Bình Luận , Quan Điểm

tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Chừng nào Việt Nam trở thành khu tự trị của Trung Quốc?

Võ Long Triều

Từ ngàn xưa vua chúa nước Tàu luôn luôn chủ trương mở rộng bời cõi. Thu phục chư hầu, bắt phải triều cống ngọc ngà châu báu,
lương thực và hiến dâng mỹ nữ vào làm cung phi.

Image
“Ðường lưỡi bò” của Trung Quốc lấn chiếm Biển Ðông. (Hình: biendong.net)

Dân tộc Trung Quốc hãnh diện về văn hóa và lịch sử của mình, nó ăn sâu vào tim óc của họ, do đó tinh thần Bành Trướng không phải là chính sách mà đã trở thành bản chất của đa số người Hán tộc. Ðặc biệt đối với nhà cầm quyền cộng sản cũng vậy (Bộ Chính Trị đảng) họ cũng độc quyền cai trị, cũng nuôi tham vọng thống trị như vua chúa ngày xưa. Hơn thế nữa, Trung Quốc ngày càng đông dân, nhu cầu thực phẩm ngày càng nhiều, tham vọng bá quyền càng lớn nên sự cạnh tranh kinh tế quân sự ngày càng thôi thúc mãnh liệt hơn.

Ðể thỏa mãn những điều kiện đó Trung Quốc cần chiếm Biển Ðông nơi có thể cung cấp một phần lớn hải sản. Trung Quốc cần rất nhiều khoáng sản quan trọng dùng cho ngành kỹ nghệ đang phát triển trong xứ nên họ mới bỏ vòi thôn tính bằng tiền bạc, đối với các nước nghèo khó ở Phi Châu hay Bắc Mỹ. Trung Quốc cần trữ lượng dầu khí tiềm tàng dưới đáy Biển Ðông mà các chuyên gia ước tính con số không thua tổng sản lượng các nước ở lục địa Châu Phi.


Bá quyền Trung Quốc tại Biển Ðông và Việt Nam

Vì nhu cầu và tham vọng, dựa vào sức mạnh kinh tế và quân sự đang lên, và cũng theo sự chỉ giáo của chiến lược gia Ðặng Tiểu Bình, Trung Quốc nhận thấy thời cơ đã cho phép họ ngang nhiên tuyên bố: “Hải phận Trung Quốc nằm gọn trong cái lưỡi bò,” xấc xược liếm gần hết Biển Ðông. Họ còn nói thêm: “Ðiều đó không thể tranh cãi,” và khẳng định rằng các hải đảo trong vùng thuộc sở hữu của Trung Quốc từ hai ngàn năm về trước. Ngang ngược tuyên bố điều đó một cách trơ trẽn trước hội nghị quốc tế làm cho tất cả chuyên gia, luật gia, sử gia, hiện diện đều phủ nhận và phê bình. Thế nhưng Trung Quốc vẫn làm ngơ bất chấp, và tìm cách ép buộc các nước đang tranh chấp chủ quyền, từng đối tác một, thương lượng với nước láng giềng khổng lồ, trước áp lực quân sự và hành động của kẻ mạnh.

Riêng đối với Việt Nam, mưu đồ của Trung Quốc đã có từ khi Hồ Chí Minh và đồng bọn cậy nhờ trong lúc họ trốn sang Tàu hoạt động cuối thời Pháp thuộc. Về sau họ van xin cầu viện sẵn lòng hy sinh hàng triệu mạng sống người Việt để làm nghĩa vụ quốc tế, lan truyền chủ nghĩa cộng sản. Hồ Chí Minh và đồng bọn hứa hẹn bất cứ điều gì miễn sao chiếm được quyền cai trị toàn nước Việt Nam.

Nhiều thập niên qua, chúng ta đã thấy quá nhiều sự việc chứng minh Hà Nội đầu phục Bắc Kinh, dâng đất, dâng biển, đổi lấy lợi lộc công danh.

Một vài thí dụ sau đây chứng minh điều đó: Tàu của Trung Quốc đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, truyền thông báo chí phải gọi là “tàu lạ.” Thanh thiếu niên mặc áo có chữ HS-TS-VN bị công an bắt và tra hỏi. Thanh niên biểu tình chống Trung Quốc cướp hải đảo bị bắt và ngăn cấm. Trung Quốc cắt dây cáp tàu Việt Nam thăm dò địa chất 2 lần, không dám phản ứng mạnh. Trung Quốc muốn khai thác Bauxite, Hà Nội giao liền, bất chấp sự phản đối của quân nhân, trí thức, nhân sĩ. Hà Nội giao 95% những gói thầu cho người Trung Quốc, từ xây cất, điện lực, cầu đường, thậm chí điều kiện sách gọi thầu cũng giao cho công ty cố vấn Trung Quốc soạn thảo. Nhân công Trung Quốc lập làng xã riêng biệt, nhà nước Việt Nam làm ngơ. Nhà nước cho Trung Quốc mướn rừng 50 năm dài hạn khắp các tỉnh biên giới Bắc Việt. Gần đây nhứt, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hà Xuân Sơn đi sứ sang Tàu ký kết hứa hẹn điều gì mà 18 nhà trí thức yêu cầu bạch hóa những điều khoản đã ký, nhà nước giấu nhẹm. Riêng Hà Xuân Sơn chỉ lập lại 16 chữ vàng và 4 cái tốt sau chuyến đi du thuyết sang Tàu.

Như vậy, đủ cho thấy Trung Quốc đã chiếm Việt Nam không cần vũ khí, chỉ nhờ vào các đảng viên cao cấp đã từng “ăn bã” Trung Quốc, trở thành một loại “Quan Thái Thú” hay “Quan Toàn Quyền” của Trung Quốc. Ðiều này chứng minh Việt Nam đã âm thầm, trở thành khu tự trị của Trung Quốc rồi!


Bá quyền Trung Quốc lan sang Tây Tạng và Tân Cương như thế nào?

Tham vọng bành trướng của Bắc Kinh không chỉ ngừng trên vùng Biển Ðông hay đối với Việt Nam mà thôi. Trong quá khứ đối với láng giềng Tây Tạng, một nước độc lập từ ngàn năm xưa, Trung Quốc khôn ngoan xâm nhập một cách ôn hòa, di dân người Hán vào trước, rồi lấy cớ Tây Tạng nghèo đói, chậm tiến nên cần phải được giải phóng nhân dân bị cai trị một cách bất công.

Vì vậy, ngày 7 tháng 10 năm 1950 Trung Quốc xua 40,000 quân tinh nhuệ dẹp tan bộ đội Tây Tạng chỉ có 8,500 quân lính trang bị vũ khí thô sơ, rồi họ tuyên bố “giải phóng một cách hòa bình.” Chính phủ Tây Tạng và Quốc Hội, trí thức, cao tăng chạy sang Dharamsala miền Bắc Ấn Ðộ tị nạn. Năm 1959 sau một cuộc nổi dậy bất thành, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng phải chạy sang nơi đó tá túc. Sự thật Trung Quốc chiếm Tây Tạng chỉ vì xứ này có nhiều mỏ trong lòng đất mà Trung Quốc rất cần như Uranium, Lithium, Vàng, Bạc, Chrome, Borax, Chì, Kẽm, than đá và gỗ quý trong những khu rừng có diện tích 2,220,000 cây số vuông.

Ngày nay, nước Tây Tạng nhỏ bé, có vị thế chiến lược quân sự, phải nuôi 300,000 quân lính Trung Quốc đồn trú tại đó với một phần tư (1/4) hỏa tiễn có đầu đạn nguyên tử của Trung Quốc và 14 phi trường quân sự.

Sống trong hoàn cảnh lưu vong mất nước Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thấu hiểu trào lưu tiến bộ của nhân loại là dân chủ, tự do nên ông trao quyền lãnh đạo cho một thủ tướng lưu vong, ông Lobsang Sangay, được người Tây Tạng bầu ngày 27 tháng 4 năm 2011. Vị Phật sống thứ 14 này sáng suốt phân biệt đạo và đời, có lẽ ông hy vọng nếu có thời cơ thuận tiện, những người dân sự không bị vướng mắc vì đại diện tôn giáo như ông, sẽ biết cách lãnh đạo dùng mọi phương tiên tranh đấu giành lại độc lập tự do.

Nói đến vùng tự trị Tân Cương (có tên là Turkistan Oriental) sau khi những vị lãnh đạo quốc gia được mời đi phó hội với Chủ Tịch Mao Trạch Ðông bị tai nạn máy bay trong điều kiện bí mật với nhiều nghi vấn, Trung Quốc sát nhập Tân Cương thành khu tự trị.

Nhiều cuộc nổi dậy bị thẳng tay đàn áp từ năm 1997 đến năm 2009. Ðặc biệt các cuộc nổi dậy từ ngày 18 đến 23 tháng 3 năm 2008 và ngày 5 tháng 7 năm 2009 tại Urumqi làm 800 người chết, theo tin của hội nghị quốc tế của người Ouighour tại Munich, số người bị thương không biết được. Trung Quốc bắt giam không biết bao nhiêu người và đã xử tử 26 người. Bà Rebiya Kadeer, một nhà hoạt động cho người Ouighour, tuyên bố: “Chính quyền Trung Cộng đối xử chúng tôi như thú vật. chúng tôi chịu đau khổ cũng giống như người Tây Tạng đang chịu đau khổ...”

Kết luận

Mặc dù đất nước Việt Nam chưa chính thức bị sát nhập với Trung Quốc thành một khu tự trị nhưng thực tế Hà Nội đã thay Bắc Kinh cai trị đất nước mình rồi. Như vậy một khi dân chúng nổi đậy lật đổ Bộ Chính Trị tay sai thì Hà Nội sẽ kêu viện binh Trung Quốc tàn sát dân mình như đã tàn sát cuộc biểu tình ở Thiên An Môn chiếu theo thỏa ước “hợp tác công lực” với đồng chí láng giềng hữu nghị. Cũng như Trung Quốc đã tàn sát người Ouighour ở Urumqi, người Tây Tạng ở Lhassa.

Tây Tạng có Ðức Ðạt Lai Lạt Ma tượng trưng cho sự đoàn kết chặt chẽ, Tân Cương có Rebiya Kadeer và nhóm người lưu vong tại Munich. Tiếc thay người Việt chúng ta khó kết hợp thành một khối, có uy thế và sức mạnh, khả dĩ tạo được sự tin tưởng đối với đồng bào trong nước và quốc tế. Hy vọng thế hệ mai sau ý thức được nhu cầu đoàn kết, tập hợp được toàn dân như ông cha ta dã làm, như nhiều người đang đốc thúc tạo một hội nghị Diên Hồng quyết tâm cứu dân cứu nước.

Phân tích những thực tế phũ phàng như trên không có nghĩa là bi quan, trái lại những sự chèn ép quá đáng, ngày càng rõ, càng nhiều, càng gây uất ức phẫn nộ, thì càng khuyến khích quần chúng phản ứng mạnh hơn, càng thúc đẩy lòng can đảm và sự liều lĩnh xả thân tranh đấu cho tự do dân chủ.

Cũng có thể vận nước khiến lòng người Tân Cương, Tây Tạng, Việt Nam và nhiều bộ tộc khác của Trung Quốc, nổi dậy bẻ gãy xiềng xích, đòi độc lập tự do, chừng đó nước khổng lồ Trung Quốc sẽ giống như Liên Xô sụp đổ chia thành những quốc gia độc lập sống thuận hòa trong một thế giới mà mọi công dân hưởng trọn vẹn quyền tự do và nhân quyền.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »


Image

Hai lá thư của con gái một Người Lính Già của QLVNCH



Thưa Quý Vị Quý NT và CH,

Tôi xin được chuyển đến Quý Vị hai lá thư của con gái một Người Lính Già của QLVNCH,
nay là một Luật sư, có văn phòng Luật trong vùng Đông Bắc Hoa Kỳ..
liên quan đến việc ông Nguyễn Cao Kỳ từ trần...
Một lá thư cô gởi cho tôi, nhưng đồng thời Cô cũng muốn tôi phổ biến đến Quý Vị.
** Một lá thư Cô muốn thưa chuyện với LS Lê Duy San và ông Đặng Văn Âu, sau khi đọc lá thư trả lời của LS San cho ông Âu...

Xin mời Quý Vị xem để tường...

BMH
Washington, D.C

*Hai lá thư Cô viết không dấu, tôi đã chuyển có dấu tiếng Việt, cho Quý Vị đọc dể dàng và rõ nghĩa..
Cám ơn.



Thưa Chú,

Khoảng thập niên 90, khi số Cựu Quân Nhân QLVNCH được qua đây theo chương trình H.O, thì lúc đó cháu chưa có văn phòng luật sư, và còn làm social worker cho FFX County, và có được nhiều cơ hội tiếp xúc với rất đông Sĩ quan, đã bị tù nhiều năm trong trại cải tạo. Rất nhiều người đã cho cháu biết, là họ và cả gia đình đã kẹt lại dù có cơ hội vượt thoát, chỉ vì tin vào lời tuyên bố của ông Kỳ, và đã ở lại tử thủ với ông, trong khi ông đã yên lành trên đệ thất hạm đội, dù là trước đó “ở lại, vì qua Mỹ không có rau muống mà ăn……”.

Có cả những người cho vợ con đi, và ở lại, vào tù, qua đây mất vợ con, vì người vợ đã có một mái gia đình khác, chỉ vì tin vào ông Kỳ. Cuối 2003 và đầu năm 2004, cháu lại được nghe những lời tuyên bố của ông, khi đặt chân về Sàigòn, là ông “ xin được cám ơn nhà nước và nhân dân đã khoan hồng cho tôi, để tôi về sống những ngày cuối cùng ở Việt Nam lúc tuổi già”. Theo sự nhận xét tầm thường của cháu, thì nếu ông vì nặng thê nhi, không thể tuẩn tiết hay tử thủ, thì cứ im lặng ra đi, để đồng đội, thuộc cấp tự quyết định chuyện đi hay ở của mình, còn ồn ào tuyên bố, rồi lẳng lặng bỏ chạy, để lại hậu quả là rất nhiều người tin ông để bị chết trong trại cải tạo, hoặc bị xử tử lúc quân đội Bắc Việt vào, còn may mắn hơn thì lảnh nhiều năm tù trong trại cải tạo, rồi được qua Mỹ lúc thân tàn ma dại, đó là hành động gián tiếp giết đồng đội và thuộc cấp của ông Kỳ. Tiếp nửa, như một người lính già đã nói, có nhiều người dù nhớ quê nhà Việt Nam đến chết, vẫn không thể về, vì liêm sĩ và tự trọng cho mình, vì danh dự cho gia đình riêng và cái gia đình to lớn (QLVNCH) mà mình đã là một thành viên. Ông ta đã không làm như thế, đã không im lặng chịu nhục, để cho cái tập thể mà ông chẳng những là một thành viên, mà còn là một thành viên được nhiều ưu đãi và quyền hành, tránh được những cái tát tai đau đớn, đã không biết thế nào là “Danh Dự -Tổ Quốc - Trách Nhiệm”, là “Sĩ khả (tử) sát, bất khả nhục”, để những người bên kia, đã có thể coi thường chúng ta có một ông tướng như thế, thì một lần nửa ông lại đấm thẳng vào mặt đồng đội, thuộc cấp, bằng những lời tuyên bố hèn hạ của ông ta.

Cô Kỳ Duyên, trong điếu văn của cô ca tụng ông Kỳ là người thẳng thắn, “non jeu”. Cháu xin nói với cô Kỳ Duyên là thẳng thắn và “non jeu” khác với vô ý thức, vô trách nhiệm. Cô Kỳ Duyên ca tụng cha cô là đã có công đi đầu, chịu búa rìu dư luận trong việc “hòa hợp, hòa giải”, cháu xin nói với cô Kỳ Duyên là “hòa hợp, hòa giải” chỉ khi nào (sau 36 năm) những người Chiến Sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, phải được đối xử công bằng, như những bộ đội CS, rằng điều 4 hiến pháp của V.C phải bị hủy bỏ, để mọi thành phần được tham dự và có ý kiến, còn nếu không thì đó chỉ là một ngụy biện, bất khả tín.

Cuối cùng, cháu muốn nói với cô Kỳ Duyên là cô, và gia đình cô có quyền thương tiếc, và ca tụng ông Kỳ, nhưng cô và gia đình cô không có quyền làm nhục lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, khi đem cờ phủ lên quan tài của thân phụ cô, sau những nhát dao ông đã đâm vào đồng đội, thuộc cấp của ông.
Cháu cũng muốn hỏi cô Kỳ Duyên, là sau những “công trạng” của ông Kỳ đối với chính quyền cộng sản, tại sao cô không phủ lên quan tài thân phụ của cô lá cờ đỏ sao vàng, hữu lý hơn chứ, phải không?

Cháu chịu trách nhiệm về những điều cháu viết hôm nay, với tư cách một người, đã có người thân đổ máu xương cho lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, đang bị lạm dụng, dùng cho những sự tự cao, tự đại, thiếu liêm sĩ…

Xin chú tùy nghi phổ biến.

Con Gái Một Người Lính Già.



Tôi, con gái một người lính già của QLVNCH, xin được góp y với LS Lê Duy San, là ông Đặng Văn Âu hình như không biết luật, mà thích đem luật ra hù người khác.

Ông Kỳ là một khuôn mặt của đám đông (public figure), và khi đã là một public figure, thì những người trong đám đông (the public people) được quyền có ý kiến về ông, về những lời nói, hành động, và hành xử của ông, và không cần phải là những ý kiến tốt đẹp, miễn rằng những ý kiến đó không hàm ý đe dọa hay hăm dọa.

Thí dụ dể hiểu cho ông Đặng Văn Âu được hiểu biết dễ dàng, hầu sau này ông tránh được chuyện hù dọa, thưa kiện khi không có cơ sở là: Những tranh hí họa, hay chuyện cười chế diểu (jokes) nhằm vào TT Obama thì không sao, vì TT Obama là một nhân vật của đám đông, nhưng những tranh hí họa, hay những chuyện chế diểu đó không thể dùng cho LS San, hay bản thân người góp ý, vì chúng tôi không phải là những khuôn mặt của đám đông và như thế chúng tôi có thể (might) đi kiện. Khi người góp ý dùng chữ “có thể” vì chỉ có thể đi kiện nếu đưa ra được những chứng cớ xác thực (solid evidences),

là đã phải chịu thiệt hại vật chất hay tinh thần do những việc chế diểu kia gây ra… Thiệt hại vật chất hay tinh thần có nghĩa là gia đình ông Kỳ (trong trường hợp ông không phải là khuôn mặt của đám đông) nói chung, và cô Kỳ Duyên nói riêng, phải chứng minh được, là do những ý kiến của người khác về ông, và về hành động phủ cờ của gia đình ông, mà một hoặc tất cả những người đó, hoặc bị người phối ngẩu li dị, hoặc trở nên bị bịnh tâm thần, dĩ nhiên phải có xác nhận của bác sĩ chuyên khoa thần kinh (thí dụ về thiệt hại tinh thần), hoặc mất việc làm, hoặc phải đóng cửa cơ sở thương mại của họ, hoặc bị hành hung (thí dụ về thiệt hai vật chất) .

Cô Kỳ Duyên, đã tốt nghiệp trường Luật, tất nhiên phải hiểu rỏ những điều kiện cần có để bắt đầu một vụ kiện (required conditions to start a lawsuit), vì thế lần sau xin ông Đặng Văn Âu nên hỏi ý kiến cô Kỳ Duyên trước , kẻo bị chê là “……không chịu dựa cột mà nghe”.


Cuối cùng người góp ý xin được cám ơn LS Lê Duy San, đã nói dùm cho rất nhiều người, những điều phải nói, và cần nói.

Con Gái Một Người Lính Già
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mới đấu xong một hiệp

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, trận đấu về Trần Nợ đã chấm dứt, Quốc Hội Mỹ đã đồng ý cho Hành pháp vay thêm nợ. Trên nguyên tắc, cho đến ngày bầu cử năm 2012 Tổng Thống Barack Obama sẽ không cần xin nâng trần lên lần nữa.

Ông Obama có thể nói đã qua được một cửa ải. Nhưng trông mặt ông không có vẻ gì là thơ thới hân hoan cả. Vì Trần Nợ chỉ là một vấn đề nhỏ. Từ nửa thế kỷ nay, chính phủ Mỹ nào cũng yêu cầu được vay nợ thêm, và Quốc Hội thường vẫn chấp thuận. Năm nay, nhân dịp phải nâng trần nợ, một trận đấu lớn đã nổ ra khi các đại biểu Cộng Hòa muốn đặt điều kiện phải giải quyết vấn đề làm sao giảm khiếm hụt ngân sách thì mới cho nâng. Cuối cùng, có thể nói, Tổng Thống Obama đã thua trong trận đấu lớn này. Từ đầu ông vẫn nhấn mạnh muốn cắt giảm ngân sách thì phải vừa cắt các khoản chi tiêu, vừa tăng số thu nhập của chính phủ. Có lúc ông đã được chủ tịch Hạ Viện đồng ý quy tắc này. Nhưng bản Dự luật mà ông Obma phải ký để nâng trần nợ hoàn toàn chỉ có cắt chi mà không nói gì đến tăng thu, dù chỉ là một lời hứa hẹn! Trước khi ông tổng thống Mỹ đặt bút ký vào dự luật, Giáo Sư Paul Krugman, một nhà kinh tế được giải Nobel, đã viết trên Nhật báo New York Times: “Ông tổng thống đầu hàng!”

Nhưng nếu ông Obama thua, thì ai đã thắng? Ai cũng thấy, những người thắng lớn là Ðảng Tiệc Trà (Tea Party). Một số đại biểu Cộng Hòa, gần 80 người, năm ngoái đắc cử nhờ phong trào Tea Party ủng hộ, đã nhất quyết chỉ nâng trần nợ nếu cắt chi tiêu mà không tăng thuế, dù chỉ là lấp những lỗ hổng trong luật thuế khóa mà các công ty dầu khí vẫn được hưởng. Nhóm này bó tay cả ông chủ tịch Hạ Viện, cũng thuộc đảng Cộng Hòa. Thứ năm tuần trước, ông John Boehner phải rút lại không đưa ra một dự luật, chỉ vì bị Tea Pary chống đối. Ngày hôm sau ông sửa lại, cắt thêm nhiều khoản chi tiêu khác, mới được Hạ Viện thông qua. Một khoản bị cắt là 18 tỷ đô la tiền học bổng cho sinh viên (trong 10 năm). Tất cả rồi cũng chẳng đi đến đâu, vì ai cũng biết trước là dự luật đó sẽ không được Thượng Viện đem ra bàn.

Sau cùng, hai đảng đi tới thỏa hiệp, sẽ nâng trần nợ thêm 917 tỷ Mỹ kim (không đủ chi cho tới hết năm 2012), với điều kiện cắt chi tiêu 900 tỷ trong 10 năm. Một ủy ban lưỡng đảng sẽ phải quyết định cắt thêm 1500 tỷ nữa, trước Tháng Mười Một năm nay. Nếu các đề nghị của ủy ban này không được Quốc Hội đồng ý, chính phủ sẽ được phép nâng trần nợ thêm 1,200 tỷ nữa, và phải cắt 1,200 tỷ trong các khoản chi tiêu khác, trong đó có ngân sách quốc phòng và Medicare. Ðiều khoản này là một mánh khóe để bắt cả hai đảng phải tìm cách thỏa hiệp thêm. Vì đảng Cộng Hòa thường không muốn cắt các khoản chi về quốc phòng, còn đảng Dân Chủ xưa nay vẫn bảo vệ các khoản chi Medicare! Nếu trước Lễ Giáng Sinh họ vẫn còn găng nhau như trong nửa năm vừa qua, thì những khoản chi mà họ muốn giữ vẫn sẽ bị cắt!

Chứng kiến những cuộc cãi cọ giữa các nhà chính trị Mỹ trong mấy tháng qua, người ta phải thấy là chưa bao giờ họ lại xuống thấp đến như vậy. Từ ông tổng thống đến các đại biểu Quốc Hội, họ chăm chú “làm chính trị” hơn là lo lắng việc quốc gia.

Việc quốc gia lớn nhất của nước Mỹ bây giờ là kinh tế trì trệ, mặc dù cơn suy thoái bắt đầu năm 2007 đã chấm dứt từ giữa năm 2009. Tình trạng suy sụp trong ngành địa ốc vẫn kéo dài; nganh xây cất là một xương sống của kinh tế Mỹ vẫn chưa lên; người tiêu thụ càng dè dặt không chi; các công ty vẫn chưa tuyển thêm người làm. Trong lúc kinh tế suy yếu, người tiêu thụ bớt tiêu tiền thì chính phủ cần phải tăng số cầu để thúc đẩy số cung tăng theo; không chính phủ nào nên giảm bớt chi tiêu và cũng không nên tăng thuế, đây là bài học sơ đẳng về kinh tế học. Trong mấy tháng vừa qua, các nhà chính trị Mỹ hầu như không nhắc đến tình trạng số cầu khắp thế giới đang xuống và số người thất nghiệp gia tăng, mà chỉ nói tới khiếm hụt ngân sách, là một vấn đề lâu dài có thể chờ khi kinh tế phục hồi sẽ giải quyết!

Vì họ còn lo “làm chính trị.” Các đại biểu Cộng Hòa muốn nhân cơ hội đòi chính phủ giảm chi, và nhiều người thuộc nhóm Tea Party đòi cắt giảm ngay tức khắc. Các đại biểu Dân Chủ và ông tổng thống muốn nhân dịp này cắt bớt những trợ cấp cho các công ty dầu, và tăng thuế những người giầu nhất nước, lợi tức trên 250,000 đô la một năm. Họ muốn đấu lại trận đấu cuối năm 2010, mà khi đó ông Obama đã phải nhượng bộ, chịu triển hạn các đạo luật cắt thuế của cựu Tổng Thống Gorges W. Bush khiến ông bị ngay trong đảng Dân Chủ chống đối (vụ đầu hàng thứ nhất, như nhiều người đã nói).

Người chịu trách nhiệm đầu tiên là Tổng Thống Barack Obama. Ông gần như tự bỏ vai trò “lãnh đạo” mà người dân trông đợi. Ông và ông bộ trưởng Tài Chánh đã lấy nguy cơ “vỡ nợ” (default) và lấy ngày 2 Tháng Tám làm giới hạn để thúc đẩy chấm dứt cuộc tranh luận. Nhưng thật ra, chính phủ Mỹ không lo “vỡ nợ,” mà chỉ bị đe dọa sẽ phải “đóng cửa” vì không đủ tiền trả lương công chức! Trong Tháng Tám, chính phủ sẽ thu vào hơn 172 tỷ đô la, mà số tiền lãi phải trả cho các công trái cũ chỉ có 29 tỷ. Trong tài khóa 2010-11, chấm dứt cuối Tháng Chín, chính phủ sẽ thu 2,200 tỷ đô la, trong khi chỉ phải dùng 214 tỷ trả tiền lãi. Với số thu như vậy, làm sao mà chính phủ Mỹ vỡ nợ được? Thay vì hô hoán mối nguy vỡ nợ, đáng lẽ các ông Obama và Geithner phải lên tiếng trấn an cả thế giới rằng nước Mỹ sẽ nhất quyết trả tiền lãi và tiền vốn cho các nhà đầu tư vào công trái, dù có được Quốc Hội nâng trần nợ hay không! Thay vì nhắc lại việc tăng thuế những người giầu nhất nước, mà chính ông cũng đề nghị đến năm 2013 mới tăng, đáng lẽ ông Obama nên nhấn mạnh: Không tăng thuế trong lúc kinh tế còn suy yếu. Ngoài ra, chính ông Obama phải lên tiếng cam đoan sẽ cắt bớt chi tiêu của nhà nước, với những đề nghị cụ thể trong 5, 10 năm tới; mặc dù đảng Dân Chủ muốn trì hoãn vấn đề này. Nhưng thay vì lãnh đạo nước Mỹ, ông Obama lại lo “làm chính trị,” để bảo vệ lòng tín nhiệm của các cử tri cánh tả trong đảng ông.

Các đại biểu Cộng Hòa cũng lo “làm chính trị” nhiều hơn việc quốc gia; đặc biệt là những người phải chiều theo ý nhóm Tea Party đã ủng hộ họ vào năm ngoái. Họ đã đưa ra những đòi hỏi quá khích, như muốn cắt chi tiêu ngay lập tức, không cần kích thích kinh tế. Họ còn đòi muốn nâng trần nợ thì phải tu chính án Hiến Pháp buộc chính phủ giữ ngân sách cân bằng. Tu chính Hiến Pháp là một diễn trình rất phức tạp, phải có đại đa số (2 phần 3) trong mỗi viện Quốc Hội đồng ý, một điều khó đạt được trong không khí chính trị hiện nay. Sau đó, dù đã được Quốc Hội thông qua, bản tu chính lại phải được ba phần tư các tiểu bang chấp thuận! Ðem một diều kiện khó khăn cho một vấn đề lâu dài như vậy để mặc cả việc nâng trần nợ, mà chính phủ nào cũng vẫn thường làm, là một thủ đoạn bắt chẹt không đứng đắn.

Nhất là, trên thực tế, dù Quốc Hội và các tiểu bang có tu chính Hiến Pháp như Tea Party đòi hỏi, thì cũng không làm cho ngân sách nước Mỹ cân bằng được! Hiện nay hầu hết các tiểu bang của Mỹ đều ghi trong Hiến Pháp là ngân sách phải cân bằng, trong đó có tiểu bang California! Nhưng trong thực tế, các chính phủ tiểu bang vẫn chi tiêu nhiều hơn thu vào! Các nhà chính trị có đủ mọi cách để tiêu tiền, mà vẫn hợp hiến! Thí dụ, tất cả những khoản chi để làm đường sá, xây trường học, hay xây nhà tù, đều không được gọi là “chi tiêu” mà đặt dưới danh hiệu “đầu tư!”

Một lý do khiến các đại biểu Quốc Hội đã lo làm chính trị thay vì lo việc chung của nước Mỹ, là áp lực của những người quá khích trong cả hai đảng đe dọa họ sẽ không được đưa ra tranh cử trong năm tới. Hệ thống “bầu sơ bộ” ở Mỹ giúp cho những nhóm có lập trường cực đoan trong mỗi đảng nắm phần quyết định ai là người sẽ đại diện đảng ra tranh cử. Làm mất lòng những cử tri cực đoan có thể sẽ không được tranh cử nữa! Ðây là điều đã xẩy ra cho ông Bob Bennett, nghị sĩ Cộng Hòa, tiểu bang Utah, năm 2010. Ông đã bỏ phiếu ủng hộ dự án chi 700 tỷ đô la của Tổng Thống Bush để giúp các ngân hàng sắp bị phá sản; giống như các nhà lãnh đạo đảng Cộng Hòa lúc đó. Khi tranh cử sơ bộ, ông bị một ứng cử viên Tea Party đả kích, lấy vụ đó làm đề tài chứng tỏ ông tiêu phí tiền của dân đóng thuế! Cuối cùng ông không được ra tranh cử nữa! Một trường hợp khác là bà Lisa Murkowski, người bị bà Sarah Palin và Tea Party chống cho nên bị đảng Cộng Hòa ở Alaska bỏ rơi. Bà Murkowski đã tự ra tranh cử với tính cách độc lập, và vẫn đắc thắng. Các đại biểu Cộng Hòa khác phải lấy tấm gương của hai người này mà lo lắng số phận của họ trong cuộc tranh cử sơ bộ năm 2012! Họ không thể công khai đi ngược lại với những đòi hỏi của Tea Party! Chính tình trạng đó khiến cuộc tranh cãi về Trần Nợ bỗng trở nên gay go trong năm nay.

Một hậu quả của tình trạng tranh cãi trong mấy tháng qua là vai trò của ngành Lập pháp (Quốc Hội Mỹ) đã nổi lên, lấn áp vai trò của Hành pháp; ông Tổng Thống Obama đã mang hình ảnh một người rất yếu ớt. Nhưng chính ngành Lập pháp cũng cho thấy một hình ảnh không mạnh mẽ bao nhiêu, vì cả Hạ Viện bị lệ thuộc một nhóm đại biểu Tea Party! Khi dự luật của ông John Boehner bị bà sarah Palin lên tiếng chỉ trích, ông phải rút lại và đem sửa!

Nhưng cuộc tranh cãi này cũng có một tác dụng tốt, là bắt buộc hai đảng phải chú ý giải quyết một vấn đề lâu dài: Ngân sách khiếm hụt. trong mấy tháng qua! Sau khi trận đấu về Trần Nợ chấm dứt, vấn đề khiếm hụt ngân sách vẫn chưa được giải quyết. Muốn biết hai đảng sẽ tranh luận ra sao, và dân Mỹ sẽ phán đoán họ như thế nào, cuối cùng dân Mỹ lại phải xem hồi sau mới rõ! Trong năm 2012, vấn đề trên sẽ trở thành một đề tài tranh cử, trong việc bầu đại biểu Quốc Hội cũng như bầu tổng thống Mỹ. Khi đó, các câu hỏi sẽ được đặt lại: Cắt chi tiêu những khoản nào? Có tăng thuế không? Dân Mỹ sẽ được nghe đầy tai! Nhưng hy vọng họ sẽ được nghe những ý kiến “thực tế, cụ thể, chừng mực và đứng đắn” chứ không phải chỉ cốt cho các ứng cử viên “làm chính trị!”
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Có bông hoa nào không cho người sẽ qua đời?

1.

Sáng nay, thứ bảy, tôi có dịp tham dự tang lễ một người quen biết tại nhà thờ xứ đạo địa phương. Tuy là xứ đạo Mỹ, nhưng vị chủ tế buổi lễ lại là một linh mục Việt Nam từ quê nhà mới qua. Bài giảng của ông khá sâu sắc, trong đó có thí dụ về Alexandre Đại đế, một vị vua nổi tiếng trong lịch sử nước Nga. Vị linh mục kể lại, trong di chúc của mình, ông vua bách chiến bách thắng đã dặn triều thần rằng, khi ông chết, cái quan tài đựng xác của ông phải có hai lỗ hổng hai bên để thò hai bàn tay của vua ra cho mọi người nhìn thấy. Đó là hai bàn tay trắng, dù khi còn sinh tiền, người ấy đã là một vị vua quyền thế, tài năng, giàu có.

Dụ ngôn ẩn chứa trong câu chuyện của vị linh mục không có gì mới. Hầu như ai cũng biết điều đó. Nhưng hình như tất cả mọi người đều không có cơ hội nghĩ đến chân lý cũ kỹ đó trong suốt cuộc đời nhọc nhằn hối hả của mình. Có chăng, chỉ trong những dịp hiếm hoi, như tôi trong buổi sáng mệt mỏi này, miệng lẩm nhẩm đọc theo mọi người những câu kinh thuộc lòng một cách vô thức, nhưng mắt cứ nhìn về phía quan tài nằm giữa nhà thờ, tưởng tượng ra tấm thân da bọc xương của người quá cố teo tóp vì vi trùng ung thư đục khóet, bây giờ nằm thảnh thơi không vướng mắc gì nữa đến vinh nhục, thành bại, sướng khổ, vui buồn của cuộc đời . Thế là đã xong một kiếp người. Hôm tuần lễ trước, tôi có ghé thăm anh tại nhà. Nhìn thấy một phụ nữ còn khá trẻ và rất xinh đẹp, đứng bên cạnh giường người bệnh, tôi hỏi thăm và được biết đó là người vợ cũ của anh . Hai người ly dị đã hơn 10 năm nay, được tin anh bị bệnh, chị đang ở một tiểu bang rất xa, đã vội thu xếp việc gia đình riêng để về chăm sóc anh những ngày cuối. Chị cho biết, tuy anh đã có những chuyện tình cảm khác sau khi hai người chia tay, nhưng anh rất vui mừng được thấy chị bên cạnh giây phút sắp lâm chung. Tôi còn được nghe vài câu chuyện khác liên quan đến cách sống của anh khi còn sinh tiền, khiến nhiều người chỉ đợi dịp này để có thể bày tỏ lòng quý mến và biết ơn của mình với anh.

Tang lễ kết thúc với bài hát thật buồn. Xin vĩnh biệt mọi người. Tôi ra đi lần cuối. Không bao giờ trở lại. Hẹn nhau nơi nước Trời.Theo sau quan tài, tôi thấy người vợ cũ vật vã trong chiếc khăn tang phủ kín khuôn mặt. Bên cạnh, là những người thân ruột thịt của anh và những người đã từng quý mến anh khi còn sống.
Một đời người đã xong, đã trở về với cát bụi trong cuộc viễn du cuối cùng, trong sự thương tiếc chân thành của mọi người có dịp quen biết.

Có lẽ đó là điều duy nhất mà người lên đường đi vào nơi miên viễn muốn mang theo làm hành trang, chứ không phải những thứ phù du hư ảo khác của cuộc đời.

2.

Người ta nói, đời người ngắn ngủi chỉ một trăm năm. Nhưng từ trước tới nay, tôi hiếm thấy người nào sống được tới trăm năm. 70 tuổi đã được gọi là thọ. Và khi người ta đến được lằn mức 70, hẳn đã hiểu hết được lẽ đời. Tất cả chỉ là hư ảo, phù du. Danh vọng, tiền bạc, niềm vui, nỗi buồn. Nằm xuống cũng chỉ hai bàn tay trắng như ông vua nước Nga lừng danh trong lịch sử.

Vậy mà, có một người gìa 78 tuổi, cũng đã từng kinh qua bao thăng trầm với những thứ phù du hư ảo, vẫn không nhìn thấy điều thật cũ kỹ mà cũng thật hiển nhiên ấy. Tuổi 78 là cái tuổi mấp mé bên bờ tử sinh. Hôm nay còn mạnh khỏe đấy, còn nói nói cười cười đấy, nhưng có thể ngay sáng ngày mai đã là người thiên cổ. Và ông gìà 78 tuổi này không hy vọng gì là một ngoại lệ trong lẽ tử sinh của đất trời.

Ông trước đây cũng có chút địa vị trong chế độ cộng hòa cũ. Tháng 4- 75, ông nhanh chân chạy thoát cộng sản, sau khi đã hô hào mọi người hãy ở lại chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Hàng trăm ngàn người lính vốn là thuộc quyền của ông, trong đó có tôi, không nhanh chân được như ông vì không có điều kiện hay rất đơn giản , muốn làm trọn nhiệm vụ của mình cho đến phút cuối cùng, kẹt ở lại và chôn vùi một phần đời quý báu trong những nhà tù tiền sử. Nhiều năm sau, một số lớn chúng tôi sống sót trở về và bằng nhiều phương cách khác nhau, đã đến được bến bờ tự do. Phần ông, 30 năm sống vất vưởng xứ người càng làm ông quay quắt thêm với giấc mộng công hầu chưa trọn vẹn, ông đã có nhiều hành động lời nói làm phiền lòng nhiều người trước đây làm việc dưới quyền ông, gián tiếp hay trực tiếp. Vẫn biết, ông chỉ là một con người của thời thế, tài năng đã nhỏ mà nhân cách lại càng nhỏ hơn, nên phần lớn chúng tôi không bận tâm lắm về những việc làm “ trẻ người, non dạ “ của một người, mà chẳng may thời thế nhiễu nhương đã đặt ông vào vị trí chỉ huy chúng tôi.

Nhưng, gần đây nhất, ông đã từ Việt nam , nơi ông sống an lành một thân phận hàng thần lơ láo, trở qua Mỹ để tham dự buổi tiệc do vị chủ tịch nước Cộng Sản chủ tọa nhân dịp ông này và phái đòan chính phủ thăm viếng Hoa Kỳ. Trên đường đi đến địa điểm tổ chức bữa tiệc, hẳn chính mắt ông phải thấy hàng ngàn người Việt hải ngọai biểu tình, phản đối sự có mặt của phái đòan chính phủ cộng sản trên nước Nỹ, yêu cầu tự do dân chủ cho Việt Nam v..v.., trong số những người đứng đó , có rất nhiều người trước đây đã “ từng dưới sự chỉ huy “ của ông . Trong bữa tiệc, như đã được sắp xếp trước, ông “ bất ngờ “ được mời lên phát biểu. Điều phiền lòng nhất cho chúng tôi là ông đã “ nhân danh cộng đồng người Việt hải ngọai “ để có những lời nịnh hót , tung hứng với phái đòan chính phủ cộng sản. Phiền lòng hơn nữa là ông lại “ nhắn nhủ “ đến “ những người từng dưới sự chỉ huy “ của ông – là chúng tôi, những người đã bị ông phản bội, bỏ rơi 30 năm trước – rằng thôi đừng thù hận nữa, đừng quốc cộng nữa, bây giờ chỉ còn có một nước Việt Nam thôi v..v..

Tôi thực sự không bận tâm phân tích những điều ông gìa 78 tuổi vừa nói. Chúng cũng chẳng hơn những điều trẻ con nói ngọng. Tôi chỉ không thể hiểu nổi, một người gần đất xa trời, vẫn còn những tham sân si trần tục đến thế sao ? Ra sức làm nhỏ mình đi trước mắt kẻ cựu thù, chỉ để có cơ hội nói rằng “ tôi trước đây đã từng được đứng ở một bên đấu trường với chủ tịch “, để có cơ hội “ tự nhân danh “ một tập thể mà chính ông đã tự tách mình ra khỏi từ lâu, để có cơ hội nhắc nhở những người lính còn sống sót sau bao phong ba rằng họ đã “ từng dưới sự chỉ huy “ của ông, có nghĩa là cố chứng minh với mọi người rằng mình vẫn còn chỗ đứng của một thời vang bóng. Giấc mộng công hầu khanh tướng nó mãnh liệt đến độ khiến cho một con người, với cái vốn nhân cách đã nhỏ như hạt đậu, lại sẵn sàng tung hê nốt để chỉ đổi lấy cái bắt tay vị chủ tịch nước cộng sản Việt Nam trên đất Mỹ, và toe tóet cười nhìn thẳng vào ống kính của bao phóng viên đang sốt sắng làm nhiệm vụ. Tôi đã từng nghe và cảm thông được những câu chuyện người nghệ sĩ say mê , nhung nhớ ánh đèn sân khấu. Điều ấy có thể hiểu được vì đó là ánh đèn nghệ thuật của những con người nghệ sĩ. Nhưng tôi không thể cảm thông được với những nhân vật “ công chúng ‘ say mê đứng trước mọi người để được chụp ảnh, quay phim giống như ông gìa 78 tuổi tội nghiệp đang làm trò với trí tưởng tượng bệnh họan rằng mình đang làm lịch sử, rồi đây mình sẽ đi vào lịch sử với vai trò người hòa giải quốc cộng. Cho dù ông tin tưởng một cách thành thật rằng mình đang đóng vai trò hòa giải, thì cái đầu óc mụ mị nhất của một người 78 tuổi cũng phải biết tự hỏi rằng đây có phải là lúc, là nơi nói lên những điều đó không khi bên ngòai kia hàng ngàn người biểu tình chống đối, mà những người ấy là những người ở về phía bên ông đang kêu gọi hòa giải, hay lại chỉ như đổ thêm dầu vào lửa, hòa giải đâu chưa thấy mà chỉ thấy thêm những oan nghiệt đẻ ra do cái “ đầu đất “ ( chữ của một trí thức Hà nội hiện ở trong nước đặt tên cho ông ) cuối đời vẫn còn nửa mê nửa tỉnh giấc mộng Nam Kha.

3.

Có anh phóng viên một tờ báo hải ngọai mô tả về ông già 78 tuổi nói trên, nào là “ tuy 78 tuổi nhưng ông đã bỏ hút thuốc, cữ ăn, vẫn đi bộ, vẫn điểm dáng, trí óc vẫn mẫn tiệp “ , nhưng ngay từ bây giờ, tôi đã nghĩ đến cái ngày ông già này nằm xuống. Chắc cũng chẳng bao lâu nữa đâu. Kiếp người vốn hữu hạn, không ai có thể thóat ra được. Và hẳn nhiên ông già 78 tuổi không thể là một ngoại lệ. Khi ấy, chắc sẽ có nhiều người thở phào nhẹ nhõm. Bất giác, tôi liên tưởng đến người quen biết của tôi vừa được chôn cất sáng nay. Anh chỉ là một con người rất bình thường, nhưng cách cư xử của anh khi sinh tiền đã khiến cho nhiều người đến với anh rất chân tình khi anh nằm xuống. Điển hình là người vợ cũ của anh. Họ chia tay có thể do những bất đồng trong cuộc sống chung, nhưng chắc chắn chị không hề khinh rẻ anh vì cái cách anh làm người. Vì thế, sau hơn 10 năm chia tay, chị vẫn đến với anh vào lúc anh cần chị nhất. Đó cũng là niềm an ủi to lớn cho những thân nhân ruột thịt còn sống của anh.

Hồi đầu năm nay, ở hải ngọai có cái chết của một vị cựu tướng, vốn cũng đã là một “ thuộc quyền” của ông. Khi vị cựu tướng này nằm xuống, cả một cộng đồng người Việt hải ngọai thương tiếc, cùng với sự ngưỡng mộ chân thành của các cựu viên chức, cựu tướng lãnh Mỹ đã từng làm việc sát cánh bên ông. Tang lễ của ông có sự hiện diện của những lễ nghi quân cách đến từ tấm lòng quý mến và kính trọng thực sự của những người lính một thời khóac chung màu áo với ông . Đó là phần thưởng quý gía nhất mà bất cứ một vị tướng nào cũng mong ước cho ngày mình giã biệt trần gian. Đã đành, người chết đâu có nhìn thấy được những điều đó. Nhưng nó làm ấm lòng người còn sống, mỗi khi nghĩ đến sự ra đi của cha anh mình. Với một thời gian ngắn nữa đây , ông già 78 tuổi rồi sẽ xuôi tay, nhắm mắt, liệu vợ con, thân nhân ruột thịt của ông sẽ còn buồn đau thế nào khi so sánh tang lễ của chồng cha mình với một người khác cũng cùng thời, cùng một số phận, chỉ khác nhau ở cách hành xử và độ cao của lòng tự trọng.

4.

Xét cho cùng, cái đau của thân nhân ông già 78 tuổi trong tương lai ( gần) cũng không thể so sánh với cái đau của chúng tôi bây giờ, hay đúng hơn từ nhiều năm nay. Ở trong nước, đâu đó có người Hà Nội cũng thuộc lọai biết chuyện, đã nói vọng ra cho chúng tôi ngoài này nghe đại khái rằng, bộ VNCH các anh hồi xưa hết người rồi sao để cho cái ông kỳ cục ấy làm thủ tướng. Bây giờ ông ấy về bên này cũng chỉ để học đòi làm một đại gia, nhưng mà đại gia thuộc lọai câu lạc bộ 100, chứ dễ gì chen chân vào câu lạc bộ 10. Vì nước vì dân gì cái ngữ ấy !

Chúng tôi thua trận, bị kẻ chiến thắng bắt đi đầy ải , cầm tù, điều đó cũng bình thường. Thua trận, nhưng không nhục nhã. Chúng tôi buông súng, vì tuân theo lệnh của cấp trên, của vị tổng tư lệnh tối cao quân đội lúc ấy là ông Dương văn Minh , chứ chúng tôi không đầu hàng. Những năm tháng dài đăng đẳng trong những nhà tù, chúng tôi vẫn giữ khí tiết của một người lính, không chịu khuất phục, không chịu bị “ cải tạo”. Tôi không thể quên được một đêm tháng 7 năm 1977, khi vừa bị lùa từ những toa xe lửa chỉ dành chở súc vật xuống một khu rừng gìa Yên Báy, chúng tôi đã được nghe lời huấn lệnh đầy căm thù của viên trại trưởng. Giữa đêm khuya, giọng ông ta lanh lảnh, nói cho chúng tôi biết rằng đứa con trai duy nhất của ông đã vùi thây ở chiến trường miền Nam và nhiều thứ tội ác khác mà chúng tôi đã phạm. Chúng tôi hiểu rằng, những ngày sắp tới sẽ là địa ngục trần gian ở tầng thấp nhất. Chúng tôi chấp nhận đòn thù, vì chúng tôi hiểu thân phận mình, nhưng chắc chắn chúng tôi không chịu nhục. Trong tinh thần chịu đựng tất cả, ngoài sự khuất phục, phần lớn anh em chúng tôi đã sống sót, đã ra khỏi khu rừng gìa Yên Báy địa ngục trần gian, đã lăn lóc qua nhiều trại tù khác trước khi chính thức cởi bỏ lốt áo phạm nhân. Rời khỏi nhà tù, lần lượt chúng tôi cũng đã đến được bến bờ tự do. Để ngày hôm nay, chúng tôi tai nghe, mắt thấy vị chỉ huy cũ của mình xum xoe những lời nịnh hót, khuất phục trước ánh mắt hài lòng của kẻ cựu thù. Đau đớn hơn nữa, ông ta lại nhân danh chính chúng tôi, những người đã phải trả gía cho khí tiết của mình bằng những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ trong những nhà tù dựng nên bởi chính kẻ cựu thù đang hân hoan đón nhận sự thần phục của ông một cách hể hả.

Ở đây, không có hận thù, mắt trả mắt, răng đền răng. Vì chúng tôi, đã từng là nạn nhân của hận thù, từng bị đòi mắt trả mắt, răng đền răng. Ở đây , là vấn đề nhân cách của một con người, khí tiết của một người lính đang tiếp tục cuộc chiến. Cuộc chiến ngày hôm nay không phải là nhằm khôi phục nền cộng hòa cũ, mà là chủ nghĩa cộng sản phải cáo chung trên đất nước Việt nam, mà là tái thiết lập lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho hơn 80 triệu người dân vốn đã quá đau khổ vì chiến tranh, lạc hậu, nghèo đói. Lịch sử thế giới đã chứng minh rõ ràng, ngày nào còn chủ nghĩa cộng sản, ngày ấy đất nước vẫn chưa thóat ra khỏi sự trì trệ, chậm tiến. Trong cuộc chiến hiện nay, khối người Việt hải ngọai là một lực lượng đối trọng với chính quyền cộng sản đương nhiệm, đóng vai trò yểm trợ cần thiết cho lực lượng dân chủ ở trong nước.

Vì thế, những người lính gìa chúng tôi, không thể đứng bên lề cuộc chiến đó. Và cái ông gìa 78 tuổi kia không có chút tư cách nào để nhân danh chúng tôi một lần nữa.

5.

Ai cũng chỉ có một đời để sống. Thành công hay thất bại trong cuộc đời một con người, chỉ là những khái niệm tương đối. Tùy quan niệm mỗi người, mà sự thành công đối với người này, lại là sự thất bại dưới con mắt người kia. Nhưng sống làm sao cho ra một con người, lại chỉ có một cách nhìn duy nhất. Và vì không ai có cơ hội sống lại đời mình một lần thứ hai, nên khi nằm xuống rồi, mọi chuyện liên quan đến người ấy đã được định luận.

Giàu nghèo đến 30 tết mới hay. Hay dở của nhân cách một con người chờ đến lúc xuôi tay sẽ biết. Lúc ấy, có ăn năn cũng không kịp nữa. Trong lúc bùi ngùi ném cánh hoa xuống mộ người quen biết sáng nay, tôi đã nghĩ đến giây phút này của ông già 78 tuổi. Ngoài thân nhân ruột thịt của ông, còn ai nữa sẽ ném theo xuống mộ ông một bông hoa, dẫu chỉ là bông hoa héo ?

© T.Vấn 2007
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Báo động kinh tế suy thoái lần nữa

Ngô Nhân Dụng


Ngày hôm qua, thị trường chứng khoán New York cho thấy tất cả cuộc tranh luận về Trần Nợ ở Mỹ là phù phiếm, các nhà chính trị không quan tâm đến cứu chữa nền kinh tế mà chỉ lo làm chính trị để giành lá phiếu trong cuộc bầu cử sang năm.

Chỉ số Dow Jones Industrial Average tụt 4.3% và thị trường Nasdaq tụt hơn 5% cho thấy mối lo kinh tế Mỹ sẽ suy thoái thêm lần nữa đã tăng lên. Trong 10 ngày qua, DJIA đã mất mất 10%,

Thị trường xuống không phải vì một nguyên nhân duy nhất là các nhà chính trị cãi nhau về những vấn đề xa vời trong khi không quan tâm đến tình trạng kinh tế trì trệ. Có nhiều yếu tố khác khiến thị trường tụt giảm trên 500 điểm ngày hôm qua; sau khi các thị trường khác trên thế giới cũng xuống. Nhưng cuộc tranh luận vô bổ tại Quốc hội làm cho các nhà đầu tư cảm thấy giới lãnh đạo đã quên nhiệm vụ chính của họ là thúc đẩy cho kinh tế lên mạnh hơn.

Khi kinh tế suy thoái, có hai loại biện pháp để thúc lên. Một là chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn, giúp cho tổng số cầu gia tăng trong lúc người tiêu thụ thắt chặt túi tiền, từ đó sẽ kích thích các nhà sản xuất bớt sa thải hoặc thu dụng thêm người làm việc. Bên cạnh đó, Ngân hàng Trung ương phải bơm thêm tiền vào nền kinh tế bằng các chính sách tiền tệ dễ dãi. Từ năm 2008 đến nay, cả hai phía chính phủ và Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ đã làm công việc đó. Kinh tế đã hết suy thoái từ giữa năm 2009; nhưng tốc độ tiến rất chậm chạp. Ðây là hậu quả tự nhiên của mọi cuộc suy thoái do hệ thống ngân hàng gây ra, điều này ai cũng biết trước. Cơn suy thoái từ năm 2007 bắt nguồn từ sự sụp đổ của thị trường địa ốc, mà đến nay thị trường nhà cửa còn chưa hoàn hồn.

Biết nỗi khó khăn đặc biệt của cuộc suy thoái lần này, Ngân hàng Trung ương Mỹ đã hạ lãi suất xuống tới số không; sau đó lại thi hành hai đợt bơm tiền vào hệ thống ngân hàng gọi là Quantitative Easing (QE). Kế hoạch Kích thích của chính phủ Mỹ đã bắt đầu từ năm 2009 nhưng còn chưa đủ để gia tăng số cầu. Hiện nay, kế hoạch này sắp chấm dứt, sắp sử dụng hết số tiền được Quốc hội cho phép; nhưng không khí chính trị khiến cho không ai tin Quốc hội sẽ chấp thuận cho chính phủ chi tiêu thêm nữa. Người ta chỉ còn chờ đợi Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ đưa ra một chương trình QE 3 trong cuộc họp vào cuối tháng 8 này! Trong khi đó, số cầu trong dân chúng có thể lại bị giảm vì đạo luật tăng thêm thời gian lãnh trợ cấp thất nghiệp tới tháng 12 này cũng hết hạn; nếu không được Quốc hội cho kéo dài thêm.

Ðiểm lạc quan duy nhất trong nền kinh tế Mỹ hiện nay là các xí nghiệp lớn vẫn đạt được mức lời cao kỷ lục (nhờ trong thời gian qua đã sa thải bớt nhân viên và tăng xuất cảng). Nhưng các xí nghiệp có thể ngồi trên đống tiền mà không bỏ thêm đồng nào mua máy móc thiết bị mới khi họ thấy số cầu chưa tăng mà có thể còn giảm. Trong tháng 6, tổng số tiêu thụ của dân Mỹ đã xuống; trong tháng 7 Chỉ số Tin tưởng của người tiêu thụ lại giảm, và số đơn đặt hàng cho các xí nghiệp cũng giảm theo. Trước tương lai bất định, không có gì chắc chắn đó, các xí nghiệp không thể đầu tư thêm mà cũng không muốn tuyển dụng thêm người. Cuộc tranh luận quanh quẩn và vô ích ở Quốc hội về Trần nợ chỉ làm cho thị trường lo ngại thêm; khi họ thấy các nhà chính trị không tìm cách kích thích kinh tế mà chỉ bàn những chuyện xa xôi.

Trần nợ chỉ là một vấn đề giả. Chính phủ Mỹ thế nào cũng phải vay thêm nợ, vì tất cả các món chi tiêu đều đã được chính Quốc hội quyết định từ trước, từ ngân sách nhiều năm trước. Không thể nào giảm bớt khiếm hụt ngân sách nếu chỉ giảm chi mà không tăng thâu. Một số người trong xã hội sẽ phải đóng thuế nhiều hơn vì những khoản miễn trừ cho họ phải chấm dứt. Ðây là một sự thật mà nhiều chính trị gia đã nhắm mắt không chấp nhận.

Từ nay đến cuối năm, một ủy ban lưỡng đảng ở Quốc hội sẽ đề nghị các bước mới trong việc giảm thiếu hụt ngân sách; nhưng không có gì bảo đảm họ sẽ thỏa hiệp được với nhau. Các đại biểu thuộc nhóm Tea Party đã thành công trong việc bắt ép cả Quốc hội và chính phủ phải dùng thời giờ suốt mấy tháng bàn chuyện cắt giảm chi tiêu của chính phủ ngay lập tức; và không cho ai được bàn biện pháp cân bằng ngân sách bằng cách lấp các lỗ hổng thuế khóa mà các đại công ty và quản đốc các quỹ đầu tư đang được hưởng. Những lời báo động rằng chính phủ có thể vỡ nợ, điểm tín dụng của nước Mỹ sẽ bị hạ thấp khiến vay nợ khó hơn vì lãi suất sẽ tăng, kinh tế sẽ bị ảnh hưởng, đều không được những đại biểu này quan tâm. Và sau cùng cả Quốc hội lẫn ông tổng thống phải theo ý kiến của nhóm Tea Party. Họ đã thành công; và từ nay cho đến năm 2012 sẽ khó lòng ngăn được họ không tiếp tục chiến thuật bắt chẹt chính trị đó. Thị trường có lý do để lo lắng trước một tương lai như vậy.

Ðáng lẽ ra Quốc hội Mỹ phải nhấn mạnh đến việc chính phủ cần chi tiêu thêm trong ngắn hạn để nhiều người có công việc làm, kích thích số cầu; trong đó có những món chi tu bổ và xây dựng hạ tầng cơ sở, cho phép ngay các xí nghiệp được tiếp tục hưởng những khoản miễn giảm thuế trong chương trình kích thích kinh tế năm ngoái; trong khi Quốc hội cũng đưa ra những biện pháp giảm bớt khiếm hụt ngân sách sẽ thi hành trong 3 năm đến 10 năm tới để trấn an thị trường là chính phủ Mỹ sẽ không chi tiêu quá sức mình. Chính phủ và Quốc hội phải xác định rằng việc cắt giảm chi tiêu sẽ làm nhiều người bị thiệt hại, trong đó có những người đang hay sắp về hưu; đồng thời phải đặt ra ngay những định hướng để tăng số thu qua việc cải tổ cả hệ thống thuế khóa cho giản dị, công bằng và hợp lý hơn.

Trong mấy tháng qua, Quốc hội Mỹ đã là ngược lại. Họ không quan tâm đến việc tiếp tục kích thích kinh tế, cũng không giải quyết vấn đề ngân sách khiếm hụt trong dài hạn. Những quyết định khó khăn, vì có thể làm mất lá phiếu của những cử tri sẽ bị mất quyền lợi, đều được các đại biểu Quốc hội lảng tránh. Họ đặt ra một ủy ban để thảo luận thêm từ nay cho đến cuối năm. Tất cả mọi người từ dân tiêu thụ đến các xí nghiệp lại bị đặt trước một tương lai bất định vì không biết trong 5 tháng nữa các nhà chính trị có khá hơn hay không! Có ai muốn xây thêm một nhà máy, tuyển dụng thêm người khi không biết tương lai tài chánh quốc gia sẽ ra sao?

Trong tình trạng mù mờ đó, hiện nay người ta chỉ hy vọng Hệ thống Dự trữ Liên bang sẽ đưa ra một kế hoạch QE 3 trong phiên họp tới ở Jackson Hole. Nhưng ai cũng biết, hiệu quả của các biện pháp tiền tệ sẽ tới rất chậm. Bơm tiền vào hệ thống ngân hàng để họ có thể cho vay nhiều hơn là cần thiết, cho giới tiêu thụ và các nhà sản xuất dễ thở. Nhưng trong lúc này các ngân hàng Mỹ không thiếu tiền mà sở dĩ họ chưa cho vay nhiều hơn là vì rất nhiều con nợ mua nhà vẫn chưa biết có tiền thanh toán các món nợ cũ hay không; các ngân hàng lo sợ có thể phạm các sai lầm cho vay bừa bãi trong những năm 2003 đến 2007 bây giờ trở nên dè dặt hơn thường lệ. Cho nên, dù Ngân hàng Trung ương Mỹ có bơm thêm hàng trăm tỷ đô la cho các ngân hàng thương mại thì hiệu quả cũng không còn lớn như trước nữa. Chỉ có một giải pháp là chính phủ Mỹ phải chi tiêu thêm để chuyển tiền vào túi của người tiêu thụ, nhất là những người nghèo nhất trong xã hội. Bởi vì chỉ những người nghèo mới đem tiền ra chi tiêu ngay; gia tăng số cầu nhanh chóng nhất.

Như trên đã nói, có nhiều nguyên nhân khác khiến thị trường chứng khoán New York tụt giảm mạnh ngày hôm qua. Tình hình kinh tế các nước Âu Châu không sáng sủa. Chỉ số thị trường của khu vực đồng Euro đã tụt giảm 17% kể từ tháng 2 năm nay vì mối lo các nước phía Nam có thể vỡ nợ, các nhà đầu tư đều dè dặt. Ngày hôm qua ông Silvio Berlusconi, thủ tướng Ý, đã tuyên bố trước Quốc hội rằng hệ thống ngân hàng và kinh tế nước Ý rất vững chắc; nhưng thị trường chứng khoán Ý vẫn tụt giảm hơn 3% ngay trong ngày. Thị trường Ý đã mất 24% giá trị từ đầu năm tới nay.

Một lý do khiến kinh tế thế giới lo lắng là giá dầu lửa và các nguyên liệu đều lên cao. Giá dầu lửa hiện nay vẫn cao 25% hơn giá cuối năm 2010. Giá xăng ở Mỹ tuy gần đây đã giảm nhưng trung bình vẫn cao gấp đôi năm 2008.

Bình thường khi kinh tế suy yếu thì giá nguyên liệu và dầu lửa sẽ xuống thấp. Tuy nhiên, hiện nay các nước đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Ðộ, Brazil, vân vân) là khách tiêu thụ nguyên liệu và xăng dầu chính (40% tổng số) cho khi nên nhu cầu của họ tăng thì giá vẫn tăng lên mặc dù nhu cầu ở Âu Châu và Mỹ có giảm. Kinh nghiệm cho thấy giá nguyên liệu tăng sẽ khiến thị trường chứng khoán xuống, và khi giảm sẽ khiến thị trường lên.

Và thị trường chứng khoán thường là chỉ dấu báo trước tình trạng kinh tế một nước. Khi thị trường xuống liên tiếp và xuống nhiều thì cả nền kinh tế thường sẽ xuống theo, trong khoảng thời gian 6 tháng đến một năm. Mùa Hè năm ngoái, thị trường New York đã hạ thấp 17%; và trong 6 tháng vừa qua kinh tế Mỹ tăng chưa được 1%, không đủ để hồi phục hẳn. Trong một tháng nữa, nếu thị trường tiếp tục xuống thì có đủ lý do để lo ngại sang năm 2012 kinh tế Mỹ sẽ suy thoái lần nữa. Hiện nay nhiều người đã cho xác suất 50% có thể xẩy ra cuộc suy thoái thứ nhì này; tức là tổng số sản xuất xuống rồi có lên, nhưng lại xuống nữa, theo hình ảnh chữ W.

Theo Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER), thì từ năm 1854 đến nay nước Mỹ đã trải qua 33 chu kỳ suy thoái kinh tế, trong đó có ba lần theo hình chữ W (double-dip recession) vào những năm 1913, 1920 và 1981. Theo định nghĩa trong kinh tế học thì chỉ gọi là double-dip recession, xuống hai lần liền, nếu kinh tế suy thoái trở lại trong vòng 12 tháng sau khi chấm dứt cơn suy thoái trước. Nếu cuối năm nay kinh tế Mỹ lại xuống thì cũng quá thời hạn 12 tháng rồi. Nhưng đối với người dân bình thường thì một chu kỳ suy thoái hình chữ W, dù trễ hơn 12 tháng cũng là một tai họa! Năm 2012 sẽ là một năm tranh cử. Nếu kinh tế theo hình chữ W lần nữa thì nhiều nhà chính trị Mỹ có thể là những nạn nhân đầu tiên. Dân sẽ không tín nhiệm họ nữa. Ðó chính là một cơ năng tự nhiên trong chế độ dân chủ. Lâu lâu dân sẽ trừng phạt, để tẩy rửa bộ máy, bắt các nhà chính trị, ngoài công việc tranh cử, không được quên nhiệm vụ chính của họ là lo cho đại cuộc quốc gia!
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

KHI CẢ MỘT DÂN TỘC TRỞ NÊN HÈN NHÁT, SỢ HÃI…
Nguyễn Thiếu Nhẫn

Sau cuộc biểu tình ngày 24-7-2011, phóng viên của các đài phát thanh và các trang mạng nước ngoài cũng đã phỏng vấn về chuyện vì sao ở Hà Nội thì mọi người rầm rộ xuống đường trong khi thành phố Sàigòn thì lại im lìm, bất động.

Nguyên nhân, theo bài báo thì, vì:

“Sự thiếu vắng những gương mặt cột trụ lớn như Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Viện… đã khiến cho những thanh niên kiên trì xuống đường vào những chủ nhật sau đó không khỏi cảm thấy bơ vơ, nhất là khi so sánh với Hà Nội có hẳn một danh sách các trí thức tên tuổi liên tục lên tiếng kêu gọi và cùng xuống đường với người dân thủ đô. Cũng tin báo chí cho biết: "Nhà cầm quyền đàn áp biểu tình ở Sàigòn mạnh hơn vì lo sợ những diễn tiến phức tạp ngoài tầm kiểm soát có thể xảy ra trong các cuộc biểu tình.”

Nhiều người biểu tình thừa nhận: “Cái đó cũng có thể, tại vì Sàigòn đúng là phức tạp hơn. Nếu tình hình khônhg siết chặt thì dễ dẫn đến nhiều vấn đề vì lịch sử cũng đã như vậy rồi.”

Trong khi đó thì, chính một người trong những người được gọi là “những gương mặt cột trụ lớn” đã xuất hiện trong cuộc biểu tình tại Sàigòn lần thứ nhất là ông người Pháp André Manras có tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết, người viết bài hãnh diện khoe là đã cùng các ông Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm… “chống Mỹ cứu nước” lại viết về “nguyên nhân sự vắng mặt của… những gương mặt cột trụ” này như sau:

“…Đừng mong rằng tôi sẽ làm giống như một số người bạn của tôi, cựu tù nhân chính trị của chế độ Sàigòn. Nhân danh một quá khứ quang vinh, họ im lặng cam chịu chấp nhận những khốn khổ thê thảm hiện tại. Họ sợ phải lên tiếng cùng với thế hệ thanh niên của họ đang xuống đường. Họ bám víu vào hình ảnh đầy hào quang của họ trong quá khứ và nhắm mắt trước những hình ảnh hiện tại vì sợ bị chóng mặt hay buồn nôn. Tôi rất mến những người bạn này, nhưng cũng rất thương cho họ. Chắc họ khổ tâm lắm! Khổ tâm hơn tôi nhiều. Chắc họ cũng cảm thấy rất rõ những hy sinh ngày trước của mình bị phản bội, được tán tụng mỗi ngày chỉ để bị chà đạp thô bạo hơn! Tôi đơn giản hy vọng rằng những hành xử man rợ và phản quốc, mà những hình ảnh cuộc biểu tình ngày 17-7 tại Hà Nội đã cho tôi thấy sẽ đánh thức dậy lòng can đảm của tuổi hai mươi của họ - và làm cho họ khoẻ mạnh hơn. Tuổi trẻ hôm nay cần đến một hình ảnh sống động và đàng hoàng của họ!”.

***

“Có điều gì lớn hơn sự sợ hãi khiến cho giới tinh hoa của dân tộc chưa bước xuống đường phố nhiều hơn để cất tiếng thét hòa với dòng người biểu tình đòi hỏi công bằng cho Tổ Quốc?”

Không biết câu trả lời của giáo sư Nguyễn Huệ Chi với phóng viên Mạc Lâm đã có thể giải đáp phần nào câu hỏi trên đối với “giới sĩ phu Bắc Hà”?

Theo tôi, trích đoạn trong bài viết của ông Hồ Cương Quyết tức André Mandras về “những gương mặt cột trụ lớn” như những Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi… những kẻ đã lợi dụng tự do, dân chủ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa để xách động biểu tình “chống Mỹ cứu nước” đã quá đủ để trả lời “vì sao thành phố Sàigòn của miền Nam anh dũng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước” nay lại im lìm như một thây ma trong thời kỳ chống Trung Cộng chiếm đất, lấn biển!

Để rõ hơn, xin mời nghe thêm “ông trí thức” Tiêu Dao Bảo Cự (TDBC), một ông trí thức miền Nam “đã từng góp công chống Mỹ cứu nước” nói về chuyện “Từ kiến nghị, tuyên cáo đến biểu tình và vai trò của trí thức Việt Nam” như sau:

“Từ chỗ là người trong guồng máy, trong chế độ, một số trí thức, văn nghệ sĩ đã chuyển sang vị trí đối lập, đối kháng với những người cầm quyền. Trí thức, văn nghệ sĩ, đặc biệt những người có uy tín với công chúng, chỉ là một số ít, dĩ nhiên thuộc loại “trói gà không chặt” nhưng sức mạnh của họ chính là ý nghĩa của biểu tượng và nguồn cảm hứng. Sự có mặt của họ trên đường phố, bàn viết, sáng tác của họ lưu truyền trên các mạng chắc chắn sẽ khơi động sự thức tỉnh cho rất nhiều người, nhất là lớp trẻ có học. Trí thức, văn nghệ sĩ (không phải là nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp) không thể trực tiếp lãnh đạo biểu tình thành công nhưng có thể góp phần thức tỉnh và thôi thúc hàng ngàn, hàng vạn các bạn trẻ xuống đường”.

Tội nghiệp! Ngày xưa, khi sống ở miền Nam, ông TDBC và những-người-cùng-đi-một-đường với ông không cần phải viện dẫn khuôn vàng thước ngọc nào của các ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu để làm khiên, làm mộc khi viết bài phê bình chính phủ.

Nay, sau 36 năm sống ở nước Việt Nam xã nghĩa, ông trí thức này lôi những câu nói từ thời kháng chiến chống Pháp của “Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của ông ta” (mà ai cũng biết chính ông HCM và chủ nghĩa cộng sản là căn nguyên bao nhiêu đau thương, tang tóc cho đất nước VN trong 66 năm qua) ra để che chắn cho bài viết như sau:

“Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhận chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.”

***

Ai cũng biết đây là việc làm “ruồi bu” của anh “trí thức nửa mùa” TDBC khi dùng “lá bùa HCM” để làm “bảo kê” cho mình!

Đây cũng chính là bằng chứng HÈN NHÁT VÀ SỢ HÃI mà đa số những người được gọi là trí thức VN mắc phải. Ngay cả người phải nói là rất can đảm là Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ!

Ông ta đã can đảm trong những việc làm và can đảm ngay trong 2 phiên tòa xét xử của cái gọi là Toà án xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà ông ta là bị cáo. Ai đời bị cáo mà lại

khuyến cáo Viện kiểm sát: “Nói to và dõng dạc lên nào!” khi người đại diện cái Viện này ấp a, ấp úng lí nhí kết tội ông ta.

Thế nhưng, ông ta vẫn phải che chắn cho mình cái gọi là “Tinh thần Chủ tịch HCM sống mãi trong sự nghiệp của những người đấu tranh cho tự do, dân chủ ở VN”.

Xin mời nghe một văn nghệ sĩ miền Nam là hoạ sĩ Bách Việt thố lộ sự sợ hãi của mình như sau:

“Bởi vì từ ngày xưa đến giờ, từ cái ngày nào tôi cũng không rõ lắm, những người dân VN mình mang một nỗi sợ, một nỗi sợ Công An (CA). Sợ lắm ! Sợ không biết như thế nào nữa, ngày xưa người ta hù dọa mấy đứa con nít, ví dụ khi nó khóc, nó cười hay nó quậy phá gì đó là hù dọa nó bằng cách có ông kẹ ổng bắt, nhưng hôm nay người ta chỉ cần nói có Công An bắt là nó sẽ nín.

Đó là hình ảnh ông CA là ông kẹ, nên cái nỗi sợ của mỗi người khi bước ra ngoài là cái tiếng nói của mình là dường như không thể, không thể!

Nên lần đầu tiên cho tôi cái cảm giác là tôi có thể bước ra ngoài đường và thể hiện cái tinh thần của bản thân, la lên được tiếng nói của bản thân tôi, cái sự tự do mà tôi thấy, và lúc đó tôi thấy hạnh phúc thật sự tôi đã lật đổ được sự lo sợ.

Và tôi nghĩ rằng nếu tất cả mọi người còn mang cái nỗi lo sợ đó thì coi như là im lặng và sự mất mát về một tâm địa lớn thì chuyện đó sẽ xảy ra. Quan trọng là mình phải không còn sợ sệt gì vế cái chuyện CA nữa, bởi vì CA họ cũng chỉ là con người VN, mà họ làm việc cho chính quyền VN, vậy tại sao phải sợ họ khi mình thể hiện lòng yêu nước của mình”.

(Trích “Hà Nội biểu tình, Sàigòn im tiếng”, Mai Khôi Thông tín viên RFA)

***

Như nhiều người biết từ thập niên 50, hai trí thức hàng đầu là luật sư Nguyễn Mạnh Tường và triết gia Trần Đức Thảo đã về nước tham gia kháng chiến chống Pháp.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã bị “đì” sống trong cảnh nghè khổ cho đến chết vì đã đọc bài “Qua những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất - Xây dựng quan điểm lãnh đạo”.

Triết gia Trần Đức Thảo cũng cùng chung số phận như luật sư Nguyễn Mạnh Tường vì dính líu đến vụ Nhân văn Giai phẩm, phải mất cả vợ và đã phải sống một cuộc đời nghèo khổ cho đến chết.

Và những nhà văn, nhà thơ dính líu trong vụ Nhân văn - Giai phẩm số phận ra sao và họ đã công khai thú nhận là họ đã “sợ” ra sao, xin không nhắc ra đây.

“Tôi không hề tham gia Mặt Trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, luôn luôn ưu tư đến việc giành độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm người trí thức. Mà người trí thức muốn độc lập thì không nên tham chính. Người trí thức phải đứng về phía nhân dân chứ không đứng về phía chính quyền”

Đây là lời tuyên bố của luật sư Nguyễn Mạnh Tường, tác giả quyển “Kẻ bị khai trừ” (Un excommunié).

Có bao nhiêu trí thức trong nước đứng về phía nhân dân? Và có điều gì lớn hơn sự sợ hãi khiến cho giới tinh hoa của dân tộc chưa bước xuống đường phố nhiều hơn, để cất tiếng thét hòa với dòng người biểu tình đòi hỏi công bằng cho Tổ Quốc khi đất nước đang có nguy cơ bị xâm chiếm bởi Trung Cộng?

***

Không phải chỉ có giới tinh hoa của dân tộc là những người mà người ta thường gọi là sĩ phu, trí thức sợ hãi, mà ngay cả gần 90 triệu nhân dân VN cũng sợ hãi nếu không muốn nói là hèn nhát và mê muội!

Bao nhiêu người dám phát biểu như họa sĩ Bách Việt đã phát biểu?

Nhưng vì sao mà dân tộc VN hèn nhát và sợ hãi như ngày nay?

Đó chính là cái “chính sách công an trị” để thực hiện cái mà ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN gọi là “bạo lực chuyên chính”. Đảng CSVN đã cướp chính quyền từ họng súng. Và quyền lực sinh ra từ họng súng!

Thời nào cũng vậy, chữ CÔNG AN CỦA CHẾ ĐỘ HỒ CHÍ MINH luôn luôn gợi lên hình ảnh bạo ngược, chà đạp nhân phẩm con người; trong khi tuyên truyền thì lúc nào cũng đẹp đẽ: bởi dân, do dân, vì dân v.v…

Chuyện thằng Trung Tướng CA Nguyễn Đức Nhanh, Giám đốc CA Hà Nội họp báo biện bạch về chuyện thằng Đại úy CA chó đẻ Phạm Hải Minh đạp vào mặt thằng đảng viên biểu tình yêu nước Nguyễn Chí Đức là bằng chứng mới nhất cho thấy HÌNH ẢNH BẠO NGƯỢC, CHÀ ĐẠP NHÂN CON NGƯỜI KHIẾN MỌI NGƯỜI PHẢI SỢ HÃI, HÈN NHÁT của chế độ CÔNG AN TRỊ của đảng CSVN!

***

“Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo đói, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỹ và mê muội”.

Xin mượn nhận xét này của tác giả Vũ Đông Hà trong bài viết “Người Tù Chiến Thắng” viết về TS/CHHV để làm kết luận cho bài viết này.

NGUYỄN THIẾU NHẪN
http://nguyenthieunhan.wordpress.com
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Đức Dalai Lama - Uy lực của tư tưởng

Đinh Yên Thảo
Đôi ngày sau khi Đức Daila Lama đến Hoa Kỳ hồi đầu tháng 7 vừa qua, giới lãnh đạo Quốc Hội Hoa Kỳ đã trịnh trọng đón tiếp ngài tại Điện Capitol. Những nhà lập pháp HK, với Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner và Chủ Tịch Phe Thiểu Số là bà Nancy Pelosi đều tỏ ra vui mừng trong cuộc gặp gỡ và không ngần ngại phát biểu những ủng hộ về các quyền tự do và dân chủ cho Tây Tạng. Và dù dè dặt hơn, TT Obama cũng không thể làm khác hơn các vị Tổng Thống tiền nhiệm, khi tiếp kiến riêng vị lãnh tụ tinh thần tối cao của Phật giáo Tây Tạng, nhà đấu tranh nhân quyền đã từng đạt giải Nobel Hoà Bình năm 1989. Như một anh hề với duy nhất một tấn tuồng, Trung Cộng ra tuyên bố rằng "đây là hành động can thiệp trắng trợn vào nội bộ Trung Quốc" (!?), trong khi rõ ràng việc đón tiếp ai, người nào, ra sao... mới thật sự là vấn đề nội tình của bất cứ quốc gia nào.

Hơn nửa thế kỷ, trải qua vài đời lãnh tụ, Trung Cộng dường như vẫn xem Đức Dalai Lama là một mối đe doạ đến họ để có những phản ứng như vậy. Không hẳn từ những ảnh hưởng chính trị, mà chính những tư tưởng cổ suý hoà bình, sự dân chủ và nhân quyền của một vị lãnh tụ tôn giáo uy tín đã gây nên sự bấn loạn này cho Trung Cộng, một thể chế đi ngược lại những giá trị như vậy.

Sinh năm 1935, Đức Dalai Lama vừa chào đón sinh nhật lần thứ 76 tại Hoa Kỳ, ngay trong chuyến thuyết giảng lần này. Sinh ra trong một gia đình nông dân tại một làng nhỏ vùng Đông Bắc Tây Tạng, năm 2 tuổi, ngài chính thức được thừa nhận là hậu duệ Dalai Lama đời thứ 14, theo các truyền thống và nghi thức chọn tìm các hậu duệ các vị Dalai Lama. Bắt đầu tu tập từ năm 5 tuổi, đến năm 15 tuổi ngài chính thức được coi là lãnh tụ tối cao của Giáo Hội Phật Giáo và chính phủ Tây Tạng, trong khi tiếp tục tu học tại các viện đại học. Năm 24 tuổi, ngài hoàn tất chương trình Tiến sĩ về Triết Học và Phật Học và nắm quyền quyết định hầu hết các vấn đề Tây Tạng.

Năm 1950, Trung Cộng đưa 80 ngàn vệ binh đỏ sang chiếm đóng Tây Tạng và chỉ một năm sau, ngang ngược đưa ra một hiệp ước bắt buộc chính phủ Tây Tạng thừa nhận rằng, Tây Tạng là một lãnh thổ tự trị trực thuộc "đại quốc" Trung Hoa cộng sản. Với tư cách một người đứng đầu Tây Tạng, Đức Dalai Lama lúc bấy giờ còn là một tu sĩ trẻ đã nhiều lần sang hội kiến và đàm luận cùng các lãnh tụ cao cấp của "đại quốc" lúc bấy giờ như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình... Nhưng tình hình dường như không thay đổi, kể cả việc thông qua sự ảnh hưởng của ngài với Thủ tướng Ấn độ lúc bấy giờ là Jawaharlal Nehru để bàn luận riêng với Thủ Tướng Chu Ân Lai về vấn đề Tây Tạng vào năm 1958.

Năm 1959, tình hình bắt đầu tồi tệ và xung đột bùng nổ khi người Tây Tạng đứng dậy, biểu tình đòi Trung Cộng rút khỏi Tây Tạng. Các hồng vệ binh Trung cộng được lịnh đàn áp dân Tây Tạng cũng như tìm cách bắt giữ Đức Dalai Lama. Cùng một nhóm tùy tùng nhỏ, Đức Dalai Lama đã được các cảm tử quân Tây Tạng mở đường máu, băng dãy Hy Mã Lạp sơn để vượt thoát sang Ấn độ. Thủ tướng Nehru đã chấp nhận cho Đức Dalai Lama cùng nội các của ông lưu vong tại Dharamsala, Ấn độ. Khá nhiều người dân Tây Tạng sau đó đã đào tẩu theo chân Đức Dalai Lama và một chính phủ Tây Tạng lưu vong ra đời từ năm 1959 cho đến nay. Tổ chức có khoảng 120 ngàn người luôn hướng về Tây Tạng và đấu tranh cho một Tây Tạng tự trị dưới sự lãnh đạo tinh thần và chính trị của Đức Dalai Lama trong nửa thế kỷ qua. Đầu tháng 3 năm nay, Ngài đề nghị thay đổi hiến pháp của chính phủ Tây Tạng lưu vong để vị Dalai Lama không còn kiêm nhiệm cả chức vụ Quốc Trưởng, thay vào đó là một Quốc Trưởng được chọn thông qua bầu cử, trẻ trung và có khả năng đem lại những thay đổi thật sự cho Tây Tạng. Với đề nghị và thay đổi này, ngài đã từ nhiệm vai trò lãnh tụ chính trị dù vẫn là lãnh tụ tôn giáo tối cao của Tây Tạng.

Cả một lịch sử bi hùng của vị lãnh tụ Phật Giáo và những người Phật Giáo Tây Tạng can đảm. Với chủ trương đấu tranh bất bạo động qua những triết lý Phật giáo để giành lại quyền tự trị, đem lại dân chủ, nhân quyền cho đất nước và người dân Tây Tạng, Đức Dalai Lama đã tạo được uy tín to lớn trên toàn thế giới. Ngài chu du không mệt mỏi đến nhiều quốc gia, gặp nhiều vị nguyên thủ quốc gia trên thế giới để vận động sự ủng hộ cho Tây Tạng trước sự giận dữ của Trung cộng, khi coi ngài là một người ly khai.

Một vài tài tử tên tuổi của Hollywood như Richard Gere, Steven Seagal là những Phật tử thuần thành và đồ đệ hết mực ủng hộ Đức Dalai Lama, vẫn thường phản đối các chính sách đàn áp của Trung cộng với Tây Tạng và Đức Dalai Lama một cách mạnh mẽ. Hồi tuần qua, Richard Gere nhân cuộc trưng bày ảnh nghệ thuật tại Seoul, Nam Hàn, nơi ông triển lãm các tác phẩm nghệ thuật trong một lần duy nhất đến được Tây Tạng hồi năm 1993, lại một lần nữa lại lên tiếng chỉ trích Trung Cộng. Richard Gere bị Trung cộng ra lịnh cấm nhập cảnh vĩnh viễn vào lãnh thổ Trung cộng, bao gồm cả Tây Tạng. Nhưng những việc như vậy chẳng hề mang giá trị hay chút ảnh hưởng nào với cá nhân Richard Gere hay hàng triệu người khắp nơi trên thế giới luôn bày tỏ sự kính mến và ủng hộ Đức Dalai Lama.

Chuyến diễn thuyết tại Hoa Kỳ lần này của Ngài đã thu hút hàng trăm ngàn người từ khắp nơi trong nước Mỹ và trên thế giới về tham dự. Không chỉ với sự ngưỡng mộ riêng mà có lẽ cả những người tham dự, bộc bạch trên báo chí rằng, họ tìm được sự bình yên và sự yêu thương tận sâu trong tâm thức của họ từ những triết lý Đức Dalai Lama thuyết giảng.

Những trích giảng về các bài nói chuyện của Đức Dalai Lama mà chúng ta đọc được, không hề mang sự truyền bá tư tưởng tôn giáo, mà về ý nghĩa của yêu thương và hy vọng, về những giá trị nhân bản chung cho con người. Và vì đó đã được đón nhận từ nhiều tầng giới xã hội. Những tư tưởng này càng được đón nhận và cần thiết trong một thế giới khủng bố, bạo lực đang xảy ra mỗi giây phút khắp mọi nơi. Và hơn thế nữa, những tư tưởng này tạo ra một uy lực nội tại có khả năng làm khiếp đảm những thể chế độc tài còn sót lại trên thế giới.

Đinh Yên Thảo
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

GS Ngô Bảo Châu, TS Hà Vũ và Báo Công an

Image
Bà Pratibha Patil, Tổng thống Ấn Độ trao huy chương Fields cho Giáo sư Ngô Bảo Châu

Bốn tuần sau khi Giáo sư Ngô Bảo Châu có blog phê phán phiên tòa xử Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ và ca ngợi dũng khí của ông Vũ trước tòa, báo Công an Nhân dân có bài phản pháo.

Bình thường báo này mau mắn hơn trong việc bảo vệ ngành, bảo vệ chế độ.

Nhưng có lẽ họ cần thời gian để viết cho kín kẽ về một người đã được cả Việt Nam và quốc tế vinh danh và cũng không loại trừ khả năng bài đã nằm trên bàn của ban biên tập báo từ lâu nhưng bây giờ mới được bật đèn xanh.

Trong những xã hội có nền báo chí đủ sức cạnh tranh quốc tế, chuyện ngành công an có một tờ báo riêng, lại không phải báo chỉ lưu hành nội bộ đã là chuyện lạ.

Không những thế báo của ngành sống nhờ vào tiền đóng thuế của dân lại công khai tấn công dân, nhất là những người mà ngành đã bắt và đưa ra truy tố.

Thêm nữa, quá trình xét xử còn chưa khép lại với phiên phúc thẩm Tiến sỹ Hà Vũ sẽ diễn ra trong nay mai.

'Biểu tượng'


Bài của tác giả Quý Thanh thể hiện rõ cách nhìn của công an Việt Nam đối với hai nhân vật Ngô Bảo Châu và Cù Huy Hà Vũ.

Image
Ông Cù Huy Hà Vũ bị giải ra tòa hôm 4/4/2011

Giáo sư Châu được người viết coi là "niềm tự hào của Việt Nam" trong khi Tiến sỹ Vũ "chỉ là một kẻ nhỏ bé với những cư xử tầm thường" không thể so sánh với các vị anh hùng trong lịch sử như Giáo sư Châu gợi ý trong blog mà nay ông đã đóng lại.

Người viết cũng chấp hành nghiêm chỉnh chỉ đạo về cách đưa tin liên quan tới ông Hà Vũ qua việc không một lần dùng danh hiệu tiến sỹ mà ông Hà Vũ có được ở Pháp.

Trong khi đó Giáo sư Châu chưa bị tước học hàm cho dù Công an Nhân dân cho rằng ông "quá tùy tiện khi đặt Cù Huy Hà Vũ ngang với những biểu tượng anh hùng".

Tác giả Quý Thanh nói blog của Giáo sư Châu "dễ gây sự lầm lẫn biến Cù Huy Hà Vũ từ một kẻ vô giá trị thành một biểu tượng".

Chủ nhân và đầy tớ

Về mặt tự do ngôn luận, báo chí hoàn toàn có quyền bình luận về bất kỳ vấn đề gì.

Nhưng truyền thông lề phải của Việt Nam thường thả sức khi viết về người dân, những người mà đảng cầm quyền tôn vinh là 'chủ nhân' và họ chỉ là 'đầy tớ'.

Ngược lại họ rất kiệm lời và né tránh khi đề cập tới hành vi của chính quyền, nhất là chính quyền trung ương.

Tất cả những bình luận về cách hành xử của ngành công an trong vụ bắt Tiến sỹ Hà Vũ bằng "hai bao cao su đã qua sử dụng" cho tới cách điều hành phiên xử hôm 4/4 của chủ tọa và những vụ bắt người tới xem phiên xử được nói là công khai đều không thấy có mặt trong các bài viết trên báo chí chính thống.

Cách đưa tin 'nhất bên trọng, nhất bên khinh' của báo chí Việt Nam vi phạm một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của người làm báo thực thụ: bất thiên vị.

Trách nhiệm xã hội

Trở lại với Giáo sư Ngô Bảo Châu, người từng được chính báo Công an Nhân dân coi là "nguyên khí quốc gia", ông được truyền thông chính thống góp phần đẩy lên hàng thần tượng của giới trẻ.

Bản thân Giáo sư cũng ý thức được điều này như lời ông nói với báo Tiền Phong hồi tháng Ba.

"Việc nhận giải Fields tác động khá nhiều tới cuộc sống của tôi, song tôi cũng lường trước được nhiều chuyện.

Từ trước đến nay tôi chỉ tập trung vào chuyên môn nhưng khi biết mình được giải thưởng, tôi nhận thức trách nhiệm xã hội của mình sẽ lớn hơn.

"Lường trước điều này còn để sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm của mình đến đâu.

"Nếu không đưa ra được cho mình một giới hạn, nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đến việc làm toán mà cả đến đời sống riêng tư của mình nữa".

Thể diện quốc gia

Hai lần lên tiếng của Giáo sư Châu kể từ khi ông được giải Fields đều gây tác động lớn đối với giới trẻ.

Vài ngày sau khi nhận giải ông đã tuyên bố "bám theo lề là việc của con cừu, không phải việc của con người tự do''.

Còn một tuần sau phiên xử ông Hà Vũ, Giáo sư Châu viết:

Đối diện với ông Vũ là những người bắt ông bằng hai bao cao su đã qua sử dụng, là phiên tòa nửa công khai, nửa bí mật xảy ra ngày hôm qua và là ông quan tòa từ chối thực hiện thủ tục tố tụng để tránh tranh luận về nội dung những bài viết, chứng cớ về những việc được cho là vi phạm pháp luật của ông Vũ
"Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này".

Báo Công an Nhân dân chỉ tập trung vào chuyện Giáo sư Châu so sánh Tiến sỹ Hà Vũ với những anh hùng lịch sử và bỏ qua phần lớn chi tiết khác trong blog của ông.

Cũng vậy, họ chỉ tập trung vào những chi tiết bất lợi cho Tiến sỹ Hà Vũ mà bỏ qua hoàn toàn bất kỳ đóng góp tích cực nào của ông cho xã hội.

Những người làm báo và những người chân chính nói chung đều hiểu một điều mà người Anh nói "truth is rarely pure and never simple" - tạm dịch thô "sự thật hiếm khi tinh khiết và chẳng bao giờ đơn giản".

Và làm báo ở Việt Nam thì tìm ra sự thật đã khó nhưng dũng cảm nói ra sự thật còn quý và hiếm hơn nhiều.

Nguyen Hung ( BBC )
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Nếu sử gia là một người đàn bà...
Đào Nương
Hai tuần nay, chuyện ông Nguyễn Cao Kỳ qua đời đã làm tốn hao nhiều giấy mực và làm “động não” nhiều người.


Trước tiên là vấn đề tang lễ. Tin đầu tiên được loan báo là cô MC Kỳ Duyên từ Việt Nam sẽ bay sang Malaysia mang thi hài của phụ thân cô về án táng ở Việt Nam. Sau đó, tin chính thức trên cáo phó của gia đình loan báo tang lễ sẽ cử hành ở Malaysia theo nghi thức Phật giáo và hoả táng, tro tàn sẽ được thân nhân mang về Hoa Kỳ thờ phượng. Sau đó lại có tin tro cốt của ông Kỳ sẽ được mang về rãi ở Sơn Tây, nguyên quán của ông, nơi có núi Ba Vì và những đôi mắt không có gì là u uẩn vì đời luân lạc như trong thơ Quang Dũng vì ông Nguyễn Cao Kỳ rất hãnh diện về việc đã trở về Việt Nam bắt tay với Việt cộng như trong điếu văn của cô Kỳ Duyên đã viết.

Nhưng... khi viết những dòng này thì một ông nhà báo ở Bolsa gọi điện thoại cho Đào Nương tôi biết là tro tàn của ông Nguyễn Cao Kỳ đã được đưa về sống chung với cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ mới thật là khó hiểu.

Vào 9 giờ đêm Thứ hai ngày 1 tháng 8, mấy ông Không quân thân tín của ông Kỳ trước đây và các con cuả ông đã lên phi trường Los Angeles ‘đón’ tro tàn của ông đem về đặt tại tiệm bán bàn ghế của một người con trai của ông. Cái mộng được về Sơn Tây của ông Kỳ không thành.

Không hiểu trong tang lễ ở Malaysia, ai là người quyết định phủ 1/3 quan tài ông Nguyễn Cao Kỳ bằng cờ vàng ba sọc đỏ, và 2/3 là cờ của Hoa Kỳ. Cờ vàng là ngọn cờ của bọn “đánh giặc thuê cho Mỹ” ông Kỳ đã chê từ lâu, còn cờ Hoa Kỳ thì ông Nguyễn Cao Kỳ không có quốc tịch Hoa Kỳ. Nhưng vì hai lá cờ này mà Việt cộng đã không cho tro than của ông Kỳ được mang về Việt Nam.

Cũng như trước đó, Việt cộng không cho tang lễ ông Nguyễn Cao Kỳ cử hành tại Việt Nam vì sợ đám đông hiếu kỳ, không có gì để chống đối “nhà nước ta” hơn bằng cách đi xem hay tham dự đám tang của một “thằng tướng ngụy” như trước đây, dân Saigòn đã “đi xem” đám ma của cô Thanh Nga hay 10 năm trước đây, “đi xem” đám tang của Trịnh Công Sơn.

Điều này có thể sẽ không xảy ra nhưng đối với Việt cộng thì ngừa trước thì vẫn hơn. Tóm lại, đây lại là một bài học dành cho các anh thích bắt tay với Việt cộng. Sống thì là những công dân hạng hai của chế độ, chết thì ... cũng chưa được làm công dân hạng bét.

Trước đây, nghe nói hoà thượng Thích Hạnh Đạo trụ trì chuà Phổ Đà ở Santa Ana, California đã nhận lời làm lễ cầu siêu và tro than của ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ được an vị ở đây. Chỉ tiếc là điều này chưa thực hiện được thì ngài đã viên tịch vào ngày 28 tháng 7, 2011.

Những vị thừa kế chuà này không dám quyết định vì ngại sự chống đối của Phật tử chống cộng sẽ ảnh hưởng đến sự trang nghiêm của chuà vì uy tín đạo hạnh và quá khứ chống cộng của các vị này không thể so với hoà thượng Thích Hạnh Đạo. (Tưởng cũng nên nhắc qua về tiểu sử của hoà thượng Thích Hạnh Đạo và sự liên quan mật thiết cuả ngài trong QLVNCH.

Trích chuadonghung.com
- Năm 1964 khi ngành Tuyên Úy Phật Giáo ra đời, Ngài tham dự và tốt nghiệp Khóa I Sĩ Quan Tuyên Úy Phật Giáo trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và được cử ra Vùng I làm Phụ Tá Tuyên Úy Quân Khu.
Sau khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập vào đầu năm 1964, từ năm 1964 đến năm 1967, Ngài đảm nhận chức vụ Tổng Thư Ký cho Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Quảng Nam Đà Nẵng.
- Từ năm 1966 đến năm 1968, Ngài được công cử làm Trụ Trì Chùa Báo Ân kiêm Tuyên Úy Trưởng tại Tổng Y Viện Cộng Hòa tại SàiGòn.
- Từ năm 1968 đến năm 1970, Ngài được thăng cấp bậc Trung Tá và đảm nhận chức vụ Chánh Sở Tuyên Úy Phật Giáo Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, văn phòng đặt tại Tỉnh Cần Thơ.
- Năm 1970, Ngài được cử đảm nhận chức vụ Giám Đốc Cơ Quan Viện Trợ CRS, là cơ quan viện trợ nhân đạo quốc tế của Hoa Kỳ.
- Từ năm 1970 đến năm 1975, Ngài về Trụ Trì Chùa Từ Tâm trong Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Đà Nẵng. Trong thời gian này Ngài cũng dạy học tại Phật Học Viện Phổ Đà, giáo sư Toán trường Trung học Bồ Đề Đà Nẵng và đảm nhận chức vụ Phó Đại Diện Nội Vụ trong Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Thị xã Đà Nẵng.
- Sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, cùng chung số phận với hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, Ngài bị Cộng Sản bắt bỏ tù từ năm 1975 cho đến năm 1985 mới được thả ra.
- 1995, ngài đến Hoa Kỳ trong diệân HO 19
(ngưng trích)

Qua tiểu sử trên chúng ta thấy rằng từ năm 1964 đến năm 1967, hoà thượng Thích Hạnh Đạo đảm nhận chức vụ Tổng Thư Ký cho Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Quảng Nam Đà Nẵng, thời kỳ mà ông Kỳ vẫn hãnh diện về tài “dẹp loạn miền Trung”. Ngài Hạnh Đạo biết rõ vì sao các chuà ở hải ngoại không muốn nhận làm lễ cầu siêu hay tro than của ông Nguyễn Cao Kỳ.

Nhưng ngài Hạnh Đạo đã dùng tâm từ bi chánh pháp của một tu sĩ Phật giáp để làm điều này. Chỉ tiếc là ngài qua đời trước khi tro than của ông Kỳ về đến chuà Phổ Đà. Hiện nay, có tin vì các chuà Việt Nam không muốn nhận “điều lành” này nên có thể người nhà ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ đưa ông vào chuà Tây Lai tức Hsi Lai của Phật giáo Đài Loan.

Thế mới biết định mệnh là ghê gớm thật. Thiếu tá Đăng văn Âu đã so sánh cái chết của ông Nguyễn Cao Kỳ với ông VõVăn Kiệt và cho rằng là do tình báo Trung Cộng dính dzô. Bây giờ chết tro than ông hàng ngày phải nghe kinh bằng tiếng Tàu thì thật là oan nghiệt.



*
Hai tuần qua, những ông “pro” thiếu tướng ra công bênh vực hay nhìn họ hàng với ông Nguyễn Cao Kỳ khiến người hiểu chuyện vừa thương, vừa tội nghiệp cho ông. Các ông này viết câu trên: “nghĩa tử là nghĩa tận” khuyên mọi người phải để cho người nằm xuống được yên; nhưng ngay bên dưới thì lại “phán” rằng “hãy để cho lịch sử phán xét” công và tội của ông Kỳ. Với Việt cộng, Nguyễn Cao Kỳ không thể so sánh với Võ văn Kiệt, thì với người quốc gia chống cộng, không thể so sánh Nguyễn Cao Kỳ với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam mà dùng câu nói “hãy để cho lịch sử phán xét” này được. Bối cảnh lịch sử của nền Đệ Nhất Cộng Hoà khi ông Nguyễn Tường Tam viết câu này trước khi tự sát và bối cảnh Việt Nam ngày nay dưới chế độ cộng sản và tư cách con người của Nguyễn Cao Kỳ thì không thể dùng câu nói này được.

Bởi vì một khi sự thật trắng đen quá rõ rệt thì “lịch sử” cần gì phải đắn do khi phán xét. The facts speak for itself. Đào Nương tôi không nhớ có phải ông sử gia Tư Mã Thiên là người đã viết câu này không:

Hầu hết sử gia đều là những mụ đàn bà lắm chuyện và thiển cận. Định kiến và quyền lợi khiến họ quên rằng viết sử không phải là viết tiểu sử, thành tích, mà là ghi nhận lại sự thật của sự kiện lịch sử một cách khách quan, trung thực, có phương pháp khoa học. Nó khác hẳn việc đánh giá sự kiện, sự thật ấy như thế nào, ra sao... vì đó là chuyện của người đời sau với những cái nhìn khác biệt, trình độ trí thức hay hậu quả của sự kiện này đối với đời sau. Chỉ một chuyện Kinh Kha sang Tần mà cũng đã để lại bao nhiêu là ý kiến khác biệt. Sử sách Tàu ghi rõ Kinh Kha là một kiếm khách tầm thường mà thái tử Đan vì lòng hoài vọng phục quốc cho nước Yên, chỉ cần nghe lời đồn đại mà mang về phụng dưỡng với hy vọng sẽ hành thích được vua Tần. Hai năm trời phụng dưỡng, tốn bao nhiêu tiền của, hy sinh cả đôi bàn tay của người thiếp yêu quý nhất, hy sinh cả một tướng quân Phan ô Kỳ để rồi khi việc không thành, thái tử Đan phải tuẩn tiết, người dân nước Yên bị đày đọa tang thương nhưng sử sách chỉ ghi nhớ chuyện Kinh Kha sang sông Dịch với một sứ mạng “đội đá vá trời” trong khi ông biết rõ hơn ai hết, tài trí và khả năng sánh sao được với bà Nữ Oa? Bao nhiêu ngàn năm sau, thi sĩ Vũ Hoàng Chương còn có những vần thơ ca tụng Kinh Kha:

Một nét dao bay ngàn thuở đẹp
Dù sai hay trúng cũng là dư
Kià uy dũng kẻ sang Tần không trở lại
Đã trùm lấn Yêu Ly, hề át Chuyên Chư
Ôi Kinh Kha
Hào khí người còn sang sảng
Nước sông Dịch còn trôi hay đã cạn
Chí anh hùng vằng vặc sáng thiên thu!


Chuyện Kinh Kha hành thích vua Tần mà còn như vậy thì chuyện ông Nguyễn Cao Kỳ đâu có gì để người sau phải bàn hay luận vì nó sáng vằng vặc như ban ngày. Có ba điều chung chung mà các ông “pro thiếu tướng” thường nêu ra mà Đào Nương tôi ghi nhận được:

- Lòng Yêu Nước của ông Kỳ.
- Sự nhường nhịn của ông Kỳ khi đồng ý đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu năm 1967.
- Tinh thần hoà giải dân tộc khi bắt tay với Việt cộng.

1. Về lòng yêu nước của ông Nguyễn Cao Kỳ:

Nhiều lần, các ông “pro thiếu tướng” viết về việc ông Kỳ là một người yêu nước, một nhà ái quốc. Khó có thể có một định nghĩa rõ ràng thế nào là lòng ái quốc nhưng nếu bảo rằng đó là những tình cảm dành cho quê hương thì không đủ. Vì chỉ như thế thì ai cũng có thể là “nhà ái quốc” cả. Ái quốc không phải là tình cảm thuần túy. Người ta chỉ xử dụng danh từ này khi một người có những việc làm hữu ích cho vận mệnh quốc gia và quyền lợi quốc dân. Vậy, muốn trở thành người ái quốc phải có óc hy sinh. Khi sơn hà cần đến, ta phải biết coi rẻtư lợi mà lo cho quyền lợi tổ quốc.

Đào Nương tôi ở Orange County sớm hơn nhiều người Việt tị nạn cộng sản. Hầu hết tướng lãnh của VNCH như trung tướng Ngô Quang Trưởng, trung tướng Lữ Lan, thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, những vị tướng mà Đào Nương tôi được quen biết thì không ai có được đến 50 đô la khi ra khỏi quê hương. Các vị này ai cũng phải bắt tay vào việc lao động kiếm tiền nuôi gia đình trên mảnh đất mới này và ai cũng im lặng sống đời của những vị tướng bại trận có liêm sỉ, giữ danh dự cần có của một kẻ sĩ khi phải chấp nhận đời sống lưu vong nơi xứ người.

Khi đọc điếu văn của cô MC Kỳ Duyên “ca tụng” cha cô trong sạch và vì vậy cuối đời ông không có nhiều tiền mà tôi thấy buồn cười. Sau 1975, từ những năm đầu tị nạn cộng sản, khi hầu hết mọi người tị nạn cộng sản ở Hoa Kỳ làm lương 3, 4 đô la một giờ thì ‘tướng Kỳ và phu nhân” đã là chủ nhân của một ngôi nhà to ở Huntington Beach, một tiệm liquor ở Santa Ana. Vì những mối liên hệ mà Đào Nương tôi không muốn nhắc đến, Đào Nương tôi đã được chứng kiến những tiệc to, tiệc nhỏ ở tư gia của tướng Kỳ. Chẳng phải tự nhiên mà bà Đặng Tuyết Mai nổi tiếng tại những sòng bạc ở Las Vegas. Bà Đặng Tuyết Mai còn khai trương cửa hàng bán thời trang loại sang có tên La Pasisienne trong Westminster Mall. Những chuyện làm ít, ăn nhiều, chơi nhiều của ông bà tướng tăng theo với những xì căng đan càng lúc càng nhiều không còn dấu ai được nữa khi bà tướng tự tử ở Manilla, rồi chuyện bà Marcos bị lưu vong giao nữ trang nhờ bà tướng giữ dùm rồi bà tướng bán luôn, rồi chuyện ông tướng qua Louisiana nhờ thuộc cấp giúp đỡ mở vựa bán tôm.

Mỗi nơi, mỗi thời, anh em Không Quân, những bà “nhỏ” được làm quen với bà tướng bị mất mỗi người một ít mà ai cũng phải ngậm bồ hòn với bên ngoài, chỉ nói cho nhau nghe. Nói theo lời của một học giả có họ với bà tướng thì đó là một gia đình dột từ trên nóc dột xuống, không còn gì đáng để đề cập đến nữa.

Khi ông Nguyễn Cao Kỳ bỏ bà Đặng Tuyết Mai lấy “người cũ” làm “vợ mới” thì coi như ông Kỳ không còn chỗ dung thân ở nơi này.

Ai cũng biết điều này. Do đó, nếu còn thương và nghĩ đến ông Kỳ xin các ông “pro thiếu tướng” đừng ép người khác phải khui ra những cái hủ mắm “khó ngửi” này ra nữa. Khi ôâng Kỳ song hành vừa mở đường cho vợ mới kiếm cơm ở Việt Nam, vừa mở miệng chê những chiến binh VNCH trong đó có cả ông ta là “bọn lính đánh thuê” thì không biết nhà ái quốc này còn gì để hy sinh cho tổ quốc Việt Nam? Khi không còn tất cả danh dự, tài sản, đạo đức?

Đào Nương tôi nghĩ rằng, trong 10 năm qua, nếu những đàn em KQ của ông Kỳ đừng chán chê ông ta quá, vẫn cho ông ta những chỗ đi về, và những nhà hàng ở đường Bolsa vẫn còn cho ông Kỳ một chỗ ngồi không phải trả tiền thì liệu chúng tôi có phải nghe những điều chướng tai gai mắt làm ô nhục cả một binh chủng nói riêng và cả một quân đội nói chung hay không?

Do đó, yêu nước một cách thực tế nhứt theo Đào Nương tôi nghĩ vẫn là làm những công dân tốt, những công dân chu toàn các bổn phận hàng ngày, thượng tôn pháp luật, đào luyện về thể xác, tinh thần, đạo đức, xã giao... dù ở trong hay ngoài quê hương cũng vậy. Yêu nước không phải là sống bám vào đàn em và khi không còn sống bám được nữa thì cho “chúng” đi chung một xuồng “đánh thuê cho giặc Mỹ” một cách vô liêm sỉ như vậy được.

2. Về sự nhường nhịn của ông Kỳ khi đồng ý đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu năm 1967:

Sau hội nghị tại Honolulu, ông Bunker thay ông Henry Cabot Lodge làm đại sứ Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam và việc đầu tiên của ông Bunker là loại ông Kỳ trong chức vụ lãnh đạo miền Nam Việt Nam vì ông Bunker nhìn thấy khả năng cuả tướng Kỳ và sự sai lầm của tướng Westmoreland trong việc hổ trợ tướng Kỳ. Các tướng lãnh miền Nam VN không còn ai ủng hộ ông Kỳ. Con đường đứng chung liên danh với ông Thiệu là một ân huệ mà Hội Đồng Tướng Lãnh dành cho tướng Kỳ để vớt vát thể diện cho tướng Kỳ và để tránh cho các ông KQ nổi loạn chứ không phải là quyết định hay chọn lựa “giải pháp đoàn kết” của tướng Kỳ. Trước khi để “lịch sử nhận định” thì chúng ta phải ghi lại sự kiện lịch sử cho đúng đã. Đó là những sự kiện lịch sử cận đại mà nhiều nhân chứng còn sống để chúng ta kiểm chứng. Đừng lộng ngôn ca tụng những điều không phải, không đúng vì khi làm như vậy, chính các ông đã mở cửa cho những người trẻ tuổi, những sĩ quan cấp dưới làm nhục ông Kỳ thêm hơn nữa.

Trước 1975, ông Nguyễn Cao Kỳ đã từng làm tướng, làm lãnh tụ mà không bảo vệ được lãnh thổ của VNCH, cái tội đó ông chưa trả lời được. Sau 1975, làm một vị tướng lưu vong đã không biết tu thân, tề gia, cuối đời lại không biết nhục mà còn mở miệng đòi trị quốc, bình thiên hạ thì quả thật là mục hạ vô nhân. Làm một vị tướng bại trận ít ra cũng nên biết giữ gìn thể diện để còn được sự kính nể của người dân hay thuộc hạ. Vận nước Việt Nam không may, thế cờ chính trị đã đưa chúng ta đến nơi này, không ai trách gì ai cả vì tướng cũng như dân đều có tội như nhau khi để nước mất vào trong tay giặc. Sau 36 năm, sơn hà đang nằm bên bờ vực thẳm, một bọn cướp ngày đang manh tâm bán rẻ đất nước cho ngoại bang.

Năng lực người Việt hải ngoại không dồn để tiêu diệt bọn chúng mà còn bận tâm đến phường giá áo, túi cơm chạy theo bọn cướp ngày này để làm gì? Khi không còn bám vào cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản thì quay đầu chạy về nước lạy lục với kẻ thù để hy vọng có được một chỗ dung thân nên đến chết vẫn không được yên thì cũng là điều dễ hiểu.

3. Về tinh thần hoà giải dân tộc của ông Nguyễn Cao Kỳ khi bắt tay với Việt cộng:

Đất nước Việt Nam ngày nay đã không còn là đất nước Việt Nam của 36 năm về trước. Thế giới ngày nay cũng không còn là thế giới của 36 năm về trước.

Năm 2004, ông Nguyễn Cao Kỳ theo vợ mới về Việt Nam với một hành trang rổng không. Công việc của ông Ky,ø nếu dùng chữ nghĩa một chút, thì là người dẫn đường, nôm na hơn thì là kẻ dẫn mối cho bọn tài phiệp Mỹ về mở sân chơi golf tại Việt Nam. Hiện nay, chúng ta đã biết sự thật đàng sau những “dự án” này. Để xây dựng một sân golf thì Việt cộng đã phải giải toả biết bao nhiêu nhà, cướp biết bao nhiêu đất của dân nghèo mà dù cho có đền bù thì cũng chẳng bao giờ thỏa đáng! Bằng chứng là có biết bao nhiêu vụ khiếu kiện của dân chúng mà không hề được giải quyết.Việt Nam cần phát triển về kỷ nghệ để có công ăn, việc làm cho dân chúng chứ không cần sân golf. Trong hành trang của ông Kỳ khi dẫn Mỹ về Việt Nam có một dự án kỷ nghệ nào không? Hoàn toàn không?

Đó là về kinh tế. Về chính trị, ông Nguyễn Cao Kỳ có gì để hoà hợp “dân tộc’ với bọn Việt gian cộng sản? Cái chúng cần là uy tín, là khả năng lãnh đạo cộng đồng người Việt hải ngoại thì ông Kỳ hoàn toàn không có. Thế thì chúng, những tên tư bản đỏ, những tên tỷ phú đô la do những đồng tiền ăn cướp của dân, sẽ hoà hợp gì với một anh tướng bại trận, nghèo kiết xác?

Cờ đến tay một người không có khả năng thì không những chỉ hại cho bản thân người ấy, cho gia đình người ấy mà còn là một nguy hại dài lâu cho đất nước. Tin giờ cuối nghe được thì gia đình ông Kỳ đã để tro cốt của ông Kỳ ở nghĩa trang Rose Hills vì không biết để đâu. Nghe mà tội. Đến chết thì tướng Kỳ được nhiều người viết bài nhận là anh, là bạn, ca tụng ông là nhà ái quốc khiến những điều không hay về cá nhân ông được dịp phô bày.

Hy vọng sau bài viết này, Đào Nương tôi sẽ không phải trở lại “đề tài” này. Xin các ông hãy để cho “nhà ái quốc” của các ông được yên nghỉ. Ít ra, khi nằm xuống, ông Nguyễn Cao Kỳ nhìn sao trời, ông Kỳ sẽ có dịp ngẫm nghĩ về ba chữ tổ quốc, danh dự và trách nhiệm mà khi còn sống, ông ta đã lãng quên!

Đào Nương
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Chừng Nào Tới VN Đây?

Vi Anh
Theo Báo Thanh Niên trong nước cho biết “vào ngày 6.8, lãnh đạo Sở Lao Động –Thương Binh –Xã Hội tỉnh Cà Mau cho biết, trên công trình Nhà máy đạm Cà Mau (… thuộc xã Khánh An, Huyện U Minh) hiện có hơn 1.000 công nhân Trung Quốc lao động không phép.”

Ở một tỉnh tận cùng của VN, ở một huyện hẻo lánh như U Minh mà người Tàu vào sống và làm việc như thế. Huống hồ gì những tỉnh gần TC hơn! So chiếu với tình hình một quốc gia dân tộc Hồi giáo Đông Turkestan, cụ thể là khu tự trị Tân Cương bị Trung Cộng Hán hoá mà lo sợ cho Việt Nam.

Nếu người Việt không đứng lên bảo vệ quốc gia dân tộc VN mà để cho CS Hà nội thông đồng với CS Bắc Kinh gậm nhấm lần lần giang sơn gấm vóc Việt Nam, cào bằng văn minh Việt Nam bằng cách Hán hoá thì:

“Bắc Kỳ sau hoá ruộng sâu, Tàu man nó đến giăng câu đặt lờ. Saigon, Gia định ai ngờ, Nước đâu mà chảy tràn bờ lở cây,”


như lời Đức Huỳnh Giáo Chủ, khai sáng tôn giáo Phật Giáo Hoà Hảo trong lòng dân tộc Việt, phát động tinh thần dân tộc Việt giành độc lập, chống xâm lăng.

Nếu người dân Việt không chống TC và tay sai bây giờ thì không còn cơ hội nữa. Khi còn có thể làm được một cái gì đó cho quê cha đất tổ VN, mà không làm, lại ngồi chờ thời, đến lúc TC liên kết chặt được với thù trong là thành phần của CS Hà nội làm tay sai cho TC với giặc ngoài là CS Bắc Kinh, kẻ thù xâm lược và cai trị VN ba lần, cộng cả thảy là 1000 năm trong dòng lịch sử 4000 năm của VN – thì VN bị Hán hoá trầm trọng, thê thảm; người dân Việt sẽ bị mất quê hương ngay trên quê cha đất tổ của mình một cách vĩnh viễn.

Y như hay còn tệ hơn người Duy ngô nhĩ [DNN] ở Tân Cương và người Tây Tạng ở Tây Tạng đã và đang bị TC cào bằng văn hoá dân tộc và thay vào đó một nền văn hoá Tàu, một cách nghiệt ngã như bây giờ.

Lúc đó nếu muốn không mất gốc, giữ cội nguồn, dân tộc tính và bản sắc văn hoá VN, người dân Việt phải cảm tử, đổ máu như người dân DNN ở Tân Cuơng, sẽ từ chết tới bị thương nhưng cũng khó tránh khỏi bị TC cào bằng văn hoá dân tộc và Hán hoá.

Như tại cái TC gọi là khu tự trị Tân Cương, người DNN phải nổi dậy chống TC Hán hoá liên tục. Tháng 7/2009 tại thành phố Ô Lỗ Mộc Tề (Urumqi), thủ phủ Tân Cương, 200 người chết. Ngày 18 tháng 7 rồi, ở thành phố Hòa Điền phía nam Khách Thập, có 18 cảm tử quân bị công an TC giết khi tấn công một bưu điện nhà nước. Rồi ngày 30/7, tại Khách Thập là một thí dụ điển hình TC đã và đang Hán hoá người DNN phải đổ máu chống lại.

Thành phố cổ Khách Thập của người DNN thuộc nước Đông Turkestan nằm trên đường Tơ Lụa trứ danh ngày trước, là một trong những điểm hội tụ văn hóa, một cổ tích liệt hạng lịch sử của tộc người Duy Ngô Nhĩ Hồi Giáo gốc Thổ Nhĩ Kỳ sống trong một quốc gia gọi là Đông Turkestan . Đông Turkestan bị TC chiếm lấy dưới danh nghĩa giải phóng từ những năm 1950. TC đổi tên thành Tân Cương một tỉnh của TC từ những năm 1950. Bắc Kinh buộc đổi giờ theo múi giờ của Bắc Kinh [có lúc Hà nội cũng làm thế].

Tin báo Le Monde, đêm 30/07/2011 mới đây tại Khách Thập hai người DNN cảm tử đâm chết 8 người và bị thương 28 người khác phần lớn là người trong lực lượng an ninh, có cả người Hán và lẫn người DNN. Hai người cảm tử một chết, một bị bắt. Theo tổ chức DNN ly khai, trước vụ tấn công này, có người nghe thấy hai tiếng nổ, từ phiá chợ và từ một chiếc xe van.

Trước vụ này hai tuần, nhiều người xung đột và tấn công vào trụ sở công an ở Hòa Tân đã làm 20 người thiệt mạng”. Theo Tổ chức người DNN ly khai khẳng định chính công an đã đánh chết 14 người DNN và bắn chết.

Kể từ năm 2009 tới nay, hơn 200 người đã thiệt mạng trong các cuộc xô xát giữa hai nhóm người Hán thân TC và người DNN ly khai.

Hầu hết các cuộc xung đột này, TC ỷ cả vú lấp miệng em, gieo tiếng oán cho người DNN là, quân khủng bố. Truyền hình của TC lên án cuộc xung đột này là do quân khủng bố muốn “chia rẽ” tình thân giữa người Hán và người DNN, kêu gọi “đoàn kết, thống nhứt”. Mà thiểu số đoàn kết thông nhứt với đa số Hán theo kiểu TC, tức là đồng hoá mất thực thể, mất dân tộc tính và bị cào bằng văn hoá dân tộc của sắc tộc thiểu số rồi.

Thực ra người Hán mà Bắc Kinh đã cho và đưa đến định cư hàng hàng lớp lớp ở Tân Cương đã chia rẽ với người DNN lâu rồi. Tổ chức bảo vệ nhân quyền thế giới đã hơn một lần vạch trần và tố cáo âm mưu của CS Bắc Kinh chụp mũ người Duy ngô nhĩ chống Hán hoá là khủng bố.

Bắc Kinh thường dùng xảo thuật, ra lịnh thiết quân luật ở Tân Cương để cấm truyền thông quốc tế đến đây và cấm các cuộc tụ tập của người DNN.

Nhưng cây kim dấu trong túi cũng có ngày lòi ra. Phóng sự điều tra của nhà báo Pascale Nivelle, thông tín viên của báo Liberation của Pháp tại TC từ 12/09/2009 đã cho thấy rõ tại sao người DNN cảm tử chống Bắc Kinh, tại thành phố Kashgar nơi mới đây xảy ra cuộc chiến đấu cảm tử của hai người DNN.

Tại Kashgar, TC đã lâu rồi ra lịnh tiêu hủy tất cả những kiến trúc cồ truyền, bản sắc của dân tộc DNN để xây dựng lên một thành phố “hiện đại” nhưng vô hồn như bao nhiêu thành phố khác với nhà lầu như những cái hộp giống nhau để bên cạnh nhau.

Tác giả hỏi độc giả Pháp nếu Đức Quốc Xã ra lịnh triệt hạ Tháp Eiffel với lý do để tránh sấm sét, thì người Pháp nghĩ sao. Câu hỏi tự nó đã nói lên chánh nghĩa của một cuộc chiến tranh chống cào bằng văn hoá, không những cho dân tộc Pháp mà cho bất cứ dân tộc nào, trong đó có dân tộc DNN.

Dù người DNN biết chống quân Tàu Hán hoá là châu chấu đá xe, sẽ từ chết tới bị thương nhưng cũng phải làm. Người dân phải liều chết cho văn hoá dân tộc sống. Nếu không làm thì trong vòng một hai năm CS Bắc Kinh nhơn danh an ninh, nhơn danh nguy cơ động đất sẽ cào bằng hết nền văn minh của thành phố di tích này.

Nên người DNN sẵn sàng chết để Tổ Quốc Đông Turkestan hy vọng sống, tranh đấu, chiến đấu không ngừng nghỉ, không mệt mỏi suốt hơn nửa thế kỷ sau khi TC đã chiếm lập thành tỉnh Tân Cương.

TC lợi dụng cả thiên tai để triệt hạ nền văn minh DNN. TC tuyên bố Kashgar nằm trong vùng động đất, bị nguy cơ động đất và bỏ 3 tỷ nhân dân tệ để “ hiện đại hoá”. Qui hoạch này tàn phá tất cả những căn nhà một tầng từng làm cho Con Đường Tơ Lụa thêm sầm uất, thêm sắc thái Hồi với những buổi kinh cầu nguyện hàng ngày.

40 nhà thờ Hổi Giáo xưa cả 2000 năm và hàng ngàn ngôi nhà xưa cả ngàn năm bị san bằng mất dấu tích. Và thay vào đó là những căn nhà mới của người Hán mới di cư đến, những rạp chiếu bóng, rạp hát, tiệm buôn ôn ào, náo nhiệt. Các cơ sở thương mại theo kiều người Tàu mọc lên như nấm tư năm 2003 sau khi CS Bắc Kinh mở đường sắt đến đây.

Kashgar không phải là trường họp bị Hán Hoá duy nhứt. Mà hầu hết các thành phố vùng gọi là tự trị như Tân Cương, Tây Tạng đều chịu chung số phận nạn nhân của cuộc cách mạng văn hoá của Mao Trạch Đông.

Tàn phá cái cũ đượm màu sắc, dáng dấp của các dân tộc không phải là Hán là chính sách của CS Bắc kinh nhơn danh đồi mới kinh tế, tỷ lệ tăng gia hai con số. Chuyện cũng dễ hiểu có đập phá, xây cất, có làm thì cán bộ, đảng viên mới có ăn, mói rút ruột được công trình, và thu vén cuối đời như TT CSVN Võ văn Kiệt nói.

Ổ vùng thực dân kiểu mới như Tân Cương, Tây Tạng, CS Bắc Kinh càng Hán hoá mạnh.

Với tình hình CS Hà nội trấn áp người dân VN biểu tình chống TC xâm lược, không muốn cho người dân biết nguy cơ VN bị mất nước vào tay TC, người dân VN lo không biết chừng nào VN bị Hán hoá như Tân Cương đây./.

( Vi Anh)
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Image

Viết Một Đoạn Về ông Nguyễn Cao Kỳ:
Sự Phẫn Nộ Trước Hình Ảnh Chung Hàng


Tôn Nữ Hoàng Hoa
Viết một bài đang nằm trong thể thức chôn vùi, mọi người ai ai cũng mang cái cảm tưởng nghĩa tử là nghĩa tận. Nhưng cái mà không nghĩa tử là nghĩa tận đó chính là cái dư luận của quần chúng.

Dư luận vẫn tiếp tục trên hai chiều đồng và dị về những công việc thuộc về nửa đời sau của một nhân vật đã từng là một trong những vị lãnh đạo của Chính phủ VNCH.

Trên dòng cảm xúc dị đồng đó, đương nhiên sẽ có những tranh luận xảy ra để bảo thủ ý kiến và sự suy nghĩ của mình.

Nhưng hôm nay qua sự hiện diện của hai tên phó lãnh sự của Toà Tổng Lãnh sự Việt Cộng tại San Francisco lẫn lộn trong hàng tướng tá VNCH tại buổi tiễn đưa hài cốt của ông Nguyễn cao Kỳ đã làm con dân VNCH phẫn nộ

Đọc cái tựa trên Blog của mauthan68 hôm nay: TỔNG LÃNH SỰ VIỆT CỘNG SFO ĐẾN GIẢ BỘ VIẾNG MẤY KÍ TRO CỦA NGUYỄN CON KY LÀ MỘT DANH DỰ CHO GIA ĐÌNH ĐĨ ĐIẾM DÒNG HỌ NGUYỄN CON KY -

NHƯNG LÀ MỘT NỖI NHỤC LỚN LAO CHO CỰU QN/QLVNCH và CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN NÓI CHUNG TOÀN THẾ GIỚI./- Mt68, đã làm chúng tôi buồn bã trong nỗi nhục chung của con dân VNCH .

Cái buồn lẫn trong sự phẫn nộ đó mà hơn một lần chúng tôi bắt gặp trong buổi biểu tình chống VC Nguyễn Tấn Dũng đến Houston ngày 26 tháng 6 năm 2008 là hình ảnh đứng xớ rớ tay cầm lon bia Budweiser trong cái áo xám bạt màu của ông Nguyễn Cao Kỳ giống như hình ảnh những tay bạc thất cơ lở vận đứng xớ rớ bên những canh xì phé tại các sòng bài casino.

Trong khi những tiếng đã đảo vang dậy đã đánh thức cả một góc trời của Houston đang còn mơ màng trong giấc ngủ. Những lá cờ Vàng tung bay dưới những tàng cây Oak cao và thẳng của khu vực Galleria cho thấy khí thế của Người Việt tỵ nạn CS tại Houston bừng bừng dâng cao như sóng nuớc vỡ bờ đê.

Những tiếng hô nhịp nhàng đả đảo Việt Gian Cộng Sản. Đả đảo VC Nguyễn Tấn Dũng. Nguyễn tấn Dũng go home. Down with communist...Đả Đảo..Đả Đảo Nguyễn tấn Dũng..Down down with Communist ...Thì bên kia của lề đường, bên kia bờ khí thế dâng cao chống VGCS là hình ảnh khúm núm của ông Nguyễn Cao Kỳ Cựu Phó Tổng Thống VNCH. Ôi còn nỗi đau nào hơn! Còn nỗi nhục nào hơn!

Ngay chính lúc đó chúng tôi có cảm tưởng như đang bị nhận chìm vào hư không, không gợn trong lòng một nỗi cảm xúc nào ngoài một cảm giác tê đắng hụt hẫng. Cái cảm giác của một màu tang trắng hay cái cảm giác thống hận biệt ly trên những cuộc vượt thoát lánh nạn Cộng sản đầy đoạn lìa, chua xót bi thương. hay bên bờ rừng thắp nén nhang cúng vái người thân yêu đã chết dưới bàn tay thâm độc của Việt Gian CS. Những nén nhang tưởng niệm vọng tưởng người thân bị vùi lấp thân xác không mộ bia để cuối cùng nhìn thấy hình ảnh xớ rớ của một người lãnh đạo bên chén thù chén tạc của bọn phi nhân VGCS

Ai bên kia đường đã cho chúng tôi nhục nhã trong nỗi bi thương hoài niệm ngày tháng cũ. Ai bên kia đường đứng xớ rớ chầu rìa trước một hoàn cảnh tương phản để cho chúng tôi nửa khóc nửa cười trên cuộc chiến tiếp tục dòng màu đấu tranh của cha ông trên con đường giãi thể chế độ Cộng sản tại VN.

Nếu có vị nào đã hơn một lần lớn tiếng cho rằng ông NCKỳ vì dân vì nước về VN kêu gọi hoà hợp dân tộc là yêu nước thì quí vị có nghĩ yêu nước có cần phải làm NHỤC CHO CON DÂN VNCH KHÔNG?

Yêu nước là làm vinh quang cho đất nước là giữ vững giang sơn do cha ông đã dày công xây dựng. Chứ yêu nước như ông Nguyễn cao Kỳ là sự yêu nước của kẽ đầu hàng khuất mặt liêm sĩ, là kẽ bước ra khỏi lằn ranh Quốc/Cộng mà ông đã hơn một lần mài võ sơn đông BẮC TIẾN. Chính cái bước ra khỏi lằn ranh Quốc Cộng để về VN lơ láo trước hàng thần của VGCS là Nguyễn cao Kỳ đã tỏ rõ hành vi VÔ HIỆU HOÁ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG VGCS TẠI HẢI NGOẠI của Quân dân VNCH và của cha anh đã hy sinh cho cuộc đấu tranh này.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ông Ngô Kỹ trong bài viết :Tổng lãnh sự CSVN Dự Tang Lễ Nguyễn cao Kỳ tại Rose Hills , mà trong đó có đoạn như sau: (Trích)

Điều tàn nhẫn và tán tận lương tâm hơn thế nữa, Bắc Bộ Phủ không bỏ rơi cái xác chết Nguyễn Cao Kỳ khi chúng nghĩ rằng vẫn còn giá trị để khai thác, chính vì vậy mà "nhà nước" đã chỉ thị cho hai Phó Tổng lãnh sự Trần Như Sơn và Lê Thu Hà bằng mọi cách, bằng mọi giá phải hiện diện cho được trong cái ngày lễ tưởng niệm và cầu siêu của ông Nguyễn Cao Kỳ. Sau bao năm thất bại trong kế hoạch triển khai Nghị quyết 36 tại hải ngoại, cái chết của ông Nguyên Cao Kỳ quả là một cơ hội ngàn vàng để bọn cộng sản có cớ xuất hiện trước tập thể người Việt chống cộng một cách “danh chính ngôn thuận” mà không bị đả đảo hay “trầy da tróc vảy" gì cả. Nói theo ngôn ngữ “Không Quân” thì cộng sản nhờ cái chết của ông Nguyễn Cao Kỳ mà chúng được “hạ cánh an toàn” ngay giữa lòng cộng đồng chống cộng hải ngoại tại Hoa Kỳ.

Chiêu thức mà hai phó tổng lãnh sự cộng sản về tận Rose Hills để “hòa hợp hòa giải” với cái xác chết Nguyễn Cao Kỳ là một sự tính toán đầy hiểm độc, khiến cho phía người Quốc Gia lãnh chịu nhiều thiệt hại, mà kẻ góp phần trong sự thua thiệt đó chính là Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Đại Tá Nguyễn Quốc Hưng, Trung Tá Đào Minh Ngọc, Trung Tá Lê Mộng Hoan, Trung Tá Lê Thành, Trung Tá Trần Mạnh Khôi, Thiếu Tá Phạm Đình Cung,,., và toàn thể những người tham dự buổi lễ. Là những chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa các cấp, hay những người dân tị nạn cộng sản, khi thấy sự xuất hiện và trà trộn của các nhân vật cộng sản như hai Phó Tổng lãnh sự Trần Như Sơn và Lê Thu Hà, mà không biểu lộ một phản ứng đối kháng nào cả là một điều khó hiểu và đáng trách vô cùng. Nếu vì đang tham dự lễ mà không có các hành động tẩy chay tích cực, thì ít ra cũng nên thông báo cho tang gia biết rõ sự bất bình, rồi sau đó bỏ ra về. Hành động mà quý vị tướng lãnh, các sĩ quan cao cấp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và những người có mặt vẫn tiếp tục ngồi lại với cộng sản thì tôi cho rằng đó là điều bất xứng, chứng tỏ trình độ chính trị thấp kém, thiếu sự uy dũng và lập trường Quốc Gia không được vững vàng. ( Hết trích)


Không biết trong đám đông người thăm viếng và tiễn đưa Nguyễn Cao Kỳ về thế giới bên kia những vị tướng, tá của Quân Lực VNCH có ngẫn ngơ nhìn nhau khi thấy sự hiện diện của hai tên VC tại Toà Lãnh Sự VC tại San Francisco hay không? Và có một thoáng nào quí vị có thấy nhau trong những đêm dài vực thẵm trên những rừng núi thâm u mà VC đã nhận chìm sĩ khí của quí vị vào chốn bùn nhơ

Và cũng thoáng nhìn những tên VC Trần Như Sơn Lê Thu Hà trong tư thế cầm nén hương tưởng niệm quí vị có để lòng một chút hoài niệm về một góc đời âm u tủi nhục khi bị bọn VC đày đoạ Quân Cán Chính VNCH trong những lao tù CS.

Cái gì đã làm quí vị quên đi ngày tháng cũ. Cho dù quí vị quên đi ngày tháng cũ thì xin hãy nhìn thẳng vào cuộc đấu tranh hôm nay của thế hệ tiếp nối không chấp nhận đứng chung hàng với VGCS dù dưới một hoàn cảnh nào.

Trong khí phách của mầm non đang trưởng thành trên ý chí tiêp tục cuộc đấu tranh chống VGCS của ông cha, xin quí vị đừng vì tiếng gọi mê hồn của mỹ nhân ngư mà làm buông xuôi những tấm lòng thuỷ thủ đang trên biển cả sóng dồi. Đừng vì yếu điễm chiến thuật nghĩa tử là nghĩa tận mà để lại hình ảnh chung hàng làm ngẫn ngơ những thanh niên thế hệ hôm nay đang quyết tâm chung bóng cờ Vàng để giãi thể chế độ của Cộng sản tại Việt Nam .

Một ông Nguyễn cao Kỳ cũng đã lấp đầy nỗi nhục chung, một nỗi xót xa hụt hẫng tê đắng trước hành vi vô hiệu hoá cuộc đấu tranh chống VGCS trên chiều dài của dân tộc Việt.

Do đó sự chấp nhận trong im lặng của quí vị trong việc đứng chung hàng với hai tên VC Trần Như Sơn Lê Thu Hà không những chỉ làm tổn thương tập thể Người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại mà còn tổn thương chung đến những người dân trong nước đang ngày đêm đấu tranh để chấm dứt chế độ Cộng sản tại Việt Nam.!!!

Tôn Nữ Hoàng Hoa
8/11/2011
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Trung Quốc lên lớp Mỹ

Ngô Nhân Dụng
Hậu sinh khả úy, người sinh sau có khi giỏi hơn người sinh trước. Nhưng ít chúng ta thấy một người trẻ lên tiếng dậy bảo người già giầu kinh nghiệm sống hơn mình.

Nước Mỹ đã sống trong kinh tế thị trường từ mấy thế kỷ nay; có thể nói đã từng trải với hàng trăm chu kỳ kinh tế khi lên khi xuống. Trung Quốc mới học tập làm ăn theo lối thị trường được chừng ba mươi năm, và cũng chỉ chịu học có một nửa thôi, chưa áp dụng hết bài bản. Cho nên khi chính quyền Trung Quốc có lời dạy khôn chính quyền Mỹ về tài chánh, đó là một chuyện lạ đáng chú ý.

Số là sau khi công ty thẩm lượng tín dụng S&P hạ thấp điểm của chính phủ Mỹ từ AAA xuống AA+, Tân Hoa Xã đã dẫn lời của một viên chức Trung Hoa nói rằng: “Chính quyền Mỹ nên nhận thức 'những ngày vàng son'... của họ đã chấm dứt rồi.” “Những ngày vàng son” nói đây là thời gian chính phủ Mỹ tha hồ đi vay nợ để tha hồ chi tiêu. Họ khuyên chính phủ Mỹ nên “cai bệnh ghiền nợ” và chấm dứt những cuộc cãi lộn chính trị “thiển cận.” Và họ cũng nhắc lại ý kiến mà Bắc Kinh đã nói từ năm ngoái, là thế giới cần có một đồng tiền dự trữ khác thay thế cho đô la Mỹ.

Tân Hoa Xã là một tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Những ý kiến họ nêu ra chắc hẳn đã được Bộ Chính Trị duyệt y. Và phải nói là họ đưa ra những điều đúng sự thật và rất đáng nghe. Một sự thật là chính phủ Mỹ, và cả dân Mỹ, đã vay nợ nhiều quá; chắc chắn nên tốp bớt lại. Nhưng Bắc Kinh còn nhân dịp này lên tiếng với tư cách một “chủ nợ” đang cầm trong tay nhiều “giấy nợ” do chính phủ Mỹ phát hành. Họ bảo: “Trung Quốc có đủ thẩm quyền để yêu cầu Hiệp Chúng Quốc giải quyết những vấn đề có tích cách cơ cấu về nợ nần của họ để bảo đảm (họ gọi là đảm bảo) những chứng khoán bằng đồng đô la Mỹ.”

Nghe đến đây, nhiều người coi là họ đang dọa dẫm. Khi một ông chủ nợ dọa con nợ, chắc chắn lời hăm dọa phải có trọng lượng. Con nợ nào cũng phải lo sợ: Lỡ ông ấy không cho mình vay tiền nữa, hoặc bắt phải trả hết nợ ngay lập tức thì sao? Ðó chính là điều chúng ta nên phân tích.

Trước hết, trong kinh tế thị trường phải phân biệt hai loại nợ nần. Một, quý vị có thể đến ngân hàng vay tiền. Họ sẽ đặt ra những điều kiện trả lãi, đáo hạn thì trả hết vốn. Ðó là việc riêng giữa người vay và nhà băng, người đi vay cứ kỳ kèo mặc cả sao cho có lợi nhất. Không trả được tiền lãi đúng hẹn thì vỡ nợ.

Còn một cách thứ hai, là dùng thị trường tài chánh. Quý vị có thể phát hành những trái phiếu, trong đó chính quý vị đặt ra những điều kiện trả lãi và trả vốn, thí dụ trả 5% mỗi năm, trong mười năm thì trả hết vốn, không bao giờ thay đổi. Khi quý vị trả lãi, trả vốn đầy đủ thì không ai làm gì được. Lãi suất cao hay thấp tùy theo mức rủi ro của người phát hành; càng nhiều rủi ro thì thị trường càng đòi mức lời cao hơn. Bình thường, khi điểm tín dụng của công ty bị hạ thấp là người cho vay sẽ đòi mức lời cao hơn, vì rủi ro hơn.

Thị trường là chỗ công cộng, ai có tiền cứ việc tham dự. Người nào mua trái phiếu, trở thành chủ nợ của người phát hành. Nhưng các chủ nợ này không giống ngân hàng. Vì ai thích thì vào mua, không có chuyện kỳ kèo mặc cả trực tiếp với con nợ. Chủ nhân một trái phiếu có thể khi cần tiền thì đem bán. Giá bán cao hay thấp hơn lúc mua tùy theo lúc bán lãi suất trên thị trường đang hạ xuống hay đang lên cao so với lãi suất khi phát hành. Khi lãi suất hạ thấp thì các trái phiếu đều lên giá, và ngược lại. Chuyện một chủ nhân trái phiếu phải bán giá thấp hơn khi mua (lỗ), hay bán được với giá cao hơn (lời), kẻ phát hành trái phiếu không cần biết đến. Nhưng một công ty phát hành trái phiếu thường phải lo bảo vệ giá trị nó, nếu công ty làm ăn kém, điểm tín dụng bị hạ thấp, thì giá trái phiếu của họ sẽ xuống giá, vì nó rủi ro hơn. Ngược lại, nếu công ty được tín nhiệm hơn, giá trái phiếu sẽ tăng vì người mua tín nhiệm đòi mức lời thấp hơn. Giá trái phiếu lên xuống ngược chiều với mức lời mà người mua đòi hỏi.

Vay trên thị trường bằng cách phát hành trái phiếu (chính phủ vay thì gọi là trái phiếu công, hay công trái, hoặc công khố phiếu) khác với cách vay ở ngân hàng là như vậy. Cho nên việc chính phủ Mỹ khác với trường hợp chính phủ Hy Lạp đang nhờ Ngân Hàng Trung Ương Aạu Châu (ECB) cứu giúp; hay việc chính phủ Nga nhờ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu trước đây. Nga và Hy Lạp đều đóng vai con nợ tới ngân hàng vay tiền. Họ phải chịu nghe lời nhà băng đòi hỏi thế này, thế nọ, để bảo đảm sau sẽ trả được nợ. Còn chính phủ Mỹ chỉ đi vay trong thị trường, ai không muốn cho vay thì đừng tham dự chứ không đặt điều kiện nào cả. Miễn là người ta còn tin con nợ sẽ có tiền trả, là người ta cho vay.

Trung Quốc đang giữ trong nhà các trái phiếu của chính phủ Mỹ (công trái) trị giá hơn một tỷ đô la. Nếu muốn, họ cứ việc đem ra bán hết trên thị trường. Hoặc họ cứ chờ, mấy tháng lại nhận được tiền trả lãi, đến ngày đáo hạn thì được trả vốn. Nếu bây giờ Trung Quốc đem rất nhiều công trái chính phủ Mỹ ra bán thì sao? Tất cả các giấy nợ của chính phủ Mỹ sẽ xuống giá ngay lập tức. Hậu quả là chính Trung Quốc sẽ mất tiền. Nhưng đó không phải là phiền chính. Ðiều quan trọng hơn là sau khi bán họ sẽ mang tiền đầu tư vào đâu? Hàng chục năm nay họ cứ mua công trái của Mỹ chính vì họ không biết chỗ nào khác tốt hơn! Chính phủ Mỹ có lo vỡ nợ không? Như đã trình bày trong mục này tuần trước, họ không lo. Số tiền họ thu vào hàng tháng dư để thanh toán mọi thứ nợ nần. Nếu thiếu thì họ cắt của dân Mỹ chứ không ai dám quỵt nợ, vì điều 14 trong Hiến Pháp Mỹ đã cấm!

Cho đến năm nay cũng vậy, trên thế giới khó tìm được chỗ nào đầu tư an toàn bằng công trái của nước Mỹ vay! Ðiều này đã thấy rõ trong mấy tuần qua. Sau khi công ty S&P hạ thấp điểm tín dụng của Mỹ ngày Thứ Sáu vừa rồi, công trái Mỹ vẫn lên giá trên thị trường thế giới. Ngày Thứ Ba, 9 Tháng Tám, giá công trái 10 năm của Mỹ vẫn còn lên; chỉ đòi lợi suất có 2.32% so với mức 2.34% ngày hôm trước! Ðiều đó chứng tỏ những người (và các nước) có sẵn tiền vẫn muốn cho chính phủ Mỹ vay! Ngày hôm qua, lần đầu tiên sau khi bị S&P hạ điểm tín dụng chính phủ Mỹ phát hành công trái đi vay thêm nợ. Họ vay 32 tỷ đô la, thời hạn 3 năm. Số tiền mà người ta đem tới sẵn sàng cho vay lên tới gần 100 tỷ, cao hơn 3 lần số tiền Mỹ muốn vay. Theo thủ tục thông thường, người mua (tức các chủ nợ tương lai) phải “đấu giá” với nhau, ai đòi lợi suất thấp hơn (tức là trả giá cao hơn) thì mua được. Sau cùng, công trái đó đem bán với lợi suất chỉ có 0.50% một năm! Ðó là một lợi suất thấp kỷ lục; nước Mỹ chưa bao giờ được vay nợ với mức lời thấp như vậy! Mối lo kinh tế thế giới trì trệ làm cho thị trường các cổ phiếu tụt giảm, nhiều người có dư tiền sau khi bán cổ phiếu. Sẵn tiền, họ lại đi tìm mua công trái Mỹ, vì vẫn thấy đó là nơi đầu tư an toàn nhất. Họ có đi mua vàng thì cũng bị thiệt, vì giá vàng đang lên cao kỷ lục sẽ lên tận trời xanh! Chính phủ Trung Quốc sẽ khó tìm đâu ra nơi “gửi tiền” an toàn hơn công trái Mỹ, nhất là một khối lượng tiền lớn cỡ ngàn tỷ đô la.

Nếu chúng ta biết nguồn gốc từ đâu chính phủ Trung Quốc có hơn ba ngàn tỷ đô la dự trữ để cho chính phủ Mỹ vay bớt, thì thấy những lời tuyên bố mà Tân Hoa Xã loan báo rất buồn cười. Vì chính đảng Cộng Sản Trung Hoa đã đồng lõa và có lợi trong việc cho Mỹ vay. Họ tạo ra một tình trạng thiếu cân bằng trong kinh tế thế giới, do chính sách kinh tế thiếu cân bằng mà đảng này đang thi hành trong nước họ.

Kinh tế Trung Quốc thiếu cân bằng vì lo làm để xuất cảng, không lo cho người tiêu thụ (tức là hàng ngàn triệu người Trung Hoa) được hưởng xứng đáng với công lao của họ. Dân Trung Hoa làm việc cực nhọc, được trả lương rất thấp, để các doanh nghiệp nhà nuớc xuất cảng thu tiền vào. Dân Mỹ thì phởn phơ tiêu thụ vì hàng nhập cảng rẻ rề. Cán cân thương mại cứ nghiêng về phía Tây, tiền Mỹ chạy sang Tầu. Muốn giữ giá đồng Nguyên thấp (để dễ xuất cảng), chính phủ Tầu thu mua hết đô la Mỹ trong nước đem vào Ngân Hàng Trung Ương. Rồi chẳng biết đầu tư ở đâu, lại đem sang Mỹ cho vay, cho chính phủ Mỹ đến các ngân hàng lớn vay.

Cái vòng quay của đồng tiền này đã chạy đều đặn hàng chục năm nay không nghỉ, làm cho kinh tế thế giới cũng thiếu cân bằng! Nếu Trung Quốc không bán hàng thặng dư sang Mỹ thì không có nhiều tiền để cho vay như thế. Chính những số tiền khổng lồ do Bắc Kinh cho vay đã khiến lãi suất ở Mỹ rất thấp (nhiều người cho vay hơn thì tự nhiên lãi suất xuống). Chính Bắc Kinh đã gây ra bệnh “ghiền nợ” cho dân Mỹ! Vì các ngân hàng Mỹ đầy tiền với giá rẻ cho nên họ cho vay mua nhà bừa bãi với điều kiện thấp trong mấy năm trước năm 2007! Chính nó đã gây ra cơn khủng hoảng địa ốc làm suy sụp nền tài chánh Mỹ năm 2008, đến giờ tai họa vẫn chưa dứt!

Cả thế giới đã kêu gọi Bắc Kinh phải cải tổ cơ cấu kinh tế, chú ý hơn đến người tiêu thụ (những người Trung Hoa đổ mồ hôi ra làm hàng hóa giá rẻ bán cho dân Mỹ). Muốn vậy thì phải nâng giá đồng Nguyên của họ lên, cho dân Trung Hoa được mua hàng nhập cảng giá rẻ hơn. Nhưng đảng Cộng Sản Trung Hoa không chịu nghe. Vì các quan chức, đảng viên của họ vẫn được tiêu thụ “hàng ngoại” thoải mái, họ đâu có thiếu gì!

Cho nên, việc chính quyền Cộng Sản Trung Hoa lên lớp khuyên bảo chính phủ Mỹ nghe rất tức cười. Không hiểu ai xui khiến mà họ lại lên giọng như thế! Cũng như Thủ Tướng Nga Vladimir Putin. Ông mới gắn nhãn hiệu cho nước Mỹ là “kinh tế ký sinh,” ví như cây tầm gửi vậy. Nhưng chính nước Nga là quốc gia đã từng ngửa tay đi xin các nước khác “tha nợ” và năn nỉ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu mấy lần, nước Mỹ thì chưa. Lão Tử đã nói “Tri giả bất ngôn; Ngôn giả bất tri.” Người biết thì không nói, cái anh hay nói lại không biết gì cả!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cuộc chiến bẩn thỉu

Lữ Giang

Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Felix Frankfurter (1882 – 1965) đã nói: “Những người thật sự cai trị ở Washington là vô hình, và thực thi quyền hành từ sau hậu trường.”

Câu nói này một lần nữa đã ứng nghiệm trong cuộc chiến về ngân sách vừa qua.

Cuộc chiến về ngân sách năm 2012 giữa Tổng Thống Obama và Đảng Cộng Hoà được coi như một sự bỉ ổi trong lịch sử Hoa Kỳ. “Đảng Cộng Hoà dấu yêu” của người Việt chống cộng đã cương quyết bảo vệ quyền lợi của các tập đoàn tài phiệt lớn đứng đàng sau, bất chấp quyền lợi quốc gia. Họ dùng “mức trần nợ” (debt ceiling) như một thứ “con tin” để bắt Đảng Dân Chủ và Tổng Thống Obama phải thỏa mãn yêu sách của họ.

KHỞI ĐẦU CÂU CHUYỆN

Trong bài diễn văn nhận chức ngày 20.1.2009, Tổng Thống Obama đã nói:

“Chúng ta hiện đang trong giữa cuộc khủng hoảng mà ai ai cũng biết. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến, chống lại một mạng lưới bạo lực và thù hận rộng khắp, một phần là hậu quả của thái độ tham lam, vô trách nhiệm của một số người, nhưng cũng là hậu quả của việc chúng ta đã thất bại, không có những lựa chọn khó khăn, chuẩn bị sẵn sàng cho đất nước trong kỷ nguyên mới.”

Khi nói đến “thái độ tham lam, vô trách nhiệm của một số người”, Tổng Thống Obama đã ám chỉ những nhà đại tư bản đứng đàng sau Đảng Cộng Hoà. Ngay trong nhiệm kỳ đầu, Tổng Thống George W. Bush (con) đã thực hiện hai kế hoạch quan trọng nhằm ưu đãi nhà giàu. Biến cố 911 đã giúp ông thành công dễ dàng.

1.- Cắt giảm thuế cho những người giàu.

Khi Tổng Thống Clinton rời khỏi chính quyền, ngân sách Mỹ thặng dư 230 tỷ. Vì thế, trong hai năm 2001 và 2003, Tổng Thống Bush đã đưa ra chính sách giảm thuế cho nhà giàu. Theo ông, biện pháp này sẽ giúp các nhà đại tư bản Mỹ có thêm vốn đầu tư làm cho nền kinh tế Mỹ phát triển mạnh hơn. Số thuế được giảm này được dự trù vào khoảng 2000 tỷ USD trong 10 năm.

Biện pháp này sẽ chấm dứt vào ngày 31.12.2010. Nếu Quốc Hội không có quyết định nào khác, kể từ ngày 1.1.2011 thuế suất trước năm 2001 sẽ được áp dụng trở lại.

2.- Mở cuộc tấn công vào Afghanistan và Iraq.

Nhân vụ 911, Tổng Thống Bush đã quyết định mở cuộc tấn công vào Afghanistan để tìm bắt Bin-Laden và thanh toán nạn khủng bố. Năm 2003 ông lại ra lệnh tấn công Iraq mặc dầu bị LHQ và nhiều quốc gia phản đối. Qua hai cuộc chiến vô định này, ngân sách quốc phòng Mỹ đã phải gia tăng liên tục trong 13 năm. Riêng dưới thời Tổng Thống Bush, ngân sách quốc phòng đã từ 412 tỷ USD lên 699 tỷ USD, tức tăng 70%.

Mục tiêu của hai cuộc tấn công nói trên được nói là chống khủng bố, nhưng trong thực tế, chống khủng bố chỉ là yếu tố phụ, giúp các công ty quốc phòng thực hiện các cuộc đấu thầu và mở đường cho các công ty dầu lửa khai thác dầu ở Iraq mới là yếu tố chính. Số lượng dầu hỏa dự trữ của Iraq bằng 1/10 số lượng dầu dự trữ dầu của toàn thế giới, nghĩa là khoảng 100 tỷ thùng (barrel), nên Mỹ không thể không dòm ngó.

Việc giảm thuế cho nhà giàu và sự gia tăng chi phí quốc phòng đã làm cho ngân sách nước Mỹ ngày càng bị thâm thủng nặng. Con số do Phòng Ngân Sách Quốc Hội Hoa Kỳ đưa ra ngày 7.10.2009 cho biết số thâm thủng ngân sách năm 2009 là 1.400 tỷ USD, tức gấp ba lần so với năm trước. tương đương 9,9% GDP năm 2009. Đây là con số chưa từng thấy trong hơn 50 năm trở lại đây.

Sự suy thoái kinh tế khiến Tổng Tống Obama phải đưa ra chương trình giải cứu nợ xấu 150 tỉ USD cho Fannie Mae và 91 tỉ USD Freddie Mac, và gói kích cầu khoảng 900 tỷ. Các biện pháp này đã làm ngân sách Mỹ thâm thủng nặng hơn: 1.420 tỷ năm 2010 và khoảng 1.500 tỷ năm 2011.

CUỘC CHIẾN BÙNG NỔ

Như đã nói ở trước, để bảo vệ mức giảm thuế cho nhà giàu, “Đảng Cộng Hoà yêu dấu” của người Việt chống cộng đã lấy “mức trần nợ” (debt ceiling) làm “con tin” để thảo luận với Hành Pháp ngân sách liên bang năm 2012.

“Mức trần nợ” là mức tối đa Quốc Hội Hoa Kỳ cho phép chính quyền liên bang có thể đi vay một cách hợp pháp để đáp ứng nhu cầu của quốc gia.

Vào ngày 16.5.2011 Bộ trưởng Tài Chánh Timothy Geithner thông báo mức trần nợ của chính phủ lúc đó là 14.294 tỷ USD. Nhưng nay ông vừa thông báo số nợ đó tính đến ngày 2/8 đã lên tới 14.600 tỷ USD, vượt GDP của năm ngoái ở mức 14.500 tỷ USD.

Sau đây là vài nét về tiến trình cuộc chiến:

Ngày 31.5.2011 Hạ viện Mỹ bác bỏ đề nghị nâng mức trần nợ thêm 2.400 tỷ USD của Tổng Thống Obama và đòi phải cắt giảm chi tiêu.

Ngày 9.6.2011 Bộ Trưởng Tài Chánh Tim Geithner bắt đầu thảo luận với Đảng Cộng Hoà về cắt giảm chi tiêu và cho rằng xóa bỏ việc giảm thuế cho nhà giàu để thu thêm thuế 400 tỷ USD cho ngân sách là biện pháp đúng đắn. Sau nhiều cuộc thương lượng kéo dài, ngày 9.7.2011 ông John Boehner, Chủ Tịch Hạ Viện, nói rằng Đảng Cộng Hoà sẽ không chấp nhận việc tăng thuế nhà giàu và đề nghị cắt giảm ngân sách 2.000 tỷ USD.

Ngày 11.7.2011 ông Obama tuyên bố kêu gọi sự nhượng bộ từ cả hai đảng để nhanh chóng đạt được thỏa thuận về nâng trần nợ công trước ngày 2/8 để tránh nguy cơ vỡ nợ.

Ngày 22.7.2011 ông Boehner từ chối liên lạc với tổng thống do bất đồng trong việc hủy bỏ việc miễn thuế cho nhà giàu, mặc dầu trước đó Tổng Thống Obama đã đồng ý cắt giảm 4.000 tỷ USD chi tiêu, trong đó có các khoản về an sinh xã hội, chăm sóc người già và người có thu nhập thấp.

Ngày 26.7.2011, ông Boehner đề nghị cắt giảm ngay 1.000 tỷ USD chi tiêu của chính phủ để đổi lại sẽ nâng mức trần nợ quốc gia trong khoảng 6 tháng. Phe Dân Chủ tại Thượng Viện đồng ý cắt giảm 2.700 tỷ USD, nhưng phải nâng mức trần nợ dài hạn.

Tổng thống Obama nói rằng “cuộc khủng hoảng giả tạo” này tại Washington đã gây thiệt hại cho nền kinh tế đang gặp khó khăn của Hoa Kỳ.

Trong khi nhiều người lo sợ sự bất đồng giữa hai đảng sẽ đưa Hoa Kỳ vào tình trạng vỡ nợ, trên truyền hình chúng tôi nói đi nói lại nhiều lần rằng các thế lực tài chánh đứng đàng sau hậu trường sẽ quyết định một giải pháp dung hoà vào giờ chót, nên sẽ không có chuyện gì xẩy ra.

Quả thật, hôm 1.8.2011, Tổng thống Obama loan báo các nhà lãnh đạo lập pháp đã thỏa thuận mức cắt giảm ngân sách và cho phép nâng mức trần nợ quốc gia trước kỳ hạn chót.

MÀN KỊCH KẾT THÚC


Với sự sắp xếp từ sau hậu trường, ngày 1.8.2011, với 269 phiếu thuận và 161 phiếu chống, Hạ viện đã thông qua dự luật nâng mức trần nợ quốc gia, để đổi lại những sự cắt giảm mức chi của chính phủ. Ngày 2.8.2011, Thượng viện với 74 phiếu thuận và 26 phiếu chống, thông qua dự luật của Hạ Viện. Dự luật được đưa qua Tòa Bạch Ốc ngay để Tổng thống Obama ký ban hành đúng vào thời hạn chót.

Đạo luật đã cho phép nâng mức trần nợ thêm 2.400 tỷ USD đủ để nước Mỹ ó thể tiếp tục vay mượn tiền đến năm 2013.

Đạo luật cũng bao gồm các khoản cắt giảm chi tiêu có thể lên tới 2.500 tỷ USD, nhiều hơn khoản tăng mức trần nợ, trong đó có ít nhất 900 tỷ USD chi tiêu của chính phủ được cắt trong vòng 10 năm. Một ủy ban ngân sách lưỡng đảng sẽ được thành lập để cắt giảm thêm ít nhất 1.500 tỷ USD.

Đạo luật không gồm kế hoạch của đảng Dân chủ nhằm chấm dứt khoản miễn giảm thuế cho những người giàu.

KHỦNG HOẢNG NIỀM TIN

Khi đạo luật vừa ban hành, cả hai phe Dân Chủ lẫn Cộng Hoà đều lên tiếng chỉ trích. Đây là chuyện rất hiếm xẩy ra.

Phe dân Chủ cho rằng luật ngân sách mới ban hành buộc phải cắt giảm quá nhiều, những khoản cắt giảm này có thể gây nguy hại cho giới nghèo và những người dễ lâm vào tình cảnh khốn khó mà không thu thêm được tiền thuế của giới giàu. Thượng nghị sỹ Tom Udall thuộc Đảng Dân Chủ, New Mexico, nói: "Dự luật này thật tồi tệ, tồi tệ quá sức.” Thượng nghị sỹ Carl Levin, Michigan, coi đây là một sự lựa chọn bất đắc dĩ.

Trong khi đó, phe Cộng Hoà đã ca tụng “thành quả” mà họ đạt được. Thượng nghị sỹ Lamar Alexander, Tennesee, cho rằng cuộc biểu quyết này là cơ hội để tiến một bước quan trọng theo đúng hướng. Còn Thượng nghị sỹ David Vitter nói theo giải pháp này căn bản chẳng thay đổi được viễn ảnh chi tiêu và nợ nần của chúng ta.

Trong lịch sử Hoa Kỳ cũng đã có những lần số nợ vượt lên trên GDP, chẳng hạn như năm 1944, khi theo đuổi Thế chiến II, nợ của Hoa Kỳ đã cao hơn GDP đến 30%. Năm 1947, sau Thế chiến II, nợ của Hoa Kỳ cũng đã vượt lên trên GDP, nhưng chỉ một thời gian sau, nền kinh tế của Mỹ đã được phục hồi.

Những cuộc mặc cả bẩn thỉu của Đẳng Cộng Hoà, sự chia rẽ trong chính quyền, tầng nợ bắt đầu vượt lên trên GDP... đã làm cho niềm tin nơi sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ bị lung lay. Ngày 6.8.2011, cơ qua chuyên đánh giá tín dụng Standard & Poor's của Hoa Kỳ đã hạ mức khả tín của Hoa Kỳ từ loại AAA xuống hạng AA+. Sau đây là một cái nhìn tổng quát về sự sắp hạng này:

AAA: Anh, Pháp, Đức, Canada, Australia

AA+: Hoa Kỳ, Bỉ, New Zealand

AA-: Nhật Bản, Trung Quốc


Đây là lần thứ nhất trong lịch sử, Hoa Kỳ bị xếp vào loại 2 về mức độ khả tín.

NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

Qua cuộc chiến bẩn thỉu này, giới bình dân đã nhận ra rằng giới giàu vẫn được tiếp tục hưởng lợi, còn người nghèo bị móc túi thêm. Suy nghĩ này quả cũng đúng.

I.- Tiếp tục giảm thuế cho nhà giàu

Trong cuộc tranh cử năm 2008, ông Obama đã nói đi nói lại rằng ông sẽ buộc những người giầu nhất nước Mỹ đóng thêm thuế, trong khi sẽ giữ mức thuế của dân trung lưu và dân nghèo thấp như cũ. Nhưng khi đắc cử rồi, Đảng Cộng Hoà đã đưa mức trần nợ ra làm “con tin”: Nếu ông tăng thuế nhà giàu, Đảng Cộng Hoà sẽ không chấp nhận cho tăng mức trần nợ lên. Cuối cùng ông phải nhượng bộ, chịu giữ các đạo luật giảm thuế cho nhà giàu của Tổng Thống Bush thêm 2 năm nữa, tức là đến 31.12.2012,

II.- Cách giảm các khoản chi tiêu

Như đã nói trên, trong vòng 10 năm tới chính quyền phải cắt giảm 900 tỷ USD các khoản chi tiêu và một ủy ban lưởng viện sẽ họp để cắt thêm ít nhất 1.500 tỷ nữa. Hiện nay, chưa có thể biết một cách chính xác những khoản nào sẽ bị cắt và mức cắt sẽ là bao nhiêu. Tuy nhiên, ba khoản sau đây được nhiều người lưu ý nhất:

(1) Cắt giảm ngân sách quốc phòng

Ngày 9.7.2011, Hạ Viện Mỹ đã biểu quyết ngân sách quốc phòng năm 2012 là 649 tỷ USD, trong đó có 119 tỷ USD cho các cuộc chiến đang diễn ra ở Afghanistan và Iraq. Nay nếu cắt thêm, sẽ cắt vào những khoản nào? Các nhà vận động hậu trường (lobbyists) của các đại công ty đấu thầu quốc phòng đang hoạt động ráo riết để các quyền lợi của họ không bị lấy đi quá nhiều.

(2) Cắt giảm ngân sách y tế


Hiện nay hai chương trình Medicare và Medicaid cung cấp bảo hiểm cho hơn 100 triệu công dân Mỹ, chiếm 22% trong tổng số chi tiêu liên bang, trong đó 33% vào bệnh viện phí, 21% tiền bác sĩ và chi phí lâm sàng, thử nghiệm, 10% tiền thuốc, và 9% cho các viện dưỡng lão.


Theo tờ Wall Street Journal ngày 2.8.2011, ngân khoản Medicare đã thoát khỏi bị cắt trực tiếp, nhưng trong các cuộc thương lượng giữa hai đảng tới đây, các ngân khoản dành cho những người cao niên và tàn phế có thể bị ảnh hưởng.

Dịch vụ y tế là một dịch vụ thương mãi béo bở nhất, nên các tài phiệt về y tế cũng đang dùng các lobbyists vận động để sự thiệt hại của họ chỉ ở mức tối thiểu.

(3) Cắt giảm trợ cấp an sinh xã hội

Theo báo cáo của Board of Trustees, năm 2010 có 54 triệu người nhận tiền an sinh xã hội, trong đó có 44 triệu người về hưu và 10 triệu người tàn phế. Số ngân khoản được chi trả là 712,5 tỷ USD.

Nhưng theo thống kê mới nhất, tính đến tháng 6/2011, số người nhận trợ câp an sinh xã hội đã lên đến 60.114.000 người, trong đó có 38.540.000 người cao niên và 13.596.000 người tàn phế dưới 65 tuổi.

Tính trung bình, tiền trợ cấp an sinh xã hội chiếm khoảng 20,8% ngân sách liên bang. Nhiều nguồn tin nói rằng số tiền trợ cấp cho những người hưởng an sinh xã hội cũng sẽ bị giảm xuống. Thí dụ ở California, tiền trợ cấp an sinh xã hội hiện nay là 830 USD, có thể sẽ giảm xuống trong năm 2012 chỉ còn khoảng 750 USD. Nhưng đây chỉ là sự suy đoán. Phải đợi ủy ban lưởng viện công bố mới có thể biết con số chính xác.

Những người về hưu và những người tàn tật không thể làm như các nhà đại tư bản quốc phòng và y tế là thuê các lobbyists đi vận động hậu trường để bảo vệ quyền lợi của họ, nhưng với khối lượng 60.000 cử tri cao niên và tàn phế, thường bỏ phiếu khếm diện, nếu họ biết truyền thông cho nhau những ai chủ trương cắt xén phúc lợi của họ và bảo vệ quyền lợi của nhà giàu, họ cũng có thể dùng lá phiếu để bảo vệ quyền lợi của mình.

TỪ GIẢ “ĐẢNG CỘNG HOÀ YÊU QÚY”!

Một cuộc thăm dò cho thấy có đến 62% dân Mỹ nghĩ rằng tình trạng kinh tế khó khăn hiện nay không phải do ông Obama gây ra, mà ông chỉ thừa hưởng di sản của chính phủ Bush để lại.

Cuộc kiểm tra năm 2010 cho biết số người Việt tại Hoa Kỳ hiện nay là 1.548.449 người. Có đến 82,8% người Mỹ gốc Việt là công dân Mỹ.

Người Mỹ gốc Việt rất “mê” Đảng Cộng Hoà, vì cho rằng “Đảng Cộng Hoà chống Cộng”, mặc dầu năm 1972 chính Đảng Cộng Hoà đã đem miền Nam VN bán cho Trung Quốc.

Tại Orange County, nơi có thủ đô nối dài của VNCH, có 55% cử tri gốc Việt ghi danh vào Đảng Cộng Hoà và 22% vào Đảng Dân Chủ. Trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2004, có đến 72% cử tri Mỹ gốc Việt bỏ phiếu ông George W. Bush, trong khi chỉ 28% bỏ phiếu cho ông John Kerry. Trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2008, cũng có đến 2/3 cử tri Việt bầu cho ứng cử viên Cộng Hòa John McCain. Tệ hại hơn nữa, một số vẫn tiếp tục dùng cơ quan truyền thông để chửi ông Obama sau khi ông này đã đắc cử.

Trong cuộc bầu cử ở cấp toàn quốc, số phiếu của người Mỹ gốc Việt không mang ý nghĩa gì. Số cử tri người Tàu, người Đại Hàn hay người Philippines cũng thế. Nhưng người Tàu có nhiều kinh nghiệm hơn người Việt rất nhiều trong công tác vận động hậu trường. Thay vì “mê” Đảng Cộng Hoà hay Đảng Dân Chủ, họ đã áp dụng nguyên tắc “phù thịnh bất phù suy” trong bầu cử. Cứ thấy ứng cử viên nào chắc sẽ đắc cử là dồn hết tiền và phiếu cho người đó, sau này mới có thể xử dụng họ được. Người Việt chẳng ai nói được ai, nên rất khó đi con đường của người Tàu.

Nay nhiều người Việt đã nhận ra những sự thật phủ phàng và thay đổi cách nhìn cũng như cách hành động. Một thí dụ cụ thể là trong cuộc bầu cử dân biểu liên bang đơn vị 47 ở Orange County vào năm 2010, đa số người Việt đã dồn phiếu cho bà Loretta Sanchez thuộc Đảng Dân Chủ thay vì dồn phiếu cho Trần Thái Văn thuộc Đảng Cộng Hoà, vì biết chắc Trần Thái Văn sẽ thua, nhờ vậy bà Loretta Sanchez đã thắng lợi vẽ vang (53% số phiếu) và tích cực ủng hộ các cuộc đấu tranh của người Việt hơn.

Cuộc chiến bẩn thỉu vừa qua sẽ giúp người Mỹ gốc Việt thấy rõ hơn trong cuộc bầu cử năm 2012 sắp đến họ sẽ phải hành động như thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình.

Ngày 9.8.2011
Lữ Giang
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Nếu không có Mỹ và 2 quả bom hạt nhân di động
có lẽ những ngày giữa tháng 8
chiến tranh Trung – Việt đã bùng nổ


Bài phân tích của Mai Sỹ Xuân Lâm từ trong nước


Cali Today News – Một số sự kiện chính trị gần đây về vấn đề biển Đông, quan hệ Trung Quốc – Việt Nam, khiến chúng ta cần phải để ý đến một tình huống xấu nhất sẽ xảy ra đó là chiến tranh Việt – Trung.


1. Trung Quốc huy động và tập kết lực lượng quân sự phía bắc Việt Nam.
2. Tình báo Mỹ biết được thông tin Trung Quốc gia tăng quân sự tại Bắc Việt, nên quân đội Mỹ đã cử hạm đội 7 bao gồm USS George Washington và USS Ronald Reagan vào vùng biển Đông. Các tàu này đã có chuyến thăm đến, Philipines, Thailands, Việt Nam & Hong Kong. Sự hiện diện của đội tàu này ở biển Đông nhằm cầm chân và làm trì hoãn kế hoạch chiến tranh của Trung Quốc lên Việt Nam.
3. Nghị sĩ Jim Webb, chủ tịch tiểu ban Đông Á có chuyến làm việc đến các nước như: Thailands, Singapores, Indonesia & Việt Nam.
4. Trung Quốc gấp rút cho chạy thử tàu sây bay Varyag. Nếu không có sự kiện các tàu sân bay Mỹ vào biển Đông, có lẽ Trung Quốc đã cho tiến hành thử nghiệm máy bay cất hạ cánh luôn và ngay sau đó là cuộc viễn chinh miền Trung Việt Nam.
5. Đầu tháng 6 giới chức quốc phòng gấp rút đề nghị phía Liên Xô đưa tàu chiến Gepard 3.9 về VN. Đến ngày 6/8/2011, tàu chiến Gepard 3.9 thứ 2 đã cặp cảng miền Trung Việt Nam. Gia tăng vũ khí phòng thủ.

Trong đó chúng ta cần đặc biệt quan tâm 2 vấn đề:
1. Vào tháng 6, Trung Quốc đã hăm he sẽ dạy cho Việt Nam 1 bài học thứ 2, nếu chính quyền Việt Nam không biết dẹp loạn biểu tình và “nhồi sọ” nhân dân về chủ quyền biển Đông.
2. Lời hăm dọa phía chính quyền Việt Nam gửi tới tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, về việc Trung Quốc sắp đánh Việt Nam nếu người dân Việt Nam cứ đi biểu tình!
Một điều rất bất thường khi trong vùng biển Đông có sự xuất hiện cùng lúc 2 quả bom nguyên tử di động là 2 tàu hàng không mẫu hạm USS George Washington và USS Ronald Reagan. Có lẽ chính vì sự hiện diện này của quân sự Mỹ trong vùng, đã khiến cho kế hoạch Trung Quốc tấn công Việt Nam bị trì hoãn…Ít nhất là 1 tuần!

Vì chúng ta không thể lường trước được, việc tàu Varyag của Trung Quốc có thực là chạy thử nghiệm hay không, hay đây chính là con tàu sẽ mang theo hàng chục nghìn quân nhân Trung Quốc để tiến đánh Việt Nam vào các ngày giữa tháng 8?

Việc Trung Quốc gia tăng sự hiện diện của công nhân Trung Quốc trên các công trường trãi rộng khắp Việt Nam, cũng là một yếu tố đáng để chúng ta đặc biệt quan tâm. Vì đây chính là lực lượng giải phóng quân sẽ hỗ trợ cho chiến dịch tấn công phá hoại chớp nhoán Việt Nam. Chính vì lẽ đó, hiện nay chính phủ Việt Nam đang gấp rút rà soát lại lao động Trung Quốc để trục xuất về nước…

Như vậy, thông qua phân tích các sự kiện mang tính LOGIC, chúng ta có thể thấy được rằng… Trung Quốc đã tính toán rất kỹ lưỡng kế hoạch quân sự cho mục đích chiến tranh chớp nhoáng trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, nay nhờ có sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trong khu vực, kế hoạch này của Trung Quốc đã bị gián đoạn!

Theo nhận định riêng cá nhân của cháu…có đến 70% – 85% Trung Quốc đã lên kế hoạch tấn công Việt Nam, Trung Quốc đã rãi hết lực lượng quân nhân vào Việt Nam, và họ sẽ tấn công Việt Nam nay mai. 15% – 30% còn lại không thực hiện được vì đang bị kỳ đà cảng mũi là 2 quả bom nguyên tử di động của hải quân Hoa Kỳ!

Quân nhân trung quốc đội lốt công nhân, sử dụng lương thực của Việt Nam để đánh Việt Nam khi họ đã cấm dùi trên đất Việt Nam khá lâu. Mọi địa hình ở VN họ đều đã biết! Nếu xảy ra chiến tranh, Việt Nam nếu không có sự bao bọc của Mỹ ắt sẽ bại trận này!

Jim Webb và 2 quả bom nguyên tử di động của hải Quân Hoa Kỳ hiện diện trong vùng biển Đông, đó có lẽ không phải là một chuyến thăm đơn thuần. Mà đó chính là một chuyến đi hội họp, hội bàn với Đồng Minh trong khu vực + Việt Nam + Indonesia (chủ tịch ASIAN 2011). Họ đang bàn tính chiến lược để phòng thủ cho Việt Nam và ASIAN, khi Trung Quốc khởi sự chiến tranh.!

Chính vì lẽ đó.! Trong những ngày gần đây…. bộ ngoại giao Việt Nam đã mạnh miệng lên tiếng phản đối Trung Quốc đưa tàu vào biển Đông để thăm dò.! Một hành động nhằm tranh thủ nhận sự hỗ trợ từ chính phủ Mỹ!
Chúng ta có thể đoán chiến lược quân sự của Trung Quốc như sau:

Chiến sự sẽ đồng thời nổ ra ở 3 nhánh chính ở cả 3 miền: Bắc, Trung, Nam.
1. Quân bộ binh tràn vào Bắc Việt.
2. Quân nhân dự bị đánh phá Đông Nam Bộ & Tây Nam Bộ.
3. Hải Quân tràn vào Miền Trung…Tấn công bất ngời bằng tàu sân bay Varyag, tàu chiến và các tàu hải giám.! Chốt khóa ngay eo miền Trung, cắt sự chi viện từ miền Nam ra miền Bắc. Đồng thời, các quân nhân dự bị đóng quân ở miền Đông Nam Bộ, Tp.HCM và Miền Tây Nam Bộ sẽ là lực lượng phá hoại, làm phân tán lực lượng của miền Nam.

Lực lượng hải quân Trung Quốc đóng quân ở miền Trung có vai trò cung cấp lực lượng đánh lòn từ dưới lên bắc Việt (bắc Trung Bộ lên bắc bộ). Đồng thời cũng là lực lượng chi viện cho quân nhân đánh phá miền đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.

Như vậy, với việc Trung Quốc vận hành con tàu Varyag, điều này đã làm cho Việt Nam đứng trước con đường đi đến thất bại khi phải đối đầu trực diện và riêng lẻ với Trung Quốc. Nên giới chức chính phủ của Việt Nam phải tranh thủ nhận sự ủng hộ từ quân sự Mỹ và các nước thành viên ASIAN.
Nếu không có Mỹ và 2 quả bom hạt nhân di động, có lẽ những ngày giữa tháng 8 chiến tranh Trung – Việt đã bùng nổ!

Nguồn: Cali Today
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image


Nhớ Thầy Nguyễn Ngọc Huy
Lần giỗ thứ 21, tại San Jose,
ngày 6 tháng 8, năm 2011.

Trưa ngày thứ Bảy, 06 tháng 8, 2011 hội trường của Trung Tâm Văn Hóa Việt Mỹ, tọa lạc tại 2290 Tully Road, San Jose, đầy ắp quan khách tham dự. Đảng Tân Đại Việt do bác sĩ Mã Xái lãnh đạo, cùng các tổ chức bạn như Đại Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy, Nguyễn Ngọc Huy Foundation, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, Ủy Ban Hoàng Sa, Liên Đoàn Cử Tri Bắc Cali và Hội Cao Niên Diên Hồng đã tổ chức Lễ Tưởng Niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy thật trọng thể, cùng một hội luận chính trị sau đó, trong bài viết Thư Cho Con, Giáo sư Trần Minh Xuân ghi nhận những chi tiết về buổi lễ này. Tôi xin trích đoạn mà ông đã viết như sau:

"...nghi thức tưởng niệm lần thứ 21 cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời được bắt đầu với phần niệm hương trước bàn thờ Tổ Quốc có thiết đặt di ảnh người quá cố và ông Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa [xem hình] được mời lên diễn đàn kể lại cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh cho một nước Việt Nam Ðộc lập, Tự do, Dân chủ Hiến định và Pháp trị của cố Giáo sư. Ðược biết ông Hoài Sơn là người bạn sát cánh đấu tranh với cố Giáo sư kể từ ngày đầu hai người tham gia Ðảng Ðại Việt do Ðảng trưởng Trương Tử Anh lãnh đạo. Ông nói:

“Giáo Sư Huy sanh năm 1924, mất năm 1990, thọ 66 tuổi. Trong 66 năm của cuộc đời, ông đã tranh đấu liên tiếp không ngừng trong 45 năm trời, từ năm 1945 đến năm 1990, năm ông lìa đời. Vì ông là người có tài, có đức, có chí lớn, lại tranh đấu lâu năm như vậy nên các đồng chí và các môn sinh của ông rất đổi kính phục ông. Vì đó, năm nào đến ngày giỗ của ông, họ cũng đều làm lễ tưởng niệm rất trọng thể, không những tại trong nước, tại Hoa Kỳ, tại Canada, tại Âu Châu, mà cả tại Úc Châu nữa”..."

Thật vậy, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là một nhà ái quốc, một chí sĩ suốt đời phục vụ những lý tưởng cho dân tộc Việt Nam, những điều tốt về ông đã được các học giả, các sử gia, các bình luận gia hay các đồng chí của ông đề cập khá nhiều. Bài viết này nhằm tổng hợp đôi nét chính do các tác giả Trần Nguyên, Nhữ Đình Hùng, Trần Minh Xuân, Mai Thanh Truyết và Phan Văn Song đã nhận định về ông.

Tôi có dịp học môn chính trị học do Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy diễn giảng tại đại học Kinh Tế và Thương Mại Minh Đức, cảm nhận lãng vãng trong trí nhớ của tôi về người thầy cũ này là ông có nụ cười hiền hòa, là một nhà hùng biện với kiến thức uyên thâm, say mê diễn giảng rất suôn sẽ những bài giảng, những sinh viên chúng tôi im lặng chăm chú nghe ông nói, ông có trí nhớ dai, những sự kiện về chính trị Việt Nam và thế giới, ông am tường như bộ nhớ của máy điện toán, khi chúng tôi trò chuyện hay nêu lên những thắc mắc, ông thân thiện giải đáp hay thảo luận rất cởi mở. Năm 1990 Giáo Sư Huy qua đời ở Pháp khi sang tham dự buổi họp quan trọng của Liên Minh Dân Chủ Việt Nam do ông thành lập, năm nay nhân lễ kỷ niệm lần thứ 21, tôi cùng các bạn đồng môn Cao Thái Hải và Lưu Tấn Xuân tham dự lễ giỗ tại Bắc Cali và thắp nhang để tưởng nhớ đến vị thầy khả kính, người đã cống hiến trọn cuộc đời cho quốc gia và dân tộc Việt Nam. Điểm cần nêu lên thầy Huy còn là một nhà văn biên khảo, viết khảo luận về những chủ đề chính trị, luật pháp, xã hội,... và làm thơ dưới thi hiệu Đằng Phương. Thầy Huy tham gia chính trị năm 21 tuổi, thơ ông nói lên bầu nhiệt huyết vì quê hương, những khát vọng như lẽ sống của tuổi trẻ đấu tranh cho sự tự do, nhân quyền và dân chủ cho nước nhà, thơ rằng:

"Tranh đấu cho dân tộc sống còn,
Liều mình để phục vụ giang sơn !
Đó là lẽ sống người trai Việt,
Muôn thuở không sờn dạ sắt son"


Bốn câu thơ trên trong bài Lẽ sống, được trích ra từ Tập thơ Hồn Việt. Trong cùng thi tập này ông cho những dòng thơ gởi các bạn đồng lý tưởng, ông kêu gọi mọi người hãy chung tay vì đại cuộc:

“Hỡi những bạn đồng hành chung lý tưởng,
Chung nguyện thề, chung ước vọng cùng nhau,
Hồn mân mê một mục đích cao sâu,
Lòng dào dạt một mối tình sông núi"


Tham khảo bài viết "Nhân tài xứ bưởi Biên Hòa: Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy" của tác giả Trần Nguyên cho phần tiểu sử của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy như sau:

"Ông sanh vào ngày 2 tháng 11 năm 1924, quê tại Mỹ Lộc, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa.

Văn bằng:

- 1963: Tiến Sĩ Chánh Trị Học, Trường Đại Học Luật Khoa & Kinh Tế Paris. Luận án: “Đề tài người ưu tú trong tư tưởng chánh trị Trung Quốc cổ thời”
- 1960: Cao Học Chánh Trị, Trường Đại Học Luật Khoa & Kinh Tế Paris.
- 1959: Cử Nhơn Luật Khoa và Kinh Tế, Viện Đại Học Paris.
- Tốt nghiệp Viện Nghiên Cứu Chánh Trị Đại Học Paris.
- Tự học thi đậu bằng Tú Tài.
- Học sinh trường Pétrus Trương Vĩnh Ký, thi đậu bằng Trung Học. Một trong học sinh đậu xuất sắc nhứt tại Đông Dương (xem phim tài liệu về Thân Thế & Sự Nghiệp Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy / Câu Lạc Bộ Đằng Phương thực hiện năm 2007).

Chức vụ:

* Trong Ngành Giảng Huấn:
- Từ 1976: Phụ Khảo tại Trường Đại Học Luật Khoa Harvard (Hoa Kỳ).
- 1965-1975: Giáo Sư Chánh Trị Học và Luật Hiến Pháp ở Học Viện Quốc Gia Hành Chánh tại Sài Gòn, Trường Đại Học Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội tại Cần Thơ, Trường Đại Học Sư Phạm tại Sài Gòn, Trường Đại Học Luật Khoa tại Huế. Ngoài ra còn giảng dạy tại các Trường Đại Học Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức, Minh Trí... và ở Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, Trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị.
- 1967-1968: Khoa Trưởng Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội tại Cần Thơ.

Trong Chánh Quyền:
- 1973 và 1968-1970: Nhơn viên phái đoàn tham dự thương thuyết Hòa Đàm Paris.
- 1967: Hội Viên Hội Đồng Dân Quân.
- 1964: Đổng Lý Văn Phòng Phủ Phó Thủ Tướng Đặc Trách Bình Định.

Hoạt Động Chánh Trị:

- Từ 1986: Hội Viên Ủy Ban Danh Dự của Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ VN Tự Do.
- Từ 1981: Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương Liên Minh Dân Chủ Việt Nam.
- 1973-1975: Đồng Chủ Tịch Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội (gồm 6 đảng).
- 1969-1975: Tổng Thơ Ký Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến.
- 1964-1990: Thành lập đảng Tân Đại Việt và là lãnh đạo đảng cho đến năm 1990.
- 1945-1964: Đảng viên Đại Việt Quốc Dân Đảng và tham dự Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương năm 1948.

Tưởng Lục:

- WHO'S WHO đông bộ Hoa Kỳ, ấn bản lần thứ 18, 1981-1982.
- Giải thưởng của Viện Đại Học Paris trao luận án Tiến sĩ xuất sắc nhất trong năm.

Chuyên Môn:

- Luật Hiến Pháp, Tư Tưởng Chánh Trị, Định Chế Chánh Trị, Bang Giao Quốc Tế.
- Thông thạo ngôn ngữ Việt, Pháp, Anh và Hán văn.

Tác phẩm:

* Tiếng Việt:
1. HỒN VIỆT, thơ, Sài Gòn, 1950, tái bản ở Paris năm 1984.
2. QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT (Quyển A), Việt Publisher, Canada, 1990.
3. DÂN TỘC SINH TỒN, chủ thuyết của Đại Việt Quốc Dân Đảng, được bổ túc, phong phú hóa và thâu nhận các nguyên tắc tự do dân chủ, (2 quyển), Sài Gòn, 1964.
4. DÂN TỘC HAY GIAI CẤP ?
5. BIỆN CHỨNG DUY XẠO LUẬN (Trào phúng).
6. CÁC ẨN SỐ CHÁNH TRỊ TRONG TIỂU THUYẾT VÕ HIỆP KIM DUNG, Thanh Phương Thư Quán, San Jose, Hoa Kỳ, 1986.
7. HÀN PHI TỬ: bản dịch ra Việt ngữ tác phẩm của Hàn Phi, nhà lý thuyết trứ danh của học phái Pháp Gia Trung Quốc, (2 quyển), Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1974.
8. LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT CHÁNH TRỊ, Cấp Tiến, Sài Gòn, 1970-1971.
9. ĐỀ TÀI NGƯỜI ƯU TÚ TRONG TƯ TƯỞNG CHÁNH TRỊ TRUNG QUỐC CỔ THỜI, bản dịch Luận án Tiến sĩ viết bằng tiếng Pháp, Cấp Tiến, Sài Gòn, 1969.
10. Tên Họ Người Việt Nam . Mekong-Tỵnạn, California, USA
- Cùng viết với Gs Trần Minh Xuân (2 cuốn 11 và 12 trong danh sách này):

11. Hiệu đính và chú thích LỤC SÚC TRANH CÔNG. Đi tìm tác giả và dụng ý chánh trị trong tác phẩm. Mekong-Tỵnạn, California, USA, 1991.
12. HỒ CHÍ MINH: TỘI PHẠM NHƠN QUYỀN VIỆT NAM. Mekong-Tỵnạn, USA, 1992.

* Tiếng Pháp:
13. POUR UNE NOUVELLE STRATÉGIE DE DÉFENSE DU MONDE LIBRE CONTRE L'EXPANSION COMMUNISTE, Alliance Pour La Démocratie Au Vietnam, Paris, 1985.
* Tiếng Anh:
14. THE LÊ CODE: LAW IN TRADITIONAL VIETNAM, bản dịch ra tiếng Anh và chú thích bộ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT, tục danh LUẬT HỒNG ĐỨC của nhà Lê (1428-1788), Ohio University Press, Hoa Kỳ, 1987 - cùng viết với Gs Tạ Văn Tài và Gs Trần Văn Liêm -
15. A NEW STRATEGY TO DEFEND THE FREE WORLD AGAINST COMMUNIST EXPANSION, Alliance For Democracy In Vietnam, 1985.
16. PERESTROIKA OR THE REVENGE OF MARXISM OVER LENINISM, Việt Publisher, Canada, 1990.
Cùng viết với Gs Stephen B. Young (2 cuốn 16 và 17 trong danh sách này)

17. UNDERSTANDING VIETNAM, do T.D.T. Thomason xuất bản, The Displaced Persons Center Information Service, Bussum, The Netherlands.
18. THE TRADITION OF HUMAN RIGHTS IN CHINA AND VIETNAM, Yale Southeast Asia Studies, The LẠC VIỆT Series, New Haven, CT, USA, 1990.

Bài Đăng Báo:

* Tiếng Việt:
- 1947-1990: Bài nhận định Tình Hình Thế Giới Trong Tháng Vừa Qua cùng nhiều bài báo về văn hóa & chánh trị Việt Nam trên nhiều tờ báo tiếng Việt ở trong và ngoài nước, như TỰ DO DÂN BẢN, ĐƯỜNG MỚI, MEKONG-TỴNẠN, SAIGON, THẰNG MÕ, HỒN VIÊT, HƯỚNG VIỆT, DIỄN ĐÀN VIỆT NAM, CẤP TIẾN, DÂN QUYỀN, LỬA THIÊNG, QUỐC PHÒNG, ĐUỐC VIỆT, THANH NIÊN ...

* Tiếng Pháp:
- LA FRANCE ET LE VIETNAMIEN PARTISAN DE LA DÉMOCRATIE LIBÉRALE, trong ĐƯỜNG MỚI, Pháp Quốc, số 4, 1985.
- LE CODE DES LÊ, nhận xét về bản dịch bộ luật nhà Lê ra tiếng Pháp của Ông Deloustal và về niên biểu ấn hành của bộ luật này, trong BULLETIN DE L'ÉCOLE FRANCAISE D'EXTRÊME ORIENT, Quyển LXVII, Pháp Quốc, 1980.

* Tiếng Anh:
- Cùng viết với Gs Tạ Văn Tài: THE VIETNAMESE LEGAL TEXTS, trong THE LAW OF SOUTH-EAST ASIA, Quyển 1, THE PRE-MODERN TEXTS, do M.B. Hooker xuất bản, Butterworth & Co, 1986.
- LIMITS ON STATE POWER IN TRADITIONAL CHINA AND VIETNAM, trong THE VIETNAM FORUM, Ban Nghiên Cứu Đông Nam Á Châu của Đại Học Yale, Hoa Kỳ, số 6, Hè-Thu 1985.
- THE MING CODE IN VIETNAMESE LEGAL HISTORY: ITS INFLUENCE ON THE VIETNAMESE CODES AND OTHER LEGAL DOCUMENTS, trong MING STUDIES, số 19, Thu 1984.
- ON THE PROCESS OF CODIFICATION OF THE NATIONAL DYNASTÝS PENAL LAWS, trong THE VIETNAM FORUM, Ban Nghiên Cứu Đông Nam Á Châu của Đại Học Yale, Hoa Kỳ, số 1, Đông-Xuân 1983.
- THE PENAL CODE OF VIETNAM'S LÊ DYNASTY, trong STATE AND LAW IN EAST ASIA, để kỷ niệm ngày Ông Karl Bunger trí sĩ, do Dieter Eikemeier và Herber Franke xuất bản, Otto Harrassowitz, Weisbaden, 1981. "


Trong bài viết của tác giả Nhữ Đình Hùng mang tựa "Tưởng Niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy" ghi nhận là về sau vì những quan điểm dị biệt nên trong nội bộ của tổ chức Đại Việt, Giáo Sư Huy đã cùng với xứ bộ miền Nam thành lập Tân Đại Việt. Kết hợp nhiều nhân sĩ, Giáo Sư Huy đã cho thành lập Phong Trào Quốc Gia CấpTiến mà lập trường của Phong Trào là ủng hộ chánh phủ quốc gia Việt Nam Cộng Hòa trong mọi nỗ lực chống Cộng Sản, tuy Phong Trào không tham chánh, nhưng có những đóng góp xây dựng và đòi hỏi chánh phủ phải thực thi dân chủ và bài trừ nạn tham nhũng, nạn bè phái trong guồng máy chánh quyền. Rồi từ năm 1965, ông làm giáo sư cho Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, phụ trách dạy môn Chánh Trị Học và Luật Hiến Pháp. Ông còn là giảng viên cho nhiều viện đại học khác như Đại Học Đà Lạt, Huế, Cần Thơ, Vạn Hạnh, Minh Đức và Đại học Sư Phạm Sài Gòn. Ông cũng được mời làm giảng viên chánh trị cho các trường quân sự như Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Trường Tham Mưu Cao Cấp, và Trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị; Ông làm Khoa trưởng Trường Đại học Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội Cần Thơ vào năm 1967, tham dự phái đoàn hoà đàm Paris 1968 và 1973. Sau khi VNCH mất, từ năm 1975 ông làm chuyên gia khảo cứu cho Viện Đại Học Harvard, tham dự việc dịch bộ luật Hồng Đức ra anh ngữ và lo việc chú thích bộ luật này. Trong khi đó, ông vẫn tiếp tục việc tranh đấu tích cực chống Cộng Sản, liên kết với các nhân sĩ, cựu đồng chí, môn đệ và những người yêu nước để thành lập Liên Minh Dân Chủ Việt Nam từ năm 1981 và liên tục hoạt động cho đến khi từ trần vào ngày thứ bảy 28/7/90 vào lúc 9giờ 30 tối tại nhà một đồng chí ở Paris, trong lúc ông đang chuẩn bị tham dự Đại hội LMDCVN thế giới kỳ I.

Những nhà đấu tranh thường bôn ba lưu lạc đó đây như Phan Bội Châu, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh hay Trương Tử Anh, Thầy Huy cũng rầy đây mai đó, ông cổ xúy cho những nguyên tắc tự do và dân chủ hợp hiến, tránh nạn độc tài và thể chế trọng việc đề cao lãnh tụ, cá nhân ông xác định rõ lập trường không tham chính tìm kiếm địa vị, chức tước hay quyền thế trong chính quyền, theo một cách nhìn nào đó nếu ông có làm được điều gì thì như một chiến sĩ vô danh mà thôi, ông sống với cái lý tưởng cao cả của mình, hãy nghe ông tâm sự trong thơ:

“Tranh đấu cho dân tộc sống còn,
Liều mình để phục vụ giang sơn,
Đó là lẽ sống người trai Việt,
Muôn thuở không sờn dạ sắt son"


Mỗi công dân trong xã hội lựa chọn cho mình những hướng đi riêng, những lý tưởng sống riêng, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy trưởng thành trong tấm lòng nồng nàn với quê hương, một tình yêu chân chất cho Tổ Quốc hay cho Mẹ Việt Nam theo nghĩa rộng. Những bài tham luận ưu tư về nước nhà, những vần thơ đầy ắp tình quê hương, đầy rung động với hồn Việt Nam đã được ông ký thác nỗi lòng. Cái thua thiệt của những tâm hồn hy sinh vì đại sự, khi tổ quốc đè nặng bờ vai, có thể tâm thức họ bị ray rứt phải xa lìa mẹ cha, xa xăm vợ con hay xa vắng chồng con, xa cách gia đình dù là nhỏ hay lớn, cái tình yêu nhỏ của lứa đôi phải nhường cho tình yêu lớn của quốc gia, của đại nghĩa mà bao anh hùng liệt nữ của dân tộc hay những chiến binh Việt Nam Cộng Hòa phải chấp nhận một nguyên tắc chung, dù nó tiềm ẩn từ sự chọn lựa bị ràng buộc bởi nội tâm, một qui luật bất thành văn của tình yêu quê hương đất nước. Thầy Huy của tôi làm thơ tạ lỗi với mẹ già vì phải lặn lội ly hương vì đất nước mà đã không làm tròn được chữ hiếu, hiếu đạo không tròn khiến cho con người trở nên đau khổ:

"Đời cách mạng tự bao lâu bôn tẩu,
Để mẹ già sống cực nhọc lầm than,
Trước những giòng lệ ngọc ứa chan chan,
Lòng con há dửng dưng không cảm xúc,
Nhưng cũng đã trót làm cho mẹ khóc”


Thầy Huy bộc bạch ý tưởng tiếp trong "Lời nguyện cầu của những kẻ làm cho Mẹ khóc":

“Và con sẽ phải làm cho mẹ khóc,
Hỡi quê hương, hỡi đất nước thân yêu,
Dầu gian truân khổ cực bao nhiêu,
Chúng tôi vẫn sẵn sàng nhận lấy,"


Tình mẫu tử này xin dành cho tình yêu non sông gấm vóc để ngày mai toàn dân Việt Nam được hưởng quang cảnh thái bình:

"Chỉ mong ước một ngày mai được thấy,
Cả non sông giống Việt hết điêu linh,
Cả toàn dân giống Việt được thanh bình,
Và chỉ dẫu một ngày hay một buổi."


Lời thơ như khẩn thiết van xin người hãy thứ lỗi cho người con nhất nguyện chốn dương trần mang lại tự do, công bình và bác ái, những lý tưởng mà Mẹ Việt Nam có lẽ đã thấu hiểu và thông cảm hơn ai hết:

"Dẫu một phút hay một giây ngắn ngủi
Được như lời nhất nguyện chốn dương trần,
Còn có cơ quì dưới gối từ thân,
Để khẩn thiết cúi xin người thứ lỗi"


GS. Phan Văn Song

Tôi xem bài viết của Giáo Sư Phan Văn Song gởi đi từ Pháp trong bài "Tháng Bảy, nhớ Chú Ba", thân phụ của Giáo Sư Song là một đồng chí chí thân với Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, nên trong sự gần gủi đó Giáo Sư Song ghi nhận:

"Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là nhà thơ, một nhà văn, một nhà nghiên cứu khoa học chánh trị, một nhà bình luận chánh trị, và ông cũng là một nhà giáo, và một nhà mô phạm lớn. Ngoài tài đức của một nhà mô phạm, ông lại là một lãnh đạo chánh trị biểu hiện được đức tín của người xưa.

Chính cái đạo đức, tư cách, tấm lòng, nếp sống của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy đã tạo cho các người lãnh đạo Đảng ngày nay một tấm gương sáng, để trông vào gương là cấp dưới tuân thủ mà không cần đến nghiêm lịnh.

Ngoài cái đức theo nghĩa đạo lý kia. Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy còn hội đủ những đức tánh theo quan niệm đạo lý chánh trị thời xưa: lập Đức, lập Ngôn, lập Công. Tôi đã nhiều lần nói đến đức tánh ấy của Giáo Sư. Hôm nay tôi xin lặp lại để quý đồng chí, quý chiến hữu nhớ và trông vào cái gương sáng của Người.

Lập Đức, có lẽ không một ai hoài nghi về đức độ và lòng bao dung của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy đối với chiến hữu, với bạn bè và cả với mọi người anh em quen biết xa gần.

Lập Ngôn, hay lập Thuyết phải nói đến nền tảng của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là Dân chủ. Mà Dân chủ nào? Ông không bao giờ nói đến Dân chủ đa nguyên. Dân chủ đương nhiên là đa nguyên rồi. Dân Chủ mà ông khai triển để lập chánh thuyết cho đoàn thể của ông từ trước năm 1975 ở Việt Nam là Dân chủ Pháp trị và Dân chủ dân bản.

Còn nói về lập Công, nếu ngày trước, Đại Việt Quốc Dân Đảng đã tin tưởng và giao cho ông những chức vụ then chốt để cuối cùng ông trở thành vị lãnh đạo, thì sau ngày ra hải ngoại, ông ráo riết xây dựng một dư luận chánh trị Việt Nam cho cuộc đấu tranh giải phóng quê hương. Ông có cái nhìn tổng hợp, theo định hướng thực hiện ba yếu tố, mà người ta gọi đó là công án hay phương trình Nguyễn Ngọc Huy: hải ngoại – quốc tế – quốc nội."

Kế đến, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, một thành viên cốt cán trong Đại Việt Quốc Dân Đảng, đã viết bài tham luận "Kỷ niệm về Anh Ba năm 2011". Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là người con thứ ba trong gia đình nên trong tình thân, những đàn em ông gọi ông là "anh Ba Huy". Tiến Sĩ Truyết đề cập về đảng Đại Việt và Con đường đang đi. Đại Việt nguyên thủy là mẫu số chung trước khi mẫu số chung này được chia ra 3 tổ chức, mà có thể được hiểu như sự tế phân ra 3 "hệ phái" là Đại Việt Quốc Dân Đảng, Tân Đại Việt và Đại Việt Cách Mạng Đảng.


Nếu như trên bước đường tranh đấu, vì chủ trương hay phương pháp khác nhau mà tách ra, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy vẫn luôn luôn tôn trọng các bạn đồng hành theo đuổi chung một mục tiêu chính yếu là chống chế độ Cộng sản độc tài và cùng các đoàn thể anh em phụng sự những lợi ích chung cho quê hương dân tộc. Bài đường thi Hai Ngã trong thi tập Hồn Việt, trang 83, Thầy Huy cho thấy dù đi khác nẻo đường, khác phương thức, tình anh em cùng một Mẹ Việt Nam, vẫn chia sẻ điểm chung là phục vụ quê hương:

“Ví dẫu đang đi khác nẻo đường,
Ta cùng lo phụng sự quê hương,
Ngày mai mới biết trong hai ngã,
Đâu đã đem về được ánh dương !
Em cứ đường em, anh nẻo anh,
Miễn sao chung một ý chơn thành,
Ta cùng bền chí lo tranh đấu,
Đến lúc san hà rạng vẻ thanh”


Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết ghi nhận tiếp sự kiện của quá khứ khi Cố Đảng Trưởng Trương Tử Anh khai sáng và xây dựng Đại Việt khi Người vừa mới 25 tuổi, nhưng đã có khả năng tạo lập thuyết "Dân Tộc Sinh Tồn" (DTST) mang ý nghĩa:

"(a) để làm khung cho nền tảng lý luận,
(b) để điều hướng hoạt động đấu tranh vững mạnh cho các mục tiêu chiến lược lâu dài, và
(d) để tạo điều kiện cho Đại Việt trường tồn đến ngày nay.

Trên trận tuyến đấu tranh chống CSVN hiện tại, Đại Việt có thể giương cao ngọn cờ DTST, đặt trên căn bản đầy tình tự dân tộc và nhân bản, làm đối lực đương đầu với chủ nghĩa CS vô thần, mị dân, với ảo tưởng dựng nên một nước VN xã hội chủ nghĩa mà ngay cả những người đề xướng ra cũng không xác định được xã hội chủ nghĩa cụ thể là gì.

Mỗi người trong chúng ta, dù có những suy nghĩ nào dị biệt đi nữa, cũng khó có thể phủ nhận được tính cách mạng đầy nhân bản của chủ thuyết DTST. Chính chủ thuyết nầy, theo quan điểm của riêng tôi, cho đến ngày hôm nay, vẫn còn là một đối trọng vững chắc, đối với ý thức hệ của chủ thuyết Cộng sản, để từ đó áp dụng vào các điều kiện thực tế Việt Nam, hầu thúc đẩy nhanh hơn tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

Đó là một xác quyết.

Chúng tôi muốn lập lại một lần nữa, trước tiến trình t0àn cầu hóa hiện nay, cùng với vai trò của từng quốc gia trên thế giới, dù muốn dù không, Việt Nam cần phải hội nhập vào cộng đồng nhân loại, trong đó chủ thuyết DTST có khả năng không phải để chuyển hóa, nhưng để xóa tan chủ nghĩa CS hiện đang cai trị Việt Nam."


Theo tiến trình biến hóa của sự chuyển hướng của thế giới, sự sắp xếp mới của trật tự toàn cầu hóa hậu chiến tranh lạnh, tổ chức cần có những sự đổi thay cho thích ứng mới, Tiến Sĩ Truyết cho biết tiếp:

"Thuyết Dân Tộc Sinh Tồn (DTST) là một sự chuyển hướng lớn về luận thuyết của Đại Việt. Tên tuổi của GS Huy đã đựợc nằm trong danh sách những người khai sáng và tiếp nối truyền
thống Đại Việt. GS Huy còn đã đưa ra một số điều kiện cho sự sinh tồn trong luận thuyết biến cải cùng 2 hình thức tranh đấu dựa theo hai nguyên tắc đối nội và đối ngoại. Đó là hai hình thức tranh đấu bên ngoài thân và tranh đấu bên trong, với chính nôị tâm của mình.

(a) Từ suy nghĩ trên, công cuộc tranh đấu của GS Huy được thể hiện dưới hình thức ôn hòa hay bạo động tuỳ theo trường hợp và tùy theo diễn biến của hòan cảnh chính trị quốc gia trong từng thời điểm vừa nói.
(b) Từ sự nhận định những khả năng tranh đấu vừa nói, GS Huy đã khai triển thêm thành ba bước khác nhau như 3 định luật, để rồi căn cứ theo đó mà hành xử, tuỳ theo tình huống đang xảy ra. Đó là luật sức mạnh, luật biến cải, luật hợp quần và giáo dục.

1. Luật sức mạnh, đứng trước thế phân cực mới trên thế giới, quả thật sức mạnh ngày hôm nay không còn căn cứ theo khả năng quân sự nữa, mà khả năng kinh tế mới là thước đo quyền lực tòan cầu. Thí dụ như TC với khả năng kinh tế vừa vượt qua Nhựt Bổn chiếm vị trí thứ hai sau Hoa Kỳ.

2. Luật biến cải, cũng được GS giải thích là khả năng thích nghi theo hòan cảnh và điều kiện trong tình trạng xã hội lúc bấy giờ. Trước tình thế mới ngày hôm nay, cần phải vận dụng trí óc để thẩm định tình hình, để biến cải mọi hợp tác quốc gia, thì phải dựa theo quan điểm đồng thuận và đồng lợi cho đôi bên cùng có lợi (win-win situation) mà vẫn giữ được tính chất độc lập dân tộc.

3. Luật hợp quần và giáo dục. Đây là một yếu tố nhập môn rất sơ đẳng, đã được giảng dạy từ những ngày đầu tiên của trẻ con miền Nam, trong chương trình giáo dục tiểu học, qua những câu chuyện ngụ ngôn trong sách quốc văn giáo khoa thư. Nhưng để thực hiện và áp dụng luật trên không phải dễ. Nhìn lại chính chúng ta, hiện tại bao nhiêu hệ phái của Đại Việt, đã thực sự làm suy yếu tiềm lực lớn lao của một Đảng, đã có quá trình tranh đấu lâu dài, và một thời đã được sự ngưỡng mộ và ủng hộ của đại khối dân tộc Việt Nam."


Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cho ấn hành tập thơ Hồn Việt, người thầy tôi sáng tác những bài thơ gởi gấm tâm sự lòng về vợ con, như trong thơ văn được xem như là thơ về tình yêu gia đình, hiền nội của thầy có nhủ danh là Dương Thị Thu, biệt hiệu Ngọc Ðiệp, đã qua đời vào năm 1974 trong một tai nạn tại bãi biển Vũng Tàu. Khi Cô Huy qua đời, mặc dù lúc đó Thầy còn ở tuổi trung niên đầy danh vọng và tài hoa, nhưng Thầy vẫn ở vậy nuôi con tôn thờ hình ảnh của người vợ hiền cho đến chết. Sự thủy chung nhỏ đến sự thủy chung lớn, giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu quê hương, thầy đã chu toàn ý nguyện của mình.

"Ví phỏng đường đời có mấy ai
Hiền thê giả biệt bởi chẳng may
Trung niên khép kín vì đạo nghĩa
Thử hỏi trần gian có mấy tay?"

(VHLA, Nén hương lòng kính thầy)

Ngạn ngữ tây phương vẫn đề cao bóng hình người đàn bà hỗ trợ cho sự thành công của người đàn ông, với Thầy Huy ắt phải là sự cô đơn trong những năm tháng dài sống bất định, bề bộn chính sự rầy đó mai đây. Trong bài thơ “Nhớ Thu”:

“Đành phải từ đây chỉ một mình,
Trên đường nhiệm vụ rộng mênh mông,
Một mình nếm hết mùi cay đắng,
Trải hết vui buồn với nhục vinh”


Trên bước đường tranh đấu bôn ba nơi hải ngoại, Thầy đa đoan công việc và không có nhiều thì giờ dành cho người con, bài thơ gởi con dường như chất chứa sự dầy xéo tâm tư như sau:

“Đức bạc tài sơ trí thấp hèn,
Nhưng đường tranh-đấu phải bon chen,
Vì Ba không thể nhìn dân tộc,
Khổ sở điêu linh dưới bạo quyền.
Việc nước đa đoan bỏ việc nhà,
Trong khi lưu lạc cõi trời xa,
Để Con đau khổ trong cô độc,
Cha đã không tròn nhiệm vụ Cha”


Nhưng rồi người con trai ấy của Thầy đã mãn phần ở Hoa-Kỳ, cùng khi ấy Thầy đã mắc chứng bệnh ung thư ngặt nghèo. Cuộc đời bề bộn quốc sự khiến Thầy không được tĩnh dưỡng đúng mức, trong những giây phút thầm kín, Thầy cho thấy qua thơ, đêm đêm cầu nguyện cho vợ, cho con:

"Và cứ đêm đêm lại nguyện cầu,
Hồn em siêu thoát cõi tiên châu,
Đợi Anh đến lúc tròn công quả,
Tìm đón Anh về tái hội nhau"


Và nhắn với người con trai cô đơn đã vắn số:

"Ba lại ngày đêm mãi khấn nguyền,
Cho Con cùng Má ở non tiên,
Hoàn toàn siêu thoát và thanh thản,
Ngày tháng tiêu dao hết não phiền.
Rồi khi Ba dứt nợ trần hoàn,
Với Má, Con về lại thế gian,
Để đón Ba đi miền cực lạc,
Cùng nhau đoàn tụ hưởng thanh nhàn"


Lo cho gia đình, lo cho quê hương, những ý nghĩ hẳn làm cho Thầy Huy mỏi mệt. Điều tôi lưu ý trong tâm thức của thầy là lo lắng về vấn nạn chia rẻ, kỳ thị tôn giáo, địa phương, chủng tộc... khiến cho tập thể chúng ta khó chống chọi với sự quỷ quyệt của CSVN, kẻ thù nguy hiểm mãi u mê quyền lực khiến đất nước càng ngày càng tụt hậu, suy đồi. Bài thơ "Việt Nam Thống Nhất" trong thi tập Hồn Việt biểu lộ niềm ưu tư của Thầy. Giống nòi Việt Nam phải đoàn kết với nhau trong công cuộc đấu tranh cam go, diệt giặc trong, chống giặc ngoài:

“Mặc những âm mưu rẽ giống nòi,
Mà người cố dựng mãi không nguôi,
Người dân nước Việt luôn kiên quyết,
Nắm chặt tay nhau chẳng để rời!
Cùng một non sông một giống dòng,
Sao đành chia rẽ Bắc, Nam, Trung,
Muốn dân tộc Việt sinh tồn được,
Phải để hòa chung máu Lạc Hồng”


Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, hay Thi Sĩ Đằng Phương nói với tuổi trẻ qua bài thơ Thanh Niên Việt Nam:

"Trong lịch sử bốn nghìn năm chiến đấu
Bốn nhìn năm lấy máu đắp giang sơn,
Bốn nghìn năm hoạt động để sinh tồn
Nòi giống Việt vẫn luôn luôn khẳng khái:
Không khuất phục kẻ thù khi thất bại,
Không kiêu căng khinh địch lúc thành công,
Trước khó khăn nguy hiểm chẳng sờn lòng,
Trong sung sướng chẳng cho tàn lữa dũng.
Trải bao luợt đương đầu cùng bão sóng,
Sau mấy lần hưng thịnh tiếp suy vong,
Sống luôn luôn mạnh mẽ, giống Tiên Rồng
Đã nổi tiếng kiêu hùng trên đất Á.
Người dân Việt với tinh thần sắt đá
Không bao giờ quên tổ quốc thiêng liêng,
Lớp này suy, lớp khác tiến ngay lên
Giữ hàng ngũ đấu tranh luôn chặt chẽ.
Trong trận đánh muôn đời không lúc nghỉ
Của giống nòi Hồng Lạc, hạng thanh niên..."


Những người trẻ, thanh niên Việt Nam hãy đứng lên đáp lời sông núi, bao thế hệ đã âm thầm luôn luôn cố gắng, đem máu xương tô điểm non sông, và nâng cao danh dự giống Tiên Rồng, hãy kiêu hãnh những trang sử Lạc Hồng:

"Từ trước đã âm thầm luôn cố gắng
Đem máu xương tô điểm cảnh non sông
Và nâng cao danh dự giống Tiên Rồng.
Thanh niên Việt từ nghìn xưa dũng mãnh
Đã xây đắp cho nước nhà cường thạnh
Đỡ giang sơn trong những lúc khuynh nguỵ
Sử Lạc Hồng từ trước đã từng ghi:
Thanh niên Việt là trụ đồng nước Việt."


Ðằng Phương Nguyễn Ngọc Huy giữ tình nghĩa thâm sâu với mọi cộng sự viên, ông được mến mộ và kính nể sau bao năm rời cõi dương thế, người người vẫn luyến tiếc, nhắc nhở ông từ tài danh đến đức độ, ông là người của quần chúng. Bút mực vẫn dành cho ông những lời trang trọng về con người của tâm đạo, của gương hy sinh cho nước nhà, của những trí tuệ uyên thâm và của những tư tưởng vì đại nghĩa, những suy tư vì tiền đồ của dân tộc:

“Suốt mấy nghìn năm giống Lạc Hồng
Đã cùng hợp sức đắp non sông,
Đã cùng chung sống trong thân ái
Và phải chung mưa nắng bão bùng”


Hiểm họa Đại Hán từ ngàn năm vẫn đe dọa chúng ta, chống giặc ngoại xâm phương bắc được nhắc nhở trong thơ:

“Dưới ách Trung Hoa mấy bạo tàn,
Tinh thần cố kết vẫn không tan,
Toàn dân hợp lực lo tranh đấu,
Cho đến khi ca khúc khải hoàn”


Những dòng cuối nói về người thầy của tôi, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy đã suốt đời tận tụy phụng sự quốc gia, lo lắng cho sự tồn vong hay sinh tồn của dân tộc. Những ngày cuối đời Thầy vẫn chưa gác kiếm nghỉ ngơi, dù rằng cơn bệnh ung thư hoành hành đau đớn, Thầy Huy mang tâm niệm kết hợp tập thể tranh đấu cho quê hương:

"Lúc bước chân vào nẻo đấu tranh,
Trên đầu mái tóc hãy còn xanh,
Nửa đời nếm đủ mùi cay đắng,
Giấc mộng ngày xưa vẫn chửa thành"


Cho đến lúc sức yếu hơi tàn, niềm tin trong ông vẫn lạc quan cho một ngày mai Việt Nam tươi sáng, một ngày mai ca khúc khải hoàn quang phục quê hương:

"Ta hãy cười lên đón ánh dương,
Ngày mai sẽ chói rạng quê hương,
Lòng ta đã thoáng nghe văng vẳng,
Tiếng khải hoàn ca đậy phố phường"


Lời kết:

Những nhà cách mạng, những chí sĩ chọn nghiệp tranh đấu cho quê hương, vì giang sơn, vì tổ quốc, như chí sĩ Phan Bội Châu sáng lập Duy Tân Hội, và phát động Phong Trào Duy Tân chống thực dân Pháp, khi bị bắt bỏ tù, Người làm thơ chữ Nôm "Vào ngục Quảng Châu", vẫn ngạo nghễ đầy nét dí dỏm:

"Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu,
Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.
Ðã khách không nhà trong bốn biển,
Lại người có tội giữa năm châu
Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở miệng cười tan cuộc oán thù.
Thân nọ vẫn còn, còn sự nghiệp,
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu."


Và như Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học của Việt Nam Quốc Dân Đảng lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Yên Bái năm 1930. Cuộc khởi nghĩa bất thành, nhưng người hùng nước Nam cho mọi thời đại, dõng dạc kết luận những hành vi của mình không hối tiếc: "Không thành công cũng thành nhân".

Đôi dòng kết luận này như nén hương lòng kính gởi Thầy Nguyễn Ngọc Huy. Xin cám ơn Thầy, biểu tượng cho một tấm gương sáng ngời vì đại nghĩa và một tinh thần sĩ khí xả thân vì đại cuộc. Ngày 28 tháng 7 năm 1990 Thầy đã ra đi tại Paris, Pháp Quốc, Tổng Thống Hoa Kỳ George H.W. Bush đã gởi thơ chia buồn kể về Thầy: "...để lại phía sau một cuộc đời phục vụ tận tụy cho dân tộc Việt Nam... xứng đáng làm gương cho các thế hệ mai sau".

Thật vậy, Thầy là một tấm gương cho các thế hệ mai sau.

Trần Việt Hải
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 11 guests