Thời Sự, Bình Luân

KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Bênh Israel - sai lầm lớn nhất của Obama?
Dư luận đang hết sức hồi hộp suy đoán về những đổi thay trong vài tháng tới sau khi Palestine đệ trình đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc với quy chế quốc gia độc lập.
Một số người cho rằng, động thái này có thể giúp Palestine có được tư cách thành viên Liên Hiệp Quốc thực sự, một số khác lại khẳng định thắng lợi nếu có cũng mang tính tượng trưng trong không ít người đánh giá, hệ quả của nỗ lực ngoại giao đơn phương sẽ chỉ khiến Palestine gặp khó khăn hơn khi Mỹ và Israel quay sang theo đuổi các chính sách cứng rắn.

Theo giới phân tích, dù hệ lụy của hành động đơn phương của Palestine là thế nào thì động thái này chắc chắn sẽ được ghi nhận trong lịch sử nhân loại bởi hai yếu tố mang tính bước ngoặt.

Bước ngoặt thứ nhất đó là chiến dịch ngoại giao này khiến cho cuộc xung đột giữa thế giới Arab với Israel biến thành cuộc “so găng” giữa cộng đồng Arab với Israel - Mỹ, để rồi hậu quả sẽ là sự thất bại của liên minh Mỹ - Israel.
Image
Chiến dịch ngoại giao đơn phương của Palestine tại Liên Hiệp Quốc sẽ đi vào lịch sử nhân loại.
Chiến lược ngoại giao trong khoảng thời gian dài vừa qua của Mỹ là ủng hộ nhà nước Israel cũng như bảo đảm an ninh cho quốc gia này song vẫn tìm mọi cách để đưa ra được một giải pháp hòa giải cho cuộc xung đột giữa Israel và Palestine, theo đó, tạo điều kiện cho Palestine tuyên bố độc lập dựa trên cơ sở biên giới năm 1967.

Tuy nhiên, chiến lược đó cuối cùng cũng thất bại thảm hại khi Palestine tự mình đệ trình đơn xin công nhận quy chế quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. Điều đáng chú ý là khi mọi nỗ lực ngoại giao đổ vỡ, Washington “lật bài ngửa” quay sang bênh vực Tel Aviv và thừa nhận rằng, Nhà Trắng coi trọng quyền lợi của Israel hơn của Palestine.

Do đó, cân bằng lực lượng trong cuộc xung đột tại Trung Đông lập tức thay đổi với việc thế giới Arab phải đối mặt với thách thức tổng lực của Mỹ Israel.

Tuy nhiên, tờ Dailystar nhận định, liên minh này sẽ bị đánh bại, song không phải bằng các phương tiên quân sự như cuộc chiến tranh Arab-Israel hồi năm 1948. Thay vào đó, cuộc xung đột với sự góp mặt của Mỹ sẽ diễn biến một cách hòa bình với việc thế giới Arab cùng những người ủng hộ và anh em của mình trên toàn thế giới sẽ khai thác triệt để giải pháp chính trị để thách thức và lật đổ liên minh Washington – Tel Aviv giống như cách chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid của Nam Phi bị “xóa sổ”.

Image
Theo Dailystar, liên minh Mỹ - Israel rốt cuộc sẽ bị đánh bại bằng giải pháp hòa bình, giống như cuộc lật đổ chế độ Apartheid tại Nam Phi.

Lý giải cho nhận định này, Dailystar cho rằng, Mỹ giờ công khai ủng hộ quan điểm của Israel về các vấn đề chủ quyền quốc gia, tâm điểm của cuộc xung đột giữa Palestine và Israel và trên quy mô lớn hơn là giữa thế giới Arab và Israel.

Điều này khiến cho Mỹ và Israel đi ngược hoàn toàn với quan điểm chung của cộng đồng quốc tế là công nhận nhà nước Palestine nhằm đem lại hồi kết cho các nỗ lực hòa giải bất thành của Washington, đồng thời mang lại công bằng cho tất cả các bên trong cuộc xung đột tại Trung Đông.

“Với sự trái khoáy này, liên minh Mỹ - Israel sẽ bị thế giới kịch liệt phản đối và hợp sức chống lại như cuộc lật đổ chế độ Apartheid năm 1991”, Dailystar khẳng định.

Bước ngoặt thứ 2 đó là cộng đồng Arab cũng như phần còn lại của thế giới giờ sẽ không do dự trong việc đối đầu với liên minh Mỹ - Israel. Quyền lực mạnh mẽ của liên minh này sẽ không còn là mối đe dọa, ngăn cản những quốc gia phản đối các hành động tội lỗi mà Mỹ và Israel gây ra với Palestine cũng như các nước Arab khác.

Lý do cho sự dũng cảm này xuất phát từ thực tế rằng, một lãnh đạo Palestine nhỏ bé như Mahmoud Abbas còn có thể khiến Mỹ và Israel phải lo sợ trong suốt vài tuần qua thì chẳng có lý gì các quốc gia lớn mạnh khác trong thế giới Arab lại không thể đứng lên thẳng thắn chống lại sự chiếm đóng của Israel đối với Palestine cũng như thách thức quan điểm chính trị của Mỹ và Israel.

Dailystar khẳng định, nếu những động thái chính trị mạnh bạo như việc đệ trình lên Liên Hiệp Quốc của Palestine kết hợp với làn sóng phản đối của cộng đồng người Arab thì chắc chắn sẽ tạo ra một sức ép rất lớn đối với Israel và Mỹ, đồng thời đưa cuộc xung đột tại Trung Đông đến hồi kết một cách êm đẹp.

Trà My (theo Daily Star)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Hài kịch tự biên tự diễn của Hà Nội
Võ Long Triều

Ngày 14 tháng 9 năm 2011, Hà Nội mở cuộc hội thảo về đề tài “Bảo vệ bản sắc văn hóa, gìn giữ tiếng Việt.”


Ngày 14 tháng 9 năm 2011, Hà Nội mở cuộc hội thảo về đề tài “Bảo vệ bản sắc văn hóa, gìn giữ tiếng Việt.”

Tin tức loan truyền có một số Việt kiều hoạt động truyền thông từ các nước ngoài như Pháp, Mỹ, Nga, Ðức, Ba Lan, Cộng Hòa Tiệp, Lào về nhận chỉ thị của Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn.
Mục đích cuộc hội thảo là mở chiến dịch xâm nhập, tuyên truyền, chia rẽ cộng đồng người Việt hải ngoại dưới chiêu bài dạy tiếng Việt và bảo tồn văn hóa.

Image
Một hành động lố bịch khôi hài


Tại sao Hà Nội không dám công khai mời tất cả truyền thông báo chí hải ngoại tham dự, mà tiêu lòn, móc nối những nhân viên nội tuyến từ lâu trong ngành truyền thông, bây giờ có lệnh phải xuất hiện, hoặc những người muốn vào nghề nhưng không có chỗ đứng trong cộng đồng, bây giờ ngả theo đồng tiền trợ cấp hay vì muốn kiếm chút tiếng tăm trong xã hội tự do ngôn luận và tự do báo chí ở các nước Tây phương.

Tại sao Hà Nội không dám nêu tên tuổi, chức vị, đại diện cho những cơ quan truyền thông nào ở hải ngoại? Ðiều đó là một sự hãnh diện cần phô trương cho người Việt hải ngoại và quốc tế thấy Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thuyết phục được truyền thông báo chí hải ngoại chấp nhận tham gia hoạt động của nhà nước.

Ông Nguyễn Thanh Sơn lớn tiếng chỉ thị “bảo tồn bản sắc văn hóa” mà ông không dám nhìn lại, nền văn hóa trong xứ đã bị Tàu cộng ảnh hưởng như thế nào? Và ngày càng lan rộng. Ngoài ra, trong tổ chức giáo dục của các ông, có giáo sư hiệu trưởng làm ma cô, mua bán dâm nữ sinh cho các quan chức trong tỉnh. Sinh viên học sinh đánh đập, chém giết nhau trong khuôn viên nhà trường và ngoài đường. Học trò đánh thầy, cô giáo nhốt trẻ em trong thang máy làm kẹt chết học sinh. Hiệu trưởng nhận hối lộ cho sinh viên vào trường, viện trưởng cho vào đại học. Nạn mua bán bằng cấp giả thường xẩy ra, có người còn mướn đi học với tên mình để thi lấy bằng. Quan chức cao cấp nhà nước vẫn xài bằng giả, nhiều người bị phát giác mà nhà nước vẫn bỏ qua không truy tố. Bản sắc văn hóa của nhà nước CHXHCN VN là như vậy mà ông Sơn dám chỉ thị các đồng chí và bạn bè ông, bảo vệ bản sắc văn hóa trong cộng đồng người Việt hải ngoại thì thật là khôi hài. Ông Nguyễn Thanh Sơn và những hội thảo viên hãy nhìn kỹ lại xem trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản, có nơi nào xẩy ra một sự việc tương tự, thiếu đạo đức thiếu văn hóa như đã nêu trên không?

Ông Sơn còn nhấn mạnh rằng: “Sẽ tăng tốc trợ giúp để dạy tiếng Việt cho các thế hệ tiếp theo.” Có lẽ các “nhà hoạt động truyền thông” ở nước Mỹ về tham dự hội thảo nầy sợ làm mất mặt ông Sơn, nên không dám công khai nói cho ông ta biết là khắp nơi trên đất Mỹ có gần 2,000 cô thầy giáo tình nguyện mở nhiều trung tâm dạy tiếng Việt cho trẻ em. Và còn mở những cuộc thi có quà thưởng. Ðài truyền hình việt hải ngoại (VHN-TV) còn phổ biến hàng tuần chương trình “Bé Vui Bé Học.”

Vậy chúng tôi có lời khuyên ông Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn hãy để tâm nhìn về xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình ở Việt Nam. Học trò ở xã nầy mỗi ngày đi học phải gói áo quần cầm trên tay giơ cao lên, bơi qua sông Khe Rào, dài hơn 20 thước mới tới trường để học.

Những sự kiện viện dẫn trên đây cho phép nghĩ rằng chỉ thị của ông Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn dùng để tuyên truyền phỉnh gạt người trong xứ mà thôi. Cũng giống như ngày xưa Hà Nội rêu rao không ngừng, tuyên truyền dối gạt là miền Nam đói khổ, đồng bào bị Mỹ-Ngụy bóc lột tận xương tủy. Vì vậy mà sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, thân nhân người Bắc vào Nam thăm gia đình di cư từ 1954, đem theo vài lít gạo, đôi ba cái chén sành, một hộp sữa đặc quí giá để tặng nhau, gọi là cứu đói. Ðến nơi, mắc cỡ ngỡ ngàng nhìn gia đình trù phú nên xin tiền bạc đồ vật mang về Bắc. Trong lúc đó, từng đoàn xe bộ đội chở chiến lợi phẩm giống như bọn giặc thời thượng cổ, sau chiến thắng cướp của bắt đàn bà con gái đem về sử dụng!

Cái trò rung cây nhát khỉ bên ngoài, múa may để phỉnh gạt trong xứ đã xẩy ra vài lần với Nghị Quyết 36 ký ngày 26 tháng 3 năm 2004 (2004/BCT/DCSVN) hô hào: “Tích cực đầu tư cho chương trình dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt.” Cộng sản Hà Nội còn tuyên bố công khai đã tháo khoán một ngân sách lớn để thực hiện Nghị Quyết 36 nầy.

Nhìn lại 7 năm qua cộng sản đã làm được gì? Ðầu tư bao nhiêu cho chương trình dạy tiếng Việt? Cử bao nhiêu giáo viên? Ðến những nơi nào để giúp bà con học tiếng Việt? Có chăng là một số rất ít những thầy cô xâm nhập vào một vài trung tâm Việt ngữ. Nhưng khi dạy trẻ em, họ bị lộ mặt rõ ràng vì dùng ngôn ngữ của Việt cộng hoặc phát sách giáo khoa khác với sách vở của tổ chức các trung tâm dạy tiếng Việt ở hải ngoại, liền bị “cám ơn” tức khắc dù là thiện nguyện viên với đầy thiện chí.

Tuyệt đại đa số người Việt tị nạn cộng sản biết cảnh giác trước âm mưu xâm nhập của cộng sản. Và kế hoạch tuyên truyền của một vài phần tử bị cộng đồng “đặc biệt lưu ý,” họ sẽ lợi dụng tự do báo chí để chụp mũ với mục đích chia rẽ cộng đồng. Âm mưu nhuộm đỏ cộng đồng của Hà Nội sẽ không bao giờ thành công trên đất Mỹ nầy.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Tại sao Việt Nam cần dân chủ?

Kể ra, hỏi như vậy cũng thừa. Bởi, hầu như ai có trí óc bình thường một chút cũng đều biết giá trị của dân chủ. Ngày xưa, chính quyền bưng biết mọi thông tin, dân chúng hoàn toàn không biết gì về đời sống bên ngoài cả, do đó, họ dễ có ảo tưởng xem nơi họ đang sống đã là thiên đường dù, trên thực tế, họ đang cơm độn và thiếu thốn đủ thứ. Nhưng cái thời ấy qua rồi. Bây giờ, người dân có cơ hội đi nhiều, thấy nhiều, biết nhiều, hiểu nhiều. Một trong những cái thấy, biết và hiểu đó là: sự ưu việt của các chế độ dân chủ.

Chính những tính ưu việt ấy là những lý do chính đáng và đầy thuyết phục để người ta thấy dân chủ hóa là cần thiết. Cần thiết vì một số lý do có thể được tóm tắt như sau:

Thứ nhất, dân chủ mang lại thịnh vượng và phát triển. Trong phạm vi toàn cầu, ai cũng thấy là tất cả các nước dân chủ đều giàu mạnh. Ngay cả Việt Nam và Trung Quốc, trước đây, dưới ách chuyên chế tuyệt đối, tất cả đều chìm ngập trong nghèo đói. Sau này, từ giữa thập niên 1980, đặc biệt từ đầu thập niên 1990 đến nay, nhờ chính sách “cởi trói”, dân chủ được manh nha một chút, kinh tế đi lên ngay và đời sống thoải mái hơn hẳn. Đó chỉ mới là dân chủ một chút. Một chút thôi. Mà đã thấy khác. Ngày trước, dân chúng thường giễu cợt những lời tuyên truyền láo khoét của đảng bằng câu ca dao: “Mất mùa là tại thiên tai / Được mùa là tại thiên tài đảng ta!” Các nhà nghiên cứu từ lâu nhận ra sự thật này: ở các quốc gia dân chủ, hầu như không bao giờ dân chúng phải chết đói vì thiên tai cả. Không phải tại họ không gặp thiên tai. Ở đâu lại chẳng có thiên tai? Mỹ: có. Nhật: có. Úc: có. Châu Âu: có. Có, nhưng không ai chết đói cả. Ngược lại, ở các xứ độc tài, chỉ một thiên tai nhỏ là đã có bao nhiêu người chết đói. Lý do không phải là tại thiên tai mà tại sự quản lý của con người.

Thứ hai, chỉ có dân chủ mới tôn trọng nhân quyền. Vừa độc tài vừa nói về nhân quyền là một sự nói dối. Cả hai không bao giờ đi liền với nhau được. Trừ khi người ta hiểu nhân quyền là quyền được sống như những con vật. Còn lại, tất cả các quyền của con người, từ quyền bình đẳng đến quyền tự do, quyền được tôn trọng và được bảo vệ thì chỉ có dân chủ mới bảo đảm. Bởi, tự bản chất, dân chủ ra đời là để bảo vệ những thứ quyền ấy.

Thứ ba, chỉ có dân chủ mới có một sinh hoạt chính trị lành mạnh, tốt đẹp và hiệu quả. Hầu hết các cuộc khủng hoảng chính trị chỉ xảy ra ở các nước độc tài. Ở các quốc gia dân chủ, ngay cả khi có khủng hoảng ở cấp lãnh đạo cao nhất, guồng máy chính phủ vẫn hoạt động suôn sẻ và đời sống dân chúng cũng như sinh hoạt hàng ngày vẫn diễn ra bình thường. Ở Úc, trong năm vừa qua, có cuộc đảo chính trong nội bộ đảng cầm quyền, ngày hôm trước Kevin Rudd làm Thủ tướng; ngày hôm sau Thủ tướng đã là Julia Gillard. Phần lớn dân chúng vẫn không cảm nhận bất cứ sự thay đổi nào cả. Sau đó là bầu cử. Số phiếu của đảng Lao Động và Liên đảng (Tự Do và Quốc Gia) ngang ngửa nhau. Trong suốt cả tháng họp hành, bàn bạc, vận động để tranh thủ sự ủng hộ của các Dân biểu độc lập, chính phủ ở trạng thái treo, không có người thực sự cầm lái. Nhưng guồng máy chính phủ vẫn chạy đều. Dân chúng cũng vẫn không cảm nhận có sự thay đổi nào cả. Mọi việc vẫn bình thường. Bởi vậy, không ai gọi đó là “khủng hoảng” ở tầm quốc gia.

Tất cả những điều vừa nêu đều là những điều khá hiển nhiên. Hầu như ai cũng thấy. Nhưng với riêng Việt Nam, ngoài những lý do nêu trên, theo tôi, chúng ta còn cần dân chủ vì một số lý do khác nữa.

Thứ nhất, chỉ có dân chủ mới mang lại sức mạnh cho chúng ta trong việc đương đầu với Trung Quốc. Hầu như ai cũng thấy, điều duy nhất khiến Trung Quốc chùn tay trong mọi âm mưu xâm lấn hay xâm lược chính là gần 90 triệu dân chúng Việt Nam. Trung Quốc có thể đánh bại họ, nhưng chắc chắn không thể giết hết họ và không thể làm họ bị khuất phục. Không dân chủ hóa, cứ khăng khăng giành độc quyền yêu nước, chính quyền chọn ở vào thế bị cô lập với dân chúng. Bị cô lập cũng đồng nghĩa với sự suy yếu. Đối diện với Trung Quốc, họ chỉ còn là một nhúm người nhu nhược, làm sao có thể đòi hỏi thế đứng ngang tầm để đối thoại được? Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi, trước Trung Quốc, họ cứ khúm na khúm núm. Như những Mặc Đăng Dung mặc áo vét và thắt cà vạt.

Thứ hai, chỉ có dân chủ mới mang lại hòa bình cho Việt Nam. Một là, nếu Việt Nam dân chủ, sẽ không có quốc gia Tây phương nào nuôi ý đồ xâm lấn Việt Nam cả. Truyền thống của các nước dân chủ là, trừ một số ngoại lệ hiếm hoi, họ không gây chiến với nhau. Mọi xung đột đều được giải quyết một cách khá ôn hòa, qua các cuộc thương thảo và thương lượng. Hai là, chỉ khi dân chủ hóa, Việt Nam mới có thể hy vọng có bạn nhiệt tình giúp đỡ trong cuộc đối đầu với Trung Quốc. Hiện nay, rõ ràng Việt Nam đang ở thế thân cô thế cô. Là thành viên của khối ASEAN, nhưng không có nước nào hết lòng với Việt Nam cả. Ý đồ (nếu thực sự đảng Cộng sản đang nuôi một ý đồ nào đó để bảo vệ đất nước) liên kết với một số quốc gia khác cũng sẽ không thể thực hiện được nếu Việt Nam không có dân chủ. Lý do đơn giản: đã độc tài thì không có bạn. Tên độc tài nào cũng cô đơn. Hắn không tin người khác. Và cũng không ai tin hắn.

Ở những nơi khác, không dân chủ là một thiệt thòi. Ở Việt Nam hiện nay, không dân chủ là một thảm họa.

Theo Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Image

Virus bí ẩn tấn công "sát thủ bầu trời" Mỹ
Những chiếc máy bay không người lái của Mỹ được sử dụng để tiêu diệt những tên trùm khủng bố Al Qaeda, trong đó có thủ lĩnh khét tiếng Bin Laden, đang bị một loại virus bí ẩn tấn công, ghi lại toàn bộ động thái của máy bay.

Mỹ đang sử dụng máy bay không người lái Predator, được ví là sát thủ bầu trời, và máy bay Reaper để thực hiện các nhiệm vụ ở Yemen, Afghanistan và nhiều khu vực chiến tranh khác.

Nhưng cách đây gần hai tuần, quân đội Mỹ phát hiện ra rằng mỗi thao tác nhấn bàn phím của phi công lái những chiếc Predator và Reaper từ một căn cứ không quân xa xôi Creech ở bang Nevada , Mỹ, đều bị virus ghi lại. Các chuyên gia máy tính đang tìm cách diệt loại virus này nhưng vẫn chưa thành công.

Giới chuyên gia nghĩ rằng, việc lây nhiễm virus của máy bay không người lái Predator và Reaper sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ máy cả bí mật và không bí mật tại căn cứ Creech. Điều này có nghĩa là một số dữ liệu mà virus ghi lại được có thể được truyền lên Internet và những thông tin đó có thể rơi vào tay lực lượng khủng bố.

Tình hình nghiêm trọng đến mức các sĩ quan cấp cao tại căn cứ Creech phải báo cáo hàng ngày về loại virus nói trên.

Trong những năm gần đây, quân đội Mỹ đã ngày càng trở nên phụ thuộc nhiều vào những chiếc máy bay không người lái. Lần đầu tiên, máy bay không người lái được sử dụng là vào giữa những năm 1990 ở Yugoslavia cũ. Mặc dù một chiếc Predator có giá 10 triệu USD và một chiếc Reaper có giá tới 30 triệu USD nhưng chúng được đánh giá rất cao bởi khả năng tìm kiếm, do thám và phá hủy mục tiêu mà không gây thương vong cho binh lính Mỹ.

Mới đây, hồi tháng trước, một chiếc Predator đã tiêu diệt được một trong những thủ lĩnh hàng đầu của Al-Qaeda - Awlaki. Trước đó, hồi tháng 5, sát thủ bầu trời Mỹ cũng tham gia chiến dịch tiêu diệt trùm khủng bố khét tiếng thế giới Bin Laden.

Trong bối cảnh còn nhiều tranh cãi về chiến dịch chống khủng bố của Mỹ ở những nước có chủ quyền như Pakistan hoặc các nước vùng Vịnh, việc dùng máy bay không người lái được xem là cách tốt nhất. Kể từ khi Tổng thống Obama lên cầm quyền, một phi đội máy bay không người lái gồm 30 chiếc do CIA chỉ huy đã tiến hành hơn 230 lần bắn phá các mục tiêu ở Pakistan . Những chiếc máy bay không người lái được cho là đã giết chết hơn 2.000 nghi phạm khủng bố lẫn dân thường.

Hơn 150 máy bay không người lái khác dưới sự chỉ huy của Không lực Mỹ đang thực hiện các nhiệm vụ giám sát và do thám ở chiến trường Afghanistan và Iraq .

Mặc dù bị virus tấn công nhưng chính phủ Mỹ vừa khẳng định những chiếc máy bay Predator và Reaper sẽ tiếp tục được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ ở xa.

Kiệt Linh - (theo Reuters, )
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Nam và Bắc Hàn

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Muốn thấy được “tính ưu việt” của chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội, tôi nghĩ, cách tốt nhất là so sánh Nam Hàn và Bắc Hàn.

Image
Binh lính Bắc Hàn (trên) đi ngang qua một toán an ninh Nam Hàn tại làng Bàn Môn Ðiếm trong vùng Phi Quân Sự giữa hai nước, ngày 14 Tháng Chín.
(Hình: YEON-JE/AFP/Getty Images)

Năm 1945, sự kết thúc của chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng đồng thời là sự kết thúc của ách đô hộ kéo dài 35 năm (1910-45) của Nhật trên đất nước Ðại Hàn. Lúc ấy, bất cần ý kiến của dân chúng Ðại Hàn, các lực lượng Ðồng Minh quyết định chia cắt nước này ra làm hai: Miền Nam với sự giúp đỡ của Mỹ và miền Bắc với sự giúp đỡ của Liên Xô. Năm 1948, quân độ Liên Xô rút khỏi miền Bắc và năm sau, 1949, quân đội Mỹ cũng rút khỏi miền Nam.

Năm 1950, được sự ủng hộ của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, Bắc Hàn, dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành, phát động chiến tranh, tung quân qua biên giới Nam Hàn, gọi là để thống nhất đất nước. Sau khi Liên Hiệp Quốc thất bại trong nỗ lực hòa giải và ngăn chặn chiến tranh, Tổng Thống Truman quyết định đưa quân Mỹ và một số nước đồng minh sang giúp Nam Hàn trong cuộc chiến đối đầu với miền Bắc. Lúc ấy, Trung Quốc cũng quyết định can thiệp (với sự trợ giúp khí giới của Liên Xô).

Chiến tranh Nam Bắc Hàn, do đó, biến thành cuộc đối đầu trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc, trong đó có lúc (ví dụ riêng đợt phản công Mùa Xuân năm 1951), quân Trung Quốc nhảy vọt lên đến khoảng 700,000 người. Ðến giữa năm 1953 thì hai bên tuyên bố đình chiến. Số tử vong trong cuộc chiến tranh kéo dài ba năm do miền Bắc phát động ấy, tùy theo từng nguồn, khá khác biệt. Theo số liệu do Trung Quốc công bố thì về phía họ có 114,000 binh sĩ tử vong do chiến trận, 34,000 binh sĩ khác tử vong vì những lý do khác, 380,000 người bị thương. Giới nghiên cứu Tây phương hoàn toàn nghi ngờ các con số này. Họ cho số tử vong của bộ đội Trung Quốc phải lên ít nhất là 400,000 người. Về phía Mỹ, số tử vong là 36,000 người; số mất tích là 8,000 người và số bị thương là 82,000 người. Phía Nam Hàn, 58,000 bị chết; 175,000 người bị thương. Phía Bắc Hàn có 215,000 người bị chết và 303,000 người bị thương. Nhưng thảm kịch nặng nhất oằn lên dân chúng: Có ít nhất trên hai triệu thường dân, từ cả hai miền, bị giết chết, kể cả bị giết tập thể, trước và sau chiến tranh, do những thù nghịch từ hai phía.

Sau chiến tranh, Ðại Hàn lại bị chia làm hai, lấy vĩ tuyến 38 làm biên giới. Phía Nam được biết dưới tên chính thức là Ðại Hàn Dân Quốc (thường được gọi tắt là Hàn Quốc); phía Bắc, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên (thường được gọi tắt là Triều Tiên).

Thoạt đầu, cả hai đều gánh chịu một di sản giống nhau: Một, ách đô hộ kéo dài 35 năm của đế quốc Nhật Bản. (Xin lưu ý: Việt Nam chỉ bị Nhật chính thức chiếm đóng có khoảng nửa năm [từ đầu tháng 3 đến đầu tháng 8 năm 1945] mà hậu quả là có đến khoảng từ một đến hai triệu người bị chết đói [năm Ất Dậu, 1945]. Ở Ðại Hàn, thời gian chiếm đóng của Nhật kéo dài gấp 70 lần!). Hai, cuộc chiến tranh tuy ngắn ngủi, chỉ kéo dài ba năm, nhưng số thương vong lại được xếp vào loại lớn nhất trong tất cả các cuộc chiến tranh trong nội bộ một quốc gia ở thế kỷ 20. Ba, sự nghi kỵ và thù hận không phải giữa hai miền, Nam và Bắc, mà còn bên trong từng miền, giữa người này và người khác, thành phần này và thành phần khác; một hiện tượng rất phổ biến sau các cuộc nội chiến khốc liệt.

Những di sản ấy hiện rõ trong tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của cả hai miền ngay sau chiến tranh: Nghèo khổ, lạc hậu và độc tài.

Nhưng mấy chục năm sau, ví dụ, ở thời điểm năm 2011 này, khoảng cách giữa hai miền, Hàn Quốc và Triều Tiên, khác nhau vời vợi.

Vào giữa thập niên 1950, cũng giống như Triều Tiên, Hàn Quốc nằm trong danh sách những quốc gia nghèo, tương tự vô số các quốc gia nghèo khác ở Châu Á và Châu Phi. Nhưng từ giữa thập niên 1960 thì họ nhảy vọt. Suốt cả mấy thập niên sau đó, họ được xem là một trong vài quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Giới nghiên cứu thường nêu lên một ví dụ về sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc: Năm 1957, thu nhập trên đầu người của Hàn Quốc thấp hơn hẳn Ghana, một quốc gia thuộc Tây Phi; bốn mươi năm sau, vào năm 2008, thu nhập của họ cao gấp 17 lần Ghana! Hiện nay, Hàn Quốc nằm trong nhóm 20 quốc gia giàu mạnh nhất thế giới (G-20). Một số thương hiệu của Hàn Quốc trở nên quen thuộc trên phạm vi toàn cầu, hầu như đi đâu cũng gặp: Hyundai, Samsung, Daewoo và LG.

Còn Triều Tiên?

Cho đến nay, Triều Tiên nổi tiếng khắp thế giới vì nhiều cái nhất: Một trong vài quốc gia khép kín, bí mật, cuồng tín và chuyên chế nhất; một trong những quốc gia hung hăng nhất, lâu lâu lại đe dọa tấn công Hàn Quốc, Nhật Bản và cả Mỹ nữa; một trong những quốc gia nghèo khổ nhất ở Châu Á với số dân đối diện với nguy cơ chết đói lên đến hàng triệu người mỗi năm (và nhiều lần đã chết thật. Ví dụ, theo nhiều tài liệu, trong thập niên 1990, số người chết đói có thể lên đến khoảng ba triệu!); đồng thời cũng là một trong những quốc gia buôn lậu ma túy khét tiếng nhất thế giới.

Theo tài liệu của CIA World Factbook, cũng như một số tài liệu khác, Bắc Hàn có dân số 25.5 triệu trong khi Nam Hàn có gần 49 triệu. Thu nhập bình quân đầu người của Bắc Hàn là $1,800/năm và Nam Hàn là $30,000/năm.

Tại sao cũng đất nước ấy, cũng con người ấy mà sau hơn nửa thế kỷ bị chia cắt, một nửa trở thành nơi giàu có thuộc loại hàng đầu trên thế giới, còn nơi kia lại thuộc vào những nước nghèo đói nhất thế giới?

Tại sao?

Chỉ có thể trả lời bằng một chữ duy nhất: chế độ!

“Tính ưu việt” của chế độ xã hội chủ nghĩa là như vậy đó sao?
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Image

Quân Gaddafi bị “dồn vào chân tường”

Lực lượng nổi dậy thuộc Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia Libya (NTC) cho biết, trong trận tấn công ngày hôm qua (10/10), họ đã thọc sâu được vào trung tâm thành phố Sirte và dồn quân của Đại tá Muammar Gaddafi vào một khu vực nhỏ chỉ khoảng 2km vuông.

"Lực lượng trung thành với ông Gaddafi đã bị dồn vào hai khu vực gần biển chỉ rộng khoảng 2km vuông nhưng họ vẫn đang chống trả quyết liệt", ông Abdul Salam Javallah, chỉ huy các đơn vị NTC từ khu vực phía đông Libya , cho biết.

"Chúng tôi đang giao tranh với họ bằng vũ khí hạng nhẹ bởi vì vẫn còn nhiều dân thường đang ở trong khu vực đó", ông Javallah cho hay.

Mặc dù giới chỉ huy NTC nói rằng họ chỉ dùng vũ khí hạng nhẹ nhưng người ta vẫn nhìn thấy rất nhiều xe tăng của chính quyền mới tiến vào khu vực trung tâm thành phố Sirte và oanh tạc dữ dội các cứ điểm của Gaddafi. Cùng với đó, những chiếc xe tải chở các chiến binh và vũ khí hạng nặng tiến ra khỏi chỗ ẩn nấp và nã đạn điên cuồng về phía trước.

Thỉnh thoảng, quân NTC bị chính lực lượng của mình tấn công nhầm. Mối nguy hiểm này trở nên nghiêm trọng do sự phối hợp kém giữa các nhóm quân tình nguyện tấn công vào Sirte từ phía đông và phía tây.

Hầu hết các chiến binh NTC tấn công vào Sirte từ các thành phố khác và họ không nhận được sự giúp đỡ từ bên trong thành phố như khi họ tấn công vào thủ đô Tripoli hôm 23/8.

Lực lượng NTC đã phát động cuộc tấn công mà họ gọi là trận đánh quyết định cuối cùng vào Sirte – quê hương của ông Gaddafi, từ hôm thứ Sáu (7/10). Hàng chục chiến binh chống Gaddafi đến từ khắp nơi trên đất nước Libya đã đổ về Sirte để tham gia trận đánh.

Tuy nhiên, quân NTC đã bị bất ngờ bởi khả năng chống trả và phản công của “kẻ thù”. NTC đã phải chịu tổn thất lớn trong các cuộc giao tranh hôm 9/10. Hàng chục chiến binh đã thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Quân NTC đã buộc phải kêu gọi viện binh.

Không chỉ phải kêu gọi viện binh ở Sirte, trong trận chiến ở Bani Walid – một thành trì khác của ông Gaddafi, quân NTC cũng phải gọi cứu viện do không thể chống đỡ được trước sự kháng cự của quân Gaddafi. 17 chiến binh đã thiệt mạng trong các cuộc giao tranh ở bani Walid hôm 9/10.

Giới lãnh đạo NTC thừa nhận, cuộc chiến của họ ở Sirte và Bani Walid đang rất khó khăng nhưng vẫn tỏ ra lạc quan khi tuyên bố, họ sẽ “giải phóng” hai thành phố này trong tuần này.

Trong một diễn biến khác, ở thủ Tripoli, hơn 200 tay súng được trang bị vũ khí hạng nặng đã tấn công vào một đền thờ và cướp bóc lăng mộ của hai lãnh tụ Hồi giáo.

Ông Gaddafi vẫn bặt vô âm tín

Mặc dù đã tiến sâu được vào thành phố Sirte nhưng NTC vẫn chưa thể tìm thấy bất kỳ dấu tích nào của nhà cựu lãnh đạo Gaddafi ở đây. Trước đó, có nhiều nguồn tin đồn đoán rằng, ông Gaddafi đang ẩn náu ở Sirte.

Theo một thành viên của NTC, cựu Tổng thống Gaddafi có thể đang lẩn trốn ở khu vực tam giác phía tây nam Libya , gần biên giới với Niger và Algeria .

Phát biểu tại một cuộc họp báo ở thủ đô Tripoli, thành viên NTC – ông Moussa al-Koni cho biết, khu vực tam giác trên thực tế đang vượt quá tầm kiểm soát của chính quyền mới. Vì thế, đây có thể là nơi ẩn náu lý tưởng cho Đại tá Gaddafi và các lực lượng trung thành với ông này.

Khu vực tam giác có địa lý rất phức tạp với nhiều cồn cát và núi. Dân số ở đây cũng thay đổi liên tục. Những đặc điểm này khiến cho việc truy tìm ông Gaddafi ở đây sẽ vô cùng khó khăn.

"Theo tôi hiểu, ông Gaddafi chỉ có thể đang ở khu vực tam giác để dễ bề trốn thoát khỏi tay NTC đồng thời có thể di chuyển nhanh chóng và an toàn tới Algeria hoặc Niger hay Mali," ông al-Koni cho biết.

Ông Al-Koni, người đại diện cho bộ lạc thiểu số Tuareg, cũng lên tiếng bác bỏ thông tin cho rằng, những người của bộ lạc Tuareg đang che chở, bảo vệ cho chính quyền của ông Gaddafi.

Ông Al-Koni kêu gọi cộng đồng quốc tế dùng máy bay trực thăng và máy bay không người lái để truy tìm Đại tá Gaddafi trong khu vực.

Ông Al-Koni còn tiết lộ, NTC đã gặp và đã quyết định công nhận Hội đồngQuốc gia do phe đối lập Syria thành lập ở Thổ Nhĩ Kỳ là đại diện chính phủ hợp pháp duy nhất của Syria.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Trọng Đi Tàu, Sang Đi Ấn

Vi Anh
Công tâm mà nói trước thế kẹt cứng bị TC lấn chiếm biển đảo, CS Hà nội có nỗ lực tìm cách hóa giải. Gần như đồng thời Tân Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng đi Trung Cộng và Tân Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang đi Ấn độ. Chuyến đi của hai người mới lên này có thể mới về người, chớ không mới về việc bảo vệ biển đảo của VN đâu. Trước đây Nguyễn minh Triết lúc là Chủ Tịch Nước VNCS còn đi xa hơn nữa, gặp ông lớn hơn nhìều,qua tận Mỹ với tư cách Chủ Tịch luân phiên của Hiệp Hội các Quốc gia Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN họp thượng đỉnh cùng chủ tọa với TT Obama tại New York thay vì Washington; coi vậy chớ Mỹ dù muốn trở lại Đông Nam Á, qua con đường ASEAN, cũng phải nễ Bắc Kinh, “vuốt mũi cũng phải nể mặt” Trung Cộng.

Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng người có quyền lực nhứt nước VN cũng đã đi Ấn độ rồi mà Biển Đông chẳng có gì mới vẫn bị bản đồ lưởi bò của TC chiếm 80%, hai đảo Hòang sa và Trường sa vẫn còn là huyện Tam sa thuộc lãnh thổ TC.

Trừ một vài việc nhỏ là Mỹ, Úc, Nhựt, Phi họp ở San Francisco khuyến nghị Ấn Độ “hướng đông” và tàu Ấn độ thăm dò dầu khí cho VNCS bị TC phản đối nhưng Ấn độ không rút lui.
Dưới cái nhìn đối ngọai, chuyến đi của hai người mới sang Ấn và sang Tàu, một số dấu chỉ cho thấy Trọng đi Tàu có vẻ để “cầu phong” và hóa giải một vài bất đồng về biển đảo với TC. Nhưng chắc chắn TC sẽ hề hà nói 16 chữ vàng và 4 tốt, tình đồng chí để kéo dài thời gian và hiện tình biển đảo của VN mà họ đã kiểm sóat, đang có lợi cho TC.

Còn Sang đi Ấn có vẻ muốn chơi trò mâu thuẩn chánh trị, khai thác xung khắc giữa TC và Ấn độ, hai nước đông dân nhứt Á châu, từng xung đột võ lực vì vấn đề biên giới.

Dưới cái nhìn đối nội hai chuyến đi này cho thấy lãnh đạo CS trong Đảng Nhà Nước CS Hà nội chạy đôn chạy đáo ở ngọai quốc để gỡ thế kẹt. CS Hà nội có một điểm chung là ham xa, vọng ngọai mà quên gần, không phát huy nội lực dân tộc, không dựa vào sức mạnh của quần chúng nhân dân là nguồn gốc, là sức mạnh cơ hữu không có không được trong mọi công cuộc chống xâm lăng, bảo vệ bờ cõi, bất cứ nước nào thời nào trong lịch sử VN cũng như lịch sử các nước trên thế giới.

CS Việt Nam khó mà khai thác trò chơi mâu thuẩn chánh trị quốc tế để thủ lợi riêng. Nhìn kỹ người ta thấy ở hội nghị San Francisco Mỹ đã thành lập vòng vây TC gồm Mỹ, Úc, Nhựt, Phi nhưng không có VNCS. Mỹ chỉ khuyến khích Ấn độ “hướng Đông”, tức là Ấn độ làm việc trực tiếp với CS Hà nội, chớ không phải Mỹ. Có thể có nhiều lý do. Mỹ không thể ký một hiệp ước phòng thủ chung với một chế độ CS, như Mỹ đã ký với Phi luật tân tự do, dân chủ. Tân Đại sứ Mỹ họp báo ở Hànội không ngần ngại nói, phải qua một giai đọan lâu dài nữa thì Mỹ mới có thể bán vũ khí cho Hà nội được. Bán vũ khi mà không được phép thí họp tác quân sự có tính võ trang chắc còn lâu.

Còn ngay với Ấn độ, tuy nước này trong thời Chiến tranh Lạnh có chiến tranh biên giới với Trung Cộng, có ngọai giao với Hà nội, nhưng thường đóng vai trò phi liên kết trên thế giới. Mâu thuẩn biên giới giữa TC và Ấn độ gần đây không còn căng thẳng nữa. Quyền lợi của Ấn độ cũng như quyền lợi của Mỹ về kinh tế, chánh trị, ngọai giao đối với TC quan trọng, lớn lao hơn đối với VNCS. Nếu vấn đề Biển Đông được quốc tế hóa cùng lắm Mỹ cũng như Ấn độ, Nhựt, Úc cũng chỉ đặt vấn đề tự do lưu thông hànghải trên con đường huyết mạch từ Eo Biển Mã lai chạy ngang Biển Đông mà thôi. Mỹ đã từng tuyên bố bảo vệ tự do hải hành, chớ không đứng về bên nào trong cuộc tranh chấp biển đảo mà VN và TC đang tranh chấp chủ quyền.

Tuy Ấn Độ khẳng định quyết tâm tiếp tục thăm dò dầu khí ở hai lô thuộc lãnh hải của Việt Nam trên Biển Đông, bất chấp phản đối quyết liệt của Trung Quốc. Dù VNCS đã cho Ấn độ sử dụng cảng Nha Trang gần Cam Ranh, có thể cho Ấn Độ hợp đồng làm lò nguyên tử như Nga và Nhựt, điều đó không có nghĩa là Ấn Độ sẽ thắt chặt tương quan quân sự với Hà nội trong vấn đề bảo vệ biển đảo của VN. Tuy Hà nội khẳng định lập trường Ấn độ thăm dò dầu khí cho VN là đúng luật quốc tế về biển, nhưng nếu TC sách nhiểu như đã làm với tàu Wiking thì liệu VN có bảo vệ không và liệu Ấn độ vì một việc nhỏ này mà kéo quân từ Ấn độ dương qua tiếp cứu. Nên nhớ có lần tàu Ấn độ vào Biển Đông, TC ngăn chận trên đường về bảo tại Ấn độ xâm phạm lãnh hải TC, Ấn độ và VNCS dấu nhẹm tin này, sau này Wikileaks mới tiết lộ.

Còn chuyến đi TC của Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng có vẻ là chuyến cầu phong như mọi chuyến đi của tân Tổng bí Thứ của CSVN. Kỳ này Tân Tổng Bí Thứ Trọng trước làn sóng chống TC của người dân, TC né một chút, dành chuyến công du đầu tiên cho Lào, qua chuyến thứ hai mới đi TC.

Gần đây hầu hết những chuyến đi của các giới chức CS Hà nội sang Bắc Kinh, từ Thứ Trường Ngọai Giao Hồ xuân Sơn đến Thứ Trưởng Quốc Phòng đi Bắc Kinh về đều đem thiệt thòi và thiệt hại về cho quốc gia dân tộc Việt. Sơn nhận lịnh “định hướng dư luận” của TC, về tới Hà nội là triệt hạ các người dân Việt biểu tình chốngTC xâm lấn biển đảo VN. Vịnh khẳng định hứa giải quyết vân để biển đảo song phương với TC, như ý muốn trước sau như một của CS.

Với mấy ngày công du như vậy, Tổng Bí Thư Trọng không thể nào thay đổi cả những định chế bất lợi cho VN, thay đổi quyết tâm và hành động quyết liệt của TC chiếm biển đảo của VN. Việc làm này của TC làm cho các nước Á châu Thái Bình Dương, nổi bật là Mỹ, Úc, Nhựt, và cả chục nước của ASEAN và Ấn độ từ Ấn Độ Dương cũng lo ngại. Hành động có vẻ thách thức những nước lớn mạnh như vậy mà TC vẩn kiên trì và kiên quyết làm, bất chấp phản đối. Thì có “ăn nhằm gì ba cái lẻ tẻ” những ý kiến, xin xỏ của một tổng bí thư của một đảng CS nhỏ như VN. Cùng lắm lãnh đạo đảng CS Trung Quốc hành động như quan thầy, sẽ hề hà “tình đồng chí”, mười mấy chữ vàng, bốn tốt, trải thảm đỏ, mở yến tiệc linh đình cho qua chuyện, để “đệ tử” mát mặt khi về nước nhà thôi./.
nguon vietbao.com
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Người Mỹ làm gián điệp cho Syria?
Một người đàn ông Mỹ gốc Syria vừa bị cáo buộc hợp tác với cơ quan tình báo Syria để chống lại Washington.
Theo các công tố viên Mỹ, Mohamad Soueid đang sống tại bang Virginia của Mỹ, vi phạm luật pháp nước sở tại khi thu thập tin tức tình báo cho Chính phủ nước ngoài.

Cụ thể, người đàn ông 47 tuổi này đã gửi 20 đoạn băng ghi lại hình ảnh các cuộc biểu tình chống Chính phủ Syria tại Mỹ để gửi cho cơ quan tình báo Syria trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 6/2011 và thậm chí, còn bay sang Damascus để trực tiếp gặp Tổng thống Bashar al-Assad hồi tháng 6 vừa qua.

Ông Mohamad Soueid cũng bị cáo buộc gian dối khi trả lời trong cuộc điều tra của Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) liên quan đến các hoạt động của ông với Mukhbarat, cơ quan tình báo của Syria hồi tháng 8.

Ngoài ra, ông còn tìm cách chiêu mộ nhiều điệp viên khác nhằm do thám các hoạt động chống Syria của Mỹ.
Image
Người đàn ông Mỹ gốc Syria bị cáo buộc làm gián điệp cho Syria. Ảnh minh họa.
Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Lisa Monaco cho rằng, hành động của Soueid nhằm bịt miệng và hăm dọa những người biểu tình Mỹ chống lại Chính phủ Syria. Quan chức này nhấn mạnh, biểu tình là quyền hợp pháp tại Mỹ. Tuy nhiên, theo ông, thật đáng lo ngại khi một công dân Mỹ lại hợp tác với Chính phủ nước ngoài, đặc biệt là Chính phủ của nhà lãnh đạo Assad, để hạn chế quyền đó của chính những người dân ở đất nước mình.

Theo BBC, sở dĩ những hành động của Mohamad Soueid bị lộ là do hồi đầu năm nay, một nhóm những người Mỹ đâm đơn kiện người đàn ông này hăm dọa họ.

Tuy nhiên, Đại sứ Syria tại Washington phủ nhận toàn bộ cáo buộc này và cho rằng, ông Soueid không có bất cứ quan hệ nào với Chính phủ Syria. “Mohamad Soueid không phải điệp viên cho bất cứ tổ chức nào của Syria. Ông ta chưa từng làm việc theo sự chỉ dẫn của bất cứ quan chức Syria nào”, đại sứ Syria khẳng định.

Ông Mohamad Soueid bị bắt hôm qua. Ông sinh ra tại Syria nhưng được một cặp vợ chồng Mỹ nhận nuôi.

Trà My (theo BBC)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Một vài nhận định
về chuyến thăm Bắc Kinh của ông Nguyễn Phú Trọng


Âu Dương Thệ
(Nguồn: boxitvn.net)


I. Ðới Bỉnh Quốc thiết kế cho chuyến đi Bắc Kinh của ông Nguyễn Phú Trọng

Ðài Bắc Kinh ngày 8 tháng 9 đã nhắc lại câu, “Hai bên khẳng định sẽ làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạo hai nước” trong “Bản tin báo chí” (1) (một kiểu thông cáo chung) kết quả cuộc hội đàm của phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt Nam-Trung Quốc giữa Ðới Bỉnh Quốc, nhân vật cao nhất phụ trách ngoại giao và giám đốc Văn phòng An ninh Quốc gia của ÐCS Trung Quốc (2) và Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân ở Hà Nội vào đầu tháng 9 vừa qua.

Ðối với các quan sát viên chính trị theo dõi quan hệ giữa hai ÐCS VN và Trung Quốc thì câu trên đây tuy rất bình thường nhưng lại có một hàm ý đặc biệt và rất rõ ràng. Hàm ý đặc biệt của câu trên là gì?

Câu hỏi trên liên hệ mật thiết hữu cơ tới việc Ðới Bỉnh Quốc gặp ông Nguyễn Phú Trọng, TBTÐCSVN từ tháng 1, 2011, ngày 7 tháng 9, một ngày khi “Bản tin báo chí” được công bố chính thức với bên ngoài. Ông Trọng đã ôm hôn rất thân thiết Ðới Bỉnh Quốc. Sau đó họ Ðới chuyển lời miệng của Hồ Cẩm Ðào, người đứng đầu CS Trung quốc, nhắn riêng ông Nguyễn Phú Trọng, “Ðảng và chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với Việt Nam. Trong tình hình hiện nay, hai bên Trung-Việt đặc biệt cần phải xuất phát từ đại cục, nắm vững hướng phát triển quan hệ Trung-Việt.” Và quan trọng nữa, qua lời của họ Ðới, Hồ Cẩm Ðào mong Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sớm sang thăm Trung Quốc.” (3)

Nhóm cầm đầu Bắc Kinh thừa biết ông Nguyễn Phú Trọng là người từ sau khi lên làm tổng bí thư (1.2011) đã rất nhấp nhỏm muốn sang thăm Bắc Kinh. Nhưng khó khăn và trở ngại rất lớn cho ông Nguyễn Phú Trọng là: nếu sang thăm Bắc Kinh vào lúc này thì ăn nói ra làm sao đối với nhân dân VN và dư luận quốc tế về những chủ trương bá quyền và nhất là những hành động ngang ngược vi phạm chủ quyền VN của hải quân Trung Quốc; từ cuối tháng 5 và những hành động tàn bạo với hàng ngàn ngư dân VN trong các năm qua. Vì dư luận trong nước, quốc tế và ngay cả Trung Quốc biết rất rõ, đại đa số nhân dân VN, kể cả một bộ phận quan trọng trong Ðảng, vô cùng bất mãn với những chính sách xâm lấn nước láng giềng và các hành động bất tàn bạo của Hải Quân Trung Quốc với các ngư dân nước láng giềng! Hiểu được nỗi lòng của ông Nguyễn Phú Trọng cho nên Ðới Bỉnh Quốc đã tuyên bố trước báo chí ở Hà Nội sau khi viếng lăng ông Hồ: “Chủ Tịch Hồ Chí Minh mãi mãi trong trái tim tôi.” (4)

Như vậy với câu nói trên, người đứng đầu ngành đối ngoại và an ninh của Trung Quốc và cố vấn của Hồ Cẩm Ðào đã tìm cách rửa mặt để dọn đường cho TBT Nguyễn Phú Trọng sang gặp Hồ Cẩm Ðào trong thời gian sắp tới. Ðây là thủ đoạn ngoại giao nhằm thực hiện chính sách thâm độc là mở rộng ảnh hưởng hơn nữa vào VN. Ở đây, Bắc Kinh cố tình tạo ra ngôn thuận để thực hiện danh chính! Họ chẳng nề hà một vài câu ngoại giao bề ngoài để ru ngủ các vua tập thể ở Hà Nội, như trước đây họ đã đưa ra các khẩu hiệu rất ngọt “16 chữ vàng” là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai “ và “bốn tốt” là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.” Từ đó họ đã đạt được mục tiêu trong Hiệp định Biên giới đất liền với VN (1999) và Hiệp định Phân định Vịnh Bắc bộ và Hợp tác Nghề cá (2000).

Cả hai hiệp định này đều mang lại lợi lớn cho Trung Quốc. Nay cũng tương tự như vậy, họ Ðới vào thăm lăng người sáng lập chế độ toàn trị CSVN rồi tuyên bố: “Chủ Tịch Hồ Chí Minh mãi mãi trong trái tim tôi.” Ngôn ngữ ngọt ngào và bùi tai rất thuận lợi để Nguyễn Phú Trọng có thể giải thích cả trong đảng lẫn nhân dân là, lãnh đạo Trung Quốc vẫn một lòng tôn thờ Bác cho nên chúng ta không được nghi ngờ ÐCS Trung Quốc. Làm như thế họ Ðới quyến rũ ông Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu chế độ toàn trị hiện nay ở VN, sớm sang thăm Trung Quốc, ép ông Trọng phải có nhượng bộ mới. Sau đó Bắc Kinh sẽ lấy danh nghĩa “đây là thỏa thuận chung ở cấp cao” để thực hiện tiếp tục các ý đồ nham hiểm đối với VN.

Trong các thập niên gần đây Bắc Kinh đã thành công lớn trong sách lược ép các người cầm đầu chế độ toàn trị ở VN phải thỏa thuận các điều kiện bất lợi cho VN và từ đó họ nhân danh “làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạo hai nước.” Chứng minh rõ rệt nhất là năm 2009 khi Tướng Võ Nguyên Giáp, đại thần cuối cùng còn sống của chế độ, nhiều cán bộ cao cấp về hưu và nhiều chuyên viên trí thức đã lên tiếng phản đối việc để cho Bắc Kinh khai thác Bauxite ở Tây nguyên vì sẽ gây ra những bất lợi lớn về môi trường và nguy hiểm cho an ninh quốc phòng. Vì cuối tháng 5, 2008 khi thăm Trung Quốc với tư cách là tổng bí thư khi ấy Nông Ðức Mạnh đã bị ép phải chấp nhận việc để Bắc Kinh khai thác Bauxite ở Tây nguyên. (5) Trong một chế độ đảng trị hà khắc thì đây là cách bịt miệng đảng viên và nhân dân dễ nhất! Chỉ cần người cầm đầu nói “đã có thỏa thuận trước đây ở cấp cao” thì tự khắc có hai tác dụng:

1. Cấp lãnh đạo VN đã thỏa thuận với cấp lãnh đạo Trung Quốc cho nên không thể bàn lại.

2. Các đảng viên phải tuân lệnh thượng cấp, báo chí phải im lặng...

II. Các chuẩn bị cho chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng

Cho nên cần phải hiểu cho đúng việc Bắc Kinh đòi: “Hai bên làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạo hai nước.” Thoạt nghe hay đọc câu trên thì thấy thái độ rất bình đẳng, dân chủ giữa lãnh đạo hai nước độc lập trong các hội nghị. Nhưng câu nói trịnh trọng và dân chủ hình thức đó không che giấu được sự thực: Trong tình thế cực kỳ khó khăn của CSVN và so sánh tương quan lực lượng về nhiều mặt giữa hai ÐCS VN và Trung Quốc thì ai lãnh đạo ai? Ai chỉ huy? Ai tuân lệnh?

Lúc này Bắc Kinh thấy đây là thời điểm thích hợp cần phải sớm có hội nghị cấp cao mới giữa hai nước để tạo danh chính ngôn thuận cho chủ trương bành trường lãnh thổ và bòn rút tài nguyên của VN. Vì vậy Hồ Cẩm Ðào đã cử Ðới Bỉnh Quốc sang thúc giục ông Nguyễn Phú Trọng “sớm sang thăm Trung Quốc”!

