Tạp Ghi

caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Một kỷ niệm nhớ đời tại tiệm Phở Kimmy
Vài ngày trước buổi Hội Ngộ của chúng ta , theo lời giới thiệu thiết tha của 1 người bạn tuy không phải khóa chúng ta , song rất thân thiết với khóa chúng ta , tôi và vợ chồng bạn Phúc " ông già Noel" có đến phở Kimmy để thưởng thức món phở ở đây .

Trước đây , vì là người ở tương đối gần Little Saigon , tôi có đến ăn phở ở đây vài ba lần cùng bà xã (lúc tiệm này còn ở trong khu Chợ 99 đối diện Phước Lộc Thọ ). Tội nghiệp , bà xã tôi không ăn được thịt bò , nên có lần hỏi anh già waiter mặt bói không ra 1 nụ cười ở đấy :

"Ở đây có phở gà không ? " .

Anh già này bèn trả lời dấm dẳng :

" Không có , muốn ăn thì phải dùng với nước dùng thịt bò !".

Quả là 1 câu trả lời đi ngược hoàn toàn với nguyên tắc ẩm thực mà chỉ anh già cà chớn đó mới có thể phát ngôn như ri ! Tôi còn chứng kiến có 1 cặp vợ chồng ngồi chờ phở hơn nửa tiếng đồng hồ , đành phải uống nước trà cho đỡ đói . Ấy thế mà khi người chồng thắc mắc hỏi anh-già-chuyên-mặc-áo-trắng-dài-tay tại sao phải chờ lâu thế thì được anh già này trả lời :

" Muốn ăn nhanh thì chịu khó đi tiệm khác ! ".

Người chồng bất mãn vì câu nói này , kéo vợ đi ra khỏi quán , nhưng "tình vẫn chưa yên " vì bị anh già kéo lại bắt phải trả $2 cho 2 ly nước trà !!!!

Trên báo Người Việt cả năm trước đây đã có 1 bài phóng sự về tiệm phở này và đặt tên tiệm phở này là " Phở rón rén " , vì nếu muốn gọi thêm rau hay hành trần...thì phải rón rén mà gọi , với mặc cảm phạm tội là làm phiền người hầu bàn , không những thế còn sợ bị mắng vì đòi hỏi quá ( những món xin thêm này , dù chỉ là 1 vài cọng húng quế , 1 ít giá sống ... cũng đều bị quy ra tiền ) .

Bài báo có nhắc đến những " Cháo chửi , phở quát ... " ở Hà Nội và cho rằng , sở dỉ những quán này vẫn đông khách vì thực khách nhiều người là "hậu duệ " của Hầu Tước De Sade , phải bị chửi mắng thì ăn mới ngon , khoái lạc trong đau khổ mà lị ! . Mong rằng bạn và tôi không được hân hạnh nằm trong thành phần này !

Sau khi lái xe vòng vòng tìm chỗ đậu xe đến 10 phút mà vẫn không tìm thấy chỗ đậu xe , tôi đành phải đậu phía bên kia đường ( chỗ nhà hàng Bò Bẩy Món Thiên Ân ) và đi bộ băng qua đường để vào tiệm phở . Đứng xếp hàng khoảng 10 phút nữa , chúng tôi mới vào được bên trong . Một lúc sau , 1 đĩa rau sống được đưa ra .Trên đĩa thiếu hẳn ngò gai , tôi có hỏi và được 1 bà beo béo người Bắc ( có lẽ là chủ quán ) trả lời :

" Ông ạ , ở đây không có ngò gai nhưng ở chợ có bán nhiều lắm , đâu phải cái gì cũng phải có , thưa ông " .

Bực quá đỗi , tôi định chửi toáng lên , song thấy gần đấy có 1 tên hầu bàn to con , mặt mũi bậm trợn nên đành nuốt cái ực quả giận xuống đáy lòng .

Ngồi chờ thêm 1 lúc nữa , anh già áo -trắng- dài - tay - mặt- hãm-tài xuất hiện ( khổ quá , lại gặp anh này nữa ! ) . Tôi để ý thấy , lạ ghê , hầu hết các thực khách đều có bộ mặt hớn hở ngoại giao và lại có vẻ cung kính khi order với anh già có bộ mặt lạnh lùng của Eddie Constantin này . Ủa , chúng ta phải bỏ tiền ra ăn phở chứ có phải ăn free đâu mà phải lấy lòng anh hầu bàn ? . Cực chẳng đã , tôi bèn order Phở nạm gầu thì được đương sự lạnh lùng trả lời :

" Ở đây không có nạm " .

Trời đất , tôi có order cái gì lạ như ngầu pín hoặc vú bò sữa đâu ! Tái và nạm là 2 món căn bản cho thực đơn phở , thế mà lại không có là thế nào ? . Quả thật , suốt 45 năm lấy ăn uống làm 1 cái thú ở đời , tôi chưa từng thấy 1 tiệm phở nào mà không có Nạm . Đành nuốt cục giận ở trong cổ mà order Tái Gầu Sách vậy .

Lại phải chờ thêm 1 lúc nữa , tôi xem đồng hồ thì đã gần 40 phút . Đành phải gậm giá sống cho đỡ đói vậy và lòng tự nhủ lòng :

"Chờ lâu thế này thì ăn càng ngon ! " .

Khi bát phở được đưa ra , tôi thấy 1 bát phở với nước dùng có khá nhiêù mỡ và có mầu nước đen . Nếm thử thì thấy khá mặn và bốc quá nhiều mùi hồi . Bụng bảo dạ :

" Mình đang ở cao huyết áp , cố ăn thế này thì dám bị stroke bất tử lắm , thôi thì ráng ăn ít nước thôi vậy " .

Tôi lại nghĩ đến hồi còn mồ ma ông cụ tôi , cụ đã từng bảo :

" Hai yếu tố căn bản của nước dùng phở là nước dùng phải trong và không được có mùi hồi , quả hồi chỉ để đánh tan mùi gây của thịt bò , song không phải là 1 gia vị cho phở " .

Chẳng những ông cụ tôi , nhà văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân khi bàn về Phở cũng đồng ý vời nguyên tắc này . Ngồi cạnh bàn tôi , có 2 cậu thanh niên cũng chờ lâu và cũng có thắc mắc gì đó , chắc cũng được trả lời " cà dzựt " nên bất mãn ra mặt . Điêụ này , cụ Tản Đà mà có sống lại cũng uất lên mà chết vì cụ có tiêu chí là :

" Đồ ăn ngon , chỗ ngồi không ngon , không ngon ! " .

Ngồi ăn phở mà nhìn bộ mặt khó đăm đăm cùa anh già tiếp viên cùng các bộ mặt bất mãn của thực khách , thì ăn vàng cũng chẳng thấy ngon , các bạn có đồng ý với tôi không ?

Là 1 người đã từng ăn quen với những miếng nạm gầu với gầu chiếm chừng 1/5 của miếng nạm , tôi thật sự kinh hãi khi trong bát phở của tôi có 2 miếng gầu , mỗi miếng to bằng nửa bàn tay . Thế này thì ăn nàm thao bây giờ , gặp các cụ đang bị cholesterol thì coi như khỏi đụng đũa .

Nếu ai có hỏi là Phở Kimmy có ngon không , tôi xin không có ý kiến . Mỗi người chúng ta có 1 khẩu vị riêng , vấn đề ngon hay không của 1 món ăn quả là rất khó lạm bàn . Dấp cá có mùi tanh của cá song nhiều người rất thích , mắm tôm có nhiều người cho là 1 gia vị không thể thiếu trong các món Bún ốc hay món Thang , song có người lại không ưa . Món Hămbalahe của các bà có nhiều ông mê mẩn , song có ông lại bảo rằng hôi , phải xịt nước hoa vào trước khi tiếp xúc . Biết rằng khẩu vị của mỗi người mỗi khác , nhưng quả thật , hôm đó , tôi chỉ ăn được 2/3 tô phở mà thôi .

Thôi , bái bai Kimmy . Tôi sẽ đi ăn phở ở những chỗ khác như NH , QT,79, 86.. , giá cả "mềm" hơn mà lại tiếp đãi lịch sự hơn .

Đồng tiền chúng ta , trong thời đại gạo châu củi quế này kiếm không phải dễ , thế mà khi bỏ tiền ra lại bị đối xử như vậy thì đến đấy làm gì .

Vả lại , phở Kimmy cũng đâu phải là quá ngon hơn những tiệm phở khác đâu ? Sống lâu ở đất Mỹ này , chúng ta đã biết , việc tiếp đãi được đưa lên hàng đầu . Tại sao những tiệm ăn lừng lẫy như White House , đồ ăn cũng thường thôi mà giá rất đắt , nhưng vẫn sống hùng sống mạnh ? Ấy là vì khi đến đấy , chúng ta được tiếp đãi tương xứng với tiền chúng ta bỏ ra , dù chúng ta chỉ ăn những món rẻ nhất ! Người Waiter ở những nơi ấy , mặc đồ dĩ nhiên là lịch sự hơn chúng ta , cúi gập người xuống chào chúng ta , kể cho chúng ta về nguồn gốc món ăn và những món phải đi kèm , luôn hỏi chúng ta ăn có ngon không , có cần gì thêm không ? Có ai tiếc tiền không khi để lại tiền Tip hậu hĩ , khi được tiếp đãi nồng hậu như vậy ? Có lẽ chúng ta chỉ tiếc tiền Tip khi "bị" tiếp đãi ở quán Kimmy , bởi vậy , khi không để lại 1 đồng tiền Tip nào ở đây , tôi vẫn không cảm thấy áy náy chút nào !

Con bé nhà tôi , khoảng nửa năm trước đây , có đi ăn ở 1 tiệm ăn Ý khá nổi tiếng trên LA với 5, 6 người bạn . Bất mãn trước cách tiếp đãi kém ân cần của người Waiter , 1 cô bạn của nó có đăng lời than phiền trên Website ở trang YELP . Sau đó , Tiệm ăn có gửi thư cho người bạn nó , mời tất cả 1 bữa Free Dinner và cho biết đã đuổi người Waiter kể trên !

Không hiểu tiệm phở Kimmy có biết được bài học này không ? Cách đây 1 tháng , khi được hỏi về cách tiếp đãi của phở Kimmy có khá hơn trước không , 1 người bạn tôi đã cho biết rằng tiệm phở này đã cải thiện nhiều, không còn khinh thường khách như trước nữa .

Sau khi ăn bữa phở kể trên , tôi rất đồng ý với ông bạn tôi . Cách tiếp đãi đã có phần nào cải thiện , thay vì ngôn ngữ mắng chửi khách hàng nay đã được thay thế bằng ngôn ngữ "chọc quê " khách hàng , như trường hợp tôi khi thắc mắc về ngò gai ở trên !

Bái bai Kimmy ! Dù các bạn có mời tôi đi ăn ở đấy , tôi cũng xin kiếu . Đã bị bệnh đau dạ dầy lại kèm với huyết áp cao , tôi biết những bực mình giận dữ có thể làm bệnh dạ dầy trở nặng hơn , và có thể lám huyết áp tăng vọt . Trút những bực mình ra ở đây , tôi cảm thấy thoải mái hơn nhiều . Với những bạn đã là tín đồ trung thành của tiệm phở Kimmy , xin cứ coi bài viết này như bài viết của 1 kẻ " thực bất tri kỳ vị " và tiếp tục đớp phở Kimmy nhé . Nhiều khi , đi ăn thường xuyên ở đấy , được chủ quán biết mặt , các bạn lại được đối xử thiết tha , nồng hậu , lễ phép , kính cẩn , thân mật , tế nhị , lịch sự , ân cần , thương mến , vồn vã , niềm nở , vui vẻ , nhanh nhẩu , chu đáo ... hơn tôi thì sao ?

Khiem An
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Tại sao nhiều ông thích về Việt Nam cặp bồ?


WESTMINSTER (NV) - “Ở đây, người ta nhìn một ông già 70 như tôi, không có xe, không có nhà chẳng khác nào như một thằng cơ hàn.
Trong khi mỗi lần về Việt Nam , tôi thấy mình như ông vua, có thể hét ra lửa được, vì con gái Việt Nam rẻ như bèo, mình có tiền muốn làm gì mà chẳng được.”
Ðó là lý do mà ông Hai Lý cứ chắt mót số lương hưu, khi thấy “vừa đủ” là bay ngay về Việt Nam để được làm người “hét ra lửa.”
Lý do của ông Hai Lý chỉ là một trong số những lý do mà nhiều người đàn ông lớn tuổi, như ông Nghĩa Nguyễn, ông Nguyên Phạm, đưa ra để giải thích cho câu hỏi, “Tại sao nhiều ông thích về Việt Nam cặp bồ?”
Từ cảm giác ‘không có chỗ đứng ở Mỹ’...
Thấy mình “không có chỗ đứng ở Mỹ” là cảm giác của ông Nghĩa Nguyễn, người sắp mừng thọ 75 tuổi và là cư dân thành phố Orange.
Không xuất thân là một tướng tá lên xe xuống ngựa có người săn đón, nhưng hình ảnh của người chồng, người cha trụ cột trong nhà, một viên chức hành chánh của một quận trước 1975, đã khiến ông Nghĩa Nguyễn trở nên có uy quyền đối với vợ con, một lời ông nói ra là “cả nhà ai cũng sợ.”
Như một kiểu gia đình nề nếp, gia giáo, nên dù có lúc “giận nhau bầm gan tím ruột” vợ ông cũng không bao giờ bộc lộ ra ngoài cho con cái hay người ngoài biết để mà còn “giữ thể diện gia đình.”
Năm 1995, lúc ông Nghĩa về hưu cũng là lúc vợ chồng ông sang Mỹ theo diện con cái bảo lãnh. Với ông, cuộc sống ở Mỹ khi đó “giống như địa ngục.”
Bởi, ông “không biết lái xe, không biết tiếng Anh, xin đi làm thì không ai nhận.” Những đứa con đi vượt biên ngày nào giờ đã hấp thụ văn hóa Mỹ, không còn răm rắp nghe lời ông như ngày xưa. Mấy đứa cháu nội, ngoại thì chỉ toàn nói tiếng Mỹ, và dĩ nhiên chúng cũng không muốn nghe lời ông. Vợ ông cũng vậy. Bà dường như không còn thói nín nhịn như ngày xưa. Bà sẵn sàng “đốp chát” lại với ông ngay khi có thể.
Ngột ngạt và tù túng, ông Nghĩa “chỉ muốn quay trở lại ngay Việt Nam,” nhưng các con ông không cho, vì “tụi nó nói dù gì thì đời sống ở Mỹ cũng tốt hơn vạn lần ở Việt Nam.”
Thế là việc trở về Việt Nam trở thành niềm “khao khát” đối với người đàn ông có tuổi đang sống ở thành phố Orange này. Khi dành dụm đủ tiền con cái cho, ông Nghĩa mua ngay vé máy bay về Sài Gòn.
“Về đó lúc đầu thì cũng là đi tìm gặp những ông bạn già ngày trước để hàn huyên, để nhậu nhẹt cho vui thôi,” ông Nghĩa nói lý do về nước của mình. Theo ông, dù từng nghĩ “sống ở Mỹ như địa ngục,” nhưng khi về nhìn lại những người bạn cùng lứa ngày trước, ông Nghĩa lại thấy mình “ngon lành hơn.”
Tương tự như vậy là trường hợp của ông Hai Lý, một cư dân ở Midway City, người cũng đã bước qua tuổi 70, “cổ lai hy.”
Theo lời ông Hai Lý, ông sang Mỹ từ năm 1975, “Việt cộng tấn công vô là tôi đi ngay.” Sau thời gian đi làm “assembly” ở hãng, hiện tại ông Hai đã về hưu, “ly dị lâu rồi,” và “mấy đứa con cũng đều có gia đình ở riêng.”
Ông Hai không có nhà, cũng không có xe vì ông cho rằng “già rồi đi xe bus cho tiện.” Ông không nói lương hưu của ông bao nhiêu, chỉ nói mỗi tháng ông trả $300 tiền thuê phòng, và phải ra ngoài ăn uống một cách tiết kiệm vì “chủ nhà không cho nấu ăn.”
“Ở đây, người ta nhìn tình cảnh của tôi chẳng khác gì thằng cơ hàn,” ông Hai tự đưa lời nhận xét. “Nhưng khi về Việt Nam thì tôi khác à!”
Ðến 'anh' Việt kiều được chìu chuộng chăm sóc
“Ở đây, người ta nhìn một ông già 70 như tôi, không có xe, không có nhà chẳng khác nào như một thằng cơ hàn. Trong khi mỗi lần về Việt Nam , tôi thấy mình như ông vua, có thể hét ra lửa được, vì con gái Việt Nam rẻ như bèo, mình có tiền muốn làm gì mà chẳng được.”
Ðó là lý do mà ông Hai Lý cứ chắt mót số lương hưu, khi thấy “vừa đủ” là bay ngay về Việt Nam để được làm người “hét ra lửa.”
Người đàn ông đậm người, tóc được nhuộm đen không thể nhìn ra một sợi trắng, nói rất tự nhiên, “Về Việt Nam , tôi ít khi ở Sài Gòn, ở đó cái gì cũng mắc mỏ. Tôi còn bạn bè ở Vĩnh Long. Mỗi lần tôi về là họ dẫn tôi đi chỗ này chỗ nọ.”
“Chỗ này chỗ nọ” của ông Hai là những quán cà phê, những tiệm massage cũng “sạch sẽ tươm tất” nhưng giá cả không quá đắt. Ông Hai nói không cần che giấu, “Mình bỏ ra có ba bốn trăm ngàn, chưa đến hai chục đô, mà có người gội đầu, người ngồi cắt móng tay, móng chân, người mát-xa mặt thì còn muốn gì nữa. Ðàn ông mà.”
Ông Hai cũng nhắc đến những nơi ông thích lui tới như “cà phê vườn,” “cà phê võng” nhưng khi được hỏi ở đó có gì khiến ông thích thì ông chỉ cười không trả lời, rồi bắt qua chuyện khác.
Không nhận xét “con gái Việt Nam rẻ như bèo” như kiểu ông Hai Lý, nhưng cảm giác được “chìu chuộng chăm sóc ngọt ngào” cũng là điều ông Nghĩa Nguyễn tìm thấy trong những lần về Việt Nam sau đó.
Ông Nghĩa kể mấy lần sau về Việt Nam, nhiều bạn già, bạn nhậu của ông người thì chết, người thì bệnh bởi những chứng tiểu đường, cao máu. Buồn, thiếu người nói chuyện, ông Nghĩa “đi cắt tóc thanh nữ cho quên sầu.”
Học được cách cho tiền “tip” từ Mỹ, ông Nghĩa “bo” cho cô thợ cắt tóc một ít tiền. Thế là “cô thợ chỉ hơn 20 tuổi kêu tôi bằng anh ngọt xớt.” Ông Nghĩa kể lại mà gương mặt vẫn còn giữ nguyên nét hồ hởi, “Tôi nghe khoái quá! Bởi lâu lắm rồi người ta chỉ kêu tôi bằng chú, bằng bác, vợ tôi thì khi nói chuyện cũng kêu tôi bằng ông. Giờ nghe có người kêu mình bằng ‘anh’ thấy lạ tai và thấy mình trẻ ra.”
Cứ vậy mà ông Nghĩa mê trò “đi cắt tóc, gội đầu, mát-xa.”
Rồi ông cũng chợt nhận ra là ông chưa từng bao giờ hưởng được sự dịu ngọt, chìu chuộng như vậy từ vợ con, họ chỉ từng “sợ” ông khi ông còn là trụ cột trong nhà. Ông cảm thấy hình như đã đến lúc ông cần “phải lo cho bản thân ông nhiều hơn.”
Ông Nghĩa bắt đầu có thú vui mỗi khi về Việt Nam là đi “khám phá” những “tiệm cắt tóc gội đầu máy lạnh” và đi nhậu ngoài quán chứ không còn nhậu với mấy ông bạn già ở nhà như những lần trước.
Ông lại vui hơn nữa là mấy cô gái nơi đó đều gọi ông bằng “anh.” Mà tính ông lại “thương người” nên cứ nghe cô nào ngồi thủ thỉ chuyện gia cảnh khó khăn phải đi làm thế này là ông lại cho tiền, “mỗi lần 50 đô hay có khi cho 100 đô.”
Khi được hỏi, “Ông không nghĩ là những cô gái đó ngọt ngào với ông vì chỉ muốn tiền của ông thôi sao?” ông Nghĩa tỉnh bơ trả lời, “Sao lại không biết! Nhưng tôi cảm thấy tôi happy trong những khoảng thời gian đó thì tôi làm thôi.”
Chỉ muốn ‘ăn bánh trả tiền’ hay thực sự muốn chuyện trăm năm?
“Ăn bánh trả tiền” là điều ông Nguyên Phạm, gần 60 tuổi, chủ một business nhỏ ở Santa Ana, chọn.
Ông Nguyên xác định rất rõ, “Cuộc sống vợ chồng tôi ở đây không hạnh phúc. Nhưng cũng không ly dị vì không muốn giải quyết chuyện phân chia tài sản. Mỗi năm tôi về Việt Nam một đôi lần là để đi chơi, hưởng thụ.”
Theo lời ông Nguyên kể, mỗi lần về Việt Nam, qua lời giới thiệu của “người quen,” ông sẽ “cặp kè” với một cô. Trung bình ông sẽ trả cho cô gái $1,000 cho cuộc sống “già nhân ngãi, non vợ chồng” trong vòng một tháng. Còn những khoảng ăn ở, đi chơi nơi này nơi khác, ông Nguyên cũng là người chi trả hết.
Người đàn ông này giải thích thêm, “Mỗi lần về Việt Nam trong thời gian ngắn ngủi như vậy chỉ thấy mình được chìu chuộng, nâng niu. Không có chuyện cãi lộn, gấu ó. Không bị căng thẳng đầu óc vì công việc.”
“Cũng có lúc gặp mấy cô dễ thương, khi qua đây rồi cũng có gọi điện về nói chuyện chơi. Nhưng khi thấy cô nào bắt đầu than ‘má em bệnh, ba em đau, xe em mất’ là tôi ‘bái bai,’ cắt liên lạc luôn để khỏi phiền.” Ông Nguyên nói.
Ông Hai Lý cũng xác định chuyện muốn “hét ra lửa,” vung tay cho tiền những cô gái quê để được chăm sóc, nâng niu cũng chấm dứt khi rời khỏi Việt Nam, bởi ông không muốn có những ràng buộc, “qua đây thân tôi lo còn chưa xong nữa mà đèo bòng thêm chi.”
Riêng ông Nghĩa Nguyễn thì có hơi khác. Không chỉ có cảm giác là mình “thật sự trẻ ra” khi “bước vô quán nào người ta cũng kêu tôi bằng anh,” mà ông còn muốn nếu có ai đó chịu đứng ra bảo trợ tài chánh thì ông sẵn sàng ly dị vợ để cưới ngay một cô từ Việt Nam qua để suốt ngày nghe tiếng “anh” cho thỏa cái lỗ tai.
Ước mơ của ông Nghĩa đang lưng chừng thực hiện được “phíp-ty pờ xen” (50%) vì các con ông chia hai phe. Một phe ủng hộ, “ba già rồi hãy làm điều gì cho ba vui thì làm.” Nhưng phân nửa kia thì cật lực phản đối, “không chịu được cảnh nhìn ba tung tăng đi công viên với một đứa đáng tuổi cháu ngoại.”
Vợ ông Nghĩa đương nhiên biết chuyện “cặp bồ” của ông ở Việt Nam, nhưng bà nói, “Già từng tuổi này rồi, tui chẳng có gì để ghen tuông, mà tui chỉ thấy phát gớm!”
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Người Bán Liêm Sỉ

Tác Giả: Tiểu Tử
Xin gọi ông ta là ông X. Để tránh phiền phức. Thời buổi bây giờ, con người dễ bị chụp mũ bất cứ lúc nào và bởi bất cứ ai.

Ở trên chụp xuống là nhà cầm quyền – hạng này đông lắm và rất... vững tay nghề vì đã từng hành nghề này cả mấy chục năm. Ở dưới chụp lên là kẻ tiểu nhơn – hạng này thường thấy xuất hiện khi có biến cố hay khi thấy chánh quyền đa nghi như Tào Tháo; hạng này hành động theo thời cơ nên tay nghề lắm khi còn vụng; họ không đông nhưng rất nguy hiểm bởi vì họ giống như mọi người nên khó mà nhận diện ! Ở ngang với mình mà chụp mũ mình là mấy đứa mà mình thường gọi là bạn hay chiến hữu hay đồng chí – hạng... mắc dịch này mới bắt tay ôm hôn mình thắm thiết đó, vậy mà hôm sau đã “trở cờ xé lẻ” bởi vì cái đít của họ đòi cái ghế và cái mặt của họ muốn được... bự bằng cái nia ( để được thấy là … đại diện ! ) ; hạng này không cần tay nghề khéo nên cách chụp mũ thiếu... tế nhị ! Nói chung, hạng chụp mũ nào cũng chỉ chụp người có tên tuổi đàng hoàng chớ chẳng ai chụp mũ một kẻ vô danh. Cho nên, gọi nhân vật trong chuyện sau đây là ông X để ổng trở thành kẻ vô danh, khỏi bị chụp mũ ! (Xin lỗi ! Tôi hơi dài dòng ở đây tại vì tôi muốn mọi người đều thấy tôi “rõ như ban ngày”, để đừng ai... chụp mũ tôi “có ý đồ này nọ”. Đa tạ).

Bây giờ thì xin nói đến ông X.

Hồi thời trước – thời mà sau này “được” gọi là ngụy – ông X làm việc cho một hãng tư của ngoại quốc. Ông làm việc lâu năm và rất đắc lực nên ban giám đốc giao cho ông những chức vụ quan trọng với quyền hạn về tài chánh thật rộng rãi. Để thực hiện những chương trình xây dựng đồ sộ của hãng, ông thường xuyên giao dịch với chánh quyền. Nhờ vậy, ông “quen lớn” nhiều trong cả hai giới dân sự và quân sự.

Ở địa vị như của ông, con người dễ bị cám dỗ vì tư lợi. Chẳng có gì khó hết. Chỉ cần “nhắm mắt” một chút là nhà thầu sẽ biết cách đền ơn. Chỉ cần “biết phải quấy” một chút là vô “áp phe” riêng cho mình. Chỉ cần “bóp chẹt bắt bí” một chút là hất chân những đứa không theo bè cánh...

Ông X lại không thuộc hạng “biết làm ăn” như kể trên. Ông lớn lên trong một gia đình theo Khổng giáo, lấy “nhân nghĩa lễ trí tín” làm phương châm, luôn đề cao giá trị đạo đức của con người. Cho nên làm việc cho hãng gần hai mươi năm mà không thấy ông... “xơ múi” chút gì hết ! Bạn bè có đứa chê ông nhát. Ông cười: “Thà tao nhát mà tao giữ tròn liêm sỉ. Cái đó mới là cái khó. Người ta có thể chê tao như mày đã chê tao. Chớ không ai dám khi dể tao hết. Cái phách của tao là ở chỗ đó !”.

... 30 tháng tư 1975. Ông X đã không di tản. Nghĩ rằng mình làm việc cho hãng tư, lại là hãng của ngoại quốc, chắc “họ không làm gì đâu”. Chẳng dè quân mũ tai bèo (Giải phóng miền Nam) và quân nón cối (bộ đội) vào Nam tiếp thu tuốt tuột. Hãng công hãng tư gì, lớn nhỏ gì cũng “đớp” hết ráo (Trước đó, họ có tuyên bố “không đụng tới cây kim sợi chỉ của dân”, và sự thật, họ đã làm đúng như vậy, mới chết ! Bằng cớ là họ đã lấy hết, chỉ chừa có... cây kim sợi chỉ ! Cho nên, có thấy ai thưa gởi rằng bị cách mạng... cướp mất cây kim sợi chỉ đâu ? Vậy mà sao ai cũng nói họ “nói một đàng mà làm một nẻo” hết ! Oan cho họ ! Có điều là với “cây kim sợi chỉ”, người dân không biết... “làm khỉ gì ăn”. Chỉ còn có nước may cái miệng lại để khỏi phải ăn, khỏi phải nói !).

Hãng của ông X bị quân mũ tai bèo mang bí số K7 tiếp thu. May cho ổng: người dẫn đầu toán tiếp thu là người chú bà con đi khu hồi kháng chiến 1945. Nhờ ông này can thiệp nên ông X không bị đi cải tạo, nhưng bị đổi đi “hạ tầng công tác” ở một kho hóa chất (Sự che chở người thân như vậy rất hiếm thấy trong chế độ. Và có lẽ vì vậy mà chưa đầy sáu tháng sau, ông cán bộ đó bị cho “về vườn” mặc dầu chưa tới hạng tuổi !).

Bấy giờ, ông X ăn lương 80 đồng. Trong khi người tài xế cũ của ông lãnh 90 đồng ! Ông được phát lương mỗi tháng hai kỳ. Mỗi kỳ là 40 đồng nhưng bị giữ lại 2 đồng để cho vào sổ tiết kiệm (Nhà Nước lo cho dân chí tình như vậy mà vẫn có người không bằng lòng. Lạ thật !).

Bấy giờ, vì tất cả ngân hàng đều bị tịch thu, nên tiền của mà ông X để trong ngân hàng của ổng kể như đã... cúng cô hồn ! Ông X trắng tay và... trắng mắt.

Bấy giờ, vợ con ông X rã ra đi làm trong mấy tổ hợp. Hai đứa nhỏ nhứt ở nhà dán bao giấy bỏ mối cho bạn hàng ngoài chợ gói đồ. Ông X bán lần xe cộ, bàn ghế tủ...

Nhiều khi ông thầm nghĩ: “Mình đã tự hào giữ tròn liêm sỉ từ mấy mươi năm. Bây giờ... đổi lấy cái ăn cũng không được. Phải chi hồi đó mình nhắm mắt làm bậy, mánh mung chụp giựt đầy túi rồi bay ra ngoại quốc ở, thì bây giờ mình đâu có ngồi đây nhìn cái khổ cực của vợ con ! Riết rồi không biết là mình khôn hay mình dại nữa”.

Hôm nay là ngày ông đi bán chiếc xe đạp của ông. Ông đã tính kỹ: đạp xe ra chỗ thằng nhỏ sửa xe đạp ở góc đường xin nó cho đứng nhờ để bán; ở đó người qua lại cũng đông và người ghé vào bơm bánh hay sửa xe cũng thường; thế nào cũng có người hỏi mua. Sau khi lau chùi sạch sẽ chiếc xe, ông lấy một miếng bìa cứng viết lên đó “Bán xe đạp” rồi khoét lỗ xỏ sẵn dây để mang ra cột tại chỗ. Vừa làm ông vừa nghĩ đến thân phận của mình, đến cái liêm sỉ mà ông đã đeo đẳng từ bao nhiêu năm. Ông cười chua chát: “Cái liêm sỉ không giá trị bằng chiếc xe đạp !”. Bỗng ông nẩy ra một ý, vừa hài hước vừa táo bạo: “Tại sao mình không treo bảng bán cái liêm sỉ ? Cười chơi, sợ gì ?”. Vậy là ông lấy một miếng cạc-tông, nắn nót viết lên đó hàng chữ “Bán cái liêm sỉ. Bảo đảm 20 năm chưa sứt mẻ”. Khoét lỗ xỏ dây xong, ông cho hết vào túi xách, đạp xe ra ngõ.

Thằng nhỏ sửa xe tuổi độ mười hai mười ba. Ốm nhom, đen thui, cười hở lợi. Sáng nào nó cũng kéo chiếc xe hai bánh chở hai thùng gỗ nhỏ và mớ đồ nghề, ra... hành nghề cạnh trụ đèn ở góc đường. Sợ người ta không biết hay sao mà thấy nó có treo trên trụ đèn tấm bảng trắng sơn chữ đỏ “Tại đây sửa xe đạp đủ loại”.

Khi ông X xin đứng nhờ, nó vui vẻ nhận lời ngay:
- Dạ được ! Dạ được ! Ông Hai cứ dựng xe cạnh cột đèn đó, không sao hết. Chỗ này là chỗ “bá tánh” chớ phải của riêng cháu đâu mà ông Hai xin phép !

Rồi nó lấy cái thùng gỗ úp xuống, mời:
- Ông Hai ngồi. Cháu đang lỡ tay !

Nó làm như nếu nó không lỡ tay thì nó có bổn phận phải ngồi... tiếp chuyện ông X vậy ! Ông thấy có cảm tình ngay với thằng nhỏ. Ông cảm ơn rồi lấy hai miếng cạc-tông ra, treo một tấm lên sườn xe đạp, tấm thứ hai đeo lên cổ của mình một cách thích thú !

Ông ngồi xuống thùng gỗ phía sau lưng thằng nhỏ, đốt thuốc hút, ung dung. Thằng nhỏ đang ráp sợi dây sên vào chiếc xe đạp dựng ngược. Nó vừa làm vừa nói chuyện với ông X, mắt vẫn nhìn châm chú vào công việc.

- Ông Hai bán xe rồi lấy gì mà đi ?
- Thì... tôi đi chung xe với bà nhà tôi.
- Ông đèo bà hay bà đèo ông vậy ?
Ông X bật cười:
- Dĩ nhiên là tôi đèo bả chớ !
- Ý ! Bây giờ đổi đời rồi. Mấy bà chở chồng chạy bon bon thiếu gì, ông Hai.
Nói xong, nó cười hắc hắc. Ngừng một lúc, chừng như đang ngẫm nghĩ gì đó. Rồi nó nói tiếp, giọng ngang ngang:
- Bây giờ sao nhiều người bán đồ bán đạc trong nhà quá. Ở xóm của cháu, thấy có người cạy gạch bông nền nhà lên bán đặng ăn, ông Hai à !
Hình ảnh đó làm ông xúc động. Ông không biết phải nói gì. Sự bần cùng của người dân trong chế độ được gọi là ưu việt này, đã vượt quá xa tầm tưởng tượng của con người... thì còn lời gì để nói ? Im lặng, ông hít nhiều hơi thuốc dài...
Thấy sao “người đối thoại” của nó làm thinh, thằng nhỏ quay đầu nhìn lại. Bây giờ nó mới thấy tấm bảng ông đeo trước ngực. Nó ngạc nhiên:
- Ủa ! Ông còn bán cái giống gì nữa vậy ?
- Thì... cháu đọc coi.
- Cái... “liêm” ... Cái “liêm sỉ” là cái gì vậy, ông Hai ?
- Ờ... Cái liêm sỉ là... (Ông ngập ngừng tìm lời để giải nghĩa) Là ... Là cái mà thiên hạ ai cũng quí trọng hết. Người ta coi nó có giá trị như... có giá trị như...
- Như hột xoàn hả ông Hai ?
- Ờ ! Đại loại như vậy. Thiên hạ cho rằng người nào có cái liêm sỉ cũng thấy sáng ngời không kém.

Nổi tánh tò mò, thằng nhỏ chùi vội hai tay vào một miếng giẻ cũng dơ như tay của nó, rồi xoay hẳn người lại, hâm hở:
- Ông Hai cho cháu coi một chút được không ? Từ cha sanh mẹ đẻ cháu chưa nghe nói tới cái liêm sỉ bao giờ, chớ đừng nói thấy.
- À cái này không có coi được. Lớn lên rồi cháu sẽ biết.

Thằng nhỏ tiu nghỉu, quay trở về công việc mà nghĩ: “Chắc là đồ xịn lắm nên ổng sợ !”
Có hai thanh niên dừng lại bơm bánh xe. Cả hai đều đọc bảng treo trước ngực ông X. M ột anh hỏi anh kia:
- Cái liêm sỉ là cái gì vậy mậy ?
Thằng nhỏ nói hớt, vẻ sành sỏi:
- Là đồ nữ trang loại xịn. Mắc lắm đó !
Ông X mỉm cười, chua chát nghĩ: “Chế độ đâu có dạy con người phải có liêm sỉ. Bây giờ, chỉ thấy học đấu tranh, học hận thù, học giết chóc... chớ đâu thấy học làm người có đạo đức, trọng lễ nghĩa để mà biết liêm sỉ là gì ? ‘’

Một anh bộ đội, nón cối nghiêng nghiêng, tấp Honda vào hỏi mua “săm” xe đạp. Thằng nhỏ nói: “Sửa xe chớ không có bán đồ phụ tùng”. Chờ cho anh bộ đội đi khuất, nó quay lại cười cười nói với ông X:
- Ruột xe thì nói ruột xe. Mấy chả nói “săm”. Hồi đầu cháu đâu có biết. Cháu chỉ qua bà xẩm bán nước sâm ở bên kia đường. Thấy cười quá ! Họ nói tiếng gì đâu không hà !
Một thanh niên chở một ông già, ngừng lại nhờ thằng nhỏ siết lại cái đầu bàn đạp. Sau khi nhìn ông X, anh thanh niên hỏi nhỏ ông già:
- Liêm sỉ là cái gì hả ông nội ?
Ông già tằng hắng rồi nói, giọng nghiêm trang:
- Là cái mà nó bắt con người ta phải cẩn thận trong suy tư trong hành động. Nó không cho con người ta làm bậy làm quấy, làm sai đạo lý. Nó bắt con người ta phải biết xấu hổ khi có ý xâm phạm thuần phong mỹ tục. Quí lắm, con thấy không ? Vậy mà thời buổi bây giờ có mấy ai biết nó là gì...
Trả tiền xong, người cháu đợi người ông ngồi đàng hoàng vững chãi trên pọt-ba-ga rồi mới đạp đi. Ông già quay đầu nhìn lại ông X, giống như nhìn một món đồ cổ !

Mặt trời đã lên cao. Cây me già cạnh đó đổ bóng mát rượi xuống chỗ “hành nghề” của thằng nhỏ. Gió thổi hiu hiu. Lá me lăng tăng rụng...

Một ông già râu tóc bạc phơ đạp xe lọc cọc ghé vô nhờ sửa cái thắng. Sau khi... “kiểm tra” lại bộ phận, thằng nhỏ gãi gãi đầu mặc dù tay nó dơ hầy:
- Cha... Vụ này hơi lâu à ông Hai. Cũng năm mười phút à !
- Không sao. Tao đợi. Tao thiếu gì thì giờ.
Nó vội vàng lật úp cái thùng gỗ còn lại, đặt gần chỗ ông X:
- Ông ngồi đây. Có ông Hai này ngồi bán xe, từ sáng giờ không thấy ai hỏi hết. Chắc cũng buồn !
Đó là cách nó giới thiệu để hai người dễ dàng bắt chuyện với nhau, nếu muốn.
Ông già ngồi xuống, gật đầu chào ông X, rồi móc bọc thuốc rê, mời:
- Ông vấn một điếu chơi.
- Cám ơn. Tôi có đem theo thuốc vấn sẵn ở nhà.
Ông X lấy trong túi ra hộp thiếc giẹp màu vàng (loại đựng thuốc điếu 555 ngày xưa) móp méo trầy trụa, mở ra mời lại:
- Ông hút thử thứ này coi.
Ông già cất bọc thuốc vào túi lấy một điếu của ông X để lên môi, đốt. Ổng hít mấy hơi thật dài rồi gật gù:
- Ùm... Một phần Lạng Sơn hai phần Gò Vấp.
- Đúng ! Ông rành quá !
- Một đời hút thuốc mà không rành sao được, ông bạn.

Hai người im lặng thở những hơi khói dài. Giờ đó, đường cũng vắng, chỉ nghe tiếng lách cách sửa xe của thằng nhỏ. Một lúc lâu sau, bỗng ông già tằng hắng rồi nheo mắt nhìn thẳng ông X, giọng ôn tồn:
- Ông bạn à. Tôi nghĩ nếu ông bạn còn chút liêm sỉ thì nên dẹp tấm bảng bán liêm sỉ của ông đi. Chỉ có phường vô liêm sỉ mới khoe khoang khoác lác rằng ta là thế này, ta là thế nọ, ta hơn thiên hạ về đủ mọi mặt vv…. Sự thật, họ không có gì hết. Bọn vô liêm sỉ đó đã chà đạp mọi giá trị tinh thần của con người, đã chối bỏ truyền thống đạo đức của ông cha để lại từ không biết mấy ngàn năm.
Ông X im lặng gật gù nghe. Ông già ngừng một chút để hít mấy hơi thuốc. Rồi tiếp:
- Ông bạn à. Tôi tin rằng ông bạn là người có liêm sỉ. Trực giác cho tôi thấy như vậy. Bây giờ, đem rao bán cái liêm sỉ, ông bạn có thấy đó là hành động thiếu suy nghĩ không ? Nói khùng mà nghe, giả dụ ông bạn có bán được cái liêm sỉ, ông bạn sẽ “trắng tay”. Không còn liêm sỉ nữa thì ông bạn sẽ thành cái gì ?

Ông già ngừng ở đó, nhìn ông X một chút rồi nói gằn từng tiếng:
- Ông bạn sẽ là thằng-vô-liêm-sỉ !
Đến đây, thằng nhỏ đã sửa xong cái thắng. Ông già đứng lên chào ông X, trả tiền rồi đạp xe đi thẳng.
Hút tàn điếu thuốc, ông X thở dài, đứng lên tháo hai miếng cạc-tông cho vào túi xách. Thằng nhỏ ngạc nhiên:
- Ủa ! Bộ ông Hai về hả ?
- Ừ !
- Sao về sớm vậy ?
- Ừ ! Về sớm.
Ông X nói bằng một giọng trống rỗng. Thằng nhỏ ân cần dặn:
- Ông Hai cẩn thận nghe ! Coi chừng tụi nó giựt cái liêm sỉ à. Mấy thằng lưu manh nó giựt bóp của người ta hoài, hà !

Ông X làm thinh đạp xe đi, bỗng nghe như cái liêm sỉ của ông nó nặng như chì. Vậy mà bao nhiêu lâu nay, ngày ngày ông vẫn còng lưng cõng nó để đi tìm một chân trời, một lối thoát, một chút ánh sáng ở cuối con đường hầm … !
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »


Image

Cà phê Sài Gòn có thể không phải cà phê

Phùng Thức/Người Việt
Khi người Pháp mang thói quen uống cà phê tới đô thị lớn nhất xứ Ðông Dương, đến thời điểm hiện nay, có thể nói chưa có một đô thị nào có nhiều quán cà phê như Sài Gòn.

Từ tầng lớp thị dân có mức sống sung túc cho đến dân lao động, thói quen uống cà phê trở thành một nếp sinh hoạt văn hóa đô thị. Nhiều người nhớ lại, ngay cả những năm đầu sau biến cố 1975 hệ thống tuyên truyền của chế độ cộng sản cho rằng uống cà phê là thói quen ăn bám - tiểu tư sản, nhưng nếp sống tận hưởng sự tỉnh táo với ly cà phê của người Sài Gòn cũng không thay đổi.

Ngày nay mọi con đường, mọi ngõ hẻm thậm chí trên lầu các chung cư người ta vẫn có thể tìm thấy quán cà phê. Từ quán cà phê sang trọng bậc nhất ở khu trung tâm cho đến các quán ngồi bẹp xuống lề đường, quán nào cũng đông khách. Nhưng liệu phần lớn người thích uống cà phê của cái đô thị xấp xỉ 10 triệu dân này có phải đang và được uống cà phê hột hái xuống từ cây cà phê không. Câu trả lời là không. Thế họ uống cái gì?



Thực trạng cà phê giá rẻ



Không tính các công ty lớn sản xuất cà phê, riêng ở Sài Gòn có hàng trăm cơ sở tư nhân chế biến cà phê thành phẩm. Sẽ rất dễ nhận ra những người bỏ mối cà phê của những cơ sở này, với một chiếc xe gắn máy chở một cái bao lớn họ chạy khắp các hang cùng ngõ hẻm để giao mối. Chúng tôi tìm gặp một người làm cà phê bỏ mối, anh thiệt tình vừa than thở vừa kể. “Nghề này cạnh tranh khốc liệt lắm anh ơi. Nhưng cũng tội lỗi lắm. Tôi dám cá là cà phê giá rẻ không có chút cà phê nào, toàn là đậu nành với hóa chất hương liệu không hà.” Ðiều anh nói làm chúng tôi bất ngờ, vì theo lẽ thường ai cũng biết cà phê giá rẻ thì không thể đòi hỏi chất lượng, tiền nào của nấy, nhưng nói trong ly cà phê mà đại bộ phận người Sài Gòn, nhất là người lao động đang uống không có chút cà phê hột nào thì thật là khó tưởng tượng.

Thấy chúng tôi ngớ người. Anh giao mối cà phê cho biết thêm. Những quán cóc ở vỉa hè, ở hẻm lao động giá uống một ly cà phê đá khoảng 6,000-7,000 đồng/ly, để pha chế, người bán lấy mối cà phê mỗi ký khoảng từ 60,000 đến 70,000 đồng. Với giá đó thì cái gọi là cà phê thật ra chỉ có đậu nành rang và tẩm hóa chất hương liệu. Nếu cơ sở sản xuất nào có lương tâm thì pha cho chút vỏ xác hột cà phê cho có vị tượng trưng.

Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết qui trình chế biến cà phê giá rẻ như sau: Ðậu nành, hóa chất tạo bọt, hương liệu ca cao, bơ, hóa chất tạo vị đắng, đường, muối, nước mắm...

Thông thường người ta rang một chảo đậu nành 50 kg, hao hụt khoảng 1/3 trọng lượng. Nếu tính thêm tiền nhiên liệu, tiền nhân công, tiền thuế... Nếu không lấy đậu nành (giá 18,000/kg) thay cà phê hột thì không không ai sản xuất có lời, bởi cà phệ hột (giá dao động trên dưới 45,000/ kg).

Như vậy người ta có thể chắc một chuyện là nếu anh vào một quán cà phê và được tính giá dưới 10,000 đồng/ly thì anh đang uống xác đậu nành tẩm hóa chất. Nhưng nếu anh uống cà phê với giá của dân trung lưu từ 15,000 đến 20,000 thì đúng là anh đang uống khoảng 50% đậu nành. Còn bước vào những quán sang trọng uống một ly cà phê với giá từ 30,000 đồng trở lên thì anh có chút hy vọng cái thứ đang uống đúng là cà phê. Chỉ là hy vọng thôi, vì ở chợ đầu mối Kim Biên luôn sẵn sàng các loại hóa chất dùng để chế biến cà phê cao cấp có xuất xứ từ Trung Quốc.

Có một ông giáo viên, người không bao giờ dám uống cà phê ở các tiệm quán nói nửa đùa nửa thật: “Ðã đến lúc các nhà trí thức ở Việt Nam nên nghiên cứu coi tâm hồn và thể xác các người Việt hiện đại thay đổi ra sao khi nhiều thế hệ đã uống cà phê đậu nành.” Tất nhiên ngày nay ai cũng biết tỷ lệ mắc các chứng bệnh ung thư ở Việt Nam có nguyên nhân từ thực phẩm nhiễm hóa chất độc hại vào hàng cao nhất thế giới. Nhưng đâu ai biết tinh thần người Việt suy nhược đến mức nào khi mỗi ngày uống thứ đậu nành rang cháy khét.

Chúng tôi còn nhớ trong một lần đón một gia đình Việt kiều về từ Canada, thấy họ mang theo cả một vali cà phê xay Brazil, chúng tôi tưởng họ mang về làm quà biếu. Hỏi ra mới biết rằng nhà họ vốn ghiền cà phê nhưng không dám uống cà phê sản xuất trong nước. Có người cho rằng họ chảnh, nhưng người hiểu chuyện thì tán đồng bởi cẩn thận như vậy vẫn tốt hơn. Trở lại với hàng triệu người thuộc giới lao động Việt Nam đang uống thứ cà phê đậu nành giá rẻ, một câu hỏi đặt ra là liệu họ có biết nguy cơ tiềm ẩn khi sử dụng thức uống này không? Câu trả lời là có, tất cả đều biết, nhưng lấy tiền đâu để uống cà phê hột thứ thiệt. Một bác xe ôm, mỗi ngày uống tới ba, bốn ly cà phê nói “Chừng nào chết thì hay. Mà kỳ nghe, uống cà phê dỏm quen rồi tới lúc được mời uống ly cà phê thiệt không thấy ngon, không thấy đã chú ơi.”

Thực trạng và tác hại của thứ thức uống cà phê đậu nành này của người Sài Gòn đã thấy rõ, nhưng nếu kêu gào trách nhiệm của hệ thống kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm của nhà nước có khi lại mắc thêm bệnh ngớ ngẩn. Từ chuyện người Sài Gòn ngày ngày uống cà phê-đậu nành tẩm hóa chất, người ta mới vỡ lẽ ra một điều chua xót có một không hai rằng.

Theo bản tin của báo tài chính Bloomberg ngày 23 tháng 9 năm 2011, nhờ thời tiết thuận lợi và gia tăng diện tích trồng, sản lượng cà phê của Việt Nam năm nay có thể tăng kỷ lục. Ước tính từ đầu mùa cho vụ mùa cà phê năm nay là khoảng 1.24 triệu tấn. Nhưng hãng tin khảo sát 12 công ty từ đại diện thu mua, xuất cảng và trồng cà phê của Bloomberg thì ra kết quả lên tới 1.32 triệu tấn. Vụ mùa năm ngoái chỉ được 1.12 triệu tấn.

Ở đất nước trồng cà phê xuất khẩu đứng hàng thứ hai thế giới không ít người dân lại phải uống thứ cà phê là xác đậu nành pha hóa chất độc hại và cả nước mắm.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

BIA MIỆNG NGÀN NĂM!

Lão Móc

Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ
(Ca dao)
Thời trước, mỗi khi muốn ghi lại một việc gì cho hậu thế, ngoài việc chép vào sử, người ta còn hay khắc vào đá. Ý hẳn tin vào sự bền vững của đá. Khắc sự tích hoặc lời văn vào đá thì sẽ lưu lại muôn đời. Đình chùa, lăng miếu thường có bia đá. Nổi tiếng về bia đá chắc không đâu hơn Văn Miếu ở Hà Nội. Kế là Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế. Những tấm bia đá đầu tiên ở Văn Miếu Hà Nội, khắc tên những người đậu các khoa thi Tiến Sĩ thời Lê.

Theo khoa chế thời Nguyễn, người có học muốn đi thi, phải qua kỳ khảo hạch ở Tỉnh. Rồi mới được đi thi Hương. Hương thí ba, bốn năm mới có một kỳ; lại chỉ mở ở các tỉnh thành lớn. Sĩ tử bốn phương phải lều chõng, cơm niêu nước lọ tới trường thi. Hương thí có bốn trường. Ai đậu cả bốn được gọi là Cử Nhân; thời Lê hay gọi là ông Cống. Ai đậu được 3 kỳ thi là Tú Tài. Ai chỉ qua được 2 kỳ thì dù bị coi như thi rớt, song cũng được người ta trân trọng gọi là ông nhị, tức nhị trường. Thường thì năm trước thi Hương, năm sau thi Hội. Hội thí chỉ mở ở kinh độ. Các ông Cử phải cơm ghe bè bạn, khăn gói quả mướp vào đấy để thi. Thường thì khi đi thi Hội, ông Cử nào cũng một hai người theo phục dịch tùy theo gia cảnh. Bề gì cũng là ông Cử mà. Ai đậu kỳ thi Hội được gọi là Tiến sĩ. Vượt qua cái chặng này mới được vào đình thí để phân cao thấp. Gọi là Đình thí vì khi ấy các ông Nghè tân khoa được vào hẳn trong điện Vua mà làm văn chứ không phải lều chõng ngoài trời nữa. Và Vua sẽ là Chánh Chủ Khảo. Cụ Nguyễn Khuyến thời ấy đậu đầu Hương thí tức Giải nguyên, thi Hội cụ vẫn đậu đầu gọi là Hội nguyên, và Đình thí cụ cũng đứng đầu nốt, gọi là Đình nguyên. Có 3 cái Nguyên thì cụ chiếm tất, nên gọi là Tam Nguyên. Thơ phú của cụ thì chả phải bàn. Mấy ông Tiến Sĩ được Vua cho khắc tên vào bia đá dựng ở Quốc Tử Giám. Rồi vinh quy bái tổ, ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau. Oai ghê lắm! Vậy mà có ông còn dám làm hai câu đối để đùa:

“Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới
Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên”.

Chả gì cứ ông Nghè, ông Cống; chỉ Tú Tài thôi mà cũng lắm ông văn hay chữ lỏng. Cụ Tú Xương đấy. Thơ của Cụ mà đọc lên thì cứ gọi là rung cả đùi.

Thi cử khó như vậy nên cả cái đất Nam Kỳ lục tỉnh, suốt hơn trăm năm triều Nguyễn chỉ có hai người đậu được Tiến Sĩ. Đó là ông Phan Thanh Giản và ông Phan Hiển Đạo. Ông Phan Thanh Giản làm quan đến chức Hiệp Biện Đại học sĩ, hàm Tòng nhất phẩm, từng làm Chánh sứ đi Tây. Năm 1865, vua Tự Đức phái ông vào Nam làm Kinh Lược Sứ, có nhiệm vụ giữ gìn 3 tỉnh Miền Tây chống âm mưu thôn tính của Pháp. Năm 1867, thành Vĩnh Long mất vào tay Pháp, ông tự sát sau khi căn dặn con cháu không được hợp tác với giặc. Vua Tự Đức ra lệnh truy đoạt tất cả chức tước phẩm hàm, đục bỏ tên ông trong bia Tiến Sĩ. Quê ông ở Bến Tre. Trước 75, tại bùng binh tỉnh lỵ này có tượng ông. Việt Cộng vào chúng gỡ đem đi đâu mất.

Tháng Tư năm 1975, Cộng sản miền Bắc tấn chiếm miền Nam. Và nhà cầm quyền miền Bắc đã cai trị miền Nam như một đoàn quân ngoại nhập. Trước ngày 30-4 năm 1975, một số người có điều kiện đã ra đi khỏi nước. Sau đó, cả nước là một trại tập trung khổng lồ. Và nhiều người đã tiếp tục ra đi bằng cách vượt biển Đông tạo nên phong trào thuyền nhân làm rúng động lương tâm nhân loại.

“Lưu vong là một hiện tượng bất thường trong lịch sử nhân loại nhưng không phải vì thế mà lại ít có hoàn cảnh lưu vong. Khi một tập thể không còn sống được dưới một chính thể mà đành xé lòng bỏ nước ra đi thì tập thể đó có thái độ khác, hoàn toàn khác, hết sức khác, đối với những kẻ tuy trên danh nghĩa đang cai trị họ nhưng trên thực tế là những tên đang tra tấn đồng bào họ, thậm chí đang là những tên đao phủ đối với đồng bào họ”.


Nhận xét này của bác sĩ Trần Văn Tích hoàn toàn đúng khi áp dụng vào việc Đảng và Nhà Nước do đảng CSVN cai trị đất nước trong 36 năm qua. Và do đó, có thể khẳng định những kẻ nào trong tập thể người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại mà lại tìm mọi cách để xin xỏ hòa giải hòa hợp với nhà cầm quyền CSVN thì chính những kẻ này đã tự nguyện xé bỏ căn cước tỵ nạn chính trị của mình!

Trong 36 năm qua, CSVN đã tìm mọi cách để “thôn tính” cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại về mọi mặt. CSVN đã phải “nhờ” tới một trường đại học qua một tên Việt gian “mai phục” ở trường này tìm cách “viết lại căn cước của người tỵ nạn”; nhưng chúng đã hoàn toàn thất bại vì người Việt tỵ nạn CS đã phát giác.

Cố Thủ Tướng VC Võ Văn Kiệt đến Paris kêu gọi người Việt hải ngoại hãy thôi chiến đấu dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ cũng đã thất bại !

Biến cố “người đuôi chó” Trần Trường treo cờ máu và hình Hồ ở Nam California đã bị cộng đồng người Việt tỵ nạn biểu tình phản đối 53 ngày đêm. Trần Trường đã phải bán sới tài sản về nước đào ao “Bác Hồ” để nuôi cá và đã bị chính bọn cầm quyền cộng sản giở trò cướp giựt tài sản như thế nào mọi người đều đã rõ.

Đau đớn nhất là chuyện ông cố Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ của chế độ miền Nam đã về nước hoà hợp hòa giải với VC để góp phần xây dựng đất nước và kết quả như thế như thế nào mọi người đã rõ, xin miễn kể ra đây.

“Sự cố” nổi bật nhất là vào ngày 21 tháng 8 năm 2011, ông trí thức Lê Xuân Khoa và 35 ông bà trí thức khác đã “theo đuôi” 95 trí thức ở trong nước gửi cái gọi là “Thư Ngỏ” đến 5 vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà Nước CSVN để xin xỏ Đảng và Nhà Nước “nên tận dụng sức mạnh của dân tộc để chống lại việc Trung Cộng chiếm đất, lấn biển của VN” và xin xỏ hòa hợp hòa giải.

Điều chua xót là lời lẽ của “Thư Ngỏ” còn quỵ lụy, đớn hèn hơn cả kiến nghị của những trí thức và nhân sĩ ở trong nước!

“Bảo ra đường
Ra đường
Bảo nằm gầm giường
Nằm gầm giường
Bảo sủa
Sủa
Bảo im
Im”.

Ở một đất nước mà một nhà thơ ở trong nước đã diễn tả tình cảnh, thân phận của người dân (dĩ nhiên có cả trí thức) mà 95 vị nhân sĩ, trí thức trong nước còn có can đảm viết một bản kiến nghị đâu ra đó. Trong khi ở hải ngoại, có toàn quyền tự do ngôn luận mà 36 ông bà trí thức viết bức thư ngỏ sặc sụa mùi nịnh bợ, quỵ lụy thì thật là tội nghiệp vô cùng!

Tôi không ngạc nhiên gì khi biết ông Lê Xuân Khoa là người chủ xướng và viết cái gọi là “Thư Ngỏ” này. Theo tôi, ông Lê Xuân Khoa là một người có học nhưng không phải trí thức!

Cách đây 6 năm, tôi đã có bài viết về chuyện ông ta ra mắt sách ở San José kêu gọi hòa hợp hòa giải. Khi ra mắt sách không chào cờ cũng như hát quốc ca VNCH. Bị chất vấn ông ta bàu chữa là ông ta “luôn luôn ấp ủ lá cờ vàng ba sọc đỏ trong tim” (sic!) Nhưng, cũng như ông nhà văn Nhật Tiến, bị những người cầm bút trong nước chê bai là “những kẻ hôi mùi thực dân” không xứng đáng cùng đồng hành với họ để tranh đấu cho tự do, dân chủ; ông Lê Xuân Khoa cũng bị báo chí VC đăng lời chỉ trích; trong khi ông ta viết bài ca tụng VC bị cộng đồng người Việt hải ngoại lên án.

Dư luận khắp nơi đã lên tiếng về Thư Ngỏ của 36 nhà trí thức. Ông Lê Xuân Khoa đã thành công trong nhiệm vụ khuấy động dư luận cũng như gây tranh cãi trong cộng đồng người Việt hải ngoại vì một mục đích nào đó mà chỉ có ông ta và 34 ông bà trí thức cùng ký tên với ông ta biết mà thôi.

Chuyện tên của nhà văn Doãn Quốc Sỹ bị bắt có bỏ “dĩa” (Thư Ngỏ) thì mọi người đều đã rõ, nhất là qua bài viết “Đi thăm nhà văn Doãn Quốc Sỹ” của ông Trần Huy Bích cho thấy tư cách và việc làm ma giáo của “thằng người có đuôi” Lê Xuân Khoa.

Có người nói với tôi tội nghiệp nhất là giáo sư Vũ Quốc Thúc già đời mà chưa trọn! Khôn ba mươi sáu năm mà dại một giờ! Không biết có phải như vậy hay không? Chắc chỉ có ông ta biết mà thôi!

Mấy cái bia trong Văn Miếu Hà Nội nhiều chỗ đã mòn. Có lắm cái tên đọc không còn rõ. Ấy là tôi nói hồi trào Tây, bây giờ hẳn còn mòn hơn nữa. Còn như cụ Phan, tên đã khắc vào; đến năm Tự Đức thứ 18 lại bị đục ra. Năm 1886, Đồng Khánh nguyên niên, mới được khắc lại.


Bia đá coi vậy cũng không lấy gì làm bền lâu. Cũng như danh vị, chức tước con người, thấy đó rồi mất đó. Chỉ có tiếng thơm, tiếng xấu, tức cái bia miệng kia thì ngàn năm còn mãi. Có người lưu danh thiên cổ thì cũng có kẻ lưu xú vạn niên. Cũng sinh một thời mà Trần Bình Trọng thì lưu danh; Trần Ích Tắc thì lưu xú! Trần Văn Hương thì lưu danh; Dương Văn Minh thì lưu xú. Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú thì lưu danh; Nguyễn Hữu Hạnh thì lưu xú. Hùm chết để da, người ta chết để tiếng. Làm người mà không để được tiếng thơm cho đời sau thì cũng rán đừng lưu tiếng xấu.

Mấy ông bà Tiến sĩ, mấy ông bà đã có cái danh Tiến Sĩ, nếu là ngày xưa thì cũng bia đá, bảng vàng như ai; tự nhiên lại ghi tên vào cái Thư Ngỏ do ông Tiến sĩ Lê Xuân Khoa khởi xướng theo đuôi mấy ông trí thức ở trong nước. Cái “Thư Ngỏ báo đời” đã biến quý vị trở thành… “Tiến sĩ Bác Hồ”!

Bia miệng ngàn năm!

Lão Móc
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Kéo quần lên!“

Chưa đi chưa biết Hoa Kỳ -
Đi rồi mới thấy… kỳ kỳ làm sao!” -
Phải, một trong những sự “kỳ kỳ” ở xứ Mỹ này là đạo luật “Pull Your Pants Up” hay “Kéo quần lên” mới được ban hành ngày 31 tháng 8 vừa rồi.

“Chưa đi chưa biết Hoa Kỳ - Đi rồi mới thấy… kỳ kỳ làm sao!” - Phải, một trong những sự “kỳ kỳ” ở xứ Mỹ này là đạo luật “Pull Your Pants Up” hay “Kéo quần lên” mới được ban hành ngày 31 tháng 8 vừa rồi. Đây là thành quả vĩ đại mà thượng nghị sĩ Gary Siplin thuộc đảng Dân Chủ ở Orlando, tiểu bang Florida đã gặt hái được sau hơn 6 năm vận động. Nhân mùa khai giảng niên học 2011-2012, các cậu đương kim sinh viên trở lại trường và các cựu nam học sinh vừa từ cấp trung học bước lên ngẫng cửa đại học đã được “cụ thượng” Siplin hồ hởi phấn khởi chào mừng bằng việc phân phát miễn phí 200 dây nịt hay còn gọi là thắt lưng hoặc “xanh-tuya” (phát âm theo tiếng Pháp: “Ceinture”). Món quà này không phải nhằm vận động các cậu nhớ bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ vào tháng 11 năm tới hoặc để các cậu diện cho bảnh hầu bắt mắt con gái - nhưng thông điệp rất rõ rệt: Dây nịt này dùng để giữ quần không bị xệ xuống mà lòi bộ mông của chủ nhân ra! Nói nhẹ thì như có vẻ khuyên bảo nhẹ nhàng, nhưng thật sự là nghiêm cấm đấy dù mông có đẹp, có trắng, có tròn, có nẩy nở hay phát triển khổng lồ hoặc sexy cỡ nào thì cũng không được triển lãm ra trong phạm vi học đường. Đã gọi là đạo luật thì hẳn nhiên có phần qui định hình phạt. Theo đạo luật “Pull Your Pants Up”, kẻ nào không chịu thường xuyên “kéo quần lên” mà cứ “vô tư” để quần xệ khiến lòi cả mông ra cho mát mẻ hay vì một mục đích thầm kín nào đó thì lần đầu tiên được nhắc nhở; sau đó nếu còn ngoan cố tái phạm thì phạm nhân sẽ bị đuổi học “tối đa 3 ngày và lên đến 30 ngày cho các sinh hoạt ngoại khóa”.

Về phía nữ sinh viên, đạo luật này cấm “mặc áo hở ngực và váy quá ngắn”. Cô nào mặc quần thì cũng phải tuân thủ đạo luật mới này, nghĩa là không được mặc quần xệ, mà nếu nó lỡ xệ thì phải lo mà… kéo lên chứ không được nhân danh phái đẹp mà khoe mông ra. Khiếp, ngứa mắt lắm!

Trong chiến dịch “chống nạn sinh viên quần xệ” của thượng nghị sĩ Gary Siplin ở Florida, không nghe nói và không thấy báo chí viết, nữ sinh viên có được phân phát dây nịt không hay “cụ thượng” này cũng lại áp dụng quan niệm “trọng nam khinh nữ”. Trong trường hợp này, “trọng” là làm hại, gây thiệt còn “khinh” thì lại mang lợi, sinh ích. Bởi con giai đã nhận được dây nịt mà còn để quần xệ ắt hết lý do để bào chữa cho hiện tượng lòi mông. Ngược lại, con gái mà có bị bắt về tội phơi mông, vẫn có thể chống án bằng cách viện lý không được “bố thí” dây nịt trong khi lại sống trong hoàn cảnh nghèo, có bao nhiêu tiền thì đã dốc vào mục đóng học phí, còn đâu nữa để mua dây nịt hay có tiền đấy, nhưng chưa kịp sắm thắt lưng hoặc chưa chọn được thứ đúng ý, hợp mốt. Đã gọi là ai cũng được bình đẳng trước luật pháp mà vẫn có cảnh “người ăn ốc, kẻ đổ vỏ”, nghĩa là bất công thì Hoa Kỳ vẫn chỉ là đất… “kỳ kỳ làm sao”!

Kể cũng lạ, giữa thời buổi kinh tế xuống dốc, giữa lúc hàng triệu người dân thất nghiệp khiến phải “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”, bỗng dưng QUẦN lại chiếm được một vị trí quan trọng trong luật pháp Hoa Kỳ. Mà quần là cái thá gì, bỗng có giá quá như thế? Đó chẳng qua theo định nghĩa thông dụng trong các tự điển Việt ngữ, là vật dùng để che phần dưới thân thể. Chữ “vật” ở đây quá ư mơ hồ, thứ gì miễn che được hạ thể mà chẳng là “vật” chứ đâu cứ phải là vải? Quay trở lại lịch sử loài người, ta thấy ngay.

Chẳng nhà khảo cứu cổ học nào có thể xác nhận quần có từ niên đại nào và ở đâu có đầu tiên. Thế nhưng, có điều chắc chắn bất khả chối cãi là trong tôn giáo, điển hình Thiên Chúa giáo, tổ tiên loài người “thuở ban đầu lưu luyến ấy” sống trần truồng, bởi chưa phạm tội nên không biết xấu hổ, mà đã không biết xấu hổ thì cần gì che với đậy. Một bài đọc trong cuốn Cựu Ước kể rất rõ: Chỉ sau khi ăn trái cấm, ông A Dong và bà E Và mới nhận ra từ thuở tạo thiên lập địa đến giờ mình vẫn… trần như nhộng, bèn mắc cở - dù chỉ có hai người nhìn nhau và hai người này từ xưa vẫn là vợ chồng với nhau, tức là của người này cũng là của người kia, vậy mà nay nhìn lại những cái của nhau (cũng là vật sở hữu của chính mình) vẫn thấy… kỳ kỳ làm sao ấy. Thế là… mắc cở. Sách không kể tiếp “mắc cở” hay “xấu hổ” rồi thì ông A Dong và bà E Và làm gì để chế ngự những cảm giác và nhận thức ấy, nhưng xem nhiều bức họa thì được thấy các họa sĩ đã lấy một chiếc lá - giống lá nho 3 cạnh - to hơn bàn tay mà che dùm cho ông A Dong; còn với bà E Và thì có họa sĩ cũng cung cấp cho bà một chiếc lá be bé - y chang lá tre - có họa sĩ lại để bà đứng núp sau một bụi cây. Nói là “che” cũng chỉ để nói cho có lệ, cho oai tí chút chứ thật sự chỉ làm khuất đại khái được rừng, núi còn thì những vùng hoang địa khác thì vẫn là phần thiên nhiên. Thế nhưng nhân đấy, ta vẫn có thể coi chiếc lá là “cái quần” đầu tiên của loài người.

Vâng, vẫn theo Kinh Thánh (Bible), vì phạm tội không vâng lời Thiên Chúa mà ông A Dong và bà E Và bị trục xuất khỏi vườn Địa Đàng. Từ đó ông bà sống cơ cực, tự biên tự diễn lấy các kế sinh nhai đồng thời cũng sinh con đẻ cái vô số kể cho lan tràn khắp mặt đất.

Rồi chẳng hiểu cuộc sống tiến triển như thế nào mà rồi các thế hệ sau này cuối cùng chiếc lá che thân của “thuở ban đầu… mắc cở ấy” cũng không cánh mà bay đi đâu mất. Lại trần hơn nhộng. Có bộ lạc nào trong rừng sâu núi thẳm mang “quần” đâu. Cả nam lẫn nữ đều tô hô “bình đẳng bình quyền” nên “cả nút chẳng xấu hổ”. May mà phái nam sớm khám phá ra sự bất tiện, nhận diện được vật cản trở những bước tiến trong việc săn bắn hay lúc bị voi rượt, cọp đuổi… nên lấy dây cỏ cột “chướng ngại vật” này lại hoặc nhét nó vào một cái ống cho “an toàn trên xa lộ”. Vậy ta lại có lý do xem sợi dây hay cái ống ấy là một thứ “quần” sơ khởi của nam giới. Còn phái nữ, chắc cũng chỉ cái lá hẳn là “ắt có và đủ” chứ chẳng có thứ gì “vừa tiện lại vừa lợi” hơn thế nữa.

Đến khi đời sống nhân loại được tổ chức thành xã hội, nghĩa là khởi sự có những hoạt động về kinh tế, quân sự, chính trị… - dĩ nhiên chỉ “qua loa rờ măng”, nhưng đã có chút ánh sáng văn minh - tổ tiên loài người dệt được vải. Cái khố ra đời. Dụng cụ này bọc được phía trước, che được phần giữa phía sau. Hiện nay trong rừng rậm còn rất đông bộ lạc đóng khố; ở nhà quê cũng không thiếu dân cư “thi đua” đóng khố. Đã đóng khố thì có đóng… kịch đến cỡ nào cũng vẫn lòi cái nghèo ra. Bởi thế có câu: “Khố rách áo ôm”. Thảm hơn nữa khi gặp cảnh: “Con đóng khố bố cởi truồng”. Nhưng rồi theo thời gian mà cái khố được “phăng” rộng ra, kéo dài xuống để rồi thành cái quần chính hiệu. Thế nhưng cái quần lúc đầu chỉ cần đậy cho “chủ nhân” những phần được coi là “chiến trường”, dần dần ngoài công tác che chở, còn trở thành đồ trang sức cho loài người.

Nói tổng quát, quần cũng thay hình đổi dạng theo thời gian, nhưng nếu chiều dài từ thắt lưng xuống đến mu chân thì gọi là quần dài, nhưng nếu được cắt ngắn lửng lơ trên đầu gối lại mang tên là quần đùi (chỉ che đùi) hay sà-loỏng hoặc “soóc”. Tuy nhiên bài này không có ý tường thuật lý lịch của cái quần, cũng không nhằm sưu tầm các kiểu quần - dù chỉ là quần của nam giới, chứ chẳng dám sờ đến quần đàn bà vốn nhiêu khê và phức tạp vô cùng tận y như tâm lý của nữ giới vốn muôn đời là: “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người (nữ) nham hiểm ai đo cho cùng”.

Ấy vậy mà cái quần cũng góp phần vào việc qui định địa vị của chủ nhân của nó trong xã hội. Chẳng thế mà những ai mặc “quần chùng áo dài” là được thiên hạ đặt vào giai cấp giầu sang, luôn ăn mặc chỉnh tề, sống phong lưu nhàn hạ, không phải lam lũ, vất vả, nhưng lại chuyên “làm cha” tất cả “dân ngu khu đen”, chỉ huy những kẻ “cầy sâu cuốc bẫm” hay “buôn thúng bán mẹt” vốn là giới ngày đêm chỉ biết “quần manh áo vá” hay “quần manh áo vải”.

Thế nhưng, nhà giầu mà keo kiệt, ăn uống không bằng người nghèo thì dân gian chế là: “Quần dài thì ăn mắm thối - quần đến đầu gối thì xơi mắm thơm”.

Mà thôi, giờ xin trở về với chủ đề: “Kéo quần lên!” - Vâng, một khi đã kêu gọi “kéo lên” thì hẳn nhiên cái quần phải ở vị thế “xệ”. Một thời trước năm 1975 ở Việt Nam, chữ “xệ” đã được xử dụng để chê bai nặng nề một người kém cỏi “quá cỡ thợ mộc” đến độ không thể ngóc đầu lên được: “Sao mày ‘xệ’ quá vậy?” hay đơn giản: “Xệ!”. Các tác giả trong Tự Lực Văn Đoàn đã sản xuất hai nhân vật đặc biệt tên là Xã Xệ và Lý Toét. Xã Xệ là hình ảnh một người có chức vụ ở làng quê, chuyên môn ăn trên ngồi chốc nên béo phì, đi đứng khó khăn như thể thân xác mang quá nhiều thịt mỡ nên “quá tải” mà… xệ hẳn xuống. Trong khi đó Lý Toét gầy hơn cò bợ khiến “qua cầu gió bay” và dĩ nhiên “nghèo rớt mùng tơi”.

Quần đã xệ thì mông lòi ra. Đó là lẽ tự nhiên. Nhưng hình ảnh này đã làm thượng nghị sị Gary Siplin ở Orlando ngứa mắt thật sự nên ông không những đã soạn ra đạo luật “Pull Your Pants Up” mà sau khi đã được Quốc Hội thông qua, ông còn xuất quỹ (chắc là công quỹ hoặc quỹ tranh cử chứ không phải tiền túi của ông) để mua những 200 chiếc dây nịt để giúp các sinh viên chuyên mặc quần xệ lòi mông kéo quần lên. Ông Siplin tâm sự với hãng thông tấn Reuters rằng ông “mong muốn các bạn trẻ tin rằng họ đang cắp sách đến trường đại học với cung cách ăn mặc sao cho văn minh và lịch sự”. Nhân ngày phân phát dây nịt, “cụ thượng” Siplin khoe rằng các giáo chức cũng ủng hộ việc làm của ông, bởi thế có câu: “Kéo quần quá rốn mới hay - Lòi mông, hở ngực… các thày ớn ghê”!
Trong khi đó ở hầu hết nước Tây Phương, chính quyền chủ trương lột bớt y phục của các nữ tín đồ Hồi Giáo, đòi càng hớ hênh nhiều càng tốt, nhưng với ông Siplin thì khác, trai không lòi mông, gái chẳng hở ngực. Nhưng có dư luận đặt câu hỏi: Ông đã cung cấp dây nịt cho nam sinh viên, tại sao ông không cùng lúc ủng hộ “cái khiên đỡ đạn” để che ngực cho nữ sinh và phân phát vải cho các cô may thêm vào những chiếc “váy quá ngắn”? Hóa ra ông vẫn chưa công bằng hay ông chỉ ghét mông con giai còn chỉ giả vờ tấn công “ngực hở và váy ngắn” của con gái chứ ông không chịu đưa ra biện pháp và vật dụng cụ thể nào để triệt tiêu tệ trạng, phải chăng như ông muốn ngầm bảo “ừ, cứ như vậy nhé!”.

Xét ra thì việc ăn mặc ở học đường vốn thuộc phạm vi kỷ luật (discipline) mà thôi hay cùng lắm nằm trong các bài học “công dân giáo dục”, vậy mà “cụ thượng” Gary Siplin lại đưa lên tận hàng đạo luật tiểu bang thì kể cũng hơi… quá đà. Chẳng thế mà “ông và các đồng viện đã phải thúc đẩy từ hơn 6 năm qua”, dự thảo luật mới được thông qua. Người ta tặng ông tấm phiếu thuận chắc phần lớn để tưởng thưởng đức tính kiên nhẫn của ông.

Sau hết, đạo luật mới này trừng phạt các cô, cậu sinh viên nào vẫn ngoan cố mặc quần xệ bằng cách đuổi học tối đa 3 ngày. Kẻ hèn này lại thắc mắc, “cụ thượng” Siplin mong muốn “các bạn trẻ cắp sách đến trường đại học” một cách đàng hoàng mà sao lại nỡ bắt tội nhân ở nhà những 3 ngày, mất biết bao bài vở cần thiết và quan trọng. Không những thế, mỗi phân khoa đại học lại phải thành lập một ủy ban chuyên môn đi săn lùng “các bạn trẻ nào mặc quần xệ”, bắt ngay về hoặc dùng cellphone chụp ngay tại trận cái mông đang lòi ra để làm tang chứng. Rồi lại phải thêm một ủy ban chuyên môn khác nữa xét định mức lòi mông như thế đã vi phạm đạo luật “Pull Your Pants Up” hay chưa. Theo tinh thần dân chủ, bị cáo có quyền đưa luật sư riêng tới, đấu khẩu với các ủy ban chuyên môn nói trên trước khi có phán quyết chung thẩm. Trời, đang khi đó ngân sách giáo dục bị cắt giảm thảm hại; giáo chức bị sa thải, học trò, sinh viên phải đóng thêm học phí chết bỏ. Không lý lại giao các công tác kiểm soát “mông lòi, ngực hở, quần xệ, váy ngắn” cho cảnh sát? Bộ ông Siplin chắc đã quên công dụng của cái mông rồi sao? Thưa ông, ngoài việc để ngồi, để khoe khoang hay để hấp dẫn, cái mông - tự mông đít - còn để quất roi vào. Cổ nhân Việt Nam đã dậy: “Yêu cho roi cho vọt” - lại còn căn dặn cẩn thận: “Cứ mông mà đét” hay “Cứ đít mà quật” - ắt mọi sự sẽ đâu vào đấy. Bố bảo “bạn trẻ” nào còn ngoan cố mặc quần xệ “để lòi mông ra” nữa. Roi đâu?! – (HM)

Hoài Mỹ
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »


Image

Huyền Thoại Đại Cathay


Ngày ấy, truoc 1975, danh tiếng của người đứng đầu “tứ đại giang hồ” là Đại Cathay được cả miền Nam đều biết tiếng, nhất là sau này qua cuốn tiểu thuyết của nhà văn Duyên Anh “điệu ru nước mắt”. Trận hỗn chiến giữa Đại Cathay với Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái, Nguyễn Kế Thế đã đưa Đại lên đứng đầu nhóm này. Trận chiến kinh hồn với băng đảng người Hoa của Tín Mã Nàm đã cho Đại Cathay lập nên một đế chế mà khắp Sài Gòn chẳng có một băng nhóm nào dám đối đầu. Cả một bộ máy quân sự khổng lồ của miền Nam cũ phải sợ một tên du đãng Đại Cathay đến nỗi tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ phải “xuống nước” mời ra làm nhân viên công lực quốc gia hay tướng cảnh sát Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan mời làm đại úy cảnh sát.


Hình ảnh của Đại Cathay với mái tóc bồng bềnh, quần Jean, giày cao cổ, trên môi không rời điều thuốc, Zippo, ... Những gì mà Đại Cathay đã tạo dựng chỗ đứng của mình trong giới giang hồ thật khác biệt. Ở đó sự liều lĩnh không được đánh giá cao bằng lối sống "tình nghĩa" đáng để suy ngẫm...

Ngay cả đám giang hồ cộm cán, đám đàn em tin cẩn cũng không ai biết hắn con ai, tên thật là gì. Chính Đại Cathay cũng… không biết tên thật của mình nốt. Hơn chục lần bị điệu về bót cảnh sát, Đại tự khai cho mình hơn chục lai lịch khác nhau. Theo đó, cha của hắn lúc là Lên Văn Cự, lúc lại là Trần Văn Trự… Mẹ của Đại Cathay cũng khá… nhiều tên, lúc là Hương, lúc là Duyên, sống hay chết thì “có trời mà biết”. Nói tóm lại, như Đại Cathay thường tự nhận, gã là một thằng… con trời có lẽ xuôi tai hơn cả.

Kì thực, Đại tuổi Thìn, sinh năm 1940. Theo tìm hiểu của chúng tôi, mẹ của Đại tên gì không rõ, chỉ biết người xung quanh thường gọi là bà Sáu. Còn cha Đại thì chính tên là Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Sau năm 1945, Hai Cự tham gia kháng chiến, trở thành lính của “Mười ban tự vệ công tác thành”, sau đó bỏ vào chiến khu rừng Sác đầu quân vào bộ đội Bình Xuyên của thủ lĩnh Ba Dương (tức Dương Văn Dương). Đại sinh ra giống cha như đúc nhưng tuổi thơ rất ít được gần cha. Thuở nhỏ, gã sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay la Đoàn Văn Bơ Quận 4). Cả cha lẫn mẹ của hắn đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh chợ cũ, Quận 1. Đại thường xuyên trốn học chạy sang chơi vơi đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất "lì đòn", những đức tính được "thừa kế" đầy đủ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, gã đã thường xuyên luồn lách vào các chợ, sạp hàng xung quanh, ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn.

Sau 1945 cha Đại tham gia kháng chiến và bị bắt vào cuối năm 1946, bị đày ra Côn Đảo và ít lâu sau thì chết. Cha mất, mẹ lấy chồng khác. Bố dượng là 1 tay máu me cờ bạc, lại nghiện thuốc phiện năng nên gia sản dần dần biến hết. Cáu bẳn vì sinh kế, ông dượng thường nọc đứa con riêng của vợ ra hành hạ để hả cơn bực tức. Không chịu nổi, Đại bỏ học hẳn, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo tự nuôi thân. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ. Tại đó có 1 rạp chiếu bóng tên là Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại cứ lăn xả vào đối thủ liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn nửa cái đầu cũng mặc. Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy vết rách bầm. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng nghiễm nhiên, gã được quyền ráp thêm "tên đất" vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, "đại ca" đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954 lúc Đại mới 14 tuồi.

Trở thành "anh chị", Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em "đi làm" mang tiền về nộp. Mỗi buổi sáng, hàng chục thiếu niên Ba Binh, Ba Tướng, Ba Gà (hỗn danh để gọi đám trẻ du đãng chưa có tên tuổi. Ba Binh là quân sư, Ba Tướng là những thằng trực tiếp đi đánh nhau còn Ba Gà là những tên thuyết khách) cả trai lẫn gái tụ tập quanh Đại Cathay nhận công việc và địa bàn do hắn cắt cử, sau đó túa đi, chiều lại đem tiền về cho Đại. Được cái, hắn rất hào phóng, Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Những đàn em không may bị ế báo, bị mưa ướt thuốc, kẹo phải đền tiền, Đại Cathay cũng không chửi bới, đánh đập như những tên "chăn chíp" tham lam khác mà còn lấy của đứa "trúng mánh" cho thêm. Vì vậy, đàn em rất khoái và chịu nghe lời "anh Đại". Tình trạng đánh lộn, tranh giành khách trong khu vực của Đại Cathay được dẹp yên.

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị các công cò bót quận Nhì xách tai lôi về bót. Hăm dọa, tát tai, đá đít đủ kiểu, thằng nhóc vẵn trơ trơ không chịu khai tên tuổi những đàn em tham gia ẩu đả, đám mã tà phú lít lại đành thả Đại về. Hết thuốc, các ông cò nảy ra đòn độc để trị Đại Cathay, bắt đàn em của đại đứng xem. Chúng bắt thằng nhóc quỳ giữa sàn nhà, hai ông cò hai bên xốc ngược tay Đại lên, cạy mồm, thả vào một con gián sống. Con vật lập tức chui tọt vào cổ họng lao thẳng xuống dạ dày. Ngứa ngáy, kinh tởm và nhột không chịu được, Đại Cathay ói ra mật xanh, mật vàng. Đám Ba Binh, Ba Tướng xung quanh lè mắt, có đứa hét lên ngất xỉu và đái ra quần. Đại Cathay, sau một hồi nôn thốc nôn tháo, bắt đầu trấn tĩnh, lại tiếp tục câm như hến, tuyệt đối không khai. Không còn cách nào khác, các thầy cảnh sát đành tống Đại Cathay vào trại tế bần hoặc Trại giáo hóa thiếu nhi phạm pháp ở Thủ Đức.

Ở miền Nam trước giải phóng, có bốn nơi được coi là “lò đào tạo du đãng”. Nơi thứ nhất là Trại nuôi dạy trẻ mồ côi, cơ nhỡ nằm tại địa điểm nhà hát Hòa Bình hiện nay. Nơi thứ hai, Làng cô nhi Thủ Đức, điều kiện sống khá hơn nhưng vẫn rất lỏng lẻo, tha hồ cho đám tiểu yêu phá phách. Những tên nhóc bất trị nhất, hai trại trên đều không chứa nổi thường bị cảnh sát lùa vào Trại giáo hóa Thủ Đức. Thực chất, đây chỉ là nơi nuôi báo cô đám du thủ du thực, chờ chúng đủ tuổi là đẩy vào quân đội. Nơi thứ tư, Trại Tế Bần nằm bên kia cầu Trình Minh Thế (nay là cầu Tân Thuận), là một Trạm trung chuyển giam giữ những tên lưu manh sắp hết tuổi vị thành niên. Sau nửa tháng bị giam, nếu có người nhà bảo lãnh, đóng phạt, tên tiểu yêu sẽ được cho ra. Nếu không chúng sẽ bị nhốt lại, chờ đủ tuổi là tống vào đội quân “cưỡng bức phục vụ” tức lao công phục vụ chiến trường. Kẻ nào bị liệt vào hạng này coi như cầm chắc cái chết. Ngoài mặt trận, việc của họ là đi trước phát cây, mở đường, đào công sự, trong khi chân không giày dép, hai người chung một sợi dây xích chân, muốn chạy cũng không được, mặc kệ mưa đạn vãi cả trước mặt lẫn sau lưng. Biết trước số phận “bia thịt” của mình nên đám du đãng vào trại tế bần chưa ấm chỗ đã tìm cách trốn. Lọt ra khỏi vòng rào các trại, đám nhóc lại lần về với các băng nhóm du đãng, bụi đời.

Hầu hết đám giang hồ Sài Gòn nổi tiếng sau này đều đã từng qua đủ các trại nói trên. Thuộc hang vào ra như cơm bữa, Đại Cathay được liệt vào loại “tù con rạ”, để phân biệt với đám “tù con so” mới nhập trại lần đầu. Ở các trại, Đại Cathay đã làm quen với những Của Gia Định, Lâm chín ngón, Hắc quảy quảy, Hòa áo thun… những chiến hữu đắc lực sau này trên chốn giang hồ.

Mỗi lần vào trại rồi trốn ra, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, càng “tích cực” lao đầu vào những trận thư hùng - vốn là thứ năng khiếu nổi trội hơn cả ở hắn.

Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực Hãng phân Khánh Hội cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám trẻ con khu vực này đón tiếp Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ nhóc tì khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân bến tàu vựa cá, vựa rau cải – vốn có hạng trong nghề dao búa – đều bị Đại Cathay qui phục về dưới trướng.

Khi Đại Cathay còn là một cậu bé đánh giày thì toàn bộ khu vực Cầu Mống - Dân Sinh - Cầu Ông Lãnh mà dân giang hồ gọi là khu Da Heo, đều do một tay giang hồ nổi tiếng là Tám Lâu cai quản. Ở trần, quần dài vắt vai, đi đứng nói năng khụng khiệng, nét mặt luôn đằng đằng sát khí, Tám Lâu bị bà con khu Da Heo coi như một hung thần. Nghề chính là đạp xích lô, nhưng thực chất Tám Lâu là kẻ nhận quyền bảo kê thu thuế toàn bộ khu Da Heo, dưới trướng có hàng chục đàn em. Dưới nệm xích lô, Tám Lâu luôn thủ sẵn "hàng mã", sẵn sàng vung ra bất cứ lúc nào với bất cứ ai.

Nhiều lần chứng kiến thằng nhóc đánh giày dẫn quân đập lộn, Tám Lâu đâm "chịu" Đại. Thỉnh thoảng ngồi nhậu thấy Đại đi qua, Tám Lâu lại ngoắc vào kê ghế cho ngồi cạnh mần hơi cho ấm bụng. Qua những lần nhậu ké đó, Đại Cathay được Tám Lâu giới thiệu như một tay trẻ tuổi tài cao đầy hứa hẹn với đám giang hồ đàn anh: Ba Hội, Cảnh Tượng... Tám Lâu cũng thường đưa Đại đến các khu Lò Heo (cũ), Chánh Hưng, hẻm Hai mươi để làm quen với các tay anh chị khu vực khác. Nể tình Đại Cathay cũng hay ghé đến hẻm 110 Nguyễn Công Trứ để thăm hỏi Tám Lâu.

Tuy hung tợn, dữ dằn nhưng Tám Lâu vẫn phải thúc thủ trước uy thế của anh em Bé Bún, một trùm giang hồ quận 4, khu vực cạnh Hãng phân nơi Đại Cathay trú ngụ. Cậy đông quân lắm mã, đám này thường kéo rốc qua Cầu Ông Lãnh, tràn vào "thu thuế" giật bà con thiểu thương chợ vựa Cầu Muối, Tám Lâu không cản nổi.

Một ngày cuối năm 1957, tình cờ nghe đàn anh thở ngắn than dài, nộ khí xung thiên, Đại Cathay đề xuất:
- Anh Tám để đó em lo. Phải cho Bé Bún nằm viện, đám này mới ngán!

Tám lâu gạt phắt:
- Con nít biết gì? Tao còn thua nó, mày là cái đinh gỉ!

Tự ái Đại Cathay bỏ về. Lúc này đám Ba Binh, Ba Tướng của Đại cũng đã lớn, toàn thanh niên 17, 18 tuổi, lại lăn lộn lề đường nhiều nên cũng khá dày dạn. Nghe lời Đại Cathay, đám này vác dao qua Bến Vân Đồn "chém bậy" vài tay em của Bé Bún để khiêu khích. Điên tiết, Bé Bún hô toàn bộ em út tấn công sang khu Da Heo hỏi tội Tám Lâu. Quân Bé Bún quá đông, khiến Tám Lâu và đám đàn em hoảng hốt, định bỏ chạy. Nhưng vừa qua khỏi Cầu Ông Lãnh, băng Bé Bún đã ôm đầu máu chạy ngược trở lại, kêu la vang trời. Không nói trước với đàn anh nửa câu, Đại Cathay đã âm thầm cho đàn em của mình "trải đệm", bất ngờ "luộc" băng Bé Bún. Dưới sự chỉ huy của Đại Cathay, đám giang hồ tân binh tả xung hữu đột lăn xả vào chém quân Bé Bún, xộc thẳng sang cả bên kia cầu. Nói là làm, Đại Cathay đã xỉ cho Bé Bún mấy nhát sau đó phải nằm viện thật, không dám bén mảng sang giành mối ở khu Da Heo nữa.

Sau trận hỗn chiến, Tám Lâu đâm ớn "tài ba" của Đại Cathay. Một mặt, Tám Lâu tuyên bố trong khu Da Heo, Đại Cathay có toàn quyền xử sự, mặt khác y lại lo ngay ngáy bị Đại Cathay lấy làm đối thủ. Biết ý, Đại tuyên bố không giành đất, khu Da Heo vẫn của Tám Lâu. Phần Đại, gã chỉ thu thuế các sòng bài, ổ đề, tiệm hút trong khu vực. Tiếp đó, Đại vươn tay bảo kê tất cả các ngành nghề kinh doanh lậu bao gồm xưởng nấu xà phòng, lò mổ heo, lò rượu...trong khu. Có tiền có quyền, Đại dần dần đã khiến các tay anh chị khác phải dạt ra. Đại Cathay tha hồ ăn chơi và làm mưa làm gió.

Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập vào miền Nam. Các cậu ấm cô chiêu con nhà giàu tuy được ăn học đàng hoàng nhưng cũng học đòi nhau, thường xuyên có mặt ở các nhà hàng, vũ trường, tiệm hút với đủ kiểu quần áo tóc tai dị hợm. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí... giả trong khoản ăn chơi. Nhẵn mặt ở các nơi đốt tiền nổi tiếng của quận 1, quận 3, Đại Cathay và đám đàn em bắt đầu quen biết với một đám sinh viên, kỹ sư, bác sĩ con nhà gia thế, trong đó có anh em Dzách Bửu, Dzí Bửu, Hùng Đầu bò, Hoàng Sayonara (tay này móc classic bản Sayonara rất "não nùng")... và nhiều văn sĩ nghệ sĩ khác. Đám nghệ sĩ trí thức cũng nể Đại Cathay chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã- trông bụi đời, hippi hơn cả. Chính Hoàng Sayonara sau đó đã trở thành quân sư hoạch định chiến lược làm ăn và chinh phạt cho Đại. Nghe lời các quân sư, Đại Cathay đứng ra cùng với Bảy Si, bà Bảy Trà đá mở sòng bài lấy xâu ở khu vực Cầu Muối.

Ban Đầu Đại Cathay không thích mở sòng bài vì dân giàu có đã có các sòng Đại Thế Giới, Kim Chung... Mở nữa e không cạnh tranh nổi, Hoàng Sayonara vẽ:
- Không chỉ giàu mới máu me đen đỏ. Các sòng lớn như Kim Chung, Đại Thế Giới toàn dân quí tộc, chức sắc, dân giang hồ, người buôn bán ngại vô. Ta mở sòng vừa vừa kéo khách từ đám này.

Đại Cathay đồng ý. Ở chợ Cầu Muối trước đó Bảy Si (anh vợ Năm Cam – ông trùm sòng bạc sau này) đã có sòng bài sẵn, nhưng khi nghe Đại Cathay đề nghị hùn hạp, Bảy Si cũng không thể chối từ. Thừa thắng, Đại mở rộng ra cả lĩnh vực làm huyện đề 40 con chung với Hỏi, trùm, khu Cây Da Xà. Hắn mua của Hùng đầu bò một chiếc Traction - 15, chiều chiều cho đàn em lái đi khắp các ngả đường vứt lên từng xấp "phơi" đề cùng với hàng cọc tiền chở về. Quyền lực được tiền bạc hậu thuẫn khiến Đại Cathay càng thêm uy thế. Đến năm 1962, 1963, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm khét tiếng. Gần như hầu hết nhà hàng khách sạn, động mại dâm, tiệm hút chích, sàn nhảy ở khu vực quận 1, quận 2 đều chịu sự bảo kê của Đại. Các vũ trường nổi tiếng như Olympic, Queen Bee, Barcara, Paramouth đều coi hắn như ông chủ đích thực, Đại Cathay và đàn em tha hồ ăn chơi nhảy múa mà không một nơi nào dám viết hóa đơn, thậm chí còn lấy làm vinh hạnh vì được đàn anh chiếu cố.

Nhưng nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế bảo kê. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (Vua kẽm gai), Xí Ngàn mặt rỗ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các "vu", Đại Cathay cũng làm quen, "chơi chịu" được với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.

Chỉ năm năm sau ngày khởi sự ở khu Da Heo, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm không đối thủ, được toàn giới giang hồ kiêng dè, sợ hãi. Nhưng vẫn còn ba ông trùm "lừng lẫy" khác không ưa gì Đại Cathay, đó là Huỳnh Tỳ, ông trùm Lê Lại, Ngô Văn Cái và Ba Thế. Cho rằng Đại "chơi kèo trên", giành mối, giành đất, Huỳnh Tỳ và Ngô Văn Cái quyết định "hội đồng" diệt Đại. Hai tên giang hồ họp nhau tại vũ trường Aristo (sau này là khách sạn Lê Lai, cạnh khách sạn New World) cùng một giang hồ gộc là Thế Aristo - chủ vũ trường - có thêm Hùng phốc và Luân - 2 giang hồ cộm cán khác cùng hỗ trợ, mời Đại đến "bàn công việc". Không chút nghi ngờ, Đại Cathay đã bất ngờ bị Thế Aristo đá lộn cổ trở xuống. Bốn kẻ phục kích cũng nhất tề rút dao xông vào chém. Đại Cathay vừa đỡ đòn vừa tìm đường thoát thân, chạy được ra ngoài, mình mẩy đầy thương tích nhưng may không chết. Những vết thương chưa kịp kéo da non, Đại đã đơn thương độc mã giắt dao đi tìm từng tên một trị tội. Cả năm tên đều lần lượt bị Đại Cathay chém trọng thương. Cuối cùng Tám Lâu phải nhờ Cảnh Tượng, Ba Hội và một số tay đàn anh khác xin lỗi giúp cho năm tên, Đại Cathay mới nguôi giận, đồng ý "hòa giải". Danh xưng "Tứ Đại giang hồ" ĐẠI - TỲ - CÁI - THẾ bắt nguồn từ đó.

Lẽ ra, với những thành tích bất hảo chồng chất lên nhau, Đại Cathay đã ngồi tù mọt gông từ những năm trước đó. Nhưng xã hội miền Nam đầy nhiễu nhương với bộ máy quan chức được mua bán bằng tiền đã tỏ ra bất lực không trị nổi Đại Cathay và đám du đãng, để mặc kệ cho chúng làm mưa làm gió. Vào thời đó, chức quận trưởng quận 1 trị giá 30 triệu đồng, trong khi lương lính chỉ hơn 300 đồng cho nên những kẻ đương chức chỉ tìm cách vơ vét, làm giàu để bù lại số tiền đã bỏ ra mua lon tước. Cò Ly, quận trưởng quận 1 còn cố tình dung túng cho Đại Cathay mở sòng bài, hoạt động bảo kê thu thuế. Bù lại, hằng tháng, Đại đều có những khoản riêng béo bở tuồn vào cửa sau cho vợ ông Cò. Mỗi chiều thứ bảy, cò Ly và Đại Cathay lại sánh vai nhau bước vào các vũ trường nhà hang sang trọng ăn chơi, đập phá thâu đêm. Đương nhiên, lương quận trượng một năm cũng không đủ chi cho một lần nhất dạ đế vương nên ông cò chẳng bao giờ phải nghĩ đến chuyện móc hầu bao.

Có tiền, có quyền, có thế, Đại Cathay quyết định bành trướng xuống Chợ Lớn, lãnh địa của Tín Mã Nàm, ông trùm giới Hắc Đạo người Hoa, xưa nay vẫn được coi là bất khả xâm phạm.

So với băng du đãng của Đại Cathay, giới Hắc Đạo của Tín Mã Nàm có tổ chức chặt chẽ và hùng hậu hơn nhiều. Dưới thời Diệm - Nhu, toàn bộ hoạt động kinh tài của các bang hội Hoa Kiều Chợ Lớn đều có cổ phần của giới Hắc Đạo. Toàn bộ nhà hàng, sòng bạc, tiệm hút... đều do giới này quản lý hoặc hùn hạp. Tuy nhiên, sau đảo chính tháng 11/1963, do tham lam, chính Tín Mã Nàm đã khiến giới Hắc Đạo suy yếu. Bắt tay với khá nhiều tướng lĩnh, chính khách thuộc phe đảo chính, "Con ngựa điên" đã bán đứng một số cơ sở kinh tài của các bang hội cho chính quyền mới, tố họ là "cơ sở kinh tài của Diệm - Nhu". Mặt khác, Tín Mã Nàm cũng tố cáo và giao nộp cho cảnh sát một loạt tay giang hồ Hoa kiều không ăn cánh với y như Hỏi Phòong Kin, Sú Hồng, Cọp Chảy, Quầy Thầu Hao, Hắc Quẩy Chảy... nhằm củng cố địa vị "Vua Hắc Đạo" của mình. Vì vậy, Tín Mã Nàm được trung tá Lê Ngọc Trụ - Trưởng ty cảnh sát quận 5 trọng dụng và ưu đãi, trong khi bị nhiều đàn em oán giận và tìm cách trả đũa.

Trong những kẻ oán Tín Mã Nàm có tay tài pán tên Chó, người giúp việc cho Tín Mã Nàm quản lý ngành kinh doanh cờ bạc. Biết được sự chia rẽ đó, Đại Cathay đã sai đàn em dụ hàng tên này. Chó đã bán đứng Tín Mã Nàm, kéo một lượng lớn các con bạc nặng ký từ các sòng Đại Thế Giới, Hào Huê về Cầu Muối cho sòng của Đực Bà Tiều và Bảy Si thuộc quyền Đại Cathay, đồng thời bỏ luôn khu Chợ Lớn về theo Đại Cathay mở mang sòng bạc ở khu Sài Gòn. Biết chuyện, Tín Mã Nàm hạ lệnh cho giới Hắc Đạo:
- Chém bất cứ tên đàn em nào của Đại Cathay bén mảng xuống Chợ Lớn.

Chỉ chờ có thế, suốt 12 tháng trời, Đại Cathay đã liên tục đổ quân tập kích xuống các điểm làm ăn của Tín Mã Nàm ở vùng Chợ Lớn, chém phứa vào bất cứ ai rồi tức tốc bỏ chạy. Người bị chém thường là dân lành, khách chơi, chính vì vậy họ đâm sợ các điểm ăn chơi giải trí của Hắc Đạo, không dám lui tới nữa. Vắng khách, thu nhập thấp, đám cô hồn bảo kê của Tín Mã Nàm đành túa ra làm ăn lẻ để gỡ gạc, bất chấp kỷ luật của ông trùm. Nhưng cứ tên Hắc Đạo nào lọt xuống khu Sài Gòn là tên đó bị đàn em của Đại Cathay chặn đánh. Đầu năm 1964, biết phe Hắc Đạo đã hết phong độ, Đại Cathay quyết định đánh trận cuối, Đại dẫn theo 9 tên đàn em "chiến đấu" nhất, trong đó có Ba Thế và Lâm chín ngón đi trên 5 xe Goebel bất thình lình tấn công vào quán cà phê ngay trước rạp Hào Huê, đối diện với Đại Thế Giới. Đây là điểm tụ tập của các tay đàn em Tín Mã Nàm vào 2 buổi sáng chiều.

Cuộc tập kích thất bại, hai bên đều thiệt hại nặng nề. Nhưng máu liều của Đại Cathay càng được giới giang hồ truyền tụng và vị nể. Tín Mã Nàm cũng lo lắng: nếu cứ để cho Đại Cathay tập kích mãi như vậy, giới Hắc Đạo chỉ còn nước dẹp hết sòng bài, tiệm hút vì không còn ai dám bén mảng. "Con ngựa điên" phải kìm cơn điên, cử người đến mời Đại Cathay lên nhà hàng Đồng Khánh điều đình. Đàn em cố khuyên Đại đừng vào hang cọp, e bị "trải điệm" nhưng Đại Cathay nổi máu yêng hùng, vẫn quyết định nhận lời. Để tài xế ngoài cửa, Đại một mình tay không lên nhà hàng hội kiến với Tín Mã Nàm. Cử chỉ ngang tàng này khiến Tín Mã Nàm thầm phục. Hắn nhượng bộ, đồng ý giao toàn bộ khu vực từ chợ Nancy về Sài Gòn cho Đại Cathay toàn quyền . Phần quận 5, Chợ Lớn, đàn em của Đại được phép hoạt động với điều kiện không lấn vào những khu vực đã có sẵn người của Hắc Đạo. Riêng các khu vực chợ Sắt, chợ Tân Thành, hẻm "dzách bạc hồ hãn" (hẻm 100), Đại Cathay và đàn em tuyệt đối không được xâm phạm, vì đó là giang sơn riêng của Tín Mã Nàm, nơi vợ bé của y sinh sống.


Mỗi lần ra đường, Đại Cathay và băng du đãng lại một phen khiến người đi đường khiếp vía. Như một gã con trời thứ thiệt, Đại Cathay chễm chệ trên băng trước chiếc Mustang mui trần do Năm Công lái, có cả chục tên đàn em phóng xe máy theo sau hộ tống. Xe chạy xả ga, hú còi vô tội vạ khiến mọi người hốt hoảng chạy giạt sang hai bên đường, trong khi đám lưu manh tha hồ vỗ tay cười hô hố. Có lúc cao hứng, Đại Cathay còn thượng cả hai chân ra trước kính xe hoặc thò ra bên cửa hông gỏ thùng xe loạn xạ…

Sự ngang ngược coi thường luật pháp của Đại Cathay khiến những kẻ tai to mặt lớn và cảnh sát hết sức tức tối, nhiều lần tống cổ Đại vào khám. Nhưng bắt cóc bỏ đĩa, chẳng lần nào cảnh sát đủ bằng chứng để giam giữ hắn lâu, đành phải thả. Dùng luật không xong nhiều quan chức chính phủ VNCH tìm cách mua chuộc hắn.

Biết Đại Cathay đang tuổi quân dịch, viên tướng cao bồi Nguyễn Cao Kỳ - có lẽ do muốn chơi trội – bèn cho gọi tên du đãng đến. Kỳ phủ dụ:

- Tôi biết anh là người có chí, nhưng luật là luật, anh không thể trốn mãi được đâu. Về làm vệ sĩ cho tôi, anh vừa khỏi đăng lính, lại vẫn có quyền hành, muốn đi đâu làm gì mặc sức mà khỏi bị ai thù oán. Anh cứ suy nghĩ cho kỹ, ba ngày nữa trả lời tôi cũng được.

Tên du đãng ít học đời nào chịu suy nghĩ những ba ngày. Kỳ chưa dứt Đại Cathay đã trả lời luôn:

- Dạ, cảm ơn thiếu tướng đã có thịnh tình chiếu cố. Phiền nỗi tôi đi đâu cũng có cả chục gạc-đờ-co hộ tống, giờ tôi lại làm gạc-đờ-co cho người khác, không lẽ để cho tụi nó thất nghiệp?

Tướng râu kẽm bầm mặt nhưng vẫn ngọt nhạt:

- Làm vệ sĩ của tôi, anh là nhân viên công lực của quốc gia, danh giá đâu kém cạnh gì ai? Là quí anh tôi mới bảo thế, chứ nếu cần vệ sĩ tôi đâu thiếu người giỏi.

Đại Cathay vẫn ngổ ngáo:

- Dạ, xin lỗi, tôi không hầu thiếu tướng được…

Sau Nguyễn Cao Kỳ đến lượt tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Nha cảnh sát Đô Thành. Tuyên bố “Đặt giang hồ ra ngoài vòng pháp luật”, tướng Sáu Lèo cho mở “Trung tâm bài trừ du đãng” đặt ở bên kia cầu Bình Triệu (quận 9) và lập “Biệt đội hình cảnh” nhằm tiêu diệt giang hồ do đại úy Trần Kim Chi làm đội trưởng. Theo lệnh Sáu Lèo, “Biệt đội hình cảnh” được bắn bỏ bất cứ tên giang hồ nào trên đường phố nếu chúng gây án và chống lại cảnh sát. Sau một thời gian hoạt động, “Biệt đội hình cảnh” vẫn chỉ tóm được một số tên du đãng “tép riu”, tướng Sáu Lèo bèn quay sang tìm cách mua chuộc Đại Cathay hòng “dĩ độc trị độc”. Đính thân Mã Sâm Nhơn, phụ tá của tướng Sáu Lèo đến gặp, đưa giấy mời của ngài chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan cho Đại Cathay. Cùng một đàn em, Đại Cathay có mặt y hẹn. Nguyễn Ngọc Loan ra giá:

- Tôi sẽ nhận anh vào chức vụ đại úy Phó ty cảnh sát quận 7. Anh được toàn quyền hành động, nhưng phải giúp tôi tiêu diệt hết đám lưu manh du đãng.

Đại Cathay từ chối:

- Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt.

Nguyễn Ngọc Loan hạ giá:

- Anh không muốn nhận, tôi không ép, nhưng anh phải giải tán băng nhóm, không được lộng hành.

Đại Cathay đồng ý với điều kiện để cho y và đàn em toàn quyền làm ăn và cai quản khu cảng Sài Gòn, Khánh Hội, khu vực chợ vựa Cầu Muối, và hai bên bờ Kinh Tẻ. Thấy tên giang hồ cứng đầu, Nguyễn Ngọc Loan nổi đóa:

- Tôi lệnh cho anh giải tán hết, nếu không giang hồ, du đãng sẽ không còn đất sống!

Đại Cathay trả lời:

- Giang hồ không có vua, tôi đâu có ra lệnh cho các băng khác được.

Cuộc mặc cả kết thúc. Tiếng tăm Đại Cathay nổi như cồn trong giới giang hồ vì “dám vuốt râu kẽm” tướng Nguyễn Cao Kỳ và từ chối chức tước của Nguyễn Ngọc Loan ban cho. Đại Cathay càng vênh váo hơn. Nhưng chính bằng sự nổi tiếng ấy, Đại Cathay đã tự ký cho mình bản án tử hình.

Quá ngạo mạn, đang đang là giai đoạn cực thịnh của băng Cathay, Đại vẫn tiếp tục lộng hành. Không chi ngổ ngáo với tướng Sáu Lèo trong công việc, Đại Cathay còn công khai qua mặt và thách thức viên tướng này trong cả khoản ăn chơi, chẳng thèm lưu tâm gì đến sức nặng của cái lon chuẩn tướng và trọng trách “Chief” ngành cảnh sát mà Nguyễn Ngọc Loan đang nắm giữ.

Vào thời điểm đó, Sài Gòn ngập tràn trong không khí sống gấp và hưởng thụ, không cần biết đến tương lai. Một trong những mốt thời thường của các nhà buôn giàu có, các sĩ quan cộng hoà hào hoa, các công tử con nhà gia thế là công khai có nhân tình nhân ngãi hoặc cặp bồ với cave, nghệ sĩ trẻ đẹp. Đường đường là một vị tướng, Nguyễn Ngọc Loan đâu thèm để mắt tới các cô cave, ca sĩ phòng trà bình thường. Người ta thường thấy “ông tướng độc nhỡn” thường xuyên có mặt tại vũ trường Olympic trên đường Lê Lợi vào mỗi tối thứ 7. Tại đó, Nguyễn Ngọc Loan là chủ nhân của một vưu vật: ca sĩ Phương Dung nổi tiếng xinh đẹp và quý phái, người được mệnh danh là “con nhạn trắng Gò Công”, lấy vũ trường này làm đất biểu diễn. Mỗi lần đến thăm tình nhân, viên tướng xách theo cả chục tên vệ sĩ thuộc hàng thiện xạ, cũng nổi tiếng ngổ ngáo và chịu chơi, phóng xe Jeep bạt mạng với những đường cua cong lề bạt phố, đạp phanh cháy cả mặt đường.

Olympic cũng là chốn mà băng Đại Cathay thường xuyên lui tới. Hơn thế nữa, Thủy Tàu – tài pán vũ trường Olympic còn là một “mối” rất khoái Đại Cathay. Khác với viên tướng và đám lâu la bụi bặm, Đại Cathay thường lướt trên một chiếc Chevrolet có gắn điều hoà không khí, choáng lộn và êm ru nhẹ nhàng bơi đến cửa vũ trường. Loại xe đó, cả Sài Gòn chỉ có dăm ba chiếc.

So với đám vệ sĩ với lương lính còm cõi, Đại và băng Cathay luôn sẵn sàng “xài lớn”, rút tiền chẳng bao giờ đếm, người ngợm củng “kẻng” hơn, dĩ nhiên là được các em cave ở đây săn đón nồng nhiệt hơn nhiều. Bị “gác kèo”, đám vệ sĩ tức lắm, nhiều lần hậm hực, nhưng Đại Cathay và đám đàn em vẵn phớt ănglê, coi như “chuyện tép”.

Một tối, Đại và khoảng chục đàn em, trong đó có Lâm Chín ngón và Lành Cầu Muối – một tay cảnh sát ăn “rơ” với giang hồ kéo đến Olympic từ khá sớm. Thấy các đàn anh, đám cave ríu rít túa ra vây lấy bá cổ níu tay, chí choé cả gian bar trên lầu 2. Cả đám “vui vẻ” mới chừng nửa tiếng, cánh cửa lại xịch mở. Đám vệ sĩ của Sáu Lèo – không có chủ tướng đi cùng – xộc vào, cũng cỡ chục tên. Ngồi chờ cả 15 phút, đám vệ sĩ vẫn không thấy cô cave nào đến săn sóc. Trong khi đó, ở mấy bàn bên vẵn liên tục vọng sang tiếng cấu véo giỡn hớt rúc rich của băng Cathay với đám cave như thể trêu ngươi. Nổi cáu, cả đám vệ sĩ đưa mắt nhìn nhau và đứng bật dậy. Thiếu úy Hải, một tay nổi tiếng thiện xạ tiến sang, đứng đối diện với Hải Súng của băng Cathay, hất hàm:

- Vui vẻ quá hả? Sang bớt mấy em chứ, để bên này ngồi không, coi sao đặng?”

Vẫn không buông vai cô “đào nhí”, Hải Súng hất mặt:

- Đâu có được, đến trước có phần trước, trâu chậm phải uống nước đục, trách gì?

Viên thiếu úy gườm gườm, đưa tay vào bụng đặt lên báng súng:

- Đừng chơi quê tụi này chớ!

- Thì đã sao? – Hải Súng hếch mặt lên. Lúc này băng Cathay và đám cave cũng đã ngưng đùa giỡn, ngẩng lên thủ thế. Được khích lệ, Hải Súng tiếp: - Thịt người tanh không ăn được, đừng doạ nhau, tụi này không thích!

Bị khiêu khích, mắt thiếu úy Hải vằn lên. Hắn xấn xổ chụp lấy tay cô đào nhí kéo về phía mình, tuyên bố:

- Không thích cũng bắt!

Sợ hãi, cô cave thét lên. Không nói không rằng, Hải Súng vớ ngay chai Black and White trên bàn giáng thẳng xuống đầu đối thủ. Phản xạ nhanh, thiếu úy Hải vội buông cô cave nhảy vọt sang một bên và móc súng. Hai băng xông vào nhau. Bàn ghế ly tách bay tứ tán. Đột nhiên, Đại Cathay hét lên:

- Tụi nó chơi súng, rút, tụi bây.

Pằng! Pằng! Pằng! Ầm

Đại chưa dứt câu, dàn đèn phe lê đã rơi ụp xuống sàn, vỡ tung toé, đồng thời một viên đạn cũng nhằm đầu gối Đại găm tới, xô y gục xuống. Hải Súng vội xô tới xốc Đại lên bỏ chạy. Trong băng chỉ có Hải và Lâm Chín ngón giắt súng theo. Cả hai cũng vội móc ra bắn loạn xạ. Lâm Chín ngón gào lên:

- Anh em rút đi, để tôi lo!

Lúc này, đám cave, bồi bàn đã hoảng hồn bỏ chạy hết. Thủy Tàu khá nhanh trí, vội chạy bổ vào trong sập cầu dao điện. Bóng tối chụp lấy vũ trường đã hỗ trợ cho băng Cathay bỏ chạy. Bị thương, Đại Cathay khó khăn lắm mới được Hải Súng và Ngân Pôcon dịu được xuống lầu và kéo thẳng ra đường. Lúc này, Lành Cầu Muối cũng vừa vặn trờ chiếc Mustang tới, hốt cả bọn lên xe chạy thẳng. Lâm Chín ngón chạy sau cùng. Sau khi nhả hết đạn, y cũng vội đu cửa số phóng xuống được Tạ Thu Thâu cắm đầu chạy luôn một mạch. Sau lưng, đám vệ sĩ Sáu Lèo vẫn nã đạn theo chíu chíu.

Không thu phục được Đại Cathay, tướng Sáu Lèo đã ra lệnh cho “Biệt đội hình cảnh” bắt bỏ tù hàng loạt đàn em nhằm cô lập hắn. Núng thế, Đại Cathay đành tìm cách hoãn binh. Một buổi tối, hắn mua nguyên nhà hàng Paramouth mời đại úy Trần Kim Chi đến dự tiệc. Khi rượu đã chếnh choáng, Đại Cathay mới ngỏ ý:

- Nếu đại úy chịu tha một số anh em của tôi vừa bị bắt, chúng tôi sẽ không quên ơn anh…

Viên đội trưởng “Biệt đội hình cảnh” cũng thuộc loại ngang tàng không kém gì Đại Cathay, từ chối thẳng thừng:

- Ăn nhậu là ăn nhậu, bắt là bắt. Nếu anh mời tôi đến đây là để mặc cả thì coi như tàn tiệc, tôi xin kiếu.

Nếu là trước đó mười hôm, máu côn đồ của Đại Cathay sẽ nổi lên ngay. Nhưng đang yếu thế nên Đại vẫn nhũn nhặn:

- Ồ không không. Nếu đại úy không ưng thuận thì thôi. Còn hôm nay mời đại úy đến là để anh em vui vẻ. Mời đại úy cứ tự nhiên, đêm nay toàn bộ nhà hàng này là chỉ để phục vụ chúng ta, đại úy đừng bận tâm làm gì.

Viên đại úy không vui vẻ được lâu, cũng chẳng còn thời gian để bận tâm lâu hơn nơi cõi thế. Sau buổi tiệc chỉ nửa tháng, một chiếc xe “be” chở gỗ không rõ xuất xứ đã “bò” ngang qua chiếc xe hơi CV2 của Trần Kim Chi khi viên đại úy này đang đi công vụ trên xa lộ. Đại úy Chi và viên lái xe chết tại chỗ, chiếc xe gây tai nạn bỏ chạy mất tăm, “không nhận dạng được biển số”. Giới giang hồ đều cho rằng chính Đại Cathay đã sát hại Trần Kim Chi.

Cái chết của Trần Kim Chi đã đánh dấu chấm than cuối cùng cho cuộc đời du đãng của Đại Cathay. Tháng 8/1966, với tội danh “Du đãng đặc biệt”, Đại Cathay lại bị tóm cổ. Cùng với một loạt du đãng khác, ngày 28/11/1966, Đại Cathay bị tống lên máy bay vận tải C47 đưa ra giam giữ tại đảo Phú Quốc.

Gọi là “Trung tâm hướng nghiệp” nhưng chính xác, đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.
Trại là những dãy nhà dã chiến thấp lè tè nằm trong rào kẽm gai bịt bùng đặt cạnh sân bay Phú Quốc ngay tại thị trấn Dương Đông. Gọi là “hướng nghiệp” cho oai, kỳ thực đám tù suốt ngày chỉ ngồi ngáp vặt, đánh mạt chược mà không hẹn ngày về chứ chẳng có việc gì để làm. Một hôm, đang đánh mạt chược, Đại Cathay bảo:

- Gọi “hướng nghiệp” nghe chán thấy mẹ, tụi mình đặt lại tên cho nó đi.

Cả bọn đồng ý. Bác sĩ Nghiệp, một tên du đãng có học đề xuất:

- Bốc đại một con mạt chược, trúng con gì, đặt tên đó.

Đại Cathay quơ được con Cửu Sừng, vậy là “Trung tâm hướng nghiệp Phú Quốc” nghiễm nhiên trở thành “Trại Cửu Sừng”.

Không giống như dự định của tướng Sáu Lèo, Trại “Cửu Sừng" chẳng những không “hướng” được chút “nghiệp” nào cho đám đầu trâu mặt ngựa mà ngược lại hoàn toàn. Toàn bộ đám du đãng bị bắt vào đây như Đại Cathay, Hải Súng, Hoà áo thun, Lâm Chín ngón, Bảy Si, Hỏi Phoòng Kin, Thanh tưa, Quẩy Thầu Hao... sau này đều là những tên giang hồ cộm cán nhất của Sài Gòn – Chợ Lớn, càng ngày càng hung hãn hơn. “Trại Cửu Sừng” như một con dấu chất lượng để đánh giá giang hồ. Tên nào từng ngồi ở “Trại Cửu Sừng” sau này đểu trở thành đàn anh, được quyền ăn trên ngồi trốc trên chốn giang hồ.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Khi Đại và cả đám đàn em bị tống ra đảo Phú Quốc, Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại tù không án như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.



Đầu tháng 1/1967, Nhân có mặt trong đoàn thân nhân ra thăm nuôi đám du đãng bị nhốt ở Trại Cửu Sừng. Gặp Đại Cathay cô báo cho chồng biết đã lo xong việc tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục. Đám lính gác sẽ làm ngơ cho Đại Cathay và một số đàn em trốn ra khỏi trại. Một xuồng máy chờ sẵn sẽ đưa đám tù ra khơi, có tàu hải quân do Nhân bố trí sẵn rước về đất liền. Để mua chuộc đám lính gác, Nhân đưa cho Đại một chiếc áo bluson và dặn dò kỹ lưỡng. Nhìn bề ngoài, nó chỉ là một chiếc áo lạnh rẻ tiền, sau lưng có một con rồng ấp quanh bản đồ Việt Nam thêu hai màu, nửa miền Bắc màu đỏ, nửa miền Nam màu vàng. Loại áo này bán nhan nhản dọc các tiệm đường Lê Thánh Tông, trong chợ Dân Sinh… chủ yếu để đám lính Mỹ sắp hồi hương mua về làm kỉ niệm.

Khi chuyển áo cho Đại Cathay, tên lính canh của trại hướng nghiệp Phú Quốc thấy nó nặng hàng ký nên đâm nghi ngờ. Lần theo lưng áo hắn sờ thấy giữa hai lần vải có hàng chục miếng kim loại mỏng được khâu đầy trong đó. Đoán là vàng, tên lính canh định lôi ra khám xét. Lập tức cái liếc xéo mắt của tên sĩ quan đứng cạnh đã ngăn hắn lại. Tên lính đành trả lại áo cho Đại Cathay mang về phòng.

Theo lời đồn đại của giới giang hồ thì khi về phòng, Đại Cathay đã xé chiếc áo lấy ra đúng 62 lá vàng loại 1 lượng khâu trong đó. Với số vàng này, Đại đã mua chuộc đám cai ngục để chúng bố trí cho lính gác làm ngơ khi Đại bỏ trốn.

Đi theo Đại Cathay có khoảng một chục đàn em trong đó có Xì kíp, Lắm Mổ bụng, Hùng Mỏ chuột, Hải Súng và Lâm Chín ngón… Đến phút cuối, Đại Cathay theo lời Hải Súng tham mưu, quyết định để Lâm Chín ngón – gã đệ tử thân nhất - ở lại. Đại nói với cả đám:

- Thằng Lâm lóc choc, dễ làm bể chuyện lắm. Vả lại, chuyến đi này lành ít dữ nhiều, nó còn trẻ, tội lắm. Chi bằng để nó lại, mình thoát rồi lo cho nó về sau an toàn hơn.

Trước giờ khới sự, Đại Cathay gọi Lâm Chín ngón đến và bảo:

- Mày phải bỏ xì ke đi, hại lắm. Tao chích cho mày một lần cuối cùng, sau đó là phải chừa hẳn, nếu không đừng trách.

Đại đã tự tay chích cho Lâm một mũi gấp đôi đô bình thường do chính tay Hải Súng pha chế, có độn thêm một ít tân dược để tăng nồng độ. Phê thuốc, Lâm Chín ngón quay ra ngủ say như chết. 12 giờ đêm ngày 7/1/1967, Đại Cathay dẫn đàn em đào thoát ra ngoài.

Theo sự phân công của Đại Cathay, đám tù trốn trại chia làm hai tốp. Tốp thứ nhất gồm năm tên đi trước để nghi binh. Tốp thứ hai, có Đại Cathay và Hải Súng chạy theo hướng bờ biển. Bất ngờ, khi cả hai tốp vừa vọt ra khỏi vòng rào thì phía trại báo động inh ỏi. Tốp thứ nhất, gồm Xì kíp, Hùng Mỏ chuột,.. bị tóm cổ lại ngay. Đại Cathay và Hải Súng vội đổi kế hoạch, chạy lên phía Bắc đảo, lần vào khu núi tượng, nơi có Quân giải phóng hoạt động. Đến đây, không ai còn tận mắt gặp lại Đại Cathay và Hải Súng. Và hàng loạt giai thoại giải thích sự mất tích của hai tên du đãng đầu sỏ bắt đầu xuất hiện.

Theo hồ sơ về cái chết của hai tên du đãng mà chúng tôi có được: Biết không trị nổi Đại Cathay, lại nhiều lần bị tên đãng làm bẽ mặt, chuẩn tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan rất hận, tìm cách loại trừ vĩnh viễn Đại Cathay. Khi biết cô Nhân – vợ Đại – đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn Đại và Hải, chúng cố ý để cho đào thoát vào núi Tượng. Sau đó, Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại và Hải, bắn hạ chúng. Khi đi, toán biệt kích dù phải thay quần áo bà ba, đội mũ tai bèo, mang dép râu và sử dụng súng AK47, giả trang làm Việt Cộng để đổ vấy cho việc giết Đại Cathay và Hải Súng cho Việt Cộng. Diệt xong, toán biệt kích dù phải đắp mộ, đề bia tử tế để dễ bề nhận diện và gây dư luận. Chính thiếu úy Trần Tử Thanh sau này đã từng huênh hoang khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay y đã nổ súng hạ gục Đại Cathay. Khá nhiều người cũng biết rõ ngọn nguồn sự việc, song trước khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, không một tờ báo nào dám viết về âm mưu hại địch thủ của tướng Nguyễn Ngọc Loan. Vì vậy, lời đồn đại, đoán non đoán già vẫn cứ loang ra mãi, đắp thêm chất huyền thoại vào cuộc đời và cái chết của Đại Cathay – tên du đãng ngoại hạng.
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Xử Trảm

Một bữa nọ, Thượng Đế nói với Adam:
“Ta có một tin vui và một tin xấu cho con. Con muốn nghe tin nào trước?”

Adam ngước nhìn Thượng Đế và trả lời:
“Xin hãy cho con được biết tin vui trước.”

“Được! Ta cho con hai bộ phận mới, một cái gọi là não. Nó sẽ giúp con tạo ra những thứ mới lạ, giải quyết các vấn đề và có những cuộc trò chuyện thông minh với Eva. Cái thứ hai là bộ phận sinh dục. Nó sẽ mang lại cho con những khoái cảm thể chất, giúp con lưu truyền lại trí tuệ của mình và nhân rộng cuộc sống trên trái đất. Eva sẽ rất hạnh phúc khi con có bộ phận này để giúp nàng sinh con. ”

Adam vui sướng thốt lên :
“Đó là những món quà thật tuyệt vời mà Ngài ban cho con. Còn tin gì xấu sau sự kiện vui mừng này, xin Ngài cho con biết.”

Thượng Đế nhìn Adam với đôi mắt xót xa và nói:
“Con sẽ không thể sử dụng hai món quà này cùng một lúc!”

Nhận được hai món quà quý giá này Adam giữ chúng bằng hai cách khác nhau. Ông giấu bộ não vào sâu trong một chiếc hộp trên đầu và khơi khơi gắn bộ phận sinh dục vào giữa hai chân. Ở trong một vị trí chông chênh như vậy, bộ phận quý giá này đã không biết nép mình kín đáo lại cứ hay nghểnh cổ lên nhìn khắp chung quanh. Cứ vênh váo lên như một khẩu súng ngoài chiến trường, bộ phận này quên chỉ thị của Thượng Đế là “Eva sẽ rất hạnh phúc khi con có bộ phận này để giúp nàng sinh con” mà hào phóng ban…hạnh phúc cho khắp bàn dân thiên hạ. Đó là chuyện về sau này của con cháu ông Adam, còn vào thời kỳ của chính Adam thì ông chẳng còn cách nào khác hơn là chỉ có mỗi bà Eva để…mưa móc.

Chính lòng…bác ái của con cháu ông Adam đã gây chiến tranh trên khắp quả địa cầu này! Nguyên do là tại…Thượng Đế. Ngài đã ban cho ông Adam và dòng dõi của ông một khẩu súng thần! Cứ tha hồ tác xạ mà đạn vẫn cứ còn.

bao năm đeo lủng lẳng
một khẩu colt 45
khóa an toàn mở sẵn
viên đạn vẫn trong lòng…
(Luân Hoán)

Dư đạn, súng cứ ngông nghênh đi tác chiến trên khắp các vùng chiến thuật, chẳng màng tới lãnh thổ nhà. Vậy là có chuyện. Chuyện lớn chứ không phải chơi. Đó là chuyện chia lìa tức tưởi. Chuyện biệt ly này xảy ra trên khắp thế giới và Việt Nam chúng ta cũng là một bãi chiến trường lớn.

Dư luận ở Việt Nam vừa hoảng hốt ghi nhận những “trận đánh” sau xảy ra ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tháng 7 năm 2005, ông C., 55 tuổi, bị chị T. dùng lưỡi hái cắt lúa phăng ngay cái hoang đàng hư đốn.

Ngày 25/8/2005, ông N.H.T. ở Tân Biên, Tây Ninh bị vợ cắt phăng súng khi đang ngủ.

Tối 14/9 ông Nguyễn văn Đ. ở Đức Hòa cũng bị vợ phong tước hoạn quan. Ngày 5/10 ông Nguyễn K. ở quận 2, Sài gòn, bị lưỡi dao lam của vợ sớt đẹp cục thịt dư.

Rồi anh M., cư ngụ tại ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn Lâm, tỉnh Cà Mau bị vợ thiến trong khi anh đang say mèm, máu chảy ra lênh láng cả nhà mà không ai biết!

Đó là tình hình chiến sự mới nhất tại Việt Nam.

Bản tin chiến sự đau buồn này chỉ là tiếp nối tình hình sôi động trên khắp thế giới mà vụ anh John Wayne Bobbitt xảy ra vào ngày 23 tháng 6 năm 1993 tại Virginia, Mỹ, là cao điểm. Cũng cần nhắc lại vụ cắt nổi danh này để cùng nhau…học tập. Trong cái ngày “lịch sử” đó, bà vợ Lorena Bobbitt để cho chồng thỏa mãn sau khi anh đi uống rượu về, và sau khi chồng ngủ say, bà mới vào bếp lấy con dao bén nhất ra thi hành…án quyết!

Cắt xong, bà cho cái của nợ vào túi nhựa mang đi vứt vào một bụi cây tại một khu vực của thành phố Manassas, tiểu bang Virginia. Cảnh sát đã phải mất nhiều thời gian kiếm tìm mới thấy được cái túi oan nghiệt đó. Họ liền bỏ ngay vào thùng nước đá mang về bệnh viện để cho các bác sĩ nối lại. Sau đó là màn ly dị như mọi người đều đoán được. Phiên tòa xử vụ án này diễn ra vào tháng 2 năm 1994, theo cuộc thăm dò của tuần báo Newsweek, đã được 60% dân số Hoa Kỳ căng mắt theo dõi!

Nhưng câu chuyện của anh Bobbitt lại ồn ào hơn khi anh chơi một màn náo động dư luận sau khi… súng gãy lại lành. Anh chứng tỏ cùng bàn dân thiên hạ là súng của anh vẫn tốt bằng cách đi đóng phim sex! Dĩ nhiên những cuốn phim này bán đắt như tôm tươi vì anh nào cũng muốn rút kinh nghiệm.



Cái thứ đầy gân cốt nhạy cảm khi trồi khi sụt đó khi bị cắt lìa lại có thể…nối vòng tay lớn đánh đông dẹp bắc được như vậy sao? Được chứ! Bác sĩ Dương Quang Vũ thuộc chuyên khoa niệu, bệnh viện Chợ Rẫy, Sài gòn, đã bật mí việc phẫu thuật tế nhị này. Trong trường hợp bị cắt, bệnh nhân phải đến bệnh viện trong vòng 6 tiếng mới có khả năng nối lại và hồi phục được.

Thông thường một ca phẫu thuật mất từ 2 tiếng rưỡi đến 3 tiếng rưỡi. Trong thời gian sửa soạn ra tay, các bác sĩ phải… tu sửa khúc đoạn trường này trong môi trường lạnh. Đầu tiên, phẫu thuật gia sẽ khâu nối hai thể hang và thể xốp. Sau đó mới nối các mạch máu. Phải rửa sạch máu trong lòng mạch để tránh tắc mạch sau khi nối. Tiếp theo là sử dụng các dụng cụ vi phẫu thuật nối động mạch và tĩnh mạch lưng của chú nhỏ. Động tác này khá rắc rối vì có khi không tìm được động mạch và tĩnh mạch để nối, các bác sĩ bắt buộc phải bỏ qua giai đoạn này mang tới kết quả thảm sầu là chú nhỏ chỉ có thể là một vật trang trí cho đẹp mắt chứ không sử dụng được trong trường đao trận kiếm! Trong trường hợp phẫu thuật thành công thì chỉ 20 ngày sau vết thương có thể lành. Khi các mạch máu đã được nối và thông trở lại thì mọi hoạt động tâm sinh lý đều có thể coi là bình thường.

Việc có thể phục hồi được những vật thể ý nghĩa nhất của cuộc đời đã phân chia ra hai loại…sát nhân!

Thứ nhất là loại “còn một chút gì”. Cái còn đây là những…mảnh đời đứt đoạn. Cắt nhưng vẫn còn vương vấn chẳng nỡ đành đoạn. Trong 5 trường hợp ra tay của những bà vợ Việt Nam trong năm ngoái, 2005, đã được diễn tả ở trên thì có ba trường hợp các bà vợ vẫn còn…từ tâm! Các bà đã nộp chiến lợi phẩm cho bệnh viện và các bác sĩ đã nối lại thành công.

Thứ hai là loại “cạn tàu ráo máng”. Cắt xong là phi tang phần mềm vừa rời khỏi nguồn gốc một cái rột! Các bà thuộc loại này có rất nhiều sáng kiến. Như bà Kim Trần ở Alaska. Sau khi cắt xong, bà ném cái của nợ vào bồn cầu rồi giật nước cho trôi đi. Cảnh sát đã phải gọi cho Sở Vệ Sinh đến xem xét mọi ngõ ngách trong ống cống để tìm xem nó có toòng teeng ở đâu không. Phúc bảy mươi đời cho nạn nhân, sau hai tiếng đồng hồ lục lạo, họ đã tìm được anh chàng cố thủ ngay dưới cổ bồn cầu hình chữ S.

Bên Đài Loan, bà Hsiu Chan cũng làm y chang bài bản như bà Kim Trần ở Alaska. Cũng mạnh tay dục vào trong bồn cầu, cũng giận dữ giật nước cho trôi đi cái thứ khó nuốt. Báo hại cảnh sát cũng phải mầy mò tìm kiếm. Lần này “chàng” phiêu lưu xa hơn, chạy tuốt ra tận ống cống!

Nàng Antoinette Pasquez, 26 tuổi, bên xứ Côte d’Ivoire, chơi trò…nội trợ! Sau khi dùng dao bén cắt phăng thằng nhỏ của anh chàng chồng hờ lãng mạn 39 tuổi người Pháp từ mẫu quốc sang, nàng bèn bắc chảo chiên cục thịt không mất tiền mua như chiên xúc xích. Sau đó nàng trút ra đĩa làm một màn điểm tâm ngon lành. Khi bị bắt, nàng khai là vì quá thương yêu anh chàng Jean này mà chàng thì cứ mang gươm đi múa loạn xạ trong vườn của người khác nên cắt đi để giữ độc quyền. Cắt xong, báu vật đã nắm trong tay, nàng vẫn còn thương nên cho vào bụng để có được niềm riêng một cách chắc ăn. Nghe dễ thương biết bao!

Cũng thuộc trường phái bếp núc nhưng kỹ càng hơn là bà Kristina Popova, 28 tuổi, người Nga. Chắc là vì bà kiêng mỡ nên sau khi cắt cái…gậy thằng ăn mày của chồng là anh nhân viên hỏa xa Nikolai Ivanovich, 36 tuổi, bà liền cắt thành từng khúc, cho vào nồi hầm với khoai và cà rốt như hầm ragout rồi ngồi ăn ngon lành món ngầu pín!

Tại Houston, Texas, cô Delmy Ruiz lại mở ra một trường phái khác. Cô đã ra tay hành động khi ông chồng Rene Aramando đang say giấc điệp. Cô vứt cái thứ bạc bẽo đó qua cửa sổ cho chú cẩu sơi tái!

Dù vì lý do gì đi nữa thì hành động đành đoạn của các bà vợ có máu hoạn thư nồng độ cao này cũng phải ra tòa trả lời trước pháp luật. Họ bị kết tội gì bây giờ nhỉ? Tội ăn cướp đồ vật của người khác? Hay là tội xâm phạm…tư gia? Tội chiếm đoạt một thứ đã tưởng như là của riêng? Hay là tội ăn cắp…thịt?

Luật gia Huỳnh Minh Vũ cho biết là những bà cắt của quý của chồng bị ghép vào tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được dự liệu trong điều 104 của Bộ Hình Luật ở Việt Nam. Nguyên văn điều luật này như sau: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm: dùng hung khí gây nguy hiểm; gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; người ốm đau hoặc không có khả năng tự vệ; đối với người nuôi dưỡng mình; có tổ chức; có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm”.

Như vậy rõ ràng cắt là tội cố ý gây thương tích chứ không phải những cái tội cà chớn mà tôi đã hài ra ở trên. Nhưng có phải chỉ là cố ý gây thương tích thôi chăng? Có mỗi thằng nhỏ làm vốn cho cuộc sống có hương hoa mà chơi luôn một phùa trăm phần trăm như thế e rằng chuyện phải…ầm ĩ hơn nhiều.

Đau đớn thay phận đàn ông!

Chưa hết. Người vợ chỉ bị ra ba tòa quan lớn nếu ông chồng làm đơn khởi tố theo đúng qui định trong Điều 105 của bộ luật Tố Tụng Hình Sự! Như vậy, nếu sự giận dữ không lớn bằng sự mắc cở không muốn chường mặt ra trước công chúng với vết thương lòng thì huề cả làng. Nếu ông chồng nhất định khiếu tố thì hình phạt và mức án do tòa án tuyên xử tùy theo tính chất của hành vi vi phạm và mức độ thương tích. Ngoài ra còn có những yếu tố giảm khinh: các bà thuộc loại “còn một chút gì” mà lại còn tỏ ra ăn năn hối lỗi, bảo vệ con chim đã rời tổ ấm, đưa chồng đi bệnh viện nối cánh chim giang hồ sẽ có điểm trước tòa. Còn các bà chằng thuộc trường phái “cạn tàu ráo máng” cho tang vật một đi không trở lại thì sẽ bị coi như là tăng trách nhiệm hình sự.

Luật thì như vậy, nhưng với tòa án…nhân dân thì luật nó lung tung lắm. Như trường hợp bà Kim Trần. Không phải bà Kim Trần ở vùng xứ lạnh cóng Alaska nói ở trên đâu mà là bà cũng tên Kim Trần ở Vancouver, Canada cơ. Bà này 38 tuổi, có 6 con với ông chồng tên Phùng Học Vi, 42 tuổi. Ông Vi ham vui có một cô bồ non trẻ đẹp khiến bà vợ nổi máu tam bành lên. Bà cắt lìa gươm thiêng của chồng bằng một con dao làm bếp. Sự việc ra trước tòa án của Tỉnh bang British Columbia, Canada do ông chánh án Patrick Dohm chủ trì. Tòa đã cân nhắc các sự kiện như sau.

Thứ nhất, người chồng Phùng Học Vi đã chung sống 18 năm với bà Kim Trần và có 6 đứa con, nay lại léng phéng có nhân tình khiến bà vợ ra tay cắt đứt của quý, tuy đã được nối lại nhưng hoạt động tiểu tiện và truyền giống không còn được như xưa.

Thứ hai, người vợ Kim Trần là người lo săn sóc cho 6 đứa trẻ mà nếu bà vào tù thì 6 đứa trẻ này sẽ mất đi tình mẫu tử thiêng liêng, gia đình sẽ tan vỡ để lại hậu quả điêu đứng cho những trẻ nhỏ. Do đó, tòa tuyên án 2 năm tù treo.

Tòa xử xong, tòa án…nhân dân mới cãi cọ. Dựa vào sự kiện bà Kim Trần đã trình bày trong nước mắt trước tòa là bà đã nài nỉ van xin chồng bỏ người tình trở về chung sống với vợ con mà ông vẫn say duyên mới không đoái hoài gì tới gia đình nên bà mới cắt vì quá thương yêu ông, Hội Phụ Nữ Chống Bạo Hành Với Phụ Nữ mà đại diện là bà Fatima Jaffer mới phát biểu: “Thật là bất công khi người chồng đi theo một phụ nữ khác mà bỏ rơi người đàn bà có con cái như vậy!”

Phía các ông phản pháo lại. Tiến sĩ Gerry của Hội Bảo Vệ Người Đàn Ông Bị Sách Nhiễu vùng Vancouver mỉa mai: “Thật kinh ngạc khi một người làm hành vi tệ mạt đến thế mà vẫn được quyền sống chung và săn sóc đám trẻ thơ.”

Một hội đực rựa khác, Liên Đoàn Các Người Đàn Ông vùng Lower Mainland tại Canada hỏi móc lại: “Chúng ta thử lấy ví dụ người vợ bị cắt mất một vú thì người chồng làm việc đó trong cơn cuồng nộ sẽ bị tòa án xử phạt ra sao?”. Ừ, không trả thù được vào cái chỗ đáng phải cắt mà không thể cắt được thì kiếm chỗ dễ cắt mà cắt chứ sao? Nhưng đã biết tìm tới điểm đáng cắt mà cắt như vậy thì bình tĩnh quá đi chứ, cuồng nộ ở chỗ nào? Trong ví dụ này, các ông đã xử dụng tới cái não, bộ phận mà Thượng Đế đã cấm dùng khi đã dùng tới cái thứ ở miệt dưới. Hóa ra Con Tạo thông minh tiên liệu hết mọi chuyện từ trước rồi.

Có thấy vụ cắt cái gò bồng đảo của vợ bao giờ đâu! Cũng rắc rối đấy chứ!

Anh chàng Tarzan mình trần chỉ có độc một cái khố trong rừng xanh tưởng một mình một cõi, thế mà cũng rắc rối. Chàng đã mất cái chỗ để giải thủy. Chẳng ai cắt cả, chỉ là một…chiến công!

Sau trận huyết chiến với chúa tể sơn lâm để dành quyền cai trị khu rừng già, cọp chúa bị hạ gục nhưng Tarzan bị thương nặng: mất một mắt, một cánh tay và…cái đó. Tất cả thú rừng bèn họp lại để quyết định cứu người hùng. Chim ưng tặng Tarzan một con mắt, đười ươi tặng một cánh tay và một chú voi con tặng chàng… cái vòi. Sau cuộc phẫu thuật tại bệnh viện, Tarzan trở lại rừng xanh, báo đen hỏi:

“Chẳng hay người hùng có bằng lòng với một thân thể mới như thế này không?”

Tarzan ngậm ngùi trả lời:
“Mắt chim ưng cho ta rất tốt, ta có thể nhìn được rất xa và rất rõ. Cánh tay của đười ươi cũng rất tốt, dài và khỏe. Chỉ duy có cái vòi của chú voi nhỏ tặng ta thì hơi bất tiện. Suốt ngày nó cứ vặt cỏ rồi nhét vào mông của ta!”

Song Thao
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Chuyện Kể đêm khuya !
Một đêm mùa đông giá rét, có một người đàn ông đang lái xe rất vội để về nhà , nhưng giữa đường bão tuyết quá lớn, thế là xe của ông ta bị hư, xe dừng lại ngay trước cổng 1 tu viện , không còn cách nào khác ông ta phải gõ cửa tu viện xin ngủ nhờ 1 đêm ...
Các vị tu sĩ trong tu viện rất nồng nhiệt và tốt bụng, họ không những cho ông ta ngủ nhờ mà còn mời ông dùng bữa tối, họ lại còn sửa xe giúp ông nữa. Đêm đó, ông ta ngủ lại trong tu viện, nhưng đến nửa đêm, ông ta bỗng nghe 1 âm thanh rất kỳ lạ, từ bé đến giờ ông ta chưa từng được nghe thứ âm thanh gì lạ lùng như thế , nhưng ông kiên nhẫn đợi đế sáng hôm sau , gặp các tu sĩ, ông hỏi :
- Đêm qua tôi nghe thấy một âm thanh rất kỳ lạ, không biềt nó phát ra từ đâu ?
Các vị tu sĩ trả lời :
- Chúng tôi ko thể cho ông biết được, vì ông ko phải là 1 nhà tu !
Người đàn ông đành cảm ơn họ rồichào tạm biệt lên đường .
Mùa đông năm sau, người đàn ông ấy lại bị hỏng xe trên đường về nhà, xe cũng dừng lại ngay trước cổng tu viện ấy, ông ta lại vào xin nghỉ nhờ một đêm. Các vị tu sĩ lại cho ông ta ăn và sửa xe giúp ông ta. Đêm đó, người đàn ông lại tiếp tục nghe thấy âm thanh kỳ lạ kia, sáng hôm sau ông ta lại hỏi các tu sĩ :
- Đêm qua tôi nghe thấy một âm thanh rất kỳ lạ, không biềt nó phát ra từ đâu ?
Các vị tu sĩ trả lời :
- Chúng tôi ko thể cho ông biết được, vì ông ko phải là 1 nhà tu !
Nén ko nổi sự tò mò, người đàn ông nói :
- Được rồi, bây giờ hãy cho tôi biết, làm thế nào để trở thành 1 nhà tu ?
- Ông hãy đi vòng quanh thế giới, và sau đó hãy về đây và cho chúng tôi biết có bao nhiêu hạt cát và bao nhiêu ngọn cỏ trên cuộc đời này ?
Người đàn ông ra đi, ông ta đi khắp nơi, đi vòng quanh thế giới , và sau đó ông ta đã biết được có bao nhiêu ngọn cỏ và bao nhiêu hạt cát trên cõi đời nay, ông ta quay về tu viện và gặp các tu sĩ . Ông nói cho họ biết những gì mình tìm được. Các tu sĩ nói :
- Được rồi, bây giờ anh đã trở thành nhà tu, chúng tôi sẽ cho anh biết bắt nguồn của âm thanh kỳ lạ ấy !
Người đàn ông đi theo các tu sĩ, họ chỉ anh đến 1 cánh cửa gỗ, người đàn ông đến và thấy cánh cửa đã bị khóa :
- Thật buồn cười, đưa chìa khóa cho tôi !
Các tu sĩ đưa cho anh ta chìa khóa, mở cánh cửa gỗ xong, anh ta đến 1 cánh cửa bằng đá xanh, tiếp theo là cánh cửa bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, rồi đến cánh cửa làm bằng kim cương , cánh cửa làm bằng opan, cánh cửa làm bằng totan, cánh cửa làm bằng ngọc thạch, rồi đến cánh của làm bằng đá tím ...
Cuối cùng anh ta cũng mở xong cánh cửa cuối cùng, và tại đây anh ta đã tận mắt nhìn thấy được ngọn nguồn của âm thanh kỳ diệu, nó phát ra từ ?
Nhưng ... tôi không thể cho các bạn biết âm thanh ấy là gì được, bởi các bạn không phải là 1 thầy tu ...
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image

Đôi dòng tâm sự

Tôi dọn về mobile home ở Bolsa đã gần 1 năm. Cũng định viết ít lời gửi bạn, nay Hà Xuân Thụ đã đề cập thì tôi cũng nói thêm để chia xẻ cùng các bác nào sắp về hưu có rộng đường binh. Cũng biết các bác bây giờ sâu sắc chuyện đời, am tường mọi việc nên những gì tôi viết sau đây là chỉ nói đến trường hợp của riêng tôi , mỗi người mỗi cảnh, các bác tùy nghi áp dụng. Sau gần một năm sống trong căn nhà rẻ tiền ngay Trung Tâm của Trung Tâm Cộng Đồng VN Orange County tôi rất là hoan hỉ vì đạt được nhiều phương diện.

Thứ nhất là không lái xe nhiều:

Nhà cũ của tôi ở Orange Hill mua đã lâu rồi, chẳng nợ nần gì nữa , nhưng mỗi lần đi chợ VN là một điều ái ngại , bà xã tôi gặp trở ngại lái xe vào ban đêm, đèn ngược chiều chóa mắt thiếu an toàn. Ngay cả tôi đi đâu xa cũng lười lái xe và mau buồn ngủ. Ở nhà xa, bạn bè rủ xuống Bolsa uống cà phê, nhiều lần không xuống kịp , nhưng nay thì any time, ai gọi là 5 phút sau có mặt liền , thú vị lắm. Đi trên xa lộ có toll fee thỉnh thoảng thấy cái bảng đề "Drive less live more" mình thấy cũng có lý. Muốn mua bó rau muống, miếng đậu hũ lái xe không đầy 2 phút đến chợ ngay. Đi chợ bữa nào ăn bữa nấy không chứa đầy tủ lạnh như trước nữa. Có nhiều buổi sáng , tôi đi bộ sang bên kia đường mua tờ báo VN 25 xu,ngồi đọc trong nhà hàng, ăn bát cháo lòng hoặc gà hay cá $3.25, uống ly trà nóng đơn giản là xong một bữa . Thỉnh thoảng có party ở Paracel hay nghe nhạc thính phòng ở Saigon Performing Art Center, có khi đến giờ mở màn mình mới rời nhà vẫn kịp.

Thứ hai là thuận tiện:

35 năm trước, hàn vi tôi đến đây lập nghiệp , thân chủ, bằng hữu , huynh đệ bốn phương xa gần cũng vẫn lui tới chốn này. Tôi buôn bán , quanh quẩn ở nơi kẻ chợ đã quen, chẳng có điều chi mà phải xa lánh nơi mình đã bao năm lăn lộn, thông thuộc đường đi lối về , mua gì ở đâu, ăn gì tiệm nào, mình rành 6 câu. Mình biết nhiều người , và nhiều người biết mình nên dễ dàng mọi việc. Muốn sửa cái xe, thay cái máy lạnh, sửa cái computer hay mọi chuyện lặt vặt giải quyết nhanh chóng tức thì, giá cả thoải mái vì mọi cơ quan dịch vụ quanh đây đều quen biết.

Thứ ba là tình cảm và tương trợ:

Ở nhà riêng thiếu tình hàng xóm. Ở Mobile Home thì khác, khu tôi ở có 80% là người Việt , người trẻ nhất cũng phải trên 60 tuổi. Chạy qua vườn hàng xóm xin quả ớt, tí húng quế, rau thơm, là chuyện thường . Lúc mới tới chưa có Internet tôi còn dùng chùa của ông bà bên cạnh. Thỉnh thoảng đi đâu xa, nhờ hàng xóm trông nhà, tưới cây, quét rác hộ , đôi khi rủ nhau ăn cơm chung , một nhà nấu, ba nhà ăn . Buổi sáng gặp nhau ở Club House có cà phê pha sẵn ( $1/một tháng gọi là club dues). Members gồm đủ thành phần xã hội từ nhà văn, nhà báo (Phạm Quốc Bảo), nhạc sĩ (Trung Nghĩa), Ca sĩ (Lệ Thu), Bác Sĩ (Đặng Trần Hào) ,kỹ sư, cựu quân nhân chiếm đa số từ Đại Tá xuống đến câp Úy đủ quân binh chủng, tất cả đã về hưu..mọi người chuyện trò vui vẻ, một buổi sáng cà phê là biết hết chuyện thế sự . Cụ nào cũng rảnh , đêm nào các cụ đều vào mạng xem RFA , Đàn Chim Việt, Boxitvn, danlambao, nuvuongcongly , BBC, RFI, sáng hôm sau là kể cho nhau nghe. Mọi người đều hòa nhã , gặp nhau đon đả chào anh, chào chị, chào ông, chào bà , đa số người lớn tuổi, họ lịch duyệt , từng trải, hiểu biết rộng , chuyện cũ, chuyện mới, chuyện sơn hà xã tắc , thuốc men, sử ký, địa dư , tiếu lâm… nghe hoài không hết .

Cà phê xong là đi bộ trong khu, vừa thể thao vừa ngắm cảnh. Các cụ chịu khó chăm sóc cái vườn , dù nhỏ nhưng cầu kỳ, có cụ chỉ chơi lan, có cụ chỉ chơi quỳnh, mẫu đơn, trà hoa nữ ,mỗi người mỗi kiểu, vừa có thì giờ lại chịu khó sưu tầm , chăm sóc, vô tình khu mobile home tọa lạc giữa phố Bolsa ồn ào lại đầy kỳ hoa dị thảo. Bước ra ngoài thì phố xá shopping rầm rộ , nhưng bước vào thì tĩnh lặng êm đềm, thanh sắc.

Ở đây gặp người, gặp cảnh êm dịu, vô tình tự nhiên tôi thấy lòng thanh tịnh, nên chưa phải lên núi, vào chùa , mà lại ngay giữa chốn xôn xao.
Cũng là ngẫu nhiên trùng hợp , đầu năm nay, tháng giêng 2011 tôi có đứa cháu ngoại gái đầu tiên. Nghe tiếng cháu khóc tôi mới chợt cảm thông Kim Mao Sư Vương buông thanh đao Đồ Long trừ gian diệt bạo khi nghe tiếng khóc chào đời của Trương Vô Kỵ. Anh Hoanh thì không kể làm gì, những bạn cùng trang lứa như Phạm Tiến Cương có 9 đứa cháu nội , Vũ Thế Hiệp nghe nói có ngoài chục đứa nội ngoại , cùng nhiều bạn khác trong khóa ta hạnh phúc hơn tôi xa vì đã làm ông ngoại, ông nội từ lâu rồi .Tôi nhớ lời Quang Nhóc có trẻ thơ làm tâm hồn mình thư dãn, bây giờ tôi mới thấm . Sư Vương hồi tâm thì lòng tôi cũng chuyển ý, chẳng để ý đến chuyện nhân gian , cái gì vui ta tìm đến cả cảnh lẫn người , cái gì không vui thì ta xa. Cũng có khi những bài mà các bác chuyển tải vào group khóa hay đến tự nơi nào không nhớ rõ đã ảnh hưởng tôi không nhiều thì ít. Cám ơn các bác đã gửi hầm bà làng vào group, với tôi cái gì hợp thì xem , bỏ qua những gì không thâu thập được. Chỉ có thế ta mới nhận được tinh hoa mà các bác đã mất công đọc và gạn lọc trước khi click forward vào group. Trong các bài của các bác câu tôi nhớ nhất và thích nhất là ; "Kẻ thù của mình là chính mình ". Tôi nông cạn hiểu như sau : thật vậy kẻ thù của mình thì làm gì được mình, chỉ chính mình tức tối , oán hận thì chính mình khổ đau thôi. Nhà cao cửa rộng , tiền bạc, chức danh, cũng do mình tự nghĩ , tạo ra điều lao tâm mệt trí. Câu thứ nhì mà tôi thích là " mình biết mình là ai". Tôi biết ngày xưa tôi là Đại Úy trong Quân chủng HQ quân đội VNCH , bây giờ là một ông già về hưu ở trong căn Mobile Home rẻ tiền ngay giữa phố Bolsa. Ai gọi tôi cấp cao hơn tôi cám ơn nhưng chân thành cải chính vì tôi không nhận cái gì mà tôi không có, tôi yêu quí những gì thật sự là của tôi . Nếu ai gọi tôi cấp thấp hơn tôi vui vẻ vì tôi biết tôi là ai. Thực tế việc này chưa bao giờ xảy ra cho tôi.

Thưa các bạn, ai cũng mong sống lâu, sống khỏe, nếu đến được 80 là đã trên tuổi thọ trung bình của người Mỹ phái Nam (78). Đấy là mong muốn chưa biết có được không , nhưng nếu có được thì cũng chẳng còn bao lâu nữa, ngoảnh đi ngoảnh lại, thời gian như chiếc lá bay vèo.
Tôi ước nguyện thời gian còn lại của đời mình, tôi sẽ cố gắng hòa theo giòng sinh động của những người chung quanh như gia đình , hàng xóm , bằng hữu thân quen, với một tâm tình hòa hợp , tạo niềm vui thích. Tình người có được ngoài cái phước duyên cũng cần nỗ lực cá nhân. Hoa tàn, nguyệt khuyết là chuyện tất nhiên sẽ đến. TXT.
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

Lạc nhịp

Ngày 21.10, hơn một ngày sau khi nhà độc tài, cựu lãnh đạo Libya, đại tá Muammar Gaddafi thiệt mạng ở Sirte, thông qua người phát ngôn Bộ ngoại giao Lương Thanh Nghị, nhà nước VN mới chính thức lên tiếng về sự việc này:

Việt Nam mong muốn tình hình Libya sớm ổn định, nhân dân Libya được sống trong hòa bình để có điều kiện tái thiết và phát triển đất nước.

Chúng tôi sẵn sàng hợp tác với Chính quyền mới nhằm thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước và tham gia vào quá trình tái thiết lại Libya trong khả năng của mình”

(theo TTXVN/Vietnam+)

Trước đó, đài BBC đã kịp có bài nhận xét “Việt Nam chậm bình luận về Gaddafi”.

Trước một sự kiện được chính nhân dân Lybia và đa số các nước dân chủ, tiến bộ trên thế giới đón nhận một cách tích cực, có vẻ như lần này VN chọn giải pháp nghe ngóng dư luận rồi mới lên tiếng. Và không dám có những tuyên bố trái chiều như một số nước đồng minh cũ của Lybia, trong đó có Tổng thống Venezuela Hugo Chavez.

Ông này đã “bày tỏ sự phẫn nộ trước cái chết của Gaddafi”. Và ca ngợi: “Suốt đời này chúng tôi sẽ mãi tưởng nhớ Gaddafi như là một chiến binh, một nhà cách mạng và liệt sỹ vĩ đại,” (“Đồng minh nói về cái chết của Gaddafi”, BBC).

Thế là nhà nước VN cũng đã “tỉnh” ra hơn một chút.

Thời thế bây giờ đã khác.

Công bằng mà nói, suốt thời gian qua, khi phong trào cách mạng hoa nhài diễn ra ở hàng loạt các nước Bắc Phi, báo chí chính thống của VN đều đưa tin, bài nhanh chóng, đầy đủ.

Có lẽ nhà nước VN tự tin rằng đối với phần đông dân chúng, những sự kiện “long trời lở đất” tại Tunisia, Ai Cập, Lybia, và đang rục rịch ở Yemen, Syria… dường như chẳng tác động gì nhiều đến nhận thức của người dân, nên không cần phải tuyên truyền ngược lại. Mà đáng buồn là đúng như vậy!

Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng có một vài bài viết “lạc quẻ”, như bài “Sự thật về Lybia và Gaddafi” của tác giả An Chi tức Nguyễn Như Phong, Tổng biên tập báo Năng lượng mới. Ca ngợi hết lời Gaddafi, nhà lãnh đạo“ở trong trái tim của hầu hết mọi người dân châu Phi như một con người độ lượng và giàu tinh thần nhân văn”. Và xã hội Lybia với “nền dân chủ hình thức cao”, với “nhiều chính sách mà nhân dân nhiều nước trên thế giới nên mơ”…

Đáng chú ý là bài này mới được đăng trong tháng 9.2011 chứ không xa xôi gì để bảo rằng người viết còn mơ hồ nhầm lẫn về ông Gaddafi!

Một số blogger đã có bài châm biếm đáp lại. Và sau khi nhà lãnh đạo độc tài của Lybia đã chết, nhiều blogger tiếp tục nhắc lại bài báo của tác giả Nguyễn Như Phong như một ví dụ về cái nhìn lạc loài, một kiểu làm báo cố tình bưng tai bị mắt trước sự thật khách quan.

Cũng may, nhờ có internet mà người dân VN bây giờ còn biết được trên thế giới đang xảy ra chuyện gì. Còn trước kia thì khác.

Nhớ lại cái thời mà người dân dưới sự tuyên truyền của đảng cộng sản VN và của báo chí cách mạng, đã hăng hái lao vào cuộc chiến tranh tàn khốc, lao vào cái chết với suy nghĩ “Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa, Vui gì hơn làm người lính đi đầu”…(thơ Tố Hữu). Rằng “VN là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa”, là “… ngọn cờ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới”…

Cuộc chiến huynh đệ tương tàn chua xót lại được gọi tên là cuộc chiến tranh thần thánh chống đế quốc Mỹ cướp nước và ngụy quyền bán nước. Sau bao nhiêu năm, nhiều người mới “ngộ” ra Mỹ không hề có tham vọng xâm chiếm lãnh thổ của VN, và ai bây giờ mới thật là có âm mưu cướp nước, ai là kẻ bán nước đây?

Đó là cái thời mà Tố Hữu, nhà thơ hàng đầu của nền văn thơ cách mạng VN, đã có những bài như thế này về nhà lãnh đạo Stalin của Liên Xô:

“Yêu biết mấy khi con học nói

Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin”.

Và khi Stalin mất thì tác giả khóc thương:

“Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,

Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười.”

Bây giờ thì cả thế giới đều rõ đây là một trong những nhà độc tài khét tiếng, phạm vào tội ác diệt chủng đối với chính đồng bào của mình cũng như các dân tộc khác suốt thời gian ông ta cầm quyền!

Bao nhiêu năm, đảng và nhà nước cộng sản VN nhất định lựa chọn con đường bạo lực để thống nhất đất nước, nhất định lôi kéo cả dân tộc đi theo giấc mơ tiến lên chủ nghĩa xã hội “nghìn lần dân chủ hơn xã hội tư bản giẫy chết”.

Nhưng dù sao, trong một giai đoạn nào đó, những sai lầm u mê như vậy có thể hiểu được. Và cũng có thể tự an ủi là không riêng gì những người cộng sản VN bị đánh lừa bởi cái chủ nghĩa Mác Lênin và mô hình lý tưởng xã hội chủ nghĩa!

Nhưng khi thời đại đã thay đổi mà nhà nước VN vẫn cứ lạc loài.

Nhà báo Trần Ngọc Thành kể lại trong bài “Thế nào là phản bội? Ai phản bội?”:

“Nhớ lại những ngày này cách đây 25 năm, khi người thợ điện Lech Walesa trở thành lãnh tụ của “Công Đoàn Đoàn Kết”, tại Việt Nam tất cả các hệ thống tuyên truyền của đảng đều lên án Walesa và các bạn ông là tay sai của đế quốc, là công cụ của CIA. Năm 1989, khi những nhà lãnh đạo “Công Đoàn Đoàn Kết” được nhân dân bầu vào vị trí lãnh đạo đất nước, đảng cộng sản Việt Nam đã tổ chức biểu tình rầm rộ trước Đại sứ quán Ba Lan tại Hà Nội, do bà Nguyễn Thị Định ủy viên trung ương đảng dẫn đầu: ”Đả đảo Công Đoàn Đoàn Kết”, “Ủng hộ nhân dân Ba Lan”, “Nước Ba Lan mất rồi” !… Ông Đại sứ Ba Lan lúc đó sửng sốt: Ủng hộ nhân dân Ba Lan nào? Nước Ba Lan nào mất?… Khi Liên Xô sụp đổ, những người lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam lại kết tội Gorbachow là kẻ phản bội, những người cộng sản Liên Xô và Đông Âu là kẻ phản bội, buộc tội họ phá tan thành quả “70 năm cách mạng tháng Mười”…”

Hụt hẫng, cuống quít trước sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, nhà nước VN tiếp tục có những định hướng sai lầm là quay sang bám lấy TQ để mong TQ thay Liên Xô dẫn dắt các nước do đảng cộng sản lãnh đạo còn lại, “bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc”. Hậu quả của sự quay lại này đã dẫn đến mối quan hệ Việt-Trung bất lợi ra sao trong mấy thập niên qua, nhiều người đã phân tích rất rõ.

Khi Mỹ tấn công I-raq vào năm 2003, dưới sự tổ chức của đoàn thanh niên, học sinh tại một số trường ở Hà Nội đã biểu tình trước Tòa đại sứ Mỹ, phản đối, lên án Mỹ xâm lược Iraq. Báo chí VN cho đến tận khi Mỹ đưa quân vào Iraq vẫn đưa tin như thể chính nghĩa thuộc về chế độ của ông Saddam Hussein, Mỹ tiến vào I-raq là sẽ thảm bại đến nơi!

Có thể thấy VN đã luôn nằm trong thiểu số các quốc gia độc tài “chậm hiểu” còn lại trên thế giới, luôn lội ngược dòng chảy chung của thế giới tiến bộ, văn minh, dân chủ.

Trở lại cái chết của đại tá Gaddafi, người lãnh đạo có tài, có tâm là phải biết nhìn xa tình hình cục diện chính trị thế giới và trong nước để chọn lựa cách ứng xử phù hợp. Cách xử sự khác nhau giữa các nhà lãnh đạo độc tài Bắc Phi đã dẫn tới những kết cục khác nhau cho đất nước và cho chính họ.

Từ cái chết của Gaddafi, nhiều bài báo trong và ngoài nước đã viết về một cái kết cục bi thảm cho những kẻ độc tài hay sự cáo chung cho những chế độ độc độc tài nói chung.

Ngay những người lãnh đạo Cuba, Miến Điện bây giờ cũng đang thay đổi.

Không rõ rồi những người lãnh đạo VN nghĩ gì, và sẽ chọn đứng về phía thế giới dân chủ hay tiếp tục duy trì quyền lực, đi theo mô hình TQ mà họ tưởng là sẽ vững mạnh như những người lãnh đạo Bắc Kinh đang nghĩ vậy. Chẳng khác nào các thế hệ lãnh đạo nhà nước Liên Xô trước đây.

Nhưng riêng với những người đang làm trong hệ thống báo đài chính thống của VN, hãy cân nhắc nghĩ đến cái hậu mai sau trước khi viết/đưa những bản tin sai sự thật, lạc nhịp “không giống ai”.

Bởi rồi sẽ có lúc họ không dám đọc lại những gì đã viết!

FaceBook Song Chi
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image

Những Cái Cần Gạt Nước

Bạn đã từng lái xe trong mưa, bạn có để ý đến cái cần gạt nước không? Trời mưa như trút nước, nước phủ mờ mặt kính, che khuất cả đường đi. May mắn thay chúng ta có những cái cần gạt nước: kiên trì và đều đặn, chúng xoá nhoà nước mưa trên kính, giúp ta nhìn thấy đường để lái xe. Thật tiện dụng tuyệt vời!
Trên chuyến xe cuộc đời, có những nỗi buồn rơi rớt, những lo âu lất phất, những cơn giận vũ bão… chúng như cơn mưa cản trở hành trình của chúng ta, làm chúng ta không thấy đường đi, mất phương hướng, hoặc chán nản dừng xe lại, tự làm mất thời gian và công sức của mình, bạn có thấy lãng phí không? Này bạn, thay vì ngồi than thân trách phận hoặc tiêu cực chờ đợi, sao bạn không thẳng tay gạt những nỗi buồn, những điều không vừa ý sang một bên để tiếp tục đi, cho dù chậm thì cũng vẫn là đang tiến tới. Một u sầu gạt bỏ là bạn sẽ được nhìn rõ hơn và xa hơn một chút, tiến xa hơn một chút trên đường đi của mình.

Dầu vậy, cũng có những niềm đau, những nỗi buồn như cơn mưa dai dẳng, khó có thể xoá nhòa trong chốc lát. Bạn phải đều đặn, đều đặn gạt bỏ chúng như… những cái cần gạt nước. Muốn vậy, bạn phải kiên trì, quyết tâm lập đi lập lại một động tác trong tư tưởng: đẩy sang phải, đẩy sang trái, cho những gì không vừa ý văng khỏi đời mình như những hạt mưa văng khỏi kính xe; hãy chiến đấu cho tương lai phía trước, để rồi những lo âu rơi rớt, những cơn giận tung toé, những phiền muộn đọng lại sẽ bị gạt bắn ra đằng sau từng phần, từng phần, và nhẹ dần đi cho tới khi mất hẳn. Quan trọng là bạn phải biết gạt bỏ chúng một cách đều đặn, kiên trì. Trời sẽ lại sáng sau cơn mưa.

Người tài xế cẩn thận, dù biết rõ công dụng của chiếc cần gạt nước, cũng không dám khinh thường trời mưa. Đường trơn, tầm nhìn giới hạn, xe không thể chạy nhanh được; bạn cũng vậy, bạn có thể gạt bỏ được những điều tiêu cực, phật lòng, buồn đau, nhưng vẫn chịu những hậu quả tổn hại của chúng. Hãy tiến lên nhưng đừng phóng nhanh, chậm rãi chú ý xem xét để được an toàn cho lần sau. Và nếu tránh được thì nên tránh từ đầu, như người lái xe khi xem thời tiết, biết trời mưa thì có thể khởi hành sớm hơn hoặc muộn đi, có thể lái xe đi vòng hướng khác để tránh cơn bão dập vùi. Đừng tự chuốc lấy những điều không vừa ý khi mình có thể tránh được. Cuộc đời còn có bao việc phải làm; nếu không thật cần thiết thì cũng chẳng nên lái xe trong mưa.

Và nếu nhỡ ra phải đi trong mưa, bạn có để ý thêm không? Trên kính xe có tới 2 cái cần gạt nước. Chúng làm việc chung với nhau thật hợp «rơ», lui tới đều đặn, song song, hỗ trợ cho nhau, để đẩy nước mưa ra ngoài. Trong cuộc đời, có những nỗi buồn, những lo âu thật khó xoá với sức của một người. Hãy cùng chia sẻ với người thân, với bè bạn: gánh nặng được san sẻ thì đôi vai sẽ bớt mỏi, đường đi sẽ bớt xa hơn, dễ đi hơn. Khi có sự đồng tâm hiệp lực thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn, niềm vui cũng sẽ lớn hơn, đủ để đánh bại những nỗi buồn lớn.

Và sau hết, bạn hãy là người lạc quan. Hãy nhìn những cái cần gạt nước không chịu nằm im, chúng chuyển động không ngừng, cố đẩy nước đến từ mọi phía. Nếu bạn chỉ ngồi một chỗ mà lo âu thì bạn thật là người đáng lo, nếu bạn chỉ biết cằn nhằn những phiền toái thì chúng vẫn còn đó, nếu bạn đắm mình trong u sầu thì u sầu sẽ nhận chìm bạn. Hãy suy nghĩ cho lạc quan và hành động tích cực; Đối với người lạc quan, sớm hay muộn thì vấn đề cũng sẽ có giải pháp, điều cần là phải vui sống dù tạm thời chưa giải quyết chúng được.

Xưa kia có một bà cụ hay ủ rũ khi nghĩ đến 2 người con ở xa : trời mưa thì bà nghĩ đến người con bán dép rơm bị ế ẩm vì không ai mua dép rơm để đi mưa; trời nắng thì bà lại nghĩ tới người con bán dù vì ai lại mua dù mùa nắng. Hàng xóm thấy vậy xúm vào khuyên bà hãy nghĩ ngược lại: trời nắng thì nghĩ tới người con bán dép rơm được đắt hàng, còn trời mưa thì nghĩ tới đứa con làm dù không đủ bán. Bà cụ nghe theo và từ đó sống thật vui vẻ. Bạn biết không, đời sống vui hay buồn nhiều khi không phải do những việc bên ngoài, mà lại tuỳ thuộc vào suy nghĩ và cách sống của chúng ta. Nhiều việc có cả mặt tốt lẫn mặt xấu, nhưng nếu nhìn mặt tốt có lẽ chúng ta sẽ sống hạnh phúc hơn, tội gì phải làm ngược lại. Những buồn khổ, lo âu, bất hạnh nhiều khi đến bất chợt như cơn mưa và ai cũng gặp phải. Dù sao trời cũng đã mưa và chúng ta phải lái «chuyến xe cuộc đời».

Hãy vui vẻ lạc quan khi nghĩ đến… «những cái cần gạt nước».

Tác giả: Hoài Nam
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

'Thông báo khẩn cấp!'


Tạp Ghi Huy Phương

"...Hải ngoại này đúng là một con bò sữa dễ vắt mà cũng dễ yếu lòng, chảy nước mắt, không những vì thương nỗi cơ khổ của đồng bào mà còn những chuyện linh thiêng khó nói như “hùn phước” hay “kiếm phước...”


“Thông báo khẩn cấp!” Tôi đã đọc đi đọc lại cái thông báo này nhiều lần! Thoạt đầu cứ tưởng đây chuyện đường nứt San Andreas sắp làm nửa tiểu bang California trôi ra biển hay Thủy Quân Lục Chiến Trung Cộng vừa dàn quân nhảy xuống Hà Nội, tệ lắm thì cũng một bệnh dịch chết người sắp xẩy ra cho nước Mỹ. Nhưng không, đây là một thông báo rằng một bức tượng Phật xây dở dang tại một ngôi chùa ở Việt Nam đã lâu thiếu tiền, cần bá tính cúng dường cho đủ số để hoàn thành. Bản “thông báo” đăng trên một tờ nhật báo tiếng Việt ở Mỹ với kích tấc 1/4 trang không phải là rẻ tiền, và người đăng báo hẳn còn đủ ngân khoản để trả cho lời kêu gọi thống thiết này.

Không phải bây giờ mà đã từ lâu báo chí hải ngoại này vẫn thường xuyên đăng những thông báo loại này khi thì xin tiền xây tường chùa, khi thì sửa sang nhà thờ bị sạt lở, nứt vách, ngân khoản dự trù có khi lên hằng trăm tỷ đồng tiền Việt, nhẹ thì thư ngỏ, thư xin, nặng thì ra “thông báo khẩn cấp” như bản tin ở trên. Cũng có khi trong nước cần tiền khởi công để xây một ngôi chùa mới, nhưng phần lớn là các loại tu sửa đại quy mô, hay đang làm nửa chừng mà thiếu tiền với lý do vật giá leo thang, mưa bão, lụt lội. Hải ngoại này đúng là một con bò sữa dễ vắt mà cũng dễ yếu lòng, chảy nước mắt, không những vì thương nỗi cơ khổ của đồng bào mà còn những chuyện linh thiêng khó nói như “hùn phước” hay “kiếm phước.” Ở những vùng đất có lời kêu gọi này, các giới chức lãnh đạo tôn giáo cũng công nhận rằng “đời sống dân chúng còn nghèo khổ, 95% dân sống chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp trồng lúa, nhưng ruộng không đủ làm, thiếu nguồn nước tưới tiêu, hằng năm phải gánh chịu những đợt hạn hán bão tố, lũ lụt nên thường bị mất mùa thất thu, đói kém vất vả.”

Nhìn cảnh chùa chiền nguy nga tráng lệ, khách thập phương tấp nập lui tới cúng bái, hành hương, ai dám nói đó là một đất nước thiếu tự do tôn giáo. Nhà nước cộng sản sẵn sàng để cho các phái đoàn tôn giáo ra đi, miễn là đem được đồng đô la về để xây dựng đất nước to đẹp bằng mười lần hơn trước. Không phải chỉ ở trong nước mà ngay tại Mỹ. chúng ta đầu tư vào chùa chiền, tự viện quá nhiều, phần đông không có tăng đoàn, chỉ một hai vị, cũng sở hữu những cơ sở lên hàng triệu đô la.

Cũng có khi, không “liệu cơm gắp... chao,” việc xây dựng nửa chừng phải ngừng trệ, khiến gánh nặng đè lên vai người tín hữu. Năm 2000, tôi may mắn có dịp đến Paris, mục kích cảnh một ngôi chùa Việt “dự trù là một ngôi chùa lớn nhất Châu Âu,” đang trong những tháng khởi công xây cất, đến nay đã 11 năm, đã tiêu hết 12 triệu euros mà vẫn chưa xong. Theo dự trù phải tốn thêm 3 triệu euros, hiện đang nợ ngân hàng 1 triệu, nợ hội thiện 1 triệu và vài ba năm nữa ngôi chùa mới hoàn thành được. Một toán thợ Tàu, gồm 9 người từ Trung Cộng đang ở Paris, trong thời gian một, hay hai năm để lợp mái ngói cho chùa. Nội chỉ cái tháp chuông thôi cũng gần 1 triệu euros rồi.

Lễ Phật Ðản năm nay, không ngại đường xa cách trở, tốn kém, chùa cũng mời được nhiều ca sĩ hàng đầu của một trung tâm băng nhạc từ Little Saigon bay sang. Bà chị họ của tôi định cư tại Paris từ 30 năm nay, từ lúc còn đi làm, nhịn ăn nhịn mặc, cả đời không biết du lịch là gì, đã trích số lương của mình một tỷ lệ để đóng góp, nay đã hưu trí, vẫn còn tiếp tục, vì ngôi chùa chưa xong. Thật là công đức vô lượng và thiện tâm bền bỉ! ( Tinh thần Tam bảo Nô)

Thì ra người Việt hiện dù đang sinh sống ở đâu trên thế giới cũng là sắc dân giàu có nhất vì ngoài chuyện lo ăn lo mặc còn dư dả đồng tiền để lo cho những chuyện “mua phước.” Trong khi phúc trình hằng năm của Văn Phòng Thống Kê Hoa Kỳ tháng rồi cho hay, cứ 6 người Mỹ thì có một người sống ở mức nghèo khó. Ảnh hưởng của nạn thất nghiệp kéo dài khiến hằng triệu người Mỹ phải vật lộn với đời sống. Số người ở mức nghèo khó là 46.2 triệu trong năm 2010, tăng 15.1%, từ 14.3% của năm trước, kỷ lục nhất từ 19 năm nay. Phúc trình còn cho hay, số người Mỹ không có bảo hiểm lên đến 49.9 triệu, lớn nhất trong hai thập niên qua.New York dự tính sa thải 700 thầy cô giáo. Câu chuyện nước Mỹ rồi đây sẽ hết tiền đổ xăng cho cả những chiếc xe đưa thư, và hình ảnh người đưa thư sẽ không còn nữa làm cho chúng ta mủi lòng. Vậy thì xây một tượng Phật dang dở vì thiếu tiền có là điều “khẩn cấp” hay không?

Chuyện này làm cho chúng tôi nhớ lại một câu chuyện Thiền (trong 101 Giai Thoại Thiền - Thomas Cleary - Thanh Chân biên dịch) như sau:

“Hei-zayemon là một đại phú gia suốt đời hành trì Bồ Tát Hạnh. Ông nhiệt tình sử dụng gia sản của mình vào mục đích an sinh và từ thiện. Nhờ sự giúp đỡ và cưu mang của vị phú gia này, rất nhiều trẻ em nghèo khổ đã thoát khỏi cảnh bần cùng. Hei-zayemon cũng là người tài trợ cho vô số công trình xây dựng cầu đường, giúp dân chúng trong khu vực có điều kiện đi lại dễ dàng và thuận tiện hơn.

Trước khi qua đời, Hei-zayemon lập di chúc yêu cầu tiếp tục sử dụng gia sản của mình vào mục đích nhân đạo. Ý nguyện ấy đã được con cháu đời sau trân trọng và nghiêm chỉnh thực hiện.

Tương truyền vào thời Hei-zayemon còn sống, có một nhà sư tìm đến nhà của vị phú ông có cái tâm Bồ Tát ấy để quyên góp tiền cúng dường giúp nhà chùa xây dựng một cái cổng. Nghe xong lời đề nghị, Hei-zayemond đã bật cười trước mặt nhà sư: ‘Tôi muốn giúp đỡ mọi người vì tôi không thể nhẫn tâm bỏ mặc họ trong cảnh đời khốn khổ. Nhưng một ngôi chùa không có cái cổng thì có gì là khốn khổ đâu nào?!’’”

Tôi cũng bắt chước đại phú gia Hei-zayemon mà thưa rằng: “Một bức tượng hay một ngôi chùa xây dựng chưa xong thì có gì là khẩn cấp đâu nào!”
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Ðọc ‘Quê Nhà-Quê Người’ của Huy Phương
Ngọc Lan/Người Việt


WESTMINSTER (NV) - Cầm trên tay quyển tạp ghi “Quê Nhà-Quê Người” của nhà văn Huy Phương, cảm xúc đầu tiên của tôi là “giật mình.”

Image
Nhà văn Huy Phương, tác giả tạp ghi “Quê Nhà-Quê Người.” (Hình: Huy Phương cung cấp)

Mới hôm nào, tôi chìa hai tay nhận từ nhà văn quyển tạp ghi “Hạnh Phúc Xót Xa,” và “Ấm Lạnh Quê Người” thì hôm nay “Quê Nhà-Quê Người,” quyển tạp ghi thứ 6 của ông lại sắp sửa ra mắt độc giả vào ngày 19 tháng 11 tới đây.

Thế nên, không giật mình sao được, trước hết bởi khả năng viết của một con người - một nhà văn.

“Viết văn định kỳ là một điều bắt buộc có kỷ luật, đúng giờ, đúng ngày phải hoàn tất, không thể tùy hứng, bỏ trống cột báo thường xuyên, do đó không khỏe cũng phải khỏe. Còn 'viết hay' hay không, còn 'tùy người đối diện.'” Tác giả tạp ghi giải thích.

57 bài tạp ghi, gói gọn trong hơn 300 trang sách, xoay quanh những vấn đề thật gần gũi, giản dị của cuộc sống thường nhật, như “Mẹ vẫn chờ con bên cửa sổ,” “Những đêm mất ngủ,” “Lòng ganh tị,” “Lời mẹ ru,” “Về Việt Nam cưới vợ, bài học chưa thuộc,” “Mẹ và Vu Lan,” “Những tiếng rao hàng,” “Tách trà và tô phở”... Ðến những vấn đề cần có thời gian chiêm nghiệm và suy ngẫm, như “Sự sợ hãi,” “Sài Gòn nỗi nhớ,” “Nhân một bài viết trên blog,” “Sợ để sống,” “Nỗi đau đồng hương”... Và cả những vấn đề lớn lao to tát hơn, như “Anh hùng và phản bội,” “Một người bạn láng giềng,” “Văn hóa sống trên đời,” “Những kẻ chọn lầm nghề,” “Cơn sốt Mỹ du,” “Về Việt Nam mua vợ,”...

Ðọc những bài Huy Phương viết, tôi cảm giác như thể bất kỳ một sự việc gì diễn ra mà ông nghe được, thấy được, đọc được, đều có thể trở thành đề tài cho những tạp ghi của ông.

Chia sẻ về điều này, tác giả “Quê Nhà-Quê Người” cho biết: “Ðề tài của tôi rất gần gũi, những chuyện đời thường, không có gì gọi là cao xa, triết lý. Mỗi ngày chúng ta đều nghe một bản tin, nghe một câu chuyện thời sự, trông thấy một tấm ảnh hay mục kích một chuyện trên đường phố. Những chuyện ấy có khi vô bổ, không có tác dụng gì đến tâm hồn của chúng ta, nhưng cũng có khi làm chúng ta buồn rầu, tức giận, suy nghĩ, phải tìm đến một người bạn để tỏ bày, chia sẻ cho nhẹ lòng, đối với một nhà văn thì phải viết ra.”

Nghe thì có vẻ dễ dàng quá, cho việc viết ra những điều như thế. Nhưng kỳ thực, chẳng dễ chút nào, bởi nó vừa như nhỏ nhặt, vụn vặt, dễ trở thành cái chi li, tẩn mẩn, thế mà phải viết làm sao để người đọc xong cứ xao xác những nỗi niềm, ngổn ngang những day dứt, và dằn vặt những tâm tư.

Một câu chuyện tưởng chừng như vẩn vơ, nghe tai này chạy qua tai kia, biến vào trong gió. Vậy mà qua cảm nhận và ngòi bút Huy Phương, câu chuyện lại trở nên khác hẳn. Nó khiến người ta phải chậm lại, dừng lại để mà nghe ngóng, để mà ngắm nhìn lại cái mình từng vô tình lướt qua.

Có những điều diễn ra trong cuộc sống mà mình tự lúc nào đã chấp nhận nó như một chuyện hiển nhiên. Thế nhưng, đọc Huy Phương, đọc cách ông tung tẩy ngòi bút, cách ông dùng chữ để lật từng sự việc như trong bài “Tôi là Người Quan Trọng,” tự dưng mình đâm ra giận chính mình, “ờ, hay nhỉ, sao mình lại tự dưng biến họ thành người quan trọng để rồi mình phải đi xin sự ban phát đặc ân của họ vậy.”

Hay đọc “Lòng ganh tị,” bỗng nhận ra chuyện “sự ganh ghét rất phổ biến,” “con người tức nhau tiếng gáy thì tìm đủ mọi cách để triệt hạ người hơn mình.” Ừ, thì đúng rồi, lòng ganh tị đó có ngay trong chính mình đó thôi. Mình vẫn hay kèn cựa người này, xéo móc người kia, chẳng qua vì mình không được như họ mà mình lại không dám khẳng khái nhận họ giỏi hơn mình. Nhận ra rồi, len lén xấu hổ cho chính mình, và tự an ủi cũng bằng câu viết của Huy Phương, “Vấn đề là chúng ta có kiềm chế được hậu quả của lòng ganh tị hay không và để lòng ganh tị ấy kéo chúng ta đi đến đâu.”

***

Tôi hỏi: “Theo nhà văn, điều khó nhất khi viết tạp ghi là gì?”

Ông trả lời: “Ðiều khó nhất cho tất cả các nhà văn là đề tài. Chúng ta viết gì và viết cho ai đọc. Viết mục thường xuyên trên báo sợ nhất là những đề tài đụng chạm đến tôn giáo, đến cá nhân của ai đó và nói đến thói hư tật xấu của ngay cộng đồng chúng ta. Nhưng chúng ta viết với tấm lòng thẳng thắn tôn trọng, công bằng, không chỉ trích cá nhân, không chửi bới, thì không ai có thể trách cứ chúng ta. Thế nên độc giả cũng hiểu rằng lên án 'hoa hậu áo lam,' hay hát nhảm trong chùa không có nghĩa là đả kích Phật Giáo.”

“Nhưng theo tôi, điều khó khăn nhất vẫn là viết sao cho còn có người muốn đọc,” ông nói thêm.

Ðọc tạp ghi của Huy Phương, người ta rất dễ bắt gặp chính mình trong những thời khắc chênh vênh giữa nhiều miền cảm xúc.

Giữa một buổi chiều Hè không nóng bức, ngắm nhìn những hàng phượng tím nở bung, “làm sao trong lòng không có một chút xao xuyến nhớ lại những ngày tháng đã qua.” Bao nhiêu đó đủ để Huy Phương đưa người ta hoài niệm lại những “Mùa Hè không trở lại.”

Một chút “Nhớ nhớ quên quên,” một chút bồi hồi nhớ “Cố nhân,” một thoáng trầm tư đến đớn đau với “Huế ơi”... là điều trong tâm tư ai cũng có, nhưng chỉ đến khi đọc Huy Phương, người ta mới như có dịp gọi tên đúng tâm trạng mình.

“Sau 'Nước Mỹ Lạnh Lùng,' 'Ði Lấy Chồng Xa,' 'Ấm Lạnh Quê Người,' 'Nhìn Xuống Cuộc Ðời,' và 'Hạnh Phúc Xót Xa,' nhà văn Huy Phương muốn gửi gắm đến độc giả điều gì qua tạp ghi 'Quê Nhà-Quê Người'?”

Nhà văn giãi bày: “Cũng có thể tôi muốn gửi gắm những trăn trở, suy nghĩ của mình qua bài viết, nhưng chủ yếu là muốn bày tỏ tấm lòng của mình qua những sự việc đang xẩy ra ở nơi tôi đang sống (quê người) cũng như nơi từ đó tôi đã ra đi (quê nhà), những sự việc mà hằng ngày bạn đọc cũng như tôi đều thấy. Giãi bày ra được hình như tôi thấy giải thoát được những niềm u uẩn của lòng mình, có khi là sự buồn rầu, thương tiếc, có khi là một sự bất như ý đối với những gì tôi thấy tôi nghe trong cõi đời rất thường này, do đó tôi hy vọng là tác phẩm của mình gần gũi với bạn đọc, đôi khi đó là những chuyện rất tầm thường, nó không có gì xa vời, triết lý.”

Khởi đi từ những bài viết rời rạc trên Người Việt và vài tờ báo ở hải ngoại từ năm 1992 trở đi, và tạp ghi Huy Phương đã trở thành mục thường xuyên trên nhật báo Người Việt từ năm 2005.
Image
Tạp ghi “Quê Nhà-Quê Người” sẽ ra mắt độc giả vào trưa Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011, tại Hội trường Nhật báo Người Việt.
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Vì độc giả không thể giữ tờ nhật báo lâu, thường là “xem xong rồi bỏ” nên tác giả cố gắng in lại thành sách để trao đến độc giả ở khắp nơi, vì nhiều người ở xa không có báo, có khi không những muốn đọc mà đôi khi thích đọc lại nhiều lần.

“Từ cuốn đầu tiên 'Nước Mỹ Lạnh Lùng' ra đời năm 2002 đã được độc giả đón nhận và yêu thích, sách đã được in lần thứ tư, điều đó đã khuyến khích tác giả vài ba năm lại cho xuất bản những tập tạp ghi kế tiếp. Sau khi tình cờ đọc một cuốn nào đó, độc giả lại muốn có nguyên cả bộ 6 cuốn, đó là niềm an ủi lớn cho tác giả.” Nhà văn Huy Phương cho biết lý do ra đời của “Quê Nhà-Quê Người.”

Và đó cũng chính là lý do để người yêu mến văn Huy Phương phải tìm đến với “Quê Nhà-Quê Người” như một điều không thể thiếu.
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Dịch ‘Vô Cảm’

Tạp Ghi Huy Phương
Cả thế giới vừa được mục kích một câu chuyện thương tâm xẩy ra vào ngày 13 tháng 10, 2011 tại thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Ðông.

Theo hình ảnh được camera ở góc đường ghi lại, một bé gái 2 tuổi đang đi trên một con đường nhỏ trong một khu chợ vào lúc trời sẩm tối, bị một chiếc xe tải nhỏ đâm phải, em bé té xuống đường và bị xe cán qua bánh trước. Chúng ta thấy xe ngừng lại mấy giây, có vẻ ngần ngừ rồi lái xe đi tiếp, cán qua người đứa trẻ lần thứ hai bằng bánh sau mà không dừng lại. Mấy phút sau, một xe tải khác chạy đến, tiếp tục cán lên phần chân của em bé làm máu chảy loang ra thành vũng.

Sau đó có ít nhất 18 người trong khu chợ qua lại bằng xe gắn máy hay đi bộ chứng kiến bé nằm trên vũng máu mà không một ai chạy đến gần hay có phản ứng gì. Nhiều chiếc xe gắn máy chạy qua, tránh chỗ em bé nằm rồi đi thẳng. Một phụ nữ dọn dẹp vệ sinh trong khu chợ là người đầu tiên chạy lại bồng em bé lên và gọi bà mẹ em đến, đưa vào bệnh viện. Vì thương tích quá nặng, bé gái Duyệt Duyệt đã qua đời.

Sau khi bị bắt, người tài xế cán chết em Duyệt Duyệt đã giải thích:”Nếu nó chết, tôi chỉ phải trả khoảng 20,000 quan, nhưng nếu nó bị thương tật, tôi sẽ phải bỏ ra hàng trăm ngàn quan.”

Trong một hoàn cảnh xã hội vô cảm như vậy, hành động của người phụ nữ quét rác đã bồng em bé lên bị đa số dân TC coi như hành động của một kẻ “khác người,” "muốn nổi tiếng", một hành động “quân tử Tàu.”

Cũng với sự tính toán “chết rẻ hơn bị thương,” tám ngày sau cũng tại Trung Cộng, ở Lô Châu, tỉnh Tứ Xuyên, một xe vận tải nặng đã cán phải một em bé trai đang trên đường tới trường. Một nhân chứng kể lại chính ông đã trông thấy chiếc xe lùi một chút rồi lại lao lên, cán lên thân hình đứa bé và tiếp tục chạy thêm khoảng 10m nữa. Sau đó, tài xế nhảy ra khỏi xe tải và câu hỏi đầu tiên y bật ra cửa miệng là: “Tôi sẽ phải trả bao nhiêu đây?” . Trong trường hợp trên người tài xế đã suy nghĩ rằng trả tiền bồi thường cho một nạn nhân chết sẽ rẻ hơn chi tiền bệnh viện nếu nạn nhân chỉ bị thương.

Chuyện xẩy ra trên đây không khác gì những chuyện “vô cảm” thường xẩy ra trên đất nước Việt Nam hôm nay. Cái cảnh cán người chưa chết nên phải lùi xe lại để cán qua lần nữa. Cảnh một công an giao thông bị cán qua bụng chết nửa người, phần trên đang ngắc ngoải cố nhấc mình dậy, không ai đến đỡ hay gọi xe cấp cứu, nhưng có người bình thản đứng quay phim suốt mấy phút để đưa lên “mạng.”

Chuyện nhỏ trong xóm làng như dân làng gậy gộc giết và thiêu sống người trộm chó, chuyện công an đánh, đạp, giết người. Chuyện lớn như công nhân bị bỏ rơi, đi ăn xin ở nước ngoài mà đại diện chính quyền Việt cộng sở tại quay mặt trốn trách nhiệm, hay hằng trăm dân oan nằm đường khiếu kiện mà bọn cường quyền vô trách nhiệm làm lơ. Hiện tượng vô cảm của đa số dân chúng Việt Nam trong nước đã được đề cập, mô tả và phê phán trong nhiều bài viết. Chưa kể đến thái độ bàng quan đối với những chuyện thương tâm xảy ra trước mắt mà việc can thiệp không nhất thiết sẽ gây những kết quả tổn hại nào đến cho họ. Đối với những vấn đề lớn của đất nước, đại bộ phận dân chúng Việt Nam được mô tả trong các bài viết này còn dửng dưng xem như không liên quan gì đến bản thân mình.

Phân tích tâm lý, chúng ta thấy con người thường sợ bị liên lụy, khi can thiệp vào những chuyện không phải của mình, “ách giữa đàng chớ mang vào cổ,” nhất là khi người ta không tin vào một thứ luật pháp công chính, sợ rắc rối với chính quyền, khi phải khai báo, tường trình hay làm nhân chứng cho một vụ án. Trong một xã hội lừa lọc giả dối người ta còn sợ cả sự đóng kịch để lừa người, dần dần tình cảm con người chai đá không biết xót thương. Thuở thiếu niên, ngày mới vào Saigon lần đầu tiên, có thể thấy cái mặt “tỉnh lẻ” tôi còn ngơ ngơ ngáo ngáo, một ông tiến lại gần: “Cậu cho xin một đồng mua ổ bánh mì.” Sau khi nhận một đồng khá dễ dàng, ông ta lại giở nón ra: “Cậu cho thêm một đồng mua tờ báo để lót ngủ tối nay!” Tôi ngần ngừ làm người nhân ái, sắp móc túi lần thứ hai thì thằng bạn Saigon đi bên cạnh, kéo mạnh tay tôi: “Ðồ ngu! Ði lẹ lên mày!” Gần đây một đứa cháu của tôi về Việt Nam, một chiều mưa, đi chơi với bạn, nhìn thấy hai đứa trẻ rách rưới đang ngồi co ro bên gốc cây tội nghiệp, muốn thăm hỏi, giúp đỡ, nó bảo bạn dừng xe lại, nhưng thằng bạn đã gắt: “Chúng giả vờ đấy! Ðừng bị lừa! Mày hơi bị ngu!” Vậy thì còn biết trải lòng thương xót ai. Trong xã hội Việt Nam bây giờ không thiếu những lời than thở giả tạo: “mất cắp không tiền về xứ,” “nhà nghèo, đông anh em, cha mẹ mất sớm”... cũng nhiều cảnh những trẻ mồ côi bị bẻ chân tay cho thành tàn tật để đi ăn xin, nhưng ông sư giả đi quyên tiền giữa chợ. Vậy thì còn biết tin ai và lòng trắc ẩn để đâu cho đúng chỗ ?

Ðối với hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam, những chuyện “vô cảm” kiểu trên không phải ngày một ngày hai mà có, nó tích lũy từ ngày “giải phóng” khi văn hóa tốt đẹp của một đất nước bị tàn phá, sách vở bị đốt, thầy giáo bị đi tù, một nền giáo dục “tiên học căm thù, hậu học văn” được phổ biến. Khẩu hiệu “mình sống vì mọi người” được giương cao nhưng thực chất là chúng đạp lên nhau mà sống. Con người trở thành chai đá trước nỗi khổ của đồng loại, vì nỗi khổ của mình cũng không ai thèm để ý đến. Cái chết, niềm đau, nỗi khổ của đồng loại đôi khi trở thành trò giải trí cho người khác, vì chủ đích tuyên truyền. Ở miền Bắc trước năm 1975, đấu tố địa chủ thì bắc loa buộc cả làng tham dự:

“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,”

hay

“Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây/
Bắt quỳ gục xuống đọa đày chết thôi!”

Sau 1975, xử tử những người yêu nước thì tổ chức tại sân vận động, lùa dân phố, phường khóm đi xem. Con người dần dần bớt xúc cảm, không hề thương xót và chai lì với những cảnh chặt đầu bêu giữa chợ, hay cảnh những xác chết bị thả trôi sông. Cũng trong thái độ “vô cảm,” nhằm mục đích đào tạo cho đất nước những vận động viên “siêu việt” trong các bộ môn cá nhân, bọn huấn luyện viên Trung Cộng đã hành hạ nhiều thiếu nhi bằng cách uốn ép xương sống các em, treo các em lên xà ngang hay ngồi lên mình các em không hề thương tiếc. Cứu cánh là cần thiết, mọi phương tiện đều không đáng kể.

Câu chuyện của em bé Duyệt Duyệt đã được cả thế giới bày tỏ sự xúc động và căm phẫn về thái độ “vô cảm” trong chế độ cộng sản Tàu mà Việt Nam hiện nay là một phiên bản. Người ta cảm thấy ghê tởm bởi thái độ dửng dưng, lạnh lùng của con người trước cái chết đau đớn quằn quại của một con người, lại là một em bé yếu đuối, còn thua cả một con chó, con mèo trước cái chết của đồng loại.

Liệu rồi đây khi chế độ cộng sản đã bị quét sách khỏi trái đất, phải bao nhiêu năm để xây dựng, đào tạo lại con người ?

Nghĩ mà thương nhớ đến trang luân-lý giáo khoa thư của những ngày xưa thân ái.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 11 guests