Văn Nghệ Văn Gừng

Thơ nhạc trữ tình, thơ nhạc lính, video...
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Thụy Ơi Và Tình Ơi! Hãy Thử Áp Dụng Lăng Kính Y Khoa Vào Một Bài Thơ.

Nguyễn Xuân Quang
Ngồi nghe người ca sĩ hát bài Khúc Thụy Du thơ Du Tử Lê do Anh Bằng phổ nhạc, ‘méo mó’ nghề nghiệp, tôi chăm chú nhìn, người ca sĩ có đôi mắt sáng long lanh nhưng cổ không thấy phồng sưng. Không thấy có bướu cổ.

Không biết người mà nhà thơ Du Tử Lê hỏi rất nhiều tại sao trong bài thơ Khúc Thụy Du trả lời như thế nào, nhưng với danh nghĩa là bác sĩ, tôi xin giải đáp theo kiểu... thầy thuốc viết văn.

Những câu hỏi tại sao trên liên hệ đến một chứng bệnh do sự tăng hoạt của tuyến giáp trạng, danh từ y khoa gọi là hyperthyroidism, ở đây, tôi chỉ xin giới hạn vào văn chương thôi.

Tuyến giáp trạng là một tuyến nội tiết trông giống cái giáp, cái mộc, cái khiên, cái thuẫn (đi đôi với mâu) ở cổ tiết ra kích thích tố chính giúp tăng trưởng. Tuyến này khi hoạt động hăng quá tiết ra nhiều dạng chất sơ khởi của kích thích tố giáp trạng, tích lũy lại trong tuyến hay các tế bào tăng sinh, cả hai tạo ra bướu cổ. Người bị tuyến giáp không hoạt động đầy đủ cũng bị bướu cổ. Người bị bướu cổ do tăng hoạt thường đi kèm với chứng mắt lồi ra khỏi tròng, gọi chung là bướu cổ lộ nhãn. Kích thích tố giáp trạng là một loại kích thích tố tăng trưởng nên liên hệ mật thiết với sự biến dưỡng (metabolism). Người thiếu kích thích tố giáp trạng thường lên cân, có thể mất trí nhớ, rụng lông tóc, lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, bần thần, trở ngại về giấc ngủ. Người thừa kích thích tố giáp trạng do tuyến tăng hoạt, ngược lại, mất cân, ốm nhom, dễ bị kích thích, kích động, nóng nẩy, bứt rứt, bồn chồn, lo âu, rối loạn về giấc ngủ, mắt bị kích thích, đàn ông bị suy dương, liệt dương, đàn bà kinh nguyệt ít, cả hai phái có thể bị hiếm hoi...

Người bị tuyến giáp trạng tăng hoạt còn có các triệu chứng lâm sàng khác mà, như đã nói ở trên, thi sĩ Du Tử Lê đã mô tả rất tài tình qua bài thơ đã được phổ nhạc có tên là Khúc Thụy Du:

Thụy ơi! và Tình ơi!
.....
Vì sao tay anh lạnh ?
Vì sao môi anh nóng?
Vì sao thân anh run?
Vì sao chân không vững?
Vì sao? Và Vì sao?

Những câu hỏi tại sao trên đều có câu trả lời là do triệu chứng của chứng bệnh tăng hoạt tuyến giáp trạng:

-Vì sao tay anh lạnh?

Nhiều người bị tuyến giáp trạng tăng hoạt thường hay bị thiếu máu (anemia) nên tay chân lạnh. Tính tình hay thay đổi cũng có thể làm lạnh tay lạnh cẳng.

-Vì sao môi anh nóng?

Môi nóng, tai nóng là vì sự gia tăng biến dưỡng làm gia tăng nhiệt năng trong người, gia tăng thân nhiệt nên những chỗ da mỏng hay màng nhầy thường nóng. Những người này cũng không chịu được nóng (heat intolerance). Trời ấm đối với người khác thì những người này chịu không được phải xoay trần ra hay bật quạt máy, mở máy lạnh. Ngược lại, lúc trời lạnh trong khi người khác mặc áo lạnh dầy cộm, những người này chỉ phong phanh một cái áo mỏng... Sự tăng hoạt, tăng biến dưỡng làm tim tăng động (hyperdynamic) khiến gây ra chứng tim đập nhanh và cao áp huyết...

-Vì sao thân anh run?

Những người bị tuyến giáp trạng tăng hoạt thường bị chứng rung (tremor) nhất là tay. Bác sĩ khi khám thường bảo bệnh nhân đưa thẳng hai tay ra trước mặt và để lên bàn tay một tờ giấy. Nếu bị rung thì tờ giấy rung thấy rất rõ.

-Vì sao chân không vững?

Tất cả các triệu chứng trên như thiếu máu, rung, mất cân, mất ngủ, mau đói (thiếu lượng đường trong máu), tính tình hay thay đổi... kèm với chứng yếu các bắp thịt cận sát thân thể như ở vai, nhất là ở háng (proximal muscle weakness) có thể làm cho chân không vững.

-Vì sao? Và Vì sao?

Xin trả lời là tại vì bệnh tăng hoạt tuyến giáp trạng.

Ca dao tục ngữ Việt Nam cũng nói tới chứng bệnh này qua câu:

Những người con mắt ốc nhồi,
Có tài đánh vợ, đập nồi đập niêu.

Đây là câu ca dao coi tướng đàn ông, các anh chàng mắt ốc nhồi thường:

Có tài đánh vợ.

Tại sao đàn ông có con mắt ốc nhồi lại có tài đánh vợ? Xin thưa các anh chàng này bị chứng tuyến giáp tăng hoạt. Như đã nói ở trên, người bị chứng này có thể bị bướu cổ. Người bị bướu cổ do tăng hoạt thường đi kèm với chứng mắt rất sáng, lồi ra khỏi tròng mắt như mắt ốc nhồi. Mô mỡ sau tròng con mắt, trong ổ mắt tăng sinh thêm nên đẩy dần con mắt ra phía trước gây ra chứng mắt ốc nhồi. Vì có bướu cổ và mắt ốc nhồi đi kèm nên còn gọi là bệnh bướu cổ lộ nhỡn. Như đã nói ở trên, những người con mắt ốc nhồi do tăng hoạt tuyến giáp hay bị bứt rứt, dễ bị khích động, kích thích, mất ngủ, tim dễ bốc hỏa sinh ra chứng tim đập nhanh (tachycardia), cao áp huyết nên dễ trở thành võ phu nếu gặp phải hạng người không kềm chế được. Do đó “có tài đánh vợ”.

Lý do thứ hai là có tài “đập nồi đập niêu.”

Đập nồi đập niêu.

Tại sao đàn ông bị chứng tăng hoạt tuyến giáp lại hay đập nồi đập niêu? Xin thưa ngoài những lý do vừa kể trên, những người này hay mò nồi mò niêu. Thật vậy vì tăng biến dưỡng nên cần nhiều calorie, nói nôm na là phải ăn nhiều. Tục ngữ cũng có câu "gầy thầy cơm." Câu này rất đúng với người bị tuyến giáp trạng tăng hoạt. Người bị chứng này ăn rất nhiều mà vẫn ốm nhom vì tăng biến dưỡng nên đốt rất nhiều calorie. Vì đốt nhiều calorie nên làm cho người lúc nào cũng nóng bức, chịu nhiệt không nổi... hay đói bụng nên xuống bếp mò nồi mò niêu. Nếu nồi niêu không có gì thì tiện tay đập luôn và đánh vợ vì vợ là người lo bếp nước, nấu ăn. Những người này nghi vợ không làm tròn bổn phận hay nghi là mình bị vợ bỏ đói! Đây là kinh nghiệm dân gian Việt Nam nhận thấy phái nữ mà lấy những người con mắt ốc nhồi (vì tuyến giáp trạng tăng hoạt) thì không những nuôi ăn đủ mệt, lại còn phải mua sắm nồi niêu thường xuyên, lại còn bị thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đánh đập... như cơm bữa.

Nhưng điểm quan trọng nữa là những người có con mắt ốc nhồi vì tuyến giáp trạng tăng hoạt dễ bị liệt dương, yếu kém sinh lý và có thể bị hiếm muộn. Vì yếu kém sinh lý, những anh chàng này là những con “cò quăm” thường hay đánh vợ vì bất lực và vì ghen tương:

Con cò là con cò quăm
Mày hay đánh vợ mày nằm với ai.
Có đánh thì đánh sớm mai,
Đừng đánh chập tối, chẳng ai cho nằm.

Cò quăm là cò cong queo, không phải là loại cò cứng, Anh ngữ gọi là stork (stork biến âm với stiff, cứng). Cổ ngữ quăm biến âm với quắm, khoằm (mũi khoằm) có nghĩa là cong queo như con dao quắm.

Những người đàn bà lấy phải các ông chồng ‘cò quăm’ này thường ấm ức, than thân trách duyên số mình ‘khốn nạn’:

Con nhạn xanh chắp cánh bay chuyền,
Chồng em lẩy bẩy như Cao Biền dậy non.
Sớm có chồng, sao em muộn có con.
Hẩm duyên, xấu số, em còn đứng không.
Khốn nạn thay em ăn ở với chồng!

(xem Chồng Em Lẩy Bẩy Như Cao Biền Dậy Non).

Tóm lại nếu ai “hay hát” hay thấy mấy câu hát:

Vì sao tay anh lạnh ?
Vì sao môi anh nóng?
Vì sao thân anh run?
Vì sao chân không vững?

hợp với thể xác và tâm thần mình quá thì xin đi tìm bác sĩ để thử máu tìm câu trả lời cho những câu hỏi “Vì sao và Vì sao?”

Nếu dự tính lấy chồng có con mắt ốc nhồi (không phải là bẩm sinh) thì nên khuyên người tình đi khám bác sĩ tìm bệnh và chữa cho hết bệnh để tránh cái “tài đánh vợ, đập nồi đập niêu,” tránh không phải than “Khốn nạn thay, em ăn ở với chồng!” và tránh cảnh không có con, tuyệt tự.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Chuyện hai người đàn ông

Có hai người đàn ông, cả hai đều bị bệng nặng lắm, cùng nằm chung trong một căn phòng của bệnh viện nọ.

Một người thì được phép ngồi dậy trên giường vào mỗi buổi trưa hằng ngày để được chữa bệnh bằng cách rút nước trong phổi của ông ta, giường của ông này được kê sát cửa sổ duy nhất trong căn phòng.

Người kia thì chỉ nằm dài trên giường suốt ngày đêm. Hai người nói với nhau rất nhiều chuyện hằng ngày: Chuyện vợ con, gia đình, nhà cửa, công việc, cả việc những ngày trong quân đội, họ kể cho nhau nghe về những chuyến du lich đó đây.

Cứ buổi trưa hằng ngày, khi phải ngồi dậy để được chữa trị, công việc rút nước trong phổi có khi hằng giờ, để cho thời gian qua nhanh, ông diễn tả cho người bạn nằm cùng phòng những gì ông có thể thấy được bên ngoài khung cửa sổ.

Kể từ đó người bệnh nằm trên giường suốt ngày bắt đầu sống với khoản thời gian buổi trưa quí báu kia, đó là cái thế giới duy nhất, với cuộc đời bên ngoài và thật sự sống với những sinh hoạt và mầu sắc của thế giới bên ngoài.

Bên ngoài khung cửa sổ là một khu công viên với một cái hồ nhỏ xinh xinh, vịt trời và những con thiên nga tung tăngbơi lội trong hồ, trẻ con chơi trò thả thuyền buồm do chúng chế tạo bằng những kiểu mẫu được bày bán trong các cửa hiệu đồ chơi. Những đôi tình nhân tay trong tay giữa vườn hoa đầy mầu sắc của muôn hoa đua nở và xa xa là thành phố nhộn nhịp.

Người đàn ông phải nằm suốt ngày trên giường chỉ cần nhắm mắt lại là có thể tưởng tượng ra mọi cảnh sắc do sự diễn tả tỉ mỉ của ông bạn kia ngồi bên cửa sổ.

Một buổi trưa ông ngồi bên cửa sổ tả lại một cuộc diễn hành vừa mới đi qua, mặc dù người đàn ông nằm trên giường không được nghe tiếng của ban nhạc diễn hành nhưng ông vẩn có thể trông thấy trong trí tưởng trong khi nằm nghe người kia kể lại câu chuyện thật rõ ràng.

Ngày tháng qua nhanh, vào một buổi sáng khi người y tá mang nước vào phòng tắm rửa cho bệnh nhân và khám phá ra người nằm trên giường bên cửa sổ đã qua đời trong giấc ngủ bình yên đêm qua, bà buồn bã cho người trong bệnh viện mang thi hài của ông ra đi.

Còn lại người đàn ông nằm suốt ngày trên giường chụp lấy cơ hội để xin chuyển giường sang nằm kế bên cửa sổ, người y tá chấp thuận ngay và chuyển ông sang nằm cho gần cửa sổ sau đó rời khỏi phòng trả lại sự yên lăng cho người bệnh nhân. Lúc này, trong một cố gắng phi thường, chấp nhận mọi sự đau đớn của thể xác, ông ta đã chống khuỷu tay cố rướng người nhìn qua khung cửa sổ để nhìn ra cuộc đời thật sự bên ngoài lần đầu tiên từ ngày ông vào đây. Ông cố gắng chậm rãi nhìn ra bên ngoài khung cửa sổ bên cạnh giường của ông.

Ô kìa! Đầy kinh ngạc, bên ngoài chỉ là một bức tường trống trơn! Lần sau khi người y tá đến ông ngạc nhiên hỏi “Làm sao ông bạn kia đã kể lại một cách tỉ mĩ những điều kỳ diệu ở bên ngoài chiếc cửa sổ này?”

Người y tá đã kể lại rằng người bệnh kia là một người mù và còn không thể thấy được cả bức tường trống vắng ngoài kia và kết luận:”Có thể ông ta chỉ muốn giúp cho ông thêm can đảm”. Người ta có thể quên mình để đem lại cho người khác những niềm hạnh phúc vô biên.

Chia xẻ một nỗi khổ chỉ chia được một nửa của sự buồn rầu, nhưng đem lại hạnh phúc cho người là một điều sung sướng mênh mông.

Nếu bạn muốn cảm thấy bạn giàu có, chỉ cần đếm những gì bạn không thể dùng tiền để mua được.

Cuộc đời là hiện tại như trong ngôn ngữ có câu: “TODAY IS A GIFT, that is why it is called PRESENT”

(Sưu tầm)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image


Người Trong Mộng
Đây là lần thứ hai vợ chồng Tư Chuột về thăm Việt Nam, lần trước cách đây năm, sáu năm. Thời gian cứ vùn vụt trôi, mải mê bận rộn vì cuộc sống, dù nhớ nhà, nhớ người thân hai bên nội ngoại, mà bây giờ mới có dịp trở về lần nữa.

Tư Chuột nao nức về Việt Nam gặp lại người thân, ngoài ra còn vì một lý do khác. Anh sẽ gặp lại một người bạn gái cũ sau hơn 30 năm xa cách, là “người trong mộng” của anh thời còn đi học.
Qua một người bạn học cũ mới liên lạc được, hiện cũng đang sống ở Mỹ, anh ta đã cho Tư Chuột biết tin tức một số bạn bè cùng lớp thời Trung Học. Họ cùng hào hứng nhắc đến người đẹp Ngọc Diệp, cô bé xinh xinh và nổi tiếng làm thơ hay của lớp, đám nam sinh thuở đó cứ mười người thì phải trên năm người có cảm tình với nàng và hâm mộ thơ nàng. Trong số đông đảo những thằng trồng cây si nàng có cả Tư Chuột. Là một người vóc dáng nhỏ thó, gương mặt choắt choeo, lại con nhà nghèo học dở, nên anh nam sinh Lê văn Tư, biệt danh các bạn đặt cho là Tư Chuột không bao giờ dám mơ được tiếp cận nàng thơ, không bao giờ dám “chen lấn” với các nam sinh khác để hòng chiếm được cảm tình của nàng. Tư Chuột chỉ biết thương trộm nhớ thầm người trong mộng.

Ngọc Diệp là một trong số vài người đẹp của lớp, nàng là con nhà giàu, học giỏi, dáng gầy gầy, đôi mắt to đen đằm thắm, và mái tóc dài qua vai luôn buông xỏa về một bên trông càng quyến rũ và lãng mạn. Các anh tha hồ đua nhau làm thơ tặng nàng, Tư Chuột xôn xao chẳng thể nào ngồi yên, anh không biết làm thơ, nên định mua một cuốn sách thơ của nhà thơ nổi tiếng nào đó để tặng nàng, mượn thơ người khác nói lên nỗi lòng của mình hay ít ra cũng làm nàng vui thích vì nhận được cuốn thơ hay. Nhưng anh chưa thực hiện được thì biến cố 1975 xẩy ra.

Bây giờ Ngọc Diệp là goá phụ, hai con, cuộc sống của nàng ở Việt Nam rất nghèo khổ. Mới nghe, Tư Chuột mủi lòng thương xót cho người xưa. Có ai ngờ một cô gái đẹp cao sang thuở đó, bể dâu cuộc đời vùi dập nàng sa cơ thất thế đến tôị nghiệp? Cũng có ai ngờ anh Tư Chuột, tướng tá lù đù, thuở đó không ông thầy bói nào nhìn mà dám mở miệng tiên đoán tương lai giàu sang phú quý cho được, học hành thì lình bình đủ điểm lên lớp là may lắm rồi, nay lại là một người thành đạt, một ông chủ shop sửa xe to lớn và đông khách trên xứ Mỹ, hai con học Đại học, nhà cao cửa rộng trả off từ lâu, vợ Tư Chuột hột soàn đeo đầy cổ, đầy tay.

Tư Chuột đã ghi chép cẩn thận địa chỉ nhà Ngọc Diệp, nàng sống tại Sài Gòn nên sự đi lại càng thuận tiện vì hầu hết họ hàng bên vợ và bên Tư Chuột cũng ở quanh Saì Gòn. Nhất định, anh sẽ đến thăm nàng, cả một đời người anh mới có dịp hiên ngang tiếp cận nàng như thời điểm này. Dù anh gặp lại Ngọc Diệp chỉ với tư cách một người bạn cũ, để nhìn lại bóng dáng người xưa. Nay ai đã phận nấy, hai khung trời khác biệt, cái tình cảm thời tuổi trẻ chỉ còn là kỷ niệm, một kỷ niệm đẹp có lẽ Tư Chuột không thể nào quên.

Tư Chuột dấu vợ, chị vợ hay ghen và giàu tưởng tượng, chỉ cần anh nói đi thăm một người bạn gái cũ là chị ta sẽ suy đoán ra một thiên tình sử ngay, và chị sẽ không rời anh nửa bước. Tư Chuột không muốn vợ đi theo làm tan biến đi giây phut diệu kỳ hội ngộ, chắc chắn nên thơ và lãng mạn như người thơ thuở ấy.

Tư Chuột đã sắp đặt sẵn mọi thứ trong đầu trước khi đến nhà thăm Ngọc Diệp, anh sẽ ghé tiệm sách mua một cuốn thơ, món quà anh còn mắc nợ nàng bao nhiêu năm về trước. Nhưng nàng nghèo lắm, thơ chỉ có ý nghĩa cho tâm hồn. Anh sẽ tặng nàng một món quà thực tế là tiền, là đô la. Anh ngại ngùng qúa, với một người yêu thơ, làm thơ, mà anh mang chuyện tiền bạc ra có đụng chạm vào tự ái của nàng không? Anh sẽ bỏ món quà ấy vào phong thư cho lịch sự, sẽ nhẹ nhàng kín đáo và nói hết sức khiêm nhường rằng: “ Tôi quý mến Ngọc Diệp chân tình nên mới tặng món quà nhỏ mọn này, mong Ngọc Diệp đừng từ chối làm tôi đau lòng”. Ôi, đôi mắt to đen đằm thắm của nàng chắc sẽ nhìn anh cảm động? và biết đâu trong sâu thẳm tâm hồn nàng sẽ dày vò nuối tiếc sao ngày xưa không để ý đến anh Tư Chuột, thì ngày nay đời nàng sung sướng biết bao?

Sáng nay sau khi ăn uống điểm tâm bên nhà vợ, Tư Chuột thay bộ quần áo bình dân giản dị nhất, chiếc quần màu kaki và áo sơ mi trắng bỏ ra ngoài. Đến nhà Ngọc Diệp trong hoàn cảnh nghèo, anh chẳng muốn mình ăn mặc sang trọng ra vẻ Việt Kiều làm nàng tủi thân. Anh xin phép vợ để đi thăm vài thằng bạn cũ, nhìn cách ăn mặc tàn tàn của anh, chị tin ngay, và dặn chiều về sớm để hai vợ chồng cùng đi dạo phố.
Tư Chuột ra đầu ngõ kêu xe ôm chở đến một tiệm sách gần nhất và bảo anh xe ôm ngồi ngoài chờ.
Từ xưa tới nay Tư Chuột có biết gì về thơ, nay lạc vào một rừng thơ làm anh hoa cả mắt, có nhiều tập thơ của nhiều tác giả khác nhau, cuốn nào trình bày bìa cũng đẹp, những lời đề tựa, lời giới thiệu nào cũng bay bổng trời xanh. Mở ra đọc thử mỗi bài thơ, Tư Chuột thấy bài nào cũng… giống nhau, thất tình, thương nhớ, giận hờn…càng làm anh rối trí. Thà như ở shop xửa xe của anh, xe nào hư không nổ máy, anh mày mò một lúc là tìm ra lý do ngay, thà khách hàng yêu cầu anh thay nhớt xe, anh làm vèo một cái là xong. Còn lựa chọn một cuốn thơ trong đám thơ này sao mà khó khăn qúa!