Các sự kiện đáng chú ý là từ sau khi ông Nguyễn Phú Trọng nắm chức tổng bí thư thì một mặt Bắc Kinh tăng cường các hành động xâm lấn công khai ngang ngược trên biển Ðông, nhưng đồng thời họ cũng vận động ngoại giao ráo riết để ép buộc VN phải chấp nhận một tình trạng đã rồi. Từ cuối tháng 5 tới đầu tháng 6, 2011 Bắc Kinh đã để các tầu Hải Quân Trung Quốc đội lốt các tầu hải giám xâm phạm lãnh hải VN, cắt cáp các tầu của Tập đoàn Dầu khí VN đang thăm dò dầu khí trong hải phận VN. (6)

Ngoài ra Bắc Kinh còn tăng cường hải quân ở Hoàng Sa, các tầu đánh cá Trung Quốc tự do hoạt động ở đây; trong khi ấy vẫn săn đuổi và giết hại ngư dân VN! Không chỉ ngang ngược với VN, nhóm cầm đầu Bắc Kinh còn ngang ngạnh đe dọa cả Ấn Ðộ. Cuối tháng 7 khi tầu hải quân Ấn thăm VN đang chạy trên hải phận VN thì Hải Quân Trung Quốc đã cảnh cáo là tầu Hải Quân Ấn đã xâm phạm hải phận Trung Quốc! Rồi ít ngày sau Bắc Kinh còn công khai đe dọa một công ty Ấn đang khai thác dầu khí ở gần Côn Sơn thuộc thềm lục địa VN. (7) Với những đòi hỏi và đe dọa này mặc nhiên Bắc Kinh coi biển Ðông là cái ao của Trung Quốc.

III. Ai nhượng bộ ai trong các lãnh vực nào?

Tại các hội nghị trên được coi là chuẩn bị không khí và nội dung cho chuyến đi Bắc kinh sắp tới của ông Nguyễn Phú Trọng. Trong khi các phái đoàn Trung Quốc chỉ sử dụng ngôn ngữ ngoại giao đường mật và phách lối vạch ra hướng đi như “cần phải xuất phát từ đại cục”... (8 ), hay “cùng Việt Nam cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa 2 nước” (9) nhưng không đưa ra một lời hứa cụ thể nào. Ngược lại các phái đoàn của CSVN lại đưa ra những lời hứa rất cụ thể trong nhiều lãnh vực, từ cách giải quyết về tranh chấp biển Ðông, thế đứng quốc tế và thậm chí thề thốt trước mặt Trung Quốc cả về cách đối xử với nhân dân VN!

1. Cách giải quyết tranh chấp Biển Ðông

Trong hội nghị “Ðối thoại Chiến lược Quốc phòng An ninh Việt-Trung” lần thứ 5 ở Bắc Kinh, Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã công khai chấp nhận yêu sách của Bắc Kinh là không quốc tế hóa cuộc tranh chấp này, cụ thể ở đây là Bắc Kinh đòi không được phép để Hoa Kỳ nhẩy vào. Trong cuộc hội đàm với Tướng Mã Hiểu Thiên, phó tổng tham mưu trưởng Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc, Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã xác nhận: “Những tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc, rõ ràng cần giải quyết hai nước với nhau.” (10) Sau đó chính Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt khi tiếp Nguyễn Chí Vịnh ngày 29 tháng 8 cũng nhấn mạnh “Trung Quốc phản đối làm phức tạp hóa và quốc tế hóa vấn đề Nam Hải” (11).

Tướng Nguyễn Chí Vịnh còn đi xa hơn nữa bằng cách nói thay cho Bắc Kinh, khi ông tuyên bố, “Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam” (12). Ðây là tuyên bố ngoại giao rất ngớ ngẩn và cực kỳ nguy hiểm. Vì như thế đã gián tiếp nhìn nhận rằng, những yêu sách của Bắc Kinh về các hải đảo và biển Ðông là chính đáng... Vì từ trước tới nay Bắc Kinh luôn luôn khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa và phần chính của biển Ðông là thuộc lãnh thổ của Trung Quốc “không thể bàn cãi”! Có nghĩa là, đấy là những đảo và biển của Trung Quốc chứ họ có xâm chiếm của VN đâu! (13) Nhiều chính phủ và các nước từng ủng hộ VN trong tranh chấp Biển Ðông đã vô cùng thất vọng trước những tuyên bố kiểu như trên...

Tướng Ngô Xuân Lịch cũng đã lập lại lập trường sai lầm này trong cuộc thảo luận vào giữa tháng 9 với Thượng Tướng Lý Kế Nại, ủy viên Trung Ương Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, ủy viên Quân Ủy Trung Ương, chủ nhiệm Tổng Bộ Chính Trị Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc:

”Ðồng chí cũng khẳng định, Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông. Vấn đề tranh chấp giữa hai nước thì do hai nước giải quyết.” (14)

Chính thái độ chấp nhận yêu sách bá quyền của Bắc Kinh và bản lãnh quá nhu nhược của phía Việt Nam cho nên trong cuộc họp “Ðối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ” lần thứ hai vào ngày 19 tháng 9 tại Washington D.C, chính phủ Obama đã tỏ ra coi thường phái đoàn của Nguyễn Chí Vịnh. Ngoài việc hội đàm với Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Scher không một nhân vật quan trọng nào trong chính phủ Hoa Kỳ đã tiếp Nguyễn Chí Vịnh, kể cả bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ. (15) Ðiều này trái với cách tiếp đón niềm nở Nguyễn Chí Vịnh (dù chỉ là xã giao) của Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt. Trong cuộc hội đàm “Ðối thoại Chiến lược Quốc phòng An ninh Việt-Trung” ở Bắc Kinh, Tướng Nguyễn Chí Vịnh còn công khai hứa sẽ cấm chỉ các cuộc biểu tình của nhân dân VN...

***
Nói tóm lại, xét qua thái độ và những lời phát biểu của các phái đoàn ngoại giao và quân sự cấp cao của Bắc Kinh và Hà Nội, mấy tháng vừa qua trong việc chuẩn bị cho chuyến đi Trung Quốc của Nguyễn Phú Trọng với tư cách là tân tổng bí thư đã chứng tỏ rõ: Ai chủ động, ai bị động?

Nếu nắm vững sách lược ngoại giao nói ngọt lọt tới xương của nhóm cầm đầu Bắc Kinh thì cần phải tỉnh táo biết rằng, đằng sau những lời nói ngọt là một chùm thuốc đắng. (16) Nếu sáng suốt và yêu nước thực sự thì những người cầm đầu CSVN phải thừa biết các điều sau đây:

1. Từ việc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, muốn nuốt thêm quần đảo Trường Sa và đang tính chiếm phần chính biển Ðông là tham vọng của bá quyền Trung Quốc trong thời đại Trung Quốc đang vươn lên trở thành siêu cường. Lịch sử Trung Quốc đã chứng minh là các thời đại hưng thịnh thường kèm theo các cuộc chinh phạt các nước láng giềng.

Chúng ta không muốn chiến tranh, chiến tranh chỉ là hạ sách. Nhưng nói là chỉ cần dùng ba tấc lưỡi có thể thuyết phục Bắc Kinh bỏ ý định bành trướng thì sẽ là tự lừa dối mình, lừa dối dân, lừa dối bạn bè quốc tế.

2. Trong điều kiện hiện nay của VN, đơn thân độc mã chống lại chính sách bành trướng của phương Bắc thì không đủ sức. Cho nên cần sự ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế. Muốn vậy thì phải liên minh với các nước Ðông Á và Ðông nam Á đang có mối lo ngại chung trước Bắc Kinh.

Nhưng muốn có sự ủng hộ thực sự của các nước dân chủ này thì những người cầm đầu CSVN phải đi đầu công khai kết án các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc Kinh...

3. Quan trọng nữa là phải được nhân dân VN tin cậy và ủng hộ. Vì thế lãnh đạo ÐCSVN phải chứng tỏ có bản lĩnh vững vàng đối với Bắc Kinh, biết quí danh dự của tổ quốc và phải trọng nhân dân. Cho nên những người đang cầm quyền không được phép cấm cản, bôi nhọ, đe dọa và bêu xấu nhân dân trước kẻ thù. Vì như thế là chính mình bôi xấu, làm nhục mình!

Hãy có can đảm và làm theo mệnh lệnh của lương tâm. Ngoại giao khôn ngoan không được phép hiểu là trốn tránh sự thực, phủ nhận sự thực, cúi đầu trước kẻ thù. Ngoại giao khôn ngoan nhất là phải biết dựa vào sức mạnh của dân và sức mạnh của thời đại.

Ghi chú:

(1) Cộng Sản Ðiện Tử 8 tháng 9, 2011
(2) BBC7.9
(3) Thông Tấn Xã VN (TTXVN) 7 tháng 9
(4) Chính Phủ Ðiện Tử (CP) 7 tháng 9
(5) Ðiểm 5 Thông báo chung Trung Quốc-VN, Nhân Dân 2 tháng 6, 2008
(6). Xem Âu Dương Thệ, Kết quả Hội nghị Trung ương 2: Cách lèo lái quyền lực của Nguyễn Phú Trọng! Trong: www.dcvapt.net/thoisu/baithoisu2011/phantichhntu2.htm
(7) RFI và BBC 22.9
(8 ) Ðới Bỉnh Quốc nói với Nguyễn Phú Trọng ngày 7 tháng 9.
(9 ) Thượng Tướng Quách Bá Hùng, ủy viên Bộ Chính Trị và phó chủ tịch Quân UƯy Trung Ương quân đội Trung Quốc, nói với Nguyễn Tấn Dũng ngày 13 tháng 4 tại Hà Nội.
(10) TTXVN 30 tháng 8
(11) Ðài Bắc kinh 30 tháng 8
(12) TTXVN 30 tháng 8, Nguyễn Chí Vịnh nói với Tướng Mã Hiểu Thiên.
(13) Vũ Cao Ðàm, Giải mã ngôn từ của Trung Cộng: “Trung Quốc không lấy đất lấy biển của Việt Nam,” trong http://www.boxitvn.net/bai/28303
(14) Quân Ðội Nhân Dân 16 tháng 9
(15) Quân Ðội Nhân Dân và BBC 20 tháng 9
(16) Xem: Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cựu đại sứ VN tại Trung Quốc, nói ngọt ngào, làm ác độc.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Nhà xuất bản Thanh Niên và Bộ Giáo dục VC làm nội gián cho Tàu

Sách Việt Cộng nhồi sọ học sinh VN về đường lưỡi bò của Trung cộng!

Nguyễn Duy Xuân
1. Theo thông tin trên mạng, cuốn sách dạy tiếng Trung với tựa đề "Luyện kỹ năng đọc hiểu Tiếng Hoa" do Ngọc Huyên biên soạn, được Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành, ở trang 274 có in hình bản đồ Trung công với đường lưỡi bò liếm gần hết cả biển Đông.

Dưới chế độ Cộng sản, một cuốn sách muốn ra đời phải qua nhiều khâu kiểm duyệt. Nếu không cố tình, chả nhẽ từ tác giả, người cấp phép cho đến nhà xuất bản cùng “sơ suất” đến thế ư ? Biển của ta, đảo của ta mà ta lại không được quyền lên tiếng khi ngoại bang xâm chiếm, trong khi đó báo chí sách vở của ta lại công khai tuyên truyền cho cái "chủ quyền" ăn cướp ấy của Tàu. Chính phủ đầu hàng trước yêu sách ăn cướp của Tàu rồi, hay là có nội gián Bắc kinh trong Bộ Giáo dục và Bộ Truyền thông mà để xảy ra chuyện tày trời này? Ở Hà nội có ai trả lời câu hỏi này của nhân dân hay không? Hay là phải hỏi Bắc kinh đây?


2. Trên Youtube đang lưu hành clip Trung công dạy trẻ tiểu học về Hoàng Sa, Trường Sa ( Bọn chúng đã nhồi sọ cho thế hệ trẻ tin vào chủ quyền của Tàu về hai quần đảo thuộc chủ quyền VN, một sự tính toán lâu dài, thâm độc. Thế mà sách vở của ta, từ mẫu giáo cho đến lớp 12, kể cả sách điạ lí, lịch sử, tịnh không có một bài học nào về hai quần đảo này của ông cha. Sao lại dạy “Đất quý, đất yêu” (Tiếng Việt 3, tập 1, trang 84) của nước Ê-ti-ô-pi-a tận đẩu tận đâu bên châu Phi chứ không phải nói gì đến Hoàng Sa Trường Sa mà ông cha đã đổ máu xương gìn giữ?


Cách đây chưa lâu, lấy cớ là vấn đề nhạy cảm, người ta “stop” những bản tin hoặc bài viết về chủ quyền của đất nước đối với Hoàng Sa trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Than ôi! Của ta đường đường chính chính mà ta không được lên tiếng bảo vệ, không giảng dạy cho con trẻ thì làm sao nuôi dưỡng, làm sao khơi dậy ở các thế hệ tương lai lòng yêu nước thương nòi?


3. Trả lời báo chí bên lề phiên họp khai mạc Quốc hội khóa XIII sáng 21-7, ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Phó Thủ tướng đề xuất phải đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào chương trình dạy học phổ thông cho học sinh. Ông Bộ trưởng bộ Giáo dục-Đào tạo có biết tin này không? Nếu có thì sao Bộ và các nhà soạn sách chưa đưa bài học Hoàng Sa, Trường Sa vào cái dự án khổng lồ 70 ngàn tỉ kia. Hay là sợ mất lòng các đồng chí Trung quốc?


4. Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước chỉ có thể được bảo toàn bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, chứ không một cá nhân nào có thể lo nổi. Đảng và Nhà nước có trách nhiệm, nhưng không được quyền giành lấy chỉ có Đảng và Nhà nước lo. Làm như vậy là tước đoạt quyền bảo vệ đất nước của công dân, gây khủng hoảng niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, phá vỡ sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân trước hiềm họa xâm lược của giặc Tàu.


Hãy trả lại cho nhân dân quyền giữ nhà giữ nước, để cho sức chiến đấu ấy được phát huy, được củng cố từ mỗi con người, mỗi góc phố, mỗi xóm làng trên khắp đất nước Việt Nam thân yêu. Có như thế, người Việt Nam mới bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ đất nước và chủ quyền dân tộc. Có sức mạnh hậu thuẫn nhân dân thì cac nhà ngoại giao đi Tàu đàm phán mới có cái gan không lảm nhảm 4 tốt-16 chữ vàng như mê sảng , trăm lần như một!
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Thế Kỷ Á Châu Của Hoa Kỳ

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa
Ngoại trưởng Clinton: Hoa Kỳ tiếp tục lãnh đạo Á châu!

Vũ Hoàng: Thưa quý thính giả, tuần qua tờ báo chuyên đề có uy tín về ngoại giao của Hoa Kỳ là "Foreign Policy" đã có một bài quan điểm của Ngoại trưởng Mỹ là bà Hillary Clinton dưới tiêu đề mà chúng tôi xin tạm dịch là "Thế kỷ Á châu của Hoa Kỳ". Bài viết đã gây chú ý cho dư luận Á châu nên đài Á châu Tự do có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ về quan điểm của Ngoại trưởng Hoa Kỳ.


- Xin kính chào ông Nghĩa và cảm tạ ông về cuộc phỏng vấn chớp nhoáng này, không với tư cách một nhà tư vấn kinh tế của đài Á châu Tự do, mà là chuyên gia đã từng theo dõi tình hình Trung Quốc từ nhiều thập niên. Đề mục là bài xã luận của Ngoại trưởng Hillary Clinton. Trước khi nói về nội dung bài viết mà ông đã có đọc thì ông nghĩ sao về bối cảnh?


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Hoa Kỳ là cường quốc rất trẻ, có quá khứ là Âu châu mà tương lai lại gắn liền với châu Á. Hai trăm năm sau thời lập quốc, chính xác là vào năm 1983, luồng giao dịch qua Thái bình dương với Á châu đã lần đầu tiên vượt qua lượng hàng hoá trao đổi qua Đại Tây dương với Âu châu. Nhưng khi đó, dư luận Mỹ nói chung chưa mấy chú ý đến sự chuyển dịch này.
Thản hoặc như có thấy thì chỉ nghĩ đến Nhật Bản, là một đồng minh và cường quốc kinh tế chủ nợ và chủ đầu tư có ảnh hưởng đến nước Mỹ. Khi ấy, chúng ta nhớ rằng Trung Quốc mới chỉ thực sự cải cách kinh tế được có vài năm.


- Ba chục năm sau, là ngày nay đây, tình hình đã đổi khác với sự lớn mạnh của Trung Quốc. Lồng trong đó có 10 năm mà Hoa Kỳ mắc bận với cuộc chiến chống xu hướng Hồi giáo cực đoan và hai chiến trường nóng là Iraq và Afghanistan. Khi tình hình trên hai chiến trường đó đã tạm lắng đọng, Hoa Kỳ tất nhiên phải nhìn vào Á châu như Ngoại trưởng Clinton đã thông báo tại Hà Nội vào năm ngoái và nhắc lại trong bài quan điểm này.


- Tháng tới, Tổng thống Barack Obama lại là lãnh đạo đầu tiên của Mỹ tham dự Thượng đỉnh Đông Á và đọc bài diễn văn quan trọng trước diễn đàn này tại Hawaii. Tôi thiển nghĩ rằng bài tiểu luận của Ngoại trưởng Clinton muốn chuẩn bị cho việc đó và nói thẳng với lãnh đạo Á châu về mục tiêu, chủ trương và đường lối của Hoa Kỳ trong khu vực.


Vũ Hoàng: Thưa ông, về nội dung thì ông thấy có những điểm nào là đáng chú ý nhất?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Rất ôn tồn mà dứt khoát khẳng định vai trò lãnh đạo Á châu của Mỹ!

- Ngoại trưởng Hoa Kỳ trình bày các yếu tố từ kinh tế đến chiến lược khiến quyền lợi của nước Mỹ trong thời khoảng 60 năm tới trực tiếp gắn bó với Á châu Thái bình dương, nơi sinh sống của phân nửa dân số địa cầu.


- Thứ hai, như chính Đô đốc Tư lệnh Hạm đội Thái bình dương đã có lần trình bày tại thủ đô Ấn Độ, Ngoại trưởng Mỹ quan niệm rằng khu vực Á châu Thái bình dương không chỉ có miền Tây biển Thái bình mà còn bao trùm lên cả Ấn Độ dương. Tức là tiểu lục địa Nam Á hay Ấn Độ cũng thuộc phạm vi quyền lợi chiến lược của Hoa Kỳ trong khu vực.


- Trong khu vực đó, Hoa Kỳ không có tham vọng chiếm đoạt lãnh thổ mà đã có truyền thống trợ giúp các nước qua những đồng minh chiến lược, như Nhật Bản, Nam Hàn, Australia, Philippines hay Thái Lan. Trong thời gian tới Hoa Kỳ muốn mở rộng hợp tác để bảo đảm sự thịnh vượng của các nước và quyền tự do của người dân.


Vũ Hoàng: Dư luận Á châu đặc biệt chú ý đến quan điểm của bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ với Trung Quốc, ông nhận xét ra sao về quan điểm này?


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trong một bài tiểu luận hơn 5.600 chữ, bà Clinton dành hơn 900 chữ, là hơn 16% nội dung, để viết về Trung Quốc, xuyên qua kinh nghiệm của bà trong kế hoạch đối thoại giữa hai nước về kinh tế và chiến lược. Tôi chú ý nhất đến ngôn ngữ ôn tồn mà mãnh liệt của Hoa Kỳ với thế lực đang lên của Trung Quốc theo đó Hoa Kỳ không có ác cảm tỵ hiềm hay e sợ mà muốn thắt chặt quan hệ đôi bên cho lợi ích của cả hai nước và cả thế giới.


- Muốn như vậy, lãnh đạo Bắc Kinh phải biết tin cậy và thảo luận công khai về một số vấn đề song phương và quốc tế. Đây là một quan điểm cố hữu của nước Mỹ là tăng cường hợp tác để Trung Quốc thành một quốc gia đối tác khả tín và có trách nhiệm hầu cùng giải quyết các vấn đề của thế giới. Nhưng ngược lại....

Vũ Hoàng: Nhưng ngược lại thưa ông, Ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng nói ra lập trường dứt khoát của mình?


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Rất dứt khoát nhưng với ngôn ngữ ngoại giao về những gì bà Clinton đã nói công khai hoặc kín đáo với lãnh đạo Bắc Kinh. Thứ nhất, về yêu cầu tôn trọng nhân quyền, chấp hành luật pháp quốc tế và giải tỏa hệ thống chính trị cho cởi mở hơn vì mục tiêu ổn định và tăng trưởng bền vững bên trong Trung Quốc. Chúng ta không quên là mấy tháng trước đây, nhân cuộc phỏng vấn của tờ Atlantic Monthly, bà Clinton đã phát biểu rằng mô hình phát triển của Trung Quốc không có tương lai!


- Chuyện thứ hai và một cách gián tiếp, Ngoại trưởng Hoa Kỳ nhấn mạnh đến nỗ lực hợp tác với một chuỗi quốc gia ngẫu nhiên sao lại là bán đảo hay hải đảo trong khu vực, với các tổ chức đa phương như Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á ASEAN, thậm chí với bốn nước tại hạ nguồn sông Mekong. Nhìn vào tấm bản đồ thì ta có thể mường tượng ra vòng đai của thịnh vương và an ninh để Bắc Kinh chọn lựa. Chi tiết quân sự mà ta có thể suy đoán ra, là Hoa Kỳ không cần loại căn cứ hải quân lớn lao như trong quá khứ, nhưng sẽ tăng cường hợp tác quân sự rất đa diện với nhiều nước, như Singapore, Indonesia hay Australia.



- Thuần về kinh tế, tôi còn chú ý đến sáng kiến mở rộng quy chế tự do ngoại thương gọi là "Đối tác Liên Thái bình dương" tức là Trans-Pacific Partnership giữa chín nước, từ Trung Nam Mỹ qua Đông Nam Á. Lần này, và sau Hiệp định Thương mại tuần qua với Nam Hàn, Hoa Kỳ có thể sẽ mời thêm một nước Đông Bắc Á nữa là Nhật Bản vào vòng thương thuyết. Mà trong 11 nước đó không có Trung Quốc. Có Việt Nam mà không có Trung Quốc!
Vũ Hoàng: Kết luận của ông trong 30 giây?


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Bà Clinton muốn các nước châu Á biết để mà chọn lựa cách xử thế: Trong lịch sử, nước Mỹ có những lúc thoái lui nhưng đều đã vượt qua rất nhanh. Bây giờ, trong khu vực Á châu Thái bình dương, Hoa Kỳ chuẩn bị đối phó với những thách đố hiện tại như là tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, khống chế quyền tự do giao lưu ngoài biển. Với mô hình dân chủ chính trị và tự do kinh tế nước Mỹ thừa khả năng về quân sự, năng suất, và giáo dục để bảo đảm và duy trì vai trò lãnh đạo toàn cầu trong thế kỷ này như trong thế kỷ 20. Nếu muốn hợp tác thì mọi người đều có lợi. Nếu không.... các nước nên nghĩ lại, vì Hoa Kỳ đang trở lại châu Á!


Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

NGUYỄN PHÚ TRỌNG ĐẠI DIỆN CHO AI ?
ĐỂ XÓA BỎ MỐI THÙ TRUYỀN KIẾP “ VIỆT-TRUNG “ VÀ XIN LÀM NÔ LỆ TÀU

Mường Giang


Từ trước tới nay, đảng CSVN vẫn luôn là một gánh nặng “ bòn rút túi tiền “ của bất cứ một nước nào có liên quan tới. Chính cái chủ trương “ bị gậy “ trên của ngụy quyền Hà Nội, đã đẩy đất nước và dân tộc VN vào thảm trạng nô lệ đế quốc Tàu đỏ, bắt đầu từ ngày 1 tháng 10-2011 và được hợp thức hóa gần như công khai trên cơ quan truyền thông của đảng khi Nguyễn Phú Trọng qua chầu Hồ Cầm Đào, với lá cờ Trung Cộng “ 6 sao : 1 lớn + 5 sao nhỏ “.

Điều nghịch lý của VN là hiện nay gần như hầu hết nhân loại, từ những cường quốc kinh tế (Hoa Kỳ, Liên Âu, Nhật..) tới các nước đang phát triển và các nước nghèo tại Phi Châu. Tất cả đều có chung khuynh hướng “ khai trừ và tẩy chay “ tên đầu sõ của tội ác thế kỷ là Trung Cộng, ra khỏi đất nước mình, để tránh hiểm họa chết chóc và bị diệt vọng không sớm thì muộn, vì hành động tàn độc, gian ác, lưu manh và côn đồ có một không hai trên thế giới từ trước tới nay. Hoa Kỳ là một đại cường quốc, đại siêu cường, đại phú gia..nhưng đã rước giặc Tàu vào nhà mình mới mấy chục năm, nay cũng sắp tán gia bại sãn và nguy cơ bị diệt chũng “ vì người dân Mỹ tiếp tục bị trúng độc “ do sử dụng đồ đạc, máy móc các thức ăn hằng ngày “ made in China “ bày bán công khai khắp Hoa Kỳ.

Trong lúc hầu hết các nước “ đồng chí “ của Tàu đỏ, gần như Lào, Bắc Hàn, Miến Điện, Pakistan..hay xa hơn tận Châu Phi như Lybia, Zambia, Nam Sudan..là các quốc gia trước đó đã bị lãnh tụ “ bán trọn goí “ cho Tàu, thì nay Họ đã trở mặt mời Trung Cộng ra khỏi nước, vì sớm nhận diện được cái bộ mặt tham ác, lừa bịp và đế quốc thực dân của quỹ đỏ, thì CSVN vẫn đi bằng đầu gối, hằng hằng lớp lớp, bò sang Tàu chầu quỳ các cấp lãnh đạo Trung Cộng để xin được “ Tình hữu nghị đời đời Việt-Trung, làm tài sản quý báu chung của hai đảng, hai nước, nhân dân hai nước. Nó phải được cũng cố và lưu truyền mãi mãi cho các thế hệ mai sau “. Bản tuyên bố “ riêng này “ của Nguyễn Phú Trọng với Hồ Cẩm Đào, không biết có đại diện cho đảng CSVN hay không nhưng chắc chắn nó không bao giờ, vĩnh viễn và miên trường sẽ không đại diện cho bất cứ một người VN nào trong và ngoài nước. CSVN và Nguyễn Phú Trong không tin, cứ cho phép người dân VN được biểu tình chống giặc Tàu xâm lăng VN, chống bè lũ nguỵ quyền Hà Nội công khai bán nước và làm nhục quốc thể..Chắc chắn chỉ trong vài giờ, toàn quốc sẽ có hằng triệu người đứng lên chống Tàu lẫn cái chính quyền VC “ Hèn với giặc Tàu, ác với dân Việt và vô nhân đạo bỏ mặc cho ngư dân Việt ngoài biển Đông, mặc cho hải tặc Tàu đỏ sinh sát hằng ngày “.

Tôi chỉ là một trong muôn ngàn người lính già của QLVNCH may mắn còn sống sót sau cuộc chiến và cuộc đổi đời. Và còn là một con người VN đứng trước thãm trạng đất nước đã bị giặc Tàu đô hộ, nên buồn rầu bức xúc vì sự bất lực của tuyệt đại tầng lớp đồng bào VN thấp cổ bé họng hôm nay “ thấy nước mất về tay giặc Tàu mà mình không được quyền đánh đuổi giặc Tàu ra khỏi nước. Thấy bè lũ cầm quyền VC hèn hạ tham ô bán nước cho giặc mà vẫn phải cúi đầu trước bạo lực, khủng bố..”

Chúng tôi là những người lính Miền Nam bị rã ngũ ngày 30-4-1975 nên dù muốn hay không, cũng phải chấp nhận số phận của kẽ thua cuộc. Nhưng vô lý biết bao khi chính miệng của một tên Tổng bí thư đảng CSVN là Nguyễn Phú Trọng lại “ kiên quyết “ với Hồ Cẩm Đào rằng là Tình Hữu Nghị Việt-Trung đời đời là tài sản chung để lưu truyền hậu thế. Trong khi đó suốt vùng biên giới Việt Hoa qua mấy ngàn năm lập quốc tới ngày nay, đã có triệu triệu hồn linh của tử sĩ VN bao đời nằm xuống, để chống lại giặc Tàu xâm lăng Đại Việt.

Nguyễn Phú Trọng hay đảng CSVN có vô liêm sĩ đến mức nào chăng nữa cũng không thể bán đứng đồng đội của mình là những “ Bộ Đội đã hy sinh máu xương trong cuộc chiến chống Tàu đỏ xâm lăng VN từ 1979-1988 tại các tỉnh biên giới và quần đảo Trường Sa “ . Không có bộ đội “ sinh bắc tử nam “ từ 1960-1975 thì làm sao đảng cướp được toàn cõi VN ngày nay, để TBT Nguyễn Phú Trong bò sang Tàu, quỳ gối trước Hồ Cẩm Đào để kiên quyết “ Làm Nô Lệ “ Hán tộc ?

Là một quốc gia bé nhỏ có chung biên giới dài với Trung Cộng, nên từ ngày lập quốc tới nay trãi qua bao đời dân tộc ta đã không ngững nghĩ ngăn chống giặc xâm lăng phương Bắc. Ngoại trừ những tên mãi quốc cầu vinh rước voi Tàu về dầy mã tổ Việt ít õi như Trần Thiễm Bình, Lê Chiêu Thống..Tất cả các triều đại còn lại đều đứng dậy chống Tàu. Cái luận điệu của CSVN từ 1988 tới nay qua Nguyễn Phú Trọng, chỉ là hình thức che dấu tội bán nước cho giặc. Nhưng không sao, vì qua các trang sử Việt từ trước tới nay cho thấy “ tất cả những tên mãi quốc cầu vinh “ đều bị toàn dân hạ bệ và tiêu diệt như Cù Thị, Triệu Ai Vương (Nhà Triệu), Kiều Công Tiện (Nhà Ngô), Trần Thiễm Bình (Trần), Lê Chiêu Thống (Hậu Lê)..CSVN ngày nay đã mất tất cả kể luôn tài s3n quý báu nhất là “ lòng dân , ý trời “ để chạy theo giặc Tàu, rước giặc Hán vào dầy xéo quê hương từ Bắc vào Nam, dâng hiến cho giặc tất cả những tài nguyên, lãnh thổ từ trong đất liền ra đến biển Đông. Hành động tán tận lương tâm trên, thì trước sau gì cũng bị toàn dân cả nước đứng lên lật đổ, dù họ đã biết trước CSVN sẽ theo lệnh Trung Cộng tàn sát mọi người chống đối như tại Thiên An Môn (Bắc kinh 1976, 1989), Miến Điện (1988, 2007) và mới nhất tại Yemen, Syria..

Các thế hệ VN bao đời đã đọc và học Việt Sử nên mới biết được sự hy sinh vô bờ bến của tiền nhân, đã phơi xác đổ máu để ngăn chống đế quốc Hán bao đời luôn muốn thôn tính và đồng hóa dân tộc Việt. Từ khi cướp được quyền cai trị VN, CSVN đã đảo trắng thay đen bày vẽ huyền thoại để làm sai lạc ý nghĩ thiêng liêng môn Việt Sữ, khiến cho các thế hệ VN ngày nay chỉ biết yêu nước là yêu nước XHCN. Nhưng ngoài sử viết, người Việt còn sử miệng. Đó mới chính là nguồn sử Việt chính thống bao đời của dân tộc.

Ai có thể quên được kẻ thù không đội trời chung là giặc Tàu, họa chăng chỉ có Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN mới kiên quyết đời đời tình hữu nghị Việt-Trung. Theo sử liệu, Đại Việt chính thức bị Bắc Thuộc lần thứ Nhất vào năm 111 trước Tây Lịch, khi Mã Việt sang đánh Triệu Dương Vương (Nhà Triệu). Từ đó nhà Hán đối Nam Việt (quốc hiệu VN thời đó) thành Giao Chỉ Bộ, nội thuộc nước Tàu. Năm 40 Tây Lịch, Bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị vì “ nợ nước thù nhà “ đã cầm đầu nghĩa binh, đứng lên làm cuộc cách mạng giải phóng non sông thoát khỏi ách đô hộ Tàu, sau hơn 150 nô lệ.

Sau ba năm độc lập dưới thời Trưng Nữ Vương (40-43), Đại Việt lại đắm chìm trong ách nô lệ của giặc Tàu hơn 900 năm nữa, mới được Ngô Vương Quyền giải phóng hoàn toàn vào năm 939, sau hơn 1000 bị giặc Tàu đô hộ làm nhục cướp đất. Trong khoảng thời gian trên, dù bị khủng bố kềm kẹp áp bức và đe dọa đến sinh mạng nhưng người Việt vẫn luôn nổi lên chống Tàu, qua các lãnh tụ cầm đầu Triệu Trinh Nương, Mai Hắc Đế, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Khúc Thừa Dụ..

Ngô Quyền là người đã cởi ách nô lệ Hán tộc cho Đại Việt khi ông chém Hoàng Tháo trên sông Bạch Đằng và đánh đuổi giặc Nam Hán chạy về Tàu từ năm 939, mở đầu cho thời độc lập, tự chủ cho Đại Việt qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn cho tới ngày nay (2011) thì bị cá nhân Nguyễn Phú Trọng, nhân tổng bí thư đảng CSVN, sáp nhập và nội thuộc nước Tàu qua biểu tượng lá cờ Trung Cộng mới xuất hiện trên đài VTV của đảng khi Nguyễn Phú Trọng sang chầu thiên Triều vào tháng 10-2011. (cờ đỏ có sáu ngôi sao : một lớn chỉ nước Tàu, năm ngôi sao nhỏ chỉ năm dân tộc Hán, Mãn, Mông, Tạng, Hồi và Người cốt khỉ (Nguyễn Phú Trọng + đảng CSVN).

Những ai hiện nay còn tự nhận mình là người VN, hãnh diện được làm người VN dù đang sống trong nước hay ngoài nước, xin đừng bao giờ quên được những sự nhục nhã do Nguyễn Phú Trọng và bè nhóm đảng CSVN đã mang tới cho đất nước và dân tộc Việt. Có như vậy chúng ta mới không uổng là hậu duệ của Cháu Lạc Con Hồng, là con cháu của Triệu Quang Phục (111 TrTL), Hai Bà Trưng (40-43), Triệu Trinh Nương (248), Ngô Quyền (939), Lê Hoàn (981), Lý Thường Kiệt (1077), Hưng Đạo Đại Vương (1288), Lê Lợi (1407-1418), Quang Trung (1789)..

Lịch sử lại tái diễn vào tháng 1 năm 1974, giặc Tàu lợi dụng tình trạng nguy ngập của Miền Nam lúc đó với “ thù trong giặc ngoài “ , nên xâm lăng và cưởng đoạt quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của VN lúc đó do QLVNCH trấn giữ. Người lính miền Nam đã làm hết sức mình kể cả hy sinh mạng sống để bảo vệ lãnh thổ của ông cha nhưng vì giặc quá mạnh và đông nên phải đành mất đảo vào ngày 20-1-1974. Đây là một biến cố đau thương và hận nhục nhất của dân tộc Việt. Nó mới chính là một kiên quyết đời đời nhắc nhớ cho các thế hệ VN, hôm nay, ngày mai và mãi mãi, đừng bao giờ quên “ Giặc Tàu là kẻ thù muôn đời và mãn kiếp của dân tộc Việt “.

Trong bài viết “ Đúng Ba Trăm Năm Trước “ đăng trong tập san Sử Địa xuất bản tại Sài Gòn năm 1974, sử gia Hoàng Xuân Hãn có viết “ Một gương sáng lịch sử là mỗi khi thế nước suy hèn vì chia rẽ và nội loạn, thì lân bang mới lẫn cõi chiếm đất như Hồ chịu mất đất Cổ Lâu (Lạng Sơn -1945), Mạc dâng La Phù (Quảng Ninh-1540), Trịnh mất nhiều động ở biên giới tây bắc..”.

CSVN ngày nay đã làm mất lòng dân, trái ý trời, tàn bạo vô lương và trên hết đã đánh mất liêm sĩ nên con đường duy nhất để chúng kéo dài thời gian bóp cổ xiết họng đồng bào cả nước, đã vơ vét những gì còn lại, để dâng hiến cho Tàu đỏ làm chỗ dựa. Nên việc Nguyễn Phú Trọng đi Tàu, Trương Tấn Sang tới Ấn hay Nguyễn tấn Dũng ở lại đón thủ tướng Đức. Tất cả kết cuộc cũng chỉ là “ bán nước “ cho ngoại bang mà thôi.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 10-2011
MƯỜNG GIANG
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Trung Quốc cô lập ở Á Châu
Tuesday, October 18, 2011 6:33:22 PM

Ngô Nhân Dụng

Mọi người Việt Nam đều muốn những tranh chấp với Trung Quốc trong vùng Biển Ðông phải được đưa ra quốc tế, không thể chỉ nói chuyện riêng giữa hai bên.

Trong thực tế, rất nhiều nước vì quyền lợi riêng của họ, đã can dự vào vùng biển này. Trung Quốc đang có thêm nhiều đối thủ, và mất bớt bạn bè, nếu họ đã có.

Chính Bắc Kinh đã gây nên tình trạng này. Năm 2010, họ đi ngược lại khẩu quyết “Thao quang dưỡng hối” của Ðặng Tiểu Bình. Họ tuyên bố vùng Ðường Chín Ðoạn, bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc loại quyền lợi cốt lõi. Trước đây chỉ có Ðài Loan và Tây Tạng được xếp trong loại này. Chủ trương như vậy không khác gì coi cả vùng biển Ðông Nam Á thuộc vào Trung Quốc, như Tây Tạng, Ðài Loan. Trung Quốc đã bày tỏ những thái độ hung hăng nhiều lần hơn trước. Họ đã cấm xuất cảng sang Nhật một nguyên liệu cần thiết cho việc sản xuất ngành điện tử, gọi là “đất hiếm,” mà Trung Quốc là nước sản xuất nhiều nhất, gần như độc quyền. Không những Nhật mà Mỹ và Nam Hàn, Ấn Ðộ cũng phải lo ngại tìm cách giảm bớt tình trạng lệ thuộc vào nguồn cung cấp nguyên liệu từ Trung Hoa. Bắc Kinh lại cho người biểu tình phản đối việc Nhật Bản bắt giam một thuyền trưởng xâm phạm vùng đảo Senkaku, mà người Trung Hoa gọi là Ðiếu Ngư Ðài. Trước kia họ không có những hành động gây căm thù mạnh mẽ như vậy. Người thuyền trưởng được tự do, mà ai cũng biết thế nào cũng được trả về. Nhưng người ta lo sợ không biết Bắc Kinh sẽ còn muốn gì khác.

Trung Quốc lại tạo thêm tình trạng căng thẳng với Ấn Ðộ. Họ đưa quân sang giúp Pakistan xây dựng những căn cứ chiến lược ở vùng Kashmir, mà nước Pakistan đang chiếm đóng trong cuộc tranh chấp kéo dài hơn nửa thế kỷ với Ấn Ðộ. Trung Quốc cũng xây dựng những quân cảng cho Miến Ðiện và Pakistan; cả hai đều nhòm ngó vào vùng biển của Ấn Ðộ, ở hai phía Ðông và Tây. Hải quân Trung Quốc sẽ được phép sử dụng các hải cảng này khi cần thiết. Trung Quốc cũng nhắc lại Ấn Ðộ phải trả cho họ vùng đất thuộc tiểu bang Arunachal Pradesh giáp giới hai nước. Trung Quốc vẫn coi vùng này thuộc quyền của họ, mà họ gọi là Nam Tây Tạng; một lý do họ nêu lên là trong đó có sinh quán của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Một cuộc tranh chấp âm ỉ nửa thế kỷ đã được hâm nóng lại, không do một nguyên nhân trực tiếp nào.

Những hành động gây hấn cụ thể và trắng trợn nhất là đối với Việt Nam. Tầu đánh cá của nước ta bị tấn công, các ngư dân bị bắt cóc đòi tiền chuộc. Ðến năm 2011, Trung Quốc còn đi cắt dây cáp của các con tầu do Petro Việt Nam thuê thăm dò đáy biển. Phi Luật Tân cũng bị đe dọa khi khai thác dầu khí trong vùng biển của mình. Nhưng tại quốc gia nhỏ bé với dưới 7 triệu dân là nước Lào, Trung Quốc cũng đụng chạm khiến chính phủ Lào phải phản đối. Lợi dụng chương trình viện trợ phát triển, Trung Quốc đã đòi được đưa sang Lào 300,000 công nhân và sau này sẽ khó đuổi đi. Người Trung Hoa tới thị xã Boten gần biên giới để xây dựng trạm đầu tiên trên tuyến đường sắt nối các nước Ðông Nam Á và Trung Quốc. Họ đã biến Boten thành một thị trấn Tầu, mở khách sạn, mở mang du lịch, mở casino làm băng hoại xã hội chung quanh. Khi chính phủ Lào bị dân chúng biểu tình phản đối đã phải đóng cửa casino, đuổi bớt người Trung Hoa về nước, Trung Quốc đã trừng phạt bằng cách ngưng viện trợ, không xây một cây cầu băng qua sông Mekong đã đồng ý giúp. Tại Campuchia, Trung Quốc vẫn mua chuộc bằng tiền bạc, họ xây tặng một dinh thủ tướng mới. Ông Hunsen vui vẻ đồng ý, nhưng khi xây dựng xong ông ta không dùng.

Các hành động của Trung Quốc khiến thế giới phải đặt câu hỏi về tham vọng lâu dài của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Ðặc biệt là các nước lớn, như Mỹ, Ấn Ðộ và Nhật Bản.

Một bản báo cáo của Bộ Quốc Phòng Mỹ cho biết trong một thập niên vừa qua, Trung Quốc đã thay đổi quân đội hoàn toàn. Từ một quân đội hoàn toàn trên bộ, nhắm vào việc bảo vệ vùng bờ biển, họ biến thành một guồng máy chiến tranh hướng ra ngoài. Tăng cường hải quân, phi đạn chống tầu thủy, phi đạn bắn xa trên 1,500 cây số và các hỏa tiễn liên lục địa, vệ tinh nhân tạo, phi cơ tàng hình, và các vũ khí điện tử tinh vi mới.

Người ta phải nhắc lại trong quá khứ Trung Quốc đã từng tiến quân sang các nước láng giềng theo châm ngôn “Tiên hạ thủ vi cường.” Năm 1950 họ đưa hàng triệu “chí nguyện quân” sang Hàn Quốc khi quân Mỹ và Liên Hiệp Quốc phản công sắp tiêu diệt chế độ cộng sản ở Bắc Hàn. Trung Quốc đã tấn công Ấn Ðộ trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1962. Năm 1974 đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; năm 1979 tấn công các tỉnh biên giới Bắc Việt; năm 1988 hải quân của họ lại tấn công các đảo ở Trường Sa giết thêm 80 chiến binh Việt Nam.

Trước lịch sử đó, tự nhiên, các nước chung quanh phải lo đề phòng. Mối bang giao đang phát triển mạnh nhất ở Á Châu là giữa Ấn Ðộ và Nhật Bản; các nước khác cũng liên kết với nhau, và kết thân với Mỹ.

Nhật Bản đang theo một bản Hiến Pháp hòa bình do Mỹ lập ra sau Thế Chiến Thứ Hai, cho nên trên nguyên tắc không có quân đội mà chỉ có một “đạo quân tự vệ.” Ngày Chủ Nhật 16 Tháng Mười vừa qua, trong một cuộc duyệt binh tại căn cứ không lực Hyakuri, Thủ Tướng Nhật Yoshihito Noda đã báo động, “Tình trạng an ninh bao trùm đất nước chúng ta càng ngày càng nhiễu nhương vì những hành động leo thang của Trung Quốc trên mặt biển và sự bành trướng quân lực của họ.” Ông vạch ra mối lo lớn nhất của Nhật là sự phát triển quân sự của Trung Quốc được che giấu chứ không minh bạch như ngân sách quốc phòng công khai của các nước tự do dân chủ.

Thứ Sáu tuần trước, Ngoại Trưởng Nhật Bản Koichiro Gemba đã thăm Indonesia, cùng với Ngoại Trưởng Marty Natalegawa ký kết những hiệp ước hợp tác. Cả hai kêu gọi tăng cường an ninh vùng biển Ðông Nam Á để đáp lại với sự bành trướng của nước Trung Hoa. Năm ngoái, dưới thời một vị thủ tướng khác cùng đảng, Nhật Bản đã công bố một bản sách lược quốc phòng, kêu gọi chuyển hướng từ chủ trương thụ động sang tích cực hơn. Sách lược này cũng coi Trung Quốc là đối tượng, thay thế vai trò nước Nga từ thời chiến tranh lạnh. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, đứng hàng thứ nhì sau nước Mỹ, đã tăng thêm 13% trong 12 tháng tới; trong khi ngân sách quân sự của Nhật đã giảm ngân sách liên tục trong suốt mười năm qua.

Chúng ta biết rằng nếu cần tái vũ trang thì Nhật Bản sẽ không phải chờ đợi lâu. Guồng máy sản xuất công nghiệp của Nhật dư khả năng để tăng cường quân lực. Với GDP trên 5 ngàn tỷ Mỹ kim, lợi tức theo đầu người ở Nhật hiện vẫn lớn bằng gần 10 lần dân chúng Trung Quốc. Mặc dù chỉ có nhiệm vụ phòng thủ, Hải quân Nhật hiện nay vẫn lớn mạnh nhất Á Châu.

Ðối với Ấn Ðộ, quan hệ với Trung Quốc chưa bao giờ thân thiện, cho tới khi hai nước mở mang việc giao thương để cùng lo phát triển kinh tế. Sau mười năm, hiện nay Trung Quốc là bạn hàng buôn bán lớn nhất của Ấn Ðộ. Hải quân Ấn Ðộ hiện đứng hàng thứ 5 trên thế giới. Trung Quốc mới khai trương một hàng không mẫu hạm còn Ấn Ðộ đã có một chiếc mẫu hạm từ lâu, và tới năm 2020 sẽ thêm 3 mẫu hạm khác. Trong tuần trước, Ấn Ðộ đã quyết định đưa giàn hỏa tiền BrahMos tới tiểu bang Arunachal Pradesh vùng Ðông Bắc, nơi Trung Quốc vẫn coi thuộc về họ. Trước đây, chỉ có ba giàn BrahMos ở phía Tây, vùng biên giới Pakistan. Ấn Ðộ và Nga đã đồng ý sẽ bán loại hỏa tiễn này cho Việt Nam. Tên gọi hỏa tiễn cộng tác chế tạo ghép tên hai con sông lớn của hai nước, Brahmaputra và Moskva.

Trước sự bành trướng của Trung Quốc ở Á Châu, Ấn Ðộ phải phản ứng, đã tăng cường các cuộc thao diễn hải quân với các nước Singapore, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam. Năm 2005, Ấn Ðộ đã tham dự các cuộc họp Thượng Ðỉnh Á Ðông mặc dù họ ở phía Nam Châu Á; và năm 2008 đã ký các thỏa ước tự do mậu dịch với các nước ASEAN. Úc, Nam Hàn cũng tham dự vào các diễn đàn này vì quyền lợi thiết thực.

Cuối cùng, Trung Quốc sẽ không phải chỉ lo về các nước Ðông Nam Á và lực lượng hải quân của Mỹ, mà trước hết phải đối đầu với Nhật Bản và Ấn Ðộ. Nếu có một cuộc chạy đua vũ trang ở Á Châu, thì hai quốc gia này sẽ chạy rất nhanh. Mà nguyên nhân chính là do thái độ hung hăng của Bắc Kinh trong mấy năm qua. Ðộng cơ của giới lãnh đạo Bắc Kinh có thể nằm trong nội tình Trung Quốc. Sau khi từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê nin, họ cần một nền tảng tinh thần mới để tác động người dân lục địa; và họ chọn chính sách đề cao chủng tộc. Hơn nữa, khi được khích động như thế, người ta có thể quên những cảnh bất công trong xã hội, nạn tham nhũng, và cảnh mất tự do dưới một chế độ độc tài chuyên chế. Với quá khứ chịu nhục nhã suốt từ thế kỷ 19 sang thế kỷ 20, người dân Trung Hoa rất dễ bị khích động với lòng yêu nước và tự hào về nền văn minh Trung Hoa cổ truyền.

Tham vọng bành trướng của Trung Quốc có thể so sánh với tinh thần dân Nhật sau thời Minh Trị. Ở Nhật, nó đã đưa tới một chế độ quân phiệt và chủ trương xâm lăng các nước chung quanh. Nhưng Trung Quốc hiện nay sống trong một thế giới khác nước Nhật vào đầu thế kỷ 20. Một trăm năm trước, Nhật Bản là quốc gia duy nhất đã vươn lên theo kịp nhờ học hỏi các kỹ thuật các nước Tây phương. Ngày nay, khi Trung Quốc vươn lên, họ đã đi bước sau, còn lo đuổi sao cho kịp mức phát triển của Nam Hàn, Ðài Loan, Nhật Bản. Trong lúc đó, chính sách ngoại giao của Bắc Kinh chỉ khiến cho các nước Á Châu phải tìm đường kết thân với nhau, và ai cũng trông cậy vào Mỹ trong lúc đề phòng Trung Quốc. Trung Quốc thay đổi kinh tế theo đường lối tư bản đã thay đổi bản đồ địa lý chính trị trong vùng Á Ðông. Nhưng thái độ hung hăng của họ trong mấy năm qua hoàn toàn gây thiệt hại cho chính họ. Khi chính phủ một nước nhỏ như Lào mà cũng đứng lên phản đối chính sách “viện trợ” của nước láng giềng vĩ đại; khi ông Hunsen lẳng lặng xây dinh khác để ở; thì chúng ta hiểu Bắc Kinh không nên theo đuổi chính sách “bá quyền.”
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Ông Gadhafi bị bắt như thế nào?


(Dân trí) - Ông Gadhafi đã bị các binh sỹ thuộc chính quyền lâm thời bắt khi đang trốn trong cống thoát nước
nằm dưới một đường cao tốc gần Sirte, thành phố quê hương ông.

Image

Binh sỹ NTC chỉ vào miệng cống nơi ông Gadhafi ẩn trốn trước khi bị bắt
Một binh sỹ thuộc chính quyền lâm thời đã chỉ địa điểm nơi ông Gadhafi bị bắt giữ.
Đó là nơi có có hai miệng ống cống thoát nước nhô ra bên dưới một tuyến đường cao tốc 6 làn.
Các binh sỹ, hình ảnh video và cảnh tượng ở quanh đó đã phần nào cho biết những giờ cuối cùng của ông Gadhafi.

Ngay trước buổi cầu nguyện bình minh ngày thứ năm, 20/10, ông Gadhafi đã được vài chục vệ sỹ trung thành vây quanh bảo vệ. Cùng với họ là người đứng đầu lực lượng quân đội dưới chính quyền cũ Abu Bakr Younis Jabr, nay đã chết. Họ phá hàng rào bao vây Sirte suốt hai tháng qua của lực lượng Hội đồng chuyển tiếp quốc gia (NTC) và tây tiến.

Nhưng họ không thể đi xa được.

NATO cho biết máy bay của họ đã nã bom trúng các xe quân sự của lực lượng ủng hộ ông Gadhafi, gần Sirte vào khoảng 8h30 sáng ngày thứ năm. Tuy nhiên, họ cho biết không chắc liệu đợt tấn công có tiêu diệt ông Gadhafi.

15 chiếc xe tải chở quân được trang bị súng máy hạng nặng đã bị cháy và nằm bẹp rúm gần một trạm phát điện, cách đường chính khoảng 20m và cách tây Sirte khoảng 3km.

Rõ ràng là đoàn xe bị một lực lượng mạnh tấn công. Tuy nhiên, không thấy có hố bom để lại, chứng tỏ vụ tấn công có thể do trực thăng hoặc do chiến đấu cơ thực hiện.

Bên trong xe, nhiều người thiệt mạng.

Bản thân ông Gadhafi và nhiều người khác đã thoát chết và có vẻ như đã chạy qua hàng cây về phía đường chính và trốn bên trong hai ống cống thoát nước.

Nhưng các binh sỹ thuộc chính quyền lâm thời đã đuổi theo họ.

“Lúc đầu chúng tôi dùng súng chống máy bay bắn họ, song không có tác dụng”, Salem Bakeer cho hay. Sau đó chúng tôi chạy tới. Một người của Gadhafi chạy ra vẫy vẫy khẩu súng trường của mình và kêu lên đầu hàng. Nhưng ngay sau khi nhìn thấy mặt tôi, ông ta đã chửi tôi”, anh kể lại.

“Sau đó, tôi nghĩ Gadhafi đã bảo họ dừng lại. “'Muammar Gadhafi ở đây. Ngài đang bị thương”, ông ta nói”, Bakeer cho biết.

“Khi chúng tôi đến và đưa Gadhafi ra, ông ta nói: “Có chuyện gì vậy, có chuyện gì vậy? Chuyện gì đang diễn ra thế?” Rồi sau đó chúng tôi đưa ông ta đi, đưa lên xe”, Bakeer cho biết.

Theo Bakeer, vào thời điểm bị bắt, ông Gadhafi đã bị thương rồi, với những vết đạn ở chân và ở lưng.

Những binh sỹ khác tham gia bắt giữ ông Gadhafi cũng xác nhận thông tin của Bakeer. Tuy nhiên, cũng có một người cho biết ông Gadhafi bị chính một trong những người của mình bắn bị thương vào phút cuối.

“Một trong những bảo vệ của Muammar Gadhafi đã bắn vào ngực ông ta”, Omran Jouma Shawan cho hay.

Theo Bakeer, người đứng đầu quân đội chính quyền cũ Jabr cũng bị bắt sống. Tuy nhiên giới chức NTC sau đó tuyên bố ông ta đã chết.

Dây cáp điện bị rơi đã che phủ một phần miệng cống và thi thể của 3 người đàn ông, có vẻ như là vệ sỹ của ông Gadhafi, nằm ở một đầu cống. Bốn thi thể nằm ở đầu kia của cống. Tất cả đều là đàn ông da đen.

Các binh sỹ thuộc chính quyền mới vui mừng bắn đạn chỉ thiên và đứng chụp ảnh tại miệng cống. Một số khác viết lên lan can bê tông trên đường cao tốc: “Gadhafi đã bị bắt ở đây”.

Và từ đây, ông Gadhafi được đưa tới thành phố Sirte gần đó.

Hình ảnh video cho thấy ông Gadhafi, bàng hoàng và bị thương, nhưng vẫn còn sống, giơ tay ra hiệu khi bị đám đông binh sỹ kéo xuống khỏi chiếc xe tải chở quân. Có người đã đánh và kéo tóc ông.

Sau đó có vẻ như ông ngã xuống đất và bị đám đông vây kín.

Cuối cùng, giới chức NTC thông báo ông đã chết vì các vết thương sau khi bị bắt.

Phan Anh
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Paris Rực Rỡ Cờ Vàng Lên Án VC Bán Nước

Image
Lá Cờ Tanh Máu đồng bào

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
Ai như ông cựu Đại Tá VC Bùi Tín cầm cờ Vàng

Image

Image

Image

Image

Image
Chiến hữu Đặng Vũ Lợi HT Hội HQ/HH/Paris Pháp Quốc

Image

Image
Lá Cờ phản quốc

Image
Phải huỷ đi

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Hình ảnh from Nguyễn Bắc Ninh.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest