Tạp Ghi

KhoaiLang
Posts: 36
Joined: Thu Nov 04, 2010 11:32 pm
Contact:

Post by KhoaiLang »

Image

QUÁN CƠM CHỈ _

Bảo Trân
Chiều Chủ nhật, tôi bỗng dưng nổi cơn lười không muốn vào bếp nấu cơm nữa. Tôi nói Thảo ghé ngang quán hàng bán bánh mì, cơm chỉ gần góc đường Bolsa và Brookhurst (Quận Cam, California, nơi rất đông người Việt - BT) để mua hai phần bánh xèo về ăn, tiện thể, tôi cũng muốn mua vài cái bánh tiêu ăn thử, xem món bánh tiêu của quán hàng này ngon như thế nào mà cô em của Thảo nói là “phải” ghé mua mỗi lần đi xuống Little Sài Gòn.

Tôi đặt mua hai phần bánh xèo trước, rồi quay sang quầy hàng thức ăn ngọt để mua bánh tiêu. Đã có một người khách đứng ở quầy hàng trước tôi, và bà đang bảo bà bán hàng gói cho bà “tất cả” những cái bánh tiêu nằm trong khay bánh. Tôi hấp tấp hỏi bà bán hàng còn bánh tiêu không thì bà bảo là hết rồi. Tôi buồn tình buông hai tiếng - “Thế à!”, rồi đứng qua một bên, không xếp hàng nữa. Thấy vậy, người khách hàng đang “gồm thâu” hết mười mấy cái bánh tiêu trong khay quay lại hỏi tôi:

- Chị muốn mua mấy cái?

Tôi trả lời:

- Tôi chỉ muốn hai cái thôi.

Bà khách, mà tôi quên hỏi tên, nên tôi tạm gọi là “bà khách bánh tiêu”, nói với bà bán hàng:

- Dì để lại cho chị này hai cái đi.

Tôi quay sang cười với bà khách hàng, nói:

- Cám ơn chị. Tôi nghe cô em chồng quảng cáo bánh tiêu ở đây ngon nên muốn thử cho biết.

Bà khách bánh tiêu cũng cười:

- Chị không thấy tôi mua hết nguyên khay sao?

Bà khách bánh tiêu nhìn qua quầy hàng thức ăn mặn nói:

- Cho con hai hộp lớn sườn ram, một hộp canh khổ qua, và đổ cho con thêm hai phần bánh xèo.

Bà bán hàng ngoái cổ vào phía nhà bếp gọi lớn trước khi bước sang quầy hàng cơm chỉ:

- Hai phần bánh xèo nữa Tám ơi.

Sau khi mua xong thức ăn rồi, bà khách bánh tiêu cũng đứng vào một góc quán hàng, gần tôi, chờ bánh xèo. Bà nói:

- Bánh tiêu ở quán này ngon nhất vùng Little Saigon đó. Để qua đêm nướng lại ăn cũng còn ngon.


Vừa lúc đó có một người Mễ và một người Việt Nam bước vào. Ông Mễ chậm chạp với cái gậy chống trên tay, nhường bước cho người Việt Nam đứng xếp hàng trước. Anh chàng Việt Nam này còn rất trẻ, chắc khoảng chừng trên dưới ba mươi tuổi, nhưng ăn mặc bê bối luộm thuộm và dơ dáy làm sao. Anh gọi mua một hộp cơm phần ba món, có cả canh, một hộp cơm rang, thêm mấy món mặn nữa để riêng. Bà bán hàng vừa múc thức ăn vào hộp vừa nói với anh:

- Nhiều quá ăn sao hết.

Nhưng người khách hàng không đếm xỉa gì đến lời nói của bà bán hàng, anh chạy sang tủ nước lấy mấy lon coke lạnh đưa cho bà. Anh có vẻ vội vã như sắp phải đi ngay. Bà bán hàng vừa gói thức ăn vừa nói như phân bua với tôi và bà khách bánh tiêu:

- Mấy người này là vậy đó, có ai cho thì mua lung tung, mua nhiều quá hổng biết làm sao ăn hết.

Tôi ngạc nhiên nhìn bà bán hàng, rồi nhìn bà khách bánh tiêu như thầm hỏi: “Ai lại bán hàng mà phàn nàn là khách mua nhiều bao giờ”. Bà khách bánh tiêu có vẻ hiểu ý tôi nên thì thào giải thích:

- Anh chàng này là một trong những người homeless (vô gia cư, không nhà cửa. BT) đó, họ cứ đứng xớ rớ trước cửa mấy tiệm bán đồ ăn chờ xem có ai cho gì không.

Bà bán hàng cầm mấy cái túi thức ăn và nước để trên mặt quầy nhưng chưa giao cho người khách homeless, bà nói: - “Hết thảy $17.5” -, rồi chờ thâu tiền. Tôi cũng đứng nhìn xem anh homeless này có chừng bao nhiêu tiền mà dám tiêu nhiều như vậy cho một bữa cơm chiều. Nhưng không có dấu hiệu gì chứng tỏ là anh sẽ lấy tiền ra trả. Bà bán hàng nói lớn, trống không:

- Ai trả tiền cho “nó” đây?

Tôi nhìn quanh quất không biết bà hỏi ai, vì ở trong quán hàng này, ngoài bà bán hàng, có tôi, bà khách bánh tiêu, và ông Mễ, thì đâu còn ai nữa. Bà bán hàng nhìn người khách homeless đang giơ tay chờ đợi giao hàng, rồi nhìn sang bà khách bánh tiêu:

- Cô trả cho “nó” hả?

Bà khách bánh tiêu lắc đầu nói không, rồi quay sang tôi nói nhỏ:

- Tôi mới cho anh ta tiền hồi nãy.

Ông Mễ, tay cầm một tờ $20, nãy giờ đứng yên lặng trước quầy hàng, thấy ồn ào nên lên tiếng hỏi:

- What are you guys saying? I don’t understand. (Các vị đang nói chuyện gì vậy? Tôi không hiểu. BT)

Bà bán hàng lặng im, bà không biết phải trả lời ông Mễ ra sao, bà đưa mắt nhìn bà khách bánh tiêu như nhờ bà nói giúp. Bà khách bánh tiêu quay sang ông Mễ giải thích:

- We are talking about this man. He bought too much food, but he has no money to pay. What can we help you, sir? Do you need to buy anything? (Chúng tôi đang nói về anh chàng này. Anh ta lấy quá nhiều đồ ăn nhưng không có tiền trả. Chúng tôi có thể giúp gì, thưa ông. Ông có cần mua gì không ạ?. BT)

Ông Mễ lắc đầu:

- No, I don’t need anything. I promised to buy this man dinner. Just give him the food he wants. I will pay. (Không, tôi không cần mua gì. Tôi đã hứa sẽ mua bữa tối cho anh này. Bà hãy đưa đồ ăn cho anh ấy. Tôi sẽ trả tiền. BT)

Bà khách bánh tiêu quay lại nói với bà bán hàng:

- Ông Mễ nói ổng trả tiền cho người này.

Bà bán hàng há hốc miệng nhìn người khách Mễ, nhưng vẫn chưa chịu đưa mấy gói thức ăn cho người khách homeless. Bà khách bánh tiêu nhắc lại:

- Ông Mễ nói dì đưa đồ ăn cho người ta, ổng trả tiền.

Bà bán hàng luống cuống thả hai gói thức ăn và bịch nước trên quầy. Người khách homeless nhanh tay chộp lấy rồi phóng nhanh ra cửa.


Tôi ngạc nhiên nhìn ông Mễ, người đã rộng lòng chia chén cơm chiều nay cho người homeless. Ông chừng khoảng trên dưới bốn mươi tuổi thôi, khuôn mặt trắng trẻo, thân hình thon gọn, mạnh khỏe, nhưng hình như là hơi bị tật ở chân, vì ông phải nhờ vào chiếc gậy chống trên tay trong mỗi bước đi khập khễnh. Ông vừa cầm tiền thối lại vừa cau mày hỏi:

- What is going on? Why was there so much commotion in here? Why didn’t she give the food to the customer? (Có chuyện gì đang xảy ra vậy. Sao ồn ào thế? Sao bà ta không đưa thức ăn cho khách?. BT)

Một lần nữa bà khách bánh tiêu phải trả lời giúp bà bán hàng:

- Because the saleswoman did not know who would pay for the food. That man is homeless, you know. (Bởi vì bà ấy không biết ai sẽ trả tiền đồ ăn. Anh chàng này là dân lang thang mà, ông thấy đấy!. BT)

Tôi thêm vào:

- That man ordered too much food for one person to eat. The saleswoman was just afraid that the homeless man was taking advantage of the people who were trying to help him. (Anh ta yêu cầu quá nhiều đồ ăn mà một người có thể ăn được. Bà bán hàng e ngại ông ta lợi dụng những người có lòng tốt. BT).

Ông Mễ lắc đầu nói:

- It’s ok. We still have jobs, we still have money. It is good that we can share with the less fortunate. We do whatever our heart says. How people act is their business. Don’t judge them if we don’t know their circumstances. Maybe he got more food because he wanted to save some for tomorrow, or perhaps to share with those who are in the same boat. (Không sao mà. Chúng ta vẫn còn có việc làm. Chúng ta vẫn còn có tiền. Chia sẻ cho những người có số phận không may là điều tốt. Chúng ta làm những điều mà trái tim mách bảo. Còn họ cư xử thế nào đó là việc riêng của họ. Đừng kết tội họ nếu ta không biết rõ tình trạng người ta thế nào. Có thể anh ấy lấy nhiều đồ ăn vì muốn để dành cho ngày mai hoặc có thể để chia cho những người cùng cảnh ngộ. BT)

Nói xong, ông Mễ chống gậy chậm chạp bước khỏi quán hàng. Tôi, bà khách bánh tiêu, và bà bán hàng, đứng yên không nói được lời nào. Sự im lặng bao trùm lấy chúng tôi mãi đến mấy phút sau, khi bà bếp đem mấy phần bánh xèo ra để lên quầy hàng trước mặt, chúng tôi mới hết nỗi bàng hoàng.

Tôi với tay lấy túi thức ăn của mình, trả tiền rồi chào bà khách bánh tiêu đi ra xe. Tôi kể cho Thảo nghe chuyện người Mễ trả tiền cơm cho người homeless Việt Nam. Thảo gật gù khen:

- Ông Mễ đó thiệt hay nghen.

Suốt một quãng đường về tôi im lặng nghĩ lại chuyện vừa xảy ra trong quán hàng cơm chỉ. Tôi cảm thấy có chút hổ thẹn vì mình đã không có được một tấm lòng quảng đại như ông Mễ đó, một người khác chủng tộc đã giúp đỡ người đồng hương của tôi. Tôi đã không nghĩ đến cái việc nhỏ nhoi tôi có thể làm là mua cho người đồng hương khốn khổ đó một phần cơm. Không những thế, tôi còn có những ý nghĩ coi thường người khách homeless vì... trẻ mà không chịu tìm việc đi làm, chỉ biết sống nương nhờ vào người khác, vì... người gì đâu mà....

Tôi ngượng ngùng khi nhớ lại thái độ của mình khi đã cố tình bước lùi xa thêm một chút nữa, để “rộng chỗ” cho người đồng hương homeless khỏi “đụng chạm” vào tôi trong lúc anh lăng xăng chạy từ quầy hàng sang tủ nước. Ừ nhỉ, tại sao tôi lại nông nổi đến thế? Tôi không nghĩ được như ông Mễ: “Đừng xét đoán người khi không biết rõ hoàn cảnh của họ”.

Tại sao tôi không băn khoăn tự hỏi, biết đâu những người homeless này có những cái khó khăn mà họ đang phải phấn đấu để vượt qua?

Tại sao tôi không nghĩ là có thể vì một lý do nào đó nên họ không có cơ hội để tìm kiếm, giữ vững được công việc làm? Cũng có thể vì tuổi trẻ lầm lỡ, nên họ đã vướng mắc vào vòng lao lý, rồi vì cái quá khứ đen tối đó đã đưa họ vào tình cảnh hôm nay? Cũng có thể vì thất cơ lỡ vận nên họ mới trở thành homeless, không có một chốn nương thân, không biết ngày mai có gì ăn để sống?!

Ông Mễ tôi gặp chiều nay cao thượng quá, có một trái tim to lớn quá. Ông giúp người mà không cần biết là có bị lợi dụng hay không. Ông cũng chẳng quản ngại là cái người được ông giúp không cùng chung một quê hương, xứ sở với ông. Tôi cũng cầu mong cho người homeless Việt Nam trẻ đó có thể thoát qua cơn đói nghèo hôm nay và sau này anh cũng sẽ bắt chước ông Mễ ngày nào, đem bát cơm Phiếu Mẫu chia cho những người bất hạnh hơn anh.

Bảo Trân
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Người Việt Nam có bài Hoa không?
Việt Nam nhìn từ thế giới ảo

Bùi Công Tự
(Nguồn: Blog Nguyễn Xuân Diện: nguyenxuandien.blogspot.com)

Phải chăng ông Trời phú cho đất nước Việt Nam thiên thời, địa lợi và con người hòa hiếu hơn đất nước Trung Quốc nên hàng triệu người Hoa
đã bỏ lại mồ mả tổ tiên để di cư đến Việt Nam mưu cầu đời sống, từ ngàn năm xưa và cả hôm nay?

Image
Khu gia cư trong trung tâm thương mại Ðông Ðô Ðại Phố của người Hoa tại Bình Dương, Việt Nam. (Hình: danchimviet.info)



Một thập niên qua lượng người Trung Quốc vào Việt Nam càng ngày càng nhiều. Họ đến để kinh doanh hay làm gì gì nữa thì chỉ có họ biết. Một số đông đến theo rất nhiều các dự án của Việt Nam mà các công ty Trung Quốc trúng thầu giá rẻ. Một tỉnh nhỏ như Ninh Bình mà cũng đang có tới 2,400 người Trung Quốc làm việc. Các nơi khác như Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh thì số người Trung Quốc còn đông gấp bội. Suy ra cả nước con số rất lớn. Nó chiếm mất đáng kể chỗ làm việc của những người Việt Nam đang còn thất nghiệp.

Hôm nay tôi đọc thấy một bạn viết trên blog cá nhân những dòng sau đây:

“Mình cũng lấy làm lạ, sao mà lắm Tàu trên đất nước mình thế? Có đi từ Bắc vào Nam mới biết. Trên tàu hỏa cũng thấy đông, xuống ga cũng gặp nhiều, qua Thanh Hóa, Vinh và các thành phố khác cũng nhan nhản người Tàu.”

“Ở Việt Nam trông thấy anh nào nhếch nhác, đầu trọc, mắt một mí, thuốc lá rút từng điếu ra mời thì chắc chắc đó là cái anh người Tàu... nhận ra ngay” (Blog Mai Tiến Nghị).

Thành phố Hồ Chí Minh nơi tôi ở có lẽ có nhiều người Trung Quốc hơn các tỉnh thành khác. Có hôm 5h sáng đi thể dục đã gặp một anh “đầu trọc, mắt một mí” ngồi sau xe máy một cô gái từ trong hẻm đi ra. Những người Trung Quốc mới đến thành phố này chủ yếu làm kinh doanh nên trông họ cũng khá lịch sự. Những chuyện tôi nghe kể người Trung Quốc làm tầm bậy tầm bạ thường là ở nơi có những công trình xây lắp hay khai mỏ. Như chuyện ở Thanh Hóa họ kéo bè kéo đảng cả trăm người cầm gậy gộc đang đêm xông vào làng đuổi đánh bà con ta. Cảnh ấy đã có người quay được video phát trên mạng Internet.

Vậy chúng ta nên nhìn nhận về những người Trung Quốc đang làm việc ở Việt Nam như thế nào?

Thực tế đã cho chúng ta bài học lịch sử là những người cầm quyền Bắc Kinh luôn luôn tìm mọi cách kìm hãm sự phát triển của Việt Nam, khi ngấm ngầm, khi công khai phá hoại chúng ta. Họ đang từng bước xâm chiếm biển Ðông và Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam cũng như đang rục rịch gây hấn ở biên giới phía Bắc. Về lâu dài họ có dã tâm xâm lược cả nước ta. Chính vì thế họ buộc chúng ta phải cảnh giác với mọi người Trung Quốc đang hiện diện trên đất nước này.

Rất có thể cái anh người Tàu đang tợp ly café ở bàn bên cạnh chỗ ta ngồi là một tên gián điệp Bắc Kinh? Rất có thể cái cậu “đầu trọc, mắt một mí” đêm qua ngủ trọ nhà cô gái trong hẻm là một tên phá hoại? Rất có thể cái đơn vị sản xuất gồm những nhà quản lý, kỹ sư và công nhân đang xây lắp cho một dự án trúng thầu kia là một đơn vị sư đoàn hoặc trung đoàn quân đội Trung Quốc trá hình? Và ai biết được họ đang thực hiện âm mưu gì trong những khu đất mênh mông mà họ rào kín bưng nội bất xuất, ngoại bất nhập?

Vì thế tâm lý nhân dân ta hiện nay là không muốn có người Trung Quốc trên đất nước mình. Ðó là sự thật. Vì cảnh giác là chính chứ không phải vì sợ mất chỗ làm việc.

Tuy vậy để khách quan chúng ta cứ đặt ra câu hỏi: Người Việt Nam có bài Hoa không?

Bảo không ư? Sao các anh chị lại gọi người Trung Quốc là Tàu khựa, Tàu ô, Chú Khách?

Xin thưa đó cũng là sự thật, sự thật của những câu nói đùa.

Sự thật không đùa là người Việt Nam đã thờ Khổng Tử, thờ ông Quan Vân Trường ở những đền miếu tôn nghiêm nhất. Thậm chí một tên tướng giặc như Sầm Nghi Ðống cũng được dân ta cho một cái miếu thờ nho nhỏ. Tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay trong khu đô thị Phú Mỹ Hưng có một đại lộ rất đẹp mang tên Tôn Dật Tiên và một trường học mang tên một người Trung Quốc khác.

Sự thật lịch sử là đất nước và nhân dân Việt Nam đã cưu mang hàng triệu người Trung Quốc đến làm ăn sinh sống. Theo tài liệu lịch sử, cuộc di cư của người Hoa đến Việt Nam phổ biến từ sau các cuộc chiến tranh ở Trung Quốc. Họ chạy trốn các cuộc chiến cuối đời Ðường-đầu đời Tống (960-1279), cuối đời Tống-đầu đời Nguyên (1279-1368), cuối đời Nguyên-đầu đời Thanh (1662-1911).

Những đô thị thương mại như Vân Ðồn (TK XV), phố Hiến (TK XVI), Hội An (TK XVII) và Sài Gòn-Chợ Lớn (TK XVIII-XX) là nơi tập trung nhiều người Hoa sinh sống nhất.

Năm Kỷ Mùi (1679) hai viên tướng của nhà Minh là tổng binh Dương Ngạn Ðịch và phó tướng Trân Thượng Xuyên, sau khi thua trận với người Mãn Thanh, đã đem 3,000 quân chạy sang vùng cửa biển Thuận An của Việt Nam. Không chịu làm tôi tớ cho nhà Thanh nhưng họ chấp nhận làm bề tôi cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần đã cưu mang những người Trung Quốc này, cho họ về ở vùng Biên Hòa (Trần Thượng Xuyên) và vùng Mỹ Tho (Dương Ngạn Ðịch). Sau này những người Trung Quốc nói trên đã đóng góp vào việc phát triển những vùng đất đó.

Một người Trung Quốc khác cũng là tướng nhà Minh chạy sang Việt Nam là Mạc Cửu thì được chúa Nguyễn cưu mang ở vùng đất Hà Tiên.

Giữa TK XIX, để tránh sự đàn áp của nhà Thanh, hàng ngàn người Trung Quốc và gia đình thuộc đội quân Cờ Ðen, Cờ Vàng vốn là tàn quân của các cuộc khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc đã từ Quảng Ðông, Quảng Tây tràn vào Việt Nam. Ðội quân Cờ Ðen do Lưu Vĩnh Phúc (1837-1917) cầm đầu đã tham gia cùng quân đội nhà Nguyễn đánh Pháp, giết được viên Ðại Úy Garnier tại Cầu Giấy.

Những người Trung Quốc này sau khi tổ chức bị tan rã đã không trở về Trung Quốc. Họ định cư tại các vùng miền núi của Việt Nam như Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Tại vùng Ðịnh Hóa và Ðại Từ Thái Nguyên tôi đã gặp những người họ Lương tự nhận là họ hàng của Lương Tam Kỳ một thủ lĩnh quân Cờ Ðen. Như vậy thêm một lần nữa đất nước Việt Nam lại cưu mang những người tị nạn đến từ phương Bắc cho dù có một thời họ làm thảo khấu.

Người Hoa hay người gốc Hoa hiện nay đang sống trên lãnh thổ Việt Nam có gần 1 triệu người. Tỉnh thành nào ở Việt Nam cũng có người Hoa. Ðông nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh. Do sống ở Việt Nam lâu đời nên đa số bà con người Hoa có quốc tịch Việt Nam. Tuy thế họ vẫn giữ được bản sắc Hoa rất đậm, vẫn nói tiếng Hoa, phong tục tập quán Hoa. Ðồng thời họ thông thạo tiếng nói và tập quán của người Việt. Những năm gần đây người Hoa ở Trung Quốc lục địa, Ðài Loan, Hồng Kong đến làm ăn ở Việt Nam chưa có số liệu nhưng ước đoán cũng phải vài chục ngàn người. Nhìn chung người Hoa và gốc Hoa đang sống ở Việt Nam đều có đời sống khá giả hơn người Việt.

Cũng cần nói thêm là trong số những người Trung Quốc đang làm việc ở Việt Nam hiện nay có nhiều người là dân nghèo, họ đến Việt Nam để kiếm miếng cơm manh áo.

Cho nên chúng ta cần nhìn họ với con mắt nhân văn.

Bây giờ xin bạn đọc trả lời giúp tôi câu hỏi: Người Việt có bài Hoa không?

Tuy nhiên với người Trung Quốc tôi xin nhắc tại đây câu nói của nhà cách mạng Tiệp Khắc tác giả “Viết dưới giá treo cổ”: CON NGƯỜI, HÃY CẢNH GIÁC! TÔI YÊU TẤT CẢ CÁC NGƯỜI.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Ði biểu tình thì làm được gì và câu chuyện nước Vệ

Người Buôn Gió
(Nguồn: nguoibuongio1972.multiply.com)

Chúng ta quá quen với câu hỏi vô cảm, có phần móc máy này khi chúng ta đang vươn ngực đứng trước hàng rào cảnh sát và an ninh dày đặc. Khi mà muốn thể hiện được lòng yêu nước cái giá mà chúng ta phải đánh đổi là bị bắt bất cứ lúc nào.

Ði thế này đòi hay không chưa biết, nhưng chắc chắn một điều là kẻ thù xâm lược đã phải tạm ngừng hành động gây hấn để nghe ngóng thái độ và phản ứng của chúng ta. Dã tâm thôn tính lãnh thổ chúng ta của quân xâm lược không bao giờ chấm dứt, khi chúng ta lơ là, thiếu cảnh giác, ngây thơ tin vào lòng hảo tâm của chúng. Thì đấy chính là cơ hội để dã tâm chúng biến thành hành động. Ðiều này thì sự thực diễn ra đã chứng minh rõ ràng. Không cần thiết nói nhiều.

Nếu chúng ta biểu tình thế này, Trung Quốc huy động người của nó đông gấp 5 lần ta cũng biểu tình thì sao?

- Cho biểu tình đông gấp 50 lần đi, đố chúng nó dám. Trung Quốc có Thiên An Môn, có Nobel Văn Chương Cao Hành Kiện, Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba, có Ngải Vị Vị, có một giáo hội đang bị chính quyền o ép tách khỏi ảnh hưởng của Vatican, có Tân Cương, Tây Tạng... có hàng hà đa số mối nguy cơ bất ổn. Trung Quốc leo thang gì chứ leo thang biểu tình với Việt Nam thì chỉ có chính quyền chuyên chế Trung Quốc phải ôm hận trước.

Trung Quốc mạnh thế, sợ gì nhúm người Việt Nam biểu tình, Trung Quốc có vũ khí hiện đại, có tiềm năng quân sự hùng hậu. Trung Quốc sợ gì, biểu tình thế khiến họ ức, họ lại làm mạnh thêm chứ được gì?

- Trung Quốc không những sợ nhúm người Việt Nam biểu tình, mà còn quá sợ nữa là đàng khác. Ðừng nói chuyện tiềm lực quân sự ở đây. So với Mỹ có B52, bom nguyên tử vũ khí tối tân đứng đầu thế giới của những năm 60 thế kỷ trước thì Việt Nam còn chưa ngại, ba cái hàng Tàu ghẻ đã phải lo gì.
Image
Tác giả Người Buôn Gió (phải) với Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà (vợ TS Cù Huy Hà Vũ) tham gia biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội.
(Hình: Blog Người Buôn Gió)

Muốn biết rõ thì nghe chuyện nhà Sản trong Ðại Vệ Chí Dị

Nhà Sản từ khi nắm triều chính nước Vệ, chiến tranh liên miên với các cường quốc quân sự trên thế giới. Ðánh nhau nhiều đến nỗi thành quen. Cứ mỗi lần đánh nước này, thì nước khác lại tiếp vũ khí, của cải cho người Vệ chiến đấu với nước kia. Mấy chục năm ròng người Vệ không cần lo làm ăn, buôn bán chỉ có mỗi việc nhận lương thực và vũ khí của bên ngoài mà đi chinh chiến. Do đó vào thời kỳ tạm gọi là thanh bình của nước Vệ, quan quân nhà Sản vốn quen chiến trường, giờ gặp thương trường thành ngớ ngẩn, không biết xoay sở. Rút cục là chỉ đi vay nợ và bán tài nguyên, ngân sách thâm thủng, tài nguyên cạn kiệt.

Nước Tề bấy lâu nay vẫn có bụng dòm ngó nước Vệ, thấy Vệ suy, bèn đóng hàng loạt chiến thuyền dong ra biển Vệ tung hoành thu thuế ngư dân, khai thác tài nguyên, khoáng sản ở vùng lãnh hải của Vệ. Một mặt Tề Bá Vương vẫn thắt chặt quan hệ với các quan lại nhà Sản, tạo cho họ những nguồn lợi và bảo đảm chức tước.

Tưởng thế là thâu tóm được nước Vệ, quân Tề ngày càng bạo ngược.

Mùa Hạ năm Tân Mão, triều nhà Sản thứ 66. Dân Vệ nổi lên biểu tình phản đối gay gắt hành vi bá đạo của Tề.

Nhà Tề mới họp lại bàn.

Có quan nói:

- Một dúm người Vệ con con đó được cái chi, người của ta bên đó giữ chức vụ cao trong triều còn đầy.

Nước Vệ không dám kháng cự đâu.

Quan khác tâu:

- Thưa đại vương, nước Vệ cạn kiện, vũ khí hoen rỉ, quân lính chểnh mãng, quan lại hoang đàng, dân tình bạc nhược. Dẫu đám phản đối đó có đông gấp mấy đi nữa cũng chả khiến Vệ khác đi được. Chúng ta cứ vậy mà tiến thôi.

Triều nhà Tề bàn đang bàn đến đó, bỗng có một vị quan già phụng sự mấy đời triều nhà Tề từ thời Tề Ðặng Vương đến nay e hèm một cái. Mọi người ngoảnh lại, vị quan đó lên tiếng:

- Một nhúm người đó là mầm đại họa cho nhà Tề, không những có thể ngăn Tề ta chiếm được đất của Vệ, mà còn làm nước Tề suy sụp.

Vua quan nhà Tề ngạc nhiên nhìn lão tướng già, Tề Bá Vương hỏi:

- Khanh nói rõ xem nào.

Vị quan già bước ra giữa sân chầu, vái lạy Vương và các quần thần. Sau đó nói một hơi dài:

- Thưa đại vương, dưới triều nhà Sản, nước Vệ chỉ biết có nghề chinh chiến. Mỗi lần họ đánh trận như chúng ta biết thì họ được nước khác viện trợ đầy đủ từ cái kim sợi chỉ đến chiến xa, hạm thuyền. Ngay nước Tề ta cũng cung cấp cho họ để họ đánh Cờ Hoa. Phú Lãng Sa. Sau này họ lại được Bạch Mao tiếp viện để đánh nước Cam. Nói tóm lại một điều nước Vệ chính chiến với tất cả những cường quốc trên thiên hạ. Khi họ đánh trận thì yếu tố vũ khí, lương thực... họ không hoàn toàn phải lo, bởi cường quốc khác đứng đằng sau lo cho họ. Chuyện Tề và Vệ có chinh chiến so đo về tiềm lực không biết được ai hơn ai. Cho nên điều quan trọng nhất là phải ngăn người Vệ vốn là nước phên giậu che chắn cho ta đừng trở thành tiền đồn của kẻ khác.

Bấy lâu chúng ta vẫn dùng tiền bạc can thiệp để gây dựng những nhân tố của chúng ta trong triều Vệ. Những người này giúp chúng ta đưa Vệ đi đúng bổn phận là chư hầu, phên giậu cho nước Tề. Ngoài ra còn chăn dắt, định hướng cho dân Vệ thuần phục, mến yêu nước Tề qua những loại hình văn hóa Tề tràn ngập đời sống Vệ hàng ngày. Bộ phận chiến tranh tâm lý của Tề ta trong mấy chục năm qua cũng đạt nhiều thành công lớn, khiến cho bọn Vệ giờ trở nên ích kỷ, độc ác, trành giành, xâu xé nhau chỉ nghĩ đến sao cho hưởng thụ được cá nhân mình. Trong cuộc tấn công toàn diện núp dưới 16 chữ vàng, về kinh tế ta đã khống chế hoàn toàn nước Vệ, về nhân sự cũng có nhiều khả quan, về tinh thần văn hóa hầu như đã làm tê liệt ý chí người Vệ, thế nhưng dù quân sự ta mạnh hơn Vệ nhiều lần, chúng ta cũng cần phải đắn đo.

Như thần đã nói trên, người Vệ dưới sự chuyên chính của nhà Sản, nếu quyết chiến thì bất lợi cho Tề vô vùng. Nay nước Tề ta hùng mạnh, các nước trong thiên hạ ganh ghét. Nếu Tề, Vệ có giao tranh. Chắc hẳn các nước sẽ xúm vào viện trợ vũ khí tối tân cho Vệ, tiếp tế nguồn lương thảo. Nước Vệ quen nghề xông pha tuyến đầu từ trước đến nay, giờ lúc tiền của ngân khố hết, nguy cơ mất lãnh thổ, như dồn đến đường cùng, lẽ nào họ không quay lại nghề cũ nhận của cải từ nước khác mà giao tranh với ta. Về địa lý Vệ gần với ta, đã giao tranh là phải kéo dài liên miên. Nước Tề tập trung đối phó với Vệ cũng thực ra là đối phó với nhiều nước thù ghét Tề hậu thuẫn đằng sau cho Vệ. Vô hình chung ta chiến đấu với Vệ, còn các nước khác rảnh rang phát triển. Sau chiến tranh thắng thua thế nào thì nước Tề cũng bị ảnh hưởng, không theo kịp các nước khác, chưa nói đến là sa lầy.

Nay nước Vệ đang bạc nhược về tinh thần, vua tôi mỗi người một ý, đó là công lớn của bộ tuyên huấn chúng ta trong suốt mấy chục năm hợp tác toàn diện với Vệ. Tiền của tiêu hao không biết bao nhiêu mới khiến người Vệ khiếp nhược chinh chiến như vậy. Bỗng dưng có đám Vệ nổi lên, dẫu chỉ vài trăm mống, nhưng cũng là cái họa, bởi nó là ngọn lửa khêu gợi tinh thần dân tộc, quyết chiến đến cùng. Nếu ảnh hưởng ngày càng to sẽ gây khó khăn cho những nhân sự mà chúng ta cấy trong triều Vệ khi can thiệp vào đường lối nước Vệ vào những quyết sách có lợi cho nước Tề ta. Nếu dẫn đến dân vua tôi nhà Vệ đồng lòng sát cánh chiến đấu với ta, thì bao nhiêu kế hoạch diễn biến trong lòng địch của chúng ta từ trước đến nay thành phá sản.

Mà nếu như xảy ra giao tranh Vệ và Tề, thì thần cũng đã nói rõ lúc trước. Mong đại vương và triều thần nghe cho vài lời.

Triều đình Tề xôn xao, ai cũng nhận thấy lời lão tướng già nói có lý. Thống nhất bàn bạc xong, Tề Bá Vương quyết sách rằng:

- Phải khai thác tối đa những thuận lợi mà chúng ta đang có. Triệt để những tư tưởng, mầm mống gay gắt với Tề đang diễn ra tại nước Vệ. Nay chỉ dụ gấp cho tay chân ta trong triều Vệ ngăn chặn các cuộc biểu tình, điều tra cô lập và làm vô hiệu hóa những đối tượng chủ chốt có ảnh hưởng trong đám tuần hành, hạn chế đưa tin hoạt động của Tề ngoài khơi nước Vệ. Mặt khác đưa đoàn phái bộ sang để ve vãn triều thần Vệ, khi đoàn phái bộ sang, các tay trong phải phối hợp chặt chẽ với phái bộ, tuyên truyền rằng Tề ta không có bụng dạ nào ngoài ý tốt muốn giao hảo với Vệ chư hầu. Mặt khác phải tập chung tập luyện hải quân, nhân lúc Vệ chủ quan đánh một trận tiêu diệt nhanh gọn như hồi Mậu Thìn, chiếm giữ và xây dựng các căn cứ lâu dài kiên cố. Ðưa chúng vào thế đã rồi, lúc đó ta phủ dụ vỗ về triều Vệ rằng đằng nào cũng đã xong rồi, giờ chỉ còn hợp tác hữu hảo để cùng nhau phát triển. Vừa mua chuộc bọn quan lại, vừa ký kết vài hiệp định thương mại đầu tư tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Ðến lúc đó thì Vệ còn bụng đâu mà làm được điều gì nữa.

Tề Bá Vương bãi triều

Mùa Hạ năm đó, phái bộ nhà Tề sang Vệ bàn chuyện hữu nghị, hòa bình, không gây căng thẳng.

Nước Vệ bớt đưa tin về biển khơi.

Các tỉnh thành công sai ra sức gắt gao trấn áp những người Vệ biểu tình phản đối Tề.

Duy ở kinh đô còn le lói mấy mống kiên trì khơi dậy tinh thần cảnh giác âm mưu của Tề.

Dân Vệ vẫn hỏi móc máy nhau rằng, việc lớn có triều đình lo, mắc mớ gì đi biểu tình như thế, thừa cơm để nhiễu sự à?

Than ôi, phải có nhiều kẻ hỏi dã tâm như vậy, mới sáng tỏ bản chất của người Vệ dưới triều nhà Sản là vậy.

Mỗ là phường lêu lổng, vô học, mạt hạng trong thiên hạ, sống bám vào gia đình, sinh ra nhàn rỗi chép lại những chuyện này cho đời Vệ sau nếu có, biết được đôi phần.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Xả stress

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức


Tiền nhân ta vẫn nói: “Ðời là bể khổ.”

Khổ là hoàn cảnh trong đó con người chịu nhiều khó khăn thiếu thốn về vật chất hoặc bị dày vò bất an về tinh thần. Như vậy thì “khổ” cũng là một trong những cái stress mà con người phải sống với. Nếu stress cứ liên tục tái diễn hoặc kéo dài sẽ đưa tới nhiều ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe.

Hậu quả của stress

-Trí óc sẽ bị tổn thương vì ảnh hưởng của quá nhiều các loại hormon glucocorticoid sản xuất từ nang thượng thận. Khả năng nhận xét giảm, trí nhớ rối loạn, tính tình cau có, dễ giận dữ, tâm trạng mệt mỏi, cơ thể suy nhược, có thể rơi vào vòng trầm cảm, lo lắng, hay khóc, mất ngủ, giảm khả năng làm việc, lạm dụng rượu, thuốc cấm.

-Hoạt động tim mạch rối loạn. Hormon do stress khiến cho nhịp tim nhanh, mạch máu co hẹp, huyết áp và nhịp tim thường trực lên cao khiến cho tim mệt mỏi, tính đàn hồi của mạch máu giảm đưa tới bệnh tim mạch, máu cục rồi một ngày nào đó có thể bị tai biến não.

-Stress khiến cho tình trạng bệnh hen suyễn, nghẹt phế quản trở nên trầm trọng hơn

-Tiêu hóa rối loạn, dạ dày không có đủ máu nuôi dưỡng, niêm mạc bao tử tổn thương, đưa nôn ói, khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy, trào ngược thực quản, giảm cân rồi loét dạ dày, viêm ruột già.

-Hệ miễn dịch suy yếu, sức đề kháng với các bệnh nhiễm giảm, dễ nhiễm trùng, cảm cúm.

-Stress khiến cơ thể mập hơn vì chất béo được huy động để tăng năng lượng. Chúng sẽ tập trung nhiều hơn ở vùng bụng, vùng mông, mặc dù các vùng khác vẫn mỏng manh.

-Cơ bắp căng đau nhất là ở vùng lưng, cổ, bả vai, da đầu.

-Da khô, vẩy nến, viêm, trứng cá, lở môi, lở miệng.

-Tóc rụng nhưng may mắn là hết stress thì tóc mọc lại.

-Người bị stress, đêm nằm ngủ thường hay nghiến răng sẽ đưa tới đau nhức khớp xương hàm, không chăm sóc răng lợi chu đáo, sâu răng.

Trong trường hợp trầm trọng, nạn nhân của stress có thể rơi vào một tâm bệnh gọi là Hội Chứng Hậu Chấn Thương (Post Traumatic Stress Syndrome). Bệnh nhân sẽ sống trong tâm trạng bất ổn, có những ác mộng, những hồi tưởng lại kinh nghiệm đau thương trong quá khứ, sức khỏe tổng quát suy giảm.


Ðối phó với stress

Sống không có stress là điều khó có thể thực hiện được, nhất là trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến đổi, kinh tế khó khăn, đạo đức xuống dốc như hiện nay. Làm sao để đối phó với stress mới là điều cần thiết. Mỗi người có những phương cách riêng để giải quyết khó khăn của mình.

Sau đây là một vài gợi ý:

1. Tìm hiểu nguồn gốc của stress. Có thể là do gập ghềnh trong giao tế nhân sự, khó khăn trong công việc làm ăn, thất thoát tài chánh, suy yếu sức khỏe, gia đạo bất an... Biết để tìm cách xả stress.

2. Sắp đặt lại công việc hàng ngày, theo thứ tự ưu tiên, quan trọng.

3. Ðặt giới hạn cho các tham gia, cam kết với các sinh hoạt trong đời sống, tránh ôm đồm quá sức. Ðừng cố quá để rồi thành “quá cố.”

4. Ðừng coi thường sức khỏe, lắng nghe tiếng cầu cứu của một cơ thể bị lạm dụng lao động quá mức.

5. Cân bằng đời sống, chia thì giờ cho việc làm, ăn uống, ngủ nghỉ.

6. Năng vận động cơ thể. Ðang căng thẳng mà làm mươi phút đi bộ, bơi lội, hít thở thì stress cũng giảm cường độ khá nhiều.

7. Dành thì giờ để giải trí với gia đình bạn bè.

8. Áp dụng các phương pháp đối phó với stress như thư giãn thiền định, hít thở sâu, xoa bóp; tạm rời công việc để “xả xú báp” và “tái nạp bình điện”;

9. Tâm sự chia sẻ khó khăn của mình với người đáng tin cậy để nhờ góp ý.

10. Duy trì một tâm trạng hài hước. Cười là 10 thang thuốc bổ.

11. Ðề cao cảnh giác, nhận diện và chú ý tới các dấu hiệu báo động sự xuất hiện của stress và sẵn sàng giải quyết.

12. Ghi nhớ các hoàn cảnh stress xảy ra, ở đâu, vào thời điểm nào, tại sao xảy ra. Biết để tránh.

13. Tránh những stress nào có thể tránh được.

14. Giải quyết stress với các khả năng hiện có. Với những stress bướng bỉnh, không giải quyết được thì để một bên, giải quyết sau.

Kết luận

Xin ghi nhớ là những cảm giác không vui như sợ hãi, lo âu, giận dữ, bực tức phát xuất từ phản ứng của ta mà ra chứ không phải từ stress. Nếu ta kiểm soát được các phản ứng này là ta đã tạo được một tâm trạng bình an, thoải mái trong đời sống.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Cái đầu gà

Huy Phương
Tôi rất thích mấy lời hát sau đây của nhạc sĩ Trần Quang Lộc:“...Về đây nghe em, về đây nghe em- Về đây cùng khóc trên sông nước buồn- Chở lòng người trở về quê hương- Chở hồn mình vào dòng suối mát- Chở thật thà vào lòng dối trá...” Nhưng tôi cũng vừa bật cười vừa xót xa khi đọc câu chuyện sau đây xẩy ra trên quê hương: “Trong khi chuyến tàu dừng lại ga, một bà hành khách trên tàu đang trả giá mua một con gà luộc của một em bé bán hàng dưới sân ga. Cuộc ngã giá chưa xong thì tàu lại bắt đầu chuyển bánh. Cuối cùng cũng thuận mua vừa bán, khách trả tiền xong, em bé chạy theo con tàu, vội vã đưa con gà lên cho khách. Khách cầm lấy đầu con gà kéo lên, nhưng... tàu đã chạy nhanh, trong tay bà khách chỉ còn cái đầu gà, còn thân gà ở lại trên sân ga trong tay con bé bán hàng. Người đàn bà bị lừa giận dữ, chỉ còn cách kêu lên:“Tổ mẹ nó!”