Tư Chuột cầm một cuốn thơ lên, bìa màu tím, xinh xinh, cuốn thơ tên “Một thời tương tư”, anh thấy thích hợp với mình nhất, anh đã chẳng một thời tương tư Ngọc Diệp đó sao! Muộn còn hơn không, để anh được bày tỏ tình cảm với nàng, dù điều ấy nàng cũng biết thừa từ lâu..
Anh mang cuốn thơ ra quầy tính tiền, nhờ cô nhân viên gói giấy hoa cho đẹp để làm quà tặng, anh đã hào hoa trả tiền gấp đôi gấp ba gía ghi trên bìa sau cuốn thơ và hớn hở ra khỏi nhà sách.
Anh xe ôm tiếp tục cuộc hành trình tìm địa chỉ nhà Ngọc Diệp, một con hẻm nhỏ gần khu chợ Bà Chiểu, anh ta bảo đảm sẽ tìm ra địa chỉ mới ăn tiền xe, nên Tư Chuột yên tâm, âu yếm ôm nhẹ cuốn thơ vào lòng và ngắm nhìn cảnh tấp nập của phố phường. Sau khi anh xe ôm quẹo vào vài con hẻm ngoằn nghoèo, vài lần rẽ trái, rẽ phải đến chóng mặt, Tư Chuột đã đứng ngay trước số nhà muốn tìm.

Anh sửa lại nếp áo, nếp quần cho bớt nhăn nhó và run run đưa tay lên gõ cửa, hồi hộp chờ đợi gương mặt quen thuộc ngày xưa hiện ra. Chắc khi nghe anh giới thiệu là Tư Chuột, Ngọc Diệp sẽ nhớ ra ngay, cái biệt danh độc đáo của anh nam sinh nhỏ con nhất lớp, nhà quê nhất lớp, và học dở nhất lớp, ai cũng biết.
Nhưng trong nhà vẫn im vắng, không một ai ra trả lời! Tư Chuột đang ngỡ ngàng chưa biết tính sao thì một bà hàng xóm sát bên chạy ra, sốt sắng:

- Ông tìm nhà bà Diệp hả?

Tư Chuột mừng rỡ:
- Vâng, có phải đây là nhà bà Ngọc Diệp không?

- Đúng rồi, ba mẹ con bà ấy bán qúan cơm tấm ngoài đầu hẻm, kế bên tiệm bán chè, sinh tố đó, bộ khi nãy vô đây ông anh không nhìn thấy hả?

- Vâng, thôi cám ơn bà.

Từ Chuột leo lên xe ôm và chạy ra đầu hẻm, bây giờ mới để ý thấy qúan cơm đúng như bà hàng xóm nói, Anh trả tiền hậu hĩ cho anh xe ôm và đến hàng sinh tố kêu một ly mãng cầu tươi, ngồi nghỉ chân và suy nghĩ, không lẽ Ngọc Diệp đang bận rộn bán buôn mà anh đến nhận diện người quen, chuyện trò và tặng quà ngay giữa chốn bát nháo ăn uống này thì còn gì là ý nghĩa? Để chiều nay, khi nàng về nhà, anh sẽ đến cũng không muộn màng gì, và sẽ có nhiều thời gian để tâm sự, nhắc lại những kỷ niệm thời đi học.
Anh thong thả uống hụm sinh tố và dõi mắt sang hàng cơm tấm bên cạnh. Đang tầm sáng, giờ cao điểm đông khách, anh chẳng thấy Ngọc Diệp đâu, chỉ thấy một bà to mập đang ngồi giữa nồi cơm to tướng không kém gì bà ta, và một cái bàn thấp trên bày la liệt những món ăn, những hũ đồ chua và hũ nước mắm, mấy ống đựng thìa, đựng nỉa. Bà vừa xới cơm ra dĩa, vừa gắp thức ăn lia lịa và luôn miệng quát hai phụ nữ trẻ bưng bê:


- Lẹ tay lẹ chân lên chút coi, khách đang ngồi đợi kìa!

- Dẹp mấy cái dĩa không vào đây cho tao, hết dĩa rồi !

Tư Chuột làm bộ bâng quơ hỏi chị bán sinh tố:
- Nghe nói quán cơm này ngon lắm phải không chị?

Chị sinh tố thật thà:
- Quán cơm tấm bà Ngọc Diệp nổi tiếng ngon, ông ăn thử thì biết.

- Chị làm ơn kêu cô giúp việc cho tôi dĩa cơm tấm sườn nướng đi.

- Hai cô đó là con gái bà Ngọc Diệp, ba mẹ con sống nhờ nồi cơm tấm này đó.

- Vậy bà ấy đâu rồi?

- Thì bà Ngọc Diệp to béo đang ngồi bán cơm chứ ai.

Tư Chuột giật mình hụt hẫng, anh tưởng mình nghe lầm. Cố giữ vẻ bình tĩnh, anh nói cho chị sinh tố khỏi nghi ngờ vì thái độ khác thường của mình:
- Nghe danh quán cơm bà Ngọc Diệp, hôm nay tôi mới có dịp ghé đây ăn thử.

Chị sinh tố chẳng thì giờ đâu mà nghi ngờ như chị Tư Chuột nhà anh. Chị ta vui vẻ đi gọi cơm giùm anh, nên Tư Chuột tự nhiên và thoải mái nhìn bà to mập kia kỹ lưỡng hơn. Đúng là Ngọc Diệp rồi, nhờ đôi mắt to đen mà anh đã nhận ra nàng, dù hình dáng nàng thì hoàn toàn khác hẳn.
Mọi thứ trên cõi đời có thể thay đổi, nhưng sao cuộc sống và thời gian lại nỡ biến đổi một cách phũ phàng từ một cô gái xinh xẻo, vóc dáng gầy gầy, một nàng thơ dịu dàng ngày nào thành một bà to mập, ngồi bán cơm ngoài đường phố và luôn miệng quát mắng con trước mặt mọi người như thế?

Cô con gái của Ngọc Diệp bưng dĩa cơm tới bàn Tư Chuột, nhìn cô gái, Tư Chuột đã thấy lại đôi mắt to đen đằm thắm của người mẹ bao nhiêu năm về trước. Anh thong thả ăn từng thìa cơm nhỏ vì bụng hãy còn no, và vì muốn kéo dài thì giờ để nhìn thêm cảnh đời của Ngọc Diệp, cho bõ công lao anh nao nức từ bên Mỹ khi chuẩn bị về Việt Nam, cho bõ công lao anh đã ngồi mỏi lưng sau chiếc xe ôm đi tìm con hẻm nhà nàng cả giờ đồng hồ.


Khách hàng vẫn đông, bà mẹ vẫn the thé sai bảo và mắng hai cô con gái, có lúc rảnh tay bà ngẩng lên, quét ánh mắt lanh lợi như điểm danh các khách hàng, bà ta ngừng lại nơi Tư Chuột vài giây, vẫn không có cảm xúc gì khác lạ, như với bao nhiêu người khách khác mà thôi. Làm sao trong giây phút bận rộn hối hả này, bà có thể nhận ra một người quen sau hơn 30 năm mờ mịt vì gío bụi cuộc đời? rồi bà lại cúi xuống thoăn thoắt xới cơm, lấy thức ăn cho khách.
Tư Chuột kêu tính tiền, cô gái hét gía 40 ngàn đồng, trong khi nãy giờ anh thấy mỗi dĩa cơm tương tự người ta chỉ trả có 20 ngàn đồng. Anh ngạc nhiên nhưng cũng móc túi trả đầy đủ, chị bán sinh tố nhìn Tư Chuột thương hại, thì thầm:

- Mẹ con bà này chuyên môn coi mặt đặt tên, thấy ông là khách lạ, ngàn năm một thuở mới đến quán một lần, nên tính gía trời ơi, kiếm thêm thu nhập. Nhưng cũng còn may cho ông, bữa hôm có chị Việt Kiều về xóm chơi, sáng ra đây ăn cơm tấm, bị chém một dĩa cơm tới 50 ngàn đồng, vì chị đó ăn mặc sang trọng lắm, nhìn vô thấy Việt Kiều liền.

Tư Chuột xót xa, không vì mất thêm tiền một cách vô lý, mà vì lòng tham của con người, lại là người mà anh từng ngưỡng mộ, thương mến. Cuốn sách thơ trong tay Tư Chuột bỗng trở nên thừa thãi, lố bịch, và cái phong thư có vài trăm đô la nằm trong túi áo anh có lẽ không bao giờ cần phải lựa lời tế nhị để trao cho người nhận nữa. Anh bỗng quyết định không cần đến nhà Ngọc Diệp, không đối diện với nàng, người trong mộng của anh đã chết tự lâu rồi. Món tiền này anh sẽ cho những người nghèo khổ nào đó anh gặp trên đường phố, còn cuốn thơ, sẽ có một người xứng đáng hơn Ngọc Diệp để anh trao tặng.

Một thằng bé bán vé số đến bên Tư Chuột, nó chìa xấp vé số ra mời mọc, nhưng Tư Chuột gạt đi và mời lại nó:
- Thằng nhỏ, mày muốn ăn cơm tấm không?

- Muốn, mà không có tiền ông ơi!

- Mày có bao nhiêu đứa bạn kêu hết lại đây, tao bao.
Thằng vé số nhẩy cẩng lên vì vui sướng, vội chạy đi tìm lũ bạn, một lúc sau hơn chục đứa kéo tới bu quanh Tư Chuột, anh ra lệnh:

- Đứa nào muốn ăn gì thì kêu đi, rồi qua uống sinh tố hay ăn chè quán này. Nghe chưa?

Lũ trẻ uà ra chỗ bà bán cơm, xúm xít chỉ trỏ các món ăn. Tư Chuột gọi cô con gái bà hàng cơm ra, đếm bao nhiêu dĩa cơm, mỗi dĩa 40 ngàn đồng , trả tiền ngay tại chỗ, làm cô kinh ngạc không ngờ hôm nay trúng mánh lớn. Tư Chuột lại đưa cho cô một xấp bạc Việt Nam nữa và nói trước mặt lũ trẻ:

- Số tiền này đủ cho lũ trẻ đến đây ăn cơm ít nhất cũng ba lần nữa. Tôi trả trước cho cô đấy.
Anh quay qua trả tiền chị sinh tố cũng đủ cho bọn trẻ ba lần nữa rồi ra về.

Thấy chồng về sớm chị Tư Chuột ngạc nhiên:

- Tưởng anh đi tới nhà bạn bè chiều mới về?

Anh chìa cuốn thơ gói trong tấm giấy hoa xinh đẹp ra:
- Có tìm nhưng không gặp bạn, nên anh ghé vào một tiệm sách, chọn mua tặng em một cuốn thơ tình.

- Một cuốn thơ tình?
Chị Tư Chuột cảm động ngỡ ngàng vì món quà bất ngờ, chồng chị chưa bao giờ tặng chị một món quà thanh lịch như thế này, chị như bay bổng vào cõi thiên thai:

- Anh ơi, tuy em ít đọc thơ, nhưng anh mua tặng thì từ nay em sẽ siêng đọc thơ và sẽ yêu nó.
Chị mở ra thấy cuốn thơ, lẩm bẩm đọc “ Một thời tương tư”, nên càng cảm động và ngạc nhiên:

- Không ngờ anh tối ngày lo sửa xe, tay chân dầu nhớt, mà cũng có tâm hồn thi sĩ ghê. Ở với anh mấy chục năm em mới phát hiện ra điều này. Bộ hồi đó anh tương tư em hả?

Tư Chuột nhìn vợ, chị cũng to mập, sồn sồn không thua gì Ngọc Diệp. Nhưng còn có chỗ dễ thương, chị đôn hậu và thành thật tin vào những lời nói dối của chồng.
Tư Chuột bỗng thấy thương vợ hơn bao giờ, anh nói bằng sự trìu mến như thuở ban đầu mới cưới nàng:
- Vì em mãi mãi là người anh yêu, là người trong mộng của đời anh.

Buổi chiều đi chơi cùng với vợ, tình cờ đi ngang qua con đường nơi đầu hẻm nhà Ngọc Diệp, quán cơm đã dẹp, chỉ còn quán sinh tố. Tư Chuột bảo tài xế taxi ngừng lại, để anh ghé vào tiệm sinh tố mua một bao thuốc lá ba số. Chị sinh tố nhận ra anh ngay và mau mắn:

- Mấy đứa nhỏ nhờ tôi gởi lời cám ơn ông nếu có dịp gặp lại. Còn bà Ngọc Diệp chủ tiệm cơm, bà ấy tuyên bố một câu về ông, nói ông đừng có buồn nghe?

- Chị cứ nói đi.

- Bà ấy nói với tôi rằng thằng cha đó một là khùng, hai là dân giang hồ làm ăn gian dối, trúng mánh, nên mới thừa tiền bao lũ trẻ bụi đời ngoài đường phố. Biết thằng cha chịu chơi như vậy, lúc nãy tao tính mỗi dĩa cơm 50 ngàn đồng rồi. Tiếc quá!

Tư Chuột chào chị sinh tố lên Taxi, lòng thảnh thơi, không có gì để nuối tiếc khi anh đã quyết định không bao giờ gặp lại người trong mộng ngày xưa của mình nữa.

Nguyễn thị Thanh Dương
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Xin Đừng Nói Dối Mẹ
Là sinh viên năm thứ ba trong ngành kỹ sư cơ khí, Bryan rất hãnh diện khi vừa đi làm vừa đi học, và tự thuê được căn phòng nhỏ xinh xắn trong khu chung cu gần truờng. Hai năm truớc, khi mới bắt đầu cuộc sống sinh viên, Bryan ở trong ký túc xá của truờng, giống nhu khung cảnh trại lính, 4 chàng sinh viên trong một phòng lớn, bàn học và giuờng ngủ riêng ở mỗi góc nhung chung nhau phòng tắm giặt, vệ sinh. Mẹ của Bryan hàng tháng phải gửi tiền để Bryan trả tiền ký túc xá và chi tiêu ăn uống.

Lên năm thứ ba, đuợc truờng giới thiệu vừa đi làm vừa học việc trong một công ty lớn chuyên đóng tầu chiến cho Bộ Quốc Phòng, Bryan báo tin vui này cho mẹ và khẳng định từ nay Bryan tự lo liệu đuợc tiền ăn ở, không xin mẹ nữa.

Bryan còn khoe với mẹ đa thuê đuợc căn chung cu hai phòng ngủ vì có nguời ở chung chia tiền thuê rẻ hon là thuê căn chung cu một phòng ngủ để ở một mình. Điều khiến cho mẹ Bryan luu tâm nhất là nguời chung tiền nhà với Bryan lại là một cô sinh viên học cùng truờng !


Để tỏ lòng hiếu thảo và biết on, Bryan mời mẹ đến căn chung cu của mình ăn bữa cơm tối cùng xem như là mừng tân gia. Không chần chờ hơn đuợc nữa, mẹ Bryan đến ngay, mà còn đến sớm gần hai tiếng đồng hồ, để phụ giúp cho Bryan và cô bạn thuê chung nhà một tay sửa soạn cho bữa cơm tối đuợc thịnh soạn và đầy đủ.

Dĩ nhiên là mẹ Bryan đến thăm con và bạn của con với rất nhiều quà cáp, thức ăn đả nấu sẵn và nhất là bó hoa lớn thật đẹp cho Jennifer, nguời bạn thuê chung nhà của Bryan.

Mẹ Bryan không thể tin đuợc ở chính đôi mắt của mình nữa, Jennifer quá đẹp, quá duyên dáng và thật là dễ thuong, lời ăn tiếng nói, cách cư xử nhẹ nhàng và lịch thiệp lắm, hết lòng chiều chuộng Bryan và mẹ Bryan.

Bữa com tối giữa ba nguời thật là thân mật, ấm cúng với các thức ăn ngon và Jennifer đa đem bộ dao muỗng nia gia bảo bằng bạc thật đẹp ra để dùng trong bữa ăn, đặc biệt là trong bộ đồ ăn này có một chiếc muỗng lớn dùng để múc nuớc sauce trạm trổ rất công phu. Jennifer hài lòng lắm khi mẹ Bryan trầm trồ và hết lời khen ngợi chiếc muỗng bạc hiếm có này.

Nhân lúc Jennifer vào phòng thay quần áo, mẹ Bryan ngỏ lời thắc mắc về sự liên hệ “trong sáng” giữa hai nguời… Bryan trấn an và trả lời ngay là mẹ đừng lo, hai nguời chì là bạn chung tiền thuê nhà thôi, phòng ai nguời ấy ở, giuờng ai nguời ấy ngủ!

Hai ngày sau bữa cơm tối, Jennifer nói với Bryan :

-Anh ơi, em không nói là mẹ anh không lấy cái muỗng bạc, em cũng không dám nói là mẹ anh lấy…nhưng thực tế là sau bữa com tối ấy, em không thấy chiếc muỗng bạc đâu nữa, em không biết phải làm sao…anh giúp em nhé…

Nghe Jennifer tâm sự “chết nguời” như thế, Bryan bần thần cả nguời và suy nghi mông lung lắm. Sau cùng, Bryan viết email đến mẹ nhu sau:

“ Mẹ yêu quí,
Cám on mẹ đa đến ăn tối với con và Jennifer.
Con cũng cám on mẹ đa xử sự lịch thiệp và thân tình với Jennifer. Con có chuyện khó nghi nên xin ý kiến của mẹ: có thể là mẹ muợn cái muổng bạc của Jennifer để làm kiểu mẫu đặt làm một cái giống nhu vậy nhung mẹ quên nói với con, cũng có thể là mẹ bỏ quên cái muỗng ở đâu đó….nhung thực tế là sau bữa cơm tối ấy, Jennifer và con không thấy cái muỗng nữa, dù chúng con đã tìm khắp nhà…”

Gửi thư xong, cả Bryan lẫn Jennifer đều thắc thỏm chờ thư trả lời. Ngay Bryan và cả Jennifer cung không thể đoán đuợc là mẹ Bryan sẽ trả lời nhu thế nào….Không ai dám nghi là mẹ Bryan lấy, nhung cái muỗng đâu thể tự nhiên biến mất đuợc.

Ngày qua rồi lại ngày qua, vẫn không có thu của mẹ, Bryan sốt ruôt quá nhung không muốn và cung không thể làm gì hon….

Chờ đúng một tuần không có thư mẹ, Bryan đanh viết thư cho mẹ lần nữa và thật vắn tắt: “Mẹ ơi, sao mẹ không trả lời thư con…?.”

Ngay tối đó, Bryan nhận đuợc email trả lời của mẹ, và cùng mở ra xem với Jennifer.

Thư mẹ Bryan viết như sau:

“ Bryan yêu quí của mẹ,

Mẹ vẫn muốn tin rằng con và Jennifer ai ngủ giuờng nấy,
mẹ vẫn không nghi là con …đôi lúc …ngủ trên giuờng của Jennifer…
Nhưng thực tế là trong suốt tuần qua nếu con ngủ trên giuờng của con thì con yêu quí của mẹ ơi, con đã thấy cái muỗng tuyệt đẹp đó rồi. Mẹ để cái muỗng ấy trên giuờng con, ngay duới cái chăn…. Con không cần phải viết thu hỏi mẹ….đến hai lần !

Mẹ của con…..”

Cung Nhật Thành luợc dịch
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Xuống đường ngày 05/6 tại Sài Gòn
Bài của Đỗ Trung Quân
Tôi luôn được an ninh nhắc nhở hãy khuyên can các bạn đừng xuống đường.

Câu trả lời của tôi là “Không thể ! “

Làm sao tôi với tư cách một người lớn tuổi hơn lại làm điều ấy khi các bạn bày tỏ lòng yêu nước của mình ôn hòa, không bạo lực không manh động. Cản trở các bạn, vậy tôi là ai ?

Khi viết huyết thư cùng hàng ngàn người khác đòi ra mặt trận đánh bọn PolPot tràn sang giết đồng bào mình năm 1978, tôi cũng trạc bằng tuổi các bạn bây giờ. Nay thì trước họa nghìn đời: Trung Nam Hải bá quyền gây hấn đe dọa chủ quyền đất nước. Các bạn cũng thế thôi.

Ba năm trước một ông Hiệu trưởng Đại học tại Sài Gòn nói như ra lịnh: “Ở đây, ai không phải sinh viên thì ra về !” Câu trả lời từ một người áo rách, nón sờn: “Thế tôi đạp xích lô thì không yêu nước được à ?“ Anh xích lô trẻ tuổi ấy chắc chắn không bao giờ là người nhảy vào hôi của của một người bị cướp giựt bất thành, khi tiền rơi vãi đầy đường ngày 17-6 vừa qua. Nạn nhân bị “ cướp” đến hai lần bởi thói tham lam, sự vô cảm của chính đồng bào mình. Buồn không! Nhưng thôi, hãy trở lại với chuyện của ta.

Hãy nhớ đến những con tàu đánh cá rách nát nằm cô đơn trên những bến của mình. Những con tàu không thể ra biển vì bị tàu Trung Quốc đâm, bắn. Những con tàu ấy còn may mắn trở về được dù không còn có thể ra biển. Biết bao tài sản khác của người ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ, tịch thu.

Những ngư dân Việt Nam , chính họ mới là người giữ biển hàng trăm năm nay. Chính họ hơn ai hết thuộc lòng từng cụm đảo chìm đảo nổi, từ những ngấn thủy triều, từng luồng cá. Sự có mặt của họ đã xác định chủ quyền biển đảo, lãnh hải của đất nước rồi. Nếu vì lẽ nào đó hoặc không còn phương tiện, hoặc bị đe dọa sinh mạng vì những kẻ luôn nhân danh “bạn tốt “, nếu họ không còn ra biển được phải nhường vùng biển sinh sống tự bao đời cho Trung Quốc thì chính chúng ta đang tự để mất dần lãnh hải chủ quyền thiết thực hàng ngày của chính mình.

Xuống đường chống Trung Quốc là chuyện phải phải làm. Nhưng cũng còn những điều thiết thực khác. Hãy chung tay giúp ngư dân mình bám biển. Ngư dân ra khơi được nghĩa là cơm áo vốn đã cơ cực vẫn còn. Nghĩa là bằng cách khác cũng khẳng định biển đảo, chủ quyền của mình còn.

Nếu trên đầu mình đã mọc đuôi sam

Tháng này Sài Gòn mưa ngâu
Nhưng thôi, miễn bàn vể thơ thẩn
Tôi nói thẳng
Cho mau

Đồng bào tôi ngoài biển vẫn bị nó cướp tàu
Đồng bào tôi ngoài biển vẫn bị nó túm đầu
Cướp cơm chim

Tôi nói thẳng

Thôi đi mấy cha, mấy anh cà vạt phòng lạnh cách xa biển Đông ngàn dặm
Nhà anh chả ai cướp
Con anh chả ai đánh [đánh sao được, nó ở nước ngoài ráo cả]

Vợ anh chả ai hiếp [hiếp sao được, nhà anh có công an bồng súng đố thằng nào…]

Chỉ tủi thân cho đồng bào
Tàu thuyền rách nát.
Kiếm sống ở khu vực nhà mình vẫn bị ăn tát

Ăn bạt tai – đá đít
Ăn đạn AK
Bọn hải tặc đuôi sam làm cha
Thậm chí làm ông nội.
Thơ không được chửi bậy
nhưng thôi đành

Tiên sư bố chúng mày bọn lưu manh!
Bạn bè gì ngữ ấy.
Thơ không được chửi bậy
Xin tha thứ cho thằng làm thơ này.
Đọc tin đồng bào bị cướp trên biển thì mắt nó cay cay …


Cứ đàn áp đi…
Cứ bóp cổ đi…
Cứ kung-fu đi…
Cứ triệu tập đi…
Cứ lo hữu nghị đi…


Hỡi những người anh em máu đỏ da vàng
Hãy thử sờ lên đầu mình.Xem…
Đã mọc đuôi sam ?…


Đỗ Trung Quân
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Lần theo bước chân tài hoa Ðinh Hùng

Du Tử Lê

Thi sĩ Ðinh Hùng sinh ngày 3 tháng 7, 1920 tại làng Trung Phụng, ngoại ô thành Hà Nội. Ngôi làng này nằm ngay sau lưng khu phố Khâm Thiên.

Image
Nhà thơ Ðinh Hùng.


Những ai đã từng ở Hà Nội, đều biết Khâm Thiên là khu ăn chơi nổi tiếng nhất. Ðây là nơi tập trung các nàng ca kỹ tài sắc bốn phương.

Gia đình ông thuộc giai cấp trưởng giả. Thân phụ ông sinh được sáu người con, hai trai bốn gái. Ông là con út. Theo tập tục, cũng như theo tâm lý, người ta thấy hầu hết những đứa con út trong gia đình thường được nuông chìu (quan niệm giàu con út, khó con út) và sớm phát triển các tình cảm, kinh nghiệm trên nhiều mặt hơn các anh chị.

Ðinh Hùng cũng rơi vào định lệ đó. Hơn nữa, ông còn được thừa hưởng dòng máu hào hoa, nghệ sĩ của thân phụ. Thuở đó, thân phụ ông là một trong những khuôn mặt thân quen, một khách chơi thường trực của khu phố Khâm Thiên. Không chỉ thế, thân phụ ông còn đem cả cô đầu về nhà, tổ thức thù tạc với bạn hữu thâu đêm, suốt sáng. Do đó tuổi thơ của ông được nuôi dưỡng trong bầu không khí ẩm ướt tiếng ca, câu hò, tiếng sênh, tiếng phách. Trí óc non nớt của ông đã sớm in hằn thanh sắc của những nàng Kiều xóm Khâm Thiên, cùng cốt cách phong lưu tài tử của những tay ăn chơi lịch lãm. Cái cảnh trí mộng ảo quyến rũ mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương (cũng là anh rể của ông sau này,) đã ghi lại trong bài “Nghe Hát”:
“Phách ngọt, đàn say nệm khói êm
tiếng ca buồn nổi giữa chừng đêm
canh khuya đưa khách lời reo ngọc
mơ gác tầm dương thoảng áo xiêm
dù lạ nghìn thu xa tám cõi
sen vàng như động phía chân tiên
nao nao khói biếc hài thương nữ
trở gối hoa lê rụng trắng thềm.”
Sống trong khung cảnh đó, bản chất nghệ sĩ, nòi tình nơi Ðinh Hùng như cá gặp nước, đã phát triển rất sớm.

Năm lên 6, 7 ông đã chứng tỏ có năng khiếu về hội họa. Một người anh rể của ông là Ð/U, nhiếp ảnh gia Vũ An Ðạm cho biết, ngay từ tấm bé, Ðinh Hùng đã vẽ rất đẹp.

Năm 13, 14 tuổi ông đã nghiện thuốc lào (một thứ kích thích cảm giác gấp trăm ngàn lần thuốc lá. Cái say của thuốc lào cũng ngất ngây, mê mẩn gần như thuốc phiện). Cũng tuổi này, ông mê một cô đào hát trẻ mới vào nghề, thường được thân phụ ông mời về nhà. Ta có thể coi đó là một hành vi hết sức táo bạo, liều lĩnh giữa một khung cảnh xã hội còn chịu ảnh hưởng sâu đậm đạo lý Khổng Mạnh. Giữa xã hội mà, người ta thường trực sống trong sự đề phòng miệng tiếng búa rìu. Mọi người hầu như không sống cho mình, mà sống cho cái khuôn mẫu ước lệ của xã hội ấy.

Ngay khi bước chân vào trường Bưởi, ông đã cùng một vài người nữa, làm những tờ bích báo. Hoạt động văn nghệ đó, gây tiếng vang lớn trong trường, khiến Ðinh Hùng phải bỏ học sau này.

Năm đệ tứ, Ðinh Hùng bắt đầu làm thơ. Nhưng ông giấu diếm không dám cho ai biết. Khi ấy, ông đã cảm thấy, thơ là một địa hạt của chữ nghĩa, kiến thức và kinh nghiệm. Bây giờ ông vẫn còn giữ nguyên quan niệm đó, và phủ nhận tất cả những trường hợp người ta gọi là thần đồng thi ca. Như cách đây khá lâu, ở Pháp, một thời dư luận xôn xao, bàn tán khi báo chí loan tin thần đồng thơ, cô bé Drouet 11 tuổi với những bài thơ nhỏ thật sâu sắc, trong sáng. (1)

Tới năm dọn thi tú tài phần nhất, ông mới bắt đầu để mọi người biết tư cách thi sĩ của mình. Sau khi đỗ tú tài phần nhất, một lần nữa, ông bị ban giám đốc nhà trường cảnh cáo, nếu muốn tiếp tục việc học thì hãy thôi làm văn nghệ. Ngoài ra, ông còn bị nhiếc móc về mái tóc bù rối nghệ sĩ nữa. Chạm tự ái, ông làm đơn xin thôi học.

Nhờ gia đình khá giả, ông tiếp tục sự học bằng cách tới thư viện. Nhưng cũng từ đó trở về sau, không bao giờ ông thi thêm một khóa nào khác.

Sau khi rời bỏ học đường, Ðinh Hùng chính thức hoạt động văn nghệ, và bắt liên lạc với những văn nghệ sĩ đương thời. Tác phẩm đầu tiên của ông được đăng trong giai phẩm “Mùa Gặt Mới” của ông Lê Văn Văn, giám đốc nhà xuất bản Tân Việt, ấn hành năm 1940. Tùy bút ấy sau được chọn đăng trong cuốn “Việt Nam Văn Học Bình Giảng” của Phạm Văn Diêu.

Song song với “Mùa Gặt Mới,” phê bình gia Vũ Ngọc Phan xuất bản tuần báo Hà Nội Tân Văn. Qua trung gian Nguyễn Ðức Chính, bạn học của Ðinh Hùng, ông đưa nguyên một tập thơ cho Vũ Ngọc Phan coi trước. (2) Ông Phan đồng ý nhận đăng dần dần những bài thơ có trong tập này.

Vài số sau, Vũ Ngọc Phan giao hẳn trang thơ cho Ðinh Hùng phụ trách. Ông kể, thủa đó người làm thơ không bao nhiêu! Nên chẳng có ai gửi thơ tới. Chỉ có thi sĩ Vũ Hoàng Chương, lúc đó đang in cuốn thơ “Say,” đưa bản vỗ cho ông đăng dần, với lời giới thiệu của Mạnh Phú Tư. Sau hai tháng cộng tác, được 8 số, ông chấm dứt cộng tác với Hà Nội Tân Văn.

Cũng từ đấy, ông không còn chỗ để đăng thơ. Nhưng bù lại Ðinh Hùng được quen biết nhà văn Thạch Lam.

Ông nhớ lại rằng, hồi đó Thạch Lam cho xuất bản cuốn “Hà Nội 36 phố phường,” ông viết thư cho Thạch Lam, đại ý nói là một trong những người hâm mộ Thạch Lam từ lâu, nay viết thư xin góp ý về bài “Thịt Chó.” Nhà Thạch Lam ở sâu trong xóm làng Trung Phụng, mỗi khi xuống phố đều phải đi qua nhà Ðinh Hùng. Một hôm Thạch Lam ghé vào nhà Ðinh Hùng. Ông sửng sốt, kinh ngạc... Những tưởng thư viết gửi Thạch Lam, cũng chỉ như trăm ngàn trường hợp khác. Ông nói: “Ðây là một khích lệ lớn lao đối với tôi.”

Nhờ Thạch Lam giới thiệu, Ðinh Hùng quen biết hầu hết các nhà văn trong nhóm T.L.V.Ð như Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ... Và một số văn nghệ sĩ khác nữa, như Huyền Kiêu, Nguyễn Tuân... Riêng Thạch Lam, Huyền Kiêu và Ðinh Hùng, sau này kết nghĩa anh em... Ngoài ra, ông còn kết bạn với thi sĩ Trần Dần. Cùng Trần Dần, lập một nhóm thơ, lấy tên là “Nhóm Thơ Tượng Trưng.”

Năm 1945, khi chiến tranh Việt Pháp lan tràn tới Hà Nội, theo lớp sóng tản cư, ông chạy vào Hà Ðông rồi Vân Ðình. Thời gian này ông bị V.M trưng dụng bắt làm việc cho Sở Thông Tin khu 2 (Liên khu 2).

Thời gian này, ông bị khai thác triệt để ở lãnh vực hội họa. Họ bắt ông vẽ ảnh của những người đang cộng tác với Pháp tại miền Nam, như BS Nguyễn Văn Thinh, Lê Khắc Hoạch, rồi cho in vào truyền đơn, kèm theo ít câu vè sỉ nhục...

Một trường hợp đau xót hơn cả là họ bắt ông vẽ lại chân dung nhà văn, lãnh tụ cách mạng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, rồi cho in vào truyền đơn đem phổ biến tất cả các khu, các vùng, với những lời chửi rủa thô bỉ...

Làm việc cho thông tin khu 2 được chừng 3 năm, khi VM ngày càng siết chặt, ép văn nghệ sĩ vào con đường phục vụ chính trị, ông cảm thấy không thể kham nổi, bèn cùng thi sĩ Vũ Hoàng Chương bỏ trốn về Thái Bình. Ở Thái Bình, ông cùng thi sĩ Vũ Hoàng Chương mở ngôi trường nhỏ trong một làng tương đối còn yên ổn. Nhờ dân làng đa số trọng chữ nghĩa, ông sống êm thấm được chừng 1 năm. Tới đầu năm 1950, quân viễn chinh Pháp cùng quân đội Bảo Hoàng mở cuộc hành quân tảo thanh Thái Bình. Một số dân chúng không chạy kịp, bị lùa về vùng do quân Pháp kiểm soát. Trong số những người bị lùa, có cả thi sĩ Vũ Hoàng Chương lẫn Ðinh Hùng. Từ vùng Pháp kiểm soát, còn được gọi là vùng “tề,” ông cùng họ Vũ tìm đường trở về Hà Nội.

Với 5 năm lưu lạc gian truân, Ðinh Hùng đã sáng tác được hai tác phẩm. Thơ là tập “Tiếng Ca Bộ Lạc,” và văn là tập “Tiếng Ca Ðầu Súng,” loại bút ký.

Ở Hà Nội, Ðinh Hùng cộng tác với một số anh em có mặt trong thành như Ngọc Giao, qua giai phẩm “Lửa Cựu,” “Hoa Sen.” Riêng giai phẩm “Kinh Ðô Văn Nghệ” thì do chính ông chủ trương. Kế tiếp, ông lại cùng hai nhà văn Kỳ Văn Nguyên và Thanh Nam trông nom tờ tuần báo “Hồ Gươm.”

Năm 1951, ông lập gia đình. Các bút hiệu Thần Ðăng, Hoài Ðiệp Thứ Lang của ông ra đời trong khoảng thời gian này.

Du Tử Lê
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

đôi mắt

truyện ngắn Trần Trung Ðạo


Đôi mắt. Vâng, đôi mắt của người con gái đứng bên kia hàng song sắt nhìn về phía tôi. Cô gái vẫn đứng đó mỗi đêm để nghe tôi hát. Một khoảng cách không xa lắm nhưng tôi và cô như đang thuộc về hai thế giới khác nhau. Cô gái đang bị giam trong khu nữ hình sự tối tăm, và tôi ở bên ngoài, còn một chút tự do. Mấy tuần trước đó, tôi chỉ nhận ra bóng mờ của cô gái qua đôi mắt sáng. Mãi cho đến đêm trăng rằm, khi bóng một người con gái với mái tóc học trò chấm ngang vai dần dần hiện ra rõ nét, soi nghiêng nghiêng trên bờ tường vôi loang lỗ của một trường tiểu học được sửa thành trại giam thị xã, tôi mới biết cô là một cô gái còn rất trẻ. Những đêm trăng như thế, tôi thấy bóng cô gái ngã dài ra ngoài song sắt, đôi tay nhỏ vịn vào thanh sắt rỉ, khuôn mặt trái soan nhu hòa đang nhìn về phía có tiếng đàn của tôi.


Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt
Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa
Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó
Để hái dâng người một đóa đẫm tương tư
Đêm nguyệt cầm ta gọi em trong gió
Sáng lung linh hồn ta khóc bao giờ ....



Bài Thu Hát Cho Người của Vũ Đức Sao Biển đi theo tôi từ những ngày còn ở Đà Nẵng. Thành phố đó, ngày xưa, những buổi chiều tôi thường ngồi dưới gốc đây cây đa trước sân phường Thạc Gián, bên hẻm 220 Hùng Vương và khóc tuổi thơ bay.

Khi tôi lớn lên, bài hát theo tôi vào đại học. Những đêm hè không ngủ được trong căn gác trọ trên đường Kiều Công Hai, tôi thường ôm đàn ra ngoài hiên ngâm nga Thu Hát Cho Người. Bài hát có sức thu hút đến nỗi cả phòng bọn tôi đứa nào cũng thích và tập bài hát đó. Một tên bạn cùng phòng, Trần Thanh Liêm, cũng nhờ bài Thu Hát Cho Người mà quen được cô gái cưng con ông chủ một pharmacy đầu phố đẹp tuyệt vời. Sau 1975, Liêm cưới cô ta làm vợ và đưa nhau về lại Đà Nẵng. Tôi ở lại Sài Gòn, kéo lê lết cuộc đời sinh viên trong "thiên đường xã hội chủ nghĩa" với khoai mì và bo bo cho đến 1979 thì bọn tôi bảy đứa cùng rủ nhau vượt biên qua ngã Bạc Liêu.

Dĩ nhiên như đã kể, cả bọn chúng tôi đi hụt và bị bắt một lần. Công an phường Bảy, thị xã Bạc Liêu trói cả nguyên băng đưa về trại giam thị xã, chờ làm thủ tục giải đi trại Cây Dừa. Má tôi từ Sài Gòn khó khăn và tốn kém lắm mới đến thăm được một lần. Tôi khuyên má tôi đừng xuống nữa: "Ở tù thời gian con sẽ về. Thời buổi này, vượt biên ở tù như đi chợ, chẳng phải tội trạng gì nặng nề, má đừng đi xa vất vả". Má tôi tạm yên tâm ra về. Bọn tôi bảy đứa, cùng với 40 tù nhân khác, bị giam trong một phòng học. Bọn tôi là những kẻ đến sau nên bị tên tù trưởng, tiếng lóng để gọi tên Trật Tự Phòng, xếp nằm sát thùng cầu. Mùi hôi thối bốc lên. Mấy ngày đầu không ăn được, đêm không thể nào chợp mắt được. Thông thường, sau khi làm xong thủ tục, tù vượt biên bị chuyển hết về trại Cây Dừa, một trại tù thật sự, nổi tiếng khắt khe ở miền Tây, có dạo nhốt cả chục ngàn tù vượt biên. Nghe đâu hình phạt đầu tiên trong ngày nhập trại là cạo trọc đầu. Nếu không biết cách đút lót cho đám cán bộ, công an tỉnh, mỗi tù vượt biên sẽ bị giam từ sáu tháng đến một năm trước khi được trả tự do. Nhiều tù vượt biên bị nhốt cả hai ba năm, đơn giản, vì tù quá đông nên tên trong sổ sách tù nhân nhiều khi bị thất lạc.

Không hiểu sao, lần đó, trại trưởng trại giam thị xã đổi ý giữ bọn tôi lại. Một buổi sáng, trại trưởng Nguyễn Văn Ninh tập trung bọn tôi trong sân trại, với giọng Bắc nặng chịch, lên cơn giảng huấn một hồi, đại ý: "Các anh có học và còn quá trẻ, chỉ vì nghe lời dụ dỗ và lường gạt mà cam tâm bỏ tổ quốc ra đi. Lẽ ra các anh bị đưa đi Cây Dừa giam và lao động một năm, nhưng sau khi đọc các bài tự kiểm, nhận thấy các anh có ý thức, biết việc làm sai trái của mình, chúng tôi khoan hồng và giữ các anh lại để lo công việc của trại. Các anh được ở trong căn nhà lá cuối trại, được phân công lao động và kiểm soát lẫn nhau. Sau một thời gian, ít nhất là 4 tháng, nếu các anh chứng tỏ hành vi tốt, lao động tốt, chúng tôi sẽ đề nghị lên Ủy Ban Nhân Dân Thị Xã trả tự do cho các anh". Trại trưởng Nguyễn Văn Ninh ngừng vài giây trước khi gằn giọng: "Điều quan trọng các anh phải ghi nhớ, bất cứ người nào trong số các anh trốn trại, số còn lại sẽ bị còng 3 tháng trong phòng tối và chuyển đi Cây Dừa. Nếu kẻ trốn trại mà bị bắt chúng tôi sẽ bắn bỏ ngay tại chỗ".

Thế là nhờ tài viết lách khéo mà bài tự kiểm của bọn tôi lọt được vào mắt xanh của trại trưởng. Trong trường đại học, bọn sinh viên chúng tôi là một nhóm văn nghệ, làm thơ viết lách nên nếu cần phải lách để sống còn, bọn tôi lách không đến nỗi tệ lắm. Nhớ lại, mấy tuần trước đó, bọn tôi bảy đứa bị xếp ngồi một hàng dài như thuở đi thi tú tài, trong văn phòng ban quản lý trại, vừa viết tự kiểm vừa nhìn nhau cười. Một băng bảy thằng gian mắc nạn bóp trán nghĩ ra mọi điều hợp lý và thê thảm nhất trên đời để trả lời câu hỏi số một và quyết định "động cơ nào đã làm cho anh bỏ tổ quốc ra đi". Không giống như các tội chống phá cách mạng phải biện luận quanh co, liên hệ đến người này người khác, chuyện vượt biên chỉ quanh đi quẩn lại những lý do nghèo nàn, cha mẹ già em đông, chén cơm manh áo, bị bạn bè rủ rê mà bỏ tổ quốc ra đi, bây giờ thì hối hận ơi là hối hận, chỉ mong được cách mạng khoan hồng, thề sẽ làm lại cuộc đời, tình nguyện đi thanh niên xung phong, làm thủy lợi, an phận học hành, làm đúng khẩu hiệu "góp phần xây dựng đất nước tươi đẹp hơn mười lần hôm nay", sẽ không bao giờ tái phạm, v.v...và v.v... May mắn thay, dù viết toàn là chuyện vô hại mà kết quả lại thành công ngoài sự tưởng tượng. Về sau, tôi cũng biết thêm, ngoài lý do viết lách, bọn công an còn tin tưởng rằng nếu được phân công nấu ăn, phân phối cơm nước, bọn tôi sẽ không ăn cắp thức ăn như đám tù hình sự đầu trộm đuôi cướp đói rách đã làm từ trước tới nay.

Trại giam chúng tôi ở chỉ có 3 phòng giam, một dành cho nữ và hai phòng dành cho nam. Tổng số tù nhân chỉ vào khoảng 100 người. Trại thuộc quyền quản lý của thị xã và là nơi giam các tội hình sự nhẹ như trộm cắp vặt, đĩ điếm, đánh lộn, buôn bán gian lận chợ trời, móc túi. Những tội đại hình, tội chống phá chính quyền đều bị chuyển qua các trại tù xa xôi trong vùng U Minh rừng sâu nước độc, được gọi bằng cái tên vô cùng nhân hậu là "trại cải tạo" và trực tiếp đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội Vụ Cộng Sản. Việc canh gác ở trại thị xã cũng không có gì gọi là quá chặt chẽ. Mỗi ngày tù nhân phải đi lao động từ sáng đến chiều. Đàn ông thì đi làm ruộng, đàn bà thì nhổ cỏ, tưới rau. Suốt hai mươi bốn giờ, công an thay phiên ngồi canh phía ngoài sân trại. Thỉnh thoảng, anh chàng đứng dậy, thả bộ dọc hành lang mỗi phòng để coi ngó đám tù. Mặc dù an ninh lỏng lẽo nhưng từ ngày trại được thành lập đến nay chưa xảy ra một vụ trốn trại nào. Lý do vì đa số tù nhân là người trong làng, trong xóm, trong thị xã. Từ công an cho đến tù nhân đều biết nhau. Nhiều khi lại còn là bà con giòng họ với nhau nên dù có trốn lên trời cũng không thoát. "Đi mô rồi cũng về Hà Tĩnh" như đám tù nhân thường nói. Hoàn cảnh bọn tôi còn tệ hơn thế. Trốn cả đám bảy thằng thì không được, trốn từng đứa thì không khó nhưng làm sao nỡ bỏ bạn bè ở lại chịu đòn. Mai mốt về Sài Gòn còn mặt mũi nào ngó nhau. Trại trưởng Nguyễn Văn Ninh đã từng cảnh cáo trước đó sao, cứ một thằng trốn được thì cả bọn còn lại mang tội thay. Không đứa nào muốn bị còng 3 tháng và đày đi Cây Dừa thêm một năm. "Phải an toàn rút về lại Sài Gòn rồi mới bày keo khác". Cả bọn đồng ý như thế và nghoé tay nhau ở lại cho đến ngày được trả tự do.

Tôi ốm yếu nhất trong bọn nên được giao cho công việc dắt người đi nhổ cỏ rau muống. Ban đêm, nếu trời không mưa, tôi thường ngồi trên bệ đá phía cuối sân trại, tay gõ muỗng, miệng ngâm nga những bài hát cũ cho đỡ buồn. Một cán bộ người miền Nam, tên Hoàng, có máu văn nghệ, nghe tôi hát, cũng tới gần nghe. Dĩ nhiên trong những lúc như thế tôi thường hát những bài dân ca hay tình ca vô tội vạ. Khi được đề nghị đóng góp một bài, anh chàng công an gốc du kích Bạch Liêu, chơi ngay bài "Đêm Buồn Tỉnh Lẻ" với gọng Chế Linh đặc sệt. Tôi buồn cười thầm nghĩ anh chàng này không biết và cũng không hiểu gì về nội dung của bài hát. Dù là du kích trở thành công an xã, anh ta sinh ra và lớn lên ở miền Nam, và đương nhiên vẫn thích hát nhạc miền Nam hơn là những giọng ca the thé miền Bắc mà chính anh cũng có lần tâm sự: "tôi không hiểu họ đang hò hét chuyện gì". Mấy ngày sau, anh chàng công an Hoàng ngứa nghề, ra xóm tìm một cây đàn guitar, đem về nhờ tôi dạy anh đàn. Cây đàn cũ, từ lâu không ai sử dụng, chủ của nó chắc đã vượt biên, đóng đầy bụi nhưng nghe cũng xốn xang trong những đêm khuya thanh vắng. Và cũng từ bệ đá đó, tôi nhận ra đôi mắt Bích Vân như hai ánh sao đêm hiện ra từ khung tối.

Đúng, tên cô gái là Bích Vân. Tôi biết tên nàng trong một buổi chiều đưa đám nữ tù đi nhổ cỏ ở bãi rau muống sau trại. Cô không đẹp như sự tưởng tượng quá sức phong phú của tôi qua ánh trăng lung linh huyền ảo đêm nào nhưng là cô gái dễ thương, đẹp nhu hòa pha một chút hồn nhiên của thời học trò chưa qua hết. Tôi không hỏi nhưng đoán chừng cô ta khoảng hai mươi tuổi. Bích Vân nhìn tôi: "Anh hát rất hay. Bích Vân nghe đến thuộc lòng nhưng không biết bài hát đó tên gì?" Tôi đáp: "Đó là bài Thu Hát Cho Người của Vũ Đức Sao Biển". Bích Vân nhỏ nhẹ: "Bài hát hay, người hát hay và tên của người viết bản nhạc cũng hay". Những người bạn tù của Bích Vân hình như đã biết chuyện cô ta thường đứng cửa sổ nghe tôi hát, nên mỉm cười nhìn chúng tôi với ánh mắt trêu chọc. Một bà đứng tuổi buột miệng: "Hèn chi mấy ngày nay cổ tình nguyện làm cả công tác đổ cầu tiêu để được ra ngoài". Bích Vân đỏ mặt cúi đầu.

Và cứ thế, mỗi chiều nhổ cỏ rau muống, trên đường đưa nhóm nữ tù về lại phòng, chúng tôi có vài phút nói chuyện với nhau. Vì sợ công an bắt gặp, chúng tôi không dám nhìn thẳng nhau lâu chứ đừng nói gì là một cái nắm tay. Hai đứa giả bộ nhìn trời và nói những câu ngắn ngủi: "Anh quê ở đâu? " Tôi đáp:" Quảng Nam Đà Nẵng". Nàng lại hỏi: "Xa quá nhỉ. Gia đình em cũng gốc miền Trung nhưng vào Nam từ khi em mới ra đời. Ba mẹ anh vẫn còn ngoài Quảng hay đã vào Sài Gòn?" Tôi lại đáp: "Sài Gòn". Cứ thế, cô ta như một cô giáo đang hỏi bài học trò. Từ chuyện gia đình cho đến chuyện trời mưa trời nắng. Bích Vân thích hỏi nhưng không thích trả lời. Cô không thích nói về mình. Nhiều khi nếu phải nói, cô ta không bao giờ khẳng định, chỉ ầm ừ cho qua chuyện.

Một buổi chiều, trong giờ giải lao, dựa lưng vào tường, Bích Vân chợt khám phá ra những dòng chữ trẻ con còn in dấu dưới hàng rêu trên bờ tường trại giam, mắt nàng chợt sáng lên một cách hồn nhiên đưa tay chỉ vào hàng chữ nguệch ngoạc đã nhạt nhòa theo năm tháng: "Anh biết không, đây là trường tiểu học cũ của em. Hàng chữ kia làm của đám bạn bè em viết hồi lớp năm". Giọng nàng trầm xuống trong cay đắng: "Trường bây giờ là nhà tù và em về ngồi trong lớp học nhưng không phải là học trò cũ mà như một tù nhân. Mỉa mai quá anh nhỉ?" Nếu đây là quán café hay trong sân trường đại học, có lẽ câu chuyện trường học biến thành nhà tù là một đầu đề để máu Quảng tôi sôi lên, thao thao bất tuyệt về cách mạng, nhân quyền, cơm áo. Nhưng trước mặt Bích Vân, tôi nghẹn lời không nói được. Trước mắt tôi không phải là một đề tài, một câu chuyện, một viễn ảnh mà là một thực tế, một con người bằng xương bằng thịt, một người con gái tuổi hai mươi đang chịu đựng nỗi bất hạnh của một giai đọan lịch sử thảm khốc. Những nạn nhân vô tội đầy thương tích đang quằn quại trong màn cuối của một vở thảm kịch quê hương. Tôi cố làm vơi bớt chút đau xót trong lòng cô bằng những triết lý vụn học được trong những quán café ngoài Thư Viện Quốc Gia ngày nào: "Không ai biết chắc những gì sẽ xảy ra cho đời mình, nhưng một điều mà anh và em có thể biết được, làm được trong hoàn cảnh này là tìm cho mình một hy vọng để sống và phải sống trọn vẹn cho hy vọng đó. Sự kỳ diệu không bao giờ đến nếu không có hy vọng". Bích Vân trả lời trong lúc vẫn nhìn đăm đăm vào hàng chữ: "Cám ơn anh, em sẽ nhớ những điều anh dặn, hãy hy vọng và rồi sự kỳ diệu sẽ đến". Tôi muốn cầm tay nàng nhưng không dám. Hai đứa đứng bên nhau dưới chân tường trại giam và cũng là trường học cũ của Bích Vân, lắng nghe tiếng vịt kêu và thầm mong những tia nắng của buổi chiều vàng thơ mộng kia đừng bao giờ tắt.

Một lần trong lúc chờ Bích Vân rửa tay sau buổi chiều nhổ cỏ: "Tại sao Bích Vân phải vào đây?" Bích Vân vẫn cặm cụi rửa tay như không nghe tôi hỏi, mãi đến khi tôi lập lại câu hỏi lần thứ hai, nàng mới đáp thật nhanh và thật nhỏ: "Em buôn thuốc tây và bị bắt". À ra thế, tôi yên tâm tự nhủ. Một người con gái nhỏ nhắn, xinh đẹp và hiền hậu như Bích Vân không thể nào đi ăn trộm ăn cướp của ai để bị bắt. Thấy tôi không nói gì thêm, nàng ngước mặt: "Anh đang suy nghĩ gì, không tin em sao?" Tôi vồn vã ra mặt: "Anh tin chứ, anh tin chứ, anh tin một người như em không thể làm chuyện gì thương luân bại lý, còn chuyện buôn thuốc tây, rủi gặp xui thì bị bắt, có gì mà ngại, ra tù đi buôn tiếp". Vai nàng chợt rung lên và hai hàng lông mày cong của nàng nhíu lại nhưng không nói gì. Chuyện ở tù của tôi, Bích Vân hình như đã biết đám sinh viên bọn tôi bị bắt vì tội vượt biên, nên nàng không hỏi lý do, thay vào đó, Bích Vân hỏi về những dự tính sau khi tôi được thả: "Ra tù, anh có tìm cách vượt biên nữa không?" Tôi chẳng chần chừ: "Đương nhiên. Anh không còn đất sống nào khác nữa. Giấy tờ bị tịch thu, hộ khẩu bị cắt. Anh không còn là dân của nước này nữa. Anh chỉ còn một con đường là đi cho đến khi nào đi được mới thôi". Bích Vân trầm ngâm không nói. Nàng ngước nhìn đám mây xanh như tên nàng đang bay vô định trên bầu trời, mãi một lúc sau mới hỏi: "Anh ước mơ gì nhất bây giờ?" Tôi suy nghĩ khá lâu rồi đáp: "Anh có quá nhiều ước mơ và tất cả gần như đồng hạng". Và tôi nhìn thẳng vào đôi mắt Bích Vân hỏi nàng một cách nghiêm trang: "Ra tù anh sẽ tìm cách để đi tiếp, Bích Vân, em có thể cùng đi với anh không?" Nàng lắc đầu, nói như vừa đủ tôi nghe: "Không, em còn mẹ và ba đứa em nhỏ. Ba em không biết sống chết nơi đâu. Em phải ở lại để lo cho mẹ và các em". Và nàng nghẹn ngào: "Anh có biết rằng anh đang tàn nhẫn một cách hồn nhiên không?" Bích Vân không chờ tôi phản ứng hay biện bạch, nàng xoay người bước đi, cố giấu hai giọt nước mắt đang lăn tròn từ đôi mắt buồn như mùa đông. Nàng vội vã bước vô phòng giam nữ như đi tìm một chỗ yên tĩnh để được khóc một mình.

Hai tháng sau, Bích Vân được thả. Trong cảnh nhộn nhịp của ngày thả tù, tôi không nói với Bích Vân được gì nhiều. Vả lại, chẳng biết gì để nói. Tôi còn không lo nổi cho tôi thì còn lo cho ai khác được. Lời hứa hẹn của một tên tù thì có gì giá trị. Hai đứa đứng trong sân trại. Bích Vân nói bâng quơ: "Anh thích được tự do không?" Tôi khẳng định: "Dĩ nhiên, anh cần ra khỏi nơi này gấp". Bích Vân lắc đầu: "Em thì khác, bỗng dưng em thích ở lại. Anh bảo em phải tìm hy vọng nhưng chẳng thấy hy vọng nào dành cho em phía bên kia hàng rào. Ít ra ở đây em còn có anh". Tôi đáp: "Em còn mẹ, còn các em, còn tương lai đang chờ Bích Vân. Em phải hy vọng và sống với hy vọng đó". Bích Vân chua chát: "Tương lai ư, em không thích chữ này, nó có thể là ngày mai và cũng có thể không bao giờ đến". Nàng nói tiếp như đang mơ: "Em thuộc lòng bài hát rồi. Mai này em sẽ tự hát lấy, không cần anh nữa". Và nàng một mình hát nhỏ: "Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt". Tôi nhìn Bích Vân hát và ước gì chúng tôi biến thành hai con chim họa mi, cùng bay ra khỏi nơi này mà không ai hay biết. Chúng tôi sẽ bay đi thật xa, băng qua khu rừng già, đến bên một dòng suối mát, nơi đang có đàn nai tơ đang sống hiền hòa, nơi có những đồi sim tím ngắt, không một bóng con người, nơi đó không có nhà tù, không có chém giết, không có máu chảy. Như sực nhớ ra điều gì hệ trọng, Bích Vân bước thêm một bước gần hơn và nói như dặn dò: "Em sẽ gởi cơm nước cho anh mỗi ngày". Tôi lắc đầu: "Cám ơn Bích Vân nhưng anh không thiếu lắm..". Tôi chưa nói hết câu, Bích Vân vụt quay người hôn thật nhanh vào mặt tôi và bước đi ra khỏi cổng trước khi tôi kịp nói năng gì.

Những ngày sau đó, mỗi ngày tôi đều nhận được thức ăn do một người nấu cơm tháng trong thị xã đem đến. Nhưng Bích Vân thì không. Người đàn bà đứng tuổi mang cơm cho tôi biết Bích Vân ghé tiệm cơm của bà, đặt tiền nấu cơm và đem cho tôi hàng tháng. Ngoài ra, nàng không dặn dò gì khác. Bích Vân, người con gái có đôi mắt sáng và buồn hiu hắt như hai bóng sao đêm đó đã không còn trở lại.

Từ đó tôi cũng không còn ngồi hát một mình trên bệ đá cuối trại giam. Tôi không biết đó có phải là tình yêu hay chỉ là tình người, tình thương hại. Tôi chưa bao giờ được hôn nàng, thậm chí chưa một lần cầm lấy bàn tay xinh xinh nhỏ nhắn của nàng. Nhưng lòng tôi, mỗi lúc đêm về, vẫn thấy nhớ dáng Bích Vân trong những buổi chiều, nhớ chiếc nón lá rách viền trên luống rau muống, nhớ mái tóc học trò bay trong chiều vàng, nhớ những giọt mồ hôi chạy dài trên vầng tráng rộng, và nhớ mùi hương tóc nồng nàn. Mỗi đêm, tôi vẫn thẫn thờ nhìn về phía cửa sổ trại giam như để tìm đôi mắt Bích Vân, nhưng hai ánh sao trời kia đã tắt.

Tháng sau tôi được thả. Tuần trước đó, khi vừa được công an Hoàng báo tin, tôi năn nỉ người đem cơm tìm dùm Bích Vân và báo cho nàng biết tôi sẽ chờ nàng ở quán nước của dì Năm ngoài cổng trại sau giờ thả. Người đem cơm hứa sẽ giúp tôi. Nhưng ngày tôi ra tù, Bích Vân vẫn không đến. Tôi ngồi một mình đem tâm sự trang trải cùng dì Năm. Dì Năm lắng nghe chăm chú. Bà nói với tôi bằng tất cả cảm thông và hiểu biết: "Cậu về để tìm cách mà đi. Đừng nghĩ đến cô ta nữa. Tôi cũng biết Bích Vân. Hoàn cảnh cô ấy rất đáng thương nhưng không phải cô ta vì bán thuốc Tây mà bị bắt đâu". Dì muốn nói tiếp nhưng như chợt biết mình vừa lỡ lời nên dừng lại, khoát tay: "Thôi, sắp hết xe về Sài Gòn rồi. Cậu về đi. Chúc cậu bình an trong lần đi tới. Tôi tin Bích Vân sẽ không bao giờ gặp cậu, dù cậu có ngồi đây suốt đêm nay, hay đi tìm khắp thị xã cũng thế thôi. Hai cô cậu chẳng ai có lỗi gì. Cũng vì hoàn cảnh thôi. Nếu là cậu, chắc cậu cũng không có chọn lựa nào khác. Gặp nhau để làm chi. Cậu chắc hiểu ý tôi". Tôi đứng dậy trả tiền ly nước. Dì Năm không nhận. Bà dúi tờ giấy bạc vào tay tôi, ôn tồn: "Cậu giữ để uống nước dọc đường".

Chuyến xe đò chót về Sài Gòn trong khi trời đã tối. Trên bầu trời đầy mây đen, bỗng xuất hiện lên hai ngôi sao rất xa và rất nhỏ. Vâng, đôi mắt Bích Vân, đôi mắt người con gái đáng thương, đáng yêu đang nhìn xuống tôi. Tôi mỉm cười nhìn sâu vào đôi mắt nàng và thầm hát như chỉ để mỗi nàng nghe: "Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó, để hái dâng người một đóa đẫm tương tư".

Trần Trung Ðạo
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Truyện kể của 1 người tù

Gã Ðầu Bạc
(Nguồn: Facebook)



Năm 1982 sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, tôi về lại Hà Nội nơi sinh ra và lớn lên.


Trong thời gian tim kiếm việc làm tôi vô tình được tham gia 1 chuyến đi, được tiếp xúc, được nghe kể 1 câu chuyện. Câu chuyện đó đã đọng lại trong tôi suốt năm tháng mặc dù đã gần 30 năm trôi qua song đến nay nó vẫn còn mang tính thời sự và vẫn là 1 dấu hỏi lớn cho mọi người trên đất Việt này, cũng như những người vì thời thế xô đẩy đã phải ly hương.

Số là tôi có 1 người bà con mà tôi gọi là dì. Dì Lê. (Tên địa danh kể cả tên người trong câu chuyện này tôi đều sử dụng tên thật.) Dì tôi đẹp lắm, năm đó dì chắc chỉ khoảng trên dưới 30 tuổi. Cao, trắng, khuôn mặt thanh tú, giọng nói Sài Gòn rất truyền cảm. Dì có chồng là 1 sĩ quan quân đội Cộng Hòa mà chúng ta vẫn gọi là “Ngụy quân.” Ông bị đi học tập cải tạo sau 30 tháng 4 như cả vạn người khác thời đó.

Dì ra Bắc thăm nuôi chồng. (Miền Bắc gọi là tiếp tế, tôi thấy từ thăm nuôi đúng hơn.) Dì rủ tôi đi áp tải cùng. Phần tôi, lúc đó đang thất nghiệp. Và lại tôi cũng hết sức tò mò không biết 1 sĩ quan QLSG ra sao, tôi đồng ý đi liền.

Hai dì cháu lên tàu hỏa đi suốt 1 đêm. Cái đêm hôm đó qua lời kể của dì tôi nghiệm ra 1 điều: trong cuộc chiến Bắc-Nam những người đau khổ nhất, thiệt thòi nhất là những người mẹ, những người vợ của lính. Cũng là đương nhiên những người mẹ những người vợ ở bên kia chiến tuyến, sự đau khổ và thiệt thòi “được” nhân đôi khi cuộc chiến kết thúc. Câu chuyện dì Lê kể luôn thấm đẫm nước mắt!!

Vì quá nhiều đồ thăm nuôi nên 2 dì cháu đi toa đen (tức là toa không có ghế, người và hàng hóa cùng chung sàn tàu, dân miền Bắc đều biết loại toa tàu này) và kỳ lạ thay, hành khách trên toa đa phần là dân tiểu thương buôn thúng bán mẹt. Ða phần là các mẹ, các chị tất thẩy đều lắng nghe câu chuyện của dì. Câu chuyện của vợ 1 sĩ quan “Ngụy,” với thái độ thông cảm và chia sẻ! Tôi lặng lòng. Ôi người phụ nữ Việt Nam, chẳng có từ ngữ nào có thể nói được hết những tấm lòng của họ. Họ thật vĩ đại!

5 giờ sáng, tàu đến ga Ấm Thượng 1 ga nhỏ của tỉnh Phú Thọ. 2 dì cháu khuân hết hành lý xuống 1 bến đò. Dì cho biết đường bộ không vào đến nơi chỉ có đi đò là tiện nhất.

Dì còn tranh thủ vào chợ mua 1 ít đồ tươi sống rau, củ, quả... Ðiều làm tôi ngạc nhiên là dì mua được 1 tạ gạo. Thời đó miền Bắc đang là nơi ngăn sông cấm chợ. Gạo, thực phẩm khan hiếm lắm. Sau nghe dì kể tôi mới biết dân ở đây luôn ưu tiên những người vợ lính đi thăm chồng (chỉ dân thôi nhé). Chẳng biết đường bao xa nhưng tôi đi lâu lắm. Tôi còn chập chờn ngủ được 1 giấc trên đò. Xế trưa đò cập bến. Dì thuê 1 chiếc xe bò khuân hết đồ đạc lên. 2 dì cháu đi thêm chừng 1km nữa khu trại hiện ra đó là phân trại K5. 2 dì cháu ở ngoài khu giam giữ dãy nhà đó được đặt tên là Nhà Hạnh Phúc. Tù mà hạnh phúc? Tôi thắc mắc. Dì Lê giảng giải: Ðây là khu nhà dành cho những phạm nhân có vợ lên thăm và được ở 2 ngày 1 đêm với điều kiện người tù phải cải tạo tốt.

Ðầu giờ chiều chúng tôi được gặp người nhà, đây là lần đầu tiên tôi được gặp cậu và cũng là lần đầu tiên tiếp xúc trực diện với 1 người mà bấy lâu tôi luôn được giáo huấn: Ðó là Kẻ Thù!

Cảm nhận đầu tiên của tôi, ông thật đẹp, dáng cao, da bánh mật, khuôn mặt sáng, tóc đen bóng mà xoăn từng nếp. Ðó là chân dung 1 đại úy cảnh sát đặc biệt của chế độ Sài Gòn! Ông tên là Liêm, có biệt danh là Liêm Xoăn.

Vào những năm sau 1975 có 1 cuốn sách tựa đề “Chân dung (hay khuôn mặt gì đó) của 1 số viên tướng Ngụy Sài Gòn.” Tôi đã đọc và tự mình đưa ra 1 nhận xét. Tôi nói nhận xét đó của tôi cho 1 chính trị viên đại đội (nhập ngũ năm 1963): Thưa thủ trưởng thằng cha nhà văn này nó bêu xấu quân đội ta. Ông trợn mắt rồi nói: Thằng này láo! Tôi cười rồi vội giải thích với ông: Nếu mấy cha tướng ngụy chỉ cần đúng 50% những gì kể trong cuốn sách này thì chả hóa ra quân đội ta chiến thắng 1 lũ ngu ngơ chả biết gì. Tôi chỉ là thằng lính trơn còn sôi máu huống gì các thủ trưởng? Ông nghe ra rồi hạ giọng: Cậu chỉ nói với tớ thôi nhé đừng lộng ngôn mà khổ đấy con ạ! Buồn! Có thể sau này người ta cũng biết hay sao mà cuốn sách đó tuyệt nhiên chả tìm thấy đâu nay tôi muốn tìm đọc lại cũng không có. Chung quy cũng chỉ vì nền “văn học chính trị” luôn cho mình là giỏi, là tài là đỉnh cao muôn trượng còn người khác thì vứt đi hết.

***

Tối hôm đó tôi giữ ý xin phép cho tôi được đi xem TV (tù chính trị được xem TV tập chung ở sân trại). Lúc này đang là Word Cup 1982 đài hoa sen hồi đó phát sóng trực tiếp trận Pháp với CHLB Ðức. Cậu tôi không đồng ý cho tôi đi, ông nói: Cháu ở lại đây với cậu, bởi cậu không muốn có 1 đứa con sinh trong tù. Và tôi đã ngồi lại để rồi thức trắng 1 đêm nữa nghe ông kể chuyện đời chuyện tù.

Sau ngày 30 tháng 4 ông cùng chung số phận với nhiều người. Số phận của những người thua cuộc - Mất hết! Nhưng ông biết chấp nhận chẳng cay cú chẳng hằn học. Thế nên ngay ngày đầu ra trình diện gia đình chuẩn bị cho ông đủ thứ mà 1 người sắp phải đi xa cần có! Nhưng thật bất ngờ, ban quân quản thành phố sau khi gặp gỡ khai báo đều cho tất cả mọi người về. Cứ như vậy, 3 lần tiếp theo họ đều được cho về. Và đây là 1 cú lừa, 1 cú lừa ngoạn mục! Lần thứ 5 khi gọi tập trung, hầu như không ai trong số họ chuẩn bị gì và đây là lúc họ phải ra đi! Kẻ ít 9-10 năm kẻ nhiều 15 năm và đến tận hôm nay 35 năm sau cuộc chiến không ai dám đoan chắc là tất cả đã được về!

Tất cả họ -1 bộ quần áo đang mặc, không tư trang không vật dụng cá nhân bị dồn xuống sà lan tại cảng Sài Gòn. Họ không biết bị đưa đi đâu. Sà lan là 1 khoang hầm rộng chỉ có cửa sổ trên cao. 2 người đứng trên vai nhau để nhìn ra cửa sổ và thông báo: Bên phải là biển - Bên trái là đất liền! Mọi người lúc đó mới biết họ bị đưa ra Bắc. Lênh đênh vài ngày 1 tối nọ, sà lan cập bến 1 cảng nhỏ đó là cảng Cửa Lò thuộc tỉnh Nghệ An. Khi rời sà lan lên bờ, 1 cảnh tượng kinh hoàng đập vào mắt họ, dọc con đường từ cảng ra ga tàu hàng trăm người dân đứng chờ sẵn, tay cầm đuốc miệng liên tục hô: Ðả đảo bọn Việt gian, đả đảo bọn ác ôn, đả đảo bọn bán nước... Ðó là cảnh ấn tượng nhất của họ khi đêm đầu tiên đặt chân lên miền Bắc XHCN! Kể đến đây ông trầm ngâm nước mắt ứa ra rồi nói như tự hỏi mình: Tại sao? Tại sao họ phải làm như vậy? Không thể hiểu, không thể lý giải nổi hành động của họ.

Tất cả họ được đưa lên tàu hỏa chạy thẳng lên Yên Bái, xuống phà Âu Lâu đi bộ sâu vào rừng. Tự dựng lán trại tự khai hoang... Thời gian lao động cải tạo hay được gọi dưới 1 cái tên là “Học Tập” mười mấy năm trời cũng được bắt đầu từ đấy. “Nhất nhật tại tù” những cơ cực, những khắc nghiệt mà ông và đồng đội của ông trong tù tôi xin miễn không kể lại vì rất rất nhiều người đều biết.

***

Vũng Tàu thời trước 1975 là 1 thành phố nhỏ dân không đông. Thành phố nổi tiếng vì có bãi biển đẹp. Dân Sài Gòn Thứ Bảy thường ra đây để nghỉ cuối tuần. Ðại úy cảnh sát đặc biệt Liêm Xoăn làm việc tại đó. Tôi đoán những người cùng thời với ông ở Vũng Tàu đa số đều biết ông, vì theo lời ông kể ông là 1 “dân chơi.” Ðẹp trai, ăn nói có duyên, cộng thêm bộ đồ cảnh sát trắng, mũ kê-pi, xe jeep mui trần trông oai lắm.

Nhưng ông đâu có ngờ cái mác CSÐB đã làm khổ ông 4 năm trời khi ông bị đi “Học tập.” Cảnh sát đã ghê đây lại là CSÐB!

Còn ghê hơn nữa, trong 4 năm đầu ông luôn bị coi là thành phần ngoan cố không thành khẩn khai báo. Mẫu đơn kiểm điểm của ông có 1 số gạch đầu dòng như 1 sự mặc định:

-Ðã giết bao nhiêu người.

-Mổ bụng bao nhiêu người.

-v.v...

Số giấy mà ông viết kiểm điểm trong 4 năm có thể lên tới hàng chục ký. Họ không tin ông! Ngược lại ông cũng không nhận những gì ông không tham gia, ông không làm. Sau vài năm như vậy chắc là do điều tra tận nơi người ta mới phát hiện ra rằng CSÐB thật ra là 1 thứ lính kiểng. Không biết có thật không nhưng sau này tôi được nghe rằng những nhà giàu có ở chế độ SG cũ sợ con em mình bị đi quân dịch nên đã chạy tiền cho con em đi học cảnh sát, giàu thêm chút nữa thì đút tiền để được là CSÐB. Ðơn giản chỉ có vậy. Nhưng ông còn là người may mắn, 1 số người khác cũng mang danh đặc biệt như ông còn khốn nạn hơn nhiều.

Những quy định trong trại cải tạo rất nghiêm ngặt và hà khắc nhất là với tù chính trị -Không nói chuyện với nhau bằng ngoại ngữ (100% sĩ quan QÐSG đều thành thạo Anh ngữ). Khi tiếp xúc với cán bộ phải đứng cách xa tối thiểu 2m v.v... Tuy nhiên đó là những năm đầu. Sau này tình hình được cải thiện rõ rệt hình như những cán bộ quản giáo ra tiếp xúc lâu năm nên đã hiểu rõ những con người mà lúc đầu họ cho là kẻ thù này. Theo như cậu tôi nói thì ông đã dạy tiếng Anh cho 1 vài quản giáo trẻ và họ cũng mến ông lắm.

Ðường vào trại K5 Tân Lập thời đó có 1 khúc sông không có cầu, đi lại rất khó khăn 1 tù nhân nguyên là đại tá công binh đã thiết kế 1 cây cầu, toàn bộ tù của trại Tân Lập là người thi công. Khi tôi đến cây cầu này đã làm gần xong.

Cậu tôi tư Liêm Xoăn đã được đổi tên là doctor Liêm. Ông cười khi tôi thắc mắc. Số là trong những lần đi khai thác gỗ trong rừng, được tiếp xúc với những người dân địa phương. Không ít lần ông đã chữa chạy cho họ những bệnh đơn giản như tiêu chảy, cảm cúm, nhức đầu sổ mũi... Cũng phải nói thêm là miền Bắc thời đó hệ thống y tế rất nghèo nàn, thuốc men khan hiếm quanh đi quẩn lại chỉ tetaxilin, sunfamit, croxit. Nhất là ở vùng sâu vùng xa thì càng tệ hơn nữa. Ðơn giản chỉ bị tiêu chảy cũng dẫn đến chết người nhất là trẻ em. (Cái nay tôi cũng từng chứng kiến khi đóng quân ở Lào Cai những năm chống Tàu) sẵn có chút kiến thức về y học lại có rất nhiều loại thuốc tốt của Pháp, Mỹ do gia đình cung cấp nên ông đã giúp được khá nhiều người. Cái tên doctor Liêm ra đời từ đó.

***

Ðã nghe lao xao tiếng gà gáy, ngoài kia trời đã sáng, 1 ngày mới bắt đầu. Tôi đồ rằng đây là lần đầu tiên sau 7 năm ở tù ông mới có dịp chuyện trò cởi mở về 1 quãng đời của ông với 1 người khác. Ðặc biệt người đó tuy là họ hàng nhưng cũng là người, trên lý thuyết là đối kháng với ông! Âu cũng là sự lạ.

Chúng tôi còn được ở với nhau nốt ngày hôm đó nữa. 2 cậu cháu đi bộ quanh khuôn viên của khu nhà, tôi chợt nhìn thấy 1 ông già cỡ chợt 70 ở trần quần đùi đội nón rách đang chăn mấy con bò bên ngoài. Ông ta kín đáo giơ 2 ngón tay trỏ và giữa, cậu tôi đáp lại bằng cách giơ 1 ngón cái của bàn tay (thời đó ít người ở miền bắc hiểu được ý nghĩa của những cử chỉ đó) cậu tôi bảo đó là 1 vị đại tá (tôi quên tên) và cử chỉ của ông ta có nghĩa “Chiến Thắng.” Tôi thất kinh. Chiến thắng ư? Ông mỉm cười. Nguyên do là có 1 tin đồn ngươi Mỹ sẽ bảo lãnh toàn bộ sĩ quan cùng gia đình của họ sang định cư tại Mỹ. Cái hôm tôi có mặt tại trại Tân Lập thông tin này đã được khẳng định là đúng do 1 ai đó nghe trộm được qua đài BBC. Những người tù chính trị coi nguồn tin này là một chiến thắng. Tôi tò mò hỏi ông: ở tù các ông có thành lập những hội, nhóm, hay tổ chức gì không? Cậu tôi lắc đầu: “Cháu nên biết rằng Cộng Sản là những người bậc thầy trong việc tổ chức những hội kín, họ có quá nhiều kinh nghiệm trong chuyện này cho nên những người đối kháng chỉ cần manh nha là đã bị bóp từ trong trứng!” Thời đó tôi chưa hiểu hết ý nghĩa của câu này.

Thế rồi giờ chia tay cũng đến. Dì Lê, như bao người vợ khác nước mắt lưng tròng, tôi cũng bịn rịn không kém. Cậu Liêm nắm chặt tay tôi: “Sẽ có ngày cậu cháu mình gặp lại nhau, nhưng chắc chắn không phải ở chốn này!”

Vậy mà 28 năm có dư sau lần thăm tù đầy ý nghĩa đó tôi không gặp lại cậu nữa! Tôi, một người lính vừa trở về lao vào cuộc mưu sinh, vào Nam, ra Bắc, làm đủ nghề rồi gia đình vợ con. Cuộc sống cũng chật vật cũng chẳng vẻ vang gì. Phần cậu Liêm tôi nghe nói mãi đến 86-87 gì đó cậu mãn hạn tù về SG trừng hơn năm rồi cả gia đình cậu sang Mỹ. Tôi cũng bặt tin cậu từ đó!

Vài lời nhắn gửi thay lời kết

Cậu Liêm ơi!

Bên kia bờ đại dương xa xôi, nếu vô tình cậu đọc được câu chuyện này (ở thời đại thông tin toàn cầu cháu mong việc đó xảy ra) thì cậu hãy tin rằng ở VN ngày nay đa số người dân đã hiểu về cuộc chiến ngày xưa, họ chẳng hằn thù gì. Có chăng chỉ 1 nhóm người bảo thủ và cố chấp. Cháu cũng tin rằng vài trăm người dân ngày xưa cầm đuốc, hô khẩu hiệu cũng chỉ là 1 kịch bản được soạn sẵn mà thôi. Vậy nên nếu cậu, dì còn đủ sức khỏe hãy về thăm lại quê hương, cậu cháu mình lại có dịp hàn huyên với nhau nhưng sẽ là những chuyện vui chứ chẳng phải những câu chuyện rơi nước mắt như thủa nào ở phân trại K5 Tân Lập!

Hà Nội ngày cuối năm!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Hoa Chanh Nở Giữa Vườn Chanh

Tạp ghi Quỳnh Giao

Ngày xưa, các cụ mình đã rất tinh khi gội đầu bằng chanh.

Nói “ngày xưa” như vậy thì có vẻ xa xăm ngày cũ chứ thật ra ngày nay nhiều người vẫn dùng chanh gội đầu, ít ra là ở thôn quê. Có lẽ các cụ khám phá trước cả khoa học rằng chanh có chất át xít mà mình gọi là chua nên có công dụng khử trùng và nhất là lại cho ta một mùi thơm tinh khiết. Ði qua một vườn chanh vườn bưởi, làm sao mình quên được mùi thơm rất nhẹ mà cũng cho mình một cảm giác khoảng khoát sạch sẽ? Nó thanh khiết hơn hương thơm quá nồng nàn và quá ngọt của nhiều loài hoa khác.


Nhớ lại thì bà ngoại ngày xưa vẫn gội đầu bằng cách nấu chùm kết lấy nước để gội, sau cùng vắt một quả chanh vào nước ấm dội lần chót cho tóc bóng mượt. Bà chải tóc bằng lược bí có răng rất nhỏ, rất mịn, gợn ra nhiều tép chanh còn kẹt trong răng lược.... Mái tóc thơm tho bóng nhẫy khiến lũ trẻ cứ hít lấy hít để. Các cụ xưa hay thật. Vì đã biết chế ra loại conditioner organic từ chanh khi mình ra đến ngoài này mới thấy những sản phẩm trong chai lọ của những gian hàng bán dầu gội đầu. Nhưng conditioner của họ pha chế nhiều chất hóa học, đâu phải từ chanh thật như các cụ ta!

Ngày nay, chúng ta cũng hít lấy hít để mùi chanh, nhưng không phải là bên thùng nước ấm khi phải gội đầu. Chúng ta dùng chanh trong chai, dùng chanh như một loại dầu thơm.

Người miền Nam chúng ta mà dùng chữ “dầu thơm” này cũng tinh như các cụ mình ngày xưa vì trong chai nước hoa quả là có tinh dầu... Người ưa nghiên cứu về khoa học thì dạy chúng ta rằng chanh bưởi cam quít gì thì cũng cùng một họ, cùng một loại cây bụi hay cây mộc, lá xanh, thân có gai nhỏ, hoa thơm có múi bên trong là những tép chanh tép bưởi nhỏ xíu.

Người chuyên về thuốc thì nhắc chúng ta là trong chanh có rất nhiều sinh tố C có tác dụng bổ dưỡng và giải cảm, chống lạnh. Người háu ăn thuộc phái nam thì nhắc đến chanh khi ăn thịt gà và lời ca dao “con gà cục tác lá chanh” đề lại ngậm ngùi nhớ đến đến con chó khóc đứng khóc ngồi và củ riềng. Giờ này mà nói đến món thịt chó hay mộc tồn như các ông thì con cháu nó chạy hết qua... bót cảnh sát!

Người ham ăn, chứ không háu ăn, thuộc phái nữ thì nhớ đến chanh khi đi chợ thấy có bán ốc. Nhớ lại ở nhà là nồi nước sôi luộc ốc phải có lá chanh và nhể ốc bằng gai chanh mới là sành ăn biết điệu. Người không ăn ốc mà thích nói mò và viết tạp ghi thì nhắc đến chanh trong chai!


Ðó là trường hợp Quỳnh Giao, mà các em gái trong nhà cứ hay chọc là “bà chủ hãng nước hoa.”

Chẳng là trời sinh mỗi người lại có một số năng khiếu riêng. Có trí nhớ về thính giác và khứu giác là trường hợp ở đây, chứ trông gà hóa cuốc mới là biệt tài! Nghe một nốt nhạc thì nhớ, ngửi một mùi thơm thì khó quên nhưng lại rất kém về thị giác nên ít nhận ra ai. Chi bằng tận dụng cái nét trời cho mà sống trong âm nhạc và thấy vui với hương thơm của nước hoa.


Rồi nhớ đến hoa chanh nở giữa vườn chanh khi thấy rằng từ nhiều năm nay, mùi chanh trong kỹ nghệ dầu thơm đang trở về vị trí thời thượng, đúng mốt thời trang. Nhà Chloé đã tinh chế rất nhiều loại hoa thành nước hoa, nhưng đứng đầu và thơm nhất thì có mùi Néroli... Hình như cũng là địa danh hay tên một nàng công chúa.
Image
Chloé Eau de Parfum

Ngày xửa ngày xưa, có nàng công chúa Âu Châu tại đất Nerola của Ý thường ngắt hoa cam hoa bưởi kẹp vào trong sách, thả vô bồn tắm và ướp vào găng tay.

Nghe kể lại hay đọc thấy thì nàng đi tới đâu tỏa hương đến đó, cứ rút găng tay cho người thân là mọi người lại nhìn quanh xem hoa bưởi phảng phất ở đâu. Sau này, khi thiên hạ khôn ra thì mới biết rằng nàng công chúa tận dụng tinh chất “neroli” trong giống chanh.

Thiên hạ khôn ra thì chúng ta nhờ vì ngày nay mình có chất đó trong nước hoa, xà phòng và lạ lùng hơn nữa khi được biết bí quyết của chai Coca Cola chính là vì có mùi “neroli” đó. Hương chanh xuất phát từ đó và cho ta cả một mùa Xuân thơm phức ngay giữa mùa Ðông. Muốn có trời Xuân thăm thẳm đó, hãy thử tìm mùi Poppy Rouge thì biết. Nhưng kể ra thì hơi đắt, gần chín chục đồng một chai nhỏ xíu và không dễ kiếm bằng chai nước hoa của Chloé...

Bôi rồi một chốc lại nhìn quanh vì trong cái tinh khiết của hương chanh còn phảng phất sự nồng nàn của hoa thủy tiên.

Các bà mà đã muốn đánh lừa khứu giác của các ông thì phái mạnh cũng sẽ thấy yếu xìu!


Khi uống rượu, các ông ưa bày đặt hù dọa chúng ta rằng hương vị của rượu có ba tầng khác nhau mà chỉ người sành mới phân biệt được. Nào là “body,” vị thơm làm nền và bền nhất từ trái nho, rồi mới tới hương của các loại hoa hay gỗ ướp và ngoài cùng là cái “bouquet” tổng hợp ngần ấy thứ linh tinh! Nghe vậy thì ai mà không sợ cái lưỡi rất tinh của các ông, vì rất tinh nên nói sao nghe cũng cứ như thật...

Nhưng các bà có thể trả lời và giật lại sự thật cho mình.

Trong nước hoa, người ta cũng phân biệt loại base notes, hương thơm làm nền, rồi middle notes và ngoài cùng, thấy ngay mà cũng loãng rất nhanh là top notes. Hãy bắt mấy ông sành rượu nếm thì một chút nước hoa là cái lưỡi của các ông sẽ ngọng ngay lập tức.

Vào tiệm bán nước hoa, mình đừng dại mua ngay cái mùi thấy ưa thích khi thử trên da. Xin hãy phe phẩy cánh tay mà thong thả bước qua nơi khác. Khi ấy, chúng ta nhớ đến bài “Gió thoảng hương duyên” của Vũ Thành vì hương thơm ban đầu sẽ tỏa rất nhẹ và tan biến dần, để lại một mùi thơm khác. Mà mùi đó vẫn chưa là thật và chưa thật bền. Hãy để cho hóa chất trong nước hoa thấm đượm trên làn da của mình và gây ra một chuỗi phản ứng hóa học, rồi mùi hương nền mới tồn tại lâu bền hơn.

Khi ấy, mình sẽ thấy mùi nào là mùi thật của mình, thích hợp nhất cho mình...

Nước hoa chế cất bằng chanh bưởi có đặc tính chung thủy và lâu bền nhất vì thường vượt qua được cả ba cửa ải đó. Hương thơm từ chai “Néroli” của Annick Goutal là một thí dụ. Ðó là loại nước hoa rất Tây mà vẫn dễ tìm thấy bên Mỹ này, dù hơi đắt nếu mua tại Neiman Marcus.

Vừa xức lên da là mình thấy như bước vào một vườn chanh, đi quanh quẩn trong tiệm mà lại thấy trong chanh có cả màu xanh và tỏa ngát mùi gỗ sạch và ấm áp của mùa Xuân. Sau cùng vẫn phảng phất nét tinh khiết ban đầu, rất bền mà không hắc và nhất là không quá ngọt như nhiều mùi nước hoa của Mỹ.

Nhớ lại thì từ thời các cụ xa xưa cho đến ngày nay, chúng ta vẫn nằm trong vòng kiềm tỏa của thiên nhiên hoa cỏ. Các cụ đã sớm biết lấy hoa chanh làm thơm làm đẹp. Ngày nay mình sướng hơn các cụ là có sẵn những thức đó trong chai và mở một chai nước hoa lại nhớ đến ca dao ngày cũ thì bỗng dưng cảm động.

Khứu giác cũng có khả năng gợi nhớ có kém gì một nốt nhạc đâu? Mà không làm phiền thiên hạ bằng một chai rượu chát của các ông!

Quỳnh Giao
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Image

TÌM NƠI NÀO CHIẾC LÁ DIÊU BÔNG

“Em ôm ấp mối tình không dám ngỏ
Chưa gặp Diêu Bông chị đã theo chồng.

(Đặng Nguyệt Anh)
Đa số độc giả yêu mến văn chương đều biết Hoàng Cầm là một thi sĩ đa tài , đa tình, lãng mạn rất sớm. Theo dược tánh Đông Y, Hoàng Cầm cũng là tên một vị thuốc bắc rất đắng . Cái tên như là một thứ tiền định gán ghép cho thân phận, nên cuộc đời và nghiệp thơ của Hoàng Cầm oan trái, hắt hiu, chìm nổi.

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tăng Việt, sinh năm 1922, tại thôn Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, đỗ tú tài Pháp năm 1940 tại Hà Nội, nhờ sự chắc chiu nuôi dưỡng của mẹ buôn nghề hàng xén. Cha dạy học, làm thầy lang, có lần bị Pháp bắt giam tù tại thị xã Phú Lạng Thương, vì hoat động Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nhờ có khiếu bẩm sinh yêu thơ và thụ bẩm đặc biệt dòng máu Quan Họ của mẹ được mệnh danh môt thời là bà chúa Quan Họ Bắc Ninh. Hoàng Cầm lúc còn bé đã sớm có giọng hát và ngâm thơ hấp dẫn người nghe. Theo tập thơ “Về Kinh Bắc” viết xong năm 1940, một chiều thứ bảy đi học về, Hoàng Cầm thấy một cô gái láng giềng đang cúi xuống mua gì trong bồ hàng xén của mẹ khi ngẩng đầu lên thì cô ta là cả một thế giới lộng lẫy, mê say của Hoàng Cầm, làm cho chàng phải ngẩn ngơ, choáng váng mặt mày ! Mặc dầu lúc đó chỉ là một thằng bé nhí tám tuổi. Hoàng Cầm đã biết làm một bài thơ tình lục bát , nắn nót để em gởi "chị Vinh của em” và từ phút tình si sét đánh đó ( coup de foudre), chị đi đâu em đi đấy, mãi mãi “lẽo đẽo bụi hồng”, lúc nào cũng cách chị ba bước như hình với bóng.

Khi vào vuờn ổi
Chị xoạc cành ngang, em gốc cây
Lúc đánh bài tam cúc :
Chị gọi đôi cây, trầu cay má đỏ,
Kết xe hồng đưa chị tới quê em
Ghé coi bài, tìm hơi tóc ấm…


Tình yêu đơn phương lúc nào cũng nóng bỏng, réo gọi mãi trong tim cậu bé si tình suốt mấy năm sau.

Một chiều mùa giáng sinh năm 1934, chi thoăn thoắt chạy ra cánh đồng làng Như Thiết đã gặt xong, còn trơ những rạ. Đương nhiên thằng em chạy theo sau ngay. Chị mặc váy “mốt” Đình Bảng”, áo cánh lục mở gà, áo cánh sen xanh nhạt, ngoài chiếc “ghi lê” màu tím bó chẽn, thắt lưng hoa đào, quả thật kiêu sa, lộng lẫy như một nàng tiên ! Chị cuối xuống , loay hoay tìm…, tìm gì trong búi cỏ, lùm cây, từ bờ ruộng này sang bờ đê khác . Em trống ngực đánh thùm thụp, mê say theo dõi. Bóng hoàng hôn đã sẩm tím trên cánh đồng chiều. Chị vẫn tìm, tìm mãi. Em đánh bạo hỏi : “ Chị Vinh ơi ! Chị tìm gì thế “? Chi đứng lên tươi cười, đôi mắt lúng liếng thật tình tứ nhìn Hoàng Cầm, như vừa triểu cợt, vừa thách đố :” Ừ chị đi tìm cái lá…ấy đấy. Đưá nào tìm được cái lá….ấy, ta sẽ gọi là chồng !” chao ôi lúc ấy tim em đập mạnh như muốn vỡ toang lồng ngực, người nóng rưng rức giữa cánh đồng hiu hắc buốt lạnh.

Rồi một buổi chiều khác đi học từ thị xã Phú Lạng Thương vê muộn, nhìn chênh chếch bên kia đường, thấy ngôi nhà chị Vinh đóng kín cửa líp khác với thường lệ, Hoàng Cầm chạy vội vào nhà, chưa kịp hỏi thì bà mẹ nghẹn ngào nói :”Nó đi lấy chồng rồi con ạ!”. Trái tim như bị một cơn địa chấn mạnh, Hoàng Cầm bật khóc, gục đầu vào mẹ, choáng váng xây xẩm mặt mày… Từ đó, tình yêu đầu đời không đến bến này đã làm héo hon trái tim Hoàng Cầm, khi rộn rực thê thiết, khi nhẹ nhàng “Nhớ thương lãng đãng như trầm hương bay ”(Nguyên Thùy)” ám ảnh tội nghiệp cuộc đời Hoàng Cầm. Mãi đến Thu 1959, trong một đêm đông lạnh buốt , Hoàng Cầm cứ trăn trở, thao thức, không chợp mắt ngủ được , thì bổng nhiên có một giọng nữ đọc thì thầm bên tai Hoàng Cầm bài thơ lá Diêu Bông mà Hoàng Cầm ghi lại như viết chánh tả :

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thờ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ.
Chị bảo
Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em tìm thấy lá
Chi chau mày
Đâu phải lá Diêu Bông
Mùa đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
Trông nắng vẫn bên sông
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tim thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn


Bao nhiêu lần em thấy lá, chị chau mày, chị lắc đầu, chị mỉm cười, chị không nhìn, hết thẩy chị đều không chấp nhận là thật chiếc lá em cầm trên tay, “chưa gặp Diêu Bông, chị đã theo chồng” (Đặng Nguyệt Ánh)”. Đi tìm Diêu Bông như dã tràng xe cát. Chiếc lá và người chi vương vấn mãi, thấm đậm sâu vào tận tiềm thức, vô thức sốt cuộc đời.

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
…Ới Diêu Bông…!


Bài thơ lá Diêu Bông ra đời là như thế ấy , chứ kỳ thực Hoàng Cầm không thấy, không hiểu ,không biết lá Diêu Bông là gì ở trên cõi đòi này ?! Phải chăng đó là bí-tích của ngôn ngữ thi ca.

Những năm 1980, hai vai đã gánh nặng tuồi đời, Hoàng Cầm vẫn còn nhớ chị với tấm lòng tha thiết của đứa em như mười hai tuổi dạo nọ. Nhiều đêm chị hiện ra trong giấc mơ, giơ tay vẫy gọi , mê mẫn Hoàng cầm :

…Ước sao chị lim dim hát
Tay gió đàn
Lơi
Yếm trắng tinh
Ví chăng em cứ bơ vơ nhớ
Nắng lợn cồn mây
Lá hiện hình

(Ước Nguyện, Hoàng Cầm 1984)

Năm 1991, một thiếu phụ Sài Gòn, tên Đặng Nguyệt Anh “lụy “ thơ Hoàng Cầm, mở quán đạt tên Lá Diêu Bông, tỏ tình mời Hoàng Cầm từ miền Bắc vào Sài Gòn để bày tỏ niềm thương cảm :

…Quán nghèo em gọi Diêu Bông
Cũng là như có như không vậy mà…
Hoàng Cầm anh ở nơi xa
Em nhớ anh Quýnh bắc qua nhịp cầu
Gặp anh bày tỏ trước sau
Diêu Bông hư thực biết đâu mà tìm ?


Quán Diêu Bông ở trên đường Hồng Thập Tự, mé sau Dinh Độc Lập, Sài Gòn. Mấy vần thơ nhận được như liều thuốc bổ tăng sức cho Hoàng Cầm vốn đã sẳn ốm yếu do vừa mới đau dậy, nhà thơ vội vã lên đường từ Hà Nội vào Sài Gòn theo tiếng gọi lá Diêu Bông. Hai bên đã hội ngộ,, đối thoại, trao đổi những vần thơ hết sức xúc động trong mấy buổi họp mặt các bạn yêu thơ nhạc Sài Gòn (nhạc sĩ Trịnh Tiến, Trịnh Công Sơn, nhà thơ Bùi Chí Vinh, Phạm Thiên Thư…) Hoàng Cầm làm bài thơ “giọt mưa phương Nam” đọc tặng Nguyệt Anh :

“…Mưa đi về anh
Mưa thành nước mắt
Rung rinh ôm sao…
Giọt mưa phương Nam
Lệ nhoà qua mi.


Nhịp thơ khi đọc, như trận mưa rào tình cảm đổ xuống. Tiếng vỗ tay của thính giả không ngớt khi Đặng Nguyệt Anh đối ứng một bài thơ khác cũng lấy đầu đề “Giọt mưa phương Nam” đối tặng Hoàng Cầm :

“…Nghe chiếc lá rơi trên đường thanh vắng
Sông Đuống ơi ! Sông gợn nao lòng
Trời mưa phương Nam mây hồng nắng ấm
Biết tìm noi nào chiếc lá Diêu Bông
….Em người phương Nam chưa lần ra Kinh Bắc
Khắc khoải trong lòng khi đọc lá Diêu Bông
Diêu Bông hời hỡi Diêu Bông !

(Đặng Nguyệt Anh, 1991)

Sau nửa tháng có mặt tại Sài Gòn ra mắt các bạn yêu thơ và cùng với nữ sĩ Nguyệt Anh đối tặng nhau nhiều bài thơ giá trị về mặt nghệ thuật, Hoàng Cầm phải ra đi cùng với những trắc trở như trong quá khứ mà định mệnh đắng cay đã dành cho ông. Đìều thật lạ lùng khó luận giải là khuôn mặt nữ sĩ giống in người chị như hai giọt nước, và cũng mang tên la Nguyệt Anh trùng tên với Tịnh Nguyệt Anh nương bút hiệu của Tuyết Khanh vợ cũ của Hoàng Cầm và là mẹ của Kiều Loan) hiện tu thiền ở Mỹ, đã làm những bài thơ đượm màu đạo vị :

Từ Âu qua Mỹ Chẳng nề
Giấc hương quan gởi mộng về Việt Nam
Bóng chiều mờ mịt sương lam
Vườn hồng rạng rỡ thiền am độ đời


(Tịnh Nguyệt Anh)

Hoàng Cầm nói, “Ôi thôi, nếu có sự trùng lập cái tên Nguyệt Anh trong câu chuyện thì ngẫm cho cùng, nó cũng là một thứ dịnh mệnh, cái duyên số tạo hóa dành cho cuộc đời mình này mất rồi” (Bút ký”Vài chuyện làng văn Hà Nội” của Lý Kiệt Luân. Nhóm Ngàn Lan xuất bản tại San Jose, Hoa kỳ 1994).

Nói về thơ Hoàng Cầm là vấn đề khá dài dòng , khó nói vơi hết được trong mất trang của Đặc San. Điều phải nói đến là thơ ông dấy động, lên đường, kháng chiến rất sớm. “ Nhiều người tham gia kháng chiến, đến nay, vẫn còn nhớ mãi cái cảm giác hừng hừng say sưa những đêm đọc thơ Hoàng Cầm trrong các chiến khu thâm thẩm giữa núi rừng Việt Bắc” (Văn học Việt Nam dưới chế độ CS, Nguyễn Hưng Quốc, Văn Nghệ xuất bản,CA – Hoa kỳ 1991). Ông là trưởng đoàn văn công quân đội khu Việt Bắc. Bài thơ ca tụng chiến thắng sông Lô đánh Pháp được ngưòi dân yêu mến trong thời gian trai trẽ cả nước lên đường.

Sông Lô chảy xuống sông Hồng
Sông Hồng trôi xuống biển Đông xa vời
Biển Đông dội sóng vang trời
Nhắc đi bốn bể những lời sông Lô…


(Trường ca sông Lô)

người có tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng, luôn theo tiếng gọi của mộng mơ, của hồn thơ, không thể ngồi chung chiếu với Cộng sản được. Hoàng Cầm được gọi là con “ngựa chiến” trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Ông viết những bài thơ bút chiến vói cán bộ Cộng sản và cùng với người bạn tâm đắc là Trần Dần quyết liệt đòi văn nghệ phải được độc lập với chính trị. Hoàng Cầm có hai câu thơ tiêu biểu nhất được coi như là tuyên ngôn của phong trào :

Dù sợi tóc còn cứa vào nhân phẩm
Tôi còn thét to dù khan tiếng khàn hơi.


(Sách đã dẫn - Nguyện Hưng Quốc)

Ông là kiện tướng kich thơ một thời. Đặc biệt ông viết bài thơ “Em bé lên sáu tuổi”trong thời ky cải cách ruộng đất để tố cáo sự man rợ độc ác tận cùng của Cộng Sản…Ông bị bẻ bút bao vây kinh tế, phải bán rượu lậu bên vĩa hè để mưu sống.

Năm 1980. ông bị bắt giam tù ba năm về tội muốn chuyển tập thơ “Về Kinh Bắc” sang Canada in cho được nhanh chóng ra đời. Công an đến nhà tịch thu tất cả sách vở, bản nháp thơ chưa phổ biến. Tiếp đến là vợ tên Lê Hoàng Yến và con gái cũng đều nghệ sĩ”bị chết tức tưỏi cách nhau không xa ngày, cái chết rất mờ ám không được điều tra nguyên nhân” Ông mất vợ, mất con mất sách, mất thời gian ba năm trong nhà đá. Nhưng có một cái tồn tại lớn nhất đối với ông là THƠ. Thơ ông đã đi vào lòng người và củng như người bạn thơ nào đó, ông cũng đã nhiều lần vịn vào thơ mà đứng dậy.
Image
Trở lại bài thơ LÁ DIÊU BÔNG, bài thơ chứa nhiều ẩn dụ, nên có thể được hiểu dưới nhiều góc cạnh khác nhau tùy theo tầm mắt nhận định của mỗi người yêu thơ. Người chị trong Lá Diêu Bông có thể hiểu là lý tưởng mà Hoàng Cầm đeo đuổi suốt cuộc đời, đi đầu non cuối bể, theo tiếng gọi vi vút của hồn quê và chứa chan niềm tim tưởng một ngày mai sáng tươi rực rỡ, tự do – thanh bình – no ấm sẽ trở lại thực sự trên đất Mẹ dấu yêu.

Giáo Sư Hoàng Công Duyên
Úc Châu.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ðọc lại Truyện Kiều để yêu thêm tiếng Việt

Ðàm Trung Pháp

Thi hào Nguyễn Du ra đời trong hậu bán thế kỷ 18. Tôi thường tự hỏi có phải trong thời điểm ấy Thượng Ðế đã nổi hứng rộng lượng và công bình
mà ban cho nhân loại những thiên tài văn chương xuất chúng chăng?

Image
Kiều - Tranh Mai Thứ

Như Goethe sinh năm 1749 tại Ðức Quốc, Nguyễn Du sinh năm 1765 tại đất nước chúng ta, Chateaubriand sinh năm 1768 tại Pháp Quốc, và Wordsworth sinh năm 1770 tại Anh Quốc. Goethe, đệ nhất văn hào dân tộc Ðức, năm mới 25 tuổi đã viết cuốn truyện tình bi đát mang tên Die Leiden Des Jungen Werthers (Những Nỗi Ưu Sầu của Chàng Trai Trẻ Werther) để nói về mối ưu sầu thực sự của chính ông: Goethe đã gặp và yêu say đắm trong tuyệt vọng một phụ nữ đã đính hôn với người khác. Câu chuyện lãng mạn và bi thảm ấy khiến ông lẫy lừng danh tiếng khắp Âu Châu và cũng làm cho một vài giai nhân đa sầu đa cảm đang thất tình giống người trong truyện nhảy xuống hồ tự tử mà trong tay còn nắm chặt cuốn tiểu thuyết kia! Chateaubriand có thể được coi là nhà văn tiên khởi của trào lưu văn chương lãng mạn nước Pháp qua cuốn tiểu thuyết Atala, một câu chuyện vừa buồn vừa mãnh liệt đam mê trong khung cảnh thiên nhiên rực rỡ của rừng núi Bắc Mỹ, một nơi mà Chateaubriand chưa từng thăm viếng và chỉ được làm quen với các sắc dân da đỏ qua sách vở. Và Wordsworth, đệ nhất thi nhân bên trời Anh Quốc, năm chưa đến 30 tuổi đã cùng Coleridge xuất bản tập thơ Lyrical Ballads, mở đầu cho thời đại thi ca lãng mạn trong văn học quốc gia ấy. Wordsworth say mê thiên nhiên và có biệt tài dùng ngôn ngữ bình dị dễ hiểu để diễn tả những cảm xúc tràn bờ trước vẻ đẹp của rừng, của núi, của giai nhân. Tôi nhớ mãi những câu thơ sau đây của Wordsworth để tả một kiều nữ bí mật sống giữa thiên nhiên mang tên Lucy mà thi nhân ví như một bông hoa đổng thảo:

A violet by a mossy stone
Half-hidden from the eye
Fair as a star, when only one
Is shining in the sky

Thế còn Nguyễn Du của chúng ta thì sao? Hãy nghe lời người ngoại quốc ca ngợi thi hào họ Nguyễn trước đã. Thi sĩ lẫy lừng người Ấn Ðộ chuyên làm thơ bằng tiếng Anh mang tên Rabindranath Tagore (giải Nobel Văn Chương 1913) khi viếng thăm Việt Nam năm 1929 đã coi Nguyễn Du là vị thi sĩ đứng thứ 3 trong hàng ngũ những thi sĩ muôn thuở, chỉ sau Lý Bạch và Victor Hugo (theo học giả Thái Văn Kiểm). Văn sĩ Pháp René Crayssac đã dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp và cho rằng áng văn kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh mà không sợ kém các văn chương kiệt tác, vô luận ở thời nào và ở xứ nào (theo học giả Ðào Duy Anh). Như vậy thì thiên tài thi ca họ Nguyễn của chúng ta khi đứng cạnh những đại danh văn chương của nhân loại cũng ngang ngửa với họ, cũng đều “mười phân vẹn mười” cả, nhưng riêng đối với tôi thì đọc thơ Nguyễn Du thích thú gấp bội phần đọc các tác phẩm của các vị ngoại quốc kia, vì tôi là người cùng một ngôn ngữ và văn hóa với Nguyễn Du.

Nguyễn Du (ND) sinh năm 1765 trong một danh gia vọng tộc. Cha là hoàng giáp Nguyễn Nghiễm, người Hà Tĩnh, làm thủ tướng triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần, người Bắc Ninh, kém chồng 32 tuổi. ND mồ côi cha năm 11 tuổi và mồ côi mẹ năm 13 tuổi. Anh cả là tiến sĩ Nguyễn Khản, thượng thư bộ Lại; anh thứ hai là Nguyễn Ðiều từng làm trấn thủ Sơn Tây. Năm 1783, lúc 18 tuổi, ND đậu tam trường (tú tài); cùng năm này, một người anh tên là Nguyễn Ðề đậu thủ khoa kỳ thi hương (cử nhân). Tình hình chính trị lúc ấy thực bất ổn. Năm 1788 Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh; Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Huế. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Năm 1802 Gia Long diệt Tây Sơn, bắt đầu triều Nguyễn; ND làm tri huyện Phù Dung (thuộc Hưng Yên ngày nay), mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín (thuộc Hà Tây ngày nay). Năm 1809 ND làm cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 ND thăng cần chánh điện học sĩ, chánh sứ sang nhà Thanh. Năm sau đi sứ về, thăng tham tri bộ Lễ. Năm 1820 Gia Long mất, Minh Mệnh nối ngôi. ND được cử chánh sứ sang Tàu báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp lên đường thì bị bệnh và qua đời, thọ 56 tuổi.

Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ là khi nào ND viết Truyện Kiều (Ðoạn Trường Tân Thanh) trước hay sau khi đi sứ sang Trung Quốc năm 1813. Theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim thì Truyện Kiều (TK) bắt nguồn từ một tiểu thuyết Tàu của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, văn chương tầm thường, về một người đàn bà tài sắc, có lòng trung, hiếu, tiết nghĩa, mà đời bị bèo giạt hoa trôi. ND bỏ bớt những chỗ rườm rà, thô lỗ, dơ bẩn. So với tiểu thuyết Tàu thì Truyện Kiều của ND thanh nhã và văn vẻ hơn nhiều. Hà Như Chi, khi so sánh Truyện Kiều với tiểu thuyết Tàu nguyên thủy, nhận định Truyện Kiều là một công trình nghệ thuật cân đối hoàn hảo, kết cấu chặt chẽ, tình ý đậm đà khéo léo, văn chương tươi đẹp, thắm đượm màu sắc Việt Nam và dẫy đầy thi vị.

Vẫn theo Hà Như Chi, một nàng Kiều tài hoa duyên dáng như thế lại là nạn nhân của một số mệnh vô cùng khắt khe đã đánh mạnh vào tâm hồn ND và thúc giục cụ viết nên Truyện Kiều để hả hê những mối cảm tình đối với một người đã được cụ xem như đồng hội đồng thuyền với mình: ND phải quên nhà Lê mà ra làm quan với nhà Nguyễn thì có khác chi, vì chữ “mệnh” oái oăm, nàng Kiều phải bỏ Kim Trọng mà chịu bước giang hồ? Ðúng là:

Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?

Nội dung Truyện Kiều gồm 3,254 câu thơ lục-bát có thể chia làm 3 phần: (1) Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ và gắn bó với nhau; (2) Những nỗi khổ của Thúy Kiều trên bước đường luân lạc; và (3) Kim-Kiều tái ngộ. Truyện Kiều còn là một tác phẩm chứng minh cho định luật “tài mệnh tương đố”: Kiều là kẻ tài hoa nên phải mệnh bạc. Trong phần kết, may thay, ND cũng cho chúng ta tin tưởng rằng thiện tâm có thể cải hóa được số mệnh:

Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Những phân đoạn chính trong Truyện Kiều như sau: Phần (1): (a) Xác định thuyết tài mệnh tương đố, (b) Kiều gặp Kim Trọng, (c) Kiều và Kim Trọng thề thốt gắn bó. Phần (2): (a) Gia biến nàng Kiều, (b) Mã Giám Sinh mua Kiều, (c) Kiều phó thác tâm sự cho em, (d) Mắc tay Tú Bà, (e) Ði trốn với Sở Khanh, (f) Kiều tiếp khách trong lầu xanh, (g) Kiều được Thúc Sinh chuộc ra, (h) Mắc tay Hoạn Thư, (i) Ði trốn, (j) Giác Duyên sợ liên lụy, gửi Kiều cho Bạc Bà, (k) Bạc Bà lừa dối, Kiều lại bị bán vào lầu xanh, (l) Ðược Từ Hải chuộc ra, (m) Kiều báo ân báo oán, (n) Mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, (o) Kiều nhảy xuống sông Tiền Ðường, (p) Giác Duyên vớt Kiều. Phần (3): (a) Kim Trọng trở lại vườn Thúy, (b) Lấy Thúy Vân, (c) Làm quan ở Lâm Tri, (d) Tìm Kiều ở Hàng Châu, (e) Giác Duyên đưa đến gặp Kiều, (f) Kim-Kiều xem nhau như bạn, (g) Kiều đánh đàn kết liễu đời bạc mệnh, (h) Kết thúc: Thiện tâm sửa được số mệnh.

Chúng ta đã nghe người ngoại quốc ca tụng Truyện Kiều trên đây, và bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà phê bình văn chương người Việt nghĩ gì về tuyệt tác phẩm này của Nguyễn Du. Tôi xin đóng góp trong phần này này bằng cách tóm lược một số nhận định về giá trị Truyện Kiều của các nhà phê bình tên tuổi từ trước đến nay để chúng ta có một cái nhìn bao quát.

Phạm Quỳnh: Sau khi cho rằng Truyện Kiều của ND hay hơn cả văn chương của Khuất Nguyên bên Tàu và văn chương của Racine và Bossuet bên Tây, Phạm Quỳnh trong ngày giỗ ND năm 1924 tại Hà Nội đã thề trước anh linh thi hào họ Nguyễn rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây” (tạp chí Nam Phong, tháng 8, 1924). Vì những lời này mà Phạm Quỳnh bị hai cụ nghè Ngô Ðức Kế và Huỳnh Thúc Kháng xỉ vả thậm tệ (tôi sẽ nói tiếp về vụ này ở một đoạn sau).

Nguyễn Tường Tam: Nhà văn thủ lãnh của Tự Lực Văn Ðoàn viết trong tạp chí Nam Phong năm 1924: “Cái làn sóng thơ Kiều hình như lai láng khắp cõi Nam. Trừ những câu ca dao ra, thật không có quyển truyện nào phổ thông trong đám dân gian bằng Truyện Kiều. Vì văn Kiều hay quá, nên những người nhà quê không có học thức cũng thích xem và thích ngâm nga. Nhưng nói đến cái hay của văn Kiều thì chưa biết thế nào mà kể được... Tôi xin nói quyết một lời rằng MONG ÐƯỢC MỘT QUYỂN TRUYỆN NÀO HAY HƠN TRUYỆN KIỀU LÀ MỘNG TƯỞNG. Cái trình độ thơ quốc ngữ đến như thế là tuyệt đích rồi.” Nhận định về câu thơ thuộc loại văn hữu dư ba là câu “Lơ thơ tơ liễu buông mành,” Nguyễn Tường Tam thấy ba chữ “lơ thơ tơ” nghe rất êm tai, hay về phần tưởng tượng ít mà hay về phần âm điệu êm ái nhiều hơn. Và câu “Nách tường bông liễu bay ngang trước mành” ông thấy rất hay về cảnh sắc. Ông cũng thấy trong Truyện Kiều nhiều chỗ cảnh và người có liên lạc, đúng như:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Như lúc Thúc Sinh trở về với Kiều, trông ra cảnh vật cũng hình như chia vui với mình:

Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

Và khi Kiều và Kim gặp nhau lần đầu, lúc từ giã, cô Kiều còn trông theo, nhưng nào thấy gì đâu, chỉ thấy:

Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

Hai câu đệm ấy vào thật là tả rõ được cái buồn, cái nhớ của cô Kiều mà hình như cảnh vật cũng âu sầu!

Vũ Ðình Long: Lấy âm nhạc làm ẩn dụ để lượng giá Truyện Kiều, phê bình gia Vũ Ðình Long viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924 rằng “Truyện Kiều thực là một cây đàn tuyệt quý không phím không dây. Tác giả lấy đầu lưỡi mà nẩy lên tiếng, mỗi đoạn văn là một cung, mỗi câu văn là một điệu, mỗi chữ là một tay nỉ non thánh thót, réo rắt tiêu tao, đêm khuya canh tĩnh mà nghe người tốt giọng ngâm Kiều thì còn đàn nào hay bằng nữa... Cụ ND không phải là nhà thi sĩ, cụ chính là THẦN THƠ vậy!” Theo Vũ Ðình Long, những câu Kiều nói với chàng Kim thật hay thật tình, như:

Thưa rằng đừng lấy làm chơi
Rẽ cho thưa hết một lời đã nao

Chữ “rẽ” dùng có thần tình không? Ta thấy hình như nàng Kiều lấy tay gạt chàng Kim ra vậy! Năm lần láy chữ “còn” trong hai câu thơ sau đây là một tuyệt chiêu, như thể một lời thề nguyền vĩnh cửu:

Còn non, còn nước, còn dài
Còn về còn nhớ đến người hôm nay

Tình nhân tương tư nhau là những cảnh não nùng mà ND tả rất khéo. Chàng Kim nỗi lòng canh cánh luôn nghĩ đến người đẹp đã gặp trong ngày hội Ðạp Thanh:

Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!
Ðêm không ngủ được, vẩn vơ ngọn đèn tàn:
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng

Cậu đồ đã mang nặng gánh tương tư thì còn thiết gì đến sách, đến bút, đến đàn:

Phòng văn hơi giá như đồng
Trúc xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan

Ngồi nghe tiếng gió đập vào mành cũng nhớ đến ai - vì nhớ nhung mà trà mất ngon, mùi hương kém ngát:

Mành tương phân phất gió đàn
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình

Lưu Trọng Lư: Ðể đáp lễ lời cụ nghè Ngô Ðức Kế cho rằng Truyện Kiều “chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu” (báo Hữu Thanh, tháng 9 năm 1924) và nhất là lời kết tội gay gắt của cụ nghè Huỳnh Thúc Kháng rằng “Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại... Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phong, bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít...” (báo Tiếng Dân, tháng 9 năm 1930). Lưu Trọng Lư viết trong tuần báo Phụ Nữ Thời Ðàm vào cuối năm 1933: “Ai muốn làm thánh hiền thì đi đọc Ngũ Kinh, Tứ Thư. Hãy để Truyện Kiều lại cho bọn chúng tôi là hạng người trong những phút mệt nhọc, buồn rầu, chán nản, cần phải ngâm nga những câu như: Dưới cầu nước chảy trong veo/ Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”...

Ðào Duy Anh: Ðể kết luận tập “Khảo Luận về Kim Vân Kiều” xuất bản năm 1943, học giả Ðào Duy Anh khẳng định “Nguyễn Du đã gieo trong lòng ta một mối tin chắc chắn, một mối hy vọng dồi dào với tiếng nói của ta.” Cũng theo ông, ở thời Lê mạt, ta đã thấy có những tác phẩm có giá trị như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Phan Trần Truyện, Hoa Tiên Ký... viết bằng quốc âm, nhưng lời văn điêu trác, hay dùng điển cố, cho nên chỉ được các hạng thượng lưu trí thức thưởng lãm, mà không phổ cập trong dân gian. Duy Truyện Kiều văn chương đủ tính nghiêm trang, đường hoàng, điêu luyện, đủ khiến cho kẻ học thức phải khâm phục và yêu mến, mà lại đủ cả tính giản dị, phổ thông để khiến cho bình dân hiểu được mà thưởng thức.

Trần Trọng Kim: Trong cuốn “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo xuất bản năm 1925, học giả Trần Trọng Kim viết: “ND khéo dùng lối hoạt họa, chọn cái hình dáng nào rõ thật nổi, rồi tìm một vài chữ thật đúng mà tả ra, hễ đọc qua là nhận ngay được chân tướng:

Kim Trọng: Phong tư tài mạo tuyệt vời/ Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.

Mã Giám Sinh: Quá niên trạc ngoại tứ tuần/ Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.

Tú Bà: Thoắt trông nhờn nhợt màu da/ Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao.

Sở Khanh: Một chàng vừa trạc thanh xuân/ Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng.

Từ Hải: Râu hùm hàm én mày ngài/ Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.”

Hoài Thanh: Theo bài viết “Quyền Sống Của Con Người Trong Truyện Kiều” của nhà phê bình Hoài Thanh năm 1949, nếu nói về mức độ say Truyện Kiều thì không ai bằng ông nghè Chu Mạnh Trinh (một con người hào hoa phong nhã kiểu Kim Trọng). Nhà thơ lãng mạn này không phải chỉ say văn chương Truyện Kiều mà lại còn say luôn cả nàng Kiều như say một giai nhân có thực, đến nỗi đã nói đến những chuyện si tình như thêu tên Kiều vào tay áo, mơ tưởng dựng một ngôi nhà vàng cho Kiều ở, mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, và thấy như Kiều về thật! Chuyện lạ đời này cũng có thể hiểu được, vì theo Hoài Thanh, “ND có thể dạy cho ta biết ghét, biết yêu. Ghét những cái bất lương trong xã hội. Yêu những cảnh sống đáng yêu và nhân đó tránh cuộc sống tẻ nhạt, hiu hắt, cuộc sống của cỏ cây... Những cử chỉ uể oải, những câu nói thiếu lòng tin, những cái nhìn hời hợt, những tâm tư mệt nhọc hình như đương chờ đợi một cơn gió nào... Truyện Kiều ngay giờ đây vẫn còn khả năng cải tử hoàn sinh, vẫn có thể gieo chất nồng say vào cuộc sống...”

Nguyễn Lộc: Trong cuốn sách “Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18” xuất bản năm 1997 tại Hà Nội, nhà biên khảo Nguyễn Lộc có những nhận xét tinh tế về cách sử dụng ca dao, tục ngữ trong Truyện Kiều, mà tôi xin tóm lược trong những đoạn dưới đây: Có thể nói trong Truyện Kiều có hàng mấy chục câu thơ ND trực tiếp rút ra từ ca dao. Rất có thể hai câu: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” là rút ra từ câu ca dao: “Tiễn đưa một chén rượu nồng/ Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi”.

Ca dao trong Truyện Kiều được ND sử dụng như một thứ chất liệu nghệ thuật, chứ không như những trích dẫn. Không có câu nào ND dùng lại nguyên vẹn, mà tất cả đều nhào nặn lại cho phù hợp với phong cách chung của nhà thơ trong tác phẩm. Truyện Kiều có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra ảnh hưởng của ca dao, như:

Xót thay huyên cỗi xuân già
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi
Chốc đà mười mấy năm trời
Còn ra khi đã da mồi tóc sương

ND cũng dùng rất nhiều tục ngữ, như:

Ra tuồng mèo mả gà đồng
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào

Hoặc:

Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao

Ngôn ngữ Truyện Kiều vừa súc tích chính xác, đồng thời lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. ND có thể bằng một vài câu thơ khắc họa lên sắc nét chân dung ngoại hình của một nhân vật, hay miêu tả một biến cố, một cảnh ngộ. Một học trò giỏi đi thi bị rớt có thể tự an ủi bằng cách lấy hai câu thơ súc tích, hợp tình hợp cảnh của Truyện Kiều: Có tài mà cậy chi tài/ Chữ tài liền với chữ tai một vần. Tả một chàng đẹp trai hào hoa phong nhã thì ta có thể mượn ngay hai câu ND tả Kim Trọng: Phong tư tài mạo tuyệt vời/ Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa.

Hai câu: Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời, thực tuyệt đẹp và chí tình để một chàng trai thiết tha căn dặn người yêu khi giã từ. Và khi giấc mơ ấp ủ từ lâu nay mới thành sự thực, ta vội kêu lên: Ðến bây giờ mới thấy đây/ Mà lòng đã chắc những ngày một hai.

Qua những nhận định kể trên của các văn nhân lỗi lạc ngoại quốc và Việt Nam về tuyệt tác phẩm Truyện Kiều thì thiên tài Nguyễn Du đã chứng minh một cách hùng hồn rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ tuyệt vời cho thi ca. Chúng ta còn chờ đợi gì nữa mà không đọc lại Truyện Kiều thật kỹ càng để yêu thêm tiếng Việt của chúng ta?

Ðàm Trung Pháp
(Nguồn: Thư viện Sáng Tạo)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Đinh Cường triển lãm tranh về thi sĩ Bùi Giáng

15 bức chân dung thi sĩ 'điên' do Đinh Cường phác họa và một bức vẽ thiếu nữ có đề hai câu thơ Bùi Giáng được trưng bày tại phòng tranh Tự Do, TP HCM.

Với loạt tranh sơn dầu có tên chung "Bùi Giáng trong mỗi sát na",
nét vẽ của Đinh Cường mang đến cho người xem một "thi sĩ điên" vừa lạ lẫm, vừa rất đỗi thân quen.

Image
"Bùi Giáng trong mỗi sát na", tranh Đinh Cường.
Họa sĩ không chỉ khắc họa nét khắc khổ, phong trần của Bùi Giáng, mà sự hồn nhiên, ngây thơ của ông trước cuộc đời cũng được thể hiện tài tình. Ngoài các bức chân dung này, có một bức tranh màu nước do Đinh Cường vẽ năm 1972 được chính Bùi Giáng viết tặng vào hai câu thơ: "Lớp phiêu bồng mọc trăng ngàn / Thành xưa phố cũ muôn vàn phía sau".

Đinh Cường cũng giới thiệu nhiều tranh chân dung, phong cảnh... mang đậm hồn sắc quê hương, đúng với phong cách giản dị của ông.

Họa sĩ Đinh Cường sinh năm 1939. Ông là gương mặt quen thuộc trong nhóm Hội họa sĩ Việt Nam vào thập niên 60 - 70 ở miền Nam. Không sinh trưởng ở Huế, nhưng do dạy đại học cũng như làm việc ở cố đô nhiều năm, Đinh Cường được người dân nơi đây xem một họa sĩ tài năng của vùng đất này.

Năm 1989, ông sang Mỹ định cư. Trong hầu hết sáng tác của Đinh Cường là hình ảnh quê hương với dòng sông, tảng đá, người thiếu nữ, bạn hữu... Tất cả được phác họa đậm đà, sắc nét.

Về nước triển lãm lần này, Đinh Cường chia sẻ: "Tôi đã vẽ trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi chốn. Có những lúc gần như tuyệt vọng, nhưng tôi vẫn tiếp tục vẽ, tiếp tục suy nghiệm để thấy mình được cứu rỗi".

Image
Từ trái sang: họa sĩ Đinh Cường, Phạm Văn Hạng, Hoàng Trọng Bân, Thân Trọng Minh. Ảnh: S.H.
Lần triển lãm này, Đinh Cường có ba người bạn đồng hành: họa sĩ Thân Trọng Minh, Hoàng Trọng Bân và điêu khắc gia Phạm Văn Hạng.

Thân Trọng Minh sinh năm 1943 tại Huế, vốn là bác sĩ nhưng lại mê viết văn, viết kịch với bút hiệu Lữ Kiều từ 1958. Từ những năm 80, Thân Trọng Minh chuyển sang cầm cọ. Trái với vẻ nho nhã, khoan thai trong sinh hoạt hàng ngày, màu sắc trong tranh ông luôn mạnh mẽ, đối chọi dữ dội, thể hiện chất suy nghiệm và triết lý cao. Ông góp vào triển lãm 20 bức sơn dầu.

"Tôi vẽ ở tuổi 40, như một cách tự điều chỉnh mình trước cuộc sống. Giờ đây tôi nghiệm ra hội họa đem lại bao nhiêu điều tốt lành, cho mình, cho người. Chỉ làm cho người xem vui mắt thôi, cũng là một hạnh phúc", Thân Trọng Minh nói.

Hoàng Trọng Bân sinh năm 1942 ở Đà Nẵng. Ông dự triển lãm với 7 bức sơn dầu mang phong cách ấn tượng - biểu hiện, nhẹ nhàng và lãng mạn, phảng phất trào lưu văn nghệ thời tiền chiến.

"Con đường nghệ thuật là con đường không có điểm dừng. Đôi khi ta ngỡ đã sắp đến đích nhưng đích đến lại càng xa hơn. Hy vọng và thất vọng, phấn khích và chán nản cứ đan xen vào nhau trên suốt hành trình đi tìm cái đẹp. Nhưng dù sao, nó cũng làm cho tâm hồn và cuộc sống thăng hoa hơn", Hoàng Trọng Bân bày tỏ.

Tham gia triển lãm với 5 bức tượng, điêu khắc gia Phạm Văn Hạng cho biết, với ông, "sáng tạo là cuộc chơi đầy ý thức trong sự học vô cùng". Sinh năm 1942 tại Đà Nẵng, nhà điêu khắc này từng nổi tiếng với tác phẩm Chứng tích, bức tranh có gắn thịt xương người, trưng bày ở Sài Gòn năm 1970, lên án tội ác chiến tranh. Các tác phẩm Phạm Văn Hạng trưng bày lần này mang đậm thông điệp về hòa bình của thế giới.

Triển lãm chủ đề "Bốn người bạn" khai mạc sáng 14/8 tại phòng tranh số 53 Hồ Tùng Mậu, quận 1, TP HCM, kéo dài đến ngày 28/8.

Thất Sơn
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Nhạc sĩ Từ Công Phụng

Mặc Lâm
Từ Công Phụng là một người nhạc sĩ tài hoa, nổi tiếng rất sớm trong vùng trời âm nhạc Việt Nam khi mới vừa 17 tuổi, với nhạc phẩm “Bây giờ tháng mấy”.

Tuy không phải là người dễ dãi trong sáng tác, nhưng số lượng tác phẩm của ông được người nghe chấp nhận và cảm thụ không ít. Hơn hai trăm tác phẩm trong đó nhiều ca khúc đã nằm sâu trong ngăn trí nhớ của người nghe như: Trên ngọn tình sầu, Mắt lệ cho người tình, Kiếp dã tràng, Giọt lệ cho ngàn sau, Tuổi xa người, Bài cho em, Vào mưa, Ơn em….

Từ Công Phụng có cái nhìn tinh tế trước những vần thơ hay. Ông nắm rất nhanh cái hồn mà bài thơ ẩn chứa phía sau những con chữ bình thường. Đối với ông, cảm nhận ngữ nghĩa của bài thơ chưa đủ mà phải rung với cái thần của nó, bật ra những từ ngữ mới trong âm nhạc, làm cho nét nhạc long lanh và sâu đắm hơn.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng nói: "Khi tôi đọc bài thơ thì tôi cảm nhận giòng nhạc cho bài thơ đó, đó là khởi đầu cho một bài hát mà tôi có thể viết dựa theo thơ. Trong một bài thơ thường thường tôi làm thì tôi phải thêm vào hay bớt đi cho phù hợp với giòng nhạc. Ca khúc là một hình thức nhẹ nhất trong cõi nhạc vì cõi nhạc thì lúc nào cũng mênh mông mà giòng nhạc lớn thì phần đông khán giả họ nghe không được, họ không hiểu thấu, cho nên phải dùng tới ca khúc, có nghĩa là dùng nhạc và lời để diễn đạt tư tưởng của mình.


Khi tôi đọc bài thơ thì tôi cảm nhận giòng nhạc cho bài thơ đó, đó là khởi đầu cho một bài hát mà tôi có thể viết dựa theo thơ.

Thơ là một lời hát có sẵn, nếu trong lời thơ nó có nhạc, tuy nhiên nếu có người nào hiểu thấu về âm nhạc thì biết là nó có những tiết tấu của nó, nó có luật riêng của nó, và cái phần cân đối của nó, giống như mình viết văn vậy thôi, thì tôi phải bắt buộc ngắt đi hoặc tôi phải thêm vào. Ít có bài thơ nào mà tôi làm hết nguyên văn, mà tôi phải sửa đi chút ít, không ít thì nhiều, thế thôi.

Bài thơ nổi tiếng nhất của Du Tử Lê là bài “Trên ngọn tình sầu”, trong đó câu đầu tiên của nó là” Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi từ những ngày con nước lớn". Cái dòng nhạc nó đi từ trên xuống, nó đổ xuống, tự dưng ở cuối nốt nó lại bốc lên cao thì nó không được đẹp nên bắt buộc tôi phải bỏ chữ "lớn" đi và tôi thế bằng chữ “về”, thí dụ như là "Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi từ những ngày con nước về" thì nó hợp lý hơn là "từ những ngày con nước lớn", chẳng hạn như thế!

Về sau này có những giòng nhạc có những câu như là "ngoài trời mưa mau, ngoài trời mưa mau tay vuốt mặt khôn cùng", nó chỉ có một câu "ngoài trời mưa mau, tay vuốt mặt khôn cùng" nhưng tôi thêm vào "ngoài trời mưa mau, ngoài trời mưa mau, tay vuốt mặt khôn cùng", và “bầy sẻ cũ hom hem chiều mái xám, trời em cao chân nhỏ cũng không về…" đó là nguyên văn, thì tôi sửa như thế này: "Bầy sẻ cũ hom hem, chiều mái xám rêu xanh", mái đã xám nhưng mà còn rêu xanh nữa, nó phủ thêm lớp rêu nữa, có nghĩa là thời gian rất là lâu, tức là nó cũ lắm… Và "trời êm cao chân nhỏ cũng không về" thì tôi thêm vào “trên giòng sông tội lỗi” cho nó đối câu trên với lại câu dưới. Thì đó là những cái sửa mà tôi cần phải sửa cho nó đẹp bài nhạc."
Trên ngọn tình sầu

Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi
Từ những ngày con nước về
Ngoài trời mưa mau ngoài trời mưa mau
Tay vuốt mặt không cùng

Bầy sẻ cũ hom hem
Chiều mái xám rêu xanh
Trời êm cao chân nhỏ
Cũng không về trên dòng sông tội lỗi

Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Môi thâm khô từ thuở định hôn người
Ngày tháng hạ khi không mà trở rét
Giọt nắng vàng như sương mờ lạnh ngắt

Sao khi không người ngoảnh mặt kiêu sa
Chiều qua đó chân ai còn ríu rít âm thưa
Lời ai ru như mơ cho trời xuống thật gần
Người trông ngóng hương đưa mùi mái tóc đêm mưa

Nhẹ theo lá oan khiên lả tả mái hiên người
Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Con dế buồn tự tử giữa đêm sương

Bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ
Em ở đó bờ sông còn ẩm cát
Con sóng tình vỗ mãi một âm quên
Tình yêu là nghị lực sống
"Ca khúc gây ảnh hưởng nhiều nhất là bài “Ơn em”, tức là “Giữ đời cho nhau”, cũng là thơ Du Tử Lê, nhờ chỗ tôi ca ngợi người tình và tôi biết trân quý người đàn bà cho nên bài đó gây cho tôi nhiều rắc rối lắm, nhất là các ông cứ phải phiền trách tôi hoài, bởi vì các bà nghe cái bài ấy thích quá cho nên các ông đâm ra không được vui lắm (cười) nhưng mà đó là lối mà các ông phải hiều, phải trân quý người đàn bà, bởi vì trong đời sống của các ông mà không có các bà thì các ông chẳng làm nên được sự nghiệp gì, phải không?
Họ như một cái bóng bên cạnh chăm sóc mình, giúp đỡ mình này kia. Hồi xưa là "chồng chúa vợ tôi" nhưng từ khi bài này ra thì "chồng" không còn là "chúa" nữa, và "vợ" không phải là "tôi" nữa. Đại khái mình làm một cuộc thay đổi dựa trên bài thơ của Du Tử Lê để làm một cuộc giải phóng phụ nữ."
Ơn em

Ơn em thơ dại từ trời, theo ta xuống biển, vớt đời ta trôi
Ơn em dáng mộng mưa vời, theo ta lên núi, về đồi yêu thương
Tạ ơn em... tạ ơn em...

Ơn em ngực ngải môi trầm, cho ta cỏ mặn, trăm lần lá ngoan
Ơn em hơi thoáng chỗ nằm, giấu quanh giấu quẩn nỗi buồn một nơi
Tạ ơn em... tạ ơn em...

Ơn em tình như mù lòa, như con sâu nhỏ bò qua giấc vùi
Ơn em hồn sớm ngậm ngùi, kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau
Tạ ơn em... tạ ơn em...
Bà Từ Công Phụng chia sẻ: "Trong đời sống vợ chồng thì có một cái giao ước với nhau, cái giao ước là yêu thương nhau lúc thời trẻ, rồi chung sống với nhau, rồi có những vui buồn trong đời sống, và để đi tới mảnh đời còn lại trong tuổi già bóng xế. Và đã giao ước với nhau như thế nào? Giao ước với nhau là sẽ yêu nhau trọn đời, và khi buồn vui cũng như khi đau ốm cũng cùng chia sẻ với nhau. Thì khi mà nghe những bài như "Ơn em" mà nhà tôi đã cho, không phải cho riêng tôi mà cho những người vợ đang sống trong một đời sống của người vợ thương yêu chồng và giúp đỡ chồng, không phải chỉ khi còn trẻ mà trong những lúc tuổi già.

Có những người đàn bà suốt một đời hy sinh cho chồng, cả trong thời gian chồng vắng mặt, yêu thương chồng không kể những nếp xấu hay nếp tốt, thì cái sự "Ơn Em" là một bù đắp cho những người đàn bà đó, không phải riêng tôi. Và tôi rất là vui khi mà nhà tôi thương yêu những người đàn bà đã sống với chồng với con, với những đưa cháu ngoại cháu nội kế tiếp, và ôm ấp tất cả trong tình thương cho người chồng. Thì mong rằng mấy anh chị em, cũng giống như quý bà, nghe bài "Ơn Em" mà cảm nhận rằng tình yêu của chồng mình đối với mình rất là nồng nàn."
Có những người đàn bà suốt một đời hy sinh cho chồng, yêu thương chồng không kể những nếp xấu hay nếp tốt, thì cái sự "Ơn Em" là một bù đắp cho những người đàn bà đó, không phải riêng tôi.

Bà Từ Công Phụng
Hiền nội của nhạc sĩ Từ Công Phụng vừa chia sẻ với chúng ta về niềm kiêu hãnh thầm kín của một phụ nữ được chồng trân quý như thế nào. Trong cái tình cảm sâu nặng ấy, phải chăng người nhạc sĩ đã hòa cùng với những vần thơ mênh mông tình nghĩa để mang đến cho người trăm năm của ông những tuyệt vời được gọi là hạnh phúc!

Mấy tháng gần đây, tin dữ đã ập xuống gia đình người nhạc sĩ tài hoa này. Khi hay tin mình bị ung thư, cả nhà như hoảng loạn! Tin dữ loan truyền trên hệ thống truyền thông và hàng ngàn người hâm mộ giòng nhạc Từ Công Phụng đã bằng nhiều cách chi sẻ nỗi buồn với gia đình nhạc sĩ, còn chính ông thì sao?

Trong lần gặp mới đây nhất tại thành phố Portland (Oregon), nhạc sĩ tâm sự với chúng tôi:

"Cuộc sống của mình trôi theo dòng đời giống như dòng sông từ nguồn chảy ra biển cả vậy. Nó có những khúc quanh trong đời sống mà mình gặp phải và bắt mình suy nghĩ về đời sống, thì những bài hát về sau này có một chủ đề duy nhất là viết về tình yêu; nhưng tình yêu ở đây nó trải rộng ở chỗ thân phận làm người cũng giống như định mệnh đưa đẩy mình tới hoàn cảnh nào đó mà mình phải cố gắng gìn giữ tình yêu trong suốt cuộc đời của mình."

Và đối với người yêu mến mình thì nhạc sĩ nghĩ sao khi cuối cùng chiếc lá cũng rơi về nguồn cội? Người nhạc sĩ có một nghị lực rất mạnh mẽ này chia sẻ :
"Trong thời gian vừa rồi, lúc tôi nằm trên giường bệnh thì tôi nhận rất nhiều điện thư cũng như thư từ điện thoại gọi tới chúc lành tôi, đó là điều làm tôi rất là cảm động. Không có cái gì bù đắp được tình thương yêu mà quý khán thính giả đã dành cho tôi trong thời gian qua!

Thế mới biết rằng chính vì tình thương yêu đó mà tôi có nghị lực chống lại bệnh tật và tôi trở lại với đời sống, với quý vị khán thính giả đã từng dành cho tôi niềm ưu ái như vậy. Nói tóm lại, chính vì tình thương đó mà tôi trở lại được với đời sống ngày hôm nay.

Tôi chân thành cảm ơn tất cả những người yêu mến nhạc của tôi cũng giống như bạn bè yêu mến tôi trong hơn nửa đời người qua với những thăng trầm, những đớn đau mà mọi người đã có dịp san sẻ với tôi, chia sẻ với tôi khiến cho tôi rất lấy làm khích lệ. Cuối cùng tôi xin gửi tới quý vị khán thính giả lời cảm ơn chân tình, đã dành cho tôi một cảm tình đặc biệt trong cuộc đời của tôi. Xin cảm ơn quý vị."

Và cuối cùng xin được trở lại với buổi ban đầu khi tiếng hát trong veo của người nhạc sĩ cất lên trong khuôn viên trường đại học nhạc phẩm đưa tên tuổi của ông vào với dòng nhạc thính phòng Việt Nam và cũng là niềm hưng phấn chính cho những cảm hứng sau này: nhạc phẩm "Bây giờ tháng mấy" do Bằng Kiều & Trần Thu Hà trình bày…
Bây Giờ Tháng Mấy

Tiếng hát : Bằng Kiều & Trần Thu Hà

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm
Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi,
trách nhau một lời thôi
Tâm hồn mình đâu lẻ đôi .

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm màu hoa em cài
Chiều nay nhớ em rồi và nhớ
áo em đẹp màu thơ,
môi tràn đầy ước mơ

Mai đây anh đưa em đi về,
mưa giăng chiều nắng tàn
cho buốt lạnh chúng mình.
Em ơi, thôi đừng hờn anh nữa,
nhìn nhau buồn vời vợi,
để mùa đông buốt giá bờ vai mềm .

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm mùa xuân trên đời
Mùa đông chết đi rồi mùa xuân
mắt em đẹp trời sao
cho mình thương nhớ nhau
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »


Image
Ngày Mưa Trên Thành Phố

Nhạc & Lời : Thanh Trang
Hoà tấu : Thanh Trang

Đường im vắng trong ngày mưa trên thành phố buồn
Đường im vắng em về qua gót chân bước dồn
Mùa Thu đến bên trời xa
Lòng hoang vắng bao ngày qua
Chiều mưa xuống trên cỏ hoa thêm buồn thiết tha

Đường im vắng trong mù sương xóa tên phố phường
Ngày Thu xám trên hàng cây xác xơ cuối đường
Về ngang phố em còn đây
Còn hơi ấm trong vòng tay
Chiều mưa rơi đường loang dấu chân bóng in dấu giầy

Đường về quạnh vắng mình em dưới mưa nỗi riêng sầu lắng
Đường chiều lạnh giá vắng anh chốn xa nhớ thêm ngày qua
Đèn đường mờ sáng rộng con phố hoang gió đêm lạnh căm
Lòng gợn buồn tênh làn mưa phất phới rơi rơi triền miên

Đường im vắng trong mù sương xóa tên phố phường
Ngày Thu xám trên hàng cây xác xơ cuối đường
Về ngang phố em còn đây
Còn hơi ấm trong vòng tay
Chiều mưa rơi đường loang dấu chân bóng in dấu giầy
Chiều mưa rơi lòng như cánh chim lạc trong gió bay ...


Ngày mưa trên thành phố
Đất Cali thường chỉ có mưa từ bão mùa đâu đó ngoài khơi đổ bộ vào; còn như mưa gió theo kiểu định kỳ khả dĩ có thể ghi đuợc lên lịch hàng năm để thiên hạ còn biết đuờng mà rờ thì coi như chuyện đó không có !

Thỉnh thoảng củng có một màn mưa theo kiểu “du kích”; mưa hồi nào trong đêm mình không hay vì đã bảo là “du kích” cho nên không có sấm chớp ì ầm gì hết, sáng nhìn ra sân thấy còn những vạt nước đọng, cỏ trước vườn sau cũng lấp loáng ánh nước, và mặt đuờng trải nhựa đen chưa khô ráo nên trông càng đen. Thì mới biết là trong đêm quả có mưa !

Tuần trước đây trong chương trình trên Đài VOA tôi có đưa bài “Mưa đêm” của Huyền Linh vào chương trình. Có cả bài “Cô hàng cà-phê” của Canh Thân do Ngọc Bảo hát nữa. Tôi thu trọn vẹn cả hai bài –vì trong chương trình chỉ trích đọan - để những lúc lái xe đi thăm mấy đứa cháu thì có cái nghe, giải trí.

Một buổi như thế, trên đuờng về, nghe đi nghe lại bài “Mưa đêm” của Huyền Linh, nhà tôi ngồi bên cạnh nói là mưa đêm ở cái xứ này không nên thơ như bên nhà với những ngõ hẻm sâu hút, chỗ sáng chỗ tối, hoặc ở ngoài những con đuờng lớn với những hàng me hai bên mặt đuờng vừa giao nhau vừa trùm lấy luôn cả những ngọn đèn đuờng cho nên những đêm mưa trông lên thấy những vùng ánh sáng xanh tươi như màu ngọc bích. Tôi nói ấy là Sài Gòn hay Hà Nội của thời xa xưa rồi. Bây giờ thì họa chăng chỉ có Huế mới còn những cảnh đó. Đang chuyện trò thì tự nhiên trong đầu tôi hiện lên câu “Đường im vắng trong ngày mưa trên thành phố buồn”, nhớ lại hình ảnh những ngày mưa ở Đà Lạt khi xưa ! Câu đó kèm theo nét nhạc cứ thế tiếp tục lởn vởn trong đầu cho đến khi về tới nhà.

Vào đến nhà, cứ thế ngồi ngay vào ghế bên cái P.C., mở “software” để ghi ký âm ra; chừng hơn một tiếng sau, chỉnh lui chỉnh tới một vài đoạn giai điệu, và thế là hòan tất phần nhạc. Trưa hôm sau thì xong phần lời; ngồi vào đàn, soạn cái hòa âm, đàn và ghi ghi âm tổng cộng 6 “tracks”.

Bản đàn thì có rồi; chỉ còn chờ người hát, và bài này là dành cho giọng nữ !
Chỉ có điều là bài hát viết xong rồi thì cái mình hình dung ra từ trí tưởng tượng nó lại “ám” luôn vào người từ lúc nào không hay, cho nên suốt một hai ngày kế tiếp, nhìn cây cỏ nơi sân trước vườn sau cứ một mực đinh ninh là khỏi cần tưới tiếc gì cho chúng vì đã có trận mưa vào một ngày nào đấy nó đã đáo qua trong tuần. Cho đến một lúc chợt như có ai tắt cái “contact” trong đầu, cắt đứt mạch nối giữa mộng và thực thì bấy giờ mới hớt hải đi mở các vòi “sprinklers” ra tưới cỏ tưới hoa trước khi chúng chẳng có ăn nhậu gì với bài hát mà khi không lại phải héo oan !

Thanh Trang
Nam Cali, cuối Thu 2009
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Image

Ly cà phê đắng và hương vị cuộc đời
Câu nói của bạn tôi: "Trong ly cà phê có hương vị của cuộc sống" tình cờ đã dẫn dắt tôi đến với thú văn hoá ẩm thực cà phê. Từ một đệ tử của trà tôi dần dà kiêm cả đệ tử của cà phê.

Nhưng thú vị hơn thế, tôi đã được biết, và bây giờ muốn được sẻ chia cùng bạn bè, từ một vài hiểu biết về sự tinh tế của cách thức lựa chọn, xử lý, pha chế để có được chất cà phê thuần khiết đến đôi chút chất triết lý cuộc đời thú vị ẩn chứa trong một tách cà phê thơm ngon.


Chọn hạt cà phê - Chắt lọc niềm vui


Có hai loại cà phê phổ thông trên thị trường, đó là Robusta và Arabica.

Robusta được trồng ở vùng đất thấp so với mặt biển, nơi có nhiệt độ ấm áp, là những hạt cà phê có mùi đậm, hàm lượng caffeine cao nhưng không nhiều hương thơm, gọi là cà phê vị. Arabica thì mọc tốt ở nơi có địa thế cao, đất ẩm nhưng không đọng nước. Arabica vị nhạt hơn nhưng thơm hơn, được gọi là cà phê mùi.

Nhưng dù là Arabica hay Rosbuta, không phải bất kỳ hạt cà phê nào cũng đem lại một tách cà phê thơm ngon. Muốn có được loại cà phê hảo hạng thì điều đầu tiên cần chú ý là việc lựa chọn hạt cà phê. Chỉ những hạt cà phê được kỳ công lựa chọn mới mang lại cho bạn tách cà phê như ý.
Image
Cũng như thế, trong quá trình sống ta luôn gặp những điều thành công và thất bại. Thất bại cho ta bài học, thành công đem lại niềm vui. Nhưng mỗi ngày qua luôn có rất nhiều sự kiện mà không phải sự kiện nào cũng cần thiết phải ghi nhớ lấy.

Muốn sống một cuộc sống tích cực và hạnh phúc, ta chỉ cần lưu lại trong ký ức mình những bài học lớn nhất và những niềm vui sâu sắc nhất. Bỏ qua những kỷ niệm đau buồn trong đời, những lỗi lầm không thể sửa đổi, dù của mình hay của ai khác.

Và đừng bao giờ xây dựng một ngày của mình bằng niềm vui có được khi khiến người khác phải đau khổ.

Đúng độ chất cà phê - chính xác buồn, vui cuộc đời

Rang hạt cà phê ở nhiệt độ thích hợp và xay chúng đúng cách cũng là bí quyết trong quá trình chế biến cà phê. Quá trình này có thể tăng hoặc thêm hương vị cho loại cà phê hảo hạng hoặc vô tình phá hủy những hạt cà phê ngon mà chúng ta đã tốn nhiều công sức chọn lựa.

Rang thiếu lửa hay xay cà phê quá thô sẽ khiến cà phê có mùi vị nhạt nhẽo, buồn tẻ, còn nếu rang quá lâu hay xay quá nhuyễn sẽ khiến bột cà phê trở nên khét đắng.

Như khi nhìn nhận một vấn đề xảy ra trong đời, dù khổ đau hay hạnh phúc, bạn hãy nhìn thẳng vào nó, đau khổ đúng như cần phải đau khổ như thế, và hạnh phúc đúng như bạn được hạnh phúc như thế.

Khi bạn biết chính xác điều gì đang xảy ra, không thậm xưng những đau đớn, không lơ đãng mà quên tận hưởng những niềm vui nhỏ…, bạn thực sự đang sống cuộc sống đẹp đẽ của mình, đi chính xác con đường của mình, nếm trải tất cả những niềm vui, nỗi buồn mà nó mang đến cho bạn, và không cần phải hối tiếc điều gì.

Giọt cà phê thanh khiết - con tim nhân ái với người

Dùng ly và phin cà phê sạch cộng với thứ nước thanh khiết nhất để pha cà phê. Chỉ có như vậy, cà phê bạn pha mới có hương vị tinh khiết, thơm ngon.

Cũng như việc mỗi ngày bạn đã trăn trở với bao suy tư, gặp gỡ bao nhiêu con người. Một ngày chỉ thật sự đẹp khi bạn đã sống với những ý nghĩ hồn nhiên, nhân hậu và đã dành cho những người bạn gặp thứ tình cảm chân thành.

Cẩn trọng trong từng lời sẽ nói, giống như lau thật khô phin pha cà phê trước khi pha, bạn sẽ mang lại cho người đối diện cảm giác được trân trọng hay ít ra không vô ý làm tổn thương ai.

Và khi thật sự trong lòng bạn là những tình cảm tốt lành, nụ cười của bạn sẽ tỏa sáng và bạn có thể mang lại điều tốt đẹp nhất cho ai đó may mắn được ở bên cạnh bạn, cũng như mang lại nỗi an lành cho chính mình.

Nóng hổi ly cà phê - nồng nhiệt với cuộc đời

Hãy thưởng thức ly cà phê ngay khi mới pha xong. Và bạn hãy nói lời cảm ơn ngay khi có ai đó làm bạn vui, tức giận ngay khi người làm bạn buồn còn đứng trước mặt bạn, nhận lỗi ngay khi làm ai đó khóc, an ủi ngay khi bạn bè gặp chuyện buồn…

Bạn cần thiết phải sống hết mình với thời gian hiện tại, bởi vì thời gian đã qua đi không bao giờ quay trở lại nữa. Điều này thật cũ kỹ nhưng sẽ không bao giờ hết ý nghĩa. Bạn hãy trân trọng ngay chính giây phút này đây, dùng thời gian hiện tại này để làm điều gì đó ý nghĩa, thay vì để tất cả trôi qua rồi dùng nốt thời gian còn lại hối tiếc về mọi điều đã không làm. Đừng lãng phí thời gian hiện tại để đắn đo quá mức hay để dằn vặt mãi về những điều đã xảy ra.

Như cần phải thưởng thức ngay ly cà phê mới pha xong để cảm nhận hương thơm và vị quyến rũ của nó, thay vì để nó trở nên chua và đắng ngắt.

Không tiếc bã cà phê - đứng thẳng lên sau nỗi buồn

Lời cuối cùng tôi muốn sẻ chia là đừng bao giờ dùng lại bã cà phê đã pha. Khi muốn có một tách cà phê mới, bạn hãy bắt đầu bằng những thìa bột cà phê mới.

Trong đời cũng thế, chiêm nghiệm về những thất bại luôn mang cho ta bài học tốt. Nhưng khi bắt đầu đứng lên, dù để làm lại điều mà bạn đã thất bại hay để bắt đầu làm điều gì đó khác, bạn hãy chuẩn bị cho mình lòng nhiệt tình và tự tin mới mẻ. Đừng lặp lại những sai lầm cũ, và cũng đừng đắng cay mãi về những đau khổ cũ, tất cả đã qua rồi.

Chia sẻ một vài hiểu biết nhỏ nhoi về nghệ thuật pha chế cà phê và triết lý cuộc đời óng ánh trong ly cà phê, người viết hy vọng mỗi ly cà phê đắng sẽ ngọt ngào thơm tho thêm và mỗi cuộc đời dù có nặng nhọc, phiền muộn... cũng sẽ nhẹ nhàng và tươi đẹp hơn.


Hoài Thu
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest