Bình Luận , Quan Điểm

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trung Quốc đang lo sợ
Tuesday, September 27, 2011 6:52:41 PM

Ngô Nhân Dụng

Muốn biết một quốc gia mạnh yếu ra sao thì chúng ta có thể xem họ đang sợ những cái gì. Nếu một chính quyền sợ những thứ rất nhỏ, thì không thể coi là họ mạnh được.

Ở trong nước, một chữ Hoa Nhài mà Bắc Kinh cũng sợ, kiểm duyệt không cho các mạng web nhắc đến! Kiểm duyệt khi viết những tên Tây Tạng, Uighur. Họ bắt giam họa sĩ Ngải Vị Vị, dọa truy tố tội trốn thuế, y như tội nhà báo tự do Ðiếu Cày bị gán ghép, bị dư luận che cười lại thả. Ðã kết án nhà văn Lưu Hiểu Ba rồi, họ vẫn mở những chiến dịch rầm rộ bôi nhọ một người đang ở trong tù, sách nhiễu đến cả vợ con không cho yên.

Tại sao họ phải sợ những cá nhân đó? Bởi vì họ biết chính họ rất yếu khi đối diện với những lý tưởng, những ý kiến mà Hiến Chương Linh Tám nêu ra: Dân Chủ, Tự do, Bình đẳng trước pháp luật, Hạn chế quyền hành nhà nước, Chống tham nhũng bất công. Những lý tưởng đó đang nung nấu âm ỷ trong lòng người Trung Hoa. Nhiều người Tàu đang theo dõi các cuộc cách mạng Hoa Nhài ở Ai Cập, ở Syria, hàng trăm triệu người, không biết lúc nào họ nổi lên yêu cầu dân chủ. Các lãnh tụ Trung Nam Hải đang ngồi trên một thùng thuốc súng. Không biết một biến cố nho nhỏ bất ngờ nào sẽ bật ngòi cho nó phát nổ. Khi sợ hãi, người ta quay ra đánh lung tung. Vì nhìn đâu cũng thấy những “thế lực thù địch”.

Trên mặt ngoại giao, Trung Quốc cũng đang chống phá lung tung. Trong mấy tuần nay Bắc Kinh lên tiếng cực lực đả kích Ấn Ðộ, Phi Luật Tân, Việt Nam, Nhật Bản và Mỹ.

Bắc Kinh đã ồn ào phản đối việc công ty Ấn Ðộ ONGC Videsh định mở cuộc thăm dò dầu lửa trong hai khuôn (block) ngoài khơi Việt Nam, dọa sẽ gây rắc rối về ngoại giao. Trước đây, những công ty Chevron, Petronas-Carigali, British Petroleum, Santos đã rút lui ngay sau khi bị dọa. Bây giờ, Ấn Ðộ đã dứt khoát bác bỏ, nói rằng việc cộng tác tìm dầu với Việt Nam làm theo đúng luật lệ quốc tế. Chevron và BP có những vụ làm ăn ở bên Tàu cho nên không dám đụng; khiến mấy anh ở Bắc Kinh tưởng dọa ai cũng được. Bây giờ đụng với ONGC Videsh mới được một bài học. Tháng trước Bắc Kinh đã cho chiến hạm đuổi chiếc tàu INS Airavat trong khi mới rời hải cảng Việt Nam. Bộ Ngoại Giao Ấn Ðộ đã chính thức phản đối, lên tiếng bảo vệ quyền lưu thông trên biển Ðông của nước ta.

Chỉ có thế thôi. Nhưng đảng Cộng Sản Trung Quốc đã cho các báo, đài đăng những bài chỉ trích Ấn Ðộ đang tranh giành ảnh hưởng với họ ở Việt Nam và vùng Ðông Nam Á. Ðồng thời, họ công kích Việt Nam và Phi Luật Tân cùng chống nước Tàu, như bản tin trên nhật báo Người Việt ngày hôm qua mới đăng... Không những thế Bắc Kinh còn lôi kéo cả Mỹ, Nhật Bản vào. Lại nhìn đâu cũng thấy những “thế lực thù địch”.

Một nhà phân tích chính trị Trung Quốc đã diễn tả đúng tâm trạng các đồng chí lãnh đạo Trung Nam Hải. Chỉ riêng một vụ đi tìm dầu lửa, ông Mã Gia Lệ (Ma Jiali) được hãng thông tấn IANS (Indo-Asian News Service) phỏng vấn đã nói rằng ông cảm thấy Ấn Ðộ đang muốn phát triển “những quan hệ chiến lược với Việt Nam để đương đầu với Trung Quốc”. Bộ ông ta nghĩ Việt Nam là một nước chư hầu hay sao mà chỉ được giữ những quan hệ “đồng chí, anh em, chiến lược, toàn diện” với nước Tàu mà thôi? Mã Gia Lệ nói: Chính phủ Mỹ muốn ngăn chặn Trung Quốc. Nếu Ấn Ðộ cũng theo con đường đó, sẽ không tốt. Nhiều nước đang muốn liên minh chống Trung Quốc. “Ðối thoại tay ba” đang được mở giữa Nhật Bản, Ấn Ðộ và Mỹ có vẻ “phần nào nhắm vào Trung Quốc”. Chúng tôi không muốn thấy một liên minh như vậy. Ðúng là tình trạng một người tâm thần bất ổn, nhìn đâu cũng thấy người khác đang âm mưu hại mình. Hoặc một ông “Con Trời” nghĩ rằng cả thiên hạ phải quy phục mình!

Cựu Ngoại Trưởng Nhật Bản Yuriko Koike mới viết trên Nhật báo Japan Times vào Tháng Sáu năm nay, nói rằng người ta không cần phải ngăn ngừa Trung Quốc, như chiến lược đối phó với Nga Xô mà Mỹ đã theo trong thời Chiến Tranh Lạnh. Chi phí quân sự của Trung Quốc không mạnh hơn Nhật Bản, Ấn Ðộ hay Nga. Một nửa số 1 tỷ 300 triệu người Trung Hoa còn sống trong cảnh nghèo, Trung Quốc cần bảo vệ quan hệ kinh tế với các nước khác. Bà Yuriko Koike (Tiểu Trì Bách Hợp Tử) nói thái độ hung hăng của Trung Quốc sẽ thúc đẩy các nước Á Châu phải tìm cách liên minh, với hậu thuẫn của Mỹ, thay vì bị rơi vào một hệ thống do Trung Quốc đứng đầu. Nhật Bản cần coi việc liên kết với các quốc gia tự do dân chủ trong vùng, như Ấn Ðộ, Nam Hàn, Indonesia là ưu tiên số một.

Trong thực tế, các nước Á Ðông và Ðông Nam Á phát triển phồn thịnh được trong ba thập niên cuối thế kỷ 20 là nhờ có sự hiện diện của quân lực Mỹ trong vùng này, tạo ra một tình trạng cân bằng, ổn định. Hiện nay Australia, Nhật Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Ấn Ðộ, Indonesia, Singapore, Malaysia, Tân Tây Lan, Việt Nam, và ngay cả Mông Cổ đều muốn giữ thế cân bằng ổn định đó. Ðúng như bà Koike nói, không ai coi việc ngăn chặn Trung Quốc là một việc cần thiết, nhưng không ai muốn bị Trung Quốc áp lực. Một quốc gia nhỏ như Singapore cũng ký hiệp ước tự do mậu dịch và hợp tác quân sự với Mỹ. Số hải cảng trong vùng sẵn sàng cho phép tàu chiến Mỹ ghé bến đã nhiều hơn, các cuộc thao diễn hải quân chung với Mỹ cũng gia tăng.

Nguyên nhân chính cũng vì Bắc Kinh đã bỏ không theo lời căn dặn chiến lược của Ðặng Tiểu Bình, là hãy lo phát triển kinh tế, còn về ngoại giao phải “Thao quang Dưỡng hối” (Tao Guang Yang Hui): Che bớt cái hay cái giỏi của mình; cúi xuống, chớ cái ngoi đầu lên. Mua một cái hàng không mẫu hạm cũ về, nói sửa chữa để làm tàu giải trí, sòng bài, rồi bỗng làm lễ hạ thủy, cho dân chúng kéo tới xem như xem hội, hoan nghênh chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của nước mình. Một hàng không mẫu hạm mà không có những tàu chiến đi theo bảo vệ, không có một đội tàu tiếp liệu, chưa bao giờ thao diễn như một hạm đội, nếu đụng trận chỉ làm mục tiêu cho máy bay địch oanh kích, như vậy mà diễu võ dương oai để làm gì? Chỉ có thể giải thích là họ cần kích thích tự ái dân tộc của một tỷ dân, để đám dân này quên cảnh tham nhũng, bất công xã hội, và không được tự do. Chính nỗi sợ ngọn núi lửa sẵn sàng bùng nổ ở bên trong khiến cho giới lãnh đạo cộng sản ở Bắc Kinh hung hăng đối với bên ngoài.

Nhưng khi tỏ ra lo sợ về những đe dọa tưởng tượng từ bên ngoài, họ càng cho thấy là họ đang sợ, vì bản thân còn yếu quá.

Vụ công ty Ấn Ðộ ONGC Videsh không sợ dọa nạt cứ tiếp tục tìm dầu đã kích thích nỗi sợ hãi của Bắc Kinh. Lần đầu tiên, miếng võ đe dọa của họ mất hiệu lực. Tại sao các công ty Chevron nhượng bộ ngay mà Videsh không sợ? Chắc vì quyền lợi của Chevron ở Trung Quốc lớn quá, họ không muốn gây chuyện làm hỏng việc làm ăn. Chính phủ Mỹ cũng hùa theo, tuyên bố chính sách không can dự vào những hòn đảo trong vùng biển đang tranh chấp. Còn Videsh chắc không có quyền lợi nào đáng kể mà lo bị mất. Vì thế chính phủ Ấn Ðộ mới làm cứng. Và Bắc Kinh hoảng sợ. Cuối Tháng Mười này sẽ có cuộc họp (lần thứ 15) giữa hai nước để bàn về các tranh chấp biên giới; không biết Bắc Kinh sẽ nhượng bộ gì để đổi lại Ấn Ðộ ngưng tìm dầu trong vùng biển Việt Nam hay không? Một lần nữa, trong việc ngoại giao không có nước nào là bạn, cũng không coi ai là kẻ thù. Tất cả hoàn toàn đặt trên quyền lợi quốc gia. Mai mốt, nếu công ty Videsh thành công, bắt đầu khai thác dầu ở ngoài khơi Việt Nam, các công ty quốc tế khác sẽ cứ theo tiền lệ đó mà làm! Ở Na Uy, Mexico, Venezuella, thiếu gì những công ty dầu khí không bị ràng buộc quyền lợi với Trung Quốc; ngăn cản họ làm sao được?

Nhưng nguyên nhân gây ra nỗi sợ của Bắc Kinh trong vụ công ty Videsh bướng bỉnh không phải vì họ lo sẽ có chiến tranh với Ấn Ðộ. Mặc dù Ấn Ðộ mới đồng ý bán cả hỏa tiễn cho Việt Nam, chọc tức Bắc Kinh hơn nữa. Hai nước đã đánh nhau nhiều lần về chuyện biên giới, bao nhiêu năm nay rồi. Không bên nào chịu thỏa hiệp ký một “hiệp ước cưa đôi” nhanh chóng như chính quyền Việt Nam. Hai nước cùng đang coi phát triển kinh tế là ưu tiên số một. Trung Quốc cần giữ một bộ mặt hòa bình để còn đi làm ăn nơi khác! Vả lại trong thế giới này khó xảy ra chiến tranh lắm. Thế nào cả thế giới chung quanh cũng nhảy vào can gián để khỏi bị cháy thành vạ lây.

Nỗi sợ của Trung Quốc chính là vì lo thế giới sẽ nhảy vào can gián. Muốn can gián Ấn Ðộ và Trung Quốc trong vụ tìm dầu này, mọi người sẽ phải đặt câu hỏi quần đảo Hoàng Sa thực ra thuộc nước nào? Khi đó, Trung Quốc biết họ sẽ đuối lý. Cuộc tấn công cướp Hoàng Sa năm 1974 mới xảy ra hơn một phần tư thế kỷ. Tại sao anh phải đem súng tới giết người ta để chiếm những đảo này? Có những chiến sĩ Hải quân Việt Nam còn sống sẽ ra làm chứng họ bị bắn, họ bị bắt rồi được trả như tù binh ra sao. Cuối cùng, một vụ tranh chấp chủ quyền sẽ được đề nghị đưa cho một hội đồng hòa giải hay một phiên tòa quốc tế phân xử. Khi đó, các chứng cớ rằng Việt Nam là chủ nhân của quần đảo Hoàng Sa hiển nhiên quá, Bắc Kinh không thể nào cãi lại được!

Trong lúc này Trung Quốc đang có nhiều mối lo ngoại giao, không mong bị thêm rắc rối. Chính phủ Obama vẫn cứ bán thêm máy bay cho Ðài Loan, mặc dù Bắc Kinh phản đối. Thượng Viện Mỹ đang làm một dự luật “trừng phạt kinh tế” Trung Quốc với tội cố ý giữ đồng tiền nước họ thấp quá so với Mỹ kim để có lợi bán hàng sang Mỹ rẻ. Năm tới dân Mỹ sắp bỏ phiếu, cả Quốc Hội lẫn ông tổng thống đều muốn tỏ ra cứng rắn để mong kiếm lá phiếu của dân! Ðúng lúc đó thì công ty Videsh và chính quyền Ấn Ðộ lại gây thêm chuyện, không chịu làm “láng giềng hữu nghị, hảo hảo hảo hảo (4 chữ Tốt)! Ðó là một mối lo khiến Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì (Yang Jiechi) mới gặp Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh bên cạnh phiên họp ở Liên Hiệp Quốc để rủ nhau hợp ca bài 16 chữ vàng! Trước khi đi New York chắc ông Ðới Bỉnh Quốc đã căn dặn: Nếu năn nỉ Ấn Ðộ không được, thử bảo Việt Nam xem nó có chịu nghe hay không?
huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »

Mỹ tỏ ra lo lắng hơn là vui mừng trước kịch bản
ông Putin quay lại làm Tổng thống Nga trong thời gian tới.


Image

Mỹ thích ông Medvedev lãnh đạo nước Nga hơn là ông Putin.
Việc ông Vladimir Putin có khả năng trở lại giữ chức tổng thống Nga vào năm 2012 có thể sẽ gây khó dễ cho nỗ lực thúc đẩy các hiệp định về kiểm soát vũ khí và thương mại của chính quyền Obama, đồng thời, khiến các nhà hoạch định chính sách và nhà lập pháp Mỹ thêm ngờ vực về ý định và định hướng của nước Nga.

Sau khi 2 bên đạt được thỏa thuận về một hiệp ước giảm vũ khí hạt nhân quan trọng vào năm 2010, những cuộc đàm phán về các bước cắt giảm kho vũ khí đầu đạn hạt nhân chiến thuật của Moscow và hệ thống phòng thủ tên lửa mới cho các thành viên của Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã bất thành. Đây là 2 nội dung mà ông Putin đã nhiều lần bác bỏ không khai.

Ông Putin đã tuyên bố ra tranh cử tổng thống tại Đại hội Đảng nước Nga thống nhất (UR) ngày 24/9 vừa qua và gần như chắc chắn sẽ giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử vào tháng 3/2012.

Dự kiến, việc ông Putin làm tổng thống 2 nhiệm kỳ, tức 12 năm. Giới chính trị Mỹ gọi đây sẽ là thời kỳ khiến nước Nga dần trờ thành “nhà nước cảnh sát”.

Tổng thống B. Obama đã tạo dựng đuợc mối quan hệ làm việc chặt chẽ với Tổng thống Nga Dmitry Medvedev. Theo điện mật của Bộ Ngoại giao Mỹ được WikiLeaks công bố, Washington hy vọng Tổng thống đương nhiệm Medvedev sẽ trở thành một đối trọng với kiểu nhà nước do ông Putin điều hành.

Nhà Trắng đã tìm cách giảm nhẹ những tác động từ sự trở lại của Putin và sự “điều chỉnh” trong mối quan hệ với Moscow của Tổng thống Obama. “Đây là sự điều chỉnh về lợi ích quốc gia chứ không phải vì tính cách cá nhân”, ông Tommy Vietor, phát ngôn viên Hội đồng An ninh Quốc gia của Nhà Trắng, cho biết.

Các nhà lập pháp Mỹ đặc biệt thận trọng với ông Putin và có thể làm khó dễ cho những nỗ lực theo đuổi các hiệp định kiểm soát vũ khí và thương mại với Nga của chính quyền Obama.

Trong khi ông Medvedev ủng hộ Nga gia nhập WTO thì ông Putin lại công khai tỏ vẻ ngờ vực về giá trị của việc gia nhập WTO. Ngược lại, ông Putin lại muốn bảo hộ nhiều hơn và xây dựng một khối thương mại của các nước SNG.

Ông Obama lập luận với Quốc hội là sự “điều chỉnh” quan hệ với Nga nằm trong lợi ích Mỹ. Có một số động thái thể hiện sự ấm lên trong quan hệ khi Nga đã có một số áp lực với Iran về việc từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân, cho phép Mỹ chở vật tư quân sự qua Nga tới Afghanistan.

Tháng 12/2010, Thượng viện Mỹ đã phê chuẩn hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân với Nga. Tuy vậy, các cuộc đàm phán về việc tiếp tục cắt giảm hơn nữa đã thất bại.

Có lẽ chủ đề nhạy cảm nhất giữa hai nước vẫn là hệ thống phòng thủ tên lửa mà Mỹ hậu thuẫn cho đồng minh NATO để chống lại sự đe dọa của tên lửa đạn đạo từ Iran. Trong khi đó, theo Nga, hệ thống đó sẽ làm suy giảm khả năng răn đe hạt nhân của nước này.

Phát ngôn viên của thủ tướng Putin, Dmitry Peskov cho rằng sự va chạm về vấn đề phòng thủ tên lửa là một thử nghiệm quan trọng về sự nghiêm túc của ông Obama trong việc điều chỉnh các mối quan hệ. “Chúng ta cần thể hiện sự điều chỉnh này bằng những bước đi cụ thể, chứ không phải bằng lời nói”.

Hai bên thừa nhận chưa thúc đẩy được một thỏa thuận giúp làm giảm mối lo ngại của Moscow. Nga đã đề xuất phối hợp với NATO để xây dựng một cơ cấu chỉ huy và kiểm soát chung trong hệ thống phòng thủ tên lửa. Mỹ bác bỏ ý tưởng này, cho rằng nên xây dựng các hệ thống riêng biệt thay vì “phối hợp”.

Việt Thành (theo WSJ)
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

NGÀY QUỐC TẾ BẤT BẠO ĐỘNG « 2 THÁNG 10 »

Trần Đức Tường

Image
Tác phẩm điêu khắc "Bất Bạo Động" của Fredrik Reutersward, được dựng trước Trục Sở Liên Hiệp Quốc. Ảnh LHQ.
« Bất bạo động là sức mạnh lớn nhất trong tầm tay nhân loại. Nó còn mạnh hơn vũ khí có sức tàn phá lớn nhất do con người có thể phát minh ra được » (Mahatma Gandhi)

Hình như con người đã không rút ra được bài học nào từ thượng cổ đến giờ về những hậu quả tai hại của bạo lực, của chiến tranh. Thế kỷ 20 với hai cuộc thế chiến cộng với hàng trăm, hàng ngàn những cuộc chiến tranh lớn nhỏ, đã giết hại hàng trăm triệu con người ; tàn phá biết bao công trình xây dựng, biết bao thành phố làng mạc. Những tưởng bước sang thế kỷ 21, đi vào thiên kỷ thứ ba, sau khi các chủ nghĩa độc tài sụp đổ, con người sẽ được sống trong an bình, hạnh phúc. Nhưng khốn thay, bạo lực vẫn tồn tại. Nó đã xuất hiện dưới nhiều hình thức. Bạo lực đã diễn ra tại nhiều nước, chính quyền áp dụng chính sách độc tài, đảng trị, khủng bố đàn áp nhân dân. Một số tổ chức tôn giáo quá khích đã sử dụng bạo lực bằng cách ôm bom giết hại người khác. Đòn khủng bố ghê tởm nhất diễn ra vào ngày 11/9/2001 khi bọn không tặc đả dùng phi cơ chở đầy hành khách lao vào tòa tháp đôi World Trade Center và Ngũ Giác Đài. Kể từ ngày đó bạo lực chiến tranh, bạo lực khủng bố diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới.
Tất cả các dân tộc trên thế giới đều đã chán ghét chiến tranh và nguyện vọng sống trong thế giới không bạo lực, không chiến tranh, con người được tôn trọng về nhân phẩm cũng như nhân quyền. Sáng kiến dùng một ngày trong năm làm ngày phi bạo lực khởi đầu từ một nhà ngoại giao người Ấn Độ làm việc tại trụ sở Liên Hiệp Quốc. Ông này đã giới thiệu dự án của mình với các vị đại diện của 140 quốc gia thành viên Liên Hệp Quốc và đã vận động đệ trình Đại Hội Đồng. Dự án của ông đã được Đại Hội Đồng LHQ biểu quyết thông qua dưới mã số Quyết Định A/RES/61/271, ngày 15/6/2007 nhằm mục đích gửi đi toàn thế giới thông điệp bất bạo động bằng những hành động giáo dục và vận động ; lấy ngày sinh nhật của ông Mahatma Gandhi, nhà lãnh tụ danh tiếng đã giành độc lập cho Ấn Độ bằng đường lối bất bạo động, 2/10 hàng năm là ngày Quốc Tế Bất Bạo Động. Bản Quyết định của LHQ cũng khẳng định là nguyên tắc bất bạo động phù hợp với mọi tình huống trên thế giới và mong muốn cổ động cho « một nền văn hóa hòa bình, dung nạp, thông cảm và phi bạo lực »
Image
Giáo dân THÁI HÀ bất bình trước phiên phúc thẩm

Trong quá khứ, nhất là trong cuộc chiến tranh Việt Nam diễn ra ở giữa thế kỷ trước, người ta thường hiểu sai lệch về ý nghĩa của « bất bạo động ». Tư tưởng này thường được dồng hóa với thái độ « chủ hòa », « phản chiến » hay tệ hơn nữa là « đầu hàng » trước kẻ địch. Người ta thường kể tên ông Gandhi và cũng có người gắn được tên ông với nhóm chữ « bất bạo động ». Nhưng, thực chất, ít ai biết về chính trị gia này đã có những tư tưởng triết lý lấy yếu thắng mạnh, lấy tĩnh chế động và áp dụng cho một chiến lược đấu tranh giải phóng đất nước Ấn Độ thoát ách đô hộ của vương quốc Anh. Lấy nguyên tắc bất bạo động để lập nên chiến lược, đánh thắng binh hùng tướng mạnh của quân đội Anh. Đó là sự kỳ diệu của Mahatma Gandhi. Xin kể ra đây một vài câu nói bất hủ của ông : « Tôi không thể đánh anh mà tôi không bị thương » ; « Mắt trả mắt, răng trả răng, thiên hạ sẽ mù hết » ; « Sức mạnh không đến từ bắp thịt mà đến từ ý chí kiên cường »…

Vậy « bất bạo động » là gì ? Theo giáo sư Gene Sharp, nguyên tắc bất bạo động hay còn gọi là « kháng cự bất bạo động » không dùng bạo lực để tạo ra những thay đổi xã hội hay chính trị ; hình thức đấu tranh này đã được áp dụng bởi nhiều dân tộc trên khắp thế giới trong khuôn khổ nhữg chiến dịch đấu tranh cho công bằng xã hội. Ông viết : « Đấu tranh bất bạo động là một kỹ thuật nhờ đó mà những ai muốn rũ bỏ sự thụ động, sự thần phục, và coi việc đấu tranh là phải làm, có thể lâm trận mà không cần dùng đến bạo lực. Đấu tranh bất bạo động không chủ trương né tránh hay không biết đến những tranh chấp ».
Một trong những điểm then chốt của lý thuyết bất bạo động là quyền lực của bọn lãnh đạo độc tài tùy thuộc vào sự chịu đựng, chấp nhận của người dân. Vì vậy đấu tranh bất bạo động nhằm vào việc giật sập chính quyền bằng cách từ chối với giới lãnh đạo sự chấp nhận cũng như lực vâng phục và hợp tác của quần chúng. Đại loại, có ba phương thức đấu tranh bất bạo động : Thứ nhất là phản đối và thuyết phục, kể cả tổ chức đình công và canh thức ; Thứ nhì là vận động quần chúng bất hợp tác ; Thứ ba là tiến hành những công tác đấu tranh bất bạo động như tổ chức các nút chặn đường giao thông hay những cuộc chiếm giữ các bất động sản…

Tư tuởng và nhất là phương thức đấu tranh bất bạo động quả là phương thức phổ quát của thời đại để người dân không có tấc sắt trong tay có thể đòi lại từ tay những chính quyền độc tài, độc ác. Muốn có Hòa Bình thì phải loại bỏ bạo lực. Nếu muốn có Công Lý, Công Bình xã hội thì phải bất bạo động. Biểu tượng của bất bạo động là một công trình điêu khắc của Karl Fredrik Reutersward, một khẩu súng ngắn giống như thật với nòng súng bị thắt nút dược dựng vĩnh viễn trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York.
Ngày Quốc Tế Bất Bạo Động năm nay, nhiều cộng đồng người tỵ nạn trên thế giới đã tổ chức lễ cầu nguyện cho những người đấu tranh bất bạo động đang bị bắt giam tại các nhà tù trên thế giới và nhất là tại Việt Nam.
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Chết mẹ!

Quảng Trung Thiên
(Nguồn: DCVOnline)

Rất tiếc của nhưng toán đặc nhiệm Mỹ buộc lòng phải phá hủy chiếc máy bay trực thăng Hắc Ưng (Black Hawk)
bị trục trặc trong cuộc bố ráp Bin Laden tại Abbottabad, Pakistan.

Image
Phác thảo tượng đài “Mẹ Việt Nam anh hùng” với chi phí xây dựng 410 tỉ đồng Việt Nam. (Hình: VNExpress)

Tại sao họ không để lại đó rồi hôm sau đến sửa mang về? Họ sợ Pakistan sẽ bán xác chiếc máy bay này cho Trung Quốc! Trung Quốc sẵn sàng mua xác công nghệ kỹ thuật của Mỹ với giá cao.

Và cũng không phải rỗi hơi mà tờ Wall Street Journal số ra ngày 24 tháng 5, 2011 trong bài “Cuộc tấn công của Taliban phơi trần Pakistan” (Matthew Rosenberg, “Taliban Raid Exposes Pakistan”) tường thuật về cuộc tấn công của Taliban vào căn cứ hải quân của Pakistan, đã đặt nghi vấn khi biết có 11 kỹ sư Trung Quốc đang xớ rớ tại đó, họ đang làm gì ở đó? Họ làm gì mặc xác việc gì báo chí Mỹ phải xen vào? Báo chí Mỹ phải xen vào vì chiếc máy bay thám thính và chống tàu ngầm P-3C Orion vừa mua của Mỹ bị thiêu rụi, họ nghi ngờ vì có thể ruột chiếc máy bay đã được mang về Trung Quốc còn phần vỏ thì nhờ tay phiến quân Taliban giúp giùm!

Và cũng theo thông tấn xã AP vào ngày 18 tháng 9, 2011 trong bản tin “Quân Pakistan tấn công Taliban giành xác phi cơ không người lái của Mỹ” (Ishtiaq Mahsud, “Pakistan troops battle Taliban for US drone debris”). Ngay tựa đề đã thấy cái xác phi cơ không người lái của Mỹ rất là có giá. Chỉ có cái xác máy bay mà cũng phải giành giật? Vì đó là công nghệ kỹ thuật cao, nên có người như Trung Quốc sẵn sàng ra giá cao để mua lấy xác! Không những thế Trung Quốc còn hù dọa các nước láng giềng bằng cách mua con tàu ve chai Gerand của Ukraina về chế thành hàng không mẫu hạm. Trong khi các hàng không mẫu hạm của các nước tiên tiến thì chạy bằng năng lượng nguyên tử thì hàng không mẫu hạm Trung Quốc chạy bằng... diesel, nhưng không sao miễn là hèn nhát như quân đội nhân dân Việt Nam thấy sợ là được!

Nhưng đó là chuyện của Trung Quốc đâu có liên quan gì đến Việt Nam? Có chớ! Vì Việt Nam là thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc nên cái gì Trung Quốc làm thì chính phủ Việt Nam rắp tâm bắt chước theo, cũng tập tành mua... xác! Không cần phải đi đâu xa cho tốn tiền mệt xác, chính phủ Việt Nam cũng mua... xác công nghệ cao từ Trung Quốc. Miễn là công nghệ cao thì cũng tốt chứ sao? Không, đó đơn thuần chỉ là những cái xác, từng đoàn lao động phổ thông từ Trung Quốc tràn ngập Việt Nam và cạnh tranh với đám thợ hồ tụi tui gay gắt. Và từng đoàn cán bộ từ sở, ban ngành đến trung ương của Việt Nam đều sang chầu chực Trung Quốc để rồi rinh về mớ xác phế thải, từ nhà máy đến... tàu cao tốc. Ðể rồi đến chín mươi phần trăm công trình trọng yếu của quốc gia đều là từ Trung Quốc. Khoan nói đến an ninh quốc phòng, chỉ nghe đến chất lượng Trung Quốc đã thấy kinh!

Khi những cái xác phế thải từ Trung Quốc không đủ đáp ứng nhu cầu tham nhũng, thì những người cộng sản Việt Nam quay ra bươi lại những cái xác của chiến tranh để kiếm tiền tư túi. Khi những nước lân bang như Nam Hàn, Singapore, Mã Lai... đã ra khỏi chiến tranh và trở thành cường quốc thì Việt Nam, tuy chiến tranh đã trôi qua được 36 năm, nhưng vẫn còn ngập ngụa trong những cái xác phế thải. Chính vì ngập chìm trong bóng ma chiến tranh, vương vấn với hào quang chiến thắng nên người cộng sản Việt Nam đã cho mình ở vào đỉnh cao của trí tuệ của loài... vật. Khi những quốc gia lân cận vươn tới đỉnh cao của công nghệ kỹ thuật, như Nhật, Nam Hàn, Singapore... thì Việt Nam cũng phát triển được công nghệ... mãi dâm và ăn được cả bê tông cốt thép!

Không đâu như Việt Nam, công nghệ “ăn nhậu” và “bia ôm” đã lan tràn đến hang cùng ngõ hẻm. Những người cộng sản Việt Nam khi đã no say thì họ bổng giật mình nhớ ra là mình cũng còn có... mẹ. Ừ thì “những người mẹ này đã dũng cảm... điên khùng bóp mũi con mình cho chết để che giấu cán bộ cộng sản nằm vùng, để rồi đám du côn này khi thành công lại bóp miệng bà mẹ già nua, cô đơn nghèo khó, đã cắc củm nuôi mình năm xưa, quăng ra đường để chiếm lấy miếng đất hương hỏa của họ mà làm sân gôn (golf) hay xây biệt thự” như ông đã viết. Không, đó là những bà mẹ còn sống, tui chỉ nói là họ nhớ ra những bà mẹ... đã chết! Ðám quan chức mừng rơn khi... mẹ chết! Vì có cớ làm một đám tang linh đình để khai thác tận thu tiền phúng điếu. Nếu đám quan chức này không... chết mẹ thì sao? Thì bươi đại một cái xác của bà nào đó, chết trong chiến tranh, sơn phết, tân trang, bóp nặn ca tụng thành mẹ rồi dựng tượng đài để mà lấy tiền.

Theo báo Người Lao Ðộng số ra ngày 20 tháng 9, 2011, “Xây tượng đài 410 tỉ đồng” của Ngân Hoa, thì tỉnh Quảng Nam “nâng tổng số tiền đầu tư từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh lên hơn 410 tỉ đồng” để xây tượng đài một bà mẹ! Không cần phải bàn nếu họ dựng lại cái xác bà nhà quê bằng tiền túi của họ, nhưng đằng này họ lấy tiền thuế của dân để xây dựng công trình, để rồi tiền “lại quả” chạy vào túi riêng của họ. Nhẩm tính theo thời giá hiện nay số tiền “lại quả” là ba mươi phần trăm của tổng vốn công trình cho chủ đầu tư, thì phần “lại quả” của 410 tỷ không phải là nhỏ. Cho dù ít hay nhiều thì hành động ăn trên xác người đều đáng lên án. Càng đáng lên án khi các bà mẹ quê còn sống đang tần tảo vất vả mang từng túm rau, bó cải ra chợ để đổi chác được mươi ngàn để đóng học phí và nuôi con ăn học. Những đứa con bữa đói bữa no nhưng vẫn cố gắng ôm cặp đến trường để tìm kiến thức và Chủ Nhật hàng tuần vẫn xuống đường biểu tình để bảo vệ tổ quốc. Ở Quảng Nam vẫn còn có những đứa con không có tiền để đóng học phí đại học. Ngược lại, đám quan chức vẫn ăn chơi hoang đàng xa xỉ, bòn rút người nghèo, dập vùi những bà mẹ còn sống, bươi xác những người đã chết để lấy tiền bỏ vào túi riêng.

Một tỉnh nghèo như Quảng Nam, hàng năm từng đoàn người lũ lượt kéo nhau ra đi khắp bốn phương làm thợ hồ, thợ may trong đó có... tui, để kiếm sống và nuôi những người thân còn ở lại. Một tỉnh không đủ việc làm cho dân, quanh năm chỉ quanh quẩn với giày da, suốt tháng chỉ biết may mặc, tất cả chỉ đều công việc gia công với đồng lương chết đói. Còn những người nông dân thì chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, bám với mẫu ruộng cằn cỗi với “công nghệ” của ngàn năm về trước, con trâu đi trước cái cày theo sau, và chạy ăn ngày ba bữa. Nhưng chính quyền cấp tỉnh mặc kệ, vẫn cứ chơi sang và chơi... ngu, tiêu tiền của dân vô tội vạ.

Không chỉ riêng với một tỉnh Quảng Nam, các tỉnh thành khác cũng làm tương tự. Lên đến cấp quốc gia thì chính phủ Việt Nam sẵn sàng phung phí tiền dân như Vinashin và sắp tới đây sẽ là tàu cao tốc với công nghệ Trung Quốc. Một chính quyền chỉ biết đàn áp dân, cướp của dân và sống bám vào dân. Chính quyền cộng sản đã thành giống ký sinh trùng đục khoét, vơ vét trên tấm thân còm cõi mẹ Việt Nam. Với chính quyền thiểu năng trí tuệ như vậy sẽ dẫn con thuyền Việt Nam trôi dạt về đâu? Thì về Trung Nam Hải chớ đâu nữa. Chết mẹ!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

[center]Bản chất đố kị tôn giáo của chế độ CSVN

Trần Đức Tường[/center]
Như thường lệ hai năm một lần, hôm 23/9/2011 vừa qua Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố một bản Phúc Trình về Tự Do Tôn Giáo trên thế giới. Bản phúc trình này dựa trên những dữ kiện điều tra, theo dõi về chính sách tôn giáo và những vi phạm quyền tự do tôn giáo tại 198 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới do Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ, USCIRF đệ trình và đề nghị.


Phúc Trình Tự Do Tôn Giáo Của Hoa Kỳ


Năm nay, Ủy Ban này đã đề nghị với hành pháp Hoa Kỳ liệt kê một số quốc gia có chính sách vi phạm trầm trọng quyền tự do tín ngưỡng cần phải quan tâm đặc biệt, trong đó có 8 quốc gia đã nằm trong danh sách đen CPC từ những lần điều tra trước đây là Miến Điện, Trung Quốc, Eritrea, Iran, Bắc Triều Tiên, Ả Rập Saudi, Sudan và Uzbekistan. Nhưng ngoài những nước này Ủy Ban còn đề nghị thêm 10 quốc gia còn có nhiều vi phạm hay thiếu sót về tôn trọng tự do tôn giáo. Đó là: Afghanistan, Ai Cập, Irak, Nigeria, Pakistan, Nga, Tajikistan, Turkmenistan, Venezuela và Việt Nam. Thực chất, sau khi khai thác bản báo cáo của Ủy Ban, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mới là cơ quan quyết định ghi vô hay lấy ra khỏi danh sách CPC các quốc gia do Ủy Ban đề nghị. Cũng nên biết là Việt Nam đã từng bị nằm trong danh sách CPC hồi năm 2004 và tuy trong những lần điều tra kế tiếp Ủy Ban đã đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách này, nhưng vì nhiều lý do kinh tế, chính trị khác chính quyền Hoa Kỳ vẫn chưa chấp thuận.

[center]Image[/center]



Liên quan đến Việt Nam, bản phúc trình đã dành 20 trang để nêu lên những nhận xét tích cực cũng như tiêu cực về hiện tình thực tế của các tôn giáo tại nước ta. Tựu trung lại thì những điểm tiêu cực vẫn nhiều và nặng hơn những điểm tích cực. Điều đáng chú ý là bản phúc trình đã đưa ra những bằng chứng cụ thể về các vi phạm nhân quyền trong lãnh vực tôn giáo do chế độ CSVN là thủ phạm đối với tất cả các tôn giáo tại nước ta.

Trước những bằng chứng quá hiển nhiên do các tôn giáo cung cấp, do các quan sát viên của những tổ chức phi chính phủ ghi nhận, do những phóng viên quốc tế chứng kiến và nhất là do chính những nạn nhân và người trong cuộc khiếu kiện hay thông tin trên các trang mạng thế giới, nhà cầm quyền CSVN không thể nào chối cãi các sự việc vi phạm tự do tôn giáo. Họ chỉ còn có một luận điệu cũ rích mà lần nào bị thế giới tố cáo, chỉ trích về chà đạp nhân quyền là lại mang ra đối đáp với các phóng viên nước ngoài. Ai nấy đều phát ngấy vì họ đoán trước được câu trả lời của bao đời phát ngôn nhân. Lần này người phát ngôn mới được bổ nhậm đã lập lại: “Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được quy định rõ trong Hiến pháp, được tôn trọng và được bảo đảm trên thực tế. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận… Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho giai đoạn từ tháng 7/2010 đến tháng 12/2010, mặc dù đã ghi nhận những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này, vẫn tiếp tục đưa ra những đánh giá không khách quan, trích dẫn những thông tin sai lệch về Việt Nam“.

Ai cũng biết bản Hiến Pháp của nước Việt Nam hiện nay được viết khá giống với những nước dân chủ tiến bộ, nghĩa là đầy đủ các giá trị nhân quyền mà cả nhân loại đã coi là đương nhiên. Tuy nhiên, trong khâu áp dụng thì nhà nước không những không tôn trọng các điều khoản của Hiến Pháp mà còn lập ra luật, ban hành các chỉ thị, và cho nhân viên các cấp thường xuyên làm ngược lại những điều khoản trong Hiến Pháp. Ngay trong bản Phúc Trình Về Tự Do Tôn Giáo, Hoa Kỳ cũng biết rõ chuyện này khi họ viết “Hiến Pháp và các bộ luật cũng như những chính sách khác bảo vệ quyền tự do tôn giáo, nhưng trong thực tế, chính quyền quản lý và trong nhiều trường hợp hạn chế tự do tôn giáo. Thường thường chính quyền tôn trọng tự do tôn giáo đối với hầu hết các nhóm tôn giáo có đăng ký (được công nhận), tuy nhiên, đối với những cộng đồng không được công nhận ngay cả những cộng đồng được công nhận vẫn bị đàn áp“.

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng tường trình: “Bà ngoại trưởng Clinton, trong các cuộc hội đàm với những quan chức chính quyền, đã kêu gọi phải không ngừng có những tiến bộ về tự do tôn giáo. Những quan chức khác của Bộ Ngoại Giao cũng đã nêu vấn đề tự do tôn giáo trong những cuộc gặp gỡ với những giới chức trong chính quyền trong năm qua“.


[center]Image
Tù nhân linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý[/center]


Những lý do chính thức được nhà cầm quyền CSVN nêu ra để làm ngược lại những điều quy định trong hiến pháp liên quan đến tự do tôn giáo là vấn đề “an ninh, ổn định” và “phá hoại tình đoàn kết dân tộc”. Trong khuôn khổ này, họ biện hộ cho những hành động đàn áp bằng cách vu khống cho các tôn giáo là có hoạt động chính trị, có quan hệ với những “thế lực thù địch” nước ngoài; hoặc gây chia rẽ tôn giáo, gây hiềm khích, vv…

Điều đáng chú ý nữa được bản Phúc Trình của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ghi nhận là “Những điều ghi trong Hiến Pháp về tự do tôn giáo đã không được diễn dịch một cách thống nhất ở khắp mọi nơi. Sự lừng khừng của chính quyền và cách làm việc thơ lại rùa bò đã hạn chế tự do tôn giáo của dân“.

Khi người phát ngôn CSVN được chỉ thị đưa ra lời tuyên bố trên đây, nói rằng tự do tôn giáo có ghi trong Hiến Pháp, thì thế giới biết ngay nhà nước Trung Ương đang dọn chỗ để có thể đổ lỗi cho cán bộ địa phương làm sai. Nhưng thực chất, những hành động vi hiến, chà đạp tự do tôn giáo xuất phát từ bản chất CSVN và từ lãnh đạo trung ương. Các bài bản đối phó với tôn giáo đi từ Trung Ương xuống đến các địa phương trên cả nước theo 3 hệ thống cán bộ đặc trách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, và Mặt trận tổ quốc. Bản phúc trình còn ghi rõ thái độ: “Trong nhiều trường hợp, quan chức chính quyền địa phương đã nói với các vị lãnh đạo tôn giáo rằng luật pháp quốc gia KHÔNG áp dụng trong địa giới của họ“.

Trong lời tuyên bố phản bác bản phúc trình, người phát ngôn Lương Thanh Nghị còn khẳng định là Hoa Kỳ đã “đánh giá không khách quan, trích dẫn những thông tin sai lệch về Việt Nam“. Vậy câu hỏi được đặt ra là đánh giá và thông tin về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam của các quan sát viên quốc tế đang hiện diện ở nước ta có sai lệch không? Câu trả lời gần nhất có thể tìm thấy trong chuyến kinh lý mục vụ giáo phận Kontum vừa qua của Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, Đại Diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam.



Đại Diện Tòa Thánh thăm viếng giáo phận Kontum

[center]Image[/center]
Trước khi nói về chuyến viếng thăm Việt Nam lần thứ 3 và cụ thể là tại giáo phận Kontum của Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli kể từ ngày 13/01/2011 là ngày ngài được Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI chỉ định làm Đại Diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam, thiết tưởng cũng nên tìm hiểu về chức vụ và vai trò của ngài.

[center]Image[/center]


Tòa Thánh Vatican đã thiết lập quan hệ cấp khâm sứ với Việt Nam từ đầu thế kỷ trước, chính xác là từ năm 1925. Tòa khâm sứ từ đó được đặt tại kinh đô Huế. Năm 1945 Huế không còn là kinh đô nữa nên tòa khâm sứ đã được chuyển ra Hà Nội năm 1950. Sau hiệp định Genève 1954, miền Bắc Việt Nam rơi vào tay Việt Minh và Đức Khâm Sứ cùng đoàn tùy tùng đã bị trục xuất ngày 15/9/1959. Cũng kể từ năm 1959 Tòa Thánh Rôma đã thiết lập tòa khâm sứ tại Sài Gòn. Sau ngày 30/4/1975, chính phủ lâm thời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã yêu cầu Khâm Sứ đương thời là Đức Cha Henri Lemaitre rời khỏi Việt Nam và đoạn giao với Tòa Thánh Vatican. Ngày 19/12/1975 Đức Cha Lemaitre rời Sài Gòn. Kể từ đó, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam bước vào thời kỳ đen tối nhất, bị bức hại, bị tước đoạt các cơ sở bác ái, tu hành, thờ phượng. Nhiều vị tu sĩ và giáo dân bị bắt đi giam cầm nhiều thập niên và nhiều người đã chết trong tù.

Vào cuối thập niên 80, chủ nghĩa cộng sản phá sản trên toàn thế giới. Một vài nước còn sót lại đã phải xoay chiều không còn dám lộng hành bất chấp quốc tế như trước đây nữa. Họ đã phải mở cửa, từ bỏ đấu tranh giai cấp, lạy lục các nước tư bản để mong được hội nhập nhằm sống còn. Giữa lúc nhân dân các nước cộng sản cũ đứng lên lật đổ độc tài đòi nhân quyền và tự do tôn giáo, CSVN cũng phải tìm cách lân la với Vatican tuy không phải là siêu cường kinh tế hay quân sự nhưng là siêu cường về tinh thần, tâm linh. Trong lúc đó, Vatican cũng có nỗ lực để cứu giúp đoàn chiên Việt Nam đã chịu bao nhiêu đắng cay trong hàng chục năm dưới chế độ độc tài thù hằn tôn giáo. Vì đôi bên cùng có nhu cầu mà Hà Nội đã vận động để được Đức Giáo Hoàng tiếp kiến, và kết quả của những cuộc đàm phán là Hà Nội đã chấp thuận sự hiện diện của một vị Đại Diện Đức Thánh Cha tại Việt Nam dù vị này chưa thường trú tại Việt Nam.

Vì giữa Vatican và Việt Nam hiện chưa thiết lập bang giao chính thức, nên Đức Tổng Giám Mục Girelli chưa phải là Khâm Sứ hay Sứ Thần Tòa Thánh tại Việt Nam. Nhưng với tư cách vị Đại Diện Đức Giáo Hoàng, ngài có hai nhiệm vụ song song: Thứ nhất là đẩy mạnh những quan hệ giữa hai quốc gia (Việt Nam và Vatican); thứ nhì là duy trì những mối liên lạc giữa Tòa Thánh với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Về mặt tôn giáo thì rõ ràng Đức Cha Đại Diện là người thay mặt Đức Giáo Hoàng và được sự kính mến của toàn thể giáo hội Công Giáo Việt Nam, đặc biệt trong 3 ngày kinh lý mục vụ giáo phận Kontum vừa qua. Để được gặp mặt ngài nhiều đồng bào thượng ở sâu trong rừng đã phải lội suối, băng đèo hơn 40 cây số. Có người đi xe máy, có người đi xe kéo nông cụ… Dọc đường ngài đi qua, hàng ngàn giáo dân đứng hai bên chào đón, có những đoàn cồng chiêng của anh em thượng hợp tấu dưới trời mưa tầm tã… Chính Đức Đại diện cũng không kìm nổi sự xúc động trước lòng yêu mến, hiếu thảo và trung thành của con cái giáo phận Kontum đối với Đức Thánh Cha mà ngài là Đại Diện. Như vậy đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam thì Đức Tổng giám Mục Leopoldo Girelli quả thật đã là Sứ Thần Tòa Thánh.



Thái Độ của Nhà Nước Đối Với Cuộc Viếng Thăm


Trên mặt ngoại giao, chuyến viếng thăm của Đức Đại Diện Tòa Thánh được đánh dấu bằng 2 cuộc tiếp xúc.


Ngày thứ nhì sau khi tới Kontum, sáng ngày 10/9, Đức Cha Girelli đã tới thăm xã giao UBND tỉnh Kontum. Tháp tùng ngài có Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám Mục giáo phận Kontum và một số linh mục chức sắc. Tiếp đón phái đoàn ngay từ tiền sảnh Hội Trường trụ sở UBND là ông Phó Chủ Tịch UBND tỉnh Kontum và một số quan chức tỉnh. Buổi tiếp xúc tuy ngắn ngủi khoảng chừng 15 phút, nhưng đã diễn ra trong tinh thần tương kính, lịch thiệp. Ông Phó chủ tịch đã cáo lỗi vì ông Chủ tịch bận công tác xuất ngoại và đã tặng Đức Cha Đại Diện Tòa Thánh một bức tranh Nhà Rông cao nguyên.

Sau nhiều lần hò hẹn, chiều hôm 10/9/2011, lúc 17giờ30 Đức TGM Leopoldo Girelli, Đại Diện Tòa Thánh cùng phái đoàn đã tới chào UBND tỉnh Gia Lai. Theo bản tin của Nhóm Truyền Thông Giáo Phận Kontum thì “Trước khi đến chào thăm Chính quyền tỉnh Gia Lai, Cha Tôma Nguyễn Văn Thượng nhận được nhiều cuộc điện thoại từ Mặt trận Tỉnh mời đoàn lên kịp giờ hẹn (5 giờ 30 chiều). Đoàn xe đi vào cổng chính và dừng ngay tiền sảnh của UBND Tỉnh Gia Lai, đúng 5 giờ 28 phút. Cửa nhà khách Tỉnh im lìm không mở, phái đoàn quay nhìn chung quanh thì thấy có một căn phòng ở trên kia tầng lầu có một căn phòng cửa bật đèn và có mấy người đứng chờ sẵn trên đó. Phái đoàn đã đi lên tầng lầu đó…“

Phái đoàn Tòa Thánh đã được ông Đào Xuân Liên, phó chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai cùng với khoảng 7 người khác tiếp kiến. Nội dung những lời phát biểu của ông Liên là một bài tuyên truyền về chính sách tôn giáo của CSVN và nhắn nhủ Đức TGM Đại Diện Tòa Thánh và Đức Cha Oanh phải dạy dỗ giáo dân sống “tốt đời đẹp đạo”. Chắc hẳn Đức Cha Girelli trong 3 lần tới thăm Việt Nam cũng nắm được tình hình tôn giáo tại Việt Nam và những vụ vi phạm tự do tôn giáo không những đối với Công Giáo và còn đối với Phật Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài, và các tôn giáo khác nữa. Vì vậy Đức TGM Leopoldo Girelli đã nêu thẳng với ông Đào Xuân Liên: “Tôi xin chúc cho chính quyền và nhân dân tỉnh Gia Lai được bình an và kinh tế phát triển phồn thịnh hơn trong tương lai, đồng thời xin chính quyền cũng quan tâm tới quyền của người dân và quyền tự do tôn giáo của họ. Xin chân thành cám ơn cho những thiện cảm và sự tích cực để có cuộc gặp gỡ này“. Tại điểm này, ông Đào Xuân Liên và UBND Gia Lai biết Đức TGM Girelli đã nắm rõ tình hình tôn giáo tại Gia Lai và trên cả nước. Họ im bặt. Theo nhóm Truyền Thông Giáo Phận thì đây là cuộc tiếp khách quốc tế gượng gạo và bất lịch sự nhất của UBND tỉnh Gia Lai.

Sau khi rời UBND Gia Lai, phái đoàn đã đến Trung Tâm Truyền Giáo Pleichuet do các cha Dòng Chúa Cứu Thế phụ trách để sinh hoạt, cầu nguyện với giáo dân Jarai. Đức TGM Girelli dự trù sẽ nghỉ qua đêm tại nhà dòng Pleichuet để sáng sớm hôm sau dâng lễ trước khi khởi hành đi Ban Mê Thuột. Cay cú vì câu nhắc nhở ban chiều của TGM Girelli, lãnh đạo tỉnh Gia Lai “ra lệnh miệng” không cho Đức TGM nghỉ lại đêm tại nhà dòng mà phải quay trở về Kontum. Phái đoàn đành cùng anh chị em giáo dân Jarai đốt lửa trại, ca vũ trong niềm vui hy vọng và trở về Kontum.

Những tưởng như vậy thì ngày hôm sau buổi lễ đại trào tại Pleichuet sẽ bị bãi bỏ. Nhưng sau khi ngủ chưa đầy 4 tiếng qua đêm tại Kontum, phái đoàn đã trở lại đúng 5 giờ 30 trước cổng nhà thờ Pleichuet. Theo các phóng viên Truyền Thông, ngày 11 tháng 9 năm 2011 thật là một ngày đáng nhớ đời với anh chị em Jrai; từ rất sớm (3 giờ sáng) anh chị em Jrai tại các buôn làng đã lũ lượt kéo về Trung Tâm Truyền Giáo Pleichuet, ước tính lên đến gần 20 ngàn người.

Trong ba ngày thăm viếng của Đức Đại Diện Tòa Thánh tại giáo phận Kontum, lãnh đạo chính quyền CSVN thì thế, còn bên dưới họ ra lệnh cho công an tạo đủ loại chướng ngại. Bất cứ ở đâu có tổ chức lễ nghi với sự hiện diện của Đức Đại Diện thì các nẻo đường dẫn tới địa điểm hành lễ đều có bố trí đủ loại công an ngăn đường, xét hỏi, xách nhiễu. Đồng bào giáo dân đã phải băng rừng lội suối tránh các chốt chặn. Và khi khối lượng giáo dân lên cao như ở Pleichuet đến gần hai vạn người thì mọi người nhận ra ngay những tên lén lút quay phim, chụp hình để bắt nguội.

Trong thánh lễ sáng Chúa Nhật 11/9/2011, Đức Cha Đại Diện Tòa Thánh đã trích dẫn thông điệp của Đức Giáo Hoàng trong ngày truyền giáo: “Đặc biệt, tôi muốn nói đến các Giáo Hội địa phương và các vị thừa sai đang làm chứng nhân và mở mang Nước Chúa trong hoàn cảnh bị bách hại, đang bị đàn áp nhiều cách: từ tình trạng bị kỳ thị về mặt xã hội cho đến ngục tù, tra tấn và sát hại. Ngày nay vẫn còn không ít nhà thừa sai bị giết vì ‘Danh Chúa’“.


Thay lời kết


Nhìn thái độ đối xử này, người dân Tây Nguyên và người Việt nói chung không thể không lấy làm lạ. Rất lạ. Tiếp đón một đại diện ngoại giao từ nước khác đến thì các quan chức tại đây vô lễ và hùng hổ như thế. Nhưng đối với các toán công nhân Trung Quốc đang “làm việc” tại các tỉnh Tây Nguyên, dù ở cấp thấp nhất, thì từ các quan chức tỉnh đến các công an khu vực đều biểu lộ thái độ e dè, làm ngơ, né tránh, và thậm chí nể sợ.

Đó là “chính sách lớn” của Đảng?



Trần Đức Tường
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Khi ‘Lão Lý’ lắc đầu

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Ông Lý Quang Diệu là một nhân vật đặc biệt ở Châu Á. Ông được người dân nước ông coi là Cha đẻ của quốc gia Singapore độc lập và phồn vinh.

Image
Cựu Thủ Tướng Singapore Lý Quang Diệu. Hình chụp tại Tokyo ngày 26 tháng 5. (Hình: Toshifumi Katimura/AFP/Getty Images)

Tháng 9 này, sinh nhật lần thứ 88 của ông được kỷ niệm trên khắp nước kết hợp với kỷ niệm lần thứ 47 ngày lập quốc. Báo chí quốc tế lại có dịp ca ngợi đất nước nhỏ bé này là con mãnh hổ thần kỳ nhất trong 4 con hổ Châu Á gồm có Singapore, Hồng Kông, Ðài Loan và Nam Triều Tiên.

Năm 1965, tổng sản lượng của Singapore đạt gần 1 tỷ đôla, tính theo đầu người là 516 đôla/năm; năm 2010, 2 con số này đã vọt lên thành 223 tỷ và 44,000 đôla - có nghĩa là tổng sản lượng tăng hơn 200 lần và thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 80 lần so với 47 năm trước. Thật là một kỷ lục phi thường. Nhân dịp này báo chí Pháp, Anh nêu bật nếp sống thật sự giản dị, gương mẫu của ông Lý Quang Diệu - hay “Lão Lý”, theo cách gọi thân mật của người dân. Ông không đồng ý việc tạc tượng, trưng ảnh ông, đặt tên ông cho các công trình. Ông vẫn ở căn nhà nhỏ, đi xe hơi loại rẻ. Con trai ông, Lý Hiển Long, dù là thủ tướng đương nhiệm, và con gái ông, bác sỹ Lý Vĩnh Linh, cũng theo nếp sống như thế, không có biệt thự, nhà nghỉ riêng, không có xe cộ, trang sức gì khác người. Triết lý sống của cả gia đình ông là thế, không lập dị, không đua đòi, xem sự thanh bạch là một điều đương nhiên để được sống an vui, hạnh phúc. Ðiều quan trọng đối với ông là dân Singapore sống tốt, sống sạch, xã hội sạch, môi trường sạch, lương tâm sạch.

Nhân dịp này ông Lý Quang Diệu có một số ý kiến đáng chú ý. Ông cho rằng Trung Quốc dù phát triển liên tục nhưng chứa nhiều nguy cơ mang tính bi kịch, và rằng Ấn Ðộ là nước Châu Á gây ấn tượng mạnh nhất về chất lượng phát triển bền vững.

Về Singapore, “Lão Lý” nhân danh bộ trưởng - cố vấn cho chính phủ, tỏ ý vui mừng thấy lý tưởng của ông đã được nhà nước kiên trì thực hiện suốt gần 50 năm nay. Bài học lớn nhất, theo ông, là coi trọng giá trị của con người, đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng thái quá của đồng tiền trong chính trị. Ông hiểu sâu sắc đồng tiền vừa là nguồn hạnh phúc, vừa là động lực tha hóa xã hội. Lãnh đạo giỏi là người điều hòa được mối mâu thuẫn này.

Ông Lý cho rằng trong xây dựng guồng máy cai trị và cải cách hành chính của nhà nước, vấn đề trung tâm là tuyển mộ được nhân tài có chất lượng cao nhất - ông gọi là nhân tài loại 1, tức là những người vừa có chuyên môn cao vừa có lối sống trong sạch. Thấp hơn một bậc là nhân tài loại 2, tức là những người sẽ làm suy yếu đất nước nếu được nắm giữ các chức vụ cao. Nếu chỉ là nhân tài vào loại 3 hay loại 4, nghĩa là tài kém đức suy thì sẽ mang lại tai họa cho đất nước. Ông cho rằng người lãnh đạo phải kiên quyết cảnh giác với thế lực đồng tiền trong chính trị, và rằng tệ mua quan bán tước và nạn bè phái là 2 tai họa lớn nhất cho một chế độ.

Ông Lý Quang Diệu từng sang Việt Nam nhiều lần, theo lời mời của chính quyền Việt Nam. Ðó là chuyện của 15 năm trước, khi Việt Nam vừa được gia nhập WTO, mở ra một triển vọng lớn. Ông chân thành góp ý xây dựng, san sẻ kinh nghiệm quý. Nhưng ông đã nản lòng và thất vọng. Mấy năm nay ông lại càng thất vọng hơn. Trả lời báo The Straits Times của Singapore hồi năm ngoái, ông nói về Ấn Ðộ, về Ðài Loan, về Nam Triều Tiên; khi được hỏi về Việt Nam ông lắc đầu: “Nên quên đi, tôi đã nói hết với họ rồi, vô ích!”, rồi ông nói về Nhật Bản.

Nhớ lại, ông Lý từng tâm sự với nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt và các nhà báo Việt Nam về đề tài chống tham nhũng 15 năm trước. Ông nói rất giản dị: Hãy nâng lương cho viên chức đủ sống để không ai cần ăn cắp, luật pháp phải thật nghiêm để kẻ tham sợ không dám tham nhũng, đạo đức trong xã hội phải được truyền bá để mọi người khinh và hổ thẹn đối với tệ nạn xấu xa này.

Tóm lại là 3 không: Không cần, không dám, không nỡ.

Ông Lý kể chuyện đã tăng quỹ lương cho viên chức ra sao, trừng trị tệ “phong bì”, “đưa tiền dưới bàn ăn”, “huê hồng”, “tặng phẩm, biếu xén, quà cáp, sinh nhật”... ra sao, và nhân tài loại 1 là thế nào, có lương thiện, trong sáng mới thật sự tài giỏi có ích.

Ông Lý nản lòng, không muốn nhắc đến Việt Nam nữa vì ông biết lời ông đã như nước đổ đầu vịt. Giá như người ta nghe lời ông, quyết liệt diệt tham nhũng như đã hứa, thì 20% ngân sách hàng năm đã không bị xà xẻo, chia chác cho đám tham quan ô lại nhiều vô kể và hàng tỷ đôla đã không bị lãng phí vì bất tài và tham nhũng. Nếu 20% ấy được dành cho quỹ tiền lương - như ông Lý khuyên - thì cục diện kinh tế-chính trị-xã hội Việt Nam đã khác hẳn.

Trái ngược với lời khuyên răn trên, suốt 15 năm qua, quốc nạn tham nhũng ở nước ta trầm trọng thêm gấp bội, vì mọi người đều thấy cần phải tham nhũng, không tham nhũng không sống nổi; dám tham nhũng vì đã có ô, có lọng, có khe hở luật pháp để chạy án; và không ai còn biết xấu hổ khi ăn bẩn và đút lót vì mọi người đều tham gia, ta không ăn và đút là dại, là ngu đần, là thiệt. Trên ăn thì dưới cũng ăn, trên múc thì dưới cũng múc. Tôi ăn, anh ăn, chúng ta cùng ăn dù là ăn bẩn, thế là hòa. Trước cảnh này, có một người rất buồn, rất nản, đó là “Lão Lý” Singapore, người từng hy vọng làm một cố vấn tốt, có ích cho nước bạn.

Trong dịp mừng ông Lý Quang Diệu 88 tuổi, báo chí Ðông Nam Á lại có dịp nói về những nét đẹp của Singapore. Ở đây phố xá, vỉa hè công cộng sạch nhất thế giới. Ở đây nhà vệ sinh công cộng nhiều và cũng sạch nhất thế giới. Mọi nhân viên hành chính công cộng không những luôn luôn nhã nhặn, nở nụ cười mà còn tận tình đáp ứng quyền lợi người dân. Ði khắp nơi, hầu như không có chen lấn, khạc nhổ, móc túi, xin tiền. Con người tôn trọng yêu thương con người.

Singapore có thu nhập đầu người cao nhất Ðông Nam Á, 44,000 đôla/năm, gấp hơn 40 lần mỗi người dân Việt Nam hiện nay, ấy vậy mà họ vẫn nghe theo “Lão Lý”. Ðồng tiền là quý, là cần khi thu nhập chính đáng, nhưng phải luôn luôn cảnh giác; đồng tiền có thể tha hóa xã hội, tạo nên bất bình đẳng, cho nên cần luôn đặt giá trị con người và đạo lý làm người lên trên giá trị của đồng tiền. Từ đó đồng tiền sẽ là phương tiện, là công cụ quý của con người, phục vụ chứ không làm chủ con người. Chí lý thay!

Các bạn Singapore thường nói: “Chúng tôi quý ông già Lý, 'Lão Lý' của chúng tôi, vì ông không những là Cha đẻ của nước Singapore độc lập, ông còn là Kiến trúc sư của Singapore mới, phồn vinh, sạch sẽ từ trong ra ngoài, một xã hội hài hòa, ổn định, hòa bình, được bạn bè khắp nơi quý trọng, giữa một thế giới đang có nhiều hỗn loạn và khủng hoảng”.

Quả thật “Lão Lý” là Nhân tài số 1, trong số Nhân tài loại 1 thời hiện đại của nước Singapore mới. Nhân dân Singapore tinh đời và hạnh phúc thật.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Dân Vi Quý

Minh Văn

Trong thời đại văn minh hiện nay, chế độ dân chủ đã được xác lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới; và tư tưởng Dân Chủ không còn xa lạ với nhân loại: Đó là người dân có quyền làm chủ đất nước và tự quyết định vận mệnh của chính mình. Tiếc rằng ở nước ta thì không được như vậy, dù là tư tưởng tiến bộ đó đã có ở các nhà tư tưởng thời cổ đại.

Mạnh Tử, người đã tiếp tục và phát triển một cách xuất sắc học thuyết của Khổng Tử, có nói rằng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Câu ấy có nghĩa là: Dân làm quý, xã tắc là thứ, vua làm khinh. Chúng ta có thể thấy rõ tư tưởng trọng dân, đặt vị trí của người dân lên trên nhà vua của Mạnh Tử, khi ông cho rằng: Dân vi quý, quân vi khinh.

Quan điểm tư tưởng đó có bắt nguồn từ tư tưởng trọng dân, vì dân của Khổng Tử. Câu chuyện dưới đây sẽ minh chứng cho điều đó:

Khi Tử Cống xin Khổng Tử dạy bảo về đường lối trị quốc và quản lý, Khổng Tử đáp: “Túc thực, túc binh, dân tín chi hỹ”. Nghĩa là trước tiên phải có đầy đủ lương thực (yếu tố vật chất), thứ đến là phải có đầy đủ quân đội vũ khí và sự tín nhiệm của dân. Tử Cống lại hỏi: “Nếu trường hợp bất đắc dĩ mà phải bỏ một trong ba điều đó thì nên bỏ thứ nào?”. Khổng Tử đáp: “Bỏ binh”. Tử Cống hỏi tiếp: “Nếu như trong hai điều còn lại mà phải bỏ một thì bỏ thứ nào?”. Khổng Tử đáp: “Bỏ lương thực”. Khổng Tử cho rằng bỏ ăn thì chết song xưa nay ai cũng chết, nhưng không có lòng tin của dân chúng thì quốc gia không thể đứng vững và tồn tại lâu dài.

Đoạn đối thoại này của Khổng Tử đã nói với mọi người một cách rõ ràng rằng: So sánh “túc binh”, “túc thực”, và “dân tín” thì “dân tín” là quan trọng nhất. Trong những tình huống cấp thiết có thể có thể bỏ binh, bỏ lương thực, điều đó có thể làm cho quốc gia nảy sinh ra một số khó khăn nhất định về vật lực, tài lực nhưng không bao giờ được làm mất đi lòng tin của nhân dân. Tại sao “dân tín” lại quan trọng đến như vậy? Bởi vì “dân vô tín bất lập”. Không có sự tín nhiệm của dân chúng thì một quốc gia, một chế độ sẽ không tồn tại lâu dài được. Khi một chế độ mất đi lòng tin của dân chúng, thì cho dù vật chất có đầy đủ, quân đội vững mạnh thì đó cũng chỉ là một con hổ giấy mà thôi. Ngược lại, một chế độ thực sự vì dân và được sự tín nhiệm của dân thì dù trong hoàn cảnh khó khăn dân chúng vẫn tin theo để đưa đất nước vượt qua khó khăn đó.

Dân Tín là sự tín nhiệm của dân chúng đối với nhà nước và những người lãnh đạo. Tín nhiệm là chỉ sự tin tưởng tới mức dám phó thác. Nếu dân chúng mất đi tín nhiệm thì cũng có nghĩa là mất đi Dân Tâm. Lúc đó thì nhà nước có đưa ra những chính sách, quy định, pháp luật, chế độ tốt đến mấy thì dân chúng cũng không thèm để ý, không hy vọng. Như vậy nhân dân sẽ giữ thái độ bàng quan đối với những nhà nước không có tín nhiệm đối với dân.

Tín nhiệm sản sinh ra lòng tin và hy vọng, từ đó có thể liên kết và hòa hợp vận mệnh quốc gia với lợi ích của nhân dân. Ngược lại, không có sự tín nhiệm đối với nhà nước thì quần chúng không thể gắn bó với vận mệnh quốc gia được. Câu chuyện Thương Ưởng dựng cột gỗ để thay đổi biến pháp là một minh chứng tiêu biểu cho quan điểm này. Muốn thực hiện tốt đẹp công việc của quốc gia thì trước hết phải có được sự tín nhiệm của dân chúng.

Ấy vậy mà thời nay vẫn có những quốc gia không có tư tưởng trọng dân và làm cái việc ngược lại với những điều mà Khổng Tử và Mạnh Tử đã răn nói từ xưa.

Đảng cầm quyền ở nước ta chính đã và đang làm cái việc nghịch lý đó. Trong bối cảnh bức thiết là sự sụp đổ của hàng loạt các chế độ độc tài Cộng sản trên phạm vi toàn cầu, để cứu mình đảng Cộng sản đã làm ngược lại điều răn mà Khổng Tử đã dạy bảo kia. Đó là, thay vì “bỏ binh”, “bỏ lương thực” và giữ lại sự tín nhiệm của dân thì họ lại “bỏ tín nhiệm của dân”, “bỏ lương thực” và giữ lại binh quyền. Họ đã sẵn sàng vứt bỏ sự tín nhiệm của nhân dân để cứu lấy chế độ khi cấp bách. Họ có thể để cho dân đói khổ và thất nghiệp nhưng lại nuôi dưỡng lực lượng công an và quân đội để bảo vệ chế độ.

Từ lâu người dân đã mất hẳn niềm tin vào chế độ độc tài nhưng lại tự nhận là “nhà nước của dân, do dân, vì dân” này. Nhà nước chỉ quan tâm đến sự tồn vong của chế độ mà không bao giờ quan tâm đến sự tồn vong của đất nước và nhân dân. Đối với lãnh thổ thì biển đảo để cho ngoại bang xâm chiếm, đối với nhân dân thì sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi. Người dân vì thế mà sống trong sự hoang mang và mất đi niềm tin vào xã hội mà mình đang sống. Như vậy thì còn đâu tư tưởng “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” như người xưa đã dạy?

“Không có niềm tin của nhân dân thì quốc gia không thể tồn tại được lâu dài”, Khổng Tử đã dạy như vậy. Nhưng nay nhà nước vẫn luôn khinh rẽ nhân dân, chỉ khăng khăng dùng bạo lực và công an để bảo vệ sự ổn định chính trị. Một chế độ coi thường nhân dân như thế thì không thể nào tồn tại lâu dài được!

Minh Văn
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Mỹ tiết lộ việc nghiên cứu vũ khí kinh hoàng hơn bom nguyên tử (?)

Vệ tinh nghiên cứu phản vật chất.

Năm 1990, tại căn cứ không quân Glyn, Mỹ, Tiến sĩ Kenis Edward và các cộng sự trong nhóm nghiên cứu phát triển "cải cách vũ khí", Mỹ bắt đầu thực hiện công việc: Nghiên cứu vũ khí phản vật chất (VKPVC). Sau gần 20 năm tìm tòi, gần đây khi Edward tiết lộ loại vũ khí mới này có uy lực vượt xa bom nguyên tử - vài gram sẽ có thể hủy diệt trái đất, khiến người ta kinh ngạc và lo lắng.

Ba đại "Bí mật của thế kỷ"

Đầu năm 2009, trong cuộc họp với các quan chức cao cấp quân sự Lầu Năm Góc, giới thiệu về tiến triển nghiên cứu phát triển VKPVC, Edward nói: "Ba đại bí mật thế kỷ" đã kích thích những nghiên cứu của tôi".
Edward cho biết, "bí mật thế kỷ" đầu tiên và nổi tiếng nhất là vụ nổ Tungus, xảy ra sáng sớm ngày 30/6/1908, trong rừng rậm vùng Tungus, Siberia, Nga. Đây là một vụ nổ lớn chưa có tiền lệ trong lịch sử. Uy lực của nó tương đương với 1.000 quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima, Nhật Bản đồng thời nổ, khiến mọi vật và sự sống trong vùng nổ vài trăm kilômét vuông bị hủy diệt. Cho đến nay vẫn chưa ai giải thích được nguyên nhân của vụ nổ này.

Vụ thứ hai của "bí mật thế kỷ" xảy ra ngày 22/9/1979. Hôm đó, vệ tinh Mỹ đã chụp được ảnh một vụ "nổ hạt nhân" cực mạnh xảy ra ở bờ biển Tây Phi. Thời kỳ này chỉ có vài nước như Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp, Trung Quốc... có vũ khí hạt nhân, nguyên nhân nổ hạt nhân ở Tây Phi cho đến nay vẫn không rõ.

Lần thứ 3 "bí mật thế kỷ" xảy ra lúc 22h ngày 29/4/1984. Lúc đó một số máy bay của Nhật Bản bay đến bầu trời Alaska - Mỹ, Phó cơ trưởng bỗng nhiên phát hiện phía trước có một "đụn mây hình nấm" rất nhanh khuếch tán ra xung quanh... Cơ trưởng của 3 chiếc máy bay khác trên cùng đường bay cũng nhìn thấy hiện tượng lạ này. Nhưng sau khi cả 4 chiếc máy bay này hạ cánh, các nhân viên trên máy bay và trên thân máy bay đều được kiểm tra, đã không phát hiện thấy bất kỳ dấu tích nhiễm phóng xạ nào.
Mãi đến năm 1986, sau khi giới khoa học có những nghiên cứu đột phá về phản vật chất, mới có người lên tiếng: Ba vụ nổ trên có thể là kết quả của các cuộc thử nghiệm "điều khiển phát triển phản vật chất".
Edward sinh năm 1960, công dân Mỹ. Năm 1990, tốt nghiệp ngành vật lý tại Viện Công nghệ Massa, Mỹ, rồi nhận bằng tiến sĩ, sau đó đến làm việc tại Cơ sở Nghiên cứu máy gia tốc quốc gia Feymi, Mỹ. Tại đây, Edward bắt đầu đi sâu nghiên cứu lý luận phản vật chất.

Năm 2000, Edward được giao phụ trách nhóm nghiên cứu "cải cách vũ khí", bắt đầu chuyên sâu nghiên cứu cụ thể VKPVC. Edward cho biết: "Chúng ta đều biết, vật thể trong tự nhiên đều hợp thành từ proton, nơtron và điện tử, nhưng tất cả những hạt vi mô đều có phản hạt của chính nó. Chính uy lực sản sinh ra của những phản vật chất (phản hạt) này đã được bộc lộ qua “3 đại bí mật thế kỷ".

Ngày 24/3/2004, trong Hội thảo Những khái niệm tiên tiến do Cục Hàng không vũ trụ Mỹ tổ chức, Edward tới dự và phát biểu những lời tỏ ra bi quan: "Tuy các nước đã đầu tư nhân lực, vật lực to lớn, nhưng việc nghiên cứu phản vật chất vẫn tiến triển chậm chạp, nguyên nhân là vì không có cách nào sử dụng máy gia tốc hạt để sản xuất ra đủ lượng phản vật chất. Hơn nữa, để sản xuất ra 1 phần tỉ gram phản vật chất yêu cầu tiêu tốn vài tỉ USD! Ngoài ra, hoạt động của điện tử dương rất khó khống chế, rất khó lưu giữ chúng trong một dụng cụ đặc biệt; điều đó có nghĩa là, nó không có giá trị quân sự"!

Từ sau cuộc họp đó, người ta hầu như không thấy Edward và nhóm cộng sự không xuất hiện nữa. Có lúc người ta cho rằng, có thể Edward thấy khó nên đã sớm rút lui?

Kinh hoàng hơn bom nguyên tử?

Theo tiết lộ, tháng 8/2008, Edward xuất hiện tại Lầu Năm Góc, báo cáo trước các quan chức cao cấp quân đội Mỹ về thành quả tiến triển nghiên cứu mới nhất của ông ta về VKPVC.

"Trên nghiên cứu VKPVC của chúng ta đã có được sự đột phá quan trọng, chúng ta đã thành công trong việc nghiên cứu phát triển một loạt dụng cụ có thể tồn giữ phản vật chất lâu dài có hiệu quả, điều này có nghĩa là việc sử dụng phản vật chất trong quân sự sẽ trở thành hiện thực"! Sau đó, Edward bắt đầu trình bày trước giới quân sự về uy lực của VKPVC.
Edward đã chủ trì một cuộc diễn tập mô phỏng qua máy tính điện tử với biệt hiệu: "Tấn công đặc biệt phản vật chất" với giả tưởng: Một ngày vào năm 201X, một binh sĩ Mỹ mang theo một quả bom PVC định giờ tiềm nhập vào thủ đô nước C; vào trong một nhà vệ sinh của tòa nhà Bộ Tổng tham mưu nước C gần trung tâm thành phố, đặt quả bom rồi ung dung đi ra. Đúng như kế hoạch, bom định giờ phản vật chất nổ, tòa nhà Bộ Tổng tham mưu nước C và các công trình phụ cận đổ sụp hết. Quả bom PVC mà binh sĩ này mang chỉ nặng 1 phần 50 triệu gram!

Tiếp sau đó, một quả bom xung mạch PVC nổ trên không tại nhà máy điện và mạng thông tin nước C, chỉ trong nháy mắt mọi hoạt động quân sự và xã hội của nước này tê liệt hoàn toàn... Lúc đó, có tướng lĩnh đã thốt lên "nếu vậy, chỉ cần quả bom phản vật chất nặng vài gram sẽ hủy diệt toàn cầu".

Kết thúc diễn tập, Edward giải thích: "Quan hệ giữa vật chất và PVC tương tự như học thuyết âm dương cổ đại". Trong tự nhiên, bất cứ một loại "hạt nguyên tử thứ cấp nào (hạt so với nguyên tử còn nhỏ hơn) đều có một loại phản vật chất đối ứng, nếu hai loại vật chất này phát sinh va chạm mãnh liệt, chúng đều tiêu tan, đồng thời giải phóng ra năng lượng cực lớn.
Edward còn cho biết, điều kỳ lạ khác với bom nguyên tử là khi bom phản vật chất nổ, sẽ không sản sinh bức xạ, có thể được coi là một loại "bom hydro sạch". Nó có uy lực nổ như bom hydro, nhưng sẽ không gây ô nhiễm bức xạ hạt nhân... Edward nhấn mạnh, đương nhiên, nghiên cứu phản vật chất không phải chỉ dùng cho chiến tranh, ông giải thích: "1 gram phản vật chất đủ cung cấp động lực cho hàng chục máy bay hàng không vũ trụ. Điều này có thể làm thay đổi căn bản mô thức cung ứng nguồn năng lượng, sẽ là một cuộc cách mạng nguồn năng lượng".

"Người mở bình ma quỷ"

Nhưng, loại vũ khí mới mà Edward gọi là "sạch" này lại khiến các nhà quân sự thế giới hết sức lo lắng. Một số nhà khoa học, nhà sử học, trung tâm nghiên cứu cao cấp Đại học Prinston, Mỹ đã chỉ ra, VKPVC "sạch" khác xa so với vũ khí hạt nhân "bẩn" và nó còn đáng sợ hơn nhiều. Bom nguyên tử thông thường, bom hydro nói chung chỉ coi là thủ đoạn uy hiếp chiến lược, cơ bản không được sử dụng trong chiến tranh thông thường và chiến tranh cục bộ. Vì chúng ngoài uy lực lớn, còn sinh ra bức xạ hạt nhân, gây ô nhiễm thổ nhưỡng, không khí, nguồn nước khu vực chiến tranh, đồng thời tạo ra tổn thương nhiễm phóng xạ đối với sinh vật và thực vật, dẫn đến thảm họa nhân đạo.

Giới phân tích cho rằng, sự lo lắng của các chuyên gia quân sự không phải không có lý. Vì ngay từ năm 2004, sau khi Edward công khai kết quả tiến triển nghiên cứu phản vật chất của ông ta, một số nước đã lao vào nghiên cứu phát triển lĩnh vực nhạy cảm này. Pháp và Thụy Điển đã hợp tác xây dựng Trung tâm Nghiên cứu phản vật chất châu Âu; Cơ sở nghiên cứu vật lý cao năng của Nga cũng đang nghiên cứu phản vật chất dùng cho quân sự. Cho nên, giới khoa học Mỹ đã gọi Edward là "Người cha của VKPVC", nhưng có người đã ví Edward như là "người mở bình ma quỷ"

Tin tong hop
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Bắt đồng Nguyên lên giá được lợi gì?

Ngô Nhân Dụng

Năm ngoái, Hạ Viện Mỹ (đa số đảng Cộng Hòa) đã thông qua một dự luật nhằm buộc Trung Quốc phải nâng giá đồng tiền của họ so với Mỹ kim.

Bắc Kinh đã lên tiếng phản đối. Dự luật đó không được viện trên đem ra bàn. Năm nay, đến lượt Thượng Viện (đa số Dân Chủ) lên đài, ngày Thứ Hai, 3 Tháng Mười, bắt đầu thảo luận một dự luật cho phép chính phủ Mỹ tăng thuế trên hàng Trung Quốc nhập cảng nếu họ không nâng giá đồng Nguyên. Lần này, Bắc Kinh phản ứng mạnh mẽ; cả Ngân Hàng Trung Ương, Bộ Thương Mại và Bộ Ngoại Giao đều lên tiếng. Họ đe dọa một cuộc “chiến tranh thương mại” có thể xảy ra nếu hai nước chạy đua tăng thuế nhập cảng trên hàng hóa của nhau rồi thưa kiện trước WTO, hậu quả lan rộng sẽ làm kinh tế cả thế giới suy yếu thêm, kể cả Mỹ và Trung Quốc.

Phản ứng mạnh hơn chứng tỏ Bắc Kinh lo ngại lần này Quốc Hội và tổng thống Mỹ sẽ làm thật. Vì sang năm dân Mỹ sẽ đi bầu. Chống Trung Quốc là một đòn dễ kiếm phiếu, nhất là khi các đại biểu nêu lý do họ hành động để giảm bớt nạn thất nghiệp ở Mỹ. Bây giờ, làm bất cứ cái gì để giảm bớt thất nghiệp chắc sẽ được hoan nghênh. Thượng Viện Mỹ sẽ thông qua dự luật, vì sẽ đủ đa số. Hạ Viện có thể chần chừ một chút, vì dự luật viện trên mang nhãn hiệu đảng Dân Chủ. Các đại biểu Cộng Hòa biết rằng các cuộc tranh luận tại Quốc Hội sẽ khiến dân Mỹ nhìn về một nước đối thủ, coi như đó là nguyên nhân gây ra tỷ lệ thất nghiệp cao, hiện nay trên 9%, có khi dân quên mất trách nhiệm của ông Obama hiện đang làm tổng thống! Nhưng chắc sau cùng Hạ Viện cũng thông qua dự luật. Sang năm, ai cũng phải tranh cử lại, khó giải thích tại sao lại chống một dự luật “giảm thất nghiệp”.

Sau khi hai viện thông qua, tổng thống cũng không dại gì phủ quyết một đạo luật hấp dẫn như thế. Cho nên, Bắc Kinh biết đây không phải chuyện đùa, họ thật sự lo ngại. Nếu họ hành động trước, để chứng tỏ có đáp ứng với dư luận Mỹ, như họ đã làm năm 2005, thì dự luật này có thể bị trì hoãn, tránh được một cuộc chiến tranh thương mại!

Có nhiều lý luận chứng tỏ Mỹ cần tấn công Trung Quốc trên mặt trận hối đoái. Bắc Kinh đã cố ý giữ giá đồng Nguyên rất thấp so với Mỹ kim để giá hàng xuất cảng của họ cũng thấp. Ðồng Nguyên được coi là đang thấp 28% so với giá trị thật; nếu tăng hối suất thì các món hàng xuất cảng từ Trung Quốc sẽ tăng giá một phần ba khi bán lấy Mỹ kim. Nước Mỹ đang chịu khiếm hụt trên cán cân thương mại, bán ra ít, mua vào nhiều, vì thế mà số người thất nghiệp lên cao. Buộc Trung Quốc nâng giá đồng Nguyên sẽ có ba hậu quả tốt: Hàng Mỹ bán vào Trung Quốc sẽ rẻ hơn, bán được nhiều hơn; hàng Trung Quốc bán ra các nước khác sẽ đắt hơn, do đó hàng Mỹ cũng cạnh tranh dễ hơn khắp thế giới; và sau cùng, lương công nhân ở nước Tàu sẽ cao hơn khi tính ra Mỹ kim, các công ty Mỹ sẽ giảm bớt số công việc đem sang cho người Tàu làm mà đưa về nước cho công nhân Mỹ làm.

Cả ba hậu quả đó sẽ có thể giúp giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ. Có người tính nếu đồng Nguyên lên giá nước Mỹ sẽ tạo thêm được một triệu việc làm, nhà kinh tế Paul Krugman (giải Nobel) ước tính 1.5 triệu, một dân biểu Mỹ tính sẽ lên tới 2.25 triệu. Hiện đang có 14 triệu người Mỹ bị thất nghiệp. Số khiếm hụt mậu dịch của nước Mỹ hy vọng sẽ giảm bớt so với thâm thủng hiện nay.

Nói chung, các nước đều muốn giữ giá đồng tiền của mình thấp xuống so với tiền nước khác để dễ xuất cảng. Ngay cả Thụy Sĩ, hiện đang đi mua Mỹ kim và Euro để đồng franc của họ không lên giá quá nhanh. Hiện các nhà đầu tư cứ mua đồng franc, đem để dành tiền ở Thụy Sĩ cho an toàn! Ðồng Mỹ kim đang bị đẩy giá lên vì lý do tương tự, trong lúc kinh tế bất ổn nhiều người cũng thấy để dành tiền ở Mỹ yên tâm. Bắc Kinh có $3,200 tỷ dự trữ ngoại tệ chính vì họ đi mua Mỹ kim để cho Mỹ vay. Riêng việc đi mua này làm cho Ngân Hàng Nhân Dân tốn $240 tỷ một năm. Con số đó lớn bằng 4% tổng sản lượng nội địa, cao hơn số $183 tỷ thặng dư mậu dịch năm 2010! Bắc Kinh làm như vậy được là vì chính phủ bắt dân chúng nhịn không được tiêu thụ; dân đành chịu. Ép Bắc Kinh nâng giá đồng Nguyên giống chính phủ Mỹ nói với họ: Thôi, các ông hãy dùng đồng tiền kiếm được nhờ xuất cảng cho dân Trung Hoa mua hàng hóa, dịch vụ của các nước đi; đừng có đem tiền sang cho nước Mỹ vay thêm nữa! Nhưng chính sách của Bắc Kinh khó thay đổi.

Vì dù họ muốn thay đổi cũng rất khó thi hành. Chính quyền Bắc Kinh cũng lo nạn thất nghiệp như bên Mỹ. Hàng trăm triệu người đi tìm việc. Nếu việc xuất cảng đình trệ, các nhà sản xuất không có thời giờ chuyển hướng sang cho thị trường nội địa, số người mất việc sẽ cao hơn. Mà người dân Trung Hoa có sẵn sàng đóng vai khách tiêu thụ thay cho khách Mỹ hay không? Trước hết họ cần phải có mãi lực cao hơn. Khi đồng Nguyên tăng giá họ có thể tiêu thụ được thêm hàng nhập cảng, vì sẽ rẻ hơn. Nhưng họ vẫn cần phải được tăng lương mới đủ. Những thứ đó có thể làm cho lạm phát lên cao; mà hiện nay ở mức 6.2% đã phải báo động rồi. Lạm phát và thất nghiệp sẽ gây thêm mối lo xã hội bất ổn. Rồi các ngân hàng thương mại do nhà nước kiểm soát phải tăng lãi suất trả cho dân gửi tiền tiết kiệm, cho dân thêm tiền bỏ túi nữa. Nếu đồng Nguyên lên giá, kinh tế Trung Quốc sẽ bắt buộc phải chuyển hướng, với hy vọng ổn định và quân bình hơn, nhưng trong khi kinh tế chuyển từ xuất cảng sang thị trường nội địa thì túi tiền của người tiêu thụ chưa chuyển theo kịp, sẽ gây thêm bất ổn!

Thủ Tướng Ôn Gia Bảo đã công nhận từ năm ngoái là nền kinh tế Trung Quốc “không quân bình, không ổn định, không điều hợp và không thể kéo dài”. Chính phủ đổ tiền đầu tư quá nhiều nhưng đồng vốn không được sử dụng, hoặc dùng mà không có hiệu quả.

Bắc Kinh phải lo lắng trước mối đe dọa do dự luật ở Thượng Viện Mỹ gây ra, vì nó có nhiều triển vọng thành luật thật. Trước đây, chính quyền Mỹ chỉ cần đe dọa thôi đã khiến Bắc Kinh phải hành động. Năm 2005, hai thượng nghị sĩ Charles Schumer và Lindsey Graham đã đề nghị một dự luật đánh thuế hàng Trung Quốc 27.5% nếu họ không nâng giá đồng Nguyên trong 180 ngày! Thượng Viện đã chấp thuận với tỷ số 67-33; Hạ Viện thì không đem ra bàn. Nhưng chỉ đe dọa không thôi cũng đủ để Bắc Kinh công bố thả nổi cho đồng tiền của họ lên giá dần. Quả nhiên, từ 2005 đến 2010, đồng Nguyên đã lên giá 30% so với Mỹ kim, người Mỹ thấy vẫn chưa đủ.

Nhưng tỷ giá đồng Nguyên thấp chỉ là một trong nhiều cách chính quyền Trung Quốc dùng để giảm giá hàng xuất cảng. Họ còn dùng nhiều biện pháp khác, thiếu công bằng, ít nhất là không “thẳng thắn,” để ghìm giá. Ðặc biệt là trợ cấp cho các xí nghiệp của họ. Các công ty quốc doanh được vay tiền của ngân hàng quốc doanh với lãi suất rất thấp, một cách hạ thấp phí tổn trong giá thành. Họ ngăn cấm các nghiệp đoàn tư hoạt động, giúp cho mọi xí nghiệp, công, tư và ngoại quốc được trả lương thấp, cũng giảm giá thành của sản phẩm. Các xí nghiệp Trung Quốc không phải đóng góp cho quỹ hưu bổng, bảo hiểm y tế như các xí nghiệp Mỹ phải chịu tốn kém. Washington chưa đòi hỏi Bắc Kinh phải xóa bỏ các lối “trợ cấp” thiếu công bằng này.

Việc nâng giá đồng Nguyên so với Mỹ kim cũng không phải là phương pháp chắc chắn giúp cán cân thương mại Mỹ bớt thâm thủng hay hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp. Năm 1994, Trung Quốc đã hạ giá đồng Nguyên rất nhiều đối với Mỹ kim; nhưng tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đã xuống thấp liên tiếp trong nhiều năm sau đó chứ không lên. Từ năm 2005, họ nâng giá đồng Nguyên lên, đến giờ thì tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ lại lên cao. Ảnh hưởng của tỷ giá đồng Nguyên thật ra không theo một chiều nào chắc chắn!

Chính sách giữ giá đồng Nguyên thấp của Bắc Kinh gây ra tình trạng mất quân bình của nền kinh tế Trung Quốc và cả thế giới. Nếu Bắc Kinh chịu nghe theo yêu cầu của Mỹ mà nâng hối suất lên, chính kinh tế nước họ sẽ dần dần ổn định hơn. Nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Mỹ, đến nạn thất nghiệp ở Mỹ, thực ra không lớn lắm.

Vì Mỹ bán sang Trung Quốc những món hàng mà khi mua họ không quan tâm đến tỷ giá. Những máy bay của Boeing, máy phát điện của General Electrics bán được là vì kỹ thuật cao, phục vụ tốt sau khi bán, chứ không phải vì giá hạ. Trong ba năm, từ 2002 đến 2005, đồng Nguyên không thay đổi tỷ giá, số hàng xuất cảng từ Mỹ sang Trung Quốc tăng được 89%. Trong ba năm sau đó, từ 2005 đến 2008, đồng Nguyên bị ép phải nâng tỷ giá đến 20%, số xuất cảng của Mỹ sang Trung Quốc chỉ tăng 71% mặc dù giá bán rẻ hơn. Thực ra trong thị trường Trung Quốc các công ty Mỹ cạnh tranh với các công ty Nhật Bản, Âu Châu, cho nên bán được nhiều hay ít hơn có thể tùy thuộc hối suất Mỹ kim và đồng Yen, Mỹ kim và đồng Euro, chứ không phải tỷ giá Mỹ kim và đồng Nguyên!

Nếu đồng Nguyên lên giá thì cũng ảnh hưởng tới sự cạnh tranh xuất cảng từ hai nước sang các nước khác, nhưng không nhiều lắm. Chỉ có 15% số hàng hóa Mỹ được lợi khi bán giá rẻ hơn so với hàng Trung Quốc nếu đồng nguyên tăng giá. Ðó là một số sản phẩm dùng trong Internet, hay biến chế điện mặt trời mà hai nước trực tiếp cạnh tranh. Ngoài ra, Mỹ và Trung Quốc bán những món hàng trong các thị trường khác hẳn nhau. Mỹ bán các món kỹ thuật cao, đắt tiền. Trung Quốc bán quần áo, phần lớn đồ rẻ tiền. Dù sao, cạnh tranh dễ hơn trong 15% thị trường cũng là một mục tiêu đáng theo đuổi để bắt Bắc Kinh phải thả cho tiền của họ lên giá!

Nhưng không có hy vọng là nếu đồng Nguyên lên giá thì các công ty Mỹ sẽ đem nhiều công việc từ bên Tàu về cho công nhân ở Mỹ làm! Họ có thể chuyển các nhà máy từ nước Tàu sang Ấn Ðộ, Indonesia, và cả Việt Nam cũng được! Chỉ có một số nhỏ các ngành sẽ được đưa về Mỹ.

Cuối cùng, các nhà chính trị ở Mỹ sẽ có cơ hội chứng tỏ họ lo lắng về nạn thất nghiệp, cho thấy là họ có nỗ lực tìm các biện pháp tạo thêm công việc làm. Tấn công chính sách tài chánh không công bình, không thẳng thắn của chính phủ Trung Quốc chắc chắn sẽ được các cử tri hoan nghênh. Trong 13 tháng tới, các cuộc thảo luận ở Quốc Hội sẽ tác động trên các cử tri. Hy vọng rằng trong thời gian đó Bắc Kinh chịu ngồi xuống với Washington để bàn cách giảm bớt những biện pháp “trợ cấp” cho các công ty của họ, ngoài việc nâng giá đồng Nguyên. Bắc Kinh sẽ phải tìm cách thỏa hiệp, chịu nâng giá đồng tiền lên một chút, giảm bớt các khoản trợ cấp cho các xí nghiệp của họ một chút, thì cuộc chiến tranh thương mại có thể sẽ tránh được. Bắc Kinh có thể giải thích rằng đó chính là những việc họ cũng thấy cần phải thực hiện để nền kinh tế của họ quân bình hơn, bền vững hơn như ông Ôn Gia Bảo đã cảnh báo từ năm ngoái! Có người ngoài thúc thêm vào, việc các chính sách đó được thi hành sớm và nhanh chóng hơn cũng là một điều tốt chứ sao!
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Nhìn quá cao, Trung Quốc rơi xuống hố?
Nhân quốc khánh Trung Quốc 1/10, báo chí quốc tế diễn ra cuộc bàn luận lý thú về triển vọng phát triển của Trung Quốc với nhiều ý kiến trái ngược nhau.

Một bên là những kẻ ca ngợi sự phát triển liên tục của Trung Quốc từ nước nghèo, lạc hậu, thực hiện bốn hiện đại hóa. Họ đang lao đi như tàu cao tốc, sắp gia nhập câu lạc bộ các nước phát triển, thành siêu cường.

Trên báo The Age của Australia, một nhà bình luận nổi tiếng dự đoán rằng, Trung Quốc vẫn sẽ duy trì tốc độ phát triển chừng 10 % mỗi năm. Sau khi vượt nước Anh, Đức, Nhật Bản, họ sẽ vượt Mỹ trong hơn chục năm nữa.

Trong lúc Mỹ và châu Âu lâm vào khủng hoảng và trì trệ kéo dài về tài chính lẫn kinh tế, có thể nói rằng thế kỷ XXI là "thế kỷ của Trung Quốc".

Nhiều nhà kinh tế Trung Quốc cũng tỏ ra lạc quan khi nêu cao vai trò chủ nợ thế giới của Trung Quốc với dự trữ ngoại tệ hơn 3.000 tỷ USD, đang hào phóng đầu tư và viện trợ cho hàng loạt nước châu Phi; bỏ tiền đầu tư và cho một số nước châu Âu vay dài hạn để kiếm lợi nhuận lớn...
Image
Kinh tế Trung Quốc giờ đây rất lớn mạnh.
Tuy nhiên, cũng có luồng suy nghĩ và lập luận trái ngược. Một số chuyên gia kinh tế như Robert Fogel, Giáo sư ĐH Harvard, Mỹ từng được giải Nobel về kinh tế; nhà bình luận Salvatore Babones… cho rằng nên thận trọng, đi vào chiều sâu bởi kinh tế - xã hội Trung Quốc có nhiều nét đặc thù.

Trung Quốc hiện là nước có GDP lớn (thứ 2 thế giới) nhưng còn rất nghèo nếu tính theo GDP/người (thứ 93 thế giới). Nói cách khác, tổng sản phẩm quốc nội lớn là do dân quá đông (hơn 1,3 tỷ dân) nhưng thu nhập tính theo đầu người chỉ vượt 4.000 USD/năm, bằng 1/10 của Mỹ. Đặc biệt, chất lượng phát triển kinh tế của họ rất thấp.

Các nhà kinh tế - xã hội cho rằng, việc nước nghèo mà giàu lên đến mức trung bình có thể là một bệ phóng nhưng lại có thể là cạm bẫy. Họ đưa ra những thí dụ ở Nam Mỹ và châu Á. Argentina trong 26 năm từ 1964 đến 1990, GDP/người tăng từ 1.000 USD lên đến 8.000 USD nhưng 12 năm sau con số ấy tụt hẳn xuống, nay chỉ còn 2.000 USD.

Indonesia và Philippines cũng vậy. Sau một thời gian phát triển cao lại trì trệ, GDP/người từ hơn 3.000 USD nay chỉ còn 2.000 USD/năm. Trong khi đó Singapore và Hàn Quốc giữ được tốc độ phát triển đều đặn. Nay họ có GDP/người hơn 40.000 USD/năm. Đó là những con hổ phát triển lên thành rồng.

Vậy bí quyết để biến hổ rồi thành rồng là gì? Các bài phân tích chỉ rõ: ngay sau khi đạt được phát triển tốc độ khá cao, lãnh đạo các nước đó cần khiêm tốn và tỉnh táo; đồng thời có chính sách và chủ trương kịp thời:

- Phân chia thành quả phát triển công bằng, rộng khắp, ngành nào, địa phương nào, cá nhân nào đóng góp nhiều cho phát triển được hưởng tương ứng, không để cho sự tăng trưởng chung bị những kẻ bất xứng tước đoạt một cách bất công, sẽ làm mất nhuệ khí phát triển, nhất là các nhà kinh doanh vừa và nhỏ.

- Việc phòng chống tham nhũng và lãng phí phải được đặt ra cấp bách, nghiêm chỉnh, ưu tiên chia sẻ thành quả phát triển vào quỹ tiền lương cho người lao động, viên chức; thực hiện pháp luật thật nghiêm, đề cao đạo đức xã hội, coi kẻ tham nhũng xấu và nhục như bọn móc túi, bọn đào ngạch, bọn mafia cướp nhà băng để ai cũng không cần, không dám, không nỡ phạm tội tham nhũng.

- Thành quả phát triển cần dồn trước hết không phải cho quốc phòng an ninh quá nhiều, vượt quá xa sự cần thiết. Thay vào đó nên là giáo dục, y tế và nghiên cứu khoa học bởi đó là những nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - động lực đầu tiên của phát triển. Riêng với Trung Quốc đây là vấn đề hệ trọng vì nền giáo dục trong cả nước còn sơ khai, các trường ĐH bị đánh giá thấp, hệ thống y tế, xã hội lạc hậu, bảo hiểm xã hội thô sơ...

Điều nguy hiểm ở Trung Quốc hiện nay là chênh lệch giàu nghèo không những không thu hẹp mà còn mở rộng với tốc độ nhanh. Cách đây 30 năm, Trung Quốc chỉ có vài tỷ phú nhưng nay đã lên đến gần 200 người; trong đó tỷ phú giàu nhất có thể được vào Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản.

Trong khi ở sâu trong nội địa, có vùng thu nhập bình quân chỉ đạt 1/10 mức trung bình cả nước. Theo VOA, hiện 1% dân số, ước chừng 12 triệu người thuộc phe nhóm, gia đình, con ông cháu cha thế lực cầm quyền đang nắm trong tay hơn 40% tài sản quốc gia, dẫn tới việc bất mãn xã hội tăng rõ rệt. Mất ổn định chính trị do lòng dân không yên thêm trầm trọng.

Cũng theo VOA, hiện một năm ở Trung Quốc xảy ra hơn 300.000 cuộc đấu tranh, đình công, bãi công, phá hoại công sở, nhà máy, gấp 6 lần 10 năm trước.

Các học giả gọi tình trạng đó là "bẫy của nước có thu nhập trung bình", lãnh đạo thất bại trong việc "làm chủ chất lượng phát triển", làm thui chột công cuộc phát triển vì không thay đổi cơ chế, không chuyển đổi hệ thống chính trị.

Họ cho đây là căn bệnh cận thị của nhiều nhà độc tài, không nhận ra được tâm lý quần chúng: tuy khao khát tiền của vật chất nhưng khi tạm no đủ, họ càng khao khát công bằng xã hội, tự do kinh doanh và nhân cách làm người.

Các chuyên gia trên cho rằng, Hàn Quốc, Đài Loan không bị sập bẫy vì sớm từ bỏ chế độ quân phiệt Park Chung Hee, chế độ độc tài Tưởng Giới Thạch... Ngay Singapore cũng thực hiện tự do báo chí nhất Đông Nam Á, có nền hành chính "thân dân và trọng dân" nhất châu Á, còn đạt kỷ lục về chống tham nhũng, chính quyền trong sạch, đứng hàng đầu của thế giới.

Cũng theo nguồn tin của VOA, hiện có nhiều nhân vật cấp cao của Trung Quốc đồng tình với cảnh báo nguy cơ "sập bẫy" trên.

Trung tướng Lưu Á Châu, chính ủy Học viện Quốc phòng, công khai cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ sụp đổ như Liên Xô trước đây nếu không sớm từ bỏ chế độ hiện nay. Ông tự nhận là người yêu nước nên mới cảnh báo điều này.

Ông Lưu khẳng định ông không là kẻ theo Mỹ nhưng công nhận kiểu chế độ Mỹ là mô hình tốt nhất. Ông chỉ rõ sức mạnh Mỹ không nằm ở phố Wall, trụ sở của các trùm tư bản; cũng không nằm ở thung lũng Silicon, trung tâm sản xuất điện tử ở California, mà là ở cơ chế dân chủ và nền pháp trị tiên tiến, mô hình mà Trung Quốc cần áp dụng để phát triển bền vững.

Sự sụp đổ đột nhiên của các chế độ độc đoán ở Bắc Phi đang trên đà phát triển là thêm một cảnh báo "sập bẫy trong phát triển" cho Trung Quốc và một số nước phát triển không lành mạnh, chênh lệch giàu nghèo mở rộng toang hoác, do đó không vững bền, chứa nhiều nguy cơ, dễ đổ vỡ.


Theo VOA News
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Người khổng lồ bị sập bẫy?

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Nhân ngày quốc khánh Trung Quốc 1 tháng 10, 1949 - 1 tháng 10, 2011, trên báo chí quốc tế đang diễn ra cuộc bàn luận lý thú về triển vọng phát triển của Trung Quốc. Có những ý kiến trái ngược nhau.

Image
Cuộc triển lãm xe hơi hiệu “Chery” của Trung Quốc tại tỉnh An Huy. (Hình: STR/AFP/Getty Images)

Một bên là những ý kiến ca ngợi sự phát triển liên tục của Trung Quốc, từ một nước nghèo, lạc hậu, thực hiện 4 hiện đại hóa, trở thành nước công nghiệp ở mức trung bình, đang lao tới như một đoàn tàu tốc độ cao, gia nhập câu lạc bộ các nước phát triển, thành siêu cường.

Trên báo The Age của Úc một nhà bình luận nổi tiếng dự đoán rằng Trung Quốc vẫn sẽ duy trì tỷ lệ phát triển chừng 10 % mỗi năm, sau khi vượt giá trị sản lượng nước Ðức, nước Anh, năm nay vượt qua Nhật Bản, tất sẽ vượt Hoa Kỳ trong hơn 1 chục năm nữa thôi. Hoa Kỳ và Châu Âu đang lâm vào khủng hoảng và trì trệ nặng kéo dài cả về tài chính và kinh tế. Có thể đoán trước thế kỷ XXI là thế kỷ của Trung Quốc. Nhiều nhà kinh tế Trung Hoa cũng tỏ ra lạc quan, nêu cao vai trò chủ nợ thế giới của Trung Quốc, có dự trữ ngoại tệ hơn 3 ngàn tỷ đôla, đang phóng túng đầu tư và viện trợ lớn cho hàng loạt nước Châu Phi, còn bỏ tiền đầu tư và cho một số nước Châu Âu vay dài hạn để kiếm thêm lợi nhuận lớn.

Tuy nhiên, cũng có luồng suy nghĩ và lập luận trái ngược. Một số chuyên gia kinh tế, như Robert Fogel, giáo sư Ðại Học Harvard Hoa Kỳ được tặng giải Nobel về kinh tế; nhà bình luận Salvatore Babones... cho rằng nên thận trọng, đi vào chiều sâu tình hình kinh tế-xã hội để phân tích, cần thấy Trung Quốc có nhiều nét đặc thù. Trung Quốc hiện là nước mới giàu lên, nhưng còn rất nghèo, tổng sản lượng lớn là do dân quá đông, hơn 1.3 tỷ dân, nhưng hiện thu nhập tính theo đầu người lại đứng thứ 93 của thế giới - hơn 4,000 đôla/năm - chỉ bằng 1/10 của Hoa Kỳ. Chất lượng phát triển rất thấp. Các nhà kinh tế-xã hội cho rằng từ nghèo giàu lên đến mức trung bình có thể là một bệ phóng, lại có thể là một cạm bẫy. Họ đưa ra những thí dụ ở Nam Mỹ và Châu Á. Argentina trong 26 năm từ 1964 đến 1990 sản lượng tính theo đầu người từ 1,000 đôla lên đến 8,000 đôla, nhưng 12 năm sau con số ấy tụt hẳn xuống, nay chỉ còn 2,000. Indonesia và Philippines cũng vậy, sau một thời gian phát triển cao lại trì trệ, từ hơn 3,000 đôla nay chỉ còn 2,000 đôla/năm. Trong khi đó Singapore và Nam Triều Tiên giữ được tốc độ phát triển đều đặn, nay đạt hơn 40,000 đôla/năm. Ðó là những con hổ phát triển lên thành rồng.

Vậy bí quyết để biến thành hổ rồi thành rồng là gì? Các bài phân tích chỉ rõ ngay sau khi đạt được phát triển tốc độ khá cao, lãnh đạo các nước đó cần khiêm tốn và tỉnh táo, có những chính sách và chủ trương kịp thời:

- Phân chia thành quả phát triển công bằng, rộng khắp, ngành nào, địa phương nào, cá nhân nào đóng góp nhiều cho phát triển được hưởng tương đương, không để cho sự tăng trưởng chung bị những kẻ bất xứng tước đoạt một cách bất công, sẽ làm mất nhuệ khí phát triển, nhất là các nhà kinh doanh vừa và nhỏ;

- Việc phòng chống tham nhũng và lãng phí phải được đặt ra cấp bách nghiêm chỉnh, thành quả phát triển ưu tiên tăng vào quỹ tiền lương cho lao động, viên chức, thực hiện pháp luật thật nghiêm, đề cao đạo đức xã hội, coi kẻ tham nhũng xấu và nhục như bọn móc túi, bọn đào ngạch, bọn mafia cướp nhà băng. Ðể ai cũng không cần, không dám, không nỡ phạm tội tham nhũng, như ông Lý Quang Diệu khuyên nhà cầm quyền Hà Nội để rồi lắc đầu chán nản “vì họ không muốn nghe tôi.”

- Thành quả phát triển cần dồn trước hết không phải cho quốc phòng an ninh thường là một cách quá đáng, vượt quá xa sự cần thiết, mà cho giáo dục, y tế và nghiên cứu khoa học, vì đó là những nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng của nhân lực, của con người, động lực đầu tiên của phát triển. Riêng với Trung Quốc đây là vấn đề hệ trọng vì nền giáo dục trong cả nước còn sơ khai, cấp đại học bị xếp hạng thấp, y tế xã hội lạc hậu, bảo hiểm xã hội thô sơ.

Ðiều nguy hiểm ở Trung Quốc hiện nay là chênh lệch giàu nghèo không những không thu hẹp, lại mở rộng ra ở mức quá đáng. Mới cách đây 30 năm, Trung Quốc chỉ có vài tỷ phú đôla, nay đã lên đến gần 200 tỷ phú, tỷ phú giàu nhất sắp được vào Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CS. Trong khi ở sâu trong nội địa, có vùng thu nhập bình quân chỉ đạt 1/10 mức trung bình. Hiện nay 1% dân số - chừng 12 triệu người thuộc phe nhóm, gia đình, con ông cháu cha thế lực cầm quyền - nắm trong tay hơn 40 % tài sản quốc gia. Bất mãn xã hội tăng rõ rệt. Mất ổn định chính trị do lòng dân không yên thêm trầm trọng. Bùng nổ xã hội là tất yếu. Hiện nay một năm đã có hơn 300,000 cuộc đấu tranh, đình công, bãi công, phá hoại công sở, nhà máy, gấp 6 lần 10 năm trước.

Các học giả gọi tình trạng đó là “bị sập bẫy của phát triển,” “chui vào cạm bẫy của mức công nghiệp trung bình,” lãnh đạo thất bại trong việc “làm chủ chất lượng phát triển,” làm thui chột công cuộc phát triển vì không thay đổi cơ chế, không chuyển đổi hệ thống cai trị.

Họ cho đây là căn bệnh cận thị của các nhà độc đoán, không sao nhìn nhận ra tâm lý quần chúng tuy khao khát tiền của vật chất, nhưng khi tạm no đủ, họ càng khao khát công bằng xã hội, tự do kinh doanh và nhân cách làm người.

Các nhà kinh tế chỉ cho giới lãnh đạo Trung Quốc rõ là Nam Triều Tiên, Ðài Loan, Philippines, Indonesia không bị sập bẫy là vì đã sớm từ bỏ chế độ quân phiệt Park Chung Hee, chế độ độc tài Tưởng Giới Thạch, chế độ độc đoán Ferdinand Marcos và Suharto. Ngay Singapore cũng đã cho phép đảng Dân chủ hoạt động và đặc biệt thực hiện tự do báo chí cởi mở nhất Ðông Nam Á, có nền hành chính “thân dân và trọng dân” nhất Châu Á, còn đạt kỷ lục về chống tham nhũng, chính quyền trong sạch, đứng hàng đầu của thế giới.

Có nhiều nhân vật cấp cao của Trung Quốc đồng tình cảnh báo nguy cơ “sập bẫy” trên đây.

Trung Tướng Lưu Á Châu, chính ủy Học Viện Quốc Phòng, công khai cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ sụp đổ như Liên Xô trước đây nếu không sớm từ bỏ chế độ hiện nay. Ông tự nhận là người yêu nước nên mới cảnh báo điều này, ông khẳng định ông không là kẻ theo Mỹ, nhưng công nhận kiểu chế độ Hoa Kỳ là mô hình tốt nhất. Ông chỉ rõ sức mạnh Hoa Kỳ không nằm ở phố Wall, trụ sở của các trùm tư bản; cũng không nằm ở thung lũng Silicon, trung tâm sản xuất điện tử ở California, mà là ở cơ chế dân chủ và nền pháp trị tiên tiến, mô hình mà Trung Quốc cần áp dụng để phát triển bền vững.

Sự sụp đổ đột nhiên của các chế độ độc đoán ở Bắc Phi đang trên đà phát triển là thêm một cảnh báo “sập bẫy trong phát triển” cho Trung Quốc và một số nước phát triển không lành mạnh, chênh lệch giàu nghèo mở rộng toang hoác, do đó không vững bền, chứa nhiều nguy cơ, dễ đổ vỡ.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tại Sao Nguyễn Phú Trọng Phải Đi Tầu ?
Phạm Trần
Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng sẽ chính thức thăm Trung Cộng từ 11 đến 15 tháng 10 (2011) vào lúc quan hệ giữa hai nước Việt-Trung ở vào giai đoạn tồi tệ nhất kể từ cuộc chiến tranh biện giới năm 1979. Tại sao ?

Cuộc chiến mà Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình của Trung Cộng lúc bấy giớ gọi là để “dậy cho Việt Nam một bài học” đã gây cho 6 tỉnh Việt Nam dọc biên giới cửa nát nhà tan, nặng nhất là các tỉnh Lào Cai, Cao Bằng và Lạng Sơn.
Có trên 40 ngàn dân và binh sỹ Cộng sản chết và hàng trăm ngàn người khác bị thương và mất tích. Phiá Tầu cũng bị thiệt hại nặng với khỏang 14 ngàn lính chết và bị thương, chưa kể số quân lính mất tích.

Hai bên đã gián đoạn ngoại giao trong 12 năm cho đến khi tái lập năm 1991, sau khi Việt Nam phải rút quân khỏi chiến trường Cao Miên để thỏa mãn đòi hỏi của Trung Cộng, sau 11 năm chiếm đóng nước này từ 1978 đến 1989.

Trong cuộc chiến này, theo ước lượng của Tây phương thì phía Việt Nam chết khoảng 15 ngàn quân và lối 30 ngàn người khác bị thương. Quân đội Cao Miên (Khmer đỏ) cũng thiệt mạng khoảng 15 ngàn người, nhưng không biết số quân và dân bị thương là bao nhiêu.

VN TIẾP TỤC BỊ LÉP VẾ

Tuy nhiên Việt Nam đã phải trả một giá rất đắt cho hai cuộc chiến. Trên đất liền, theo lời Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Ðại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989) thì: “ Trong đàm phán biên giới, họ (Trung Hoa) ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.” (Trích Bauxite Việt Nam, ngày1/12/2010)

Ngoài ra quân Tầu còn chiếm núi Lão Sơn trong nội địa của Việt Nam, (phía Việt Nam gọi là Cao điểm 1509), nằm ở huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang sau cuộc chiến năm 1984.

Sau đó vào tháng 3 năm 1988, Hải quân Tầu bất ngờ tấn công và đánh chiếm 8 mỏm đá ngầm của Việt Nam trong Quần đảo Trường Sa, sau khi vào tháng 1/1974, lợi dụng những ngày cuối cùng của cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam mà Quân lực Việt Nam Cộng hòa không còn đủ súng đạn tự vệ, đã tiến đánh và chiếm quần đảo Hòang Sa từ tay quân đội miền Nam.

Quân đội Trung Cộng đã xây dựng căn cứ quân sự và sân bay ngắn hay sân bay trực thăng ở cả hai quần đảo này.
Sau khi Việt Nam và Tầu đạt “Hiệp ước biên giới trên đất liền” năm 1999 và “Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ” trên Biển Đông năm 2000 thì Trung Cộng gia tăng áp lực đòi Việt Nam phải giải quyết chủ quyền trên các đảo và vùng biển còn lại, trong đó có vùng biển và quần đảo Trường Sa, nơi còn có tranh chấp của Đài Loan, Nam Dương, Mã Lai Á, Brunei và Phi Luật Tân.

Tình hình nóng lên khi Chính quyền tỉnh Hải Nam của Trung Cộng công bố thành lập Huyện hành chính Tam Sa, gồm cả Hòang Sa và Trường Sa vào năm 2007 khiến người dân Sài Gòn, xuống đường lần đầu tiêng biểu tình chống Bắc Kinh có ý đồ xâm lược.

Các cuộc biểu tình sau đó lan ra Hà Nội nhưng không bền lâu do chính quyền CSVN đàn áp, bắt bớ và khủng bố những người đi biểu tình.
Trong khi Trung Cộng tiếp tục đàn áp ngư dân và hàng năm ra lệnh cấm đánh bắt vào giữa mùa cá trên Biển Đông từ tháng 5 đến tháng 8 thì vào tháng 05 năm 2009, Bắc Kinh tự động nạp cho Liên Hiệp Quốc Bản đồ chủ quyền trên biển Đông có hình Lưỡi Bò hay “Đường 9 Đọan”, khoanh vùng chiếm từ 80 đến 80% diện tích Biển Đông, gồm cả hai Quân đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Việt Nam và các nước ven biển phản đối. Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước trong vùng Thái Bình Dương, quan trọng nhất là Úc và Tân Tây Lan cùng với các nước Âu Châu bị chi phối bởi đường biển kinh tế quan Biển Đông cũng lên tiếng chống lại âm mưu khống chế đường giao thông trên biển của Bắc Kinh.

Cùng với thời điểm này, Trung Cộng gia tăng đánh, bắt và đàn áp ngư dân Việt Nam đánh cá trong khu vực Hòang Sa và Trường Sa. Hàng trăm ngư phủ đã bị giết, nhiều người khác mất tích và tài sản bị tịch thu và bắt chuộc tiền để được thả về.

Mỗi lần như thế, ngư dân Việt Nam phải ký giấy nhìn nhận đã đánh cá và xâm phạm “vùng biển của Trung Quốc”.
Nhưng các tầu Hải quân của Trung Cộng và Tầu hải giám (cảnh sát biển) của Hải quân ngụy tranh dân sự thì lại ra sức bảo vệ cho khỏang 700 thuyền và tầu đánh cá của ngư dân Trung Quốc thường xuyên được tự do đánh bắt trong vùng biển của Việt Nam.

Hành động Trung Cộng xâm phạm chủ quyền lãnh hải, biển đảo và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam nghiêm trọng hơn kể từ ngày 26-05-011 các Tầu Hải giám và Quân sự của Tầu đã trắng trợn vi phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, theo tố cáo của Liên đòan Luật sư Việt Nam:

- Ngày 26/05/2011, 03 tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp thăm dòcủa tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tại vị trí 12 độ48,25 phút Bắc và 111 độ 26,48 phút Đông cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên)(đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam) 116 hải lý,cách bờ biển đảo Hải Nam Trung Quốc là 340 hải lý.
- Chiều ngày31/05/2011, 04 tàu đánh cá của ngư dân thành phố Tuy Hòa đang đánh cá ởvị trí 8 độ 56 phút Bắc và 112 độ 45 phút Đông thuộc thềm lục địa ViệtNam bị 03 tàu Hải quân Trung Quốc nổ súng bắn xuống nước uy hiếp, đe dọakhông cho ngư dân Việt Nam hành nghề.
- Sáng ngày 09/06/2011, tàu cá Trung Quốc có sự yểm trợ của 02 tàu ngư chính Trung Quốc đã cố tình lao vào tuyến cáp khảo sát của tàu Viking II do Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam thuê khảo sát địa chấn trên vùng biển tại vị trí 6 độ 47,5phút Bắc và 109 độ 17,5 phút Đông thuộc thềm lục địa Việt Nam.

Sau đó, kể từ tháng 5/2011, nhà cầm quyền Trung Cộng còn thăm dò dầu khí trong vịnh Bắc bộ của Việt Nam; ngang nhiên đe dọa các Công ty dầu khí nước ngòai hợp tác với Việt Nam tìm kiếm dầu ở Biển Đông. Bắc Kinh còn tuyên bố đem dàn khoan khổng lồ đến hoạt động tìm kiếm dầu khí ở Trường Sa.

Vào tháng 9, Tầu công khai xác nhận việc đem các tầu chiến của họ yểm trợ cho kế họach nuôi cá trên biển dài hạn của 500 tầu đánh cá của Tầu trong khu vực Trường Sa và ngăn chặn không cho ngư dân Việt Nam đến vùng này.

Đến ngày 24/09 (2011), tầu chiến của Trung Cộng đã công khai tấn công và đuổi bắn suốt 2 ngày đêm vào 2 thuyền đánh cá của ngư dân Tỉnh Quảng Ngãi đang khi lâm nguy tìm đường tránh bão ở vùng biển Hoàng Sa. Rất may các ngư dân đã thoát chết, dù thuyền của họ đã bị lính Tầu xả nước với mục đích làm cho thuyền chìm và bắn đạn cháy vào tầu.
Trong khi lính Tầu dã man đuổi bắn ngư dân Việt như thế thì phía lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã ra lệnh cho các báo không được đăng tin và nếu đã đăng thì phải gỡ xuống, mặc dù một số báo chỉ dám gọi tầu chiến của Hải quân Trung Cộng là “tàu nước ngoài” hay “tàu chiến nước ngoài”.
Những hành động lấn chiếm biển đảo và lãnh thổ ngang ngược này của Trung Cộng là nguyên nhân của 11 Cuộc biểu tình của người dân ở Sài Gòn và Hà Nội từ tháng 6 (2011), nhưng cuối cùng Chính quyền VN đã nhượng bộ áp lực của Tầu và ra lệnh cấm biểu tình và bắt giam nhiều người chống Tầu.

Thậm chí, Việt Nam còn hứa sẽ ngăn cấm tất cả những cuộc biểu tình chống Trung Cộng, qua lời cam kết của Nguyễn Chí Vịnh, Trung tướng, Thứ trường Quốc phòng Việt Nam tại Cuộc họp với Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.
Lời hứa này đã được Báo Quân đội Nhân dân của Bộ Quốc phòng Việt Nam tường thuật sau phiên họp ngày 28-8 (2011) tại Bắc Kinh : “Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng thông báo chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn. (Theo Bảo Trung của Báo Quân đội Nhân dân, 30-8-2011)

Nếu ở một nước tự do, dân chủ và có lãnh đạo là một người biết tự trọng, có liêm sỉ và biết tôn trọng quyền lợi của đất nước thì không khi nào nói chuyện với lãnh đạo Tầu chứ đừng bàn đến chuyện ôm nhau và chìa tay ra “tay bắt mật mừng” như các Tổng Bí thư đảng CSVN đã từng làm trong các chuyến thăm Tầu trước Nguyễn Phú Trọng.

Thử hỏi một người đứng đầu một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam như Nguyễn Phú Trọng mà có mặt mũi nào lại hoan hỷ đi thăm một quốc gia mà Chính quyền nước đó đã và đang có những hành động lấn chiếm lãnh thồ và đe dọa chủ quyền của Việt Nam như nhà nước và đảng Cộng sản Trung Quốc ?

Vậy đâu là nguyên nhân của chuyến viếng thăm Tầu vào lúc này của Nguyễn Phú Trọng, sau 10 tháng được bầu vào chức Tổng Bí thư đảng CSVN ?
Chỉ có 5 lý do được suy ra:
1) Nhận khuyến cáo không được lung lay trước những áp lực của quần chúng có khuynh hướng chống Tầu lên cao.
2) Phải nghiêm túc chận đứng mọi khả năng nổi lên bài Trung Cộng của “các thế lực thù địch” và thực thi những cam kết với Trung Cộng của những lãnh đạo trước Trọng từ thời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu cho đến Nông Đức Mạnh.
3) Hãy gác tranh chấp sang một bên để “cùng khai thác” tài nguyên ở Biển Đông.
4) Giữ vững tư tưởng của cán bộ, đảng viên, lực lượng Công an và Quân đội để bảo vệ quyền cai trị độc quyền cho đảng CSVN.
5) Tiếp tục duy trì hợp tác hữu nghị giữa hai nước dựa trên phương châm 16 chữ do lãnh đạo Tầu đưa ra cho Việt Nam thi hành là : “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

4 ĐỜI TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG

Trước Trọng cũng đã có các chuyến thăm và làm việc với lãnh đạo đảng và nhà nước Tầu của các Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1990), Đỗ Mười (2 chuyến, 1991 và 1997), Lê Khả Phiêu (1 chuyến, 1999) và Nông Đức Mạnh (4 chuyến: 2001, 2003, 2006 và 2008).

Trong số các Tổng Bí Thư, Nguyễn Văn Linh đã mở đường tái lập quan hệ ngọai giao nhưng Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã tạo cơ hội cho Trung Hoa vào khai thác Bauxite trên Tây Nguyên và dành nhiều công trình xây dựng và dự án kinh tế cho các Công ty của Tầu.

Theo lời Vũ Khoan, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ tháp tùng Mạnh sang Bắc Kinh năm 2003 thì trong chuyến đi này, Khoan nói :” Đặc biệt, trong chuyến thăm, các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc đã dành cho nhân dân Việt Nam hai món quà: xóa các khoản nợ đồng rúp trước đây (khoảng 420 triệu nhân dân tệ) và xây tặng phía Việt Nam một Nhà hữu nghị Trung-Việt. Hai món quà này thể hiện tinh thần "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai".

Đỗ Mười là người đã có công giữ vững chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam và duy trì quyền lãnh đạo độc tôn cho đảng, theo đúng đường lối của đảng Cộng sản Trung Cộng.

Phải chăng đó là những lý do thầm kín khiến đảng CSVN không dám ho he với Tầu dù có bị khống chế trên nhiều mặt, đặc biệt là sự thao túng công khai và bá chủ của Trung Cộng trên Biển Đông.

Vấn đề đặt ra là liệu trong 5 ngày ở Tầu từ 11 đến 15 tháng 10 (2011), Nguyễn Phú Trọng có đủ bản lĩnh và khả năng để chống trả áp lực của lãnh đạo Trung Cộng hay sẽ cắn răng chịu trận để được yên thân, vì Trọng đã là người “của” Bắc Kinh từ lâu như lời đồn đại ở Hà Nội? -

Phạm Trần
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

VIỆT CỘNG ÂM MƯU DÂNG TÀI NGUYÊN QUỐC GIA CHO TC

Trúc Giang MN
I. TỔNG QUÁT

Vì nhu cầu phát triển kinh tế để trở thành một cường quốc và cũng để nuôi 1.3 tỷ cái miệng ăn, Trung Cộng rất cần năng lượng, báo chí gọi là “khát dầu”.

Thời gian sau nầy, bùng lên việc tuyên bố chủ quyền trên vùng Đông Hải và Nam Hải, TC ngăn cấm việc đánh cá và thăm dò dầu khí của các nước trong vùng như Nhật Bản, Philippines, Việt Nam… Bằng những hành động côn đồ như cướp tài sản, bắt người phạt tiền, thậm chí ngay cả giết ngư dân, mà TC cho rằng đó là hành động chính đáng để bảo vệ chủ quyền trên biển của họ.

Song song với ý đồ chiếm tài nguyên biển, TC cũng có mục đích kiểm soát hai tuyến giao thông hàng hải, một ra biển Nhật Bản để vào Thái Bình Dương, và một ra Ấn Độ Dương qua tuyến giao thông rộn rịp hàng thứ hai thế giới, là eo biển Malacca nằm giữa Malaysia và Singapore, để xuất cảng và nhập cảng hàng hoá của họ.

Hai chiến lược Biển Xanh (Lam sắc quốc thổ chiến lược) và chiến lược Chuỗi Ngọc trai (Nhất xuyến trân châu. String of Pearls) đã bị các nước trong vùng phản đối mạnh mẽ, nhất là Hoa Kỳ.

Bị phản đối quyết liệt, TC bèn thay đổi thái độ, hoà hoãn với quốc tế, cho rằng “phát triển hoà bình” và không có ý đồ bá quyền.

Tuy nhiên, TC thay đổi chiến lược, quay sang đàn áp đàn em là Cộng Sản Việt Nam, buộc phải đàm phàn song phương, rồi từ đó, dùng công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng xác định chủ quyền của mình trên Biển Đông, biến vùng biển thuộc chủ quyền của VN trở thành vùng biển tranh chấp rồi nhảy vào khai thác tài nguyên thuộc vùng biển của VN.

Về phía VN, đảng CSVN có truyền thống làm tay sai TC và có “thành tích” bán nước từ Phạm Văn Đồng cho đến những Hiệp ước năm 1999 và năm 2000 đã cắt đất dâng biển cho quan thầy Trung Cộng.

Đảng CSVN đã bị TC khống chế, bị cấy bùa sinh tử, cho nên phải vâng lời đàm phán song phương, và một lần nữa sẽ bán nước cho bọn Tàu khựa.

Hiệp ước Phân định Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25-12-2000 mà mãi đến năm 2004, VC mới công bố các toạ độ chính xác của các vị trí thoả thuận.

Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam và Trung công, được ký ngày 30-12-1999.

Qua hai hiệp ước, CSVN đã dâng Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và 789km2 trên đất liền và hàng ngàn Km2 trên biển.

Và hiện nay, cuộc đàm phán có tên là “Ủy Ban Chỉ Đạo hợp tác song phương” đang tiến hành để cho ra một Hiệp Ước Bán Nước nữa sắp tới đây.

Trên đây là vài nét tổng quát về nội dung của bài viết nầy, mà chi tiết được trình bày trong phần sau.

II. CHI TIẾT

1* Trung Cộng khẳng định chủ quyền không thể chối cãi trên Biển Đông

Trung Cộng luôn luôn khẳng định chủ quyền trên vùng biển hình Lưỡi bò, là sự thật không thể chối cãi được.

1.1. Tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Cộng

Công bố của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về lãnh hải ngày 4 tháng 9 năm 1958

(Ngày 4 tháng 9 năm 1958 đại hội uỷ viên thường vụ đại biểu nhân dân toàn quốc hội nghị thứ 100 thông qua)

Quyết nghị

Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố:

* Một: Lãnh hải của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh cách đại lục bằng hải phận quốc tế, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc

Bốn: …”những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc”.

Đó là đường chữ U 9 đoạn hay vùng Lưỡi Bò đã chiếm 85% vùng Biển Đông của VN

1.2. Đảng Cộng Sản Việt Nam tán thành nội dung bản tuyên bố

1.2. 1. Công hàm ngày 14-9-1958 của Phạm Văn Đồng

“Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố , ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-công, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.”(hết trích)

1.2.2. Đảng CSVN Công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Cộng

1) Ung Văn Khiêm tuyên bố

“Thứ trưởng ngoại giao Ung văn Khiêm nói rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung công".

2) Ông Lê Lộc, quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao VN:

… "xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Tống."

3) Hoàng Tùng, Trưởng Ban Tư tưởng TW đảng CSVN đã tuyên bố:

“Thà giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung công, cùng phe xã hội chủ nghĩa anh em còn hơn để tụi Ngụy Sài Gòn quản lý”!

4) Năm 1960 và năm 1972 Hà Nội cho ấn hành hai cuốn Atlas.

Cuốn thứ nhất do Bộ Tổng Tham mưu Quân đội biên soạn.

Cuốn thứ hai do Phòng họa đồ của Phủ Thủ tướng biên soạn.

Trong cả hai cuốn này đều ghi Trường Sa và Hoàng Sa là của Trung Quốc.

5) Báo Nhân Dân của Việt Nam số xuất bản ngày 16/9/1958

“Ngày 14/9 Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu An Lai, đã thành khẩn tuyên bố rằng Việt Nam "nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên Bố của Nhà nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trong vấn đề lãnh hải".

6) Sách Địa lý năm 1974

“Các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Đài Loan của Trung công, hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Hoa.”

7) Tháng 2 năm 1972, Cục Đo đạc và Bản đồ, trực thuộc Phủ Thủ tướng phát hành Tập Bản đồ Thế giới, trong đó, Hoàng Sa và Trường Sa bị đổi tên là Tây Sa và Nam Sa.

8) Tháng 5 năm 1976, tờ Sài Gòn Giải Phóng loan tin “Trung công vĩ đại, đối với chúng ta không những là đồng chí mà còn là người thầy tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy, chủ quyền Hoàng Sa thuộc về VN hay thuộc về TC thì cũng vậy thôi!”. (Hết trích)

Như trên cho thấy, không phải chỉ một Phạm Văn Đồng công nhận HS/TS là của Trung Cộng, mà cả đảng và Nhà nước CSVN đã có cùng một chủ trương bán nước cho Tàu Cộng.

Sự thật rành rành không thể chối cãi được.

3* Trung Cộng chửi Cộng Sản Việt Nam

Trong khi Hồ Xuân Sơn “đồng thuận” với TC là thi hành “định hướng dư luận”, thì báo chí TC chửi đảng CSVN tàu xà lúp chở không hết, không còn lời lẻ nào nặng hơn trong ngôn ngữ chửi cả bình dân lẫn có văn hoá. CSVN bị chửi te tua hơn cái mền rách nữa.

Trúc Giang xin trích đoạn do Giáo sư Vũ Cao Đàm dịch từ tài liệu của Trung Cộng, như sau:

“Nói về Nam Sa, quần đảo mà VN đang chiếm 29 đảo. VN là nước láng giềng nhưng không muốn cùng Trung công phát triển phồn thịnh. Quan hệ giữa VN-TQ là quan hệ giữa người nông dân với con rắn độc. VN luôn luôn đóng vai thất tín, bội nghĩa. Trong tình hình hiện nay, VN đã chống lại sự khoan dung và lương thiện của TC.

Việc d ùng vũ lực đánh VN không thể chậm trễ hơn nữa.

Vì sao phải đánh CSVN bằng vũ lực?

Có hai khía cạnh sau đây:

3.1. CSVN là một quốc gia lòng lang dạ sói

Từ những năm 1960, TC đã ủng hộ VN về quân sự, kỹ thuật, kinh tế với quy mô lớn, trong thời gian đó, bản thân TQ cũng khó khăn.

Với sự ủng hộ của TC, VN đã đánh bại 560 nghìn quân Mỹ ở VN. TC vô tư ủng hộ về nguồn lực và nhân lực trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đặt nền móng vững chắc cho việc phục hồi kinh tế cho VN.

Sự vô ơn của VN biểu hiện, một tay nhận viện trợ vô tư của TC, một tay ngấm ngầm chìa ra cho Liên Xô. Dưới sự thao túng của Liên Xô, VN làm đủ trò quấy nhiễu biên giới Trung-Việt đến đổ máu người TC.

Tại VN, VN sát hại và trục xuất Hoa kiều. VN đem quân sang chiếm Campuchia. Không thể nhẫn nại được nữa, tháng 2 năm 1979, TQ phát động chiến tranh phản kích tự vệ. VN bắt tay với Liên Xô, một đối thủ của TC, cầm súng bắn lại ân nhân của mình.

Chúng ta hãy xem, bọn CSVN lòng lang dạ sói đến mức độ nào?

3.2. Cộng Sản Việt Nam là bọn tiểu nhân bỉ ổi không biết xấu hổ.

VN và TC là hai nước láng giềng, uống chung một nguồn nước, nhiều chính trị gia đã đến học tập tại TC, ngay cả đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng từng được huấn luyện, giáo dục ở TC.

Trước đây, ngày 30-5-2008, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đột nhiên đến thăm nước ta, nói ra những điều cảm động lòng người, mồm bô bô “láng giềng tốt, bạn bè tốt, chiến hữu tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, tỏ ra rất thân thiết…sau nầy mới biết, vì lạm phát tăng cao, kinh tế nguy cơ bị khủng hoảng, nên mới chạy qua xin xỏ, cầu viện TC. Đến khi vừa về tới nước thì tên Mạnh nầy liền trở mặt, liên kết với đối thủ cạnh tranh của TC là công ty Mobil, để khai thác dầu khí ở Nam Sa (Trường Sa) mà VN cướp đoạt của TC. Rõ là quân phản bội. CSVN thật là vô liêm sĩ, không biết hổ thẹn là gì.

Trong quá trình tranh chấp, VN âm mưu quốc tế hoá các đảo đã chiếm của TC, với tâm địa độc ác, không biết xấu hổ. Đây là điển hình của hành vi “cường đạo biến thành quân tử”, thật là vô liêm sĩ.

Chính sách của VN đối với TC thật là vô cùng nham hiểm, đó là toa rập với Hoa Kỳ ngăn chặn sự phát triển của TQ.

Xem ra, VN muốn đi theo vết xe cũ của năm 1979, vẫn còn muốn diễn vai bán đứng ân nhân đã từng giúp đỡ họ, để trở thành một kẻ tiểu nhân vô liêm sĩ thật thụ.

Năm 1979 chưa đủ dạy cho CSVN một bài học tơi bời, thì sắp tới đây, chúng ta cần phải làm triệt để, để VN có một bài học nhớ đời và cũng là lợi ích lâu dài của TC

TC hiện nay đang theo chính sách “ẩn dấu tài năng”, “lâu dài mai phục” khiến cho bọn oắt tì VN xâm chiếm lãnh hải TC và cứ nhâng nhâng thăm dò khai thác tài nguyên.

Đã đến lúc chúngg ta cần phải dẹp bỏ thái độ khoan dung nhân nhượng, mà phải dung vũ lực, chứng minh TC là một đất nước anh hùng.

Để cho một nước lỏi con như VN xâm phạm lãnh thổ của mình, sự khoan dung thái quá là tự hủy diệt mình, cho nên phải dùng vũ lực tấn công VN một cách tàn nhẫn. Cần phải phá hủy triệt để các cơ sở quân sự, tất nhiên bao gồm tất cả hạ tầng dân sự của VN. Đối với một nước vô liêm sĩ như vậy, chúng ta không cần phải quan tâm đến vấn đề đạo đức, nhân đạo làm gì. Chỉ cần phù hợp với lợi ích quốc gia thì đó là chiến tranh chính nghĩa.” (Hết trích)

(Giáo sư Vũ Cao Đàm dịch từ tài liệu Trung Công).

Ngày 25-6-2011, Thiếu tướng Bành Quang Khiêm, Phó Tổng Thư Ký Ủy Ban Chính sách Quốc gia TC tuyên bố: “Trung công đã từng dạy VN một bài học và có thể cho VN một bài học lớn hơn, nếu VN tiếp tục diễu võ dương oai, múa trên lưỡi đao, sớm muộn gì có ngày VN sẽ ngã trên lưỡi đao đó”.

4* Làm thế nào để hiểu nghĩa của từ ngữ của Trung Cộng?

Chúng ta không thể hiểu được quan điểm của TC qua những từ ngữ với cái nghĩa thông thường mà phát ngôn viên của hai bên đấu võ mồm với nhau, mà phải đọc qua những lời chửi bới thậm tệ nêu trên, từ đó mới hiểu rõ những “cụm từ” như sau:

- “Trung quốc không chiếm biển của VN” phải hiểu là, 2 quần đảo HS/TS và vùng Lưỡi bò là thuộc về của Trung Cộng rồi. TC không chiếm thêm nữa.

- “Không gây căng thẳng, gia tăng bất ổn” phải hiểu là VN phải ngừng thăm dò dầu khí, không đánh cá trong vùng biển của TC, cụ thể là tàu Bình Minh và Viking đã ngừng dò tìm mỏ dầu.

- “Định hướng dư luận” phải hiểu là VN phải cấm biểu tình, cấm chỉ trích TC, ví dụ như bắt giam nhà báo tự do Tạ Phong Tần và các nhà dân chủ, yêu nước khác.

Những chỉ thị trên đã được CSVN cung cung kính kính vâng lời tuyệt đối.

5* Hoa Kỳ và các quốc gia trong vùng phản đối quyết liệt

5.1. Hoa Kỳ phản đối

Ngoại trưởng Clinton tuyên bố, Hoa kỳ có quyền lợi quốc gia ở Biển Đông. Thứ trưởng Ngoại giao HK cho biết, Hoa Kỳ không tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông mà cũng không chấp nhận bất cứ một chủ quyền nào của ai tại đó cả.

Không phải nói suông, ngay sau đó, HK đưa Hàng Không Mẫu Hạm và tàu chiến hiện đại vào Biển Đông để bảo vệ quyền lợi quốc gia của HK. Các nước trong vùng hoan nghênh HK, cho rằng sự hiện diện lực lượng hùng mạnh của HK sẽ làm cho TC không dám dùng quân sự để gải quyết các tranh chấp với các nước nhỏ, yếu trong khu vực..

5.2. Các quốc gia trong vùng phản đối

Nhật, Úc, Philippines, Singapore, Malaysia và Ấn Độ đã rộn rịp ngoại giao để liên minh, liên kết chống lại bá quyền Trung Cộng.

6* Khúc xương khó nuốt

6.1. Gác bỏ chủ quyền qua một bên

GS Tô Hào, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu QT của Bộ Ngoại Giao TC cho biết, đến lúc phải “dẹp vấn đề chủ quyền qua một bên, tạo ra vùng biển hợp tác chung”.

Mới đây, hôm thứ năm 29-9-2011, ông Huang Jing, GS Đại học Singapore trả lời phỏng vấn của ký giả tờ Bloomberg, cho rằng Bắc Kinh muốn thoả hiệp với khối ASEAN về Biển Đông để ngăn cản sự can dự của Hoa Kỳ. Đặc biệt, ông Huang Jing nêu giả thuyết là Trung Cộng có thể từ bỏ “Đường Lưỡi bò 9 đoạn” trên bản đồ.

6.2.* Trung Cộng quay sang đàn áp CSVN

Việt Cộng đã cung cung cẩn cẩn vâng lệnh quan thầy, ngồi xuống giải quyết song phương, định hướng dư luận, thề không đa phương hoá, không quốc tế hoá vấn đề Biển Đông.

Trung Cộng đạt được mục đích là biến vùng biển thuộc chủ quyền của VN trở thành vùng biển tranh chấp bằng công hàm bán nước Phạm Văn Đồng, rồi nhảy vào khai thác tài nguyên thuộc về quốc gia VN.

7* Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp tác song phương là gì?

Nói đến “Hợp tác song phương” có nghĩa là không còn tranh chấp về chủ quyền nữa, mà là bàn về việc hợp tác chung của 2 bên, không ngoài hợp tác khai thác tài nguyên.

Ngày 7-9-2011, Tân Hoa Xã đưa tin, Ủy viên Quốc Vụ Viện Đới Bỉnh Quốc và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng chủ trì phiên họp Ủy Ban Chỉ đạo Hợp tác song phương. Báo chí VN loan tin, Nguyễn Tấn Dũng nói rằng “Việt Nam luôn luôn ghi nhớ sự giúp đở to lớn của Đảng, nhà nước và nhân dân Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và trong việc xây dựng phát triển kinh tế ngày nay. Khẳng định, chính sách trước sau như một của VN là tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt”.

Vì bị chửi là “hèn hạ vô liêm sĩ, vong ân bội nghĩa”, nên Nguyễn Tấn Dũng cam kết là nhớ ơn, cũng có nghĩa là sẽ trả ơn, làm đẹp tình hữu nghị không gì bằng tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải mà Chu Ân Lai đã công bố. Lại một lần nữa, Nguyễn Tấn Dũng theo bước Phạm Văn Đồng đối với TC.

8* Ơn nghĩa trời biển của Trung Cộng

Chỉ riêng về vũ khí, tính bằng số lượng, cho giai đoạn 1973-1975

1. Súng bộ binh (Tính bằng khẩu): 2,227,677 khẩu (2 tỷ)

2. Súng chống xe tăng: 43,584 khẩu

3. Súng cối đủ loại: 24,134

4. Pháo hỏa tiễn: 290 khẩu

5. Pháo mặt đất: 1,376

6. Pháo cao xạ: 3,229 khẩu

7. Hoả tiễn Hồng Kỳ: 1 trung đoàn

8. Đạn hoả tiễn K 681: 480 quả

9. Phi cơ chiến đấu: 142 chiếc

10. Tàu chiến: 30 chiếc

11. Tàu vận tải quân sự: 127 chiếc

12. Xe tăng các loại: 552 chiếc

13. Xe vỏ bọc thép: 360 chiếc

14. Xe xích kéo pháo: 322 chiếc

15. Xe chở quân: 6,524 chiếc

16. Phao cầu: 15 bộ

17. Xe cơ giới: 3,430 chiếc

18. Ống dẫn dầu: 11 bộ

19. Thiết bị toàn bộ: 36 bộ


Đây là viện trợ vũ khí trong giai đoạn 1973-1975. Trước đó không kể. Không kể các chi viện kinh tế, cố vấn…

III. KẾT LUẬN

Hội đàm hợp tác còn đang tiến hành, có lẻ đang tranh cãi về hình thức hợp tác khai thác như thế nào? Lợi nhuận sẽ chia chác ra sao?

Phó chủ tịch Tập Cận Bình khuyên đảng CSVN nên “3 kiên trì”. Đó là lời khuyên của người bề trên như ông chủ khuyên bảo tôi tớ vậy. Thử hỏi CSVN có ai dám khuyên lãnh đạo TC như thế không? Khuyến khích, động viên, an ủi, vỗ về…

• Kiên trì hiệp thương hữu nghị

Về lời khuyên nầy thì CSVN đã nhanh chóng và đồng loạt thể hiện tấm lòng thành, nhất trí xử sự mọi việc trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt.

(Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai* Láng giềng tốt. Bạn bè tốt. Đồng chí tốt. Đối tác tốt)

• Kiên trì nhìn đại cuộc

Là kiên gan, bền chí, nhẫn nại, nhẫn nhục để bảo vệ đại cuộc có liên quan đến sự sống còn của lãnh đạo VN, đó là bảo vệ đảng. Đảng còn thì người còn. Người còn thì tài sản còn. Tài sản cán bộ còn thì nhân dân trắng tay.

• Kiên trì hợp tác cùng có lợi

Hợp tác thì có lợi. Bất hợp tác thì mất tất cả, bởi vì đã bị bùa sinh tử, đầu đội chiếc vòng kim cô…

Cộng Sản VN có lẻ khoái cái giải pháp nầy nhất. Bởi vì, vấn đề chủ quyền đã được gác qua một bên, cho nên, CSVN có thể mạnh dạn tuyên bố với nhân dân VN rằng, HS/TS vẫn còn là của VN, sự thật không chối cãi được.

Còn việc chia chác lợi nhuận thì các khoản thu nhập về khai thác tài nguyên biển sẽ được đưa vào ngân khoản quốc phòng, một chương mục thuộc bí mật quốc gia, cấm mọi người nhắc tới hoặc công bố.

Tóm lại, một hiệp ước sẽ ra đời. Hai bên đều tuyên bố thắng lợi trong việc hợp tác khai thác tài nguyên quốc gia của VN. Và một lần nữa, VC dâng tài nguyên quốc gia cho Trung Cộng.

Trúc Giang
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Chết mẹ!

Quảng Trung Thiên
(Nguồn: DCVOnline)

Rất tiếc của nhưng toán đặc nhiệm Mỹ buộc lòng phải phá hủy chiếc máy bay trực thăng Hắc Ưng (Black Hawk) bị trục trặc
trong cuộc bố ráp Bin Laden tại Abbottabad, Pakistan.

Image
Phác thảo tượng đài “Mẹ Việt Nam anh hùng” với chi phí xây dựng 410 tỉ đồng Việt Nam. (Hình: VNExpress)


Tại sao họ không để lại đó rồi hôm sau đến sửa mang về? Họ sợ Pakistan sẽ bán xác chiếc máy bay này cho Trung Quốc! Trung Quốc sẵn sàng mua xác công nghệ kỹ thuật của Mỹ với giá cao.

Và cũng không phải rỗi hơi mà tờ Wall Street Journal số ra ngày 24 tháng 5, 2011 trong bài “Cuộc tấn công của Taliban phơi trần Pakistan” (Matthew Rosenberg, “Taliban Raid Exposes Pakistan”) tường thuật về cuộc tấn công của Taliban vào căn cứ hải quân của Pakistan, đã đặt nghi vấn khi biết có 11 kỹ sư Trung Quốc đang xớ rớ tại đó, họ đang làm gì ở đó? Họ làm gì mặc xác việc gì báo chí Mỹ phải xen vào? Báo chí Mỹ phải xen vào vì chiếc máy bay thám thính và chống tàu ngầm P-3C Orion vừa mua của Mỹ bị thiêu rụi, họ nghi ngờ vì có thể ruột chiếc máy bay đã được mang về Trung Quốc còn phần vỏ thì nhờ tay phiến quân Taliban giúp giùm!

Và cũng theo thông tấn xã AP vào ngày 18 tháng 9, 2011 trong bản tin “Quân Pakistan tấn công Taliban giành xác phi cơ không người lái của Mỹ” (Ishtiaq Mahsud, “Pakistan troops battle Taliban for US drone debris”). Ngay tựa đề đã thấy cái xác phi cơ không người lái của Mỹ rất là có giá. Chỉ có cái xác máy bay mà cũng phải giành giật? Vì đó là công nghệ kỹ thuật cao, nên có người như Trung Quốc sẵn sàng ra giá cao để mua lấy xác! Không những thế Trung Quốc còn hù dọa các nước láng giềng bằng cách mua con tàu ve chai Gerand của Ukraina về chế thành hàng không mẫu hạm. Trong khi các hàng không mẫu hạm của các nước tiên tiến thì chạy bằng năng lượng nguyên tử thì hàng không mẫu hạm Trung Quốc chạy bằng... diesel, nhưng không sao miễn là hèn nhát như quân đội nhân dân Việt Nam thấy sợ là được!

Nhưng đó là chuyện của Trung Quốc đâu có liên quan gì đến Việt Nam? Có chớ! Vì Việt Nam là thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc nên cái gì Trung Quốc làm thì chính phủ Việt Nam rắp tâm bắt chước theo, cũng tập tành mua... xác! Không cần phải đi đâu xa cho tốn tiền mệt xác, chính phủ Việt Nam cũng mua... xác công nghệ cao từ Trung Quốc. Miễn là công nghệ cao thì cũng tốt chứ sao? Không, đó đơn thuần chỉ là những cái xác, từng đoàn lao động phổ thông từ Trung Quốc tràn ngập Việt Nam và cạnh tranh với đám thợ hồ tụi tui gay gắt. Và từng đoàn cán bộ từ sở, ban ngành đến trung ương của Việt Nam đều sang chầu chực Trung Quốc để rồi rinh về mớ xác phế thải, từ nhà máy đến... tàu cao tốc. Ðể rồi đến chín mươi phần trăm công trình trọng yếu của quốc gia đều là từ Trung Quốc. Khoan nói đến an ninh quốc phòng, chỉ nghe đến chất lượng Trung Quốc đã thấy kinh!

Khi những cái xác phế thải từ Trung Quốc không đủ đáp ứng nhu cầu tham nhũng, thì những người cộng sản Việt Nam quay ra bươi lại những cái xác của chiến tranh để kiếm tiền tư túi. Khi những nước lân bang như Nam Hàn, Singapore, Mã Lai... đã ra khỏi chiến tranh và trở thành cường quốc thì Việt Nam, tuy chiến tranh đã trôi qua được 36 năm, nhưng vẫn còn ngập ngụa trong những cái xác phế thải. Chính vì ngập chìm trong bóng ma chiến tranh, vương vấn với hào quang chiến thắng nên người cộng sản Việt Nam đã cho mình ở vào đỉnh cao của trí tuệ của loài... vật. Khi những quốc gia lân cận vươn tới đỉnh cao của công nghệ kỹ thuật, như Nhật, Nam Hàn, Singapore... thì Việt Nam cũng phát triển được công nghệ... mãi dâm và ăn được cả bê tông cốt thép!

Không đâu như Việt Nam, công nghệ “ăn nhậu” và “bia ôm” đã lan tràn đến hang cùng ngõ hẻm. Những người cộng sản Việt Nam khi đã no say thì họ bổng giật mình nhớ ra là mình cũng còn có... mẹ. Ừ thì “những người mẹ này đã dũng cảm... điên khùng bóp mũi con mình cho chết để che giấu cán bộ cộng sản nằm vùng, để rồi đám du côn này khi thành công lại bóp miệng bà mẹ già nua, cô đơn nghèo khó, đã cắc củm nuôi mình năm xưa, quăng ra đường để chiếm lấy miếng đất hương hỏa của họ mà làm sân gôn (golf) hay xây biệt thự” như ông đã viết. Không, đó là những bà mẹ còn sống, tui chỉ nói là họ nhớ ra những bà mẹ... đã chết! Ðám quan chức mừng rơn khi... mẹ chết! Vì có cớ làm một đám tang linh đình để khai thác tận thu tiền phúng điếu. Nếu đám quan chức này không... chết mẹ thì sao? Thì bươi đại một cái xác của bà nào đó, chết trong chiến tranh, sơn phết, tân trang, bóp nặn ca tụng thành mẹ rồi dựng tượng đài để mà lấy tiền.

Theo báo Người Lao Ðộng số ra ngày 20 tháng 9, 2011, “Xây tượng đài 410 tỉ đồng” của Ngân Hoa, thì tỉnh Quảng Nam “nâng tổng số tiền đầu tư từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh lên hơn 410 tỉ đồng” để xây tượng đài một bà mẹ! Không cần phải bàn nếu họ dựng lại cái xác bà nhà quê bằng tiền túi của họ, nhưng đằng này họ lấy tiền thuế của dân để xây dựng công trình, để rồi tiền “lại quả” chạy vào túi riêng của họ. Nhẩm tính theo thời giá hiện nay số tiền “lại quả” là ba mươi phần trăm của tổng vốn công trình cho chủ đầu tư, thì phần “lại quả” của 410 tỷ không phải là nhỏ. Cho dù ít hay nhiều thì hành động ăn trên xác người đều đáng lên án. Càng đáng lên án khi các bà mẹ quê còn sống đang tần tảo vất vả mang từng túm rau, bó cải ra chợ để đổi chác được mươi ngàn để đóng học phí và nuôi con ăn học. Những đứa con bữa đói bữa no nhưng vẫn cố gắng ôm cặp đến trường để tìm kiến thức và Chủ Nhật hàng tuần vẫn xuống đường biểu tình để bảo vệ tổ quốc. Ở Quảng Nam vẫn còn có những đứa con không có tiền để đóng học phí đại học. Ngược lại, đám quan chức vẫn ăn chơi hoang đàng xa xỉ, bòn rút người nghèo, dập vùi những bà mẹ còn sống, bươi xác những người đã chết để lấy tiền bỏ vào túi riêng.

Một tỉnh nghèo như Quảng Nam, hàng năm từng đoàn người lũ lượt kéo nhau ra đi khắp bốn phương làm thợ hồ, thợ may trong đó có... tui, để kiếm sống và nuôi những người thân còn ở lại. Một tỉnh không đủ việc làm cho dân, quanh năm chỉ quanh quẩn với giày da, suốt tháng chỉ biết may mặc, tất cả chỉ đều công việc gia công với đồng lương chết đói. Còn những người nông dân thì chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, bám với mẫu ruộng cằn cỗi với “công nghệ” của ngàn năm về trước, con trâu đi trước cái cày theo sau, và chạy ăn ngày ba bữa. Nhưng chính quyền cấp tỉnh mặc kệ, vẫn cứ chơi sang và chơi... ngu, tiêu tiền của dân vô tội vạ.

Không chỉ riêng với một tỉnh Quảng Nam, các tỉnh thành khác cũng làm tương tự. Lên đến cấp quốc gia thì chính phủ Việt Nam sẵn sàng phung phí tiền dân như Vinashin và sắp tới đây sẽ là tàu cao tốc với công nghệ Trung Quốc. Một chính quyền chỉ biết đàn áp dân, cướp của dân và sống bám vào dân. Chính quyền cộng sản đã thành giống ký sinh trùng đục khoét, vơ vét trên tấm thân còm cõi mẹ Việt Nam. Với chính quyền thiểu năng trí tuệ như vậy sẽ dẫn con thuyền Việt Nam trôi dạt về đâu? Thì về Trung Nam Hải chớ đâu nữa. Chết mẹ!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Steve Jobs: Chỉ có ở nước Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Chỉ có ở nước Mỹ mới có một người thành công như Steve Jobs. Nhiều người ví Steve Jobs với Henry Ford, Thomas Edison, những doanh nhân đã làm cách mạng trong ngành hoạt động của họ.

Các sản phẩm họ đưa ra thị trường thay đổi đời sống của hàng trăm triệu con người. Với Henry Ford là xe hơi, với Thomas Edison là máy hát, máy quay phim, bóng đèn, với hơn 1000 bằng sáng chế. Với Steven Jobs là Macintosh, iPod, iPhones, iPads.

Gốc tích Steve Jobs giống Tổng Thống Barack Obama, cả hai đều là “đứa con bị cha bỏ rơi,” của một sinh viên ngoại quốc và một phụ nữ Mỹ. Cha của Steve Jobs cũng đạo Hồi, người Syria, bỏ con từ khi ra đời, bà mẹ trẻ phải cho đứa bé làm con nuôi. Bố mẹ nuôi là những người lao động, Jobs phải rời trường đại học vì cha mẹ không đủ tiền trả học phí. Năm 20 tuổi, Jobs cùng Steve Wozniak, bạn học cũ, giúp vốn làm ăn. Wozniak bán chiếc máy tính hiệu HP, Jobs bán chiếc xe van Volkswagen góp được 1,350 đô la. “Chúng tôi làm việc 18 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, làm việc vui quá,” Wosniak kể. Mới đầu cặm cụi trong phòng ngủ của Wosniak, sau chật chội quá đổi qua garage nhà Jobs. Khi chế ra máy Apple 2, Jobs thuê Jerry Manock làm cho cái mẫu, giá 1,500 đô la. Nhà họa kiểu kỹ nghệ yêu cầu trả tiền trước, vì “không biết mấy ông tướng này sẽ làm ăn thế nào!” Steve Wozniak có tài chế ra máy, nhưng Steve Jobs là người nghĩ đến làm sao cho mọi người dùng được cái máy, để bán được máy.

Giấc mộng của Steve Jobs, có lúc nói với Wosniak, là sẽ dựng lên một công ty trị giá 10 tỷ Mỹ kim, mà “không mất linh hồn”. Khi Steve Jobs chết, 56 tuổi, công ty Apple trị giá 350 tỷ đô la, Jobs được cả thế giới nhớ tới như một doanh nhân lỗi lạc. Linh hồn của Apple vẫn là luôn luôn tìm cái mới, dám liều lĩnh làm cái mới, và nghĩ đến người trước khi nghĩ đến máy.

Một trong những người ngưỡng mộ Steve Jobs là một cậu ở Hồng Kông, Jonathan Mak, 19 tuổi. Tháng Tám, khi nghe tin Jobs từ chức vì bệnh ung thư nặng, cậu sinh viên này (họ Mạch đọc theo lối Hán Việt) đã vẽ kiểu một bức hình tỏ lòng kính trọng, đưa lên mạng. Hình đen trắng đơn sơ; dùng trái táo nhãn hiệu các sản phẩm của Apple, thay vết cắn trên trái táo bằng bóng Steve Jobs nhìn nghiêng. Trong mấy ngày qua, bức hình này được khắp thế giới hoan nghênh, nó thể hiện đúng như lối Steve Jobs vẫn chọn kiểu cho các sản phẩm của ông: Ðơn sơ mà đẹp. Cậu Jonathan đang được mấy trăm ngàn người vào mạng hoan hô, được các tờ báo ở Mỹ và Ðức xin phép sử dụng, được các công ty thương mại mua quyền in trên áo thung, trên các món tưởng niệm Steve Jobs (cậu nói sẽ xin phép công ty Apple trước để được sử dụng hình trái táo của họ, rồi sẽ tặng các món tiền thu được cho việc nghiên cứu chống ung thư).

Trong cùng thời gian đó, một cô gái 19 tuổi đang đi biểu tình ở New York, trong đám hàng ngàn người xuống đường với khẩu hiệu “Chiếm Wall Street” (Occupy Wall Street). Wall Street là trụ sở thị trường chứng khoán New York, tượng trưng cho kinh tế tư bản hàng trăm năm nay. Phong trào này đã làn ra các thành phố lớn khắp nước Mỹ. Cô Zubeyda Akil ra khỏi nhà từ ngày 17 Tháng Chín khi vụ biểu tình bắt đầu, hành trang có một cái túi ngủ, mấy bộ quần áo, cái đệm trải trên lề đường hay trong công viên mỗi đêm, và một điện thoại di động, để (theo lời mẹ dặn) mỗi ngày gọi về nhà hai lần cho má yên tâm. Lâu lâu cô phải đi “chạc” máy điện thoại nhờ trong quán ăn McDonald, đường Broadway. Những người biểu tình đem theo các khẩu hiệu tùy ý mình, không ai phối hợp, không ai nghiên cứu, ra lệnh. Chống chiến tranh, bảo vệ môi trường, bảo vệ thú vật, nhất là chống các nhà tài phiệt, các đại công ty, đòi Wall Street bớt tham lam, bớt làm liều gây khủng hoảng kinh tế làm bao người thất nghiệp. Nhiều người biểu tình là những sinh viên đã tốt nghiệp đại học, chưa có hay mới mất việc, và tất nhiên họ mang bên mình nhiều sản phẩm do Steve Jobs tung ra.

Chỉ có ở nước Mỹ mới thấy cảnh tượng đó. Ði biểu tình chống kinh tế tư bản mà vẫn sử dụng những thành tựu của nền kinh tế đó, iPod, iPhones, iPads. Rồi khi pin trong máy bị yếu, đi chạc điện nhờ ở quán McDonald, hệ thống “phát phút” này cũng là một thứ mà chỉ kinh tế tư bản mới đẻ ra được! Cảnh tượng này, nói giản dị, gọi là Tự Do.

Không có chính phủ nào đó nhân lực, tài nguyên và khả năng điều khiển cuộc sống kinh tế để đẻ ra những Apple hay McDonald; những Mark Zuckerberg (Facebook), Bill Gates (Microsoft), Larry Page (Google), hay Michael Dell (Dell). Họ thành công không phải chỉ nhờ kinh tế thị trường. Bộ Quốc Phòng Mỹ có thể đã trả tiền cho những người sáng tạo ra kỹ thuật làm thành Internet. Nhưng muốn Internet được phổ biến, thay đổi đời sống hàng tỷ con người, phải chờ các doanh nhân. Kinh tế thị trường và chế độ tự do dân chủ là môi trường sản xuất ra những người sáng tạo, dám chấp nhận rủi ro, những người làm cách mạng trong đời sống hàng ngày cho mỗi ngày một tốt hơn. Quan trọng nhất là họ sống trong một xã hội tự do, dân chủ, tôn trọng luật pháp, trong đó có những luật lệ bảo vệ tài sản. Một món tài sản cần bảo vệ là bằng sáng chế, phát minh. Jonathan Mak sống ở một môi trường tự do và trọng pháp cho nên đã nghĩ ngay tới việc xin phép Apple sử dụng hình trái táo. Mai mốt, khi hình vẽ của chú được in trên áo thung, chắc chắn sẽ có hàng triệu chiếc áo tương tự được sản xuất ở Trung Quốc, không trả bản quyền; rồi lén lút chuyển ra bán ở Hồng Kông và các nước khác! Họ chưa có thói quen tôn trọng quyền sở hữu, còn lâu mới tiến được!

Khi nhớ lại thời họ khởi nghiệp, Steve Wozniak kể rằng trong thời gian đó “có hàng triệu thanh niên như chúng tôi. Ai cũng nhìn về tương lai, cố nghĩ làm sao biến các ý kiến của mình thành doanh nghiệp lớn.” Steve Jobs không mang hình ảnh một “nhà tư bản” Wall Street. Chịu ảnh hưởng của đạo lý Ðông Phương (theo đạo Phật sau chuyến đi Ấn Ðộ thời trẻ) Jobs sống giản dị, mang một lối nhìn không giống khuôn mẫu có sẵn. Người khác chế tạo máy vi tính cho thật tốt, thật hay, cho người tiêu thụ mua dùng rồi thích ứng với máy. Jobs luôn luôn dùng trực giác nghĩ tới người tiêu thụ trước, xem họ sống, nghĩ, cảm như thế nào và chế ra những cái máy thích hợp với con người, cho phép người và máy tương ứng, tương tác lẫn nhau.

Công ty Apple đã chế ra những cái máy giúp người mù “đọc” được giá trị đồng tiền họ nắm trong tay; giúp giáo dục trẻ em bị bệnh “tự kỷ” (autistic) biết đọc biết viết, chế những cái máy chuyển biến dữ kiện y khoa giúp việc chẩn bệnh; có máy giúp các hội từ thiện gây quỹ, chưa kể những iPod, iPhones, iPads thay đổi cách người ta sống hàng ngày, giải trí, liên lạc với nhau, thu thập tin tức và và học hỏi, đủ thứ. Ngoài 34,000 người làm cho công ty Apple ở Mỹ, còn hàng trăm ngàn công nhân khắp thế giới có công việc.

Nhiều người chỉ trích công ty Apple về tội “đưa công việc làm sang Trung Quốc” khi thấy những sản phẩm có chữ Made in China. Sự thực không phải.

Một cái iPad bán giá 499 đô la, thì trong đó chỉ có 12 đô la trả cho các xí nghiệp và công nhân Trung Hoa làm việc ráp các bộ phận lại. Có 250 đô la trả cho các công ty Samsung ở Ðại Hàn, Toshiba ở Nhật, Broadcom ở Mỹ, còn cái pin dựng trong đó là do công ty Amperex Technology ở Hồng Kông, do công ty TDK Nhật Bản làm chủ. Ngoài ra còn những bộ phận được chế tạo ở nhiều nước khắp thế giới. Phần lớn nhất trong số 499 đô la một chiếc iPad trả cho các cổ đông công ty Apple, dùng để trả tiền các bằng sáng chế, lương nhân viên, và đóng thuế. Ðây là một thành quả của nền kinh tế toàn cầu hóa.

Mặc dù nhiều bạn trẻ đang biểu tình chống Wall Street, nhưng chính nhờ các định chế tài chánh ở đó những người như Steve Jobs mới có cơ hội. Trước khi chính thức thành lập và ghi tên công ty Apple, Jobs và hai người bạn góp dần dần được 250,000 đô la. Bốn năm sau, công ty Morgan Stanley tổ chức việc phát hành thêm cổ phiếu đưa Apple vào thị trường chứng khoán, bán cổ phần cho công chúng. Số cổ phiếu mà ba nhà sáng lập làm chủ trị giá 1,800,000 đô la. Một cổ phần bán với giá 378 đô la trong tuần qua, hồi công ty mới ra công chúng năm 1980 chỉ đánh giá 2.75 đô la.

Paul Jobs, cha nuôi của Steve, là một công nhân chạy máy, chưa học hết trung học. Trong cái xưởng nhỏ mà ông dựng ở nhà, ông đã dành một khoảng cho cậu con nuôi, dậy con tập làm việc, tháo rồi ráp mấy cái máy, hy vọng cậu con sẽ thành một công nhân giỏi. Ông không ngờ đứa “con chửa hoang” ông nhận nuôi có sự nghiệp như sau này. Trong lúc kinh tế Mỹ suy yếu, ngành công nghiệp điện tử càng trì trệ, chỉ có Apple là vẫn được người ta chờ đợi khi tung ra các sản phẩm mới. Sau đó, bao nhiêu công ty khác thấy một thị trường mới mở ra, họ đua nhau chế các sản phẩm cùng công dụng. Cái tài của Steve Jobs không phải là tìm ra những sản phẩm mà thị trường muốn tiêu thụ. Năng khiếu đặc biệt của ông ta là làm ra những thứ mà người tiêu thụ thấy là phải thích. Những thứ đó lại thay đổi đời sống của mọi người.

Chỉ có một nền kinh tế thị trường trong một xã hội tự do dân chủ, mọi người bình đẳng pháp luật và bình đẳng cơ hội mới đẻ ra những nhà kinh doanh thành công như Steve Jobs. Những người biểu tình chống Wall Street không chống tất cả hệ thống kinh tế và chánh trị nước Mỹ. Ðúng ra là họ có thiện chí muốn cải thiện hệ thống đó. Họ đúng hay sai, không quan trọng. Trong chế độ dân chủ tự do, sau cùng các cử tri sẽ chọn muốn thay đổi cái gì, thay đổi ra sao. Bốn năm một lần, dân Mỹ có thể bắt đầu làm lại. Ðiều quan trọng là xã hội có tự do, ai cũng có quyền hội họp ngoài đường, có quyền phát biểu ý kiến. Bảo vệ các quyền tự do đó cần thiết hơn cả việc bảo vệ một hệ thống kinh tế tài chánh mà lúc nào người ta cũng thay đổi được.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 13 guests