Người khách ấy chửi con bé mới nứt mắt ra đã biết đi lừa thiên hạ, mấy tiếng “tổ mẹ nó” như còn âm vang trong tai của tôi, một người bàng quang không dính líu gì tới chuyện cái đầu gà, mà vẫn thấy đau. Nếu đây là một câu chửi của một du khách ngoại quốc đến du lịch Việt Nam thì câu chửi đó dành cả cho dân tộc này, nhưng đây là câu chửi của một người đàn bà bình thường đi lại trên con đường Bắc Nam, thì hẳn lời chửi này dành cho chế độ đương thời. Cái gia đình sống nhờ vào hành khách của những chuyến tàu xuyên Việt này được một ngày vui vì một con gà luộc bán được hai lần. Chuyện này cũng có thể lặp lại nhiều lần trên sân ga này mà không bị phát hiện, vì trong hàng trăm nghìn hành khách, sẽ không có ai bị lừa hai lần vì một lối lừa cũ. Người ta có thể vịn vào cái lý do nghèo, đói để gian dối, lừa bịp người khác như thế không?

Trong chế độ Cộng Sản, phải dối trá mới mong sống còn, báo cáo láo, thành tích láo, lường gạt con người, điều có thì phát ngôn viên chính phủ nói là không, điều không thì chủ tịch nước cũng có thể nói là có. Hiến pháp CSVN cũng có ghi nhận những quyền con người như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do biểu tình, tự do tôn giáo, nhưng lại có các luật lệ khác ban hành để hủy bỏ, kìm kẹp các quyền ấy. Sự dối trá của đảng cầm quyền bắt người dân phải dối trá theo. Con nít tập nói dối. Cán bộ cao cấp mang bằng cấp giả. Khẩu hiệu “mình sống vì mọi người” đổi thành “mình phải lừa dối mọi người” để sinh tồn. Năm 2008, Saigon mở cuộc thi “nói dối” cho học sinh với đề tài “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, có 2,4 triệu bài trắc nghiệm và 80 ngàn bài viết dự thi, có nghĩa là hơn hai triệu em học sinh nhắm mắt khen bừa Hồ Chí Minh để được thành tích học tập, trong khi chúng ta biết Hồ Chí Minh chẳng đạo đức, lại là tay nói dối lừa bịp có hạng. Xin các bạn đọc kỹ câu này:''…Ðáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào và bạn bè trên thế giới, Hồ Chủ Tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch…''. ("Những Tác Phẩm Văn Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh - Hà Minh Ðức). Dối trá mà công khai, dối trá mà còn biện bạch bất chính, không hề biết ngượng.

Tin vào lời xúi dại của Đảng, năm 1956, tại một Đại hội MTTQ, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc một bài diễn văn ngay thẳng, đả phá những sai lầm của chuyện cải cách ruộng đất và đề nghị những phương thức sửa sai. Ông mất chức giáo sư Đại học, về vườn, bị trù dập cho đến chết, và ông đã viết: "Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của họ chưa hề thấy trong lịch sử loài người" (Kẻ Bị Khai Trừ). Bao nhiêu nhà văn, nghệ sĩ dưới chế độ Cộng Sản đã hèn, chỉ biết nói dối để sống còn, để có cơm ăn, vì nói thật thì chỉ có chết, không những chết một mình mà chết đến ba đời, không thua gì chuyện “tru di tam tộc” ngày xưa, vậy thì vì sao phải nói thật? Năm 1958, nghe theo lời đường mật, nói thật, nói hết, không bẻ cong ngòi bút, Toà án Nhân dân Hà Nội quy án, chụp mũ “gián điệp” cho Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, nhóm Nhân Văn Gia Phẩm với bản án 15 năm tù, và báo chí “hồ hởi” loan tin: “Năm tên gián điệp, phản cách mạng, phá hoại hiện hành cúi đầu nhận tội, Nguyễn Hữu Đang và Thụy An, đầu sỏ chủ mưu, bị phạt giam 15 năm và mất quyền công dân 5 năm sau khi hết hạn giam”.

Trương Như Tảng đã kể kinh nghiệm của ông về phương sách của các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị:“Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, đạo đức suy đồi, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”. Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới. (Đoàn Văn Toại 2/15/2009)

Ngày nay, chính Trần Quốc Thuận, Văn phòng Quốc Hội CSVN, người của chế độ, đã phát biểu: “Những cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống. Nói dối hằng ngày nên thành thói quen. Thói quen đó lặp lại nhiều lần thành "đạo đức", mà cái "đạo đức" đó là rất mất đạo đức”.

Một thế hệ gian dối, lừa đảo, bạo tàn rồi sẽ qua đi, cho những mầm non lớn lên, trong sáng, nhưng với những đứa trẻ con lang thang ngoài chợ đời, học cách mưu sinh, kiếm tiền bằng kiểu lưu manh, cướp giật như thế thì còn gì để “tổ quốc mong cho mai sau!” Chỉ tiếc là ngày nay dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam, sự dối trá đã đi vào học đường, thì lấy gì hy vọng cho tương lai đất nước khá hơn. Chính Hội Đồng GMVN đã có ý kiến đặc biệt trong lãnh vực giáo dục:"Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối lương tâm là sự gian dối trong nhiều lãnh vực, kể cả trong môi trường cần đến sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường."

Một người dân đã viết thư than với Bộ Trưởng Giáo Dục rằng:"Làm sao yên lòng khi cháu tôi về kể lại rằng trước khi vào tiết thao giảng, cô giáo của cháu dặn tất cả học sinh đều phải giơ tay phát biểu khi cô hỏi, nhưng em nào biết thì đưa tay thẳng, em nào không biết thì đưa tay hơi cong cong để cô biết chừng.”(để cho thanh tra thấy rằng cô dạy giỏi, các em đều hiểu bài- Tuổi Trẻ 30/6/2006.)
Tôi cũng muốn cùng Nguyễn Quang Lộc “Chở hồn mình vào dòng suối mát- Chở thật thà vào lòng dối trá...” mà sao như vẫn còn nghe lùng bùng trong tai mấy tiếng chửi “Tổ mẹ nó!”Nhưng mà nghĩ lại, lên án đảng Cộng Sản đã lừa cả dân tộc Việt Nam, lên án chi con bé tội nghiệp chỉ lừa khách qua đường có mỗi cái đầu gà luộc. “Cách mạng” thành công, đổ bao nhiêu xương máu của người dân vô tội, chiếm được chính quyền rồi, đảng Cộng Sản cho nhân dân mút cái đầu gà, còn đùi cánh, lòng lườn, phao câu béo bở dành cho bọn băng đảng cầm quyền.
“Tổ mẹ nó!” Tôi muốn kêu lên thật lớn. Tiếng chửi này, như tôi đã thưa trước, của bà khách bị con nhỏ lừa, trả tiền nguyên một con gà mà chỉ nhận được một cái đầu gà, chứ không phải của tôi.
Bà khách đi tàu “một lần mà tởn đến già” chắc chắn sẽ không bao giờ bị lừa đến lần thứ hai, nhưng coi bộ dân tộc này, bị Cộng Sản lừa đã nhiều lần mà còn bị lừa thêm dài dài nhiều lần nữa.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Để giết một người Mỹ!

Đồng Ngọc Khanh dịch

Bạn có thể bỏ qua mẩu tin này trong hàng đống tin tức hàng ngày, nhưng hiện nay có báo cáo cho biết một người nào đó ở Pakistan đã đăng quảng cáo trên báo chí là sẽ trao một giải thưởng cho bất cứ người nào giết được một người Mỹ, bất kỳ người Mỹ nào cũng được.Vì thế nha sĩ người Úc này ngay ngày hôm sau đã viết một bản thông báo cho mọi người hiểu tường tận người Mỹ là ai, người Mỹ là thế nào, để mọi người có thể nhận diện khi gặp một người Mỹ!

Một người Mỹ có thể là một người Anh, hoặc người Pháp, người Ý, người Ái Nhĩ Lan, người Đức, người Tây Ban Nha, người Ba Lan, người Nga hoặc người Hy Lạp.

Một người Mỹ cũng có thể là một người Canada, người Mễ Tây Cơ, người từ Châu Phi, người Ấn Độ, người Trung Quốc, người Nhật, người Việt Nam, người Hàn Quốc, người H’ Mông, người Khmer, người Thái Lan, người Úc, người Mã Lai, người Iran, người Trung Đông, người Ả Rập, người Pakistan hoặc người Afghanistan.Một người Mỹ còn có thể là người Comanche, người Cherokee, người Osage, người Blackfoot, người Navaho, người Apache, người Seminole hoặc là con dân của một trong những bộ tộc thổ dân da đỏ bản địa Mỹ trước kia.

Người Mỹ có thể theo đạo Thiên Chúa giáo, đạo Tin Lành, Do Thái giáo, đạo Phật, đạo Hồi.
Sự thật là số người theo đạo Hồi ở Mỹ đông hơn là ở Afghanistan.Sự khác biệt duy nhất là ở Mỹ, người ta có thể tự do sùng bái một tín ngưỡng nào đó mà họ đã lựa chọn.

Người Mỹ cũng có thể là một người được quyền tự do không tin vào bất kỳ tín ngưỡng nào.Chính vì thế mà họ sẽ chỉ phải trả lời trước Thượng Đế, chứ không phải là trước nhà cầm quyền hoặc trước một nhóm vũ trang nào đó tự phong cho mình cái quyền phát ngôn thay cho nhà cầm quyền hay Thượng Đế.Người Mỹ sống trong một đất nước trù phú nhất thế giới.

Cội nguồn của sự trù phú này là ở Tuyên ngôn Độc Lập của họ, thừa nhận rằng Thượng Đế đã ban cho mỗi người cái quyền được tự do mưu cầu hạnh phúc.

Người Mỹ rất độ lượng.Người Mỹ đã chìa tay ra để giúp đỡ tất cả những dân tộc nào cần đến mình trên thế giới, mà chưa bao giờ đòi hỏi được trả ơn.Khi đất nước Afghanistan bị xâm chiếm bởi quân đội Soviet 20 năm trước đây, người Mỹ đã đến cùng với vũ khí và tiếp liệu giúp cho người dân xứ này đứng lên giành lại đất nước!Trước ngày 11 tháng 9 định mệnh ấy, Người Mỹ đã viện trợ cho dân nghèo Afghanistan với số lượng nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới.
Image
Biểu tượng quốc gia của Mỹ.

Tượng Nữ Thần Tự Do chào mừng những người đói nghèo và kiệt sức, những người đã bị chính quê hương mình từ chối, những kẻ vô gia cư, những người bị dập vùi sau cơn bão tố!

Thế rồi, sau đó chính họ là những người đã xây dựng nên nước Mỹ của ngày hôm nay!Một số người trong số họ đang làm việc tại Tòa Tháp đôi vào buổi sáng 11 tháng 9 năm 2001, phấn đấu làm sao có được một mức sống tốt hơn cho gia đình của mình!

Thống kê cho thấy các nạn nhân ở tòa Tháp Đôi hôm ấy đã đến từ ít nhất 30 quốc gia, nền văn hóa, và ngôn ngữ ban đầu khác nhau, kể cả những kẻ trước kia đã từng giúp đỡ và ủng hộ các tên khủng bố.Vậy bạn hãy cố gắng giết một người Mỹ nếu bạn thực sự phải làm như thế!Hitler đã giết!Tướng Tojo của phát xít Nhật cũng đã giết!Stalin, Mao Tse-Tung, cùng các tên bạo chúa khát máu khác trên thế giới cũng đã giết !...Nhưng khi giết hại người Mỹ như vậy tức là bạn đã tự giết hại chính mình!Vì người Mỹ không phải là một người đặc biệt ở một nơi đặc biệt nào đó trên trái đất này. Họ là hiện thân cho tinh thần tự do của loài người!Tất cả những người cùng đề cao tinh thần tự do ấy, cho dù họ ở bất cứ nơi đâu trên thế giới này thì cũng được xem như là một người Mỹ!

Hãy để thông điệp này bay đi!Xin hãy để nó bay đi khắp thế giới!
Hãy giúp nó luân chuyển giữa tất cả các bạn bè của chúng ta.Nó sẽ nói lên tất cả, nói tiếng nói tự do chung cho tất cả chúng ta!

Xin đừng xóa mà hãy gửi nó đi!

Xin cảm ơn tất cả các bạn!

Dồng Ngọc Khanh biên dịch
(Lá thư này được viết bởi một nha sĩ người Úc. Biên dịch theo bản gốc tiếng Anh)
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Mất Chim Thật Rồi
Nguyễn Viết Tân
Cách đây hơn sáu năm, tôi có viết một chuyện về mất chim.

Tưởng gì, hoá ra tôi làm mất con chim trĩ Pheasant đã ướp phọt-môn treo trên tường, màu sắc rất đẹp. Tiếc thì tiếc, nhưng đâu có gì mà làm ồn.

Tháng bảy năm 2011, cả thế giới, toàn nước Mỹ, nhất là cộng đồng VN thì náo động om xòm về vụ một bà VN mới 48 tuổi, cắt chim ông chồng Mỹ mà quăng vào máy xay cho "Đáng đời ông ta".

Tờ Việt Báo chỉ loan tin này một cách bình thường nhưng một số báo khác thì khai thác kỹ hơn.

Trong mục Toà soạn & Bạn đọc trên báo Người Việt, có đăng lại lời của một độc giả ký tên là Hung Le cự nự:

- Xin đừng bịa đặt tin tức (“Phụ nữ gốc Việt cắt 'của quý' của chồng, bỏ vào máy xay,” báo Người Việt ngày 13 tháng 7.) Tôi chắc chắc tin này quý vị lấy từ báo dòng chính, mà không có nguồn nào nói bà này người Mỹ gốc Việt. Chỉ vì bà có khuôn mặt Á Ðông và tên đệm là Kieu quý vị không thể tự cho rằng bà là người Việt Nam. Làm ơn, ráng giữ đạo đức báo chí (nếu có) và chỉ tường thuật tin tức thôi, đừng phóng tác, suy diễn, hay tệ hơn nữa là bịa đặt.

Nhưng Toà soạn trả lời như sau:

- Xin cám ơn quý độc giả Hung Le đã góp ý. Tuy quý độc giả “chắc chắc tin này quý vị lấy từ báo dòng chính” nhưng thật ra không phải là vậy. Tin này báo Người Việt nhận được từ thông cáo của Biện Lý Cuộc Quận Cam, và sau đó phóng viên Hà Giang đã đến tận nơi xảy ra vụ án, phỏng vấn hàng xóm và những người quen biết hai ông bà này. Hồ sơ bà Catherine Kieu trong nhà giam Orange County Jail ghi rõ “race” của bà Catherine Kieu là “Vietnamese.”

Tờ Viễn Đông số ra ngày 7/13/2011 thì đưa thêm chi tiết:

- Người phụ nữ 48 tuổi này tới Mỹ được 7 năm và trong hồ sơ còn có tên là Trần Quế Anh.

Như vậy thì chắc chắn Kiều nhi là người Việt chúng ta rồi. Hết cãi.


Tóm gọn các tin tức thì chúng ta được biết như sau:

Vào lúc 9g tối ngày 7/11/2011 một người đàn bà gọi 911, cảnh sát tới căn nhà trên đường Flower thành phố Garden Grove thì thấy nạn nhân là một người đàn ông 51 tuổi (sau này họ xác định lại ông ta 60 tuổi) bị trói chặt vào giường, hạ bộ đẫm máu. Người đàn bà khai tên Catherine Kieu Becker nói: He's deserved it.
Bà ta bị bắt giam vì nhiều tội: Đầu độc, bạo hành, làm nguy hiểm đến tánh mạng người khác, giam giữ trái phép ...

Theo báo chí, cứ như những tội trạng nặng như vậy, bà ta có thể bị tù lên đến chung thân.

Báo chí còn cho biết, tuy bà ấy qua Mỹ đã bảy năm, nhưng họ mới lấy nhau vào ngày Dec. 29 năm 2009.

Ngay sau đó, cộng đồng người Việt tại Little Saigon ai cũng truyền tai nhau cái tin kinh khủng này. Mấy đấng trượng phu kêu than tức ngực. Hỏi ra ông nào lúc đi ngủ cũng nằm xấp. "Cho chắc ăn".

Người thì kết tội Kiều nhi, người thì đòi thay chữ Anh hùng bằng chữ Nữ hùng.

-Người bênh thì cho rằng phụ nữ phải mạnh tay như vậy mới trị được những thằng đàn ông cà chớn. Nó về VN cưới qua đây, hành hạ con người ta cho đáng đồng tiền bát gạo. Phải làm gương cho những thằng khác coi đó mà chừa.

-Người chống thì nói đàn bà gì dữ hơn cọp. Con cháu Hoạn Thư ra tay quá nặng, như thế rồi ai mà dám lấy con gái VN nữa.

Đối diện nhà anh Nam bạn tôi, có ông Mỹ goá vợ, nhìn thấy cảnh ông bạn tôi được vợ cưng quá đỗi, ông bèn nhờ anh làm mối cho một người vợ chính gốc nước mắm, nhưng chuyện kinh khủng kia xẩy ra tối thứ hai, thì sáng thứ ba ông qua gõ cửa sớm, nói thôi anh khỏi làm cái sự mai mối kia nhen, tôi hãi quá.

Bây giờ cuộc điều tra chưa xong, chưa biết người phụ nữ này sẽ bị tuyên án như thế nào, nhưng ta thử tìm hiểu xem đã có án lệ nào (cắt chim chồng) trong quá khứ hay chưa (?).

Có chứ :
- Chuyện xẩy ra năm 1993 cho John W. Bobbitt sinh năm 1967. Cô vợ là Lorena gốc người Nam Mỹ sinh năm 1970. Nhân lúc say rượu ngủ li bì, anh ta bị vợ thẻo của qúy và quăng ra ngoài đường. Cũng may hôm đó trời có tuyết nên khi anh gọi 911 thì lính cứu hoả đã tìm được nó, đem vào nhà thương khâu lại cho anh. Nếu nó không được ướp lạnh bởi tuyết thì khó lòng mà cuộc giải phẫu được thành công tốt đẹp như thế.

Khi ra toà, người vợ khai đã bị chồng hành hạ lúc ăn nằm y như kiểu hiếp dâm; khi vợ có bầu thì bắt đi phá thai. Những lời khai của cô ta đáng tin cậy vì có nhiều người làm chứng. Còn về phần ông chồng thì lời khai tiền hậu bất nhất, đến nỗi Công Tố Viện, Bồi Thẩm Đoàn và Quan Toà đều không còn tin anh ta nữa.
Toà tuyên án bà vợ phải đi giám định tâm thần trong một nhà thương 45 ngày, sau đó sẽ được tha bổng.

Sau vụ án đó, từ ngữ "hiếp dâm người phối ngẫu" mới được nhiều người nói đến.

Cô Lorena lấy lại tên họ ngày xưa là Galo và sống rất ẩn dật, nhưng anh chồng thì nổi đình đám một thời:

Anh ta lập ra một ban nhạc, hát như mèo cái hú đêm nên thất bại, quay qua đóng phim XXX.

Hồi năm đó chúng tôi có mở một tiệm cho thuê Video, có người mướn cuốn phim này về coi rồi đến tiệm chê là chẳng giống con giáp nào. Nó xù xì quăn queo trông rất gớm.

Đóng đâu được vài ba cuốn phim loại này thì hết ăn khách, chàng Bobbitt về Las Vegas làm Bartender, xoay qua làm tài xế lái Limousine, rồi lái xe Tow Truck và cuối cùng -có ai tin được không- anh ta làm Minister chuyên làm phép cưới trong nhà thờ Universal Life Church ở Las Vegas.

Anh cũng chẳng chịu yên thân núp bóng nhà thờ, nên đã bị cảnh sát bắt tới 7 lần, mà lần nặng nhất là đồng loã trong một vụ trộm áo quần trong shop thời trang giá trị lên tới 140 ngàn.

Bà vợ bị một lần suýt vướng vòng lao lý tưởng biết tu thân, ai dè cũng còn ghê gớm lắm, có lần bị cảnh sát bắt năm 1997 vì đã đấm một cú rất mạnh vào mặt bà mẹ ruột gẫy cả răng (giả).

Năm 2009 cả hai bất ngờ chạm mặt nhau trên Talk Show của Oprah, "bốn mắt nhìn nhau trào máu họng", nhưng cu cậu xin lỗi cô nàng vì những điều mình gây ra khi còn chung sống. Nàng không nhìn chàng, nhưng thú nhận là năm nào vào lễ Valentine thì đều nhận được hoa hay quà do chàng gửi tặng, chắc là chàng vẫn còn yêu mình lắm lắm.

Ngày xa xưa, sau khi tàn cuộc chiến, người ta hay cắt chim những xác chết hay tù binh, để đếm xem đã giết chết hay bắt giữ được bao nhiêu kẻ địch. Đến đời nhà Chu bên Tàu thì cắt chim là 1 trong 5 hình phạt thời đó, hèn chi lưu truyền cho mãi đến ngày hôm nay, khi báo Tàu đăng đã có đến mấy trăm bà vợ đã cắt chim chồng, vì mấy ổng lậm vào tệ nạn bài bạc, mà toà chỉ tuyên án tù dưới 3 năm. Trong năm 2008 chỉ có 50 trường hợp gắn lại được cho mấy anh Tàu này thôi.

Tuy thế mấy ảnh cũng còn may hơn đàn ông Thái Lan, chỉ từ năm 1973 cho đến 1980 mà có đến hơn 200 anh Thái bị cắt, mà hầu hết không thể khâu lại được.
Chuyện có thật xảy ra bên Nhật, về sau được đóng thành phim là vào năm 1936, cô Kichizo cắt chim chồng xong bỏ vào trong túi áo Kimono nhiều ngày sau mới trao cho cảnh sát. Nàng bị tù có 4 năm. Con chim khô này còn được ướp, rồi trưng bày trong một tiệm bách hoá ở Tokyo năm 1949.

Trở lại chuyện người phụ nữ gốc Việt trừng trị ông chồng Mỹ bằng cách cắt của quí, không hiểu bà Catherine Kieu Becker rồi sẽ lãnh bản án ra sao, nhưng khi ra toà lần đầu, bà đã luôn phải dấu mặt sau mái tóc dầy của bà. Trong khi đó thì Mr Becker tức ông Mỹ vừa bị bà Kiều biến thành "thái giám", khi được nhà báo hỏi thăm bịnh tình, thì ông ta tươi tắn (sao lạ thế nhỉ) trả lời các câu hỏi, và nói đây là chuyện cá nhân nên không cần nói nhiều.

Cũng nên biết rằng ông này sui hơn anh chàng Bobbitt nhiều, vì của qúy đã bị máy xay rác làm từa lưa ra rồi, đâu còn cứu gỡ được. Vậy mà ông ta vẫn có vẻ tươi tắn, bình tĩnh khi TV phỏng vấn. Qua hình ảnh trên TV, trên báo, thật khó biết đôi uyên ương Việt-Mỹ này ai khổ hơn ai, nhưng chắc chắn là cả hai cùng khổ.

Mang chuyện khổ của người ra mà bàn lui bàn tới e cũng bất nhẫn. Thôi thì xin chúc lành cả hai.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

CHÚ GÀ CHỌI GIÀ VÀ TRIẾT LÝ SỐNG CỦA NÓ

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Ông Kỳ mới lại vừa nổi lên, cuốn hút dư luận như một cơn lốc xoáy. Chuyện cứ lâu lâu lại diễn ra như một cái vòng luân hồi luẩn quẩn. Ông nổi tiếng từ hồi mới tập tễnh bước vào nghề làm chính trị, lập nên cái gọi là CHÍNH PHỦ CỦA DÂN NGHÈO vào năm 1965. Dân Việt Nam nghèo thì nghèo thật, nhưng người đứng đầu cái chính phủ của đám dân này hàng ngày vẫn nốc rượu ngoại quốc loại đắt tiền, đá gà ăn thua bạc trăm thêm chữ ngàn, và thỉnh thoảng tự lái máy bay nhà nước chở bồ nhí sang tận Singapore ăn sáng. Tên tuổi ông càng bùng lên như một đám cháy rừng khi ông lôi một anh Ba Tầu giầu sụ trong Cholon ra pháp trường cát tại Saigon bắn bỏ, một thế lực mà rất ít người dám cả gan đụng tới. Người bình dân bảo là ông Kỳ mó dái ngựa.

Tột đỉnh vinh quang và lừng lẫy danh tiếng nhất là khi ông dắt vợ và đoàn tùy tùng đi phó hội Paris lúc ông đang là nhân vật số 2 của chế độ. Tuy là nhân vật số 2, nhưng thực chất ông Kỳ chỉ là một thứ phỗng đá mà người ta thường thấy trang trí tại các cửa đình, cửa chùa. Cái tài của con phỗng đá này là biết nắm lấy cơ hội trong bất cứ hoàn cảnh nào để ngoi lên khỏi những đợt sóng thời cuộc đang muốn dìm nó xuống. Tuy chẳng ưa gì ông phó của mình, nhưng khi thấy ông phó thất nghiệp lêu bêu, ông Tổng Thống cũng động lòng trắc ẩn, giao cho ông phó cái sứ mạng cao cả là sang làm cố vấn chỉ đạo cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đang tham dự Hội Nghị Quốc Tế họp tại thủ đô nước Pháp bàn về thân phận Tổ Quốc mình. Ông Kỳ xem ra rất thỏa mãn với nhiệm vụ đó, và vui vẻ lên đường. Ông xuất hiện với bộ đồ bay đen trong phòng lái chiếc phản lực cơ như một phi công thần phong anh hùng của quân đội Nhật Bản thời Đệ II Thế Chiến. Một ký giả ngoại quốc nói đùa với ông: "Ngài Phó Tổng Thống thật đa năng đa tài. Ngài lái phản lực tài tình như lái con thuyền quốc gia vậy." Ông Kỳ cười hề hề và tỏ ra rất tự mãn với lời nhận xét hóm hỉnh kia.

Sang đến Paris, ông Tổng Thống Pháp không biết, hỏi Kỳ là ai. Người Pháp, kể cả ông tổng thống của họ, không biết Kỳ là ai, nhưng ông đã mau chóng thành công trong việc làm nổi lên một loạt dư luận báo chí để cho mọi người biết mình là ai. Hình ảnh một ông Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa cùng vợ ăn mặc chải chuốt, dúng mốt Parisienne dẫn nhau đi trượt tuyết và shopping tại những cửa tiệm sang trọng bậc nhất của thủ đô Paris tráng lệ được in trên mặt báo chung với hình bà Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn thương thuyết của cái gọi là Chính Phủ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Người đàn bà này trái lại, ăn mặc đơn sơ, có vẻ hơi nhà quê, tay cầm chiếc bình tưới đang chăm sóc mấy luống rau sau khu vườn nơi phái đoàn của bà cư ngụ. Hai hình ảnh, hai sinh hoạt của hai bên đối địch trên bàn cờ chính trị tự nó gây nên những thị phi, khen chê trong nước và trên thế giới. Dĩ nhiên là bà Bình chỉ đóng kịch, nhưng tài đóng kịch của một tay cộng sản lão luyện trong nghề bịp như bà vậy mà che được con mắt thế gian. Tấm hình bà Bình đóng kịch thu hút được cảm tình và dư luận thế giới. Trong khi hình vợ chồng ông Kỳ chỉ nhận được những cái bỉu môi khinh bỉ.

Những chuyện xem ra vụn vặt đầy tính bi hài này đã góp phần không nhỏ vào việc một đàng thì đưa đến chiến thắng vẻ vang, còn một đàng thì dẫn đến sự thảm bại của cả một chế độ, và làm điêu đứng bao nhiêu triệu con người. Cũng trong việc đi phó hội này, ông Kỳ còn muốn tỏ ra mình có năng khiếu làm chính trị và làm một cách trí thức nữa là đàng khác qua việc ông lắt léo dùng từ ngữ trong những lời tuyên bố. Không ai biết rõ ông nói năng ra làm sao, nhưng báo chí tường thuật lại rằng ông công nhận Mặt Trận Giải Phóng là một THỰC THỂ CHÍNH TRỊ tại Miền Nam. Ông cãi lại rằng ông muốn nói THỰC TẾ chứ không phải THỰC THỂ. Mấy thứ chữ nghĩa khó tiêu hóa này đã gây sóng gió không ít. Dư luận cho rằng trong một ý nghĩa nào đó, ông Kỳ đã có ý công nhận tính cách hợp pháp của Mặt Trận Giải Phóng, khiến ông phải mất công thanh minh thanh nga mãi mới yên đi được.

Trước biến cố tháng 4-1975, trong tình hình dầu sôi lửa bỏng của đất nước, ông Kỳ cũng không quên chuyện tự làm cho mình được nổi bật. Trong lúc mọi người đang bon chen để tìm đường thoát thân, ông tuyên bố nhất định ở lại, vì: "Sang Mỹ làm gì có mắm tôm, cà pháo mà ăn." Nhiều ngườu lúc đó tưởng thật và tin ông. Nhưng khi CS chưa vào đến Saigon, người ta đã thấy ông Nguyễn Cao Kỳ ung dung ngồi hưởng gío biển trên một chiến hạm Mỹ ngoài Biển Đông, bỏ lại không thương tiếc những đồng đội và những thần dân mới ngày hôm qua còn đăt hết tin tưởng nơi ông. Sang tới Mỹ, ông đã không chịu sống kiếp sống con sò, con ốc như nhiều ông tướng, hoặc chánh khách cờ đến tay không biết phất. Lâu lâu người ta lại thấy ông cố vùng vẫy ngoi lên trên mặt biển mà tự nhiên bấy lâu nó đã muốn yên lặng. Có lần ông xuất hiện trước một cử tọa gồm hầu hết là những chiến hữu hoặc bạn hữu tại một câu lạc bộ của một căn cứ không quân Mỹ tại miền Bắc California. Cuộc họp mặt không có những nhân vật tai to mặt lớn, và tuy chỉ là để ôn lại kỷ niệm và ăn nhậu, nhưng ông Kỳ đã phá rào bước qua lãnh vực chính trị và tuyên bố lung tung. Chuyện ông đề cập đến bữa đó là một vấn đề hết sức bén nhậy và tế nhị trong lúc này đối với cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại. Đó là vấn đề bang giao và cấm vận đối với phỉ quyền VGCS.

Theo nhận định chung thì hầu hết người Việt tỵ nạn đều mong muốn Hoa Kỳ duy trì cấm vận và cô lập Việt Nam về mặt chính trị. Tuy nhiên có một số rất nhỏ đã thay đổi lập trường, trong đó có ông Nguyễn Cao Kỳ. Như phần lớn các nhà tư bản Mỹ, những người này, trước hết là những con buôn chưa hề bao giờ đặt vấn đề chống cộng như là một lý tưởng. Họ chỉ có một lý tưởng duy nhất là làm giầu, cho dù có phản bội lại Tổ Quốc. Tư bản Mỹ và thành phần người Việt mất gốc này sợ chậm chân để các nước khác cướp mất phần của họ tại phần đất VN nghèo đói nhưng đầy rẫy hấp lực. Thứ đến là các chính khách tôn thờ cơ hội chủ nghĩa. Họ như những cây sậy, gío thổi chiều nào ngả theo chiều đó. Loại chánh khách này mới xuất đầu lộ diện sau một thời trùm chăn.

Từ xưa đến nay, ít người có ý nghĩ ông Kỳ là một chính khách hoạt đầu, vì tinh thần chống cộng của ông luôn luôn được nêu cao như một ngọn cờ tiên phong. Nhưng nay thì thì cảm nghĩ chung ấy không còn nữa. Ông Kỳ đã công khai bỏ rơi lập trường cũ và đứng hẳn vào hàng ngũ những người cổ võ Hoa Kỳ lập bang giao và bãi bỏ cấm vận. Có thể ông Kỳ ngày nay đã khôn lớn và đã biết nhìn xa trông rộng? Hồi giữa thập niên 60, một thuộc cấp thân tín của ông có nhận định về người chủ của mình như sau: Chỉ mười năm nữa thôi, ông ta (Kỳ) sẽ biết ăn nói chững chạc và hành động khôn ngoan như một lãnh tụ tầm vóc. Thời gian nhiều cái mười năm đã trôi qua, nhưng người ta chỉ nhìn thấy ông Kỳ vẫn là ông Kỳ của mấy chục năm về trước. Nghĩa là ông không thay đổi. Nghĩa là ông ta vẫn bốc đồng và ăn nói vung vít như xưa. Ông vẫn hành động nông nổi và thiếu cân nhắc như xưa. Người Tầu nói: giang sơn dễ đổi, bản tánh khó dời thật đúng. Nói theo kiểu bình dân ta thì trước sau ông Kỳ vẫn quen thói "chó đen giữ mực".

Đã từng ở vào cương vị lãnh đạo quốc gia, dù nước có mất, nhà có tan thì đạo lý và tập quán Việt Nam vẫn không cho phép ông Kỳ buông thả để nói và làm những điều như đã thấy. Dù sao giấy rách phải giữ lề. Cha ông ta đã dậy như thế. Việc ông Kỳ đi yết kiến Bùi Tín khi tên cuội này mới đào ngũ sang Mỹ là một hành động gây thương tổn danh dự cho hàng triệu đồng bào và đồng chí của ông, những người đã phải bỏ mình vì nước, và những người đã phải bỏ nước ra đi như ông. Chuyện ông kêu gọi hòa hợp hòa giải, quên đi qúa khứ, tái lập bang giao, bãi bbỏ cấm vận lại càng là một điều không nên. Ông ta đòi đúng những cái mà VGCS đang mơ ước và đang đòi hỏi. Trong khi đó bọn VGCS vẫn tỏ ra kiêu căng và ngoan cố trước những đòi hỏi tự do và nhân quyền ở trong nước. Hẳn ông Kỳ không đến nỗi mất trí nên không nhớ nổi rằng ngay thời ông còn nắm quyền, CS đã tung ra chiêu bài hòa giải và lợi dụng nó như thế nào. Một người làm chính trị như ông Kỳ cũng không thể không hiểu rằng chữ đoàn kết của CS có nghĩa là thần phục. Đoàn kết với VGCS tức là thần phục và làm tôi mọi cho VGCS. Có thế thôi.

Lý do ông Kỳ nêu ra để hô hào hòa giải xem ra có vẻ cao cả. Ông nhấn mạnh đến việc cứu vớt đồng bào của ông ở trong nước, phát triển kinh tế, làm cho dân giầu nước mạnh. Ai chứ đồng bào ông, những người đang tha phương cầu thực rải rác khắp năm châu bốn biển, đã biết rõ tinh thần yêu nước thương dân của ông Kỳ thế nào rồi. Từ ngày bỏ nước ra đi, người ta chưa hề thấy ông Nguyễn Cao Kỳ bỏ ra một đồng xu nhỏ nào của ông cho bất cứ ai là đồng bào của ông trong cũng như ngoài nước. Cũng không hề thấy ông tham gia bất cứ một sinh hoạt cộng đồng nào, tại bất cứ đâu. Nay bỗng dưng người ta nghe thấy ông nói đến chuyện cứu dân cứu nước. Thật là khôi hài. Nhưng chuyện tức cười là ngay trong khi hô hào việc cứu dân cứu nước, ông lại hướng các hoạt động của mình về phía người Mỹ. Tuy kiến thức không có, nhưng ông viết sách bằng tiếng Mỹ cho người Mỹ đọc. Ông thường hay xuất hiện trước cử tọa người Mỹ tuy chỉ là những người Mỹ bậc trung lưu, ở đó ông cố ý bắn tiếng bằng cách đưa ra những ý kiến hoặc những đường hướng chính trị thăm dò. Thật là trớ trêu, những ý kiến của ông thường đều rập khuôn với những đường lối và chính sách của VGCS, và cũng là những chính sách dò đường nằm trong lộ trình đối ngoại của các chánh quyền Mỹ.

Tuy nhiên trong những trường hợp như thế, ông cũng thường không quên hướng về phía cộng đồng tỵ nạn để dậy cho họ điều này điều nọ. Chẳng hạn ông dậy rằng người tỵ nạn có chính nghĩa nhưng đã để chính nghĩa đó mất vào tay công sản. Ông đổ lỗi việc làm mất chính nghĩa vu vơ cho kẻ vô danh nào đó, nhưng chắc không phải ông. Có khi ông trách người Mỹ trịch thượng và thường có thói cả vú lấp miệng em. Mỹ cá nhân nào đó cũng không thấy ông nêu tên. Ông chỉ trích những người lãnh đạo đất nước chịu cúi mình làm tay sai cho ngoại bang. Người lãnh đạo tay sai ngoại bang là ai cũng không thấy ông vạch mặt. Chắc chắn ông Kỳ muốn chừa mình ra ngoài cái tập thể lãnh đạo tay sai đốn mạt và điếm nhục này. Là người có trí khôn ai cũng hiểu ông Kỳ muốn nói như thế. Nhưng sự thể là người tỵ nạn không mấy ai không tin rằng ông Kỳ mới đích thực là loại người này.

Qua những lời tuyên bố của ông, người ta có thể nghĩ rằng ông Kỳ muốn nói xa nói gần đến việc VGCS nên mời ông ta về cộng tác với chế độ. Đã có lần ông nói huỵch toẹt rằng ông chỉ xin "đăng ký" một chức đại sứ lưu động để vận động yểm trợ đầu tư và tái thiết cho Việt Nam. Ông hay tỏ ra ta đây là một chính khách lão luyện trong chính trường nên thỉnh thoảng lại tung ra một hoạt động nào đó như một cuộc tiền vận động trước mùa bầu cử sắp đến. Xem ra thành phần cử tri ông muốn nhắm vào không phải là những người đồng bào của ông hay ai khác mà là người Mỹ, nói đúng hơn là chánh phủ Mỹ. Một thành phần cử tri đặc biệt khác nữa là bọn CS trong Bộ Chính Trị tại Hànội. Mai ngày nếu ông có tốt số được đắc cử thật thì hẳn là các thành phần cử tri đặc biệt này đã bỏ phiếu cho ông. Chắc chắn không phải đồng bào ông, vì họ đang quyết liệt đòi loại ông ra khỏi hàng ngữ của họ. Ông Nguyễn Văn Thiệu đã có thời nổi tiếng với câu "Làm chính trị là phải lỳ". Ông Kỳ không ưa ông Thiệu, nhưng xem ra ông Kỳ lại là người học trò giỏi của ông Thiệu về môn võ lỳ, sự lỳ lợm trong nghề làm chính trị. Mặc cho bất cứ ai lên tiếng chê trách ông, ông vẫn thản nhiên và ngạo mạn thực hành câu châm ngôn "Chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành cứ đi.”

Nghe nói trong lúc chờ thời, ông làm nghề cố vấn thương mại cho một số nhà đầu tư, và sống một phần thời gian tại các nước Đông Nam Á. Kể cũng tức cười thật. Việc này nghịch lý ở chỗ một người làm thương mại dở đến độ làm gì cũng thất bại như ông Kỳ, thậm chí còn phá sản nữa, mà lại có thể làm cố vấn được cho các nhà đầu tư thế giới. Cái gì chứ cái chức cố vấn thì người Việt Nam mình đã có quá nhiều kinh nghiệm. Khi mới đoạt được chánh quyền, Hồ Chí Minh đã mời cựu hoàng Bảo Đại, rồi cả đức cha Lê Hữu Từ làm cố vấn cho hắn. Những nhà tư bản chẳng ai dại gì mua pháo mượn người đốt. Có thể họ đã ngửi thấy một cái gì đó ở nơi ông Kỳ? Ông Kỳ đã từng là một tay chính khách mại bản. Biết đâu họ đã chẳng nghĩ rằng tới một ngày nào đó, Kỳ còn có thể có một cái gì đó để đem lại lợi lộc cho họ. Họ là nhà buôn. Nhà buôn chỉ cần lời. Cũng như ông Kỳ nuôi con gà chọi để thả vào trận đấu. Nay những nhà buôn kia cũng muốn nuôi ông Kỳ như một con gà chọi để thả vào trận chọi gà tại Việt Nam? Chúng ta chờ xem con gà nòi Nguyễn Cao Kỳ sẽ làm nên thành tích gì?

Trong khi chờ đợi cuộc đấu hào hứng bắt đầu, con gà nòi Nguyễn Cao Kỳ xem ra thích rong ruổi những chốn ăn chơi vùng Đông Nam Á. Nhiều người chê trách Kỳ. Điều đó cũng chưa hẳn đúng. Người hiểu tâm tính Kỳ không ai bằng một ông phi công đàn em của bà TM, người vợ cũ của ông Kỳ. Ông này quyết đoán rằng đó là vì Kỳ rất mê tín. Cũng có lý. Thường thường những chính khách người có học thì tin vào tướng số, kẻ vô học thì tin vào thầy bói, cô đồng để chọn đất xuất thân. Ông Lã Vọng xưa đến ngồi câu bên bờ sông Vị nên đắc thời và lừng danh trong lịch sử Tầu. Biết đâu ông Kỳ chẳng có ý chọn mảnh đất bên trời Đông để mong phất cờ trở lại. Nhưng cũng lại có người bạn của ông thuở trước có ý kiến rằng sai bét hết, chẳng qua chỉ vì cái hobby cố hữu của Kỳ: Ở đấy (ý nói các nước Á Châu) được tự do đá gà, chứ ở Mỹ này làm gì có. Hội Bảo Vệ Súc Vật nó kiện chết tươi." Biết đâu đó mới chính là triết lý sống của ông Kỳ?

Việc ông Nguyễn Cao Kỳ xin được về Việt Nam ăn tết. Theo như ông Kỳ nói, và cũng theo phát ngôn của nhà nước VGCS thì ông Kỳ về quê ăn tết là chuyện riêng tư của ông. Người tỵ nạn VN trở về quê ăn tết hà rầm, chẳng ai nói ai. Nhưng có một điều không thể không nói, đó là việc ông ta về và tuyên bố rằng Việt Nam cần một chế độ độc tài để phát triển kinh tế. Nói huỵch toẹt ra là ông ta thừa nhận chế độ VGCS, và thừa nhận sự độc tài toàn trị của chế độ VGCS là cần thiết để phát triển đất nước. Người viết sẽ không đưa ra bất cứ một lý luận cao siêu nào, và cũng không trưng ra một bằng chứng xa vời nào, mà chỉ dựa vào thực tại ở Việt Nam để vạch ra sự nghịch lý trơ trẽn và bịp bợm qua câu tuyên bố của ông Nguyễn Cao Kỳ.

Năm 1985 khi Việt Nam sắp lâm vào tình trạng sụp đổ hoàn toàn thì Nguyễn Văn Linh bắt chước Liên Sô đưa ra chánh sách gọi là mở cửa hay cởi trói với khẩu hiệu “đổi mới hay là chết.” Nếu lý luận như Nguyễn Cao Kỳ, phải độc tài mới phát triển được, thì từ 1985 về trước mới là thời kỳ VN có điều kiện nhất để phát triển kinh tế, vì thời đó là thời CS thi hành chính sách độc tài triệt để nhất. Và cũng theo lý luận của ông Kỳ thì sau năm 1985 là thời kỳ VC đã nới lỏng để có một chút tự do, phải là thời kỳ kinh tế kém phát triển hơn mới đúng. Nhưng như người ta thấy, mọi sự đều trái ngược hẳn: thời kỳ độc tài khét tiếng nhất (1985 trở về trước) là thời kỳ kinh tế lụn bại nhất. Trái lại khi tự do được nới lỏng thì kinh tế phát triển hơn. Đó là thực tế hiển nhiên tại Việt Nam. Từ thực tế hiển nhiên này người ta có thể kết luận là, nếu ông Kỳ không thấy được sự thật thì ông ta là người bất trí. Còn nếu thấy rồi bất chấp để phủ nhận sự thật thì ông Kỳ là một kẻ bất nhân, vì ông ta biết mà nói láo để bợ đỡ CS.

Tếu kiểu lính tráng một tí thì giờ đây ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng đã thuyên chuyển về Vùng 5 Chiến Thuật rồi. Người ta thường nói: cọp chết để da, người ta chết để tiếng. Phải nói thật, ông Kỳ chết lưu xú nhiều hơn là lưu danh. Nhưng lưu nào thì cũng là lưu cả. Cái danh của ông là Phó Tổng Thống VNCH, nhưng ông lại cúi đầu kính cẩn kính thưa những tên côn đồ chưa bao giờ xứng đáng xách cặp cho ông. Mức tột cùng của một con người vong thân. Một thằng cu bố đĩ nào đó bẩm thưa bọn chó nhẩy bàn độc chẳng ai nói gì. Nhưng ông Phó Tổng Thống VNCH làm thế thì không được. Tôn trọng kẻ đối thoại khác xa nịnh bợ kẻ đối thoại với mình. Mỗi thái độ biểu lộ một nhân cách. Cho dù nước đã mất, ông Nguyễn Cao Kỳ vẫn có danh phận là Phó Tổng Thống VNCH nên thân bất do kỷ. Thái độ nịnh bợ những tên côn đồ VGCS của ông Kỳ đã làm cho những nạn nhân CS bị nhục lây. Người ta hận ông và bất mãn với ông ở điểm đó. Ông đã coi thường lời dậy bảo của Tổ Tiên: giấy rách cũng phải giữ lấy lề.

Chỉ thấy có một người đàn em và cũng là bạn cố tri xông pha gỡ gạc cho cái sĩ diện của ông Nguyễn Cao Kỳ là ông Bằng Phong Đặng Văn Âu. Ông Âu cho biết ông Kỳ đã cố gắng thuyết phục bọn đầu lãnh Hànội đi theo Mỹ thì mới chống nổi Trung cộng. Do đó, ông Bằng Phong nghi ngờ rằng ông Kỳ chết là vì bị Trung cộng đầu độc. Chuyện cũng hơi tiếu lâm. Ông Tổng Thống Pháp còn phải cười khẩy hỏi “qui est-ce Kỳ”, thì không lẽ tên Hồ Cẩm Đào lại biết rành và sợ ông Kỳ đến độ đó. Cũng vẫn là chuyện tiếu lâm nếu quả đúng ông Kỳ làm thầy dùi cho Bộ Chính Trị VGCS. Như vậy thì một là ông Kỳ đã không hiểu rằng những kẻ bán nước chẳng bao giờ cần giữ nước. Và hai là, ông Kỳ ngày xưa được Mỹ giúp đỡ để giữ nước nhưng kết quả ra làm sao mà đến nay ông vẫn còn chưa tởn? Ông Kỳ không tởn nhưng bọn VGCS thì rất rành sáu câu nên dễ gì chúng nghe ông. Xưa nay ông Kỳ chẳng hiểu bọn VGCS là cái gì thế mà đã một thời ông lãnh đạo nhân dân miền Nam chống cộng. Đáng tiếc. Vì là chỗ bạn bè, có lẽ ông Bằng Phong muốn kiếm một bộ đồ hiệu mặc cho ông Kỳ để đi gặp các Vua Hùng cùng là các bậc anh hùng liệt nữ của Dân Tộc như Hai Bà Trưng, Quang Trung, Lê Lợi v.v. Nhưng rất tiếc ông Bằng Phong đã mua lộn phải bộ đồ dổm của dân bán chợ trời rồi.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Nguyễn Cao Kỳ

"Hắn chỉ là một tên cao-bồi dựa cột đèn Hà-Nội." Ðó là những lời chửi bới ông Kỳ trên đài phát thanh Hà-Nội những ngày sau 30-4-1975. Câu hỏi được đặt ra là tại sao sau khi đã cưỡng chiếm toàn thể miền Nam, bọn Việt-Cộng Bắc còn cay cú chửi bới như vậy? Phải chăng chúng đã vuột bắt một: "Tên giặc lái đã từng ôm chân hai đế quốc Pháp, Mỹ, chống ta (VC) điên cuồng, đã lái máy bay bỏ bom miền Bắc ta (VC, và nhiều lần hắn đòi Bắc tiến!..." .

Bọn Bắc Việt-Cộng còn mô tả thời thơ ấu của ông Kỳ như sau: "Kỳ chỉ là một tên thanh niên lêu lổng đầu đường, xó chợ, học hành không tới đâu, túm năm, tụm ba, nghịch ngợm, phá phách...". Chúng còn gay gắt nặng lời rằng: "Kỳ đang là một tên giặc lái vô danh, tiểu tốt, gặp may, được đế quốc Mỹ đưa lên cầm đầu Không-Quân, sau đó cho làm Thủ-Tướng. Quyền lực, chức vị, lập bè, lập cánh... Ðã có lúc Kỳ áp đảo cả Thiệu... Thế nhưng vì đầu óc rỗng tuếch lại có máu cao-bồi, du đãng... nên sau đó đã bị ‘xuống cấp’, làm phó cho Thiệu! Nói về làm chính trị thì khả năng của Kỳ cũng chẳng khác gì thằng mù sờ voi...". .

Ba mươi ba năm xưa... Ngày 28-4-75 ông Kỳ đứng trước hàng ngàn giáo dân ở giáo xứ Tân-Xa-Châu, tay giơ cao và quả quyết: "Chúng ta sẽ chiến đấu tới cùng... chúng ta sẽ không bỏ chạy sang Mỹ... Sang Mỹ, vợ ta sẽ đi lấy Mỹ, con ta sẽ ở đợ cho Mỹ!...". Bọn Việt-Cộng Bắc nghe vậy, hí hửng, những tưởng phen này sẽ tóm cổ được tên: “chống Cộng điên cuồng, mang ra miền Bắc cho đồng bào ném đá chơi! Nào ngờ ông đã nhanh chân tẩu thoát!. "Xuống cấp", từ ngữ lũ Việt-Cộng thường dùng để diễn tả những gì đang từ tốt xuống xấu, đang từ lành xuống rách, đang từ cao xuống thấp... Người miền Nam Cộng-Hòa thì nói là “hạ cấp” để diễn tả ý trên. Ngoài ra, chữ hạ cấp còn để nói đến những tên hèn hạ, đê tiện, vô liêm sỉ, tráo trở, phản bội... gian manh... lừa bịp v.v....

Hôm nay, ba mươi ba năm sau... Ngày 25-6-2008 vừa qua, vào lúc 7 giờ chiều tại Ballroom của khách sạn Houston, trước mặt Thủ-Tướng VC Nguyễn-Tấn-Dũng và Phó Thủ-Tướng VC Phạm-Gia-Khiêm cùng một số ít thương gia, ông Kỳ đã khúm núm đứng dậy, cong lưng lễ phép tâu rằng: "Kính thưa Thủ-Tướng, kính thưa Phó-Thủ-Tướng, kính thưa quí vị đại biểu... Thủ-Tướng đừng buồn về chuyện này, những người biểu tình chỉ là một thiểu số rất nhỏ, thực sự chúng ta nhìn thấy có bao nhiêu? Ðược một trăm người không? Nó có thể so sánh với hàng trăm nghìn người, cả triệu người Việt-Nam ở nước ngoài, chưa kể bao nhiêu người từ nhiều năm nay đã trở về quê hương, đóng góp cho quê hương... Nhóm người quá khích biểu tình không đại diện cho ai cả, họ là những người của thế hệ vẫn còn cay cú với quá khứ... Tôi ở đây không chỉ với tư cách người Mỹ gốc Việt ở hải ngoại mà còn gần như là một người Việt-Nam ở trong nước sang để gặp Thủ-Tướng, nghe ông Thủ-Tướng nói những ưu tư của dân tộc ở trong nước... Nghe xong, chính tôi cũng thấy an lòng..."..

Thật rõ ràng là "xuống cấp", "hạ cấp"! Trong quá trình lịch sử của nước Việt-Nam Cộng-Hòa ta, chưa hề có một vị lãnh đạo nào, một cấp chỉ huy nào lại "dị nhân" như vậy! Thậm chí những tên thủ lãnh băng đảng ở nước ta xưa kia như Ðai-Ca-Thay... Be Cầu-Muối... du côn như Lâm thợ điện v.v.. hoặc như Năm-Cam sau này, cũng không chịu đầu hàng, thuần thục những tên thủ lãnh khác v.v... Rõ ràng là ông Kỳ tự làm nhục ông mà... chúng ta đau lòng!. Một đứa trẻ được sinh ra sau năm 1975 đang đi học ở Việt-Nam nói rằng: "Kiến thức chúng cháu rất hạn hẹp về những gì xẩy ra trên quê hương ta trước năm 1975, cháu chỉ hiểu rằng những vị lãnh đạo nhà nước thì Miền Bắc có Chủ-Tịch và Thủ-Tướng, Miền Nam xưa kia thì có Tổng-Thống và Phó Tổng-Thống. Bác Kỳ đã là Phó Tổng-Thống... Ngày nay Bác Kỳ xin quý vị đang lãnh đạo Nhà-Nước coi bác như là một phó thường dân... về đây làm ăn, sinh sống thì cháu thấy bác hèn quá!".

Cổ nhân có câu "Cọp chết để da, người ta chết để tiếng". Ngày hôm nay, ông Kỳ đã tha hóa, biến chất, thoát xác, lột da, tự xin làm tôi tớ cho kẻ thù đối đầu của ông xưa kia... chỉ vì một chút lợi lộc do buôn bán, làm ăn bất chính thì thật là quá nhục nhã! Ông Kỳ sinh ra có cội nguồn, đó là tổ tiên, dân tộc... Tổ tiên, cha mẹ ông không chấp nhận Việt-Minh Cộng Sản. Dân tộc ông hiền hòa, bình dị, thèm khát hòa bình, yêu quý tự do... Ông đã hơn nửa đời đấu tranh cho khát vọng đó của chính ông, của đồng bào miền Nam thân thương kia... Cớ sao, hôm nay đang ở cái tuổi "gần đất, xa trời" ông lại đổ đốn tự "bôi tro, trát trấu" lên mặt mình như vậy? Năm 1979 tại nhà giam B của trại tù Ba-Sao thuộc tỉnh Nam-Hà miền Bắc... Sau những năm dài bị giam cầm, cùm kẹp, chết chóc, đói, khát thê thảm... Một trung-tá bại binh nhận được một ít thực phẩm tiếp tế từ người vợ kiên cường, thủy chung, vượt qua ngàn dậm xa xôi đi nuôi chồng! Chiều đến, sau khi đóng cửa phòng giam, ngồi xếp chân vòng tròn trước đống quà "cao lương" kia..., anh phán rằng “Giờ này, không cần biết ai là Thiệu, ai là Kỳ; chỉ cần biết miệng đang thèm, bụng đang đói, được một bữa no nê, thế là sung sướng nhất ở cái cõi đời đang thê thảm này! Anh nghĩ vậy, thốt ra những lời cay đắng như vậy cũng là tội nghiệp và có lý! Nhưng ngay sau đó, bại binh Trung-Tá Vũ-Xuân-Thông, người hùng của Biệt-Kích Dù 81, cùng vài chiến hữu đã sửa sai anh rằng: "Ðói là nỗi khổ chung mà chúng ta đang phải chịu đựng, no là niềm sung sướng riêng của mỗi người được vợ, con tiếp tế!... Ông Thiệu, ông Kỳ không dính dấp gì tới cái đói, cái no của chúng ta... Mất nước là trách nhiệm chung... Không riêng gì ông Thiệu, ông Kỳ, mà trong đó, anh, tôi, và các chiến hữu của chúng ta đang đứng quanh anh đây, cùng phải tự trách mình đã không làm tròn nhiệm vụ chống lại kẻ xâm lược.... Xin đừng xúc phạm đến hai ông ấy! Bây giờ, nhân danh đồng cấp bậc với anh, tôi đánh anh một cái tát!".

Sau đó, tôi được anh trung-tá "tội nghiệp" kia tâm sự: "Tôi sai, anh Thông và các chiến hữu đúng! Dù sao, theo quân kỷ, ông Thiệu, ông Kỳ cũng là cấp Tướng, cấp chỉ huy của mình!" Ngày đó, năm đó... Sau những năm dài của cuộc đời tù tội lê thê... Những đòn thù vùi dập trên những thân xác tả tơi, tiêu điều, thê thảm... Tôi và các chiến hữu tôi vẫn không thay lòng, đổi dạ... Vẫn trung kiên, khí tiết... Vẫn một lòng tôn kính các cấp lãnh đạo của mình. Thậm chí, hôm nay đây, ông Kỳ bán rẻ linh hồn cho lũ quỷ đỏ giả hình làm người kia, tôi và các chiến hữu tôi cũng không hối tiếc đã hành xử với nhau như tôi đã kể ở trên... .

Tướng Kỳ! Ngày hôm nay bỏ quân, bỏ quan, bỏ cả đồng bào miền Nam thân thương - những người mà xưa kia họ tôn xưng ông, họ kính trọng ông - để chạy theo giặc, xin một chút "cơm thừa, canh cặn" của kẻ địch, thì rõ ràng là ông đang phản bội họ, phản bội miền Nam quê hương ta, đồng thời làm nhục Quốc thể Việt-Nam Cộng-Hòa!. Bắt nguồn từ cái thái độ cúi đầu, cong lưng của ông Kỳ trước mặt mọi người tại cái ballroom của khách sạn Houston ngày 25 tháng 6 năm 2008 vừa qua nên tên Nguyễn-Tấn-Dũng mới cao giọng như sau: "Nhà nước Việt-Nam đánh giá cao sự đóng góp của bà con Việt kiều vào sự xây dựng đất nước của mình và xây dựng quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc... Tuy nhiên, vẫn còn một số người chưa hành động như vậy, do có thể bị mặc cảm từ quá khứ... trong khi đất nước quê hương và đồng bào mình luôn sẵn lòng bao dung và chào đón họ!". Rõ ràng là ngạo mạn, đểu cáng! Ai "bao dung" ai? Quân ăn cướp, kẻ lưu manh, giết người lại dám lộng ngôn “bao dung” người lương thiện, nhân đức! Tôi còn nhớ... Sau 30-4-1975, khi đã cưỡng chiếm hoàn toàn Miền Nam yêu thương của ta, bọn Bắc Việt-Cộng bèn tung ra một "mẻ lưới" đểu, bịp, lừa... Gói gần như “trọn bộ” quân, cán, chính Việt-Nam Cộng-Hòa bỏ vào tù! Ngày đó, đài BBC đã nhận định: "Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, những bại binh tình nguyện đi vào tù." Tôi và các chiến hữu tôi trong suốt những năm dài lê lết cái thân tàn như lũ ma dại ở nơi rừng thiêng, nước độc miền Bắc, uất ức, luôn đeo đẳng trong đầu cái ý "nhất thất túc thành thiên cổ hận, tái hồi đầu dĩ bách niên gian"... Lỡ một bước mang hận một đời!

Ðúng quá đi chứ! Thoát được nhà tù... Ðến được nơi tự do... Bụng vừa hết đói, cật vừa hết rét... thì đã rập rình ở cổng nghĩa trang rồi! Cách đây vài năm, ông Kỳ, trước khi về Việt-Nam để khấu đầu, khom lưng trước kẻ thù... Tại một nhà hàng ăn, giữa thủ đô của người Việt tỵ nạn, ông đã dùng ngôn ngữ của kẻ hạ cấp để đả kích những đồng bào xưa của ông, những chiến hữu xưa của ông, những người đã đứng cùng với ông một chiến tuyến... Ðó là chiến tuyến chống lại bọn giặc phương Bắc Việt-Cộng như sau: "Người ta bảo rằng tôi đón gió trở cờ... Gió ở đâu? Còn cờ thì gẫy mẹ nó rồi!" Thật là tồi tệ, tôi thiển nghĩ chẳng còn một ngôn ngữ nào để diễn tả cái "Quái nhân" này! Ông thực sự không còn xứng đáng với cái tên Cao-Kỳ (Cờ) mà song thân ông đã đặt cho ông!

Bùi-Trọng-Nghĩa

Hỏi ông Kỳ Cục có vui ?

Tuổi ông gần đất xa trời
Bổng dưng đổ đốn để người đời khinh
Ngày xưa thủ tướng nhà binh
Ngày nay “xuống cấp” van xin , cúi lòn

Khấu đầu Việt cộng van lơn
Cơm thừa canh cạn qua cơn đói lòng
Hỏi rằng ông biết hay không
Nhục dùm bại tướng thay lòng lột da

Hùm kia khi chết để da
Riêng tên Kỳ cục thành ma bợ lòn
Ôm chân Việt cộng tưởng khôn
Chúng khinh như chó bồ hòn ngậm thôi !....

Hỏi ông Kỳ cục có vui ?

Không vui !!!




dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Nguyễn Cao Kỳ

"Hắn chỉ là một tên cao-bồi dựa cột đèn Hà-Nội." Ðó là những lời chửi bới ông Kỳ trên đài phát thanh Hà-Nội những ngày sau 30-4-1975. Câu hỏi được đặt ra là tại sao sau khi đã cưỡng chiếm toàn thể miền Nam, bọn Việt-Cộng Bắc còn cay cú chửi bới như vậy? Phải chăng chúng đã vuột bắt một: "Tên giặc lái đã từng ôm chân hai đế quốc Pháp, Mỹ, chống ta (VC) điên cuồng, đã lái máy bay bỏ bom miền Bắc ta (VC, và nhiều lần hắn đòi Bắc tiến!..." .

Bọn Bắc Việt-Cộng còn mô tả thời thơ ấu của ông Kỳ như sau: "Kỳ chỉ là một tên thanh niên lêu lổng đầu đường, xó chợ, học hành không tới đâu, túm năm, tụm ba, nghịch ngợm, phá phách...". Chúng còn gay gắt nặng lời rằng: "Kỳ đang là một tên giặc lái vô danh, tiểu tốt, gặp may, được đế quốc Mỹ đưa lên cầm đầu Không-Quân, sau đó cho làm Thủ-Tướng. Quyền lực, chức vị, lập bè, lập cánh... Ðã có lúc Kỳ áp đảo cả Thiệu... Thế nhưng vì đầu óc rỗng tuếch lại có máu cao-bồi, du đãng... nên sau đó đã bị ‘xuống cấp’, làm phó cho Thiệu! Nói về làm chính trị thì khả năng của Kỳ cũng chẳng khác gì thằng mù sờ voi...". .

Ba mươi ba năm xưa... Ngày 28-4-75 ông Kỳ đứng trước hàng ngàn giáo dân ở giáo xứ Tân-Xa-Châu, tay giơ cao và quả quyết: "Chúng ta sẽ chiến đấu tới cùng... chúng ta sẽ không bỏ chạy sang Mỹ... Sang Mỹ, vợ ta sẽ đi lấy Mỹ, con ta sẽ ở đợ cho Mỹ!...". Bọn Việt-Cộng Bắc nghe vậy, hí hửng, những tưởng phen này sẽ tóm cổ được tên: “chống Cộng điên cuồng, mang ra miền Bắc cho đồng bào ném đá chơi! Nào ngờ ông đã nhanh chân tẩu thoát!. "Xuống cấp", từ ngữ lũ Việt-Cộng thường dùng để diễn tả những gì đang từ tốt xuống xấu, đang từ lành xuống rách, đang từ cao xuống thấp... Người miền Nam Cộng-Hòa thì nói là “hạ cấp” để diễn tả ý trên. Ngoài ra, chữ hạ cấp còn để nói đến những tên hèn hạ, đê tiện, vô liêm sỉ, tráo trở, phản bội... gian manh... lừa bịp v.v....

Hôm nay, ba mươi ba năm sau... Ngày 25-6-2008 vừa qua, vào lúc 7 giờ chiều tại Ballroom của khách sạn Houston, trước mặt Thủ-Tướng VC Nguyễn-Tấn-Dũng và Phó Thủ-Tướng VC Phạm-Gia-Khiêm cùng một số ít thương gia, ông Kỳ đã khúm núm đứng dậy, cong lưng lễ phép tâu rằng: "Kính thưa Thủ-Tướng, kính thưa Phó-Thủ-Tướng, kính thưa quí vị đại biểu... Thủ-Tướng đừng buồn về chuyện này, những người biểu tình chỉ là một thiểu số rất nhỏ, thực sự chúng ta nhìn thấy có bao nhiêu? Ðược một trăm người không? Nó có thể so sánh với hàng trăm nghìn người, cả triệu người Việt-Nam ở nước ngoài, chưa kể bao nhiêu người từ nhiều năm nay đã trở về quê hương, đóng góp cho quê hương... Nhóm người quá khích biểu tình không đại diện cho ai cả, họ là những người của thế hệ vẫn còn cay cú với quá khứ... Tôi ở đây không chỉ với tư cách người Mỹ gốc Việt ở hải ngoại mà còn gần như là một người Việt-Nam ở trong nước sang để gặp Thủ-Tướng, nghe ông Thủ-Tướng nói những ưu tư của dân tộc ở trong nước... Nghe xong, chính tôi cũng thấy an lòng..."..

Thật rõ ràng là "xuống cấp", "hạ cấp"! Trong quá trình lịch sử của nước Việt-Nam Cộng-Hòa ta, chưa hề có một vị lãnh đạo nào, một cấp chỉ huy nào lại "dị nhân" như vậy! Thậm chí những tên thủ lãnh băng đảng ở nước ta xưa kia như Ðai-Ca-Thay... Be Cầu-Muối... du côn như Lâm thợ điện v.v.. hoặc như Năm-Cam sau này, cũng không chịu đầu hàng, thuần thục những tên thủ lãnh khác v.v... Rõ ràng là ông Kỳ tự làm nhục ông mà... chúng ta đau lòng!. Một đứa trẻ được sinh ra sau năm 1975 đang đi học ở Việt-Nam nói rằng: "Kiến thức chúng cháu rất hạn hẹp về những gì xẩy ra trên quê hương ta trước năm 1975, cháu chỉ hiểu rằng những vị lãnh đạo nhà nước thì Miền Bắc có Chủ-Tịch và Thủ-Tướng, Miền Nam xưa kia thì có Tổng-Thống và Phó Tổng-Thống. Bác Kỳ đã là Phó Tổng-Thống... Ngày nay Bác Kỳ xin quý vị đang lãnh đạo Nhà-Nước coi bác như là một phó thường dân... về đây làm ăn, sinh sống thì cháu thấy bác hèn quá!".

Cổ nhân có câu "Cọp chết để da, người ta chết để tiếng". Ngày hôm nay, ông Kỳ đã tha hóa, biến chất, thoát xác, lột da, tự xin làm tôi tớ cho kẻ thù đối đầu của ông xưa kia... chỉ vì một chút lợi lộc do buôn bán, làm ăn bất chính thì thật là quá nhục nhã! Ông Kỳ sinh ra có cội nguồn, đó là tổ tiên, dân tộc... Tổ tiên, cha mẹ ông không chấp nhận Việt-Minh Cộng Sản. Dân tộc ông hiền hòa, bình dị, thèm khát hòa bình, yêu quý tự do... Ông đã hơn nửa đời đấu tranh cho khát vọng đó của chính ông, của đồng bào miền Nam thân thương kia... Cớ sao, hôm nay đang ở cái tuổi "gần đất, xa trời" ông lại đổ đốn tự "bôi tro, trát trấu" lên mặt mình như vậy? Năm 1979 tại nhà giam B của trại tù Ba-Sao thuộc tỉnh Nam-Hà miền Bắc... Sau những năm dài bị giam cầm, cùm kẹp, chết chóc, đói, khát thê thảm... Một trung-tá bại binh nhận được một ít thực phẩm tiếp tế từ người vợ kiên cường, thủy chung, vượt qua ngàn dậm xa xôi đi nuôi chồng! Chiều đến, sau khi đóng cửa phòng giam, ngồi xếp chân vòng tròn trước đống quà "cao lương" kia..., anh phán rằng “Giờ này, không cần biết ai là Thiệu, ai là Kỳ; chỉ cần biết miệng đang thèm, bụng đang đói, được một bữa no nê, thế là sung sướng nhất ở cái cõi đời đang thê thảm này! Anh nghĩ vậy, thốt ra những lời cay đắng như vậy cũng là tội nghiệp và có lý! Nhưng ngay sau đó, bại binh Trung-Tá Vũ-Xuân-Thông, người hùng của Biệt-Kích Dù 81, cùng vài chiến hữu đã sửa sai anh rằng: "Ðói là nỗi khổ chung mà chúng ta đang phải chịu đựng, no là niềm sung sướng riêng của mỗi người được vợ, con tiếp tế!... Ông Thiệu, ông Kỳ không dính dấp gì tới cái đói, cái no của chúng ta... Mất nước là trách nhiệm chung... Không riêng gì ông Thiệu, ông Kỳ, mà trong đó, anh, tôi, và các chiến hữu của chúng ta đang đứng quanh anh đây, cùng phải tự trách mình đã không làm tròn nhiệm vụ chống lại kẻ xâm lược.... Xin đừng xúc phạm đến hai ông ấy! Bây giờ, nhân danh đồng cấp bậc với anh, tôi đánh anh một cái tát!".

Sau đó, tôi được anh trung-tá "tội nghiệp" kia tâm sự: "Tôi sai, anh Thông và các chiến hữu đúng! Dù sao, theo quân kỷ, ông Thiệu, ông Kỳ cũng là cấp Tướng, cấp chỉ huy của mình!" Ngày đó, năm đó... Sau những năm dài của cuộc đời tù tội lê thê... Những đòn thù vùi dập trên những thân xác tả tơi, tiêu điều, thê thảm... Tôi và các chiến hữu tôi vẫn không thay lòng, đổi dạ... Vẫn trung kiên, khí tiết... Vẫn một lòng tôn kính các cấp lãnh đạo của mình. Thậm chí, hôm nay đây, ông Kỳ bán rẻ linh hồn cho lũ quỷ đỏ giả hình làm người kia, tôi và các chiến hữu tôi cũng không hối tiếc đã hành xử với nhau như tôi đã kể ở trên... .

Tướng Kỳ! Ngày hôm nay bỏ quân, bỏ quan, bỏ cả đồng bào miền Nam thân thương - những người mà xưa kia họ tôn xưng ông, họ kính trọng ông - để chạy theo giặc, xin một chút "cơm thừa, canh cặn" của kẻ địch, thì rõ ràng là ông đang phản bội họ, phản bội miền Nam quê hương ta, đồng thời làm nhục Quốc thể Việt-Nam Cộng-Hòa!. Bắt nguồn từ cái thái độ cúi đầu, cong lưng của ông Kỳ trước mặt mọi người tại cái ballroom của khách sạn Houston ngày 25 tháng 6 năm 2008 vừa qua nên tên Nguyễn-Tấn-Dũng mới cao giọng như sau: "Nhà nước Việt-Nam đánh giá cao sự đóng góp của bà con Việt kiều vào sự xây dựng đất nước của mình và xây dựng quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc... Tuy nhiên, vẫn còn một số người chưa hành động như vậy, do có thể bị mặc cảm từ quá khứ... trong khi đất nước quê hương và đồng bào mình luôn sẵn lòng bao dung và chào đón họ!". Rõ ràng là ngạo mạn, đểu cáng! Ai "bao dung" ai? Quân ăn cướp, kẻ lưu manh, giết người lại dám lộng ngôn “bao dung” người lương thiện, nhân đức! Tôi còn nhớ... Sau 30-4-1975, khi đã cưỡng chiếm hoàn toàn Miền Nam yêu thương của ta, bọn Bắc Việt-Cộng bèn tung ra một "mẻ lưới" đểu, bịp, lừa... Gói gần như “trọn bộ” quân, cán, chính Việt-Nam Cộng-Hòa bỏ vào tù! Ngày đó, đài BBC đã nhận định: "Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, những bại binh tình nguyện đi vào tù." Tôi và các chiến hữu tôi trong suốt những năm dài lê lết cái thân tàn như lũ ma dại ở nơi rừng thiêng, nước độc miền Bắc, uất ức, luôn đeo đẳng trong đầu cái ý "nhất thất túc thành thiên cổ hận, tái hồi đầu dĩ bách niên gian"... Lỡ một bước mang hận một đời!

Ðúng quá đi chứ! Thoát được nhà tù... Ðến được nơi tự do... Bụng vừa hết đói, cật vừa hết rét... thì đã rập rình ở cổng nghĩa trang rồi! Cách đây vài năm, ông Kỳ, trước khi về Việt-Nam để khấu đầu, khom lưng trước kẻ thù... Tại một nhà hàng ăn, giữa thủ đô của người Việt tỵ nạn, ông đã dùng ngôn ngữ của kẻ hạ cấp để đả kích những đồng bào xưa của ông, những chiến hữu xưa của ông, những người đã đứng cùng với ông một chiến tuyến... Ðó là chiến tuyến chống lại bọn giặc phương Bắc Việt-Cộng như sau: "Người ta bảo rằng tôi đón gió trở cờ... Gió ở đâu? Còn cờ thì gẫy mẹ nó rồi!" Thật là tồi tệ, tôi thiển nghĩ chẳng còn một ngôn ngữ nào để diễn tả cái "Quái nhân" này! Ông thực sự không còn xứng đáng với cái tên Cao-Kỳ (Cờ) mà song thân ông đã đặt cho ông!

Bùi-Trọng-Nghĩa

Hỏi ông Kỳ Cục có vui ?

Tuổi ông gần đất xa trời
Bổng dưng đổ đốn để người đời khinh
Ngày xưa thủ tướng nhà binh
Ngày nay “xuống cấp” van xin , cúi lòn

Khấu đầu Việt cộng van lơn
Cơm thừa canh cạn qua cơn đói lòng
Hỏi rằng ông biết hay không
Nhục dùm bại tướng thay lòng lột da

Hùm kia khi chết để da
Riêng tên Kỳ cục thành ma bợ lòn
Ôm chân Việt cộng tưởng khôn
Chúng khinh như chó bồ hòn ngậm thôi !....

Hỏi ông Kỳ cục có vui ?

Không vui !!!




nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Dân chủ ngồi chờ
Một số người tin rằng Việt Nam chưa hội đủ điều kiện để có dân chủ. Vì vậy nếu có dân chủ ngay bây giờ thì sẽ đưa đến mất ổn định. Phải chờ đến lúc có thể có dân chủ thì mới nên có dân chủ. Do đó những người này không muốn thay đổi thể chế mà chỉ muốn Đảng Cộng Sản Việt Nam tự thay đổi để xứng đáng giữ vai trò lãnh đạo. Niềm tin của những người này có xác đáng không? Bài viết này mong muốn giải đáp vấn nạn trên và sau đó thử đề nghị một số biện pháp để dân chủ hoá Việt Nam.

Dân chủ là một phương pháp để giải quyết mâu thuẫn và đi đến thoả hiệp. Dân chủ không phải là một thời điểm để ngồi chờ. Và cũng không thể có dân chủ ở mức tuyệt đối. Dân chủ là một quá trình tranh đấu hàng ngày để có thể đạt được mức độ gần tuyệt đối nhất. Mức độ tuyệt đối của dân chủ luôn luôn thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh sống. Vì vậy bất kỳ lúc nào cũng phải tranh đấu để có dân chủ ở mức gần với tuyệt đối nhất. Bằng lòng với dân chủ đang có, có nghĩa là đang trở thành xa dần với mức độ tuyệt đối tức là xa dần dân chủ. Hãy xem các nước đang có dân chủ. Không phải tự nhiên mà các nước này có được dân chủ. Họ đã phải tranh đấu và tốn bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu mới có được dân chủ. Rồi lại phải tranh đấu hàng ngày để duy trì, củng cố, phát triền và kiện toàn dân chủ. Xét như vậy thì không thể có dân chủ ngồi chờ hoặc được cho.

Nhưng tranh đấu để đòi có dân chủ có đưa đến mất ổn định không? Để có câu trả lời chúng ta hãy xem dân chủ có đưa đến mất ổn định không? Một số người lấy thí dụ về những biến động ở Thái Lan trong thời gian gần đây để minh chứng cho việc mất ổn định của dân chủ. Khi xem xét kỹ nguyên uỷ của những biến động này thì những biến động ấy xảy ra là do các tướng lĩnh và một số phe phái không tuân thủ quy luật dân chủ chứ không phải là do dân chủ. Lúc nào cũng chấp hành quy luật dân chủ thì không xảy ra mất ổn định. Hãy nhìn xem các nước dân chủ tiên tiến có mất ổn định vì dân chủ không? Các nước này cứ 4 hoặc 5 năm là thay đổi người cầm quyền nhưng cũng đâu có xảy ra mất ổn định.

Có một ngộ nhận về ổn định cũng cần làm sáng tỏ. Ổn định có hai nghĩa: ổn định dân sự hay xã hội và ổn định chính trị.

Ổn định dân sự hay xã hội, nghĩa là ổn định trong cuộc sống của mỗi công dân, là đảm bảo không bị bắt bớ, tịch thu tài sản, cấm kinh doanh, không là nạn nhân của những thay đổi luật pháp đột ngột và thường xuyên, hay những quyết định tùy tiện của chính quyền. Ổn định này rất cần thiết cho phát triển kinh tế, vì có như thế người dân mới có thể yên trí để tiên liệu và hoạch định sinh hoạt của mình. Ổn định này đòi hỏi dân chủ, nhân quyền và nhà nước pháp trị.

Về ổn định chính trị cũng đừng nên lẫn lộn giữa ổn định thể chế và ổn định của tập đoàn cầm quyền.

Ổn định thể chế là một bắt buộc để đất nước ổn định và đi lên. Ổn định thể chế yêu cầu phải có một thể chế cho phép người dân được quyền tự do ứng cử để cầm quyền và thay đổi người cầm quyền có nghĩa là phải có một thể chế dân chủ, nhân quyền và nhà nước pháp trị.

Thực tế cho thấy tại các nước theo thể chế độc tài, người dân không được thay đổi những người cầm quyền mà họ chán ghét vì bất tài, tham ô, quan liêu nên thường xảy ra chồng đối đưa đến đàn áp và bắt bớ khiến xã hội mất ổn định. Trái lại trong các thể chế dân chủ vì người dân có quyền thay đổi những người cầm quyền định kỳ cho nên không có tình trạng bắt bớ và đàn áp vì chống đối những người cầm quyền để gây ra mất ổn định xã hội.

Ổn định của tập đoàn cầm quyền, hay nói khác đi là sự kéo dài của một chính quyền với những người cầm quyền của cùng một đảng hay phe nhóm. Sự kéo dài này, nếu không do bầu cử tự do mà là do một chế độ độc tài bạo ngược, còn rất mâu thuẫn với ổn định dân sự và do đó hoàn toàn mâu thuẫn với phát triển, bởi vì người dân luôn luôn phải sống trong sợ sệt, không dám và không thể lập những kế hoạch kinh doanh lâu dài.

Kinh nghiệm cho thấy ổn định dân sự và thể chế rất cần cho phát triển, trong khi ổn định của tập đoàn cầm quyền hoàn toàn không có ảnh hưởng, hoặc chỉ có ảnh hưởng xấu. Tại Nhật, từ sau Thế Chiến II tới nay, ít có chính phủ nào kéo dài được hai năm. Tại Ý, tuổi thọ trung bình của các chính phủ còn ngắn hơn nhiều. Mặc dầu vậy kinh tế của cả hai nước này đều phát triển nhanh chóng, họ đều là thành viên của nhóm bảy nước phát triển nhất. Trong khi các nước có những chính quyền kéo dài như Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên và nhiều nước thuộc châu Phi và châu Mỹ La Tinh lại rất trì trệ và lạc hậu.

Khi các tập đoàn độc tài - như ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam - nói cần phải có ổn định để phát triển, nhiều người đồng ý với họ vì hiểu đó là ổn định dân sự trong khi họ thực hiện ổn định là ổn định của tập đoàn cầm quyền. Đó là một sự gian trá cần được tố giác.

Tóm lại dân chủ không gây ra mất ổn định mà mầm mống chính của việc mất ổn định là vì không có dân chủ. Bởi vậy cứ ngồi chờ để có dân chủ sẽ càng đưa đến mất ổn định hơn. Như vậy thì không có lí do nào để trì hoãn việc dân chủ hoá đất nước. Nhất là tình hình thế giới hiện nay buộc đất nước chúng ta phải dân chủ hoá ngay để có thể phát triển ổn vững và giảu mạnh đặng bắt kịp các nước trong vùng cũng như để bảo vệ được đất nước chống hoạ xâm lăng của Trung Quốc. Chỉ có dân chủ mới tạo được đoàn kết dân tộc và huy động được toàn sức dân để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bởi vậy không thể ngối chờ để có dân chủ. Nhưng, trước tình hình hiện nay của đất nước, phải làm gì để có dân chủ cho Việt nam?

Con đường lý tưởng và tốt nhất cho đất nước là đi đến dân chủ một cách hoà bình. Nói cách khác là diễn biến hoà bình để có dân chủ. Nhưng tại sao diễn biến hoà bình lại là con đường lí tưởng và tốt nhất? Bởi vì đặc tính quan trọng nhất của dân chủ là đối thoại, kiên trì đối thoại để thuyết phục đi đến những thoả hiệp. Cần nhấn mạnh là để đạt được các thoả hiệp chứ không phải để giành được toàn bộ thắng lợi về phần mình. Trong dân chủ và nhất là dân chủ đa nguyên thì không nên có ý nghĩ là sẽ đạt được thắng lợi toàn bộ cho mình. Ý nghĩ này sẽ dễ đưa đến độc tài. Bởi vậy để tranh đấu cho dân chủ không thể sử dụng bạo lực mà phải dùng lời nói. Phải cố gắng đối thoại, kiên trì đối thoại để thuyết phục và vận động sự đồng thuận. Mọi hình thức sử dụng bạo lực, dù là bạo lực bằng lời nói, cũng không phù hợp với dân chủ.

Ở đây cũng cần cho thấy sự gian trá của Đảng Cộng Sản Việt Nam khi nói về diễn biến hoà bình. Diễn biến hoà bình để có dân chủ là một diễn biến xây dựng dân chủ trong đó Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn có chỗ đứng và vẫn được cầm quyền nếu được dân tín nhiệm trong một cuộc bầu cử thực sự tự do có các đảng khác cùng tranh cử. Còn diễn biến hoà bình mà Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay cố ý nói là diễn biến để lật đổ và phủ định Đảng Cộng Sản Việt Nam với mục đích hù doạ các đảng viên như được viết trong Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khóa X tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Bởi vậy chống đối diễn biến hoà bình để có dân chủ ở Việt nam mãnh liệt nhất hiện nay là Đảng Cộng Sản Việt nam.

Mặc dầu vậy chúng ta, những người mong muốn dân chủ cho đất nước, nhất quyết không lùi bước trước những chống đối diễn biến hoà bình này. Chúng ta hãy cùng nhau vận động bằng những phương thức thích hợp với khả năng để việc diễn biến hoà bình đến dân chủ nhanh chóng diễn ra. Trong cuộc vận động này chúng ta phải quyết tâm đòi hỏi cho bằng được những điểm sau đây:

- Sửa đổi Hiến pháp: Việc sửa đổi đầu tiên mà mọi người đều để tâm là hủy bỏ điều 4 của bản Hiến Pháp vì nó khẳng định tính độc quyền lãnh đạo của một đảng chính trị, vì nó lấy một chủ nghĩa (Mác-Lê) và một tư tưởng (tư tưởng Hồ Chí Minh) làm chủ đạo. Một cách gián tiếp, nó đi ngược lại một số quyền công dân được quy định ở các điều 52, 53, 63 của bản Hiến Pháp. Nhưng ngoài điều 4 ra, còn có rất nhiều điều trong bản Hiến pháp hiện nay phải cần sửa đổi, tu chỉnh hay hủy bỏ.

Hãy lấy một vài thí dụ : Đầu tiên, cụm từ “Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” cần được loại bỏ khỏi bản Hiến pháp vì một hiến pháp tự do và dân chủ không tôn vinh một chủ nghĩa hay tư tưởng nào ; điều khoản về Mặt Trận Tổ Quốc (Điều 9) cần được hủy bỏ để không tạo điều kiện cho những lạm dụng chính trị dưới danh nghĩa “hiệp thương”; Điều 45 cần được tu chỉnh vì mục đích của lực lượng vũ trang không phải là bảo vệ một chế độ (xã hội chủ nghĩa) mà chỉ là bảo vệ an ninh trật tự, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Cuối cùng, ngay cả “Lời Nói Đầu” của bản Hiến Pháp cần phải thay đổi một cách toàn diện.

- Xây dựng bộ luật cho các đảng phái chính trị: nhìn nhận vai trò của các chính đảng, cho phép tự do lập đảng chính trị và quy định nguyên tắc sinh hoạt cũng như quyền hạn và trách nhiệm cho các đảng chính trị. Song song đó cũng cần quy định một số nguyên tắc về tài chính và kinh tài của các chính đảng. Đây là một văn kiện luật pháp tối quan trọng. Nó sẽ tạo điều kiện cho một tiến trình dân chủ trong ổn định. Nó sẽ phát huy tính chất đa nguyên chính trị và bảo đảm sự bền vững của tiến trình dân chủ hoá đất nước trong tương lai.

- Xây dựng bộ luật cho xã hội dân sự: quy định quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức dân sự. Bộ luật này sẽ quyết định bộ mặt của xã hội Việt Nam trong tương lai. Thật vậy, một nên dân chủ tiên tiến rất cần một xã hội dân sự đa dạng. Tính chất đa nguyên trên phương diện văn hoá và xã hội hoàn toàn lệ thuộc vào những sinh hoạt của các tổ chức dân sự có tầm vóc. Sinh hoạt của những tổ chức này có lành mạnh hay không lại lệ thuộc rất nhiều vào một đạo luật giản dị nhưng rành mạch để điều tiết xã hội dân sự và những đối tác xã hội.

- Xây dựng bộ luật hoà giải dân tộc: bởi vì muốn có dân chủ thực sự thì phải có bộ luật này, không thể nói hoà giải dân tộc một cách chung chung và chỉ là những kêu gọi trong các dịp lể để rồi không ai thực hiện; nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện cụ thể bằng việc ban hành một bộ luật về hoà giải dân tộc. Lịch sử cận đại của một số quốc gia (Chi-Li, Nam Phi) đã chứng minh một điều: Để hàn gắn những đổ vỡ, để xoá đi một quá khứ huynh đệ tương tàn, nhà nước cần đứng ra chủ đạo công cuộc hoà giải dân tộc. Và nhà nước chỉ có thể thi hành chính sách hoà giải một cách nghiêm minh và liên tục khi có được một đạo luật làm kim chỉ nam cho những cố gắng bền bỉ và lâu dài.

Nếu mỗi người trong khả năng cố gắng làm cho đất nước chuyển hoá trong hoà bình một cách nhanh chóng thành dân chủ thì đó là ơn ích và may mắn cho đất nước và các thế hệ mai sau.

Phan Bá Việt
(Hòa Lan)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Nghĩa tử là nghĩa “vô” tận!

- Nguyễn Duy Ân -

-Ông thầy nghĩ sao về tin đồn tướng Kỳ về lập chiến khu để chống Cộng?

-Thế cậu có tin không?

-Không tin, cũng chẳng hiểu vì sao lại có tin đồn như thế!

-Có gì đâu mà chẳng hiểu! Tin nầy dù phát xuất từ bên ngoài (dân) hay trong trại (tù) nầy thì có thể do bọn chúng nó (cai tù) tung ra để dò phản ứng bọn mình, hoặc do anh em bịa ra để trấn an tinh thần nhiều người đang quá bi quan tuyệt vọng.

-Theo ông thầy thì tình thế có hy vọng gì không, sao tôi thấy u ám quá!

-Đối với đất nước thì tôi không rõ tình hình đen tối kéo dài bao lâu, có lẽ là lâu. Riêng cộng nghiệp của bọn mình chỉ có chừng vài thập niên đại hạn là cùng. Cứ bình tĩnh đừng vọng động, vô ích.

-Vài thập niên? Ông thầy có đùa không đó, như vậy e bỏ xác nơi nầy hết!

-Tớ còn chưa lo, cậu còn trẻ sợ gì!

-Ông thầy nghĩ sao về tướng Kỳ, nghe nói ông ta có Thái Dương cư Ngọ, sao ông ta nói và làm nhiều chuyện khó coi , liệu ông ta còn ngo ngoe đưọc gì nữa không ông thầy?

Vị niên trưởng đưa bàn tay trái lên, ngón cái bấm lên các cung tương ứng Thiên bàn Tử vi:

- Tuổi Canh Ngọ, giờ… ngày… tháng…Thái Dương cư Ngọ của Kỳ ngộ Triệt coi như mặt trời bị mây che! Thế nhưng Kỳ ngoi lên tới đó kể như là quá lắm rồi, đó là nhờ bộ Tứ linh, Tả- Hữu, Tam Hóa… cứu vãn. Mặt trời giữa ngọ mà bị mây che dù có le lói được một lúc ban trưa thì xế bóng sẽ đi dần vào tăm tối. Người biết số mệnh thì thúc thủ mai danh, nếu còn tham vọng thì chỉ thân bại, danh liệt mà thôi. Cung nô bộc của Kỳ tiền vận tốt nhưng hậu vận nhiều người xa lánh, rất ít kẻ trung thành. Cung tật ách những hung tinh (Kình Đà ngộ Thiên Không…) ít tai nạn tật bệnh thể xác nhưng lại xấu về mặt tinh thần, tai tiếng, thị phi, ngôn bất cập kỳ hành! Cung thê của Kỳ cũng rất kém!

-Kém gì nữa ông thầy, bỏ vợ già, được vợ trẻ đẹp không lẽ …?

-Không biết nhưng căn cứ vào hậu vận (Thân cư…), tật ách và thê thiếp thì thấy như thế, hy vọng cậu còn sống đến đó để nhớ mà chiêm nghiệm đúng, sai.
* * *

Trên đây là mẫu đối thoại giữa người viết và một vị niên trưởng lớn hơn vài giáp, ở K3, Tân Hiệp, Suối Máu những ngày đầu năm 1976, mới chuyển lên từ Long Giao. Rồi lăn trầm mỗi người mỗi ngã, gian nan, khốn khó trên bước đường lưu đày, vùng kinh tế mới, bỏ xứ lìa quê. Vị niên trưởng không một lần gặp lại, nếu còn tại thế ông cũng đã ngoài 80.

Câu chuyện với vị đàn anh cứ như mới hôm qua, mỗi khi có chuyện liên quan đến tướng Kỳ. Vì thế người viết cũng không mấy ngạc nhiên về những phát ngôn và hành động của Kỳ: tất cả gần như đã được đóng khung trong 12 cung Thiên bàn định mệnh!

Quả thật với cương vị của Nguyễn Cao Kỳ thì phải thấy rõ tình huống những ngày tháng Tư 75 để không huênh hoang tuyên bố những lời vung vít “tử thủ” trước khi đào thoát vội vàng. Dù trách cứ cũng không một quân nhân nào muốn Kỳ phải “kẹt” lại để bị Cộng thù hành hạ!

Chuyện được đàn em cưu mang đem về nhà ở rồi cuỗm luôn vợ của gia chủ là điều trái đạo mà một người tự nhận là “Con (của) Phật” không thể hành xử như thế. Phải là “con của oan khiên nghiệp chướng!”

Trước Kỳ đã có biết bao nhiêu người kêu gọi “hòa giải hòa hợp” với Việt Cộng, chiêu nầy lại do chính chúng nó tung ra. Kỳ tự tin mình có uy thế có thể thuyết phục được bọn đầu sỏ VC nghe theo.

Dù rất ngu hèn nhưng bọn chúng “cáo” hơn Kỳ tới mấy cái đầu. Xúi chúng nó “bỏ Tầu theo Mỹ” mà Kỳ không đem kế sách gì để tháo gỡ những sợi dây xích chó trên cổ của chúng. Bỏ Tầu sao được khi mà bọn tình báo gián điệp đã chui sâu trèo cao từ trung ương đến địa phương, từ công an tới quân đội, từ chính trị đến kinh tế!

Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản… giữ được nưóc là dựa vào sức mạnh dân chúng ở những nước đó, Mỹ chỉ là yếu tố phụ. Không cần về ở Việt Nam cũng biết đảng CSVN là kẻ thù của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam. Kỳ về VN nhìn thấy nhà cao cửa rộng của bọn cán bộ đảng viên và gia nhân thuộc hạ của chúng để nịnh hót kết luận “đất nước phát triển” giàu mạnh mà không nhìn thấy hàng triệu cảnh đời cơ cực, hàng triệu thanh niên nam nữ phải đi lao nô khắp cùng các nước, người dân bị cướp bóc, đàn áp khủng bố dạ man hơn dưới thời Pháp thuộc.

Chỉ cần khuyến cáo VC hãy triệt để hòa giải với tất cả thành phần dân chúng, hòa hợp với tất cả các đồng bào sắc tộc trong nước thì sẽ tự động hóa giải dần dần sức chống đối ở bên ngoài, chứ không phải đàn áp khủng bố bên trong, xâm nhập, mua chuộc, đánh phá bên ngoài mà kêu gào đoàn kết, hòa giải… được. Không cần phải về nước để đấm ngực “Chúng tôi là những kẻ đánh thuê…là những kẻ phản quốc” và ca tụng lũ bán nước “có công thống nhất!” Và xúi chúng “bỏ Tầu thờ Mỹ” thờ Mỹ thì phải dân chủ hóa đất nước, nước có dân chủ thì đảng mất quyền, là tử huyệt, là tuyệt lộ của đảng!

Để lấy lòng chúng nó, Kỳ đã làm nhiều việc rất khó coi: mua rượu biếu qua công an.

Có đứa thấy rượu thì uống bất kể ai cho, nhưng cũng có đứa khinh, khinh kẻ thù cũ dù nay đã về quy hàng:

“Rượu của Nguyễn Cao Kỳ

Vị thiếu tướng công an cầm chai rượu ra bàn
-"Ông Nguyễn Cao Kỳ mới về gửi tặng".
Mọi người đang vui, gật gù bảo "uống"
Nhưng một người bảo "Không!".
Vì sao không ? Rượu cứ ngon là rượu!
Whisky Mỹ hay Vodka Nga, giờ có mặc cảm gì,
Chiến tranh lạnh qua rồi, ba mươi năm sau chống Mỹ
Đây là chén rượu thăm quê của tướng Nguyễn Cao Kỳ!
Nhưng vẫn có một người không chịu uống!” (Bằng Việt)



Võ Văn Kiệt chết, Kỳ mang vòng hoa to đến phúng điếu nhưng không được lên phát biểu câu nào như những lần đến trình diện Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết.
Mấy trăm tờ báo đảng cũng không có một câu nào nói đến sự có mặt của Kỳ nơi quàn Kiệt. Theo tin tức, Võ Văn Kiệt chết lúc 6 giờ 40 ngày 11/6/08 tại Singapore có nghi vấn là Kiệt bị tình báo Tầu Cộng ám sát.

“…Hàng thần lơ láo…!”

(Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu!

Truyện Kiều, Nguyễn Du)


Tiễn Kiệt ra đi có cụ Kỳ
Không người tiếp đón đứng sầu bi
Tưởng đâu thế giá như vàng ngọc
Lửa mới nung lên rõ sắt chì
Dại dột quy tà không xấu thẹn
Xun xoe chủ mới cố chai lì
Lân la kề cận quân cường đạo
Tới chỗ sao rơi kiếm chác gì ?


Lần nầy Kỳ chết, VC thấy cũng không còn “tận dụng” thêm được gì trên xác chết nữa nên thôi, phủi tay! Theo một bài báo trong nước viết:

“Dự kiến, thi hài tướng Nguyễn Cao Kỳ được mang về an táng tại quê nhà, như ước nguyện của ông lúc còn sống.”

Thế nhưng nay theo tin tức thì gia đình sẽ đem tro cốt về Mỹ? Như vậy có thể VC đã ngăn cấm việc đưa xác Kỳ về VN theo nguyện vọng của người chết, sợ gây phiền toái, hay là gia đình đã làm trái “nguyện ước” của người thân! Như chuyện phủ cờ, không biết Kỳ có di chúc gì về việc nầy mà gia đình trùm lên quan tài Kỳ một lúc 3 lá cờ VNCH, cờ Mỹ và cờ Mã Lai, rất bôi bác!

“Nghĩa tử là nghĩa tận…dụng!”Ngoài năm, bảy anh ngu trung vẫn thần thánh Kỳ như một bậc anh hùng, như một vị bồ tá(c) và mắng nhiếc bất cứ ai không cùng quan điểm.

Vài ba tên Việt gian cs ở hải ngoại cũng “tận dụng” cái chết của Kỳ để giành “chính nghĩa” cho tập đoàn bán nước Hồ Chí Minh. Việt gian Trần Chung Ngọc cho rằng “Kỳ đã giải nghiệp!” có người phản bác, thật ra thì Vg TCN nói đúng: “chánh nghiệp” của Kỳ quá mỏng nay lại giải đi để theo “nghiệp tà”

Ở trong nước, sử nô Dương Trung Quốc, tên bù nhìn giảo hoạt nhất nên vẫn được ngồi mãi ở nhà hát “Đảng hội” nhiều kỳ, mới có bài viết rất xách mé chen lẫn “khen ngợi Nguyễn Cao Kỳ”, Quốc viết:

“Ông là chính khách và thủ lĩnh “phía bên kia” thường được “phía bên này” coi là... “ngụy”. Và vì ông từng mang hàm cấp tướng lại còn làm đến chức Thủ tướng, Phó Tổng thống nên ông thuộc loại cả “nguỵ quân” lẫn “nguỵ quyền”.

Vai trò của sử nô DTQ và ý đồ của Việt gian CS khi chiêu dụ Kỳ trở về, Quốc tiết lộ:

“Tôi tham gia cùng Hội Liên lạc những người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức tiếp một vị Việt kiều đặc biệt với tâm trạng thăm dò xem việc một chính khách “bự” như ông hồi hương có mang theo thông điệp hay ý đồ gì không và tìm cách hướng việc ông về vào chủ trương “hoà giải” mà nhà nước đang nói nhiều”

Luôn “tận dụng” để tuyên truyền cho “chính nghĩa” chống Mỹ cứu nước, Quốc viết:

“…như có lần ông (Kỳ) nhắc đến việc Tướng Loan cầm súng bắn vào đầu một “Việt Cộng” hồi Mậu Thân. Bức ảnh đã làm cả thế giới xúc động về sự tàn bạo của chiến tranh, đã làm cho người dân Mỹ bàng hoàng nhận thức về cuộc chiến tranh và vị thế của nước Mỹ tiến hành như đồng minh của kẻ có hành vi tàn bạo như vậy.

Ông Kỳ nói rằng, trong cuộc sống bình thường, ông Loan không phải là người như thế và về cuối đời ông ta đã phải trả giá rất đắt bằng cả sự đối xử của nhiều người và bằng cả cách tự xử của chính mình v.v... Ông muốn nói rằng ký ức của những người cùng thời được trao truyền, tựa như cả bia đá lẫn bia miệng sẽ làm cho lịch sử trở nên khắt khe hơn cả những gì mà khi hành xử mỗi người nghĩ tới.”


Sử nô Dương Trung Quốc mập mờ, xuyên tạc lời nói của Nguyễn Cao Kỳ, hay chính Kỳ đã nhục mạ Tướng Nguyễn Ngọc Loan qua đoạn văn vừa trích? Nhắc tới Mậu Thân sao thằng sử nô không dám nói tới mấy ngàn người dân Huế bị giặc Hồ chôn sống? Lại đem Tướng Loan ra rồi mượn mồm mép Nguyễn Cao Kỳ để sỉ nhục một cách láo lếu?

Nói về sự xu nĩnh, rất ấu trĩ chính trị của Kỳ, sử nô viết:

“ Có lần ông thắc mắc rằng cái khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết” ra đời cùng với cuộc cách mạng của người cộng sản, hồi Cách mạng 1945 mới thành công thấy hay sử dụng câu khẩu hiệu này lắm, tại sao nay không thấy dùng nữa ?”

Không thấy Quốc trả lời thắc mắc nầy của Kỳ, nhưng câu trả lời thì đã quá rõ ràng:
Đối với giặc Hồ “Đảng trên hết!” thì “Tổ quốc” là sọt rác, ai mà dùng nữa! Chỉ có Kỳ ngây ngô không biết!

Dương Trung Quốc kết luận vừa ngạo mạn vừa khinh bỉ ngầm:

“Thế mới càng thấy ông Nguyễn Cao Kỳ là người biết sống. Nay ông vừa nằm xuống. Tôi viết những lời này như một lời chào tiễn ông. Chưa rõ gia đình ông sẽ thu xếp phần thể xác của ông sẽ nằm nơi nào? Nhưng chắc chắn rằng phần hồn của ông sẽ về với xứ Đoài vốn hay sinh ra những người có tính cách khác thường trong lịch sử.”

Dù sao thì chuyện “trở về” của Nguyễn Cao Kỳ cũng có những điểm tích cực:
Chứng minh thêm cho rõ rằng bản chất gian manh, quỷ quyệt của Việt gian cs là bất di bất dịch, chiêu bài “hòa giải hòa hợp” vĩnh viễn là chiếc bẫy sập chúng giương lên để tóm cổ đủ mọi loại “chim người” lớn nhỏ vì tính tham danh, hám lợi hoặc ngu đần dại dột, không hơn không kém. Vì vậy Kỳ chết hay sống vẫn không ảnh hưởng gì đến công cuộc đấu tranh của người dân VN để loại bỏ bọn Việt gian cs bán nước, trái lại có thể cảnh giác cho những ai còn mơ hồ, kêu gọi, van xin chúng thay đổi!

2/8/2011
Nguyễn duy Ân
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Hòa hợp hòa giải
(Khong ro tac gia)

Tại hải ngoại đã có biết bao nhiêu người kêu gọi “hòa giải hòa hợp” với Việt Cộng, chiêu nầy lại do chính chúng nó Việt Cộng tung ra.

Bọn chính trị gia SALON hải ngoại tự tin mình có uy thế có thể thuyết phục được bọn đầu sỏ Việt Cộng nghe theo.

Dù rất ngu hèn nhưng bọn chúng Việt Cộng “cáo” hơn các nhà đấu tranh hải ngoại tới mấy cái đầu. Xúi chúng nó “bỏ Tầu theo Mỹ” mà không đem kế sách gì để tháo gỡ những sợi dây xích chó trên cổ của chúng. Bỏ Tầu sao được khi mà bọn tình báo gián điệp đã chui sâu trèo cao từ trung ương đến địa phương, từ công an tới quân đội, từ chính trị đến kinh tế!

Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản… giữ được nưóc là dựa vào sức mạnh dân chúng ở những nước đó, Mỹ chỉ là yếu tố phụ.

Không cần về ở Việt Nam cũng biết đảng CSVN là kẻ thù của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam. Các nhà đấu tranh dỏm về VN nhìn thấy nhà cao cửa rộng của bọn cán bộ đảng viên và gia nhân thuộc hạ của chúng, để nịnh hót kết luận “đất nước phát triển” giàu mạnh mà không nhìn thấy hàng triệu cảnh đời cơ cực, hàng triệu thanh niên nam nữ phải đi lao nô khắp cùng các nước, người dân bị cướp bóc, đàn áp khủng bố dạ man hơn dưới thời Pháp thuộc.

Chỉ cần khuyến cáo Việt Cộng hãy triệt để hòa giải với tất cả thành phần dân chúng, hòa hợp với tất cả các đồng bào sắc tộc trong nước thì sẽ tự động hóa giải dần dần sức chống đối ở bên ngoài, chứ không phải đàn áp khủng bố bên trong, xâm nhập, mua chuộc, đánh phá bên ngoài mà kêu gào đoàn kết, hòa giải… được.

Không cần phải về nước để ca tụng lũ bán nước “có công!” Và xúi chúng “bỏ Tầu thờ Mỹ” thờ Mỹ thì phải dân chủ hóa đất nước, nước có dân chủ thì đảng mất quyền, là tử huyệt, là tuyệt lộ của đảng!

Bản chất gian manh, quỷ quyệt của Việt gian Cong San là bất di bất dịch, chiêu bài “hòa giải hòa hợp” vĩnh viễn là chiếc bẫy sập chúng giương lên để tóm cổ đủ mọi loại “chim người” lớn nhỏ vì tính tham danh, hám lợi hoặc ngu đần dại dột, không hơn không kém. Vì vậy, người dân Viet Nam và các nhà đấu tranh dỏm dân chủ hải ngoại nên cảnh giác khi mơ hồ, kêu gọi, van xin chúng thay đổi!
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Các Guiness Việt Nam từ xưa đến nay
Tổ chức Guiness thế giới gần đây liên tục nhận được đơn đăng ký xác nhận kỷ lục từ Việt Nam. Theo một vị đại diện của tổ chức này cho hay, không phải chỉ là gần đây mà theo dòng lịch sử từ xa xưa nước Việt đã xác nhận những kỷ lục khiến nhân loại phải ngưỡng mộ, xin dẫn ra đây một số ví dụ tiêu biểu:
1. Bà mẹ sinh con nhiều nhất thế giới từ xưa đến nay là bà Âu cơ: 100 con.
2. Người đầu tiên bay vào vũ trụ: Thánh Gióng.
3. Nhà du hành vũ trụ đầu tiên trên thế giới đặt chân lên mặt trăng và hiện còn ở trên đó chưa thèm về: Phạm Văn Cuội (nick name là Chú Cuội).
4. Vị nữ Tổng Tư Lệnh kiêm "Tổng Thống" đầu tiên trên thế giới: Bà Trưng Trắc.
5. Vị hoàng hậu bình dân nhất: Cô Tấm, cô là vợ vua mà về thăm nhà mà còn leo hái cau giỗ cha.
6. Chiếc máy bay đầu tiên trên thế giới: Chiếc máy bay có hình con ngựa sắt của Thánh Gióng.
7. Người làm marketing đầu tiên trên thế giới: Mai An Tiêm (khắc quảng cáo lên vỏ dưa hấu).
8. Người đầu tiên đưa hàng giả nhập lậu vào Việt Nam: Trọng Thủy.
9. Người nghèo nhất ở Việt Nam: Chử Ðồng Tử (2 cha con có mỗi một chiếc khố mặc chung).
10. Tiên Dung là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên dám bỏ nhà... theo trai.
11. Người đàn ông duy nhất có sữa cho trẻ em bú: Ông Thọ.
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

Có phải nghĩa tử là nghĩa tận?
Ông Nguyễn Cao Kỳ chết đến nay cũng được 1 tuần rồi. Tôi đọc trên internet những bài viết về cái chết này với nhiều lời lẽ khác nhau. Nhiều người cho rằng :"Nghĩa tử là nghĩa tận". Người chết rồi là hết nên hãy để ông yên nghĩ … Có thật sự nghĩa tử là nghĩa tận hay không ? Tôi thấy điều này cũng còn tùy.

Đối với một người bình thường thì câu nói trên có thể đúng. Nhưng đối với một nhân vật quan trọng trong một giai đoạn lịch sử thì từ mọi hành động, lời nói.. Khi sống cũng như sau khi chết … mọi chuyện chưa chắc đã hết được . Lịch sử rất công bằng và đã từng chứng minh điều đó với những cái chết của tiền nhân: Anh hùng dân tộc hay những tên sâu dân mọt nước. Lịch sữ đã ca ngợi các tấm gương của những anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Hưng Đạo Vương …v…v… Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam , Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Trung Tá Nguyễn Văn Long...v..v… thì cũng có những gương xấu bị người đời nguyền rủa như Lê Chiêu Thống … v…v… Người đời sẽ còn nhắc nhỡ và phê phán mãi những vị này. Vì thế nghĩa tử không thể là nghĩa tận đối với những nhân vật lịch sữ được.

Khi ông Nguyễn Cao Kỳ làm Tư Lệnh Không Quân VNCH, lúc đó tôi chỉ là một học sinh. Hình ảnh một ông Tướng lạm dụng chức quyền,lấy máy bay công bay đi ăn nhậu hoặc đá gà ở các tỉnh khác… báo chí thời đó phanh phui từng chi tiết đã gây cho tôi một ấn tượng không tốt về ông và thú thật lúc đó tôi đã xem thường ông ta rồi . Sau khi tôi vào lính đơn vị tại phi trường Phan Rang, lúc đó ông Nguyễn Cao Kỳ không còn là Tư Lệnh Không Quân nữa. Trong một đêm ngông cuồng hứng chí, ông ta lấy máy bay từ Biên Hòa bay ra Phan Rang, lúc đó phi trường đã đóng cửa. Ông ta ra lệnh mở đèn phi đạo cho ông ta đáp. Đại Tá Đỗ Trang Phúc lúc đó là Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ 20 Chiến Thuật Không Quân, dựng đầu 2 ông Không Đoàn Trưởng Chiến Thuật và Không Đoàn Yểm Cứ cùng Thiếu tá Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Phòng Vệ dậy để ra nghênh đón ông. Đám cắc ké tụi tôi bị huy động khẩn cấp để làm phòng tuyến bảo vệ an ninh cho ông. Mấy sĩ quan cấp úy trong Liên Đoàn Phòng Thủ và lính tráng dưới quyền dĩ nhiên đâu biết ất giáp gì. Đang nửa đêm bị triệu tập khẩn cấp thì chỉ biết thi hành nhiệm vụ thôi. Đến khi ông đáp xuống an toàn rồi, chúng tôi lại phải hộ tống cả đoàn lên Câu Lạc Bộ Sĩ Quan trên đồi. Té ra trên đó đã bày sẵn tiệc để đón ông ta bay ra ăn nhậu. Đoàn phòng vệ chúng tôi lại phải canh gác cho các thầy chú ăn nhậu cho đến khi gần sáng.

Tôi càng ghét và khinh ông ta nhiều hơn khi vào những ngày cuối cùng trước khi miền Nam rơi vào tay giặc. Tại Tân Sa Châu, ông đã lớn họng trấn an binh lính: "Các anh em cứ yên tâm. Tôi sẽ chiến đấu với anh em đến giọt máu cuối cùng…Ở bên Mỹ làm gì có mắm tôm cà pháo ăn mà đi … ". Lời động viên đó làm anh em binh sĩ khoái chí vỗ tay hoan hô rùm trời. Con bà nó! Qua hôm sau tên cao bồi dởm Nguyễn Cao Kỳ chưa rút súng bắn phát nào đã bỏ chạy thục mạng ra hạm đội Mỹ mất. Thử hỏi tư cách, danh dự và trách nhiệm của một tướng lãnh ở đâu khi lời nói với binh sĩ dưới quyền chưa dứt đã "bỏ của chạy lấy người" như vậy. Hay là ông chỉ muốn mọi người cứ tử thủ để ông được an toàn tháo chạy? Thành thật mà nói, nếu ông ta không tuyên bố gì cả, chỉ lẳng lặng ra đi như các vị tướng khác, có lẽ tôi không khinh ông ta nhiều như thế.

Nhiều vị tay to mặt lớn còn chút liêm sĩ trong chính quyền hoặc quân đội VNCH khi chạy ra đến hải ngoại, họ im lặng ôm nỗi nhục, nỗi đau vong quốc. Những vị này âm thầm sống và tránh xa những đám đông hoặc tránh tiếp xúc phát biểu với báo chí. Ở một góc độ nào đó, cá nhân tôi cảm thông và vẫn giữ trong lòng sự tôn kính đối với các vị này. Tuy nhiên đối với ông Nguyễn Cao Kỳ, như chúng ta đã biết, sau khi ra đến hải ngoại ông ta đã làm những gì, đối xử với thuộc cấp và người đàn em đã tiếp đón mình trong nhà như thượng khách để rồi trở mặt lấy vợ của đàn em của mình. Hành động như vậy giới du đãng giang hồ cũng không làm nữa chứ đừng nói là tư cách của một vị tướng! Những chuyện này giờ đây tất cả mọi người đều đã biết. Không còn gì có thể bao che cho những hành động này của ông nữa.

Có người sẽ nói tôi là cái thá gì mà dám hổn láo, buông lời khinh miệt một vị Tướng Lãnh, một nguyên thủ quốc gia như ông Nguyễn Cao Kỳ…. Tôi xin được trả lời trước cho những vị đó như sau:

Sự khinh miệt của một người đối với người khác không thể căn cứ vào tuổi tác, cấp bậc, chức vụ lớn nhỏ ... Người nhỏ tuổi có quyền khinh bỉ người lớn tuổi nếu người lớn tuổi đó chẳng có tư cách gì cả. Nếu người lớn tuổi làm những điều xằng bậy, hèn hạ thì xin lỗi lớn tuổi bao nhiêu cũng bị khinh bỉ như thường. Người chức vụ cấp bậc cao nhưng lại có hành động hèn hạ đốn mạt, lấy vợ của đàn em, quỵt tiền của đàn em, bán rẻ đồng đội, ve vãn kẻ thù… thì xin lỗi cấp bậc, chức vụ dù lớn cở nào cũng bị khinh bỉ . Một nguyên thủ quốc gia nếu trở mặt ve vãn, dua nịnh bắt tay với kẻ thù đã đưa dân tộc đồng bào của mình vào chỗ lầm than đói nghèo thì thử hỏi vị nguyên thủ quốc gia này có đáng bị dân chúng khinh bỉ hay không? Ai hỏi tôi những điều này thì hãy xét lại xem tôi nói có đúng không?

Có người lại nói ông Nguyễn Cao Kỳ là người yêu nước, có công với đất nước trước đây… Đối với tôi, ông ta chỉ là một con cờ của chính quyền Mỹ. Ông nhờ thời cuộc đưa lên nhưng thực tế chẳng làm gì thực sự có lợi cho đất nước. Con cờ được sử dụng xong vào một giai đoạn nào đó thì bị dẹp, cho ngồi chơi xơi nước . Thế thôi!

Chuyện lập pháp trường cát xử tử Tạ Vinh đối với tôi cũng chẳng phải là một công lao to lớn gì của ông. Chẳng qua Tạ Vinh chỉ là một con chốt thí trong chiến dịch chống tham nhũng, xoa dịu lòng dân vào thời buổi nhiễu nhương lúc bấy giờ. Có người cho rằng ông Nguyễn Cao Kỳ trong sạch, thanh liêm không nhận tiền hối lộ của vợ Tạ Vinh đút lót để tha mạng cho Tạ Vinh. Những người này nên suy nghĩ kỹ lại, nếu không thì quả thật là quá nhẹ dạ. Nếu tôi nhớ không lầm thì vào lúc bấy giờ, ông Nguyễn Cao Kỳ là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, danh vọng đang lên như diều. Chiến dịch chống tham nhũng mới vừa được ban ra để xoa dịu lòng dân và báo chí. Tạ Vinh là một tay thương buôn Hoa Kiều đầu cơ tích trữ gạo nổi tiếng. Tay Tạ Vinh này nhân cơ hội tình hình lộn xộn qua các biến động chính trị ở miền Nam vào những năm đó, nên đầu cơ tích trử để tăng giá gạo… Tình hình kinh tế lúc bấy giờ dĩ nhiên là rất khó khăn cho dân nghèo. Báo chí lại phanh phui um xùm lên, nêu đích danh những tay trùm đầu cơ tích trử trong đó có Tạ Vinh... Chiến dịch chống tham nhũng, chống đầu cơ tích trử lại mới vừa ban hành ra. Cho nên việc bắt Tạ Vinh cùng những tay đầu cơ thao túng thị trường lúc bấy giờ để làm gương là một việc làm cấp bách. Vừa để ổn định thị trường, vừa ổn định lòng dân và xoa dịu dư luận của báo chí. Sau khi bắt Tạ Vinh báo chí đã đăng tải rầm rộ ngay và pháp trường cát cũng đã chuẩn bị sẵn để mang con chốt thí Tạ Vinh ra xử bắn để răn đe và làm gương cho những kẻ thừa cơ hội, đầu tư trục lợi khác, đồng thời để xoa dịu lòng dân. Báo chí lại theo dõi hành động của chính quyền đối với việc này từng bước một. Tình hình lúc đó như vậy, danh tiếng ông Nguyễn Cao Kỳ lại đang trên đà lên như diều thì thử hỏi ông ta có dại gì nhận tiền hối lộ của bà vợ Tạ Vinh. Làm sao che dấu được báo chí và người dân lúc bấy giờ? Hậu quả sau đó sẽ ra sao? Ai ở vào vị trí đó mà dám ăn hối lộ để thân bại danh liệt chứ?

Còn cho rằng ông Nguyễn Cao Kỳ rút tên tranh cử Tổng Thống để một mình Ông Nguyễn Văn Thiệu độc diễn là hành động yêu nước của ông thì tôi cũng không nghĩ như vậy. Tôi nghĩ rằng người Mỹ đã làm áp lực với ông và buộc ông phải nhường bước. Người ta còn nhớ, trước đó các tay chân bộ hạ của ông Nguyễn Cao Kỳ đã bị "trực thăng bắn lầm" chết hết, trong khi đang họp trong khu Chợ Lớn. Thế lực không còn, ông ta mà có "cương" lúc đó thì chắc cũng "đi" lâu rồi, nên đành phải nhường thôi. Những chuyện này cả nước lúc đó đều biết.

Trước đây tôi có viết một truyện ngắn có tên : "Chưa trọn đường bay", trong đó tôi đã bày tỏ lập trường và biểu lộ sự khinh miệt của mình đối với việc ông Nguyễn Cao Kỳ đi về VN ve vãn chính quyền Cộng Sản cho vấn đề đầu tư kinh doanh là chính. Còn chuyện ông nói mưu tìm một giải pháp hoà giải hoà hợp để giúp nước gì đó… Tôi nghe qua đã thấy buồn cười rồi… Nếu ông Nguyễn Cao Kỳ ấu trỉ đến độ nghĩ rằng chính quyền Cộng Sản sẽ nghe theo lời khuyên của ông trong việc hoà hợp hoà giải, thì có lẽ vì ông Nguyễn Cao Kỳ chưa bao giờ ở lại VN sau ngày 30-4-1975 để thấy chế độ Công Sản áp đặt lên dân chúng miền Nam như thế nào? Hoặc ông chưa bao giờ "được" nếm mùi tù cải tạo của Cộng Sản nên ông ta mới nghĩ như vậy. Nếu Cộng Sản mà nghe theo lời ông thì đã không còn gọi là Cộng Sản nữa rồi!

Hôm nay dù ông Nguyễn Cao Kỳ đã chết, nhưng cái chết của ông không thể phủi sạch hết chuyện ông phản bội lại chiến hữu và ve vãn bắt tay kẻ thù của ông được. "Cọp chết để da, người ta chết để tiếng". Câu nói này khi sống chắc ông cũng đã biết. Sau khi ông ra hải ngoại, những việc làm của ông nhiều người đã viết và nêu lên rồi. Ở đây tôi chỉ muốn nêu lên điều mà tôi nhận thấy không thể nào chấp nhận được. Một vị đã từng lên đến Thiếu Tướng, sau đó giữ chức vụ Thủ Tướng, rồi Phó Tổng Thống của một nước mà sau khi chạy trốn ra hải ngoại lại mở miệng tuyên bố như sau: "Quân đội chúng tôi chỉ là một đội quân đánh thuê không hơn không kém .." thì đúng là bó tay. Nếu chính quyền Cộng Sản nói câu này, tôi không cảm thấy gì bởi vì "Thắng làm vua thua làm giặc". Kẻ thắng muốn nói sao cũng được. Nhưng câu nói của ông Nguyễn Cao Kỳ là một câu nói đâm lại sau lưng những chiến sĩ đã một thời cùng ông chiến đấu bảo vệ cho sự Tự Do của đất nước. Dù tôi chỉ là một tên lính quèn, nhưng với lời lẽ thiếu suy nghĩ của ông Nguyễn Cao Kỳ như vậy , làm cho tôi phẩn nộ và khinh thường ông ta. Tôi phẩn nộ và khinh thường ông ta bởi vì lời nói đó đã xúc phạm đến danh dự của tập thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Xúc phạm đến anh linh của biết bao nhiêu chiến sĩ các cấp đã hy sinh xương máu, bỏ mình trong cuộc chiến Quốc Cộng. Xúc phạm đến những quân nhân QLVNCH dù còn sống trong nước hoặc đang lưu vong tại hải ngoại. Lời nói này cũng đã xúc phạm biết bao người đã bị đày ải trong những trại tù tập trung cải tạo của Cộng Sản mà không ít người đã bỏ mình trong rừng sâu nước độc một cách tức tưởi, hậu quả của sự đày ải, bệnh tật… Lời nói này cũng đã xúc phạm đến biết bao nhiêu thương phế binh còn ở lại quê nhà, đang lê la vật lộn với cuộc sống khó khăn hàng ngày dưới chế độ tàn bạo của chính quyền Công Sản. Lời nói của ông cũng xúc phạm đến biết bao nhiêu cô nhi quả phụ đã mang vành khăn tang cho những người chồng, người cha …của họ đã nằm xuống trong cuộc chiến vừa qua. Máu của những chiến sĩ QLVNCH này đổ xuống không phải là máu của những người lính đánh thuê, cầm súng bắn giết để mưu sinh như lời nói ngu muội, không ý thức của ông. Họ là những người đã bỏ tuổi thanh xuân và gia đình, người thân của mình để bảo vệ sự Tự Do cho đất nước. Sự hy sinh của họ không bao giờ là vô ích và đừng bao giờ làm nhục đền hồn thiêng của họ bằng những lời nói ngu xuẩn, vô ý thức như vậy. Cá nhân tôi dù ông Nguyễn Cao Kỳ đã chết, tôi vẫn không tha thứ và chấp nhận lời nói này của ông được. Lịch sử sẽ còn ghi lại câu nói này của ông. Người đời sẽ còn phê phán về lời nói và hành động của ông. Và như thế Nghĩa Tử không thể là Nghĩa Tận đối với những người như ông được.

Cái chết của ông Nguyễn Cao Kỳ vô tình hay hữu ý lại xảy ra tại Malaysia. Điều này riêng cá nhân tôi nghĩ, cũng là một điều tốt cho ông ta hơn là xảy ra tại VN hay tại Mỹ. Tuy nhiên "đứa con cầu tự" như ông lại có kết quả như thế thì cũng là một điều đáng cho người đời suy gẩm.

Dầu sao thì cũng xin chúc ông được thanh thản ở cõi Vĩnh Hằng.

Vĩnh Khanh
Phố Đá Tròn, 30 tháng 7 năm 2011
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 5 guests