Văn Nghệ Văn Gừng

Thơ nhạc trữ tình, thơ nhạc lính, video...
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »


Image
Trái tim đàn bà

Hà Thúc Sinh


Tuần báo “Teen People” mới đây ra một số chủ đề “Love Issue.” Bài mang tựa “Love Around the World” thấy cũng có điểm đáng lưu ý. Có 5 cặp trai gái qua 5 địa danh Peru, Luân Ðôn, Jerusalem, Hương Cảng, và Sydney được phỏng vấn. Là bài viết về đàn bà, người viết lược bỏ phần trả lời của mấy cậu, chỉ giữ những câu trả lời của mấy cô thôi.

Gái Peru tên Michelle Kilimajer, 16 tuổi, bồ bịch với Kevin Heringman, trai gốc Mỹ 16 tuổi, đến nay được 9 tháng, phát biểu: “Anh ấy luôn làm em cười. Anh ấy pha trò suốt ngày.”

Gái Ăng Lê tên Clemmie Ashton, 17 tuổi, bồ bịch với Mark Brennan 18 tuổi, đến nay được 13 tháng, phát biểu: “Có lên mặt ‘bà chủ’ nhưng một cách vui vẻ thôi.”

Gái Do Thái tên Ella Shippin, 19 tuổi, bồ bịch với Rami Hieb, trai Palestine 23 tuổi, đến nay được 3 năm, phát biểu: “Chúng em sợ những cuộc tấn công tự sát. Hồi tháng Giêng chiếc buýt chở chúng em bị nổ…”

Gái Hương Cảng tên Tiffany Chan, 16 tuổi, bồ bịch với Tony Kwan 18 tuổi, đến nay được 8 tháng, phát biểu: “Tony tìm thấy ảnh em trên một website và gửi cho em một điện thư. Thoạt đầu em không nghĩ nhiều về việc trả lời vì đã có vô số chàng điện thư cho em. Thật may mắn cho em là em đã hồi âm cho Tony.”

Gái Sydney tên Nellie Washington, 17 tuổi, bồ bịch với Jamie Moss 18 tuổi, đến nay được 10 tháng, phát biểu: “Chúng em có lối sống khác nhau nhưng cố tìm cách dính vào nhau. Cuối tuần anh ấy đi chơi với bạn anh ấy, còn em đi chơi với bạn em.”

Nhìn chung, lý do dẫn đến ái tình trai gái ngày nay và cách họ cảm nhau, cư xử với nhau chán ngắt như thế. Trừ mối tình không biên giới Do Thái—Palestine có vẻ khá liều mạng và tang chế có thể xảy ra bất cứ lúc nào, còn thì những mối tình kia xem ra như đều hờm sẵn cuộc chia tay ở một cuối đường nào đó mà một trong hai người chỉ cần nhảy cò cò vài bước là tới. Yêu gì mà quái dị như cái cặp ở Sydney: “Cuối tuần anh ấy đi chơi với bạn anh ấy, còn em đi chơi với bạn em.” Xử sự với nhau như thế phải chăng cô cậu này đã lạm dụng cái chữ yêu, một chữ vốn dĩ thiêng liêng đến nỗi thời cha mẹ họ đã dính vào nó rồi là… nhất nhật bất kiến như tam thu hề!

Dù sao ta cũng nên thông cảm. Mình khó khăn quá đám trẻ chúng biến ra một bọn toàn gay và lesbian thì nguy to. Thời nào, tuổi nào, có kiểu có mốt yêu của thời đó tuổi đó. Ta cứ biết rằng chỉ một ngày thiếu yêu thế giới này sẽ rã ra như một miếng ruột bánh mì ném vào lavabo và vặn nước. Ấy là bởi vốn có một ông tây nào đó nói một câu chí lý: “Khi ông A-dong phàn nàn về cảnh cô đơn thì sau đó không phải là một tá bạn trai Chúa tạo ra cho ông mà chỉ là một người đàn bà.” Như thế đàn bà được đem đến cho người đàn ông vào cái thời ông ta là người duy nhất. Thảm kịch đầu tiên cho đàn bà là chỗ này đây: bà E-và đã không có quyền lựa chọn. Ông A-dong dẫu có uống rượu như hũ chìm, bát đũa không dùng toàn ăn bốc, rồi quẹt mồm mỡ vào… bệ cửa (thời đó chắc chưa có tay áo), có thể thích nói chuyện bằng chân tay, đêm ngủ ngáy như sấm và gác chân thì toàn gác ngang qua cổ người ta vân vân và vân vân, thì bà cũng đành phải chịu; còn các cô con gái của bà thì tha hồ, nhất là ngày nay, chọn lầm cho chọn lại đến khi tìm ra một người mà nàng thấy đã hội đủ điều kiện là một tri kỷ. Vâng, tính tri kỷ vô cùng quan trong giữa liên hệ nam nữ. Chẳng thế mà nhà văn Pháp André Maurois phải nói “Muốn cho tình yêu gây được hạnh phúc, cần thiết nhất người yêu phải là người tri kỷ.” Và tri kỷ thì phải có tính tương xứng. Cây quế giữa rừng tri kỷ thế quái nào được với cái kiểu… leo xồng xộc lên người người ta của mấy chú mán chú mọi!

Nhưng mà nói gì thì nói, người viết và bạn bè nam nữ cùng thế hệ nên hãnh diện là mình đã được sinh ra bởi một thế hệ phụ mẫu vẫn còn cái yêu đương rất là… cổ kính; nó vừa lãng mạn, vừa say đắm, lại vừa bền bỉ mà ngày nay thế hệ con cháu chúng ta sống ở các nước Âu Mỹ, thậm chí ngay cả trong nước, chẳng cách gì cảm nhận nổi. Thời nay dễ gì gái yêu trai còn được như thế này:

Yêu anh mấy núi cũng trèo,
Mấy sông em cũng lội mấy đèo em cũng qua…

Hoặc ngay ở thế hệ chúng ta, thế hệ cuối cùng bắt đầu biết yêu từ hậu bán thế kỷ 20:

Yêu anh mấy biển cũng pha,
Mấy chuyến bay em cũng chấp mấy nhà ga em cũng liều.

Nhưng, chữ nhưng đáng ghét này thì thời nào cũng có, đàn bà mỗi thời yêu mỗi cách khác nhau, duy chỉ cái khoản lên cơn hen xem ra là không khác nhau lắm (hen = suyễn = không thở được, hoặc thở hổn hển, có khi cò cưa, có khi hồng hộc, có khi ngưng thở luôn thành chết giả mà không giật tóc mai, không bơm thuốc vào họng cứu kịp là chết thật, chết đứ đừ; hen loại này trong Kiều có Hoạn Thư bị rất nặng). Và sau khi thoát chết vì cơn hen có người dám làm những chuyện phi thường ngoài sự tưởng tượng của các quan toà, đám bồi thẩm, và công tố. Tội họ phạm thật tày trời nhưng thường là hiếm, do đó gần như chưa có một án lệ (?) để dựa vào đó mà cân nhắc sự nặng nhẹ, gia trọng hay đáng giảm khinh, ngõ hầu toà có thể đưa ra một bản án thích hợp. Có lẽ vì sự lúng túng đó mà các bà Chúa Hen thường được hưởng những bản án rất là… thông cảm hay được tha bổng. Ở Sài Gòn xưa có vụ án cô Quờn (Hoàn?) đốt chồng. Vụ này nổi tiếng đến độ nó biến thành tuồng cải lương, và được giới thương buôn xuất bản những cahier nho nhỏ in sáu câu vọng cổ mang tựa đề “Cô Quờn Ðốt Chồng” đem bán ở các bến xe đò, bến tàu, và nhiều nơi công cộng khác trong thập niên 1950 lúc người viết mới di cư vào nam. Cô bị án nhẹ và sau đó được tha.

Ngay ở Mỹ hồi 1993 cũng có một vụ án gọi là “Thẻo ngọt.” Người đẹp ác đức Lorena Bobbitt có chồng tên là John Wayne Bobbitt. Chàng đẹp trai, bay bướm, nhưng hiền lành giùm một chút đi, không, đã thế còn mang cái bệnh hở một tí là uỵch vợ. Một ngày kia bậc hiền thê của chàng nổi cơn hen pha cơn khùng lên, chờ khi chàng mệt phờ râu cáo và ngủ như chết, nàng ngồi dậy, xoa tay, cười khẩy, rút ra con dao dài 8 inches dưới nệm bén đến cạo râu được, và, a lê… hấp, thẻo ngọt một phát. Thi hành xong sự trừng phạt ác ôn mà ngay tu chính án thứ Tám của Mỹ đã cực kỳ nghiêm cấm trong hệ thống pháp lý của nó là “. . . không được thực hiện những hình phạt ác độc và khác thường,” cô nàng nắm cái khúc dồi rắc rối ấy ra xe, lái một vòng cho hạ nhiệt rồi xuống kính quăng luôn nó ra ngoài đường cho xe “cán chết cha cái thằng con của cái thằng cha ấy cho rồi.” Nhưng trời ngó lại. Cảnh sát tìm ra được khúc giò trường và đem nó vào bệnh viện kịp thời. Nền y khoa Mỹ hàn gắn được mọi thứ. Thế là châu về hiệp phố, bưu vật về lại với chàng.

Lorena Bobbitt sau đó được tha bổng với lý do cơn hen đã làm cô điên quá là điên; thêm vào, cô còn là nạn nhân của những vụ bạo hành trong gia đình.

Nhưng lạ, về một mặt khác quí bạn đọc cứ để ý kỹ mà xem. Văn minh kỹ thuật và tình yêu hình như là hai đối tượng tăng giảm ngược chiều. Nói một cách dễ hiểu hơn, văn minh kỹ thuật càng tăng thì sự say đắm của trái tim, đặc biệt ở đàn bà, càng giảm. Kể từ cái ngày 20 tháng 7 năm 1969 sau khi phi hành gia Neil Armstrong lái phi thuyền Apollo 11 đáp xuống thân thể chị Hằng, muôn vàn thi sĩ trên đời đã… bỏ làm thơ, muôn triệu cặp tình nhân đã chấm dứt chuyện nhìn trăng mà thề ước vân vân và vân vân. Ngay trong văn chương, âm nhạc, kịch nghệ đông tây ngày nay thấy cũng hiếm, gần như không còn nữa những thiên tình sử lớn—những tình sử mà hai nhân vật nam nữ chính, khi cần chứng minh nồng độ chất ngất của tình yêu, đã sẵn sàng chấp nhận mọi thảm kịch xảy ra cho họ như Tristan và Isolde hoặc Roméo và Juliet.

Qua nghệ thuật, dù sao, người viết chưa bao giờ được xem thêm một phim nào nói đến tình yêu trai gái say đắm, dữ dội, và rốt ráo như cái phim tình cảm do Ba Lan thực hiện và trình chiếu ở Sài Gòn thời người viết mới ra tù cải tại năm 1980. Cốt truyện thế này: một người đàn ông, một người đàn bà, một mối tình say đắm, một thế giới đặc thù thành hình, và một mụn con gái ra đời. Người đàn ông lao động nuôi gia đình và người đàn bà làm nhiệm vụ người vợ người mẹ đảm. Thế rồi bà vợ thình lình qua đời và người đàn ông lâm vào hoàn cảnh đúng y chang với câu thơ: người đi một nửa hồn tôi chết; một nửa hồn kia bỗng dại khờ (Hàn Mặc Tử).

Sau những suy nghiệm nghiêm chỉnh về lẽ sinh ly tử biệt của kiếp người, ông ta giác ngộ và thấy ra câu “tình là dây oan” không sai. Nó chính là nguồn khổ cho con người chứ tuyệt nhiên không là dây tơ hồng hay là nguồn hạnh phúc gì hết trọi. Các thi sĩ đều đúng cả khi bảo, “Tình hết vui khi đã vẹn câu thề,” (Hồ Dzếnh) hoặc “Les plus desèspérances sont les chants les plus beaux.” (Alfred de Musset). Vì thế sau bao đêm ôm con trằn trọc, ông quyết định: không thể để núm ruột của mình mười lăm năm, hai mươi năm nữa lại lâm luỵ vào cái khổ của chữ tình. Ông đốt nhà, đem con vào rừng, nơi sâu nhất mà ông tin rằng sẽ không bao giờ có ai có thể vào tới và con gái ông nhờ thế sẽ không bao giờ có được ý niệm về thế giới, về đồng loại, về văn minh, về văn hoá, về kiến thức, và nhất là về tình yêu luyến ái. Nó chỉ biết trên đời này có hai con người duy nhất là nó và bố nó. Ông đốn cây, cắt tranh làm nhà, đào giếng, khai hoang trồng tỉa.

Thời gian trôi qua và cô gái lớn lên. Cô xinh đẹp như một đoá lan rừng và tâm hồn trong như nước suối. Lý do cũng dễ hiểu. Ðã có người hùng nào nhảy vào giấc mơ cô đâu! Trong khi đó tóc cha cô bắt đầu bạc, chân bắt đầu run, và hai bàn tay không còn sức mạnh như xưa để chẻ những khúc củi đốt vào mùa đông. Gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Cô một mình làm hết. Nhìn ban mai, nhìn hoàng hôn, nhìn hoa nở, nhìn chim bay, không biết hát bài “Một Thế Giới Khác” của người viết nhưng biết huýt sáo như chim oanh chim yến.

Thốt nhiên ngày kia có một thằng cha râu ria lạc loài đến đây. Chả không đi xe Camry hay Lexus, mà cỡi ngựa và bị thương nữa. Ông bố vạn bất đắc dĩ phải vực kẻ lạ xuống và đem vào nhà cứu chữa. Cô gái nghiễm nhiên đóng vai nữ trợ tá bất đắc dĩ. Rồi thân thể được tắm rửa, những vết thương được băng bó, và râu ria được cạo. Mèng ơi, cô gái cứ ngẩn ra, và tự hỏi rồi tự trả lời: ai đây? cái gì vậy? thế đấy? ồ ra vậy! vân vân và vân vân. Thế rồi lần đầu tiên trong đời, cô gái không có gương soi mà tự thấy đỏ mặt, không ai check mức độ vi khuẩn như check nước trong spa hay trong hồ bơi, thế mà cô cũng tự biết tâm hồn cô đã… đục dễ sợ, cầu phải có một liều chlorine lớn may ra nước suối lại mới sạch được như xưa.

Chàng bình phục. Rồi thì họ yêu nhau! Ông bố khám phá ra sự thật này đã hết lời giải thích cho con gái ông biết: “Ðừng, đừng bao giờ con đụng vào thằng ấy hay để nó đụng vào con con ơi. Kết quả, coi kìa, bụng con sẽ to bằng bụng con bò ngoài kia rồi có ngày con… lăn ra chết!” Nhưng chết thì chết, cô gái bất chấp. Trong cơn tuyệt vọng của một người phá sản, ông bố giết chàng trai rồi nổi lửa đốt luôn căn nhà. Ông lôi con gái ông đi. Nhưng cô giằng khỏi tay ông, và nước mắt đầm đìa, mặc người cha gào thét, cô lặng lẽ đi thẳng vào căn nhà đang bốc cháy trong có người đàn ông cô đã chọn.

oOo

Trái tim đàn bà xưa sau có những điểm tích cực và tiêu cực khá giống nhau, dù sự rung động của nó cũng có những thay đổi qua các thời đại, chẳng hạn ngày xưa say đắm, lãng mạn, thiết tha, thậm chí yếu mềm, còn ngày nay bộc bạch, thẳng thắn, sòng phẳng đôi khi đến tàn nhẫn; nhưng dù thế nào, phải có nó nhân loại mới có tình yêu. Cộng trừ nhân chia xong cánh đàn ông phải lặng lẽ thừa nhận đó là thứ đáng thờ, duy có mỗi điểm này quý ông cần phải sáng suốt nắm vững khi đã quyết chọn một trái để thờ: đừng mong hiểu nó! Vâng thế đấy, làm sao ta hiểu nổi một đối tượng khi sự khôn ngoan của cánh đàn ông đa thê Hồi giáo (tức thừa thãi kinh nghiệm hơn bọn đàn ông tầm thường chỉ có một con sư tử ở nhà là chúng ta), đã cô đọng lại thành lời cảnh giác thế này: “Bạn ơi, dẫu suốt đời bạn đã tận tuỵ thờ một người đàn bà nhưng chỉ một ngày bạn làm phật ý nàng bằng một việc nhỏ nhất, nàng sẽ sẵn sàng đay nghiến bạn, tự xỉa xỉa ngón tay vào ngực, họng gào lên, rít lên: ‘Cả đời tôi, tôi chưa bao giờ thấy anh làm được một việc gì tốt lành cho tôi cả!’” ./.

Hà Thúc Sinh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Nàng thơ

Phạm Hồng Ân

Tôi bắt đầu làm thơ ở tuổi mười lăm. Cái tuổi của mộng mơ, của kiếm tìm. Thực ra, mộng mơ điều gì đó, kiếm tìm điều gì đó – với tôi, thuở đó – không thể giải bày được. Có lẽ, không thể giải bày được, nên tôi mới lao đầu vào thơ. Tập tành làm thơ. Tìm một “sư phụ” để cố vấn cho ước muốn của mình.

“Sư phụ” tôi chẳng ai xa lạ, là ông anh láng giềng – anh Lời – lớn hơn tôi khoảng vài ba tuổi. Nhà anh Lời ở mặt tiền. Cửa nhìn ra lộ. Nhìn thẳng phía bên kia, là cây me keo xanh biếc, lúc nào cũng soi bóng mơ màng xuống dòng kinh phẳng lì, nước trong leo lẻo. Nhà tôi nghèo, nằm đằng sau nhà anh, cách nhau bởi một lối đi nhỏ vòng vèo. Anh Lời thường bắt ghế trước hiên, hút thuốc liên miên. Mỗi lần hút thuốc, tôi thấy anh luôn ngó ra dòng kinh, như thả hồn theo gió mây, rồi loay hoay xé bao thuốc lá ra, hí hoáy viết lên trên đó. Mỗi lần viết xong, anh rung đùi liên hồi, đọc đi đọc lại, có vẻ thích thú lắm. Một hôm, sau khi hí hoáy xong, anh khoan khoái áp bao thuốc lá vào ngực, mắt lim dim như đang thả hồn vào cõi bồng lai sâu thẳm nào. Không dằn được tính tò mò, tôi nhẹ nhàng nín thở, lê bước đến gần…

Chưa kịp xác định được những dòng ngoằn ngoèo kỳ diệu trên bao thuốc, tôi đã bị anh chộp ngực la lớn:
- Mày…mày định…ám sát tau, phải không?
Tôi lính quính, đưa hai tay lên trời:
- Không, oan cho em! Em định đến gần anh để xem anh viết hay vẽ chi trên bao thuốc?
Anh đẩy tôi té nhào xuống nền đất, rồi dí bao thuốc vào mặt tôi:
- Tau vẽ bùa, viết phép. Mà không, những cái này còn thiêng hơn bùa phép. Mày còn con nít, chưa hiểu đâu?
- Em đã quá mười lăm. Lớn chồng ngồng rồi.
Anh Lời tát nhẹ vào mặt tôi một cái:
- Lớn chồng ngồng cũng chưa chắc hiểu được. Nếu kẻ đó không biết chi về Thơ!
Tôi lặng lẽ nhìn anh Lời một cách khâm phục:
- Thơ? Nhưng tại sao nó thiêng hơn bùa, hơn phép vậy anh?
- Bùa phép có thể dùng để kiếm tình yêu. Nhưng với Thơ, tự nhiên tình yêu sẽ tìm đến với mình.
Tôi hí hửng, tuôn trào:
- Em cũng thích thơ. Anh làm ơn dạy em đi!
Anh Lời làm thinh, lặng lẽ móc trong túi ra ít tiền, trao tôi:
- Này, mày đi mua dùm tau nửa gói thuốc!
Tôi lắc đầu, không nhận. Rồi ba chân bốn cẳng, chạy nhanh đến tiệm, hào phóng mua nguyên gói thuốc thơm cho anh Lời. Tôi hân hoan tặng anh. Hân hoan hối lộ một gói thuốc. Bởi tôi biết, làm thơ chẳng phải dễ. Rất hiếm hoi thi sĩ trên trái đất này, trên cõi đời này.
Tôi ngồi bẹp xuống thềm nhà, bên anh Lời, chăm chỉ và chờ đợi những lời chỉ giáo vàng ngọc của anh. Nhưng anh vẫn im lặng, trầm tư nhìn lên cây me keo bên dòng kinh phẳng lặng. Lát sau, thật lâu, anh từ từ rút điếu thuốc ra, lặng lẽ đưa lên môi, bật diêm, khoan thai rít một hơi dài. Lúc làn khói trắng, từ mũi và miệng anh, ẻo lả bay ra, cuồn cuộn lan cao – anh mới thật sự thì thầm:
- Muốn làm thơ, mày phải có Nàng Thơ.
Tôi băn khoăn:
- Nàng Thơ? Em…kiếm ở đâu ra?
- Ở trong thế gian này, trong cõi đời này, trong xóm này, trong trường mày, trong lớp mày…Trong bất cứ nơi đâu…
Tôi vẫn băn khoăn:
- Xin anh nói rõ hơn. Em chưa hình dung được.
- Gần gũi với mày nhất, là lớp học. Mày nên tìm Nàng Thơ ở trong lớp mày học.
- Nhưng…Nàng Thơ phải ra sao? Hình dáng như thế nào?
- Dĩ nhiên nàng phải đẹp, phải mặt hoa da phấn. Dáng dấp phải kiêu sang. Nói năng phải dịu dàng.
- Nhưng con gái loại đó, làm sao em “cua” được?
Anh Lời “cốc” lên đầu tôi. Cái mu bàn tay anh cứng quá, làm đau nhói cả vùng thái dương.
- Mày ngu quá! Ai bảo mày “cua”? “Cua” được thì hết chuyện. Làm thơ chi cho mệt?
Tôi gãi đầu, xoa xoa chỗ đau:
- Vậy chớ…kiếm Nàng Thơ để làm gì?
- Ðể…trồng cây si, để…thất tình. Chỉ có đau khổ, người ta mới làm thơ được. Mày không thấy những thi sĩ nổi tiếng trên trái đất này, đều có trái tim rướm máu như nhau sao?

Chuyện kiếm Nàng Thơ theo tiêu chuẩn của anh Lời – đối với tôi – khó hơn chuyện mò kim dưới đáy biển. Phái nữ lớp tôi, đa số là dân ruộng, từ quê lên tỉnh học. Chị nào chị nấy đều trải qua quá trình lao động, dãi nắng dầm sương, suốt ngày ngoài đồng. Ðâu có ai còn giữ dáng dấp kiêu sang, mặt hoa da phấn? Vả lại, vì thời cuộc, vì chiến tranh, các chị phải đi học trễ. Nên tuy cùng lớp, họ đã thuộc thế hệ đàn chị, lớn tuổi hơn tôi nhiều.
Thời gian trôi qua, rất lâu, tôi vẫn chưa kiếm được Nàng Thơ một cách toại nguyện. Các bài thơ vẫn lỡ điệu thất vần. Có câu gượng ép. Có chữ sáo ngữ. Anh Lời hậm hực mỗi ngày, mặc dù trên môi anh, lúc nào cũng có điếu thuốc thơm của tôi thường trực đem đến.
Chợt một hôm, có chiếc xe Jeep cảnh sát chạy tới, đậu trước cổng trường. Vị sĩ quan trung niên vừa mở cửa bước xuống, lẽo đẽo theo sau là một cô bé tóc dài, thướt tha trong tà áo dài khuê các. Hai người khoan thai bước vào hiên trường, rồi dừng lại trước lớp tôi.
- Tôi xin giới thiệu. Ðây! Em Công Tằng Tôn Nữ Thư Há vừa theo ba mẹ từ Huế, thuyên chuyển về đây. Chúng ta vỗ tay, hân hoan chào đón bạn mới.
Thầy tôi vừa dứt lời, Thư Há bẽn lẽn bước đến chỗ ngồi, giữa những tràng pháo tay vang dội khắp lớp. Tôi biết, lời giới thiệu trịnh trọng của thầy tôi, chứng tỏ cô học trò mới thuộc gia đình có thế lực. Hay ít ra – cũng là một tiểu thư lá ngọc cành vàng.
Trong vườn hoa cằn cỗi, chỉ cần đóa hoa dại nào đó biết thắm sắc tỏa hương, cũng được thiên hạ tôn vinh là đóa hoa đẹp. Thư Há nằm trong tình trạng này. Nàng nghiễm nhiên trở thành thần tượng của bọn con trai. Nàng làm xôn xao trường học. Làm bọn đàn chị ganh tỵ. Làm các bậc tu mi điêu đứng. Làm tôi một phen phải quắt quay, xính vính. Cả lớp học từng có không khí nghiêm trang ngày xưa, bây giờ sôi động hẳn lên, như có giông tố, gió bão từ đâu thổi về.
Riêng tôi, tôi mừng quá, vì đã kiếm được Nàng Thơ cho mình, theo đúng tiêu chuẩn của anh Lời. Tôi hí hửng tìm sư phụ, báo cáo kết quả.
- Anh ơi, em đã có Nàng Thơ. Nàng vừa từ xa đến, học lớp em.
Anh Lời lôi tôi ra cây me keo, ấn tôi ngồi xuống gốc, rồi mơ màng nhìn ra dòng kinh phẳng lặng:
- Em thế nào? Dung nhan ra sao? Nói rõ ràng đi!
Tôi cố nhớ hình ảnh Thư Há. Cố nhớ những điều làm tôi rung động, ngay từ lúc nàng rón rén, bước những bước đầu tiên vào lớp học. Nhưng tôi cứ lắp bắp, ấp a ấp úng, không thể nào diễn tả nhan sắc Thư Há một cách xuông xẻ, theo ước muốn của anh Lời.
- Mẹ, mày ăn nói úp úp mở mở như thế kia, làm sao tau hình dung được cái gì? Ðược rồi, ngày mai tau sẽ đến tận lớp, đứng bên cửa sổ nhìn vô. Mày chỉ nàng cho tau nhé!
Ngày mai, anh Lời đến lớp thật. Anh đứng tựa cửa, hút thuốc, nhìn chăm chăm về Thư Há, như muốn ăn tươi nuốt sống nàng. Biết có người đang ngắm nghía mình, Thư Há vuốt nhẹ mái tóc, môi dưới trề ra, miệng nở nụ cười mím chi, đôi mắt chớp chớp như cố tình đá lông nheo với anh Lời.
Chiều về, anh Lời mò đến nhà, lẳng lặng kéo tôi ra sân, thân mật dúi vào tay tôi một điếu thuốc thơm.
- Nàng Thơ mày quả thật tuyệt vời! Tuy không đẹp như Tây Thi, nhưng có làn da trắng trẻo, đôi mắt lãng mạn, nụ cười đa tình. Ngần thứ ấy, đủ để mày làm thơ suốt đời.
- Ðôi mắt lãng mạn là thế nào? Nụ cười đa tình là ra sao, vậy anh Lời?
- Mẹ, mày ngu như bò. Mày không thấy khi nhìn trai, đôi mắt nàng lờ đờ như đôi mắt cá ươn sao? Và nụ cười, nụ cười lúc nào cũng nửa miệng. Như mời gọi, như đón chờ, như đưa người ta vào cõi thôi miên vô tận?
Tôi vỗ đùi, khoái trá:
- Ừ, em biết rồi! Như nàng có bùa, phải không? Bọn con trai lớp em mê nàng đến điên cuồng. Thằng nào thằng nấy cũng sẵn sàng nhào vô, chết vì nàng.

Từ khi có Nàng Thơ, tôi bắt đầu tư lự, bỏ học dài dài. Theo anh Lời, muốn làm thơ hay, phải trồng cây si, phải thất tình. Trồng cây si, với tôi, có khó chi đâu? Buổi sáng, chịu khó ôm cặp, lẽo đẽo theo Thư Há đến trường. Hoặc mỗi đêm, lòng vòng quanh nhà nàng, rồi len lén đứng núp sau hàng rào dâm bụt, nhìn trộm bóng dáng nàng , lung linh lúng lính dưới ánh đèn nơi bàn học. Anh Lời còn nói, thỉnh thoảng phải có chút rượu làm chất xúc tác cho thơ. Rượu là men đời, là thần sầu. Có nó, ta đi vào thơ một cách dễ dàng và kỳ diệu.
Tôi lại bắt đầu uống rượu. Cái gì, lúc bắt đầu cũng quá khó khăn, khổ sở. Nhưng sau đó, quen dần, quen đến độ như ghiền. Những ly rượu đế cay xè, được bè bạn chuyền tay nhau đưa lên môi, sao khó khăn hơn uống độc dược? Những ngụm rượu đụng vào lưỡi đã tê điếng các giác quan. Nuốt đến cổ, chưa chi đã nóng ran cả lồng ngực, cháy xé cả ruột gan. Vậy mà, chẳng bao lâu, hết xị này đến xị khác, tôi nốc lia chia, cho đến khi hình ảnh Thư Há hiện lên, chập chờn dẫn tôi vào cõi thơ.
Trong lúc tôi gắn bó với Nàng Thơ, say sưa với ước muốn đầu đời, thì anh Lời – bỗng dưng – biến đâu mất tăm. Nhà anh, suốt ngày, đóng cửa thin thít. Trước hiên, cái ghế anh thường ngồi làm thơ, bây giờ, bụi đóng loang loáng. Vài mẩu giấy vụn, quanh đó, vung vãi. Lâu rồi, chúng vẫn còn nằm trơ, y nguyên một chỗ. Chỉ có buổi tối, thỉnh thoảng, rất khuya, bên nhà tôi nhìn sang, mới thấy bóng anh Lời nhấp nha dưới bếp. Anh nuốt vội những thìa cơm nguội muộn màng, để cho kịp giấc ngủ đang chực chờ lao nhanh đến.
Cho tới một hôm, bất chợt, có tiếng con gái cười khúc khích, từ trong nhà anh vọng ra. Tiếng cười quen thuộc, thân thương – hình như tôi từng nghe loáng thoáng nơi đâu? Phải chăng, đôi lúc nó vút cao như tiếng chim họa mi cuống cuồng tìm bạn, rồi chợt rơi xuống đến tận cùng âm thanh, tiếng cười bỗng trầm đục như tiếng vỡ của chiếc bình cổ quí giá. Tôi cố lục dần trí nhớ. Ðúng rồi! Tiếng cười của Thư Há. Của thần tượng. Của Nàng Thơ tôi.

Tôi đứng chết trân trên lối đi vòng vèo, phía sau nhà anh Lời. Tôi cố áp tai vào vách, lắng nghe điều gì sẽ xảy ra, sau cái âm thanh khúc khích kiêu sa đó. Và tôi chỉ nghe hơi thở Thư Há quyện cùng hơi thở anh Lời, lúc dồn dập, lúc khắc khoải, như nhịp đập của trái tim sắp tung ra khỏi lồng ngực.

oOo
Tôi đợi con bé ở tầng dưới thư viện. Chắc chắn giờ này, con bé sẽ đến. Cái cầu thang thoai thoải, uốn cong như con rắn khoanh tròn, dường như, nó muốn xoải lưng cất cao, chờ mong bàn chân tiểu thư của con bé dẫm lên. Tôi đứng ở đây, mỗi chiều, vào giờ này, suốt hai tháng trời. Từ khi tôi bắt gặp con bé cầm quyển việt ngữ trên tay, chăm chú đọc từng trang. Từ khi con bé ngước lên nhìn tôi. Mái tóc buông lơi, phất phơ theo gió. Có những sợi tóc mai mỏng mảnh bám nhẹ vào môi. Vành môi đỏ hồng phía dưới trề ra, để lộ nụ cười nửa miệng, nhếch nhác. Cùng lúc, đôi mắt ngơ ngác, nghệch ngạc đến độ gượng gạo. Rồi thình lình, đôi mắt ấy ánh lên một màu vàng đùn đục, tương tự màu nắng hoàng hôn đang lồng lộn giẫy giụa giữa sóng nước trùng khơi. Thoáng chốc, tôi sửng sốt, bàng hoàng, muốn rơi rụng cả chân tay. Con bé như bản copy tuyệt hảo nhất của tạo hóa. Con bé giống Thư Há như đúc, như in.

- Chú ơi, cháu muốn ra biển với chú, chiều nay.
Cái cầu thang như lập cập động đậy. Con rắn uốn cong, trở mình. Bàn chân nõn nà vừa dẫm lên, một nấc, hai nấc. Tôi nghe tiếng phần phật từ vạt áo con bé, tự nhiên chạm vào tay tôi, rát rạt.
- Cháu không ở thư viện đọc sách sao?
- Ngưng một bữa chú ạ! Cháu vừa có tin vui. Má cháu ngày mai qua đây. Vui quá, cháu chỉ muốn đi lòng vòng, với chú.
Tôi bỗng muốn quỵ xuống, mừng rỡ đến run cả đôi chân. Mai này, tôi sẽ gặp lại Thư Há. Tôi sẽ thật sự đối diện với Nàng Thơ, mà 42 năm qua, đã có một thời làm ngôn ngữ tôi bật khóc. Rồi trong cơn chập choạng của trí nhớ, tôi luống cuống nắm chặt cánh tay con bé, chạy như bay ra bãi đậu xe.
Biển, chiều nay, không đẹp. Mây vần vũ bên kia, làm mù đục góc trời. Ngoài khơi, sóng tung tăng như bầy ngựa hung hăng, bờm dựng lên trắng xóa, đua nhau phi thẳng vào bờ. Âm thanh đì đục, đùng đùng, vang dội khắp đất trời, dường như phá tung cả hư không. Tôi cởi giày, chạy theo con bé. Cát mềm nhũn dưới chân. Nó lão nhão, sền sệt như lớp phù sa nào đó, trên đồng bằng Cửu Long ngày trước. Tôi cứ nhắm màu áo con bé chạy tới, cho đến khi con bé lăn đùng bên gờ một đụn cát.

- Chú ơi, cháu có đọc thơ chú trên báo. Nhưng bài thơ nào chú cũng viết về biển. Tại sao biển luôn canh cánh trong lòng chú vậy?
- Ơ, dễ thôi! Vì ngày xưa chú là lính biển. Biển luôn bên cạnh chú, luôn thao thức với chúù từng tháng rộng, năm dài.
- Riêng cháu, cháu ghét biển vô cùng.
Tôi nhìn vào mắt con bé. Biển lung linh trong đó. Giông tố, bão bùng khuấy động trong đó.
- Sao vậy cháu? Sao ghét biển đến vô cùng thế?
- Biển đã cướp mất người cha thân yêu của cháu, trên chuyến vượt biên. Mẹ cháu từng tuyệt vọng, hóa điên cuồng.
- Nhưng biển đã dẫn gia đình cháu đến bờ bến tự do…
Con bé gục xuống đụn cát. Cánh tay vươn ra phía trước. Ðôi vai nhô lên như miếng bánh tráng căng phồng trong ngọn lửa. Chiếc cổ nõn nà, phập phều theo tiếng nấc ràn rụa của con bé. Tôi bùi ngùi, loay hoay quỳ xuống đụn cát. Gió thốc tháo, cuồng bạo, hốt tung váy con bé lên cao. Tôi nhắm nghiến mắt lại, để không muốn nhìn thấy đôi chân trắng nõn lộ ra, mềm mại chạy dài lên đến đỉnh đùi. Bỗng dưng, con bé xoay lại, xoải hai cánh tay nuột nà ôm chầm lấy tôi. Hương tóc, hương da thịt…và hình như, cả hương nước mắt nữa…đua nhau xộc vào mũi tôi, khiến tôi cứ lềnh bềnh ngất ngây trôi trên vùng cảm giác tuyệt vời.

oOo
Tôi chọn mua bó hoa rực rỡ nhất, rồi lẽo đẽo theo con bé ra phi trường. Lối vào gate đầy người. Ðèn xanh, đèn đỏ nhấp nha nhấp nháy trên các máy rà soát hành lý. Những đôi giày tháo tung. Những chiếc vớ tụt xuống. Những bàn chân trần lộ ra, trước cặp mắt dò xét của security. Ngành du lịch Mỹ đã mất đi vẻ thú vị tự do, sau đại nạn khủng bố năm 2001. Tuy vậy, con bé vẫn lẩn vào đám đông, chen về phía trước, đứng nhấp nhỏm ở lối ra để đón mẹ.

Tôi co rúm như con sâu, ngồi thu lu nơi góc ghế, chăm chú nhìn theo con bé. Bó hoa hồng rực rỡ đang nằm trong tay. Tôi ôm nó vào lòng, siết chặt, như cảm thấy trái tim Thư Há bên cạnh trái tim mình. Ôi, ấm áp và thân thương biết bao! 42 năm trôi qua, sau cái đêm chợt nghe tiếng cười khúc khích kiêu sa của nàng, vọng ra từ nhà anh Lời. Chúng tôi biền biệt xa nhau. Không gặp nhau lần nào nữa. 42 năm mất Nàng Thơ, thơ tôi mãi đau đáu khơi dòng. Mỗi ý tưởng, mỗi vần điệu vẫn quằn quại bóng dáng nàng, vẫn phảng phất hơi hướm Thư Há. Tôi còng lưng vác túi thơ như vác thập giá đi khắp bốn phương trời. Thần tượng đã sụp đổ. Nhưng nỗi đau sụp đổ mãi còn nằm đó. Nằm trong từng con chữ, từng dấu ấn của thơ.

Con bé chợt kêu lớn, rồi nhào đến ôm chầm một người đàn bà lạ. Tôi luống cuống đứng dậy. Trái tim tự dưng đập liên hồi. Hai tay run rẩy, đến nỗi bó hoa muốn chực rơi xuống nền gạch. Trời ơi! Thư Há đây sao? Một lão bà còm cõi đang khục khặc ho trong vòng tay nhỏ nhắn của con bé. Mùa này, trời đang nóng, thế mà Thư Há khoác trên mình cái áo ấm dày cộm. Ðã vậy, xung quanh cổ còn quấn thêm lớp khăn choàng màu rêu xậm. Tôi cắn chặt vành môi, mở to mắt để cố xác định sự thật phũ phàng. Ðâu rồi bóng dáng kiêu sa với mái tóc thướt tha ngày trước? Ðâu rồi nụ cười nửa miệng, đôi mắt lãng mạn thăm thẳm trời sầu? Tất cả cái đẹp mất hết. Tất cả đều lùi vào quá khứ, chôn kín, mất tăm, theo bóng ma kỷ niệm. Tôi buông bó hoa rơi xuống ghế, lảo đảo ngó Thư Há một lần nữa. Tôi chỉ nhìn thấy cái lưng khom khom của lão bà nào đó. Cái khuôn mặt tan tác hom hem của thời gian khắc nghiệt. Và mái tóc bạc phếu xác xơ đang giãy giụa mỏi mòn trên vầng trán khô khan nhựa sống. Bỗng nhiên, tôi nấc lên một hơi dài, rồi ôm mặt chạy như điên ra khỏi phi trường.
Nắng hừng hực trên các ngọn cây, đổ hào quang xuống thềm đường, lấp la lấp lánh trong những lòng kính nơi parking lot. Chiếc xe, lúc này, nóng phừng phừng như có lửa đốt. Tôi chui vào ghế, gục đầu xuống tay lái, nghe quá khứ và hiện tại đua nhau cấu xé trong lòng. Thần tượng sụp đổ. Nàng Thơ già cỗi. Không lẽ đành để thơ tôi đi vất vưỡng vào ngõ cuối cuộc đời? Tôi chợt nhớ lời nói anh Lời năm xưa. Làm thơ phải có Nàng Thơ. Nàng Thơ phải đẹp, phải mặt hoa da phấn, dáng dấp kiêu sang…Ðúng rồi, muốn cứu thơ tôi ra khỏi cơn hấp hối, tôi đành đi tìm Nàng Thơ khác. Và tôi chợt nghĩ đến con bé. Chỉ có con bé là bản copy tuyệt hảo nhất của tạo hóa. Chỉ có con bé, trong lúc này, mới đủ tầm vóc lên ngôi thần tượng.

Như có sức mạnh ma quái nào đó kéo tôi bật dậy, tôi mở toang cửa xe, ngó thẳng lên trời cao thăm thẳm. Rồi dường đắc chí điều chi, tôi chợt vuốt râu, cười hào sảng với mình. Phải chi có thuốc cải lão hoàn đồng thật sự, tôi sẽ nhắm mắt tu một hơi, cho trẻ lại như cậu thiếu niên ngày trước.

Phạm Hồng Ân
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Quỳnh Giao ra mắt 'Một Buổi Chiều Thơ Mộng'


WESTMINSTER (NV) - Buổi ra mắt tạp ghi “Một Buổi Chiều Thơ Mộng” của tác giả Quỳnh Giao sẽ được tổ chức lúc 2 giờ 30 chiều Chủ Nhật,
23 Tháng Mười tới đây, tại hội trường nhật báo Người Việt, 14771 Moran St., Westminster, CA 926683.

Image
Hình bìa tạp ghi “Một Buổi Chiều Thơ Mộng” của tác giả Quỳnh Giao. (Hình: Người Việt)


Theo tờ chương trình do ban tổ chức phổ biến, một số diễn giả quen thuộc trong giới văn nghệ sẽ có mặt, như nhà báo Phạm Xuân Ðài, nhà văn Huy Phương, kịch sĩ và nhà văn Lê Tuấn; nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Ðình Toàn.

Ngoài phần ra mắt tạp ghi “Một Buổi Chiều Thơ Mộng,” còn có phần trình diễn văn nghệ đặc sắc của các ca sĩ Kim Tước, Phạm Hà, Lê Hồng Quang và dương cầm thủ Thụy Khanh. Người điều khiển chương trình là nhà báo Ðinh Quang Anh Thái.

Vào cửa tự do. Vì số chỗ ngồi giới hạn, ban tổ chức xin quý vị đến đúng giờ để hàn huyên cùng tác giả, nhận ký tặng sách và thưởng thức một buổi chiều Thu thật đẹp. Mọi chi tiết, xin liên lạc ban tổ chức: (714) 230-5127. (L.N.)
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

RỒI CŨNG THÈM CƠM.

Nguyễn Thị Thanh Dương

Tới 11 giờ đêm, là giờ tan ca, anh Tư Chuột hối hả thu xếp đồ nghề bỏ vào tool box. Bác Bông mỉm cười trêu chọc:
- Đi đâu mà vội thế? trước sau cũng về với vợ thôi, tối nay cuối tuần hai vợ chồng tha hồ mà tâm tình nhé.
Tư Chuột nháy mắt với thằng bạn đang đứng đợi bên cạnh và đáp:
- Tối nay tụi em đi câu cá ông anh ạ.
- Hai vợ chồng làm việc trái giờ trái giấc, đứa ca sáng đứa ca chiều, có ngày cuối tuần gần nhau lại bỏ đi câu là thế nào? Mà sao lại đi vào giữa đêm như thế này?
- Phải đi câu về đêm mới nhiều cá, mới vui thú chứ.
Bác Bông cũng hào hứng lây:
- Thích nhỉ, hôm nay chú mày đột xuất quá anh chưa kịp chuẩn bị, lần sau cho anh đi câu với.
- Được rồi, nhưng bác không được dắt theo bác gái đấy nhé?
- Yên chí, đàn bà nhất là bà xã anh thì đời nào thích đi câu, cứ mang cá về cho bà ấy nấu nướng là bà ấy hài lòng rồi.
Tư Chuột và thằng bạn kéo nhau đi, hai người cười khoái chí bảo nhau:
- Đúng là ông già Bông quê một cục, mình nói bóng gío thế mà cũng không hiểu. Ai mà khùng đi câu cá lúc nửa đêm.
Bác Bông lúi húi thu xếp đồ nghề của mình và nghĩ tới một chuyến đi câu đêm với Tư Chuột, sẽ mang về những con cá tươi rói cho vợ tha hồ chế biến, chiên ròn chấm nước mắm tỏi ớt hay nấu canh chua ngon phải biết…
Bác Bông đâu biết rằng Tư Chuột theo thằng bạn đi tới gần sáng mới mò về tới nhà, bước chân lảo đảo vì hãy còn hơi men, chỉ kịp vào đến giường là Tư Chuột đổ nhào xuống như một cái xác không hồn. Nhưng chị Tư Chuột không để yên cho cái xác ấy nghỉ ngơi, mà lay nó dậy để hỏi tội:
- Anh đi đâu, ở đâu và làm gì suốt đêm? rồi về nhà ăn vạ vợ con như thế này??
- Lại đi với gái phải không? người toàn mùi rượu và mùi son phấn…
Chị nói hai câu, anh mới nói được một câu hù dọa:
- Để yên cho tôi ngủ, nói nữa tôi đá cho té ngửa ráng chịu.
- Trời ơi, có ngon thì anh đá tôi coi.
Dĩ nhiên anh không dám.Vợ chồng Tư Chuột lấy nhau đã 5 năm, có thằng con lên 3 tuổi, sau vài năm đầu mặn nồng, anh Tư Chuột lại trở về thói quen xưa, thích ăn nhậu và bồ bịch lăng nhăng. Biết tính chồng, chị Tư Chuột đã nhiều lần khuyên can nhưng chỉ được ba bữa, rồi đâu cũng vào đấy, đã mấy lần chị tính chuyện li dị, nhưng vẫn thương chồng thương con nên lại thôi.
Lần này chị không thể nhu nhược chịu thua chồng nữa, cứ tưởng tượng đêm qua Tư Chuột rời khỏi hãng là đi đến quán nhậu trá hình nào đó, trước là ăn nhậu sau là gái đẹp trong tay, trong khi ở nhà chị mất ngủ, mỏi mắt chờ trông thì chúng nó âu yếm bù khú với nhau là chị uất lên tới cổ. Đồng lương mang về nhà càng ngày càng hao hụt dù anh Tư Chuột làm thợ giỏi, lương cao và làm over time khá nhiều, mà càng kiếm được nhiều tiền thì Tư Chuột càng rửng mỡ đi đêm nhiều chứ vợ con hưởng là bao?.
Tư Chuột ngủ một giấc đến trưa mới tỉnh dậy, thấy vợ mặt xưng xỉa một đống, bếp núc lạnh tanh, không như những buổi cuối tuần khác, sáng ngủ dậy trễ đã ngửi thấy mùi của nồi phở hay hủ tíu mì thơm phức.
Anh ta chán nản khóac áo đi ra ngoài, nhưng chị đã kéo áo lại:
- Anh ngồi đây, tôi muốn nói một chuyện nghiêm chỉnh với anh
Tư Chuột ngồi phịch xuống ghế, mỉm cười cầu hòa:
- Thôi, bỏ qua cho tôi nhờ, đêm qua lỡ vui đi nhậu với thằng bạn thôi mà.
- Anh chỉ nói một nửa sự thật, đừng hòng qua mắt tôi. Tôi đã điều tra và biết là anh đã từng ăn nhậu ở quán nào, ngủ với gái ở đâu rồi. Và anh từng ra quán cà phê nào để đánh cá và bài bạc. Tứ đổ tường thì anh dính đến ba thứ. Đó là lý do cho đến bây giờ chúng ta vẫn ở thuê apartment, vẫn trả nợ xe chưa hết, tài chánh bấp bênh, tương lai không ổn định, hạnh phúc thì mong manh.
Tư Chuột chống chế:
- Có ít thì người ta xít ra nhiều, cô đừng nghe lời thiên hạ. Công nhận tôi có nhậu nhẹt, cờ bạc, nhưng có khi cũng thắng lớn chứ bộ.
Chị đay nghiến:
- Thua bài bạc thì vào tiền nhà, còn khi anh thắng thì tôi chẳng thấy tiền bạc đâu, anh đem vào quán nhậu bao bạn bè, bao gái, may ra mang về nhà cho vợ con được hộp thịt heo quay và mấy món food to go cho lương tâm khỏi cắn rứt. Anh nói đi, anh đang bồ bịch với con nào?
Tư Chuột đành nhận tội:
- Thì quán nhậu nào chẳng có mấy em tiếp viên tươi mát để câu khách, tôi có lạng quạng với tụi nó cũng là qua đường, cũng là ngán cơm thì ăn phở đổi khẩu vị mà thôi, chứ yêu thương gì.
Chị Tư Chuột gào lên:
- A, thì ra anh chán chê tôi, nên đi tìm người trẻ đẹp hơn chứ gì! tôi không thể chịu đựng tình cảnh này mãi, sẽ ảnh hưởng tới thằng con chúng ta sau này, chúng ta phải li dị, đường ai nấy đi, hồn ai nấy giữ.
Nhìn bản mặt giận dỗi của vợ, càng giận trông càng thấy ghét, anh Tư Chuột nóng máu đứng phắt dậy:
- Rồi, thích thì chiều, ly dị đi cho tôi rảnh nợ.
Và Tư Chuột bước ra khỏi nhà mặc cho chị vợ ngồi khóc tức tưởi một mình.
***************
Nhưng trước khi li dị, vợ Tư Chuột ly thân, chị mang thằng cu Tí về ở với mẹ chị tại tiểu bang khác.
Anh Tư Chuột thừa biết gia đình bên vợ đông, bà mẹ vợ, các em vợ sẽ xúm vào lo cho mẹ con chị Tư Chuột, nên anh ta yên tâm.
Bỗng dưng chị vợ quyết định chia tay cho Tư Chuột được hưởng đời tự do, bản tính ăn chơi trăng hoa của Tư Chuột được dịp vùng lên thoải mái. Có lập gia đình, vướng víu vợ con mới thấy cuộc đời bị khống chế, tù túng bao nhiêu, vợ có đẹp cũng là món cơm thường ngày ăn hoài phát ngán, thỉnh thoảng đổi món ăn phở thay cơm, lén lút bồ bịch bên ngoài mới thú vị. Từ nay Tư Chuột sẽ tha hồ ăn “phở” hết nơi này đến nơi khác, thay đổi khẩu vị cho sướng đời, và về đến nhà không có ai hạch hỏi để phải nói dối, phải năn nỉ ỉ ôi để chạy tội..
Nhưng Tư Chuột không ngờ rằng chỉ một năm, sau những bữa vui nhậu tàn canh, thay đổi bồ bịch lia chia, bạc bài thâu đêm, Tư Chuột kinh hòang thấy mình trắng tay, mà những ham muốn cũng vơi dần, không còn hấp dẫn nữa. Tư Chuột bỗng tiếc cuộc sống ngăn nắp tử tế trước kia, thèm bữa cơm gia đình, thèm được cõng thằng Cu Tí lên vai, nghe nó nói, nghe nó cười. Thì ra vợ là món cơm nhà, ăn mỗi ngày tuy có ngán nhưng vô cùng cần thiết, Phở ngoài đường chỉ là món ăn chơi ngon miệng chẳng no lâu.
Tư Chuột vẫn giận vợ, tự ái cành hông, vì chị ta đã mang con ra đi. Thể nào chị chẳng ngấm ngầm theo dõi, điều tra cuộc sống hiện nay của anh và đang hả hê mãn nguyện vì anh đang điêu tàn?
Tư Chuột sẽ tìm một người vợ khác và sẽ tạo dựng một mái gia đình đàng hoàng cho chị biết thân. Nhìn quanh quẩn lại Tư Chuột chỉ thấy một lũ bạn ăn chơi, những cô bồ tạm bợ, nay thằng này mai thằng khác, chẳng xứng đáng cho anh rước về làm vợ. Mấy thằng bạn đốc thúc Tư Chuột tìm vợ qua mục kết bạn bốn phương cho nhanh chóng.
Mục tìm bạn cũng lắm gian nan, chẳng biết đâu là thực là gỉa? nhiều người vỡ mộng khi đối diện nhau, khi biết sự thật của nhau. Thà cứ thành thật ngay từ ban đầu, nếu đối tượng cảm thông đến với nhau thì hay hơn, thoải mái hơn. Anh quan niệm thế nên viết đi viết lại lời rao tìm bạn mấy lần mới vừa ý:
“Đàn ông 35 tuổi, đã từng cờ bạc, rượu chè, và gái gủng. Bị vợ bỏ, sống lông bông cả năm nay, nghèo rớt mồng tơi, ở nhà thuê, đi xe cũ rích nay hư mai hỏng. Bỗng thấy hối hận vì đã lãng phí cuộc đời, ăn phở hoài phát chán chê, nay thèm ăn cơm, thèm một mái gia đình ấm cúng.
Khao khát tìm một người vợ, dù người ấy có quản lý từng xu teng, dù người ấy có quát tháo, mắng mỏ cả ngày tôi cũng welcome.
Tái bút: không giới hạn nhan sắc, miễn là hợp nhau.”
Tư Chuột gởi đăng lời rao tìm bạn bốn phương trên báo và chờ đợi, anh đang ước mơ cháy bỏng những thứ mà anh từng có trong tay.
Một tháng trời trôi qua, chẳng có ma nào cảm thông và gởi thư cho anh cả, đàn bà con gái ở Mỹ này đâu có dư thừa mà vồ lấy một thằng đàn ông vừa nghèo vừa hư như Tư Chuột làm chồng? cuối cùng chỉ có những lá thư xa xôi từ Việt Nam bay tới, cô nào cũng tỏ ra bao dung, hiền dịu, chấp nhận tính xấu và hoàn cảnh của Tư Chuột, lựa lọc mãi, Tư Chuột mới chấm được một cô.
Sau vài lá thư qua lại, cô gái kiêu hãnh khoe rằng cô trẻ đẹp, đăng báo tìm bạn có nhiều người làm quen với cô, nhưng vì cảm mến lời rao chân tình của anh nên cô sẵn sàng làm vợ nếu anh bảo lãnh cô sang Mỹ, cô nói rằng những thói hư tật xấu của anh không nhằm nhò gì, cô hứa sẽ yêu anh và sẽ là món cơm cho anh ấm lòng cả đời.
Tư Chuột cảm động lắm, nhưng anh chợt nhớ lại mấy chuyện đã tai nghe mắt thấy, biết đâu cô gái kia chỉ muốn mượn đường sang Mỹ, xong cái thẻ xanh là li dị?. Biết đâu cô gái kia là gái bia ôm, gái nhảy, muốn tìm đường thoát thân, để đổi đời?
Một người quen của Tư Chuột có cô cháu gái ở Việt Nam đăng báo tìm bạn bên Mỹ, chẳng có ai ra hồn hay nghiêm chỉnh tìm đến với cô cả, ngoài một ông Mỹ gìa mà còn dở hơi, sống cô lập ở miền núi Ozark thuộc tiểu bang Arkansas, ông sống trong một căn nhà sàn tự làm lấy, ăn rau do chính mình trồng và xử dụng nước suối nước hồ …Ông ra điều kiện nếu lấy ông ta phải sống như thế suốt đời, nghe tưởng là thanh cảnh vui thú điền viên, nhưng suy nghĩ kỹ thì chắc là thần kinh của ông Mỹ có vấn đề?, từ chối mọi tiện nghi văn minh đời sống để rước khổ vào thân, còn đòi lấy vợ đẻ con để khổ thêm người khác. Rồi vợ ông sẽ đi bộ bao nhiêu mile mới tới một ngôi chợ để mua những thứ tối thiểu cần thiết cho đời sống ngoài rau xanh và nước uống kia? rồi con ông sẽ đi học ở đâu? Xe bus nào chịu khó len lỏi vào tận rừng sâu, núi cao mà chở con ông đến trường? Cô gái vẫn hớn hở chấp nhận kiểu sống ấy để lấy ông Mỹ, dĩ nhiên sau khi cầm cái thẻ xanh trong tay, cô ta ly dị, để ông gìa hưởng nhàn một mình với núi non.
Nghe sao mà giống trường hợp cô gái trẻ đẹp này đang hớn hở chào đón Tư Chuột qúa!
Bác Bông, ông bạn gìa làm cùng hãng, biết tin Tư Chuột đang tìm bạn bốn phương đã khuyên Tư Chuột rất có lý có tình:
- Chú mày việc gì phải tìm bạn bốn phương tám hướng cho mất công, chắc gì đã tốt lành bằng người vợ cũ? Chú mày phải công nhận là chú mày có lỗi với vợ con nên mới ra nông nỗi này, thì hãy đi tìm người vợ cũ mà xin lỗi, mà tái hợp.
Tư Chuột nhăn nhó:
- Ông anh ơi, em xuống nước đã đành, mà nó từ chối thì em quê lắm.
- Nó có từ chối thì ít ra lương tâm chú mày cũng thanh thản, coi như đã nói được lời xin lỗi với vợ con. Nhưng nó ly thân cả năm nay mà chưa tiến hành ly dị, biết đâu chỉ là thử thách chú mày và vẫn đợi chờ, vẫn còn thương?
Có ông bạn gìa nhà quê chân chất thế mà hay, trong khi mấy thằng bạn thân cùng “chiến tuyến” chỉ lo chơi bời, ăn nhậu, cứ khích lệ Tư Chuột tìm bạn bốn phương hay về Việt Nam tìm vợ trẻ đẹp con nhà giàu, trong khi bản thân Tư Chuột có bằng ai? Chắc gì giữ được loại vợ ấy trong tay suốt đời?
Thời gian đầu sau khi vợ con ra đi, Tư Chuột còn thỉnh thỏang gọi phone thăm con, sau thưa dần. Không biết bây giờ vợ con anh ra sao?
Tư Chuột xin nghỉ việc một tuần để đi gặp vợ con.
Đứng trước ngôi nhà bà mẹ vợ bỗng dưng Tư Chuột hồi hộp cảm xúc như ngày xưa lần đầu tiên đến nhà này thăm chị. Ngày xưa ấy hai người đã yêu nhau biết chừng nào.
Cánh cửa mở ra, là khuôn mặt bà mẹ vợ, Tư Chuột chào mà như mắc nghẹn:
- Mẹ có khỏe không? vợ con con có khỏe không?
Bà mời anh vào nhà, thằng cu Tí mới có một năm cách xa trông nó lớn hẳn ra, vừa thấy bố, thằng bé trố mắt nhìn ngạc nhiên, nép vào lòng bà ngoại, nó hỏi:
- Bà ơi, ông này là ai?
Tư Chuột đau nhói trong lòng, đứa con ruột thịt đang dần quên cha nó. Bà mẹ vợ dắt tay thằng Cu Tí đến bên Tư Chuột:
- Bố của con đây mà, con nhớ ra chưa? Bố bận rộn đi làm ăn xa nay mới trở về thăm con.
Thằng bé mỉm cười như biết lỗi và ngoan ngoãn ngồi im trong lòng bố. Tư Chuột cảm động nhìn mẹ vợ:
- Hôm nay con đến đây để xin lỗi vợ con, không biết cô ấy có tha lỗi cho con không?
- Từ ngày hai vợ chồng chia tay, nó có vui sướng gì đâu. Thôi, con ngồi đây để mẹ vào trong gọi nó ra.
Khi vừa thấy chị trong nhà bước ra, Tư Chuột vụt nhỏm dậy, tay bế thằng cu Tí tay cầm lấy tay người xưa, giọng anh nghèn nghẹn:
- Em ơi, hãy tha lỗi cho anh!
Chị ngúng nguẩy:
- Anh còn đến đây làm gì, sao không vui hưởng cuộc sống tự do cho thỏa thích?.
- Anh biết lỗi của anh rồi, em chửi mắng bao nhiêu anh cũng chịu, miễn là em cho phép anh được trở về sống với mẹ con em như trước kia. Mà em tự ý bỏ anh chứ anh có dám bỏ mẹ con em đâu.
Chị òa khóc làm thằng cu Tí chẳng hiểu gì cũng khóc theo, nhưng là những giọt nước mắt đoàn tụ hạnh phúc:
- Phải, em chịu hết nổi nên đành buông. Nếu anh vẫn mải mê ăn chơi và không bao giờ quay lại với vợ con thì em sẽ chẳng tiếc một người chồng bội bạc, vô lương tâm như thế. Nếu anh quay về như ngày hôm nay thì em đã đúng khi cho anh một bài học thử thách.
Tư Chuột choàng tay ôm qua vai vợ, âu yếm khen:
- Không ngờ em cao tay ấn qúa, một năm sống tự do buông thả anh đã thức tỉnh rồi em ạ, không gì bằng vợ con. Em là vợ hiền, là món cơm nhà tuyệt vời nhất mà bây giờ anh mới nhận ra.

Nguyễn thị Thanh Dương
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Mùa thu trong tình ca Việt
“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường... Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy giá lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm Nay Tôi Ði Học...”

Tôi còn nhớ mãi bài “Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh hồi mới lên trung học Ðệ Nhất Cấp. Do đó mùa thu vẫn là đề tài được bàn tán muôn thủa bởi những nhà văn, nhà thơ hay những nhạc sĩ trong kho tàng văn chương hay âm nhạc Việt Nam. Người ta ca tụng mùa thu, bối cảnh mùa thu được dàn dựng trong những tác phẩm của họ như những không gian lá vàng rơi hay những chia ly buồn bã. Tôi yêu mùa thu từ bản chất, yêu cả những bản nhạc mùa thu.

Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài này, tôi cố gắng đưa ra một số bài tiêu biểu của những nhạc sĩ đã sáng tác những tác phẩm về mùa thu. Tôi vốn thích bản thu ca tiền chiến của nhac sĩ Ðoàn Chuẩn-Từ Linh. Cuối thập niên 50 khi tôi còn học tiểu học, thầy giáo của tôi di cư từ miền Bắc vào. Ông có một tâm hồn nhạc sĩ, chính ông đã để lại trong tôi một ấn tượng thật tuyệt vời của một mùa “Thu quyến rũ”:

“Anh mong chờ mùa thu
Trời đất kia ngả màu xanh lơ
Ðàn bướm kia vui đùa trên muôn hoa
Bên những bông hồng đẹp xinh
Anh mong chờ mùa thu
Dìu thế nhân vào chốn thiên thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa thu quyến rũ anh rồi ...”

Trong bối cảnh buồn bã nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói về mùa thu của ông qua đi khi “Nhìn những mùa thu đi.” Thu đi và để lại cho chúng ta những chia ly, những nuối tiếc sầu rơi, những ý nghĩ riêng tư man mác trong tâm hồn:

“Nhìn những mùa thu đi
Em nghe sầu lên trong nắng
Và lá rụng ngoài song
Nghe tên mình vào quên lãng
Nghe tháng ngày chết trong thu vàng...”

Khi người ta yêu nhau thì mọi thứ đều “từ thiện,” người ta sẽ cho nhau tất cả, từ những tháng ngày, những tặng phẩm quý báu, cho con tim, cho nhau kỷ niệm,... Với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ông cho người tình cả một bầu trời mùa thu tuyệt vời về nhạc và lời ca. Bài “Mùa thu cho em” được ra đời năm 67. Chính bài ca này đã đánh thức tôi những cái đáng yêu của một mùa thu tình ái:
“Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
Em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới
Mang ái ân mang tình yêu tới
Em có nghe, nghe hồn thu nói
Mình yêu nhau nhé...”

Mùa thu là mùa của nỗi buồn, của chia tay, của những mối tình dang dở. Ở tuổi còn đi học, những nam sinh vẫn có những kỷ niệm đến đứng ngẩn ngơ ở cổng trường con gái như những cửa trường Gia Long, Nguyễn Bá Tòng, Sương Nguyệt Ánh hay Trưng Vương. Ðể rồi “Em tan trường về, mưa bay mờ mờ, anh trao vội vàng chùm hoa mới nở, ép vào cuốn vở.” Người con gái như đóa hoa hồng, hoa pensé, hoa mimosa hay hoa phượng hồng như môi em. Một nụ hôn đầu ngất ngây để rồi nhung nhớ mãi mãi về sau. Mùa hạ đến rồi mối tình chia ly vì lý do nào đó... Ðể rồi khi sang mùa thu, mùa tựu trường cô gái Trưng Vương nhìn lá vàng rơi ngoài đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, theo gió heo may vi vu để nhớ đến người bạn trai xưa với nụ hôn đầu nồng nàn.

Nhà thơ nữ Nguyễn Thị Lệ Thanh đã sáng tác bài thơ “Trưng Vương, khung cửa mùa thu” và nhạc sĩ Nam Lộc đã soạn thành một ca khúc ghi dấu những mối tình nhẹ nhàng, nỗi bâng khuâng, những xao xuyến của tuổi học trò:

“Tim em chưa nghe rung qua một lần!
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh
Thu giăng heo may che bóng cây lạnh này
Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày...
Người mang cho em quen môi hôn ngọt mềm
Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng...
Nắng vấn vương nhẹ gót chân
Trưng Vương vắng xa anh rồi
Mùa thu đã qua một lần
Chợt nghe bâng khuâng lá rơi đầy sân...”

Mùa thu của những tình tự yêu đương lôi cuốn người nhạc sĩ đã dùng bối cảnh thu ca như trong nhiều tác phẩm của ông về mùa thu. Phạm Anh Dũng đã tâm sự những nồng nàn, những cụm từ truyền cảm của ông qua bài “Gọi mùa thu mơ”:

“Anh gọi mùa thu mơ
Một sớm thu sương mờ
Nai vàng đạp trên lá
Bước từng bước xa xa...

Anh gọi mùa thu mơ
Trời sớm sông không bờ
Lá vàng rơi lác đác
Dịu dàng cơn gió bay
Anh hẹn mùa thu sang...

Mùa thu để chúng ta ru người tình. Khi mùa thu tới người nhạc sĩ hát khúc thu ca để dìu người yêu vào giấc điệp bình yên.

Ðức Huy đã ru người tình của mùa thu như sau:

“Hôm mùa thu gió hát bài ca cũ
Mùa thu lá vàng bay
Anh ru em ngủ
Bài ca dao ta vẫn hát khúc ấu thơ
Nắng vàng ấm suối nước dệt mây thu
Ngập ngừng trôi giấc mơ
Anh ru em ngủ
Dài cơn mê thương yêu ấy
Những ngày còn ái ân...”

Còn mùa thu của Từ Công Phụng thì như thế nào? Ông ru người yêu về với mùa thu dịu dàng, du dương với những lối ru nhẹ nhàng, dấu yêu của mây ngàn bay. Hãy nghe bài “Mùa thu mây ngàn”:

“Buồn vương mây ngàn giăng khắp lối
Mùa thu bơ vơ đến bên trời
Ru tóc em suối nguồn
Gọi hồn trong gió thu buồn
Ngày mai chúng mình xa nhau rồi
Cầm tay em nhìn sao không nói...”

Tuần rồi tôi tình cờ được nghe bài “Dáng thu,” người nhạc sĩ đã âu yếm so sánh vẻ đẹp kiều diễm, đài các của mùa thu như người thiếu nữ trong những dòng nhạc thu ca. Nhật Vũ đã dìu người tình qua vũ điệu Tango:

“Dáng thu vơi buồn như thương nhớ ai
Dáng thu về đây mùa thu ơi ai có hay
Ta vẫn ngắm mây trời
Thương về tóc buông lơi
Thương nhớ mãi nụ cười
Bờ môi xinh như mộng
Từ ngày em đi
Ðã bao lần thu về rồi?

Lại một tình cờ khác, tôi lắng nghe tiếng đàn của một người nhạc sĩ Mai Ðức Vinh bên phương trời Canada. Ông cho chúng ta nghe một bản tình ca quyến luyến và nhiều vương vấn của người thiếu nữ trong giấc mơ thu của ông “Thu về hôm nao,” thơ Phạm Anh Dũng:

“...Này em nhé mắt nâu qua rừng thu
Trong bóng thời gian nhả tiếng sương mù
Chiều rơi lá chín thương em hương lụa
Anh nhặt thu về xây tím áng thơ
Chiều sao hoang vắng vàng phai sắc lá
Anh viết tình thu trên môi em thôi.”

Một chiều thu đến để Phan Bá Chúc làm thơ phổ nhạc, từ khung trời yêu thương Ðà Lạt qua ca khúc thật trữ tình và đáng yêu, “Tôi có em chiều thu”:

“Chiều phai mây trắng trôi
Trôi qua dòng đời muộn phiền
Chiều nay tôi thấy em gọi nắng lên
Chiều thu tôi em tôi em như một tình cờ vừa đến
Bàn chân em e thẹn, bàn tay em thơ dại
Vội vàng con chim bé vỗ cánh bay lên cao
Ðời cho tôi có em trong một chiều không mong đợi
Ðời cho tôi có em trong thu về hương tình tới
Bàn tay thôi e thẹn, bàn chân thôi thơ dại
Chiều nay con chim én líu lo thương đời.”

Mùa thu 75 đã làm bao nhiêu con tim điêu đứng, Ngô Thụy Miên khi ra xứ ngồi đã chia sẻ tâm tư của ông qua bài “Thu Sàigòn” như sau:

“Em hỏi anh mùa thu Saigòn
Nắng còn vương vương trên hàng phố vắng
Em hỏi anh mùa thu Saigòn
Nước mắt bây giờ có như mưa tuôn...”

Từ miền Trung Nam nước Mỹ, nhạc sĩ Ðỗ Duy Thụy đã bộc lộ tâm sự của ông khi mùa thu về tại Houston với những nhung nhớ mùa chia ly của tình yêu trong bài “Thu vàng nỗi nhớ”:

“Theo bước chân em đi thu vàng
Tình ơi sao đến muộn màng
Nổi nhớ mang theo cung đàn
Buồn vương trên bao tháng năm
Ðời một rừng thu hoang vắng
Mơ em là nắng xuân sang
Hồn anh mộng cũ chưa tan
Tình theo lá thu vàng.”

Cũng vì mùa thu năm cũ vơi đầy nhung nhớ, Ngô Thụy Miên âu yếm nhìn vào ánh mắt người tình với bài “Thu trong mắt em”:

“Rồi một mùa thu tới cho mắt em buồn trong nắng
Mầu tình hôn tóc rối ru má em hồng say đắm...
Ô hay mùa thu lại về cho mình giăng hẹn hò
Gọi tên nhau khi chiều đến
Mây thu vấn vương đan ngập lối đi
Ái ân theo hồn vút cao
Vết mơ tình xõa tay mềm...”

Nếu mùa thu được dùng như biểu tượng của sự ra đi hay sự chia ly để rồi dứt khoát một cuộc tình buồn não nề nào đó. Trong bối cảnh buồn của mùa thu ở vườn Luxemburg với ngập xác lá vàng rơi, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đã viết bài “Mùa thu không trở lại” để nói lên nỗi sầu tan tác của ông:

“Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại
Em ra đi mùa thu, sương mờ giăng âm u
Em ra đi mùa thu, mùa thu không còn nữa
Ðếm lá mùa thu, đo sầu ngập tim tôi...”

Cũng như sự chia ly từ mùa thu dang dở, người yêu sẽ tìm quên lãng mùa thu sầu úa vì tình đã chết trong lòng khi niềm cô đơn chợt đến mà nhạc sĩ Nam Lộc ghi nhận qua bài “Anh đã quên mùa thu”:

“Bây giờ là mùa thu
Chiều vắng khói sương mù
Hàng cây khô sầu úa
Hiu hắt đứng trong mưa
Mưa như lệ tình xưa
Lệ thấm mãi cho vừa
Lệ thương hoa phượng rũ
Em có nghe mùa thu...”

Mùa thu về với khung trời Paris của Cung Trầm Tưởng, nhà thơ này đã kể về chuyện tình mùa thu với nàng kiều nữ tóc nâu người địa phương bên vườn Luxemburg. Bài thơ “Mùa thu Paris” được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành một nhạc phẩm đã đi vào dĩ vãng của Saigon một thời xa xưa:

"Mùa thu Paris, trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ, hẹn em quán nhỏ
Rượu rưng rưng ly đỏ tràn trề ...
Mùa thu âm thầm bên vườn Lục Xâm
Ngồi quen ghế đá, ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm
Mùa thu nơi đâu, người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ, tóc vàng sợi nhỏ
Chờ mong em chín đỏ trái sầu...”

Từ một phương trời nào đó Phạm Anh Dũng âu yếm thì thầm với người em gái mắt nâu của mình bằng những lời yêu dấu để thăm chừng khi nào mùa thu của tình yêu thực sự đến. Nếu Phạm Trọng Cầu hay Trịnh Công Sơn nhìn mùa thu đi với nỗi niềm tiêu cực thì tương phản, Phạm Anh Dũng lại nhìn mùa thu ở khía cạnh tích cực. Nào chúng ta hãy nghe lời hát của Phạm Anh Dũng qua bài “Mùa thu về chưa em nhỉ”:

“Này yêu dấu, mùa thu về chưa nhỉ
Gọi mây trôi em thả tóc bay đi
Hạt long lanh rơi nhạt lá thay mầu
Tình xanh biếc, xanh mầu đôi mắt nâu...
Này yêu dấu, mùa thu về lá đổ
Dòng sông xanh trôi về mãi xa xôi.”

(Nguồn: DaiHocVanKhoaSG@yahoogroups.com)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image
Quỳnh Giao (Photo: damau.org)

Khi Người Ca Sĩ Viết Văn

Đỗ Xuân Tê
Tình cờ vào dutule.com lướt mục giới thiệu tác phẩm mới, tôi thấy Quỳnh Giao Tạp Ghi, sách dày hơn 400 trang do Người Việt xuất bản vừa phát hành vùng Quận Cam. Như một bất ngờ thích thú, tôi chạy ra tiệm sách hỏi mua, vừa nói tôi có ‘quen’ ca sĩ Q.G. bà cụ bán sách bớt cho một đồng so với giá bìa. Hỏi ra bà cụ mê tiếng dương cầm và tiếng hát của Quỳnh Giao từ ở Việt nam, khi biết tôi mua sách bà biết ngay tôi là người lân la ‘từ tiếng ca qua trang viết’ của Quỳnh Giao như nhiều bạn đọc thế hệ tôi.

Khi nhắc đến Quỳnh Giao tên tuổi cô gắn liền với sự nghiệp ca hát và dạy nhạc trên nửa thế kỷ nay, nhưng ít ai ngờ nữ ca sĩ kiêm dương cầm thủ tài hoa ấy khi ra hải ngoại lại trở thành một cây viết cũng tài hoa không kém. Chính tôi khi được đọc vài bài đầu tiên đã tỏ ý nghi ngờ nên đi hỏi một bạn văn có phải chính là QG hay một bút hiệu trùng tên? Tài năng tay trái của cô tuy nở muộn so với sự nghiệp ca hát nhưng với lối viết thể hiện qua nhiều thể loại từ tùy bút, tiểu luận đến truyện ngắn đăng trên các tạp chí và trang văn học hải ngoại, cô đã được người đọc đón nhận như một nhà văn chuyên nghiệp. Là người thường đọc những bài Tạp Ghi trên lãnh vực văn hoá nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc của cô, tôi không dấu sự thán phục một cây viết nữ mà đôi khi quên mất cô chỉ là ‘người ca sĩ viết văn’.

Tôi vốn hay đọc tùy bút, về sau người ta hay gọi là tạp ghi, một loại hình rất khó viết, mà muốn viết cho hay lại càng…khó viết. Cho nên không lấy làm lạ trong hàng cao thủ về tạp ghi ở hải ngoại chỉ có thể tính trên đầu ngón tay, và nếu ta có dịp đọc tạp ghi của Quỳnh Giao về lãnh vực văn nghệ thì có thể kể cô trong số những đầu ngón tay hiếm hoi này. Tôi cũng không ngờ cô cho xuất bản thành sách những bài gom góp rải rác theo thời gian đã đăng trên NV, tôi mừng là có dịp đọc lại không hẳn vì bỏ sót nhiều bài chưa đọc nhưng vì có thời gian suy gẫm nội dung viết về những nhân vật, sự kiện âm nhạc tôi ưng, mà qua lối phân tích vừa dí dỏm tài tình vừa nặng tính chuyên nghiệp uyên bác dưới ‘thư hiệu QG’ nếu đọc qua một lần thấy chưa đủ.
Cầm cuốn sách được in rất trang nhã trên tay, nhìn trang bìa màu tím nhạt chỉ giản dị có 4 chữ Quỳnh Giao Tạp Ghi, in đậm với kích thước gần bằng nhau, tôi có cảm tưởng Quỳnh Giao rất tự tin về thư hiệu và tên tuổi của mình khi không cần minh họa thêm bằng một cái tựa cho kêu, một hình ảnh hay nét vẽ cho ấn tượng thường thấy ở những tác phẩm mới, nhất là của một tác giả có đầu sách ra mắt lần đầu trên thị trưòng chữ nghĩa. Cũng chẳng có lời tựa lời bạt, thường được viết như những lời giới thiệu trang trọng bằng một cây viết hay nhạc sĩ tên tuổi, mà chỉ có nửa trang tác giả tự sự vài điều trong niềm khiêm tốn như bắc cầu cho độc giả… Trước Khi Mở Sách…

Được tác giả cho phép thích đâu đọc đó không nhất thiết theo một trình tự nhất định, tôi tò mò đi từ cuối sách lên đầu trang, mới phát hiện là mỗi bài viết được kèm theo một trang riêng với hình ảnh được góp nhặt, sưu tập, chọn lọc rất công phu tất nhiên là rất tiệp với nhân vật và sự kiện âm nhạc được đề cập, điều này cũng là điểm độc đáo của cuốn sách giúp cho độc giả tìm lại được những ký ức với thần tượng của mình qua dấu vết của thời gian. Trong khuôn khổ nhất định của cột báo như hình thức của một entry trên on line, tác giả Tạp Ghi dù tài tình cách mấy cũng bị hạn chế khi không thể triển khai mỗi đề tài theo ý của độc giả lúc nào cũng ‘tham lam’ muốn có nhiều chi tiết về những giai thoại qua thần tượng hoặc nhân vật họ ái mộ. Nhưng với Quỳnh Giao qua lối viết ngắn gọn nhưng xúc tích, bóng bảy nhưng giàu chất liệu, cô có cách làm người đọc hài lòng khi nắm bắt được tâm lý thị hiếu độc giả theo phuơng pháp sư phạm dạy nhạc kiên nhẫn của mình để từ đó biết ngừng đúng lúc, phần còn lại người thưởng ngoạn tự suy nghĩ, giải đoán. Tất nhiên tạp ghi không phải xử dụng để kể chuyện, nếu vậy tạp ghi không còn là…tạp ghi, trớ trêu là 67 bài viết trong cuốn sách này, Quỳnh Giao bắt buộc phải lấy câu chuyện làm nền cho nội dung mỗi bản giao hưởng tạp ghi của mình.

Đánh giá một cây bút sắc sảo như Quỳnh Giao không thể nói là ‘mới’ từ khi ra hải ngoại, mà sự trải nghiệm của cô qua nghiệp bút lúc đầu làm vui sau trở thành ‘mệnh lệnh’ cũng đã có bề dày một phần tư thế kỷ, chưa kể cái vốn quí tích lũy khởi đi từ những kiến thức về âm nhạc Việt nam và thế giới qua những năm được đào tạo bài bản và hành nghề xuyên suốt tại quê nhà, cùng thừa hưởng cái di sản tinh túy từ một gia đình nghệ thuật danh giá qua hai người cha, một là học gìả một là nhạc sĩ bậc thầy có công mở đường cho đường lối sáng tác âm nhạc Việt từ đầu thập kỷ ’30 và nguời mẹ là ca sĩ hàng đầu được kể là huyền thoại trong làng tân nhạc hậu bán thế kỷ 20, nhờ vậy Quỳnh Giao có lợi thế hơn những nguời cùng thời khi muốn viết về một lãnh vực đòi hỏi cả tâm thức lẫn thưởng thức ở trình độ và cảm xúc cao.

Tác giả cũng có một sức đọc và theo dõi rất cập nhật các sự kiện và lịch sử âm nhạc tại Mỹ và trên toàn thế giới, cùng bỏ công sưu tầm các tư liệu trong tinh thần khoa học và đam mê nghề nghiệp để có những dữ kiện độc đáo phục vụ phong phú cho mỗi bài viết, chứ không phải chỉ ngồi gõ Google là ra ngay các dữ liệu muốn tìm. Cô cũng phải mua đĩa, tìm băng, xem phim, theo dõi truyền hình, mua vé nghe hòa nhạc, nhạc hôi, nhạc kịch, xem tranh, đọc sách báo tạp chí văn học nghệ thuật, trao đổi với đồng nghiệp, gặp gỡ nghệ sĩ, thính giả, độc giả…Chính vậy mà người ta dễ nhận ra dưới góc nhìn và lối viết của Quỳnh Giao, tạp ghi của cô không hề giống những tạp ghi tùy bút của nhiều tác giả khác phái, mà bàng bạc đâu đó vẫn có những nét riêng, riêng thế nào thì tùy người đọc cảm nhận và đánh giá.

Dở lại cuốn sách, tôi tiếp tục đọc, có bài tôi đọc nhiều lần, không hẳn do nhân vật hoặc sự kiện hấp dẫn vì trong đó có nhiều bài đã từng đọc, nhưng tôi muốn học hỏi ở cô lối viết lôi cuốn và cách chọn chữ, đặc biệt là các trạng từ rất đẹp, rất bóng bảy, rất ấn tượng dùng để phác họa chân dung mỗi người một vẻ của từng khuôn mặt nghệ sĩ huyền thoại, bậc thầy của Việt nam, của Mỹ và thế giới. Thật sự trong các bài tạp ghi của cô dù để phục vụ cho trang báo và bạn đọc xem báo, Quỳnh Giao vẫn cẩn trọng đem chuyên nghiệp của mình lên mức cao hơn với thiện ý như dành cho trang văn và độc giả yêu văn. Trong nghĩa này, tạp ghi của QG được kể như những loại tùy bút văn nghệ thường được viết bởi các cây bút có đẳng cấp và kinh nghiệm rất khó tìm trong thị trường chữ nghĩa trong ngoài nước những thập niên gần đây.

Người viết không có tham vọng giới thiệu Tạp Ghi Quỳnh Giao như một bài điểm sách, vì không thể nói bài nào hay hơn bài nào, do mỗi nhân vật sự kiện âm nhạc có nét riêng của nó. Cái này tùy thuộc vào hoàn cảnh, cảm nhận, và thẩm quan của người đọc. Vì lòng ái một nghệ sĩ ca hát và danh thủ dương cầm từ thuở tuổi đời chúng tôi còn trẻ, nay lại biết tài của người ca sĩ khi cô quay sang viết văn, tôi không ngại khi đề nghị độc giả tìm mua cuốn sách, trước là khích lệ tinh thần cho một nữ tác giả lần đầu ra mắt sách, sau là hình thức hỗ trợ cho những tác phẩm in ẩn khi mà các con chữ trong thời đại ngày nay đang chạy dần vào thế giới ảo.

Tôi xin mượn lời của Quỳnh Giao, “Bây giờ, cuốn sách là của quý độc giả. Xin tùy hứng tìm đọc, từng trang, từng bài, được trình bày gần với thứ tự xuất hiện trên báo.”…

Đỗ Xuân Tê
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Nguyễn Ngọc Ngạn kể chuyện làm MC

Ðức Tuấn/Người Việt

LTS: Nhắc đến Trung Tâm Thúy Nga chắc chắn bạn sẽ không thể nào quên được tên tuổi của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn. Ông bắt đầu cộng tác với Trung Tâm Thúy Nga từ tác phẩm Thúy Nga Paris số 17, trong số báo này, nhật báo Người Việt muốn được trân trọng gửi đến quý độc giả phần phỏng vấn ngắn xoay quanh vấn đề dẫn chương trình của ông, do phóng viên Ðức Tuấn thực hiện.

Ðức Tuấn (NV): Thường trước khi một chương trình thu hình của Trung Tâm Thúy Nga, thì phải mất bao lâu để ông chuẩn bị cho phần dẫn chương trình của mình? Hay ông phải đọc bao nhiêu cuốn sách hoặc tìm tòi ở đâu những kiến thức ông nói trong chương trình?
Image
Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, MC lâu năm của Trung Tâm Thúy Nga. (Hình: Dan Huynh/Người Việt)

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Có thể là không tốn và cũng có thể là tốn nhiều, vì kiến thức không thể có qua một đêm ngủ dậy sáng ra là có ngay, kiến thức được định nghĩa như là một sự gom góp dần dần mỗi thời gian, thí dụ như những kiến thức về âm nhạc, về ca dao tục ngữ, lịch sử, về văn chương, địa lý, nhân văn mà tôi thường hay nói trên các tác phẩm của Paris By Night là sự tích lũy từ nhiều khía cạnh dồn lại như kinh nghiệm sống trong xã hội, những kiến thức lúc tôi còn đi dạy hoặc kiến thức lúc tôi đi lính, đi cải tạo rồi những kinh nghiệm khi tôi mới bước chân sang Canada định cư, hay hằng ngày tôi đọc sách, coi chương trình trên TV... Dĩ nhiên nói về kiến thức thì vô chừng, trong xã hội này có hàng vạn người có kiến thức nhiều hơn tôi gấp bội nhưng vấn đề có dùng được hay không hoặc dùng đúng hay không.

NV: Những câu chuyện vui hay dí dỏm hoặc những kiến thức như ông nói có được dùng đi, dùng lại nhiều lần trong những chương trình ca nhạc khác nhau hay không?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Trong các tác phẩm DVD của Trung Tâm Thúy Nga thì không bị lập đi, lập lại nhưng trong những chương trình quay trực tiếp thì những chuyện cười, pha trò hay chuyện thời sự, có sự lập lại nhưng dĩ nhiên là chương trình ở nhiều thành phố khác nhau.

NV: Trước khi bắt đầu thu hình cho một tác phẩm DVD của Trung Tâm Thúy Nga, là một người dẫn chương trình, ông có phải trình báo những gì ông sẽ nói trong chương trình thu hình đó với ban giám đốc của trung tâm?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Cũng may mắn cho tôi là kể từ ngày đầu tiên tôi hợp tác với Trung Tâm Thúy Nga đến hôm nay, chưa bao giờ tôi phải trình bày bất cứ điều gì liên quan đến vấn đề kịch bản tôi viết để chuẩn bị cho chương trình thu hình cả, nói chung là Trung Tâm Thúy Nga luôn để cho người MC được tự do, nhưng cũng chính vì vậy mà tự mình cảm thấy mình phải biết làm thế nào cho công việc của mình được hoàn tất mỹ mãn, cũng như mình phải chịu trách nhiệm với tất cả những gì mình nói trên sân khấu.

NV: Ông nhận xét thế nào về những MC tại hải ngoại?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Theo tôi mỗi một người MC trên sân khấu đều có một nét riêng, như anh Nam Lộc, anh Việt Dzũng, anh Việt Thảo... trải qua mấy chục năm làm MC thì nghiệm ra chúng ta sẽ thấy mỗi người đều có một nét riêng và chính nhờ những nét riêng đó mà họ mới đứng được lâu như thế này, nếu không tạo được nét riêng mà chỉ là sự lặp lại hình bóng của người khác thì rất khó.

NV: Vậy nét riêng của Nguyễn Ngọc Ngạn là gì?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Nét riêng của tôi là nói chuyện vui mà không cười, là tạo được hình ảnh của ông thầy giáo trên sân khấu.

NV: Ông có nghĩ sẽ có ngày MC Nguyễn Ngọc Ngạn được mời làm MC cho một chương trình âm nhạc nào đó tại Việt Nam?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Chuyện tương lai thì tôi không biết thế nào, cho nên tôi không thể trả lời được cho câu hỏi này, tôi không bao giờ nói rằng tôi sẽ không bao giờ về hay nay mai tôi sẽ về, chỉ biết rằng tôi sang đây từ năm 1978, tôi chưa về Việt Nam lần nào, và tôi thật sự rất muốn về nơi mình sinh ra để thăm mộ và thắp nén hương cho song thân nhưng chưa biết ngày nào.

NV: Kinh tế toàn cầu đang xuống thấp, ông nghĩ thế nào về sự ảnh hưởng của nó với sinh hoạt văn nghệ tại hải ngoại?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Kinh tế có xuống thấp nhưng hoàn toàn không ảnh hưởng đến các chương trình ca nhạc của ca sĩ vì hiện nay phong trào làm chương trình phần lớn do các sòng bài tổ chức để kéo khách đến đánh bài. Một yếu tố khác đó là tệ nạn sang băng lậu ở bên ngoài đối với vấn đề ra các sản phẩm DVD hay CD từ các trung tâm như Thúy Nga, Vân Sơn, Asia... Ðây là một điều làm nhiều nhà tổ chức cũng như các trung tâm ca nhạc lớn nhỏ đều đau đầu, tóm lại kinh tế dù có xuống dốc nhưng không ảnh hưởng đến vấn đề làm DVD hay CD gì cả, vì giá bán của một cuốn DVD thật sự chỉ là trên $20 thì so ra vẫn còn rất rẻ, thế nhưng tệ nạn mua băng đĩa copy đã trở thành thói quen.

NV: Khi ông dẫn chương trình cho một chương trình mà bị vắng khách thì tâm lý của ông như thế nào?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Khi gặp một show vắng khách “ghế nhiều hơn người đi xem” thì luôn luôn người nghệ sĩ sẽ tự hỏi là có phải vì khách không thích mình nữa hay vì đụng show? Dĩ nhiên lúc đó mình sẽ phải khựng lại chứ không thể nào còn nhiều hứng thú để trình diễn giống như bình thường được.

NV: Nếu như phải chọn lựa giữa làm ca sĩ, MC và nhà giáo, MC Nguyễn Ngọc Ngạn sẽ chọn điều gì?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Tôi xin chọn làm nhà giáo vì đó vốn dĩ là chức năng của tôi từ ngày xưa (cười).
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Mùa Lá Rụng

Nguyên Nhung
Năm nay, mùa thu hình như đến muộn ở khắp nơi, tôi cũng có một chuyến đi tìm mùa thu phương xa, nhưng nơi tôi đến, hai thành phố Ottawa và Montréal mọi năm lá đã chuyển màu theo mùa thu, vẫn óng ả một màu xanh cuối hạ. Trời chỉ hơi lành lạnh, nắng ấm vẫn reo vui trên sân cỏ mượt, trong mấy ngày ở đây tôi lang thang leo đồi chờ lá vàng mùa thu, nhưng cũng chỉ có chút heo may làm se sắt lòng người phương xa.

Lần này là lần thứ hai tôi trở lại căn nhà ở Ottawa có khung cửa sổ mở rộng, nhìn ra ngoài cảnh vật tự nhiên thay cho một bức tranh bốn mùa. Phía sau nhà là mảnh vườn nhỏ, cách với con đường xe chạy là một hàng rào dây leo quấn quýt, vài cây thông xứ lạnh vẫn óng lên màu xanh biêng biếc.

Tôi đi tìm mùa thu phương xa,
Trời mới vào thu lá vàng chưa chín
Vẫn biêng biếc một màu xanh cuối hạ
Nắng nghiêng nghiêng trên bãi cỏ sau nhà


Ottawa là thủ đô và là thành phố lớn thứ tư của Canada và cũng là thành phố lớn thứ nhì của tỉnh bang Ontario. Ottawa nằm trong thung lũng sông Ottawa phía bờ Đông của tỉnh bang Ontario, cách Toronto 400 km về phía Đông Bắc và Montreal 190 km về phía Tây. Ottawa nằm trải dài theo bờ sông Ottawa, con sông này ngăn cách tỉnh bang Ontario và Québec.

Tuy tiếng là thủ đô của một quốc gia, nhưng thành phố Ottawa mới mẻ, bằng phẳng không núi non và không đẹp bằng thành phố Québec , hay vùng ngoại ô của Mộng Lệ An. Đời sống tương đối bình lặng và êm đềm, dân số không đông đảo và phức tạp như ở Toronto và Montreal. Ở đây mọi giao dịch đều sử dụng hai ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng Pháp. Đây là lần thứ ba đến Ottawa, đã hai lần được người nhà chở đi thăm viếng những công trình được xây dựng theo lối cổ, như toà nhà Quốc Hội, Dinh Toàn quyền Rideau, Toà Nhà Liên Bang. Gần đó có một vườn hoa rất rộng trồng đủ loại hoa rất đẹp, khi tôi đến đây trời đã sang thu, hoa không còn tươi tắn như mùa hè mà vẫn đủ sức thu hút du khách ghé vào ghi lại những bức ảnh kỷ niệm.

Vài ngày với gia đình ở Ottawa qua nhanh, chúng tôi lên đường sang Mộng Lệ An thăm cô bạn thân, đây cũng là lần thứ hai đến thành phố này và thú thật là người phương xa thường luống cuống với hệ thống giao thông ở Montréal. Hình như có những con đường người ta sửa hoài mà vẫn chưa xong, từ muà hè năm 2008 đến nay lúc nào xe cộ cũng ứ lại vì tắc nghẽn trong những giờ cao điểm.

Mộng Lệ An đối với tôi hình như thân thiết hơn các nơi khác của Canada mà tôi đã ghé qua, gắn bó bởi cái tình của một tình bạn do văn chương mà có. Lần nào đến thăm bạn,tôi cũng chạy ngay ra mảnh vườn sau nhà bạn, mảnh vườn thật đẹp, cây chen hoa cứ như là muôn loài kỳ hoa dị thảo ở đâu đâu đều tụ lại trong mảnh vườn này, qua sự chăm sóc chu đáo của chủ nhân. Tuy đã vào thu mà hoa vẫn nở rộ, những cành hoa tím ẻo lả thả mình xuống rừng cúc vàng rực, toàn những màu sắc hoà hợp lạ lùng để tạo cho bức tranh mùa thu thêm phần rực rỡ. Mùa đông ở đây kéo dài với những tháng ngày lạnh buốt, lại mưa nhiều, khi trời vào xuân sang hè, tuyết tan thật nhanh và nước giữ lại trong đất cho hoa cứ thế mà hối hả vươn lên xanh tươi lạ lùng, nhất là loại thông xứ lạnh lá màu xanh bạc là vẻ đẹp khó tìm được ở những vùng nhiệt đới.

"Buổi sáng trong vườn trời xanh đẹp quá
Gió mênh mang trên những ngọn thông gìa
Tít trên cao nghe đất trời kể lể
Chuyện cuộc đời và chuyện ở quanh ta"

Lần này chúng tôi không đi thăm lại những nơi đã đi vào mùa hè năm 2008, nhưng có một nơi làm tôi nhớ mãi đó là thành phố Québec khi chúng tôi đến thăm , thủ phủ của tỉnh bang và cũng là thành phố du lịch có mùa thu tuyệt vời với những rừng lá vàng lá đỏ. Nơi ấy tôi đã gặp bức tượng chân dung cụ Nguyễn Trãi, trong một chiều lang thang dưới cơn mưa, như những kẻ “tha hương ngộ cố tri”, lòng lại bồi hồi một nỗi buồn không đâu khi bất chợt thấy nhau nơi xứ lạ quê người:

“Tàng cây sũng nước trời thổi gió
Người đến nơi đây tự thuở nào?
Phải chăng đồng cảnh đời lưu lạc
Mà mắt rưng buồn như ướt mưa”

Chen lẫn những ngày nắng đẹp, Mộng Lệ An vẫn sũng ướt trong mưa thu. Lần này Tiểu Thu cô bạn văn thân thiết của tôi lại đưa khách đi hành hương hai địa điểm tôn giáo, đó là Đền Thánh Giuse nơi mà nghe kể lại nhiều người từ các nơi trên thế giới đổ về đây, và họ đã nhận được nhiều phép lạ chữa lành từ vị Thánh Cả của giáo hội Công Giáo. Trời hôm ấy rất âm u nhưng không mưa, nhiều khách hành hương cầu nguyện trong khu đền thờ cổ kính, đứng từ trên cao nhìn xuống phố xá như chìm trong một màu xám ảm đạm.

Ngày hôm sau nắng đẹp, người trong nhà rủ nhau đi viếng chùa Đại Tòng Lâm, nằm cách Mộng Lệ An khoảng hơn một giờ lái xe. Con đường đến chùa đi ngang một thành phố núi tuyệt đẹp, mùa đông nơi đây đã thu hút hằng nghìn người đến trượt tuyết, và khi mùa thu thực sự đến thì những cánh rừng sẽ bao quanh ngôi chùa sẽ biến thành bức tranh tuyệt tác của thiên nhiên.

Con đường ngoằn nghoèo đưa đến ngôi chùa xa, đường trải nhựa nhưng càng đi nhiều đoạn đường còn lổn nhổn đất đá, tuy nhiên vẫn thu hút khách thập phương tìm đến, trước để lạy Phật sau cũng là để ngoạn cảnh. Thật vậy, tuy chùa còn đang xây dựng dở dang nhưng cảnh lại đẹp như tranh vẽ, không khí tĩnh mịch của cửa Thiền trong một ngày vắng vẻ, khiến tôi lan man nghĩ đến cảnh chùa Long Giáng với tác phẩm “Hồn Bướm Mơ Tiên” của nhà văn Khái Hưng trong “Tự Lực Văn Đoàn”. Bách, tùng, thông, phong, núi, rừng tạo nên một phong cảnh hùng vĩ để ngôi chùa nổi bật giữ thiên nhiên, chưa kể hồ nước trong xanh lác đác hoa sen, hoa súng, ông trời lại còn in xuống đáy hồ thăm thẳm những gợn mây trắng tầng tầng thì không còn cảnh nào an tịnh hơn để lòng người càng lắng xuống.

Hơn 10 ngày rong chơi rồi cũng trôi qua, mùa thu vẫn chưa đến hay chỉ thả chút heo may thêm nỗi buồn vu vơ vào những tâm hồn lãng mạn. Chuyến về, từ Ottawa máy bay phải ghé vào phi trường O’ Hair ở Chicago để chuyển máy bay, tuy chờ đợi hơi lâu nhưng chuyến trở về Houston, ông trời lại đãi ngộ cho một vầng trăng bay theo, và chưa bao giờ tôi có cảm tưởng được gần trăng như vậy.

Từ máy bay nhìn xuống, thành phố Gió về đêm tuyệt đẹp chi chít ánh đèn như cảnh bồng lai, đã nằm lại khi con tàu bay vút lên cao, lúc ấy trên trời cao đã có một vầng trăng lơ lửng bay theo:

“Rồi tôi cũng về , về lại Houston
Chuyến bay đêm có vầng trăng đưa đón
Trời nhung thẫm, bóng trăng treo lồng lộng
Theo chuyến tàu đêm trăng đón tôi về”

Trăng đêm ấy đẹp quá, chưa phải đêm rằm mà trăng đã tròn như một cái đĩa bạc, treo lơ lửng trên không gian bay theo về đến tận nhà. Trong khung cửa nhỏ của con tàu, tôi ngoái nhìn ra vầng trăng bay theo mà cứ ngỡ trăng là người bạn tri kỷ, đã đón tôi về dù không hề hò hẹn:

“Rất tình cờ Trăng chẳng nói đón đưa
Trăng vẫn đến dù không lời hò hẹn
Trăng chan chứa ân tình nơi tôi đến
Trăng thuỷ chung theo từng bước tôi về”

Ánh trăng đêm ấy dịu dàng tỏa ánh sáng dịu hiền xuống vạn vật, khiến những dòng sông vạt rừng trở nên huyển mộng đẹp lạ lùng. Trăng vẫn đi theo suốt chuyến bay dài, và tôi bỗng bật cười khi hiểu rằng chỉ có con tàu chuyển động thôi, như con người đi khắp nơi mà vầng trăng thì vẫn ở đó chung thuỷ đợi chờ. Miên man nhìn trăng tôi lại nhớ đến những người bạn mình vừa chia tay, cái tình ấy cũng đầy như một vầng trăng, để khi tôi đến lúc tôi về, vẫn mang theo cái tình ấm áp ấy.

Đêm hôm qua, phải rồi, đêm hôm qua đã bước qua tháng Mười mới thấy gió chuyển mùa đem thu tới nơi tôi ở. Lúc ấy khoảng nửa đêm về sáng tôi nghe tiếng chuông gió reo leng keng ngoài giàn hoa ti gôn, và cánh cửa sau bật mở cho gió thu ùa vào căn phòng ấm. Thế là mùa thu đã trở lại, buổi sáng, khi ra vườn tôi đã thấy bao nhiêu lá khô rụng đầy trên sân, mùa thu đã tới với khu vườn của tôi, hay mùa thu đã tới trong tâm hồn tôi với những chiếc lá rụng tấp vào nhau hò hẹn. Nhìn lá rụng, tôi bỗng dưng nhớ đến mẹ tôi, ngày xưa ấy khi tuổi còn niên thiếu, tôi vẫn thường theo mẹ ra vườn quét lá. Tiếng chổi tre xoèn xoẹt trong mảnh vườn mà ở đấy có bao nhiêu lá tre, lá xoài, lá ổi, mẹ tôi gom lại đốt thành tro rồi trộn chung với đất, vun vào vườn rau, vườn đậu.

“Mảnh vườn quê tỏa khói lúc chiều buông
Là lúc ấy mẹ tôi đang đốt lá
Khói lá chơi vơi hong đời vất vả
Lấy tro tàn vun bón luống ngô khoai”

Nhìn lớp lá khô màu tàn phai theo gió cuốn nằm chất lên nhau ở một góc vườn, nghĩ về định luật tuần hoàn của vũ trụ, những chiếc lá xanh, lá vàng, lá đỏ rồi một ngày cũng sẽ thành những chiếc lá khô. Khi hiểu được điều đó lòng tôi cảm thấy nhẹ tênh khi nghĩ về sự Sinh Tử của con người và vạn vật:

“Ở quê người những chiều nắng thu phai
Nhìn xác lá rụng đầy trên mặt cỏ
Rồi một mai những lá vàng, lá đỏ
Cũng buồn hiu thành những chiếc lá khô”

Thời gian qua nhanh, đã bao nhiêu mùa thu qua đi trong cuộc đời, mẹ tôi đã khuất bóng từ lâu, hình ảnh mẹ tôi mập mờ như chiếc lá khô, ẩn khuất trong đó là những chiếc lá xanh, lá vàng, lá vàng, lá đỏ, những óng ả của cuộc đời sẽ có lúc đổi màu để thành làn khói bay lên bầu trời miên viễn:

“Như mẹ tôi đã về với hư vô
Tựa làn khói bay lên trời vô tận
Những mùa thu của đời người rất ngắn
Đến rồi đi không trở lại bao giờ”

Mùa Thu là mùa của lá rụng, ai cũng ngẩn ngơ nhìn cảnh tàn tạ của những chiếc lá khô đã sống hết một đời của lá, rơi xuống và nằm thinh lặng trên mặt cỏ. Riêng tôi, mỗi lần quét lá trong mảnh vườn nhỏ của mình lòng vẫn bùi ngùi nhớ lại ngày xưa, những buổi chiều xem mẹ vun lá và đốt lá trong vườn, quà cho con chỉ là củ khoai nướng thơm lừng còn tươm mật nóng hổi, có lẽ đã trở thành những kỷ niệm khó quên thời niên thiếu.

Nguyên Nhung
( Mùa Thu, 2011)
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »


Image

SAY GIÓ
Trần Huiền Ân
Không phải Tuy Hòa chỉ có mỗi thứ gió cay nghiệt, ngang tàng phóng túng…

Ngọn gió quê hương thật tình đã khiến ta say.

Vâng, ai đã từng say…say rượu, say trà, say cà phê, thuốc lá, cái say mong tìm khoái cảm…và cả cái say bị bắt buộc phải gánh chịu như say nắng, say sóng…chắc hẳn đều công nhận : chỉ có say gió là cái say tuyệt vời… Nó tạo cho ta sự lâng lâng, thật nhẹ nhàng nhưng không kém ngất ngây, nói là say mà hoàn toàn tỉnh. Phân tích thật chính xác là có một giọt say trong cái tỉnh, có một giọt ngủ trong cái thức, một giọt buồn trong cái vui, có một giọt nhớ thương xưa cũ trong cái hoan hỉ hiện tại, có một giọt xôn xao trong cái bình lặng. Những tác động của ngoại cảnh vào tâm hồn ta qua lối gió cứ lần lượt rất trật tự, tạo ra từng gợn nhẹ lăn tăn hòa tan cùng nhau tựa như khi ta nhỏ một giọt trà đậm xuống ly nước trong, trà cứ thế len lỏi vào nước, chầm chậm đổi màu.

Tất nhiên không ai say gió bấc, thứ gió hung hãn cuồng nộ quất những lằn roi lạnh buốt lên mọi sinh linh. Cũng không thể say vì gió nồm. Mát mẻ quá, yếu ớt quá, sắc hồng do nắng chiếu cũng mong manh quá.

Cái gió làm cho ta say, tạo cho ta cái cảm giác say ấy, chính là những cơn gió nam đầu mùa, khi hè vừa đến. Vào thời điểm này ngày bắt đầu sớm hơn, thức dậy ta đã thấy trời xanh mây trắng, rồi nắng cũng có chút phần gay gắt, đã gây ra nóng bức, hơi hơi khó chịu. Một cơn gió nam bất chợt thổi, bỡ ngỡ như từ nơi xa về lại cố hương. Chưa có tiếng xạc xào trên tán lá, chưa có cát bay bụi nổi, những cơn gió trẻ trung ấy có lúc khiến ta tự hỏi đó là nồm hay nam, và khi đã xác định là nam ta hiểu ra trời đất đang chuyển mùa, lòng ta như cũng dự bị sẵn sàng để đón tiếp sự đổi thay của Tạo Hóa.

Những buổi sáng thiếu niên, gió nam non trên đồi cỏ. Sương đã tan hết để rừng sim rực tím. Đám chim chiền chiện từ trên cao sà xuống thấp, bay là là rồi cùng vút lên. Tiếng chim ríu rít tan vào mây và gió. Bóng cây đổ dài tĩnh mịch. Hãy nằm xuống nệm cỏ nghiêng mắt mà nhìn lớp cỏ tai bèo. Mỗi cánh bèo bằng miệng ly con, từ đó ngọn hoa nhỏ nhô lên, cánh hoa tròn bằng hạt tấm, nõn nà xanh nhạt. Gió đi trên cao nhưng chân gió rơi đùa khẽ rung ngọn cỏ, chỉ khẽ rung thôi không buộc cỏ phải nép mình xếp ngã. Lòng ta cũng khẽ rung theo gió, theo cỏ, theo hoa. Trong tai ta văng vẳng tiếng chim chiền chiện trên cao. Mắt ta lim dim nhắm lại. Cơ hồ ta quên hết, những công thức hình học, những bài toán phân số tạp số, những tên đất tên biển xa xôi của bài địa lý. Cái nhìn nghiêm khắc của thầy giáo, nụ cười thán phục hay chế giễu của bạn bè. Tất cả tuy mới hôm qua đã quá xa xôi. Hôm nay là chủ nhật, ngày thứ hai chưa hề có trong dự định.

Những buổi sáng tuổi hai mươi. Tiếng chim chiền chiện đã thành vang vọng trong quá khứ. Không còn cái hồn nhiên nằm trên cỏ mượt tẩn mẩn đếm xem có bao nhiêu cánh tai bèo. Gió nam đưa lòng ta bay bổng về phương trời. Hôm nay là mùa cỏ tranh trên đồi vừa kín lá. Những giồng tranh xám nhạt nối tiếp nhau chạy đến nơi xa tắp. Gió vẫn ở trên cao và nhẹ nhàng đùa giỡn ngọn tranh, từng gợn từng gợn tạo ra làn sóng nhấp nhô.Ta cũng thấy giồng tranh thoi thóp như “lúa thành…(xưa cũ)…bên cồn”, nhưng liền nhận ra hai chữ “thoi thóp” sao mà già nua u trệ, không hợp cảnh hợp tình. Trên mấy đỉnh núi tròn tranh chảy dài như suối tóc. Cái say của gió nam bây giờ như có vẻ gì như nhắc nhở, không giục giã vội vàng nhưng hàm ý thôi thúc lên đường. Đi đâu và về đâu, ta như thầm hỏi gió. Gió không trả lời nhưng chỉ cho ta thấy: đó, trông vời trời biển mênh mang…

Điển tích Trung Hoa có nói đến giống ngựa Hồ phương Bắc thường được cống nạp về Trung Nguyên mỗi lần nghe gió bấc thổi hí lên những tràng thê thiết não nùng, có con bỏ ăn mà chết. Những con người của quê hương chúng ta dẫu không chút gì là đa sầu đa cảm, là giàu óc suy tưởng, làm sao không có ít nhất một lần trong tuổi trẻ tuổi trai được ngọn gió nam đầu mùa lùa vào tim óc để hiểu rằng đó là cái phong vị đặc biệt của quê hương. Trên mỗi bước đi xa, thành công hay thất bại, được hay thua, vui hay buồn… chợt nghe gió chuyển sang mùa lại nhớ về quê hương với bao nhiêu kỉ niệm.

Đối với lớp người vào tuổi xế chiều, “mắt phai xanh, đầu ngã bạc”, lúc ngọn gió nam sau một năm cách xa trở về tái ngộ, đố ai khỏi bâng khuâng? Một cái gì đó mơ hồ, huyền hoặc, nhưng nó sừng sững ngự trị, tồn tại đầy ắp trong lòng. Những lúc giữa buổi sáng, thời khắc nhiều thoải mái nhất, nhiều thích thú nhất để làm được mọi công việc, nhưng nếu như dựa người trên xích đu nhìn ra bốn hướng, màu xanh của trời, màu trắng của mây, màu hồng của nắng trong hương vị gió nam… chắc chắn là cứ muốn nằm yên đó tận hưởng cái bình yên trong hiện tại, nhớ về cái bình yên trong ký ức.

Mình ta với gió bên nhau…

Ta muốn bắt chước thiên hạ viết đôi câu thơ, nhưng chữ nghĩa của thi sĩ Bùi Giáng khắp cả bốn bên :

Mà hương quan vắng xa màu mây trôi
Sim ngàn đổ lá buông rơi
Cành nam ước hẹn sai lời tử sinh…
( Bùi Giáng)
Gió nam, ngọn gió trong trẻo ngọt ngào, cho nên ta say gió chân tình, hào sảng và tự tại. Còn như giống ngựa Hồ mỗi mùa đông ngẩng đầu nghe gió bấc chỉ có những thê thiết, nhớ thương...
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cuốn sổ tay của Quang Dũng (1921-1988)
Viên Linh
Ðọc một số bài viết về Quang Dũng, nhất là bài viết của những người có quen biết ông, hay từng gặp ông, người đọc thấy một chi tiết thường được nhắc đến: cuốn sổ tay của nhà thơ.

Hầu như lúc nào ông cũng có một cuốn sổ tay trong người. Ở đây, ở kia, ông làm thơ, chép thơ trong cuốn sổ tay ấy. Ngoài thơ ra, ông còn vẽ. Quang Dũng vẽ đẹp. Thế và, đi đây đi đó, gặp những nơi thích ý, những người mến mộ, ông thường để lại một vài bài thơ. Có khi vài, có khi chỉ một... Từ khi làm thơ, chép thơ, tặng thơ, luôn luôn với thơ, mà cho đến khi tên tuổi lẫy lừng, Quang Dũng chưa từng có một tập thơ riêng nào được xuất bản. Tập thơ riêng đầu tiên của ông, “Mây Ðầu Ô,” chỉ được in ra năm 1986, hai năm trước khi ông từ trần ở tuổi 67 (1921-1988).

In tác phẩm đầu tay ở tuổi 65, ôi Quang Dũng, một con người đôn hậu trong một định mệnh trì chiết; một thi sĩ làm những bài thơ đầu đời ở tuổi 16, bài Khúc Chiêu Quân, để chỉ làm thơ trong sổ tay suốt nửa thế kỷ; một đại đội trưởng cứu quốc quân hào hùng ở tuổi 25 để bị âm thầm giải ngũ ở tuổi 30, năm 1951, vào lúc chiến trận đang cần chiến binh. Một thanh niên trí thức học Sư Phạm Hà Nội để rồi ngồi sửa lỗi chính tả ở báo Văn Nghệ; một hồn thơ thời đại để suốt đời bị do thám từng bước đi quanh ngõ; ngồi thiền và trồng chuối ngược hằng ngày để chỉ cho quên túi dạ dày đang đói; một chất ngất mênh mông trong hẹp hòi đố kỵ; một anh hùng Lương Sơn Bạc trong lưới rọ quan nha. Ôi Hà Nội, thủ đô văn vật hậu bán thế kỷ XX của Quang Dũng.Viết về Quang Dũng cũng là viết về một thế hệ bị hy sinh. Trong thế hệ bị hy sinh ấy, hầu hết đã bị vùi dập, và nếu không có những cuốn sổ tay, không có những bài thơ được chép lại từ những cuốn sổ tay ấy, năm 1986 người ta cũng chẳng lấy đâu ra thơ Quang Dũng nữa để mà in. Nhà thơ Thâm Tâm có chép vào sổ tay Quang Dũng bài Mưa Ðường Số 5 để tặng bạn, từ đó, Quang Dũng giữ mãi bài thơ trong ba lô trên chặng đường mưa nắng bao năm. Ðến khi trở về Hà Nội sau chia cắt 1954, lúc làm tuyển tập thơ 1945-1955, chính Quang Dũng đã mở sổ tay (lúc này Thâm Tâm đã chết), chép lại bài thơ đã hoen mờ vì mưa gió để đưa vào tuyển tập. Quang Dũng, nhà thơ nhật ký, nhà thơ sổ tay, nhà thơ mỗi ngày, nhà thơ bỏ túi, nhà thơ sống thơ. Thế mà ông đã từng nhóm lửa đốt thơ mình, đốt những cuốn sổ tay ấy. Quang Dũng vừa nổi lửa, thì từ ngoài sân ngửi thấy mùi giấy khét, người bạn thân chạy vào, kịp lấy ấm nước sắp sôi dội tắt. Vài phút trước đó, Quang Dũng đã nói với bạn: “Ðã có thằng thất sở tan đời về mấy bài thơ trong sổ tay đấy thôi!” (Theo nhật ký của bác sĩ trung đoàn Tây Tiến viết về Quang Dũng.) [1]

Tại miền Bắc, trước khi có kế hoạch cởi trói, đổi mới năm 1987, Quang Dũng còn sợ hãi khi có người nói đến thơ mình, đã thế càng có ít người muốn giữ thơ ông, trừ một hai bạn thân. Những người Hà Nội từng ngạc nhiên khi thấy miền Nam yêu thơ Quang Dũng, và nhiều thơ Quang Dũng. Ðây là một chuyện khác thường, người viết cũng chỉ còn nhớ rất mơ hồ... Cuối năm 1973, tôi xuất bản nguyệt san Thời Tập, mỗi số một chủ đề. Tháng 1, 1975, chủ đề là Quang Dũng. Chủ đề được loan báo trước, nên một hôm, có người ghé tòa soạn, ở số 51/51B đường Nguyễn Trãi, trao lại cho tòa báo một xấp tài liệu, với dòng chữ lưu ý: “Những bài thơ chưa từng phổ biến của Quang Dũng.” Bài viết ký tên Lê Hoàn Tân, một cái tên xa lạ thời đó, và cho tới cả bây giờ, nhưng sau tôi được biết, đó là bút hiệu tạm của cụ Lê Khải Trạch, bạn thân của Quang Dũng thời kháng chiến... [Sau 1975 một thời gian rất ngắn, cụ Lê Khải Trạch bị công an tới tận nhà, đường Bùi Thị Xuân, gần nhà thờ Huyện Sĩ, bắt đi mất tích. Cụ đã bị công an văn hóa Việt cộng thủ tiêu, ngày giỗ cụ được gia đình thay vào bằng ngày cụ bị công an CS bắt đi.]

Chúng ta chưa biết thật xác thực những gì đã xảy ra cho Quang Dũng từ 1945 đến khi ông bị giải ngũ, 1951. Có suy luận hợp lý rằng thơ Quang Dũng được ngưỡng mộ truyền đọc, ông trở thành một cấp chỉ huy quân sự được đồng ngũ yêu, mà lại không phải là đảng viên, nên ông phải bị giải ngũ, lúc đang là đại đội trưởng trong trung đoàn Tây Tiến. Có đại đội trưởng nào bị giải ngũ vào tuổi 30? Ngoài Quang Dũng? Hay chính vì đại đội trưởng đó là tác giả bài Tây Tiến, một bài thơ thuộc dòng hùng sử thi khích động lòng yêu nước cao nhất, hiệu quả nhất, trước mọi thi sĩ nòng cốt của guồng máy, tổ chức, trên mọi đảng viên, cán bộ. Cho nên, tất cả những gì thuộc về Quang Dũng phải bị dập tắt ngay. Quang Dũng bị giải ngũ.

Thời kỳ sau khi giải ngũ, Quang Dũng viết bài Tiễn Bạn để chia tay với người bạn dinh tê vào thành vào cuối năm 1952. Lúc ấy Quang Dũng đã biết số phận mình rồi, nhưng quyết định đi đến cùng:

Dẫu biết là vô vọng
Ðã đem chơi cuộc đời,
Thì đi cho hết nước
Sống thử ít con người...

(Tiễn Bạn, Thời Tập, 1.1975)

Ðiều này giải thích vì sao Quang Dũng thúc giục mẹ và chị vào Nam, và cả hai đã vào Sài Gòn năm 1954, mà ông và vợ con ở lại đất Bắc.

Mỗi giai đoạn một định mệnh. Giai đoạn kháng chiến khủng khiếp nhất: Quang Dũng gánh chịu định mệnh của sự đọa đày, chối bỏ. Sự chối bỏ xảy ra ngay, sự đọa đày xảy ra từ 1951 đến khi ông nhắm mắt, tổng cộng 38 năm. Chỉ nội sự nuôi thân mình, ông cũng không lo nổi. Các giai thoại về Quang Dũng, phần nhiều là giai thoại đói. Ông được qui định một khẩu phần nhất định: 13kg500 gạo một tháng. Ở miền Bắc, đó là khẩu phần dành cho tù lao động. Quang Dũng không đến nỗi phải tự sát như hai thi sĩ cách mạng nổi tiếng thế giới của Liên Xô, thi sĩ xuất thân nông dân, được mệnh danh là “thi sĩ của quần chúng” Sergey Essenin (1895-1925), treo cổ chết trong một quán trọ; và Vladimir Mayakovsky (1893- 1930), kẻ hô hào cách mạng quá khích, đã tặng cho sự lầm lẫn của lòng tin của mình một viên đạn. Một mới 30, một mới 37. Quang Dũng lìa đời khi bụng đói. Hôm ấy là ngày 13 tháng 10, 1988.

Người viết này may mắn có bản sao một số trang của sổ tay Quang Dũng do cô giáo Phương Thảo, con gái nhà thơ, từ Hà Nội gửi cho. Và một số thơ chưa từng phổ biến. Nay nhân ngày giỗ thi sĩ, mời bạn đọc đọc vài dòng của cuốn sổ và một bài thơ hiếm: “Quyển sổ này khởi trang đầu từ tỉnh Thái Bình. Ðêm nay Chủ Nhật, 15 tháng 4, 1956, có trăng lưỡi liềm 5-3-âm lịch - giữa bước 2 của CCRÐ (Cải Cách Ruộng Ðất) đợt Ðiện Biên Phủ...”

Và đây là bài thơ ngắn của Quang Dũng làm ở Vân Nam:

Trở Rét

Gió bấc trở về tim bỗng lạnh
Ngoài kia mây nước khóc gì nhau?
Bỗng thương bỗng nhớ từ đâu lại?
Hồn lắng nghe im khúc nhạc sầu.

Vân Nam, 1944, Bùi Ðình Diệm (Quang Dũng)

Chú thích:
[1] Phan Thanh Hoài, Khởi Hành 44 tháng 6, 2000.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Tẻ vui thì cũng kiếp người...
Tạp Ghi Quỳnh Giao

Sinh thời, nhà văn Mai Thảo thường kể chuyện lần đầu phỏng vấn Quỳnh Giao.

Viết thế thì có vẻ quan trọng lắm, sự thật lại không như vậy! Lần đầu gặp nhau, ông nhà văn khó tính và có cái vẻ rất “đài” đến nhà Minh Trang ở đường Cao Thắng để tập kịch. Hình như là vở kịch “Bão Thời Ðại” của Trần Lê Nguyễn. Còn lần phỏng vấn thì hình như là cho tờ Kịch Ảnh.

Nghĩ lại thì thấy ngày xưa loại sinh hoạt mà ta gọi là “văn nghệ” cũng rất phong phú.

Thân mẫu Quỳnh Giao làm xướng ngôn viên và biên tập viên Việt và Pháp ngữ. Ngẫu nhiên cụ bước qua máy vi âm kia thành nữ danh ca thời phôi thai của tân nhạc. Khi nghỉ hát thì trở lại làm đài phát thanh, trong khi con bé Ðoan Trang của ban thiếu nhi Tuổi Xanh thì thay mẹ vào đài với nghệ danh là Quỳnh Giao.

Còn Mai Thảo thì làm đủ nghề với ngòi bút: viết văn, cùng bằng hữu dựng lên tờ Sáng Tạo, và phụ trách mấy tạp chí về điện ảnh. Ông còn có một nghề vặt nữa là xem phim, đặt tên và viết lời tựa cùng tóm lược nội dung trên các tờ quảng cáo mà ta gọi là “chương trình,” in màu xanh đỏ rất bắt mắt.

Ngày xưa, chúng ta xem phim Mỹ là do các nhà phát hành Paris đưa qua Sàigòn với tên Tây và giọng Pháp. Nếu tinh ý có khi sẽ thấy John Wayne nói tiếng Tây với giọng lè nhè của tài tử Jean Marais chẳng hạn! Vào đến Sàigòn thì cuốn phim Mỹ lại có thêm tên Việt. Nếu có vẻ văn hoa hấp dẫn thì đôi khi là nhờ ngòi bút Mai Thảo. “Tóc em chưa úa nắng hè,” hoặc “Tình thù rực nắng” là vài thí dụ.

Lần đầu gặp nhau, Mai Thảo thấy một con nhóc nhảy dây trong vườn. Ký ức của ông còn cho ngôi vườn đó chút nắng hoe vàng. Năm đó người viết hình như mới có tám chín tuổi. Sau này, ông trở lại để phỏng vấn ca sĩ Quỳnh Giao thì con nhóc đã đôi tám! Ông nhớ mãi chi tiết ấy.

Hôm “ra mắt” cuốn “Tạp Ghi” của Quỳnh Giao tại tòa báo Người Việt tuần qua, nhà văn Nguyễn Ðình Toàn được mời lên phát biểu về nội dung cuốn sách cũng nhớ đến cô bé nhảy dây ngoài sân, trong ngôi nhà có Minh Trang và Dương Thiệu Tước

Nghĩ lại như vậy ngay trước mùa Halloween ở tại Hoa Kỳ, người viết tự hỏi là con trẻ thời xưa có những thú vui gì? Ngoài nhảy dây trong nắng, hoặc nếu là con trai nghịch ngợm thì gọi nhau tắm mưa như Ðinh Quang Anh Thái cũng kể lại hôm đó, chúng ta thời bé thường chơi những gì?

Con trai thì tạt hình, đánh khăng, đánh đáo. Ðập dẹp cái nắp keng thành đồng xèng thì cũng vui cả buổi. Con gái thì chơi “ô ăn quan,” hay “bóng chuyền,” mà bóng chuyền ở đây không là “volley.” Ðó là tung một quả bóng lên rồi thoăn thoắt nhặt lấy một số que vung vãi trên nền đất trước khi bắt lại quả bóng.

Nhiều nơi nhiều đứa trẻ còn có những trò chơi khác mà người viết không biết và không nhớ hết được. Nói chung thì thật ra thú giải trí ấy rất đơn sơ và không nhiều. Không thể thừa mứa và đa diện bằng những trò chơi ngày nay của thiếu nhi trong thế kỷ 21.

Chúng ta có thể giải thích bằng kinh tế hay chiến tranh. Nhưng hình như là nước nào cũng vậy, mấy chục năm về trước, trẻ em không có nhiều chọn lựa như ngày nay.

Mà người lớn cũng thế.

Từ những thú tao nhã thật ra đơn giản và ít tốn kém của các cụ mà mình còn được đọc thấy trong Nguyễn Tuân, Toan Ánh, cho đến cách giải trí thời nay, chúng ta đã đi những đôi kia bảy dậm. Ở nhà thì ngoài sách báo còn có truyền hình trăm đài hoặc karaoke cho nhau nghe, v.v... Thấy cuồng chân ngứa tay thì từ Cali xuyên bang qua Las Vegas thử thời vận, có khi tối còn coi “show.” Xa hơn thì ta đi thăm Grand Canyon, đến tận Nepal hay Turkey, hoặc xuống Nam Mỹ, qua Âu Châu tìm lại nơi Van Gogh đặt bàn vẽ, nơi Mozart soạn nhạc, v.v...

Nhưng nghĩ lại thì khi có thể chọn lựa nhiều thú tiêu khiển như vậy, mình có hạnh phúc hơn chăng?

Xã hội lý tưởng là xã hội cởi mở, cho con người ta nhiều quyền chọn lựa. Người để ý đến kinh tế thì nói đến tự do và quyền công dân. Sự chọn lựa ấy dẫn đến cạnh tranh và cải tiến nên có tạo ra tiến bộ.

Nhưng nếu phân tách tâm lý của người trong cuộc là khách tiêu thụ thì đôi khi sự thể lại khác.

Trong xã hội cởi mở và tự do này, khách tiêu thụ được coi là vua. Nhưng mấy ai để ý đến nỗi buồn của các ông vua bà chúa, khi họ được phục dịch kỹ lưỡng và phải chọn lựa? Họ rất phiền lòng! Nhiều ông vua bé con thì chỉ mong trốn khỏi cung đình để đánh đáo ngoài chợ. Còn chúng ta thì đã quá nhiều lần sợ cỗ cưới mà chỉ mong một bữa cơm gia đình rất thanh đạm.

Thật ra, xã hội có quá nhiều quyền chọn lựa lại khích động một thứ tâm lý ít thấy trong các xã hội đơn sơ thuở trước. Ðó là phải chọn. Chọn lựa là có sự hy sinh, tiếc rẻ, có cả nỗi phân vân là chọn lầm thì sao?

Người viết có lần vào một tiệm bán quần áo, tìm một cái quần rất thường, để có thể đi đánh mạt chược, ra chợ hoặc dãi dầu cho một chuyến đi xa. Khi được họ mời vài chục loại, mỗi cái lại có ưu điểm riêng về vải vóc và kiểu dáng làm khách tiêu thụ bỗng bần thần. Nửa tiếng sau ra về mà không chọn được vì cảnh ngộ “mười phân vẹn mười” làm mình phân vân!

Trẻ em thường có những trận hờn khó hiểu, là khi chúng vừa muốn ăn lại vừa muốn ngủ, mà cũng thích chơi. Vì phân vân mà chọn không xong, chúng có thể bật khóc! Người lớn cũng chẳng khác gì đâu! Càng phải chọn thì càng gặp cảnh ngộ đứng núi này trông núi nọ và luôn luôn thấy rằng đồng cỏ bên kia xanh tươi hơn bên này.

Một cách chủ quan thì có hạnh phúc là những người biết thu hẹp cái phản ứng đòi hỏi tối đa để chấp nhận “cái này” mà không băn khoăn tự hỏi xem là còn cái nào đẹp hơn hoặc hay hơn chăng. Muốn vươn tới trái chín mọng xum xuê trên cành cao nhất thì có khi ta hụt mất hạnh phúc trong tầm tay.

“Phải chi mà” và “đáng lẽ thì” hoặc “nho xanh không xứng miệng người phong lưu” là loại tâm lý gieo khổ khi làm mình nuối tiếc, và tìm cách biện bạch. Không nên khóc hờn vô cớ nữa, mình chỉ thấy đời bớt đẹp. Trong khi ấy, hạnh phúc vẫn tràn đầy ở chung quanh.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Cái chết của mẹ, cuộc sống của con
Ngọc Lan

Stacie Crimm không có nhiều thời gian dành cho đứa con gái bé bỏng Dottie Mae mới sinh của cô, bởi Crimm đã chọn hy sinh cuộc sống của mình cho sự ra đời của bé Dottie.

Crimm, 41 tuổi, là một “single mother.” Cô biết tin mình mắc chứng bệnh ung thư đầu và cổ chỉ vài tháng sau khi đứa bé tượng hình. Ðể bào thai phát triển, Crimm chấp nhận bỏ qua phương pháp điều trị hóa trị.

Cuộc sống của người mẹ này chỉ kéo dài đủ để đứa bé chào đời. Không bao lâu sau giây phút được bế đứa con trên tay, người mẹ ở Oklahoma chìm vào hôn mê và qua đời ba ngày sau đó.

Ray Phillips, anh trai của Crimm, nhớ lại giây phút buồn vui lẫn lộn khi em gái ông ẵm lấy đứa bé. “Tôi cảm thấy đó là hình ảnh đẹp đẽ nhất mà tôi từng nhìn thấy trong đời,” Phillips nói. “Tôi không nghĩ là tôi lại có thể nhìn thấy bất cứ điều gì đẹp đến như thế một lần nữa.”

Trước đây, Crimm không bao giờ nghĩ rằng cô sẽ có con. Bác sĩ nói cô không thể thụ thai được. Chính vì thế nên làm sao nói hết niềm vui sướng khi cô biết mình mang bầu.

Cô gọi liền cho anh trai để báo tin mừng. “Em tôi hoàn toàn bất ngờ, hạnh phúc và mừng quýnh.” Phillips nhớ lại.

Thế nhưng, khoảnh khắc hạnh phúc quá ngắn ngủi. Crimm bắt đầu có những triệu chứng như đau đầu, nhìn lờ mờ và toàn thân bị run. Cô đến bác sĩ và sững sờ với chẩn đoán: cô bị ung thư đầu và cổ.

“Em gọi tôi, em khóc,” anh trai Crimm nhớ lại. “Em nói em sẽ không sống đến ngày sinh được đứa bé.”

Thực ra, Crimm có cơ hội sống sót nếu cô chọn phương pháp điều trị hóa trị. Tuy nhiên, việc điều trị này sẽ nguy hiểm cho thai nhi.

Cô gọi anh mình, báo cho anh biết cô quyết định rằng nguy cơ cho đứa bé là quá lớn nếu cô làm hóa trị. “Em nói, 'Nếu em phải quyết định, anh biết điều gì sẽ xảy ra,” Phillips kể. “Ðừng hỏi em. Em đã sống cuộc đời của mình rồi.”

Phillips cho biết anh không ngăn cản em gái mình, “Ý em tôi đã quyết, không thể lay chuyển.”

Crimm đã làm tất cả để đứa con bé bỏng của cô có được sự sống. Nhưng chứng bệnh ung thư phát triển nhanh chóng, hồi Tháng Tám, Crimm ngất xỉu tại nhà. Cô được đưa gấp vào bệnh viện để bác sĩ thực hiện cuộc phẫu thuật lấy đứa bé ra. Bé ra đời sớm 10 tuần và chỉ nặng 2 pounds.

Em bé được chuyển sang phòng săn sóc đặc biệt dành cho trẻ sơ sinh, khác tòa nhà người mẹ đang nằm. Các y tá không thể hình dung và chấp nhận được chuyện một người mẹ đã làm tất cả mọi thứ cho con lại không có cơ hội nhìn thấy, ẵm lấy đứa bé. Thế là họ đặt bé Dottie Mae vào trong chiếc lồng dành cho trẻ sanh non và đẩy bé sang chỗ người mẹ đang nằm chờ chết.

“Ðó là một trong những điều chúng tôi phải làm,” một người y tá nhớ lại.

Họ đặt đứa con lên ngực người mẹ. Crimm ngắm nhìn con gái mình trong vài giây, rồi cô “nhấc cánh tay của mình lên và ẵm lấy đứa con, nhìn nó, và mỉm cười.” Anh trai cô kể.

Vậy là Stacie Crimm đã có thể ẵm được con gái Dottie Mae trước khi gục ngã vì căn bệnh ung thư. Ba ngày sau khi sanh, Crimm qua đời.

Dottie Mae hiện sống cùng vợ chồng cậu Ray Phillips cùng 6 người con của cậu, theo lời yêu cầu của Crimm. Cô không để lại lời hướng dẫn gì đặc biệt rằng là con gái cô sẽ trưởng thành như thế nào, cô chỉ nói, “Em hy vọng con bé lớn lên xinh đẹp để tham dự những cuộc thi hoa hậu.” Anh trai cô cho biết.

Khi Dottie Mae lớn lên, cậu Phillips sẽ giải thích với cô bé như thế nào về sự hy sinh của mẹ cô?

“Tôi không nghĩ là mình sẽ phải nói bất cứ điều gì cả. Tôi nghĩ, tự Dottie sẽ tìm được điều đó.” Phillips khẳng định.

Có nên sanh con khi biết mình sẽ chết vì bệnh?

Câu chuyện trên được tác giả Linda Carroll kể lại trên trang mạng msnbc.com tuần qua, gây nên một sự xúc động mạnh mẽ đối với người đọc.

Cũng từ câu chuyện này, phóng viên Người Việt đã thực hiện một cuộc phỏng vấn nhỏ xoay quanh việc: khi biết mình sẽ chết vì bệnh, người mẹ có nên sanh con không?

“Cao cả quá!” Chị Tâm Nguyễn, người mẹ có hai con 10 và 13 tuổi, đã thốt lên ngay sau khi nghe câu chuyện.

Chị Tâm cho rằng nếu đặt vào trường hợp chị, chị cũng “đẻ ra rồi chết, chấp nhận hy sinh.” Người mẹ này sẽ nhờ cha mẹ, anh chị em, họ hàng nuôi dưỡng đứa bé.

“Tôi nghĩ trong trường hợp như vậy, người mẹ sẽ luôn hy vọng là có điều kỳ diệu gì đó xảy ra và mình sẽ sống. Nhưng cho dù không có điều kỳ diệu xảy ra, thì mình cũng phải bảo vệ lấy bào thai, phải sinh nó ra,” chị khẳng định.

“Phải giữ lấy đứa nhỏ, vì như Chúa đã nói 'loài người phải được sinh ra.'” Chị Liên Trần, người mẹ có hai con 10 và 15 tuổi, cũng đồng ý kiến với chị Tâm Nguyễn.

Chị Liên nói thêm, “Nếu đã biết mình bệnh mà vẫn tìm cách làm cho mình mang bầu thì là người mẹ sai. Nhưng khi đã có bầu rồi thì không được quyền bỏ đứa bé, cho dù người mẹ phải chết để cho con được sống.”

Bà Công Tằng Tôn Nữ Hồng, người mẹ của 4 người con đã trưởng thành, cũng khẳng định chắc nịch, “Phải sanh. Cho dù cha nó không có, mẹ nó chết đi thì cũng phải sanh. Không có bà con họ hàng nuôi thì có xã hội nuôi. Chuyện đó không lo.”

“Làm sao mà có thể bỏ đứa bé trong bụng đi được chứ! Nó cũng đã có hình hài của một con người mà,” bà Hồng nói thêm một cách xót xa.

Cô Hà Vũ, người mẹ của đứa con 18 tuổi, đưa ý kiến một cách trầm tĩnh hơn, “Ung thư là một loại bệnh không chữa được, nên nếu biết mình bị ung thư thì cũng vẫn sanh. Ðổi một mạng không chắc chắn là người mẹ đang mang bệnh để lấy một mạng sống chắc chắn hơn là đứa bé thì mình chọn đứa bé.”

Trong khi đó, Thúy Phạm, chưa từng có làm mẹ, lại tỏ ra khá băn khoăn, “Nếu giữ đứa bé rồi nó cũng bị ung thư thì sao?”

“Nếu là tôi thì chắc là tôi không giữ đâu,” cô ngần ngừ. “Vì nếu lỡ sinh ra mà nó cũng bệnh thì sao?”

Sau một thoáng suy nghĩ, Thúy cho rằng, “Nếu biết mình bị bệnh rồi thì tôi sẽ không có con luôn. Vì khi mình bệnh mình chết, ai sẽ là người nuôi nó? Khi nó bệnh ai là người chăm sóc nó?”

“Phải suy nghĩ thật kỹ lại thôi. Nếu thai từ 1 đến 3 tháng đầu thì quyết định còn dễ, chứ 5, 6 tháng trở lên rồi thì cũng khó nghĩ quá!” Thúy không dứt khoát được trong việc lựa chọn này.

Suy nghĩ của Thúy Phạm được sự đồng cảm của Nhiên Trần và Uyên Nguyễn.

Nhiên Trần nêu suy nghĩ, “Tôi nghĩ là tôi không giữ cái thai đó đâu. Ai sẽ chăm sóc nó? Ðứa con không có mẹ sẽ như thế nào? Ðứa bé sanh ra thiếu tháng, ốm yếu, lại đẩy cho người khác nuôi, có phải là tạo gánh nặng cho người khác không?”

“Công sanh không bằng công dưỡng, mình tạo nó ra rồi mình thảy cho người khác là không được,” Uyên Nguyễn, người mẹ của đứa con 2 tuổi, chia sẻ.

Cô nói thêm, “Tôi nuôi con nhỏ, tôi hiểu, từng chút từng chút mình đều phải để mắt đến con mình. Không ai có thể thay thế người mẹ được hết. Cho nên nếu là tôi có lẽ là tôi sẽ không giữ bào thai đó.”

Ðiều khiến Uyên, Nhiên và Thúy cảm thấy phải suy nghĩ nhiều chính là cuộc sống của đứa con vừa ra đời đã không có cha, lại mất luôn cả mẹ. Thêm vào đó, họ nghĩ đến chuyện một người mẹ không đầy đủ sức khỏe, cho ra đời một đứa con sanh non, thiếu tháng, thiếu ký thì liệu đứa bé sẽ tồn tại như thế nào trong cuộc đời. Liệu có quá tội nghiệp cho đứa bé không?

Với cô Merry Lê, người đang chăm sóc đứa con 17 tháng, thì, “Tôi sẵn sàng hy sinh nhưng liệu đứa bé có sống khỏe mạnh không? Nó sẽ có gen cancer không? Tôi sẽ phải hỏi bác sĩ điều đó, nếu nó thực sự được sống khỏe mạnh, tôi sẽ hy sinh vì sự sống của con mình.”

Merry nói, “Nếu nó sống khỏe mạnh, thì mình phải chọn giữ nó. Mình thì trước sau gì cũng chết, nhưng đứa bé còn cả cuộc sống dài phía trước.”

“Thế của mình là mình không làm được chứ không phải mình không làm, không muốn làm. Nếu tin có là có thế giới thứ hai thì mình vẫn đi theo bên cạnh phù hộ con mình. Tôi là người theo đạo Công Giáo, tôi biết khi cánh đóng cánh cửa này thì cánh cửa kia sẽ mở ra. Nếu ông trời đã muốn đứa bé sống thì sẽ có con đường dành cho nó đi.” Merry lý giải.

“Tôi nghĩ người mẹ này không hề ích kỷ, bởi nếu ích kỷ, người mẹ đã chấp nhận làm hóa trị để có thể kéo dài hơn cuộc sống của mình.” Cô nói thêm.

Một người cha không nêu tên, có hai con 16 và 10 tuổi, trầm ngâm, “Tôi nghĩ người mẹ này rất khao khát cuộc sống, và vì bà biết mình không thể sống được nên bà chấp nhận hy sinh để dành sự sống cho đứa con, như kiểu bà ký thác sự sống của mình vào đứa bé vậy.”

Còn bạn, bạn nghĩ gì?
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

Khi nắng bắt đầu lên

Quỳnh Giao
Em lại nhớ bàn tay mình nhỏ bé không giữ nổi bước chân anh trong buổi sớm nắng chưa kịp lên. Bóng anh tan vào sương… nhạt nhòa trong mắt em. Có ai nói với em em không phải người con gái anh yêu. Em không tin.
“Gió heo may se sẽ thổi về. Thu sang. Thu đến nhẹ nhàng mang cho lòng những ưu tư trăn trở, cần lắm một bàn tay ấm để dắt mình đi qua những tháng năm dài. Một bờ vai cho mình tựa vào những lúc lòng trống vắng. Anh đã không đưa em qua hết chặng đường còn lại của cuộc sống đầy những lo âu. Anh không đủ bao dung để tha thứ cho em tất cả những lầm lỗi của ngày hôm qua. Em luôn tin anh có một trái tim đầy bao dung và đôi bàn tay rắn chắc để ôm trọn em, che bớt những chênh vênh trong em. Cần lắm nhưng em không thể giữ anh. Em sẽ tìm một bàn tay, một bờ vai khác”…

***

Em về với ngoại. Chuyến xe đi rất nhanh. Có người hành khách trên xe nhìn em cười anh ạ. Nụ cười thân thương khiến em thấy mình có lỗi. Em không thể đáp lại họ bằng nụ cười trong veo vốn có. Xe lao đi trong nắng sớm long lanh. Hàng cây bên đường như muôn vàn cánh tay đuổi với mà không sao giữ nổi chuyến xe. Em lại nhớ bàn tay mình nhỏ bé không giữ nổi bước chân anh trong buổi sớm nắng chưa kịp lên. Bóng anh tan vào sương… nhạt nhòa trong mắt em. Có ai nói với em em không phải người con gái anh yêu. Em không tin. Nhưng giờ câu nói thờ ơ ấy lại xuất hiện trong ý nghĩ của em.

Ngôi nhà ngoại nằm chênh vênh trên sườn đồi kia, khói chiều hi hút bảng lảng trên những bông hoa tím biếc còn sót lại của mùa hè. Mỗi lần thấy lòng chênh vênh em lại muốn tìm về với ngoại. Ngoại cho em cảm giác được yêu thương và chở che.

- Ngoại làm gì giữa những lùm cây ấy thế?

- Làm cỏ cho hoa dại mọc, cho đứa cháu gái thành phố ngắm. Ngoại cười.

Em ôm ngoại. Mùi cỏ cây núi rừng thơm như mùi thuốc bắc mẹ hay sắc nhưng dễ chịu hơn bay vào mũi như một thứ cao đắt tiền làm khứu giác sực nức. Ngoại nấu một nồi nước cho em gội đầu bằng thứ lá cây ngoại không nhớ rõ tên hay không muốn gọi tên. Em xỏa mái tóc ngắn cũn xuống cái chậu nhôm bám đầy chua phèn quánh đặc như đồng. Nước gội đầu thơm thơm lạ.

- Ngoại ơi, nước này rửa mặt có làm vàng da cháu không đấy?

- Cha bố chị. Không làm vàng da đâu nhưng đừng để dính vào mắt. Cay đấy!

Bao nhiêu năm rồi không biết nữa. Từ những năm em còn ngồi trong lòng ngoại bi bô đã cảm giác được thứ mùi cây cỏ thân thuộc ở ngoại. Cho đến bây giờ đã hai mươi mấy rồi vẫn thấy thứ mùi thân thương ấy. Nhiều lúc thấy thương ngoại đến xót xa lòng. Ngoại cứ một mình cặm cụi nơi núi rừng này thôi không chịu về thành phố. Ngoại bảo ở thành phố chật chội, khó chịu ngoại không quen. Mẹ thương ngoại già nua còm cõi trên sườn đồi chênh vênh khóc nóc van nài ngoại lên ở cùng nhà. Em dẫn ngoại đi nhà hát coi chèo. Ngoại ngồi dưới bảo mấy người xem diễn chèo sao ăn mặc kỳ lạ thế? Em bảo họ là người thành phố nên ăn mặc thế. Ngoại bảo: “Ăn mặc thế mà cũng mê chèo, lạ nhỉ”. Em cười. Lên thành phố rồi mà ngày nào ngoại cũng muốn gội đầu bằng bồ kết và tắm bằng lá cây. Mẹ ra chợ dặn chị bán lá xông ngày nào cũng phải để dành cho mẹ một bó. Còn bồ kết mẹ mua túi tán sẵn bán ngoài siêu thị. Ngoại gội bảo chẳng có mùi thơm. Vậy là em phải nhờ cô bạn học cùng nhà ở quê mang lên đúng quả bồ kết mang về để ngoại nướng gội đầu dần. Vậy mà được vài ngày ngoại đòi về ngôi nhà chênh vênh giữa núi rừng heo hút này. Mẹ khóc ròng bảo ngoại thương mẹ mà ở lại cho mẹ yên tâm. Ngoại bảo không phải lo cho ngoại gì cả. Ngoại về đó còn sống mạnh khỏe chứ ở lại đây chắc ngoại chết sớm vì thiếu… không khí. Bố đánh xe con đưa ngoại về. Bố dừng xe ở dưới tít chân đồi không dám lên sợ bùn đất đỏ bám vào dày không gột rửa được. Ngoại ở đó với mùa hoa vàng rực rỡ tháng ba cùng những mùa hoa không gọi được thành tên và tàng cây mang mùi thơm như một thứ dầu cao.

Em vẫn lên đây với ngoại đều đặn vào tháng ba khi hoa cải cúc và cải ngọt nở rộ. Những đôi trai gái lên đây vào tháng ba để được chụp ảnh cùng hoa cải. Em chỉ ngồi ngắm, thâu vào trong mắt để rồi đưa vào những trang viết của riêng mình… cho cả anh nữa, người cũng yêu những mùa hoa cải như em. Những khi lòng chênh vênh em lại bắt xe lên với ngoại. Lần này em lên khi mùa thu trải đầy nắng. Thu bắt đầu len vào trong mắt nội những nỗi buồn chậm rãi… Ngoại mang quà của em cho mấy đứa trẻ con xóm núi. Bọn trẻ con có đôi mắt to trong veo, mái tóc bết nhưng long lanh màu nắng. Chúng nhìn em cười. Em đáp lại chúng bằng cái nhíu mày tinh nghịch. Lũ trẻ cho em những quả cây trên đồi ăn chan chát nhưng thơm mùi nắng.

Đêm, em ngồi gối đầu lên cái chân gầy nhẳng của ngoại.

- Cháu không lên ngoại có thấy buồn không?

- Buồn.

- Vậy ngoại cho cháu ở luôn đây với ngoại nhé!

- Ừ, xem mày ở được một tuần hay một tháng?

- Cháu ở suốt đời luôn! Thật đấy. Cháu không muốn về thành phố nữa…

- Lần này thằng Nguyên đi đâu lâu lâu là không thấy về?

- Nguyên rời xa thành phố rồi ngoại ạ. Nguyên bỏ con đi rồi.

- Tại mày không giữ nổi nó phải không?

Tại em? Tại em không giữ nổi bước chân anh, không ngăn được những hoài bão của anh.

- Làm sao cháu giữ nổi hả ngoại. Người ta muốn đi mà. Cháu cũng không muốn giữ. Mà giữ cũng chẳng được ngoại ơi.

Ngoại nhìn về phía thành phố xa xa bên kia sông rực rỡ ánh đèn. Em không biết ngoại đang nghĩ gì. Nhưng em biết ngoại cũng đang nhớ anh như em. Em ủ đầu mình trong lòng ngoại rồi ngủ say trong mùi thơm cây cỏ sực nức mùi nước hoa. Đêm ấy hình ảnh anh không chen vào trong giấc mơ em. Đêm bình yên.

***

Căn nhà ngoại ngập đầy nắng. Nắng rơi từ trên khe ngói cũ, nắng lách qua khe cửa rồi hắt thẳng một luồng sáng mạnh mẽ qua chỗ tường trơ những viên gạch xỉ. Ngoại để dành em một gói xôi đỗ. Xôi đỗ ăn với muối vừng. Những đứa trẻ có mái tóc long lanh màu nắng cũng đang ngồi trên bậu cửa ăn xôi với muối vừng. Ngoại đi đâu trong lúc nắng chưa kịp lên? Em chạy đuổi theo những tia nắng ngoài cánh đồng.

- Ngoại làm gì ngoài ấy thế?

- Làm cỏ để hoa dại mọc cho đứa cháu gái thành phố ngắm.

- Cháu không ngắm hoa dại của ngoại nữa đâu. Buồn lắm!

- Thì làm cho thằng Nguyên ngắm…

- Nguyên rời xa thành phố rồi. Cháu đã bảo mà. Sao ngoại cứ nhắc đến Nguyên?

- Nó vừa đến đây. Lúc cháu đang ngủ.

Anh lại đi khi nắng chưa kịp lên? Khi em đang chìm trong giấc ngủ. Để em không giữ nổi bước chân anh? Nắng giờ đã lên rồi. Và anh cũng đã đi rồi. Em không thể mất anh. Em chạy đuổi theo những tia nắng. Như bay… Ngoại nói gì trong gió rất nhanh. Em không nghe rõ. Em giữ anh lại che bớt những chênh vênh trong em. Làm sao phải mong tìm kiếm một bờ vai, một bàn tay khác khi em đã có anh?

Tiếng anh gọi lẫn vào trong gió, trong nắng sớm. Em quay đầu nhìn lại. Anh đứng đó và nắng bắt đầu lên, tóc anh long lanh màu nắng, nụ cười, hơi thở anh ấm nồng như nắng. Anh dắt tay em đi giữa những tàng cây nhuộm màu nắng sớm. Ngoại đứng giữa những tàng cây thơm mùi nắng, nụ cười mênh mang mùa hoa vàng rực rỡ cho anh… cho em.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

ĐÀ LẠT TRỜI MƯA
Phạm Tín An Ninh

Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình , và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.

Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.

Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời.

Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.

Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh.Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.

- Anh chờ em có lâu không ?

Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi.

- Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.

Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây. Tôi dè dặt :

- Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.

- Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái , em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.

Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi .

- Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị đề nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.

- Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.

Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun -loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc- , một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.

Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài bắc.

Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt ngiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang không quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh , khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng tư, thì hai người đã làm đám cưới .

Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.

Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.

Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh . Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải dấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này .

Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.

Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẳn sàng hết lòng giúp Thống.

Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.

Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả. Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.

Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.

Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo dòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào :

- Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.

Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống :

- Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.

Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn :

- Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong balô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta.. xin lỗi cô ta .

Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiềm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá . Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”.

Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.

Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa.

Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.

Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc. Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.

- Em cám ơn anh, và xin lỗi .. em đã không nén được xúc động.

Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng :

- Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.

Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng :

- Chị Nhất Anh ! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe !

Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.

Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng :

- Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.

Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỷ mỷ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.

Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.

Mùa hè năm rồi, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị,. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexcico. Đến ngày thứ bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi. Bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.

Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Hội trường không còn một chỗ ngồi. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng .

Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.

Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ. Tôi chợt nhớ tới một bài viết nào đó mà tôi đã đọc đươc: Người Việt đến Mỹ, nữ giới thành công hơn là nam giới, và số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, cộng đồng ngày một nhiều hơn. Tôi nghĩ tới Dương Nguyệt Ánh, Lê Duy Loan, những người phụ nữ đã mang đến cho người Việt bao điều hãnh diện. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu thêm: Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.

Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của phó trưởng ty cảnh sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.

Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu <“nhạc phẩm Ai Lên Xứ Hoa Đào với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt”.

Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.

Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi :

- Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy ? Hay lại là một người xưa ?

Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị :

- Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc ! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.

- Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe .

Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.

Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi :

- Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?

Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu :

- Xin lỗi, em không nhớ ra .

Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô :

- Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống ? – Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ ?

Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu :

- Xin lỗi , em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với … ai đó !

Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.

Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:

- Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.

Trên sân khấu chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng .

Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.

Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi . Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường :

- Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe !

Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, chủ nhật, em sẽ chờ anh ở nhà ”

Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn dấu mọi người . Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.

Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều chủ nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.

Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp :

- Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ . Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.

Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt .

- Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.

Tôi đỡ lời :

- Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không ?

Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:

- Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh ?

Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.

- Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!

Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẩng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi .

Cô gái hạ giọng :

- Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất. Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.

Tôi nhìn cô ngờ vực :

- Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà- Anh mà ? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót .

- Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh , mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh. .

Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa. Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo :

- Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn .

Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:

- Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.

Tôi giật mình hoảng hốt :

- Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương ? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không ?

- Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.

- Và chị đã chết ? Tôi hỏi

- Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống

- Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống ?

- Có chứ ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt . Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.

- Còn chị Hà Nhất Anh ?

- Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chửa. Trong mấy ngày tinh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.

Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh :

- Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà lạt .

- Dạ . Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.

- Đồi thông hai mộ . Tự dưng tôi buột miệng.

Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười :

- Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà lạt có khá nhiều “đồi thông hai mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.

- Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống ?

Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn. Khi tôi cúi đầu chào bà , cô gái giới thiệu:

- Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.

Rồi quay sang tôi :

- Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.

Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.

Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ :

- Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.

Nhị Anh nắm tay bà cụ :

- Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má. Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuồi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.

Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.

Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô :

- Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy ?

Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng :

- Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm màu từ chị Nhất Anh – anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe .

Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh , Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image
Khánh Ly, Chuyện kể sau 40 năm

Chương 1

Đó là năm 1964, tôi và các con đang ở thành phố Dalat. Tôi vừa 18 tuổi, hai con, một gái, một trai. Ba mẹ con sống với nhau hồn nhiên như cây cỏ trong ngôi nhà hai từng rộng lớn vắng người, trên một ngôi đồi mà người ở đó gọi là đồi Miên – tên ông nội hai đứa nhỏ. Nhà không cổng ngõ, không hàng rào, đồi rộng thênh thang, từ hông nhà ngó xuống, là một thung lũng nhỏ xanh rì, nhìn mông ra xa thấp thoáng đâu đó mầu đỏ của ngói bên cạnh những vườn trồng rau quả xanh ngắt, tiệp với màu của lá cỏ. Nổi lên trên màu xanh mượt mà như tấm áo dạ hội bằng nhung, tôi có thể biết được đó là những vườn hoa.

Thuở đó, Dalat đẹp lắm. Người ta bảo Dalat đẹp bởi có 4 mùa giống như Hà Nội nên con gái Dalat tuy ít người xuất sắc nhưng ai nấy đều xinh xắn với nước da trắng hồng, mái tóc đen dày óng mượt. Tất cả đều vô tư, hồn nhiên và hiền lành. Các bà bán hàng trong chợ, dù là bán mắm cá, cũng mặc áo dài, bán đậu hủ rong cũng áo dài, bán ngô nướng lúc nửa khuya, bán mì Quảng, xôi gà cũng áo dài, hai má cứ ửng hồng lên bên cạnh bếp lửa.

Dalat có 4 mùa nhưng mùa nào cũng mát vào ban ngày, lạnh về đêm, chính thế, người ta mới thú vị khi cầm cái ngô nướng thoa mỡ hành còn nóng hổi, người ta mới cảm thấy cái nhẹ nhõm khi bước ra từ những phòng tắm nước nóng, xê xế rạp ciné Ngọc Hiệp. Bước qua bên kia đường, người ta có thể ghé vào tiệm cháo vịt, tiết canh vịt, gỏi vịt và ngay bên hông tiệm thịt vịt, cái quán mì Quảng nhỏ xíu, mái che là một vài tấm ván ép ghép với 4 cái ghế. Hai vợ chồng người bán mì Quảng tay thoăn thoắt đơm bún, chan nước hay dọn dẹp cái mặt bàn cũng chỉ là một tấm gỗ dài. Người bán vui cười nhìn khách xuýt xoa ăn trong cái nóng của bún, cái lạnh của con phố về khuya, vắng người.

Điều chắc chắn phải nói là người Dalat hiền. Hiền như nước mưa, nước suối. Hiền như cây trái tốt tươi. Hiền như hoa như gió. Như tiếng chuông reo bốn mùa. Hiền như bãi xe lam dăm ba chiếc im lìm nơi bến đậu. Hiền như những cơn mưa bất ngờ bay nghiêng qua thành phố, không hề làm rối chân khách bộ hành. Những con đường vắng lặng. Những ngôi biệt thự nằm xa nhau, không tường bao bộc, chỉ có hoa và hoa dưới những cây thông rải rác, tưởng như mọc vô tình không người săn sóc. Ấy thế mà trong cái vô tình gần như hoang dã ấy, luôn có những lúc rộ lên tiếng cười rộn ràng ngây thơ. Đời sống đẹp và đáng sống biết bao nhiêu.

Trước đó 2 năm, nói chính xác là vào tháng 11 năm 1962, khi tôi lên Dalat tìm sống, cùng đi trên chuyến xe đò Minh Trung với tôi, là chị Ngân Hà, một ca sĩ đẹp và được biết đến, không hiểu vì sao chị bỏ Sài Gòn ra đi. Lúc đó, người ta chưa nói đến chiến tranh. Sài Gòn đất rộng, người ít. Đời sống dễ dàng, người dân miền Nam chơn chất như ngọn lúa đồng bằng, cá tôm sông lạch, con đường Tự Do, sáng, trưa, chiều, tối chỉ khoảng trên một chục khách bộ hành, xích lô vài chiếc thông thả đạp như thi sĩ thơ thẩn tìm nàng thơ. Taxi cũng thỉnh thoảng ghé qua đỗ người xuống. Hình như Sài Gòn rất bằng lòng với nhịp sống thong thả, nhàn hạ. Thói quen của miền Nam trù phú đụng đâu cũng có cái ăn.

Tôi nhận lời lên hát cho Night Club ở Dalat với giá 2500 đồng một tháng, có cơm hai bữa và ngủ chung với các chị ở vũ trường, nếu không muốn về nhà. Kể ra thì không nhiều nhưng cũng chẳng hẹp gì lúc đó, lương Trung Úy cũng chỉ được như thế thôi. Ông bà nội của hai đứa nhỏ ở đó, tôi có cả nguyên một từng dưới rộng thênh thang. Hình như đây là kiểu nhà sàn lúc khởi thủy cất lên, nhưng rồi sẵn cột, xây thêm thành nhà hai tầng, chưa kể chung quanh đất trống, không trồng trọt gì ngoài mấy cây ổi, mấy giàn xu. Bên nội dường như chẳng ai để ý gì đến mấy mẹ con tôi ngoài chị Lê Quyên. Vài tháng sau, tiền lương được tăng, tôi tìm một người giữ con và ngày ngày nhảy xe lam, xe đò ra chợ Dalat.

Từ ngày di cư vào Nam, dẫu mới có 10 tuổi, tôi phải trông em, giặt quần áo, đi chợ rồi mới đi học. Mấy anh chị em chúng tôi sàn sàn tuổi nhau nhưng lại chẳng bao giờ có thì giờ hay có chuyện gì để chia sẻ với nhau. Nói tóm lại, tuổi thơ của tôi hoàn toàn mờ nhạt, không có gì đáng ghi nhớ trong sinh hoạt gia đình, ngoại trừ ông bố đêm nào cũng say rượu và bà mẹ hết ca cẩm chồng đến mắng chửi con. Dalat chính là khoảng trời tôi mơ ước, tưởng chừng như cuộc sống ngừng lại ở đó… Nhưng không. Cuộc đời tôi bắt đầu. Từ đó, ở đó.

Vũ trường Night Club dọn ra hôtel Du Parc, cạnh Nhà Thờ Chánh Toà, Bưu điện và đài phát thanh Dalat. Bà chủ vũ trường là một người Việt Hoa, có một đứa con lai không biết lai gì, khoảng 6, 7 tuổi. Bà mướn một căn phòng ngay bên kia đường cho các chị vũ nữ ở, có người nấu cơm. Tôi thường ngủ lại đây vì khuya chẳng có ai đưa tôi về tận Chi Lăng. Trong căn nhà nhỏ này, tuyệt không có bóng dáng một người đàn ông, thế nên tôi thích ngủ lại để sáng hôm sau đi chợ rồi mới về nhà, mang đồ ăn, bánh kẹo và chơi với con rồi chiều tối, lại đi xe lam đến Vũ Trường. Căn phố đó nằm cạnh quán café Myosotis, không biết bây giờ có còn không.

Night Club là Vũ Trường duy nhất ở Dalat. Với khí hậu lành lạnh về đêm là nơi giải trí lý tưởng của thành phố du lịch, vậy mà khách khứa cũng không có bao nhiêu. Lính Mỹ, cấp cố vấn, mới được vào thị xã chơi chứ những cậu học trò vừa mới hết Trung Học, rời gia đình đến một đất nước xa lạ, nên có vẻ sợ sệt. Người của thành phố, muốn đi, sợ gặp người quen, khó chối tội với vợ, thế nên ban nhạc đêm đêm cứ chơi những bản nhạc trữ tình, chúng tôi vẫn hát, các chị ngồi uống nước tán gẫu hoặc nhảy với nhau. Mỗi đêm vài ba bàn khách. Mọi người bình thản nhìn nhau, chờ ngày cuối tuần. Có những đêm Vũ Trường gần đóng cửa, một băng Không Quân áo bay đen khăn quàng cổ màu tím hoa cà, bất ngờ xuất hiện đứng thành một hàng dài nơi cửa. Nhà hàng không chạy lại đón khách. Chúng tôi không ai ngạc nhiên. Chuyện này xảy ra thường. Tôi lặng lẽ lên sân khấu, ban nhạc hiểu ý chơi bài “Gửi gió cho mây ngàn bay”. Tôi hát xong, những chiếc khăn quàng màu tím hoa cà lặng lẽ quay ra, đi vào đêm tối, nơi các anh từ đó bước ra. Không bao giờ hỏi nhưng tôi biết một phi vụ vừa hoàn tất.

Những đêm trời lạnh, mưa rất nhẹ, không gì thú vị hơn ngồi hát hay nghe một tình khúc Tiền Chiến. Những người lính Mỹ non trẻ kia đang miệt mài bước nhảy, cố quên đi nỗi buồn xa nhà, nỗi lo sợ súng đạn trên mảnh đất mà họ không bao giờ hiểu được vì sao họ đến đây. Họ lại càng không hiểu ý nghĩa của khúc hát kia. Chỉ biết trong đêm lạnh, khúc hát buồn, tiếng hát còn non trẻ với những ước mơ chưa thành hình và nỗi lòng khắc khoải của kẻ xa nhà quấn quít lấy nhau ấm áp chia sẻ đến không ngờ. Nhiều năm sau, nếu những người lính ấy còn sống mà trở về, chắc chẳng bao giờ họ nghĩ đến cái vũ trường xưa, nơi thành phố có những cơn mưa bất ngờ nghiêng nghiêng bay trên con phố vắng người vào những đêm gió lạnh. Cũng có thể họ đã không bao giờ trở về để mà nhớ.

Tôi không sống với gia đình nhiều. Tôi không có bạn gái. Bạn của anh tôi cũng là bạn của tôi. Chúng tôi gọi nhau bằng …chú và xưng tôi, không có anh em gì cả. Có lẽ thế, tính tôi không hề có chút dịu dàng nào cho đến khi có con và chỉ dành cho con. Có lẽ thế, tôi dễ sống chung với các chị vũ nữ mà tôi thật sự quý mến như một gia đình. Các tay …anh hùng hảo hán ở Sàigòn, Dalat hình như cũng rất quý tôi, đứa em gái lạc loài, lờ khờ trong thế giới muôn mặt về đêm. Chẳng ai hỏi tôi từ đâu đến, con cái nhà ai. Tôi cũng không tò mò về cuộc sống của các chị vũ nữ.

Thời bấy giờ, giới vũ nữ là giới làm rất nhiều tiền và rất nhiều người có học. Họ chỉ trở thành vũ nữ để giúp gia đình trong khoảng thì giờ rỗi rảnh. Công việc của các chị ấy là nhảy với khách hàng, những người đi Vũ Trường một mình, những người mới biết khiêu vũ. Thời 60, khiêu vũ là một nghệ thuật. Mọi người nhẩy lấy đẹp, nhẩy biểu diễn. Khiêu vũ là một nghệ thuật, không hề có ý đen tối, lợi dụng. Khách đến Vũ Trường và vũ nữ đối xử với nhau lịch sự. Có những chị nổi tiếng chỉ vì nhẩy giỏi, nhẩy đẹp. Các chị không đi đêm với khách, tôi biết vì tôi ở cùng các chị một nhà.

Vũ Trường đóng cửa, ai muốn đi ăn đêm thì thường chạy tới tiệm xôi gà trước mặt khách sạn Thủy Tiên, sau lưng tiệm bánh mỳ Xương Ký đầu con dốc Hàm Nghi. Chủ quán là cặp vợ chồng trẻ, con ông bà Bắc Hương cơm tám, giò chả nằm gần café Tùng – ông bà chủ quán xôi này hiện đang ở Porland, Oregon - nhiều đêm, vừa thấy mặt tôi, cô vợ da trắng, má hồng cười như hoa nở, hét toáng lên… Đùi Khánh Ly… Phao câu Khánh Ly… câu rao ngắn gọn làm ai cũng quay lại nhìn tôi cười. Và tôi không hề cảm thấy ngượng ngùng, sà ngay vào hàng cầm chiếc đùi gà, miếng phao câu béo ngậy, đĩa xôi trắng dẽo thơm phức mỡ hành. Ở một thành phố nhỏ như Dalat, ai cũng biết mặt nhau.

Cùng đi ăn với chúng tôi là một số các …anh hùng có tên tuổi. Những cái tên ngộ nghĩnh đôi khi do thành tích mà có. Các bạn ấy còn trẻ, có người trạc tuổi tôi, có người lớn hơn nhưng ai cũng làm mặt nghiêm, lạnh lùng ít nói. Họ làm ra vậy giữa chốn đông người, thật ra, họ dễ thương, sống có tình nghĩa. Họ có bổn phận bảo vệ nhà hàng, các chị vũ nữ, ca nhạc sĩ. Mấy ông say xỉn quậy phá, gây gỗ, họ là người giải quyết, giảng hoà hoặc mời các ông đi về chứ không bao giờ họ gây chuyện rắc rối cho nhà hàng. Giới giang hồ, các chị vũ nữ và ca nhạc sĩ vì thế mà gần nhau, thương nhau và luôn bênh vực cho nhau. Thời đó, dưới mắt tôi, họ là những người hùng. Cách sống của giới này ảnh hưởng đến lối sống và cách suy nghĩ của tôi không ít.

Tôi hát chưa ra gì nhưng lại được nhiều người thương thế nên cuộc sống mấy mẹ con coi bộ cũng đỡ khổ. Tôi mua quần áo đẹp nhất Dalat cho con tôi ở tiệm Au Printemps. Tôi sục vào lầu trên của chợ Hoà Bình, nơi bán quần áo cũ của Mỹ - hàng viện trợ - tìm mua áo da. váy len. giầy bốt. Diện vào, ai dám nói là quần áo cũ. Tôi thường tới quán café nơi Bích Ly, chị cả của ban CBC ngồi giữ két, nói dóc. Bích Ly và tôi hình như bằng tuổi nhau hoặc Ly kém tôi một tuổi gì đó. Hai đứa cùng tên Ly, cùng đen đen như nhau, giọng cũng khào khào giống nhau nên bắt chuyện gớm lắm… Giờ gặp lại trên xứ Mỹ, hai đứa vẫn tưởng như đang ngồi trong quán café ở Dalat.

Thời đó, tôi mới 18 tuổi, còn ham ăn, ham chơi. Chẳng có gì thú vị cho bằng quăng giày dép, chân không, đi, chạy, nhẩy khắp Đồi Cù, xuống Toà Tổng Giám mục, men theo con đường Tình Yêu dẫn lên Toà Tỉnh rồi lại lên Đồi Cù nằm khểnh dưới gốc thông hoặc thẳng tay chân trên bãi cỏ thênh thang nhìn ngắm mây trời. Không nhớ đến ai cũng không cần biết mình là ai, ngày mai sẽ ra sao. Không nhớ ai thật, không cả yêu đương. Không hề nghĩ đến gia đình và Saigon. Tôi thương các con song thường tự hỏi vì sao tôi có chúng trong khi tôi chẳng có một chuẩn bị nào, chưa hề có một khái niệm về gia đình. Những lúc lang thang trên Đồi Cù, cùng các bạn gái đắm chìm dưới suối Liên Khương, tôi ước ao trở lại tuổi 14, 15. Có lẽ, tôi sẽ bắt đầu cuộc đời của tôi một cách khác.

40 năm trước, đó là ý nghĩ của một thiếu phụ tuổi 18, nằm ngủ quên dưới gốc thông già. Buổi trưa nắng vàng chan hoà trên cỏ lá, tiếng thông reo ngân dài, bất tận như một lời ru buồn. Lời ru âm thầm đi vào giấc ngủ và ở lại đó. Lời ru buồn. Rất buồn…
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 12 guests