Văn Nghệ Văn Gừng

Thơ nhạc trữ tình, thơ nhạc lính, video...
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

NHẠC SĨ DƯƠNG THIỆU TƯỚC

Thưa các anh chị,
Hình như có lần ai đó noi rằng ông Duong Thieu Tuoc viet bài Ngọc Lan cho bà Minh Trang tức Ngọc Trâm,
vì chữ Trâm khó hát nen thay bằng chữ Lan, bài này lai nói là viet cho bà Vi Kim Ngọc


- Đoàn Dự ghi chép
Thưa quý bạn, đầu tháng 06/2010, bạn bè ở nước ngoài có mail cho Đoàn Dự một bài của ông Nam Minh Bách ở Virginia, cháu gọi Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bằng bác họ. Thấy bài này có nhiều điểm đặc biệt có lẽ nhiều người chưa biết về vị Nhạc sĩ tài hoa, sáng tác những bản nhạc rất hay, bản nào cũng trở thành bất hủ nhưng rất kín tiếng đó, Đoàn Dự bèn nghiên cứu thêm rồi mạn phép ông Nam Minh Bách thuật lại để quý bạn rõ. Sau đây là lời kể của tác giả Nam Minh Bách với sự đóng góp bổ sung của Đoàn Dự. Xin mời quý bạn thưởng thức.

Dương Thiệu Tước & mối tình thời đi học


Năm 2000, tôi về thăm Hà Nội, bạn bè cho đọc một bài báo trên tờ Công An, bài này đã từng làm dư luận dân chúng Hà Nội lúc đó xôn xao. Nhân dịp năm thứ 5 kỷ niệm ngày vĩnh biệt Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, ông được ca ngợi là một Nhạc sĩ đã có công hòa hợp cổ nhạc và tân nhạc, đặt nền móng cho tân nhạc Việt Nam phát triển mạnh mẽ cho tới ngày nay. Và trong mấy dòng tiểu sử, bài báo đó có nhắc tới mối tình đầu của chàng trai "con cụ Thương tá Hưng Yên Dương Tự Nhu" và nàng con gái con cụ Tổng đốc Hưng Yên Vi Văn Định. Chàng và nàng yêu nhau thắm thiết và hai gia đình đã trao đổi trầu cau, nhưng tình duyên của họ dang dở vì có một chàng trai bằng cấp đầy mình nhào vô, loại được anh chàng Nhạc sĩ tài hoa nhưng lúc đó chưa nổi tiếng này ra khỏi vòng chiến.

Theo báo Công An, con người có diễm phúc chiếm được nàng là chàng bác sĩ tây học từ Paris trở về, họ Hồ Đắc, con của một vị đại thần lớn nhất triều đình Huế.
Sau khi tờ báo tung ra, gia đình Hồ Đắc phản ứng ngay lập tức. Bà Vi Kim Phú - tức Hồ Đắc Di phu nhân, con gái của vị cựu Tổng đốc Hưng Yên và Thái Bình Vi Văn Định ngày trước - nói rằng nhà báo nói láo ăn tiền, bà không hề có chuyện nhận trầu cau, sêu tết hay đính hôn với Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bao giờ cả.
Báo Công An im lặng không trả lời, vì họ Hồ Đắc cả thời Pháp thuộc lẫn thời này vẫn rất mạnh, chính tờ báo này đã từng có bài đề cao Quận công Hồ Đắc Trung - Thượng thư bộ Lễ, "quốc trượng" (bố vợ) vua Khải Định, thân sinh của Bác sĩ Hồ Đắc Di - là nhà chí sĩ ái quốc. Bác sĩ Hồ Đắc Di trước đây là người sáng lập đồng thời cũng là Khoa trưởng Đại Y khoa Hà Nội. Còn "lệnh ái" Hồ Thể Lan - con gái của Bác sĩ Hồ Đắc Di - năm 2000 đang là Vụ trưởng Vụ Báo chí và cũng là vợ của Vũ Khoan, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng chính phủ CS Hà Nội.

Nhưng tờ báo không xin lỗi, cũng không đính chính, bởi vì họ chỉ lầm có... một nửa. Tổng đốc Vi Văn Định có hai người con gái. Người em là Vi Kim Phú, lấy Bác sĩ Hồ Đắc Di năm 1935 khi mới 17 tuổi. Người chị là Vi Kim Ngọc, lấy Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Tiến sĩ Văn chương Đại học Sorbonne, từ Pháp về, cưới vào năm 1936, khi nàng 20 tuổi. Báo Công An lầm ở chỗ người trả lại trầu cau cho Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là bà chị, vợ ông Nguyễn Văn Huyên, chứ không phải bà em, vợ Bác sĩ Hồ Đắc Di. Cả hai chị em đều đẹp lộng lẫy như nhau và đều nổi tiếng Bắc Hà về nhan sắc cũng như về gia thế. Đến năm 1944, một người cháu nội của ông Vi Văn Định tên Vi Nguyệt Hồ, 15 tuổi, được gả cho Bác sĩ Tôn Thất Tùng (sau này làm Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Minh). Năm 1946, khi bà Vi Nguyệt Hồ sinh con trai đầu lòng ở vùng thượng du Bắc Việt, ông Hồ đến thăm và đặt tên là Tôn Thất Bách (sau này cũng là bác sĩ, mới mất tại Hà Nội cách đây hai năm).

Dân chúng Hà Nội không ai lạ gì ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Giáo dục 30 năm của chính phủ Phạm Văn Đồng. Hồi thập niên 30, họ gọi ông Nguyễn Văn Huyên và người bạn của ông tên Nguyễn Mạnh Tường là "Nghè Huyên" và "Nghè Tường", vì hai ông đều đậu tiến sĩ bên Pháp.

Báo Công An nói lộn về người nhận trầu cau của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Bà Vi Kim Phú (bà em), phu nhân của cố Bác sĩ Hồ Đắc Di phản ứng. Thiên hạ bàn tán quá vì họ biết người trả trầu cau là bà Vi Kim Ngọc (bà chị), vợ của ông "Nghè Huyên" họ Nguyễn. Đến lượt con cháu họ Nguyễn ra tay. Chỉ con cháu thôi, bởi vì năm 2000 những người trong cuộc đã thành thiên cổ. Bà Nguyễn Kim Hạnh, con gái của ông bà Nguyễn Văn Huyên-Vi Kim Ngọc, xuất bản cuốn sách "Hồi ức về Nguyễn văn Huyên", trong đó có trích những đoạn nhật ký của thân mẫu, tức bà Kim Ngọc:
"Cha mẹ tôi làm đám cưới với nhau vào ngày 12/4/1936. Mẹ tôi ghi lại những ngày đầu quen biết giữa cha và mẹ trong nhật ký như sau:

"Em đi chơi cùng cha mẹ vào Huế, khắp Trung Kỳ rồi Lục tỉnh Cao Mên, Thái Lan... Nhiều khách quốc tế trầm trồ khen ngợi em là giai nhân".

"Đôi ta gặp nhau ở Huế, trong lễ hội Nam Giao. Sau đó em tiếc không từ biệt anh. Khi lên xe, cha đưa thư của anh do anh Toại trao giùm (tức bác Phan Kế Toại, chồng cô Mão là chị của cha tôi - K.Hạnh) cho em xem. Đó là thư cầu hôn giữa anh và em ".

"Sau đó bà ngoại mấy lần nhận điện từ Hà Nội gửi vào cầu hôn.Khi có thư trực tiếp của anh viết cho ông ngoại gửi lời thăm em "người đáng yêu nhất" thì em mới nhận lời cho nhà trai xuống Thái Bình cầu hôn".

Tác giả Kim Hạnh ghi tiếp:

"Mẹ tôi kể là năm mẹ tôi 16 tuổi, ông ngoại tôi nhận lời gả mẹ tôi cho người họ Dương Thiệu. Năm 19 tuổi, khi biết điều này, mẹ tôi nhất định đòi ông tôi phải trả lại sêu tết ba năm. Vì mẹ tôi không chấp nhận cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Mẹ tôi ghét cay ghét đắng chuyện năm thê bảy thiếp trong chế độ phong kiến".

"Năm 1977, sau khi cha tôi mất được 2 năm, mẹ tôi viết: "Ước mơ của em khi đôi tám xuân xanh là quyết chọn người tài đức mới trao thân. Nếu không gặp được nam nhi hào hùng đó thì ở một mình suốt đời. Thế mà em đã mãn nguyện".

Và trang sau, nhật ký nhắc tới Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước:

"Năm 1976, được tin của một người bạn cũ ở Đà Lạt nói rằng có gặp ông Dương Thiệu Tước và vợ của ông là bà Minh Trang lên chơi Đà Lạt".

Đoạn này rất sơ lược, hình như vô tình nhớ tới thì ghi nhật ký vậy thôi, không có gì quan trọng.

Trong cuốn "Hồi ức về Nguyễn văn Huyên", nói về Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, tác giả Kim Hạnh ghi: "Bác Tước là cháu nội cụ Nghè Dương Khuê, chúng tôi thường gọi là bác Cả Tước, không thể ví với người đã đậu Tiến sĩ Văn chương Đại học Sorbonne, Bộ trưởng Giáo Dục 30 năm. Năm 1954, bác di cư vào trong Nam, làm chủ sự Ban Âm nhạc Đài Phát thanh Sài Gòn, cả đời sống thanh bạch và rất lương thiện".

Rất rõ, như vậy người quen biết Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là "bà chị" Vi Kim Ngọc, vợ ông Nguyễn Văn Huyên, chứ không phải "bà em" Vi Kim Phú, vợ của Bác sĩ Hồ Đắc Di. Bây giờ chúng ta thử xem xét về vị Nhạc sĩ tác giả Đêm Tàn Bến Ngự, Ơn Nghĩa Sinh Thành..., nhất là bản Ngọc Lan được ông sáng tác với nhiều kỷ niệm. Ông thường giải thích với các ca sĩ là hai chữ Ngọc Lan viết hoa, nhưng ít người hiểu, đa số đều nghĩ rằng ông ca ngợi loài hoa ngọc lan.
Tiểu sử Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước
Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1915-1995) quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là một quận của Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình Nho học truyền thống, ông là cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học tỉnh Nam Định, tác giả bài hát nói "Hồng Hồng Tuyết Tuyết" danh tiếng, đến nay các nghệ sĩ hát ả đào vẫn còn sử dụng. Và ông cũng là bác ruột của Nhạc sĩ Dương Thụ hiện nay.

Thuở nhỏ ông học tại Hà Nội. Trong thập niên 1930, ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa Lưu ly) gồm Thẩm Oánh, Lê Yên, Vũ Khánh... Dương Thiệu Tước cũng là người có sáng kiến soạn "nhạc Tây theo điệu ta". Những nhạc phẩm đầu tay của ông thường viết bằng tiếng Pháp. Mặc dầu theo học nhạc Tây, nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm tinh thần dân tộc. Trong một tác phẩm viết tay, ông ngỏ ý: "Theo tôi, tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền".

Ông di cư vào Nam năm 1954. Tại Sài Gòn, ông làm chủ sự Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh Sài Gòn, đồng thời được mời làm giáo sư dạy Tây Ban Cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Sau năm 1975, nhạc của ông bị cấm và ông cũng không được dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc nữa.

Vợ chính thất cũng là vợ đầu của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái đang sống tại Đức và Hoa Kỳ. Vợ sau của ông là bà Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng thập niên 1950, có con riêng là ca sĩ Quỳnh Giao. Đầu thập niên 1980, ông về chung sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh, có một con với bà này và được bà chăm sóc chu đáo.

Ông mất ngày 01 tháng 08 năm 1995 tại Sài Gòn. Gần đây, sau thời kỳ đổi mới, nhạc của ông đã được lưu hành lại trên khắp nước Việt Nam và ông rất được ca ngợi.

Các sáng tác nổi tiếng của ông gồm: Áng Mây Chiều, Bến Xuân Xanh, Bóng Chiều Xưa, Cánh Bằng Lướt Gió, Chiều (phổ thơ Hồ Dzếnh), Đêm Tàn Bến Ngự, Kiếp Hoa, Ngọc Lan, Ôi Quê Xưa, Ơn Nghĩa Sinh Thành, Thuyền Mơ, Tiếng Xưa, Ước Hẹn Chiều Thu.

Mối tình đầu

Năm đó là đầu thập niên 1930, ở tỉnh lỵ Hưng Yên, chàng 18 tuổi và nàng 17 tuổi. Chàng là con cụ Thương tá Dương Tự Nhu, sau này lên Bố chánh (coi về hành chánh; còn tổng đốc thì trông coi toàn bộ, cả dân sinh, an ninh lẫn các quan lại trong tỉnh; Bố chánh tương đương với phó tỉnh trưởng hành chánh - ĐD), và nàng là con cụ Tổng đốc Vi Văn Định. Tư dinh hai nhà gần nhau, phía trước là một chiếc hồ rộng lớn, ngăn đôi bởi một con đường nhỏ, hai bên hồ thông nhau bằng một con lạch, có một chiếc cầu gỗ vồng cao lên bắc ngang qua, sơn màu đỏ. Quang cảnh rất tĩnh mịch, rất nên thơ, nhất là khi có ánh trăng êm dịu tỏa xuống.

Chiếc cầu đỏ trên hồ là nơi trẻ con vui chơi, câu cá khi bãi trường. Chàng học ở Hà Nội. Nàng học tại tỉnh nhà. Hai dinh thự gần nhau, mỗi lần chàng về, họ gặp nhau. Nàng đang tuổi dậy thì, cực kỳ xinh đẹp, còn chàng thì khôi ngô tuấn tú, đang học trung học, cháu nội của cụ nghè Dương Khuê, sử dụng được 7 loại nhạc cụ kể cả nhạc "Tây" lẫn nhạc "ta", trong đó thông thạo nhất là Tây Ban Cầm (Guitare) và Hạ Uy Di Cầm (Guitare Hawaienne), lại hát rất hay, có tiếng ở Hà Nội.

Việc gì xảy ra là phải xảy ra, chàng và nàng yêu nhau thắm thiết với sự trong trắng và bồng bột của mối tình đầu. Họ Vi biết rõ cậu cả cháu nội cụ Dương Khuê này, gia đình quan Bố chánh Dương Tự Nhu bèn đem trầu cau sang đính ước.

Nhưng mối tình trong sáng đó có những đám mây đen kéo tới. Nhà gái dần dần biết Dương học Tú tài chỉ là phụ mà việc Dương ưa thích nhất là học âm nhạc tại trường Ecole Francaise de Musique en Extrême Orient tại Hà Nội, cùng với Nguyễn Xuân Khoát. Khoát chuyên về Dương cầm, còn Dương chuyên về Tây Ban Cầm. Đồng thời, bà mẹ vợ tương lai với trực giác nhạy cảm của phụ nữ cũng nhận ra nguy cơ cho con gái: anh chàng này đẹp trai quá, đàn hát lại hay, sẽ là một tai họa cho con mình.

Trong khi đó, trường Ecole Francaise de Musique en Extrême Orient sau ba năm hoạt động phải đóng cửa vì kinh tế khủng hoảng, Dương lâm vào cảnh dang dở. Phía bên nhà gái có những bà đã bắt đầu chê bai: "Cậu Tước mặt mày sáng rỡ, đẹp trai như Phan An Tống Ngọc mà chỉ có bằng Diplôme, thi rớt Tú tài".

Rồi họ Vi chuyển từ Hưng Yên sang làm Tổng đốc Thái Bình. Xa mặt cách lòng, đúng lúc ấy thì "nghè Huyên" có sự gặp gỡ. Và rồi, ngày 14-02-1936 nàng lên xe hoa về nhà chồng. Lúc ấy nàng 20 tuổi còn chàng 21 tuổi.

Chàng buồn, bèn đem tâm hồn mình viết thành bản nhạc "Ngọc Lan" bất hủ (xin nhắc lại: nàng tên Vi Kim Ngọc): Ngọc Lan, dòng suối tơ vương, mắt thu hồ dịu ánh vàng. Ngọc Lan, nhành liễu nghiêng nghiêng, tà mấy cánh phong, nắng thơm ngoài song... Nhưng mãi tới năm 1953 bản nhạc này mới được xuất bản và phổ biến rộng rãi với giọng ca Thái Thanh tại Hà Nội.

Nói tóm lại, chàng sinh năm 1915, yêu nhau năm 1934, tan vỡ năm 1935, nhìn người yêu đi lấy chồng năm 1936, lúc ấy chàng 21 tuổi. Còn nàng, sinh năm 1916 (kém chàng 1 tuổi), yêu nhau năm 17 tuổi và lấy chồng năm 20 tuổi.

Suy cho cùng, hôn nhân có lẽ là do duyên số nhưng một người tính tình nghệ sĩ, không coi trọng bằng cấp như Dương Thiệu Tước, giả sử nếu lọt vào làm rể gia đình ông Vi Văn Định thì cũng khó sống. Ông là người Nùng, con trai của quan Tri châu Vi Văn Lý. Đối với người dân tộc thiểu số, quan Tri châu cũng giống như "ông vua" ở vùng thượng du. Họ kính trọng ngài và tuân lời ngài răm rắp chứ không cần biết Toàn quyền Pháp hay triều đình Huế là ai cả. Ngoài ra, chức vị này có tính cha truyền con nối. Khi Vi Văn Lý qua đời, Vi Văn Định nối nghiệp và được Pháp chuẩn y cho giữ chức Tri châu. Nhưng Vi là "ông trời con", dân chúng người Tày, người Nùng cả vùng Cao Bằng, Lạng Sơn vừa sợ vừa coi ngài như ông thần. Ngài lập rất nhiều chiến công cho... thực dân Pháp: dẹp giặc nổi loạn, đánh giết nghĩa quân yêu nước chống Pháp... Công lao và uy tín mỗi ngày một lớn, người Pháp sợ nếu cứ để như thế, e rằng ngài sẽ xưng hùng xưng bá, chiếm riêng cho mình vùng thượng du hiểm trở để lập triều đình theo kiểu Nùng Trí Cao ngày trước thì rất nguy hiểm. Bởi vậy họ "điệu hổ ly sơn", thăng chức cho ngài, đưa ngài về làm tổng đốc các tỉnh đồng bằng để ngăn ngừa hậu hoạ. Bây giờ chúng ta thử xem sau khi về dưới xuôi, ngài vẫn "hét ra lửa" như thế nào và lý do tại sao sau khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945, các ông Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu v.v... đều bị giết chết, còn ngài, một tên đại Việt gian, đại tàn ác như thế mà vẫn tồn tại mãi đến năm 1975, khi ngài 96 tuổi (ngài sinh năm 1879, mất cùng năm với ông con rể lớn Nguyễn Văn Huyên).
Cụ Đặng Hữu Thụ, nguyên Chánh thẩm Tòa Thượng thẩm Sài Gòn trước năm 1975, hiện định cư tại Pháp, quê ở làng Hành Thiện, Nam Định, kể:

"Vi Văn Định là người Nùng, làm Tổng đốc Hưng Yên, sau đó làm Tổng đốc Thái Bình, nổi tiếng hống hách nên dân chúng rất sợ. Vi bắt quan lại dưới quyền phải cởi giày để ở ngoài văn phòng mỗi khi vào ra mắt Vi, phạt chánh tổng, lý trưởng phải ăn bèo tây (bèo lục bình) khi Vi ra lệnh vớt mà sai thời hạn hoặc vớt không hết, vẫn còn sót lại ở các sông ngòi (bèo lục bình phát triển rất mạnh, nhất là về mùa hè, phải vớt kẻo tắc sông ngòi - ĐD). Vi cấm các hàng rong từ 12:30 đến 14:30 là giờ của Vi ngủ trưa, không được rao hàng khi quẩy gánh hàng qua dinh Vi. Có một anh hàng phở gánh, quên mất luật lệ, khi đi qua dinh, rao lớn, bị Vi ra lệnh cho lính bắt vào, nện cho một trận rồi bắt phải gánh gánh phở đi vòng chung quanh sân dinh, rao từ trưa đến tối mới cho về.

Vi có người con trai là Vi Văn Lê, đang học Luật tại Pháp, là bạn của ông Nguyễn Thế Truyền, đảng viên đảng Việt Nam Độc Lập do ông Tạ Thu Thâu lãnh đạo. Năm 1929, Lê gia nhập đảng Việt Nam Độc Lập. Cây đắng mà sinh trái ngọt chăng?
Khi Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu hưu trí, Vi Văn Định đổi qua thay thế, trong dân gian truyền tụng câu: "Hoàng trùng đi, Vi trùng lại. Suy đi xét lại, Vi hại hơn Hoàng". Hoàng trùng ám chỉ Hoàng Trọng Phu, Vi trùng ám chỉ Vi Văn Định. Hoàng Trọng Phu là con trai Tổng đốc Hoàng Cao Khải và là con rể Tổng đốc Đỗ Hữu Phương ở Nam Kỳ, toàn những tay sai khét tiếng của Pháp cả, nhưng "Vi hại hơn Hoàng" thì chúng ta đủ hiểu Tổng đốc Vi Văn Định đáng sợ như thế nào".

Khi việc cướp chính quyền xảy ra năm 1945, Vi bị Việt Minh bắt nhưng ông Hồ chẳng những không giết mà còn cho tạm lánh trong một biệt thự ở Hà Nội, đãi ngộ như thượng khách chỉ vì Vi là một "ông vua Nùng" mà ông Hồ và đảng của ông vẫn còn cần đến. Cũng có người cho rằng sở dĩ ông Hồ tha chết cho Vi, vì Vi là nhạc phụ của hai nhà đại khoa bảng đang phục vụ trong chính phủ Việt Minh là Bác sĩ Hồ Đắc Di (được Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux phong giáo sư) và Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên. Ngoài ra, Vi còn là ông nội của tiểu thư Vi Nguyệt Hồ, vợ của Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Y tế VM nữa. Bác sĩ Tôn Thất Tùng tốt nghiệp Y khoa tại Pháp, rất nổi tiếng về môn giải phẫu tim và gan.

Những mối tình sau

- Bà Lương Thị Thuần: Sau khi mối tình đầu tan vỡ, Dương rất buồn. Rồi phụ thân Dương Tự Nhu cũng mất sớm, gia đình có bề sa sút. Sau khi hết tang và Dương cũng tạm có công ăn việc làm tại Hà Nội (điều khiển ban nhạc trong các tiệm khiêu vũ và cộng tác với Đài Pháp Á cùng Nguyễn Xuân Khoát), gia đình bèn cưới cho ông người vợ chính thức là bà Lương Thị Thuần, nhưng người ta ít biết về bà này và cũng không hiểu nguyên nhân của sự ly tán. Hiện nay các con của bà đang sống tại Đức và Hoa Kỳ.

- Bà Minh Trang: Tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Trâm, sinh năm 1921 (kém Dương 6 tuổi) tại Huế. Thân phụ bà là ông Nguyễn Hy, một công chức cao cấp trong Bộ Lại (tương đương với Bộ Nội vụ) của triều đình Huế. Thân mẫu bà là con gái của công chúa Mỹ Lương (thường gọi là Bà Chúa Nhứt), chị cả của Vua Thành Thái.

Trong nhà Bà Chúa Nhứt có riêng một ban nhạc (loại nhạc cung đình) tới mấy chục người và một ban ca Huế. Vì thân phụ thường phải đi công cán xa trong thời gian lâu, có khi đem cả gia đình đi theo nên cô bé Ngọc Trâm thường ở nhà bà ngoại. Nhờ vậy, ảnh hưởng của ca nhạc đã thấm sâu vào tâm hồn cô bé từ thời thơ ấu. Mới bảy tuôåi cô đã thuộc lòng những đoạn ca Huế trong các tiết điệu Nam Ai, Nam Bình, Kim Tiền, Lưu Thủy...

Tuy thân phụ là người Quảng Ngãi nhưng thân mẫu là người Huế, dòng dõi hoàng tộc, nên "tính chất Huế " và "giọng nói Huế" hoàn toàn chiếm hữu con người cô bé Ngọc Trâm. (Chúng ta nên nhớ Dương Thiệu Tước là người Bắc nhưng nhiều tác phẩm của ông, như bản Đêm Tàn Bến Ngự chẳng hạn, mang đặc tính chất Huế thì đủ hiểu ông yêu "người vợ Huế" đó như thế nào).

Thuở nhỏ, Ngọc Trâm theo học tại trường Jeanne d' Arc, một trường dòng danh tiếng ở Huế và bắt đầu làm quen với những phím đàn dương cầm do các sơ dạy đồng thời cũng học hát nữa. Lên trung học, cô theo gia đình ra Hà Nội. Vào khoảng năm 1941, thân phụ trở về nhậm chức tại Bộ Lại ở Huế, cô lại theo về Huế và học tại Lycée Khải Định (sau này, từ thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, đổi tên là trường Quốc học Huế).

Tại Lycée Khải Định, cô gặp Giáo sư Ưng Quả - thầy dạy môn Văn chương Việt Nam và cũng là người dạy tiếng Việt cho Thái tử Bảo Long. Hai thầy trò tâm đầu ý hợp. Mặc dầu Giáo sư Ưng Quả là người góa vợ, đã có hai con trai, nhưng hai gia đình rất môn đăng hộ đối: cha của Giáo sư Ưng Quả là con trai của Tuy Lý Vương; cha của Ngọc Trâm là con của Diên Lộc Quận công. Hai bên tiến tới hôn nhân và sinh được hai người con, một trai, một gái. Người con trai tên Bửu Minh (vai chú của Vua Bảo Đại) người con gái tên Công tằng Tôn nữ Đoan Trang (tức ca sĩ Quỳnh Giao sau này). Bà Ngọc Trâm dùng tên hai người con ghép lại làm tên trong ngành âm nhạc của mình.

Năm 1951, Giáo sư Ưng Quả đang làm Giám đốc Nha Học chánh Trung Phần thì đột nhiên bị bệnh, qua đời. Bà Minh Trang đem hai con vào Sài Gòn sinh sống và kiếm được chân vừa làm xướng ngôn viên vừa làm biên tập viên tin tức (tiếng Pháp) trong Đài Pháp Á (France-Asie).

Sự việc sau đó bà Minh Trang trở thành ca sĩ hết sức tình cờ. Trong một chương trình ca nhạc hằng tuần của Nhạc sĩ Đức Quỳnh trên Đài Pháp Á, ca sĩ chính không đến hát được, bắt buộc Minh Trang phải "hát giùm" thế chỗ. Bà chỉ thuộc có mỗi một bản nhạc Đêm Đông của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương là tiếng Việt, còn ngoài ra là thuộc tiếng Pháp (bà rất giỏi tiếng Pháp). Mà chương trình của Đức Quỳnh lại là tiếng Việt, vậy là Minh Trang bèn hát "Đêm Đông".

Nhờ giọng ca thiên phú và cái "duyên" bất ngờ nói trên, dần dần Minh Trang trở thành một ca sĩ chính của Đài Pháp Á (sau này là Đài Phát Thanh Quốc Gia tức Đài Sài Gòn). Từ đấy, Minh Trang còn đi hát phụ diễn trên các sân khấu, một dạng trình diễn rất thịnh hành hồi đó tại các rạp chiếu bóng trước khi cuốn phim chính được trình chiếu.

Tiếng hát của Minh Trang bay ra Hà Nội và được các Nhạc sĩ đương thời ngoài đó, như Vũ Thành, Hoàng Giác, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Thiện Tơ v.v... yêu mến và họ thường gởi tác phẩm vào cho Minh Trang hát mặc dầu chưa biết mặt.

Trong một lần Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí tổ chức hội chợ tại Hà Nội, ông mời Minh Trang và nhiều nghệ sĩ khác ra hát với phần nhạc đệm của Ban Việt Nhạc. Người đứng đầu Ban Việt Nhạc là Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, người mà Minh Trang rất ngưỡng mộ. Họ gặp nhau và tiến tới hôn nhân.

Hai nghệ sĩ Minh Trang-Dương Thiệu Tước kết hôn năm 1951 tại Sài Gòn nhưng vẫn sống cách xa nhau cho đến năm 1954, khi ông Dương Thiệu Tước di cư vào Nam, họ sống với nhau. Họ sinh được năm người con, một trai, bốn gái: Dương Hồng Phong, Vân Quỳnh, Vân Khanh, Vân Hòa, Vân Dung. Cũng như Bửu Minh và Đoan Trang, các con của ông bà đều được theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc với sự dìu dắt của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Sau này, Quỳnh Giao và Vân Quỳnh trở thành ca sĩ. Dương Hồng Phong tốt nghiệp vĩ cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc còn, Bửu Minh thì du học tại Pháp năm 1961 và nay giữ địa vị pianiste chính trong ban đại hòa tấu "Staatsphihlarmonic Rheinland Plalz" của Đức.

Sau biến cố tháng 04-1975, hai cô con gái lớn đã lập gia đình thì theo gia đình nhà chồng ra đi. Ông bà Dương Thiệu Tước và hai cô nhỏ bị kẹt ở lại. Ngoài ra, người con trai duy nhất của ông bà là ông Dương Hồng Phong - được gọi đi sĩ quan Thủ Đức năm 1972 - bị bắt tại mặt trận và cũng đang kẹt trong tù tại Chu Lai. Cùng lúc đó, với số lương 64 đồng/tháng nhưng Giáo sư Dương Thiệu Tước dạy Guitare classique trong trường Âm nhạc-Kịch nghệ (trường QGAN ở đường Nguyễn Du, mới đổi tên) cũng không được dạy nữa, nhạc thì bị cấm, cuộc sống vô cùng khó khăn.

Năm 1978, Thiếu úy Dương Hồng Phong được ra tù, bà nghĩ đến việc phải rời đất nước. Tới chuyến, Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước lúc ấy đang ốm nên không thể đi. Tiền bạc có bao nhiêu thì đặt cọc hết rồi, ông đành hy sinh ở lại.
Bà Minh Trang cùng ba con đến Thái Lan vào cuối năm 1979, sau đó được định cư tại Virginia.
Hiện nay, bà và các con ở Quận Cam, riêng Bửu Minh ở Đức và Dương Hồng Phong ở New York.

Năm nay, bà đã 89 tuổi (bà sinh năm 1921) nhưng tương đối vẫn còn khỏe mạnh. Bà nói: "Tôi thích nghe nhạc và theo dõi tin tức thời sự, không cần nấu nướng gì cả, vì các con ở gần "có bát canh cần nó cũng đem cho".
Năm 1995, khi ông mất, bà và mấy người con - kể cả ca sĩ Quỳnh Giao - có về dự đám tang.

- Bà Nguyễn Thị Nga

Năm 1982, trong một cuộc nói chuyện về âm nhạc ở Sài Gòn, ông Dương Thiệu Tước gặp lại bà Nguyễn Thị Nga, một học viên cũ tại trường QGAN ngày trước, người vẫn hâm mộ và thầm yêu "thầy". Nay bà Nga đã có một cơ sở buôn bán rất tốt về các sản phẩm âm nhạc nhưng vẫn còn độc thân. Ông về sống với bà và có với nhau được một con trai.

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước mất ngày 01 tháng 08 năm 1995, tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi. Các tác phẩm của ông vẫn còn tồn tại và sẽ mãi mãi bất hủ với thời gian, trong đó có bản Ngọc Lan.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

50 năm nhìn lại tình ca của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng

Chương trình nhạc thính phòng 50 năm nhìn lại của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng được tổ chức vào chiều Chủ Nhật 28/08/2011 tại hội trường Embassy Suites Portland Airport với trên 600 khán giả từ nhiều nơi về tham dự. Nhạc thính phòng Từ Công Phụng với những ca khúc nỗi tiếng từ thập niên 60 đến hôm nay được nhiều giọng ca chuyên nghiệp như Trần Thu Hà, Y Phương, Anh Tuấn và một số Ca Sĩ địa phương Ngọc Hoa, Đăng Tú, Hồng Hạnh và Hoàng An, trình diễn rất tuyệt vời, đã được nhiều tràng pháo tay tán thưởng của thính giả hâm mộ.

Trong chiều nhạc tình ca Từ Công Phụng có nhiều bằng hữu từ phương xa đến như Nhạc Sĩ Đăng Khánh, Bà Phương Hoa Giám Đốc đài phát thanh VOVN,TX, Nhạc Sĩ Nguyên Bích và phu nhân đến từ Houston Texas, Thi Sĩ Du Tử Lê, Nữ Sĩ Bích Huyền từ California, Vũ Hoàng RFA Washington DC. Đặc phái viên báo Người Việt California Nguyễn Đức Tuấn, Võ Thành Đông Chủ Nhiệm Tuần Báo Phương Đông Times và một số thân hữu từ Seattle, Wa .v.v. Ngoài ra còn có nhiều cơ quan báo chí, truyển hình địa phương tham dự. Buổi nhạc tình ca TCP khá hấp dẫn đã lôi cuốn nhiều người tham dự, cho nên có một số khách đến muộn không còn ghế ngồi.

Trong những sáng tác thành danh trước đây của NS Từ Công Phụng như “Bây Giờ Tháng Mấy” hay “Tình Tự Mùa Xuân” “Kiếp Dã Tràng” “Giọt Lệ Cho Ngàn Sau”.vv. đã được Ca Sĩ Trần Thu Hà luyến láy với chất giọng mượt mà đã cho mọi người thưởng thức một đêm tình ca trọn vẹn. Y Phương với “Tuổi Xa Người” Mùa Thu Mây Ngàn” “Mắt Lệ Cho Người” với phong cách trình diễn mới lạ gây nhiều chú ý và mến mộ của nhiều người. Nhất là trong ca khúc mới nhất của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng “Mắt Em Buồn” phổ từ thơ Linh Vũ, đã làm nhiều người như bất ngờ rơi vào vùng trời tuyệt đẹp chỉ có tình yêu và kỷ niệm. Với giọng ca tuyệt vời của Y Phương, với sự thương mến của khán giả, Y Phương thật sự xứng đáng là một ngôi sao sáng trong vòm trời âm nhạc VN hiện nay.

Chương nhạc thính phòng 50 năm một lần nhìn lại tình ca Từ Công Phụng được nhiều người hoan nghênh nhiệt liệt. Để chào đón và nói lời cám ơn khán giả sau ngày hồi phục sức khỏe, Nhạc Sĩ Từ Công Phụng đã trình diễn liên tiếp nhiều ca khúc mới cũ của ông với giọng trầm ấm đã được nhiều tràng pháo tay tán thưởng nồng nhiệt.

Một đêm nhạc thính phòng ở thành phố Hoa Hồng thật vui tươi, đầy ý nghĩa, những ca khúc tuyệt vời đã để lại trong lòng mọi người khi ra về một chút gì nhớ thương bên kia trời kỷ niệm.
Hình ảnh 50 năm nhìn lại tình ca của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
Nguồn: Cali Today
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Đêm nhạc thính phòng Trần Duy Đức và bằng hữu

Băng Huyền/Viễn Đông

Image
Nhạc sĩ Trần Duy Đức cùng phu nhân Nguyệt Hạnh (đứng cạnh) và các ca, nhạc sĩ
trong đêm nhạc gửi lời tạ ơn khán giả và bằng hữu của ông - ảnh: Băng Huyền/Viễn Đông

“Đêm nhạc thính phòng Trần Duy Đức và bằng hữu”. Đêm của giao hòa và đồng điệu giữa cõi nhạc - cõi thơ, của nghệ sĩ và khách tri âm, của những miền miên man, sâu lắng. Vừa thâm trầm, nhẹ nhàng mà siêu thực. Vừa gợi nhớ xa xôi của những hoài niệm một thời.

Là đêm của nỗi buồn trong cõi nhạc Trần Duy Đức - cứa vào tim người nghe như muôn lời nói giản dị. Nhưng sức lay động, lan tỏa đến thổn thức, tha thiết khôn cùng.

Đêm kỷ niệm 27 năm ngày cưới của đôi uyên ương Trần Duy Đức - Nguyệt Hạnh - bản tình ca ngọt ngào yêu thương trong sự chúc phúc của nhiều người.

Đã có một “Đêm nhạc thính phòng Trần Duy Đức và bằng hữu” thân mật, cảm động và tuyệt vời như thế, vào tối Chủ Nhật, ngày 28-8-2011 tuần qua, tại nhà hàng Emerald Bay, do Hội Ái Hữu Phố Núi Pleiku tổ chức. Mà theo lời chị Phạm Thu Đào, “Bởi nợ duyên gì, mà Hội Ái Hữu Phố Núi Pleiku tổ chức và bảo trợ đêm nhạc cho anh Duy Đức, là vì anh Đức là người Pleiku năm cũ, anh cũng từng trú đóng tại Sư Đoàn 6 Không Quân Pleiku [Anh phục vụ tại Không Đoàn 60 Bảo Trì và Tiếp Liệu thuộc Sư Đoàn 6 Không Quân (SD6KQ) đồn trú trong phi trường Cù Hanh, Pleiku, trong thời điểm từ 1971 cho đến ngày tàn chiến cuộc, đã trải qua những tháng năm trong lao tù cộng sản]. Hơn nữa, chúng tôi có cùng chung cảm nhận với quý vị. ‘Nếu có yêu tôi’ [nhạc khúc cùng tên được Trần Duy Đức phổ thơ của Ngô Tịnh Yên], thì hãy yêu thương ngay bây giờ, đừng để ngày mai, ôi muộn màng làm sao…”.

* Tiếng lòng của Trần Duy Đức, và cõi tương phùng giữa nhạc hòa thơ

Hơn 2 giờ đồng hồ, 24 ca khúc, cùng những giọng hát giàu cảm xúc của Khánh Ly, Vũ Thành An, Như Mai, Ninh Cát Loan Châu, Hương Thơ, Anh Dũng, Trần Thái Hòa, 3 MC Phan Dụy, Như Hảo, Việt Dzũng, ban nhạc Lê Ngọc đảm trách (Guitar: Lê Ngọc, keyboard: Trúc Sinh, bass: Minh Kiệt, drums: Huỳnh Doanh), đã thay nhạc sĩ Trần Duy Đức và phu nhân Nguyệt Hạnh, gửi lời tri ân chân thành, ngọt ngào trước sự hiện diện của hơn 300 đồng hương Pleiku, khán giả, thân hữu, văn nhân, thi hữu nổi tiếng trong vùng trong đêm nhạc.

Ngoài những sáng tác của bạn hữu Trần Duy Đức, được nhạc sĩ đưa vào đêm nhạc như “Cung chiều” (Hoàng Khai Nhan và Đắc Trung - do Hương Thơ hát), “Em yêu dấu” (Hoàng Khai Nhan - Hương Thơ ca), “Đời đá vàng” (Vũ Thành An, do chính Vũ Thành An thể hiện)…

Ca khúc “Khúc mưa sầu” - một sáng tác với cả phần nhạc và phần lời của Trần Duy Đức (vào năm 1972 tại Pleiku), đẹp và buồn đến nao lòng người nghe, từng được ví như một “khúc cổ cầm”. “Anh đã ngủ yên trên quê hương” [“Trần Duy Đức sáng tác vào năm 1976, sau khi được thả ra từ trại tù cải tạo, ông quá giang xe lam về đến Biên Hòa thì xe bị chết máy đang lúc trời vừa đổ mưa. Ông vô trú mưa trong nghĩa trang quân đội Biên Hòa… và ông đã khóc khi nhìn thấy tượng lính “Thương Tiếc” bị giựt sập, nằm dưới đất].

Thì hầu hết những ca khúc trong chương trình đều được Trần Duy Đức thăng hoa cảm tác khi ông lạc vào cõi thơ của Du Tử Lê, Phạm Vũ, Nguyễn Nam An, Nguyễn Dũng Tiến, Hà Nguyên Du, Thơ Giang, Cẩm Vân, Ngô Tịnh Yên… những vần thơ triết lý, giàu hình tượng, nhạc điệu đã đồng cảm với nỗi niềm của nhạc sĩ Trần Duy Đức, đã tạo cảm hứng sáng tác cho những giai điệu nhiều thổn thức, rất riêng của Trần Duy Đức.

Giai điệu âm nhạc của Trần Duy Đức khi thì chậm buồn, vang vọng, lúc thật da diết, dần buông chút bâng khuâng lay lắt hồn người của âm điệu huyền ảo, lắng đọng trong “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời” (thơ Du Tử Lê - Hương Thơ hát), “Santa Ana bài gửi lại” (thơ Nguyễn Nam An - Trần Thái Hòa ca), “Trong tay thánh nữ có đời tôi” (Thơ Du Tử Lê - Ninh Cát Loan Châu thể hiện), “Em có về như những cơn mưa” (Thơ: Hà Nguyên Du - Như Mai hát), “Em hiểu vì đâu chim gọi nhau” (Thơ: Du Tử Lê, Anh Dũng ca)….

Với khúc nhạc gieo vần mới lạ trong “Hoa ơi có biết lòng ta nhớ người” (thơ Nguyễn Dũng Tiến - Ninh Cát Loan Châu hát):

Đêm trăng trong, lòng nhớ mong
Lanh quanh tình cũ long đong muộn phiền
Hương hoa ngâu, người ở đâu?
Em khoan trở giấc bể dâu ngậm ngùi
Ôm đóa quỳnh, buồn một mình
Lơi lơi hơi thở chùng chình trái tim
Người dẫu xa, tình thiết tha
Hoa ơi có biết lòng ta nhớ người

Giai điệu chất chứa nỗi niềm khắc khoải, day dứt, xót xa, với “Anh đã ngủ yên trên quê hương” (nhạc và lời: Trần Duy Đức, Anh Dũng hát), “Cố quận” (Thơ Phạm Vũ, Anh Dũng thể hiện)…

Những hoài niệm rạo rực màu yêu, đủ sức thắp lên ngọn lửa ấm lòng người, dành tặng cho người bạn đời Nguyệt Hạnh trước ngày cưới với “Khi bắt đầu của những năm 30” (thơ Du Tử Lê, nhạc Trần Duy Đức - Trần Thái Hòa hát), là tình yêu mãnh liệt và mênh mông như đại dương, như miên man dâng trào chưa từng mỏi mệt.

Và không gì chính xác hơn để cảm nhận sự hòa điệu ngọt ngào của cõi thơ các thi sĩ vào cõi nhạc Trần Duy Đức, khi mọi người cùng lắng lòng nghe nhạc và đọc những dòng nhận xét của nhà thơ Du Từ Lê. Là người bạn tri kỷ của nhạc sĩ Trần Duy Đức, cũng là tác giả có rất nhiều bài thơ được Trần Duy Đức cảm tác thành nhạc, trích đăng trong tuyển tập “50 tình khúc Trần Duy Đức”, đã viết: “… Với tôi, Trần Duy Đức là một trong rất ít nhạc sĩ, ăn ở được với thơ. Đầy đặn, thủy chung. Hơn thế, anh còn cho thấy tấm lòng trân trọng của anh với thi ca. Qua nỗ lực giữ lại nguyên văn từng chữ của bài thơ. Điều không phải nhạc sĩ nào cũng có thể làm được. Tôi trân trọng cõi giới âm nhạc của Trần Duy Đức, vì thế…”. Không chỉ thi sĩ, mà ca sĩ, khán giả càng trân trọng Trần Duy Đức thêm, bởi tài hoa ông “gắn nốt nhạc cho những vần thơ” khi hát lên không bị vỡ nhòa câu chữ.
Image
Khán giả thăng hoa cùng ca sĩ trong đêm nhạc Trần Duy Đức - ảnh: Băng Huyền/Viễn Đông

* Lay động lòng người với những tiếng hát

Ngoài ca sĩ Hương Thơ thể hiện ca khúc chưa hoàn hảo, còn lại những ca sĩ Khánh Ly, Như Mai, Anh Dũng, Trần Thái Hòa, Ninh Cát Loan Châu… đã chuyên chở thật trọn vẹn những thổn thức của cõi nhạc Trần Duy Đức đến với mọi người, dẫu chính các ca sĩ cũng chia sẻ những khó khăn khi thể hiện ca khúc của Trần Duy Đức, bởi ca từ được phổ nhạc quá triết lý, khó hiểu, khó nhớ, giai điệu rất khó hát… và nhiều người phải vượt qua những hồi hộp, bởi lần đầu thể hiện ca khúc này. Nhưng không phụ lòng tin, yêu của nhạc sĩ, họ đã làm tròn vai trò của mình thật tuyệt vời, dẫn dắt người nghe về với biết bao kỷ niệm của những ngày tháng cũ, với tiếng hát nồng ấm, tràn đầy tình yêu.

Đan xen giữa các tiếng hát là những lời dẫn dắt duyên dáng, sâu sắc của MC Phan Dụy, Như Hảo, Việt Dzũng, về người nhạc sĩ Trần Duy Đức, về những mối lương duyên gắn kết với các bài thơ của các thi sĩ, mối tình nhiều cảm xúc của vợ chồng Trần Duy Đức và Nguyệt Hạnh, lời tâm tình dí dỏm của ca sĩ Khánh Ly, lời chia sẻ của nhạc sĩ Vũ Thành An, lời tâm sự của ca sĩ Lê Uyên kể về kỷ niệm khi Trần Duy Đức vừa viết xong ca khúc “Nhớ Lại Trong Đêm Nay” năm 1987, chị đã hát vài câu trong bản nhạc tặng mọi người không cần nhạc đệm... và lời cảm tạ mộc mạc của đôi uyên ương Trần Duy Đức - Nguyệt Hạnh với bằng hữu, khán giả.
Image
Tuyển tập nhạc của Trần Duy Đức “Nếu có yêu tôi” - ảnh: Băng Huyền/Viễn Đông
* Tuyển tập nhạc “Nếu có yêu tôi”

Khép lại những giai điệu lãng đãng như những khúc tâm tình của Trần Duy Đức đến với khách tri âm, ca sĩ Khánh Ly qua ca khúc “Nếu có yêu tôi” (thơ Ngô Tịnh Yên, nhạc Trần Duy Đức) đã đong đầy cảm xúc trong tim người nghe và các bằng hữu trong đêm nhạc.

Nếu có yêu tôi. Thì hãy yêu tôi bây giờ / Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời… / Cát bụi làm sao mà biết lụy người…. Rộn ràng một nỗi đau. Nghẹn ngào một nỗi vui. Dịu dàng một nỗi đau / Ngậm ngùi một nỗi vui…”.

Nếu có yêu tôi - câu hỏi ấy chảy dài như vô tận cho đến khi nào “người yêu” biết đến mới thôi, như một chân lý sống ở đời, là ca khúc đã được hát nhiều nhất trong những buổi gây quỹ từ thiện, là ca khúc quen thuộc với khán giả hải ngoại, Việt Nam, gắn liền thành công với nhiều ca sĩ: Khánh Ly, Thế Sơn, Khánh Hà, Elvis Phương...

“Nếu có yêu tôi” cũng là tên gọi của tuyển tập 50 tình khúc Trần Duy Đức. Tuyển tập hiện bán với giá 20 Mỹ kim cho ấn phí (ngoài Hoa Kỳ, xin thêm 3 Mỹ kim cho cước phí hạng nhất) và tập nhạc có kèm theo CD nhạc 15 tình khúc chọn lọc của Trần Duy Đức, trong đó hát bởi những giọng ca nổi tiếng như Khánh Ly, Lệ Thu, Lê Uyên, Trần Thái Hòa, Ý Lan, Như Mai, Anh Ngọc, Ngọc Lan và một bản không lời do Duy Cường hòa âm.

Quý vị nào muốn lưu giữ tuyển tập giá trị này, và đã quý yêu dòng nhạc Trần Duy Đức, xin đừng đợi ngày mai, mà hãy liên lạc ngay với Lê Nguyệt Hạnh, 5105 W. Roberts Dr., Santa Ana, CA 92704. Địa chỉ email: hanhle20@yahoo.com, để ủng hộ cho tuyển tập nhạc nhiều tâm sức của hơn 40 năm sáng tác của nhạc sĩ Trần Duy Đức - người nhạc sĩ sống như thế. Yêu như thế. Viết như thế và chăm chút âm nhạc như thế, quả rất ít người! -

Băng Huyền/Viễn Đông
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

DƯA HƯỜNG NẤU CANH

TRẦN VĂN CHI

Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh

(Ca dao)

Ước mong của các bà mẹ Việt Nam đơn sơ làm sao! Dễ thương làm sao!

Hạnh phúc đối với những bà mẹ xưa nay rất ư là bình thường như vậy. Và không ai nghĩ mẹ chúng ta cường điệu chỉ mong "gả thiếp về vườn" để chỉ được ăn món "dưa hường nấu canh".

Bông bí ở đây là bông bí rợ hay còn gọi là bí đỏ. Trái bí rợ to, tròn hơi dẹt hai đầu và có nhiều muối cạn. Bông bí màu vàng sậm, khi nở to bằng cái chén ăn cơm. Bông bí đực, không cho trái, được dùng luộc chấm cá kho ăn với cơm ngon khó tả. Ăn mới biết.

Canh dưa hường có thiệt ngon không? Dưa hường là dưa gì vậy?

Người mình nói đến "dưa cà" là nói đến cái gì đơn sơ và đạm bạc, thể hiện lô ăn lối sống của con người miệt quê, miệt vườn. Canh dưa hường có mặt trong ca dao cho thấy đây là loại canh có lâu đời ở xứ mình rồi.

Dưa là "trái sanh ở các loại dây leo, ăn được". Dưa xứ mình không có nhiều loại, chỉ thấy vài thứ quen ăn xưa nay ai cũng biết như dưa leo, dưa chuột, dưa gan, dưa hấu...

Dưa hường không phải là tên của một loại dưa riêng, dưa hường là trái dưa hấu chưa già, được người nhà vườn hái bỏ bớt để dưỡng cho các trái còn lại lớn hơn, ngọt hơn.

Để biết thế nào là dưa hường, mời bạn làm một chuyến đi thăm nơi trồng dưa hấu nổi tiếng miền Lục Tỉnh. Dưa hấu ở quê mình xưa rất hiếm vì kén đất, không chịu mưa nên chỉ có trong mùa Tết. Dưa hấu chịu đất vườn, đất giồng, đất cao, không chịu nước, ưa thời tiết nóng và khô. Nhà vườn theo kinh nghhiệm dọn đất bỏ hột dưa hấu vào độ tháng tám, tháng chín ta; tính sao cho dưa có trái thì trời cũng hết mưa, tránh cho dưa khỏi bị thúi trái. Năm nào mưa muộn, dưa hấu bị thất mùa.

Ở miền Nam có hai nơi nổi tiếng dưa hấu là Cầu Cổ Cò và Gò Công:

Cầu Cổ Cò nằm ở An Hữu thuộc quận Cái Bè nay thuộc tỉnh Tiền Giang, giáp hạt Bắc Mỹ Thuận. Nghe nói cái cầu này xây giống như cổ cò nên người ở đây kêu là Cầu Cổ Cò, kêu mãi thành tên địa danh. Đất vùng này thuộc loại đất gò phù sa có pha chút cát, nước ngọt quanh năm, nên trái dưa hấu Cổ Cò lớn trái, ruột có cát, mùi vị thơm-ngọt-giòn và để lâu không bị xốp trong ruột.

Về thăm Cổ Cò nghe lại câu hát "dòng An Giang ai qua vẫn nhớ.." chắc làm bạn chạnh lòng nhớ đến người nhạc sĩ tài hoa Anh Việt Thu, đứa con của An Hữu!

Dưa hấu Gò Công trồng lại trên đất giồng vên bờ biển Tân Thành, Bến Chùa thuộc vùng đất cát pha ít phù sa, chưa có nước mặn. Dưa hấu Gò Công vỏ xanh đậm, cứng, ruột có nhiều cát hơn dưa Cổ Cò, màu đỏ sậm. Mùi thơm, vị ngọt-mặn độc đáo không nơi nào có. Dưa hấu Gò Công để lâu ra ngoài Tết không bị hư, bị thúi như dưa nơi khác.

Nay nói tới trái dưa hường có nhiều người chưa thấy, chưa từng nghe qua dầu là dân Lục Tỉnh thứ thiệt. Tự Điển Tiếng Việt nhiều cuốn không có chữ dưa hường, phải chăng vì trái dưa là loại trái "phó sản" của trái dưa hấu mà chỉ dân Lục Tỉnh mới biết ăn mà thôi?

Dưa dấu trồng thả cho bò trên mặt đất như khoai lang, mỗi dây nhà vườn chọn giữ lại ba trái từ gốc tính lên để làm dưa nhứt, dưa nhì và dưa ba. Những trái kỳ dư, còn lại phải hái hết, đặt tên là dưa hường: Vừa đỏ vừa trắng.

Dưa hường loại lớn cở cái chén hái vô dùng để ăn chơi như ta ăn dưa hấu rất đã khát, dầu không được ngọt. Mấy bà già xưa ưa ăn cơm với dưa hường chấm với cá kho mặn hoặc tôm rang muối. Ăn chay thì chấm với chao cũng ngon đáo để.

Trái dưa nhỏ hơn, cỡ trái cam, trái quít dùng nấu canh gọi là canh dưa hường, là món canh có tên trong danh mục canh của bếp Việt, mà tới nay nhiều người còn ưa, còn thích.

Dưa hường thường bán ở chợ quê, thỉnh thoảng mới đưa đến tỉnh, nhưng ít khi thấy bán ở Sài Gòn.

Nhà vườn hái dưa hường ra chợ bán trực tiếp (không qua trung gian người bán hàng giồng) gọi là kiếm chút tiền để mua trà bánh, thuốc rê, dầu hôi, đá lửa... Dưa hường bán tính theo mớ, đếm trái và tùy lớn nhỏ mà nói giá rât thân tình, không mang tánh thương mại. Giá cả cũng thả nổi, tùy phiên chợ. "Bán hết, bán rẻ còn về nấu cơm", kiểu tiếp thị chào hàng của mấy bà chợ quê là vậy.

Canh dưa hường nguyên sơ được nấu với tôm. Con tôm phải là tôm đồng, tôm ruộng nước ngọt, chớ không phải tôm biển. Bởi con tôm biển thường có mùi tanh, nấu canh sẽ có mùi "khai khai" như mùi cá đuối không hợp với canh dưa hường, canh rau, canh bầu bí nói chung. Tôm tươi lột bỏ vỏ, mấy bà già còn cẩn thận rút bỏ sợi gân máu trên lưng con tôm.

-Làm "như dầy" mới hết mùi tanh, bà kêu con gái tới coi cách bà làm.

Gặp những con tôm lớn, bà phải dùng mũi dao xẻ lưng con tôm để lấy cho được sợi gân máu. Tôm lột xong để trên thớt lấy lưỡi dao phay dần cho dập thịt, sao con tôm "thấy còn nguyên". Nếu tôm ít, không đủ nồi canh, muốn canh ngọt phải giả tôm cho nhỏ.

Cho tôm vào nồi xào sơ sơ nghe thơm thơm nêm chút nước mắm ngon, chờ cho con tôm thắm đều mới cho nước vào. "Vừa sôi phải vớt bọt, để trể bọt tan làm nước canh không trong", mấy bà mẹ ngày xưa sành ăn, dạy con dạy dâu tỉ mỉ như vậy.

Dưa hường nấu canh phải lựa chớ đâu đơn giản: Trái lớn quá có nhiều vị "ngọt đường", trái nhỏ quá không đủ ngọt và thịt "chai sượng" không phải là loại dưa cho nồi canh ngon. Phải lựa trái "don don" cỡ trái cam, trái quít nhưng không quá già cũng không quá non.

Vậy biết thế nào mà lựa cho đúng?

Lựa dưa hường/dưa hấu theo mấy người xưa là phải nhìn cuốn: Bởi theo kinh nghiệm "dưa già cuốn khô" và "dưa đỏ đít, cà đỏ trôn!"

Dưa hường trước khi gọt vỏ phải rửa sạch và để cho ráo nước. Gọt hết vỏ, xẻ trái dưa làm đôi như xẻ trái cam, sắt từng miếng nhỏ vừa miếng ăn. Tùy trái mà sắt chia hai, chia tư, chia sáu miếng, sao cho miếng dưa nào cũng phải có vỏ có ruột. Mấy ông mấy bà không còn răng có kiểu sắt dưa khác: Sắt thành khoanh mỏng như sắt dưa leo ăn sống.

Cho dưa hường vào nồi nước đang sôi, để lửa cao ngọn một chút chờ nồi canh sôi bùng. Dùng đũa đảo dưa từ dưới lên cho dưa được chín đều. Khác với canh bầu, canh dưa hường phải nấu cho thiệt chín, nếu không dưa bị nhớt và mất mùi dưa hường.

Canh dưa hường nêm với hành hương sắt nhuyễn, chút tiêu, ăn với nước măm trong giằm ớt nhưng không cay quá như canh nấu với cá lóc cá rô. Cơm nóng canh nóng vừa đủ làm cho bạn chảy ít mồ hôi, trong khi bên ngòai trời tháng mười bắt đầu hơi se lạnh, thú vị còn gì bằng!

Sau này canh dưa hường được nấu với thịt heo ba chỉ bằm hay với cá thát lát vò viên. Hoặc dùng mỡ phi tỏi để xào tôm, xào thịt làm tang hương vị canh dưa hường nhưng cũng không đánh mất bản chất của canh dưa hường.

Bông bí luộc là món ăn nhà vườn, hiếm và ngon. Dưa hường nấu canh cũng hiếm nhưng lại còn quí nữa. Bởi trái dưa hường là hiện thân của trái dưa hấu, nên không chỉ là món ăn mà còn là cái gì thân thương, mang hơi hám ngày Tết thiêng liêng của mọi người.

Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

"Dưa hường nấu canh" xem như vậy không chỉ là món ăn ngon, mà canh dưa hường như còn mang trong nó cái gì như hồn quê, hồn người nữa.

Nên đã từ bao lâu rồi các bà mẹ Việt Nam mong được gả con về vườn đâu phải chỉ để được ăn món "dưa hường nấu canh", mà như muốn gởi gắm nỗi niêm gì đó.

Và thế nên "dưa hường nấu canh" mới trở thành món canh dưa ngon ngoại hạng………...
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Image

Thì Thầm Với Mùa Thu.

Trần Trung Đạo

Bên nhà trời đã sang đông nhưng ở đây vẫn còn là mùa thu. Mùa thu năm nay đến chậm và ra đi cũng chậm. Giữa tháng mười một rồi, hôm qua ngay cả một cơn tuyết nhẹ đến thăm nhưng lá vẫn chưa rơi hết. Nhiều hàng cây vẫn còn choàng trên thân chiếc áo màu vàng. Chung quanh nhà đâu cũng lá và lá. Mùa thu New England, tuy không “có gốc sim già đó” nhưng vẫn nghe đâu đây như có tiếng “thu hát cho người”.

Những buổi sáng trời không mưa, như sáng hôm nay, tôi ngồi nghe tiếng chổi vọng qua từ ngôi chùa nhỏ bên kia đường. Các thầy trong thiền viện dậy rất sớm. Thay vì dùng chiếc máy thổi lá như nhiều người ở xứ này, các thầy vẫn quét lá bằng chổi như những ngày còn ở Việt Nam. Thật lạ, giữa thị trấn sầm uất của phía nam thành phố Boston lại có một khoảng đất nhỏ mang trọn vẹn một khung cảnh, một nếp sống Việt Nam. Thiền viện với mái ngói cong, với tiếng chuông ngân dài hòa trong tiếng lá rơi xào xạc buối sáng cuối thu. Êm dịu. Một không khí êm dịu khó có thể tìm đâu trong thành phố kỹ nghệ này.

Gia đình tôi dọn về thị trấn phía nam này đã 8 năm rồi. Không bao lâu sau khi ổn định chỗ ở, ngày nọ nhìn ra đường, một thầy còn khá trẻ đang đứng ngắm căn nhà đang treo bảng bán.Vợ tôi nhìn tôi “Anh đến đâu là có chùa theo đó.” Thật vậy, vài tháng sau, căn nhà của người láng giềng bên kia đường trở thành ngôi thiền viện. Thiền viện Bồ Đề như tên chùa được khắc vào viên đá trước cổng ra vào. Ngoại trừ những ngày lễ lớn ghé qua thăm và chúc sức khỏe các thầy, tôi ít khi đến chùa và cũng không nhớ hết pháp hiệu các thầy. Một phần vì bận rộn với đời sống và phần khác cũng không cảm thấy cần thiết. “Trong núi không có Phật” như thiền tổ Trúc Lâm đã dạy, thì trong chùa cũng chưa hẳn có Phật. Đến để tìm gì? Tôi niệm Phật và nghĩ đến những lời dạy của ngài ở bất cứ nơi đâu dù khi ngồi nhìn những đám mây bay bên kia cửa sổ phi cơ, những đêm thao thức và ngay cả những chiều kẹt xe trên xa lộ.

Công việc làm buộc tôi thường dậy sớm, như sáng nay. Pha một tách cà-phê và ngồi nghe tiếng lá thu rơi, tiểng chổi của các thầy nhẹ vang. Một âm thanh quen thuộc vọng về. Kỷ niệm. Vâng, cũng ngôi chùa nhỏ, cũng quét lá trong sân chùa như thế. Mới đó mà đã 40 năm rồi. Bốn mươi năm mà như mới hôm qua. Cậu bé trong tâm hồn tôi cũng chẳng lớn hơn chút nào từ những mùa thu cũ.

Ngày đó, năm giờ sáng, khi phần đông người trong chùa còn ngủ, cậu bé thức dậy bắt đầu công việc mỗi ngày của mình. Cậu bé phải quét lá sớm để bảy giờ thì đi bộ đến trường. Sân chùa rộng, nhiều khi vừa quét xong nhìn lại phía đầu sân bên kia, lá rơi đầy như trước, lại phải quét thêm lần nữa, nếu không thầy trụ trì thức dậy sẽ trách vì nghĩ là cậu bé chưa quét.

Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi
Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn
Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới
Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn.

Nhiều buổi sáng khi quét lá xong, trời còn sớm cậu bé ngồi trên bệ đá trước giảng đường học bài. Nhìn những chiếc lá đang nhẹ nhàng rơi xuống, cậu bé nghĩ về mình và những đứa bé cùng cảnh ngộ. Số phận của chúng cũng mang nổi cô đơn sâu thẳm và mong manh như chiếc lá đang rơi.

Thế hệ của cậu bé ngày đó là thế hệ của những chiếc lá bị cuốn đi trong mùa bão lửa. Lá rơi trên đường phố Đà Nẵng. Lá rơi dọc bến xe đò Hùng Vương. Lá rơi vào những hố rác hôi thối ở Hòa Cầm. Lá rơi bên ngoài các căn cứ lính Mỹ. Mỗi sáng, bên ngoài các hãng kem, hàng trăm chiếc lá tuổi mười hai, mười ba sắp hàng chờ nhận kem đi bán. “Trường học”, “mái ấm gia đình”, “tình thương cha mẹ”, “một bữa cơm ngon”, hình như lâu lắm rồi không ai nhắc với chúng những chữ gần như xa lạ đó nữa. Cuộc hành trình chúng đi không có bóng mát. Những bàn chân nhỏ nhoi trên con đường Việt Nam đầy hố đạn.

Cám ơn Đức Phật và những lời dạy của ngài. Tình thương, bao dung và tha thứ như những giọt nước mát rót vào tâm hồn cháy bỏng hờn căm của cậu. Nếu không có tiếng chuông chùa, không có lời kinh khuya ru tuổi thơ nhiều mất mác, cuộc đời cậu, như hàng triệu chiếc lá chiến tranh khác đang lang thang khắp ba miền đất nước sẽ về đâu?

Năm năm sau, vào một buổi chiều mùa thu, cậu bé đã trở thành một thanh niên 18 tuổi, lạy Phật ra đi. Hôm đó trời đã vào thu. Lá chưa rơi nhiều như sáng hôm nay nhưng tiếng xào xạt hòa trong gió lớn hơn. Hai cây đa già cùng tấu lên khúc nhạc tiễn đưa cậu bé. Tạm biệt chiếc đại hồng chung và những tiếng ngân dài, tạm biệt chiếc giường gỗ và bầy rệp đỏ, tạm biệt chiếc mùng ngăn muổi nhiều chỗ vá. Không giọt nước mắt nào nhỏ xuống trong giờ chia tay người đi kẻ ở, không, cậu tự tay mở cánh sắt nhỏ ngăn hai thế giới, và ra đi âm thầm như ngày mới đến chùa:

Chùa thanh tịnh chẳng dung hồn lữ thứ
Một chiều thu tôi lạy Phật ra đi
Bỏ lại tiếng chuông chùa vang khuya sớm
Cây đa già đứng lặng khóc chia ly.

Sáng nay ngồi nhớ lại mình và những đứa bé bất hạnh thời chiến tranh. Tự hỏi, những chiếc lá vàng trên hè phố Đà Nẵng, trên bến xe đò Nam Lộc, trong hố rác Hòa Cầm ngày xưa đã bay về đâu. Thời gian âm thầm trôi như giòng sông bất tận. Bỗng dưng thấy thương mình hơn bao giờ. Bỗng dưng thèm được về bên sân chùa cũ ngồi dưới ánh trăng thu để lắng nghe tiếng lá ru như tiếng mẹ vỗ về. Bỗng dưng thèm được hát, bài hát của một thời hoa niên đầy nước mắt. Nhưng không, tuổi thơ sẽ không bao giờ trở lại như những chiếc lá chiến tranh ngày xưa nay đã già, đã rơi tan tác ở một nơi nào đó trên quê hương hay đang thì thầm với mùa thu ở một góc phía nam của thành phố Boston xa lạ.

Dù bay bao xa, một ngày, chiếc lá cũng sẽ trở về, để được hôn lên mảnh đất đầy oan nghiệt nơi giữ gìn xương thịt của mẹ cha, và cũng để lần cuối cùng viết nốt những bài thơ dang dở.


Tôi viết nốt những bài thơ dang dở
Vá tình người rách nát thuở hoa niên
Ða sẽ hát bài đồng dao muôn thuở
Nhạc thu buồn nước mắt chảy trong đêm.

Trần Trung Đạo
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Thái Thanh, tiếng hát lên trời

Thụy Khuê


Trong những phút giây thiếu vắng trống trải nhất hay những nhớ nhung tha thiết nhất của cuộc đời, mọi hiện diện hữu hình đều vô nghĩa; ta chờ đợi một đổi trao, khát khao một giao cảm thì bỗng đâu, một hiện diện vô hình lóe lên tựa nguồn sáng, tựa tri âm: sự hiện diện của tiếng hát. Thái Thanh

Nếu thơ là một ngôn ngữ riêng trong ngôn ngữ chung, theo Valéry, hay thi ca là tiếng nói của nội tâm không giống một thứ tiếng nói nào của con người, theo Croce, thì âm nhạc hẳn là tiếng nói của những trạng thái tâm hồn và nhạc công hay ca sĩ là nguồn chuyển tiếp, truyền đạt những rung động từ hồn nhạc sĩ đến tâm người nghe.

Thị giác giúp chúng ta đọc một bài văn, nghiền ngẫm một bài thơ, nhưng chẳng mấy ai có thể thưởng thức một bản nhạc bằng thị quan của riêng mình mà phải nhờ đến người trình diễn, đến ca công, ca kỹ. Ngàn xưa nếu người kỹ nữ bến Tầm Dương chẳng gieo "tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây" chắc gì ngàn sau còn lưu dấu vết Tỳ Bà Hành?

Sự biểu đạt tác phẩm nghệ thuật hay sự truyền thông cảm xúc từ nhạc bản đến thính giả, nơi một vài nghệ sĩ kỳ tài, không chỉ ngưng ở mực độ trình diễn mà còn đi xa hơn nữa, cao hơn nữa, tới một tầm mức nào đó, ca nhân đã sáng tạo, đã đi vào lãnh vực nghệ thuật: nghệ thuật vô hình của sự truyền cảm, nghệ thuật huyền diệu sai khiến con người tìm nhau trong bom lửa, tìm nhau trong mưa bão, nghệ thuật dị kỳ tái tạo bối cảnh quê hương đã nghìn trùng xa cách, nghệ thuật mời gọi những tâm hồn đơn lạc xích lại gần nhau dìu nhau đưa nhau vào ngàn thu, nghệ thuật không tưởng đừng cho không gian đụng thời gian khi ca nương cất tiếng hát, tiếng hát của bầu trời, giao hưởng niềm đau và hạnh phúc: Thái Thanh.

*

Người ta nói nhiều đến sự nhạy cảm của phụ nữ, đến một thứ giác quan nào đó ngoại tầm nam giới. Những người đàn bà phi thường như Callas, Piaf, Thái Thanh,... đã tận dụng đến cùng cảm quan bén nhạy của mình để sai khiến, xao động, chuyển hóa ngôn ngữ, âm thanh của bài hát thành nội cảm cầm ca, cấu tạo nên một vũ trụ thứ hai, đắm đuối, cuồng say, trong lòng người:

Trời trong em, đồi choáng váng
Rồi run lên cùng gió bốn miền

Tiếng hát Thái Thanh đến với chúng ta bằng rung động trực giác rồi tan loãng trong suy tư, xoáy vào những hố sâu, những đỉnh cao, vào tiềm lực của sự sống. Trong nghệ thuật hội họa, Van Gogh dùng sắc độ chói rạng để diễn tả những cuồng nhiệt, những trận bão trong tâm hồn. Trong nghệ thuật trình diễn, Thái Thanh vận dụng tiết tấu âm thanh, tạo nên sức cuốn hút mãnh liệt giữa con người, tình yêu và vũ trụ:

Ngày đó có bơ vơ lạc về trời
Tìm trên mây xa khơi có áo dài khăn cưới
Ngày đó có kêu lên gọi hồn người
Trùng Dương ơi! Có xót xa cũng hoài mà thôi!

Vẽ lên hình ảnh người nữ ca sĩ dưới ánh đèn sân khấu, Hoàng Trúc Ly đã có câu thơ thật hay:

Vì em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh

Câu này, trái với vài truyền thuyết, không nhắm vào một danh ca nào nhất định, chỉ gợi lên không khí các phòng trà ca nhạc Sàigòn khoảng 1960. Nhưng tiếng hát lên trời là một hình ảnh có lẽ hợp với giọng ca Thái Thanh nhất, giữa những tiếng hát thời qua và thời nay. Thái Thanh là một danh hiệu, nhưng như có ý nghĩa tiền định: bầu-trời-xanh-tiếng-hát. Hay tiếng hát xanh thắm màu trời. Tiếng hát long lanh đáy nước trong thơ Nguyễn Du, lơ lửng trời xanh ngắt trong vòm thu Yên Ðổ, tiếng hát sâu chót vót dưới đáy Tràng Giang Huy Cận, hay đẫm sương trăng, ngừng lưng trời trong không gian Xuân Diệu, tiếng hát cao như thông vút, buồn như liễu đến từ cõi thiên thai nào đó trong mộng tưởng Thế Lữ.


Ngày nay, những khi tìm lại giọng ca huyền ảo của Thái Thanh trong tiện nghi, ấm cúng, ít ai còn nhớ đến định mệnh gian truân của một tiếng hát, những bước gập ghềnh khúc khuỷu, chênh vênh, trôi nổi, theo vận nước lênh đênh. Tiếng nhạc Phạm Duy gắn bó với tiếng hát Thái Thanh thành tiếng của định mệnh, chứng nhân của nửa thế kỷ tang thương, chia lìa trên đất nước. Tiếng Thái Thanh là tiếng nước tôi, là tiếng nước ta, là tiếng chúng ta, là tiếng tình yêu, là tiếng hy vọng, là tiếng chia ly, oan khổ...

Tiếng hát Thái Thanh vang vọng những đớn đau riêng của phận đàn bà, mà người xưa đã nhiều lần nhắc đến bằng những công thức: hồng nhan đa truân, tài mệnh tương đố, tạo vật đố hồng nhan. Giọng hát Thái Thanh dịu dàng đằm thắm nhưng vẫn có chất gì đắm đuối và khốc liệt. Thái Thanh tình tự những khát vọng và những đau thương của hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, những thế hệ đàn bà bị dập vùi trong cuộc chiến kéo dài hằng nửa thế kỷ, kèm theo những giằng co tranh chấp, những băng hoại của một xã hội bất an. Nạn nhân âm thầm, vô danh là những người tình, những người vợ, những người mẹ đã có dịp nức nở với tiếng hát Thái Thanh: từ o nghèo thở dài một đêm thanh vắng đến nàng gánh lúa cho anh đi diệt thù, đến lúc anh trở về bại tướng cụt chân, đến nhiều, rất nhiều bà mẹ Việt Nam, từ Cai Kinh ngang tàng đến Gio Linh Ðồng Tháp suốt đời cuốc đất trồng khoai... Tiếng hát Thái Thanh là tiếng vọng khuya khoắt của những cơn bão lịch sử.
Image
Ban hợp ca Thăng Long thời đầy đủ nhất (giữa thập niên 1950):
Hàng sau, từ trái, theo chiều kim đồng hồ: Phạm Duy,
Phạm Đình Chương (Hoài Bắc), Hoài Trung, Thái Thanh,
Khánh Ngọc, Thái Hằng.

Và Thái Thanh đã sống lăn lóc giữa cơn lốc đó. Từ tuổi mười lăm, mười bảy, cô Băng Thanh -tên thật Thái Thanh- đã mang ba-lô theo kháng chiến chống Pháp: Hà Nội, khu III, khu IV, chợ Sim, chợ Ðại, chợ Neo, Trung Ðoàn 9. Về thành, cô đã góp công, tích cực và hiệu lực vào việc củng cố, phát triển nền tân nhạc phôi thai với ban hợp ca Thăng Long, sau đó là kiếp ca nhi phòng trà những nơi gọi là "Sài Thành hoa lệ", những đêm màu hồng, chiều màu tím.

Trong mười năm sa mạc, Bầu trời xanh không hát, chim gìn giữ tiếng, tiếng chim Thanh như lời Phạm Duy trong một tổ khúc. Sang Hoa Kỳ, Thái Thanh hát lại, vẫn đắm say, vừa kiêu sa vừa gần gũi, đam mê và điêu luyện.

Thái Thanh tạo cho mỗi tác phẩm một sinh mệnh mới: Bài hát được "Thái Thanh hóa", như đã đạt được "đỉnh cao" của cuộc đời, từ đó khó tìm thấy ai đưa nó vượt lên cao hơn nữa. Bởi Thái Thanh, ngoài giọng hát điêu luyện phong phú mở rộng trên nhiều cung bậc, còn có nghệ thuật làm nổi bật lời ca trong nhạc khúc và tạo ra một khí hậu, một tâm cảnh chung quanh bài hát. Nghe Thái Thanh hát là thưởng thức một khúc nhạc, một bài thơ, trong một thế giới nghệ thuật trọn vẹn. Giọng hát xoắn sâu, xoáy mạnh vào tâm tư người nghe, khi lâng lâng, khi tẻ buốt, sai khiến tâm tư vươn lên, hay lắng xuống. Giọng hát Thái Thanh tha thướt và tha thiết buộc người nghe phải sống cao hơn, sâu hơn, sống nhiều hơn. Tiếng hát Thái Thanh có lúc gợi cảm, khơi tình, hổn hển như lời của nước mây như lời thơ Hàn Mặc Tử.

Khi tiếng hát cất lên, dường như mọi hữu thể làm bằng sỏi đá, sắt thép, thân xác và nước mắt phút chốc tan biến, trở nên vô hình, vô thể, hóa thân trong tiếng hát, khi trầm mặc, khi vút cao; Thái Thanh, phù thủy của âm thanh là một thứ Ðào Nương trong truyền thuyết có ma lực hú về những âm tình u khuất.

Trong những cassette giới thiệu nhạc của mình, Phạm Duy một đôi lần có lưu ý Thái Thanh thỉnh thoảng hát sai. Dĩ nhiên một tác giả có quyền đòi hỏi người khác phải trung thành với văn bản của mình; riêng trong nghề ca xướng, nghệ nhân vẫn có thông lệ đổi vài chữ cho hợp với hoàn cảnh, nhất là ở Việt Nam, nền văn nghệ trình diễn vốn dựa trên truyền thống truyền khẩu lâu đời.

Ví dụ như bài Cho Nhau, Phạm Duy viết:

Cho nhau ngòi bút cùn trơ...
Cho nhau, cho những câu thơ tàn mùa
Cho nốt đêm mơ về già

Thái Thanh hát:

Cho nhau ngòi bút còn lưa
...
Cho nối đêm mơ về già

Lưa là một chữ cổ, có nghĩa là còn sót lại, nhưng mang một âm thanh u hoài, luyến lưu, tiếc nuối. Ca dao Bình Trị Thiên có câu:

Trăm năm dù lỗi hẹn hò
Cây đa bến Cộ con đò vắng đưa
Cây đa bến Cộ còn lưa
Con đò đã thác năm xưa tê rồi.

Chính Phạm Duy cũng có lần sử dụng chữ lưa trong bài Mộng Du: Ta theo đường mộng còn lưa... Dĩ nhiên ngòi bút cùn trơ chính xác hơn, nhưng không thi vị bằng ngòi bút còn lưa.

Cho nốt đêm mơ về già, như Phạm Duy đã viết, là cho phứt đi, cho đi cho xong. Thái Thanh thay chữ nốt bằng chữ nối, tình tứ và thủy chung hơn: những giấc mơ về già chỉ là tiếp nối những giấc mơ tuổi xuân mà anh không tặng được em vì gặp em quá muộn; cho nhau chỉ còn trái đắng cuối mùa, nhựa sống trong thân cây chỉ còn dâng được cho em dư vị chua chát và cay đắng.

Phạm Duy viết:

Cho nhau thù oán hờn ghen...
Cho nhau cho cõi âm ty một miền

Thái Thanh hát:
Cho nhau cho nỗi âm ty một miền

Chữ nỗi vô tình buông ra mà hay hơn chữ cõi, vì cõi chỉ là một miền, một không gian, một ý niệm hiện hữu, có vẻ bao la nhưng thực ra hữu hạn. Chữ nỗi vô hình, nhỏ bé nhưng vô hạn, đi sâu vào tâm linh con người: với tuổi già nỗi chết nằm trong cuộc sống. Cho em nỗi chết là cho tất cả những niềm hoang mang, khắc khoải, đau thương còn lại, nghĩa là chút tình yêu còn lưa trong từng nhịp đập yếu ớt của trái tim đã cạn dần cạn mòn hết những mùa xuân.

Nói như thế, không có nghĩa là khuyến khích ca nhân đổi lời tác giả. Chính Thái Thanh nhiều khi hát sai, ví dụ như trong Về Miền Trung: Tan thân thiếu phụ, nát đầu hài nhi mà đổi ra thành Thương thân thiếu phụ, khóc đầu hài nhi là hỏng, nhưng người nghe dễ nhận ra và điều chỉnh. Nhiều chỗ sai, người nghe không để ý.

Ví dụ câu này có thể xem như là một trong những câu hay nhất của Phạm Duy và tân nhạc Việt Nam:

Về miền Trung còn chờ mong núi về đồng xanh
Một chiều nao đốt lửa rực đô thành

Thái Thanh hát một chiều mai đốt lửa... là đánh vỡ một viên ngọc quý. Chữ nao mơ hồ, phiếm định, chỉ là giấc mơ ánh sáng, màu sắc của nghệ sĩ -mà Nguyễn Tuân gọi là cơn hỏa mộng- nó chỉ là hình ảnh nghệ thuật, chứ Phạm Duy mong chi ngày đốt kinh thành Huế? Có lẽ ông còn giữ trong ký ức câu thơ của Chính Hữu (1) trong Ngày Về mà ông rất thích:

Bỏ kinh thành rừng rực cháy sau lưng

Chúng ta có nhiều nghệ sĩ sáng tác những nhạc khúc tuyệt vời với ngôn ngữ thi ca, nhưng chúng ta có ít ca sĩ thấm được hồn thơ trong nhạc bản. Ðạt tới tuyệt đỉnh trong ngành trình diễn, Thái Thanh nắm vững cả bốn vùng nghệ thuật: nghệ thuật truyền cảm, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật thi ca và nghệ thuật phát âm tiếng Việt, giữ địa vị độc tôn trong tân nhạc Việt Nam gần nửa thế kỷ: Thái Thanh chẳng cần làm thơ cũng đã là thi sĩ.

Giữa những phôi pha của cuộc đời, tàn phai của năm tháng, giọng hát Thái Thanh vang vọng trong bầu trời thơ diễm tuyệt, ở đó đau thương và hạnh phúc quyện lẫn với nhau, người ta cho nhau cả bốn trùng dương và mặc tàn phai, mặc tháng năm, tiếng hát vẫn bay bổng ở chốn trần gian hoặc ở vô hình.

Paris, tháng 11-1990

Chú thích:
Những lời ca trích trong bài này của nhạc sĩ Phạm Duy.

(1) nói đến tâm trạng chiến sĩ Trung Ðoàn Thủ Ðô khi rời Hà Nội đầu năm 1947.

Thơ không thể dịch được, nghĩa là không thể chuyển thơ từ ngôn ngữ nước này sang ngôn ngữ nước khác mà không làm mất hồn thơ, làm mất chất thơ, nhưng có thể chuyển thơ sang hình thức nghệ thuật khác như chuyển thơ sang nhạc hay phổ nhạc những bài thơ hoặc ngược lại, đặt lời thơ cho bản nhạc.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Lượm lặt” bút tích người xưa

Chữ của nhà văn Hồ Biểu Chánh hơi nghiêng nghiêng nhưng cứng cỏi, nét chữ của Thanh Tịnh rất đẹp, chữ và bản thảo chép tay của Nguyễn Hiến Lê thì chỉn chu… mỗi nét bút đều thể hiện “nết người”.

Khác với thói quen chầu chực mong gặp được các nghệ sĩ, người nổi tiếng để xin chữ ký của nhiều bạn trẻ, những người sưu tầm bút tích, di cảo của các nhà văn ngày xưa phải tìm kiếm như những nhà “khảo cổ”, thậm chí phải bới tung những tiệm sách cũ, lục lọi ở các nhà xuất bản… để có được thủ bút của “những người muôn năm cũ” mà mình hâm mộ.

Sách cũ thì dễ nhận biết vì có năm xuất bản, số lượng phát hành, nhưng chữ viết của nhà văn thì thật khó, và không phải ai cũng có thể nhận biết một cách dễ dàng. Tìm được chữ đã khó, xác định chữ đó có phải là bút tích thật sự của nhà văn ấy hay không là chuyện còn khó hơn. Có người phải thông qua các văn bản trong thư viện, ảnh chụp kiểu chữ, hoặc tìm gặp những người họ hàng của nhà văn… để xác định.
Image
Bút tích của giáo sư Hoàng Xuân Hãn

Image
Nét chữ của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trên tấm danh thiếp của mình

Image
Chữ ký của nhà văn Nhất Linh trên tờ Văn Hóa Ngày Nay


Người xưa có câu “nét chữ, nết người” - cái chữ thể hiện tính cách và cả cảm xúc của nhà văn lúc viết. Độc giả dù được đọc rất nhiều sách của một tác giả nào đó, nhưng nếu nhìn vào cuốn sách có lời đề tặng, hay thấy bút tích của nhà văn đề lên sẽ có cảm giác gần hơn rất nhiều.

Cũng lạ, có những thủ bút của nhà văn được tìm thấy trên một tấm bưu thiếp, một tờ giấy xé vội từ một quyển sổ, hay trên tấm danh thiếp… mà nhiều người sưu tầm sau này vô tình tìm được. Trong bộ sưu tập bút tích của các nhà văn, nhà báo ngày xưa của anh Vũ Hà Tuệ, có những bản chép tay khá đặc biệt như bản thảo của nhà văn, dịch giả Nguyễn Hiến Lê khi ông viết sách Khổng Tử, trên bản thảo còn có dòng chữ “bản này sửa kĩ rồi 11/80”, hay một bản chép tay do nhà thơ Vũ Đình Liên chép lại bài thơ Ông đồ tặng một người bạn trên một tờ giấy màu hồng, nay đã phai sắc. Trên ấn bản đặc biệt của quyển sách Một chữ tình của nhà văn Hồ Biểu Chánh còn có lời đề tặng riêng cho con trai mà anh Tuệ tình cờ tìm được trong một nhà sách cũ…

Anh Tuệ nói, thú chơi này cũng lạ lắm, nhiều khi “quý mà không hiếm”. Thủ bút của nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Tuân, Hoàng Cầm… không hiếm vì bút tích của họ còn lưu lại rất nhiều. Thủ bút của nhà văn Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Vĩnh, Huỳnh Thúc Kháng… được xem là hiếm, nhưng không phải là không tìm được.

Giới sưu tầm hiện đang săn lùng chữ viết của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, Hàn Mạc Tử, nhà văn Nam Cao... Cho đến nay nét bút của họ như thế nào vẫn là câu đố mà nhiều nhà sưu tầm chưa giải được, và ai cũng ước ao sẽ tìm thấy dù một “mẩu nhỏ” chữ viết của những nhà văn, nhà thơ tài danh này.

Nguyên Trang
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Từ "Nhẫn cỏ cho em" đến biệt danh "Vua nhạc sến"

Vương Tâm

Thật ra từ lâu, người yêu âm nhạc cả trẻ lẫn già đều biết đến nhiều ca khúc nổi tiếng của ông. Thậm chí có tới hàng triệu người thuộc những bài hát rất tình cảm và sầu muộn về tình yêu của người nhạc sĩ ẩn dật và nghèo túng này. Đó là nhạc sĩ Vinh Sử, người một thời được gọi với biệt danh "Vua nhạc sến". Cho đến nay, dù đã trải qua hơn nửa thế kỷ, nhiều bài hát của ông vẫn ngân vang trong từng ngõ xóm lao động, qua mỗi phiên chợ quê của từng vùng miền ở khắp đất nước. Ông tự nhận mình là nhạc sĩ của những người nghèo luôn mơ mộng và kể những câu chuyện buồn...

Cách đây hơn chục năm, tôi có dịp gặp nhạc sĩ Vinh Sử tại Hà Nội, khi ông tìm đến tòa soạn báo Hà Nội mới để cảm ơn mọi người vì đã cho in bài giới thiệu ông trong chuyên mục "Những bài hát được nhiều người yêu thích", nhân kỷ niệm 300 năm thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh. Ông xuất hiện khá bất ngờ với quần bò, áo thun, đầu đội mũ phớt nom khá "ngầu"; tay cầm máy camera quay từ ngoài cửa phòng vào đến tận bàn làm việc của mọi người với mong muốn lưu giữ những giây phút gặp gỡ rất thú vị này, bởi lẽ đây là lần đầu tiên ông ra Hà Nội.

Hôm đó ông đã kể cho tôi nghe khá nhiều chuyện về những bài hát mang tiếng là "sến" được phổ biến khá rộng khắp từ những năm đầu của thập niên 60 ở Sài Gòn. Đặc biệt, vào tuổi 17, ông nổi như cồn với bài hát "Nhẫn cỏ cho em". Đó là một kỷ niệm khó quên của mối tình học trò, khi chàng trai Vinh Sử ngồi im như thóc trước mặt người bạn gái xinh đẹp học cùng lớp. Cô bé ấy hồi hộp chờ Vinh Sử nói điều gì đó rất quan trọng như lời đã hẹn cả mấy ngày trước. Ấy thế rồi một chiếc nhẫn được Vinh Sử tết bằng những cọng cỏ để trao tặng cho người mình yêu thầm nhớ trộm ngày đêm. Và, chiếc nhẫn cỏ ấy đã trở thành hình tượng cho bài hát bày tỏ tình yêu của ông. Tôi hỏi "Kết cục rồi sao"? Ông bùi ngùi nói rằng: "Thế thôi, tình yêu đâu còn có ý nghĩa gì. Bởi cô gái ấy quên bẵng mọi kỷ niệm với chiếc nhẫn cỏ và xa nhau mãi mãi. Kiếp nghèo mà".

Bài hát đã trở thành hiện tượng trong giới ca hát thời đó cùng với bài "Nhành cây trứng cá" được phát liên tục trên Đài Tiếng nói Sài Gòn. Cùng lúc, mấy bài hát được in hàng trăm ngàn bản đều bán hết. Đâu đâu cũng vang lên những lời ca: "Anh nghèo nên chẳng nhẫn kim cương/ Tặng em theo sính lễ tơ hồng/ Thì đây anh trao nhẫn cỏ…".

Từ đó trở đi, chàng trai Vinh Sử cho ra đời liên tục các bài: "Người phu kéo mo cau", "Tình chỉ đẹp", "Qua ngõ nhà em", "Gái nhà nghèo", "Người về từ nghìn trùng"…Toàn những bài thổ lộ tình yêu trong mộng tưởng, yêu một bề, hoặc yêu rồi chia xa, đều do cái nghèo cả. Có lẽ đây là thời điểm trời cho nhạc sĩ trẻ lập nghiệp khi biết bày tỏ hộ không biết bao mối tình nghèo bị tan vỡ, khổ đau. Nhạc sĩ "khoe", ngay từ đầu, chỉ với một số ca khúc được phát hành với số lượng lớn, ông đã mua được ôtô, bù đắp cho những ngày tháng chân trần lang thang trên con đường mưu sinh khốn khó.

Có thể nói, nhạc sĩ trẻ Vinh Sử ngày ấy đã tạo nên một xu thế âm nhạc bình dân, chân thật và gần gũi với những người lao động vất vả. Với những giai điệu dịu dàng, đôi khi pha chút sầu muộn, thê lương, nhiều bài hát của Vinh Sử còn chiếm lĩnh tình cảm của cả giới trí thức và học sinh, sinh viên. Bởi họ, ai cũng có những nỗi niềm khó chia sẻ trong tình yêu, hôn nhân và cuộc sống thị dân. Họ cần được chia sẻ. Nhạc sĩ Vinh Sử đã làm được điều đó.

Đặc biệt, Vinh Sử còn được trời "phù hộ" khi trong làng nhạc xuất hiện một số "giọng ca vàng" đã quan tâm đến các ca khúc đầu tiên của ông. Những giọng hát ấy đã làm mê hoặc lòng người. Nỗi buồn của bài hát được nhân lên. Niềm cay đắng của tác giả thêm một lần xót xa truyền đến người nghe như xát muối trong lòng.
Image
Nhạc sĩ Vinh Sử

Sau đó, không ít ca sĩ đã vang danh từ dòng nhạc "sến" của Vinh Sử…

Có thể nói, đã có không ít nhạc sĩ bị ảnh hưởng dòng nhạc "sến" của Vinh Sử. Họ đã sáng tác nên nhiều ca khúc hay, có sức lay động lòng người. Trong những nhạc sĩ mang hơi hướng Boléro Mineur, dịu buồn, ngậm ngùi như Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Trần Thiện Thanh, Châu Kỳ, Thanh Sơn, Giao Tiên… thì Vinh Sử nổi bật với vai trò tiên phong và trọn đời sáng tác theo một phong cách. Do vậy, ông có tới 500 ca khúc thì đến non nửa đều được phổ biến sâu rộng trong thị trường âm nhạc. Hàng chục bài của ông hiện nay vẫn được nhiều hãng băng đĩa sản xuất trong nhiều album.

Cách đây ít lâu, tôi có dịp vào những xóm trọ của hàng ngàn người lao động trẻ ở các khu công nghiệp ở Bình Dương, mới hay bài hát của Vinh Sử vẫn có sức phổ biến trong cộng đồng đến kỳ lạ. Nhất là bài "Nhớ quê nhà" với những lời ca rất dễ thương vang lên đây đó: "Ở quê nhà có gì vui không em?/ Chắc hôm sau, dòng nước vẫn êm đềm/ Những con đò nằm yên phơi nắng/ Khói lam chiều cao vút cánh diều lên…".

Nỗi nhớ cơn mưa ngâu. Nhớ luống ngô, vườn nhãn, lũy tre, với bao kỷ niệm qua giai điệu ngọt ngào buồn đến tê tái lòng người trong màn đêm. Hơn nữa, những bài hát của Vinh Sử còn được những ca sĩ trẻ như Chế Thanh, Thái Dương, Hồ Quang Tám, Duy Trường, Tường Nguyên… trình diễn trong nhiều đêm nhạc ở các tỉnh miền Tây Nam bộ. Họ phục vụ cho hầu hết những người lao động xa quê, với giá vé rẻ hợp túi tiền của người nghèo.

Cuộc đời của Vinh Sử dường như được thể hiện trong hàng trăm ca khúc, theo những năm tháng lao động miệt mài trong xóm ngõ của người nghèo. Ông được sinh ra và lớn lên tại khu thợ thuyền quận 4, nổi tiếng với những nhóm người "du thủ du thực" và lao động làm thuê làm mướn qua ngày. Nhạc sĩ Vinh Sử cũng lận đận với những tình duyên dang dở. Ông có tới bốn đời vợ chính thức, nhưng rồi lại vẫn một mình, ứng với tên một ca khúc của ông: "Hai bàn tay trắng".

Hiện ông ở cùng với con cháu ở khu lao động quận 7, và sống bằng nghề làm dép lốp cao su của gia đình từ trước đó. Giờ đây, đã bước sang tuổi 68, ông vẫn đi bỏ mối hàng ở các phố chợ quận 1, quận 3. Rồi đêm đêm, đây đó lại vang lên những bài hát về xóm nghèo của ông. Nỗi niềm ngậm ngùi lại tràn về trong tâm hồn cô đơn trải qua bao gió bụi, dặm trường của người nghệ sĩ nghèo. Khán giả nghe vì được ông an ủi, nghe vì được ông vỗ về sẻ chia, trong từng nỗi buồn và sự ra đi từ nghìn trùng xa cách...

Tính đến nay, đã có bài hát của nhạc sĩ Vinh Sử tồn tại tới nửa thế kỷ. Và đặc biệt, có ca sĩ hát ca khúc của ông sớm nhất thì đến nay, con trai của ca sĩ này lại tiếp tục hát những ca khúc ấy, với những cảm xúc sầu muộn và đầy sức ám ảnh của người cha truyền lại. Nếu tính số lượng bài hát mang tên Vinh Sử được thu và phát hành trong 50 năm qua, thì phải nói, ông đạt kỷ lục và xứng với danh "Vua nhạc sến". Thật là một hiện tượng kỳ lạ. Hầu hết những nơi sản xuất băng đĩa lậu đều lấy ca khúc của ông trong nhiều album theo các chủ đề về quê hương hay tình yêu. Đó là những ca khúc có sức vượt thời gian.

Hiện tại, trong khi trào lưu nhạc trẻ đang đầy những biến động theo thị trường, lúc quậy, lúc sexy, khi lại giả nai ngô ngọng, hoặc rên rỉ la hét với tình yêu dẫn tới sự bế tắc về hướng phát triển thì dòng nhạc Vinh Sử vẫn âm thầm vang lên và bền bỉ theo thời gian, trong hang cùng ngõ hẻm, quán xá của người lao động.

Giờ đây, như người phu kéo mo cau, một trò chơi kéo thuyền chở cô bé hàng xóm ngày nào chạy khắp ngõ vườn, nhạc sĩ Vinh Sử lại tiếp tục hành trình đi bỏ "mối hàng tình yêu" và cất lời ca mơ ước về một con tàu ra khơi…

VƯƠNG TÂM
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »


Image

Giới tính trong văn chương


Tôi muốn dùng chữ “giới tính” để nói về sự cấm kỵ (giới) về phái tính (sex).
Trong truyện cười, ba đề tài lớn nhất bao giờ cũng là giới tính, quyền lực và kế là tôn giáo. Về tôn giáo, nhất là Công giáo, thì Roma là kho truyện cười lớn nhất, đầy đủ nhất, và “kinh khủng” nhất. Tôi e rằng chính các cha, các thầy là những người nghĩ ra đầu tiên, dưới cái nhìn thánh thiện, trong sáng (chỉ hóm tí cho đỡ tẻ thôi mà!) rồi khi truyền bá ra dân gian nó biến chất, trở thành đục, qua nhãn giới của dân gian.

Kế tiếp là quyền lực: hãng xưởng, quân đội và nhất là chính quyền. Nhà nước nào càng cứng rắn, càng độc tài thì truyện cười chống báng quyền lực càng phong phú, càng dữ dội. Xét về khía cạnh đó, có lẽ nước Việt Nam sẽ chiếm giải quán quân về truyện cười lấy Đảng và Nhà nước làm đề tài.
Nhưng mạnh nhất, phổ thông nhất, dễ được đón nhận và truyền đạt nhất, là truyện cười về giới tính. Truyện cười về giới tính không có biên giới, lan rộng trong nhân loại như không khí và rất khó mà tầm nguyên xem nó xuất xứ từ xứ nào!

Trong văn chương Việt Nam, các nhà nho nghiêm chỉnh nhất, đĩnh đạc nhất như cụ Nguyễn Khuyến cũng viết: “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt, Trước sân ông cử ngẩng đầu rồng.” Rồi “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Dày dày sẵn dúc một toà thiên nhiên”, là đoạn mà cụ Nguyễn Du kể chuyện chàng Thúc rình xem cô Kiều tắm … truồng (tất nhiên). Và “Cao lâu thường ăn quịt, Thổ đĩ lại chơi lường” hay “Bệnh gì không mắc, bệnh tiêm la” (tức giang mai) là cụ Trần Tế Xương! Hay “Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng măn mó nhựa ra tay” là cụ bà Hồ Xuân Hương.

Nói tới “đít vịt”, “đầu rồng”, tắm truồng, chơi đĩ cho tới măn mó và “đóng cọc”, tất có nhiều bạn trẻ chưa từng làm quen với văn chương Việt Nam sẽ cau mày, cho rằng “người lớn” chả đứng đắn gì cả; nếu các cụ tác giả mà là là hội viên trong một tổ chức văn hoá ắt bị điệu ra Hội đồng kỷ luật vì thơ văn “thiếu văn hoá.” Ấy vậy mà thực tế là nó đã được bộ Giáo dục đưa vào chương trình Việt văn từ lớp 6 tới lớp 12, dạy cho học sinh tuổi vị thành niên, và đó chính là một phần văn hoá Việt Nam mà những người Việt – trong nước, hay ngoài nước mà chưa đứt rễ -- được thụ hưởng.

Giới tính trong thơ Bút Tre

Bút Tre tên thật là Đặng Văn Đang, người xã Đồng Lương, huyện Song Thao, tỉnh Vĩnh Phú, đã qua đời năm 1985. Con ông là Đặng Văn Phiến cho biết, ông để lại tập vè “Diễn ca” hơn nghìn câu và tập “Hồi ký Bút Tre” gồm nhiều bài thơ ngắn. Tin này bay tới tai Đảng, Đảng chặn ngay, song đã muộn, vì:

Năm năm dân giả lắng nghe
Một Bút Tre thành vạn Bút Tre các làng!

Quả vậy. Ngày nay chúng ta có thể sưu tập được hàng vạn câu thơ “Bút Tre”, với các đặc tính chung như sau:
Về nội dung, nhẹ nhàng nhất, là trình bày một sự thật dưới khía cạnh hài hước:

Hoan hô các cụ trồng cây
Mười cây chết chín một cây gật gù
Bọn bây có mắt như mù
Mười cây chết cả gật gù nỗi chi!

Anh đi giường chiếu lặng câm
Anh về giường chiếu reo ầm cả lên.

(Anh về, hai đứa rọ rạy cả đêm, giường chiếu cứ lắc lư ầm cả lên!)

Tin đâu như sét đánh ngang
Bác đang còn sống chuyển sang từ trần.

Vũng nhà khoan mãi chẳng ra
Vũng Tàu khoan cái dầu ra ầm ầm.

Trung thu Tết của thiếu nhi
Thanh niên nam nữ ấy đi là nhiều
Chẳng may họ có làm liều
Vài ba năm nữa lại nhiều... thiếu nhi.

Tiễn anh lên bến ô tô
Đêm về em khóc ... tồ tồ cả đêm.
(Người ta nói khóc ti tỉ. Chữ tồ tồ ở đây rất gợi thanh, nhưng thanh khác.)

Khi đi em nắm cổ tay
Khi về em nắm... chỗ này, chỗ kia…

(“Chỗ này chỗ kia” là chỗ … nào? Các ông mới đi xa về, để ý một tí tất biết.)
Kế là bởn cợt Đảng và những mặt mâm trong Đảng cùng những chiến dịch, chương trình thùng rỗng kêu to của nhà nước:

Ta đi bầu cử tự do
Chọn người xứng đáng mà cho vào hòm…

(Hòm, tiếng Bắc nghĩa là cái hộp, tiếng Nam là cái quan tài.)

Mơ lông tuy có nhiều lông
Ăn vào ngon miệng chứ không việc gì.

Thằng nhỏ mặc quần hở mông
Vẫn hơn con nhỏ còn không mặc quần.
Trẻ em thường thích ở trần,
Nhưng mà người lớn có phần …thích hơn.

Về hình thức, dùng một trong những kỹ thuật sau:

- Nối câu (chữ cuối ở hang trên và chữ đầu của hàng sau là một chữ):

Anh đi công tác Pờ Lây
Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra.

Chị em phụ nữ chơi cầu
lông bay vùn vụt… qua đầu thanh niên.

Họp xong anh ghé Buôn Mê
Thuột xong một cái lại về Pờ Lây
Cu anh tuy có hơi gầy
Nhưng mà anh vẫn đêm ngày nhớ em!

Anh đi công tác bản Muờng
Tè xong một cái lên đường về quê.

Anh đi công tác Cam Pu
Chia chiến lợi phẩm ở tù ba năm..

- Không tra đúng dấu, vì tra đúng dấu thì sai luật thơ, cứ để vậy cho độc giả tự đoán ra và mỉm cười:

Ngày xưa cụ Mác cụ Lê
Hai cụ đều giỏi chẳng chê cụ nào
Ngày nay thời đại lên cao
Có Ga-Ga-Rỉn bay vào vũ tru (vũ trụ)

Hay:

Thị Bình thấy bác giở mu ra chào… (mũ)

Rõ ràng ý tục, lời thanh, chỉ khác nhau … cái dấu! Phần lớn thơ Bút Tre phải có ý tục, chỉ khác nhau ở mức độ

Chị em du kích giỏi thay
Bắn tàu bay Mỹ rớt ngay cửa mình!..

Hàng Bông nô nức tiếng đồn
Có cô bán trứng vịt lộn rất to…

Tất nhiên là chữ “lộn” ở câu dưới phải là phù bình thanh, dấu huyền mới đúng luật, nhưng tác giả cứ viết bằng dấu nặng cho thanh, ai cũng hiểu.
Câu này phải ngắt 5-3: có cô bán trứng vịt/lộn rất to! Thật hết nước!

Hôm qua học tập chính tri (chính trị)
Cán bộ ngồi ỳ, chẳng chịu phát biêu (phát biểu)
Cơm ăn chẳng được bao nhiêu
Đảng uỷ lại bắt phát biêu cả buồi (phát biểu cả buổi).


Liên hoan có bánh có chuồi
Ra đi nhớ mãi cái buổi hôm nay.

Chữ thứ sáu câu trên phải là “chuối”, và chữ thứ sáu câu dưới phải là “buồi”, tiếng Bắc (tục), chỉ bộ phận sinh dục của đàn ông…

Sau đây là một số thơ “Bút Tre” và “Bút Tre các làng” (nghĩa là mô phỏng theo nội dung và hình thức cũ mà phát triển):
Sau khi cán bộ chiếm hết các khu du lịch: Hạ Long, Đồ Sơn,..
nhà nước phát động toàn dân du lịch để cán bộ thu tiền, trong dân gian liền xuất hiện các bài thơ Bút Tre về du lịch:

Không đi thì ngõi Đồ Sơn
Đi rồi mới biết bẩn hơn đồ nhà
Đồ nhà nước mốc váng cà
Nhưng là đồ thật, chả là đồ sơn.


“Đồ” ở đây là tiếng cổ, chỉ bộ phận sinh dục của phụ nữ.
Từ bốn câu trên lại nảy ra một số dị bản; những từ ngữ địa phương hay khó hiểu khó nhớ: “ngõi”, “ nước mốc váng cà”,.. được thay thế:

Không đi không biết Đồ Sơn
Đi rồi mới biết không hơn đồ nhà
Đồ nhà tuy có hơi già
Nhưng là đồ thật, chả là đồ sơn.

Chưa hết, dân gian còn thêm cho một khúc… nối dài:

Đồ nhà nước ngọt lại trơn
Đồ Sơn mặn quá, rít hơn đồ nhà
Tím hoa khế, đỏ mào gà
Đồ Sơn … rộng quá, đồ nhà chật hơn!

Các khu du lịch không phải chỉ có Đồ Sơn, mà còn nhiều nơi khác, và mỗi nơi lại có một bài “Bút Tre các làng” đi theo:

Không đi không biết Cà Mau
Đi rồi mới biết không hơn cà nhà
Cà nhà tuy có hơi già
Nhưng là cà … chậm hơn là cà mau!

Việc phòng the, phải chậm rãi, từ từ nó mới kịp …thấm! Rồi thì là:

Chưa đi chưa biết Tam Đao (Tam Đảo)
Đi thì không biết chỗ nào mà ngu (ngủ)
Một giường nó nhét hai cu (cụ)
Thôi thì cố nhịn đến chu nhật về... (chủ nhật)

Chưa đi chưa biết Nha Trang
Đi rồi mới biết nó sang hơn mình
Sáng tắm biển, chiều tắm sình
Có hồ be bé cho mình rửa chim…

Chưa đi chưa biết Huế thương
Ði rồi mới biết cũng thường mà thôi
Khác nhau là ở cách chơi
Họ chơi dưới nước, mình chơi trên bờ…

“Chơi dưới nước” là thú ngủ đò trên trên sông Hương, thay vì khách sạn trên bờ.

Chưa đi chưa biết Lâm Đồng
Đi rồi mới biết nhiều lông như Đầm
Lông Đầm nói lái coi chừng
Lái qua lái lại Đôn Lầm như chơi…

Bài này còn thêm kỹ thuật nói lái rất phong phú của người Việt:
“Lâm đồng” thành “lông đầm”. Còn “đôn lầm”? Người viết không dám chú thích.

Chưa đi chưa biết Bà Đen (núi Bà Đen ở Tây Ninh)
Đi rồi mới thấy đen hơn bà nhà,
Bà nhà tuy có hơi già
Nhưng mà vẫn... trắng hơn là Bà Đen!

Chưa đi chưa biết Sài Gòn
Ði về trong túi không còn một xu
Về nhà mới biết mình ngu
Thằng mồm ăn ít thằng cu ăn nhiều…

Chưa đi chưa biết Bình Dương
Đi rồi mới biết kỷ cương rất cần
Mát xa rồi lại mát gần
Âm dương cách biệt một làn cao su.

Trên đây là thơ bởn chiến dịch toàn dân du lịch. Sau đây là thơ bởn chiến dịch ngừa đẻ mà Đảng giao cho đại tướng Võ Nguyên Giáp làm tư lệnh:

Ngày xưa đại tướng cầm quân
Ngày nay đại tướng cầm … quần chúng em.

Văn minh như thể nước Nga
Người ta cũng cứ ra thụt vào
Tụt hậu như thể nước Lào
Người ta cũng cứ vào thụt ra
Xa xôi như thể Cu Ba
Người ta cũng cứ thụt ra thụt vào
Trung quốc là nước tự hào
Người ta cũng cứ thụt vào thụt ra
Thế mà ở nước chúng ta
Người ta lại cấm thụt ra thụt vào!.
.
Bởn ngày Phụ Nữ mồng 8 tháng 3:

Hôm nay mồng Tám tháng Ba
Chị em phụ nữ đi ra đi vào
Anh em nam giới mời chào
Chị em phụ nữ vừa “vào” đã... “ra”.


Thơ hài hước đụng tới giới tính, quanh đi quẩn lại thấy hai vần chính thường được sử dụng: “ồn” và “uồi”:

Làm thơ nên tránh vần ồn
Kẻo không lại đụng cái … “hồn” chị em.
Nên thơ cứ mãi lem nhem
Quanh đi quẩn lại toàn em với “hồn”.

Trước đây khi Đảng ra sức đánh bóng hai nhà thơ dân tộc, Thu Bồn và Thu Mai, thì trong dân gian xuất hiện nay bài này:

Thu Bồn ngồi cạnh Thu Mai
Thu Mai thích quá sờ vai Thu Bồn
Thu Mai ngồi cạnh Thu Bồn
Thu Bồn thích quá sờ …“mồm” Thu Mai.

Chữ thứ sáu của câu chót chắc chắn không phải là “vai” (thất vận). Câu trên vần “ồn”, câu dưới cũng phải vần “ôn” hoặc “ồn”, còn phụ âm gì đứng trước cho hợp nghĩa hợp tình, người viết bài này xin trang trọng nâng hai tay, dâng lên tận mặt cho các nhà đạo đức đạo mạo (thật cũng như giả) quyết định.


Dương Thượng Ngã
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »



Image

Phỏng vấn nhà văn Văn Quang
Nhà văn Văn Quang sinh năm 1933 tại Thái Bình. Tốt nghiệp Khóa 4 Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức, sau đó phục vụ trong ngành Tâm Lý Chiến. Đã một thời làm Quản Đốc Đài phát thanh Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà. Cấp bậc Trung Tá.
Tác phẩm đã xuất bản: Ngàn Năm Mây Bay, Những Tâm Hồn Nổi Loạn, Nét Môi Cuồng Vọng, Đời Chưa Trang Điểm, Tiếng Gọi Của Đêm Tối, Tiếng Hát Học Trò, Vì Sao Cô Độc, Người Yêu Của Lính... Các phẩm Nguyệṭ Áo Đỏ (1963). Chân Trời Tím (1964) được Liên Ảnh quay thành phim, tạo nên tên tuổi nhà văn ở Miền Nam thời bấy giờ.

Sau tháng 4 năm 1975, ông trải qua nhiều năm tù ở K 5 Vĩnh Phú và K 2 thuộc Z 30 tại Hàm Tân. Ra khỏi tù Văn Quang không tị nạn sang Hoa Kỳ theo diện HO như hầu hết các tù nhân chính trị khác. Năm 2002, ông rời bỏ Sài Gòn và dọn lên Lộc Ninh sinh sống. Ở đấy hàng tuần, Văn Quang cho ra loạt ký sự "Lẩm Cẩm Saigòn Thiên Hạ Sự", và chỉ gửi ra cho các báo Việt Nam ở hải ngoại. Loạt bài này rất được độc giả hải ngoại ưu ái đón nhận.


Lê Thị Huệ: Ông có thể mô tả cho độc giả gio-o nghe về nơi chốn ông đang làm việc. Có máy computer, có internet, có cây xanh đất đỏ mùi quê, cảm xúc cô độc và không cô độc ?
Văn Quang: Trước khi quyết định chọn một nơi nào đó làm chỗ sinh sống, chắc chắn người nào cũng phải cân nhắc xem nơi đó có những điều kiện gì, có thích hợp với cuộc sống và công việc của mình không. Tôi cũng phải làm như thế. Khi tôi đến Lộc Ninh, được dẫn vào một khu nhà vườn cách thị trấn 3 cây số, ở đây đã có điện, nước, có đường truyền internet rồi. Đó là 3 điều kiện đáp ứng được nhu cầu của tôi. Thứ đến là điều kiện an ninh như thế nào. Sau cùng là khung cảnh yên tĩnh, bởi nơi này một nửa là thôn ấp, một nửa là vùng đồi núi. Song, tất cả lại phải tùy thuộc vào giá cả. Vậy nên nó trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu. Tôi đã đi xem đất ở một số thị trấn như Long Khánh, Chơn Thành… cuối cùng kết luận là không nơi nào có giá đất vườn rẻ hơn Lộc Ninh.

Ở ngay thị trấn LN, giá đất khá cao, tôi lui vào xã Lộc Thái, một nơi “nhà không số, phố không tên”. Tuy nhiên đã có sẵn con đường làng, trải nhựa, dẫn vào tận nhà, có đèn đường, có điện, xài nước giếng khoan. Đường truyền internet hồi đó là dial up chạy tành tạch, chậm, nhưng vẫn có thể làm việc được. Cách đây một năm mới có đường dây ADSL khá nhanh, nhưng có lẽ chỉ mắc đến xã của tôi ở là xa nhất so với khu trung tâm thị trấn.

Căn nhà vườn này của người chủ cũ, trồng tiêu lâu ngày, nay con cái lớn nên muốn về Sài Gòn cho con đi học. Vả lại trồng tiêu cũng không còn có lời như xưa nữa nên họ bán lại toàn bộ diện tích nhà vườn với 5.400m2. Trong đó có sẵn một số cây ăn trái, một cái nhà gỗ, dụng cụ làm vườn, bơm nước… Nếu mua có thể ở và khai thác ngay. Giá cả lại rất rẻ. Tất cả 165 triệu đồng VN (10 ngàn USD).

Đến nay, giá đất ở thôn xã này cũng không đắt hơn bao nhiêu. Nhưng theo tôi biết, giá đất vườn ở đây rẻ hơn tất cả những nơi khác. Nếu Gio-O muốn mua, hoặc bất cứ độc giả nào muốn mua, tôi xin tìm giùm, cam đoan không biết làm “cò”, không mất hoa hồng, tôi chỉ muốn thông báo tin này và muốn có thêm hàng xóm cũng như mình. Tuy nhiên cũng cần nói thêm là nơi này chỉ thích hợp cho những vị muốn “dưỡng già”, muốn tìm một chỗ yên tĩnh, an ninh, thảnh thơi. Hầu như không thể làm ăn buôn bán gì được. Nhưng nhà vườn thì không bao giờ chết đói và cũng chẳng bao giờ giàu được. Cuộc sống thanh đạm, yên bình.

Lộc Ninh là một thị trấn bị bao vây bởi những lô cao sư từ xa xưa, hiện nay chưa phát triển được hoặc không thể phát triển được, nên cũng rất ít tệ nạn xã hội. Không thể nói không có trộm cắp, nhưng rất ít và cũng không có những vụ thanh toán ly kỳ. Hơn 2 năm nay, tôi chưa hề thấy một vụ “trấn lột” giữa đường nào như ở các thị trấn phát triển ồ ạt khác. Cứ 7 giờ tối là con đường trước mặt nhà tôi không còn ai qua lại, không một tiếng xe, không một tiếng người. Khoảng 9 giờ tối là thôn xóm vắng ngắt, mọi nhà tắt đèn ngủ sớm, cứ như khuya khoắt lắm rồi, chỉ có những ngọn đèn đường còn thức với những vườn cây, ao cá um tùm ngút ngàn.

Nghe thì có vẻ như xa lắm, nhưng thật ra Lộc Ninh cách Sài Gòn 123 cây số - vừa bằng đường ra Vũng Tàu. Nếu đường sửa xong, đi xe hơi chỉ mất khoảng 2 giờ. Hiện nay, Quốc lộ 13 đang sửa nên từ Sài Gòn đi, khoảng 3 tiếng là đến nơi.

Có 2 lý do chính tôi chọn Lộc Ninh

Thứ nhất: Ngoài yếu tố tất nhiên là giá đất rất rẻ như tôi đã nói ở trên. Với số tuổi của tôi, không còn thích hợp với đời sống ở thành phố nữa. Cái chung cư tôi ở Sài Gòn, như cái tổ chim, suốt ngày ồn ào, ngột ngạt, ô nhiễm năng nề. Làm việc chừng vài tiếng đã thấy mỏi mệt, rã rời, đầu nhức, mắt hoa. Thuốc nhức đầu, cảm cúm như cơm bữa đối với tôi. Do đó tôi quyết định phải chọn một vùng quê yên tĩnh cho cuối đời. Cái khúc quanh này trong cuộc sống quả là có khó khăn, quyết định thực hiện được với mỗi người không dễ dàng. Song tôi vẫn phải cố gắng vượt qua nó như đã từng vượt qua những khó khăn hơn thế. Lần này thì dễ dàng hơn vì nhà chỉ có 2 người, bàn bạc với nhau là xong. Tôi cũng xin nói thêm là nhờ bạn bè giúp đỡ khá nhiều, con cháu tôi cũng góp phần cho tôi có đủ điều kiện thực hiện ước muốn. “Rách” như ông Hoàng Ngọc Liên hồi đó cũng “khuyến khích” tôi bằng 1000 USD, bố con ông Tạ Quang Khôi, Vũ Đức Vinh, Hà Túc Đạo, Nhất Giang, Vi Túy, Hồ Ông, Lê Thị Kim, Bạch Quyên, Hồng Oanh cũng góp phần không nhỏ cho tôi “về nhà mới”. Hầu như tất cả những tiện nghi trong nhà tôi ở đây đều do bạn bè tặng.

Thứ hai: Tôi vẫn nghĩ: một nhà văn, nhà báo, phải biết “làm mới mình”. Ở thành phố mãi, đề tài quen thuộc sẽ cùn dần. Quay đi quay lại “nó vẫn thế”. Về nhà quê, có lẽ là cách tốt nhất để “làm mới” mình. Nơi này từ năm 1972, người dân Lộc Ninh đã sống trong vùng được gọi là “giải phóng”, nói thẳng ra là họ sống trong vùng của miền Bắc kiểm soát nhiều hơn, dưới cái tên “Mặït trận Giải Phóng miền Nam”. Bên cạnh đó là chiến trường đẫm máu An Lộc, Bình Long năm 75 và những vùng nghèo khó, giáp ranh biên giới Campuchia… Tôi có thể tìm hiểu được thực chất đời sống cùng tâm tư của họ. Người dân quê đã mất gì, được gì, từ năm 1975 đến nay? Đích thực họ nghĩ gì, làm gì, hy vọng gì? Những biến chuyển sâu sắc nhất trong từng gia đình như thế nào? Từ đó so sánh với cuộc sống ở những thành phố, từ đó tìm biết được những mảnh đời khác với những gì tôi đã biết. Từ đó cho tôi một cái nhìn sâu hơn, xa hơn, thật hơn, về toàn bộ những gì dân tộc mình qua những triều đại mà tôi đã sống.

Còn nói về sự cô đơn: Phải thú nhận rằng đôi khi cũng cảm thấy thiếu trò giải trí chứ chưa hẳn là cô đơn. Ở đây không có một thú vui nào, không có một phòng trà ca nhạc, không có một tiệm karaoke và cũng chẳng có một quán cà phê có nhiều “bóng hồng chiều chuộng”. Hàng xóm toàn là những ông già, chất phác, chân thật, năm thì mười họa mới sang nhà nhau một lần. Đôi khi gặp nhau trong một đám hiếu hỷ, chuyện trò rôm rả, nhưng toàn là thứ chuyện mình mù tịt. Ngồi im mà học cách họ chăm bón cây ăn trái, mỗi cây có một cách chăm sóc riêng. Muốn có một cây đu đủ đực thì phải làm thế nào. Muốn dừa ngọt thì phải làm gì… Đại khái như thế.

Tuy nhiên, đôi khi lại thấy thích thú vì sự cô đơn ấy. Được “tự do” suy nghĩ cả buổi mà không ai thèm nói với mình câu nào. Và để làm dịu bớt cô đơn, nhớ bạn bè hoặc có bạn bè, con cái từ nước ngoài về thăm, tặng quà cho anh em TPB VNCH thì lại lên xe đò về Sài Gòn một vài ngày, hoặc nếu muốn, có thể sáng đi chiều về cũng chẳng sao. Ở đây có loại xe đưa đón tận nhà, giá chỉ có 50 ngàn đồng VN một lượt. Hoặc ngồi buồn, gọi điện thoại qua internet nói chuyện với các ông bạn ở Mỹ, ở Canada, ở Úc… nhanh như điện thoại di động, rõ và rẻ hơn di động. 60 ngàn đồng VN, nói chuyện được 200 phút. Có khi cả tháng tôi chưa dùng hết một card điện thoại internet. Trong hơn 2 năm qua, bạn bè và con cháu tôi từ nước ngoài về VN, lên chơi Lộc Ninh cũng khá nhiều. Như thế thì không còn cô đơn nữa và luôn quyết định được thời gian của mình.

Tôi nghĩ “quỹ thời gian” của mình cũng chẳng còn nhiều. Một người bạn tôi, anh Nguyễn Đình Toàn, từ Cali về chơi, nói đùa “nhà này chỉ còn thiếu bốn chữ “Văn Quang chi mộ” nữa là hoàn hảo. Tôi nghĩ ngày đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vui vẻ chấp nhận nó với cuộc sống hiện tại.

Lê Thị Huệ: Tại sao ông lại chọn lối viết "Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự" . Qua cách viết này, ông viết rất sung sức, rất khoẻ, rất bén nhạy. Tại sao ông không chọn lối sáng tác tiểu thuyết như trước 1975

Văn Quang: Về câu hỏi thứ hai, tôi chọn lối viết “lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự” bởi mỗi đề tài, tôi chọn một lối viết khác để độc giả dễ dàng chia sẻ những cảm xúc, những ý tưởng của mình. Trước đây tôi cũng thường viết nhiều loại. Tiểu thuyết, tiểu thuyết phóng sự, phóng sự, truyện ngắn. Tiểu thuyết để diễn tả những đề tài về nội tâm, sâu sắc hơn, về tính thời đại chứ không phải thời sự. Tính thời đại có thể nói về những sự việc, những tâm trạng, những hình ảnh cách đó 5- 10 năm. Nhưng thời sự thì chỉ diễn tả những sự kiện xảy ra gần nhất trong tuần hoặc trong tháng.

“Lẩm cẩm” là một lối viết có tính thời sự. Bởi tính cách “đặc thù” của thời hiện tại nơi tôi đang sống, nên buộc phải viết theo một cách nào đó để không bị gây phiền lụy. Tôi “xông” vào những đề tài xã hội “nóng” nhất, có tính điển hình nhất mà người dân đang chú ý. Một nhu cầu khác nữa là hướng đến độc giả hải ngoại, đang quan tâm tới điều gì? Nói cho rõ hơn, Việt kiều của chúng ta đang muốn biết điều gì đang xảy ra tại quê hương mình. Chắc ai cũng muốn có những thông tin chính xác, không bị vo tròn bóp méo bởi bất cứ lý do nào, đôi khi chỉ là sự “tam sao thất bản” nên thông tin thiếu độ trung thực. Tôi chọn lọc những sự kiện ấy, tìm kiếm thông tin chi tiết và làm thế nào càng chính xác được càng tốt. Nó không phải là một bản tin thuần túy mà đưa vào những nhận định, quan điểm của riêng mình như một lời bàn bạc, nói chuyện với độc giả một cách bình thường chứ không là lý luận. Từ đó bạn đọc có thể hiểu rõ vấn đề hơn và có thể suy luận, nhận định riêng. Do đó, người ở xa quê hương, vẫn có thể biết rõ những sự việc xảy ra tại quê nhà.

Tuy nhiên như chị đã thấy, “lẩm cẩm Sài Gòn” không chỉ là những chuyện lẩm cẩm. Nó có cả những mặt trái, mặt phải của xã hội, chuyện khôi hài và chuyện đau thương, những bản tường trình thẳng thắn vượt qua mọi áp lực. Miễn là chuyện xảy ra có thật. Cái nhìn xoáy về phía sau những sự việc đã và đang xảy ra chứ không phải chỉ có “bề mặt” sự việc, tôi nghĩ đó mới thực sự cần thiết cho bạn đọc ở nước ngoài vốn không có nhiều thì giờ theo dõi.

Tóm lại, “lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự”, nếu tổng kết lại, nó sẽ là một bức tranh toàn cảnh của xã hội tôi đang sống. Nó phản ảnh được trung thực mọi vấn đề ở bề mặt đời sống của người dân thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội. Từ một anh nông dân “lừa được cả nước” đến một đại gia lương thiện và bất luơng, từ lớp thanh niên đến các quan chức, từ cô gái tỉnh lẻ đến các cô gái chân dài thành thị. Từ nỗi đau thương cơ cực của “những người bị bỏ quên” như anh em thương phế binh VNCH đến những cảnh trác táng cùng cực, hoang phí vô cùng của lớp người ăn trên ngồi trước… Cái khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, những điều phi lý bất công, những điều cần nói mà người dân không nói được…

Tất nhiên, trong hoàn cảnh của tôi, có những hạn chế mà ai cũng hiểu được. Cho nên viết và “lách” vẫn là điều phải nghĩ tới. Tôi làm cái gì mà luật không cho phép cũng không cấm. Tôi làm với lương tâm của một người cầm bút. Dù ở đây chẳng ai công nhận, tôi vẫn là người cầm bút. Người làm báo có thẻ làm báo, nhưng tôi chẳng có gì ngoài những tìm tòi của mình, tự mình lựa chọn thông tin. Còn những “rủi ro” bao giờ tới và tới lúc nào, đành chấp nhận như một số phận an bài. Nếu cứ nghĩ tới những thứ đó thì chẳng làm được việc gì đáng làm. Tôi không tham gia bất kỳ tổ chức nào, tôi không thích “làm chính trị” như bản tính tôi từ xưa tới nay. Tôi chỉ biết cầm bút, độc lập và hành xử theo tiếng gọi của lương tri.

Mặt khác, tôi cũng không quên viết tiểu thuyết hoặc tiểu thuyết phóng sự. Tiểu thuyết tôi dành cho những đề tài thuộc về tâm tư, tình cảm sâu sắc hơn. Như “chân trời tím” trước những năm 75 và sau khi đi tù cải tạo về, tôi đã hoàn thành “Ngã tư hoàng hôn” vào năm 1990. Đó là một thời kỳ “nửa đóng nửa mở” cánh cửa sắt. Hoặc trước kia, phóng sự tiểu thuyết “những ngày hoa mộng” đăng trên báo Kịch Ảnh, “Sài Gòn tốc” đăng trên nhật báo Chính Luận những năm 60-70. Gần đây nhất là tiểu thuyết phóng sự “Lên đời” về “mặt nổi” những khung cảnh nháo nhác giữa Sài Gòn - Hà Nội của cái cảnh “đổi đời” rất đặc trưng của những nhà “tư sản mới” trong xã hội Việt Nam. Nó được hình thành như thế nào, bắt đầu từ đâu và sự cấu kết “thâm cung bí sử” cùng với cánh giang hồ khét tiếng một thời. Tôi nghĩ đó cũng là hình ảnh sống động nhất của một giai đoạn lịch sử trong xã hội Việt Nam. Đó là “thiên chức” của người cầm bút, chứ không phải viết lia viết lịa, viết “văng tê bạt mạng” mà chẳng nói được điều gì đáng nói.

Có những đề tài trong phạm vi cuộc sống tâm tư, tình cảm của những thành thị cũng như nông thôn, tôi dành để viết tiểu thuyết. Như một cô gái tỉnh lẻ trong thời đại này đã và đang sống như thế nào, ước vọng thầm kín nhất của họ là gì? Tiến tới một “xã hội công bằng giàu đẹp” như khẩu hiệu hay một cái gì khác? Lớp “đại gia” và lớp nông dân khác nhau như thế nào? Cái khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ước chừng bao xa? Nền kinh tế phát triển mang lại lợi ích thiết thực gì cho mọi con người. Cái gì đang phá sản và cái mới đang hình thành trong con người như thế nào? Trước hết phải là trong tận cùng ý thức, nó có tính quyết định cho toàn xã hội. Nếu không mọi sự chỉ là giả tạo. Vấn đề khá tế nhị và sâu sắc nên tôi viết tiểu thuyết hoặc tiểu thuyết phóng sự là thích hợp. Thật ra đề tài tôi đang hướng tới là sự tiếp nối của “lên đời”, nhưng chú trọng vào chiều sâu. Nhiều độc giả cho tôi biết “lên đời” vẫn còn thiếu một cái gì đó, chưa tròn vai. Nhận xét đó rất đúng. Đó cũng là dụng ý của tôi. Một cuốn truyện đã lên tới 100 kỳ, hơn 1500 trang A4, đã là quá dài. Đề tài sẽ tiếp tục dưới một dạng khác. Có thể ví von như “Lên Đời” chỉ là cái áo mới của cô dâu, cái “mặt nổi” của thời cuộc. Tiểu thuyết tiếp theo sau là những rung động, những biến chuyển tâm lý của sự thay đổi từ đêm tân hôn và trở thành thiếu phụ.. Nhưng quá bận rộn với những công việc khác nên chỉ có thể hoàn thành trong một vài tháng sắp tới.

Tôi hy vọng trả lời như thế cũng là tạm đầy đủ cho những điều độc giả Gio- O muốn biết về cách viết của tôi. Mỗi đề tài thích hợp với một lối diễn tả. “Lẩm Cẩm” là một tổng hợp về những tin tức thời sự “nóng”, những điều trông thấy và những dư luận cùng quan điểm của người viết. Làm thế nào để người đọc dễ dàng chia sẻ được với những gì mình muốn nói.
Lê Thị Huệ: Hình như trước 1975, ông chuyên viết "phơi tông" cho các báo Sài Gòn.

Văn Quang: Đúng là những năm trước 1975, tôi thường xuyên viết feuilleton cho các nhật báo và tuần báo ở Sài Gòn như tôi đã trả lời ở phần trên.
Lê Thị Huệ: Những tiểu thuyết của ông ngày trước có những cái tên rất lãng đãng như "Nguyệt Áo Đỏ", "Chân Trời Tím", "Tiếng Hát Học Trò", tại sao ông lại thích đặt những cái tựa như thế

Văn Quang: Những cái tên … lãng đãng như “Chân trời tím”, “Tiếng hát học trò”, “Nguyệt áo đỏ…” như chị hỏi, bởi hồi đó tôi còn trẻ, và bây giờ nhìn lại cũng thấy… hơi ngây thơ, mơ mộng nên nó “lãng đãng” như chính cái tên tiểu thuyết vậy. Mỗi lần đặt tên cho một cuốn tiểu thuyết hoặc bất kỳ một truyện nào của mình cũng không giản gị đâu. Làm sao cho “nó” thể hiện đúng đề tài mà không “khô cứng” như một cuốn lý luận, không sa đà, không gây “sốc”. Tôi chắc nhiều nhà văn cũng gặp tình cảnh này. Có khi nghĩ nát óc cũng chẳng ra, có khi bỗng dưng nó “bật” ra lúc nào không hay. Cũng như lúc này, cuốn tiểu thuyết tôi đang viết cứ “dùng dằng nửa ở nửa về” với những cái tên. Thí dụ “phá sản” thì quá “khô” và cứ như có màu sắc “chính trị chính em”, cái tên “cô gái tỉnh lẻ” lại có vẻ “lãng đãng” như chị nói và không phản ảnh được bao quát vấn đề muốn diễn tả. Tôi muốn lấy hình ảnh về những thăng trầm, biến chuyển của cuộc đời một cô gái tỉnh lẻ đến những hoạt động về nhiều mặt của nhân vật làm tượng trưng cho những vấn đề xã hội “nóng nhất” đang diễn ra công khai hoặc âm thầm. Thật ra những con người đó là đa số trong xã hội bây giờ, là hơi thở của thời đại. Tên truyện chỉ là phụ, song không kém phần quan trọng. Tìm được một cái tên truyện thật khó khăn đối với tôi. Thú thật là có khi phải tạm bằng lòng với cái tên chưa hoàn toàn thích thú.
Lê Thị Huệ: Ông bị đi tù một thời gian dài sau 1975. Ông có thể nói gì về điều này ở đây và bây giờ chăng ?

Văn Quang: Có rất nhiều điều đáng nói về những ngày tháng trong nhà tù. Và cũng đã có rất nhiều những cuốn sách viết về chuyện này rồi. Nhiều chi tiết đã được trình bày cụ thể. Vì thế, lúc này tôi nghĩ ở vào vị trí của tôi, nên chuyên tâm về những vấn đề xã hội hiện tại mà tôi đang có điều kiện tìm hiểu tường tận hơn các bạn khác. Tôi chỉ có thể nói là nhà tù vẫn là nhà tù, không có chuyện cải tạo gì ở đây. Điều này tôi cũng đã viết trong “ngã tư hoàng hôn”. Một lúc nào đó, nếu còn thì giờ, có thể tôi sẽ viết lại toàn bộ những sự thật mà tôi đã được chứng kiến.
Lê Thị Huệ: Ông từng là nhà văn quân đội ở Miền Nam, ông có so sánh nào cho nền văn chương quân đội của hai miền Nam Bắc trong thời chiến?

Văn Quang: Nói về văn chương quân đội giữa hai miền Nam Bắc có lẽ hơi quá tổng quát. Nhưng sự khác biệt căn bản vẫn là mang tính văn học nói chung. Một bên, dù anh là thành phần nào khi hoạt động văn hóa đều phải đi theo một đường lối chung, không thể khác được. Do đó người viết dù ở trong hay ngoài quân đội cũng thế thôi. Họ quan niệm văn hóa là tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân (trong đó có cả quân đội) thực hiện một chủ trương chính sách trong một giai đoạn nào đó. Còn ở miền Nam thì những nhà văn quân đội không bị lệ thuộc bởi bất cứ điều gì. Tôi làm ở Tổng cục chiến tranh chính trị rất lâu, nhưng chưa hề thấy một “chỉ thị” nào cho những quân nhân viết văn. Họ được tự do sáng tác theo cảm hứng của mình về mọi mặt trong đời sống. Những nhà văn xuất thân từ quân đội hay hơn nữa là từ những chiến trường như Nguyễn Đạt Thịnh, Phan Nhật Nam, Huy Phương, Thế Hoài, Phạm Huấn… viết những gì họ đã trải qua. Hoặc như Mai Trung Tĩnh, Vương Đức Lệ, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng cứ việc làm thơ tình, lãng mạn, không cần Tây Tiến hay Nam Tiến. Cho nên so sánh hai nền văn hóa quân đội giữa hai miền như thế tôi cho là khập khiễng, nên tôi không thể so sánh được.
Lê Thị Huệ: Ông đã từng tiểu thuyết hoá dày cộm những người lính thành phố Sài Gòn trước 1975. Bây giờ nhìn lại ông có thấy là trật búa hay OK ?

Văn Quang: Tiểu thuyết hóa những người lính không phải là “thần thánh hóa” những người lính. Chị đọc lại “Chân trời tím” và “Người yêu của lính” sẽ thấy tôi tiểu thuyết hoá đời thường của họ. Người lính không đi tu, không là “người con trai khác với những người con trai không đi lính”. Ngoài cuộc sống chiến đấu, ngoài tình đồng đội, họ có cuộc sống của mình. Cũng yêu thương, ghen hờn, lãng mạn như những ghệ sĩ chính hiệu. Nói cách khác, tôi diễn tả rõ hơn, tỉ mỉ hơn về cuộc đời quân ngũ. Không phải tất cả đều tình nguyện đi lính, có những người “bị động viên” hoặc được đồng hóa. Nhưng tình đồng đội đã làm họ thay đổi quan niệm, ý chí chiến đấu đã tô đậm lý tưởng yêu nước của họ. Vì thế họ trở thành một khối vững chắc cho đến tận ngày nay. Tại sao tôi lại thấy “trật búa” được? Tôi vẫn cho là tôi đã làm đúng, làm được những gì tôi cần làm. Một điều cần nhấn mạnh, đó là xuất phát từ những rung động chân thành của tôi sau những ngày tháng làm phóng viên thời kỳ chiến tranh ác liệt đầu tiên, qua một số chiến trường thời đó, không vì một chỉ thị nào, một lý do chính trị nào.
Lê Thị Huệ: Nếu cuộc đời biến thành những chương tiểu thuyết. Hãy thử nói về cuộc đời như là những chương tiểu thuyết. Cái chết nào cũng là một cái chết. Cái chết của Miền Nam là một cái chết tức tưởi nhưng nó có cái đẹp tuyệt vời của một cái chết tức tưởi. Ông nghĩ đấy là một bất hạnh hay là một may mắn

Văn Quang: Cái chết của miền Nam, như chị nói, tôi đã có nhiều thời gian gậm nhấm nó trong tù và ngoài đời, sau khi ở nhà tù ra. Tôi thường nghĩ, chẳng ai muốn tự tử cả. Cái chết bất đắc dĩ được báo trước đó không do miền Nam tạo ra. Người bạn “đồng minh thân thiết” của chúng tôi bỏ bạn, trong khi đối phương có tới 6 nước vẫn trung thành tiếp súng đạn thì “sáu thằng đánh một chẳng chột cũng què”. Và những “panic” từ Huế đến Pleiku, Đà Nẵng, Nha Trang, Bình thuận vào đến TP. Sài Gòn đều do người bạn đồng minh của chúng tôi tạo ra. Gây hoảng loạn khắp nơi để tẩu thoát như một ván cờ thua. Điều đó rõ như ban ngày. Tôi so sánh với cuộc rút lui của quân đội Pháp sau khi ký hiệp định Geneve, dù sao thì mọi tổ chức cũng chu đáo hơn, có tình có lý hơn, nhân đạo hơn. Nếu người Mỹ vẫn tuyên truyền rằng “cộng sản chiếm được miền Nam thì Sài Gòn sẽ là một biển máu”. Vậy mà họ đã để lại chúng tôi bơi trong cái biển máu ấy, sau khi bí mật bắt tay đối phương. Có thể coi họ là đồng minh được không?

Vậy thì cái chết của miền Nam chỉ có thể coi là bất hạnh. Một kinh nghiệm cho những ai còn nuôi mộng lãnh đạo đất nước này.
Lê Thị Huệ: So sánh đời sống của ông bây giờ với đời sống trước năm 1975, ông phát biểu như thế nào. Tôi hỏi ông câu này với một thái độ rất trân trọng, vì ông là một tác giả hiếm hoi, ông sống sót và sống qua những giai đoạn khốc liệt ấy, mà vẫn viết với cái tên Văn Quang. Một Văn Quang lừng lững không thoả hiệp. Hình như ông là 1 tác giả độc nhất vô nhị viết và viết được trong cái thế sống vô cùng chênh vênh ấy

Văn Quang: Thật ra ngay từ đầu, khi trả lời lá thư của Gio-O tôi đã thành thật thưa rằng “không thích nói về mình”. Nếu cần nói thì có rất nhiều điều phải nói, phải trả lời. Một người cầm bút nên để độc giả phán xét về mình hơn là những gì mình tự nói hoặc bị kẻ thù xuyên tạc.

Xin cảm ơn về những nhận xét của Gio-O dành cho riêng tôi. Vâng, tôi sống như vậy đấy. Chẳng có gì phải che giấu, chẳng có gì phải khiếp sợ nữa. Còn gì nữa đâu mà khiếp sợ và tôi không làm điếu gì xấu, không “phá hoại”… thì cứ lừng lững mà làm. “Danh chính ngôn thuận” và “đường ta ta cứ đi”. Cái gì có thật thì tôi viết. Không bới móc lung tung, không phao tin đồn nhảm. Quyền phê phán là của người dân. Quyền bất bình cũng là của người dân về những điều có thật đã và đang xảy ra.

Cũng có một số người viết như tôi đang có mặt ở miền Nam như Nguyễn Thụy Long, Đoàn Dự, Hàm Anh… và một số người không ký tên rõ rệt như người Tân Định, Người Sài Gòn… Và còn cả những người viết không thường xuyên, thỉnh thoảng mới có một vài bài. Những anh em đó cũng là những cây bút hoàn toàn độc lập. Mỗi người có một cách viết, cách lựa chọn đền tài và mức độ khác nhau. Chúng tôi có gặp nhau như những người bạn bình thường, nhưng không thảo luận về những gì mình sẽ viết. Do đó đôi khi có những đề tài trùng hợp, song mỗi người nhìn theo quan điểm của riêng mình. Được độc giả đón nhận như thế nào lại là chuyện khác. Có cố gắng tìm cách “ngoi lên” cũng chẳng được. Cách tốt hơn hết là cứ thành thật với chính mình, cứ thảnh thơi mà làm được việc mình muốn làm. Như tôi đã nói ở trên, sẵn sàng chấp nhận điều “rủi ro” sẽ đến vào bất kỳ lúc nào. Chấp nhận cả đòn hiểm của kẻ thù, của những kẻ đố kỵ, ghen ghét sảng. Cứ lo nghĩ đến nó thì thà xếp quách computer lại hoặc chỉ để ngồi chơi games, chơi “meo” cho xong. Xin tiền con hay đi đánh vi tính, làm lay-out thuê cũng đủ sống.

Có thể nói tôi đã tập được thói quen, không còn ngồi đó tiếc nuối dĩ vãng. Thời gian không bao giờ trở lại được. Tôi bằng lòng và thích ứng với những gì tôi đang có. Trước kia sống sung sướng hay bây giờ, tôi cũng chẳng biết nữa. Một điều đáng nói là không thể quên những người bạn cũ, dù còn sống ở bên kia hay đã mất. Đôi lúc ngơ ngẩn chỉ vì những thứ đó thôi.
Lê Thị Huệ: Một cách công bằng, ông có nhận xét gì về nền sáng tác Miền Nam 1955-1975.

Văn Quang: Về những sáng tác từ ở miền Nam từ 55-đến 75, tôi cho đó là thời kỳ sung sức nhất của những sáng tác của văn học Việt Nam từ trước tới nay. Kể cả về số chất lượng cũng như chất lượng, những vị đàn anh lớn tuổi cũng như những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ… mới xuất hiện. Một số tác phẩm văn học khổng lồ đã được trình diện, một số báo chí về mọi mặt từ trình độ cao đến bình dân đua nhau tự do cạnh tranh. Một số ca khúc trở thành “bất tử” dù cho nó đã bị khai tử nhiều lần. Cho đến bây giờ ở Việt Nam, rất nhiều tác phẩm từ thời đó vẫn còn nguyên giá trị, nó xuyên suốt qua mọi thời đại. Độc giả, khán thính giả từ thành thị tới thôn quê vẫn thưởng thức những món ăn tinh thần đó, chẳng cần ai khuyến khích, khuyến mãi.

Cách công bằng nhất để nhận định thì nhãy nhìn vào thị trường, nhìn vào sự trân trọng của người dân.

Mặt khác, việc xuất bản những tác phẩm văn học nghệ thuật hồi đó hình thành một trật tự hơn bây giờ. Kể cả sách xuất bản ở nước ngoài cũng như ở trong nước. Hầu như bây giờ, một số tác phẩm không còn mang đúng giá trị đúng như văn học định nghĩa. Nó là sách lam nham, ai có tiền thì cứ in. Vàng thau lẫn lộn, trong đó có những cuốn không đáng gọi là sách, có những bài không đáng gọi là bài. Điều này rất có hại cho những người trẻ tuổi, nhất là lớp mới lớn ở nước ngoài. Nếu đọc một cuốn sách lem nhem như thế họ sẽ nghĩ gì về những tác phẩm khác của ông cha, của những người đi trước?

Vì thế nên tôi vẫn cho rằng 20 năm văn học miền Nam 55-75 có nhiều tác phẩm giá trị hơn, dù cho có những tác phẩm chỉ có giá trị trong từng thời kỳ.

Lê Thị Huệ: Nhà văn Văn Quang, Giám đốc đài phát thanh Quân Đội, viết tiểu thuyết Chân Trời Tím, đi cải tạo mút mùa lệ thủy, không đi Mỹ theo diện HO (mà những người như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên còn không cưỡng lại sự tự do ở chân trời kia), còn Văn Quang không đi. Ở lại Việt Nam. Văn Quang là ai thế?

Văn Quang: Tôi vẫn cho rằng những người bạn tôi đi định cư hầu hết vì lo cho tương lai của con cái, cho cuộc sống gia đình hơn lo cho chính bản thân mình. Họ có lý do chính đáng để ra đi. Còn tôi, hầu như chẳng có lý do gì cả. Khi tôi ở trại tù ra, các con tôi đều đã định cư ở Mỹ, đi theo “diện vượt biên” và đi học ở Mỹ trước năm 75. Chỉ còn lại mình tôi. Đời sống kinh tế cũng lại bắt đầu ổn định, bằng việc học computer rồi ra “hành nghề” đánh vi tính thuê và làm lay-out cho các tiệm sách báo. Những nhà xuất bản tư nhân, những nhà làm quảng cáo chuyên nghiệp và cả những ông làm “báo lẻ” như Thanh Thương Hoàng, Thái Phương cũng đều thuê “công ty gia đình” của tôi làm hết. Hồi đó Sài Gòn chỉ có rất ít computer và người làm được công việc này càng hiếm. Cái may mắn của tôi là ngay khi ở trại tù ra, tôi đã tò mò đi học khóa computer đầu tiên vào những năm1989-90-91. Kể về chuyện đi học computer của tôi chẳng qua cũng là chuyện “bất đắc dĩ” và khá dài dòng, cười ra nước mắt. Tôi sẽ kể lại vào một dịp khác. Sau khi học xong vài khóa, tôi đã được các cháu ở Mỹ yểm trợ cho mấy cái computer và máy in laser để hành nghề. Công việc kiếm ăn khá phát đạt. Vì thế tôi thấy không cần phải đi đâu nữa cả. Hơn thế, bà xã của tôi và các cháu cũng đã “yên bề gia thất” nên tôi không muốn khuấy động cuộc sống của gia đình mình, gây thêm những thắc mắc vướng bận cho những người thân.

Ở đây cũng còn một số anh em sĩ quan cũ, sau khi ở tù ra rồi, cũng không đi theo diện HO. Dường như vấn đề kinh tế quyết định tất cả. Hầu hết những người ở lại đều có một cuộc sống tương đối ổn định hoặc có những trở ngại về gia đình, như con cái có vợ có chồng rồi không được đi theo… Mỗi người một hoàn cảnh.

Mặt khác, tôi nghĩ anh em ra đi nhiều rồi, tôi muốn ở lại để chứng kiến cho hết, cho đầy đủ những đổi thay. Đời sống lúc đó ở đây bấp bênh, rồi chao đảo vì Liên Xô tan rã, vì Đông Âu lập lờ… Cuộc sống “lên voi, xuống chó” quay quắt, nếu nhìn như một kẻ ngoài cuộc, nó sinh động hơn một sân khấu với đầy đủ bi hài kịch thú vị. Có quá nhiều đề tài mới lạ cho mình ghi nhận. Làm một nhân chứng sống có lẽ hay hơn. Và cũng vì sự “gậm nhấm” của tôi về “người bạn đồng minh” nên tôi quyết định ở lại.

Mãi tới sau này, một số không ít những người bạn tôi cho rằng tôi đã lựa chọn đúng. Riêng tôi, cho là một điều may mắn chứ chẳng ai tiên đoán trước được điều gì sẽ xảy ra. Nhưng nếu có sai, có bất cứ điều gì xảy ra, tôi không ân hận. Tôi hoàn toàn bằng lòng vì sự lựa chọn của mình. Và, tôi cũng vẫn cứ tiếp tục sống và viết như từ bao năm nay. Sẽ mãi mãi như thế cho đến khi bạn về đây sẽ gặp tên tôi với hai chữ “chi mộ”.

Xin cảm ơn bạn đọc đã đọc những hàng này. Đây cũng là dịp tôi có cơ hội được tâm sự với bạn đọc. Tôi cũng xin nói thêm là một tờ báo của người bạn tôi, sau khi đã có bài phỏng vấn tôi, đã gửi thêm một số câu hỏi khác đến, nhưng tôi chưa trả lời được. Tôi không viết hồi ký như một số bạn tôi thúc giục, trong một ngày gần đây, tôi sẽ dành cho tờ báo của người bạn tôi những chi tiết khác trong cuộc sống của tôi, thay cho cuốn hồi ký.
lilac2010
Posts: 103
Joined: Sun Mar 21, 2010 10:45 pm
Contact:

Post by lilac2010 »

Image

Đôi Bờ Thương Nhớ
Bạn biết tôi thương bạn nhiều mà bạn làm khổ tôi chi vậy.

Như thường lệ, bạn vẫn viết thư cho tôi. Thư nhận chiều qua, bạn viết : “Mình sẽ cố thu xếp trở về cố hương. Có xa xôi gì mà mất mười hai năm ly xứ...” Rồi bạn kể ra một dọc những cảnh moi từ ký ức cũ, nào là những tàng cây trứng cá đằng góc sân, hàng điệp đỏ de mình ra mé nước che cái bến, mấy chiếc xuồng ba lá buộc dập dềnh vào chân cầu. Con đường đất đỏ pha nâu dẫn vào căn nhà cất theo kiểu cổ, hàng lơn nước trước hàng ba ngoại úp cái gáo thâm màu đất...

Tôi luôn nhớ về bạn nhiều nhất trong đám bạn cũ. Với tôi, những người xa xứ, lìa quê luôn luôn tội nghiệp. Bây giờ, tôi lại càng thương bạn hơn bởi những gì bạn nhắc, bạn nhớ đã không còn nữa.

Xóm của K., cái xóm Hòa Trung nằm bên bờ con kinh xáng Đội Cường đã không còn nữa. Mà, có riêng gì cái xóm cũ của bạn tôi, nhiều làng xóm dọc theo những triền sông lớn, những tuyến giao thông chính ở vùng đất rặt sông nước nầy đã mất dần dấu tích theo con sóng tạt ào ào vào bờ đất. Và đất theo sóng ra đi.

Có người nói ở Tân Châu (An Giang) ngủ một đêm sáng dậy thấy nhà mình trôi lềnh bềnh trong dòng nước vậy mà sướng, vậy mà “ngon” hơn ở ven các con sông Cà Mau, khỏi phải mỗi ngày nhìn thấy mảnh đất được gầy dựng từ thời ông cố, ông sơ mình từ từ, cứ từ từ chìm vào dòng nước mà không cách gì giữ lại. Đứt ruột.

Nhà cũ của bạn tôi nằm đâu ? Cái xóm nhỏ nhìn ra sông, đón nắng từ sông, uống gió từ sông đó bây giờ đâu ? Thở dài. Những ngôi nhà trống huơ, hoang tàn, trơ trơ gạch ngói, cái còn cái đã ngụp một nửa dưới nước, những cái nền gạch còn lưu dấu một chiếc ngạch cửa, một cái lan can thấp (nơi ngày xưa bạn ngồi đó bưng tô cơm, vừa ăn vừa coi trời, coi đất chơi !?). Trên nền nhà cũ, lần theo các khe nứt do đất sụp cỏ giồng trầu, cỏ nước mặn, lức dại đua nhau mọc xanh rì. Một cái sàn cây nước lộ ra cái ống sét nghẹt khi nước bắt đầu ròng. Những cây dừa, cây mấm nằm xoãi dài ra mép nước, đám rễ tuyệt vọng níu lấy chút đất cuối cùng. Đâu đó nhiều quãng hiện ra một nhà máy chà gạo, nhà máy đường, ống khói gảy gập lại, nửa nằm ngoài bãi, nữa nghiêng ngửa . Con thằn lằn lạc tắc lưỡi kêu hoài làm như tiếc rẻ cái gì. Tôi tự hỏi, nhà của bạn tôi đâu, cái ngôi nhà ký ức ấy. Nhà xưa của bạn nằm thấp thoáng sau bờ đất kinh xáng múc, cây cỏ quanh nhà rất xanh, bên gốc gừa có cái miểu ông Tà ngó xéo ra sông ... Tất cả giờ ở đâu ?

Mới đó mà chỉ hơn mười năm. Ngày bạn đi, chắc sông không rộng như bây giờ.

Bác Sáu Bé, một người già của xóm Hòa Trung cũng bảo như vậy, ông nhớ như in hàng mấm chồm ra mé nước, kế đó, trên bờ là một hàng dừa, sân rộng minh mông, trồng thiệt nhiều me, nhiều cây me già, cao thiệt cao. Ông thường trèo lên đó nghe ngóng tình hình giặc, “hễ thấy tụi nó qua Mương Điều lò dò càn vô hướng mình thì mình rút”, ông kể, “mà, hồi đó, kinh Đội Cường lớn lắm cũng bằng nửa công đất mình. Bữa nào cánh giao liên tụi tui có thơ, tui ra mé sông, kêu mấy chú mấy anh bên cơ quan ra, tui buộc cục đất vô thơ, chọi qua bển một cái gọn hơ hà. Bây giờ ông nội tui chọi còn không qua nữa chớ nói gì già cả như tui...” (Có phải ngày đó, người bên sông đã gửi sang cho bạn lời thương nhớ cũng bằng cách nầy để cho bạn nhớ thương tới bây giờ ? Tôi nghi lắm nghen !). Tôi ngồi với bác bên bờ sông, nước bắt đầu ròng, nửa cái khung của ngôi nhà cũ đã bị chồm hụp hửi vào dòng nước bắt đầu lộ ra hàng ba, bên dưới lan can là hai bồn hoa nhỏ. Bác chống xuồng ra sông, chỉ tay vào dòng nước đang chảy cuồn cuộn chỗ ngày xưa có hàng me, hàng mấm, dễ chừng có ra đến gần một nữa sông. Ở đó nhìn vào bờ, cảnh buồn như trăng lặn. Tôi hỏi bác có buồn không, bác chỉ im lặng và đốt thuốc, lâu lắm bác mới nói : “Buồn chớ, đất nầy, ông bà mấy đời để lại cho mình mà. Hồi đó, bom đạn vậy mà có ai bỏ nhà, bỏ xóm mà đi đâu...”

Nhưng bây giờ đã thực sự là một cuộc chia ly. Những hàng mấm, vẹt, đước, những rặng dừa nước vốn mang sứ mạng giữ đất đã bị bứt lìa trước tiên. Không có bộ rễ kiên cường nào có thể chịu được sức mạnh của sóng từ những con tàu. Đất bắt đầu vạt, vỡ ra, trôi đi từng ngày. Cho tới khi, mép nước đã le liếm sát thềm nhà, người ra đi. Không ai để ý chiều đó có một căn nhà không còn ở bên sông nữa, người ta có biết bao nhiêu chuyện để lo, chỉ thấy giật mình thảng thốt chiều nay ngồi tàu nhìn hai bên bờ sông, vườn thôi rộng, sân thôi sâu và xóm vắng.

Chưa có cái gì làm cho người Cà Mau vốn chịu thương chịu khó sáng tạo, cần cù lại bó tay như nạn lỡ bờ. Họ đã từng chiến đấu cật lực để giữ đất, họ cũng đã từng xây đi đắp lại hết bờ kè nầy tới bờ kè khác, đã từng hy vọng và rồi một ngày rứt ruột bỏ xóm, bỏ nhà. Làm một bờ kè bằng ráng, bụp dừa nước sẽ chịu được khoảng nửa năm. Bờ kè đổ bê tông kiên cố hơn giữ được khoảng ba bốn năm, nhưng để xây được một bờ kè như thế người dân mất khá nhiều tiền, nên những người nghèo đã phải ra đi trước tiên. Một hai căn nhà còn bên bờ sông trong cái xóm đã tiêu điều như một ốc đảo nằm thoi loi một mình, “dòm cảnh buồn muốn dọn nhà đi luôn cho rồi”.

Từ những ngôi nhà đơn sơ có, kiên cố có, nhiều hộ gia đình phải gầy dựng lại tổ ấm trên nền đất mới. Từ đơn sơ họ lại càng đơn sơ hơn, từ kiên cố bây giờ họ sống trong căn nhà cột cây, vách lá. Nhà chị Phỉ dời ra sau đê, ở đậu trên đất anh rể, góc đất nhỏ, nhà coi tum húm to hó. Nhìn qua đám dừa thưa rỉnh thưa rảng vẫn thấy sông, vẫn thấy cái nhà tường cũ, nơi chị sinh ra và lớn lên, đã sụp một phần nền. Mớ ngói Tây cũ rong rêu chị chất sát vách nhà mới, “chờ coi có cơ hội nào xây lại cái nhà không, mà, chắc làm hổng nổi nữa rồi”, chị than. Nhưng chị vẫn còn may mắn hơn nhiều hộ gia đình khác, có người đã phải bỏ xóm làng định cư nơi khác vì không có đất, có nhiều nhà đất đã lỡ tới chân cột cái rồi mà chưa có tiền để dọn đi, nước tràn vô tới bếp tự nhiên như người thân quen lắm vô lục nồi.

Ngồi ở trạm kiểm soát Hòa Trung, nơi hai tuyến đường chính đi Ngọc Hiển và Đầm Dơi chia ra đi rồi lại gặp nhau để theo sông Gành Hào về thành phố Cà Mau, cứ năm phút có một chiếc canô, tàu khách, tàu vận tải cỡ lớn đi qua. Nhiều tàu đặt cả hai máy rùng rùng chạy, sóng ràn rạt. Ước tính mỗi năm có hàng trăm ha đất dọc các bờ sông trôi đi. Sức tàn phá từ sóng tàu với bờ bãi như vậy, mới hiểu tại sao bà con ở dọc những triền sông quê mình chịu bó tay. Chờ đợi một ngày đất đã thôi không còn lỡ dữ dội do lòng sông đã có độ dốc thấp đi, thì bà con không còn gì để mất nữa rồi. Biết kêu ai, bắt thường ai, mất mát như bị thiên tai vậy mà.

Trách ai bây giờ ?
Trách anh Nha nông dân nào cải tiến gắn cái máy xe ô tô vô tàu chạy, tội nghiệp ảnh, ảnh làm là để cho đời, không có ảnh làm sao tránh cảnh đò giang cách trở, làm sao đi đứng thuận tiện, mau mắn như bây giờ. Mình biết ơn ảnh không hết đó chớ.

Trách sao nhiều tàu bè tội nghiệp người ta, trên miền đất xỏ dép vô chân, bước ra gặp sông nước nầy, không có họ, không cho họ phát triển, mình đi về huyện, về quê, đi công tác, đi chơi bằng phương tiện gì bây giờ ?

Chỉ tiếc một chút quê mình ít đường giao thông bộ để chia sẽ bớt gánh nặng cho sông. Mình tiếc quê mình thiệt thòi quá, mất hai mươi lăm năm sau chiến tranh, đất quê mình mới có được những con đường lớn nhưng còn đơn sơ về năm huyện. Nhưng sau từng ấy năm, bên sông, người xưa, cảnh cũ đã không còn.

Bạn biết tôi thương bạn nhiều, tôi sợ bạn buồn, bạn ác với tôi chi vậy ?
Hỏng lẽ bây giờ tôi đi trồng lại hàng điệp đỏ, trồng lại cây trứng cá lá mềm và mịn rụng xuống sân nhà, hỏng lẽ tôi cất lại y chang ngôi nhà cũ, hỏng lẽ tôi lùa được gió sông man mác vào cái hàng ba đã không được nhìn ra sông nữa, và tôi dựng lại được cảnh những chiếc xuồng ba lá nhỏ với mấy cái lá dừa nước làm buồm trôi lơ thơ, êm ả trong nắng chiều, trời chiều. Tỉ dụ như tôi làm được những điều phi thường ấy thì bạn của tôi ơi, cái hồn quê, hồn đất năm xưa đã không còn. Mà tánh bạn cũng như tôi, khăng khăng hoài : “Hoa nào đẹp bằng hoa tuổi thơ. Ổi nào ngon bằng ổi năm xưa”(*). Kỷ niệm của những ngày tươi trẻ vô giá.

Nhưng rốt cùng tôi vẫn mong bạn trở về, dẫu đau cảnh mất người xa nhưng còn cô bác bà con, tản mác ở đâu thì tình nghĩa cũng đầy như nước dưới sông vậy, còn y chang tôi của ngày xưa. Tôi thương bạn nhiều thiệt nhiều. Tôi sẽ an ủi bạn, rằng, đi dưới sông lỡ đất tiếc một, đi trên bờ giờ như Kinh Kha qua sông Dịch, tai nạn hỏng biết đâu mà tránh, bao người còn thương tiếc nhiều hơn.
Nói vậy cũng đỡ buồn chớ.

(*) Thơ Lưu Quang Vũ
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Nhà văn Nguyễn Thụy Long

Viên Linh


I. Giữa thập niên '50, trên tờ Văn Nghệ Học Sinh có đăng vài truyện ngắn ký bút hiệu Mặc Lan Giao.
Lúc gặp nhau, tôi đã giấu một nụ cười, khi trước mặt là một cu cậu mập thù lù, chậm chạp, và có cặp mắt nhìn lừ đừ.

Image
Nguyễn Thụy Long (1938-2 tháng 9, 2009), chụp tại Sài Gòn, với bà Nguyễn Lan Phương, đại diện báo Khởi Hành ở Paris.
(Hình: Nguyễn Lan Phương cung cấp)


Mặc Lan Giao, cái tên thanh nhã và ẻo lả biết mấy. May mắn thay là Lan Giao sớm thay đổi, từ lãng mạn u sầu sang hiện thực gồ ghề với tập truyện ngắn Vác Ngà Voi, ký tên thật là Nguyễn Thụy Long. Tác phẩm đầu tay này của Long xuất bản năm 1965. Hai năm sau, đi vào thế giới dao búa và tù tội của mình, tên tuổi Nguyễn Thụy Long trở nên lẫy lừng với cuốn Loan Mắt Nhung.

Lúc cuốn truyện này được quay thành phim, một tí nữa tôi cũng đã đóng phim. Ðoạn phim đã quay, bên cạnh một vũ nữ thân ngà, chỉ mặc hai mảnh bikini, tôi lại mặc đồ lớn, cà vạt, bộ đồ có sọc to như sợi bánh phở. Không chờ xem lại đoạn phim, tôi biết là không thể thế được, nên ra sức thuyết phục người bạn đạo diễn, và đoạn phim ấy may mắn được cắt bỏ. Chính Long, có mặt trên sân quay hôm đó, sau lúc đó bảo tôi: “Con đó nhảy hay hơn mày;” tôi càng thấy là sự nghiệp điện ảnh của mình không nên bắt đầu làm gì.

Thuở Nguyễn Thụy Long ký bút hiệu Lan Giao, anh ở nhà mẹ trong một ngõ hẻm đường Phát Diệm. Còn nhớ con phố ngắn này nối đường Võ Tánh, nơi có trường Nữ Trung Học Trí Ðức, với đường Trần Hưng Ðạo. Trên con phố có tiệm chụp hình Anh Ðào, mà sau khung kính có tấm hình một phụ nữ miền Nam điển hình: tóc chải miết da đầu, vuốt lên, bóng đen, quấn lại thành búi ở phía sau. Long có một em trai ruột là Lân, và chị Ngọc, em Phụng. Chị Ngọc hay đòi tôi chở trên chiếc velo solex đi công việc, hay đi xem phim Ấn Ðộ múa rắn ở rạp Long Phụng. Có lần bác Long dọa: thằng Linh còn chở chị Ngọc đi nữa là không đứa con gái nào dám lấy mày nữa đâu.

Ai cũng gọi Ngọc là chị, tuy chị là vợ kế của cha Long. Ông là một họa sĩ truyền thần, mất sớm, tấm hình còn treo trên cột nhà. Hẳn vì nghiệp cha mà Long ghi tên học Cao Ðẳng Mỹ Thuật Gia Ðịnh. Từng theo kháng chiến chống Pháp, ông bỏ Việt Minh từ vùng rừng núi vô thẳng Sài Gòn từ năm 1952. Khoảng chúng tôi gặp nhau lần đầu, chưa ai đầy 20 tuổi. Ðâu như còn 17, 18. Trong bọn chỉ có tôi là đã vào đời, đi làm báo lãnh lương tháng, việc học phải uyển chuyển theo việc làm.

Nguyễn Thụy Long ít nói, ưa nhìn, ưa quan sát. Có thể là lúc đó Long thấy mình chưa có vốn sống, nên không thốt ra lời các suy nghĩ, nếu có. Hoặc Long sống nhiều nội tâm, mà ngại diễn đạt trước bạn bè. Thật sự, đề tài trong các truyện của anh khá thay đổi.
Sau đó rất nhanh, chúng tôi tan tác một thời mới lớn. Sức vóc trưởng thành làm bật đi xa, văng tứ tung, mỗi người một ngả. Ngôi nhà bác Long mà nhiều hôm chúng tôi ghé lại tìm cơm ăn đã mất dạng. Món tép kho tiêu của bác không bao giờ tôi có thể quên, nó ngon như một tiêu chuẩn mẫu mực để kho cá trong sách nữ công gia chánh dạy nấu ăn. Món cá thu kho bác nấu với thịt heo bằng thứ nước hằng, là nước đường canh lên quánh sệt màu nâu đen đỏ sậm, thơm lừng, cũng chỉ mẹ tôi, hay cô tôi làm thời ở Hà Nội, mới còn trong trí nhớ. Khúc cá, miếng thịt ấy quyện vào rau răm, giềng, khô mà bùi, cắn làm sao để không đụng môi, ăn như ăn để dành, hiếm khi còn thấy lại. Cho nên mẹ tôi vẫn đúng khi phê bình các cô con dâu: “Các chị nấu như thế làm sao anh ấy ăn được.”

Gia đình Long, một thời, cho tôi cái cảm giác gần gũi, thân cận, thời “giang hồ” đầu đời với những bài ca chia cắt quê hương, “Hà Nội ơi, nhớ về thành phố xa xôi,” hay biệt ly hàng xóm, Sài Gòn rực rỡ đèn màu và những mối tình thanh xuân - một nửa dang dở dưới mái trường, nửa khác nồng men son phấn nơi quán xá. Tuổi trẻ bùng vỡ và với cây bút, chúng tôi tự nhiên lớn lên trong nghề văn, nghề báo, không chọn lựa và không bao giờ phải chọn lựa. Nếu có chọn, là chọn từ bỏ bớt đi sự cộng tác với những tờ báo tầm thường, để càng ngày càng hướng về văn học.

Cuộc vào đời mỗi phía có những trắc trở. Phía Nguyễn Thụy Long tàn khốc hơn là tôi biết. Còn nhớ, một buổi chiều đâu khoảng đầu thập niên '60, tôi đang ngồi trên velo solex trên đường Lê Văn Duyệt từ ngả Sài Gòn về Ngã Tư Bảy Hiền thì thấy Long nhợt nhạt bên đường. Thấy rất nhanh dù có cho xe chậm lại. Không nhớ gì ngoài khuôn mặt trắng xanh và đôi chân đi đôi dép Nhật bệ rạc, qua cái nhìn theo chiều dọc của người chạy xe. Có đến vài năm rồi chúng tôi không gặp nhau, không biết hoạt động của nhau. “Có tiền không,” đó là câu hỏi đầu tiên tôi nghe từ người bạn cũ. “Không.” Tôi trả lời. Xe vẫn tiếp tục chạy. Khoảng bốn năm năm sau gặp lại, hình ảnh ấy đã là một thắc mắc cần phải hỏi.

- Cái hôm hôm gặp nhau trên đường Lê Văn Duyệt ấy, không có thì giờ ngừng lại với nhau. Hôm đó cậu làm gì mà lớ ngớ bên lề đường như thế?

- Vừa ở tù ra. Vừa từ khám Chí Hòa đi ra tới đó thì trông thấy cậu.

Câu trả lời thản nhiên. Và không ai nhắc lại nữa. Cũng không nói thêm. Nhưng nó lớn dần trong lòng tôi. Hóa ra hôm đó người bạn tôi vừa mãn một hạn tù, đứng bên đường, lòng đói, không một xu dính túi. Anh gọi và tôi đã không dừng xe lại. Long ở tù, chẳng biết vì tội gì, song thiếu gì người ở tù mà vô tội, tôi biết, trước hay sau 1975. Tiểu sử Nguyễn Thụy Long, in trong một tuyển tập, đọc thấy: “Tên thật là Nguyễn Thụy Long, sinh ngày 9 tháng 8, 1938 tại Hà Nội (Bắc Việt)... Theo học trường Thiếu Sinh Quân, nhưng rồi lại bỏ binh nghiệp sau khi thân phụ mất. Theo học tiếp những năm trung học tại Sài Gòn, Cao Ðẳng Mỹ Thuật Gia Ðịnh rồi lại bỏ học đi lính khi gia đình gặp chuyện khổ, ly tán. Sau 5 năm quân đội, đào ngũ, tù tội, ra khỏi tù sống những ngày lang thang ở những nơi hạ lưu của xã hội...” Buổi chiều thấy Long đó, nghĩ lại, không biết có phải là sau 5 năm quân đội không? Cái tiểu sử đó, in trong một cuốn sách xuất bản ở Sài Gòn vào năm 1974, nói lên sự ngay thẳng của tác giả Vết Thù (1968), Sầu Ðời (1970). Anh không giấu diếm những trầm đọa của đời người. Anh sống rất thật. Hồi cộng tác với tôi ở tuần báo Hồng, anh ngồi xe mui trần, tóc tai đen nhánh, tua tủa, thân hình phì lũ, và bộ râu trông không được hiền lành. Lái xe hơi sì po, tay trái gác qua thành cửa, trông cũng ra vẻ Loan Mắt Nhung thật, tuy rằng không nhớ cặp mắt này có thăm thẳm không, vì cặp kính cận quá dầy, gọng đồi mồi quá đậm, che mất vẻ đẹp ví dụ là có.

Ở Hải Ngoại, năm 1980 gì đó, tôi nghe tin Long vào tù, ra tù, lại vào tù. Chẳng cần biết lý do. Nhưng có một lần nghe tin Long đánh vợ, tên là T., một nhân viên làm văn phòng báo Sống của Chu Tử. Cô này ra mách cán bộ là chồng cô giấu vũ khí trong nhà, đó là tin nghe, không rõ lắm sự xác thực. Nhớ Long, lúc đó tôi làm bài thơ bốn câu như sau:

Loan Mắt Nhung tù bởi vợ thưa
Mưu chi y giữ súng trong nhà
Long ơi nếu sống mà ra được
Giận vợ nhưng đừng đánh vợ nghe.

(Ðoạn 32, Thủy Mộ Quan, trang 23, Virginia, 1982).



II. Sài Gòn, 28 tháng 10, 1997

V.L. thân mến,

Cảm ơn còn nhớ đến Loan Mắt Nhung và làm thơ về hắn. Nhớ những đêm ngồi đọc thơ ở căn gác trại học sinh Phú Thọ. Những ngày mưa lặn lội đi uống cà phê Thọ ở khu Thăng Long Phú Thọ. Nhớ Thời Tập mày chủ trương. Khởi Hành mày làm việc và tao có góp truyện ngắn. Chuyện cũ nhắc lại càng nhớ càng buồn. Báo để mày biết tao vẫn sáng tác, dù một mình trên căn gác có tên là Gác Bút. Tại căn nhà ở Gia Ðịnh. Ðời sống buồn nhưng vẫn sống vẫn làm việc vẫn tự học tập. Ðời đã tặng cho nhiều cay đắng, mỉa mai, nhưng vẫn sống được như thường. Chẳng chết thằng Tây nào sất cả.
Hồi 10 năm trước... có đến thăm bà cụ tại đường Lê Văn Duyệt... Bạn xưa chẳng còn mấy thằng, ở đây gần như năm nào tao cũng đi đưa đám bạn cũ. Những thằng nào còn sống thì đều ngất ngư cả. Nhưng mắt vẫn ngời sáng, đầu tỏa hòa quang như sắp hiển thánh đến nơi. Tao thường gặp Bùi Giáng, hình như tao cũng có phần nào lây bệnh của thầy...


NTL

Có những nỗi sợ làm hèn con người ngay tại chốn tự do. Có những nỗi sợ khiến con người đáng trọng, trong nơi tù hãm. Mấy năm nay hải ngoại đón tiếp và trông chờ một số nhà văn lão thành miền Nam sẽ lên tiếng tiếp tục tranh đấu cho tự do, dân chủ, sau khi những vị này ra hải ngoại đoàn tụ với gia đình. Có những ai đã lên tiếng? Có những ai đã cầm bút trở lại trong chờ đợi của mọi người? Nhiều người im lặng vì có thể không còn thấy cần phải viết nữa; cũng có người im lặng vì có thể đã lỡ cấy sinh tử phù. Sự im lặng ấy cũng nên được kính nhi viễn chi. Nguyễn Thụy Long đang ở Sài Gòn. Sau 1975 bị tù khá lâu vì những gì đã viết. Nay anh vẫn viết, và viết gửi ra hải ngoại.

Lại viết hồi ký. Hồi ký của một nhà văn. Nội việc viết và gửi những gì mình viết ra hải ngoại, Nguyễn Thụy Long đã là một nhà văn đáng được ngưỡng mộ. Những truyện ngắn của anh sau này mô tả cuộc sống Sài Gòn sau 1975 được độc giả tán thưởng nồng nhiệt: truyện Ao Cá Bác Hồ là chuyện thực, anh được trao cho việc canh gác “ao cá của bác,” cán bộ lãnh lương hộ, đến nỗi đói mà vẫn phải bỏ việc. Chuyện một phụ nữ ngủ ngoài phố, ban đêm bị một người đàn ông lột y phục, không phải để xâm phạm thân xác, mà câu kết thật bất ngờ: ban ngày anh ta theo dõi chị, vì chị mặc cái quần tương đối còn mới, đến đêm đợi người phụ nữ ngủ say, anh ta lột cái quần của chị đem đi bán. Anh ta đói quá. Nhờ những truyện ngắn này, đa số độc giả đã bỏ phiếu để trao cho Nguyễn Thụy Long giải Văn Chương Toàn Sự Nghiệp năm 2005.

Anh từ trần cách đây 2 năm, vào ngày sinh nhật ông chủ ao cá mà anh canh giữ nhiều tháng không được lãnh một xu nào: ngày 2 tháng 9, 2009. Chúc Long đòi được nợ dưới âm phủ.

Viên Linh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

CÁI MUỖNG

Văn Quang
I. Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi "học tập cải tạo", chỉ biết rằng đã có những người "quen" với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được "xây dựng" bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La thì "trại" được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm "công binh xưởng" chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được một cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu "biệt kích" gồm vài căn nhà "xây dựng kiên cố" bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi "được học tập cải tạo" trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi "được giam" ở đây có vẻ như "cởi mở" hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra mở vào.
Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành "luật" thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm "mua bán đổi chác linh tinh", cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được "cải biên" thành dao kéo mini nhỏ nhắn cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– đưa vào "thiên lao" tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.

II. Ngày qua ngày, cái "không khí êm ả" của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ "an tâm, hồ hởi phấn khởi" mà bất kỳ anh "trại viên" nào cũng cứ phải viết khi phải làm những "bản kiểm điểm", mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin.
Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chuẩn bị gọi tên từng đội đi lao động để "một ngày lại vinh quang như mọi ngày" thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía "quân thù", mặt mũi "khẩn trương" rõ rệt. Họ sộc thẳng vào phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.

Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có một ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên "phòng thi đua". Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ "quốc cấm" của trại đã quy định.
Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những "trại cải tạo" thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những "tiêu cực". Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục "tuyệt thực", bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh "quản giáo", sự hỗn hào của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng "đề cao cảnh giác", lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi "mưu đồ".

Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được một anh nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc "kiểm điểm, phê bình" mà chúng tôi gọi là những "buổi tối ngồi đồng" để từ đó hy vọng lòi ra một vài cái "tội". Đội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai "phê" thì cứ mặc, còn cãi là còn "ngồi đồng". Đi làm suốt một ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn "phê bình" còn "kiểm thảo" thì chịu sao nổi. Nay "làm chưa xong" thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.
Thời điểm "căng" thì vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm "treo một chân", thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những chuyện thông đồng, những tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.

Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần "tưởng rằng yên ổn" của mấy anh "trại viên" còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người "chẳng có gì để mất" thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.
Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Đôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ "caritas" như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người chẳng có ai thăm nuôi.

Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi "thăm nuôi" người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh "mồ côi" không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái "thú đau thương".

III. Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Đó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Đây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng chẳng có gì để mất, chẳng có gì quan trọng.
Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống xu hào, đó là thứ "thực phẩm cao cấp" nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ xu hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống xu hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ "lả lướt" như tôi đã gặp ở phòng trà tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò "nghịch ngầm" giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống xu hào còn non chưa đến ngày "thu hoạch" nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.
Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói "Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn". Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng "ăn dè hà tiện" nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng "trăm công ngàn việc" từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.
Đây là thứ "gia bảo" tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.
Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một "trại viên", nhưng trước đây anh ta là cán bộ, "thoái hóa tiêu cực" sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là "phạm binh phạm cán" tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng "cậu huyện Nhụ nằm ở đó".
Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi "cải tạo" cụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.
Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ chịu hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là "ngụy" một bên là "cán" thì khó mà san lấp được...

Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc "cao cấp" hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.

Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:
- "Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào
nhà đá."

Tôi nằn nì:
- "Đấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự
điển. Nhưng tôi không cần, chỉ cần cái muỗng thôi."

Dực nhìn tôi nghi ngại:
- "Hay là mày giấu tiền trong đó?"
Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.

- "Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu tiền được?"

Dực nửa đùa nửa thật:
- "Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim
trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?"

- "Đúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì."

- "Vậy sao mày chỉ đòi lấy cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không
chết cả đám. Tao không chơi."

Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ "có văn hóa". Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.

Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó. Tôi đành kể cho Dực nghe:
- "Buổi sáng hôm tôi phải đi "học tập cải tạo", vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng hàng ngày đưa vào túi xách. Đứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc men… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: "con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy".

Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!
Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái, bên những người thân. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:
- "Thôi được, nếu đã là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa vào lấy, có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân."
Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách "ăn trộm" này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.
Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên "Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…" nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành xinh xắn. Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.
Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của "thằng chết tiệt" nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như "con có ở xa hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường".
Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó "nhí nhảnh" đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi rồi mai bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về "khu biệt kích". Thoát nạn! Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái "phòng đọc sách" chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Đó chính là mùa xuân của tôi.
Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải "cứu lấy" cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã "gan dạ" cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò. Anh bạn nhảy dù, la lên:
- "Bộ ông điên sao?"

Tôi điên thật, hy vọng mình mò được. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút và khom người xuống, thò một tay ra cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi được cái muỗng. Đôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:
- "Tôi biết ông mất cái gì rồi."

IV. Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi đã trở về, nhưng chưa trả lại cái muỗng cho con tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa hề gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu đã lập gia đình ở Miami Florida.

Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được điều gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sàigòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sàigòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái tình. Cái tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi lại mạnh mẽ và sâu sắc hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật đó trên đời không gì có thể so sánh được.

Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 nhân dịp cháu lập gia đình. Nhưng tôi ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Đúng là chuyện của người thì nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời.

Văn Quang
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image


Một Mình

Nhạc & Lời : Lam Phương
Tiếng Hát : Ngọc Anh


Sớm mai thức giấc...nhìn quanh một mình
ngoài hiên nắng lóe...đàn chim giật mình
biết lời tỏ tình...đã có người nghe

nắng xuyên qua lá....hạt sương lìa cành
đời mong manh quá...kể chi chuyện mình
nắng buồn cuộc tình...bỗng tắt bình minh

đường xưa quen lối...tình dối người mang
tình duyên trăm mối...một kiếp đa đoan
cố tìm...tình chồng chất...ngổn ngang...

còn bao lâu nữa...khi ta bạc đầu
tình cờ gặp nhau...ngỡ ngàng nhìn nhau....
để rồi....
còn gì nữa cho nhau

sáng trưa khuya tối...nhìn quanh một mình
đường quen không tới...tìm nhau ngại ngùng
chỉ vì đời mình
chưa có bình minh

đường xưa quen lối...tình dối người mang
tình duyên trăm mối...một kiếp đa đoan
cố tìm...tình chồng chất...ngổn ngang...

còn bao lâu nữa...khi ta bạc đầu
tình cờ gặp nhau...ngỡ ngàng nhìn nhau....
để rồi....
còn gì nữa cho nhau...

Em Đi Rồi


Em đi rồi, đường xưa có nắng không anh?
Lá hoa còn xanh, hay tàn theo tháng ngày ?
Giờ một mình anh, lẻ bước trong sương mai
Người tình còn đâu, chỉ đớn đau con tim

Em đi rồi từ đây tiếng hát cô đơn
Biết chia cùng ai nỗi buồn trên xứ người
Một lần biệt ly chẳng biết nói năng chi
Lệ tràn bờ mi thì đã quá chia ly
Dù tình thật xa tình vẫn còn đây
Khóe mắt u hoài vì ngấn lệ chưa vơi

Trời buồn tình ngâu trời đêm bão tố
Mưa tuôn thành giòng thuận gió biển đông
Tình buồn tình xa tình không mờ xóa
Hai phương trời rộng tình vẫn mênh mông


Image

Nhạc Sĩ Lam Phương
Lam Phương sinh năm 1937, tại Rạch Giá. Nội tổ của Ông vốn là người gốc Hoa, bỏ nước sang Việt Nam lập nghiệp trong đợt di dân ồ ạt của người Hoa chống đối với nhà Mãn Thanh. Đời ông nội của Lam Phương đã bắt đầu lai Việt Nam và đến thân phụ của anh thì chẳng còn dấu vết gì là người Hoa nữa.

Hồi đầu những năm khi mới chia cắt đất nước, dân miền Nam thường được nghe đi nghe lại bài Chuyến Đò Vĩ Tuyến trên đài phát thanh Saigon:
“Đêm nay trăng sang quá anh ơi
Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai mầu…”

Lúc ấy, bài hát đã khơi lên nỗi xúc động thay cho gần một triệu đồng bào vừa lìa xa cố hương. năm ấy Lam Phương mới 18 tuổi. Từ cái bước khởi đầu vững chắc ấy, người ta đã nhìn thấy ở trước Lam Phương là một tài năng lớn, một sức sáng tạo đích thực, và quả nhiên như mọi người dự đoán, Ông đã cống hiến cho tân nhạc Việt Nam gần 200 ca khúc đặc sắc trong nửa thế kỷ vừa qua.

Năm 1952, lúc mới 15 tuổi, Lam Phương sáng tác ca khúc đầu tay là Chiều Thu Ấy.
Khi tên tuổi bắt đầu vững vàng, Lam Phương lập gia đình vời kịch sĩ Túy Hồng (ban kịch Sống). Từ đó Ông phụ trách thêm công việc viết nhạc nền cho những vở Kịch nổi tiếng Túy Hồng, như Thu Sầu, Nghẹn Ngào, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Phút Cuối, Ngày Buồn...
Sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975, Ông quyết định vào phút chót, đem gia đình chạy lên tàu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy, cùng với gần 4000 đồng bào ra khơi tìm tự do.

Sang Mỹ một thời gian, Lam Phương chia tay với Túy Hồng. Nỗi đau ray rứt của cuộc tình tan vỡ trên đất khách đã là động lực sâu thẳm khiến Ông sáng tác mấy bản nhạc rất bi thương, trong đó có một bài để đời là Lầm:
“Anh đã lầm đưa em sang đây
Để đêm trường nghe tiếng thở dài
Thà cuộc đời im trong lòng đất…”

Rồi Lam Phương ngậm ngùi bỏ Hoa Kỳ sang Paris, xin vào làm công việc đóng gói quét dọn cho một tiệm tạp hóa. Cũng tại đây, Ông gặp lại ông bà Tô Văn Lai, chủ nhân Trung tâm băng nhạc Thúy Nga, vốn đã quen biết ở Sài Gòn từ trước năm 75. Thúy Nga ngày ấy cũng còn quá nghèo, chỉ sang lại những băng cũ mang theo từ Việt Nam, nên chả có việc gì cho Lam Phương làm. Chính bản thân ông Tô Văn Lai, Giáo sư Triết ở Sài Gòn, dân trường Tây từ nhỏ, giờ đây cũng phải đi học nghề sửa xe và đứng bơm xăng ở vùng Bondy, ngoại ô Paris.

Lam Phương tiếp tục sống lầm lũi cho qua ngày ở Kinh thành ánh sáng, mãi cho đến khi Ông bất ngờ gặp một khúc rẽ tình cảm mới: Một người đàn bà đẹp đã đến với trái tim Lam Phương, giúp Ông xóa đi những ngày tăm tối vừa qua. Nhờ khúc rẽ ấy, chúng ta mới có được một loạt ca khúc chan hòa niềm vui như Mùa Thu Yêu Đương, Tình Hồng Paris, Tình Đẹp Như Mơ, Bài Tango Cho Em:
“Từ ngày có em về
Nhà mình ngập ánh trăng thề…”

Cũng trong khoảng thời gian tạm cư ở Paris, anh sáng tác 3 ca khúc nổi tiếng khác:

- Cho Em Quên Tuổi Ngọc: Anh đặt cả lời Pháp lẫn lời Việt, viết cho một cuốn phim. Tựa tiếng Pháp là C’est Toi.
- Em Đi Rồi: Anh viết cho chuyện tình tan vỡ của nữ ca sĩ Họa My, khi Họa My sang Pháp để lại người chồng ở Việt Nam.
- Một Mình: Cảm xúc của chính Lam Phương buổi sáng thức dậy, cô đơn nhìn ra cửa trong ánh bình minh, ngoài hiên nắng lóe đàn chim giật mình...

Sau cuốn băng thành công, “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối’, tức Paris By Night 28, Lam Phương quay về định cư tại Hoa Kỳ (1995). Người đàn bà bảo lãnh Ông trở lại Mỹ. Tuy không phải là một cuộc tình lớn trong đời, nhưng Ông cũng cần một mái ấm ổn định ở tuổi đã trên 55. Về lại Cali, Lam Phương tiếp tục sáng tác và lâu lâu phụ việc với Trung tâm Thúy Nga lúc này đang trên đà thăng tiến mạnh mẽ.

Dòng đời đang êm trôi thì ngày 13 tháng 03 năm 1999, trong lúc đang dự tiệc ở nhà một người thân, không may anh bị tai biến mạch máu não. Từ đó Ông nói không ra lời, một nửa thân thể gần như bại liệt hoàn toàn. Bàn tay đánh đàn ghi nốt nhạc mấy chục năm qua, bây giờ không sử dụng được nữa. Anh chị em nghệ sĩ cùng nhau tổ chức đêm nhạc Lam Phương tại nhà hàng Majestic để hỗ trợ Lam Phương về cả hai mặt tinh thần và tài chánh.

Vài hôm sau, người đàn bà đang chung sống với Ông, lặng lẽ chia tay, bỏ lại Ông trên chiếc xe lăn, bơ vơ trong căn nhà vắng, để ngày nay anh thấm thía với nỗi quạnh hiu như những lời ca tiên tri chính anh đã viết:
“Sớm mai thức giấc
Nhình quanh một mình!”
Thời gian trôi qua quá nhanh. Mới đó mà Lam Phương “nhìn quanh một mình” đã 12 năm....

(Viết theo anh Nguyễn Ngọc Ngạn kể)
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Thanh Nga, Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc

Image
Hai vợ chồng nghệ sĩ Phạm Duy Lân - Thanh Nga
Nguyễn Phương

Tiếp tục các bài viết về âm nhạc truyền thống Việt nam, soạn giả cải lương Nguyễn Phương giới thiệu về thân thế sự nghiệp và cuộc đời nghiệt ngã của nữ nghệ sĩ tài danh của sân khâu cải lương Việt nam Thanh Nga, người được mệnh danh là Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc.
Ông Hội đồng quản hạt tỉnh Tây Ninh Nguyễn Văn Lợi kết hôn với bà Nguyễn Thị Thơ, sanh được ba con, tại xã Thái Hiệp Thạnh, tỉnh Tây Ninh : Trưởng nam là Albert Nguyễn Hữu Thìn sanh năm 1940, tức là diễn viên Hữu Thìn của đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Thứ nữ là Juliette Nguyễn Thị Nga, sanh ngày 31 tháng 7 năm 1942 tức là nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Nga. Thứ nam, Michel Nguyễn, sanh năm 1944, tác giả một tuồng cải lương duy nhứt tựa là « Người đi trong ngõ tối », từ trần năm 1970.
Năm 1945, ông Hội Đồng Lợi bị Việt Minh sát hại tại tỉnh Tây Ninh. Bà Nguyễn Thị Thơ sợ sẽ bị giết hại như chồng, nên dắt ba đứa con còn nhỏ xuống Sài Gòn lánh nạn. Năm 1948, Bà Thơ tái giá với ông Lư Hòa Nghĩa tức nghệ sĩ danh ca Năm Nghĩa, sanh được 5 con: Lư Bảo Quốc, tức danh hài Bảo Quốc. Lư Chí Bình, Lư Ánh Đào. Lư Ánh Mai và Lư Chí Tiên, không theo nghề nghệ sĩ sân khấu.
Năm 1952, mới 10 tuổi, Thanh Nga được nghệ sĩ Năm Nghĩa dạy ca và đưa lên sân khấu đoàn Thanh Minh ca vọng cổ bài Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa, trước khi mở màn hát. Nhạc sĩ Út Trong nhạc trưởng của đoàn hát dạy cho Thanh Nga ca những bài bản cổ nhạc khác.
Năm 1954, vai diễn đầu tiên của Thanh Nga là vai đào con Nghi Xuân trong tuồng Phạm Công Cúc Hoa.
Năm 1958, Thanh Nga 16 tuổi mới được đóng vai Sơn Nữ Phà Ca, vai chính trong tuồng Người Vợ Không Bao Giờ Cưới của soạn giả Kiên Giang và Qui Sắc. Qua vai hát Sơn Nữ Phà Ca, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được thưởng Huy Chương Vàng giải Thanh Tâm, do ký giả Trần Tấn Quốc thành lập, giải thưởng cho diễn viên triển vọng xuất sắc nhất trong năm.
Năm 1959, nghệ sĩ Năm Nghĩa, dưởng phụ và là thầy của Thanh Nga mất. Năm !960, Bà Bầu Thơ, thân mẫu của Thanh Nga trực tiếp điều khiển đoàn Thanh Minh, đổi bảng hiệu lại là Đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Bà rước những nghệ sĩ bực thầy về dạy cho Thanh Nga ca, diễn, như anh Năm Châu, cô Phùng Há, cô Ba Thanh Loan, cô Kim Cúc. Anh Ba Vân.
Từ năm 1960 đến năm 1968 nữ nghệ sĩ Thanh Nga thủ diễn những vai chánh, đóng cặp với những nam nghệ sĩ tài danh như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Dũng Thanh Lâm, Việt Hùng, Hoàng Giang và có lúc có anh Năm Châu, anh Ba Vân, Tám Vân, Minh Vương, Hùng Cường, bà Năm Sađec đóng chung tuồng với Thanh Nga.
Thanh Nga là một ngôi sao sáng, với sắc đẹp thật dịu dàng, ngày càng quyến rũ. Thanh Nga vào vai nữ hoàng, công chúa, cô có nét đẹp lộng lẫy kiêu sa. Vào vai cô gái quê nghèo, Thanh Nga mang nét thôn quê bình dị với chiếc áo bà ba, với giọng ca truyền cảm đến lạ lùng, Thanh Nga đã có những vai để đời như vai Xuân Tự trong tuồng Áo cưới trước cổng chùa; Mã Nhi Nương Bữu ( Gió ngược chiều ), Giáng Hương ( Sân khấu về khuya ), Diệp Thúy trong tuồng Đôi mắt người xưa, Uyên trong Ngã rẽ tâm tình, Trinh trong Con gái chị Hằng, Mía trong tuồng Bọt biển. . .
Năm 1960 Thanh Nga được thưởng bằng danh dự diễn viên xuất sắc giäi Thanh Tâm. Năm 1966, Thanh Nga lại được thưởng giải diễn viên xuất sắc nhất trong năm. Thanh Nga cũng thành công trong lãnh vực Điện ảnh qua các phim: Đôi mắt người xưa, Loan mắt Nhung, Lan và Điệp, Sau giờ giới nghiêm, Triệu phú bất đắc dï . . .
Năm 1968, Tết Mậu thân, chiến tranh lan vô các thành phố, chánh phủ ban hành lệnh giới nghiêm ban đêm, các đoàn hát cải lương không hát được, nhiều đoàn phải chịu rã gánh.
Đoàn Thanh Minh Thanh Nga được ông Phạm Duy Lân, Đổng Lý Văn Phòng bộ Thông Tin gợi ý xuất ngoại sang Pháp biểu diễn cho Việt Kiều xem nhân dịp Tết năm 1969. Đối với bộ Thông Tin, việc đưa đoàn Thanh Minh Thanh Nga sang Pháp hát là một công tác tranh thủ tình cảm của Việt Kiều ở Pháp khi đang có hội nghị bốn bên ở thủ đô Paris. Đối với đoàn hát thì đây là lối ra duy nhứt để đoàn có doanh thu. Bà bầu Thơ đồng ý, vì vậy ông Phạm Duy Lân thường xuyên giúp đở bà bầu Thơ giải quyết mọi thủ tục liên quan tới việc đưa đoàn hát xuất ngoại, việc chọn tuồng và chọn diễn viên.
Năm 1969, đoàn Thanh Minh Thanh Nga lưu diễn ở Pháp trong vòng 2 tháng, hát ở rạp Maubert, Playel và các tỉnh miền Nam nước Pháp, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được khán giả Việt Nam ở Pháp nhiệt liệt khen ngợi qua các tuồng Con gái chị Hằng, Nửa đời hương phấn, Tấm lòng của biển, Hoa mộc lan, Giấc mộng đêm xuân.
Sau chuyến lưu diễn ở Pháp về, nữ nghệ sĩ Thanh Nga thành hôn với ông Phạm Duy Lân. Năm 1972, đoàn Thanh Minh Thanh Nga ngưng hoạt động, nữ nghệ sĩ Thanh Nga đi hát cho đoàn Việt Nam của bà bầu Thu hoặc đi đóng phim, thu truyền hình tuồng cải lương.
Sau 30 tháng 4 năm 1975, bà bầu Thơ được phép thành lập gánh hát với bảng hiệu đoàn Thanh Nga. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga tiếp tục nhận được cảm tình nồng hậu của khán giả qua các tuồng Tấm lòng của Biển, Tiếng trống Mê Linh, Bài thơ trên cánh diều, Thái hậu Dương Vân Nga.
Ngày 16 tháng 3 năm 1977, trong lúc đoàn Thanh Minh diễn tuồng Tiếng trống Mê Linh tại rạp Lao Động B gần cầu chữ Y thì có một kẻ vô danh liệng một quả lựu đạn lên sân khấu. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga bị thương nhẹ, hai nhạc sĩ tân nhạc chết tên là Trần Văn Mùi và Lê Hiếu Đức.
Ngày 26 tháng 11 năm 1978, đoàn Thanh Minh diễn tại rạp Cao Đồng Hưng ở Gia Định, vở tuồng Thái Hậu Dương Vân Nga. Sau khi diễn xong, như thường lệ, Thanh Nga cùng chồng là ông Phạm Duy Lân và con là Phạm Duy Hà Linh lên xe về nhà riêng ở số 114 đường Ngô Tùng Châu Sai Gòn. Bọn cướp định bắt cóc cháu Cúc Cu, Thanh Nga và chồng bị hai người lạ mặt bắn chết sau khi dằng co để giựt lại đứa bé 6 tuổi tên Cúc Cu, con trai duy nhứt của họ (Cúc Cu là tên thân mật trong gia đình để gọi Phạm Duy Hà Linh).
Sáng hôm sau hay tin, chúng tôi lập tức đến nhà bà bầu Thơ. Bà rất buồn, nói như lạc giọng: " Chú thiếm Ba, Thanh Nga bị bắn chết rồi. Chú thiếm ra bệnh viện Sai Gòn thăm cháu! ". Thanh Lệ, vợ của Hữu Thìn cùng đi với chúng tôi. Khó khăn lắm chúng tôi mới vô bệnh viện được vì dân chúng hiếu kỳ đứng nghẽn cả lối đi. Nhân viên bệnh viện đưa chúng tôi đến phòng lạnh, kéo hai hộc đựng xác ra để chúng tôi nhìn.
Thanh Nga nằm hộc trên, khi kéo ra thì tóc cô đổ xõa dài xuống đất, đen mượt như một dòng suối đen. Thanh Nga đã được chị Ngọc Nuôi đánh phấn, thoa son, hóa trang như đang trình diễn. Nét mặt Thanh Nga vẫn đẹp, đôi mắt nhắm lại như đang trong giấc ngủ bình yên. Cô đã được chị Ngọc Nuôi và bà Sáu đồ hội thay cho mặc bộ y phục Thái Hậu Dương Vân Nga y như đã mặc trên sân khấu đêm rồi, trước khi bị sát hại. Ông Phạm Duy Lân, chồng của Thanh Nga nằm hộc dưới, nét mặt còn lộ vẻ kinh hoàng. Ông đã được thay bộ âu phục đen, thắt cà vạt sọc xanh trắng.
Các nghệ sĩ Kim Cương, Ngọc Nuôi, Liễu Thuận, Hoàng Giang, Kim Giác, Văn Ngà, bà năm Hay (em bà bầu Thơ) và chúng tôi nghe anh tài xế của ông Lân (tên Cát) kể lại diễn biến thảm cảnh Thanh Nga bị sát hại.
Anh Cát nói xe về tới nhà ở đường Ngô Tùng Châu, khi anh mở cửa xe bước ra thì bị một người lạ mặt đánh một báng súng vô ót rồi xô anh té chúi trở vô xe. Anh còn nghe tiếng cửa xe bên kia mở, tiếng khóc thét của Cúc Cu, tiếng la lớn của Thanh Nga :" Buông con tôi ra, buông con tôi ra" và tiếng của ông Lân la rất lớn: " Bớ người ta ...cướp... cướp ", tiếp theo đó là hai phát súng chát chúa. Kẻ sát nhân bắn xong, phóng lên chiếc xe Honda đen, chạy mất...
Ông Phạm Duy Lân chết liền tại chỗ, nằm gục dưới đất, gần cửa sau xe, vết đạn trúng tim. Thanh Nga bị bắn trên ngực phía trái gần tim. Cô được chở bằng xe cyclo đi bệnh viện Sài Gòn cấp cứu, nhưng xe đến ngang ga xe lửa thì Thanh Nga tắt thở.
Theo yêu cầu của Hội nghệ sĩ, lễ tang của Thanh Nga và chồng, ông Phạm Duy Lân do Hội nghệ sĩ đứng ra tổ chức. Quan tài của Thanh Nga và chồng được quàng tại nhà Hội, số 81 đường Nguyễn Văn Trỗi (tức đường Mac Mahon cũ) hai quan tài để song song, sát vào nhau và để một lư hương chung cho hai vợ chồng, tránh việc người vào viếng chỉ thắp hương cho Thanh Nga mà không thắp hương cho ông Lân. Khi liệm, Thanh Nga vẫn mặc y phục hát vai Thái Hậu Dương Vân Nga, y phục đẩm máu của Thanh Nga được để dưới đất ở đầu quan tài.
Tôi còn nhớ số người ái mộ Thanh Nga quá đông, phải tổ chức cho xếp hàng 4, từ cổng vô ở đường Nguyễn Văn Trổi, nối đuôi trên đường Tú Sương dài tới trường Régina Pacis. Liên tục trong ba ngày ba đêm, số người đến viếng tang kiên nhẫn nối đuôi nhau, tay cầm một cây nhang đã đốt sẵn hoặc một cành hoa do ban tổ chức đưa cho, để khi vào trước quan tài Thanh Nga đỡ tốn thì giờ thắp nhang.
Số nghệ sĩ các đoàn hát và các em học sinh ái mộ cũng xếp hàng 4 trên đường Nguyễn Văn Trỗi, cũng cầm nhang đốt sẵn, đi vào bằng cổng phụ, tới trước quan tài Thanh Nga, đặt hoa xuống hoặc cắm nhang rồi đi ra về theo cổng chính. Số người theo sau quan tài Thanh Nga đến nơi an nghỉ cuối cùng cũng rất đông, phải kể là một con số kỷ lục. Cứ tưởng tượng, số người đi đưa tang Thanh Nga đứng lấp cả lòng đường Hiền Vương. Đầu đám tang đã tới đường quẹo qua Dakao, dòng người nối đuôi vẫn chưa rời khỏi trụ sở của Hội ở đường Nguyễn Văn Trỗi. Có thể nói là cả mấy chục ngàn người đã đi tiễn Thanh Nga.
Phát súng bắn vào Thanh Nga đã làm bàng hoàng mọi người. Nhiều nghi vấn đã được đặt ra: Ai là thủ phạm đã giết Thanh Nga? Với mục đích gì?
Dư luận nói Phục Quốc quân giết Thanh Nga thì căn cứ vào việc Thanh Nga hát những vở tuồng của cộng sản, Thanh Nga là công cụ tuyên truyền của cộng sản, giết Thanh Nga là cảnh cáo những nghệ sĩ khác. Nhưng khi mất Sài Gòn rồi, mất cả miền Nam rồi, có nghệ sĩ nào mà không ca, không hát những tuồng đã được nhà cầm quyền đương thời kiểm duyệt và cho phép hát ? Những tuồng như Tiếng trống Mê Linh, Thái hậu Dương Vân Nga, Bên cầu dệt lụa, Tấm lòng của biển. . . có điểm nào đáng để mà kết án tử hình người nghệ sĩ đã hát những tuồng đó ?
Dư luận nói cộng sản Trung quốc giết thì căn cứ vào tình hình gay cấn giữa Trung Quốc và Việt Nam (Nạn Hoa kiều ở Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn... ) Thanh Nga diễn những vở chống xâm lăng Tàu như Tiếng trống Mê Linh, Thái Hậu Dương Vân Nga ...
Lúc đó tình hình giữa Việt Nam và Trung Cộng đang căn thẳng với nhau nên nhà cầm quyền lợi dụng cái chết của Thanh Nga để mà động viên tòng quân chống xăm lăng Tàu Cộng. Thanh Nga chết ngày 26 tháng 11 năm 1978, Tàu cộng đánh qua biên giới tháng 2 năm 1979, hỏng lẽ họ giết chết Thanh Nga ba tháng trước rồi mới tràn qua biên giới sao ?
Đến cuối năm 1987, có phiên " Tòa án nhân dân thành phố " xử những tên bắt cóc trẻ thơ và giết người. Các báo tường thuật: Vụ án Thanh Nga trước sau chỉ đơn thuần là một vụ bắt cóc con để tống tiền những cha mẹ có tên tuổi, có máu mặt sau 1975 như cô đào Kim Cương, cô đào Thanh Nga, bác sĩ Nguyễn La Hỹ. Họ là những người chỉ có một đứa con duy nhứt và lại lắm bạc nhiều tiền.
Con trai của đào Kim Cương tên Tô Rô bị bắt vào ngày 26 tháng 12 năm 1977 giá tiền chuộc là 20 lượng vàng. Sau khi Kim Cương nạp đủ số vàng trên, bọn cướp cho Tô Rô uống thuốc ngủ rồi đem tới bỏ trước cửa Sở Bưu Điện Saigon. Kim Cương được báo tin, tới nhận lại con.
Đến con trai của Thanh Nga, Cúc Cu Phạm Duy Hà Linh, vì Thanh Nga và ông Lân chống cự, kêu cứu, bọn chúng sợ quá, bắn đại để thoát thân (theo lời khai của can phạm Nguyễn Thanh Tân trước Tòa)
Mấy tháng sau, ngày 6 tháng 2 năm 1979, xảy ra vụ bắt cóc con trai bác sĩ Nguyễn La Hỹ làm việc tại bệnh viện Chợ Rẩy tên là Phương. Bọn bắt cóc người cũng đòi tiền chuộc là 20 lượng vàng.
Các báo kể: " Trong một cuộc phục kích, công an bắn trúng lưng tên Nguyễn Văn Hóa làm tên nầy bị trọng thương, phải vào bệnh viện cứu cấp. Do lời khai của tên Hóa, những tên trong băng bắt cóc cháu Phương bị sa lưới, trong đó có Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức. Cháu Phương, con bác sĩ Hỹ được Tân đưa về giấu ở ấp Ngăn Rô, Sóc Trăng, nơi mà hơn một năm trước chúng cũng giam giữ cháu Tô Rô. Như vậy hai vụ bắt cóc tống tiền con của hai nhân vật có tiếng tăm và giàu có thì đã rõ. Còn những phát đạn bắn vào vợ chồng Thanh Nga thì tên Tân khai là vì phản ứng quyết liệt của hai vợ chồng Thanh Nga, chúng sợ ông Lân có súng, nên ra tay trước để tẩu thoát.
Mạng sống của con người thì ai cũng phải trân trọng, bởi lẽ người ta sinh ra chỉ một lần và chết đi cũng chỉ một lần. Nhưng cái chết của từng mỗi con người chỉ là tổn thất của từng mỗi gia đình hay trong một phạm vi quan hệ nhỏ. Còn sinh mạng bị cướp đi của Thanh Nga là một tổn thất không gì bù đắp nổi của sân khấu cải lương và là niềm đau của hàng triệu người. Dù tội ác đã được trừng trị, nhưng có lẽ thêm ngàn lần trừng trị nữa cũng không tương xứng với những tổn thất mà tội ác đã gây ra.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 4 guests