Bình Luận , Quan Điểm

TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »


Image

Ẩn số im lặng của Sài Gòn

Phan Nguyễn Việt Đăng,
viết riêng cho RFA từ Sài Gòn

Vì sao Sài Gòn không diễn ra biểu tình? Người Sài Gòn đã mệt mỏi với lòng yêu nước bị chà đạp hay sự im lặng đó là một ẩn số đáng chờ đợi?

Hà Nội ngày càng sôi động và đa dạng hơn qua các cuộc biểu tình yêu nước. Đến lần biểu tình thứ 10, người ta nhìn các nhân tố mới, cũng như nhiều tư duy đáng ngưỡng mộ của người xuống đường như phản đối sự xâm nhập trái phép của lao động Trung Quốc, vinh danh những tử sĩ ở Hoàng sa 1974 và 1988... Nhưng Sài Gòn, thì vẫn im lặng.

Mỗi buổi sáng chủ nhật, giới an ninh mật vụ vẫn kiên trì giăng bẫy, vẫn hậm hực rà soát quanh Nhà thờ Đức Bà, công viên 23-9.., nhưng gần như không có kết quả gì từ nhiều tuần. Người Sài Gòn đã mệt mỏi với lòng yêu nước bị chà đạp hay sự im lặng đó là một ẩn số đáng chờ đợi?

Đối phó với an ninh

Có thể nói rằng, im lặng và chờ đợi là một trong những phương thức đấu tranh quan trọng mà chính các cán bộ “lão thành” của giới sinh viên xuống đường trước năm 1975 cũng nhìn nhận khi quan sát tình hình. “Sài Gòn như trái bom hẹn giờ, rất khó đoán, đó là lý do vì sao công an luôn thấp thỏm và chưa bao giờ an tâm vì sự yên ắng tạm thời này”, một cựu cán bộ dân vận trước năm 1975, giấu tên, bình luận như vậy.

Im lặng và nhẫn nại không lộ diện lúc này, được coi là một trrong những đối sách của người yêu nước ở Sài Gòn để tránh các phương thức bắt nóng, bắt nguội và chụp mũ của công an. Cảm nhận được sức nóng của những đợt trấn áp mới, từ trước và sau khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tái nhận chức, người Sài Gòn như lùi lại quan sát để nghe ngóng thêm tình hình. Sài Gòn được coi là điểm nóng quan trọng, chứa đựng nhiều thành phần hết sức có kinh nghiệm dân vận, đấu tranh, biểu tình, tổ chức...v.v từ những năm 50-60. Do đó, để yên tâm triệt tiêu mọi tiếng nói và làn sóng tư tưởng khác biệt, Sài Gòn sẽ là nơi dễ bị ngành an ninh dày xéo nhất.

“Lịch sử xuống đường của Sài Gòn luôn là sự chọn đúng thời điểm và là điểm nhấn lớn, kéo theo mọi nơi khác tham gia”, người cựu cán bộ dân vận nói trên bình luận. Mượn một câu nói của Hồ Chí Minh, nhân vật này nói một cách hóm hỉnh “Sài Gòn đi trước, về sau”.

Tại các ngã tư đường, đặc biệt tại trước Nhà Văn hóa Thanh niên, nhất là tại khu vực Hồ Con Rùa, rất đông công an vào mỗi sáng chủ nhật, ảnh chụp sáng ngày 14-07-2011. Courtesy Nuvuongcongly.
Phương thức trấn áp người yêu nước của giới an ninh mật vụ tại Sài Gòn như lôi kéo, bắt cóc mang đi công khai giữa đường phố... để làm hài lòng các bản báo cáo từ Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc, đã chựng lại trước sự phản ứng mạnh mẽ từ Hà Nội sau vụ công an Minh đạp vào mặt anh Nguyễn Trí Đức. Đổi vào đó, theo các cuộc họp phổ biến nghiệp vụ của công an ở Sài Gòn, 3 phương pháp chủ yếu sẽ là bắt nóng, bắt nguội và chụp mũ.

Bắt nóng, tức là công an mật vụ quan sát tìm những hạt nhân trong đoàn biểu tình, hoặc khiêu khích, hoặc chờ thời cơ đứng xa đám đông sẽ bắt đi, thẩm vấn và kết tội lãnh đạo biểu tình, sách động.

Bắt nguội, là tìm đến từng gia đình, từng nơi cư trú của người biểu tình bị nhận diện. Sách nhiễu, hành hạ bằng cách mời, triệu tập liên tục, tìm cớ để họ không sống yên ổn để từ đó mệt mỏi không tham gia biểu tình.

Chụp mũ, là kết tội đi biểu tình do nhận tiền nước ngoài. Hoặc do là thành viên Đảng Việt Tân hoặc phản động nói chung. Bất kỳ ai khi bị bắt, nếu có liên lạc với người thân hay bạn bè ở nước ngoài đều bị chụp mũ nhận tiền để biểu tình phá hoại. Nếu có liên lạc hay trò chuyện với ai trên mạng, cũng sẽ bị kết tội là Việt Tân hoặc là cảm tình viên của Việt Tân. Ngay trong khi có biểu tình, công an cũng cài người luôn hô to hoặc chụp mũ những người bị bắt là “phản động” khi có ai lên tiếng bênh vực hay hỏi han.

Công an sợ gì?

Điều làm giới an ninh luôn lo âu, là sự xuất hiện của những nhân tố có uy tín có thể dẫn đầu đoàn biểu tình hay hướng dẫn hành động. Trong cuộc biểu tình ngày 5-6-2011 ở Sài Gòn, sự có mặt của những nhân vật quan trọng như các ông Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Lê Công Giàu, Cao Lập... đã mở ra một không khí hoàn toàn khác mà chính giới an ninh cũng bối rối.

Giới trẻ luôn cần những nhân tố như vậy dẫn đường cho tinh thần của họ. Và cũng vì vậy mà hầu hết những nhân tố có thể tạo được sinh khí cho các cuộc xuống đường yêu nước, chống Trung Quốc đều bị công an chiếu cố hết sức tận tình.

Tại các ngã tư đường, đặc biệt tại trước Nhà Văn hóa Thanh niên, rất đông công an vào mỗi sáng chủ nhật, ảnh chụp sáng ngày 14-07-2011. Courtesy Nuvuongcongly.
Những nhân vật gần đây xuống đường như các ông Đỗ Trung Quân, Nguyễn Đình Đầu, Đinh Kim Phúc, Nguyễn Viện... đều bị mời lên, hăm dọa, sách nhiễu theo những kiểu khác nhau. Có thể nói phía Hà Nội, khi các giới nhân sĩ chọn cách phản ứng quyết liệt với các sự theo dõi, đàn áp, bắt bớ... thì Sài Gòn chọn cách mềm dẻo để bảo đảm một khoảng tự do, dành lại cho cơ hội chín muồi cần thiết.

Nhưng còn một điều mà giới công an sợ hơn nữa. Họ luôn luôn tìm kiếm sục sạo xem giới nhân sĩ, trí thức, người yêu nước... có một đường dây liên kết bí mật nào với nhau hay không? Có hay không, quả thật không ai biết, nhưng rất lạ là khi giờ G đến, đột nhiên giới nhân sĩ, trí thức, đấu tranh của Sài Gòn xuất hiện, và khi thì truy xét không ra một ai.
Hơn nữa, phương thức đấu tranh của Sài Gòn cũng đa dạng, không nhất thiết là chỉ biểu tình. Buổi tưởng niệm chiến sĩ trận vong ở đảo Hoàng Sa ngày 27-7 tại số 43 Nguyễn Thông, Sài Gòn vừa qua, cũng là một ví dụ. Hoặc việc hợp thức hóa khẩu hiệu chống đường lưỡi bò chín đoạn của Trung Quốc qua việc in lên áo công khai lên áo phông cũng từ Sài Gòn lan đi khắp nơi.

Công an sợ những cuộc xuống đường sôi sục của Sài Gòn nên trấn áp tàn bạo. Nhưng họ cũng sợ hãi sự im lặng của Sài Gòn. Mọi thứ như một sức ép lặng lẽ tăng dần theo thời gian và các sự kiện của tổ quốc. Những ngày này, giới công an đang kiệt sức tìm kiếm xem ai liên kết với ai, ai có thể cùng ai xuống đường, và ai là người có thể là hạt nhân của các cuộc biểu tình sắp tới.

Có ý kiến cho rằng Sài Gòn đã sợ hãi dừng bước trong cuộc bày tỏ lòng yêu nước, chống Trung Quốc xâm lược. Nhưng thật sự thì không, chính công an mới đang lo sợ vì sự im lặng đáng ngờ này. Sài Gòn im lặng cám ơn Hà Nội giữ lửa nhưng Sài Gòn chắc chắn cũng sẽ không bao giờ để Hà Nội một mình với ngọn cờ yêu nước, khi đến lúc.

Phan Nguyễn Việt Đăng (Sài Gòn)
KhoaiLang
Posts: 36
Joined: Thu Nov 04, 2010 11:32 pm
Contact:

Post by KhoaiLang »


Image

ĐÂU LÀ SỰ THẬT?.
Đặng Xuân Khánh
Giới trẻ chúng tôi, thành phần lớn lên sau chiến tranh không hiểu biết lý do tại sao đã có cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1954-1975), mà báo chí ngoại quốc thường gọi là chiến tranh Việt Nam (Vietnam War).

Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như “chế độ khát máu Mỹ-Diệm”, ”miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp”, “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”, “ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ”, “giải phóng miền Nam” v.v…

Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã hiểu biết nhiều hơn trước. Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền học tập trong nhà trường.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng còn vài thắc mắc rất đơn giản. Kính mong các bác, các chú, là những người đã và đang phục vụ cho đảng và nhà nước Việt Nam và những người vẫn khư khư cho rằng chiến tranh Việt Nam là cần thiết để “giải phóng miền Nam” thoát khỏi sự “kìm kẹp của Mỹ, Ngụy” v.v giải thích giùm:

1. Sau năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneve đã được ký kết ngày 27/10/1954 chấm dứt chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian ông HCM lãnh đạo chính quyền miền Bắc, tại sao 1 triệu người miền Bắc đã phải lên tàu đua nhau bỏ chạy vào miền Nam để cho “Mỹ – Diệm kìm kẹp” mà không ở lại cùng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và chủ tịch HCM? Số 1 triệu người này có thể còn nhiều lần hơn nếu nhà nước không dùng bạo lực ngăn chặn, không cho họ ra đi.
Tại sao ngoại trừ một số các cán bộ đảng viên cộng sản (CS) tập kết ra Bắc, người dân miền Nam lại không đua nhau chạy ra Bắc theo chế độ CS của ông HCM, mà tuyệt đại đa số cứ nhất quyết ở lại cho “Mỹ – Diệm kìm kẹp”? Theo hiệp định Geneve thì lúc đó mọi người được hoàn toàn tự do lựa chọn đi ra miền Bắc hay ở lại miền Nam cơ mà ???

2. Tại sao hồi còn chiến tranh Việt Nam (trước 30/4/1975), mỗi khi có giao tranh giữa quân đội miền Nam (VNCH) và bộ đội “giải phóng” thì dân chúng đều chạy về phía có lính miền Nam trú đóng, chứ không chạy về phía bộ đội “giải phóng”? Nếu dân miền Nam bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp”, cần phải được “giải phóng”, thì lẽ ra họ phải hồ hởi mà chạy về phía các “đồng chí bộ đội”, tay bắt mặt mừng và cám ơn “được giải phóng” mới phải , chứ sao lại bồng bế nhau mà chạy trối chết để xa lánh các “đồng chí” ấy? Đua nhau chạy vế phía có lính miền Nam để tiếp tục bị “kìm kẹp”, không lẽ họ ngu đần đến nỗi chỉ thích bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp” chứ không muốn được “giải phóng” à?

3. Năm 1975, sau khi chiến tranh chấm dứt, “bộ đội giải phóng” chiếm toàn bộ miền Nam , đất nước thống nhất, Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào. Tại sao dân miền Nam lại lũ lượt vượt biên trốn chạy ra đi, bất chấp nguy hiểm, bão tố, cá mập, hải tặc mà vượt Biển Đông; bất chấp các bãi mìn, hay bị Khơ-me Đỏ chặt đầu; để bằng đường bộ băng qua Campuchia sang Thái Lan?

Chúng tôi là học sinh trên ghế nhà trường XHCN đã được học tập là “Mỹ- Diệm đã ban hành đạo luật 10/59 tố Cộng, diệt Cộng, lê máy chém đi khắp miền Nam”, nào là “bè lũ tay sai quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu”, nào là “ghi khắc tội ác dã man của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai”… v.v…. Khi học xong, đọc hay nghe những dòng chữ như thế, thì chúng tôi nghĩ, chắc hẳn chế độ ở miền Nam dù với ông Diệm hay ông Thiệu thì cũng tàn ác kinh khủng lắm, thế nhưng tại sao lại suốt từ 1954 cho thời điểm ngày “Giải phóng” 30/4/1975 – 20 năm trời, không hề có hiện tượng người dân miền Nam từ bỏ, trốn khỏi miền Nam để xuống tầu đi vượt biên?

Thay vì đến khi bộ đội ta từ miền Bắc vào Nam “giải phóng”, lẽ ra phải ở lại mừng vui, thì họ lại ùn ùn kéo nhau ra đi là thế nào? Thế thì có tréo cẳng ngỗng không? Tại sao hàng ngàn dân miền Bắc, nhất là từ Hải Phòng, đã có kinh nghiệm sống dưới sự lãnh đạo của Bác và Đảng hơn 20 năm, cũng bỏ miền Bắc XHCN, vượt vịnh Bắc Bộ sang Hong Kong mong có cơ hội được sống với thế giới tư bản, chứ nhất định không ở lại miền Bắc XHCN “tươi đẹp”?

4. Năm 2005, sau khi hoà bình đã về trên quê hương được 30 năm, đảng CS đã lãnh đạo đất nước được 30 năm, (chính quyền Sài Gòn chỉ lãnh đạo miền nam có 20 năm thôi, 1954-1975), thì tại sao dân chúng vẫn còn lũ lượt tìm cách rủ nhau ra đi. Trai thì đi lao động cho nước ngoài, rồi tìm cách trốn ở lại, gái thì cắn răng chịu đựng tủi nhục lấy toàn đàn ông (già cả, tàn tật, hết thời, …) của Đài Loan , Singapore , Đại Hàn, để có cơ hội thoát khỏi Việt Nam đổi đời???

Tại sao du học sinh, thành phần gọi là tương lai của đất nước vẫn luôn tìm mọi cách (ngay cả khi chưa học xong) để ở lại nước ngoài, như lập hôn thú (giả có mà thật cũng có) với người Việt hải ngoại, chứ nhất định không chịu trở về Việt nam??? Tại sao như vậy?

5. Những năm gần nay, những người Việt trước nay đã trốn đi vượt biên, chạy theo để “bám gót đế quốc”, là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”, là “thành phần phản động”, là “những kẻ ăn bơ thừa, sữa cặn của Mỹ ” như nhà nước Việt Nam vẫn từng đã nói. Nay được chào đón hoan nghênh trở về Việt Nam làm ăn sinh sống và được gọi là “Việt kiều yêu nước”, “khúc ruột ngàn dặm”? Có đúng họ “yêu nước” không? Tai sao họ không dám từ bỏ hoàn toàn quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, Úc, xé bỏ hộ chiếu nước ngoài và xin nhập lại quốc tịch Việt Nam và vĩnh viễn làm công dân nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam???

6. Trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, chúng tôi được giảng dạy rằng, “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu “đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Theo như chúng tôi tìm hiểu, năm 1961 khi TT Ngô Đình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc ấy chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường xá…
Mỹ chỉ bắt đầu đưa quân đội vào miền Nam từ năm 1965, sau khi lật đổ và giết ông Ngô Đình Diệm do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Vậy thì vào thời điểm 20/12/1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống?? Các bác, các chú chống ai, chống cái gì vào năm 1960 ???

_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ? Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?
_ Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu Á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?
_ Tại sao Liên Xô và các nước Đông Âu được gọi là thể chế chính trị XHCN ưu việt nhất thời đại lại tự sụp đổ tan tành ?
_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn về đời sống kinh tế ?
_ Tại sao nước ta không tiếp tục phát triển lên con đường XHCN mà ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường, phải đi làm công cho các nước tư bản?
_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch? Mà không đi du học ở các nước CS? v.v…
Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của CS đều trở thành vô nghĩa bởi sự thực đã quá hiển nhiên không thể công khai nhìn nhận. CS không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc nội chiến cho một sai lầm. CS xóa bỏ giai cấp , cào bằng , cho tư bản là bốc lột , giẩy chết rồi bây giờ quay lại xây dựng nền kinh tế thị trường của tư bản ?!!! kêu gọi các nước tư bản đầu tư , xây dựng nền kinh tế thị trường , phải làm lại từ đầu.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ðất sống cho người khác ý kiến

Huỳnh Ngọc Chênh
(Nguồn: huynhngocchenh.blogspot.com)


Từ xa xưa đến nay, trên toàn thế giới, chưa có nhà cầm quyền nào cho rằng mình đại diện cho ý chi của toàn dân. Nhà cầm quyền chỉ đại diện cho ý chí của một bộ phận nhân dân. Nhà cầm quyền chân chính hay còn gọi là chinh quyền thì bộ phận nhân dân mà họ đại diện chiếm số đông, nhà cầm quyền khác đại diện cho ý chí của một bộ phận nhân dân không chiếm đa số.
Image
Biểu tượng cho tự do ngôn luận, của UNESCO.

Những nhà cầm quyền chỉ đại diện cho ý chí của một người hoặc của một nhóm nhỏ người thì được gọi là nhà cầm quyền độc tài. Ngày nay những nhà cầm quyền như vậy vẫn còn tồn ở nhiều nước trên thế giới. Hầu hết những nhà cầm quyền độc tài đều cai trị dân bằng các công cụ trấn áp bạo lực, không cho phép tồn tại những người dân bất đồng ý kiến. Những người bất đồng ý kiến bị đưa ra ngoài vòng pháp luật, bị trấn áp tàn bạo và tiêu diệt sạch. Ðó là những nhà cầm quyền phong kiến thời xưa, nhà cầm quyền Phát xít ở Ðức và Ý, nhà cầm quyền Apacthai ở Nam Phi, nhà cầm quyền Taliban ở Afghanistan, nhà cầm quyền Cộng Sản Pôn Pốt, nhà cầm quyền Cộng Sản Bắc Triều Tiên, các nhà cầm quyền Cộng Sản ở Ðông Âu...

Ở Việt Nam, những người yêu nước theo ý chí Cộng Sản đã giành chính quyền (từ do đảng Cộng Sản sử dụng) từ năm 1945. Nhà cầm quyền đó tồn tại liên tục cho đến ngày nay và tự đặt dưới quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản nên được gọi là nhà cầm quyền Cộng Sản.

Do vậy nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đại diện cho ý chí của gần bốn triệu đảng viên đảng Cộng Sản và có thể có thêm ý chí đồng tình của một bộ phận dân chúng không phải là đảng viên nữa. Như vậy vẫn còn một bộ phận dân chúng không đồng ý chí với nhà cầm quyền Cộng Sản. Bộ phận dân chúng đó là những người bất đồng ý kiến. Bộ phận đó chiếm đa số hay thiểu số trong toàn dân là chưa được xác định vì nhà cầm quyền Cộng Sản chưa hề cho tổ chức trưng cầu dân ý về vấn đề nầy.

Những người bất đồng ý kiến cũng có nhiều loại. Có người hoàn toàn chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản và hệ thống pháp luật của nhà cầm quyền nầy bằng những hành động cụ thể. Những người ấy tự đứng ra ngoài vòng pháp luật của nhà cầm quyền Cộng Sản, hoặc tập họp lại thành từng nhóm, hoặc riêng rẽ từng cá nhân, hoặc công khai hoặc bí mật hoạt động chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản. Dĩ nhiên những người đó bị nhà cầm quyền Cộng Sản xem là kẻ thù và họ bị tiêu diệt.

Lại có những người bất đồng ý kiến khác, chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản một cách tiêu cực, họ thấy không còn đất sống trên chính quê hương mình nên từ bỏ quê hương tổ quốc để ra đi. Hơn một triệu người như vậy đã đào thoát vào Nam sau năm 1954, khi nhà cầm quyền Cộng Sản cai trị một nửa tổ quốc phía Bắc và hàng triệu người khác chấp nhận mọi hiểm nguy (bị tù đày, bị bắn chết, bị đói khát trên biển, bị cướp biển hãm hiếp và sát hại...) đào thoát ra nước ngoài sau năm 1975, khi nhà cầm quyền Cộng Sản cai trị trên toàn cõi Việt Nam.

Nhưng cũng còn một bộ phận dân chúng bất đồng ý kiến khác vẫn còn làm ăn sinh sống ngay trên đất nước Việt Nam. Tạm gọi họ là những người bất đồng ý kiến hợp pháp. Họ là những người bất đồng ý kiến nhưng không chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản, họ chấp nhận sự cai trị của nhà cầm quyền nầy, tôn trọng luật pháp của nhà cầm quyền nầy đặt ra và thậm chí không dám cho nhà cầm quyền biết rằng họ là người bất đồng ý kiến vì họ tưởng rằng- hoặc nhà cầm quyền làm cho họ tưởng rằng- bất đồng ý kiến là vi phạm pháp luật. Tuy vậy trong số những người bất đồng ý kiến hợp pháp cũng có những người am hiểu luật pháp, họ biết rằng luật pháp hiện nay cho phép họ có ý kiến khác, cho phép họ được bày tỏ ý kiến khác đó của mình.

Nhưng những người bất đồng ý kiến hợp pháp bày tỏ ý kiến của mình bằng phương tiện gì?

Theo luật pháp của nhà cầm quyền hiện hành, tất cả các phương tiện truyền thông trong nước chỉ được cấp phép hoạt động khi nó là của cơ quan của đảng Cộng Sản, của các tổ chức quần chúng của đảng Cộng Sản hoặc của nhà cầm quyền (cũng của đảng Cộng Sản). Dĩ nhiên những phương tiện truyền thông nầy - là hàng ngàn tờ báo, hàng trăm đài phát thanh và truyền hình - là của đảng Cộng Sản nên chỉ đăng tải những ý kiến của đảng Cộng Sản, của nhà cầm quyền Cộng Sản và của những người dân có cùng ý kiến với đảng Cộng Sản. Do vậy ý kiến của những người bất đồng ý kiến hợp pháp không thể nào được xuất hiện trên các phương tiện truyền thông Cộng Sản ấy.

Tuy vậy vẫn có chỗ cho những người bất đồng ý kiến hợp pháp nêu lên ý kiến của mình đó là các phương tiện truyền thông ở nước ngoài và những trang blog, trang web cá nhân.

Luật pháp hiện hành không cấm đoán cá nhân mở trang web riêng, mở blog riêng. Do vậy không những người dân mà các quan chức của đảng Cộng Sản, của nhà cầm quyền Cộng Sản, kể cả những lãnh đạo cao cấp đều có mở trang web riêng của mình.

Vì Việt Nam đã hội nhập với thế giới, đã bang giao chính thức với nhiều nước trên thế giới nên những phương tiện truyền thông của các nước mà Việt Nam đã bang giao như BBC, VOA, RFI, CNN, Hoàn Cầu, NHK, RAI, Ðài Bắc Kinh, New york Times... không phải là những tổ chức thù địch. Vì thế công dân Việt Nam xem, nghe hoặc nêu ý kiến trên các phương tiện truyền thông đó đều hoàn toàn không trái với pháp luật. Bằng chứng là các nhà lãnh đạo Cộng Sản của nhà cầm quyền Việt Nam như Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Ðức Mạnh, Trương Tấn sang... đều đã một hoặc nhiều lần nêu ý kiến của mình trên các phương tiện truyền thông đó.

Chính vì hiểu điều nầy mà thời gian gần đây hàng loạt những người bất đồng ý kiến hợp pháp đã không ngần ngại đăng tải ý kiến của mình trên các trang web cá nhân hoặc trên các đài báo hợp pháp nước ngoài.

Như vậy trên đất nước Việt Nam đang tồn tại một bộ phận nhân dân bất đồng ý kiến hợp pháp được quyền sinh sống làm ăn bình đẳng, được quyền nêu ý kiến bất đồng của mình trên mọi phương tiện truyền thông hợp pháp trong và ngoài nước miễn các phương tiện ấy không từ chối.

Tuy nhiên trong thực tế nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đang gây sức ép lên những người bất đồng ý kiến hợp pháp, đang đối xử với họ một cách thiếu bình đẳng so với những người dân đồng chính kiến (đáng lẽ ra những người bất đồng ý kiến phải được ưu ái hơn vì họ đã bị thiệt thòi là chấp nhận sự cai trị của nhà cầm quyền không đồng với ý kiến của họ). Bằng chứng là càng ngày càng có nhiều người bất đồng ý kiến bị bắt bớ vì lý do nầy lý do khác, tiêu biểu và thời sự nhất là vụ bắt bớ và xét xử sai luật nhà bất đồng ý kiến hợp pháp Cù Huy Hà Vũ. Vụ việc nầy đang gây ra những phản ứng không đồng tình trong dư luận cả trong lẫn ngoài nước. (Lý do kết tội chống nhà cầm quyền của ông Hà Vũ cũng như của một số những người bất đồng ý kiến khác là: đã nêu ý kiến bất đồng trên các trang web cá nhân hoặc trên các phương tiện truyền thông nước ngoài).

Tất cả những gì đã và đang diễn ra trong thời gian gần đây đã gây ra những lo ngại cho những người dân bất đồng ý kiến hợp pháp, họ có cảm giác như bị thu hẹp dần đất sống trên chính đất nước của họ.

Những người dân bất đồng ý kiến hợp pháp, qua các phương tiện truyền thông gần đây cho thấy, họ không bỏ chạy ra nước ngoài nữa, họ ở lại trên đất nước của họ và đang lên tiếng đòi hỏi: Họ phải có đất sống bình đẳng như những người dân đồng ý kiến khác.

Luật pháp của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam không chống lại điều nầy.

Chỉ có chế độ độc tài mới không chừa đất sống cho những người dân khác ý kiến.

Huỳnh Ngọc Chênh
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Nỗi khát dầu ghê gớm của Trung Quốc
khiến chỉ cần Việt Nam ‘sai phạm nhỏ’ là chiến tranh bùng nổ


Cali Today News - Giới truyền thông trên thế giới dồn dập đưa tin và nhận định về tình hình ‘nóng cực độ’ ở Biển Đông vài ngày qua và giới chuyên gia về TQ bắt đầu lên tiếng.

Họ nhận định là TQ đã ‘tuyệt vọng đi tìm nguồn dầu từ các vùng xa xôi như châu Phi, Nam Mỹ và Trung Đông.
Bây giờ họ công bố ước lượng là số dầu hỏa của Biển Đông có thể lên tới 80% sản lượng của tất cả các quốc gia Ả Rập cộng lại’

Image
Lực lượng hải quân Việt Nam trên đảo Trường Sa. Photo courtesy: AFP

Yanzhong Hang, một chuyên gia của TQ về bang giao quốc tế của Hội Đồng CFR, nhận định: “Tôi nghĩ chiến tranh có thể xảy ra giữa VN và TQ, nếu VN phạm ‘vài sai lầm ngu xuẩn’ như kiểu của Ấn Độ năm 1962 thì thế nào TQ cũng ra tay trả đũa”

Một số khác nhận định là ‘tuy chiến tranh có thể không nổ ra, liên hệ giữa VN và TQ không sao hữu hảo được nữa rồi’

Frederick Z. Brown, giáo sư môn Đông Nam Á của đại học John Hopkins, cho hay: “Tôi không nghĩ tình hình sắp phát cháy tới nơi, nhưng coi bộ căng thẳng quá rồi, mặc dù vùng này có bao giờ yên ắng từ năm 1988 đến nay đâu”

Sau vụ tàu Viking 2 bị cắt giây cáp, giới quan sát nhận thấy ngôn từ của bà Nguyễn Phương Nga, đại diện Bộ Ngoại Giao VN, đã cứng cỏi hơn trước thấy rõ. Trước đây VN đã cố làm hòa dịu các va chạm cũng rất rõ, kể cả cái cách họ tường thuật ‘các cuộc tuần hành tự phát ở Hà Nội và Saigon’

Nhưng rõ ràng có cái gì không ổn từ phía TQ vì Bộ Trưởng TQ cách đây 1 tuần ở Singapore đã ‘long trọng tuyên bố’ là ‘quân đội TQ không dính dáng gì đến cái gọi là mối hăm dọa sự ổn định của khu vực’

Giờ đây ông Liang Guanglie sẽ ăn nói ra sao với ông Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh khi tàu mang cờ xứ ông gây chuyện lần thứ hai?

John D. Ciorciari, thuộc tổ chức Asia Society, nhận xét: “Chiến tranh thì có lợi gì cho ai đâu? Các xứ Đông Nam Á có lợi gì khi đánh nhau với ông khổng lồ, còn ông khổng lồ mà đi choảng nhau với mấy anh nhỏ trong vùng thì còn ra cái thể thống siêu cường thế giới gì nữa”

Một blogger ký tên John đã viết: “Này các bồ, có thấy gã khổng lồ Trung Quốc xấu xa ra sao không? Cái anh này là ác mộng của thế giới đó”
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Gadhafi, giờ này ông ở đâu?
Wednesday, August 24, 2011 6:49:27 PM

Triệu Phong/Người Việt (tổng hợp)

Thủ đô Tripoli có thể thất thủ, chính quyền chuyên chế Libya có thể sụp đổ. Nhưng phe nổi dậy nói họ chưa ăn yên ngủ yên,
ngày nào nhà độc tài Moammar Gadhafi chưa bị bắt hoặc giết chết.

Image
Một tấm hình của nhà độc tài Gadhafi bị quân nổi dậy đốt tại tổng hành dinh Bab al-Aziziya của ông ở Tripoli. (Hình: Patrick Baz/AFP/Getty Images)

Còn phải chờ đến bao lâu mới được hưởng giây phút khải hoàn, điều này có vẻ không có gì chắc chắn.

Tùy viên báo chí Tòa Bạch Ốc, Josh Earnest, trong cuộc họp báo ngắn ngủi sáng hôm Thứ Tư ở Martha's Vineyard, nơi Tổng Thống Barack Obama đang nghỉ hè, đặt vấn đề nhà độc tài Moammar Gadhafi hiện đang ở đâu. Ông Earnest nói: “Không có chứng cớ nào cho thấy ông ta đã trốn ra khỏi nước.”

Ðại Tá Dave Lapan, phát ngôn viên quân sự Hoa Kỳ nói với các nhà báo: “Phải công bằng mà nói, chúng tôi tin là ông ta hiện vẫn còn ở trong nước vì chưa có thông tin nào chứng minh ông ta đã ra đi.” Ông tiếp rằng Gadhafi hiện ở đâu thì vẫn chưa rõ.

Phát ngôn viên quân sự của phe nổi dậy, Ðại Tá Ahmed Bani nói: “Nay chúng tôi đã hoàn toàn kiểm soát khu dinh thự Bab al-Azizya. Ông Gadhafi và mấy người con trai không còn ở đây, không có ai cả. Không ai biết họ đi đâu.”

Ði đến đâu Gadhafi tuồng như cũng muốn bắn tiếng bằng một thông điệp. Trong một bản văn công bố vào sớm Thứ Tư qua trang mạng đài truyền hình do người con trai là Seif al-Islam cai quản, ông Gadhafi tuyên bố ông “di tản chiến thuật” khỏi khu dinh thự sau khi bị NATO tấn công làm hư hại. Ông Gadhafi nói:

“Bab al-Azizya nay chỉ còn là đống gạch vụn sau khi nó trở thành mục tiêu của 64 hỏa tiễn của NATO. Chúng tôi rút khỏi nơi đây chỉ vì lý do chiến thuật.” Tuy nhiên bài diễn văn của ông không nhắc gì đến việc ông đã rút đi đâu.

Trong bản văn ông phát biểu sau đó qua đài truyền hình Arrai Oruba đặt ở Syria, ông Gadhafi thúc giục “dân chúng, các bộ tộc, các bô lão hãy xuống đường... và dọn sạch Tripoli cho hết chuột bọ” - ý muốn ám chỉ quân nổi dậy.

Ông Gadhafi còn nói ông đi ra ngoài đường phố Tripoli mà không ai nhận ra: “Tôi đi mà không ai trông thấy và tôi chứng kiến các thanh niên đang sẵn sàng bảo vệ thành phố của mình.”

Sau khi tiến vào Tripoli, dân chúng thủ đô ăn mừng suốt đêm. Vào sáng sớm Thứ Tư, các đường phố trở nên trống trải một cách ghê rợn, trong khi quân nổi dậy và quân trung thành với Gadhafi vờn nhau như mèo chuột ở mọi góc phố và nỗi sợ bị các tay bắn sẻ của Gadhafi ẩn trên các nóc nhà làm tiêu tan các cuộc vui.

Trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình Pháp, France 24, Abdel Jalil, chủ tịch Hội Ðồng Chuyển Tiếp Quốc Gia của phe nổi dậy, cho biết có bắt được 600 tay súng trung thành với ông Gadhafi và cuộc chiến chưa kết thúc chừng nào Gadhafi chưa là tù nhân.

Phe nổi dậy nói quân trung thành của ông Gadhafi ở thành phố Sirte, nơi sinh quán của ông và cũng là thành trì chính còn lại, đã bắn hỏa tiễn vào thành phố Misrata của phe nổi dậy, chỉ vài giờ sau khi bắt đầu có cuộc thương lượng đầu hàng của thành phố Sirte.

Ở mặt trận miền Ðông, quân nổi dậy tràn ngập tụ điểm dầu khí Ras Lanuf, trên đường tiến đến Sirte.

Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev đồng thời tuyên bố, ở Libya vẫn có hai lực lượng mặc dù phe nổi dậy đang thắng thế, và ông kêu gọi thương thuyết để giải quyết vấn đề.

Suốt nhiều tuần ông Gadhafi không xuất hiện nơi công cộng, trong khi nhiều đồn đoán cho rằng ông đang ẩn trốn trong khu dinh thự của mình.

Gadhafi và gia đình đang ở đâu, vẫn là một bí mật. Phe nổi dậy nói họ không tìm thấy dấu vết nào của ông ta khi họ xông vào khu dinh thự của ông hôm Thứ Ba.

John Burns, phóng viên báo New York Times đang làm tường thuật ở Tripoli, cho rằng con người mà phe nổi dậy đang săn lùng là một người kỳ dị, tính khí bất thường, mà người ta chỉ có thể đánh giá được qua hành động, khiến khó có thể tiên liệu về các nước cờ của ông ta. Ông Burns nói: “Ðó là một bí mật. Tất cả chúng ta chỉ biết suy đoán, suy đoán về một người không thể tiên đoán.”

Quân nổi dậy đã chiếm được Tripoli, đáng kể nhất là khu dinh thự của Gadhafi. Người ta tràn ra đường nổ súng bắn mừng reo vui, khiến gợi nhớ đến một thủ đô Ả Rập bị chiếm cách đây bảy năm, đó là Baghdad.

Hồi năm 2003, nhà độc tài Saddam Hussein, cũng như Gadhafi đã thề sát cánh với dân chúng. Nhưng cuối cùng thì cả hai đều biến đi đâu mất.

Nhà báo John Burns, người tường trình về Hussein và cuộc chiến ở Iraq, gọi Gadhafi và Hussein đều là “kẻ sát nhân,” tuy nhiên cho rằng ông Hussein là người có tính toán hơn, trong khi ông Gadhafi đang đánh mất dần yếu tố hợp lý. Ông Burns nói: “Theo tôi ông này mang chứng ảo tưởng trong suốt nhiều năm và rằng cơn ảo tưởng càng trầm trọng hơn, khi màn chung cục đối với ông ta đang gần kề.”

Nhà báo Nic Robertson của CNN, người cũng phụ trách việc tường thuật thời gian cuối cùng của Hussein nói, thời của ông Gadhafi chỉ còn rất giới hạn, rằng ông này không thể kéo dài được lâu như Saddam Hussein.

Khác với Iraq, nơi ông Hussein bị liên quân lật đổ, Gadhifi bị lực lượng dân quân nổi dậy Libya thực hiện. Ông Hussein có thể tìm nơi ẩn dật trong đất nước phân chia bởi nhiều hệ phái, còn ông Gadhafi không có được chọn lựa đó. Nhà báo Robertson nói: “Cả nước Libya đều muốn ông Gadhafi phải ra đi, tuy nhiên dù vậy cũng phải chờ đến vài tuần nữa.”

Abubaker Saad, cựu cố vấn của ông Gadhafi miêu tả đến một hệ thống hầm trú ẩn kiên cố bên dưới khu dinh thự của Gadhafi, nơi ông này có thể tạm trú. Nhưng những chỗ này đã bị các cuộc không tập của NATO san bằng, Gadhafin không thể nào còn ẩn trốn nơi đó được.

Có tin ông Gadhafi đang trốn trong một nông trại nằm gần phi trường, để chờ cơ hội tẩu thoát. Thuyết này có vẻ hợp lý sau khi Gadhafi cho truyền thanh một thông điệp hôm Thứ Tư, người ta có thể nghe thấy vang vọng tiếng gì giống như tiếng gà vịt kêu ở phía sau.

Theo điện văn ngoại giao mật của Mỹ do WikiLeaks tiết lộ hồi năm ngoái, Gadhafi là người sợ đi máy bay qua một biển nước và vô cùng ghét sinh hoạt ở các tầng trên của một tòa nhà. Do vậy ông ta chỉ có thể tìm cách trốn đi bằng tàu biển từ một hải cảng mà thôi.

Cũng có lời bàn rằng ông Gadhafi có thể được một số nước chấp nhận sang tị nạn như Venezuela, Chad và Algeria.

Fouad Ajami, một học giả thâm niên ở viện Hoover Institute, thuộc trường Ðại Học Stanford, suy luận: “Giờ này có thể ông ta đang ở biên giới với Algeria.” Libya tiếp giáp với Tunisia, Ai Cập, Algeria, Chad, Sudan và Niger. “Một bên là Tunisia, bên kia là Ai Cập, duy chỉ có dân Algeria là sẵn sàng chấp nhận Gadhafi mà thôi. Ông ta có nhiều chọn lựa, như có thể chạy qua Chad, nơi ông ta bỏ ra hằng tấn tiền bạc để mua chuộc các nhà lãnh đạo ở đó.”

Charles O. Cecil, một cựu đại sứ Mỹ ở Niger và cũng đã từng làm tham vụ ngoại giao ở Libya trong hai năm 2006 và 2007, cho rằng nhiều quốc gia ở Phi Châu vẫn còn mang ơn mắc nợ với Gadhafi vì ông từng viện trợ giúp đỡ họ. Ông Gadhafi cũng từng giúp thương thảo một hiệp ước hòa bình cho nước Cộng Hòa Trung Phi.

Về cá nhân Gadhafi, ông Cecil tin Gadhafi có thể vẫn giữ đúng lời thề ở lại trong nước. Theo ông Cecil, Gadhafi có thể tìm chốn dung thân ở vùng quê quán Sirte của ông, nơi người trong bộ tộc này được hưởng ơn mưa móc của ông nhiều nhất.

Hussein cũng từng làm tương tự ở Iraq. Ông ta trốn về quê nhà ở Tikrit và sống sót được nhiều tháng.

Chủ tịch Liên Ðoàn Cờ Tướng Quốc Tế, Kirsan Ilyumzhinov, người từng đến Libya để vận động phong trào chơi cờ Tây ở các nhà trường hồi Tháng Sáu, cho hãng thông tấn Interfax của Nga biết, ông có nói chuyện bằng điện thoại với Gadhafi hôm Thứ Ba và rằng ông Gadhafi “đang sống mạnh khỏe ở Tripoli và sẽ không rời khỏi Libya.”

Nhà báo New York Times, John Burns, ghi nhận việc ông Gadhafi ngồi đánh cờ với vị khách người Nga trong khi bên ngoài NATO đang oanh tạc tơi bời, là một ví dụ về chứng ảo tưởng của ông Gadhafi.

Có lẽ tay cờ người Nga biết được sự thật hiện ông Gadhafi đang ở đâu.

Cựu Ðại Sứ Cecil nhận định: “Ðây là cá tính của ông ta. Dưới cái nhìn của ông ta, ông ta chọn lựa đường đi của một kẻ tuẫn đạo.”
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Bão xuất phát từ Trung Hoa lục địa

Ngô Nhân Dụng

Một bản tin trên blog của một những người yêu nước đã đăng “Dự báo thời tiết” ngày Chủ Nhật 21 tháng 8 năm 2011: “Bão từ biển Ðông kéo mây đen khắp Hà Nội. Bão... xuất phát từ Trung Hoa lục địa.”

Quả nhiên, bão đã tới. Có thể nói, Ðại Sứ Quán Trung Quốc ở Hà Nội đã hết kiên nhẫn, sau khi Trung Tướng Nguyễn Ðức Nhanh - Giám đốc Công An Hà Nội - họp báo lỡ lời công nhận những người biểu tình trong mười tuần lễ qua đều là những người yêu nước! Nói như vậy không khác gì xác nhận một sự thật: Người yêu nước thì chống Trung Cộng. Cộng sản Trung Hoa chính là kẻ thù của nước Việt Nam!

Không ai ngạc nhiên khi Ðảng Cộng Sản Việt Nam cho “đàn chó săn” đi dẹp và bắt bớ những người yêu nước biểu tình vào Chủ Nhật vừa qua. Ðiều đáng ngạc nhiên là tại sao đến bây giờ, hơn 2 tháng rưỡi họ mới thẳng tay đàn áp. Không một chế độ độc tài nào lại để cho một phong trào của dân chúng thành hình và lớn lên. Không chế độ độc tài nào lại để cho một phong trào tự phát của nhân dân được phát triển hết tuần này sang tuần khác. Họ phải dập tắt càng sớm càng tốt. Phải mạnh tay đàn áp toàn diện và triệt để, nhổ cỏ phải nhổ tận rễ. Ra lệnh công an bắt người là việc rất dễ dàng, hàng ngàn người cũng dễ; tại sao họ để đến tuần lễ thứ 10 mới quyết định ra tay?

Dân Hà Nội đã thử đưa ra các giả thuyết để giải thích tình trạng chậm trễ này. Có thể vì tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang thấy chế độ vững như bàn thạch; không ngại gì lỏng tay cho dân được thỏa mãn, rồi ra tay dẹp tan lúc nào cũng được? Hay là họ cũng biết kính trọng tinh thần yêu nước của thanh niên, trí thức Hà Nội cho nên họ không thẳng tay trị từ những ngày đầu? Hay là họ cũng muốn lợi dụng một phong trào yêu nước của người dân, dung túng các cuộc biểu tình để chính họ có lý do xin Trung Nam Hải và Ðại Sứ Quán Trung Quốc đừng đòi hỏi nhiều điều khắt khe, khó theo quá? Hay là trong Bộ Chính Trị cũng có những người muốn chống lại Bắc Kinh, do đó muốn để yên cho dân được biểu tình?

Nhưng những giả thuyết đó đều có thể đúng, nhưng không đáng tin lắm. Giả thuyết vững chắc nhất để giải thích tình trạng chậm trễ trong việc đàn áp dân là: Họ sợ, sợ rất nhiều thứ, cho nên không dám quyết định. Không ai muốn lãnh trách nhiệm đưa ra quyết định đàn áp ngay sau cuộc biểu tình đầu tiên vào Tháng Sáu.

Chắc chắn ngay sau cuộc biểu tình đầu tiên, Ðại Sứ Quán Trung Quốc đã yêu cầu câu lạc bộ Ba Ðình phải ngăn cản, không cho phép dân biểu tình chửi Trung Quốc công khai như vậy. Nhưng trong đám 15 người của Bộ Chính Trị không ai dám đề nghị cho công an đàn áp. Họ sợ lãnh trách nhiệm cá nhân. Năm, ba năm nữa, sẽ đến lúc các nhà nghiên cứu tìm ra trong cuộc họp nào, trong Bộ Chính Trị ai là người chủ trương thẳng tay đàn áp những người dân biểu tình do lòng yêu nước thúc đẩy! Một người nào đó trong tập đoàn thống trị có thể sẽ viết hồi ký kể chi tiết các cuộc bàn cãi, trong đó ai nói gì, ai cứng, ai mềm, ai đóng vai ông thiện, ai làm ông ác! Lúc đó, danh tánh sẽ được đưa ra công khai cho người dân luận tội.

Họ mang nhiều nỗi sợ, nhưng chắc cũng không sợ sẽ bị lịch sử ghi tên với tội đập dân và bán nước. Vì chắc họ không suy nghĩ xa xôi đến thế. Nếu biết nghĩ tới hậu quả và lo sẽ ô danh ngàn năm thì họ đã không nuôi dưỡng và bảo vệ một guồng máy tham nhũng, tàn bạo và dối trá để bảo vệ quyền bính của mình; và họ cũng không đi bán rừng, bán biển, bán quặng mỏ cho ngoại bang suốt bao năm qua. Họ run sợ không ai dám ra lệnh đàn áp, chỉ vì không ai muốn sẽ làm một Mubarack! Ðó là một nỗi sợ. Họ đã thấy trước mắt cảnh tượng cựu tổng thống Ai Cập đang bị điều tra, bị đưa ra trước tòa án xét xử về những tội tham ô, trong đó có tội giết dân đi biểu tình. Thân có thể bị tù tội. Tài sản có thể bị tịch thu trước khi được tẩu tán hết ra nước ngoài. Chính mối lo đó đã khiến cho trong hai tháng qua trong Bộ Chính Trị người nọ đùn người kia; có thể ai cũng nói năng hùng hồn, nhưng chỉ hô những khẩu hiệu chung chung, không ai dám đề nghị thẳng tay bắt bớ ngay lập tức!

Một lý do khác khiến họ không dám đưa ra đề nghị đánh dẹp cụ thể, là anh nọ vẫn sợ anh kia nhân lúc có loạn sẽ tìm cớ hất cẳng mình; đó là nỗi sợ thứ hai. Chắc chắn không anh nào dám đề nghị đối thoại và thỏa hiệp với những người yêu nước. Vì họ không thể giúp cho phong trào quần chúng này lớn mạnh hơn. Cũng không anh nào dám đề nghị giải pháp Thiên An Môn. Vì sợ phản ứng của dân chúng; lòng phẫn uất của dân Hà Nội có thể bùng nổ không ngờ, đàn áp xong đợt này có thể sẽ còn những đợt khác! Ðề nghị đàn áp nhưng việc không thành thì không khác gì đưa con dao cho đứa khác trong Bộ Chính Trị nó cứa cổ mình! Tốt nhất là các đồng chí cứ dè dặt, canh chừng lẫn nhau; ăn nói theo lối ba phải, chờ đợi rồi lựa gió chiều nào xoay chiều đó. Theo dư luận người dân Hà Nội thì chính vì sợ mà các đồng chí trong Bộ Chính Trị phải giữ miếng với nhau, không ai dám quả quyết đánh!

Năm 1989, khi sinh viên và công nhân Bắc Kinh đi biểu tình kéo dài cả tháng, Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Hoa cũng phản ứng rất chậm trễ; mà họ thật sự bất đồng ý kiến. Lý Bằng muốn đàn áp biểu tình ngay, không cần bàn cãi. Triệu Tử Dương thì muốn nhân dịp đám thanh niên đòi hỏi sẽ đem thi hành một số biện pháp cải cách dân chủ hóa, cho nên ông ta chủ trương đối thoại và thỏa hiệp với sinh viên Bắc Kinh. Nhưng đằng sau những ý kiến bất đồng về chính sách đối phó, vẫn là cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai cá nhân, một bên là thủ tướng, một bên là tổng bí thư. Khi hai người to đầu nhất không thể đồng ý với nhau, Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Quốc cũng không thể quyết định. Cuối cùng, phải đến thỉnh ý Ðặng Tiểu Bình, một người không có chức vụ nào chính thức ngoài vai trò chủ tịch Quân Ủy Trung Ương. Và sau cùng, chính Ðặng Tiểu Bình phải quyết định chấm dứt tình trạng lưỡng lự. Ông ta ra lệnh: Ðánh! Tả lớ!

Tại Hà Nội hiện nay không người nào trong Bộ Chính Trị có địa vị mạnh như Ðặng Tiểu Bình trong vụ Thiên An Môn năm 1989. Chỉ có tòa Ðại Sứ Quán Trung Quốc có thể đảm nhiệm vai trò đó! Trong hai tháng qua, lòng kiên nhẫn của Ðại Sứ Quán đã bị thử thách, đến lúc họ cũng thấy cần nhúng tay mới xong. Chính họ cũng lo bị bề trên ở Trung Nam Hải khiển trách. Cho nên, cuối cùng, guồng máy đàn áp đã chuyển động.

Phải đàn áp, nhưng cần che giấu bàn tay điều khiển, giật dây. Cho nên không thấy một quyết định nào chính thức rõ ràng. Chắc không có một cuộc biểu quyết nào trong Bộ Chính Trị; không ai ký một văn bản nào ra lệnh cho ai cả. Cách tốt nhất có lẽ là theo thói vô trách nhiệm xưa nay, dùng lệnh miệng, dịch từng câu từ tiếng phổ thông sang tiếng Việt. Ðưa từng việc cần làm, ra lệnh cho từng bộ phận thi hành từng bước. Không cần một quyết định chung đầy đủ và tổng quát. Rút kinh nghiệm Thiên An Môn, các đồng chí Trung Quốc không muốn có xe tăng tham dự. Cảnh đổ máu sẽ tạo hình ảnh xấu trên báo đài quốc tế, hơn 20 năm vẫn chưa hết. Cuộc bắt bớ ngày Chủ Nhật 21 Tháng Tám, cũng chỉ sử dụng công an mặc thường phục. Và những người bị bắt lên những chiếc xe mang hình ảnh dân sự, với các bảng quảng cáo mầu mè hai bên, chứ không phải xe công an bít bùng! Kinh nghiệm Thiên An Môn đã được học tập rất kỹ càng, và thi hành đầy đủ!

Các hành động có thể tuần tự diễn ra từng bước một, tốc độ nhanh hay chậm tùy theo sự thúc đẩy của các đồng chí anh em. Có những chi tiết không được kiểm soát và trù liệu trước, như cú đạp của bàn chân Ðại Úy Minh, hay cái miệng mau mắn lỡ lời của Trung Tướng Nguyễn Ðức Nhanh. Các diễn viên này không diễn đúng bài bản, chỉ vì thực sự không có bài bản. Họ không nhận được một chỉ thị chung tổng quát, cũng không biết những ai là bộ chỉ huy đầu não cho toàn bộ chiến dịch. Có thể một kịch bản đã được sơ thảo, nhưng người ta không muốn công bố. Chỉ cần lâu lâu dịch từng đoạn sang tiếng Việt để cho một bộ phận nào đó thi hành, trong khi những bộ phận khác không cần biết.

Bước đầu tiên, như chúng ta biết, là một bài trên báo Quân Ðội Nhân Dân chuẩn bị dư luận. Báo này rút kinh nghiệm các cuộc cách mạng ở Ðông Âu và Bắc Phi để báo động: “Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý thúc đẩy sự hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập... Thông qua các tổ chức đối lập, các thế lực thù địch tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ‘ngọn cờ’ và lực lượng đối lập trong xã hội, làm nòng cốt để tiến hành ‘cách mạng đường phố’, nhằm thay đổi thể chế chính trị.” Bài báo rất lý thuyết này có thể coi như hành động của người đi săn huýt sáo chuẩn bị trước khi cho đàn chó săn xông ra. Ý tưởng chính là: Coi chừng diễn biến hòa bình!

Bước tiếp theo cụ thể hơn, là một thông cáo của chính quyền thành phố Hà Nội yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát trong thành phố với lời đe dọa mạnh hơn: “...lợi dụng tình cảm yêu nước của nhân dân, các thế lực chống đối nhà nước Việt Nam trong và ngoài nước đã và đang kêu gọi, kích động, hướng dẫn quần chúng biểu tình, tuần hành... tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; ...tác động tiêu cực tới việc thực hiện đường lối, quan hệ đối ngoại của Ðảng, Nhà nước ta... Âm mưu, ý đồ của họ là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động hằn thù dân tộc chia rẽ quan hệ Việt-Trung.”

Cuối cùng, hành động đàn áp xuất phát từ chính quyền một thành phố chứ không phải do các cấp trên! Theo Nghị Ðịnh 38/2005/CP của Nguyễn Tấn Dũng đã quy định thì Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân có quyền cấp cho phép cho biểu tình và hủy bỏ việc tập trung đông người! Bộ Chính Trị không phải quyết định! Ðại Sứ Quán Trung Quốc cũng không có trách nhiệm!

Những nhà trí thức và thanh niên Hà Nội chắc đã biết trước kết quả này trước khi họ tham dự người cuộc biểu tình. Nhưng họ không sợ. Giống như những người dân biểu tình chống thuế ở Quảng Nam hay những thanh niên từ Hà Nội đến Sài Gòn đã đi biểu tình để tang Phan Châu Trinh trong thế kỷ trước. Việc đàn áp diễn ra ngày Chủ Nhật vừa qua, may mắn không gây đổ máu như ở Thiên An Môn năm 1989. Nhưng trong những tuần lễ tới, giới trí thức và thanh niên còn đủ lực lượng biểu tình tiếp hay không? Nếu tiếp tục biểu tình thì sẽ thực hiện với những hình thái nào? Chúng ta có thể chờ coi lịch sử sẽ diễn ra trước mắt người dân Hà Nội.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Singapore : Bầu cử tổng thống thể hiện lòng khao khát dân chủ

Image
Cựu Tony Tan trong cuộc vận động tranh cử ngày 24/08/2011 tại Singapore.
Reuters

Ngày mai, thứ bảy 27 tháng 8, Singapore sẽ tổ chức bầu Tổng thống. Liên quan đến sự kiện này, nhật báo Le Monde số ra hôm nay có bài nhận định « Xã hội Singapore âm thầm theo đuổi trào lưu dân chủ ». Bài báo cho biết, cuộc bỏ phiếu ngày mai có thể sẽ xác nhận cho các tiến triển chính trị hiện hành.

Kể từ khi bầu cử tổng thống đầu tiên được tổ chức năm 1993, lần đầu tiên bầu cử Tổng thống sẽ diễn ra với sự tranh tài giữa 4 ứng viên : ông Tony Tan, cựu thủ tướng và 3 ứng viên khác thuộc phe đối lập.

Le Monde cho biết, ông Tony Tan đã từng quản lý Tập đoàn Đầu tư Chính phủ Singapore, Quỹ tài sản lớn nhất của đảo quốc. Ông nhận được sự ủng hộ của Thủ tướng Lý Hiển Long và Tổng thống đương nhiệm Ramanathan, hai lần trúng cử khi không có đối thủ trong phe đối lập. Còn ba ứng viên còn lại thuộc các đảng đối lập, luôn chỉ trích Đảng Hành động Nhân dân (PAP), cầm quyền kể từ khi lập quốc 1959.

Theo Le Monde, sự kiện này cho thấy trên đảo quốc 5 triệu dân này, đang từ từ hình thành một « hướng suy nghĩ » nào đó, mong muốn bẻ gãy tính cứng nhắc của khế ước xã hội.

Trên thực tế, vị trí Tổng thống tại Singapore chỉ có vai trò hình thức. Le Monde cho rằng nếu như ứng viên Tony Tan trúng cử thì vai trò này sẽ không thay đổi. Còn trong trường hợp một trong ba ứng viên đối lập trúng cử, có thể họ sẽ đi đến việc sử dụng quyền phủ quyết, nhất là trong việc chặn đứng vài sự bổ nhiệm trong chính phủ.

Theo Le Monde, do phụ thuộc nhiều vào thế giới để kích thích tăng trưởng kinh tế, nên xã hội Singapore đang gặp một loạt các khó khăn : thách thức về dân số, sức mua của tầng lớp trung lưu giảm, bất bình đẳng kỷ kục giữa các giai tầng xã hội, sự mệt mỏi về hệ tư tưởng chủ nghĩa gia trưởng có hiệu lực kể từ giành độc lập năm 1965, quyền tự do ngôn luận bị tước đoạt.

Trong đợt bầu cử Quốc hội hồi tháng năm vừa qua, xã hội Singapour đã cho thấy sự khát khao đổi mới của họ. Lần đó, đảng PAP của Thủ tướng Lý Hiển Long chỉ đạt có 60% số phiếu bầu. Le Monde nhận xét, kết quả bầu cử đưa ra có lẽ sẽ thấy nực cười : phe đối lập chỉ đạt có 6 trên tổng số 87 ghế tại Quốc hội, thay vì là 2 ghế như trước. Tuy nhiên, nếu xem xét ở góc độ địa phương, lần đầu tiên đảng Lao Động « Workers’ Party », viết tắt là WP, đã chiếm được 5 ghế trong cùng một quận.

Ngay khi kết quả được công bố, ông Lý Hiển Long phải lập tức lên tiếng xin lỗi và cam kết sửa sai. Không những thế, ông Lý Quang Diệu, cha đẻ của nước Singapour hiện đại, và cũng là cha của thủ tướng Lý Hiển Long, đã phải tuyên bố từ chức « Bộ trưởng Cố vấn » để nhường cho giới trẻ.

Le Monde ghi nhận công lao to lớn của ông Lý Quang Diệu đã đưa Singapore thành một nước phồn vinh, với tốc độ tăng trưởng trung bình 9%/ năm, mức thu nhập quốc dân GDP trên đầu người đứng hàng thứ tư trên thế giới, Singapore là cảng biển lớn thứ hai sau Thượng Hải, thống trị lãnh vực công nghệ bán dẫn, ngành dược sinh học và có đến 15% người giàu.

Giờ đây, người dân Singapore bắt đầu cảm thấy mệt mỏi vì chủ nghĩa gia trưởng. Họ khao khát một nền dân chủ ở đó người dân sẽ được hưởng nhiều không gian rộng lớn hơn cho tự do ngôn luận.

Cuối cùng Le Monde trích dẫn lời nhận định của một cựu phóng viên : "Có lẽ đã đến lúc nhà nước nên đàm phán với xã hội dân sự".

Minh Anh
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Bài viết cũa của cô Vũ Thanh Phương thuộc khối 8406 ở trong nước.

TƯỚNG NGUYỄN CAO KỲ - NHÂN CÁCH VÀ LƯƠNG TRI ĐÃ MẤT SẠCH RỒI !!!

Tôi - Vũ Thanh Phương, 1 phụ nữ là một người dân đen sống tận đáy cùng xã hội và cũng là nạn nhân của cái chế độ độc tài và tàn ác đã gây ra biết bao nhiêu đau khổ cho nhân dân Việt Nam. Tôi chỉ thuần túy là người dân lao động và văn hóa rất hạn chế, nhưng đủ phân biệt mọi phải trái, đúng sai, sống có tôn trọng đạo lý trên đời

Vừa qua từ thành phố Sài Gòn khi đọc bài phát biểu của ông Nguyễn Cao Kỳ được đăng trên báo Tuổi Trẻ trong nước số ra ngày 24-06-2007 . Tôi cảm thấy khinh bỉ và muốn phỉ nhổ vào cái bản mặt vô liêm sỉ của ông. Theo sự đánh giá của tôi, thì ông tầm thường không được như tôi tưởng. Thực ra ông cũng chỉ là 1 thứ cơ hội chính trị và chính trị xôi thịt chứ có tài ba lỗi lạc gì đâu! Ông đã cúi đầu quỳ gối trước mặt đám “ Vua quan của cái triều đình phong kiến Cộng Sản Việt Nam ” mà không biết nhục nhã. Ông mở miệng nịnh hót đám vua quan trên chính mảnh đất mà ông đang phải lánh nạn, phải tỵ nạn CS hơn 32 năm qua mà không biết mắc cỡ. Tôi và rất nhiều người không thể tưởng tượng ra nổi, là sao đến giờ phút này mà ông còn uốn lưỡi ca ngợi họ. Tất cả những gì mà bộ máy tuyên truyền và quyền lực của nhà nước Cộng Sản VN đã bơm mớm cho ông, hoặc ông tự bơm mớm cho mình đó chỉ là một thứ bánh vẽ không hơn không kém. Ông nói cám ơn họ đã đối xử chu đáo quá tốt với cá nhân ông trong hơn 3 năm qua mỗi khi ông trở về cố hương ư ? Đúng, họ đã làm thế và sẽ tiếp tục làm thế hơn nữa với ông, nhưng ông có biết họ làm như vậy để làm gì không ?

Trong khi họ đối xử với ông quá tốt và ân cần chu đáo như vậy, thì họ ra tay hung bạo bắt bao nhiêu đồng bào quốc nội có lương tâm, có lòng yêu nước thương dân và vô tội chỉ vì lên tiếng đòi dân chủ hóa Đất nước trong hòa bình và ôn hòa. Trong đó có rất nhiều người là phụ nữ trí thức, là dân oan như Ls Lê Thị Công Nhân, công nhân Hồ Thị Bích Khương, Ls Bùi Kim Thành, nông dân Lê Thị Lệ Hồng ( Thành viên trong Hiệp Hội Công Nông Đoàn kết ), các dân oan : Nguyễn Thị Kỷ, nhà nư Thích Đàm Thoa, Vũ Thị Bình…. và tôi không thể kể hết tên họ ở đây. Họ đã dùng ông như một con bài chính trị, như 1 quân cờ trên một bàn cờ chính trị để thủ lợi cho họ mà thôi…Còn ông cũng đắc lợi qua các thương vụ làm ăn rất chắc chắn, lợi nhuận rất kếch xù mà các Việt kiều khác không thể có được do nhà cầm quyền Hà Nội dành cho ông hưởng riêng một quy chế rất đặc biệt !!!
Ông hãy ngẩng mặt lên mà nhìn vào thực tế, nhìn thẳng vào sự thật đang diễn ra ở Việt Nam . Ông nếu còn dịp về Việt nam nữa hãy bớt chút thời gian để dân đen chúng tôi dẫn ông đi thực tế cuộc sống của mọi tầng lớp người dân Cần lao và cả tầng lớp Thượng lưu nữa, để từ đó ông sẽ rõ mọi nỗi thống khổ của nhân dân và cuộc sống xa xỉ của lớp vua quan CSVN ra sao ? Lúc đó ông sẽ có cái nhìn toàn diện, khách quan, vô tư nhất về thực trạng đất nước Việt nam trong lúc này.

Còn Đảng Cộng Sản Việt nam vì dân tộc, vì đất nước,như suy nghĩ của ông thì đất nước Việt Nam đã phồn vinh, dân tộc Việt Nam đã được sống trong tự do, ấm no hạnh phúc từ lâu rồi, chứ không phải chịu cảnh vẫn là 1nước lạc hậu đói nghèo như hiện nay. Và chắc chắn người dân trong nước như chúng tôi không bị tước đoạt quyền làm người căn bản mà Thượng Đế đã ban cho tất cả nhân loại. và ở Việt Nam đã không có nạn quan quyền tham nhũng, đầy rấy bất công, đẩy người dân chúng tôi phải ra đường sống cảnh màn trời chiếu đất, suốt đời đội đơn đi khiếu kiện đòi quyền lợi, đòi tài sản đã bị chính cái nhà nước CSVN mà ông đang nịnh nót quá mức nhiệt tình cướp đoạt trắng trợn hàng mấy chục năm trời không được giải quyết lại còn bị trù dập, bắt bớ và bỏ tù.

Cũng như vậy thì những trí thức, các công dân yêu nước không cần phải lên tiếng tranh đấu đòi tự do-dân chủ-nhân quyền cho dân tộc Việt Nam . Họ có quyền sống một cuộc sống hạnh phúc, trong nệm ấm chăn êm và tội tình gì phải xả thân tranh đấu để rồi phải bước vào nhà tù của Đảng Cộng Sản Việt nam !!!???

Mọi lời lẽ và hành động của ông vừa rồi tại Nam Cali - Hoa Kỳ trong buổi tiệc với ông “ hoàng đế CSVN Nguyễn Minh Triết” chính là những nhát dao đâm vào sau lưng đồng bào hải ngoại, đâm vào lưng những đồng bào có lương tri trong nước, đâm vào lưng những người tranh đấu cho dân chủ tự do cho Việt nam ở cả trong và ngoài nước. Đồng thời cũng là hành vi tự sát chính trị dại khờ và quá rẻ mạt của chính ông. Dư luận nhân dân trong nước tỉnh táo có lương tâm và nhân cách không thể chấp nhận và tha thứ cho ông đã bán mình cho bọn quỷ đỏ.

Tôi thành thật khuyên ông hãy cố soi gương để nhìn lại mặt mình một lần nữa và nên hiểu rằng : Giờ đây ông chẳng đại diện cho ai cả, từ đồng bào hải ngoại nơi ông đang định cư, đến nhân dân trong nước và cả lớp người cùng khổ như dân oan chúng tôi. Ông chỉ đại diện cho bản thân mình và ông đã mất hết tự trọng, nhân cách, lương tri và liêm sỉ của một con người bình thường nhất.

Tổ Quốc Việt Nam là của chung cả dân tộc Việt Nam . Nhân dân mới là người chủ của Đất nước.
Đất nước Việt Nam không phải của riêng đảng Cộng Sản và đảng CSVN không thể là người chủ vĩnh viễn đất nước này đâu thưa ông.

Công dân Vũ Thanh Phương
Số nhà 182, Ấp 1, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ðòi dân chủ cần minh bạch, công khai

Ngô Nhân Dụng

Trong cuốn tiểu thuyết Ðói (Sult) ấn hành năm 1899, nhà văn Knut Hamsun người Na Uy thuật một cảnh hai người đồng lõa nói dối lẫn nhau.

Nhân vật chính là một nhà báo trẻ đang không có việc làm thường xuyên; lại mới bị đuổi nhà vì không trả tiền thuê. Ngồi trong công viên, anh gặp một ông già ôm tờ báo cũ đến ngồi kế bên. Ông ta hỏi anh ta ở đâu. Không ai muốn tự giới thiệu mình vô gia cư, anh bịa ra một địa chỉ: Số 2, Khu Saint Olav. Trò chơi nói dối giữa hai người bắt đầu một cách vô hại như vậy.

- Số 2 hả? Ồ, tôi biết tất cả mọi người ở cái nhà đó. Này, cái anh chủ nhà tên là gì nhỉ?

- Happolati, anh ta lại bịa đại ra.

- À, cái thằng Happolati ấy!

Nhân vật kể chuyện tìm cách nói lảng sang chuyện khác nhưng ông già không tha, hỏi tiếp:

- Happolati, cha đó đi biển phải không nhỉ?

- Không, thằng em anh ấy mới đi biển. Anh này tên là Johann Arendt Happolati!

- Nghe tay đó giỏi lắm phải không?

Cuộc đối thoại toàn bịa đặt cứ thế tiếp tục, người kể chuyện khoe anh Happolati là một đại gia, buôn bán đủ thứ hàng, hàng da, giấy, lông vịt làm áo lạnh, mua từ bên Tầu, bên Nga, vân vân. Happolati còn sáng chế ra một loại máy điện để đọc được Kinh Thánh nữa. Có hồi anh ta làm đại sứ ở nước Ba Tư. Còn cô con gái anh ta thật đẹp mỹ miều, cô Ylajali, đẹp như một nàng công chúa. Còn bà vợ hắn thì béo ơi là béo. Ông già muốn chứng tỏ mình biết chuyện, góp thêm chi tiết:

- Cái anh Happolati này làm chủ nhiều nhà cửa lắm, tôi nghe nói vậy.

- Không, tôi không biết.

Hai người hào hứng trao đổi với nhau toàn những điều bịa đặt. Họ đồng lõa trong cuộc chơi giả dối này. Nhà báo thất nghiệp bịa một chuyện gì lại được ông già phụ họa. Cho tới lúc nhân vật chính chán quá, anh nói thẳng: Này, nói thật với ông, tôi bịa đấy! Toàn chuyện bịa cả. Cả ông nữa, ông cũng làm như cái thằng Happolati là có thật nữa! Tôi không quen bịa đặt dối trá như vậy bao giờ. Tôi chán lắm rồi!

Nói dối mãi chắc có lúc ai cũng thấy chán, dù chỉ là những lời nói dối vô hại. Nhưng nếu người ta phải tập nói dối mỗi ngày, ngày nào cũng nói đi nói lại những điều không có thật, những điều chính mình cũng không tin, thì chắc sống như vậy chán lắm! Vậy mà trên thế giới có những người phải nói dối suốt đời!

Một chế độ độc tài dựa trên một bộ máy đàn áp, nhưng luôn luôn phải có thêm một bộ máy dối trá đi kèm. Không những nhà nước nói dối, người dân cũng phải tập thói quen nói dối cho phù hợp, dễ sống trong chế độ. Dối trá trở thành một tập quán, một nét văn hóa đặc thù! Cứ như vậy, hai bên nhà nước và nhân dân đồng lõa nói dối lẫn nhau.

Nhiều người sống ở trong nước Việt Nam tới bây giờ mỗi ngày vẫn phải vừa sống vừa nói dối kiểu đó. Nhất là các nhà báo, các chuyên viên ngành truyền thông! Không nói dối không được! Ngay cả những người muốn xã hội sống thật hơn, sống lành hơn, đạo đức hơn, những người đang yêu cầu chế độ cộng sản phải thay đổi, có khi ra trước công chúng họ cũng phải đóng trò, không nói hết sự thật. Không phải họ nói xạo cho được yên thân, mà họ thành thật nghĩ rằng cần nói tránh, nói lảng, không nói hết các ý nghĩ của mình thì cuộc đấu tranh mới có hiệu quả

Gần đây khi các nhà trí thức và giới thanh niên ở Hà Nội và Sài Gòn đi biểu tình, họ phải nhắc đi nhắc lại, là họ không đòi chế độ thay đổi đường lối cai trị dân. Trước sau, chỉ hô một khẩu hiệu là phản đối chính sách xâm lược của chính quyền Trung Quốc mà thôi. Ðể khỏi bị đưa ra tòa buộc tội âm mưu lật đổ chế độ! Trong khi đó, ai cũng biết nhu cầu thật của nước ta là chế độ cần thay đổi một cách toàn diện; để tiến lên cho bằng thế giới chung quanh!

Làm cách nào chúng ta có thể chống một nước lớn đang lấn áp nước mình trong khi những người cầm quyền của nước mình cư xử rụt rè, yếu ớt, nhu nhược? Ngay cả khi tầu chiến của Trung Cộng đâm chìm tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam, báo đài nhà nước cũng chỉ gọi đó là những “tầu lạ!” Không được phép gọi tên thật ra! Báo chí của Nhà nước nói dối và dạy dân cách nói dối. Người dân chỉ dám thì thầm bảo nhau: Tầu lạ, tầu quen, tầu nào cũng là Tầu cả! Nhưng chỉ nói thì thầm thôi!

Muốn chấm dứt cảnh nước ta bị nước “đồng chí anh em” lấn áp thì đảng Cộng Sản Việt Nam phải thay đổi chính sách đối ngoại. Nếu không, thì người dân phải thay đổi những người đang cầm quyền. Những cuộc biểu tình gần đây không dám nói thẳng sự thật đó. Muốn có chính sách đối ngoại mới thì phải cho người dân được quyền lên tiếng trước vấn đề trọng đại này. Nghĩa là người dân phải có quyền tụ họp, phải có quyền biểu tình và lên tiếng nói để bày tỏ thái độ. Tóm lại, là đòi cho người dân Việt Nam có những quyền công dân căn bản: Tự do hội họp và tự do phát biểu!

Chúng ta có thể hiểu rằng trong thâm tâm, những người đi biểu tình đều biết rằng nhu cầu lớn nhất của dân tộc Việt Nam là tự do dân chủ. Ðiều số 2 trong Hiến Pháp hiện hành viết: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...” Chỉ khi nào người dân Việt Nam được tự do bỏ phiếu chọn người lãnh đạo nước mình, thì những người cai trị mới thực sự chịu trách nhiệm với dân, phải lắng nghe ý kiến của dân. Chính sách đối ngoại hiện nay chỉ do một nhóm người độc quyền quyết định. Chính sách đó thất bại, chúng ta đã thấy từ dân chài lưới đến tầu nghiên cứu của Việt Nam vẫn bị tấn công, hải phận Việt Nam vẫn bị xâm chiếm. Ðã đến lúc người Việt Nam không thể chỉ hô hào đả kích người cầm quyền bên Trung Quốc không thôi. Phải đòi hỏi chế độ chính trị ở Việt Nam thay đổi hoàn toàn, để nhà nước thực sự phản ảnh ý nguyện của người dân.

Giới trí thức và thanh niên, sinh viên Hà Nội đã biểu tình trong hai tháng qua đã nhẫn nhục tự giới hạn mục tiêu đấu tranh của mình. Không ai nói đến mục tiêu quan trọng hơn việc đả kích Trung Quốc, không ai nói đến điều kiện tiên quyết để thay đổi chính sách đối ngoại, là người dân Việt Nam phải có quyền tự do quyết định vận mệnh nước Việt Nam!

Cuối cùng, thì mặc dù những người đi biểu tình hết sức nhẫn nhục, họ vẫn bị đàn áp, bị bắt bớ! Họ vẫn bị vu cáo tội “tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội,... tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị,” theo thông cáo của chính quyền thành phố Hà Nội! Nghĩa là người ta vẫn đe dọa dân, họ vẫn không công nhận người dân có quyền yêu nước... nhiều hơn Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản!

Cuối tuần qua, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Giáo Sư Chu Hảo, Tiến Sĩ Nguyễn Quang A và Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện đã gặp gỡ các người cầm quyền tại thành phố Hà Nội để “làm việc.” Cuộc trò chuyện diễn ra gần ba tiếng đồng hồ, nhưng bản tin của blog Nguyễn Xuân Diện chỉ tường thuật ông này nói, rồi ông kia nói, mô tả đến chi tiết trước mặt mỗi người “đều có 1 đĩa nhỏ có 1 chùm nho và 2 chiếc bánh ngọt và một ly nước trà xanh liên tục được chế thêm nước nóng” nhưng không hề cho độc giả biết hai bên đã nói những chuyện gì cụ thể! Không nhắc đến nhu cầu tự do dân chủ của người dân mà chỉ nhắc nhở “vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ” mà không nói rõ bất đồng ý kiến như thế nào.

Tất nhiên, những người họp mặt có thể đã đồng ý với nhau không tiết lộ những chi tiết về nội dung tranh luận, cho nên không kể hết. Nhưng, dù rất kính trọng quý vị đã đi họp, chúng ta cũng phải tự hỏi: Giữ im lặng như vậy để làm gì? Các cuộc biểu tình trong hai tháng qua là những hành động công khai, mục tiêu được minh bạch nêu lên trước cả thế giới. Có gì mà không dám nói thật, nói thẳng hết ra? Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, quý ông Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, đang mặc nhiên làm đại diện của một phong trào quần chúng. Người bi quan có thể lo ngại rằng khi giữ im lặng như vậy, quý vị đã “mắc mưu cộng sản!”

Ðảng Cộng Sản đang biến những cuộc biểu tình vì lòng yêu nước của hàng ngàn người dân thành một cuộc thảo luận giữa một nhóm nhà trí thức với chính quyền thành phố; mà lại thảo luận trong vòng bí mật! Họ cố ý biến những cuộc biểu tình mang tính chất toàn dân, toàn quốc, thành một biến cố địa phương trong thẩm quyền của một thành phố. Họ có thể đánh lạc hướng dư luận. Thay vì đặt ra vấn đề các quyền tự do căn bản của người dân, như quyền tự do hội họp, tự do phát biểu, họ sẽ dùng guồng máy tuyên truyền biến chúng thành một cuộc tranh luận có tính cách kỹ thuật về việc áp dụng Nghị định số 38/2005/NÐ-CP của ông Nguyễn Tấn Dũng!

Luật Sư Nguyễn Văn Ðài đã khẳng định: “Quyền biểu tình là vũ khí đấu tranh mạnh nhất và cuối cùng của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi tất cả các biện pháp giải quyết bằng thủ tục pháp lý khác không mang lại kết quả hài lòng cho nhân dân. Bởi ý nghĩa to lớn của quyền biểu tình và quyền biểu tình là quyền Hiến định nên nó không bị hạn chế bởi qui định của các văn bản dưới luật.”

Ðiều nguy hiểm là khi chọn lựa sự im lặng, không tường thuật đầy đủ và công khai các cuộc thảo luận với chính quyền, chúng ta đã bước vào đúng con đường mà đảng Cộng Sản muốn chọn. Sức mạnh của những người dân đi biểu tình trong hai tháng qua là tính chất minh bạch, công khai. Tự tước bỏ tính minh bạch công khai là “tự tước vũ khí của mình!”

Trong lúc đó, một nhu cầu lớn của dân tộc Việt Nam bây giờ chính là Sự Thật. Nhân vật của Knut Hamsun (Giải Nobel 1920) đã tự ý chấm dứt trò chơi bịa đặt, dối trá của anh ta, vì chán quá. Cả nước Việt Nam bây giờ cũng cần làm như vậy, vì lý do quan trọng hơn: Sống xứng đáng với phẩm giá con người. Cần nói sự thật: Chúng tôi muốn người dân Việt có quyền tham dự vào những quyết định lớn của quốc gia. Chúng tôi không chấp nhận để cho một nhóm người quyết định tất cả mọi việc, trong vòng bí mật của họ! Chúng tôi muốn các quyền tự do dân chủ phải được thi hành thật sự. Chúng tôi chấm dứt, không muốn đóng trò nữa! Nhiều khi, im lặng cũng là đồng lõa che giấu sự thật!
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Xâm lấn kinh tế mới nguy hiểm

Ngô Nhân Dụng


Tháng trước, nhiều báo, đài và mạng thông tin đã ồn ào về cuộc tập trận của quân đội Trung Cộng ở vùng giáp giới Việt Nam trong các tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây.

Nhưng dù Bắc Kinh cố ý biểu diễn sức mạnh quân sự sát biên giới nước ta thì người mình cũng không cần sợ.

Có nhiều lý do để người Việt Nam không sợ nạn Mã Viện, Thoát Hoan hay Vương Thông, Mộc Thạnh. Tất nhiên, lý do quan trọng nhất vẫn là những bài học lịch sử mà nước Trung Hoa đã học mỗi lần đánh Việt Nam. Khi lòng yêu nước bị khích động, dân Việt Nam sẽ rất khó bị chinh phục.

Nhưng ngay cả khi quân Trung Quốc dư sức “cho thêm một bài học” rồi rút tàn quân về, thì họ cũng không dại gì mà đánh. Từ vài chục năm nay đảng Cộng Sản Trung Hoa đang cố đeo cái mặt nạ hòa hiếu khắp thế giới, họ không dại gì tự lột mặt nạ. Hiện nay Trung Quốc đang mua bán với 220 xứ và lãnh thổ, thầu xây dựng hạ tầng cơ sở ở 180 xứ, và đầu tư vào 129 xứ! Họ muốn mang một bộ mặt ôn hòa, chỉ lo làm ăn chứ không tính xâm chiếm ai hết! Chỉ khi nào họ đã kiểm soát được, làm cho chính quyền một nước khác không cựa được, thì Bắc Kinh mới lộ mặt hung hăng mà không sợ gì cả!

Nhưng nếu Trung Quốc mà tấn công Việt Nam một cuộc chạy đua mua khí giới và tăng cường quân lực trong vùng Ðông và Nam Châu Á sẽ bắt đầu. Các nước Ấn Ðộ, Nhật Bản, Indonesia, Ðài Loan và Nam Hàn sẽ có lý do để tăng ngân sách quốc phòng, sẽ liên hết với Mỹ chặt chẽ hơn. Kỹ nghệ sản xuất vũ khí của các nước Nga, Mỹ sẽ có thêm khách hàng! Ðó là điều Cộng Sản Trung Hoa không muốn thấy!

Nhưng Cộng Sản Trung Hoa có cần phải đánh Việt Nam hay không? Họ thực sự không cần dùng sức mạnh quân sự cũng có thể đạt được những mục tiêu của họ bằng phương cách khác.

Sức mạnh của các quốc gia phải dựa trên kinh tế. Chúng ta đã chứng kiến một guồng máy quân sự khổng lồ của Liên Xô, có lúc đóng quân trên một nửa Âu Châu, nhưng cuối cùng cũng thành bất lực khi hệ thống kinh tế quốc doanh tê liệt rồi sụp đổ. Người Trung Hoa từ 30 năm qua đã chú trọng đến việc phát triển kinh tế nhiều hơn là quân sự. Nếu không xâm lăng bằng quân sự thì Trung Quốc có thể làm gì để ảnh hưởng tới vận mệnh Việt Nam? Con đường chắc chắn hơn là theo con đường kinh tế.

Năm ngoái, nền ngoại thương nước ta bị thâm thủng gần 12 tỷ đô la Mỹ đối với Trung Quốc. Ðó chỉ là cán cân mậu dịch chính thức, chưa kể đến những gánh hàng buôn lậu qua một biên giới hầu như không ai kiểm soát vì các quan chức địa phương rất dễ được hối lộ. Hàng hóa bên Tàu đổ sang bán với giá vốn có thể đè bẹp tất cả các cố gắng của các nhà sản xuất Việt Nam. Nhưng những chuyến hàng lậu cũng chỉ là chuyện vặt. Chính quyền Việt Nam hiện nay đang mở cửa cho Trung Quốc tấn công trên những trận địa lớn, mà người dân Việt bình thường có thể không mấy người để ý tới, vì không nhìn thấy trước mắt.

Một món hàng không ai nhìn thấy là điện từ Trung Quốc có thể được truyền sang Việt Nam trong những sợi dây mong manh. Theo công ty điện lực Việt Nam thì các tỉnh phía Bắc nước ta đang nhập cảng điện từ Trung Quốc, số lượng lên tới 6% tổng số điện tiêu thụ trên toàn quốc. Coi như một biên giới đã bỏ ngỏ cho điện chảy qua. Nếu nhà cung cấp bên Tàu cúp điện, vì “sự cố kỹ thuật” nào đó, thì hoạt động kinh tế ở mấy tỉnh phía Bắc sẽ ngưng trệ ngay.

Vào đầu tháng 7, ký giả Ben Bland viết trên nhật báo Financial Times một bài, “Nhu cầu điện sẽ khiến xung độ Bắc Kinh Hà Nội giảm bớt” (Electricity demands could limit Beijing-Hanoi rift); sau khi quan sát thị trường điện lực ông khẳng định: “Bắc Kinh ngày càng điều khiển kinh tế Việt Nam” (Beijing is increasingly driving Vietnam's economy). Ben Bland nhận xét Trung Quốc không quan tâm đầu tư, trong năm 2010, họ chỉ bỏ vô số tiền trị giá 365 triệu Mỹ kim vào Việt Nam, bằng một phần trăm tổng số các quốc gia đầu tư trực tiếp.

Không bỏ tiền đầu tư nhiều, nhưng Trung Quốc có đường khác để gây ảnh hưởng kinh tế, là cho vay. Và họ cho vay một cách dễ dàng hơn ngân hàng các nước khác, đặc biệt trong các công trình xây dựng nhà máy điện.

Ai cũng biết một nước đang bắt đầu phát triển thì nhu cầu điện lực rất lớn. Các quốc gia mới lên đều phải vay tiền ngoại quốc, gọi thầu các công ty ngoại quốc tới xây dựng nhà máy phát điện trong nước mình. Người Việt Nam có thể đi vay các ngân hàng quốc tế, có thể gọi các công ty quốc tế tới đấu thầu trong việc xây cất. Tại sao chính quyền Việt Nam không mở các cuộc “đấu giá” công khai để các ngân hàng quốc tế cạnh tranh nhau trong việc đem tiền tới cho vay, rồi các công ty quốc tế cạnh tranh đem máy móc, thiết bị tới xây dựng nhà máy điện, sử dụng các chuyên viên và công nhân Việt Nam? Tại sao chính quyền Cộng Sản Việt Nam lại chỉ vay các ngân hàng Trung Quốc mà không vay nước khác?

Tất nhiên, sau những vụ vay tiền rồi vỡ nợ kiểu Vinashin, Việt Nam rất khó đi vay tiền trên thế giới. Nhưng đó không phải là lý do chính. Các ngân hàng quốc doanh Trung Quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay với lãi suất thấp hơn trên thị trường quốc tế. Ðổi lại, họ đặt thêm điều kiện khi cho vay, là Việt Nam phải cho các công ty Trung Quốc trúng thầu cung cấp thiết bị và xây dựng nhà máy. Các ngân hàng Trung Quốc khi cho vay đã yêu cầu chính quyền Việt Nam phải sửa đổi các điều kiện gọi đấu thầu, hạ thấp tiêu chuẩn các máy móc thiết bị xuống một mức thấp hơn, để các nhà thầu Trung Quốc đủ điều kiện tham dự! Và chính quyền Việt Nam rất dễ tính trong việc này. Thế là trong mỗi nhà máy điện được xây dựng, Trung Quốc sẽ có dịp xuất cảng các máy móc, các sản phẩm kỹ thuật. Chưa hết, họ sẽ xuất cảng cả những nhân lực dư thừa trong nước họ, bán sức lao động sang Việt Nam nữa!

Theo báo Thanh Niên ở Sài Gòn tại công trường nhà máy đạm thuộc dự án khí-điện-đạm Cà Mau có những công nhân Trung Quốc sang làm những “công việc thủ công” như “khiêng gạch, bẻ sắt” với tiền công mỗi ngày khoảng 100 nghìn đồng; mà không hề tìm thuê người Việt Nam nào vào làm.

Ðây là một chiến lược tấn công ba mặt, tài chánh, kỹ thuật và nhân dụng, mặt nào Trung Quốc cũng có lợi. Các công ty kỹ thuật Trung Quốc có thể “hiến giá” chấp nhận lấy giá rẻ hơn các công ty quốc tế khác. Vì trình độ kỹ thuật của họ thấp hơn, phẩm chất các máy móc của họ cũng thấp hơn. Và tất nhiên, lương các chuyên viên và nhân công của họ cũng thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế!

Những ngân hàng và công ty kỹ thuật của Âu Châu, Ấn Ðộ hay Hàn Quốc, họ không có chính sách pha lẫn lợi ích kinh tế với mục tiêu chính trị, sẽ không thể cung cấp những “gói hàng” đủ mặt với giá thấp như vậy, tự nhiên bị gạt bỏ ra ngoài cuộc cạnh tranh! Các công ty Trung Quốc đang làm nhà máy điện khắp nước Việt Nam, từ Kontum, Quảng Ngãi, cho tới Sơn Tây. Trong cuộc gọi thầu làm nhà máy điện ở Cao Ngạn, chỉ có bốn công ty Trung Quốc tham dự; sau cùng công ty HPE của Trung Quốc đã trúng thầu! Từ năm 2003, công ty Ðông Phương đã phụ trách xây dựng các nhà máy điện ở Dak Mi, A Lưới, An Khê-Ka Nak, Bản Ve và Sông Ba Ha. Công ty Sơn Ðông của Trung Quốc không cần tranh thầu với ai trong dự án nhà máy điện Cẩm Phả 2, vì chính quyền Việt Nam được lệnh riêng của chính ông Nguyễn Tấn Dũng phải cho họ trúng thầu theo thủ tục đặc biệt, “vì lý do nhu cầu cấp bách!” Không biết ông Nguyễn Tấn Dũng có được lợi ích nào khi ra lệnh như vậy hay không.

Nhưng trong các cuộc trao đổi ba mặt như vậy, thì Việt Nam bị thiệt hại gì không? Thiệt hại trước tiên là Việt Nam phải chấp nhận những sản phẩm kỹ thuật với phẩm chất thấp hơn. Thiệt hại thứ hai là phải chấp nhận cho công nhân nước khác vào làm việc trong nước mình trong lúc nạn thất nghiệp trong nước mình cũng rất cao.

Trong khi đó, nhiều người Việt có trách nhiệm than nhà thầu Trung Quốc đã dùng các thiết bị phẩm chất kém tiến trình dự án bị chậm trễ khiến cho chi phí sau cùng lại cao hơn! Hầu hết các dự án bị kéo dài một tới hai năm, vì nhà thầu Trung Quốc không có kinh nghiệm. Họ chỉ quen với các tiêu chuẩn thô sơ và thấp ở các vùng quê Trung Quốc; chưa từng làm việc ở nước ngoài. Họ sử dụng thị trường Việt Nam như một nơi thí nghiệm khả năng của các kỹ sư và công nhân của họ trước khi bước vào thị trường thế giới! Khi một dự án bị trì hoãn thì tất nhiên Việt Nam sẽ phải vay thêm tiền của ngân hàng Trung Quốc, và phải trả tiền lãi nhiều hơn. Công việc trì hoãn cũng tăng thêm chi phí trả cho các kỹ sư làm công việc thiết kế lại! Giáo sư Bùi Huy Phương, thuộc Viện Khoa Học Ðiện Lực, đã cảnh cáo mối rủi ro về an toàn năng lượng khi để cho các công ty Trung Quốc gần như chiếm độc quyền trong việc xây dựng mạng lưới điện lực khắp nước Việt Nam! Khi so sánh hai nhà máy điện, một ở Na Dương sử dụng các kỹ thuật của Nhật Bản và các nước Tây phương, hai là ở Cao Ngạn dùng kỹ thuật Tàu, thiết bị Tàu, thì các chuyên gia đã thấy hiệu năng ở Cam Ngạn rất thấp so với Na Dương, và đã trục trặc nhiều lần.

Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, ngày 16 tháng 6 năm 2011 trên 90% gói thầu thuộc lĩnh vực khác nhau rơi vào tay Trung Quốc, thì việc “ngành năng lượng điện tại Việt Nam ngày một phụ thuộc vào Trung Quốc cũng không có gì làm lạ”. Phụ thuộc nghĩa là thế nào? Liệu có lúc nào các nhà máy điện do Trung Quốc xây có thể cùng ngưng chạy một lúc hay không? Chuyện rất khó xảy ra. Nhưng nếu người ta cố ý thì chuyện gì cũng có thể làm được cả!

Câu hỏi là nước Việt Nam có thể thản nhiên để cho một ngành quan trọng như điện lực trở thành phụ thuộc vào Trung Quốc hay không? Xem ra thì hiện nay người Việt Nam rất quan tâm đến những hòn đảo đã bị mất và có thể sắp mất ở Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng ít người để ý đến một cuộc xâm lấn kinh tế. Cuộc xâm lăng này lại được nhiều đồng lõa làm nội ứng. Cuộc xâm lăng nhẹ nhàng, chậm chạp mà chắc chắn; nếu không ngăn ngừa ngay thì sau này cũng rất khó tháo gỡ.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Image

Mùa Xuân Ðịa Trung Hải

Ngô Nhân Dụng

Một nước Libya Tự Do đang thành hình. Khi quân nổi dậy chiếm được thành phố Tripoli ký giả Al-Mustaqbal ở Lebanon mô tả đây là “Một Mùa Xuân Ðịa Trung Hải.” Người Libya gọi thủ đô Tripoli là “Vị hôn thê của Ðịa Trung Hải.” Arusat Al-Bahr - Người vợ chưa cưới - mới được giải phóng, thoát khỏi vòng tay anh đại tá độc tài “vũ phu” Muammar el-Qaddafi (cũng viết là Moammar Gadhafi hoặc Muammar Kadhafi; chúng tôi sẽ viết theo lối chung của nhật báo Người Việt là Gadhafi).

Mười ngày sau khi quân nổi dậy tiến chiếm Tripoli, điều khiến nhật báo Times ở London reo mừng là “Không xẩy ra một vụ Iraq!” Những mối lo ngại trước đây về một cảnh hỗn loạn vô chính phủ đã không diễn ra. Không có những người dân bình thường biến thành đám côn đồ đi hôi của! Không có cảnh giết chóc để trả thù những tay sai suốt 42 năm của chế độ Gadhafi. Một phần, đó là nhờ Ủy Ban Quốc Gia Chuyển Tiếp (NTC) đã dự phòng.

Trước khi chiến dịch đánh Tripoli bắt đầu, từ thành phố Benghazi, NTC thành lập một lực lượng cảnh sát, có từ 10 ngàn đến 15 ngàn dân vệ, để lo bảo vệ trật tự khi chiếm được thủ đô. Ông Mahmoud Jibril, chủ tịch ủy ban đã lên ti vi, phát hình từ vương quốc Á Rập Qatar trong vùng Vịnh, kêu gọi dân chúng thủ đô hãy kiềm chế không tự mình đi trả thù, hãy để mọi nỗi oán hờn cho công lý xét xử sau này. Khác với Iraq năm 2003, các cảnh sát, công an của chế độ cũ được kêu gọi trở lại nhiệm sở, cũng như các quân nhân không bị sa thải tức khắc, tạo nên một đạo binh thất nghiệp vừa sợ hãi vừa có súng trong tay như ở Iraq. Tại nhiều nơi, những ủy ban nhân dân tự động lập ra lo việc bảo vệ trật tự, an ninh trong khu phố mình. Ðiều đáng mừng không kém là các mỏ dầu lửa bắt đầu hoạt động và những ngân khoản ở ngoại quốc của chính quyền cũ được Liên Hiệp Quốc giải tỏa, tiền bắt đầu được tháo khoán cho chính quyền mới sử dụng!

Và chính quyền mới cần ngay rất nhiều tiền. Trong thành phố Tripoli nhiều nơi còn bị cúp điện, nước. Công chức khắp nước chưa được trả lương trong mấy tháng qua. Ðiều quan trọng nhất là chính phủ lâm thời, dưới cái tên Ủy Ban Quốc Gia Chuyển Tiếp cần phải có mặt ở thủ đô ngay, để tạo niềm tin rằng chế độ cũ đã chấm dứt thật sự. Và họ phải chứng tỏ đang nắm quyền quyết định. Ðể tránh cho Libya khỏi lâm vào cảnh nội chiến như ở Iraq sau năm 2003.

Một công trình của Ðại Học Columbia nghiên cứu 323 cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài từ năm 1900 đến năm 2006 cho biết sau khi “cách mạng thành công” có 43% trường hợp đã đưa tới nội loạn. Lybia cũng giống Iraq, có đủ các mầm mống đưa tới nội chiến, vì họ không phải là một dân tộc có truyền thống thuần nhất và chưa có ý thức quốc gia theo nghĩa hiện đại của danh từ này. Người dân Lybia hướng lòng trung thành của họ vào các bộ lạc nhiều hơn là vào một thực thể quốc gia. Ngay những nhóm dân quân nổi dậy cũng không thuần nhất. Dân Berberes ở phía Tây đã nổi lên chống Gadhafi sau khi cuộc nổi dậy ở Benghazi tại miền Tây thắng thế. Những người Berberes đầy tinh thần độc lập và tự hào của dân du mục đóng vai trò thiết yếu trong trận đánh giải phóng thành phố Misrata, họ không hoàn toàn tuân phục Ủy Ban Quốc Gia Chuyển Tiếp. Ngay trước khi thắng thế, trong phe nổi dậy đã xẩy ra những rạn nứt lớn. Vào Tháng Bẩy, nhà chỉ huy quân sự Abdel Fatah Younès được triệu hồi từ mặt trận về Benghazi tham khảo; mấy ngày sau người ta thấy xác ông và hai cận vệ ở bên ngoài thành phố, thi hài có dấu vết bị tra tấn và bị đốt cháy. Phe nổi dậy nói ban ám sát của Kadhafi đã giết ông Younes, nhưng nhiều người không tin. Sau đó, ủy ban hành pháp, tức chính quyền lâm thời đã phải từ chức. Ông Younes thuộc bộ lạc Obeidi, bộ lạc này đã yêu cầu mở cuộc điều tra tìm thủ phạm. Những bất đồng như vậy sẽ gây nhiều trở ngại cho một nước Libya mới sắp ra đời!

Ủy ban NTC do ông Mustafa Abdel Jalil, một cựu bộ trưởng Tư Pháp cầm đầu. Ông đã tuyên bố trước là sẽ không giải giới quân đội và công an cảnh sát của chế độ cũ, để họ an lòng. Ông hứa sẽ thành lập một chính phủ lâm thời trong vòng 30 ngày sau khi cả nước được hoàn toàn giải phóng, chính phủ này sẽ bao gồm nhiều khuynh hướng chính trị và nhiều bộ lạc. Trong vòng 8 tháng sẽ tổ chức bầu cử tự do, để soạn một bản Hiến Pháp mới trong vòng 20 tháng.

Ðiều khó khăn nhất sẽ là làm cách nào giải thể các toán dân quân độc lập để họp lại thành một quân đội quốc gia chuyên nghiệp, đứng ngoài chính trị!

Ông Mustafa Abdel Jalil là viên chức chính phủ Gadhafi đầu tiên từ bỏ nhà độc tài để gia nhập dân quân nổi dậy, sau khi các sinh viên ở Bengahzi biểu tình ngày 15 Tháng Hai năm nay. Ông được nhiều người kính trọng vì ngay khi làm bộ trưởng đã can đảm chỉ trích nhiều chính sách đàn áp đối lập của Gadhafi. Nhưng Jalil không được coi là một lãnh tụ mạnh có khả năng khuất phục người khác. Sau ông Jalil, nhiều nhân vật trong chính quyền Kadhafi cũng kéo về thành phố Bengahzi thủ phủ tạm thời của phe nổi dậy, lấp vào khoảng trống chính trị của một phong trào quần chúng tự động bột phát. Trong số đó có ông Mahmoud Jibril, đang cầm đầu ủy ban hành pháp của phe nổi dậy, và ông Ali al-Essawi, đứng đầu về ngoại giao.

Jibril là một cựu sinh viên Ðại Học Pittsburgh ở Mỹ. Trong cuốn “Viễn Tượng Lybia 2025” ông đã vẽ ra hình ảnh một chế độ mới, trong đó các quyền tự do được tôn trọng, kinh tế thị trường mở cửa, và quyền hành của chính phủ được giới hạn trong đời sống xã hội. Người đóng vai trò bộ trưởng Tài Chánh trong phe nổi dậy là Ali Tarhouni, một giáo sư Ðại Học Washington, ông đã bỏ ngang nghề giáo sư ở Mỹ để về nước “làm cách mạng!”

Nhân vật trong phe nổi dậy có thể bị nghi ngờ chống Tây phương là Abdul Hakim Belhaj' người đang cầm đầu Ủy Ban Quân Sự Tripoli.

Abdul Hakim Belhaj có bí danh là Abu Abdullah al-Sadiq vốn là chỉ huy của một nhóm kháng chiến mang tên Ðạo Quân Hồi Giáo Lybia (Libyan Islamic Fighting Group - LIFG), đã tổ chức chống chính quyền Kadhafi từ năm 1990, ở miền Ðông Lybia. Ông Belhaj 45 tuổi, đã âm mưu ám sát Kadhafi hai lần không thành vào những năm 1995, 96. Nhóm Ðạo Quân Hồi Giáo Libya (LIFG) bị chính phủ Mỹ ghi trong danh sách các tổ chức khủng bố Hồi Giáo quá khích. Năm 2004 ông Belhaj đã bị bắt ở Mã Lai Á, sau đưa qua nhà giam của CIA tại Thái Lan, và ở đó ông đã bị tra tấn. Khi được trả tự do, ông được đưa trả cho chính quyền Gadhafi, bị giam giữ; mới được “ân xá” năm 2010.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Belhaj nói ông không thù hận nước Mỹ. Ông cũng nói đã từng chống lại tổ chức khủng bố Al Qaeda mà ông cho là cực đoan, không theo đúng giáo lý Hồi Giáo. Nhóm LIFG nay đã đổi tên thành Phong Trào Hồi Giáo Chuyển Hóa để biến thành một đảng chính trị.

Những tổ chức dân quân kháng chiến như LIFG có hy vọng thoát xác trở thành các đảng chính trị hay không? Người ta có thể hy vọng điều đó sẽ diễn ra, theo tấm gương của Nghị Hội Quốc Gia Nam Phi (Africa National Congress ANC). Sau khi được người da trắng ở đó trao quyền hành, ANC đã tự giải tán, gia nhập quân đội quốc gia. Một diễn trình tương tự đang thành hình ở Ai Cập, nơi các nhóm Hồi Giáo võ trang đông người hơn LIFG cũng đã tự giải tán và thành lập đảng chính trị Kiến Thiết và Phát Triển.

Các nước Tây phương đã giúp cho phe cách mạng thành công, nhờ những cuộc không tập và viện trợ vũ khí, gồm các nước Anh, Pháp và Mỹ. Ðiều này được cả nước Lybia biết ơn. Ðối với nước Mỹ, cuộc nổi dậy thành công ở Lybia là một tin mừng hiếm hoi, trong lúc thị trường chứng khoán đang xuống vì mối lo nạn thất nghiệp không giảm! Biến cố này đã tạo cho nước Mỹ một hình ảnh mới trong thế giới Á Rập. Một nhà báo Mỹ viết cho tờ New York Times hôm qua đã mô tả chuyến đi của ông từ biên giới Tunisie tới Tripoli, đi đâu cũng thấy mọi người hoan hô chính phủ Mỹ trong việc hỗ trợ quân nổi dậy.

Trong khi đi bộ trong thủ đô Tripoli, nhà báo được một người lái xe gọi lại cho đi nhờ, và nhắn: Cảm ơn người Mỹ! Một người khác nhận xét: Nếu không có nước Mỹ giúp, chúng tôi không có ngày hôm nay! Một người lính biên phòng biết nhà báo từ New York tới đã hỏi thăm về trận bão Irene đang tấn công New York, tỏ ý hỏi anh ta có thể làm gì để giúp người Mỹ hay không! Belgassim Ali, một kỹ sư dầu lửa nói: “Tôi muốn cảm ơn nước Mỹ đã giúp bảo vệ dân tôi. Nếu không có nước Mỹ thì chúng tôi không đang được mừng ngày thành công như thế này! Chắc chúng tôi đang nằm trong nghĩa địa!” Chàng thanh niên Abdul Hakim al-Hasadi, một quân thánh chiến cũ (jihadist) nói với nhà báo Mỹ: Thái độ của chúng tôi đã thay đổi. “Trước đây tôi ghét Mỹ 100%, hôm nay chỉ còn dưới 50%!”

Bài học có thể rút ra từ biến cố ở Libya là: Một chế độ độc tài có thể tan rã rất dễ dàng! Mùa Xuân Ðịa Trung Hải đã bắt đầu ở Tunisia từ đầu năm, lan sang Ai Cập và các nước Á Rập khác, nay đã tới Libya và có thể sẽ tràn tới Syria trong những ngày sắp tới. Nhà báo Ali-Mustaqbal ở Lebanon mới nhớ lại, trong thập niên 1970 cả vùng Ðịa Trung Hải toàn là những chế độ độc tài. Tito ngự trị ở Nam Tư, Enver Hodja ở Albania. Các ông đại tá nắm quyền ở Hy Lạp. Thổ Nhĩ Kỳ cũng nằm trong tay các ông tướng. Chế độ Franco ở Tây Ban Nha chỉ chấm dứt khi nhà độc tài này qua đời năm 1975. Chế độ độc tài ở Bồ Ðào Nha chấm dứt năm 1974 sau cuộc Cách Mạng Hoa Cẩm Chướng. Sáu nước phía Bắc Ðịa Trung Hải và tất cả các nước Á Rập ở phía Nam đều sống dưới chế độ độc tài trước đây 40 năm! Ngày nay, mùa Xuân đã tới miền Ðịa Trung Hải!
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Cảnh ly tán của gia đình Gadhafi

Tung tích đại tá Muammar Gadhafi đang là điều bí ẩn và cả chính quyền chuyển tiếp Libya (NTC) lẫn phương Tây đều tin rằng ông này vẫn còn trong nước,
trong khi các con ông người bị giết người phải lẩn trốn khắp nơi.

Chính quyền chuyển tiếp tại Libya đang nhận được sự hỗ trợ của phương Tây trong cuộc truy lùng Gadhafi và các nguồn tin tình báo đều khẳng định
viên đại tá này vẫn còn ở trong nước. Tuy nhiên vị trí chính xác Gadhafi đang ở đâu thì chỉ có thể phỏng đoán dựa trên các mối liên hệ.

Image
Đại tá Muammar Gadhafi. Ảnh: AFP.
Những nơi Gadhafi có thể ẩn náu

Khu dinh thự Bab al-Aziziya của chế độ Gadhafi ở Tripoli bị phe nổi dậy đánh chiếm hôm 22/8, nhưng không loại trừ khả năng ông vẫn trốn đâu đó tại thủ đô. Hôm 31/8, con trai Gadhafi là Saif al-Islam cho biết ông đang ở ngoại ô Tripoli và cha mình vẫn khoẻ mạnh. Nhưng nay phe nổi dậy đã kiểm soát hoàn toàn thủ đô nên nếu ẩn náu tại đây sẽ khiến Gadhafi gặp nhiều rủi ro.

Trong khi đó, thành phố quê nhà Sirte vẫn do phe ủng hộ Gadhafi kiểm soát được nhiều người nhận định đang bảo vệ viên đại tá bị săn đuổi của Libya. Đây cũng là vùng đất gốc của bộ tộc Qadhadfa mà Gadhafi đã sinh ra từ đó. Trong đoạn băng phát đi hôm 1/9, Gaddafi tuyên bố bộ tộc này đã được vũ trang để kháng cự đến cùng.

Thời còn cầm quyền, đại tá Gaddafi từng tập trung phát triển Sirte từ một nơi hẻo lánh thành thủ đô thứ hai của Libya với một khu dinh thự hoành tráng. Tại đây cũng có một căn cứ quân sự và không quân lớn cùng hệ thống hầm ngầm kiên cố. Tuy nhiên Sirte vẫn có nhiều rủi ro cho Gadhafi nếu chọn để lẩn trốn vì nó được phe nổi dậy và NATO đặc biệt chú ý và bao vây chặt.

Một thành phố nhỏ nằm cách Tripoli 150 km về phía đông nam là Bani Walid cũng được cho là nơi Gadhafi có thể ấn náu. Chế độ cũ có nhiều sự ủng hộ tại thành phố 50.000 dân này. Phe nổi dậy cho biết họ có nguồn tin đáng tin cậy về việc đại tá Gadhafi cùng người con trai nổi tiếng nhất là Saif al-Islam và giám đốc cơ quan tình báo Abdullah Sanussi đã chạy tới Bani Walid hồi tuần trước.

Thành phố Sabha nằm giữa sa mạc ở phía nam Tripoli chỉ có 10.000 dân cũng được đặt trong tầm ngắm của lực lượng truy lùng Gadhafi. Có nhiều cuộc giao tranh tại đây những ngày qua, nhưng thành phố vẫn do phe ủng hộ Gadhafi kiểm soát. Dù không lớn như Bani Walid, thành phố Sabha nằm xa hơn về phía nam và đây có thể là cửa ngõ ra nước ngoài thuận lợi cho Gadhafi.

Theo nguồn tin trên báo El Watan của Algeria, đại tá Gaddafi đã cố gọi cho Tổng thống Algeria Abdelaziz Bouteflika từ thành phố Ghadamis nằm giữa sa mạc, sát biên giới Algeria và Tunisia. Theo đó Gadhafi đang tìm cách xin tị nạn tại Algeria sau khi vợ và 3 con ông chạy sang nước này hôm 29/8. Hiện chưa thể kiểm chứng cuộc gọi này thực hiện khi nào nhưng thành phố Ghadamis cũng được chú ý.

Ngoài ra còn có phỏng đoán đại tá Gaddafi đang tìm cách sang ẩn náu tại một nước châu Phi khác như Chad, Sudan, Zimbabwe và Nam Phi. Tuy nhiên rất khó cho Gadhafi trốn sang các nước này bằng máy bay. Chad có biên giới với Libya ở phía nam và cũng đã công nhận chính quyền NTC. Còn Algeria vẫn được coi là sự lựa chọn tốt nhất cho Gadhafi vì nước này chưa công nhận NTC cũng như Toà án hình sự quốc tế ICC vốn đang truy nã Gadhafi và các con trai.
Image
Từ trái qua phải hàng trên: Saif al-Islam Gadhafi, Saif al-Arab Gadhafi, Saadi Gadhafi, Aisha Gadhafi.
Từ trái qua phải hàng dưới: Hannibal Gadhafi, Khamis Gadhafi, Mutassim Gadhafi và Muhammad Gadhafi. Ảnh: Telegraph.


Các con mỗi người một ngả

Theo người đứng đầu NTC Mustafa Abdul Jalil, hai con trai của Gadhafi là Saif al-Islam and Mutassim Gaddafi đã ẩn náu tại thành phố Bani Walid tới thứ bảy tuần trước thì rời đi. Trước đó, những người đàm phán của phe nổi dậy đã thất bại trong việc thuyết phục lực lượng ủng hộ Gadhafi tại Bani Walid ra hàng.

Ông Mustafa Abdul Jali cho rằng chính hai con trai của Gaddafi đã ngăn cản Bani Walid đầu hàng quân nổi dậy. Do đàm phán không đạt kết quả nên lực lượng NTC đổ tới các vị trí gần Bani Walid, cách Tripoli 150 km về phía đông nam, để chuẩn bị cho một cuộc tấn công quy mô lớn.

Ngoài Bani Walid hiện còn có Jufra, Sabha và Sirte là những thành phố ở Libya còn do phe ủng hộ Gadhafi kiểm soát. Do sức ép của cuộc bao vây, con trai nổi tiếng nhất của Gadhafi là Saif al-Islam Gaddafi được cho là đã rời Bani Walid hôm thứ bảy tuần trước để tới một nơi xa hơn về phía nam chưa được xác định.

Một con trai khác của Gadhafi cũng chưa xác định được tung tích là Mutassim Gadhafi, trong khi người con trai khác là Saad Gadhafi được cho là đang cố thủ ở Bani Walid. Hai người con trai còn lại là Saif al-Arab và Khamis Gadhafi, chỉ huy một lữ đoàn khét tiếng tại Libya trước đây, được cho là đã bị quân nổi dậy tiêu diệt.

Những thông tin về bản thân đại tá Gadhafi cùng các con trai nêu trên chưa thể kiểm chứng xác thực. Chỉ có trường hợp hai con trai khác của Gadhafi là Muhammad và Hannibal cùng con gái Aisha và vợ Safia được khẳng định đã trốn sang nước láng giềng Algeria. Đặc biệt cô con gái Aisha Gadhafi đã sinh con ngay khi trốn sang được Algeria.
Image
Vợ của đại tá Gadhafi là Safia và con gái Aisha đang ở Algeria. Ảnh: AFP.
Số phận gia đình Gadhafi hiện nay đang được so sánh với nhà Saddam Hussein tại Iraq năm 2003. Khi đó, vợ và con gái Saddam Hussein đã sang nước ngoài tị nạn, trong khi hai con trai ông khét tiếng một thời ở Iraq là Uday và Qusay Hussein bị đặc nhiệm Mỹ bắn chết trong một ngôi nhà. Bản thân cựu tổng thống Saddam Hussein bị bắt sống sau nhiều tháng lẩn trốn và bị treo cổ sau đó.

Đình Nguyễn
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Còn sợ dân chủ là... hỏng
Phạm Hồng Sơn


Rạn nứt, chia rẽ có thể che đậy được đối với người cùng một nước nhưng là không thể đối với những kẻ có dã tâm xâm lược. Chỉ bốn ngày sau hai cuộc biểu tình “tự phát” vẫn còn âm vang ở hai đầu đất nước, Trung Quốc không chỉ yêu cầu chính quyền Việt Nam phải “nỗ lực” hơn nữa mà còn tiếp tục “cắt cáp.” Nhưng, sự ngang ngược, thách thức của Trung Quốc cũng có cái lý của họ: Còn gì phải đắn đo trước một dân tộc đang bị chia rẽ? Việc gì phải tôn trọng một chính quyền đang e sợ chính đồng bào của nó?
Image
Một người biểu tình bị công an đạp vào mặt, trở thành hình ảnh tiêu biểu cho tình trạng chính quyền chống đối dân. (Hình từ video)

Những diễn biến bên trong các cuộc biểu tình diễn ra vào ngày 5 tháng 6 vừa qua tại Hà Nội và Sài Gòn lại một lần nữa cho thấy không phải chính quyền Việt Nam (do Ðảng Cộng Sản Việt Nam kiểm soát toàn diện) không uất ức trước sự khinh thường, ngỗ ngược của “người bạn bốn tốt.” Vấn đề là chính quyền Việt Nam còn rất sợ những hoạt động tập hợp dân chúng trên đường phố, dù chỉ là kết quả của một kế hoạch kín đáo với sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền, có thể sẽ chuyển thành hoặc mở ra những cơ hội mới cho công cuộc dân chủ hóa - cuộc đấu tranh nhằm bãi bỏ chính thể phi dân chủ hiện hành.

Theo lẽ tự nhiên, những người đang cầm quyền độc đoán sợ “dân chủ hóa” hay “diễn biến hòa bình” là đúng. Bởi những người cầm quyền độc đoán không thể không hoảng sợ khi nghĩ đến lúc phải đối diện với công lý vì những hành động nhẫn tâm, ngược đãi con người một cách tùy tiện. Ðó cũng là một đặc điểm chung của tâm lý học tội phạm. Ðấy là chưa kể tới lòng tham những đặc quyền vô bờ mà người cầm quyền và gia đình họ đang thoải mái tận hưởng sẽ phải chấm dứt ngay lập tức một khi các thiết chế dân chủ của nhà nước và xã hội được hình thành.

Nhưng trong tình hình hiện nay, việc sợ hãi “dân chủ hóa” hay “diễn biến hòa bình” là nỗi sợ thiếu sáng suốt. Trước ngày 26 tháng 5, 2011, chắc rằng vẫn có nhiều người tin rằng Trung Quốc có thể nuốt chửng cả Việt Nam nhưng vẫn dành cho Ðảng Cộng Sản Việt Nam một chỗ dung thân. Niềm tin (kỳ cục) đó, đã được truyền tụng trong dân chúng bao năm qua bằng câu “Ði với Mỹ, mất Ðảng. Ði với Tàu, mất nước,” chắc chắn nay không thể còn khi Trung Quốc đã cắt thẳng vào cáp thăm dò “tiền bạc” của chiếc tàu Bình Minh 2 của chính phủ Việt Nam (tức cũng là của Ðảng Cộng Sản Việt Nam). Như vậy, tất cả mọi người Việt Nam hiện nay, từ quốc nội đến hải ngoại, từ trong đảng đến ngoài đảng, đều phải nhận thấy rõ tất cả đang có một kẻ thù chung là: mộng bá quyền Trung Quốc.

Mà để chống được kẻ thù chung thì không còn con đường nào khác là phải đoàn kết, đoàn kết thực sự giữa mọi tầng lớp nhân dân với chính quyền - một yêu cầu tiên quyết ở mọi thời đại. Nhưng chừng nào người cầm quyền còn e sợ người dân nổi dậy lật đổ mình, chừng nào người khát khao dân chủ còn chưa thể tin được vào người cầm quyền thì chừng đó sự rạn nứt, chia rẽ dân tộc vẫn chưa thể hàn gắn được. Khi đó mọi “đoàn kết dân tộc” do chính quyền khởi xướng sẽ chỉ là những tập hợp lỏng lẻo, thiếu hụt, nhất thời và đầy âm mưu. Chỉ có dân chủ hóa một cách chủ động và từng bước mới có thể xóa dần mọi nghi kỵ giữa các thành phần dân tộc, để tiến tới một “đoàn kết dân tộc” thực sự đủ để chặn đứng dã tâm xâm lược đang ngày càng táo tợn. Lịch sử cũng cho thấy hiểm họa mất nước luôn tạo cơ hội vàng cho những người cầm quyền lập công hiển hách hay đái tội tày đình. Hơn nữa, những kinh nghiệm và hiểu biết của nhân loại cho tới nay đã đủ để cho nhiều người Việt Nam phải hiểu rằng dân chủ hóa không nhằm để tước bỏ quyền lợi của ai mà để tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người, không phải để trả thù cho những đau khổ cũ vì sự trả thù chỉ gây khó khăn cho dân chủ. Các cổ xúy cho dân chủ cũng không phải là luận điệu nhằm để gài bẫy các nhà cầm quyền độc đoán bởi dân chủ có những giá trị nền tảng là đàm phán, thỏa hiệp và khoan dung.

Rạn nứt, chia rẽ có thể che đậy được đối với người cùng một nước nhưng là không thể đối với những kẻ có dã tâm xâm lược. Chỉ bốn ngày sau hai cuộc biểu tình “tự phát” vẫn còn âm vang ở hai đầu đất nước, Trung Quốc không chỉ yêu cầu chính quyền Việt Nam phải “nỗ lực” hơn nữa mà còn tiếp tục “cắt cáp.” Nhưng, sự ngang ngược, thách thức của Trung Quốc cũng có cái lý của họ: Còn gì phải đắn đo trước một dân tộc đang bị chia rẽ? Việc gì phải tôn trọng một chính quyền đang e sợ chính đồng bào của nó?

Phạm Hồng Sơn
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

‘Diễn biến hòa bình’ chính hiệu

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Trên các cơ quan truyền thông trong nước, nhóm lãnh đạo cao nhất không ngừng kéo còi báo động khẩn cấp
về nguy cơ “diễn biến hòa bình” và kêu gọi toàn xã hội nâng cao cảnh giác.
Image
Ông Ðới Bình Quốc (trái) đến Việt Nam bàn chuyện biển Ðông, gặp ông Nguyễn Tấn Dũng. (Hình: hoitraloi.blogspot.com)

Họ giải thích diễn biến hòa bình có nghĩa là làm thay đổi chế độ lãnh đạo độc tôn, duy nhất của đảng CS, là từ bỏ học thuyết Mác-Lênin là học thuyết duy nhất đúng đắn, là từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà họ cho là chủ nghĩa tiến bộ duy nhất trên đời này. Họ cho rằng những kẻ chủ trương diễn biến hòa bình là ‘bọn đế quốc và bọn phản động tay sai của chúng’, là kẻ thù của nhân dân.

Họ lấy thực tế ở các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu và Liên Xô cách đây hơn 20 năm để hù dọa nhân dân và đảng viên CS, giải thích rằng bức tường Berlin sụp đổ, phe xã hội chủ nghĩa to lớn, hùng mạnh một thời tan vỡ chính là vì bọn đế quốc đã móc nối với những nhóm cơ hội chủ nghĩa trong nội bộ phong trào CS để phá vỡ các đảng CS từ bên trong mà không cần bạo lực, làm cho chủ nghĩa tư bản “tạm thời” thay thế chủ nghĩa xã hội. Các nhà lý luận Mác-xít trên tạp chí lý luận CS trấn an rằng thất bại ở Ðông Âu và Liên Xô của chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ như một bóng mây tạm thời, rồi trời lại sáng, chủ nghĩa CS rồi sẽ toàn thắng trên toàn thế giới.

Rõ ràng là họ chỉ nói lấy được. Bản thân họ chắc cũng không tin, nhưng họ cứ nói, cho cấp trên vui lòng, cứ lừa dối nhau để ăn tiền, để trấn an nhau, đã thành nếp, thành cố tật.

Thật ra mọi người có ít nhiều hiểu biết điều công nhận trong thâm tâm mình rằng ở Liên Xô và Ðông Âu, chế độ hiện tại theo mô hình dân chủ đa nguyên tuy còn nhiều khó khăn nhưng vẫn ưu việt hơn về mọi mặt so với nền “chuyên chính vô sản” - thực tế là chuyên chính của một nhóm lãnh đạo độc đoán, được chính hai đại văn hào Lỗ Tấn (Trung Quốc) và Alexandr Solzhenitsyn (Nga) gọi là chế độ “người ăn thịt người”, từng giết gần trăm triệu con người, thủ tiêu triệt để quyền tự do của công dân. Nếu so với chế độ “tư bản đỏ” - còn gọi là “tư bản rừng rú” hay “tư bản hoang dại” đội lốt chủ nghĩa xã hội hiện nay ở Việt Nam - thì chủ nghĩa tư bản pháp quyền và đa nguyên ở Ðông Âu và các nước Liên Xô cũ hiện nay ưu việt hơn hẳn về mọi mặt.

Có một vấn đề khác nghiêm trọng và cấp bách hơn nhiều, đó là việc nhóm lãnh đạo hiện nay huy động tối đa mạng lưới thông tin chính thống làm rùm beng về nguy cơ “diễn biến hòa bình” - mà họ nói là đến từ phương Tây và từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài - nhằm mục đích che giấu, khỏa lấp một hành động “diễn biến hòa bình” có thật, cực kỳ nguy hiểm, đã và đang diễn ra rành rành trước mắt mọi người, đến từ các “đồng chí láng giềng tốt” phương Bắc của họ.

Ðây là một kiểu bành trướng và xâm lược toàn diện, thâm độc, theo chính sách mềm, không tiếng súng, từ từ mà chắc chắn, được che giấu bằng “16 chữ mạ vàng”, bằng “4 chữ tốt” đỏ chót, bằng “chiếc lưỡi bò” mềm mại không có răng nanh, vẽ trên bản đồ, không mùi thuốc súng.

Diễn biến hòa bình, các “đồng chí láng giềng tốt” cắm bảng chữ Hán, họ cắm cờ 5 sao, họ đưa hàng vạn công nhân không có giấy nhập cảnh vào địa bàn chiến lược Tây nguyên để khai thác bauxite.

Diễn biến hòa bình, các “đồng chí láng giềng tốt” trúng thầu khai thác 30 vạn héc-ta rừng biên giới theo giá rẻ mạt (15 đôla/1 héc-ta) suốt từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, vào tận Thanh Hóa, Nghệ An.

Diễn biến hòa bình, các “đồng chí láng giềng tốt” trúng thầu một loạt nhà máy điện ở Thái Nguyên, Thanh Hóa, Sơn Tây, Kon Tum, Quảng Ngãi, vào đến tận Trà Vinh, Cà Mau... với giá rẻ, thiết bị cũ, lạc hậu, thời gian xây dựng kéo dài.

Diễn biến hòa bình, các “đồng chí láng giềng tốt” khẩn trương xây dựng đường cao tốc từ Nam Ninh (thủ phủ Quảng Tây) xuống Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Nội, rồi tỏa ra khắp nước. Ðây là đường xâm nhập kinh tế, nhưng đồng thời cũng sẽ là đường hành quân khi có chiến sự.

Diễn biến hòa bình, các “đồng chí láng giềng tốt” đưa hàng tàu, hàng giả, hàng nhái, hàng độc hại, hàng lậu, hàng cấm vào tràn ngập thị trường Việt Nam.

Khi nhân dân ta nhận ra sự thâm độc, mưu sâu gặm nhắm, thôn tính mềm từ phương Bắc thì có thể đã chậm, quá chậm rồi. Nhóm lãnh đạo vừa bạc nhược vừa tham nhũng, tay đã nhúng chàm, túi đã căng đầy ngoại tệ, không còn có đường lui nữa, họ đành ù lỳ trơ tráo, mua thời gian, còn cưỡng bách bộ máy đàn áp lao vào đạp mặt, đánh đấm, chửi bới, đày đọa người yêu nước. Khi bộ máy ngần ngại, do dự thì họ dùng phép tăng lương, phân phát huân chương, ban phát lon, sao, lên cấp, lên chức, mua chuộc lương tâm của thuộc cấp.

Họ không hiểu rằng mọi chuyện đều có hạn độ. Sự mù quáng của đảng viên ở cơ sở quen vâng lời họ, nhân viên an ninh, cảnh sát, công an không có tư duy độc lập quen để họ gọi dạ bảo vâng, các nhà báo quen bị chăn dắt, gò ép đánh rơi lương tâm nghề nghiệp... tất cả đều đang thay đổi, chuyển động khi Tổ quốc thật sự lâm nguy, khi được lòng yêu nước vốn tiềm ẩn trong mỗi người mách bảo. Chưa bao giờ trí thức, phụ nữ và tuổi trẻ trong nước nhờ hệ thống truyền tin hiện đại am hiểu thời thế sâu sắc và nhanh nhạy như hiện nay, thoát khỏi cảnh bị bịt mắt chăn dắt như các thế hệ đi trước.

Chính do vậy mà đông đảo người yêu nước coi việc một thứ trưởng quốc phòng Việt Nam vừa được phái sang Bắc Kinh để trấn an quan thầy trước ngày Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Ðới Bỉnh Quốc sang thăm Hà Nội chỉ là thêm một biểu hiện của “diễn biến hòa bình” chính hiệu đến từ phương Bắc, và chỉ đến từ phương Bắc mà thôi.

Trong thế trên đe dưới búa - đe của thiên triều, búa của người yêu nước - nhóm lãnh đạo lại đi thêm một nước cỡ liều và dại, khi biểu diễn thêm một màn “diễn biến hòa bình” quá ư lộ liễu, thách thức người yêu nước.

Ðến nay, một em học sinh tiểu học cũng hiểu rằng không có nội ứng, không có sự tiếp tay của nhóm cầm quyền cao nhất ở trong nước, thế lực bành trướng Ðại Hán không thể nào thực hiện được mảy may mưu đồ “diễn biến hòa bình” ngông cuồng của họ.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Ðới Bỉnh Quốc bình thiên hạ

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua ông Ðới Bỉnh Quốc (Dai Bingguo) rời Việt Nam sau khi cùng ông Nguyễn Thiện Nhân chủ trì phiên họp thứ năm của ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung, một ủy ban thành lập từ năm 2006.

Cuối năm ngoái, mục này đã bàn về một bài do ông Ðới Bỉnh Quốc viết trong đó ông khẳng định rằng Trung Quốc “không tìm cách chiếm bá quyền”. Ông còn khẳng định: “Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc không có truyền thống chiếm bá quyền.”

Chúng tôi không lập lại những ý kiến đã viết trong bài “Ðới Bỉnh Quôc lừa dối” đăng trên báo Người Việt vào tháng 12 năm 2010. Người Việt Nam (đã bị mang tên An Nam đô hộ phủ), người Cao Ly (An Ðông đô hộ phủ) và những dân tộc kém may mắn hơn như người Tây Tạng, người Mãn Châu, Mông Cổ, người Hồi ở Tân Cương, Thanh Hải, tất cả đều có thể làm chứng họ đã là nạn nhân của chính sách bá quyền do các triều đình Trung Quốc thi hành trong hơn hai ngàn năm lịch sử. Bá quyền, hiểu theo nghĩa như chính sách đế quốc trong thế giới ngày nay.

Nhưng nếu xét về nghĩa gốc các từ ngữ thì có thể ông Ðới Bỉnh Quôc vẫn nói đúng. Trung Quốc không phải chỉ có tham vọng bá quyền. Các hoàng đế Trung Hoa đời trước cũng không thèm nghĩ tới bá quyền. Họ muốn đạt tới một mục tiêu cao lớn hơn nữa: Bình Thiên Hạ. Những ông vua xưng Bá đời Chiến Quốc như Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, cũng chỉ là những vua chư hầu, chưa tỏa rộng uy quyền khắp bốn phương như ngôi thiên tử. Tần Thủy Hoàng mới là người có tham vọng làm chủ tất cả thiên hạ, ông đã đạt được mục đích đó vào năm 221 trước Công Nguyên. Từ đời Tần Thủy Hoàng, các vị hoàng đế Trung Hoa sau này đều ôm mộng theo gương đó: Thống trị thiên hạ bằng một “Trật tự Thế giới mới” trong đó nước Trung Hoa đứng ở địa vị trung tâm, và trên đỉnh là vị “Con Trời” ngự trị.

Thiên Hạ nghĩa là tất cả mọi thứ ở dưới bầu trời. Nó bao gồm cả đất đai, thổ sản, dân cư, và một “trật tự thế giới” theo quan niệm của người Trung Hoa. Trong nước Trung Hoa đời trước, quan niệm “chính thống” đó bao gồm lối tổ chức xã hội bên ngoài gọi là theo Khổng Giáo nhưng trên căn bản lại sử dụng các kỹ thuật cai trị của Pháp Gia. Mà phương pháp cốt tủy của Pháp Gia là tập trung quyền hành tuyệt đối trong tay ông vua, khác hẳn quan niệm rộng rãi, trọng dân hơn, của Khổng Tử hay Mạnh Tử. Có thể gọi đó là chủ trương Ngoại Nho Nội Pháp; hay nói ngược lại cũng được. Các nước Á Ðông xưa kia đều chịu ảnh hưởng của “ý thức hệ” gốc Trung Hoa đó. Các ông vua Việt Nam, Cao Ly, Miến Ðiện, các đại hãn Mông Cổ, Khiết Ðan đều chịu nhường, họ chỉ xưng vương, còn danh hiệu hoàng đế để cho ông vua nước Tàu độc quyền sử dụng. Chỉ có ông vua Trung Hoa được coi là chịu Mệnh Trời, là Thiên Tử, Con của Trời. Nhưng các dân tộc bất khuất thì không bao giờ chịu để cho đất nước họ bị nhập làm một với nước Tàu.

Có hai sắc dân, ở Mông Cổ và Mãn Châu, đã sử dụng ý thức hệ Ngoại Nho Nội Pháp làm khí cụ thống trị dân Trung Hoa hàng thế kỷ. Như Vua Ung Chính Nhà Thanh đã từng bài bác những “người Tàu yêu nước quá khích;” bằng cách vin vào những khái niệm Thiên hạ, Mệnh Trời, để biện minh cho chế độ người Mãn ngồi trên đầu người Hán! Mà người Hán, quả thật, đã chịu phục tùng triều đại Mãn thanh trong ba thế kỷ! Nhưng cuối cùng, chính dân tộc Mãn đã mất nước, cũng như đa số người Mông Cổ trước đó. Sau khi nhà Nguyên sụp đổ, các vua nhà Minh được thừa hưởng cả một đế quốc do người Mông Cổ dựng lên. Họ tiếp tục bắt các dân du mục ở phía Bắc và vùng Trung Á thần phục họ, như đã từng bị thua phải thần phục các vua nhà Nguyên. Trong đó có cả nước tổ tiên của người Mông Cổ! Hai sắc dân Mông và Mãn đã bị thua trên mặt trận văn hóa. Vì họ đã sử dụng vũ khí tư tưởng, có thể gọi là ý thức hệ, của người Trung Hoa, để cai trị nước Trung Hoa. Trong đó có quan niệm về Thiên Hạ, và Bình Thiên hạ! Dùng dao của người Trung Hoa, họ đã tự cắt đứt gốc rễ của chính họ! Trong các hình thức nô lệ, không gì nguy hiểm bằng nô lệ về tư tưởng! Bình Thiên Hạ là một khẩu hiệu cũng dễ mê hoặc giống như tiến tới Chủ Nghĩa Xã Hội sau này!

Trong hàng chục năm qua, Bắc Kinh đã mở mặt trận ngoại giao khắp thế giới để gây ảnh hưởng, lôi kéo các nước đang phát triển về phía mình. Trong đó có việc thành lập những Viện Khổng Tử, truyền bá ngôn ngữ, văn hóa. Nhưng họ không dùng Nho Giáo để thay thế chủ nghĩa Cộng Sản với đặc tính Trung Quốc. Ngược lại, họ vẫn mô tả “mô hình Trung Quốc hiện đại” như là một thứ Chủ Nghĩa Xã Hội mới, để các nước đang phát triển noi theo.

Cuốn bạch thư 10,000 chữ mà chính phủ Bắc Kinh mới phát hành viết họ đang “xây dựng Trung Quốc thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu, mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, và hiện đại từ nay đến... giữa thế kỷ 21”. Ðó là một cách quảng cáo cho mô hình Trung Quốc. Mô hình đó bao gồm việc tập trung quyền bính trong tay một đảng, thâu tóm các quyền lợi kinh tế vào trong tay một giai cấp tư bản mới lên, dùng kinh tế thị trường với sự can thiệp trắng trợn của bộ máy hoạch định nhà nước. Trong mục này đã nhiều lần nêu lên những nhược điểm cơ bản trong nền kinh tế Trung Quốc, chúng tôi không lập lại nơi đây. Nhưng mô hình Trung Quốc vẫn có thể mê hoặc rất nhiều người! Các chế độ độc tài ở các nước đang phát triển rất dễ bị lôi cuốn với mô hình này. Vì đó là một thứ ý thức hệ biện minh cho cảnh tập trung quyền hành chính trị và quyền lợi kinh tế trong tay một thiểu số! Trước đây Mao Trạch Ðông đã tìm cách gây ảnh hưởng trên thế giới thứ ba với lý thuyết cách mạng vô sản kiểu Trung Hoa. Ngày nay, các hoàng đế ở Bắc Kinh lại tiếp tục cuộc tấn công đó, nhưng với lý thuyết mới, để tiếp tục Bình Thiên Hạ!

Khi tái lập năm 1951, đảng Cộng Sản Việt Nam đã tôn thờ tư tưởng Mao Trạch Ðông như cách hay nhất để áp dụng chủ nghĩa Mác-Lê Lin tại Á Châu. Trung Cộng đã ảnh hưởng tới Việt Nam qua guồng máy hai đảng, nhiều hơn cả guồng máy nhà nước. Thời ông Nguyễn Cơ Thạch, có lúc Bộ Ngoại Giao không có việc gì làm, vì mọi giao thiệp giữa hai nước đều cho ban đối ngoại của hai trung ương đảng chuyên quyền quyết định. Khi người ta đã nhân danh đảng mà nói, guồng máy nhà nước phải câm miệng lại! Guồng máy đảng là nơi phát ra những tín hiệu chỉ đạo cái đầu mọi người. Muốn Bình Thiên Hạ, tất cả mọi cái đầu phải suy nghĩ giống nhau!

Từ khi Nông Ðức Mạnh triều yết Bắc Kinh giữa năm 2008, rồi cuối năm Nguyễn Tấn Dũng tiếp theo sang Tàu để kết thúc các hiệp ước biên giới, và mở cửa nước Việt Nam cho các công ty Trung Quốc bán sản phẩm và sang làm ăn, Việt Nam đã hoàn toàn rơi vào quỹ đạo Trung Quốc cả về kinh tế lẫn chính trị. Nhưng muốn nắm đầu cả về văn hóa tư tưởng, họ phải dùng guồng máy đảng. Tình trạng này thể hiện trong cuộc thăm viếng của ông Ðới Bỉnh Quốc vừa qua.

Báo chí trong nước cho biết trong phiên họp của ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung có “quan chức từ hai đảng cầm quyền, các quan chức quân sự, trung ương và lãnh đạo chính quyền địa phương từ hai quốc gia”. Ðới Bỉnh Quốc không phải là một bộ trưởng ngoại giao, nhưng là người phụ trách đối ngoại trong Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Quốc. Cho nên cuộc họp về bang giao giữa hai nước, thay vì chỉ cần các chuyên gia về vấn đề biên giới, vấn đề hải phận, các chuyên viên kinh tế tài chánh, người ta lại nhấn mạnh tới “quan chức từ hai đảng cầm quyền”.

Với sự có mặt của các quan chức từ hai đảng cầm quyền, mọi quyết định sẽ bắt buộc guồng máy nhà nước phải tuân theo, không thể cãi! Trong cuộc họp mặt này, thay vì chỉ có các nhân vật thuộc chính quyền trung ương, chúng ta còn thấy cả “lãnh đạo chính quyền địa phương từ hai quốc gia” nữa. Bản tin không cho biết đó là những địa phương nào. Có chính quyền tỉnh Quảng Ngãi, nơi các ngư dân bị “tàu lạ” tấn công hay không? Có chính quyền những tỉnh đang cho người Trung Hoa thuê khai thác rừng, mỏ hay không? Có chính quyền những tỉnh mà các công ty Trung Quốc đang làm ăn mang cả ngàn công nhân Tàu sang làm việc mà không cần giấy phép hay không? Nếu có những người đó, thì họ có thể đã nhận được các chỉ thị trực tiếp trong cuộc họp ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung này, do ông Ðới Bỉnh Quốc chủ trì hay không? Tại sao các quan chức địa phương người Việt lại phải đi nghe các chỉ thị của một ủy viên trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc?

Còn các quan chức địa phương Trung Quốc, sang đây để làm gì? Năm 2008, giữa chuyến đi của hai ông Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng, bí thư tỉnh ủy Quảng Ðông là Uông Dương, ủy viên Bộ Chính Trị, đã qua Việt Nam vào Tháng Chín, bàn bạc về chuyện biên giới và mang theo một đoàn doanh nhân hùng hậu khiến Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Hà Nội phải báo tin gấp về cho Bộ Ngoại Giao Mỹ (Wikileaks, ngày 30 tháng 8, 2011). Chuyến đi của ông Uông Dương có phải là một bước chuẩn bị trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng trước khi bay qua Bắc Kinh? Các vua nhà Thanh đời xưa thường trao việc Việt Nam cho các vị tổng đốc Lưỡng Quảng lo liệu. Ngày nay có thể ông Uông Dương (Wang Yang) cũng mang trách nhiệm tương tự hay không?

Trong cuộc họp của ủy ban chỉ đạo vừa rồi, ông Khổng Huyền Hựu, đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội đã nhấn mạnh, “Chúng ta cần thực hiện tốt cơ chế hợp tác giữa các bộ ngoại giao, quốc phòng, công an, v.v. hai nước, cũng như các ban đối ngoại, tuyên giáo của hai đảng.”

Tại sao cần phải có tuyên giáo của hai đảng dính vào việc bang giao giữa hai quốc gia? Ðây chính là một cái đầu cầu để cho đảng Cộng Sản Trung Quốc có thể “giáo dục” đầu óc người dân bản xứ! Trung Quốc đã từng yêu cầu đảng Cộng Sản Việt Nam phải “lãnh đạo” báo đài trong nước làm sao cho dân Việt nguôi bớt mối uất hận đối với việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa.

Ðại sứ Khổng Huyền Hựu còn nói: “Tôi tin rằng, miễn là hai bên nghiêm chỉnh thực hiện những nhân thức chung của lãnh đạo hai nước, tiếp thu, tham khảo một cách đầy đủ kinh nghiệm thành công về phân giới cắm mốc đường biên giới đất liên của hai nước, cũng như về phân định vịnh Bắc bộ của hai nước, thì chúng ta nhất định có trị tuệ để tránh được, không để những bất đồng làm ảnh hưởng tới sự phát triển thuận lợi của quan hệ hai nước”.

Ðọc lời tuyên bố trên, chúng ta có thể hiểu dụng ý của ông đại sứ Trung Quốc. Ông muốn mọi người Việt Nam học tập “tiếp thu, tham khảo một cách đầy đủ kinh nghiệm thành công về phân giới cắm mốc đường biên giới” để cư xử với đàn anh phương Bắc theo đúng “mô thức” này, không được làm khác. Ðối với Trung Quốc, việc “phân giới cắm mốc đường biên giới” được coi là một thành công. Mọi bất đồng đều được vui vẻ xí xóa. Các quan chức địa phương người Việt Nam chắc đều được dịp tiếp thu, tham khảo sự thành công tốt đẹp đó.

Người dân Việt Nam có thể nghĩ khác. Nhưng họ có quyền nghĩ khác hay không? Nếu nghĩ khác, họ có được nói lên hay không? Trước ngày ông Ðới Bỉnh Quốc sang Hà Nội, bộ máy công an của đảng Cộng Sản Việt Nam đã dẹp tan tất cả các cuộc biểu tình kéo dài hơn hai tháng trước đó. Trong ý thức hệ bao gồm với hai chữ Thiên Hạ, thiên hạ phải có trên có dưới! Nếu những người lãnh đạo nước Việt Nam đã chấp nhận theo đường Trung Quốc, tiến lên một Chủ Nghĩa Xã Hội nào đó (với đặc tính Trung Quốc tất nhiên) thì cũng phải hướng dẫn dư luận dân Việt theo chiều hướng của thiên triều. Ông Ðới Bỉnh Quốc đã hoàn tất một công tác trong quá trình Bình Thiên Hạ!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest