thự có chó bẹc-giê, có người da đen gạch mặt giữ nhà, tụi tôi thường chọc phá rồi chạy trối chết về nhà. Tôi không nhớ tên đường nhưng nó nằm ở gần Hồ Tây và cũng gần vườn Bách Thảo. Tôi vào vườn lượm những trái chi chi nhỏ xíu đỏ tươi hoặc ra lội xuống đền Ngọc Sơn… Nếu dòng đời cứ êm ả trôi như thế, tôi đã trở thành một bà sơ vì cho dẫu các thiên thần đã dùng roi mây đánh vào các ngón tay tôi, dù có bắt tôi lên văn phòng cho hết cái món …cứt trâu, co la mắng chúng tôi…Các vous có muốn làm cái thứ trèo me, trèo sấu ấy không? Hình ảnh các bà sơ thật là đẹp đẽ. Nếu bố tôi không chết, nếu không có cuộc di cư và nếu mẹ tôi cho tôi tiếp tục học trường đó – sau di cư dọn vào Đà Nẵng – thì có lẽ cuộc đời tôi đã theo một hướng khác. Nhưng một là mẹ không chú ý đến tôi, hai là sau di cư, gần như đa số trắng tay. Nhà không giàu lại đông anh chị em, sẽ có đứa bị thiệt thòi. Điều này thường xảy ra. Ác ở chỗ, nó lại rơi trúng tôi.

Ở Trần Hưng Đạo, kế ngã tư Trần Bình Trọng, tôi học trường tiểu học Cầu Kho. Không ai khảo sát sức học của tôi, cứ theo tuổi xếp lớp thế là tôi cứ ngày ngày lội bộ đến trường, chẳng học được gì chỉ để rệp cắn nát hai bên mông và đùi. Tôi không dám nói với thầy cô rằng tôi chẳng hiểu gì ngoài môn học thuộc lòng, mà thầy cô cũng không thấy cái dốt của tôi. Về nhà, chẳng ai chú ý đến chuyện học của tôi cả. Rồi chị Yến lấy chồng, người này quen với bố tôi, đến nhà thấy chị hiền lành đẹp đẽ, giỏi giang bèn sớt đi. Tôi biết chắc chắn chị tôi không yêu anh ta nhưng ở nhà chị khổ quá. Không được đi học nữa, phải chăn một lũ em, phải phụ với u già làm hết mọi việc. Chị cho rằng đi lấy chồng là thoát ra khỏi cái cảnh khổ. Bố tôi bằng lòng. Mẹ tôi thì không. Đám cưới chị Yến đơn giản đến độ giờ tôi không còn nhớ. Cái điều đáng nhớ nhất là ngày đó, mẹ tôi la mắng chị dữ lắm. Chị chỉ ngồi nghe và khóc. Tôi thường tự hỏi tại sao mẹ lại có hành động như vậy. Mẹ thương, không muốn rời xa chị vì chị mới 16 tuổi hay vì mất chị, mẹ như mất một cánh tay, nói rõ hơn mất một người làm việc giỏi?

Chị tôi khóc trong ngày cưới và khóc cả cuộc đời làm vợ, làm mẹ. Những giọt nước mắt rơi xuống, không phải để khóc cho hạnh phúc. Chị tôi đi lấy chồng và đó là lỗi lầm lớn nhất, duy nhất chị vấp phải. Một lần cho một đời. Chị tôi đi lấy chồng. Lấy người đàn ông đầu tiên chị quen. Chị tôi còn trẻ dại, chưa biết gì về tình yêu. Nói đúng hơn, chị không hề yêu, không biết tình yêu nó như thế nào. Bây giờ trên 60, chị tôi vui với 5 đứa con và một bầy cháu nội, ngoại. Tính chị đơn giản, không biết giận hờn ai bao giờ, nếu có thì có lẽ là người đã tặng chị 5 đứa con.

__________________

con` tiep
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image
Khánh Ly, Chuyện kể sau 40 năm
Chương 4

Thế là chị tôi đi lấy chồng. Lấy chồng ở cái tuổi còn thơ, chưa biết tình yêu là gì. Chưa biết ngoài gia đình, cuộc đời xoay dần ra sao. Hơn 40 năm sau hỏi, chị bảo… Thì ai mà biết gì, bố mẹ bảo lấy, bắt lấy thì phải lấy, thế thôi… Tại sao lại thế? Tại sao lại có một tâm hồn, một con người đơn giản như thế? Chị vẫn cứ cười xem như chẳng có gì là quan trọng. Mà cũng phải thôi, các con chị đã lớn. Chị không còn trẻ. Không, 27 năm trước chị còn trẻ mà dường như không bao giờ chị nghĩ đến cả chuyện… làm lại bởi một lẽ đơn giản, chị không biết yêu, nên chị sống với các con và bây giờ là các cháu.

Tưởng chị là người không may hoá ra chính chúng tôi mới là những đứa không may. Nhìn chị bây giờ, tôi tự hỏi… phải chăng ngoài cái không biết yêu, hình như chị cũng không bíêt đau khổ là gì. Ngày xưa, chị Yến chỉ có độ hai, ba người bạn cùng xóm, giờ chị có nhiều bạn, chị “ăn hụi” cùng nhóm bạn già nay đi Thái Lan, mai đi Hà Nội chơi Chùa Hương, vịnh Hạ Long. Chị có thể đi bất cứ nơi nào chị muốn không cần xin phép ai. Chị luôn vui cười như trẻ thơ không hề biết lo âu. Tôi về, chị đeo theo tôi quên cả con dâu vừa sanh, đến nỗi tôi phải nhắc để chị nhớ là chị vừa có thêm một đứa cháu nội. Chị theo tôi, có những hôm tôi ngồi cả ngày với ông TCS chẳng nói năn gì, mà có nói, chuyện chúng tôi chị đâu có hiểu nhưng chị vẫn đi theo không hề phàn nàn, kêu ca mệt mỏi.

…Sau khi em đi rồi, chị đi bán chợ trời, cái gì bán được là bán. Lão ấy bỏ chị và mấy đứa con bơ vơ. Rồi mất nhà, mấy mẹ con lăn lóc, nay ngủ nhờ chỗ này, mai nhờ chỗ khác. Mẹ thì khó tính, ở không được lại xách con đi. Một hôm chị gặp một ông thầy – tôi quên không hỏi chị là Thầy nào, Công giáo hay Phật giáo – lan man kể lể tâm sự khổ sở của 6 mẹ con, bất ngờ ông Thầy nói… tưởng ai chứ chị là chị của cô Khánh Ly, ngày trước cô ấy thường hát giúp chúng tôi để gây quỹ nuôi các trẻ mồ côi tàn tật, thôi thì bây giờ tôi để lại cho chị mảnh đất và căn nhà này, chị trả góp cho tôi tới bao giờ hết thì thôi… Miếng đất khá rộng và căn nhà thì gần như đổ nát trị giá 10 cây vàng - dẫu có đổ nát cũng là cái nhà, có chỗ cho mấy mẹ con chui ra chui vào – và rồi với những gói quà 2 pounds tôi chắt chiu gởi về, lần hồi chị cũng trả được hết món nợ đó.

So với căn nhà bị tịch thu của chị, dĩ nhiên là không bằng nhưng tôi lại thích bởi cái vẻ nghèo nghèo, nho nhỏ của nó… Em không dư tiền gởi về cho cả gia đình, chỉ có thể mỗi năm gởi một lần cho Yến mà thôi. Các cháu lớn hết, đã có gia đình công ăn việc làm, không giầu nhưng đủ sống và như thế nay, Yến sống sướng hơn tụi em nhiều lắm… Chị biết, chị nghe nói mấy em ở Mỹ làm việc cũng cực khổ lắm. Chị không thiếu gì vì các cháu. Tiền em gửi, chị để dành lúc về già hay bịnh hoạn… Bao nhiêu năm rồi, từ một thiếu nữ nay thành bà nội, bà ngoại, chị tôi vẫn hồn nhiên… không biết tiền là gì, nói gì đến tình yêu.

Chị không tha thiết đến việc đi Mỹ… Chị chỉ muốn đi một lần cho biết rồi về chứ ở bên ấy làm gì… Yến ạ, em giờ chưa đủ điều kiện để cho Yến đi du lịch thăm thú nước Mỹ nhưng mấy chị em ở đây góp lại cũng chẳng khó khăn gì… Số chị lại không may. Hồ sơ nộp theo diện bảo lãnh mà bây giờ xin du lịch thì …hỏng rồi. Chờ một năm nữa mở hồ sơ bảo lãnh thì chắc chắn là chị sẽ được đi nhưng cái chính là chị tôi không muốn qua đây rồi … ở lại đây. Tôi cũng hiểu một người như chị dù có ăn học, dù ngày xưa này mặc áo lụa vàng lái “xế hộp” chạy phăng phăng trên xa lộ khiến có lúc nhà văn Nguyễn Đình Toàn… suýt đổ nhưng hơn 20 năm, dẫu trãi qua lắm hồi bỉ cực, đời sống chị ở quê nhà đã thành nếp, chị khó sống ở nơi khác, nơi không có những bạn bè cùng “ăn hụi” với chị, nơi chị mỗi tháng giúp đỡ cho 2 học sinh nghèo học giỏi.

Tôi rất thương chị, dĩ nhiên vì chị là chị ruột của tôi, nhưng đồng thời, tôi nhận ra rằng đừng thương hại chị bởi chị, con người chị đơn giản quá, chị không biết khổ đau hoặc chị không để khổ đau gậm nhấm giết hại tâm hồn vốn luôn hồn nhiên của chị… Trong nhà thường chép miệng… tội nghiệp chị Yến, lúc có tiền chẳng được hưởng gì… Đúng, đối với chị, hờn giận, hối tiếc là những điều không tìm thấy ở con người chị. Đơn giản, hồn nhiên vô tư hơn cây cỏ. Đó là cái mà chúng tôi không có làm đôi khi tôi hơi ganh tỵ mỗi khi nghe tiếng chị cười giòn tan qua điện thoại hoặc mỗi khi con chị cho biết… Mẹ con đi Thái Lan, đi Hà Nội chơi rồi… Sao chị sướng thế nhỉ. Cái phần thưởng Trời Đất dành cho chị lúc cuối đời thật là đẹp đẽ, tốt lành. Bởi chị sống tốt lành.

Chị cả đi lấy chồng thì cứ theo thứ tự từ trên xuống dưới. Con em kế tiếp những công việc chị thường làm là tôi. Nhà thì đông, chỉ có một u già theo bố mẹ từ Hà Nội vào Nam. Mẹ tôi giao hết công việc cho u già và chị Yến. Bà không hề làm một việc gì dù là xuống bếp lo nấu nướng cho bố tôi. Bà giao cho tôi 70 đồng đi chợ mỗi ngày. Trưa 4 món, chiều 4 món khác nhau. Trời đất ạ! tôi đã có đi chợ mua bán bao giờ. Cái làn đi chợ thiếu điều còn muốn to hơn tôi nữa và không bao giờ tôi quên được cái cảm giác lần đầu tiên bước chân vào chợ một mình. Tôi cứ loay hoay vẽ lại trong trí nhớ những món ăn mà chị Yến và u già đã nấu… Canh dưa chua thì phải mua những gì, cà bung rồi thịt đông cần gì. Canh bầu canh bí, rau muống luộc hay xào. Đậu nhồi thịt rán hay đậu rán om cà chua…. cái đầu nhỏ xíu của tôi phải làm việc dữ dội để tránh khỏi bị đòn nếu không làm đúng những điều mẹ tôi dặn.

Lúc đó tôi học trường Cầu Kho. Trường cứ theo tuổi sắp lớp không hề khảo sát trình độ của học sinh, có lẽ họ nghĩ con nít không cần thiết, nên tôi vào ngay lớp nhì. Buổi sáng dậy sớm xách làn đi chợ, về giặt hai chậu quần áo, phơi phóng xong, ăn cơm rồi đi học buổi chiều. Nói là đi học chứ thực tình, tôi có học được cái gì. Lẽ đơn giản là tôi không có căn bản, tôi chẳng hiểu gì. Thầy giảng cứ giảng, tôi ngồi như vịt nghe sấm, chờ tới giờ về. Người anh thứ hai của tôi kế chị Yến, hơn tôi 2 tuổi, học trường Văn Lang. Anh Sơn cũng là người thông minh, thích nhạc, thích vẽ, mê nhảy đầm và nhiều bạn. Bạn của anh cũng tự nhiên trở thành bạn của tôi. Anh đưa về các anh nguyễn Đức Nam, anh Đinh Bù Loong (thân phụ của ca sĩ Diễm Liên), anh Nguyễn Ngọc Kiểm tức anh Ngọc Hoài Phương bây giờ. Trong tất cả các bạn của anh chỉ có anh Ngọc Hoài Phương là được bố mẹ tôi cho vào nhà, coi như con ruột. Còn những người khác, đang ngồi chơi, nghe tiếng xe của bố tôi là ù té chạy hết. Do đó, ngay từ nhỏ, tôi đã xem anh Ngọc Hoài Phương như anh ruột của mình. Anh gọi tôi bằng “chú” và tôi cũng gọi anh như vậy.

Tôi trượt tiểu học, khỏi nói cũng có thể hiểu được sự thất vọng và giận dữ của bố mẹ tôi. Có học được gì đâu mà đậu. Thầy giáo cứ giảng, tôi cứ ngồi đó lẩm nhẩm thơ Nguyễn Bính, hát thầm trong bụng cho đến hết giờ. Ngày đi thi cũng thế, tôi nào có tha thiết gì đến chuyện học hành, thi cử, vì vậy sau cuộc thi tiểu học, tôi vẫn đi học nhưng không thi cử gì nữa hết. Tôi đi học là bởi muốn đi ra khỏi nhà để khỏi phải nghe những lời mắng nhiếc của mẹ, cái nhìn hầm hầm giận dữ của bố, tránh những ngọn roi, những cái tát, những chiếc giầy đập túi bụi trên đầu trên cổ tôi. Mẹ gởi tôi vào nội trú trường Thánh Mẫu cũng chỉ được chưa gần một năm đã bị trả về vì tội leo trường trốn đi chơi với một trong những người bạn của ông Ngọc Hoài Phương. Hoàng là người tôi thích và cũng là người viết cho tôi những lá thư tình đầu tiên. Bao nhiêu thư mở đầu bằng hàng chữ “Bé Mai”. Tôi giao cho ông anh Ngọc Hoài Phương cất giữ. Mẹ bắt tôi vào nội trú chỉ vì một lần bố tôi bắt gặp Hoàng và tôi đi bộ với nhau trên đường Võ Tánh. Ông nhảy xuống giáng cho tôi một bạt tai giữa cái nhìn kinh sợ của Hoàng và những người đi đường. Kết quả bao giờ cũng thê thảm với sự đốc thúc của mẹ tôi.

Tôi không nghĩ là mẹ thích thú khi thấy con mìn bị đánh đập nhưng có lẽ bà khó chịu đựng được cái nết lì lợm của tôi. Mắng chửi, tôi cãi lại. Đánh đập, tôi không khóc. Bắt xin lỗi, tôi không mở miệng mà ý muốn của mẹ tôi gần như là ý Trời, không đứa nào trong nhà dám làm người lại lời bà phán, kể cả bố tôi. Mẹ không thấy được sự trưởng thành quá sớm của tôi từ cái chết của người Cha mà tôi rất mực tôn thờ. Bà không mường tượng ra được sự việc đó lại ảnh hưởng đến tôi nặng nề như vậy. Mẹ không đọc được những suy nghĩ trong đầu tôi, một đứa bé mồ côi cha luôn luôn mong ước được sự vuốt ve âu yếm của Mẹ, để bù lấp nỗi thiếu thốn lớn lao nó đã mất vĩnh viễn. Mẹ lại càng không đọc được trong tim tôi một nỗi hờn ghen uất nghẹn không thể nói thành lời. Tôi vẫn thương Mẹ, thương các em, một tình thương chân thật. Chị em chúng tôi sống từ đó cho đến bây giờ không hề có sự chia biệt nào. Tất cả đều sống cùng một mái nhà, có cùng một người mẹ. Song mẹ tôi dường như quên hẵn sự có mặt của tôi trong đám con đông đúc của bà. Suốt một đời tôi thèm khát vòng tay ôm ấp và những lời nói trìu mến của một người Mẹ. Tôi thèm tình thương, và phải chăng những bi thảm của đời tôi, bắt đầu từ sự thèm khát bình thường tội nghiệp này.

Sau trường Thánh Mẫu, tôi đổi trường liên miên. Một năm trường Việt Tiến. Một năm trường Hưng Đạo. Một năm Nguyễn Bá Tòng. Tôi không phải đi bộ hay đi xe bus. Bà nội mua cho tôi một chiếc xe đạp mà tôi luôn luôn chạy giữa đường chứ không bao giờ đi vào lối dành cho xe đạp. Đùng một cái, chiếc xe bị mất. Nó bị ăn cắp chứ không phải tôi sơ ý. Mẹ tôi bảo…mày cứ chờ đấy, bố mày về rồi mày sẽ biết. Tôi quỳ giữa nhà, bố tôi cầm chiếc giầy của ông đập túi bụi vào tôi. Mẹ tôi ngồi nhìn tôi bị đánh, thản nhiên, thỉnh thoảng thêm vào … đánh nữa đi, đánh cho nó chết, cho nó chừa đi, mất xe thì mày đi bộ, không có tiền đâu mà mua xe khác cho mày… Bố tôi vừa đi làm về mặt đỏ bừng vì rượu, được lời của mẹ, ông túm lấy tóc tôi, xoắn lại, tay kia tiếp tục giơ cao chiếc giầy. Tôi đau quá nhưng lạ lùng làm sao, tôi không hề khóc. Tôi khóc không được vì nỗi oan ức và nghĩ xe của bà nội cho và nào tôi muốn làm nó mất. Trong trái tim non dại của tôi chợt vang lên…. Bố ơi! Bố ơi! Bố ở đâu… và tôi cảm thấy một nỗi căm phẫn chưa từng có bùng lên. Anh Sơn và các em tôi chẳng đứa nào dám nói một câu, chắc chúng không hiểu vì sao tôi bị đánh như thế. Chúng còn quá nhỏ và chưa hề bao giờ bị đòn.

Tôi thường lẫn vào đâu đó để khóc một mình sau mỗi trận đòn. Càng bị đánh tôi càng lì đòn, không sợ nữa, không cảm thấy đau đớn nữa. Căm phẫn, tủi thân, tôi cứ làm những gì tôi thích trái ngược hẳn với ý muốn của mẹ. Anh Sơn và các bạn anh đi chơi, đi “Bal Famille”, tôi bu theo. Chẳng cần ai dạy, tôi nhảy rất giỏi, nhất là nhảy “be bop” nên thời đó bạn bè gọi tôi là “Mai bộp, Mai đen, Mai chân voi”. Tôi bất cần dù sau mỗi lần trốn nhà đi chơi là lại lãnh một trận đòn nhưng anh Sơn tôi thì không bị gì cả. Thời đó đi nhảy như một cách biểu diễn những bước nhảy mới chứ không hề có sự lợi dụng trai gái. Vả lại, mọi người đều xem tôi như một thằng con trai và tiếng nhạc trong những lần khiêu vũ đã làm thức dậy nổi đam mê ca hát tưởng đã chết trong những ngày tháng buồn bã. Lúc đó tôi chỉ mơ hồ cái cảm giác thích được hát thôi. Mẹ tôi bị đau nhức tay chân, ngày nào tôi cũng đấm chân cho bà và trong những lúc ấy, bà hay cho chạy những đĩa nhạc Tango. Tôi đấm chân cho mẹ giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Mẹ tôi không hết nhức mỏi nhưng điệu nhạc Tango đã chui vào đầu tôi, đến nỗi những lúc mỏi tay quá, tôi đấm cho bà theo nhịp điệu Tango.

Anh Sơn biết tôi thích hát. Anh không ngăn cản mà hầu như tạo cơ hội cho tôi. Chính vì thế mới có những lần ở vũ trường Đồng Khánh, tôi dám leo lên sân khấu và từ ở đó, tôi nảy ra ý định tìm cho mình một cái tên. Tôi vốn mê đọc truyện từ nhỏ, nhất là Tam Quốc Chí và Đông Chu Liệt Quốc. Từ những chuyện đó, tôi tìm được 2 nhân vật Khánh Kỵ và Yêu Ly. Cái tên Khánh Ly có từ lúc đó….
__________________

còn tiếp
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

khánh Ly,Chuyện kể sau 40 năm
Chương 5


Từ thuở hồng hoang, thú vật đã biết tìm cho mình những hang ổ để sống. Là người, ai lại không muốn có một mái ấm gia đình, anh chị em quây quần yêu thương nhau, lẽ dĩ nhiên vẫn hơn những kẻ lạc loài không mái ấm tựa nương. Dẫu cho rằng tôi không thể yêu thương Bố Dượng như Bố ruột, nhưng nếu ông coi tôi như những đứa con của ông, điều đó sẽ an ủi tôi biết bao nhiêu. Với các em tôi, tôi yêu chúng, hay nói đúng ra, chúng tôi thương nhau như chị em cùng cha mẹ. Chúng còn nhỏ, chưa biết gì và ngay cả khi hiểu biết, chúng tôi cũng không hề phân chia… Bố chị… Bố em... Cũng chẳng bao giờ tôi quên ơn Dượng. Ông và Mẹ tôi cho tôi đi học đàng hoàng nhưng… lỗi tại tôi mọi đàng… Phần còn lại, tại ai, tôi không biết và chữ nghĩa đối với tôi như chuyện thần thoại, một điều không có thật.

Một năm nội trú trường Thánh Mẫu, tôi chỉ nhớ tên một người bạn, đó là chị Lài – đã lấy chồng và đi Pháp từ lâu – một chị nữa hiện là nữ tu, tôi vô tình gặp lại trong chuyến đi Vatican 1998. Phụng Hoà học chung với tôi ở Hưng Đạo. Em trai là Phùng Thuận vừa mất tại Cali. Ở nội trú, lễ Misa được lập lại như những năm tôi học ở St. Marie. Cũng 5 giờ sáng, chỉ khác là quần áo tuỳ tiện và không có mũ. Đặc biệt là không có cái món… cứt trâu rau dền nghiền nát trộn bơ. Mỗi tuần được ăn phở một lần. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhớ cái câu… Phở không người lái. Tức là cách đây mấy chục năm, tôi đã được ăn phở không người lái… bằng đĩa. Hơi sâu chứ không phải tô, với nước và chừng… chục sợi bánh. Tôi đi trước Việt Cộng với Xã Hội Chủ Nghĩa nhiều năm…. Tôi không buồn vì trường mới di cư, tiền học phí thấp nên ăn uống có phần giản tiện. Một con tôm kho có thể ăn hết bữa cơm vì nó mặn như một… kho muối.

Tôi được vào nội trú là vì cái người con trai đã gọi tôi là… Bé Mai…. Mẹ bảo… để nó ở ngoài, nó phễnh bụng ra lúc nào không biết…. Tôi chẳng hiểu vì sao và thế nào là phễnh bụng. Phải chi Mẹ chỉ bảo cho tôi tường tận, như tôi và các con tôi bây giờ, thì đã không thành chuyện và cuộc đời tôi nó sẽ khác, phải khác đi nhiều. Đã không học được, không muốn học, nên ở nội trú mà tôi… quậy… tới bến. Bài không học, không làm, còn trùm mền soi đèn pin đọc thơ Nguyễn Bính, đọc tiểu thuyết. Gần hơn nữa là đã dám trèo tường đi chơi với Đạt. Ngay khi đưa tôi vào xin ở nội trú, Mẹ tôi đã tường trình đầy đủ những nét xấu và lì lợm của tôi, thế cho nên các sơ chú ý đến tôi nhiều lắm và hành động leo tường trốn đi chơi là giọt nước đã làm tràn ly nước. Lỗi của tôi. Một lầm lỗi không thể khoan nhượng và lần này không phải là giầy mà là củi tạ. Tôi không có lý do nào để bào chữa cho mình và chấp nhận trận đòn đau đớn hơn cả những lần trước. Mẹ đánh tôi là phải là đúng.

Đạt chỉ là một trong những người bạn của anh tôi. Ở tuổi đó, tôi chưa biết thế nào là yêu, thế nào là tình yêu. Chỉ thấy đi chơi là vui là đi, nào đã có vấn đề trai gái. Tôi có chung với anh tôi rất nhiều bạn, toàn là bạn trai. Đạt đẹp trai, học rất giỏi tôi thích, nhưng đó không phải là tình yêu bởi tôi mới 14 tuổi, ham vui, ham đấu láo và bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những bài hát, bài thơ tôi thuộc nằm lòng thay vì những bài học trong trường, mà dù cố gắng, tôi cũng chẳng thể nào nhét chúng vào đầu. Những bạn bè nào học chung với tôi, nếu còn sống đều biết rõ tôi là đứa học trò tồi nhưng là người có những bài thơ tuyệt vời của Nguyễn Bính và biết hát.

Tôi vẫn được đi học, vẫn đi chợ mỗi ngày, vẫn giặt quần áo và làm việc nhà kể cả công việc… đấm chân cho Mẹ là điều không thể thiếu được. Kể ra, nếu mọi chuyện cứ như thế tiếp nối nhau ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, đời tôi không biết sẽ như thế nào. Chắc lại lấy chồng, đẻ con và đau khổ như chị Yến thôi nhưng số tôi hình như được sinh ra dưới một ngôi sao xấu nhất trong các ngôi sao xấu, để luôn luôn nhận lãnh những oan khiên, tủi buồn lúc nào cũng chờ chực sẵn. Những chuyện chẳng đáng gì, dính vào tôi bỗng thành lớn chuyện – hình như đến bây giờ… cũng thế – không phải tôi hỗn láo, lì lợm không biết nhận lỗi, không biết phải trái nhưng tôi luôn luôn cúi đầu nhận lãnh một hình phạt bởi tôi nói ra không ai tin. Riết rồi tôi trở nên nhẫn nhục, im lặng nhận chịu những trận đòn, những lời đay nghiến, đôi khi độc ác của Mẹ dù tôi cố gắng tin rằng thâm tâm Mẹ không hề muốn nói ra và Mẹ cũng thương tôi vì chính Mẹ đã sinh ra tôi – niềm tin này đôi khi bị lung lay bởi nếu tôi cũng là con do Mẹ sinh ra, sao Mẹ lại không hề thương cho những trận đòn tôi phải chịu và sao Mẹ lại nỡ nói với tôi những lời cay nghiệt ấy – Vậy thì thân phận của tôi ra sao, như thế nào. Sau này, có lúc tôi hỏi… Mẹ nói thật đi, con có phải là con của Mẹ hay Bố Viễn… mang con về cho Mẹ nuôi… Mẹ tôi không trả lời.

Bà Nội tôi ở một mình trong một căn nhà khá rộng trong ngõ 20 đường Phan Thanh Giản. Bà ở trên gác, dưới nhà cho mướn. Ngoài đường, bên trái là tiệm ảnh Mạnh Đan, bên phải là Bệnh Viện Bình Dân và Cư Xá Đô Thành – sau này, ông Đổng Lân và cô Thanh Nga về ở đây – Bà tôi vẫn ở một mình từ hồi Di Cư, bà tiếp tục chơi hụi, bà nấu xà phòng xả, nấu cao ban long. Tôi chả biết bà chơi hụi hay buôn bán với những ai nhưng vẫn áo the đen, răng đen, bà cuốn tóc đi từ sáng đến chiều. Câu Bà thường nói… Giời ơi, nắng đến… há mồm ra… và,… Này, rồi còn đời các anh, các chị nữa. Không khéo ăn khéo ở thì rồi… biết đời nhau ngay… Mẹ tôi rất ít đến thăm Bà vì ngày xưa Bà đã cố ngăn cản, chống đối việc Bố Mẹ tôi lấy nhau. Rồi giờ Mẹ tôi đi thêm bước nữa, cái hố sâu ngăn cách giữa hai người còn bằng ngàn lần con sông Bến Hải. Tuy vậy ngày giỗ Bố, Mẹ tôi đưa tất cả chúng tôi đến Bà, chẳng có phân biệt, ranh giới nào giữa chị em chúng tôi. Chính bà Nội mua cho tôi cái xe đạp, rồi vì bị ăn cắp mà tôi nhớ đời trận đòn… mưa giầy của Bố tôi.

Một buổi chiều đi học xong, cái răng cấm của tôi đã hư và sưng tấy lên, đau quá, tôi đi thẳng đến Bệnh Viện Bình Dân xin nhổ – Bố tôi có quen cô Yến, y tá trưởng ở đây – nhổ xong tôi choáng váng mặt mày, đi bộ qua nhà Bà nằm nghỉ thì Mẹ tôi đến mắng chửi tôi và làm dữ với Bà tôi – chẳng hiểu vì sao – Tôi cố gắng giải thích lý do, Bà cũng nói vào cho tôi, vậy mà cơn giận của Mẹ mỗi lúc một dâng cao. Sau cùng, có lẽ vì nhịn quá lâu nỗi đau mất con, mất cháu, Bà tôi mát mẻ… Thôi chị ạ, tôi chỉ có một đứa con, giờ nó mất rồi, còn lại mấy đứa cháu, nếu chị không nuôi thì tôi nuôi… Thế là xong. Mẹ tôi đồng ý ngay không một giây suy nghĩ, Bà về nhẹ nhõm. Bà Nội tôi, ngó vậy nhưng cũng không phải là người ai bắt nạt cũng được dù Bà chỉ biết ký cái tên của Bà. Bà giỏi lắm và biết lo xa. Cái giường Bà nằm là cỗ hậu sự. Bà đã mua ngay khi mua nhà, tối Bà ngủ trên đó, tôi nằm dưới đất cạnh cầu thang cách chỗ Bà nằm một cái bàn nhỏ. Gian gác bên cạnh Bà cũng cho người thuê. Đêm nào Bà cũng đọc kinh Phật và tôi ngủ ngon trong giọng đọc đều đều của Bà mà không hề thắc mắc là Bà không biết đọc, tại sao Bà thuộc nhiều kinh thế.

Nhà tôi ở giữa ngõ tức là ngõ có đường vào và trổ ra một lối khác. Cách nhà vài căn là nhà anh Liêm với 3 người em trai và ông bố già, trước có trồng một cây đu đủ… đực – tức không bao giờ có trái – Tôi còn nhớ anh Liêm, Tín, Dương và Trực – đã chết trận – còn anh Liêm thì hình như vào Không Quân. Cả ông cụ và 4 anh em rất thương tôi, từ 4 anh em này, tôi quen biết Lê Nguyên Hải và Dũng lai Pháp, quen thêm Hạnh, người đẹp mà không hiểu sao các anh gọi là Hạnh Lỉn – tức là nhỏ – nhà Hạnh ở con đường nhỏ song song với đường Cao Thắng (sau này Hạnh là vợ của nhạc sĩ nổi tiếng Trường Hải). Nhà của Đạt cũng nằm trên con đường Phan Thanh Giản. Đạt đang chờ giấy tờ đi Mỹ, tôi vẫn đi học, để làm gì chẳng biết. Đạt bảo… khi nào học xong, anh sẽ về cưới em… Tôi chỉ cười và lại đưa hết thư tình cho bác Ngọc Hoài Phương cất giữ… Người ta nói vậy thì cứ biết vậy. Sau đó Đạt đi Mỹ và hình như chẳng có lá thư nào của Đạt gửi cho tôi, về địa chỉ nhà Đạt.

Tôi hay bu theo đám bạn con trai. Đi nhảy đầm… ké, vì đôi khi những nhà giàu có, dân trường Tây tổ chức bal famille tại nhà hoặc ở cercle, làm sao chúng tôi được mời. Ấy thế mà cũng mò vào được cả đám. Băng chuyên nhảy biểu diễn của chúng tôi có thêm Khánh, vua BeBop ở Tây về, có biết thêm Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Thế Khanh tiệm vàng Nguyễn Thế Tài và mấy người con bên tiệm vàng Nguyễn Thế Năng. Nhảy đầm thời đó là nhảy biểu diễn, lấy hay lấy đẹp chứ không có chuyện lợi dụng nhau nên những cuộc nhảy với dân nhà giàu, chọn lọc thật vui. Tôi biết nhảy tự… mình ên, không ai dạy cả và bị đòn bằng củi tạ cũng nhiều vì cái vụ bỏ nhà đi nhảy. Cái tật ham vui phải trả những giá thật đắt. Thường là thế. Nhảy tại gia chưa đủ, tới vũ trường luôn và chính cái lúc tôi biết thế nào là vũ trường, Lê Nguyên Hải… tỏ tình với tôi dưới cây đu đủ đực nhà anh Liêm. Đạt đi rồi, mọi người coi tôi như một thằng con trai, thế nên khi Hải ôm tôi – nhẹ thôi – tôi quả có thấy trái tim tôi đập nhanh hơn và có cái gì là lạ chạy trên da thịt tôi. Thật ra, tôi có chú ý đến Hải hơn các bạn khác nhưng vẫn không hiểu vì sao, chỉ biết không gặp, thấy nhớ nhớ, mong mong. Gặp rồi thì vui nhưng vẫn không biết “nó là cái gì và vì sao”. Chúng tôi một bầy con nít chơi với nhau, đã có đứa nào biết yêu hay có bồ đâu. Tôi thích Hải. Anh học giỏi, hát hay và nhảy đầm cũng không thua ai. Năm đó là năm thứ nhất Hải vào trường Dược.

Khiêu vũ trường Đồng Khánh là nơi đầu tiên tôi tới để nhảy và ở đó, tôi nghe nữ ca sĩ Mai Ly hát. Tôi không còn nhớ mặt chị, chỉ mang máng là dưới ánh đèn mờ ảo, chị Mai Ly xinh đẹp và hát hay. Thế rồi trong một lúc hứng thú, lại được các bạn khuyến khích, tôi trèo đại lên sân khấu và xin với ban nhạc cho tôi hát bài “Con thuyền không bến” của nhạc sĩ Đặng Thế–Phong. Giám đốc, ban nhạc coi tôi như một người khách nổi hứng bất tử nên chẳng ai thắc mắc. Nhiều lần sau đó, chúng tôi kéo nhau đến nữa và lần nào tôi cũng leo lên hát. Nào là “Lá thư” nào là “Chiều vàng” nào là “Gửi gió cho mây ngàn bay” cũng chẳng ai thắc mắc gì cho đến một đêm cảnh sát ruồng xét và phát giác ra tôi mới… gần gần 16 tuổi. Tôi được vào ngủ trong đời lần đầu tiên trong đời ở Tổng Nha Cảnh Sát. Ngày hôm sau, Bố tôi vào ký giấy tờ lãnh tôi ra. Tới cổng, ông quay sang tặng tôi một cái tát trời giáng, thấy mấy trăm ông trời rồi lên xe bỏ đi. Tôi đi bộ về nhà, mặt tỉnh queo. Sau đó, ông và Mẹ tôi nói thẳng… Muốn đi hát thì đừng bao giờ về nhà vì nhà này không có… mả làm ca sĩ.

Tôi vẫn vô tư, hồn nhiên vì đã có Bà Nội nhưng chính Bà cũng không muốn thấy tôi đàn đúm với một đám con trai. Bà cũng la mắng tôi đều đều như khi bà… tụng kinh vậy và Bà lại càng không hiểu… ca sĩ là cái gì. Mà của đáng tội, tôi chưa chính thức bồ bịch với ai trong đám bạn trai trời đánh của tôi ngoài Hải là người tôi mới hơi… mong chờ. Đám bạn trai của anh Sơn tôi thì người nào cũng thương tôi và xem tôi như một đứa em trai. Ấy vậy mà rồi Hải và tôi, cả hai đứa chưa kịp nói một tiếng yêu, Hải đã bỏ trường Dược gia nhập binh chủng Không Quân. Cũng như Đạt, Hải hẹn tôi ngày tôi ra trường và chúng tôi hồn nhiên nhìn một Lê Nguyên Hải hào hoa, học giỏi, hát hay, nhảy đẹp đi vào cuộc sống quân ngũ. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau, tụ họp nói dóc và đi nhẩy đầm. Cũng là dịp biểu diễn cho Hải nghe. Thời đó tôi cũng đã biết hát nhạc ngoại quốc như Crazy Love – You are my special Angel – Put your hand on my shoulder – Only you và Unchain Melody, tiếng Tây thì Mavie – Non Je ne regrette rien – Sur le chemin de ta maison – Hải gọi tôi là Connie Francis. Thời gian này, tôi quen biết nhạc sĩ Tùng Giang ở khiêu vũ trường Đồng Khánh….

… Đầu Đông, Đà Lạt thật tuyệt vời. Bà chủ Night Club là một bà già gốc Hoa. Có lúc bà cay nghiệt nhưng cũng có lúc dễ thương, thông cảm với cuộc sống của các chị vũ nữ làm việc với bà vì nhiều người vào nghề vì hoàn cảnh gia đình. Có chị ngày đi học, tối làm vũ nữ, có nhiều chị chồng đi lính xa, phải nuôi cha mẹ già và một bầy con. Tối đến, dưới ánh đèn mờ ảo của vũ trường, chị nào trông cũng lộng lẫy vì thực sự ngoài đời, các chị là người đẹp chẳng may trời bắt nghèo. Nhưng cái nghề này, theo tôi là một nghề lương thiện. Làm vũ nữ không có nghĩa là… đi đêm với mọi người. Không ai bắt các chị làm đều đó dẫu đó là bà chủ, cho dẫu người khách đó là triệu phú. Ngoại trừ trường hợp các chị để lòng yêu thì đó là quyền riêng của các chị. Giới giang hồ thường có mặt theo yêu cầu của bà chủ, để bảo vệ cho chúng tôi và nhà hàng trong những trường hợp khách say sưa, quậy phá đánh lộn. Chúng tôi trở thành một nhóm, coi nhau như anh chị em trong nhà. Tuy họ giang hồ, tuy các chị là vũ nữ nhưng tất cả, theo cái nhìn và sự hiểu biết của tôi, họ là những con người trọng tình, trọng nghĩa gần gần giống tinh thần Lương Sơn Bạc nhưng họ không phải là những tay giết người, không chơi gác kẻ yếu thế, bênh vực người, che chở người yếu đuối. Họ cũng là người có học, trường Tây có, trường Ta có. Tôi giành được sự chăm sóc của các anh chị trong suốt những năm tháng ở Đà Lạt. Một bài học. Một kinh nghiệm rất đáng trân trọng cho cuộc sống. Kinh nghiệm đó sẽ được sử dụng như thế nào, theo chiều hướng nào. Đúng là một bài học tốt cho tôi.
__________________


còn tiếp
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Tiếng Dương Cầm Trong Đêm Vắng
Phương Duy

Trời mưa. Mưa mãi không dứt. Mùa mưa ở Seattle, sáng ngày vừa mở mắt ra là thấy trời mưa. Rồi mưa tiếp tục rỉ rả cho đến chiều tối. Mưa dầm dề làm Tuấn nhớ lại những ngày mưa ở Huế khi chàng đang còn là sinh viên văn khoa. Không biết nước ở đâu mà ngày nào cũng trút như xối xả từ tầng trời xuống.

Seattle, thành phố với những ngôi nhà chọc trời màu xám lại càng xám xịt hơn vào lúc này. Ngôi tháp cao Space Needle, biểu tượng cho thành phố tây bắc nước Mỹ này, bị che khuất sau những cột nước trắng xóa. Từng cơn gió lạnh từ phía bắc, thổi qua Alaska và Canada đưa xuống; Tuấn cùng mấy người bạn nghiện cà phê lái xe tấp vào quán café Cỏ Hồng, ngồi nhâm nhi cốc cà-phê nóng hổi và thơm lừng. Cô chủ quán đang điều chỉnh âm thanh vừa đủ nghe cho một dĩa CD nhạc thính phòng. Tiếng violon nghe cao vút hòa với tiếng nhạc đệm trầm trầm của piano. Trời thật lạnh, nhâm nhi cốc cà phê nóng, nhưng không được hút thuốc lá nên mặc dù ngồi trong gian phòng nhỏ có sưởi vẫn thấy chưa đủ ấm.
Tuấn lên làm việc ở đây đã tròn một năm. Chàng phải xa người vợ trẻ vì lý do sinh kế. Ở San José mãi cũng chán, mà cũng không có việc gì cho chàng làm tuy chàng đã gửi resumé đến nhiều hãng xưởng để xin việc. Nơi nào cũng bảo chờ. Nên khi nhận được thư của một người bạn ở thành phố Kent, tiểu bang Washington mời lên chơi là chàng đi liền.
Từ Bắc Ca-li, chàng phải lái xe hơn mười sáu tiếng đồng hồ mới đến chỗ bạn chàng ở. Bạn chàng giới thiệu những công việc ở đây thường cần như lên Seattle ghi tên đi làm cá ở Alaska, lương cũng khá hoặc nếu sợ lạnh thì xin làm chân đứng bán hàng cho một tiệm furniture Mỹ ở đây cũng nhàn. Nghe nói có lương khá cao, nên Tuấn đồng ý nộp đơn xin đi Alaska sáu tháng “thử thời vận”.
Đi đến văn phòng tuyển mộ nhân công, thì được trả lời vì là đang mùa đông nên hãng chỉ nhận những nhân viên cũ đã làm qua một hai mùa trước, còn nhân viên mới phải chờ đến mùa hè năm sau mới có đợt tuyển. Cuối cùng, chàng đành phải chọn việc làm sales person cho hãng furniture Mỹ. Tuấn tuy là người Việt chính cống, nhưng khi mới tiếp xúc lần đầu ai cũng nghĩ chàng là dân Châu Âu hoặc dân lai Âu vì chàng cao lớn, mũi cao, để ria mép và phát âm tiếng ngoại quốc rất chuẩn xác. Nhờ nhân dáng bề ngoài như thế nên khi đến xin việc, chàng được chủ Mỹ nhận ngaỵ
Hàng ngày công việc tiếp khách đến mua hàng đối với Tuấn cũng không khó lắm. Có khách thì chào hàng, vắng khách thì bày thêm hàng mới hay phủi bụi các món hàng bày ở show-room. Khi còn là học sinh, Tuấn ở nội trú trường Providence do các vị linh mục người Pháp giảng dạỵ Ngôn ngữ chính dĩ nhiên là Pháp ngữ. Ngoài giờ học các môn học trong chương trình trung học, thấy Tuấn có khiếu và thích học thêm ngoại ngữ nên cha Oxarango đã dạy thêm cho Tuấn tiếng Espagnol, cha Lefas dạy thêm tiếng Latin và tiếng Ý, cha Thích kèm thêm chữ Hán ngoài việc cha Bính dạy Việt ngữ. Tuấn nghĩ học thêm ngoại ngữ để có khả năng đọc thêm sách vở giải trí. Chứ tiếng Espagnol, tiếng Ý... ở Việt-Nam ít khi đem ra thực hành. Chàng đâu có ngờ hiện nay những ngoại ngữ chàng đã học giúp chàng làm “cần câu cơm” tại Hoa Kỳ.

oOo

Ông George, chủ tiệm furniture thấy có mấy người khách từ Canada sang. Họ nói tiếng Pháp, nên ra hiệu cho Tuấn ra chào hàng, vì trong tiệm Tuấn là người duy nhất biết tiếng Pháp. Sau một thời gian ngắn làm việc, ông chủ lại thấy người salesman này không những tiếp khách Mỹ, Canada mà Tàu, Việt-Nam hay dân Nam Mỹ đều “good deal” cả. Vì chàng nói chuyện với khách hàng bằng “ngôn ngữ của khách” nên dễ gây cảm tình. Trong lĩnh vực buôn bán, vấn đề cảm tình là một lợi thế để hướng dẫn khách mua hàng. Mà “ngôn ngữ của khách” là quan trọng.

oOo

Sau một ngày làm việc mệt nhọc, chàng thường lái xe ra bãi biển để cho đầu óc bớt căng thẳng. Những bãi biển quanh vùng Puget Sound như Redondo, Des Moines, Federal Way, Tacoma, Gig Harbor... đều có dấu chân của chàng. Đôi khi chàng còn rủ một số bạn bè đi bắt sò ở những vùng biển vắng vẻ. Những nơi này chàng thường gặp nhiều người Lào và một ít người Việt sinh sống bằng nghề biển. Những ngày nghỉ lễ, chàng đi câu cá ở Green River hay ngồi ngắm giòng sông White River chảy lững lờ giữa những tảng đá nhấp nhô để hồn trở về những giòng sông ở quê hương Việt Nam xa cách.
Có một kỷ niệm vui vui mà chàng còn nhớ mãi. Đó là một ngày chủ nhật, khi chàng đến thăm một người bạn ở thành phố Federal Way gặp lúc bạn chàng sắp vào các farms của người Mỹ Da Đỏ để mua vịt sống về nuôi. Chàng liền tháp tùng để biết thêm các sinh hoạt của người Da Đỏ tại đia phương như thế nào vì từ trước đến nay, chàng chỉ thấy người Da Đỏ trên màn ảnh mà thôi.
Xe dừng lại ở một nông trại, bạn chàng giựt chuông. Hai vợ chồng người da đỏ ra mở cổng đón khách vào. Hướng dẫn khách đi xem các khu chuồng nuôi gà, nuôi vịt, nơi ấp trứng... Bạn chàng muốn mua mười hai con vịt xiêm. Chủ hẹn sáu hay bảy giờ chiều đến lấy mà không cho biết lý do tại sao lại giao hàng chậm như thế.
Đúng giờ đã hẹn bạn chàng đến nhận vịt đem về. Đến nhà, Tuấn vội vã bỏ vịt xiêm vào chuồng, bỗng rất ngạc nhiên khi thấy bốn con vịt mập nhất bay bổng lên cao rồi mất dạng. Cả nhà cười lớn. Tuấn ngơ ngác.
Người bạn giải thích:
- Mấy người da đỏ này đã “chơi trò tâm lý”: nghĩ là mình ở rất xa, nên họ chờ đến tối mới giao hàng. Vì đến tối mới dễ bắt vịt trời trong chuồng giao cho mình cùng với vịt nhà. Ít khi khách trở lại nông trại để khiếu nại vì chỉ mất vài ba con vịt chẳng là bao mà phải lái xe đi xa nên ngại, vả lại họ bán vịt với giá quá rẻ gần như cho không. Nhưng hễ ai đến nông trại những lần sau, nhắc lại “trò đùa” đó thì chủ nông trại vui cười sẵn sàng bồi hoàn vịt khác và còn biếu thêm vài tá trứng để “mời ăn chơi” nữa!
- Có nhiều người có kinh nghiệm, khi mua vịt về buộc giây kỹ vào chân, sau đó mới ném vào chuồng. Chú vịt nào bay được là vịt trời, ăn khá ngon! Còn việc khiếu nại với chủ nông trại về sau, muốn làm thì làm... vẫn có hiệu lực vì đó là lối “câu khách” tinh vi nhất của người bán như kiểu “By one Get one” của siêu thị Mỹ. Như vậy, mặc dù chủ không mời mà khách phải đến mua hàng lần nữa.

oOo

Một buổi sáng mùa đông, tròi Seattle rất lạnh. Lại thêm mưa to, gió lớn, sấm chớp ầm ì nỗi lên từng hồi. Tuấn đứng trong tiệm furniture buồn buồn vì vắng khách và đang nhớ cô vợ trẻ đầy nhựa sống ở San José... Một người khách bước vào cửa hàng, nước mưa ướt sũng rơi xuống sàn nhà. Đó là một thiếu nữ người tầm thước, mắt nâu, hình dáng thon thon và đẹp như một nữ tài tử điện ảnh. Tuấn chào nàng bằng tiếng Anh và hỏi nàng cần mua hàng gì, như thường lệ khi thấy có khách vào cửa hàng. Nàng nói:
- Buon giorno! (1)
Rồi đứng im nhìn Tuấn, người salesman đẹp trai của cửa hàng nàỵ như thể thách thức có hiểu nàng nói gì không.Ông George tuy ngồi phía trong xa, nhưng vì vắng khách nên khi thấy có người vào là ông chú ý ngay. Nhưng ông chẳng hiểu khách muốn mua loại hàng nào nên như thường lệ ông liền đi đến bên cạnh Tuấn để vừa xem Tuấn lần này “có phép lạ” gì để bán hàng cho khách không. Ngoài ra ông cũng muốn giúp Tuấn trong vấn đề giá cả và giới thiệu mặt hàng mỗi khi Tuấn cần vì ông đã có “hơn ba mươi năm trong nghề này”. Ông há hốc mồm, trợn tròn mắt lên khi nghe Tuấn tỉnh bơ nói một hồi tiếng “ngoại quốc” như thể ca sĩ Tino Rossi hát. Rồi đến cô thiếu nữ khách hàng cũng lộ vẻ ngạc nhiên thích thú vì một người trông hơi giống “sino” mà nói tiếng “Italiano” rất chuẩn xác và lịch thiệp. Sau khi nghe nàng nói xong, Tuấn quay sang ông George và nói vắn tắt:
- Nàng cần mua một bộ bàn ăn bằng gỗ có cẩn đá cẩm thạch, môt giường ngủ King Size của Ý và vài tấm tranh treo tường.
Ngã giá xong xuôi, nàng nhờ Tuấn nói lại với ông chủ:
- Vì nàng chỉ nói được tiếng Ý mà thôi, nên yêu cầu giao hàng lúc 6 giờ chiều ngày mai và phải có người salesman này đi theo để nếu cần gì thêm thì nàng sẽ đặt hàng thêm.
Từ trước đến nay, Tuấn giữ nhiệm vụ salesman, chỉ đứng bán hàng, còn giao hàng thì đã có một người Mễ và một người Mỹ lo. Nay nghe người đẹp nói và ông George cũng nể lời khách hàng đã yêu cầu nên Tuấn cũng đồng ý. Ngoài ra chàng cũng muốn xem nơi người thiếu nữ “có nụ cười và đôi mắt” như tranh của danh họa Ý Leonardo di Vinci ở nơi nào.

oOo

Sau khi đã kiểm đủ hàng chất lên xe truck. Tuấn lái xe riêng của chàng đi sau xe giao hàng để đến địa chỉ nàng thiếu nữ đã ghi. Chàng lái xe đi giữa những rừng thông cao thẳng tắp hai bên đường. Đúng là xứ sở của “Evergreen State” chỉ toàn một mầu xanh lá cây dịu mắt. Nhà của thiếu nữ là một biệt thự to lớn nằm giữa một đồi thông cao và rậm rạp. Chung quanh trồng nhiều loại hoa hồng rất đẹp và tỏa hương thơm ngát. Trong lúc người Mễ và người Mỹ đang đặt bàn ghế và giường do cô thiếu nữ hướng dẫn.
Tuấn ra phía lan can sau nhà để tìm chỗ hút thuốc lá ngoài trời. Đứng trên lan can Tuấn nhìn sang khu Weyerhaeuser xinh đẹp đàng xa. Thấy được hồ nước rộng chính giữa đang có những đàn vịt trời bay lên bay xuống. Những tia nắng cuối cùng của buổi chiều chiếu lên những ngọn thông trồng chung quanh hồ. Tiếng vi vu của gió thổi qua rừng thông nghe thật buồn bã. Tuấn đang thả hồn theo những hình ảnh hoàng hôn, cô gái nhẹ nhẹ đi đến chỗ Tuấn. Nàng làm một cử động mạnh để Tuấn trở về thực tại. Tuấn nhìn nàng rất đẹp và gợi cảm trong bộ đồ may bằng lụa sản xuất tại Ý màu mỡ gà bó sát thân hình vệ nữ.
Hai người giao hàng sau khi đã khuân và đặt bộ bàn ăn bằng gỗ cẩn đá cẩm thạch và chiếc giường kiểu Ý vào những căn phòng do người thiếu nữ chủ nhân ngôi biệt thự chỉ dẫn, liền đưa giấy giao hàng cho người thiếu nữ ký nhận và từ giã ra về. Tuấn còn phải nán lại để chờ thiếu nữ cần mua gì thêm thì chàng nhận “order”. Thiếu nữ nói với Tuấn:
- Nhân khi anh đến biệt thự này, em muốn mời anh cùng dùng bữa cơm tối với em. Em sẽ tự tay nấu những món ăn đặc biệt của Ý để thết đãi anh và cũng để cám ơn anh vì từ mấy ngày qua em đến nhiều tiệm mà không mua được món hàng nào vì chẳng có ai hiểu em muốn gì.
Nàng mở nhạc classic... Gian phòng tràn đầy tiếng nhạc êm dịu của Vivaldi. Lát sau, nàng bưng các đĩa thức ăn thơm lừng ra đặt trên bàn ăn cùng hai chiếc ly thủy tinh giữa chai rượu ”vino di italiano” màu đỏ trong như hổ phách.
Những ngọn nến thắp lên tỏa ánh sáng lung linh, huyền ảo. Nàng mời chàng ăn và chậm rãi kể chuyện về gia đình nàng:
- Em tên là Sylvia, năm nay hai mươi mốt tuổi. Em mới từ Roma sang thăm ông nội. Ông nội em di dân từ Ý sang Mỹ làm ăn từ năm 1960. Ông là một doanh thương khá thành công, lúc trước ở thành phố New York. Sau năm 1990, đến tuổi hưu, ông qua Washington State mua đất và xây ngôi biệt thự này. Năm 1992, em tốt nghiệp dương cầm ở nhạc viện Roma, đã sang đây thăm ông. Ông mua cho em một chiếc đàn “piano à queue” để em đàn cho vui. Vì em không nói được tiếng ngoại quốc nào ngoài tiếng mẹ đẻ là tiếng Ý nên thời gian một tháng sang đây em ít đi ra ngoài phố trừ lúc cùng đi với ông nội hoặc đi lễ nhà thờ vào những ngày chủ nhật. Lần này là lần thứ hai em sang thăm Ông. Ba ngày sau, ông có việc phải đi vắng, em ở nhà một mình. Em muốn ông em ngạc nhiên khi trở về, nên em tự đi sắm mua bàn ghế, giường ngủ và tranh vẽ để tặng ông và cũng để thay thế những đồ đạc đã cũ kỹ.
Ăn xong, Tuấn ngồi nhâm nhi cốc cà phê Ý trong lúc Sylvia đến ngồi ở chiếc dương cầm. Tiếng nhạc dương cầm thánh thót trầm bổng đưa Tuấn bay bổng lên cõi mộng xa xăm với nhạc phẩm “Serenata” và “Ave Maria” bất hủ. Mười ngón tay búp măng xinh đẹp của Sylvia đưa qua đưa lại lướt trên những phím đàn trắng ngà lúc nhẹ nhàng, lúc mạnh mẽ. Ngắm nhìn khuôn mặt xinh đẹp của Sylvia thay đổi theo từng giòng nhạc, lúc “andantino”, khi “presto”, lúc “ ad libitum” như thể nàng đã biến thành những nốt nhạc bay bổng trong gian phòng mờ ảo này. Sylvia hỏi Tuấn thích bản nhạc nào, nàng sẽ đàn để cùng thưởng thức. Tuần đề nghị bản “Chiaro di Luna” của Beethoven và bản “La Primavera” của Vivaldi. Những âm thanh từ chiếc đàn vang ra khi nhanh khi chậm như ánh trăng đang từ từ lên cao, khi ẩn khi hiện sau lùm cây. Tuấn như quên cả thời gian lẫn không gian.

oOo

Sylvia rời đàn và đến ngồi kế bên Tuấn để cùng thưởng thức cà phê. Bỗng đâu nàng ghì đầu Tuấn và hôn môi chàng tới tấp. Tuấn nhìn vào đôi mắt đang long lanh và rực lửa yêu đương cùng đôi má hồng hồng và nóng hổi của nàng. Syvia nói giọng trầm ấm khi âu yếm Tuấn:
- Ti amo molto! (2)
Tuấn chỉ biết ngây ngất và thụ hưởng. Chàng không thốt lên được tiếng nào vì đôi môi của chàng đã bị khóa chặt bởi đôi môi ham muốn của Sylvia. Rồi Sylvia tự tay cởi bỏ bộ áo quần may bằng một loại lụa đắt tiền của Ý. Một thân hình Vệ Nữ lồ lộ và mời gọi... Tuấn bế Sylvia vào phòng, đặt nàng nằm lên chiếc giường Ý King Size mà hãng chàng mới giao hàng chiều nay. Hai thân hình trẻ trung và khỏe mạnh quấn chặt lấy nhau.
Tiếng Sylvia rên rỉ:
- Pìu! Pìu! (3)
Bao nhiêu dồn nén sau một năm xa vợ, bây giờ Tuấn gửi trọn cho Sylvia. Sylvia rên rỉ liên hồi, rồi rú lên từng cơn khoái lạc:
- Fortissimo! Fortissimo! (4)
Tuấn thì thầm vào tai Sylvia:
- Per vivere contenti, basta esere amati! (5)
Rồi như một bản nhạc giao hưởng chàng đã kết thúc bằng một nốt nhạc:
.(6)

oOo

Tuấn tỉnh dậy khi ánh nắng đã lên caọ Ánh sáng mặt trời xuyên qua những cành thông xanh đã chiếu vào mắt chàng. Chàng thấy một mình chàng nằm trần truồng trên chiếc giường kiểu Ý loại king size để giữa rừng vắng. Ngôi biệt thự xinh đẹp của ông nội Sylvia đã biến mất. Chàng ngồi dậy, mặc áo quần vào. Đàng xa bộ bàn ăn cẩn cẩm thạch vẫn còn đó. Miệng chàng đắng ngắt. Chàng móc miệng ra những rễ cây và lá cây thông xanh. Chàng mỏi mệt khác thường như người vừa bước hơn một nghìn bực cấp để lên tầng lầu quá cao. Chàng nhớ tất cả những gì đã xẩy ra trong đêm ”tuyệt diệu và thần tiên” vừa qua.
Chàng lái xe tìm lối ra freeway 5 để trở về thành phố Seattle náo nhiệt. Mới đi được một quãng ngắn, chàng gặp một người Mỹ trung niên đang chạy bộ. Chàng dừng xe lại hỏi là nơi này có biệt thự xinh đẹp mà số nhà là... mà sao lại biến đâu mất. Chàng chưa dứt câu hỏi, đã được người Mỹ trung niên trả lời ngay:
- Vâng, trước đây chừng hai năm, nơi đây có môt ngôi biệt thự rất lớn và xinh đẹp do môt nhà triệu phú người Ý làm chủ. Môt ngày kia, có cô cháu gái vừa từ Roma, nước Italy sang chơi. Trong lúc ông chủ đi vắng nhà, một số người lạ mặt đến đấy phá nổ sập nhà. Cô gái Ý bị chết. Ba ngày sau, cảnh sát phát hiện xác nhà triệu phú chết bỏ trong rừng thành phố bên cạnh. Theo sư điều tra của cảnh sát cho biết đây là vụ thanh toán giữa các nhà cầm đầu của tổ chức mafia làm theo lệnh của thủ lãnh bên đảo Cecilia của Ý.
Sau ngày biệt thự bị phá hoại, hàng đêm dân cư quanh vùng vẳng nghe tiếng nhạc dương cầm thánh thót mà toàn những bản viết về buổi chiều, về trăng sáng... Tiếng nhạc rất điêu luyện. Ai cũng đồn nơi này có ma, nên ít có người lai vãng. Tuấn hỏi lại người đàn ông:
- Thế tại sao anh lại dám chạy bộ một mình ở quãng này?
- Sỡ dĩ tôi không sợ vì con ma này chỉ chọn những người biết nói tiếng Ý mà thôi. Tôi chỉ nói tiếng Anh thì... Vả lại, tôi cũng thích được người đẹp “chiêu đãi” một lần cho biết “mùi gái Ý đa dâm và đa tình”! Mấy thanh niên trước đây sau khi ”gặp nàng” đều nói ”ăn món đặc sản Italy này” thì nhớ đời và sau này “gặp” món nào cũng thấy kém xa.
Tuấn ngẫm nghĩ: Thật đúng quá! Và chàng tiếc bữa tiệc đã kết thúc quá sớm nhưng chàng mãi mãi nhớ đời!
Tuấn về lại thành phố Seattle khi trời bắt đầu mưa nặng hạt và không dứt.
Chàng ước mong sẽ gặp lại Sylvia nhiều lần khác nữa...

PHƯƠNG – DUY

Chú thích:

1. Chào (buổi sáng).
2. Em yêu anh lắm!
3. Nữa đi! Thêm nữa đi!
4. Thật mạnh lên! Thêm mạnh hơn!
5. Muốn sống vừa ý, phải biết yêu thương!
6. Dồn thật mạnh để kết thúc!
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Nguyễn Ðình Toàn và một chiều nhạc thính phòng

Phan Quốc Sơn

Nhà văn Nguyễn Ðình Toàn bắt đầu sự nghiệp văn chương vào năm 1962 bằng cuốn truyện dài “Chị Em Hải” do NXB Tự Do ấn hành.

Image
Nhà văn Nguyễn Ðình Toàn. (Hình: Phan Quốc Sơn cung cấp)
Suốt mười năm sau đó, ông cho ra đời thêm 10 tác phẩm, gồm truyện ngắn, truyện dài, trong đó có cuốn “Áo Mơ Phai” được trao tặng Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1972, chính nó đã làm ông khốn đốn không ít trong tù cải tạo sau năm 1975. Ngoài ra ông còn là một nhà thơ với tập thơ Mật Ðắng. Sau thời Ðệ Nhị Cộng Hòa 1963, ông là người khai sinh chương trình Nhạc Chủ Ðề, phát thanh hàng tuần trên đài Sài Gòn, đặc biệt với lời dẫn nhập do chính ông đọc và viết cho mỗi bài hát. Theo Quỳnh Giao: “Ông viết lời giới thiệu như người ta làm thơ. Văn phong ông cổ điển, khác với lời viết của Mai Thảo, hay lời nhạc của Trịnh Công Sơn, nhưng là một loại thơ dẫn vào nhạc. Chương trình ăn khách và tạo ra một trào lưu chính là nhờ giọng nói truyền cảm, như lời thủ thỉ của Nguyễn Ðình Toàn. Ông dẫn thính giả vào nhạc bằng câu ‘Hỡi em yêu dấu’ như chỉ nói với một người. Qua làn sóng điện người nghe thấy lời thì thầm với riêng mình những cảm xúc do ca khúc gợi lên. Ông tạo ra một không khí tình cảm dịu dàng, điệu nghệ, để người nghe chuẩn bị đón nhận. Nhạc Chủ Ðề Nguyễn Ðình Toàn đã là nơi báo hiệu hào quang lên các ca sĩ sau này là những tên tuổi lẫy lừng như Sĩ Phú, Khánh Ly, Lệ Thu.”

Kéo dài trong nhiều năm chương trình Nhạc Chủ Ðề Nguyễn Ðình Toàn trên đài phát thanh Sài Gòn dạo ấy đã nói lên mức độ thành công, ưa thích của thính giả. Ngày nay ở nước ngoài, chúng ta còn thấy CD Nhạc Chủ Ðề Nguyễn Ðình Toàn 1970, Tình Ca Việt Nam, đánh dấu cho giai đoạn ấy.

Ngoài biệt tài văn chương và làm phát thanh (Nhạc Chủ Ðề) Nguyễn Ðình Toàn còn được biết là người đã viết lời cho hai ca khúc “Tình Khúc Thứ Nhất” và “Em Ðến Thăm Anh Ðêm Ba Mươi” nhạc của Vũ Thành An trước năm 1975, và về sau này bản “Còn Tiếng Hát Gửi Người” nhạc của Trần Quang Lộc.

Ông còn là nhạc sĩ sáng tác khá nhiều ca khúc trong những năm về sau, nhưng biến cố 1975 đã làm chìm khuất đi. Ðặc biệt có một bài hát về thành phố Sài Gòn được người trong nước lẫn ngoài nước biết đến nhiều nhất. Hãy nghe lời kể của Khánh Ly: “Tôi nhận được nhiều bài hát từ người vượt biển. Cùng thời gian đó, từ Pháp gửi qua cho tôi một số bài hát ký tên Hồng Ngọc, trong số có bài ‘Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên.’ Thực tế bài hát đó có tựa nguyên thủy là ‘Nước Mắt Cho Sài Gòn.’ Ông Võ Văn Ái đã đổi tựa và viết thêm lời. Hồng Ngọc là bút hiệu của Nguyễn Ðình Toàn.” (Hồi ký Khánh Ly)

Sau khi định cư tại Mỹ, ca khúc Nguyễn Ðình Toàn được trình bày bởi giọng hát Khánh Ly qua 2 CD “Hiên Cúc Vàng” và “Mưa Trên Cây Hoàng Lan”; và CD “Tôi Muốn Nói Với Em” gồm nhiều giọng hát như Tuấn Ngọc, Lệ Thu, Anh Dũng, Mai Hương...

Nhận thấy đây là vóc dáng lớn trong giới làm nghệ thuật của miền Nam Việt Nam trước năm 1975, các bạn trẻ trong nhóm thân hữu Viện Việt Học miền Nam California có nhã ý tổ chức một chiều nhạc thính phòng Nguyễn Ðình Toàn, vừa để vinh danh nhạc sĩ, vừa để giới thiệu lần đầu thông điệp nghệ thuật phản ảnh nhiều cảm xúc thời đại của một người đã từng trải cuộc đời qua những giai đoạn đầy biến động đau thương của đất nước.

Với sự đồng ý của tác giả, lần đầu tiên gần 20 ca khúc sẽ được gửi tới khán giả quận Cam, sẽ được diễn tả bằng các giọng hát mới đã được chọn lọc từ các buổi trình diễn nhạc thính phòng tại Viện Việt Học, hay được mời từ ban nhạc của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ, ban Ngàn Khơi các giọng hát Mộng Thủy, Anh Dũng, Vương Lan, Mai Dung, Bích Huyền, Tạ Chương, Hàn Phúc, Thanh Thúy, Khang Huy, Quang Thái, Ái Phương, Khắc Hiền, Ngọc Thủy. Phần guitar sẽ do Lê Từ Phong và phần Piano sẽ do Quốc Vũ phụ trách. Phần điều hợp chương trình gồm có Mai Dung, Bùi Ðường và Ngọc Thủy.

Một giọng hát tiêu biểu trong chiều nhạc Nguyễn Ðình Toàn là của ca sĩ Anh Dũng. Anh được các bạn trẻ trong nhóm thân hữu Viện Việt Học mời, vì đây là giọng ca nam đóng góp nhiều ca khúc trong CD nhạc Nguyễn Ðình Toàn, qua đó Anh Dũng đã thành công xuất sắc trong Tình Khúc Thứ Nhất là một ca khúc rất kén giọng nam; và bài “Trăng Mòn” bằng thể điệu Blues rất đặc sắc. Lần đầu tiên trên sân khấu quận Cam Anh Dũng sẽ cống hiến người nghe 2 nhạc phẩm này.

Giọng hát Mộng Thủy là một khám phá lớn nhất của nhạc sĩ Phạm Duy vào những năm sau cùng ông còn lại trên đất Mỹ. Mộng Thủy là tiếng hát duy nhất trong CD “Trăm Năm Bến Cũ” nhạc của Phạm Duy, trong đó ông đặc biệt dành một số bài hát lần đầu tiên cho tiếng hát này trình bày. Giọng hát Mộng Thủy đẹp và óng chuốt. Cô tốt nghiệp ngành âm nhạc tại đại học Hoa Kỳ. Là một trong những giọng ca từng cộng tác với Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ. Hiện cô là giáo sư dương cầm. Cô sẽ là giọng nữ đầu tiên trình bày trên sân khấu bài “Còn Tiếng Hát Gửi Người” một sáng tác chung của Nguyễn Ðình Toàn và Trần Quang Lộc, là bài hát vốn gắn liền với giọng ca nam trầm ấm Duy Trác. Và cô sẽ trình bày thêm một bài nữa của Nguyễn Ðình Toàn có nhan đề “Quê Hương Thu Nhỏ” một bài ca thật cảm động, diễn tả tâm trạng buồn nhớ quê hương của những mảnh đời lưu vong.

Giọng hát Tạ Chương, con trai của cố họa sĩ Tạ Tỵ, là một giọng nam truyền cảm. Anh hiện cư ngụ tại San Diego. Tạ Chương sẽ trình bày 2 bài Dạ Khúc và “Một Cánh Hoa Rơi” của Nguyễn Ðình Toàn.

Riêng bài hát một thời đã làm xúc động tâm hồn biết bao người Việt tỵ nạn ở khắp mọi nơi trên thế giới, bài “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” (tên đúng của tác giả đặt là Nước Mắt Cho Sài Gòn) sẽ được song ca bởi 2 giọng nam Khang Huy và Quang Thái, cả 2 đều thuộc thế hệ chào đời ngay sau lúc Sài Gòn bị mất tên.

Gần 20 ca khúc được gửi tới người nghe trong chiều nhạc thính phòng này tiêu biểu cho qua trình sáng tác của nhạc sĩ.

Bằng ngôn ngữ âm nhạc, ca khúc của Nguyễn Ðình Toàn diễn tả những xúc cảm thời đại mà ông là nhân chứng. Thời đại trên một nửa quê hương nhiều đau khổ hơn hạnh phúc, người sống bước đi trên tro cốt của người chết. Giống như Căn Nhà Xưa người đang sống kề bên nghĩa trang, mà ông thấy “Có những sớm em tìm đến với những đóa hồng khép nép giữa vòng tay ôm” (Tiếng hát Hàn Phúc).

Và nhạc của ông hát lên những ước mơ dù cho tan vỡ, về những con đường lạc lối tìm nhau, những chia lìa giữa người với người “Mai Tôi Ði” (tiếng hát Quang Thái); “Ðường Ðưa Bước Em Ði” (tiếng hát Bích Huyền), “Nếu Mai Ngày” (Tiếng hát Khắc Hiền). Như ông đã ước mơ một ngày hòa bình đến: “Ngày thần tiên đưa nhau đi hết Bắc Nam, ngắm nhìn cỏ cây thăm viếng núi rừng” (Yêu Em Bỏ Tuổi Thơ Ngây, tiếng hát Mai Dung) nhưng khi ngày ấy đến, ông chỉ ước: “Cố thắp cho em một ngọn đèn, bằng nhọc nhằn cay đắng, của hình hài rã trong trại giam” (Hãy Thắp Cho Nhau Một Ngọn Ðèn, tiếng hát Vương Lan và ban hợp ca). Ðó là những tháng năm tổ quốc ta nhục nhằn, người phơi người trên đau thương, dạy trẻ thơ thù oán, sợ nhau hơn bão trời cướp biển (“Tôi Muốn Nói Với Em,” tiếng hát Vương Lan và ban hợp ca). Tác giả còn viết lên lời ca hãy thắp cho nhau một ngọn đèn, theo tác giả, bằng lửa sầu con tim, để xua tan bóng đêm mờ ám, hay thả đèn trôi trên sông, cầu nguyện cho những ai trầm luân, để nhủ lòng gắng nuôi niềm tin, một ngọn đèn để dù trong xa vắng, ta còn được cháy trong lòng nhau.

Với tâm hồn người nghệ sĩ, tác giả muốn gửi tới mọi người chúng ta một thông điệp, có phải những thứ ấy rốt ráo lại chính là giấc mộng. “Hãy thắp cho nhau một giấc mộng” để dù trong tăm tối “Mộng còn biết nơi tìm sang.”

Và giấc mộng là sự cứu rỗi.

Nhóm Thân Hữu Hội Việt Học trân trọng giới thiệu:

Chiều nhạc thính phòng Nguyễn Ðình Toàn
Producers : Jenny, Hàn Phúc
MC: Mai Dung, Bùi Ðường
Music: Nguyễn Hùng Vũ (Pianist), Lê Từ Phong (Guitarist)
Vocals: Mộng Thủy, Mai Dung, Anh Dũng, Vương Lan, Tạ Chương, Hàn Phúc, Ái Phương, Bích Huyền, Khang Huy, Quang Thái, Thanh Thúy, Khắc Hiền, Ngọc Thủy.

Thời gian: 7:30 PM, Thứ Bảy, 3 Tháng Mười Hai
Ðịa điểm: Hội trường nhật báo Người Việt, 14771 Moran St., Westminster, CA 92683.
Vào cửa tự do.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image


Khánh Ly,Chuyện kể sau 40 năm
Chương 6

Tất cả những sự việc đã xảy ra, đã qua. Tất cả những khuôn mặt đã xa khuất mịt mù. Tất cả những gì gọi là hạnh phúc hay nỗi đau của một thời nào đó, chúng ta không còn nhìn thấy, tìm lại được. Tôi gọi đó là kỷ niệm. Tôi không có quá khứ, dĩ vãng như mọi người thường đề cập tới. Tôi chỉ có kỷ niệm và đó là tất cả gia tài tôi cưu mang cho đến một ngày nào đó.

Cái gì không còn nhìn thấy, không còn sờ tới được, dẫu chỉ một vài giây đồng hồ trước. Duy chỉ có kỷ niệm là bất biến. Nếu trong cuộc sống có một điều gì đó không thể thay đổi được thì đó là kỷ niệm. Những sự việc, những con người, đẹp có, xấu có đã bỏ chúng ta mà đi. Tuổi trẻ đã bỏ chúng ta. Mầu trong của mắt. Mầu xanh của tóc. Mầu hồng của môi. Ðã bỏ chúng ta. Lạnh lùng, tàn nhẫn và hồn nhiên.

Ở tuổi ba mươi, bốn mươi hay đã bước qua ranh giới nửa đời người như tôi hiện nay. Kỷ niệm không hề phôi pha theo ngày tháng. Mỗi ngày qua, chân bước tới gần cái cõi đi về. Tôi càng thấy gắn bó với kỷ niệm, như chỉ có kỷ niệm bây giờ mới trọn vẹn là của riêng tôi, như chỉ có những người đã xa đời, mới thuộc về tôi mãi mãi. Vì một lẽ nào đó, tôi thường “sống” với người đã khuất nhiều hơn, trân quý hơn, yêu thương và cảm thấy yên tâm hơn, được an ủi chia sẻ nhiều hơn. Ai đã từng trải qua nhiều ngang trái nghịch cảnh, cay đắng oan khiên, sẽ hiểu vì sao tôi có nhiều cái... khác người.

Mỗi người một cách sống là điều tự nhiên từ ngàn xưa. Ôi, khi ta đói, kỷ niệm có cho ta no. Khi ta lạnh, kỷ niệm có làm cho ta ấm. Khi ta nghèo, kỷ niệm có làm cho ta khá hơn. Có nhiều người nghĩ như vậy và họ nghĩ đúng. Kỷ niệm không là miếng cơm manh áo hay tiền bạc trong đời sống. Kỷ niệm đẹp đẽ hơn, cao hơn, thiêng liêng hơn. Kỷ niệm làm đời sống chúng ta thăng hoa trong sáng và thánh thiện. Tôi thật tình tiếc cho những ai coi thường kỷ niệm hoặc có mà không biết giữ. Những người đó, tâm hồn mới nghèo nàn làm sao. Chúng ta có thể dời núi, lấp biển nhưng bản tính con người là điều không bao giờ thay đổi. Thật đáng tiếc.

Có nhiều đêm chợt thức giấc nhìn ra vườn, vầng trăng tròn tỏa ánh sáng soi rõ từng ngọn cây, khóm cỏ giống hệt như một đêm trăng quê nhà cũng trong một khu vườn nhỏ, có những kẻ quên đời sống quanh mình, cùng nhau uống rượu, ngâm thơ đàn hát dưới “nắng khuya”. Những đêm nằm nghe mưa buồn rào rạt, chợt nhớ những chiều mưa xưa cùng theo nhau ra quán ngồi, im lặng bên nhau nghe những giọt cà phê tí tách rơi, im lặng bên nhau nhìn người người, ngựa xe ngược xuôi. Những giây phút im lặng đã nói với nhau biết bao điều không thành tiếng. Buổi sáng cây cỏ còn lấp lánh sương mai, im lặng đi bên nhau dưới hàng thông từ bao năm reo mãi những điệu nhạc vi vu buồn bã bên mặt nước câm nín chứa đựng bao nhiêu nỗi niềm.

Buổi trưa trời cao xanh thẳm, nắng đuổi nhau theo gió trên thảm cỏ quen, có cây đàn nằm thênh thang lắng nghe bước chân nhẹ nhàng lúc xa, lúc gần của hai kẻ quên đời. Chiều có mưa bụi dăng dăng qua thành phố, quán cà phê vắng, hương ca phê thơm lừng, vẫn chỉ hai người khách quen ngồi đó, im lặng bên nhau. Có gì quan trọng đâu. Không, không có gì cả, có nhau là điều đáng nói và họ đã có nhau trong suốt cuộc đời.

Ðà Lạt đẹp. Ðà Lạt hiền. Ðà Lạt thơ mộng. Ðà Lạt bao dung. Ðà Lạt thủy chung. Ðịnh mệnh khởi đi từ một nơi như thế. Tại sao không là Sàigòn. Tại sao không là Huế. Không, Sàigòn và Huế không phải là Ðà Lạt. Không bao giờ nên mọi sự phải khởi đi từ đó. Một sự tình cờ, mà ngẫm lại thì không đúng, không phải. Rõ ràng là sự sắp đặt của cái mà chúng ta gọi là Ðịnh Mệnh. Một người lưu lạc từ sông Hồng, một người rời xa sông Hương để gặp nhau vào một đêm có mưa và gió đầy trời, ở cái thành phố nhỏ bé, nhìn ai cũng là bạn. Cái thành phố đó nếu bạn đến một lần là sẽ nhớ mãi. Ðến rồi không muốn rời đi. Ði rồi lại muốn trở lại. Nhưng đó là Ðà Lạt của 40 năm về trước, một Ðà Lạt hiền lành như ngô khoai, trong sạch đẹp đẽ thơm như hoa hồng nhung, ngọt ngào như chuối La Ba và thủy chung như những hàng thông thẳng đứng suốt đời chỉ reo mãi một khúc nhạc hiền hòa.

Là một người sống đời ca hát, có dăm ba mối tình lớn, tình con, chân đã đi mòn mỏi trên quê hương, rồi năm châu bốn biển, đã gặp gỡ cả triệu người. Mưa bão cũng đi. Nắng gió cũng đi. Ði đến không còn biết mình đi đâu. Không cần biết vì bốn biển là nhà, nhìn đâu cũng thấy quê hương, nhìn ai cũng là anh, chị em, chắc chắn những người cùng một kiếp sống như tôi, phải có nhiều điều để nhớ mà tôi gọi là kỷ niệm. Qua một cánh rừng, ngang qua một cây cầu. Dừng lại ở một góc phố. Ngồi xuống uống một ly cà phê nơi quán nhỏ ven đường, thậm chí nhìn từng ngọn cây, bụi cỏ bên lề, lòng tôi cũng xao xuyến xót xa. Có lúc bàng hoàng ngẩn ngơ, tưởng chừng như trong một cơn mơ, tưởng chừng một khuông mặt, một dáng người thương yêu, thấp thoáng đầu phố, tưởng chừng như chỉ cần đưa tay ra những ngón tay tháp bút gầy guộc quen thuộc kia chạm vào tay mình. Nhưng rồi tôi hốt hoảng đến bật khóc vì trong tay tôi, chỉ có bàn tay lạnh giá của chính mình và góc phố kia chỉ là một khúc quanh hiu quạnh.

Nhiều khi ngồi một mình, lòng trống rỗng, đầu trống rỗng. Tôi không thể nghĩ đến bất cứ một điều gì . Dường như trái dất đã sạch trơn, chẳng còn gì hoặc là tôi ngồi đó nhưng hồn tôi không còn ở trong tôi . Một cái xác, một người chết và đối với người chết, không có vấn đề gì được đặt ra vì sẽ không có câu trả lời . Người chết không biết nói . Nhưng lại có những lúc tôi vùi mặt vào gối khóc nức lên từng hồi . Lòng nặng trĩu những kỷ niệm đớn đau không hề phai nhòa theo thời gian. Nghĩ đến người này, người kia, nghĩ đến đời mình, tim muốn vỡ ra trăm ngàn mảnh. Cũng nhiều đêm tôi nằm chong mắt nhìn bóng đêm vây phủ, nước mắt lặng lẽ rơi . Cứ thế cho đến lúc thiếp đi . Tôi đã hiểu thế nào là khóc lẻ loi một mình .

Tôi cũng có những niềm vui chứ không phải lúc nào cũng ôm mối sầu thiên thu ấy . Gia đình tôi tương đối là bình yên về mọi mặt. Không có những nặng nhẹ giận hờn. Cả hai vợ chồng đều đứng trên đỉnh dốc của đời, một cuộc đời quá nặng nhọc mệt mỏi mà cả hai đều nhận thức được, đều nhìn thấy những chịu đựng câm nín của nhau, cùng cố tránh cho nhau những muộn phiền nếu cảm thấy mình có thể gánh vác được . Vợ chồng về già nếu có thể sống với nhau đến già, có thể trở thành hai người bạn. Ðây là một điều tốt vì có nhiều điều, vì là vợ chồng, sẽ không thể chịu đựng nổi, nhưng nếu là bạn, sự việc sẽ đơn giản hơn khi có thể nói với nhau tất cả những điều tưởng không thể nói được, có đôi lúc tôi tâm sự với bạn một vài điều riêng . Song đó là chuyện của mười năm về trước, giờ đây chúng tôi sống đúng là đôi bạn già, nương tựa nhau lúc chiều tới . Còn cái gì mà phải giấu giếm nhau ở tuổi này . Duy có một điều, kỷ niệm riêng tư của mỗi người dường như vẫn là những điều riêng tư được cả hai tự động tôn trọng. Không thể chia sẻ, không thể an ủi . Rất tôn trọng .

Dĩ nhiên không phải cuộc sống chung 26 năm không có những cay đắng . Phải nói là nhiều đấy, nhưng tôi, phải, chính tôi là người quyết định, không thay đổi làm gì nữa và làm cho cuộc sống chung trở nên có ý nghĩa, trở nên đáng sống. Làm cho người này trở nên sự cần thiết của người kia . Làm cho nơi chốn này là nơi chốn để lúc nào cũng mong trở về mà không có sự sợ hãi hay vì không còn sự chọn lựa nào khác . Những kỷ niệm giữa cuộc sống chung quả có lúc làm tôi buồn tủi . Tôi không hề quên. Không thể quên, thế nhưng tôi xem đó như những thử thách, những chuyện nhỏ đời thường. Bởi cuộc đời, đâu phải lúc nào cũng cho ta sự ngọt ngào, mà nếu tôi là người đòi hỏi như thế, tôi đã tự làm khổ tôi trong 26 năm dài . Thỉnh thoảng hai vợ chồng ngồi ôn lại những vui buồn xa xưa mà tưởng như chuyện của ai đó . Dưới mái nhà này là sự bình yên bởi tôi muốn như thế .

Nếu có điều gì làm tôi đau lòng, ấy là tại tôi . Tôi muốn sống bình yên nhưng tâm tôi chưa yên. Tôi nhạy cảm quá . Tôi dễ vỡ quá, cho dù dưới mắt nhìn và sự nhận xét của nhiều người thì tôi là một người bản lãnh, can đảm. Ðiều này thật ra cũng không có gì gọi là sai hay xa sự thật bởi vì nếu tôi không can đảm, liệu giờ này tôi còn sống nổi với bao nhiêu tang thương chưa giây phút nào nguôi ngoai trong từng hơi thở . Cái gọi là bản lãnh, can đảm đôi khi chỉ là sự dối lừa, là cái vỏ mầu mè bên ngoài mà nó cũng có thể được xem như thái độ bất cần của một người chẳng mấy tha thiết đến cái gọi là ngày mai, của một người không mấy bình thường nếu không muốn nói là Ðiên. Thấy đời chán quá, chán đời quá, mà vẫn cứ ôm lấy cuộc đời . Là vì sao . Vì còn nhớ đến nhiều người . Vì còn nhiều người, nhiều điều để nhớ . Vì rằng đôi lúc tưởng đã quên nhưng cũng lại chỉ tự lừa dối mình mà thôi . Tôi không hề quên những điều cần phải nhớ và rồi chẳng có gì an ủi cho bằng đến một lúc nào đó như lúc này, tất cả oan khiên sẽ mở ra . Phải được mở ra, nào phải chỉ mười năm, đã 40 năm rồi đó . Nếu không phải là bây giờ, sẽ chẳng còn bao giờ nữa .
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image


Khánh Ly,Chuyện kể sau 40 năm
Chương 7

Năm 1956, gia đình tôi đã ở Đà Lạt 1 năm....6 năm sau, tôi lại lên Đà Lạt tìm nơi trú thân nhưng lần này, chỉ có mình tôi.... Không có tin hay thư của Đạt. Hải đi Mỹ theo đuổi nghiệp Không Quân. Bạn bè tình không nhạt nhưng cũng chẳng còn gần gũi vui chơi như ngày nào. Anh tôi vào Thủ Đức. Bác Phương, Nam, Dũng lo đâm đầu học để may ra không phải đi lính. Cây đu đủ đực nhà anh Liêm dường như buồn hẳn đi. Nó đứng trơ trọi một mình, ngày cũng như đêm chờ đợi tiếng cười của chúng tôi. Chuyện đó không bao giờ có lại nữa. Tôi cũng trơ trọi như nó. Con ngõ đường như sâu hơn, hun hút trong ánh sáng vàng vọt yếu ớt hắt ra từ những căn nhà nhỏ thường đóng cửa sớm sau bữa cơm chiều.

Tôi mới 17 tuổi đã thành đàn bà, đã mang trong người một mầm sống không mong đợi. Lỗi của tôi...Tôi biết anh ta ở Vũ Trường Đồng Khánh. Anh ta là một người đẹp trai dù ăn nói không có duyên. Anh ta tên là Minh, dân Trường Tây gốc Đà Lạt. Gia đình Minh đàng hoàng, công giáo, điều này nhắc nhở tôi nhiều đến những ngày hạnh phúc khi học nội trú lúc còn ở Hà Nội. Mới xa Hà Nội mấy năm, tôi đã nhớ. Có lẽ tôi nhớ đến Bố tôi nhiều hơn là bởi tôi không hề tin rằng Bố tôi đã chết.... Tôi thích Minh nhưng không hề cảm thấy rung động, hồi hộp chờ mong. Không có cảm giác...đông cứng hoặc cháy bỏng, ngộp thở lảo đảo, bềnh bồng, tan chảy như bọt nước. Lê Nguyên Hải cho tôi những cảm giác đó dù chỉ ngồi cạnh nhau, cầm tay nhau. Hải có phải là tình yêu của tôi không. Tôi có yêu Hải không. Tôi không biết. Cũng như không biết như thế có phải là tình yêu không.

Sự lầm lỡ của tôi là nỗi đau đớn của Bà Nội - con gái không chồng lại...ôm balo ngược. Bà tôi xấu hổ. Mẹ tôi không cần biết. Riêng tôi, chẳng cảm thấy gì. Minh cũng không phải là người tệ, chơi chạy nhưng anh là lính Không Quân chuyên về Radar học tại Mỹ... Lương một anh lính hạ sĩ dù là không quân, nuôi anh còn chẳng đủ no, nói gì đến vợ con. Minh bảo sẽ đưa tôi về Đà Lạt trình diện bố mẹ nhưng rồi anh...ở tù vì tội đào ngũ. Tôi chẳng bao giờ quên những lần đi thăm Minh ở Khám Chí Hòa. Khi cái bầu 6 tháng, tôi vẫn đi hát ở Anh Vũ và chính ở đó, tôi gặp Trung Úy Không Quân Kim Cương. Sau buổi hát, anh chở anh Sơn và tôi chạy vòng vòng Sài Gòn...hát tiếp những bài tôi vừa hát, đặc biệt anh hát cho tôi nghe bài Anh đến thăm em một chiều mưa...Anh bảo...Mai chọn bài có gout lắm, cứ như thế, và anh cũng muốn em giữ mãi nụ cười. Anh thích thấy em cười vì nụ cười đó sẽ mở cho em tất cả những cánh cửa...Cuộc gặp gỡ giữa anh em chúng tôi và Trung Úy Lưu Kim Cương đơn giản như vậy. Tôi biết ơn anh vỉ anh là người duy nhất có cái nhìn thiện cảm với tôi. Anh là người đầu tiên và duy nhất khuyến khích tôi đi theo nghiệp dĩ này. Khi nào có gì cần, cho anh hay...Ngày tôi sinh Ly Cơ, anh nhờ người gửi cho tôi 1500 đồng với lời nhắn...mua đồ cho con...Anh không bao giờ biết tôi đã dùng số tiến đó để tiếp tế cho Minh ở Chí Hòa. Chẳng ai. Anh vào nhà thương Đức Chính thăm tôi trong bộ đồ bay. Bác Phương Kều tức nhà báo Ngọc Hoài Phương tên cha mẹ đặt là Nguyễn Ngọc Kiểm cũng vào. Chị Yến cầm cho tôi 500 nói của mẹ gửi nhưng mẹ và Bà Nội không vào. Có điều không ai biết, tôi tự động chạy xe Velosolex...đi đẻ.

Ôm con về ở với Bà Nội không phải là điều đơn giản như cái lúc Bà giận Mẹ và tỏ lòng thương cháu. Tôi không buồn được vì tôi đã gây lỗi lầm không thể tha thứ dù sau khi mãn tù, Minh đến nhận vợ con và hứa sẽ cưới hỏi đàng hoàng. Song đối với những người hàng xóm, nhất là các bạn bè cũ của Bà, tôi vẫn là đứa con gái hư hỏng. Làm sao tôi có thể cắt nghĩa rằng vì lỡ dại nên phải lấy luôn cái người đó. Làm sao tôi có thể nói rằng sẽ không còn ai dám lấy tôi vì tôi không còn cái .....thổ tả gọi là trinh tiết. Cái thời của chúng tôi nó khó khăn như thế đó... Thậm chí có ca sĩ không dám cho mọi người biết mình có người yêu vì sợ khán giả không còn thích mình nữa. Bà Nội tìm cho tôi vú Chính để nuôi Ly Cơ. Con bé có lần ốm, sưng phổi gần chết, nếu không nhờ Bà, chắc LyCơ đã bỏ tôi mà đi rồi. Bởi lúc đó tôi chưa có một ý niệm, trách nhiêm làm mẹ. Yêu con thì có nhưng còn phải kiếm tiền nuôi con nữa chứ. Tôi không muốn trở lại cuộc sống khi mọi người quên mình, trong một cái phòng tối tăm, không giường chiếu trên một cái nhà sàn ở Cầu Kinh. Cơm bữa đói bữa no, tiền hát khi có khi không và đó là lý do tôi nhận lời hát cho Night Club ở Đà Lạt sau khi gửi Ly Cơ lại cho Bà.

Minh và tôi sống cuộc sống vợ chồng như mọi người. Chúng tôi ở chung với Bố Mẹ Minh. Năm sau, tôi có thêm một đứa con trai. Có người trong nhà bảo...thằng nhỏ trông giống ông...Lưu Kim Cương...Sao lại có ông Lưu Kim Cương trong này khi nhắm con mắt lại, người cũng biết Bảo Linh là con ai chứ. Tôi lại thắc mắc. Tại sao thế nhỉ. Sao không yêu mà lại...có con. Tôi sinh cu Linh ở Sài Gòn khi về nhà Bà Nội và lại một lần nữa, tôi tự động gọi taxi đến nhà thương ông Nguyễn Duy Tài. Cô y tá bảo chờ cô cho người đi mời bác sĩ về vì ông đang coi ciné ở rạp Eden. Tôi nhảy dựng lên...trời đất ơi, người ta đẻ đến nơi rồi mà còn đi tìm bác sĩ...mặc y tá nói, tôi hùng dũng leo lên bàn đẻ và rồi khi Bố Tài về tới, tôi đã hoàn thành thêm một tác phẩm...không chờ đợi. Nhưng dù sao chúng nó cũng là máu thịt của tôi. Không yêu chồng. Ai cấm tôi yêu con. Chẳng bao giờ tôi quên hai lần vược cạn, tôi chỉ có một mình và nằm suốt đêm. Khóc cho sự lỡ lầm ngu dại
không thể tha thứ được của mình. Tôi nghĩ đến bố tôi. Ôi, tôi có lỗi với ông biết bao nhiêu. Tôi chỉ có lỗi với Bố tôi mà thôi.

Ly Cơ, Bảo Linh, vú Chính và tôi ra bến xe đò Minh Trung trở lại Đà Lạt bởi lúc đó tiền lương của tôi là 75.000. Đủ sức để khỏi phải mẹ con mỗi mgười một nơi. Lương của Minh bao nhiêu, tôi không biêt. Anh làm cho Usaid dưới quyền ông Lâm Quang tại Tuy Hòa và rất ít khi về nhà. Có vú Chín, tôi giao con và sống trở lại như thời con gái. Ở lại phòng trà ngủ với mấy chi vũ nữ hoặc leo lên đồi cù nằm nhìn Trời Đất. Tôi vẫn chưa ý thức được một cách nghiêm chỉnh, bổn phận của một người mẹ. Tôi vẫn chưa đủ tình yêu đúng nghĩa dành cho các con. Tôi còn quá trẻ. Tôi đã biết gì về cuộc sống quanh tôi. Tôi yêu tôi và chưa kịp sống cho tôi. Không có gì cho tôi. Không phải là lỗi của Minh trong cơn say rượu. Chỉ khổ một cái là người tôi yêu không phải là Minh. Chưa rõ ràng là ai, tôi chưa biết yêu...Mãi nhiều năm sau, tôi mới biết thế nào là tình yêu.

Điều không thể thay đổi, chối cãi là tôi yêu hát. Từ ngày đó, tôi đã tự nhủ dầu có phải đánh đổi hết để chỉ được hát, tôi cũng không ngần ngại và Đà Lạt quả là nơi tuyệt vời để hát những nhạc phẩm của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, Đặng Thế Phong, Nguyễn Văn Khánh. Đông hay vắng không hề ảnh hưởng đến tôi. Thế giới của tôi chỉ có riêng tôi. Tôi hạnh phúc, tôi đau đớn sống với tôn giáo của mình. Những ngày nắng nhẹ nhàng. Những đêm mưa dịu dàng. Những bình minh rực rỡ. Những hoàng hôn cô lẻ. Đâu có ai để ý. Chỉ riêng mình tôi lặng lẽ trên con dốc dài, bên dòng suối nhỏ, giữa bao la hoang dại, cố gắng hít cho đầy buồng phổi của mình hương thơm của đất trời hoa cỏ. Tôi yêu tôi - tôi yêu tình yêu của tôi, một tình yêu chưa giành cho riêng ai. Tôi thực sự dồn hết tình yêu vào những ca khúc mỗi đêm tôi hát với nỗi buồn. Nói là buồn bởi tôi chưa bao giờ được vui. Tôi hình như cũng là một đứa con không được mong đợi. Một sự thất bại của mẹ tôi. Thường thì một người đàn bà đẹp khó có thể chịu đựng một đứa con xấu. Tôi giống Bố. Lại thêm một lý do để mẹ luôn luôn bỏ quên tôi, tuy nhiên điều mẹ không hài lòng lại chính là điều làm cho tôi hãnh diện. Nó là nguồn ai ủi giúp tôi chống đỡ với bao điều tủi cực trong đời sống.

Có biết bao người không đẹp và nghèo nhưng cả hai đều không phải là một cái tội. Nghĩ thế nên tôi không hề thất vọng khi Đạt quên tôi, song tôi tiếc Hải vì đã nghĩ đến Hải rất nhiều mà nếu Hải không đi xa, chắc tôi đã biết thế nào là tình yêu. Có thể tôi sẽ có hạnh phúc, cũng có thể không nhưng ít ra, tôi không đến nỗi phải ân hận. Một lần Bảo Linh hỏi tôi...Mẹ có yêu ba không...Tôi trả lời không cần suy nghĩ. Không. Thật tàn nhẫn nhưng rất thật thà vì Minh không bao giờ có trong ý nghĩ của tôi.

Tôi bắt đầu biết hút thuốc là từ năm 16 tuổi khi ở chung với chị của Minh là chị Lệ Quyên, người đóng vai chính trong phim "Nước mắt đêm xuân" của anh Nguyễn Long. Chị hút và thường bảo tôi...châm tau điếu thuốc mi...[gia đình Minh gốc Huế] riết rồi tôi hút thuốc lá hồi nào không hay. 1964 Hải từ Mỹ về và qua Thái Lan học thêm về loại máy bay A-6. Chị Quyên rủ tôi lên Pleiku chơi và tình cờ, tôi gặp lại Hải. Chúng tôi nhìn và chào nhau như 2 người bạn. Hải ngồi với bè bạn. Vũ Trường Phượng Hoàng hình như là nơi giải trí duy nhất cho các chàng Không Quân hào hoa bay bướm nơi thị trấn đìu hiu đó. Chúng tôi nhảy với nhau một bài. Hải bảo anh đi với người yêu. Trước khi bài hát chấm dứt, Hải nói...Sáng mai anh bay dùm cho một người, chờ anh về anh đưa em đi coi Biển Hồ...Tôi cho anh biết nơi tôi ở và chúng tôi chia tay. Tôi về trước. Giọng Hải đầy rượu, tiếng cười của anh vang lên trong cái khuya vắng của Vũ Trường.

Tôi không nhớ là mấy giờ vì đang say ngủ. Tiếng đập cửa rầm rầm làm tôi hốt hoảng. Hải la lớn...Mai, Mai anh đây, Hải đây...Tôi vội vàng chạy ra mở cửa phòng, Hải loạng choạng bước vào, anh ôm hai vai tôi và nói...Mai chờ anh, xong phi vụ anh sẽ đưa em đi Biển Hồ...Tôi chưa kịp hỏi, Hải đã đổ ập người xuống giường, ngủ. Tôi chui vào mền nằm ghé bên anh, tôi cố đẩy anh đắp mền cho anh nhưng đành chịu. Hải nằm úp mặt trên tấm khăn phủ giường. Tôi trở lại giấc ngủ dở dang, 6 giờ sáng thứ dậy, Hải không còn nằm đó nữa. Khoảng 2 tiếng sau, tôi chợt nghe một tiếng nổ lớn không biết xuất phát từ đâu và sau đó, tôi được tin anh đã chết.

Trên chiếc phi cơ đưa xác Hải về Sài Gòn, chỉ có một mình tôi ngồi bên quan tài của anh. Tôi đau đớn nhưng không khóc được. Không một giọt nước mắt nào rơi ra khỏi đôi mắt của tôi. Điều làm tôi xót xa hơn nữa là bạn bè và gia đình Hải quy tất cả trách nhiệm vào tôi. Tôi không nói được gì. Tôi không muốn nói. Tính tôi vốn vậy. Lặng lẽ tôi quay lưng đi trước những cái nhìn căm giận và ai oán của mọi người...Nhiều năm về sau, rất nhiều năm về sau, tôi nhận được một bức hình do chính thân phụ Lê Nguyên Hải gửi cho tôi với hàng chứ cũ viết sau tấm ảnh...Gừi cô Khánh Ly thay mặt cố nhân Lê Nguyên Hải. Lúc đó, tôi khóc. Ôi, sao hạnh phúc bao giờ cũng đến với tôi quá trễ
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image
"Chị Mai” (Khánh Ly) và “chị Huyền” (Bích Huyền), 1965

Khánh Ly, Chuyện kể sau 40 năm
Chương 8

Nói về cái vụ sao hạn, tôi cũng loáng thoáng nghe. Nào là La Hầu, Kế Đô, nào là con bà Hắc Đế, nào là tướng tinh con cọp, con heo, con gà, con khỉ... vv... và vv... Rồi cúng sao giải hạn. Nghe thôi chứ tôi thường nghĩ nếu quả là số, có sợ thì chạy đâu khỏi. Người Trung Hoa có cái câu hay lắm... Khi xui, uống miếng nước cũng sặc. Hoặc là... Càng nói, càng sai... Hay. Và vì là người Công Giáo tôi không có cái màn cúng giải hạn.

Ngày cuối cùng của năm, tôi lên đường qua Hawaii hát đêm Giao Thừa nhưng tôi phải rời Hawaii bằng chuyến bay đêm cất cánh lúc 11 giờ 55. Dạ vũ tổ chức ngay tại hotel tôi ở nhưng xui cho bầu, cho bà con và cả cho tôi là cùng lúc đó cũng có một cái party của Mỹ. Thế là bà con ta dù đã mua vé nhưng không có chỗ đậu xe, dẫu đã chạy vòng vòng cả 2 tiếng đồng hồ.

Nhoáng một cái nhìn đồng hồ đã thấy 11 giờ kém. Tôi phóng lên lầu thay quần áo. Bầu chưa kịp đi lấy tiền, tay đang cầm mấy trăm bạc, tôi giựt luôn... Chị không chờ được, em gửi tiền cho chị sau nhé... 11 giờ 20 tôi chụp được một chiếc taxi... Bằng bất cứ giá nào, mày đưa tao ra phi trường cho kịp chuyến tầu... Tay lái xe lắc đầu... Tao không nghĩ mày có thể bắt kịp, tao chỉ hứa là sẽ có mặt ở phi trường lúc 11 giờ 40... Tôi thấy ngàn phần trăm là ở lại Hawaii đêm nay nhưng lỡ rồi, cứ đi biết đâu chừng tầu cất cánh trễ năm mười phút.

Phi trường vắng đúng như... đêm 30, chỉ có 3 mạng ngồi nói chuyện gẫu, chỉ gate xong họ lại tiếp tục câu chuyện để mặc tôi với hai cái valise, một bọc áo thun. Tôi bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng đến muốn khóc. Khi chất hai valise lên xe đẩy thì Lạy Chúa Tôi lòng lành vô cùng, tôi thấy một anh chàng đi đến gần chỗ tôi và trên tay anh ta là cái boarding pass. Như vậy có nghĩa là anh ta đã check-in và máy bay không thể bỏ anh ta lại. May cho tôi làm sao.

Quả đúng tôi là hành khách cuối cùng bước vào máy bay. Tầu bốc lên khỏi phi đạo. Vừa qua giờ Giao Thừa. Năm mới đã đến. Cái con sao Kế Đô thổ tả không biết nó đã... xéo... đi chưa mà sao nước mắt tôi cứ chẩy xuống như mưa. Là một trong 12 con giáp bỏ mẹ, tôi thấy năm nào, con nào cũng xui. Không chủ quan nhưng tôi ít khi nói sai. Cái ý là nếu sai, tôi không nói. Ở tuổi tôi, giờ còn nói sai nữa, e không... thọ, dẫu vẫn biết rằng sống cũng chẳng có gì vui, chết chả phải là điều đáng buồn. Ấy thế mà còn sống được là còn thấy những điều cười ra nước mắt. Tấn kịch đời... khôi hài bi thảm.

Khóc đã rồi hắt hơi, hắt hơi liên tục không biết ngượng trong suốt 5 tiếng đồng hồ. Đoan đón tôi ngay cửa máy bay, đưa áo lạnh. Anh ái ngại nhìn tôi hắt hơi nữa... Đi nổi không em, nếu không thì về đi... Về sao được anh, đầu năm đầu hôm của người ta, lại trần xì chỉ có 2 mống, em không tới làm sao Lê Tâm gồng một mình lại còn mang tiếng nữa... Mới 7 giờ sáng. Còn sớm chán, vợ chồng thủng thỉnh kéo nhau đổi qua cổng số 1 tới USAir. Đoan lì xì cho tôi phong bao đỏ, tôi lì xì cho Đoan một bọc áo thun có in toàn là Rồng. Con nằm ngang, con nằm ngửa, con vểnh râu, con lộn đầu... Em đi nhé...

Lên tầu rồi tôi lại hắt hơi tiếp. Ý cha mẹ ơi, năm nay coi bộ lạ đấy, ai nhắc MÌNH mà hắt hơi dữ vậy. Cứ như thế cho tới khi tầu đáp xuống phi trường Charlotte, North Carolina. Lê Tâm chưa tới. Tôi vội vã lấy đồ nghề làm mặt ngay tại chỗ... Mẹ kiếp, đã xấu sẵn rồi, làm gì cũng không thể đẹp hơn, cứ quẹt quẹt tí xanh xanh đỏ đỏ cho bà con... đỡ sợ là được rồi. Chẳng có chỗ thay áo dài, tôi chơi luôn quần jean, áo lạnh lên sân khấu. 10 tiếng chập chờn hắt hơi sổ mũi vậy mà Chúa Mẹ thương, tôi cứ hát được như thường. Cái này sức người không thể.

Buổi tối là Dạ Vũ, tôi có được 2 tiếng đồng hồ để tắm gội sửa soạn mặt mày quần áo cho đúng lễ nghi quan cách. Biết tôi bệnh, Lê Tâm rán gồng dùm tôi bằng những bài hát hot nhất. Bà con, nhất là giới trẻ khoái chí vỗ tay như sấm nổ, tất cả cứ đứng tại piste chờ đợi, chẳng ai chịu vào chỗ ngồi. Riêng tôi được một bà mẹ của em chơi keyboard cho uống thuốc, cạo gió và ăn Donut. Cũng có thể vì ăn chay lại đai-ét, cơ thể tôi yếu quá chăng. Nhưng sao vẫn hát được. Ấy, đã nói có Chúa Mẹ đỡ mà.

6 giờ sáng, lại ra phi trường bay về Houston. Cái màn hắt hơi đỡ rồi nhưng phải thú nhận là tôi đã thấm mệt. Thuốc ngủ cứ uống nhồi mãi mà ngủ không đủ do đó tôi cứ như người mộng du. 11 giờ vào đến cái sân vận động khổng lồ, là nơi tổ chức Hội Chợ Tết Con Rồng, chưa có một mống ca sĩ nào cả. Ngay bên cạnh sân khấu là cái... lều quây bằng vải đen dùng làm chỗ thay quần áo cho các đấng ca sĩ từ giọng hát hàng đầu đến hạng chót... same same. Tôi chắp 3 cái ghế lại làm được một giấc. Ôi, gẫm còn hơn hạnh phúc của giấc ngủ thiên thu.

Thế là xong 3 ngày Tết lênh đênh trên trời, mấy chục tiếng đồng hồ bay chạy giạng chân từ phi trường này tới phi trường kia, từ cổng này đến cổng nọ. Cầm đồng tiền, nước mắt lại chẩy ra, nghĩ đến khán thính giả đã chia sẻ cho mình mồ hôi nước mắt của những ngày giờ làm việc bấm thẻ. Cứ nghĩ thế mà cho rằng mình còn may mắn hơn rất nhiều người trong đời sống, trong nghề nghiệp có những oan trái đắng cay lại phải nuốt sâu vào lòng, đêm đến thì mượn thuốc ngủ làm... người tình trăm năm. Liều lượng ngày một tăng, tháng nào cũng phải cúng cho nó cả trăm bạc. Vậy nên nếu lúc nào tôi về... hưởng nhan Thánh Chúa... thì đó là lỗi tại tôi. Xin cả làng nước đừng bảo rằng chồng tôi... thuốc tôi để lấy bảo hiểm. Gì chứ nói oan cho người khác, tội nghiệt không phải nhẹ đâu nhé, đừng tưởng lời nói gió bay.

Tôi cảm cúm đã 4 tháng kể từ đêm quyên tiền cứu lụt miền Trung tại San Jose. Bà con ngồi cả dưới đất, trời đêm đó lạnh như cắt ruột. Ôm thùng tiền đi xin, thấy chỗ này vẫy, chỗ kia tay cầm tiền ngoắc, làm sao len vào với đôi giầy vừa to vừa cao như cái chiến hạm, thế là tôi chơi cái chân đất đặng chạy cho lẹ. Đi 2 tiếng đồng hồ cho đến khi bàn chân tôi tê cóng vì lạnh. Thằng Kenny, con tôi đi theo ôm áo, ôm giầy xót mẹ kéo tôi vào quên cả bé Dung, vợ nó, cũng đang ôm một thùng đi xin tiền. Gần 80 ngàn đô đã được Đỗ Văn Trọn tự tay cầm về.

Vancouver kêu. Seattle kêu. Toronto kêu... Lụt đây... lụt đây... Nhiều khi nghĩ cũng lạ. Chỗ nào ấm áp, ăn uống nhậu nhẹt nhảy đầm thả giàn, cờ bạc chí chạp ít có mình. Có lẽ tại thấy tôi đai-ét triền miên, nhảy đầm lại dốt, cờ bạc thì... rét nên thỉnh thoảng tôi mới góp mặt. Sao thế nhỉ? Cái này tôi phải chờ thầy Nhật Thanh coi dùm xem tôi được sinh ra dưới ngôi sao nào. Tuy nhiên cũng tốt thôi... Mình ăn thì hết, người ta ăn thì còn... Ngày xưa ở VN được đóng góp trong những công việc từ thiện, xã hội cũng là nghề của nàng. Giờ đổi đời, ai đổi thì đổi chứ với tôi đó vẫn là niềm vui như anh Trịnh Công Sơn thường dặn... sống phải có tấm lòng. Sống phải tử tế với nhau...

Trước khi đi, Đoan bắt tôi phải chích thuốc khỏe cộng thuốc trụ sinh vì tôi đã uống quá nhiều trụ sinh trong mấy tháng qua và xông cả chục nồi thuốc xông tổ bố. Anh soạn áo lạnh kín cổ cao tường và xếp cho tôi 5 cái khăn quàng cổ đủ màu. Vợ chồng vui vẻ chở nhau ra phi trường, lấy boarding pass xong cả hai còn kéo nhau ra lề... ăn điếu thuốc rồi mới chia tay. Không có ôm ấp hôn hít gì cả chỉ có hai cái mũi quẹt vào nhau, coi như xong. Đoan lên xe, tôi quay vào, không cả cái màn... đứng sững nhìn theo... như chú Mai Thảo đã viết... " Đứng sững mới hay lìa cách đã. Sơn cùng thủy tận giữa đôi ta" ... Chi dữ vậy. 2 ngày bay, một ngày hát là lại... phải nhìn thấy nhau rồi.

Toronto lạnh quá. Tuyết trắng cả một khung trời. Chỉ mong ra khỏi phi trường cho mau đặng ăn điếu thuốc giữa một thảm tuyết trắng cũng đáng gọi là một điều thống khoái. Khiếp, nghe tôi nói cứ như một gã đàn ông dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Thủ tục đóng thuế cũng nhanh nhờ tôi có đem theo giấy đóng thuế tuần rồi ở Vancouver. Ba cái valise nhỏ xếp gọn trên xe, tôi đi như một người dư thì giờ đi dạo chơi. Mít gặp nhau là nhận ra ngay. Một người đàn ông trung niên tóc muối tiêu dáng mảnh khảnh, mắt hiền lành phúc hậu với nụ cười vui vẻ rộng hết cỡ chạy tới... Sao, cô có mệt không, vào đây làm ly café đã, chờ cháu nó lấy xe. Tôi là Doanh, Hội Người Việt ở đây... Dạ chào bác, cảm ơn bác nhưng bác cho phép em ra ngoài... ăn điếu thuốc đã... Ừ được nhưng mà lạnh lắm đấy, cô phải cẩn thận nhé...

Trên đường đi, bác Doanh, Du - con bác Doanh - nói cười vui như Tết, như đã quen nhau từ... muôn kiếp trước. Giờ có ly café thì ấm bụng bác nhỉ... Ấy có đây, để cháu nó đưa cô đến, chỉ sợ giờ này nó đóng cửa... Một tiệm café có karaoke, trên màn ảnh đang chiếu cuốn... " Mẹ" của Thúy Nga. Vui đáo để và café thật ngon. Du uống được còn bác Doanh thì thật là... phí tiền vì bác chỉ cần có mấy giọt mà thôi... Tôi vừa nhâm nhi café, thuốc lá vừa hỏi thăm bác Doanh chương trình, bởi vì tôi biết là tôi sẽ được hát chung với Giao Linh như ông Kha Xe nói, mà tôi thì lại rất quý và muốn gặp Giao Linh... Bác Doanh ạ, chương trình gà nhà của Toronto ra sao chứ chỉ có 2 mống gồng, có nước... hộc máu... Bác Doanh cười... Cô đừng lo, cây nhà lá vườn ở đây cũng nhiều, có cả Tuấn Tài nữa cơ mà... Vậy mà em có biết đâu bác, ông Kha Xe chỉ nói tới Giao Linh thôi...

Chợt có người đập vào vai tôi đánh bộp một cái... À lại gặp rồi, trả nợ đi chứ, hứa gửi bài mà chả thấy gì, hèn chi bị lão Phan Ni Tấn làm thơ mắng khéo đầu năm... Ối giời ơi, bố Nguyên Nghĩa đi đâu đây - Rõ là vô duyên, đi vào tiệm café là để uống café chứ chẳng lẽ vào đây mua cá mua thịt - Nguyên Nghĩa đi với một anh được giới thiệu là Khải kéo ghế ngồi bàn bên cạnh... Này, thế ngày mai ông có đi không. Nguyên Nghĩa cười lắc đầu... Tôi không đi, gặp mặt nhau mất vui ... Tại sao... Chị không biết à, ngày mai có Nguyệt Ánh, có Hưng Ca hát mà... Bác Doanh cười nói... không có Nguyễn Hữu Nghĩa, chỉ có Nguyệt Ánh và Nguyễn Xuân Nghĩa mà thôi... Ồ vậy sao, tôi có đi hát chung với Nguyệt Ánh và Nguyễn Xuân Nghĩa rồi mà sao tôi không nghe nói gì cả, tưởng chỉ có Giao Linh thôi. Vậy Nguyên Nghĩa chuyển lời mình thăm anh chị Nguyễn Ngọc Ngạn và anh chị Phan Ni Tấn nhé vì ngày mai tôi phải gặp con gái, sợ không có thì giờ. Hẹn gặp ở Paris.

Bác Doanh và Du chở tôi lại nhà của nha sĩ Từ Chấn Phong, người em kết nghĩa " vườn cải" có một cái nhà tổ bố lại ở một mình, rất mê hát karaoke, rất quý mến ca nhạc sĩ. Tuấn Ngọc và tôi từng được gửi ở đây - ban tổ chức đỡ tốn tiền hotel và có lẽ sẽ có thêm đề tài về ông nha sĩ trẻ và bà ca sĩ già. Có hề chi... Phong, thằng cu Hiền cháu Phong và tôi ngồi trên thảm hát karaoke mà lại hát tiếng Tây mới chiến chứ... 2 giờ sáng tôi xin phép hai chú cháu đi ngủ nhưng dầu đã uống thuốc ngủ, tôi cứ trằn trọc mãi vì sự... thiếu sót của ban tổ chức. Đêm mai, tôi sẽ đối đầu với một người đã dùng tờ báo của mình làm phương tiện đánh phá tôi trong suốt hơn 10 năm qua, mà hình như cho đến bây giờ vẫn chưa thôi.

Kế Đô vừa qua, còn cái gì nữa thì tới luôn cho tiện việc sổ sách. Mà nói cho cùng tôi cũng chẳng còn nhớ mặt mũi cái người chửi tôi ra sao. Vài chục năm trước, chỉ nghe, thấy loáng thoáng từ xa khi Nguyễn Hữu Nghĩa đi theo sư phụ là Nguyễn Đức Quang... Thôi đọc kinh rồi ngủ. Cái mặt tôi đây, ai muốn chửi, thích chửi thì xin mời. Chỉ biết một điều là bao giờ tôi cũng đứng thẳng, nhìn thẳng và đi ngay. Nếu có một điều gì cần phải chứng minh thì tôi chỉ chứng minh với chính tôi mà thôi. Hơn thế nữa điều mọi người muốn ở tôi là hát. Vâng, tôi sẽ hát, hát đến có phải bật máu ra mà chết tôi cũng sẽ hát bởi đó mới là điều quan trọng, đó mới là niềm hạnh phúc mơ ước của tôi. Xin kính chúc tất cả sức khỏe và sự bình an. Bình an trong đời sống. Bình an trong tâm hồn
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Khánh Ly, Chuyện kể sau 40 năm
Chương 9

“Hôm nay thức dậy không còn thấy mọi người, không còn thấy mặt người. Vây phủ quanh đời nói tiếng yêu thương” (TCS).

Hôm nay thức dậy. Một mình. Bao nhiêu mệt mõi của một cuối tuần như ngựa. Rống như trâu. Bây giờ mới thấm. Tôi như người mộng du. Ở San José, mở mắt dậy, tưởng ở nhà. Về đây rồi. Còn tưởng sáng San José. 6,7 giờ sáng khi mọi người thức dậy, các con đi học thì tôi …ngủ. 3 giờ chiều mới mở mắt. Ngày hay đêm. Ở đâu đây. Chẳng biết. Chẳng cần biết. Mấy chục năm như thế rồi. Giờ đã gần cuối đời. Có cần thiết phải thay đổi một …thói quen. Một thói quen mọi người cho là …xấu. Khó chịu. Nhưng đáng yêu với tôi. Thói quen nào cũng đáng yêu. Yêu người, thương áo quen hơi ngọt ngào. Yêu đêm tối có nỗi cô lẻ mênh mông. Hơi áo người yêu. Tôi không chia cho ai. Ðêm tối bao la kia. Không ai chia cho tôi. “Một người điên trong thành phố” (TCS)

Ði. Về. Rồi lại đi, về. Cứ như thế. Chẳng cần biết nơi mình đến trời có xanh? Nơi mình về trời có vui? Những thành phố giống nhau đến nhàm chán. Những khuôn mặt da trắng, tóc vàng, mắt xanh ..nhìn hoài thương không vô. Tôi đi ngơ ngác, chán chường với một điểm hy vọng nhỏ nhoi. Ðến với người mình còn yêu. Và còn yêu mình.

Trời đã vào thu. Cơn mưa bất chợt phủ trùm thành phố. Vẫn tìm đến như đã tìm đến nhau. Mưa ngoài trời. Mưa trong lòng, trong mắt trong cả môi cười. Ðến với nhau. Lòng như đại dương. Tình như non cao. Giữa đời suối khe. Mưa nữa đi. Lạnh thêm chút nữa. Cho lòng thêm chút ấm. Vẫn chưa đủ, vẫn còn xa quá. Bao nhiêu cho đủ. Bao nhiêu cho vừa. Xuân. Không thấy xuân vui. Hạ không thấy lòng bớt nhớ những chiều qua phố xưa. Thu. Nỗi nhớ nhiều hơn. Nhớ nhiều quá. Yêu nhiều quá những cơn mưa phùn Ðà Lạt, những con dốc nhấp nhô, mái nhà ngói đỏ phơi mình giữa màu xanh của lá. Chưa lạnh lắm nhưng đủ để thu mình ở một góc nhỏ café Tùng. Hơi nóng từ ly café chuyền qua ấm dần hai tay giá lạnh. Thú vị lắm. Ngồi ở nhà Thủy Tạ, một mình nhìn mưa bay trên Hồ Xuân Hương. Mưa bay dịu dàng. Nỗi buồn cũng dịu dàng. Trong cơn điên dịu dàng. Mướn Taxi chạy xuống phi trường Liên Khương. Không đón đưa a . Ðến để nhìn mọi người đưa đón nhau. Xem xem vui buồn đến đâu. Chạy lên phi trường Cam Ly, cũng chẳng đến đưa ai. Phi trường vắng lặng. Phi đạo nằm soải im lìm chờ đợi. Như một người chờ một người. Người không đến thì ta đi. Phi đạo nằm lại. Tiếp tục chờ đợi. Nắng. Mưa. Ngày. Ðêm. Phi đạo Cam Ly vẫn còn đó.

Bốn mùa buồn. Bốn mùa chờ đợi. Một chờ đợi cũng dịu dàng. Nhớ Saigon. Chạy ra chợ Hòa Bình rinh một sọt chuối Laba. Nhẩy lên xe đò Minh Trung. Ði ghé Ðịnh Quán ăn cơm thịt heo quay. Xe ghé Ðịnh Quán cũng lại cơm. Tới Saigon chỉ ở lại một ngày. Làm một vòng Saigon-Chợ Lớn. Phân phát hết sọt chuối. Lại nhảy lên Minh Trung về lại Hồ Than Thở. Nhưng không thở than.

Một thời 20 rất bụi đời, rất vỉa hè. Ðến như gió. Ði như gió. Từ đâu tới. Ði về đâu. Không biết. Không cần biết. Ðáng yêu biết bao những ngày tháng mây trời, biển khơi. Phà khói thuốc vào sương mù Ðà Lạt. Buổi sáng thức dậy, ngửi mùi thơm của thông. Nghe thông hát reo nhè nhẹ. Mặc áo len cổ tròn, quàng cổ, quần jean, thế là …xuống phố. Có lúc đi giữa mưa vẫn nghe tiếng chân mình rộn rã reo vui trên mặt đường loang nước. Từ ngã tư. Xe đò, xe lam từ hướng Chi Lăng chạy ra. Bước lên xe ngồi xuống. Bao giờ tôi cũng nhìn ngoái lại trường tiểu học Phan Chu Trinh nằm bên kia đường. Tôi đã học ở đây năm 1956. Xe qua nhà vãng lai dành cho các sĩ quan Không Quân nghỉ mát. Qua ga xe lửa. Tiệm phở ở ga ăn cũng khá. Ðổ một con dốc. Rồi một con dốc nhỏ nữa, qua nhà thương Soyer. Trường Yersin. Xe cứ chạy. Tay trái là sân vận động, sân tennis. Khách sạn Palace. Ðường rẽ lên nhà thờ chánh tòa Ðà Lạt. Bên phải là Hồ Xuân Hương. Vòng theo một bùng binh. Ngang qua quân Vụ Thị Trấn, xe đò lên dốc. Vào bến đậu ngay cạnh café Tùng. Vào làm một ly đã. Mọi chuyện tính sau. Ngày nào cũng thế năm năm như thế. Không thay đổi.

Không ai có thể “bẩy” tôi ra khỏi Ðà Lạt lúc đó, dù là ông Cương khểnh, dù là ông Trịnh Công Sơn, dõi theo từng bước chân tôi những chiều đến giáo đường một mình. “Sợi tóc em bồng trôi nhanh. Trôi nhanh”. Những cùng sống mỗi người một đời nhỏ nhoi, mỗi người một góc trời nhỏ nhoi. Sơn không biết gì về tôi. Tôi không biết gì về Sơn. Không cần thiết. Sơn không bao giờ hỏi. Tôi không bao giờ hỏi. Một người hát nhạc một người. Anh Sơn và Mai. 20 năm trước như thế và 20 năm sau cũng vẫn như thế. Một người hát nhạc một người. Anh Sơn và Mai.

Tôi chỉ thực sự là tôi. Thực sự hạnh phúc khi hát nhạc anh Sơn. Ngoài ra chỉ là một thứ hạnh phúc mong manh. May ra rực rỡ hơn cho cái hạnh phúc thật sự của mình. Ðó là sự thật. Tôi chỉ thuần phục một người. Ðó là Trịnh Công Sơn. Không bao giờ hối tiếc. Sau này có ông Trầm Tử Thiêng. Tôi không bao giờ hối tiếc.Trong đời, tôi cũng đã gây nên nhiều lầm lỡ. Ân hận hối tiếc đã nhiều. Những vấp ngã ít người tránh khỏi. Nhiều hay ít mà thôi. Song trời đưa đẩy tôi gặp Sơn. Trời cho tôi những ngày đẹp đẽ đáng yêu nhất. Tôi không bao giờ hối tiếc. Nếu có kiếp sau. Tôi cũng xin gặp lại Sơn, như đã gặp. Ở Ðà Lạt. Ở Việt Nam.

Mùa đông cũng đã gần kề. Mùa đông Ðà Lạt như mùa thu kéo dài. Thêm chút lửa ấm từ lò sưởi ngọt ngào mùi gỗ thông. Ðêm Ðà Lạt bao giờ cũng lạnh. Hơn, kém một tí cũng không cho ta thấy rõ mùa đang chuyển. Bốn mùa xoay quanh những thói quen đáng yêu. Hương café thơm ngát qua bao nhiêu suối khe đồi núi. Dốc tháp, dốc. Mái nhà ngói đỏ và mùi thơm của gỗ thông. Tôi yêu Ðà Lạt vô chừng. Như một người tình. Hơn một người tình. Tôi rời Ðà Lạt không ngờ, như khi đến. Rời xa mà vẫn yêu. Yêu nhiều hơn vì trong cái yêu có cái tiếc nuối mặc dù sự việc rời bỏ Ðà Lạt năm 1967 đã đưa tôi đến một đổi thay, đến một hạnh phúc may mắn không bao giờ tôi dám nghĩ đến. Năm 1964 khi Trịnh Công Sơn rủ tôi về Saigon đi hát với anh. Tôi từ chối. Không phải vì không yêu nhạc Sơn. Nhưng lúc đó tôi yêu Ðà Lạt hơn. Cái lối sống xô bồ, ồn ào mánh mung của Saigon không hợp với tôi. Trong khi đó Ðà Lạt là thiên đường. Êm ả, trong sáng. Saigon đó có một chỗ đứng nào cho tôi. Là một người không hề có một chút tham vọng. Thích an phận, bằng lòng với những điều mình có. Một đứa con gái tầm thường như tôi. Những ngày tháng ở Ðà Lạt đã là một an ủi quá đủ rồi. Với làm vui chi những điều quá xa vời. Cũng không hề mơ ước một đổi thay. Hơn thế nữa con người tôi, tâm hồn tôi hợp với Ðà Lạt hơn. Thế mà rồi tôi đã rời xa nơi chốn đã cho tôi biết bao ngày tháng đẹp đẽ trong sáng.

Một ngày của năm 1967. Tôi đến Nha Trang. Vùng biển xanh, cát trắng. Không một chuẩn bị nào cho nơi chốn mới. Thì cũng đến hát là cùng. Vẫn còn cơ hội để không trở lại Saigon. Một vài tháng phù du đủ làm đời tôi nổi sóng. Nha Trang không có gì quyến rũ. Nha Trang tầm thường quá so với Ðà Lạt. Nhưng tôi không muốn trở về Ðà Lạt. Nơi đã tặng tôi một bất hạnh. Một người đã cho tôi sự sợ hãi, ê chề không tưởng. Trên một chuyến xe đò. Tôi và các con tôi đành phải trở lại Saigon. Một nơi chốn cũng đã làm tôi sợ hãi. Cùng với hạnh phúc tuyệt vời. Tôi cưu mang cho đến cuối đời.

Mùa thu nhẹ nhàng cho những tâm hồn đa sầu đa cảm, đa tình, lãng mạn. Gợi biết bao nhiêu cảm hứng cho thi, văn, nhạc sĩ. Mùa thu là mùa đẹp nhất trong bốn mùa Ðông đến. Mùa đông ở xứ Mỹ bàng bạc khắp nơi mầu trắng của tuyết. Cái lạnh lẽo bao trùm cả trời đất. Cả lòng người. Nhất là những người xa quê hương lưu lạc trôi nổi. Giáng sinh đã gần kề. Gần lắm rồi. Ở đây Giáng Sinh được đón chờ nhiều hơn Tết Nguyên Ðán. Bà con gửi thiệp cho nhau. Quà cáp tặng nhau. Người lớn, trẻ con. Ai có phần nấy. Rộn ràng nhộn nhịp trong tiếng nhạc đón mừng con một Ðức Chúa Cha xuống trần gánh chịu tội lỗi của loài người. Và tội lỗi đó vẫn tiếp tục một cách thản nhiên. Chắc Chúa cũng phải hối hận khi đặt loài người trên tất cả mọi loài. Nhưng dù gì, mọi người, mọi nơi đều rộn ràng chờ đón Giáng Sinh. Giầu có thì huy hoàng. Nghèo khó cũng ráng cho được một cây thông nhấp nhánh những ngọn đèn xanh đỏ, tím vàng. Gọi là có với gia đình. Ấy, đôi khi nghèo mà vui. Bạn bè vài ba người quay quần bên mâm cơm. Ôn lại kỷ niệm cũ. Bạn bè cũ. Ðứa nào còn, đứa nào đã về với Chúa. Hạnh phúc, niềm vui, không tìm được ở nơi chốn ồn ào náo nhiệt. Ở những nơi đó thường thiếu sự thật thà, sự tử tế. Bởi có những người đến với nhau không có lòng thật thà, không có lòng tử tế . Cả hai điều này ngày càng ít đi ./.

Khánh Ly
the end.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »


Image

“NGHÌN TRÙNG XA CÁCH”

Phạm Duy là một trong những nhạc sĩ sáng tác tình khúc hay nhất của âm nhạc Việt Nam. Khi ở vào ngưỡng tuổi… U.100, nhạc sĩ thừa nhận rằng mình là người “nghiện yêu”, mỗi tình khúc đều liên quan đến một cuộc tình.

Đọc hồi ký của ông (4 tập), mới vỡ ra nhiều điều trong tình trường của Phạm Duy. Điều thú vị là người đưa ra lời khuyên “Muốn biết Phạm Duy yêu như thế nào, những người phụ nữ đó là ai thì nên đọc Hồi ký Phạm Duy” lại chính là ca sĩ Tuấn Ngọc (con rể của nhạc sĩ Phạm Duy).

Đó là vào tối 5/10/2011 trong buổi dạ tiệc mừng sinh nhật lần thứ 91 của nhạc sĩ, được tổ chức tại tư thất của ông bà Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn để chào mừng nhạc sĩ James Durst từ Mỹ sang Việt Nam thăm nhạc sĩ Phạm Duy. Đêm đó đứng trước mặt ông bố vợ chỉ cách hai bước chân, Tuấn Ngọc thủ thỉ, tâm sự, đôi khi hóm hỉnh – như khi nói về bài hát Tình kỹ nữ : “Tôi chưa có kinh nghiệm về cái thú “kỹ nữ” mà bây giờ người ta gọi là… “bia ôm”, nhưng hồi ấy, mới 25 tuổi mà Phạm Duy đã viết ra những câu như thế này “Ta ôm người đẹp trong tay, bên nhau mà lòng xa vắng. Ta nâng niu làn dư âm của khách năm xưa yêu nàng…” thì đó không phải là cái hời hợt của đám thanh niên “ăn bánh, trả tiền” nữa rồi, mà là vượt thoát ra khỏi cái tầm thường. Con nói thế đúng không bố ?”. Phạm Duy chỉ cười rung mái đầu bạc trắng với những lọn tóc xoăn…

Lưới tình chật hẹp

Phạm Duy bước chân vào lĩnh vực ca nhạc khi ở lứa tuổi thanh niên, anh là ca sĩ chuyên hát nhạc của Văn Cao trong gánh hát Đức Huy – Charlot Miều đi lưu diễn từ Bắc chí Nam. Năm 1944, gánh hát dừng chân ở Phan Thiết, qua bài hát Buồn tàn thu của Văn Cao, chàng ca sĩ trẻ đã làm quen được với một góa phụ trẻ mang hai dòng máu Việt – Anh. Nàng tên là Hélène, sống ở đồn điền Suối Kiết (cách tỉnh lỵ không xa) với mẹ già và hai người con : Alice (gái) và Roger (trai). Giữa chàng du ca và người cô phụ trẻ đã có một cuộc tình mà theo Phạm Duy là “rất nhẹ nhàng và trong sạch”. Và rồi “người đẹp Tây lai” này cũng mau chóng biến mất trong ký ức của chàng nghệ sĩ du lãng…

Hơn mười năm sau, họ bất ngờ gặp lại nhau giữa Sài Gòn. Lúc này, đôi bên ai cũng đã có gia đình riêng. Hélène mời Phạm Duy về chơi nhà mình trên đường Trần Hưng Đạo. Phạm Duy ngỡ ngàng khi nhìn thấy Alice. Cô bé bây giờ đã là một thiếu nữ tuổi tròn trăng, giống mẹ như đúc, cặp mắt và khuôn mặt phảng phất những nét “Việt – Anh – Hoa” (cha của Alice vốn là người Hoa). Thế rồi suốt trong một năm, cứ đến cuối tuần, Phạm Duy lái xe hơi đến đón Alice đi chơi. “Chú Phạm Duy” trở thành người tri kỷ để Alice trút bầu tâm sự, những “hỉ nộ ái ố” của một cô gái mới qua tuổi dậy thì.

Đặc biệt, Alice thừa hưởng của mẹ năng khiếu thi ca và âm nhạc nhưng có phần vượt trội hơn. Nàng rất thích hát những bản Tình ca, Tình hoài hương, Tình kỹ nữ, Bên cầu biên giới… của Phạm Duy, khiến cho “… Cái lưới ái tình chật hẹp tung lên vào năm 1944 mà không chụp vào đầu tôi, hơn mười năm sau vì không tránh né nên tôi chui tọt vào lưới. Một chiều mùa thu 1957, tôi tỏ tình với Alice và được nàng ban cho một cái ừ lặng lẽ”.

Mối tình cao thượng

Phạm Duy kể tiếp : “Lúc đó tôi có ngay quyết định là mối tình này cũng phải cao thượng như mối tình giữa tôi và Hélène. Đã gần mười năm vì quá mê mải soạn nhạc tình tự quê hương, tôi không soạn một bản nhạc tình nào cả. Tôi không ngờ trong một thời gian ngắn, tôi lại gặp được tình yêu. Tôi không lẩn tránh, dù biết không giữ được nó suốt đời. Cuộc tình khởi sự bằng bài Thương tình ca (1956). Vì chênh lệch tuổi tác và vì không muốn làm phiền những người chung quanh một lần nữa, tôi quyết định ngay từ đầu rằng đây chỉ là một mối tình giữa hai tâm hồn mà thôi. Tôi cố gắng tránh mọi đụng chạm về xác thịt và tôi hãnh diện để nói rằng nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để lên xe hoa về nhà chồng.

Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Mỗi cuối tuần gặp nhau, thế là quá đủ… Trong hơn 10 năm (1956-1968), nhạc tình của tôi là đều là những bài viết cho nàng (Ngày đó chúng mình, Đừng xa nhau, Cỏ hồng, Nha Trang ngày về…).

Là một người rất yêu thơ, trước khi xa nhau, nàng đã viết tới 300 bài thơ để tặng tôi. Chúng tôi gặp nhau thường là để nói chuyện về thơ hay nhạc. Cũng vì nàng yêu thơ nên nếu có những bài thơ hay thì tôi phổ nhạc (Ngậm ngùi, Vần thơ sầu rụng, Hoa rụng ven sông, Kiếp nào có yêu nhau…) hoặc phát triển từ dân ca (Tóc mai sợi ngắn sợi dài, Nụ tầm xuân, Bài ca sao, Đố ai…). Cũng có khi tôi phóng tác thơ nàng thành ca khúc, trong đó có “Tôi đang mơ giấc mộng dài/Đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh…” – Tạ Tỵ, người viết chuyện đời tôi, cho rằng đó là bài tình ca hoan lạc nhất của đời tôi…” (trích hồi ký).

Với người viết, ca khúc Nghìn trùng xa cách là một trong những tình khúc hay nhất của nhạc sĩ Phạm Duy. Bài hát này nhạc sĩ làm sau khi Alice từ tạ ông để đi lấy chồng sau Tết Mậu Thân (1968). Trong bài hát còn nhắc tới những kỷ vật mà nàng đã tặng ông : “Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt màu, có lũ kỷ niệm trước sau : Vài cánh xương hoa, nằm ép trong thư, rồi cũng tan như bụi mờ. Vạt tóc nâu khô, còn chút thơm tho, thả gió bay đi mịt mù…”. Người viết đã có được may mắn, chứng kiến những kỷ vật của Alice trong Nghìn trùng xa cách.

Đó là những xác lá khô được ép trong tập thơ tình, là lọn tóc màu nâu “rất Tây” mà nàng đã cắt tặng nhạc sĩ trong một ngày sinh nhật của ông… Hơn 40 năm sau, những kỷ vật này không hề “tan như bụi mờ” hoặc bị “thả gió bay đi mịt mù” mà nằm trang trọng trong một hộp kính, đủ biết Phạm Duy đã nâng niu, gìn giữ những kỷ niệm với Alice như thế nào…

(theo Hà Đình Nguyên)
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Image

Mùa ổi
Mùa ổi, tôi và ngoại lại hái những quả chín mọng đặt lên bàn thờ tổ tiên. Hương ổi lẫn vào hương trầm thơm trong sự tĩnh lặng của vườn tược. Tôi nhắm mắt lại nghe rõ từng bước đi của gió.

Tôi nhớ ngày ấy nhiều đêm không ngủ được, nằm thao thức nghe rõ lũ chim kêu rích rích trong đám lá dày. Tiếng ổi rơi khe khẽ đạp lên những chiếc lá vàng khô co quắp loạt xoạt.

Mỗi sáng ra vườn hương ổi thơm ngào ngạt, nắng vàng nhuộm khắp vườn cây. Bà tôi đầu đội nắng đội gió bước trên thảm lá vàng xao xác, mắt đăm đắm kiếm tìm quả ổi nào chín nhất. Tôi leo lên từng ngọn cây cao quan sát, rồi dùng cây sào dài chọc xuống những quả ổi bị chim ăn dở. Tôi kêu lên: “Chim ơi đừng ăn ổi của bà nữa!”.

Lũ chim bỏ đi chốc chốc lại sà xuống lẩn vào trong tán lá um tùm.

Mỗi buổi chiều mùa ổi, ngoại và tôi đều gom lá chất thành đống nơi góc vườn. Nghe trở trời trong từng cơn gió lạnh, hai bà cháu lại lom khom ngồi đốt lá. Khu vườn nhỏ bồng bềnh trong khói sương. Tôi hỏi: “Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió. Sẽ được nhìn thấy các bà tiên” đúng không hả ngoại? Bà vuốt mái tóc tơ con nít của tôi thì thầm: “Cháu thử nhắm mắt lại xem có thấy gì không?”. Tôi nghe lời liền nhắm mắt lại nhưng chẳng thấy gì cả, mắt lại mở choàng. Tôi trèo lên cây nằm vắt vẻo, những quả ổi chín thơm chĩa ra mời mọc, tôi hái một quả đưa vào miệng ăn rồi hỏi: “Ngoại có thấy cháu giống ông Tôn Ngộ Không trong vườn đào không?”. Ngoại nhìn tôi, lắc đầu cười: “Cẩn thận kẻo ngã!”. Vườn cây nhả khói bồng bềnh.

Ngày bão gió, cây ổi đứng rũ rượi dưới mưa. Ổi, bưởi, đu đủ… bị gió đập cho tan tành. Dưới gầm giường, gầm tủ la liệt những quả xanh. Đêm nằm nghe tiếng ổi rơi theo mưa, ngoại tôi lại trở mình.

Mỗi khi tới mùa ổi đôi vai gầy của ngoại lại nặng trĩu nhọc nhằn. Gánh hàng của ngoại đầu kia là ổi, đầu này là tôi mà chợ thì vẫn còn xa ngái. Mỗi bước chân trần như bám chặt hơn vào đất. Không có tiền trả thuế người gác chợ đành cúi xuống, cho tay vào gánh lấy vài ba quả ổi rồi bảo: “Hai bà cháu vào đi kẻo chợ trưa rồi!”. Ngoại tôi lấy tay quệt mồ hôi ngang trán, gánh ổi chạy qua chạy lại trong đám người đông, tìm chỗ trống đặt ổi xuống bán. Ổi rẻ lắm, có ngày bán như cho, “rẻ như ổi xanh” mà! Nhưng ngoại già rồi, cuộc sống chỉ trông vào những ghánh ổi. Ngày ngoại ra đi, trời trở gió to, những cây ổi oằn mình trút lá.

Tôi đi xa có dịp trở về, vườn ổi xưa giờ không còn nữa. Tôi đứng trước bàn thờ ngoại, trong vô thức chắp tay nhắm mắt lại và những mùa ổi lại hiện về.


Xuyến Chi - Khánh Hồng
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cuốn sổ tay của Quang Dũng (1921-1988)

Viên Linh

Ðọc một số bài viết về Quang Dũng, nhất là bài viết của những người có quen biết ông, hay từng gặp ông,
người đọc thấy một chi tiết thường được nhắc đến: cuốn sổ tay của nhà thơ.

Image
Hình Quang Dũng, bút tự Quang Dũng và lá thư của cô Phương Thảo, con gái Quang Dũng, gửi tác giả bài này. (Tài liệu Viên Linh)

Hầu như lúc nào ông cũng có một cuốn sổ tay trong người. Ở đây, ở kia, ông làm thơ, chép thơ trong cuốn sổ tay ấy. Ngoài thơ ra, ông còn vẽ. Quang Dũng vẽ đẹp. Thế và, đi đây đi đó, gặp những nơi thích ý, những người mến mộ, ông thường để lại một vài bài thơ. Có khi vài, có khi chỉ một... Từ khi làm thơ, chép thơ, tặng thơ, luôn luôn với thơ, mà cho đến khi tên tuổi lẫy lừng, Quang Dũng chưa từng có một tập thơ riêng nào được xuất bản. Tập thơ riêng đầu tiên của ông, “Mây Ðầu Ô,” chỉ được in ra năm 1986, hai năm trước khi ông từ trần ở tuổi 67 (1921-1988).

In tác phẩm đầu tay ở tuổi 65, ôi Quang Dũng, một con người đôn hậu trong một định mệnh trì chiết; một thi sĩ làm những bài thơ đầu đời ở tuổi 16, bài Khúc Chiêu Quân, để chỉ làm thơ trong sổ tay suốt nửa thế kỷ; một đại đội trưởng cứu quốc quân hào hùng ở tuổi 25 để bị âm thầm giải ngũ ở tuổi 30, năm 1951, vào lúc chiến trận đang cần chiến binh. Một thanh niên trí thức học Sư Phạm Hà Nội để rồi ngồi sửa lỗi chính tả ở báo Văn Nghệ; một hồn thơ thời đại để suốt đời bị do thám từng bước đi quanh ngõ; ngồi thiền và trồng chuối ngược hằng ngày để chỉ cho quên túi dạ dày đang đói; một chất ngất mênh mông trong hẹp hòi đố kỵ; một anh hùng Lương Sơn Bạc trong lưới rọ quan nha. Ôi Hà Nội, thủ đô văn vật hậu bán thế kỷ XX của Quang Dũng.Viết về Quang Dũng cũng là viết về một thế hệ bị hy sinh. Trong thế hệ bị hy sinh ấy, hầu hết đã bị vùi dập, và nếu không có những cuốn sổ tay, không có những bài thơ được chép lại từ những cuốn sổ tay ấy, năm 1986 người ta cũng chẳng lấy đâu ra thơ Quang Dũng nữa để mà in. Nhà thơ Thâm Tâm có chép vào sổ tay Quang Dũng bài Mưa Ðường Số 5 để tặng bạn, từ đó, Quang Dũng giữ mãi bài thơ trong ba lô trên chặng đường mưa nắng bao năm. Ðến khi trở về Hà Nội sau chia cắt 1954, lúc làm tuyển tập thơ 1945-1955, chính Quang Dũng đã mở sổ tay (lúc này Thâm Tâm đã chết), chép lại bài thơ đã hoen mờ vì mưa gió để đưa vào tuyển tập. Quang Dũng, nhà thơ nhật ký, nhà thơ sổ tay, nhà thơ mỗi ngày, nhà thơ bỏ túi, nhà thơ sống thơ. Thế mà ông đã từng nhóm lửa đốt thơ mình, đốt những cuốn sổ tay ấy. Quang Dũng vừa nổi lửa, thì từ ngoài sân ngửi thấy mùi giấy khét, người bạn thân chạy vào, kịp lấy ấm nước sắp sôi dội tắt. Vài phút trước đó, Quang Dũng đã nói với bạn: “Ðã có thằng thất sở tan đời về mấy bài thơ trong sổ tay đấy thôi!” (Theo nhật ký của bác sĩ trung đoàn Tây Tiến viết về Quang Dũng.) [1]

Tại miền Bắc, trước khi có kế hoạch cởi trói, đổi mới năm 1987, Quang Dũng còn sợ hãi khi có người nói đến thơ mình, đã thế càng có ít người muốn giữ thơ ông, trừ một hai bạn thân. Những người Hà Nội từng ngạc nhiên khi thấy miền Nam yêu thơ Quang Dũng, và nhiều thơ Quang Dũng. Ðây là một chuyện khác thường, người viết cũng chỉ còn nhớ rất mơ hồ... Cuối năm 1973, tôi xuất bản nguyệt san Thời Tập, mỗi số một chủ đề. Tháng 1, 1975, chủ đề là Quang Dũng. Chủ đề được loan báo trước, nên một hôm, có người ghé tòa soạn, ở số 51/51B đường Nguyễn Trãi, trao lại cho tòa báo một xấp tài liệu, với dòng chữ lưu ý: “Những bài thơ chưa từng phổ biến của Quang Dũng.” Bài viết ký tên Lê Hoàn Tân, một cái tên xa lạ thời đó, và cho tới cả bây giờ, nhưng sau tôi được biết, đó là bút hiệu tạm của cụ Lê Khải Trạch, bạn thân của Quang Dũng thời kháng chiến... [Sau 1975 một thời gian rất ngắn, cụ Lê Khải Trạch bị công an tới tận nhà, đường Bùi Thị Xuân, gần nhà thờ Huyện Sĩ, bắt đi mất tích. Cụ đã bị công an văn hóa Việt cộng thủ tiêu, ngày giỗ cụ được gia đình thay vào bằng ngày cụ bị công an CS bắt đi.]

Chúng ta chưa biết thật xác thực những gì đã xảy ra cho Quang Dũng từ 1945 đến khi ông bị giải ngũ, 1951. Có suy luận hợp lý rằng thơ Quang Dũng được ngưỡng mộ truyền đọc, ông trở thành một cấp chỉ huy quân sự được đồng ngũ yêu, mà lại không phải là đảng viên, nên ông phải bị giải ngũ, lúc đang là đại đội trưởng trong trung đoàn Tây Tiến. Có đại đội trưởng nào bị giải ngũ vào tuổi 30? Ngoài Quang Dũng? Hay chính vì đại đội trưởng đó là tác giả bài Tây Tiến, một bài thơ thuộc dòng hùng sử thi khích động lòng yêu nước cao nhất, hiệu quả nhất, trước mọi thi sĩ nòng cốt của guồng máy, tổ chức, trên mọi đảng viên, cán bộ. Cho nên, tất cả những gì thuộc về Quang Dũng phải bị dập tắt ngay. Quang Dũng bị giải ngũ.

Thời kỳ sau khi giải ngũ, Quang Dũng viết bài Tiễn Bạn để chia tay với người bạn dinh tê vào thành vào cuối năm 1952. Lúc ấy Quang Dũng đã biết số phận mình rồi, nhưng quyết định đi đến cùng:

Dẫu biết là vô vọng

Ðã đem chơi cuộc đời,

Thì đi cho hết nước

Sống thử ít con người...

(Tiễn Bạn, Thời Tập, 1.1975)

Ðiều này giải thích vì sao Quang Dũng thúc giục mẹ và chị vào Nam, và cả hai đã vào Sài Gòn năm 1954, mà ông và vợ con ở lại đất Bắc.

Mỗi giai đoạn một định mệnh. Giai đoạn kháng chiến khủng khiếp nhất: Quang Dũng gánh chịu định mệnh của sự đọa đày, chối bỏ. Sự chối bỏ xảy ra ngay, sự đọa đày xảy ra từ 1951 đến khi ông nhắm mắt, tổng cộng 38 năm. Chỉ nội sự nuôi thân mình, ông cũng không lo nổi. Các giai thoại về Quang Dũng, phần nhiều là giai thoại đói. Ông được qui định một khẩu phần nhất định: 13kg500 gạo một tháng. Ở miền Bắc, đó là khẩu phần dành cho tù lao động. Quang Dũng không đến nỗi phải tự sát như hai thi sĩ cách mạng nổi tiếng thế giới của Liên Xô, thi sĩ xuất thân nông dân, được mệnh danh là “thi sĩ của quần chúng” Sergey Essenin (1895-1925), treo cổ chết trong một quán trọ; và Vladimir Mayakovsky (1893- 1930), kẻ hô hào cách mạng quá khích, đã tặng cho sự lầm lẫn của lòng tin của mình một viên đạn. Một mới 30, một mới 37. Quang Dũng lìa đời khi bụng đói. Hôm ấy là ngày 13 tháng 10, 1988.

Người viết này may mắn có bản sao một số trang của sổ tay Quang Dũng do cô giáo Phương Thảo, con gái nhà thơ, từ Hà Nội gửi cho. Và một số thơ chưa từng phổ biến. Nay nhân ngày giỗ thi sĩ, mời bạn đọc đọc vài dòng của cuốn sổ và một bài thơ hiếm: “Quyển sổ này khởi trang đầu từ tỉnh Thái Bình. Ðêm nay Chủ Nhật, 15 tháng 4, 1956, có trăng lưỡi liềm 5-3-âm lịch - giữa bước 2 của CCRÐ (Cải Cách Ruộng Ðất) đợt Ðiện Biên Phủ...”

Và đây là bài thơ ngắn của Quang Dũng làm ở Vân Nam:

Trở Rét

Gió bấc trở về tim bỗng lạnh
Ngoài kia mây nước khóc gì nhau?
Bỗng thương bỗng nhớ từ đâu lại?
Hồn lắng nghe im khúc nhạc sầu.

Vân Nam, 1944, Bùi Ðình Diệm
(Quang Dũng)

Chú thích:
[1] Phan Thanh Hoài, Khởi Hành 44 tháng 6, 2000.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Dời Bến
Bà con dẫn cô lên giúp việc nhà họ vào một bữa trời mưa. Cô vắt đôi tà áo ướt đẫm nước, tròn con mắt phân trần, “xứ gì ngộ quá, đâu cũng có nhà mà không có chỗ đụt mưa. Ở đâu cũng tường rào kín mít, kiếm đỏ con mắt mới gặp được mái hiên, tui mới đứng chút xíu đã bị kêu tránh ra cho người ta buôn bán. Phải ở dưới quê bà con còn đem ghế cho ngồi…”

Ngay cái ngày đầu tiên đó cô đã mang một chuẩn mực mới đến với gia đình họ, tạm gọi là “phải ở dưới quê…”. Ngó mấy con cá rô nằm cạnh rổ cải bắp, cô thẩn thờ, trời ơi, phải ở dưới quê, mình nấu cá rô với bông so đũa, ngọt nước dữ lắm. Bông so đũa mùa này trổ trắng trên mấy bờ kinh, mật ơi là mật. Hàng xóm cãi nhau, cô ngó qua rào, “phải ở dưới quê thể nào cũng có người chạy tới can, người ngoài nói tiếng ngọt tiếng lạt, cũng đỡ căng lắm…”. Sau mỗi bữa ăn, cô tần ngần, “phải ở dưới quê, đồ ăn dư như vầy là nuôi được mấy con heo…”.

Cả nhà chủ vừa buồn cười, vừa khó chịu. Họ đã sống một cuộc sống được xem là hiện đại, đầy đủ, họ hài lòng với những gì mình có. Nhưng cô giúp việc tỏ ra không mấy hài lòng, suốt ngày đi so sánh, mà so sánh với nếp quê mới kỳ cục. Phải ở dưới quê, ra vườn chút xíu là kiếm được rổ rau rồi, đâu phải mua chi cho uổng tiền. Phải ở dưới quê, mùa này gió chướng thả cửa, ở trong cái nhà hả họng đón gió sông, mặc sức mà… run, mở máy lạnh làm chi, ngộp quá chừng. Phải ở dưới quê, chặt cây chuối ra ao tập lội, khỏi mắc công đi hồ bơi. Phải ở dưới quê…

Mỗi ngày qua, cô lại đưa ra một vài kiểu so sánh mới, chi tiết và tinh tế đến mức cô đặt cả bụi và cỏ lên bàn cân. Cỏ ở thị thành cũng vô duyên, phải ở quê, cỏ phơi khô, đem đốt, lấy tro trồng đậu, trồng dưa.


Chủ nhà quen dần, thấy mến cái cách nói thẳng thừng, gọn lỏn, ngỏn ngoẻn, tỉnh bơ như thể cái xóm nhỏ heo hút kia mới chính là thiên đường. Và cô, dù đã xa mảnh thiên đường đó mà lòng còn cắm sào ở bến sông, níu mãi bụi ô rô, đọt nhãn lồng, hàng lơn nước xanh rêu, con gà mái quýnh quáng gọi đàn con đến bên ổ mối. Cô hòa nhập chậm, bởi bước chân cô kéo theo hàng hàng ký ức, lớp lớp nỗi nhớ. Dễ gì…

Mỗi người có một chuẩn mực của riêng mình để vịn vào, đối chiếu, so sánh. Chủ nhà từng nghĩ cuộc sống hiện đại, sung túc là thiên đường. Nhưng bây giờ thì họ hoang mang, thế giới mơ ước của họ có nguy cơ đổ vỡ trước cô giúp việc ương bướng, bởi cô không nghĩ vậy, gì chớ, quê cô là nhất. Cô là người không dễ bị thuyết phục, kể cả lúc buộc phải đồng tình, ừ cái bếp này không khói, khỏi bị chảy nước mắt, nhưng không khói thì không thơm mùi củi ướt, mùi những con mối nhỏ, trứng kiến bị cháy vàng, mùi khoai lang vùi trong than.


Mỗi khi cô “nhưng” nhà chủ thót tim, vì thấy mình thua là cái chắc. Nhiều lúc nằm nhìn cái máy điều hòa thấy mặc cảm dễ sợ, mặc cảm với những ngọn gió phóng khoáng thổi nước chảy tràn lên những bờ sông quê cô. Và việc có nhiều tiền cũng đôi khi làm nhà chủ bẽn lẽn, họ không bao giờ mua được cái chốn nhớ cho mình, với khói đốt đồng, bông khế rụng, mấy con ong bầu vo ve đục kèo nhà làm tổ.

Sáu tháng, cô chỉ có cái lý duy nhất “phải ở dưới quê…” mà xiêu lạc cả nhà chủ. Họ bắt đầu cảm thấy cái nơi mà họ chưa từng đặt chân đến mới là thiên đường.


Bữa cô về quê dự đám giỗ, họ nôn nao như chính mình trở về, đám trẻ con dậy sớm, lăng xăng dặn, chị Hai về nhớ đi câu thác lác, bứt bông súng, hái chùm ruột đem lên cho tụi em ăn nghen. Người lớn rảo qua rảo lại, ngó cô giúp việc nháo nhác bên cái giỏ, chỉ mấy hộp bánh tây, trà lài mà cô nhét vào, xổ ra, rồi lại nhét vào, mắc tức. Chút nữa thôi, chuyến tàu trưa sẽ đưa cô về lại thiên đường riêng mình. Nhà chủ ngó cái lưng cô giúp việc khuất dần và nghĩ thầm, mình đã từng có thiên đường, nhưng nó đã không còn nữa.

Cô trở lại nhà chủ cũng một bữa mưa rào. Dường như mưa cuối mùa. Lui cui rửa đôi dép, cô cằn nhằn, “rầu quá, dưới quê bước ra là gặp sình lầy, dơ muốn chết, phải ở thành phố…”.


Chủ nhà hơi khựng lại, ngỡ ngàng. Cô vẫn hồn nhiên, “đám giỗ làm bánh lủ khủ, phải ở thành phố, chạy ra chợ mua cho gọn…”.


Lòng cô đã không còn buộc dây nơi bến cũ, thiên đường của cô cũng tan biến mất rồi. Rốt cuộc không có thiên đường nào hết. Chuyện bình thường thôi, cô đã được tiện nghi thành thị nuông chiều, nhận ra một chuẩn mực mới. Một trò chơi nhỏ của thời gian, nhưng mà chơi


Biết vậy nhưng nhà chủ vẫn buồn, vì lòng họ đã neo vào một cô giúp việc quê mùa, hồn nhiên, chân chất của mưa xưa.

Nguyễn Ngọc Tư
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Khắc Khoải
Đêm thật khuya nhu chìm sâu vào nỗi cô đơn dài thăm thẳm của tôi , chung quanh tôi cái không gian lặng im bao phủ đến lạnh lùng , trong cái lúc này đây chỉ cần một tiếng động nhẹ cũng có thể làm vỡ tan linh hồn tôi , cái linh hồn bây giờ đang như những mãnh băng buốt cóng ....

Tôi muốn mở to mắt để nhìn vào bóng đêm , cái bóng đêm đang bao quanh tôi chập chùng đen ngòm như cái không gian hiu hắt đến tận cùng của dưới tầng địa ngục .

Em bây giờ đang ở nơi đâu , đã thật xa qúa phải không em ...thật xa như hình bóng con thuyền mong manh trôi mãi dần vào lòng biển mênh mông ...thật xa cái tình yêu mà em cho rằng điên cuồng đến độ như mù quáng của tôi , Tình yêu của tôi như vậy đó , và tôi đã yêu em như vậy đó , cái tình yêu say mê đắm đuối như những cơn gió mênh mông mù lối , như những cơn bão loạn cuồng trong tàn phá của chia phôi ....

Trong đêm nay , trong cái không gian đầy vắng lặng này , em biết không , con tim tôi bây giờ đang khắc khoải đến vô cùng , tôi ngồi đó để những nhịp tim cuối cùng quặn thắt nỗi đớn đau khi em đã ra đi.....hãy đi đi...cứ tiếp tục đi và đừng bao giờ nhìn lại , đừng nhìn lại để thấy được cái khắc khoải mệt nhoài âm thầm trong cơn hấp hối gục ngã của tôi ...

Hãy để cho tôi được ngủ yên và lặng chết trong cái bóng tối cô quạnh mịt mùng này , cái bóng tối mà tình yêu vẫn như những vòng tay ma quái cứ quấn quít bám chặt lấy linh hồn tôi...cái linh hồn thật ra thật yếu đuối trong tình yêu , và em biết không , tôi vốn là như vậy đó nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận , tôi không hề sợ hãi hoặc hối hận dù phải đớn đau đắm chìm trong cái bóng tối chia phôi ....

Trong cơn mê chất ngất nỗi u sầu này , hình như tôi nghe được dòng nhạc của ai bềnh bồng , ray rứt đến phiêu lãng đang theo tôi trôi mênh mông âm thầm dần vào cõi hư vô ......

Khiếu Long
Image
Xin click vào hình để nghe nhạc

Khắc Khoải

Nhạc & Lời : Diệu Hương
Tiếng Hát : Trần Thái Hòa



Tôi ngồi đây sợ bóng tối,
bóng tối qua đêm dài
Đêm quạnh hiu...
ôi xơ xác linh hồn tôi khắc khoải

Mong từng dây,
từng phút đến hết những đau thương này
Chờ ánh sáng
trong ban ngày như một lần niềm hy vọng hết đắng cay

Vì em đã xa rồi, khuất xa rồi
Lời em nói yêu thương xưa vang vọng tới
Ngày đang đến chia lìa tình tôi với em rồi
Từng đêm qua đày đọa tôi trong bóng tối chia phôi

Tôi ngồi đây..
lần từng bước đếm gót chân em về
Nhưng đường xa,
xa quá em còn đang mải mê
Đã từng yêu đừng dày xéo những nỗi đau ê chề
Làm vỡ nát
trong tâm hồn cho một đời in hằn những vết thương
....
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 5 guests