Bình Luận , Quan Điểm

quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Một phần trăm là những ai?

Ngô Nhân Dụng

Phong trào Chiếm Wall Street (Occupy Wall Street) đã lan khắp nước Mỹ và thế giới, và đã đưa một nạn nhân đầu tiên vào bệnh viện trong cảnh mê man.

Anh Scott Olsen, 24 tuổi, cựu thủy quân lục chiến, đã từng dự chiến tranh ở Iraq. Anh bị cảnh sát bắn đạn mã tử trúng đầu, trong cuộc biểu tình “Chiếm Oakland”.

Nhưng cho tới nay, Chiếm Wall Street, Chiếm London, hay Chiếm Roma đều chỉ là những phong trào tự sinh ra và tự phát triển, chưa nơi nào biến thành tổ chức. Các phong trào thanh niên, năm 1968 hay 2011 đều giống nhau: Trước hết, họ đưa ra những khát vọng. Ở nước Mỹ đã có sẵn những tập quán và định chế dân chủ từ 200 năm; các nhà chính trị sẽ phải phải tìm ra câu trả lời. Dân chúng Mỹ sẽ lựa chọn bằng lá phiếu.

Vì Chiếm Wall Street là một phong trào trẻ và bột phát, cho nên chưa thấy ai đứng ra thảo một bản nguyện vọng cụ thể, hoặc một chương trình chính trị. Người ta hỏi: Những người này chống ai? Họ muốn cái gì? Phong trào Chiếm Wall Street đã bị hiểu lầm theo đủ cách khác nhau.

Tiêu biểu cho những người hiểu lầm phong trào Chiếm Wall Street là một nhóm các cụ già tại thành phố Trịnh Châu (Zhengzhou), thủ phủ tỉnh Hà Nam bên Trung Quốc. Các cụ cũng đi biểu tình ủng hộ Occupy Wall Street, mang theo cờ quạt, biểu ngữ, với khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại!”

Nhưng hình ảnh đó đưa lên trên mạng Sina.com được hai ngày đã có lệnh bóc xuống. Vì các cụ hoàn toàn lạc điệu! Ðảng Cộng Sản ở Bắc Kinh đang muốn đoàn kết với tư bản thế giới chứ không cần yêu vô sản quốc tế! Ở nước Zambia, Phi Châu, các ông chủ Tàu, sau khi đầu tư hai tỷ Mỹ kim khai thác các mỏ đồng hoặc than đá, đã đích thân cầm súng bắn vào các công nhân đình công. Năm 2006 họ đã bắn 6 thợ mỏ trọng thương, năm 2010 bắn chết 13 người; và mới tuần trước, ngày 20 tháng 11 năm 2011, đã bắn vào đám biểu tình của một ngàn công nhân đang đình công đòi tăng lương! Chiếm Wall Street có lan sang Trung Quốc. Trên các trang mạng xuất hiện những facebook mang tên “Occupy Beijing” (Chiếm Bắc Kinh), và “Occupy Shanghai” (Chiếm Thượng Hải), nhưng chỉ được vài ngày cũng bị “Trường Thành Lửa” chặn lại.

Không phải chỉ có các cụ già ở Trịnh Châu mới hiểu lầm phong trào Chiếm Wall Street. Các bạn trẻ khắp nơi cũng có thể hiểu lầm rằng phong trào Chiếm Wall Street là một cuộc “đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản;” hay nói cụ thể hơn, “chống hệ thống kinh tế tư bản”. Thực ra họ không đòi xóa bỏ chế độ dân chủ ở nước Mỹ. Họ cũng không đòi lật đổ hệ thống kinh tế tư nhân ở Mỹ. Họ chỉ đòi thay đổi luật lệ để xã hội được công bằng hơn, nói cách khác là đòi cải thiện hệ thống kinh tế tư bản cho nó tốt hơn, hợp đạo lý hơn.

Diễn tả dưới hình thức đối kháng, thì khẩu hiệu chính của phong trào Chiếm Wall Street là “99 phần trăm chống 1 phần trăm”. Chống như thế nào? Tuyệt nhiên không ai đòi đấu tố, trả thù những người giầu nhất; cũng không đòi tịch thâu tài sản của họ đem chia cho những người nghèo hơn. Mục tiêu đòi hỏi của phong trào Chiếm Wall Street là thay đổi luật lệ ảnh hưởng tới việc phân bố lợi tức trong nền kinh tế. Nói cách khác, là thay đổi luật về thuế khóa.

Nước Mỹ có Tổng Sản Lượng Quốc Dân (GDP) từ 14 đến 15 ngàn tỷ đô la; tức là trong một năm, tất cả những người làm việc trong nước đã sản xuất ra của cải, hàng hóa và dịch vụ trị giá 14 hay 15 ngàn tỷ. Số giá trị tăng thêm trong một năm như vậy được chia cho mọi người hưởng như thế nào? Ðó là vấn đề phân bố lợi tức. Những người biểu tình Chiếm Wall Street nói rằng có 1% các gia đình giàu nhất vì được chia phần nhiều quá. Phải sửa lại “luật chơi” của nền kinh tế để chia bớt phần cho những người khác.

Phương tiện cụ thể nhất của một guồng máy chính quyền trong việc phân bố lợi tức quốc dân là các đạo luật về thuế và chính sách chi tiêu của nhà nước khi được sử dụng số tiền do dân đóng thuế. Ở các nước theo chế độ dân chủ và kinh tế tự do thì vấn đề chính trị quan trọng nhất trong mỗi cuộc bầu cử, từ các địa phương cho tới cấp tiểu bang, liên bang chỉ xoay quanh hai câu hỏi: Thu thuế ra sao và nhà nước đem số tiền đó chi tiêu như thế nào. Mỗi đảng chính trị có chính sách khác nhau về hai vấn đề thu thuế và công chi. Dù họ hô các khẩu hiệu nào đi nữa, rốt cục vẫn chỉ là hai vấn đề căn bản, thuế và công chi. Dân quyết định bằng cách bỏ phiếu.

Nhưng khi nói những người thuộc giới 1% giầu nhất nước Mỹ, họ giầu hơn người khác như thế nào?

Năm 2007, một gia đình phải kiếm được 424,413 đô la mới được gia nhập câu lạc bộ 1% giầu nhất. Trong năm 2009 vì kinh tế suy thoái, một gia đình chỉ cần có lợi tức $343,927 một năm là đủ thuộc hạng 1% này; tổng cộng có 1.4 triệu người và họ hưởng 17% số lợi tức cả nước tạo ra trong năm đó. Giáo Sư Edward Wolff, Ðại Học New York, cho biết vào năm 2007, nhóm 1% các gia đình giầu nhất ở Mỹ làm chủ 34.6% các tài sản tư toàn quốc. Nhóm 19% giầu hạng dưới làm chủ hơn 50% tài sản. Tức là 20% những người giầu nhất ở Mỹ làm chủ 85% tài sản tư của cả nước; 80% các gia đình còn lại chỉ làm chủ được 15%. Những cuộc nghiên cứu dư luận cho thấy phần lớn dân Mỹ không biết gì về tình trạng thiếu quân bình này.

Nhưng lại phải đặt câu hỏi tiếp theo, là các người 1% giầu nhất đó gồm những ai? Nhờ đâu mà họ được hưởng nhiều như vậy?

Những cuộc nghiên cứu khác cho biết trong số người giầu nhất nước (1%) này, vào năm 2005 giới chuyên gia tài chánh (Wall Street) chỉ chiếm 14%. Số người đông hơn là các vị quản đốc công ty sản xuất hay dịch vụ, chiếm trên 31%. Các bác sĩ chiếm gần 16%, và các luật sư chiếm 8.4%. Khi những người đi biểu tình tự mang tên Chống Phố Wall, họ nhắm vào các nhà tài chánh làm việc trong vùng quanh Wall Street, nơi tập trung nhiều ngân hàng và công ty đầu tư tài chánh của Mỹ. Họ không biểu tình chống các giáo sư đại học Y khoa hoặc các chủ tịch đại công ty như General Electrics hoặc Google; mặc dù đám người này phần lớn cũng thuộc thành phần 1%!

Nguồn gốc lợi tức của đám người 1% khác nhau; hoặc dựa vào công việc làm, hoặc không. Có thể nói, những bác sĩ, luật sư kiếm được tiền đều vì được thân chủ trả tiền do công việc họ làm. Lợi tức của họ do luật cung cầu và thị trường cạnh tranh quyết định. Luật cung cầu nghĩa là: Nếu các thân chủ không hài lòng, họ sẽ đi tìm bác sĩ khác, hoặc sẽ đổi luật sư khác. Các quản đốc xí nghiệp cũng vậy, lương bổng là do hội đồng quản trị các công ty quyết định; trên nguyên tắc dựa theo sự ủy nhiệm của các cổ đông, tức là tập thể các chủ nhân của công ty. Số lương bổng và tiền thưởng (bonus) của những người này cũng theo luật cung cầu, và dựa trên nội quy của các công ty. Hội đồng quản trị các công ty có quyền phế bỏ, tuyển mộ, tăng hay giảm lương các vị quản đốc, dựa trên đóng góp của họ vào lợi nhuận và giá trị cổ phiếu của công ty.

Trong năm 2008 chỉ có 19% trong số 13,480 những người có lợi tức từ 10 triệu trở lên kiếm tiền vì làm việc và lãnh lương. Loại lợi tức cao khác kiếm được hoàn toàn nhờ đầu tư, hoặc trung gian môi giới giữa các ngân hàng và đại công ty. Ðó chính là mục tiêu mà phong trào Chiếm Wall Street nhắm vào: Các nhà trung gian tài chánh.

Nhờ đâu mà ngay trong số 1% những người giầu này có những người giầu sụ hơn kẻ khác. Một phần lớn là do cách đánh thuế. Thuế đánh trên lương bổng theo suất lũy tiến, càng lên cao càng đóng một tỷ lệ lớn hơn. Nhưng, nhờ luật cắt thuế của Tổng Thống Georges W. Bush năm 2003, những lợi tức kiếm được nhờ đầu tư thì chỉ đóng suất thuế 15%, dù là tiền lời được chia (dividend) hay lời nhờ bán chứng khoán (capital gain). Người càng giầu thì số tiền kiếm được nhờ đầu tư càng lớn. Nếu phần lớn lợi tức người ta kiếm được là do đầu tư, thì tự nhiên suất thuế rất thấp. Vì vậy, trong số 1% các gia đình giầu nhất, những người thuộc nửa dưới được hưởng rất ít so với nửa trên. Thực ra, cả tài sản và lợi tức được tập trung trong số một phần mười của câu lạc bộ này, tức là 0.1% của những người đóng thuế ở Mỹ. Trong số 400 hay 500 gia đình giầu nhất nước, lợi tức nhờ đầu tư chiếm ba phần tư tổng số lợi tức, hay nhiều hơn. Cho nên suất thuế họ đóng thực ra thấp hơn những người cũng giầu nhưng chỉ nhờ lãnh lương, như các quản đốc xí nghiệp hay các bác sĩ chuyên khoa. Chính vì thế nhà tỷ phú Warren Buffett nói rằng ông chỉ đóng thuế 27% trong khi thư ký của ông phải đóng 35, 36%. Ông Buffett và ông Bill Gates, hai người giầu nhất nước Mỹ đều ủng hộ chủ trương tăng thuế các đại gia như chính họ.

Theo Giáo Sư Edward Wolff, cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2007, đưa tới tình trạng kinh tế suy thoái hiện nay, đã làm tài sản của 1% những người giầu nhất giảm mất 11%. Trong khi đó những người có lợi tức đứng giữa (median) thì bị giảm mất 36%. Vào giữa năm 2011, sự chênh lệch về tài sản ở nước Mỹ nặng hơn năm 2007. Không thể nói những nhà trung gian tài chánh và các nhà đầu tư giỏi (như Warren Buffett) đã tham lam tích lũy của cải. Chính luật lệ về thuế khóa đã tạo ra sự chênh lệch ngày càng lớn. Vào năm 2000, trong số các nước giầu thì Mỹ và Thụy Sĩ là hai nước tài sản được tập trung vào 10% dân số cao nhất (gần 70%, và trên 71%). Ở các nước khác, 10% những người giầu nhất làm chủ một phần nhỏ hơn, như 65.0% (Denmark), 61.0% (Pháp), 56.0% (Anh), 53.0% (Canada), 44.4% (Ðức), 42% (Phần Lan).

Phong trào Occupy Wall Street chỉ là một biểu lộ của giới trẻ trước cảnh chênh lệch này. Họ không đòi xóa bỏ hệ thống kinh tế tư bản; cũng không hề muốn lật đổ chính quyền dân chủ. Khi những người trẻ có lý tưởng muốn xã hội công bằng hơn, đó là một điều đáng mừng cho các quốc gia. Các nhà chính trị sẽ phải diễn tả các khát vọng đó bằng cách thay đổi “luật chơi” cho xã hội công bằng hơn.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

BỐN MƯƠI NĂM NGẬM NGÙI

Trương Phú Thứ

Bốn mươi năm trước đây, vào khoảng lúc 9 giờ sáng ngày 2/11/1963, TT Ngô Đình Diệm đã bị bọn phản loạn thảm sát. Cái chết thảm thương của một vị tổng thống đạo đức thánh thiện, hết lòng vì dân vì nước đã chấn động lương tâm nhân loại. Cái chết của một vĩ nhân đã làm sửng sốt những người yêu chuộng tự do, công lý và hòa bình thế giới. TT Ngô Đình Diệm đã oai hùng hy sinh ngay chính cả mạng sống mình vì quyền lợi tổ quốc và danh dự dân tộc. Cuộc đời của một lãnh tụ ngoại hạng đã kết thúc trong đau thương với lòng thương tiếc vô vàn của bao nhiêu người mến yêu và kính phục. Bài báo này đến tay độc gỉa thì khắp nơi trên thế giới tự do chỗ nào có người Việt cư trú đều có những buổi lễ tưởng niệm vị anh hùng dân tộc một lòng tận tụy với dân với nước. Vẫn có những người nghĩ rằng vì TT Diệm là tín hữu công giáo nên các nhà thờ công giáo tổ chức cầu nguyện cho linh hồn người đồng đạo. Đó là một nhận định rất ngờ nghệch. TT Nguyễn văn Thiệu cũng là một tín hữu công giáo nhưng có ai cho một lời nguyện cầu hay giọt nước mắt tiếc thương. Anh linh TT Diệm đã ở lại với con dân nước Việt và vượt ra ngoài ranh giới tôn giáo và ngay cả thành lũy của chủ nghĩa. Cụ Ưng Thị Mai, một Phật tử đã trên 80 tuổi, hiện sinh sống ở Đan Mạch, viết: “tôi không phải là tín đồ thiên Chúa giáo và tôi cũng không chịu ơn Cụ Ngô Đình Diệm nhưng tôi rất thương Cụ Diệm, vì trong những năm Cụ Diệm cầm quyền, người dân Việt Nam an cư lạc nghiệp. Tôi có lập bàn thờ Cụ Diệm. Tuần rằm mùng một tôi cúng Phật cũng cúng Cụ Diệm.” Chị NTNH một tên tuổi rất quen thuộc với cộng đòng người Việt tỵ nạn CS, hiện đang thụ án tại một nhà tù ở tiểu bang Texas, viết: “NH ước mơ có dịp làm chứng những điều mà TT Ngô Đình Diệm cho tôi. Lúc trước trang bìa báo VNTP có đăng bức hình trên ngôi mộ TT Ngô Đình Diệm. NH dựng tờ báo trên bàn làm bàn thờ tạm trong tù để hằng đêm tôi chiêm ngưỡng cầu nguyện đến đấng anh tài mà tôi một lòng tôn kính mến thương.”

Cho đến ngày hôm nay vẫn có nhiều câu hỏi đặt ra về những giây phút cuối cùng của TT Diệm. Tôi đã được hầu chuyện Cụ Cao Xuân Vỹ, vị cựu lãnh tụ Thanh Niên Cộng Hòa là người duy nhất đã vào Dinh Gia Long để tìm cách đối phó với bọn phản loạn. Tôi cũng đã nhiều lần được nói chuyện với cựu Đại tá tư lệnh phó lữ đoàn phòng vệ phủ tổng thống Nguyễn Hữu Duệ, người đã một lòng trung hiếu bảo vệ nền cộng hòa đến khi có lệnh buông súng đế tránh đổ máu, vì TT Diệm không muốn nhìn thấy cảnh anh em cùng chiến tuyến quay súng bắn giết lẫn nhau.

Theo Cụ Cao Xuân Vỹ thì vào buổi chiều tối ngày 1/11/1963, lúc pháo binh sư đoàn 5 được lệnh của Nguyễn văn Thiệu nã đạn vào thành cộng hòa và trụ sở bộ quốc phòng gần sát Dinh Gia Long thì chính Cụ Vỹ đã đề nghị TT Diệm nên dịch cư. Cụ Vỹ nhấn mạnh dùng chữ dịch cư là đi đến một chỗ an toàn tránh đạn đại bác và hoàn toàn không có nghĩa là chạy trốn. TT Diệm cương quyết không đi khỏi Dinh Gia Long. Tổng thống xác quyết Ông được dân bầu lên vào chức vụ lãnh đạo quốc gia và dinh Gia Long tượng trưng cho uy quyền quốc gia, với cương vị của một nguyên thủ Ông có nhiệm vụ và bổn phận phải giữ và bảo toàn uy quyền quốc gia trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cụ Vỹ không thuyết phục được TT Diệm nên đi ra ngoài tòa Đô Chánh. Trong lúc ở tòa Đô Chánh, Cụ Vỹ được điện thoại của Ông cố vấn Ngô Đình Nhu cho biết TT Diệm đã đổi ý và bằng lòng dịch cư. Chắc chắn TT Diệm đã nghe lời Ông Nhu giải bày hơn thiệt nên mới chấp nhận quyết định lịch sử này. Theo Cụ Vỹ thì Ông Nhu, một chính trị gia uyên bác, lập luận rằng “tất cả những cuộc đảo chánh sau 24 tiếng đồng hồ mà không đạt được mục đích thì tự nó sẽ rối loạn và thất bại. Bọn phản loạn vào Dinh Gia Long mà không bắt được Ông tổng thống là sẽ tự đánh đá lẫn nhau rồi chạy trồn.”

Ngay sau khi được điện thoại của Ông Nhu, Cụ Vỹ vội trở vào Dinh Gia Long để sắp xếp. Tại Dinh Gia Long, Cụ Vỹ điện thoại cho trung tá Phước là phó đô trưởng nội an yêu cầu mang một cái xe vào. Chỉ độ mười phút sau, một sĩ quan mặc thưòng phục lái chiếc xe hai ngựa kiểu chở hàng vào sân trước dinh Gia Long và TT Diệm, Ông cố vấn Nhu, sĩ quan tùy viên Đỗ Thọ đã lên chiếc xe này đi khỏi dinh Gia Long.

Tôi đã đặt câu hỏi với Cụ Vỹ là tại sao lại mang một chiếc xe loại chở hàng, mà người Tàu ở Chợ Lớn thường dùng để chở lông vịt, chạy chậm và rất yếu để đưa đón tổng thống như vậy. Cụ Vỹ nói, trung tá Phước nghĩ rằng chắc trong Dinh cần một cái xe để di chuyển chứ đâu biết lấy xe để đưa tổng thống đi khỏi dinh Gia Long. Khi chiếc xe hai ngựa kiểu chở hàng đến thì Cụ Vỹ lại thấy thích hợp với hoàn cảnh vì kông ai có thể tin rằng tổng thống ngồi trên chiếc xe tồi tàn đó. Cụ Vỹ cũng cho biết là cùng đi với chiếc xe chở tổng thống còn có hai xe cận vệ và một xe truyền tin.

Câu hỏi thứ hai tôi đặt ra với Cụ Cao Xuân Vỹ lý do gì lại đưa tổng thống đến nhà tổng bang trưởng Mã Tuyên? Cụ Vỹ trả lời: nhà ông Mã Tuyên ở trong Chợ Lớn, phố xá chằng chịt rất khó tìm. Hơn nữa người Tàu rất kín đáo và trung tín. Khi tiếng súng của bọn phản loạn vừa nổ tìm đâu cũng không ra một ông bộ trưởng hay là một người thân cận với tổng thống. Cụ Vỹ nói thêm: “mấy thằng tướng mà Ông Cụ coi như người nhà làm phản hết rồi, các ông bộ trưởng trốn như chuộc. Vậy thì còn tin được ai nữa!” Cụ Vỹ là người quyết định đưa tổng thống đến nhà ông Mã Tuyên ở Chợ Lớn. Cụ Vỹ đã không di cùng với tổng thống đến nhà ông Mã Tuyên nhưng sau đó có đên để chắc chắn mọi việc được xếp đặt như dự liệu, thấy tổng thống và Ông cố vấn Nhu bình thản ngồi uống nước trà với tổng bang trưởng Mã Tuyên thì Cụ Vỹ yên tâm trở về tòa Đô Chánh.

Chuyện xảy ra sau đó thì độc gỉa đều đã biết là sáng ngày 2/11/1963, TT Diệm và Ông cố vấn Nhu rời nhà ông Mã Tuyên đến nhà thờ cha Tam dâng thánh lễ. Bọn phản loạn cho xe đến “đón” và hai vị khai sáng và lãnh đạo nền Đệ Nhất Cộng Hòa VN đã bị tên Nguyễn văn Nhung và Dương hiếu Nghĩa trói quặt tay ra phía sau rồi thảm sát bằng dao găm và súng trong lòng chiếc xe bọc sắt M113. Nhung đã tự tử hoặc bị thắt cổ chết khi Nguyễn Khánh chỉnh lý vào ngày 30/1/64. Nghĩa hiện đang sống ở vùng Tri-Cities thuộc tiểu bang Washington.

Cuộc đời của TT Ngô Đình Diêm là một mẫu mực của đức tính liêm khiết, trong sạch và khó nghèo bên cạnh những khả năng vượt bật về hành chánh, chính trị, kinh tế và quân sự. Học gỉa Vương Hồng Sển trong tác phẩm Hơn Nửa Đời Hư đã diễn tả cảnh sống khó nghèo của TT Diệm: “mặc bộ đồ tussor may kiểu áo bốn nút cổ lỗ sĩ, đã trổ vàng vì qúa lâu năm, cổ vai đã xùi”. Linh mục Đỗ Minh Tâm hiện giúp một xứ đạo Mỹ tại Saint Paul, MN kể lại: “lễ Chúa Giáng sinh năm 1958, TT Diệm dự lễ tại một khu dinh điền ở tỉnh Kiến Hòa. Lễ xong thì TT và tôi ăn cơm nếp với thịt gà còn các binh sĩ ăn thịt con bò thui. TT Diệm cởi giầy ngồi trên cỏ, tôi thấy Ngài mang một đội vớ rách.”

Tổng thống đã được sự nể trọng của các lãnh tụ trên thế giới không kể lằn ranh quốc cộng và lòng kính mến thương yêu của đồng bào. Trong chuyến công du Hoa Kỳ vào năm 1958, TT Diệm đã được TT Eisenhower ra tận săn bay đón tiếp. Đây là một vinh dự rất hiếm hoi mà một vị quốc khách đến Hoa Kỳ được trọng vọng như vậy. Khi TT Diệm thăm thành phố New York thì dân Mỹ đứng hai bên lề đường vẫy tay chào đón, những người đứng trên lầu cao thả bông hoa giấp ngợp cả phố phường dưới cổng chào hình vòng cung mang hàng chữ “Welcome President Ngo Dinh Diem”. Khi nghe tin TT Diệm bị thảm sát, trùm CS Mao Trạch Đông đã bày tỏ lòng chân thành ngưỡng mộ và thương tiếc. ĐaÏo đức và uy thế của TT Diệm đã vượt qua ngay cả lằn ranh chủ nghĩa.

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, người dân miền Nam đã sống trong những điều kiện ổn định. Chính quyền đã tạo những điều kiện thuận lợi cho người dân có cơ hội phát triển trên mọi lãnh vực, tuy nhiên cũng có những hạn chế cần thiết vì đất nước đang phải đối đầu với hiểm họa CS. Sau ngày TT Diệm bị thảm sát, người dân miền Nam đã phải chịu đựng những thống khổ của một cuộc chiến mà những người trực tiếp cầm súng đã không được dự phần vào những định đoạt trên mạng sống của chính họ bên cạnh những nghiệt ngã trầm luân của những vấn đề luân lý xã hội. Bọn tay sai và cai thầu chiến tranh đã tiến hành và nuôi dưỡng cuộc chiến đến khi quyền lợi của chúng được thanh thỏa và cuối cùng là cả dân tộc VN bị chủ nghỉa CS dày xéo. Bọn cai thầu chiến tranh ở Hoa Thịnh Đốn và bọn khố xanh khố đỏ tay sai ở Saigon đã không có được một tri thức cao hơn gót giầy của TT Ngô Đình Diệm.

Một độc gỉa của VNTP, bà Hoa Vũ ở tiểu bang New Jersey, người đã mang chân dung TT Diệm từ Mỹ về tận Lái Thiêu. Bà Hoa đã đặt bức chân dung trên một TT Diệm chụp hình và sau đó phổ biến tới báo chí hải ngoại. Bà Hoa đã viết thư cho cựu đại tá Nguyễn Hữu Duệ “…em không nhớ rõ là năm nào 1960 hay 1961, lúc đó em đang may ở tiệm Thanh Lịch gần chợ Bàn Cờ thì chợ bị cháy lớn. Vài hôm sau thì Cụ có đi thăm chợ và đồng bào nạn nhân. Cụ đi thẳng đến tiệm Thanh Lịch, lúc đó bà Phạm Bích Thuần là chủ tiệm may qúa xúc động vừa khóc vừa nói: kìa, Vua dến nhà mình, cô Hoa bao dạn ra chào Vua đi. Khi tổng thống bước lên thềm nhà thì em ra đứng khoanh tay cúi đầu nói: “con kính chào Tổng Thống.” Người hỏi: “cháy có sợ không?” Thưa Tổng Thống con sợ lắm ạ.” Người lại hỏi: “may có khá không?” Em trình: “thưa tổng thống, khá lắm.” Trong lúc đó thì bà chủ cứ khóc vì qúa xúc động được Vua tới thăm. Cụ nói: “ngoan hỷ.” Rồi đi ra hướng đường Bàn Cờ. Ôi! Kể lại một chút kỷ niệm mà lòng em dâng lên một niềm thương nhớ Cụ vô cùng. Thời gian ngắn sau đó em gia nhập Thanh Nữ Cộng Hòa. Năm 1963 có cuộc triển lãm ở tòa Đô Chánh, em được đứng trong đội danh dự và đứng hàng đầu. Khi tổng thống xuống xe thì có tiếng hô: chị Hoa làm chuẩn. Nghiêm. Chào. Cụ tiến đến gần em và nói: “Đứng nắng lắm hả?” Ôi! Chao ôi! Nhớ thương vô cùng, Cụ ơi!

Phần mộ của TT Ngô Đình Diệm hiện ở quận Lái Thiêu, bên quốc lộ số 5, lối đi hướng về quận Hóa An (quận Dĩ An cũ). Nơi đây đã và sẽ là một địa điểm lui tới của đồng bào trong nước và những người sống ở nước ngoài. Rải rác từ hai phía từ quân Lái Thiêu đi ra và từ hướng quận Hóa An đi tới đã có những nhóm người sống bằng công việc chỉ dẫn đưa đường cho khách thập phương kính viếng mộ Ông Huynh Đệ chính là phần mộ TT Ngô Đình Diệm và Ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Nhà cầm quyền địa phương biết chuyện nhưng cũng không có hành động hay biện pháp nào ngăn cản vì họ thừa biết rằng những gì đi ngược lại với lòng dân sẽ tự nó gây ra những hậu qủa không thể nào lường trước được. Chính tôi đã nghe một cán bộ làm to có đứa con bị bệnh ngặt nghèo. Ông cán bộ này đã bế đứa con đến phần một TT Diệm để xin anh linh người đã chết vì dân vì nước phù hộ.

Cựu thẩm phán Nguyễn Kim Khánh, bút hiệu Phan Thiết viết trong “Đất Việt, Người Việt, Đạo Việt”: “Trên cõi Hằng Sống, Ngài đã thấy rõ lòng dạ của những quân ăn cháo đá bát, bọn lừa thầy phản bạn. Ngài cũng thấy rõ lòng dân mên mộ Ngài, dân đã đánh gía Ngài qua những lầm than và khốn khổ họ phải chịu kể từ ngày Ngài bị thảm sát.” Và tôi xin được viết thế: “xin Ngài phù hộ cho con dân nước Việt mà Ngài đã một đời tận tụy yêu thương chăm sóc được thực sự sống trong an bình, mọi người yeu thương giúp đỡ bao bọc lẫn nhau để cùng nhau nối tiếp thực hiện ước nguyện của Ngài đến ngày thành công.”
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Người ngoại quốc nhận xét về người VN?

TRẦN THÀNH NAM
Tôi năm nay U60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập… Nói thế chỉ để biết gốc gác chính trị của tôi rất cộng sản và trong sáng, bởi vì cha ông tôi cũng rất trong sáng và theo cộng sản suốt đời.

Về nước, tôi làm việc cho các tập đoàn nhà nước lớn và tiếp tục có điều kiện đi công tác nước ngoài nhiều, làm việc với người nước ngoài rất nhiều. Được đọc và tiếp xúc nhiều, tôi nhận thấy là nước nào họ cũng có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng và được nhân dân quí trọng vì đã nói lên những thói hư tính xấu của dân tộc mình, trong khi người Việt chỉ thích tự khen mình: Người Việt cao quí, Lương tâm Nhân loại…(!), và luôn ép người khác khen mình. Hôm nay, trên Vietnamnet ông Vũ – một chủ hãng cafe Việt, còn đề nghị: Mỹ và TQ lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn “lá cờ nhân văn” chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang TQ và Mỹ (!)… thì ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của tôi rồi.

Đấy là lý do trực tiếp làm tôi viết bài này, nên trước khi nói về người Việt như tiêu đề, xin cho tôi có một hai câu về “Lá cờ Nhân văn” thế giới, như sau: Ông Vũ đã đúng khi nói có Lá cờ Nhân văn thế giới. Nhưng ông đã sai khi nói chưa có ai nắm lá cờ đó, và ông càng sai nữa khi nói Việt Nam có thể nắm lấy Lá cờ đó và lãnh đạo thế giới! Thứ nhất, nếu đã tồn tại một lá cờ nhân văn thế giới, thì nhất định nó cũng đang tồn tại chủ nhân tương xứng, cả hai đều chỉ là khái niệm. Chủ đó phải là dân tộc có tính nhân văn nhất thế giới và được các dân tộc khác công nhận, bởi lá cờ này không thể cướp được, đúng không ạ? Ông Vũ nói nó vô chủ là rất cơ hội (hèn chi ông được tham dự ĐH Đảng X với tư cách doanh nhân, nếu tôi không nhầm?). Nhưng theo tôi, nó đang ở trong tay dân tộc nào, đất nước nào đang có nền văn hóa nhân văn nhất (ở thời điểm này) thu hút được nhân tài và thế hệ trẻ được cả thể giới đến học, làm việc và ở lại sống nhiều nhất, sinh ra nhiều người tài năng và thành công nhất cho thế giới. Theo ông Vũ, đó sẽ là Việt Nam? Nước ta đang và sẽ thu hút được bao nhiêu người nước ngoài đến học? Ông hãy góp ý thế cho ĐH XI nhé! Chúc mừng ông.

Trở lại với tiêu đề chính, cách đây khoảng gần chục năm, trong một cuộc nói chuyện bạn bè thân, tôi đã hỏi một người Anh một câu và yêu cầu trả lời trung thực: “Nếu phải lột tả người Việt trong một hay hai từ, ‘mày’ sẽ nói thế nào?” “Không được rắc complements!” Biết ý tôi, không ngần ngại, anh bạn nói luôn: “Câu hỏi này người nước ngoài chúng tao ở VN luôn thảo luận với nhau khi không có người Việt, và đều nhất trí có câu trả lời giống nhau, nhưng không bao giờ dám nói ra với người Việt. Mày là người VN đầu tiên hỏi tao câu này không với ý định muốn nghe một lời khen, nên tao sẽ nói thật, đó là: Greedy Vietnamese” Vâng, đó là: “Người Việt tham lam!”

Dù đã chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” với đầu óc cởi mở nhất, tôi đã choáng váng và cứng họng một lúc không nói được gì. Mãi sau, tôi mới thốt lên đau đớn vì biết bạn mình không nói dối: “Greedy? Why?” -“Tham lam? Tại sao?” Bạn tôi cười: “Thì người Việt chúng mày, trừ mày ra, (nó thương hại tôi!), luôn luôn cái gì cũng muốn được, không nhường cái gì cho ai bao giờ: Hợp đồng thì điều khoản ngon nhất, giá phải rẻ nhất, hàng phải tốt nhất, giao hàng phải nhanh nhất, bảo hành phải vô thời hạn, thanh toán thì chậm nhất, và … hoa hồng thì phải khủng khiếp nhất!” Tôi chết đứng! Tôi biết nó nói đúng hoàn toàn. Nó làm thương mại với người Việt và ở VN gần hai chục năm rồi. Nó (và đa số người nước ngoài cũng vậy) nhìn người Việt qua những gì nó thấy ở những cán bộ nhà nước hàng ngày làm việc (đàm phán thương mại) với nó! Tôi đã từng đàm phán với nó cách đây hơn hai chục năm, và với rất nhiều người nước ngoài khác, chưa bao giờ biết đòi hỏi ai một cent nào từ vô số hợp đồng ngoại thương tôi đã đàm phán và ký kết, nhưng tôi biết tôi là ngoại lệ, nên tôi biết mình có quyền và có thể nhìn vào mắt mà hỏi nó (bạn tôi) hay bất kỳ ai (thương gia nước ngoài) đã làm việc với tôi, câu hỏi đó mà không sợ bị nó/họ cười khinh cho.

“Vậy, tính từ thứ hai “bọn mày” (tôi đã từng cùng nó có dịp uống bia trong các câu lạc bộ doanh nhân người Singapore, Malaysia, Nhật, Anh, Mỹ, Hàn, Pháp…do các Amcham, Eurocham… tổ chức) miêu tả người Việt là gì?”- Tôi dũng cảm tiếp tục, hy vọng lần này sẽ được nghe lời dễ chịu hơn. Câu trả lời là: “Tricky!”, “Tricky Vietnamese!” – “Gian! Người Việt hay gian!” Tôi hét lên: “Không thể nào! Mày không đang trêu tức tao đấy chứ?!” Bạn tôi trả lời: “Mày muốn tao trung thực mà?” “Vậy tại sao lại là gian?” tôi cố gắng chịu đựng. “Vì chúng mày không bao giờ nói thật, nói thẳng, và có nói rồi cũng tìm cách thay đổi nếu có lợi hơn. Chúng mày luôn nghĩ rằng mình khôn hơn người và luôn luôn xoay sở để hơn người khác…” Tôi ngồi im lặng, điếng người, muốn khóc, và cố uống tiếp vại bia tự nhiên đắng ngắt. Từ đó tôi ghét uống bia. Nó nhắc tôi buổi tâm sự với phát hiện kinh hoàng trên. “Từ đó trong tôi” “tắt ngấm” “nắng hạ”… là người Việt!

Nhưng nội dung và diễn biến của cuộc nói chuyện thân tình trên thì tôi dù muốn cũng không bao giờ quên được. Sự thực là tôi đã phải trăn trở rất nhiều, dằn vặt rất nhiều với điều này từng ngày từ đó: Đặc điểm bản chất của người Việt là gì so với người nước khác? Tại sao người nước ngoài lại đang nhìn chúng ta tệ hại như thế: Gian và tham? Tôi đã không thể phản bác được ông bạn người Anh của mình dù tôi với nó “cùng ngôn ngữ”: đều mê The Beatles! Có ăn nhằm gì đâu! Nó vẫn bảo lưu quan điểm! Một lần gần sau đó tôi trở lại đề tài với nó: “Tại sao mày nói người Việt rất tham lam, cái gì cũng muốn, và gian, cái gì cũng khôn lỏi hơn người, mà mày vẫn làm ăn với chúng tao?” Bạn tôi cười bí hiểm trả lời: “Đấy chính là bi kịch của người Việt, ít nhất là của những người Việt đang không có quyền thế hiện nay.” Rồi nó tiếp: “Chính vì người Việt gian và tham nên chỉ có những người gian và tham hơn mới dám làm ăn cùng chúng mày!” “Ý mày nói đa số thương nhân nước ngoài làm việc với VN là gian và tham?” “Gần như đúng thế!” “Cả mày nữa?” “Gần đúng, vì lúc đầu tao cũng không gian, nhưng tao mất nhiều quá và buộc phải chơi theo cách của người Việt thôi…” “Vậy mày gian thế nào?” Bạn tôi lại cười bí hiểm: “Nói mày đừng buồn, đa số người Việt kém tiếng Anh, và hầu hết kém luật pháp thê thảm, nhất là luật thương mại. Càng chức to thì điều này càng đúng, mày là lính quèn nên khá giỏi. Hì hì, mà tiếng Anh là của bọn tao, luật pháp các nước khác cũng đều đi trước VN, nên chúng tao chỉ có cách dùng tiếng Anh kém cỏi vô nghĩa của chính chúng mày để làm hợp đồng thương mại, và luật thương mại quốc tế nữa… thì chúng tao mới bình đẳng được!” Rồi nó bồi thêm: “Thế mày nghĩ bọn tao có thể cung cấp hàng tốt nhất, giá rẻ nhất, thời hạn nhanh nhất với trách nhiệm vô hạn được thật à?!”

Đó là câu chuyện của hơn 10 năm trước. Tôi đã kiểm tra độ khách quan của đánh giá đó suốt 10 năm qua với rất nhiều người nước ngoài từ các vùng, miền, đất nước có văn hóa và chính trị khác nhau, mà tôi có thể tiếp cận. Đa số câu trả lời kiểm chứng (không phải tất cả) xác nhận sự khách quan và tính gần đúng của nhận xét của bạn tôi. Nhận xét đó đã bắt tôi suốt hơn mười năm qua phải tìm hiểu văn hóa và bản chất dân tộc ta là gì? Tại sao chúng ta lại để đến nông nỗi này?! để người khác nghĩ và đánh giá mình là dân tộc gian, tham?! Người Việt gian tham ư?! Đau xót lắm, nhưng tôi vẫn không phản bác được bạn mình, với những gì tôi và chúng ta vẫn thấy xung quanh trên đất nước chúng ta… Nó là cái văn hóa gì?! Hôm nay, có lẽ tôi đã trả lời được câu hỏi đó cho mình. Dân tộc ta không phải thế! Có những hạt sạn đã được vô tình hay cố ý gieo vào đạo đức, lối sống dân ta mà có lẽ người gieo cũng không muốn và không biết mình đã làm gì? Chúng ta phải đợi đến vụ gieo hạt sau thôi?

TRẦN THÀNH NAM
Nguồn: Blog Đào Hiếu
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Trên Mặt Trận Văn-Hoá, Ai Đã và Đang Thắng Ai?

Nguyễn Ngọc Bích

Năm 1975, đa-phần chúng ta đến Mỹ trong một tình-cảnh thập phần bất lợi. Đã mất nhà, mất cửa, mất quê hương, chúng ta còn bị nhìn như những kẻ đã thua cuộc, hơn thế nữa còn đáng thua vì tham-nhũng, bất tài, bất lực–đó là hình ảnh của ta trong một nền báo chí bất công, đi tìm thủ-phạm cho một sự thất bại thuộc vào hạng lớn nhất của Mỹ. Nhưng lạ thay, hình ảnh xấu xa này của người Việt miền Nam chẳng bao lâu, chỉ trong vài tháng đã thay đổi một cách nhanh chóng. Mùa thu năm đó, con em chúng ta vào trường học Mỹ đã chứng tỏ là những thiên-thần con, ngoan và giỏi, chả mấy lúc trở thành những trò cưng của các cô thầy để rồi ít năm sau giật đủ mọi thứ giải trong học-đường Mỹ (như thủ-khoa, á-khoa, các học-bổng).

Từ giáo-dục

Song song ở Việt-nam trong cùng thời, người CS vào xâm-chiếm miền Nam gặp cái gì cũng chê. Nhà cao-tầng ở Sài-gòn thì bị coi là "phồn vinh giả-tạo," hàng hoá ê hề thì bị cho là "tàn-dư đế-quốc," cơm thừa canh cặn của Mỹ-nguỵ. Nhưng cũng có vài hình ảnh đối chọi: Nhà văn Dương Thu Hương trông thấy sách đủ loại ở miền Nam, mở ra một chân trời không thể mơ tưởng nổi ở miền Bắc xã-hội-chủ-nghĩa, đã ngồi xuống vệ đường và khóc. Nhà báo Bùi Tín khi vào làm việc ở Camp David, Tân-sơn-nhất, khám-phá ra cả một nền báo chí phong phú do tư-nhân làm chủ, từ thân chính-phủ đến đối-lập quyết-liệt. Và đặc-biệt, trẻ con ở miền Nam tỏ ra lễ-giáo hơn cả người lớn ở miền Bắc, chứng tỏ một nền giáo-dục có cơ-sở, có căn-bản hơn gấp bội!

Và chẳng bao lâu, người ta thấy nền giáo-dục miền Bắc (4-3-3, hệ 10 năm) âm thầm đi theo hệ-thống giáo-dục ở miền Nam (hệ 12 năm). Rồi những lớp học ở miền Bắc bắt đầu chăng những biểu-ngữ "Tiên học lễ, hậu học văn" dù như nội-dung, do đã mất căn-bản trong hơn 20 năm, đi từ khủng-hoảng này đến khủng-hoảng khác.

Đến khi Việt-nam "mở cửa" ra với thế-giới thì những thói hách dịch, cửa quyền kiểu các cô ở cửa hàng mậu-dịch (quốc-doanh) làm việc mà mắng chửi khách hàng sa sả dần dần cũng được thay thế bằng những cô cậu "lễ tân" thưa hỏi, lễ phép đàng-hoàng của các khách-sạn ở Việt-nam hôm nay–dù như tiếng chửi thề tục tằn thì hình như vẫn còn ở ngoài đường phố, ngay giữa Hà-nội "nghìn năm văn vật," đến từ những miệng non choẹt, của ngay cả những con gái 11-12 tuổi.

Chính vì thế mà gần đây, sau những than van trầm thống của những nhà giáo lão thành như G.S. Hoàng Tuỵ, v.v. ở trong nước đã có những hội-thảo như "Sự xuống cấp văn hoá và đạo đức trong xã hội ngày nay" do Quỹ Văn-hoá Phan Châu Trinh tổ-chức ngày 27/11/2010 ở ngay Hà-nội. Tại đây, lý-thuyết-gia Lữ Phương từ Sài-gòn ra đã phải có bài "Vì đâu nên nỗi?" trong đó ông kêu trời về "hiện tường bùng nổ… của một thứ chủ nghĩa vật chất, mang màu sắc chụp giật dung tục, trắng trợn chưa từng có trên đất nước, lan tràn như một bệnh dịch, lau lách xâm nhập vào toàn bộ các ngõ ngách của đời sống (kể cả những lĩnh vực được coi là thiêng liêng cao quý)." Đi tìm gốc rễ của một sự băng-hoại như vậy, ông đã đề nghị đó là "chủ nghĩa GDP," "chủ nghĩa thành tích vĩ cuồng" trong đó có sự "đua đòi chơi trội, ngông nghênh, cùng với thái độ liều lĩnh trong sự nhũng lạm, bòn rút, phung phí của công, trắng trợn, tràn lan, bất chấp mọi hậu quả." (in lại trong báo Thông tin số 55 tháng 12/2010 ở Đức)

Sau đó, ông Tống Văn Công, một lão-thành cách mạng, đã hưởng-ứng bài của Lữ Phương bằng cách "ghi chép điều mình quan sát được." Theo ông, "nước ta đang trong tình trạng khủng hoảng văn hoá" bên cạnh "khủng hoảng kinh tế – xã-hội." Để mô-tả phần nào sự xuống cấp thảm-hại của văn-hoá trong nước ngày nay, Trần Ái Dân đã có bài thơ với những trích-đoạn như sau:

Thời buổi thế này là thế nào hả trời,
Làm xịt lốp xe, đinh rải đầy đường sá.
Giữa phố đông, người rạch mặt người.
Khách tàu hoả tha hồ ăn đá.

...........

Đến cục cứt cũng là cứt rởm.
Nông phu phải miết tay, phải ngửi kiểm tra.
Thời buổi thế này là thế nào hở trời,
Trò giữa lớp phang thầy; Con nện cha trước bàn thờ tổ.

. . . . . . . . . .

Xương trâu bò thế xương liệt sĩ.
Trâu bò lên ngôi Tổ quốc ghi công.

Đi vào phân-tích, ông Tống Văn Công đã nêu những điểm như:
"Không phải lủng củng mà là đặt ý thức hệ trùm lên văn hoá."
"Đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống dân tộc."
"Văn hoá xã hội chủ nghĩa đặt chủ nghĩa Marx-Lenin thành chân lý độc tôn."
"Văn hoá xã hội chủ nghĩa đề cao tuyệt đối chủ nghỉa tập thể, đồng nhất chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa vị kỷ và triệt để xoá bỏ."
"Đề cao nghệ thuật vị nhân sinh nhưng cuối cùng, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa tầm thường hoá văn học, nghệ thuật, khuyến khích văn học nghệ thuật minh hoạ chính trị."

Đến văn nghệ, nếp sống

Trên đây là những lối nói bằng công-thức của người Cộng-sản nên nghe rổn rảng, người thường nghe rất khó hiểu, nhiều khi còn ngờ là nó che đậy những sự thật rất đáng sợ. Để cho dễ hiểu, tôi chỉ xin nêu ra hai thí-dụ.

Một là nhạc vàng. Năm 75 khi vào Nam, người CS chỉ có "nhạc cách mạng" và chê bai nhạc miền Nam mà họ gọi, theo cách nói của Trung-Cộng, là "nhạc vàng," hiểu theo nghĩa là vàng vọt, bệnh hoạn. Nhưng rồi chẳng bao lâu, "nhạc cách mạng" bị xem là "lạc hậu"–theo đúng nghĩa là "rớt lại đằng sau." Vì nhạc CS, cũng như văn-nghệ CS, là nhằm phục-vụ cho giai-đoạn. Khi giai-đoạn đó đã qua, như giai-đoạn mà họ gọi là "đánh cho Mỹ cút, nguỵ nhào," thì cái nhạc kia trở nên lạc lõng, không còn đối-tượng nữa. Do đó nó phải đổi thay. Nhưng đổi thay theo hướng nào? Theo hướng con người, theo hướng tình-cảm… tức là đổi thay theo hướng "nhạc vàng" mà giờ đây ta thấy áp-đảo ở trong nước.

Để cho ta thấy sức mạnh của "nhạc vàng" như thế nào, ta có thể lấy trường-hợp nhạc Phạm Duy. Một số người trong chúng ta không muốn nhắc đến trường-hợp của ông vì để được về yên thân ở trong nước, ông đã có đôi lời phát biểu không hạp nhĩ với chúng ta. Nhưng đâu phải ông về trong nước là không gặp khó khăn. Trên khoảng 1000 bài hát ông đã sáng-tác, cho đến nay nhà cầm quyền CS mới chỉ cho hát và trình bầy có 41 bài của ông. Nhưng mặc! Vì tính-cách nhân-bản của những bài hát này, mỗi lần có Đại-nhạc-hội Phạm Duy ở trong nước là thiên-hạ ùn ùn đi coi, đôi khi phải trả cả vé theo giá chợ đen lên đến 300 đô-la một vé nếu mua ngay ở cửa.

Rồi chúng ta cũng trách một số ca-sĩ hải-ngoại về hát ở trong nước. Song ca-sĩ chúng ta ở ngoài này về là để hát nhạc tình-cảm, nhạc tình-tự quê hương, thậm chí có người còn bị chê trách là hát "nhạc sến" nữa. Nhưng tôi mới được đọc một bài báo nói về Tuấn Vũ, về hát ngay ở nhà hát lớn Hà-nội, mà hát nguyên một tuần lễ mà vẫn không hết khách. Đủ tỏ cái sức mạnh lạ lùng của "nhạc vàng," nó không cần ai đỡ đầu hay nhà nước nào bao cấp cả! Tự nó nó đứng vững trên hai chân của nó, chỉ vì lòng thương yêu của khán-thính-giả… bởi nó "cận nhân-tình"!

Tại sao vậy? Tại vì "nhạc vàng" là một nền nhạc phải cọ xát với nhạc thế-giới, nhạc thời-đại, nó không "lạc hậu" như "nhạc cách mạng." Có thế nên ở ngay bên cạnh một nền nhạc năng động, phong phú và đa dạng như nhạc hiện-đại của Mỹ, của Pháp, "nhạc vàng" vẫn sống hùng sống mạnh, không chỉ vẫn giữ được khán-thính-giả của mình, nó còn cạnh tranh được cả với phim bộ của Hồng-kông, Đại-Hàn nữa… thì đủ tỏ!

Một trường-hợp thứ hai là cách ăn mặc của phụ nữ VN. Năm 75 vào, người CS tuy không cần nói ra vẫn đã biến cả nước thành một dân-tộc đồng-phục, bà ba đen hay nâu (thậm chí đến lụa trắng cũng không dám mặc vì sợ bị coi là trưởng-giả, tiểu-tư-sản). Song chỉ ít lâu sau, người ta khám-phá ra người đàn bà, con gái mà có ít môi son, má phấn, vẽ lông mày, mặc áo dài và tắm xà-bông thơm thì đẹp hơn gấp bội cái "mốt" mà có từ thế-kỷ thứ 10-thứ 15… mà ở nhà quê kia!

Thế là cả một cuộc cách mạng trong y-phục đã xảy ra, kéo từ Nam ra đến Bắc, ra đến tận ải Nam-quan (nếu như còn), và đã đành là không bỏ chuyện chinh-phục trở lại Hà-nội, Nam-định, Hải-phòng! Ngày nay, thử hỏi, ăn mặc thế là chuyện tiến-bộ hay là liệu còn ai chủ-trương trở lại chế-độ bà ba?

Do vậy mà đã có không ít nhà quan-sát-viên, cả VN lẫn ngoại-quốc, đánh giá là trong chiến-tranh VN, người CS chỉ thắng được có phần quân-sự–mà đó cũng là nhờ miền Nam bị đồng-minh bỏ rơi, chứ còn về mọi mặt khác, từ kinh tế, xã-hội đến giáo-dục, văn-học, thời-trang… mặt nào miền Nam cũng thắng vượt trội–ngoại-lệ rất ít, gần như không có! Nên vấn-đề "ai thắng ai" thì từ góc nhìn 36 năm sau nhìn lại, nếp sống và cách nhìn của người CS đã thảm-bại!

Về đạo-đức cũng không khác

Sang một lãnh-vực cao hơn. Đến khi "học tập theo đạo đức Hồ Chí Minh" thì sau "4 năm triển khai trên cả nước," đại-biểu Lê Văn Cuông tại hội-trường Quốc-hội ở Ba Đình, Hà-nội, ngày 1/11/2010 đã phải than: "Kết quả làm theo lời Bác chưa được nhiều, trái lại có một số vấn đề bức xúc như chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, lãng phí, tư lợi, đạo đức xuống cấp trong một bộ phận cán bộ công chức ngày càng có biểu hiện tinh vi, phức tạp." Một bộ phận thôi sao? Ngày 30/11/2010, ông Trương Vĩnh Trọng, phó-thủ-tướng, đúc kết tại Hội-nghị tổng-kết công-tác phòng, chống tham-nhũng phải thú thật: "Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp…"

Nguyễn Ngọc Bích
Trình bầy tại Hội Cao Niên vùng HTĐ
Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Số người chết vì lũ lụt ở Thái Lan tăng vọt lên 427

Tổng số người chết do trận lũ lụt nghiêm trọng nhất tại Thái Lan trong nhiều thập niên đã tăng vọt lên trên 400 người,
trong khi công chúng ngày càng giận dữ đối với cách thức xử lý khủng hoảng của chính phủ.

Image
Người dân đi lại khó khăn trên một con đường bị ngập sâu ở Bangkok.
Chính phủ Thái Lan hôm nay cho biết thảm hoạ thiên tai đã cướp đi sinh mạng của 427 người, nhiều hơn 42 người so với thông báo trước đó. Chưa trường hợp thiệt mạng nào vì lũ lụt được thông báo tại Bangkok.

Trong khi trung tâm Bangkok vẫn khô ráo, các khu vực ở ngoại ô và phía bắc thủ đô đã bị ngập nước đến ngang eo hoặc thậm chí tồi tệ hơn ở một số nơi.

Người dân tại các khu vực bị ảnh hưởng đã phàn nàn về việc nhà cửa của họ bị hy sinh để cứu các khu vực trung tâm của thủ đô Bangkok, nơi sinh sống của 12 triệu người, dẫn tới các cuộc biểu tình và đập phá một số con đê.

Lũ lụt, gây ra do các trận mưa lớn bất thường vốn bắt đầu 3 tháng trước, đã gây thiệt hại cho nhiều ngôi nhà và cuộc sống của hàng triệu người trên khắp Thái Lan.

Thủ tướng Yingluck Shinawatra và các quan chức Bangkok đã bất đồng về việc cho bao nhiêu nước đi qua các cửa xả lũ ở phía bắc trung tâm thủ đô để giảm áp lực cho các cộng đồng bị ngập lụt.

Bà Yingluck đã từ chối các yêu cầu của phe đối lập nhằm tuyên bố tình trạng khẩn cấp, vốn trao quyền lớn hơn cho quân đội để giải quyết tình trạng bất ổn.

Tư lệnh Lục quân Thái Lan - Tướng Prayut Chan-Ocha, cũng cho rằng không cần thiết phải ban bố tình trạng khẩn cấp để giúp các nạn nhân lũ lụt. “Việc sử dụng luật khẩn cấp sẽ gây ra sự đối đầu giữa người dân và quân đội”, ông nói.

Ông Prayut cho rằng vấn đề hiện tại là “làm thế nào để thoát nước nhanh chóng khi các đập và đê bao đã bị phá huỷ ở nhiều nơi. Nếu mọi người không có nước chảy qua, ngập lụt sẽ kéo dài và người dân sẽ phải chịu đựng nhiều hơn”.

Ninh NhiTheo AFP
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tin shock : Mỹ, Anh đang lên kế hoạch tấn công Iran

Tờ Dailymail tối qua (2/11) đưa tin, Anh và Mỹ đang lên kế hoạch thực hiện một cuộc tấn công vào Iran trong bối cảnh căng thẳng ở khu vực Trung Đông đang ngày một leo thang.

Theo tờ Dailymai của Anh, Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng David Cameron đang chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh với Iran sau khi có thông tin Tehran đã tích trữ đủ số uranium làm giàu cho 4 quả bom hạt nhân.

Những bằng chứng hạt nhân khiến phương Tây giật mình

Theo một bản báo cáo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) dự kiến sẽ được công bố vào tuần tới, Iran đang tìm cách thực hiện các vụ thử vũ khí hạt nhân tại một loạt những cơ sở sản xuất bị cấm. Đây rõ ràng là một hành động thách thức các biện pháp trừng phạt của Liên Hợp Quốc.

Những bằng chứng được đưa ra trong bản báo cáo của IAEA chắc chắn sẽ làm gia tăng căng thẳng trong khu vực Trung Đông.

Ông Yukiya Amano, Tổng giám đốc IAEA, hiện vẫn chưa đưa ra một kết luận dứt khoát về việc Iran đang tìm cách sản xuất vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, theo các nhà ngoại giao phương Tây, những bằng chứng thu thập được khiến bất kỳ kết luận khác đều không hợp lý.

Phương Tây tin rằng, IAEA có đủ bằng chứng từ các thông tin tình báo, từ các cuộc phỏng vấn với những nhà khoa học Iran và qua các cuộc kiểm tra tại hiện trường chứng tỏ Tehran đang ngầm theo đuổi một chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân song song với chương trình hạt nhân dân sự.

IAEA cũng đánh động về việc các nhà khoa học Iran đang tìm cách phát triển một đầu nổ của tên lửa đạn đạo có khả năng mang ngòi nổ hạt nhân. IAEA cũng phát hiện ra những bằng chứng chứng tỏ Tehran đang nghiên cứu phát triển ngòi nổ hạt nhân.

Các giám sát viên của IAEA còn nghi ngờ Iran đang theo đuổi những chương trình bí mật được thiết kế để tiến hành các vụ thử vũ khí hạt nhân.

Một quan chức IAEA cho biết: “Người Iran đã trốn tránh rất giỏi và họ đã tỏ ra rất thông minh. Rất khó để phát hiện mùi thuốc súng nhưng những bằng chứng chúng tôi thu thập được đã khiến mọi việc trở nên chi tiết hơn. Không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi sẽ tăng cường áp lực” lên Iran .

Mỹ, Anh lên kế hoạch tấn công Iran

Trước những bằng chứng được cung cấp trong bản báo cáo nói trên của IAEA, có tin Anh và Mỹ đang bàn kế hoạch tấn công Iran .


Anh có thể sẽ nhất trí với bất kỳ quyết định nào của Mỹ trong việc đánh Iran dù cho Bộ Quốc phòng Anh đang bị căng sức quá mức bởi những khoản cắt giảm ngân sách và những khoản chi khổng lồ cho hai cuộc chiến ở Afghanistan và Libya.

Một phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Anh cho biết: “Chính phủ Anh tin rằng một chiến lược áp dụng song song hai biện pháp gây áp lực và khuyến khích là cách tốt nhất để giải quyết mối đe doạ từ chương trình hạt nhân Iran mà vẫn tránh được một cuộc xung đột khu vực. Chúng tôi muốn một giải pháp đàm phán nhưng tất cả mọi lựa chọn đang được đặt lên bàn”.

Một đơn vị đặc nhiệm thuộc Bộ Quốc phòng Anh đang được giao nhiệm vụ vạch ra chiến lược cho Anh nếu quân đội nước này tiến hành một cuộc xâm lược vào Iran .

Các nhà lên kế hoạch chiến tranh của Anh cũng đang xem xét khả năng triển khai tàu chiến và tàu ngầm được trang bị tên lửa Tomahawk, chiến đấu cơ RAF, bom chính xác Paveway IV, Brimstone và các máy bay do thám… cho cuộc chiến sắp tới.

Tình báo phương Tây cho rằng, Iran đang giấu nguyên liệu hạt nhân trong những chiếc hầm ngầm kiên cố dưới lòng đất mà các tên lửa thông thường không thể với tới.

Tổng thống Mỹ Barack Obama được cho là không muốn đánh Iran trước thềm cuộc bầu cử tổng thống vào năm tới. Tuy nhiên, Washington có thể bị Israel gây áp lực nếu chương trình hạt nhân của Iran không được kiểm soát.

Thủ tướng Israel Netanyahu rõ ràng đang vận động sự ủng hộ của nội các để tiến hành một cuộc tấn công nhằm vào Iran bất chấp việc hành động này sẽ vấp phải đòn trả thù mạnh mẽ từ Nhà nước Hồi giáo.

Israel xem Iran là mối đe dọa lớn nhất đối với họ bởi giới lãnh đạo ở Tehran thường xuyên đe dọa sẽ phá hủy Nhà nước Do Thái. Mối quan ngại của Israel với Iran ngày một tăng lên khi Iran được cho là đang phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Chưa hết, Iran còn ủng hộ cho những nhóm chống Israel như Hamas và Hezbollah.


Israel luôn để ngỏ khả năng tấn công vào các cơ sở hạt nhân của Iran . Tuy nhiên, đến nay Israel vẫn chưa nhận được sự ủng hộ của Mỹ trong lựa chọn này. Đã có thời điểm người ta tin rằng, Israel sẽ tấn công phủ đầu của Iran để đặt Mỹ vào tình trạng đã rồi và buộc nước này phải nhảy vào cuộc chiến để hậu thuẫn cho đồng minh thân thiết.

Mặc dù một cuộc tấn công như thế chưa xảy ra nhưng trước những bằng chứng mới về chương trình hạt nhân của Iran, rất có thể Israel sẽ qua mặt Mỹ để tấn công Iran. Sau đó, Mỹ và Anh sẽ buộc phải nhảy vào. Tuy nhiên với thông tin Mỹ, Anh đang lên kế hoạch tấn công Iran thì nhiều khả năng, hai nước này sẽ cùng Israel đánh Iran .


Kiệt Linh -
(theo DM, Tele, Reuters)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Lạc lối về ??? !!!

Bình Minh
Nhớ lại,
hai mươi tuổi,
tôi bị tù Cộng sản vì “phản động”.

Hầu như mỗi tuần, tôi đều phải lên “làm việc” ít nhất một lần với Ban quản giáo trại tù. Họ bắt tôi phải nhận diện những anh chị em “phản động” vừa mới bị bắt. Tôi nghiến răng… lắc đầu. Cứ như thế, sau những cái lắc đầu là những trận đòn dữ dội – lên đầu lên mặt. Đau đớn thể xác, nhưng nước mắt không chảy được vì nỗi đau tinh thần còn to còn lớn hơn đến ngàn lần.

Không cần xét xử, chỉ cần đánh đập.
Đánh đập mỏi tay, họ thả tôi ra… tôi tiếp tục.
Tuổi mộng mơ của tôi,
là những ngày chạy trốn những con mắt rình rập…
là những ngày ra vào tù với những đòn thù bầm dập thân xác,
là những lúc cố đừng bật lên tiếng kêu khi chứng kiến người yêu gục xuống – trong tra tấn dã man, trong tiếng cười man rợ giữa người và người.

Lần ở tù cuối cùng, là vào những ngày cuối năm, tôi không bị biệt giam, tôi được nhốt trong trại tù phụ nữ.

Tù phụ nữ,

Họ là những người đàn bà, “phản động”, đã cùng chồng không chịu buông súng – mặc dầu đã có lời kêu gọi đầu hàng từ Tổng thống Dương Văn Minh.

Họ là những thiếu nữ đồng lõa, “phản động”, đã dấu diếm, những người lính ngã ngựa đang bị thương tích trong nhà.

Và tôi.

Năm ấy,

Trong tù đêm giao thừa,
tôi nghe những tiếng nấc,
tiếng trở mình của những tấm thân còm cõi,
tất cả chung quanh lồng lộng nỗi cô đơn, thấm thía nỗi nhớ nhà.

Riêng tôi, khắc khỏai -
nhớ cha đang ở tù nơi miền Bắc xa xôi,
nhớ mẹ với những giòng lệ xót xa ái ngại,
và nghẹn ngào thầm hỏi
có chăng một ngày, người hải ngoại trở về cứu nước cứu dân ?.

Cứ như thế,

Ba mươi mấy năm sau

Có khác gì hơn, cũng những người phụ nữ can trường, cũng tù cũng tội, cũng năm tháng trôi qua, không bao giờ đựợc xét xử, nếu có xử thì bị xử một chiều với những bản án nặng nề oan ức.

Cũng những người phụ nữ, trái tim rất lớn, rất lớn. Họ bị canh giữ trong bốn bức tường ẩm mục:

thương chồng, thương con, thương đồng bào… chỉ muốn hét to cho vỡ lồng ngực, cho cả thế giới nghe những nhục nhằn mà tất cả, mà chính họ đang gánh chịu, như Trần Khải Thanh Thủy, như Lê thị Công Nhân, như Phạm Thị Thanh Nghiêm.

Đau lắm thay !!!
Ba mươi mấy năm sau,

Tại quê hương – Thực trạng xã hội Việt nam quá bi đát, trong nước đấu tranh sục sôi, từng giờ từng phút những người dân chủ chạm mặt với bắt bớ đánh đập tù đày.

Tại hải ngoại – tình trạng đấu tranh dân chủ cho đất nước lại bi đát hơn. Trên các diễn đàn điện tử đầy rẫy những bài viết – phân tích, tranh cãi – về việc “thắng – thua” của cuộc chiến ba mươi sáu năm về trước, đầy rẫy những kèn cựa chữ nghĩa, lý thuyết mà thiếu vắng hẳn những ý kiến cụ thể, những khuyến khích kêu gọi thực tiễn.

Phải chăng tất cả đã LẠC LỐI VỀ ???

Tranh cãi “thắng – thua” để làm gì khi giáo dục xuống dốc, văn hóa bị phá sản, dân chúng cả hai miền đất nước đang đói khổ, cả giải sơn hà, đất biển đang bị mất dần vào tay ngoại bang? Đọc hoài một điệp khúc “bức tử” trong ngày 30/4, có ích lợi gì – khi không có một giải pháp thực tế để kêu gọi những nỗ lực đóng góp – ngăn chặn những hành động cưỡng bức của bịt miệng, của cướp đất, của mãi dâm đầy rẫy trên đất nước sau ba sáu năm thống nhất ?

Tại sao, cứ phải cúi đầu mặc niệm cho những đau thương rồi lại phải tìm cách qui trách nhiệm cho nhau trong khi tất cả đều thua và tất cả đều phải có trách nhiệm ?

Vâng, bạn à.

Tất cả chúng ta đều thua,
và chúng ta sẽ mãi mãi thua
nếu chúng ta mãi mãi ngồi nặn óc tranh cãi, bút chiến để dành “chính nghĩa”, và kèn cựa chữ nghĩa để thỏa mãn tự ái cá nhân,
chúng ta cũng sẽ mãi mãi thua

nếu chúng ta mãi mãi cúi đầu câm nín – nhận bổng lộc ban phát từ quan thầy bất xứng,

nếu chúng ta mãi mãi nhắm mắt bịt tai – trước những thống khồ của người Dân Oan, trước những giọt nước mắt âm thầm tủi nhục cô đơn của các em gái đang lưu lạc bán dâm trên các vỉa hè.

Ba mươi sáu năm trôi qua là một thước đo quá dài cho những chấn hưng đất nước. Thực trạng xã hội bây giờ là một minh chứng hùng hồn cho những thất bại liên tiếp của chính sách ngu dân đuơng thời và đồng thời cũng phản ảnh lên sự bất tài của chính chúng ta, những người tự nhận là trí thức.

Hỡi Bạn,
Chúng ta hãy chấm dứt ngay những than khóc, hoài niệm.

Hãy khẳng định lại cuộc hành trình của chúng ta trong tiến trình đấu tranh dân chủ hóa đất nước.

Chúng ta hãy cùng nhau đứng lên nhận lãnh trách nhiệm, cùng khai thông, cùng giải quyết những vấn nạn của đất nước. Hãy nhìn thẳng về phía trước, nhìn thẳng vào tương lai thế hệ đàn em của đất nước mà bắt tay vào việc, những việc rất cụ thể rất thực tế để xây dựng lại một xã hội nhân bản, công bằng, dân quyền.

Trở lại,
Câu chuyện chúng ta -

Vì nóng lòng cho việc đấu tranh dân chủ cho quê hương hiện tại, rất nhiều người ưu tư cho sự đóng góp quá ít ỏi, nếu không muốn nói là thiếu vắng của giới phụ nữ.

Nỗi ưu tư này có chính đáng không ? kết luận có vội vã và bi quan quá chăng ?

Xin,
đừng vội trách,
giới phụ nữ, đứng ngòai lề cuộc đấu tranh.

Phụ Nữ trong và ngoài nước đang góp phần đấy chứ – nhưng vì quan niệm “tham gia” của chúng ta hạn hẹp nên chúng ta không nhìn thấy những góp phần tiềm ẩn trong đời sồng hàng ngày của mọi người.

Thế nào là đóng góp ?

Thế nào là tham gia ?:

Nếu tham gia đấu tranh là phải ngồi vào bàn hội thảo, phải có những trận bút chiến, tranh cãi – bàn tán thời sự thế giới thì quả thật phụ nữ đang đúng ngoài những ý tưởng quá cao xa ngoài tầm với.

Nếu tham gia là bảo vệ lẫn nhau trong những áp bức hàng ngày, nếu tham gia là rỉ tai bất bình trước cái xấu của các quan chức, là gióng lên tiếng chuông, tố cáo trước dư luận những đàn áp bóp nghẹt tự do dân chủ, cảnh báo về những nổi thống khổ của người dân… thì phụ nữ đang góp phần.

Nếu không có sự tham gia của giới phụ nữ làm sao chúng ta có

Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân ?

nào Lê Thị Kim Thu, nào Phạm thị Thanh Nghiêm, Hồ Bích Hường
còn nữa – Đỗ Thị Minh Hạnh,
một thiếu nữ sinh năm 1985, bị bỏ tù vào những ngày Tết năm 2005, khi tròn 19 tuổi.

Đó là câu chuyện trong tù, còn những câu chuyện ngoài tù thì sao ???

Ngoài tù,

Chúng ta cũng không thiếu những tiếng nói hùng hồn từ những người phụ nữ nông dân, hay giới lao động. Và còn biết bao đóng góp âm thầm hàng ngày dưới nhiều hình thức từ những cụ già nơi làng quê đến các chị buôn thúng bán bưng nơi thị tứ, những người dân oan đang đấu tranh âm thầm không ngưng nghỉ.

Còn nữa kể không hết… những tận tụy hy sinh của vợ các nhà bất đồng chính kiến.

Như chị Đoàn Viết Hoạt, chị Nguyễn Đan Quế,
Vợ ông Vi Đức Hồi, vợ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, vợ bác sĩ Phạm Hồng Sơn
vợ luật sư Lê Quốc Quân, luật sư Lê Văn Đài, luật sư Cù Huy Hà Vũ ….
ngoài việc
thay chồng âm thầm tần tảo nuôi dạy con cái,

họ cũng đã không ngừng góp tay vào cuộc đấu tranh chung, họ mạnh mẽ lên tiếng tố cáo trước công luận về chế độ cộng sản đang bóp nghẹt tự do dân chủ, đàn áp những người yêu chuộng tự do

Chúng ta đều biết cuộc đấu tranh dân chủ hiện nay mang tính chất khác hẳn các cuộc đấu tranh từ trước đến giờ.

Đây, không phải là cuộc đấu trí giữa hai chủ nghĩa kình chống lẫn nhau, cũng không phải là cuộc chiến bom đạn cần phài có các tướng lãnh quân sự tài ba, mà đây là cuộc đấu tranh của quần chúng, của tất cả mọi người, của mọi tầng lớp trong xã hội.

Cuộc đấu tranh này, là cuộc đấu tranh cho một xã hội nhân bản, công bằng là cuộc đấu tranh xây dựng giáo dục, nâng cao tri thức, bảo vệ nhân phẩm, giữ gìn đất nước.

Xưa kia,

Để giữ bờ cõi biên cương, các vị vua quan tướng lãnh, đã cho xây thành đắp lũy chống kẻ giặc thù. Ngày nay, giặc đã lẫn trong thành đang chiếm đất chiếm nhà, nên thành lũy xây bằng bê tông cốt sắt bằng gạch đá đã trở thành vô dụng.

Bây giờ,

Muốn giữ được nước, thành phải được xây trong dân, vâng trong lòng từng người dân Việt nam. Đây chính là mấu chốt của cuộc đâu tranh dân chủ cho đất nước. Thu phục được nhân tâm, thu phục được quần chúng chính là tạo nên sức mạnh, là tạo nên một lực lượng dân tộc. Một lực lượng dân tộc.cùng quật khởi đứng lên chống lại độc tài đảng trị, chống áp bức bất công. Không một cá nhân nào có thể chuyển hóa cuộc đấu tranh dân chủ nếu không có lực lượng dân tộc.

Muốn thu phục nhân tâm, muốn thu phục quần chúng, hãy đến gần với quần chúng, hãy đập cùng nhịp tim, hãy đi cùng nhịp bước.

Thực tế,

Trong nước đang có một khoảng cách rất lớn giữa những người đấu tranh dân chủ và khối quần chúng thầm lặng. Có một số người không hề hay biết về những biến động dân chủ đang xày ra trong giới trí thức. Có một số người không hề hay biết về những cuộc biểu tình dân oan khi khoảng cách hai nơi là hai đầu đất nước. Không phải vì họ thờ ơ, không phải vì quần chúng nhút nhát, nhưng vì thông tin bưng bít, và vì đời sống nghèo khổ họ đành nhận chịu hoặc đành làm ngơ trước những bất công, áp bức.

Vì không có sự kết hợp giữa tầng lớp quần chúng và các nhà dân chủ đấu tranh, nên cuộc đấu tranh trở nên ô hợp, đơn điệu, thiếu kỹ thuật và dễ bị dẹp tan.

Tất cả –

lỗi chúng ta, lỗi của những người tự nhận
là có đầu óc, có suy nghĩ đang hướng dẫn cuộc đấu tranh tự phát này.

Lại thêm,

Lỗi lầm khác -của hầu hết những người dân chủ tại hải ngoại là – chạy theo những nhà đấu tranh có tên tuổi đang lên trong nước, mà bỏ quên hẳn khối người vô danh thấp cổ bé miệng – khối người sẽ góp phần đấu tranh rất hữu hiệu nếu được tác động đúng mức.

Chiến thuật “lấy thôn quê bao vây thành thị” vẫn còn giá trị trong cuộc đấu tranh này. Đây chính là sự kết hợp giữa quần chúng với những người đấu tranh. Khi nào những tên quan quyền cướp của hại người không dám về các vùng ngoại ô trong lúc tối trời, khi nào các nhà đấu tranh dân chủ bị lùng bắt và được các nông dân che dấu bảo vệ cho nương náu … thì lúc đó chúng ta mới có thể bàn đến chuyện thực hiện cách mạng Hoa Lài, Hoa Sen.

Và người hải ngoại là những người có đầy đủ phương tiện để thay đổi khối quần chúng thụ động thành khối người đấu tranh hữu hiệu.

Bạn hỡi,

Hãy thôi, ngồi nói chuyện lý thuyết viễn vông. Hãy thôi tranh cãi những đề tài quá khứ, nếu chúng ta thực sự muốn sự đóng góp của tất cả mọi người. Hãy vạch ra một hướng đi rõ ràng với những kế hoạch cụ thể để khỏi nhốn nháo chạy theo những biến đông chung quanh. Hãy khiêm tốn đừng nghĩ mình có tài kinh bang tế thế hơn người khi dùng được vài ba từ ngữ chính trị, mà chạy theo danh tiếng, mà chê bai tự cách biệt rào mình trong thế giới hào quang ảo tưởng.

Hãy phối hợp hoạt động để tạo mũi nhọn. Hãy học hỏi và áp dụng những kỹ thuật tân tiến vào những công tác đấu tranh. Hãy dùng âm nhạc, thơ vãn để kích động tinh thần yêu nước. Hãy tạo những nhóm hay tổ trong những sinh hoạt hàng ngày để tạo mối dây liên lạc. Hãy truyền bá những bài viết bình dân giản dị dễ hiểu. Hãy đem sức sống đến tận thôn xóm làng mạc xa xôi. Hãy mang tin tức truyền đạt đến khắp mọi nẻo đường đất nước.

Và còn ai nữa làm nhiệm vụ này hiệu quả bằng những người phụ nữ Việt nam – nếu chúng ta khởi xướng ?

Có gì đánh động lương tâm thế giới bằng nơi quê nhà hàng ngàn phụ nữ xuống đường – bất bạo động – đòi hỏi quyền làm người, đòi hỏi nhân phẩm được tôn trọng. Họ chính là những cô gái lưu lạc trên các vỉa hè, chính là những bà mẹ dân quê cả đời không biết lấy một từ ngữ chính trị, chính là những người chài lưới ven sông hay đánh cá giữa trùng dương sóng gió.

Có gì hiệu quả bằng phụ nữ Việt Nam tại hải ngoại từng nhóm từng tổ chức, cùng một lúc gõ cửa kêu gọi các tổ chức ngoại quốc, cùng lên tiếng tố cáo những vi phạm nhân quyền trắng trợn, cùng yêu cầu can thiệp cho những đàn áp phụ nữ nơi quê nhà.

Hải ngoại – công tác quốc tế vận, quốc nội – trực diện đấu tranh.

Công việc cụ thể, sẽ thu hút được nhiều đóng góp cụ thể, và sẽ mang đến kết quả cụ thể.

Bạn ơi,

Hãy nghiêng mình xuống, thương cảm và tìm đến với tất cả mọi người trong xã hội –

Gái mại dâm có công tác của gái mại dâm, bà già bán rau vỉa hè có công tác của người bán rau vỉa hè, người viết văn có bổn phận của người viết văn.

Đất nước ta lúc nào cũng có những người đàn bà góp phần vào lịch sử.

Vậy đó….
Giờ đã điểm
chúng ta phải động não,
chúng ta phải đúng dậy,
mà đi
với trăm ngàn cái hãy
và trăm ngàn cái phải.

Đừng để những tiếng nói quả cảm của những phụ nữ can trường
tắt lịm dần trong bóng tối tù ngục Cộng sản.
Đừng để
LẠC LỐI VỀ …

Giữa tháng năm, hai ngàn mười một.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Dân Tộc Tự Quyết

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Mỹ sẽ rút hết quân khỏi Iraq vào cuối năm và dự liệu sau đó sẽ rút hết quân khỏi Trung Đông, kể cả Afghanistan và Gaza. Cuối tháng 10, một kẻ khủng bố đánh bom tự sát đã làm nổ một xe buýt ở Kabul, làm 17 người chết trong đó có cả người Mỹ. Tất cả những sự tranh chấp ở vùng này đã có các đồng minh của Mỹ là Anh và Pháp lo liệu. Anh Pháp ở Âu châu sẽ tìm cách can thiệp vào những vụ khủng bố ở vùng này.

Nhưng biến chuyển đáng chú ý nhất trong chiến lược đối ngoại của Mỹ là khu vực Thái Bình Dương. Bộ truởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã đến Tokyo và tuyên bố thẳng thừng hiểm họa lớn nhất làm Mỹ quan tâm là sự gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc, đồng thời chỉ trích Bắc Hàn đã có những hành động “liều lĩnh và khiêu khích”.

Tại vùng biển Thái Bình này Mỹ có liên minh chặt chẽ với Nhật Bản, quân đội Mỹ-Nhật đóng ở căn cứ Không quân ở Yokota, thuộc ngoại thành Tokyo. Mỹ cũng có căn cứ quân sự tại Okinawa Hoàng Hải. Trả lời một câu hỏi của báo chí Nhật, Panetta nói Mỹ và Nhật Bản chia sẻ những sự khiêu khích đang xẩy ra ở Á châu và Thái Bình Dương. Ông còn nói: “Trung Quốc đang gấp rút hiện đại hóa quân đội, và rắc rối là họ dấu kín, trong khi gia tăng hoạt động tại khu vực Đông và Nam vùng biển của họ”.

Vùng biển này từ đảo Hải Nam về phía Nam có bờ biển Việt Nam, nhưng Bắc Kinh còn tham lam muốn thò cái lưỡi bò dài xuống cả đến vùng Mã Lai Á và Nam Dương. Vùng này vốn đã có một liên minh từ lâu gọi là SEATO (Tổ chức Liên hiệp Đông Nam Á), Trong khi Trung Quốc là một nước Đông Bắc Á nên không có hy vọng gia nhập. Ở khu vực bờ biển Việt Nam có các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các đảo này gần với thềm lục địa Việt Nam hơn bất cứ nước nào khác ở trong vùng. Thềm lục địa của Trung Quốc không thể kéo dài đến Hoàng Sa và Trường Sa.

Tại sao Trung Quốc muốn nhòm ngó đến Hoàng Sa, Trường Sa? Lý do dễ hiểu là dưới hai quần đảo này có mỏ dầu lửa khá lớn. Cách đây không lâu, hai chiếc tầu thăm dò dầu của Việt Nam hoạt động ở vùng này, chiến hạm của Trung Quốc chỉ lẩn quẩn ở xa trên phía Bắc trong vùng biển quốc tế mà nhìn chớ không dám đến gần khiêu khích. Vùng mỏ dầu này được Việt Nam khai thác sẽ là một nguồn lợi lớn cho người Việt.

Theo báo Financial Times ngày 26 tháng 10 vừa qua, công ty dầu lửa Exxon Mobil đã khám phá một mỏ dầu khí lớn ở ngoài khơi Việt Nam, trong một khu vực cũng bị Trung Quốc dòm ngó. Rất có thể sự khám phá này cũng là do Hà Nội tiết lộ.

Trước tình thế đó, Trung Quốc có thể sẽ tìm cách gây hấn ở biên giới Trung-Việt để làm áp lực, đòi Việt Nam phải chia sẻ miếng mồi ngon là dầu lửa ở Hoàng Sa. Nhưng nước Việt Nam hiện nay đã tìm cách đề phòng, bằng cách xiết chặt quan hệ với Mỹ. Cách đây không lâu đã có một chiến hạm Mỹ, do một sĩ quan Mỹ gốc Việt điều khiển đã ghé cảng Việt Nam để thăm thú.
Thiết tuởng cũng nên nhắc lại chính trong nội bộ Trung Quốc cũng đã có chuyện rắc rối từ hồi tháng 7 năm nay. Trong Đại sảnh đường nhân dân ở Bắc Kinh có khoảng 6,000 đảng viên tham dự, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào phải nhìn nhận là đảng lâm nguy trầm trọng vì có nạn tham nhũng lan rộng sau khi đảng cầm quyền đã khá lâu.

Nhắc lại những chuyện xưa như vậy chúng tôi muốn nhấn mạnh Trung Quốc ngày nay là kẻ thù của nước Việt Nam. Riêng về lịch sử thời xa xưa nhất kể từ khi loài người ở khắp nơi chưa có chữ viết, dân Trung Quốc vẫn truyền khẩu người Việt là do nòi giống Bách Việt sinh ra để ám chỉ từ phía Bắc đến, nghĩa là từ bên Quảng Đông Quảng Tây bên Tầu qua. Sự thật tổ tiên của người Việt là những người từ vùng Vân Nam theo sông Mekong tràn xuống, nên người Việt gần gụi với người Thái hơn người Tầu.

Ngày nay chúng tôi nghĩ người Việt nên nhìn đến Mỹ để chống mối họa phương Bắc. Đó chính là quyền dân tộc tự quyết.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Thay đổi con người hay thay xã hội?

Ngô Nhân Dụng


Một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng ở Trung Quốc gần đây viết về mối tương quan mật thiết trong đời sống dân Mông Cổ và loài sói; sách này đã được dịch sang tiếng Anh, tên là Wolf Totem (Tô Tem Sói).

Cuốn truyện của Jiang Rong là một bản anh hùng ca về những thảo nguyên bát ngát ở Nội Mông. Trong không gian bát ngát hoang sơ đó loài sói và loài người vừa tranh đấu đối đầu nhau, vừa cộng tác một cách vô ý thức cùng bảo vệ những loài cỏ cây hoang dại phủ kín các cao nguyên và châu thổ. Cuộc cộng sinh diễn ra suốt lịch sử, từ hàng chục ngàn hay trăm ngàn năm, trước thời Thành Cát Tư Hãn, cho tới bây giờ.

Chuyện Wolf Totem (Lang Tú Ðằng - người Trung Hoa phiên âm chữ Totem là Tu Ðeng, đọc lối Hán Việt là Tú Ðằng) là lợi tự thuật của một sinh viên Ðại Học Bắc Kinh bị đày lên Mông Cổ “học tập lao động” trong thời “Cách mạng Văn hóa,” giống như tác giả Jiang Rong (Khương Nhung tên thật là Lữ Gia Dân). Anh sinh viên này đang phụ trách chăn cừu; anh vẫn định săn bắt một con sói, một thành tích để đạt được lòng kính trọng của người Mông Cổ. Anh cũng muốn đánh bẫy một con sói nhỏ để đem về nuôi thử. Từ trang 319, trong bản dịch do Penguin Press xuất bản, anh được chứng kiến cảnh một con chó sói tấn công đàn cừu. Anh sinh viên đang tản bộ lên đồi, đàn cừu tản mác đi sau. Bỗng quay đầu lại, nhìn thấy một con sói đang quần thảo với đàn cừu. Anh không bắn, cũng tìm cách dọa cho con sói phải chạy đi; vì đã được một người bạn mách kế, cứ chờ con sói ăn no, nặng bụng, chậm chạp, rồi động thủ thì sẽ hạ được nó.

Anh sinh viên đứng quan sát. Khi con sói đã chồm lên cắn cổ, vật ngã một con cừu, nó đè xuống xé da, xả thịt, ngấu nghiến ăn tại chỗ. Ðàn cừu bị tấn công lúc đầu hoảng sợ chạy toán loạn; nhưng khi thấy con sói đã bắt được một con cừu, bắt đầu ngồi xuống chăm chú cắn, nhay, nhai, nuốt, thì cả đàn cừu trở lại tình trạng bình thường; chúng lại cúi xuống gặm cỏ coi như không có gì nguy hiểm cả. Chắc chúng biết lúc này là an toàn, vì mỗi lần một con sói chỉ ăn thịt một con cừu là đủ no bụng. Nhiều con cừu đứng quan sát còn bạo dạn tiến đến xem con sói nó ăn thịt “đồng bào” mình như thế nào; giống như trẻ con đi coi đoàn xiệc hát rong. Một đám cừu bước tới gần, chen chân nhau để giành chỗ tốt, cho thấy rõ hơn. Tác giả Khương Nhung nghĩ: Bộ mặt của mấy chú cừu đóng vai quan sát có vẻ như mừng rỡ: “Gớm, may quá! Con sói nó ăn thịt mày, nó không ăn thịt tao!”

Nhân vật của Khương Nhung là một sinh viên ham đọc sách, mơ mộng và suy nghĩ. Khi nhìn cảnh đó, anh nhớ tới một đoạn văn của Lỗ Tấn đời xưa. Nhà văn tả một cảnh tượng thời trước Ðại chiến Thứ hai, khi quân Nhật đã xâm lăng chiếm một phần Trung Quốc. Có một đám đông người Trung Hoa đứng coi quân đội Nhật Bản đang chuẩn bị chém đầu một người Trung Hoa khác. Dân chúng kéo đến coi như đi coi xiệc. Nhớ lại chuyện cũ, anh sinh viên tự nhủ, “Chẳng trách được, người du mục Mông Cổ họ coi dân Hán mình như một đàn cừu.”

Nhân vật của Khương Nhung nhìn cảnh đàn cừu thì chợt nhớ đến đoạn văn của Lỗ Tấn. Tuần trước, chúng tôi cũng chợt nhớ đến đoạn văn trong tiểu thuyết Tô Tem Sói sau khi theo dõi các mạng lưới bên Tầu sau vụ em bé Duyệt Duyệt chết oan.

Như đã kể nhiều lần trên báo này, hàng chục triệu người Trung Hoa đã bày tỏ ý kiến trên mạng về vụ em bé Duyệt Duyệt 2 tuổi bị xe cán chết ở thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Ðông mà 18 người qua lại không ai dừng chân nâng dậy, trong suốt bẩy phút. Các “công dân mạng” đặt câu hỏi cho chính lương tâm của họ, và lương tâm của cả mọi người: Phải chăng nước Trung Hoa đã mất linh hồn? Câu hỏi này cũng không khác gì ý nghĩ của nhân vật trong tiểu thuyết trên: Lòng hổ thẹn, và hổ thẹn tập thể.

Khi đứng trước một cảnh tượng cùng đáng xấu hổ mà một dân tộc biết xấu hổ, đó là điều đáng mừng. Ý thức rằng xã hội mình đang lâm bệnh trầm trọng, là một bước đầu để tự thay đổi, tự cải thiện. Nhắm mắt không chịu nhìn, hoặc nhìn thấy mà không chịu thú nhận mình mắc bệnh thì “hết thuốc chữa!” Vụ em bé Duyệt Duyệt xẩy ra khoảng một tuần lễ sau khi báo chí ở Trung Quốc loan tin một cụ già ở tỉnh Hồ Bắc bị té giữa đường phố trong suốt 90 phút người qua lại để mặc cho ông cụ nằm không ai ngó tới, cho đến khi tắt thở. Người con trai ông cụ hỏi với nhà báo: “Người Trung Hoa mình đã đánh mất thói quen cứu giúp người một cách dễ dàng như vậy hay sao?” Một nhà nghiên cứu về truyền thông viết trên trang Weibo, mạng Sina: “Trung Quốc đang phải đối diện với một thời điểm vô đạo đức nhất trong lịch sử.”

Nhưng trước căn bệnh đám đông thờ ơ, lãnh đạm trước cảnh một đồng loại lâm nạn, nhất là một em bé hai tuổi, thì người ta phải làm gì? Phải tìm hiểu những nguyên nhân nào gây ra bệnh. Hiểu biết căn nguyên rồi, mới đi tìm những phương cách diệt trừ phiền não.

Trên các mạng lưới, giới trí thức, thanh niên Trung Quốc đã nhận ra xã hội họ đang sống rất bệnh hoạn. Họ viết: “Chúng ta đều là những em bé Duyệt Duyệt!” Hoặc, “Chúng ta đều là những kẻ qua đường thờ ơ!”

Người ta đã tìm các nguyên nhân gây nên căn bệnh ích kỷ, thờ ơ này. Họ liệt kê các chứng bệnh gốc: Xu hướng chỉ biết kiếm tiền và hưởng thụ, sinh ra trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Nhiều người nêu lên khiếm khuyết trong nền giáo dục gia đình, cha mẹ dạy con tính ích kỷ. Nhiều người còn nhắc tới di sản, thời Mao Trạch Ðông đã xóa bỏ các nền móng đạo lý cổ truyền khiến người Trung Hoa mất kim chỉ nam về đạo đức.

Giáo Sư Hạ Học Loan (Xia Xueluan) thấy nguyên nhân là xã hội Trung Hoa đang trải qua một “cuộc khủng hoảng lòng tin, giữa người với người.” Ông Tạ Tĩnh (Xie Jing), giáo sư tại Ðại Học Phục Ðán ở Thượng Hải thấy tin tức trên báo chí nói đến những chuyện như anh Bành Vũ cứu người rồi sau đó bị gia đình nạn nhân kiện đòi bồi thường được các báo, các đài loan tải, khiến ai cũng dè dặt, do dự trước khi bước tới giúp đỡ người khác.

Chàng sinh viên của Khương Nhung nhìn đàn cừu đứng coi một đồng loại bị sói ăn thịt, lương tâm xã hội của anh thức dậy, không khác gì các công dân mạng ở Trung Quốc bây giờ. Nhưng trong vụ em bé Duyệt Duyệt, một con cừu bé nhỏ đang bị những bánh xe vận tải “ăn thịt,” thì ai đóng vai con chó sói?

Con chó sói tham ăn trong câu chuyện em bé Duyệt Duyệt là cả xã hội Trung Quốc chung quanh. Rất nhiều người đang chạy đuổi theo đồng tiền, và chỉ biết chăm lo quyền lợi của chính mình, không cảm thấy có trách nhiệm phải cứu đồng loại. Ai tạo ra những con chó sói? Trên trang Weibo của mạng lưới Sina, Giáo Sư Lý Hoa Ðông tìm thủ phạm: “Cái gì đã gây nên cảnh tang thương này? Các viên chức chính quyền? Những người giầu có nhất trong nước? Hay chỉ vì tánh lãnh đạm thờ ơ của chúng ta?” Ông Vương Dương (Wang Yang), bí thư tỉnh ủy Quảng Ðông, nói rằng tai nạn này là một “tiếng chuông báo động,” đánh thức tất cả mọi người. Năm ngày sau khi tai nạn xẩy ra, một cuộc họp của Trung Ương Ðảng Cộng Sản cũng đưa ra lời kêu gọi phải nâng cao “cuộc sống tinh thần” của nhân dân Trung Hoa.

Ðấy là những lời tuyên bố rất hay. Nhưng câu hỏi tiếp theo là “Người ta phải làm gì? Làm cách nào nâng cao được đời sống tinh thần người dân trong một nước?”

Cả ba điều ông Lý Hoa Ðông nêu ra đều không phải là nguyên nhân gốc của căn bệnh; mặc dù đều đóng góp một phần gây nên thái độ vô trách nhiệm tập thể. Những người giầu có trong nước Trung Hoa không nhất thiết là những người chỉ biết ích kỷ, duy lợi. Các viên chức chính quyền không ngăn ngừa một tai nạn như vậy cũng chịu trách nhiệm, nhưng không thể nói họ đã khuyến khích mọi người dân lãnh đạm thờ ơ trước cảnh khổ của đồng loại. Còn tánh ích kỷ, thờ ơ của những người qua đường? Họ đã nhiễm tính đó từ lâu, trong kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày, lâu lâu tính đó có dịp biểu hiện ra, nhưng không phải họ được sinh ra đời với tính tình như vậy. Chính cuộc sống xã hội đã tạo ra tinh thần lãnh đạm, thờ ơ của đám đông.

Câu chuyện Lỗ Tấn kể xẩy ra trong thời gian nước Trung Hoa đang hỗn loạn. Trong nước thì các lãnh chúa và đảng phái tranh quyền, cuối cùng là hai phe, chính quyền Quốc Dân Ðảng và phong trào Cộng Sản; trong lúc quân Nhật đang xâm chiếm. Người Trung Hoa thời đó đã sống hàng thế kỷ trong loạn lạc, xã hội không còn kỷ cương nữa. Người giầu cũng không biết số phận mình mai sau sẽ ra sao, họ lo tích trữ tiền bạc phòng thân. Các tay lãnh chúa lo bảo vệ quyền hành của họ, sợ mất quyền thì không những mất tài sản, lợi lộc mà có thể còn mất mạng. Trong khung cảnh đó, những người dân bình thường không cảm thấy họ chia sẻ trách nhiệm về người khác.

Tâm lý ích kỷ, thờ ơ, vô trách nhiệm trước đồng loại đó vẫn duy trì và củng cố thêm trong chế độ cộng sản. Ðảng Cộng Sản tập trung cả hai thứ, của cải và quyền hành vào trong tay một nhóm người. Việc gì cũng do Ðảng và Nhà nước quyết đoán. Họa hay phúc đều do Ðảng và Nhà nước ban phát. Làm sao tôi có thể lo lắng cho số phận người hàng xóm của tôi, trong khi chính cá nhân tôi cũng không biết Ðảng và Nhà nước sẽ cho mình được số phận thế nào?

Muốn tránh cảnh “ai cũng là người qua đường” như trong chuyện em bé Duyệt Duyệt, người Trung Hoa phải tập lại lối sống cũ, khi mọi người đều thấy mình có trách nhiệm đối với mọi người. Người dân phải tập sống có trách nhiệm. Kinh tế thị trường bắt đầu tập cho người ta thói quen không trông chờ cấp trên ra lệnh phải ăn cái gì, mặc quần áo thế nào. Nhưng chỉ khi nào người dân được hưởng tự do và chịu trách nhiệm chọn lựa những người cai trị, họ mới thật sự cảm thấy mỗi người có trách nhiệm về cả xã hội mình. Trách nhiệm chỉ phát sinh người ta được tham dự, được lựa chọn và chịu hậu quả về lựa chọn của mình. Tinh thần liên đới chỉ phát sinh khi mọi người đều được bình đẳng tham gia trong các quyết định chung. Phải thay đổi chế độ chính trị ở Trung Quốc thì, hy vọng trong một thế hệ, mới tập được những thói quen mới đó.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Việt-Kiều

Tống-Phước-Hiến

Cuộc chiến-tranh vừa qua, nhiều người lầm tưởng đã kết thúc vào ngày 30.4.1975 và bị đánh giá là cuộc nội-chiến Nam Bắc, mà Cầu Hiền-Lương vắt qua giòng sông Bến-Hải, trên Vĩ-tuyến 17 là biểu-tượng cho một giai-đoạn xót-xa của lịch-sử. Thật ra, cuộc chiến-tranh đó vẫn được tiếp-diễn, nhưng theo thế-trận khác và ý-nghĩa cũng được nhận-định lại đúng đắn hơn !

Sau 30.4.1975 Cộng-sản phơi bày chân-tướng là một lũ phỉ quyền tham ác lưu-manh; nên Người Quốc-Gia giành đoạt được chính-nghĩa và tiến-hành cuộc chiến-tranh giải-phóng Dân-tộc hầu có điều-kiện đưa đất-nước đến phồn thịnh, nhân-dân được tự do. Trận quyết đấu nầy, người Quốc-Gia đang thắng-thế, từng bước chứng-minh Cộng-sản Việt Nam là tội-phạm nhân-loại, là tội-đồ Dân-tộc. Nhưng bỗng nhiên hàng-ngũ chúng ta có hiện-tượng giao-động, địch biết tránh né, thoát hiểm. Thì ra, chúng ta đang bị một loại “nội thù” rất nguy-hiểm mà mọi người thường gọi bằng tên nghe khá hiền lành “Việt-kiều” !.

Tất-cả những người Việt Nam, nếu không là bọn có quyền thế sống hoan-lạc trên nỗi thống-hận Dân-tộc, và nếu có điều-kiện đều phải đành lòng chấp-nhận gian-nan, nghiệt-ngã, nguy-hiểm, đau nhục để đào thoát ra đi. Sóng nước đại-dương, rừng sâu, hải tặc, thổ-phỉ…... không cản ngăn được ý chí. Họ đào thoát khỏi Cộng-sản dưới nhiều hình-thức như vượt biên, vượt biển, con lai, bảo-lãnh đoàn tụ, cựu tù nhân (H.O), Cựu nhân-viên Chính-phủ Hoa-Kỳ (U.11), thuyền-nhân hồi hương (ROVR); đào tỵ khi xuất ngoại như công-tác, biểu-diễn nghệ-thuật, thi đấu, công-nhân trong chương-trình"xuất-khẩu lao-động"; ngay cả những du-học-sinh hay du-lịch… v.v...phần đông trong thâm tâm họ cũng mơ ước cho toàn dân Việt Nam thoát khỏi ách nạn Cộng-sản.
Ðối với Việt-cộng, những người hội đủ điều-kiện được tái định-cư ở nước ngoài khi trở về Việt Nam đều bị xếp vào loại người có danh xưng là “Việt-Kiều”.
Nếu lấy 30.4.1975 làm thời-điểm, thì trước đó đã có nhiều đợt người Việt Nam đến sinh sống tại nhiều nước khác với nhiều lý-do:

A.- Tỵ-nạn do bị bức hại:

I/ Thời nhà Lý có hai đợt ra đi của hai Thân Vương nhà Lý và cùng trôi giạt vào nước Cao-Ly (hay còn gọi là Triều-Tiên hoặc Ðại-Hàn):
1/ - Ðại-Ðô-Ðốc Kiến-Hải-Vương Lý Dương-Côn cùng chiến thuyền binh-sĩ thuộc quyền, gia-nhân và gia-thuộc ra đi vì sợ bị phía bà Chiêu-Hiếu Thái-Hậu và Cảm-Thánh Hoàng-Hậu giết chết trong âm mưu tranh đoạt ngai vàng cho Hoàng-tử Thiên-Tộ (Tức vua Lý-Thần-Tôn).
2/- Các Ðô-Ðốc Kiến-Bình-Vương Lý-Long-Tường, Bình-Hải-Công Lý-Quang-Bật cùng hạm đội dưới quyền và khoảng 6.000 người vì tránh họa diệt tộc của Thái-Sư Trần-Thủ-Ðộ trong mưu-đồ tiếm-đoạt Vương quyền nhà Lý cho nhà Trần.
II/ Thời nhà Nguyễn cũng có nhiều đợt với nhiều lý-do, đa số cư ngụ tại Bangkok Thái-Lan:
1/ - Nhóm cùng bôn tẩu theo Nguyễn-Ánh (tức vua Gia-Long), vào cuối Thế-kỷ thứ 18.
2/ - Nhóm theo Thiên-chúa-giáo lánh-nạn sát đạo dưới thời Minh-Mạng, Thiệu-Trị (1820 –1847).
3/ -Nhóm thuộc hạ của Cụ Phan-Ðình-Phùng trốn giặc Pháp vào khoảng 1895.
4/ -Nhóm theo Cụ Phan-Bội-Châu (1908 – 1909).

B.-Vì những lý-do khác:

Bị Thực-dân Pháp lưu-đày, ép buộc trong chương-trình mộ dân, gia-nhập Quân-đội Liên-hiệp Pháp, du-học và không trở về hoặc xuất bôn chiến-đấu giành chủ-quyền cho Tổ-Quốc. Phần đông lưu-trú tại Pháp hay các Quốc gia thuộc Pháp, hoặc Trung-Hoa, Cao-Mên. Ai-Lao. Ngoài ra còn có một số ít định-cư tại những Quốc-Gia khác vì nhiều lý-do.
Trước khi đất nước rơi vào tay Cộng-sản, những người có nguồn-gốc Việt Nam, đang sinh-sống ở nước ngoài được gọi là Kiều bào để phân-biệt những sắc dân khác trú ngụ trên lãnh-thổ Việt Nam như Ấn-kiều, Hoa-kiều, Pháp-kiều. Nên khi Cộng-sản gọi những người Việt Nam đang định-cư ở nước ngoài là Việt Kiều đã hàm chứa ý-nghĩa những người nầy không còn là người Việt Nam. Số phận Việt Kiều chơi-vơi giữa người Ngoại Quốc và người Việt Nam tùy theo từng trường-hợp, nhưng bao-giờ Việt Kiều cũng bất-lợi kể cả trường-hợp so-sánh giữa Việt Kiều và những người thuộc các sắc dân khác cùng vào lãnh-thổ Việt Nam trong cùng thời-gian và cùng có lý-do phạm pháp giống nhau.

C.- So-sánh giữa Việt-kiều và ngoại-kiều:

1/-Giống nhau: Tất cả mọi ràng buộc về pháp-lý, hành-chánh, thuế khóa, kiểm-soát; những quy định gắt gao về giá trị kim ngạch hối xuất. Tóm lại không có sự khác biệt về phương-diện kiểm-soát quản lý và những gì thuộc về kinh-tế, tài chánh.
2/-Khác nhau: Nếu vì bất cứ lý do gì có liên-quan đến pháp-lý thì ngoại kiều được chi-phối bởi luật-pháp và thói quen mà quốc-tế đã chuẩn-nhận. Nhưng trong trường-hợp nầy thì Việt Kiều bị xem là " Công-dân Việt Nam”. Nghĩa là chúng thông-báo, hoặc xử phạt tùy theo ý chúng.
Chưa Quốc-gia nào có chính-sách kỳ-thị và ty-tiện với Kiều bào của mình như ngụy-quyền Cộng-sản Việt Nam. Dưới mắt chúng, Việt Kiều là thành-phần nguy-hại cho sự tồn tại chế-độ chúng, mặc dầu Việt Kiều cũng là con bò sữa giúp chúng hồi sức, đồng thời Việt Kiều cũng là những kẻ vong thân, nên Việt Kiều bị Việt Cộng xem như là những kẻ nô-lệ dùng để kháng-cự và tấn-công các tổ-chức yêu nước chân chính. Tóm lại, Cộng-sản Việt Nam xem khinh, xử -dụng sai khiến Việt Kiều nhưng lúc nào cũng rắp tâm hãm hại Việt Kiều .

Khi nền kinh-tế kiệt quệ, Cộng-sản thử nghiệm chính-sách chiêu-dụ Việt Kiều bằng nhiều hình-thức như: Gởi tiền, gởi quà, trở về thăm thân-nhân, du-lịch, hợp-tác, đầu tư làm ăn tại Việt Nam.
Có khá nhiều trường-hợp những Người Quốc-Gia chân-chính rất khổ tâm khi phải gởi tiền hay phải về Việt Nam vì tình-cảm, vì trách-nhiệm đối với thân-nhân, đồng-bào, đang lâm cảnh thiên-tai, lao đao cơ cực, hay đồng đội bị lăng nhục: xin được chia xẻ những hoàn cảnh cần có sự cảm-thông ấy. Ðồng thời cũng xin chân-thành nghiêng mình cảm tạ, ngưỡng-mộ những anh-hùng trở lại quê hương đối diện trực chiến với quân thù với quyết tâm lật đổ bạo-quyền Cộng-sản Việt Nam.
Ðối-tượng câu chuyện hôm nay là những Việt Kiều trở về trên tư-thế của kẻ “hãnh-tiến”, loại "áo gấm về làng", những kẻ đi tìm hoan-lạc trên nỗi đau thương bất hạnh của đồng-bào, đồng đội, những kẻ ích-kỷ manh tâm đồng-lõa với Cộng-sản bất chấp lương-tâm, làm chậm hoãn ngày bạo quyền sập đổ. Hãy nhìn lại Việt Kiều đã lưu lại dấu vết gì với đồng-bào, đồng đội trong nước:

D.-Việt-kiều đã làm đồng-bào, đồng đội trong nước thêm tủi nhục, cơ cầu:

Một Mỹ-kim có giá-trị tương-đương khoảng trên 20.000 đồng Việt Cộng nên Việt Kiều tiêu xài hoang-phí làm ảnh-hưởng vật giá gia tăng trong khi tiền lương không gia tăng. Tầm cách biệt giữa người có hay không có thân nhân hoặc thành-phần sống bám theo ảnh-hưởng Việt Kiều dài ra và cao thêm. Ðồng tiền ấy cũng xô đẩy những hạng người nầy với Việt Cộng gần nhau hơn và từ dó, hình thành ra giai-cấp mới gọi là liên-minh thống-trị. Ðồng tiền Việt Kiều cũng là nguyên-nhân chủ-yếu của các tệ-nạn hối-lộ tham nhũng, mãi-dâm, trộm cướp, cờ bạc dẫn đến bất công áp bức, và dĩ-nhiên nạn-nhân vẫn là lương dân nghèo khó.

E.-Việt-kiều giúp cho Việt Cộng chạy tội vi-phạm nhân-quyền:

Dù vô tình, thiển cận hay có toan tính, Việt Kiều tung những thông-tin, những hình ảnh phiến diện, biện hộ cho Cộng-sản; làm lu mờ chính-nghĩa, làm hàng ngũ chống Cộng bị ngộ nhận, bị trở ngại. Dưới nhiều hình-thức như hợp-tác, đầu tư, cố-vấn, giao-lưu “văn-hóa, nghệ-thuật”, và dù khoác chiếc áo “tình thương, cứu-trợ”. Việt Kiều vẫn là lực-lượng tiếp-sức hữu-hiệu cho bọn Việt Cộng. Bởi vì chính bọn Việt Cộng mới là kẻ được thụ-hưởng còn những người cùng khổ là đại đa-số người dân Việt Nam nghèo đói, khốn cùng chỉ được làm “vật nhân-danh”, thậm chí còn tủi nghèo cơ cực hơn, và bọn Việt Cộng càng phè phỡn tàn ác hơn. Thế nhưng chưa bao giờ Việt Kiều dám nhìn nhận sự ấu-trĩ, hèn nhát, phản-bội, và bất nhân của họ.
Tùy thuộc vào những gì Việt Kiều có và những gì Việt Cộng cần mà bọn chúng đổi thay sách lược. Sách lược hay chính sách là chiến-thuật. Chiến-lược là: trấn-lột là trả thù không bao giờ thay đổi ! Hãy đi ngược thời-gian để thêm lần nữa nhận-diện Việt Cộng đổi thay về cái gọi là chính-sách đối với Việt Kiều.

F.-Việt-Kiều là Phản-Quốc:

Cộng-sản xem những người vượt biên, vượt-biển trốn chạy chúng là phản quốc, phản-động, phản bội, là cặn bã, là bọn quen ăn bám, là vong bản, dĩ điếm, lười biếng v.v. không một hình-dung-từ xấu xa nhơ bẩn nào mà VC không dùng để ám chỉ, mô tả những người nầy, và dĩ-nhiên Việt Cộng cũng có chính-sách trả thù. Nếu không thoát được thì họ có thể bị bắn chết, bị hãm hiếp (nếu là nữ giới), bị lao tù đầy ải, tài sản bị tịch-thu. Bị gây muôn trùng khó khăn trong đời sống như thân-nhân bị giam giữ, bị điều-tra, vợ con, cha mẹ, anh chị em bị kềm chế quản-lý, bị kỳ thị. Và cuối cùng chỉ có tiền và vàng mới may ra những áp-lực những khe khắc được nới lỏng, nhưng cái tội Phản-Quốc vẫn còn đó, chờ cơ-hội lên án và trừng phạt.

G.- Việt-Kiều là khúc ruột nối dài:

Khi nền kinh-tế trì-trệ, tài sản Quốc gia bị Việt Cộng đục khoét tham nhũng; lầm than, thống-hận vượt tràn qua sức chịu đựng toàn dân, hội đủ những điều-kiện làm cuộc bạo loạn. Việt Cộng liền nhớ ra và cải danh bọn “Phản-Quốc” kia thành Việt Kiều; rồi hóa thân cho Việt Kiều thành “Khúc ruột nối dài”. Sau thời gian dè dặt thử-nghiệm, Việt Cộng thấy rằng còn có thể khai-thác tận-dụng phần bên trong của cái khúc ruột nối dài nầy. Và từ đó, thượng tầng đảng Mafia đỏ hình thành bộ phận Kiều-Vụ Nhiệm-vụ chủ-yếu của Kiều Vụ là nghiên cứu tìm ra phương cách gom góp ngoại tệ, khả-năng, trí-tuệ của Việt Kiều hầu giữ vững chiếc ghế quyền-lực, để túi tham được phồng thêm. Bộ-phận Kiều Vụ không những chiêu dụ Việt Kiều về thăm, làm cái gọi là từ thiện mà còn về mua bán đầu tư, thực hiện chương-trình giao lưu làm nền tảng cho bọn tư-bản đỏ đi ra, bọn phản-bội đi vào. Chúng kết nạp bọn vong thân, bọn bất lương rồi tổ-chức những bọn nầy thành lực-lượng khuấy phá, tạo hỏa mù làm mờ đi chính-nghĩa, làm nản lòng Người tâm huyết.
Nhưng hạnh-phúc không bao giờ đến với kẻ phản-bội! Không phải đó là lời răn đe mà còn là kinh-nghiệm, không những ở tình trường mà còn ở nhân-cách. Thật vậy, người Việt Nam định-cư nước ngoài tuy vì nhiều lý-do nhưng lại cùng một nguyên-nhân là kinh-tỡm Cộng-sản, họ cũng là chứng-nhân xác nhận bọn ngụy-quyền Cộng-sản Việt Nam là quân vô lại, bất-nhân, bạc-ác không đáng để được gọi là NGƯỜI nữa. Hầu hết, trước khi ra đi Việt Kiều đều ít nhiều ấp ủ:

Một ước mơ: Cộng-sản phải đổ

Một hoài bão: Nhân-dân Việt Nam được sống đúng với giá-trị con NGƯỜI.
Thoát được xiềng ách Cộng-sản, họ sẽ thay mặt đồng bào, đồng đội còn lầm than cơ cực, còn bị kềm kẹp để tố cáo tội ác Cộng-sản Việt Nam trước lương-tâm nhân-loại. Ước-mơ và ý-chí của họ thật đáng yêu và đáng kính. Họ đã làm rúng động lương-tâm loài người, và Nhân-loại cũng đã nghiêng mình cảm phục những Người Tỵ-Nạn Cộng-Sản Việt Nam họ đã từng được:”thế giới ngưỡng-mộ như những anh-hùng”.
Nhưng rồi vì một số trong những người Tỵ-nạn Cộng-sản Việt Nam năm xưa ấy đã nhẫn tâm trở giáo chém anh em cùng chung chí-hướng, họ phản-bội ngay cả ước mơ ban đầu của chính họ. Và chắc chắn rằng họ sẽ nhận lại hậu quả từ chính những người từng là đồng cảnh, cũng từng là đồng-tâm, đồng-bào, đồng đội và cũng chính ngay từ kẻ họ đang qùy gối cúi đấu. Sự phản-bội đã có hậu-quả xảy ra. Tương-quan giữa hậu-quả và nguyên-nhân là tỷ-lệ thuận.

H.- Loại Việt Kiều áo gấm về làng:

Mang tâm địa của kẻ hãnh-tiến nên chúng lấy sự đau xót, thương hận số phận bẽ bàng kém may mắn, hay sự mơ ước của những người vất vả nghèo khổ để tự mãn, để huênh-hoang, kiêu căng và thích thú. Chúng bất chấp đạo lý tối thiểu để thỏa mãn hoan-lạc dục vọng, chúng thú tính ngay cả những trẻ vị thành niên (lắm khi là con em của thân nhân, bè bạn, đồng đội năm xưa). Thế nhưng chúng cũng rất hèn hạ với bọn cán-bộ Cộng-sản để an toàn. Chính bọn Việt Kiều nầy, phần đông đã cung-cấp tin-tức, vu khống người Việt hải-ngoại cho Việt Cộng, biện-hộ và đồng-lõa sự tham bạo của Việt Cộng với nhân-dân trong nước. Khi trở lại nơi định-cư, chúng rỉ tai tuyên-truyền, nghe ngóng để báo cáo. Bọn Việt Kiều vô lại nầy tình-nguyện làm nô bộc không công, làm con chó giữ nhà và đánh cắp tài sản của người khác, có khi Việt Kiều cống nạp hoặc hỏang sợ trước quyền lực mà cúi đầu phủ phục trước mũi giày Cộng-sản hoặc a tòng với cộng sản trong những mưu-đồ bất chính. Thời gian qua, một số trong bọn nầy đã bị Việt Cộng cướp đoạt tài sản qua dàn dựng hoạt cảnh tai nạn lưu thông, du đảng xã hội đen; có tên bị thanh-toán bởi ghen tương.

I.-Việt-Kiều nhân-danh tình thương:

`Tình thương và lòng nhân-ái, Quê-hương và Tổ-quốc luôn trên đầu môi chót lưỡi bọn Việt Cộng, Việt Kiều. Kẻ lưu-manh tàn bạo thường che giấu chân-tướng bằng mỹ ngữ. Nên nạn nhân thiên tai, người nghèo khổ tật nguyền, những đồng đội ngày xưa oanh liệt nay gãy cánh bất hạnh lại bị bọn Việt-cộng liên minh với Việt Kiều bất lương kinh-doanh. Lấy tình thương làm bình phong. Nếu bị vạch mặt, chúng sẽ lẩn trốn với tấm thẻ bài khẩu hiệu không cấm vận tình thương (nói theo ngôn ngữ của Nhật-Tiến). Có người còn tính đến cả chuyện xây nhà, xây trường học, đào giếng, trả tiền lương cho cô thầy giáo, mở trường dạy nghề, xóa đói giảm nghèo v..v...(như của Nguyễn xuân Bảo hay của Vũ thành An - nghe đến đây Cộng-sản vừa ngạc-nhiên vừa mừng!)
Ðây là trách-nhiệm của ngụy-quyền Cộng-sản, toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước có nghĩa-vụ bắt buộc chúng phải trả lại quyền sống, quyền làm Người cho Dân Việt. Tại sao kinh-tế Quốc-doanh bao giờ cũng ghi nhận thua và ngân-sách Quốc-gia phải bù lỗ nhưng chúng không cho giải tư ? Bởi vì, toàn-bộ các công-ty Quốc-doanh phải đài thọ cho cá-nhân và toàn gia-đình của non 500 ủy-viên trung-ương đảng vừa hưởng bổng lộc suốt đời, vừa có tiền gởi ở ngoại quốc để thủ thân khi có biến động, vừa phải chi cấp cho khoảng 2.000 du học sinh là con cháu bọn cán-bộ. Theo sự tiết-lộ của "Tổng công-ty Xuất khẩu hải sản Miền Nam Seaprodex" (đơn-vị trực tiếp chi trả mọi chi-phí cho Mai-chí-Thọ, và tên Ðại-tá quản-gia của y, cho Vũ-đình-Liệu và một số quan chức đỏ khác) thì cứ 4 tháng 1 du học sinh (loại được du học do lý lịch) phải đóng cho trường học (College hay University) khoảng 1.500 USD học phí, tiền chi tiêu (ăn ở, xe cộ, bảo-hiểm...) 1.500 USD nữa. Như thế, cứ mỗi 4 tháng, chỉ riêng cho con cháu bọn cán-bộ đang du học thì toàn dân Việt Nam phải móc ra khoảng 6 triệu USD. Có biết nỗi niềm nầy không hỡi phường bất lương

J.-Việt-Kiều văn hóa, văn-nghệ:

Loại Việt Kiều nầy trở về khúm núm bợ đỡ xin áo cơm (như Hương Lan, Hoài Linh, Lệ Thu, Chí Tài, Chế Linh, Phượng Mai, Ý Lan…).Nhưng áo cơm không đủ cho nô bộc, có đâu cho lũ phản trắc. Bọn nầy bị lừa, chưa về thì háo-hức, lúc về bị khó khăn và trở ra bị chê bai là hương sắc tàn phai, là rẻ tiền, là phản giáo dục, là phi nghệ thuật (xem Thời-luận số ra ngày 12 và 19/8/2000) và đương-nhiên loại Việt Kiều nầy không tránh khỏi bị Người Việt Tỵ-nạn vốn là những khách hàng đang nuôi sống họ trách cứ hoặc tẩy chay.
Chưa về, cứ tưởng mình ngon
Về rồi cúi mặt như con chó hèn
Hay
Ngậm đầy một miệng bẩn nhơ
Nhổ ra e thẹn, nuốt vào thối tha
Việt kiều về nước hát ca,
Thân con chó ghẻ lê la gầm bàn.
Ước mong các ca-sĩ, các trung-tâm băng nhạc không dẫm lên nỗi đau của đồng bào dù nhìn với chiều hướng nào.

k.-Việt-Kiều về hơp tác kinh-doanh:

Bọn nầy là những tên thương lái vô lương-tâm, chúng biết đồng-bào, đồng đội nghèo khó, cần tiền, phải nhẫn nại, chịu đựng, nên chúng móc ngoặc với bọn cường quyền chèn ép bóc lột hà hiếp đồng-bào. Những vụ làm sỉ nhục công-nhân Việt Nam như bắt quỳ, đánh giày lên đầu, phạt trừ lương…...những chủ Việt Kiều nầy có thái-độ gì không ? Thưa không, rất rõ ràng là không !
Dưới mắt bọn Việt Cộng thì Việt Kiều phải là vật hy-sinh: Để bảo-vệ manh mối làm ăn, để tỏ thái-độ quyết-liệt với nhau khi nội-vụ bị phanh phui, để giữ bí mật lưu manh thương trường, lập tức Mafia Việt Cộng xử tử Việt Kiều để bịt đầu mối như vụ bà Việt-kiều Nguyễn Thị Hiệpở Canada, hay vụ tống vào tù để trấn lột như Việt-kiều Trịnh-vĩnh-Bìnhở Hòa-Lan với số vốn bị tước đoạt lên tới 20 hoặc 30 triệu Mỹ-kim; và Việt Kiều Lưu-hùng-Sơn tức Sonny Lưu 55 tuổi trú tại vùng Little Sài-Gòn Nam California, Hoa-kỳ đang bị “rắc rối” vì mang số tiền 25 triệu đô-la về làm ăn và đang quỵ lụy khẩn cầu được bỏ của cứu lấy thân !
Thực tế người dân trong nước quá bi thương khốn cùng. Đồng-bào căm hận Việt-kiều đã đóng vai Việt-gian, đồng lõa với Việt-cộng, gieo bao đau thương tan tác thãm-nạn, nên trong nước có câu ca-dao mới như sau:

Việt-Gian, Việt Cộng, Việt-Kiều,
Ba thằng Việt ấy, tiêu-điều Việt Nam.
Hay:
Việt-gian, Việt-cộng, Việt-kiều,
Ba thằng Việt ấy, đem bêu thằng nào ?
Việt-kiều, Việt-cộng, Việt-gian
Ba thằng giặc ấy, thằng nào cũng bêu

Ðể chấm dứt câu chuyện trao đổi hôm nay, tôi xin lược trình bài phóng-sự của ký giả Xuân Mai báo áp phê số 4 tại Paris:
Ông Nguyễn Minh Tuyền, 59 tuổi, định-cư tại Pháp năm 1980 với lá đơn có lời lẽ chân thành thống-thiết như sau: "Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù tôi không có ngày ra. Vì lý-do nhân-đạo, tôi trân-trọng thỉnh-cầu nước Pháp vui lòng chấp-thuận cho tôi được tỵ-nạn chính-trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự-do nầy, và tôi chỉ trở về xứ cũ, khi nào Quê-hương tôi không còn duy trì chế-độ Cộng-sản”. Nhưng ông Tuyền đã phản-bội tư-cách tỵ-nạn của ông liên-tục từ năm 1995 đến Tết Canh-Thìn 2.000 tới 7 lần (Chôn bà nội 3 lần, 2 lần chôn bố và 2 lần chôn mẹ mà không hề xin phép OFPRA (Office Francais de Protection des Réfugiés et Aptrides – Cơ-quan bảo-vệ những người tỵ-nạn và vô Tổ-quốc tại Pháp) hoặc giấy Sauf-Conduit (hộ-chiếu đặc-biệt) của Cảnh-sát địa phương. Ngày 26.7.2000 ông Tuyền và 544 người Việt khác được OFPRA gởi thư thông-báo rút lại thẻ tỵ-nạn với lý-do: "Ông tự-ý trở về xứ cũ, khi chế-độ độc-tài Cộng-sản chưa chấm dứt, nhưng không hỏi ý-kiến hoặc thông-báo cho cơ-quan chúng tôi biết, để bảo-vệ sinh mạng cho ông, tức là ông đã từ bỏ quyền tỵ-nạn chính-trị, không cần đến sự che chở của chúng tôi nữa. Chiếu theo đìều I khoản A-2 của Hiệp-định Genève ngày 28.7.1951, chúng tôi thu hồi lại thẻ tỵ-nạn. Ðồng thời cũng trình lên Cao-Ủy Tỵ-Nạn Liên-Hiệp-Quốc, kể từ hôm nay, OFPRA không còn chịu trách-nhiệm với ông, về tình-trạng cư-trú, xin việc làm, hưởng trợ -cấp xã-hội, theo diện tỵ-nạn chính-trị”. Ðược biết từ năm 1988 đến tháng 7 năm 2000, tổng số người Việt lâm vào tình-trạng tương-tự là 22.417 người. Theo lời ông M.Motu thì người tỵ-nạn có quyền trở về xứ cũ trong trường-hợp đặc-biệt như con cái, cha mẹ, anh chị em ruột bị bịnh nặng, đang hấp hối, chết ; trong các trường hợp đó người tỵ-nạn có thể đến Préfecture sở tại xin cấp Sauf-Conduit. Sẽ phạm luật nếu đến tòa Ðại-sứ Việt Cộng xin visa trước khi có hộ-chiếu đặc-biệt. Tên trưởng-phòng cấp chiếu-khán Việt Cộng rất đểu cán khi giải-thích vấn-đề nầy: "nhà nước Việt Nam rất có thiện-chí trong vấn đề hàng tháng cung cấp danh-sách ghi nhận tất-cả người Việt Nam mang Titre de Voyage (thẻ thông-hành) lên sứ-quán xin nhập cảnh cho Préfecture biết để Préfecture thông báo lại cho OFPRA. Chúng tôi hợp tác việc ấy với chính-phủ Pháp là nhằm mục-đích chứng-minh cho dư luận Quốc-tế thấy rằng, bọn Việt-kiều nầy lếu láo, chạy qua đây vì lý-do kinh-tế, kiếm việc làm, chớ không phải vì nhà nước chúng tôi đàn áp, bắt bớ, tra tấn, giam cầm, chà đạp nhân-quyền như bọn họ đã từng vu-khống”. Và một giới chức cao cấp trong bộ Ngoại-giao Pháp mạnh-mẽ phản-đối:
- Chính-phủ Pháp không bao giờ hại người vô tội như thế. Chính-phủ Việt Cộng từ lâu, qua các trào Võ-văn-Sung, Mai-Văn-Bộ, Trịnh-ngọc-Thái, Nguyễn-chiến-Thắng và Nguyễn-mạnh-Dũng đã xem người Việt Nam là thành-phần cực-kỳ phản-động, cần phải triệt-hạ, khéo-léo áp-dụng chính-sách gậy ông đập lưng ông” .
- Dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho người Việt tỵ-nạn về thăm nhà, dù thừa biết rằng, họ không có quyền. Ðây là cách thức giúp người tỵ-nạn phạm pháp, để một ngày kia họ sẽ bị OFPRA rút thẻ ty-nạn.
- Sau khi cấp chiếu khán bừa- bãi, tòa đại-sứ lại ra thông-cáo cho Bộ Nội-Vụ Pháp biết rõ tên tuổi từng người xin cấp visa về Việt Nam .
- Một khi bị rút thẻ ty-nạn, họ bị mất luôn thẻ thường-trú (Carte de séjour). Muốn xin việc làm phải có thẻ Lao-động (Carte de travail). Nếu muốn cư-ngụ trên 3 năm phải trình Passport của CSVN. Như thế người tỵ-nạn đang được sống Tự-do, bỗng trở thành công-dân Việt Cộng, đặt mình dưới sự kiểm-soát của CSVN cho đến mãn kiếp.
- Chính-phủ CSVN cũng phải hiểu rằng, tán trợ, hoặc giúp đỡ người phạm pháp, cũng phạm tội đồng-lõa. Cấp visa cho người tỵ-nạn tức là cố ý phạm luật bang giao giữa hai nước. Chúng tôi nghĩ, đã đến lúc nên đặt lại vấn-đề nầy với chính-phủ CSVN

Ðồng-bào trong Nước đã đầy ắp thống khổ và căm-hận. Chấm dứt ngay những con người manh-tâm mang "lòng Việt gian" trong chiếc áo Việt Kiều. Những hình ảnh nêu trên chắc cũng đủ thức tỉnh lương tâm một số người, nếu có và còn muốn trở thành VIỆT KIỀU.

Tống-Phước Hiến

Ho Chi Minh licked the heels of Marx, Lenin and Mao.
Ho Chi Minh was merely a dog loyal to the Soviet and China.
Ho Chi Minh is a cursed devil
Hồ Chí Minh liếm gót giầy của Marx, Lenin và Mao.
Hồ Chí Minh chỉ là con chó trung thành với Nga & Hoa.
Hồ Chí Minh là con quỷ bị nguyền rủa

All men are enemies. All animals are Comrades
Loài người là thù nghịch. Tất cả súc vật là đồng chí.

Hôm qua Đảng hứa quyết lòng:
Cái kim sợi chỉ, Đảng không tơ hào.
Hôm nay ma quỉ ập vào
Cái kim để lại, bạc vàng cào đi

Dân khờ trố mắt xầm xì:
Hôm tê giải phóng, bửa ni côn đồ
Đảng rằng: "Đảng có dối chi,
Vàng bạc qúi giá, báu gì kim may"

Luôn luôn hãy nhớ câu nầy
Cướp đêm là giặc, cướp ngày (là) cộng nô
Ngày đi: Ðảng gọi Việt gian
Ngày về: Ðảng lại chuyển sang Việt kiều

Chưa đi: phản động trăm chiều
Ði rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng
Trốn đi: Ðảng bắt đến cùng
Trở về: mời gọi, săn lùng Đô la

Việt Minh, Việt Cộng, Việt kiều
Trong ba Việt ấy, Đảng yêu Việt nào
Việt Minh tuổi đã khá cao
Việt Cộng ốm yếu xanh xao gầy mòn

Việt Kiều tuổi hãy còn non
Đảng yêu, Đảng quý như con đầu lòng

Ngày xưa: chửi Mỹ hơn người
Ngày nay: nịnh Mỹ hơn mười lần xưa
Ngày xưa: đánh Mỹ không chừa
Ngày nay: con cái lại lùa sang đây
Ngày xưa: Mỹ xấu, Ðảng hay
Ngày nay: Ðảng ngửa hai tay xin tiền!
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

MỸ MUỐN THOÁT KHỎI SUY THOÁI KINH TẾ
Á CHÂU LÀ MỘT PHẦN CỦA CÂU TRẢ LỜI

Tổng thống Hoakỳ Barack Obama lên đường đến Hawaii vào ngày 10/11/2011, để chủ trì hội nghị thượng đỉnh của Diễn Đàn Hợp Tác Á Châu Thái Bình Dương – APEC. Theo thông tín viên đài VOA Dan Robinson thì: “Ông Obama đem theo những lời cam kết về kinh tế và an ninh trong chuyến đi 9 ngày, trong đó ông ghé Australia và dự cuộc họp thượng đỉnh Đông Á ở Bali Indonesia”. “Cuộc họp thượng đỉnh lần này diễn ra vào lúc tổng thống Barack Obama tiếp tục các nỗ lực thúc đẩy nền kinh tế Hoakỳ thoát ra khỏi cuộc suy thoái, và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của mậu dịch tự do, trong việc giúp tạo dựng công ăn việc làm, và thách thức cạnh tranh từ phía các nền kinh tế Á châu, nhất là Trungquốc”. Ông Ernest Bower thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế và Sách Lược Hoakỳ cho hay: “Ông Obama cũng gửi đi một thông điệp cho người dân Mỹ trong nước… Tổng thống cần phải bênh vực cho lập trường rằng, nếu chúng ta muốn thoát ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế, thì Áchâu là một phần của câu trả lời, và trở lại chiếm ưu thế về mậu dịch sẽ dứt khoát là điều chủ yếu”.

Trước cuộc họp APEC lần này, giới chức Hoakỳ như bộ trưởng quốc phòng Mỹ Leon Panetta, thứ trưởng ngoại giao William Burns đã đi thăm khu vực và đưa ra những lời cam kết về sự hiện diện quân sự và tự do mậu dịch ở trong vùng, dù ngân sách của Mỹ có cắt giảm ra sao, thì sức mạnh quân sự của Mỹ tại Áchâu vẫn không thay đổi. Thứ trưởng ngoại giao Burns nhận định: “Trong một mối quan hệ phức tạp như thế này, thì xung đột và hợp tác đều là những điều không tránh khỏi. Vì vai trò của Trungquốc trong thế giới gia tăng, giữ cho mối quan hệ đi theo hướng xây dựng sẽ là một thách thức quyết định cho cả hai bên”. Ông Bower giải thích: Sự hiện diện về an ninh của Hoakỳ rất được hoan nghênh để tạo ra thế quân bình cho điều mà nhiều người nhận thấy là thái độ hung hăng của Trungquốc hồi gần đây, nhất là trong vùng biển Nam Trungquốc - biển Đông Việtnam- và quần đảo Senkaku, hay là Điếu Ngư Đài ở phiá Bắc”.



Rõ ràng là Trungcộng vừa là Đối Tác Kinh Tế vừa là Đối Trọng An Ninh với Hoakỳ. Dù cho Trungcộng đang là chủ nợ lớn nhất của Hoakỳ, nhưng Tầu cầm tiền đôla của Mỹ mà cho Mỹ vay thì có khác gì ‘chở củi về rừng’. Quyền tăng hay giảm giá đôla đều nằm trong tay Mỹ. Điều quan trọng là vốn đầu tư của Mỹ và ảnh hưởng của Mỹ đối với các công ty đa quốc gia đang đầu tư tại Hoalục luôn luôn có tính quyết định. Nhất là thị trường Mỹ, nơi tiêu thụ chính đối với các sản phẩm của Tầu. Vì vậy mà về mặt đối tác kinh tế, Mỹ có nhiều ưu thế hơn hẳn Tầu. Còn về an ninh quốc phòng thì viên tướng tổng tham mưu trưởng quân đội Trungcộng Trần Bỉnh Đức đã phải thừa nhận: “Một khoảng cách 20 năm đang hiện hữu giữa quân đội Hoakỳ và quân đội Trungquốc”. “Trungquốc không có khả năng để thách thức Hoakỳ”. Có nghĩa là 20 năm nữa quân đội Trungcộng mới tiến bằng quân đội Hoakỳ hôm nay, Nhưng quân đội Hoakỳ đâu có đứng chờ Trungcộng. Họ sẽ đi tới, và chẳng bao giờ Trungcộng bắt kịp Hoakỳ. Vậy mà Hoakỳ vẫn phải giữ tư thế Đối Trọng An Ninh với Trungcộng là vì các nước láng giềng của Trungcộng ở vùng Đông Nam Á còn quá yếu so với Trungcộng cả về kinh tế lẫn quân sự, dễ cho Trungcộng thực hiện âm mưu bành trướng.



Không những Mỹ luôn luôn nói và chứng tỏ sẽ giữ vững tư thế bảo vệ Áchâu để thực hiện vai trò lãnh đạo thế giới, mà còn tạo điều kiện cho Ấn, Nhật, Úc cùng với Mỹ hình thành một Vòng Cung Chiến Lược Dân Chủ, tiến vào Biển Đông, để giúp đỡ các nước Đông Nam Á đứng vững trong Mặt Trận Ngăn Bành Trướng Bắckinh, phát huy thế mạnh của Kinh Tế Tự Do và sớm Dân Chủ Hóa chế độ, để Asean trở thành một khối quốc gia ngang tầm với các cường quốc thế giới. Bước đầu tiên là vô hiệu hóa chủ trương của Trungcộng tự nhận chủ quyền 80% diện tích Biển Đông, qua hình vẽ ‘đường lưỡi bò’ của người Tầu. Bằng giải pháp “Thương Thảo Đa Phương”, dựa trên Công Ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc 1982. Rồi với những cuộc hội thảo quốc tế để chỉ ra rằng: Theo Công Ước về Luật Biển LHQ, thì dù 2 quần đảo Hoàngsa, Trườngsa thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào, thì cũng không có “Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý” Đồng thời tại nơi đây luôn luôn đưa ra những lời cảnh báo về sự hung hăng đe dọa của Bắckinh. Đẩy Trungcộng vào thế bị cô lập đối với dư luận quốc tế. Xem ra biện pháp này đã đưa lại kết quả cụ thể, là các nước trong vùng Đông Nam Á xích lại gần nhau hơn. Chính quyền Miến Điện đã trút bỏ được chiếc áo nhà binh, quay lưng lại với Trungcộng, bắt tay với Ấnđộ, và tỏ ra thân thiện với Tây Phương. Khởi sự thả tù chính trị. Hợp tác với lực lượng Đối Lập của lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi nhằm đẩy mạnh công cuộc Dân Chủ Hoá nước Miếnđiện. Trợ lý ngoại trưởng Hoakỳ về Dân Chủ và Nhân Quyền tuyên bố: “Hoakỳ muốn thừa nhận rằng, những gì đang làm tại Miếnđiện mang tính tích cực”.



Riêng Việtnam thì đảng Cộngsản Việtnam, tự nhận mình là lãnh đạo nhà nước, nhưng Tổng Bí Thư Đảng lại cứ chui đầu vào làm đầy tới cho Trungcộng, ngoan ngoãn chấp nhận giải pháp thương thảo ‘song phương’ về chủ quyền Biển Đảo với Bắckinh, hoàn toàn không dám đề cập gì đến chủ quyền của Việtnam tại Hoàngsa và Trườngsa, mà Trungcộng đã đánh chiếm của Việtnam. Dù trong khi đó thì cho Chủ Tịch Nước đi sang Ấnđộ, Philippines, Nam Hàn và dự hội nghị APEC. Thủ tướng Việtcộng ký với Đức, đi Âuchâu, Nhậtbản về các thỏa hiệp kinh tế, nhưng với bất cứ nước dân chủ nào, người ta cũng đều nhận thấy vấn đề nhân quyền Việtnam là một trở ngại lớn. Vì không một quốc gia dân chủ văn minh nào, mà chịu được cảnh một chính quyền ngồi thảo luận ngang hàng với họ, lại sử sự với dân chúng của mình giống như bọn côn đồ. Hành động đạp vào mặt người yêu nước biểu tình ôn hòa chống ngoại xâm. Thô bạo giải tán các cuộc biểu tình ôn hòa chống Trungcộng xâm lăng. Hành động cho công an, dân phòng, đội lốt côn đồ, đập phá nhà thờ Thái Hà, hành hung các tu sĩ và giáo dân, dưới sự bảo vệ của cảnh sát, công an nhà nước. Bắt bớ, tù đầy những người lên tiếng đòi dân chủ, tự do tôn giáo, và các blogger tranh đấu cho nhân quyền. Đến đây thấy rằng, vấn đề Trungcộng tuy gai góc đối với Mỹ, nhưng không khó khăn, tế nhị bằng việc đối phó với Việtcộng. Mỹ vừa muốn giúp Việtnam đứng vững trước sự lấn chiếm của Trungcộng, nhưng Việtcộng là một chế độ vi phạm nhân quyền có hệ thống, trở thành quán tính khinh dân, mà cũng sợ dân nổi loạn. Nên dù Mỹ đã thực hiện 16 vòng Đối Thoại Nhân Quyền Mỹ-Việt, mà vấn đề Nhân Quyền Việtnam ngày càng tồi tệ thêm. Nói gì đến việc trông mong Việtcộng tự Dân Chủ Hóa chế độ.

LÝ ĐẠI NGUYÊN
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

BÀI NÓI CHUYỆN NHÂN NGÀY RA MẮT SÁCH:
THẮP MỘT NGỌN NẾN CHO THÁI HÀ


Nguyễn Thế Phong
Năm 1996, tôi đuợc mời nói chuyện với tư cách diễn giả cho một phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Các Giáo Hội tại Victoria (Council of Churches) bao gồm các vị lãnh đạo tinh thần các giáo hội Kitô giáo tại Melbourne. Cử toạ gồm có các vị Tổng Giám Mục, Giám mục, Thượng phụ, linh mục, mục sư v.v... Đề tài được trao cho tôi là: “Should the Church butt-out of politics?” Là một giáo dân bình thường được mời để nói về một đề tài hệ trọng như thế này cho một cử toạ uy quyền và quan trọng như thế quả là một điều tôi chưa từng dám nghĩ đến chớ nói chi đến việc thuyết trình!

Tôi đã khởi đầu buổi nói chuyện bằng một câu hỏi và định nghĩa về vai trò và trách vụ của hai chữ “Mục tử” (người chăn chiên, hay mục đồng). Tôi cũng dẫn chứng lời chúa Giêsu đã nói: “Người mục tử đích thật và tốt lành là người mục tử dám hy sinh mạng sống của mình vì đoàn chiên” như là một thước đo và là một tiêu chuẩn dùng để đánh giá một mục tử đích thật và chơn chánh. Ngược lại chúa Giêsu cũng đã ví những mục tử giả hiệu như những người, khi thú dữ tới thì họ bỏ mặc đoàn chiên để chạy thoát lấy thân.

Thứ đến tôi phân tách và nhấn mạnh về một câu nói khá phổ biến trong các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo rằng: “Là những người tu hành, chúng tôi không làm chánh trị” và điều này đã dẫn đến tình trạng chính phủ Úc tuyên bố rằng “Quý vị không nên can dự vào việc của chánh trị, thậm chí nên tránh xa chánh trị “You should butt-out of politics.” Ý họ muốn nói rằng vai trò của linh mục, giám mục, tu sĩ là cho cho phần hồn (spiritual matters) nên hãy để cho chính phủ lo phần xác.

Tôi đã đưa ra một tình trạng đơn giản đó là: Khi bầy cho sói tấn công để ăn thịt bầy chiên, người mục tử chẳng những không cản ngăn, không đóng cửa chuồng, không đánh đuổi hay cản ngăn bầy sói nọ mà chỉ xác định với bầy sói nọ rằng: ta chỉ là kẻ chăm sóc phần hồn, phần xác không thuộc phần trách nhiệm của ta, các ngươi cứ tự tiện, miễn là cho ta được phép xức dầu và cầu nguyện cho những con chiên này là đủ vì đó là bổn phận và vai trò của ta là linh mục.

Chữ “linh mục” chẳng có nghĩa là “mục tử của linh hồn” đó hay sao? Tôi đã thưa với các vị lãnh đạo Ki Tô giáo rằng: nếu quý vị có thể tách hồn ra khỏi xác được thì quý vị có quyền chỉ là linh mục mà thôi. Nhưng nếu không làm được điều đó thì quý vị có bổn phận phải lo cho phần xác của con người vì cả xác và hồn mới làm nên con người sống – con chiên sống. Các linh mục, vì thế, không còn có một chọn lựa nào khác hơn là phải xem việc đấu tranh chánh trị (chứ không phải là làm chánh trị gia, nắm quyền), phải xem việc đấu tranh cho môi trường và cuộc sống của tín hữu mình là một bổn phận thiêng liêng và cao cả của thiên chức linh mục. Nếu phải chết, tù đày để làm điều đó thì cũng phải làm vì tiêu chuẩn chú Giêsu đã đưa ra để đánh giá một linh mục có thật xứng đáng gọi là một linh mục hay không ở chỗ vị ấy có dám hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ đàn chiên hay không!

Vài ngày sau đó, hội đồng giám mục Úc châu đã trả lời với báo chí Úc rằng: Chính phủ và các chánh trị gia phải “butt–out” ra khỏi trách nhiệm và bổn phận của giáo hội đó là lên tiếng bênh vực và bảo vệ cho quyền lợi của các con chiên mà giáo hội đang là mục tử!

Tôi đã vô cùng sung sướng và hãnh diện khi đọc được những bài giảng của linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh trong tuyển tập 30 mươi bài giảng của ngài tại VN. Tôi vui mừng vì Ngài đã hiểu đúng và thấu đáo vai trò linh mục của mình. Sống trong một xã hội mà lúc nào cũng có người rình rập và sẳn sàng bỏ tù những linh mục dám lên tiếng nói sự thật và đòi hỏi công lý và nhân quyền, hành động và lời giảng của cha Tỉnh trở nên anh dũng và có giá trị vô biên. Gương bắt bớ, tù đày của linh mục Nguyễn Văn Lý và của người tín hữu Tin lành Lê Thị Công Nhân đã không làm cho cha chùn bước, trái lại càng làm cho Ngài mạnh dạn hơn lên, thông hiểu hơn và xác tín hơn sứ mệnh và vai trò của một linh mục và bổn phận người con dân Việt của mình nhiều hơn nữa. Như cha Nguyễn Hữu Lễ ở hải ngoại đã tuyên bố: “Trước khi là linh mục tôi là người VN” Cha Lý, Cha Lợi, Cha Lễ, Cha Khải, Cha Tỉnh, Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là những người đã hiểu đúng và chính xác vai trò của giáo hội, của giám mục, linh mục, tu sĩ và của giáo dân Công Giáo VN đối với đồng bào và đất nước.

Đối với tôi, bài giảng “Tỏa Sáng Niềm Tin” (trang 186-195) của cha Tỉnh đã nói lên được tất cả những gì cần phải được chia xẻ, xác định và xác tín cho các nhà lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ của GHCGVN và giáo dân Công Giáo VN trong cũng như ngoài nước về vai trò, bổn phận và trách nhiệm của mình đối với đồng bào và đất nước thân yêu hiện nay.

Cha Tỉnh đã giảng rằng: “Đức Giê-su không phải là một nhà hùng biện nói thật hay để ta nghe cho sướng tai, không phải là một nhà trí thức siêu đẳng với những pho sách dày cộm làm ta lác mắt, không phải là một lý thuyết gia đưa ra những tư tưởng lỗi lạc khiến chúng ta sững sờ. Không, Ngài là Thiên Chúa làm người để cứu độ con người. Và để đạt được mục tiêu đó, Ngài đã chấp nhận trả giá ‘Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình’ (John 15,13). Đây không phải là một công thức khô khan trừu tượng, nhưng là một nguyên tắc Đức Giê-su đã áp dụng cho chính mình qua cuộc thương khó và cái chết trên thập giá mà Hội Thánh tuởng niệm một cách đặc biệt long trọng mỗi năm một lần trong suốt cả Tuần Thánh” .

Cha đã dùng hai tấm gương và cuộc thương khó hy sinh của hai người Kitô hữu VN để làm ví dụ điển hình đó là: Ls Lê Thị Công Nhân, tín hữu Tin Lành và Cha Ta-đê-ô Nguyễn Văn Lý. Cả hai, thể theo ngài “thay vì đi con đường trơn tru suông sẽ mà bao người vẫn đi, đã chọn con đường gai góc, con đường đấu tranh, con đường thánh giá”. Cô Nguyễn Thị Công Nhân, tốt nghiệp cử nhân luật ở tuổi 22, hai năm sau đã là thành viên của luật sư đoàn Hà Nội và luật sư đoàn quốc tế, cô đã có nhiều điều kiện thuận lợi để thành đạt trên đường đời. Nhưng vì lợi ích dân tộc, cô chấp nhận quên mình, chấp nhận dấn thân vào con đường tranh đấu cho tự do dân chủ, chấp nhận tù đày và mất trọn tương lai và sự nghiệp. Riêng về cha Lý, cha Tỉnh viết: “nếu chấp nhận làm một ông cha xứ ngoan ngoãn: hăng hái thì tham gia sinh hoạt trong Ủy Ban Đoàn Kết để dễ bề thăng quan tiến chức, không nữa thì ít là đừng chọc phá Nhà Nước, chuyện trên trời thì tha hồ mà nói, chuyện dưới đất, chuyện xã hội thì hoặc là đừng nói, hay có nói thì nói chung chung, vô thuởng vô phạt. Nếu thế thì giờ này, ít ra Cha cũng được một chân hạt trưởng. Nhưng tội của Cha là đã sớm nhận ra khuôn mặt thật của chế độ, rồi công khai bày tỏ ý kiến, lập trường của mình.” Cha Tỉnh tuyên bố ngài hoàn toàn đồng ý với biểu ngữ cha Lý đã dăng ra “Tự do tôn giáo hay là chết” vì theo Ngài, tự do tôn giáo không có nghĩa là tự do xây nhà thờ, xây trung tâm mục vụ hay xây trung tâm hành hương, không phải là tự do truyền chức linh mục, tự do tổ chức lễ (PHẦN HỒN) hay tự do đi ra nước ngoài mà tự do tôn giáo đích thực phải là tự do PHỤC VỤ CON NGƯỜI (PHẦN XÁC) tự do tham gia vào các công tác giáo dục, y tế, xã hội, bênh vực cho người dân nghèo không có ruộng cày, không còn đất sống, cho phụ nữ và trẻ em bị bán làm nô lệ tình dục, cho hằng triệu thai nhi bị giết mỗi năm, cho xã hội ngày càng mục nát, băng hoại, cho những nhà tranh đấu cho tự do dân chủ nối tiếp nhau vào tù, cho đất đai và biển đảo của tổ quốc cứ từ từ lọt vào tay Trung Quốc để một lần nữa dân tộc trở thành nô lệ.

Tôi vô cùng tâm đắc với lời tuyên bố sau đây của cha Tỉnh: “Thế thì cái tự do tí tẹo còn lại mà tôn giáo được hưởng kia chỉ biến tôn giáo thành một thứ đồ trang trí cho chế độ, thành cái xác không hồn, và cuối cùng thứ tự do đó dẫn tôn giáo đích thực đến chổ chết”. Cha nói, chính xác tín này đã dẫn cha Lý từ chỗ tranh đấu cho tự do tôn giáo đến việc tranh đấu cho tự do dân sự và tự do cho mọi người. Là vì cuối cùng, cha Tỉnh kết luận “tôn giáo chỉ có thể thực sự tự do khi dân tộc được hoàn toàn tự do”.

Cha Tỉnh cũng khẳng định rằng tại VN ngày nay, đối với độc tài CSVN chỉ có một con đường duy nhất đó là tranh đấu trực diện chứ đừng mong thành công trong việc đối thoại và hợp tác với chế độ này. Ngài nói: “Nếu chỉ nói chuyện trời nắng trời mưa thì không bõ, còn muốn nói những điều nên nói, những điều cần nói, những điều phải nói bằng bất cứ giá nào, thì chỉ cần nhớ lại cảnh cha Lý bị bịt miệng là ta hiểu ngay mình có được để cho nói hay không”.

Cha Tỉnh kết thúc bài giảng của ngài bằng lời của đức giáo hoàng Phao-lô VI: “CON NGƯỜI THỜI ĐẠI NGÀY NAY KHÔNG CẦN NHỮNG THẦY GIẢNG, MÀ CẦN NHỮNG CHỨNG NHÂN ĐÍCH THỰC CỦA TIN MỪNG”. Chí lý thay!

Mong sao các giám mục, linh mục, các tu sĩ nam nữ và mọi tín hữu của giáo hội Công giáo nhận chân ra được rằng “con đường của tranh đấu chính là con đường của Thập giá”, không còn con đường nào khác để họ chọn lựa vì chính Chúa Giêsu cũng đã phải chọn con đường ấy để cứu vớt nhơn loại.

“Áo mặc không qua khỏi đầu - Tớ không thể hơn chủ”.

Cầu mong sao các giám mục,linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân còn lại của GHCG-VN cũng sẽ dấn thân làm trọn vai trò và bổn phận thiêng liêng và bất khả phân ly HỒN-XÁC của mình đối với đồng bào và Tổ Quốc VN thân yêu dù phải hy sinh sự an nguy cũng như mạng sống của mình để xứng đáng là những người Kitô hữu đích thực. Nếu được như thế thì quả thật Giáo Hội Công Giáo VN mới thật sự trở thành TIN MỪNG cho dân tộc và đồng bào thay vì trở thành một loại TIN MỪNG...HỤT cho số phận vốn đã quá hẩm hiu và đau khồ của giáo dân Công Giáo VN và gần 90 triệu người dân nghèo trong nước, chưa kể đến hiểm hoạ MẤT NƯỚC đang xảy ra, vì Nước đã mất thì Đạo cũng chẳng còn.

Xin mọi người VN, đặc biệt là hàng giáo phẩm, giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và người Công Giáo VN hãy xem qua và nghiền ngẫm những bài giảng vô cùng chính xác và thiết tha này của Lm. Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, không phải chỉ để khen hay suy nghĩ mà là để LÀM và SỐNG một điều gì đó CỤ THỂ cho đồng bào và dân tộc và để CỨU NGUY TỔ QUỐC. Trân trọng kính chào toàn thể quý vị.

Nguyễn Thế Phong
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Bức tranh vân cẩu

Trần Bình Nam


Còn một năm nữa là đến ngày bầu cử toàn quốc tại Hoa Kỳ. Ngày 6/11/2012 người dân Mỹ sẽ đi bầu tổng thống, toàn thể Hạ nghị viện, 1/3 Thượng viện và 1/3 thống đốc các tiểu bang.

Nhưng không ai có thể đoán trước cái gì sẽ xẩy ra, ai thắng ai thua.

Hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đang đánh nhau chí chóe bất chấp nguyên tắc, bất chấp quyền lợi quốc gia. Cả hai đảng đều chọn lập trường quá khích, tả quá tả, hữu quá hữu. Và viễn ảnh Tổng Thống Obama, người đã đắc cử vẻ vang năm 2008 với sự ửng hộ nồng nhiệt của nhân dân Mỹ và toàn thế giới có thể thất cử làm cho bức tranh chính trị của Hoa Kỳ trở nên thêm phức tạp và khó hiểu.

Trong một bài nhận định về cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, tờ tuần báo The Economist số ngày 5-11-2011 đã vẽ một bức tranh “vân cẩu” sống động đầy đủ các nét của sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ trong năm tới.
Sau đây là nội dung: (America's missing middle)

“Ngày 6/11/2012 cử tri Mỹ sẽ quyết định Tổng Thống Obama có đáng được làm tổng thống một nhiệm kỳ nữa không.
Image
Thống Ðốc Mitt Romney. (Hình: AP Photo)

Vài tháng nữa, đảng Cộng Hòa bắt đầu bước vào tiến trình bầu cử sơ bộ chọn ứng cử viên tổng thống ra tranh với Obama.

Mitt Romney, cựu thống đốc bang Massachusetts đang vượt qua hai ông Rick Perry và Harman Cain. Rick Perry, nguyên thống đốc bang Texas và Herman Cain, một nhà tài phiệt trong ngành bán bánh Pizza. Nét nổi bật nhất là không có đảng nào chọn lập trường trung dung để phục vụ quyền lợi của người dân.

Bức tranh kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ khá ảm đạm. 75% dân Mỹ cho rằng tình hình đất nước không khá: Nợ nần chồng chất, thất nghiệp cao, và số người thất nghiệp dài hạn cao nhất kể từ năm 1948 đến nay. Tiếng tăm của Hoa Kỳ là quốc gia năng động và hiến nhiều cơ hội nhất trên thế giới đang lu mờ dần khi một siêu cường khác đang ló dạng ở Á Châu.

Quốc gia nào cũng có lúc gặp khó khăn về kinh tế hay chính trị. Nên những vấn đề như giàu nghèo chênh lệch, tiền hưu bổng bị đe dọa, trường học xuống cấp tại Hoa Kỳ hiện nay không phải là chuyện nan giải. Nan giải là những nhà chính trị ở Washington không thỏa hiệp nhau để giải quyết mà chỉ đòi áp đặt giải pháp của đảng mình.

Ða số (80%) dân Mỹ không còn tin vào thiện chí của những người tự nguyện ra gánh vác việc nước. Họ có cảm tưởng rằng hệ thống chính trị và kinh tế Hoa Kỳ đang phục vụ quyền lợi cho một thiểu số thay vì phục vụ quyền lợi cho đa số.

Tình hình chính trị và tài chánh của Hoa Kỳ hôm nay không khác gì tình trạng đáng buồn của cộng đồng Âu Châu. Trong năm 2011, sự kèn cựa giữa Cộng Hòa và Dân Chủ làm cho Quốc Hội chỉ thông qua được vài đạo luật ít quan trọng, trong khi các vấn đề quan trọng bị ngâm tôm. Dự luật “tạo công ăn việc làm” của Tổng Thống Obama vẫn còn nằm trong ngăn kéo Hạ nghị viện. Dự thảo ngân sách của Cộng Hòa bị ém tại Thượng Viện do đảng Dân Chủ kiểm soát. Vào cuối năm 2011 này, luật giảm thuế hết hạn, nếu Quốc Hội không làm gì cả Hoa Kỳ có thể lại rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế khác.

Cung cách hành xử của Cộng Hòa và Dân Chủ đều không được dân chúng ưa thích. Trong 100 người Mỹ có 55 người chê Tổng Thống Obama, trong khi có 91 người chê Quốc Hội.

Dân Mỹ vốn có óc thực tế. Họ thấy rằng giải pháp giải quyết vấn nạn thâm thủng ngân sách và nợ nần hiện tại là giảm chi tiêu và tăng thuế. Nhưng Quốc Hội hiện nay lại do một số dân biểu, nghị sĩ cực hữu thuộc nhóm Tea Party cương quyết giữ lập trường không tăng thuế và bác bỏ mọi giải pháp dung hòa. (TBN: Nhóm Tea Party đắc cử trong cuộc bầu cử Quốc Hội tháng 11/2010 do một số tài phiệt bỏ tiền thao túng truyền thông tuyên truyền mị dân và có tính đe dọa rằng đảng Dân Chủ đang đưa Hoa Kỳ vào chế độ xã hội.)

Tại Quốc Hội nhóm cực hữu Cộng Hòa làm cho những người có tinh thần dung hòa không có chỗ đứng. Bởi lẽ muốn được đảng đề cử ra tranh cử tổng thống phải chọn thái độ cực hữu. Mới đây ông Romney, người đang dẫn đầu cuộc chạy đua sơ bộ nói ông sẽ chống lại bất cứ sự tăng thuế nào dù cứ mỗi đồng tăng thuế được bù lại bằng cắt giảm chi tiêu 10 đồng. Ông Cain nổi trội lên một lúc nhờ đòi giảm thuế cá nhân xuống 9%. Ngược lại ông Perry bị các dân biểu cực hữu chê bai chỉ trích khi tỏ ý ủng hộ chính sách tạo điều kiện học hành cho con cái những người định cư bất hợp pháp. Tại Thượng nghị viện, người có đầu óc trung dung như Thượng Nghị Sĩ Richard Lugar đang bị nhóm nghị sĩ thuộc “Tea Party” tấn công ráo riết. (A dangerous game of the Republicains).

Thoạt tiên Tổng Thống Obama tìm giải pháp dung hòa. Nhưng đáng tiếc ông đã không chấp nhận kế hoạch ngân sách dài hạn do ủy ban lưỡng đảng Simpson-Bowles do ông bổ nhiệm đề nghị. Và trước thái độ quá khích của Hạ nghị viện trong cuộc tranh chấp ý kiến về việc tăng thêm mức nợ quốc gia bao nhiêu (trong tháng 8/2011), ông đã phản ứng bằng con đường cực tả, tuyên bố sẽ đánh thuế những nhà triệu phú và tỉ phú để nhém lỗ hổng ngân sách.

Tranh luận và khác biệt ý kiến là điều thường thấy tại Quốc Hội Hoa Kỳ. Nhưng trong mùa tranh cử này ai cũng cần tiền vận động nên không dân biểu nghị sĩ nào bỏ lập trường cứng rắn sợ mất tiền ủng hộ của giới tư bản và có thế lực (bên hữu cũng như bên tả). Tại các đơn vị đã được chia cắt gồm đa số tuyệt đối là cử tri cùng lập trường (gọi là gerrymandering) các ứng cử viên của đảng có ưu thế (Dân Chủ hay Cộng Hòa) sợ nhau trong vòng chạy đua để được sự đề cử của đảng hơn sợ đối thủ của đảng kia trong cuộc bầu cử chính thức nên không ai chọn thái độ nhân nhượng. Thêm nữa truyền thông trong mùa tranh cử cũng bị ảnh hưởng nặng nề của các nhà tư bản nên ngọn lửa quá khích được châm cháy thêm.

Kết quả, cuộc bầu cử năm 2012 Quốc Hội có thể sẽ rơi trọn vào tay những người Cộng Hòa cực bảo thủ với một ông tổng thống (nếu ông Obama tái đắc cử) bị đẩy quá xa về phía tả.

Ở một nước khác, bối cảnh chính trị này sẽ cho ra đời một đảng ở giữa (đảng thứ ba) đại diện cho khuynh hướng trung dung. Hãy tưởng tượng năm tới Hoa Kỳ có một ứng cử viên tổng thống công khai và thẳng thắn đề ra giải pháp chữa bệnh thâm thủng ngân sách và nợ nần bằng cách tăng thuế giới tư bản và giảm chi trên các chương trình An sinh Xã hội và Y Tế (Social Security, Medicare, Medicaid). Hay lạc quan hơn có một khối đứng giữa tại Quốc Hội ủng hộ lập trường của ứng cử viên đó. Khối này sẽ giúp cho ông tổng thống tương lai (có thể là Obama hay Romney) một chương trình làm việc hữu lý vào năm 2013.

Nhưng đó chỉ là ước mong, một ước mong không phù hợp với tình hình và định chế chính trị Hoa Kỳ. Hiến pháp Hoa Kỳ không giúp cho sự thành hình một đảng thứ ba. Kinh nghiệm quá khứ (hỏi ông Ross Perot) triển vọng một ứng cử viên tổng thống thứ ba tại Hoa Kỳ thật là mong manh. Lực lượng chính trị thứ ba phải được thành hình trên những gì có sẵn. Nhưng cái khung hiến pháp Hoa Kỳ không có gì sẵn cho việc ra đời một đảng thứ ba.

Một hy vọng mỏng manh trước mắt là “siêu ủy ban” thành lập sau cuộc tranh cãi nâng mức nợ quốc gia (Siêu Ủy Ban - TBM) đề ra được một giải pháp cắt giảm ngân sách bằng cách cân bằng quan điểm chung là giảm chi tiêu và tăng thuế. Nhưng hy vọng này cũng rất mong manh

Vậy, kết quả cuộc bầu cử tháng 11/2012 sẽ ra sao?

Người nào nắm được thành phần cử tri ở giữa mới có thể đắc cử tổng thống. Nếu vậy thật khó cho ông Romney và đảng Cộng Hòa của ông. Chọn lập trường trung dung thì không được đảng đề cử. Chọn lập trường cực hữu thì không được thành phần cử tri trung dung bầu.

Nhưng ông Obama cũng không dễ ăn. Cử tri đặt câu hỏi: Tại sao phải bầu lại cho một vị tổng thống đã không đoàn kết được quốc gia, và đã không chấn hưng được kinh tế. (TBN: Chưa nói đến một loạt câu hỏi cấn cái khác.)

Ðó là vấn nạn của Hoa Kỳ hôm nay. Nhưng ít nhất nó cho ông Obama thấy con đường tái đắc cử của ông chỉ có thể là con đường trung dung để chinh phục thành phần cử tri thầm lặng, thành phần đã nồng nhiệt ủng hộ ông năm 2008.

Trần Bình Nam
Nov. 11, 2011
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


CHÚNG TA ĐANG XẺ THỊT TỔ QUỐC MÌNH ĐỂ SỐNG

Ngô Minh
Theo blog NM
Cách đây vài ba năm, báo chí đưa tin làm tôi giật mình: Đến năm 2012, Việt Nam phải nhập than đá ! Thế mà đến năm 2011, nước ta đã phải nhập hàng nghìn tấn than đá từ nước ngoài. Ai cũng lo, ai cũng bức xúc. Ôi thuở ấu thơ tôi được các thầy dạy :” Việt Nam ta rừng vàng biển bạc”. Bây giờ thì sắp cạn rồi sao ?

Nhìn lại đối mới từ năm 1986 đến nay, một thực trạng đau lòng đang diễn ra khắp nơi : Chúng ta đã khai thác, buôn bán tài nguyên quốc gia một cách ồ ạt, vô tội vạ. Dường như thu nhập GDP đất nước đều do buôn bán tài nguyên mà có, còn hàng hoá sản phẩm mang hàm lượng chất xám cao chiếm tỷ lệ không đáng kể. Nghĩa là từ “đổi mới” đến nay, chúng ta đang sống nhờ bán tài nguyên, chứ chẳng làm được thương hiệu gì bền vững có tầm cỡ thế giới cả. Nhìn qua Hồng Kông, Ma Cao,Singapore , Nhật Bản… mà thương cho đất nước mình. Người ta chẳng có nhiều tài nguyên khoáng sản, sao người ta giàu thế . Còn mình bán tài nguyên mà ăn, rồi con cháu vài thế hệ sau ăn không khí à ?

Tài nguyên quốc gia do mồ hôi xướng máu bao đời giành được gồm : trời, đất , núi, nước, rừng, biển, khoáng sản và môi trường. Trong hoà bình xây dựng 30 năm nay, do ấu trĩ trong nhận thức và non kém về quản lý, chúng ta tiếp tục tàn phá tài nguyên dữ dội hơn, nặng nề hơn . Hình thế núi sông Việt Nam đang thấy đổi từng ngày, đang bị cày xới nham nhở !

20 năm qua có rất nhiều “phong trào” bán tài nguyên để “làm ngân sách” xảy ra rầm rộ. Như khai thác gỗ rừng để xuất khẩu ồ ạt. Quốc doanh khai thác xuất khẩu, “hợp tác xã” khác thác xuất khẩu, tư nhân núp bóng nhà nước khai thác, xuất khẩu…Gỗ cứ kìn kìn từ rừng miền Trung, rừng Tây Nguyên đổ về các cảng biển. Các đầu nậu gỗ, những người cấp phép khai thác gỗ, cấp quota xuất khẩu gỗ giàu lên từng ngày một. Đến khi “ngộ ra”, ban hành lệnh cấm, thì rừng đã bị “ “bán ăn” gần hết. Thế là lại phải “làm dự án” trồng 5 triệu hec-ta rừng gần chục năm nay vẫn không thành .

Hết rừng rồi thì bán đất rừng. Hơn 300.000 héc ta rừng đầu nguồn đã bị các tỉnh bán cho doanh nhân Trung Quốc khai thác 50 năm. Nghĩa là 50 năm năm , chúng muốn biến mảnh đất rừng đó thành căn cứ quân sự, lô cốt, hầm ngầm.v.v… là quyền của họ. Hết nước rồi non nước ơi !

Bán hết rừng đến bán khoáng sản dầu thô, than đá, cát, quặng ti-tan, quang a-pa-tít, quặng vàng…Nghe thông tin báo chí về việc xuất khẩu than lậu ở Quảng Ninh mà choáng váng . Trữ lượng than của ta ở Quảng Ninh có được bao lăm mà hô hào thành tích “ khai thác và xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước”?; rồi quản lý yếu kém để cho hàng trăm công ty “ma” xuất khẩu than lậu một lúc hàng trăm tàu. Sao coi tài nguyên quốc gia “như vỏ hến” vậy ?

Người bán gỗ, bán than, thì có kẻ lại bán núi, bán đất ruộng làm giàu. Xem ra bán núi bán đất dễ giàu có hơn. Trong những chuyến đi thực tế ở vùng Đông Bác hay Thanh Hóa, Ninh Bình…, tôi thấy nhiều ngọn núi bị san bằng trơ trọi, để khai thác đá sản xuất xi măng, đá xây dựng. Bây gìờ tỉnh nào cũng hai ba nhà máy xi măng, hàng chục công trường khái thác đá hàng ngày ra sức san phá núi. Có tỉnh bán luôn cả ngọn núi cho nước ngoài làm xi măng, không chỉ bán phần dương mà còn bán cả phần âm tới 30 mét sâu, nghĩa là 50 năm sau, núi thành hồ ! Hình sông thế núi Việt Nam ngàn đời hũng vĩ , bây giờ đang bị xẻ thịt nham nhở. Liệu con cháu tương lai sẽ sống như thế nào, có còn hình dung ra nước non Việt tươi đẹp xưa nữa không, khi mà quanh chúng núi non bị gậm nhấm, thân thể Tổ Quốc ghẻ lở, xác xơ ?. Tài nguyên của mình, nước ngoài đến khai thác rồi chế biến thành sản phẩm xuất khẩu của họ, trong lúc hình hài non sông bị xâm hại. “Bán núi” để ăn như thế có đau núi quá không?

“Bán đất” mới là cuộc tỉ thí với tương lai khủng khiếp nhất. Tỉnh nào cũng có vài ba Khu công nghiêp, nhưng chẳng làm ra sản phẩm xuất khẩu nào có thương hiệu cả vì máy móc lạc hậu, bán trong nước cũng chẳng ai mua . Tỉnh nào cũng có ba bốm sân golf. Rồi dự án mở rộng đô thị lên gấp đôi gấp ba, dự án khu biệt thư, …đang làm cho đất nông nghiệp, đất trồng lúa trong cả nước, đất trồng cây ăn trái ở Nam Bộ đang thu hẹp với tốc độ chóng mặt. mỗi năm có từ 73.000- 120.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, bịu chuyển đổi. Mở rộng đô thị thì đất ruộng thành đất thành phố, bán với giá cao hơn. Đua nhau mà ăn chia, lấn chiếm, đẩy nông dân ra khởi mảnh đất ngàn đời sinh sống của họ.

Thế là khẩu hiệu của Cộng Sản “dân cày có ruộng” thành trò đùa lịch sử.
Vì mục tiêu tăng GDP, tăng thu ngân sách , các tỉnh đang thi nhau bán đất nông nghiệp một cách vô tội vạ . Mất đất, chỉ nông dân và nhà nước là thua thiệt. Ruộng mình đó, đất mình đó, bỗng nhiên bị mất trắng tay . Tiền đền bù giá bèo không đủ mua đất mới để xây nhà, nói chi đến làm ăn sinh sống
Hết bán rừng, than, ti-tan, đá, người ta con bán cả bo-xit Tây Nguyên, thứ mà cách đây mấy chục năm, khối Comicom ( Khối kinh tế các nước XHCN) đã ngăn không cho khai thác, họ sợ làm hư hỏng môi trường và văn hóa Tây Nguyên. Nhưng bây giờ thì bất cần tương lai Tây Nguyên , bất cần hàng ngàn trí thức tâm huyết với đất nước kịch liệt phản đối, họ vẫn khai thác. Nhưng, bọn người được quyền đầu tư khai thác ấy lại là bọn giặc truyền kiếp phương Bắc ngàn đời của Dân tộc ta mới đau, mới lo chứ.Chúng thâm hiểm lắm, người ơi. Chúng mang hàng ngàn người ( dân binh ?) vào Tây Nguyên, với kế hoạch làm chủ tây Nguyên của Việt nam. Các nhà chiến lược quân sự thường nói :” Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”. Chao ôi, từ việc bán tài nguyên đến “bán nước” chỉ còn một khoảng cách mong manh như sợi chỉ !

Nước là loại tài nguyên quý giá cũng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Hiện nay tất cả các con sông đều “đang chết dần” vì ô nhiễm do chất thải công nghiệp, bệnh viện chưa qua xử lý đều thải trực tiếp ra sông. Mạch nước ngầm đang xuống thấp chưa từng có do khai vô tội vạ. Rồi “phong trào” phát triển thuỷ điện tùm lum làm cho mực nước ở đồng bằng giảm xuống. Đến cả sông Hồng cũng cạn trơ đi bộ qua được. Có tỉnh làm đến hàng chục nhà máy thuỷ điện. Được điện thì mất lúa vì đất đai khô cằn không có nước tưới, bị sa mạc hoá không trồng lúa, trồng màu được. Muốn phát điện thì mực nước tích ở hồ phải cao hơn mực nước chết. Ví dụ Hồ thuỷ điện Hoà Bình bình thường mực nước cao 115 mét. Mực nước chết cao 80 mét. Nghĩa là để có điện, phải tích nước cao hơn 80 mét. Cái lượng “nước chết” cao 80 mét ấy chứa hàng tỷ mét khối không thể đổ về những cánh đồng lúa được, thì ruộng khô hạn là phải ! Mùa lũ, nhà máy điện xả lũ để bảo vệ đập, thế là không chỉ xóm làng mà cả xá cũng ngập chìm trong nước. Làm thủy điện vô tội vạ cũng là một cách “ăn tài nguyên nước” qua dự án đầu tư. Không “ăn” dự án thì các quan huyện, quan tỉnh, quan trung ương tiền đâu mà làm nhà lầu, mua xe hơi, sống cuộc sống giàu sang phú quý, cho con đi học các trường nổi tiêngs thế giới như Ha-vớt, Sóc-bon ?
Chúng tôi khẩn thiết đề nghị Chính phủ và chính quyền các địa phương phải có một chiến lược khai thác tài nguyên lâu dài và chỉ đạo thực hiện thật quyết liệt mới mong không bắn đại bác vào tương lai. Chúng tôi đề nghị :

– Kiểm kê lại tài nguyên đất nước để có kế hoạch bảo vệ. Quy hoạch chi tiết ngay các vùng đất nông nghiệp lâu dài, vùng núi non hung vĩ, và cấm tiệt việc khai thác bừa bãi.

– Phải dừng ngay các dự án khai thác Bo-xít Tây Nguyên vì với sự án này, người Trung Quốc không cần bo-xít , cái mà họ cần là địa bàn Tây Nguyên, đó là điều mà nhiều trí thức lớn đã phân tích, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã có thư cảnh báo. Phải thu hồi các diện tích đất rừng bị bán cho nước ngoài, dù phải bồi thường hợp đồng , vì chúng đang đe dọa đến vận mạng, sự sống còn của đất nước.

-Hạn chế tối đa, kiểm tra chặt chẽ các dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực khai thác tài nguyên ( như xi măng, quặng ti tan, và các loại khoáng vật khác ) , khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao như công nghệ thông tin, sản xuất hàng tiêu dùng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để làm giàu cho đất nước. Chúng ta phải hướng nền kinh tế theo cách làm của Nhật Bản, Singapor , Hồng Kong, những nước ít tài nguyên nhưng biết cách làm giàu bằng trí tuệ.

Ôi, giá mà tiếng kêu của tôi đến được tai những người đang cầm vận mệnh đất nước trong tay .

N.M
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

TRUNGCỘNG ĐÃ HIỂU RA RẰNG HUNG HĂNG VỚI LÁNG GIỀNG CHỈ LÀM LỢI CHO MỸ
Báo Bưu Điện Hoa Nam Buổi Sáng ngày 12/09/11 có bài với tiêu đề: "Bắc kinh tỏ lập trường mềm mỏng hơn với các nước láng giềng". Theo BBC trích lược thì: Phát ngôn bộ ngoại giao Trung quốc, Mã Triều Húc cho biết: "Bắc kinh sẽ làm việc với Hà nội để giữ mối quan hệ song phương đi đúng hướng". Thiếu tướng về hưu, Từ Quang Vũ cho biết: "Bắc kinh sẽ không để cho mối quan hệ Việt nam và Philippines xấu đi". "Mặc dù trong vòng ba tháng qua, Bắc kinh nhận ra rằng, bất kỳ cuộc xung đột với các nước láng giềng sẽ không chỉ gây tổn hại cho an ninh khu vực, mà cũng sẽ làm tổn thương phát triền kinh tế của chúng ta, và điều đó chỉ đem lại lợi ích cho bên thứ ba". Trong khi đó, học giả Vương Hàn Lĩnh, một chuyên gia về vấn đề hàng hải và luật quốc tế tại Viện Khoa Học Xã Hội Trung quốc ở Bắc kinh cho biết: "Bên Thứ Ba là Hoakỳ".Ông Vương Hàn Lĩnh nói: "Hoakỳ đã có mặt ở đó, Hoa kỳ chưa bao giờ rời Á châu". "Bắc kinh biết điều này rất rõ và nhận ra rằng, Washington sẽ sử dụng các tranh chấp Nam Hải để ngăn sự chỗi dậy của Trung quốc"… Với tiến sĩ Trương Minh Lương thuộc Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á tại Đại Học Tế Nam ở Quảng Châu cho biết: "Bắc kinh phải giữ mối quan hệ tốt về ngoại giao và quân sự với Hà nội và Hà nội đặc biệt trong thời điểm nhậy cảm như khi có cuộc biểu tình chống Trung quốc tại Việt nam gần đây do vai trò đáng xấu hổ của Trung quốc trong tranh chấp tại Biển Nam Trung hoa ( Biển Đông Việ tnam)". Theo Trương Minh Lương: "Thật dễ dàng để Việt nam đứng về phía Hoa kỳ, vì Washington là quan trọng đối với Hà nội". "Mậu dịch Trung - Việt đạt 30 tỷ USD vào năm ngoái, nhưng 90% là đồ Trung quốc xuất sang Việt nam, tạo thâm hụt mậu dịch lớn cho Hà nội". "Tuy nhiên Hoa kỳ có thể cung cấp cho Việt nam nhiều sản phẩm công nghệ cao và công nghệ mà Trung quốc không có khả năng làm điều đó"… "Đó là lý do tại sao Bắc kinh nên giữ mối quan hệ tốt với Hà nội để ngăn Việt nam xích quá gần tới Hoa kỳ".

Những lời phát biểu nêu trên của các chuyên gia Trung cộng đã trả lời cho câu hỏi, tại sao Trung cộng ở những ngày gần đây tỏ ra xuống nước hòa dịu muốn ăn chia ở Biển Đông với Philippines. Riêng với bọn đàn em tại Hà nội thì vẫn tỏ ra kẻ cả, bắt phải dẹp các cuộc biểu tình của dân chúng Việt nam Chống Trung cộng xâm lược. Tổ chức cuộc hội họp ở Bắc kinh ngày 28/08/11, giữa Nguyễn Chí Vịnh thứ trưởng quốc phòng Việt cộng với Mã Hiểu Thiên phó tổng tham mưu quân đội Trung cộng, để được cùng cam kết với Lương Quang Liệt, bộ trưởng quốc phòng Trung cộng rằng: "Không cho phép bất cứ thế lực bên ngoài nào làm hỏng quan hệ Việt – Trung". Để thông tin trực tiếp giữa bộ quốc phòng 2 nước, Bắc kinh cho thiết lập đường giây điện thoại nóng giữ 2 bộ quốc phòng Việt-Trung.

Ngày 06/09/2011, Quốc Vụ Viện Trung cộng cho công bố một Bạch Thư có tên là " Sự Phát triển hoà bình của Trung quốc". Nhà ngoại giao của Trungcộng, Lưu Á Quân nói: "Trung quốc sẽ không đi theo lối mòn của xâm lược, bành trướng hoặc chiến tranh". Trungquốc sẽ không tấn công nước khác trừ phi bị tấn công". Văn kiện này nêu rõ 6 điểm cốt lõi là: Chủ quyền Quốc Gia. An Ninh Quốc Gia. Toàn Vẹn Lãnh Thổ. Thống Nhất Quốc Gia. Chế Độ Chính Trị do Hiến Pháp xác lập. Những bảo đảm cơ bản cho sự phát triển kinh tế, xã hội lâu bền". Văn kiện này cũng nói rằng: "Con đường phát triển hòa bình là con đường phát triển kiểu mới, mà Trung quốc đã tìm ra, phá vỡ mô thức phát triển truyền thống là nước lớn sẽ theo đuổi bá quyền mỗi khi trỗi dậy".

Ngày 07/09/11 Bắc kinh cử ông Đới Bỉnh Quốc ủy viên quốc vụ viện Trung quốc cầm đầu phái đoàn đến Hà nội họp với Nguyễn Thiện Nhân, phó thủ tướng Việt công trong Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Song Phương lần thứ 5. Nhưng cho đến lúc này, phía Trung cộng cũng chưa bao giờ chịu từ bỏ, hay sửa đổi tuyên bố chủ quyền gần trọn vùng biển Đông Nam Á. Tiếp Đới Bỉnh Quốc, Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việt cộng nói: "Trong vấn đề Biển Đông việc 2 bên còn khác biệt là thực tế khách quan". Riêng Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng Việt cộng, tiếp Đới Bỉnh Quốc bằng những lời thắm thiết. Báo chí lề phải Việt cộng trích lời Đới Bỉnh Quốc nói: "Hai đảng và chính phủ có chung một lý tưởng, có lợi ích chung, vận mệnh gắn liền với nhau, không có lý do gì không cố gắng thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển tốt đẹp". Nhằm trói chặt quân đội Việt cộng vào với Trung cộng, và cố tách khỏi ảnh hưởng của Mỹ, Ấn, Nhật và Khối ASEAN, Ủy viên Quân Ủy Trung Ương, chủ nhiệm tổng bộ chính trị quân giải phóng nhân dân Trung cộng, tướng Lý Kế Nại, mời một phái đoàn quân đội Việt cộng do tướng Ngô Xuân Lịch, bí thư trung ương đảng, chủ nhiệm tổng cục chính trị của Việt cộng cầm đầu sang Bắc kinh từ ngày 14 đến 19/09/11, với mục đích phát triển quan hệ hợp tác giữa quân đội hai bên, theo chủ trương đối tác chiến lược toàn diện.

Sự thay đổi chính sách từ "sự hung hăng đe dọa bành trướng" sang "sự phát triển hoà bình của Trung quốc" xem ra đã quá muộn, vì trọng tâm chiến lược toàn cầu của Hoakỳ hướng về Áchâu đã khởi động. Chỉ có cái đảng Việt cộng là còn chân trong, chân ngoài, cố bám vào Trung cộng để giữ ghế. Ngoài ra các nước Áchâu đều đứng về phía Mỹ để đề phòng sự lật lọng của Trung cộng. Vì không ai dại gì mà tin vào lời hứa của một chế độ độc tài, nhất là thứ độc tài xấu tính, xuất thân từ cái lò truyền thống đế quốc Đại Hán, trộn chung với nền giáo dục gian manh lừa đảo tuyên truyền cộng sản. Nên ba đại cường Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương là Mỹ-Ấn-Nhật đã hình thành "Cơ Chế Đối Thoại An Ninh" và hải quân Ấn Độ đã chính thức triển khai hoạt động tại Biển Đông. Quan hệ quốc phòng Việt-Ấn đã có từ lâu, kể từ thời còn chiến tranh lạnh, cả hai đã ký kết Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp tác với Liên xô. Chính vì vậy mà Hoakỳ đã ra sức thúc đẩy sự hợp tác giữa Ấn và Việt để quân bằng lực lượng tại Á châu với Trung cộng. Ngày 14/09/11, ngoại trưởng Ấnđộ S. M. Krishna công du Việt nam 4 ngày, để cùng đồng nhiệm Phạm Bình Minh chủ trì kỳ họp của Ủy Ban Hỗn Hợp Việt-Ấn lần thứ 14. Đồng thời chuẩn bị cho chuyến công du Ấnđộ của Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việtcộng vào tháng tới. Tân thủ tướng Nhật bản, Yoshihiko Noda, trong bài diễn văn đầu tiên trước Quốc hội Nhật bản đã kêu gọi Trung quốc: "đóng vai trò là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế". Đây cũng là chủ trương của Hoa kỳ đối với Trung quốc. Nhưng cả 2 cường quốc này đều không dám lơ là, vẫn phải đặt Trung cộng trong tầm nhắm chiến lược của mình. Điều được ghi nhận ở đây là, tổng thống Hoa kỳ, Barack Obama vừa bổ nhiệm viên giám đốc tình báo CIA vào chức bộ trưởng quốc phòng là cựu tướng Leon Panetta . Rồi lại bổ nhiệm viên tướng tài ba nhất quân đội Mỹ, là cựu đại tướng David Petraeus vào chức giám đốc CIA. Phải chăng Mỹ đã khởi diễn một cuộc chơi quân sự phối hợp với tình báo ngoạn mục, thần kỳ, quỷ bất tri, thần bất giác nào đây?

LÝ ĐẠI NGUYÊN -
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests