Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tình bạn Mỹ-Việt giữa hiểm họa bành trướng

*Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Nước Việt Nam ta đứng trước một thử thách hiểm nghèo.

Image
Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates (trái) được Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh chào đón tại Bộ Quốc Phòng Việt Nam ở Hà Nội năm 2010.
(Hình: Carolyn Kaster/AFP/Getty Images)



Nhóm lãnh đạo của nước láng giềng phương Bắc đang công khai thực hiện chính sách bành trướng theo kiểu lấn lướt ăn hiếp, vừa ăn cướp vừa la làng ở những vùng sâu trong lãnh hải của ta. Chúng cho tàu tuần tiễu và tàu giám sát vào trong vùng biển quốc gia của ta, liên tiếp cắt cáp thăm dò dầu khí của 2 tàu Bình Minh 2 và Viking II, chúng xua đuổi bà con ngư dân ta đang đánh cá trong vùng biển của ta, còn tịch thu số cá bà con ta đánh được. Ðã vậy Bắc Kinh còn lu loa là phía Việt Nam vi phạm vùng biển của Trung Quốc, gọi vùng biển ấy là vùng tranh chấp. Chúng tổ chức thao diễn quân sự, diễu võ dương oai trên vùng biển Ðông của Việt Nam, trên vùng biển Tây của Philippines, và ngạo mạn dậm dọa trên mạng thông tin của chúng rằng sẽ dạy cho Việt Nam một bài học, rằng sẽ “đánh cho Việt Nam vỡ mặt.”

Nhân dân Việt Nam luôn kiên cường chống lại mọi hiểm họa ngoại xâm đến từ phương Bắc.

Lịch sử tồn tại và phát triển của Việt Nam từ xa xưa đến ngày nay đã chứng minh sự thật ấy.

Trước hiểm họa ngoại xâm, dân tộc ta luôn cố kết thành một khối chung lòng chung sức hy sinh chiến đấu bảo vệ nền độc lập của đất nước. Chúng ta bao giờ cũng dựa vào sức mình là chính, dùng nội lực dân tộc làm sức mạnh quốc phòng tất thắng.

Trong lĩnh vực đối nội, nhân dân ta yêu cầu đảng Cộng Sản đang giữ trọn quyền lãnh đạo đất nước hãy khẩn thiết đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, mạnh bạo thực hiện cải cách sâu rộng hệ thống cầm quyền, từ độc đoán sang dân chủ, từ hạn chế tự do của công dân sang tôn trọng mọi quyền tự do công dân có ghi trên Hiến Pháp, trả tự do cho mọi công dân dân chủ và yêu nước đang bị cầm tù - hầu hết là những người đi tiên phong trong chống bành trướng phương Bắc - ban hành và thực thi rộng rãi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do phản biện, tự do tôn giáo. Cuộc đổi mới hệ thống theo hướng tự do dân chủ như thế sẽ nhân lên nhiều lần nội lực dân tộc trong cuộc chống trả họa ngoại xâm. Nước Việt Nam ta vươn xa tới phía trước sẽ bỏ hẳn lại phía sau chế độ toàn trị độc đảng, độc đoán của nước Trung Quốc bành trướng và chậm tiến về chế độ chính trị.

Sự ủng hộ quốc tế đối với nước ta trước họa bành trướng phương Bắc là rất cần thiết. Cả thế giới tiến bộ, từ Ðông Nam Á, Ðông Bắc Á, Ấn Ðộ, Úc, Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada... đều đứng về phía nhân dân ta chống hành động ngạo mạn phi pháp của phía Trung Quốc.

Thái độ rõ ràng, kịp thời của Hoa Kỳ, cường quốc số một của thế giới, trong cuộc khủng hoảng biển Ðông là rất quan trọng. Từ năm ngoái Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã tuyên bố rằng: “Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia về thông thương trong vùng biển Ðông và Thái Bình Dương,” làm cho đại diện Trung Quốc Dương Khiết Trì giận dữ bỏ phòng họp.

Mới đây, cuộc đối thoại Việt-Mỹ lần thứ tư về chính trị, an ninh và quốc phòng đã diễn ra ngày 17 tháng 6, 2011 tại thủ đô Washington với một thông báo chung, cam kết hợp tác nhằm bảo đảm cho một vùng Châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phồn vinh và an ninh. Hai bên đã trao đổi ý kiến về tình hình mới đây ở vùng biển Ðông, cho rằng việc gìn giữ hòa bình, ổn định, an ninh, và tự do hàng hải trong vùng biển Ðông cần được giải quyết qua hợp tác, thương lượng mà không dùng sức mạnh.

Bản thông báo chung chỉ rõ các yêu sách về đảo và lãnh hải phải phù hợp với luật quốc tế hiện hành, trong đó có Luật Biển năm 1982. Hai bên chỉ rõ sự quan trọng của Tuyên bố về quy tắc ứng xử của các bên (Declaration of Conduct) năm 2002 và khẳng định các sự kiện mới xảy ra trong vùng biển Ðông không làm ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định trong vùng và đặc biệt không gây trở ngại cho việc tự do giao thông hàng hải theo đúng luật quốc tế.

Bản thông báo chung kết luận rằng cuộc đối thoại Việt-Mỹ lần thứ tư đã tăng cường và làm sâu sắc hơn tình hữu nghị và sự hợp tác giữa 2 nước. Cuộc đối thoại thứ 5 sẽ diễn ra ở Hà Nội năm 2012. Trong cuộc đối thoại này đại diện phía Việt Nam là Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại Giao Phạm Bình Minh (con của nguyên Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch; ông Thạch từng nhận xét sau cuộc họp Việt-Trung ở Thành Ðô cuối năm 1991 rằng “một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu”).

Trong lúc Bắc Kinh bực tức cho rằng Hoa Kỳ ở xa, thuộc lục địa khác, không được can thiệp gì đến vùng biển của Trung Quốc, thì Hoa Kỳ vẫn khẳng định đây là vùng có lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ. Không những thế, Hoa Kỳ còn cho hàng không mẫu hạm George Washington và một số khu trục hạm mang nhiều tên lửa Tomahawk vào vùng Ðông và Tây Thái Bình Dương. Cùng lúc Hoa Kỳ báo tin một giàn khoan lớn của Hoa Kỳ mang tên Monarch Ocean đang được chuẩn bị để đưa vào biển Ðông.

Cũng không phải ngẫu nhiên mà cuốn sách mới Death by China (Cái chết từ Trung Quốc) của 2 học giả Peter Navarro và Greg Autry được giới thiệu rộng rãi trên toàn nước Mỹ. Cuốn sách phơi bày mặt trái của hiện tượng “Phép lạ Trung Hoa” (Chinese miracle), chỉ rõ Trung Quốc là tai họa cho toàn nhân loại, là tên đế quốc mới thực sự, là tai ương cho chính dân tộc đại Hán, đang nô lệ hóa nhân dân Mông Cổ, Tây Tạng, Tân Cương, đang bóc lột tận xương tủy dân nước mình, đang xuất khẩu hàng xấu, hàng giả, hàng nhái, hàng chứa độc chất ra khắp thế giới, đang bành trướng sang Châu Phi, Nam Mỹ, đang nô dịch hóa Ðông Nam Á...

Cũng không phải ngẫu nhiên mà tờ báo lớn The Diplomat (Nhà Ngoại giao) số ra ngày 16 tháng 6, 2011 có bài “The limits to US-Vietnam ties “ (Những hạn chế trong quan hệ Mỹ-Việt) của nhà bình luận Richard Pearson từng chuyên theo dõi tình hình biển Ðông và mối quan hệ Việt- Trung 20 năm nay. Ông nêu rõ thiện chí của Tổng Thống Barack Obama và Ngoại Trưởng Hillary Clinton đối với nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam, nhưng mắc kẹt ở cái chế độ phi dân chủ ở Hà Nội làm cho mối thiện cảm ấy gặp trắc trở, khó khăn, khó ứng xử thuận lợi.

Theo tôi, chỉ khi nào Việt Nam có một chế độ dân chủ thật sự, tôn trọng thật sự nhân quyền của dân mình, khi ấy sự hòa đồng giữa một nước Việt Nam dân chủ với toàn thế giới dân chủ văn minh mới sâu sắc, trọn vẹn. Và chỉ khi ấy Việt Nam mới thực hiện trôi chảy “phép lạ” của mình, trở thành một nước Việt Nam tự do, tự chắp đôi cánh phát triển tốc độ cao, xã hội hài hòa, không còn bất công tràn đầy, thành quả phát triển cao được phân phối công bằng cho toàn xã hội, Việt Nam thoát khỏi hàng ngũ những nước độc đoán, sẽ có vị trí đáng nể trọng và tin cậy trên thế giới.

Hoa Kỳ và cả thế giới dân chủ đang chìa bàn tay bè bạn giữa lúc nước ta, dân ta lâm đại nạn.

Dân ta sẵn sàng chìa 85 triệu bàn tay bè bạn. Nhưng còn các vị trong Bộ Chính Trị nghĩ sao? Các vị đã bàn định xong để mạnh dạn chìa tay ra hay chưa? Các vị hãy suy xét cho sâu cho rộng. Hãy trở về với dân tộc, với nhân dân, để tìm ra cảm hứng chính trị và sức mạnh hành động vì dân vì nước. Hãy lắng nghe tiếng dân mình.

Cơ hội ngàn năm một thuở là đây.

Công hay tội ngàn năm một lượt cũng là đây.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Người Trung Quốc bất mãn

Ngô Nhân Dụng


Hai hiện tượng đang diễn ra ở Trung Quốc, mà cảnh tượng cũng không khác gì ở Việt Nam: Người nghèo thì bất mãn vì xã hội bất công, còn người kiếm ra tiền, thật nhiều tiền, thì tìm đường ra sống ở các nước Tây phương.

Nhà báo Gordon Chang đã mô tả cảnh tượng công nhân nổi loạn trên Asia Times. Bốn ngàn công nhân Trung Quốc đình công và biểu tình vào giữa tháng 6 năm 2011 ở một nhà máy của người Ðại Hàn tại thành phố Phiên Ngu (Panyu), gần thành phố Quảng Châu. Nhà máy thuộc công ty Simone Ltd chuyên sản xuất túi xách tay bằng da cho những nhãn hiệu danh tiếng như Coach, DKNY, Burberry, vân vân. Hơn 6 công nhân bị đánh đập và bắt giam, trong đó có một cô 20 tuổi, “di dân” từ một tỉnh khác tới làm việc tại đây. Người bạn cô hỏi phóng viên nhật báo South China Morning Post: “Một con bé yếu như nó làm sao chịu được bao nhiêu người đàn ông đánh đập như vậy?”

Một công nhân khác nói với nhà báo: “Ban giám đốc coi chúng tôi như không phải là con người!” Công ty Simone trừ tiền cơm trong lương bổng của thợ nhưng chỉ cho họ ăn gạo hẩm đen. Các quản đốc người Nam Hàn tự tiện vào phòng vệ sinh phụ nữ bất cứ lúc nào. Công nhân phải làm việc 12 giờ mỗi ngày, chỉ được đi vệ sinh 2 lần, và trong lúc làm việc không được phép uống nước! Giữa tháng 6, 2000 công nhân làm cho nhà máy sản xuất đồng hồ Citizen Watch của Nhật Bản tại Ðồng Quan, cùng trong tỉnh Quảng Ðông, cũng đình công.

Những nhà máy như trên tạo nên “Sức mạnh kinh tế” của Trung Quốc trong ba chục năm qua: Bóc lột người lao động, để làm hàng xuất cảng cho các công ty tư bản ngoại quốc, bị bạc đãi nhất là những nông dân thiếu việc làm, tìm việc ở các thành phố. Tại thành phố Triều Châu, hàng trăm “lao động di dân” đánh nhau với cảnh sát. Tại Tăng Thành, thủ đô Quần Bò (Blue Jeans) thế giới, hàng ngàn công nhân từ các tỉnh khác tới làm việc đã gây bạo động sau khi bọn cô đồ do công an thuê mướn đã đánh ngã một công nhân phụ nữ đang mang thai; họ đốt các trụ sở chính quyền và lật đổ xe của công an.

Theo nhà báo Gordon Chang, trong năm 2010 có 280,000 vụ biểu tình phản đối chính quyền cộng sản Trung Hoa, từ lớn đến nhỏ. Con số đó đã tăng lên nhanh chóng, vì trước đây dăm mười năm trung bình mỗi năm chỉ có từ 80 đến 90 ngàn vụ dân biểu tình chống nhà nước. Lòng dân bất mãn được kích thích lên cao vì chính sách của đảng Cộng sản Trung Quốc đưa tới khoảng cách lợi tức bất công trầm trọng, nông dân và công nhân vẫn không được một guồng máy tư pháp độc lập bảo vệ, và đảng cộng sản thả lỏng cho cán bộ tìm đủ cách tham nhũng. Một nguyên do thực tế khác là các tỉnh ở miền ven biển bắt đầu thiếu lao động, người thợ không sợ bị đói nếu bị đuổi nữa.

Nhưng những người khá giả không phải dân lao động bần cùng có thỏa mãn với cuộc sống trong nước Trung Hoa hay không? Một bài đăng trên Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) ngày 29 tháng 4 năm 2011 cho thấy hiện tượng nhiều người Trung Quốc có tiền đang tìm đường ra nước ngoài sống. Tờ báo trên thuật lại kết quả một cuộc nghiên cứu của Ngân Hàng Thương Mại Trung Quốc (China Merchants Bank) báo tin mừng là trong năm 2010 số người Ðại Gia đã tăng gần một phần năm so với năm 2009, lên tới 500,000 người. Những người được coi là Ðại Gia thì phải có tài sản trên 10 triệu đồng nguyên, khoảng hơn một triệu rưỡi đô la Mỹ, không kể giá trị ngôi nhà họ đang cư ngụ. Ngân hàng trên tiên đoán năm nay cả nước Trung Hoa sẽ có 585,000 Ðại Gia.

Trong số những người Ðại Gia này, cuộc nghiên cứu cho biết có khoảng 60% đã hoặc đang làm thủ tục xin nhập cư một nước khác bằng cách đem vốn tới đầu tư. Tỷ lệ đó tăng cao hơn trong lớp người có tài sản cao nhất, từ 100 triệu nguyên trở lên. Trong đám Thượng Ðại Gia này, 47% đang tìm cách làm di dân, và 27% đã được một quốc gia khác công nhận làm di dân hợp pháp rồi. Bài phúc trình kết luận rằng đám người Ðại Gia ở Trung Quốc đang có phong trào “di dân qua ngả đầu tư” với tỷ lệ gia tăng 73% trong năm năm qua. Cuộc nghiên cứu thực hiện qua việc phỏng vấn hơn 2,600 người thuộc loại giầu có, và sử dụng các dữ liệu khác nữa. Bài báo dẫn lời nhà kinh tế Trọng Ðại Quân, (Zhong Dajun), đứng đầu một viện nghiên cứu ở Bắc Kinh, nhận xét rằng: “Chúng ta đã nỗ lực phát triển trong 30 năm qua, bây giờ bao nhiêu người kiếm được nhiều tiền nhất lại đem phần lớn tài sản của họ ra nước ngoài; số tiền mà họ đem đi còn lớn hơn số đầu tư ngoại quốc vào trong nước.” Ông ví hiện tượng đó cũng giống như một nhà nông trồng cây, nhưng đến mùa hái quả thì trái cây lại rơi xuống sọt nhà người khác!

Thời Báo Hoàn Cầu là một cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc, thuật lại một bài trên báo Thanh Niên, cũng của đảng, cho biết lý do khiến những người giầu có trên tìm cơ hội di dân là vì họ không cảm thấy an toàn khi sống ở quê hương. Mặc dù giầu nhất nước, nhưng họ làm giầu là nhờ có “quan hệ” với các quan chức trong đảng, và vì dựa vào một chế độ độc quyền cai trị nên họ sẽ khó làm ăn trong thị trường đích thực. Ðồng thời, họ cũng bất mãn vì cứ phải hối lộ quan trên mà vẫn bị công chúng phỉ nhổ. Một nhà buôn kim hoàn từ tỉnh Triết Giang, nay đã di cư sang Hồng Kông và xin giấu tên, nói với báo Thời Báo Hoàn Cầu rằng một nguyên nhân khiến ông di cư là mối lo lạm phát và giá nhà cửa tăng lên như quả bóng sẽ có ngày bùng nổ.

Phong trào “chạy của ra nước ngoài” này lên cao nhất vào năm 2008, là năm Bắc Kinh tung ra 600 tỷ Mỹ kim để “kích thích kinh tế,” đối phó với tình trạng hàng xuất cảng bị ế vì thế giới bên ngoài đang khủng hoảng. Số tiền đó được đưa cho các doanh nghiệp nhà nuớc đầu tư, xây dựng đường sá và cao ốc khắp nơi giúp cho công nhân bớt mất việc, có xí nghiệp nhà nước còn dùng tiền để đầu tư vào chứng khoán và địa ốc. Chính cơn sốt địa ốc trong hai năm qua đã khiến nhiều cá nhân trở thành đại gia vì trúng mối; trong đó có nhiều người đang tìm đường chạy! Trong 2 năm nữa, nhóm “Vương tôn Công tử,” như ông Tập Cận Bình, là con cái của các người lãnh đạo cũ, lên cầm đầu ở Trung Nam Hải. Họ tự nhiên có khuynh hướng bảo vệ các vương tôn công tử khác, do đó, nhiều nhà kinh doanh tư sẽ cảm thấy cần phải tìm cơ hội di cư hơn.

Một cuốn sách biểu lộ nỗi bất mãn của người Trung Hoa, nhưng lại nhắm thúc đẩy tinh thần đề cao chủng tộc được xuất bản năm 2009, nhan đề là “Trung Quốc Không Vui” (Trung Quốc Bất Cao Hứng), của một số tác giả đã vào năm 1996 từng in cuốn “Trung Quốc Dám Nói Không” (Trung Quốc Năng Cấu Thuyết Bất). Họ bày tỏ nỗi uất ức về địa vị của nước họ trên trường quốc tế, tuy không dám chỉ trích chính quyền nhưng đã viết thẳng rằng các nhà chính trị trong nước cũng toàn nói những lời rỗng tuếch không khác gì các chính trị gia ở Tây Phương. Cuốn sách mới này gây nhiều phản ứng bất đồng vì luận điệu đề cao văn minh Hán tộc và đổ tội cho người nước ngoài, khiến có độc giả đã phản ứng trên mạng, gọi nó là “xấp giấy vệ sinh quá đắt tiền!

Một cảnh bất công và cũng là một chướng ngại cho việc phát triển kinh tế ở Trung Quốc là do chế độ hộ khẩu gây ra. Mỗi người dân Trung Hoa trên nguyên tắc chỉ được cư ngụ ở nơi họ có hộ khẩu. Các nông dân lên thành phố tìm việc làm không được hưởng các chế độ xã hội, con cái không có quyền đi học, bệnh không được nhận vào nhà thương; họ trở thành những công dân hạng nhì so với dân thành phố. Tuần báo Người Kinh Tế (The Economist) mới thuật chuyện ở một thị xã Diêm Ðiền (Yan Tian) gần thành phố Ðồng Quan, có 100,000 dân nhưng chỉ một số nhỏ có hộ khẩu. Cũng như nhiều làng xã cổ ở Trung Quốc, đa số dân thuộc gia đình họ Ðặng với 3,000 người. Trong khi đó rất nhiều dân cư trong thị xã là người từ các nơi khác đến, có người di cư từ làng khác trong vùng tới, tất cả đều không được chấp nhận hộ khẩu. Người họ Ðặng lập ra luật lệ buộc quản lý các xí nghiệp hoạt động ở đây phải là “dân làng” tức là có hộ khẩu chính thức. Hậu quả là tất cả những người họ Ðặng không cần làm gì cũng sống khá giả! Họ chiếm đa số trong các cuộc bỏ phiếu bầu trong làng, và họ không chịu thay đổi những luật lệ này!

Chế độ hộ khẩu cản trở việc phát triển kinh tế vì làm cho thị trường nhân dụng cứng nhắc, không lưu hoạt, tạo cảnh bất công ưu đãi những người dân thành phố, nông dân bị thiệt thòi. Các thành phố lớn như Trùng Khánh, Thành Ðô đã thí nghiệm việc cải tổ chế độ này, nhưng không thành công, mà trái lại chỉ tạo thêm cơ hội tham nhũng cho các quan chức! Trên các báo cáo lý thuyết hiện nay một nửa dân số Trung Hoa lục địa sống ở các thành phố; nhưng tổng số người có hộ khẩu ở các thành phố chỉ là 35% dân số. Tức là có 15% dân số 1,300 triệu người sống trong cảnh không hộ khẩu. Một số thành phố Trung Cộng đã làm luật cấm di dân không hộ khẩu không được mua nhà (để không cho giá nhà tăng), và không được mua xe hơi (để tránh nạn kẹt xe), tất cả đều làm cho cảnh bất công trầm trọng hơn.

Vào đầu năm 2011, Vụ Thông Tin của chính phủ Bắc Kinh đã ra lệnh tất cả các mạng lưới không được phép đăng hoặc bình luận về một bản tin, nói “94% dân Trung Hoa không cao hứng vì tài sản được tập trung vào nhóm người ngồi ở trên cùng của xã hội.” Bản tin trên là do một cuộc nghiên cứu dư luận của Gallup, cho biết 82% dân Ðan Mạch nói họ thấy hạnh phúc, đứng hàng đầu, trong khi chỉ có 6% dân Trung Hoa nghĩ như vậy khiến Trung Quốc đứng hàng thứ 125.

Một quốc gia mà lòng dân đầy bất mãn như vậy khó gọi là một nước mạnh. Những hành động phô trương (sắp có hàng không mẫu hạm) hay đe dọa các nước láng giềng chỉ có tác dụng kích thích tự ái dân tộc để người dân Trung Hoa quên bớt những nỗi bất mãn. Nhưng còn những người giầu có tìm đường bỏ nước ra đi thì sao?

Gordon Chang cho biết rằng cơ quan thuộc Bộ Tài Chánh Mỹ phụ tách theo dõi các vụ chuyển ngân lậu cho biết trong một năm 2010 số tiền chuyển ngân bất hợp pháp từ Trung Quốc ra ngoài đã tăng vọt, mặc dù đã vi phạm luật kiểm soát ngoại tệ của nhà nước. Tổ chức tư nhân Financial Integrity ước đoán từ năm 2000 đến 2008, số tiền chạy ra khỏi nước Trung Hoa lên tới 2,180 tỷ đô la Mỹ. Tức là bằng 2 phần 3 tổng số dự trữ ngoại tệ của Ngân Hàng Nhân Dân Trung Quốc!
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Ngỡ rằng đồ thật hoá đồ chơi!....
Nguyễn Xuân Nghĩa -


Con tầu đồng nát Varyag trước khi thành "tầu sân bay Thi Lang" của Trung Quốc
Một tháng sau khi biểu diễn khả năng cô hồn cao độ với việc uy hiếp Đông hải, Bắc Kinh quay ra hăm he Hoa Kỳ.

Chẳng là cuối tuần qua, sau khi họp với Phụ tá Ngoại trưởng Đặc trách Á châu Thái bình dương của Hoa Kỳ tại Hawaii, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc lên lớp côn đồ: “có những quốc gia đang đùa với lửa” - xin phiên dịch rằng đó là Phi Luật Tân và Việt Nam. Sau đấy, Thứ trưởng họ Trương liếc qua phía Mỹ: “và tôi mong rằng Hoa Kỳ không bị phỏng tay vì chuyện đó”. Ngon!

Đã đành là ngon rồi, vì tuần tới Bắc Kinh sẽ cho hạ thủy “tầu sân bay” đầu tiên của mình. Gọi là chơi nổi để góp mặt với đời trên biển Đông.

Nhưng chưa ai biết là hàng không mẫu hạm này có… nổi không và việc thử nghiệm là gì. Thử máy xem có chạy không, hay là còn thử cho máy bay cất cánh và hạ cánh?

Trong khi chờ đợi thì hãy nghĩ đến truyện… “hồn Trương Ba, da hàng thịt” với màu sắc Trung Hoa. Rất khôi hài ảm đạm!


***

Năm 1985, Liên Xô cho thiết kế một hàng không mẫu hạm, hạng Admiral Kuznetsov.

Năm 1988, chiến hạm đó được khởi công và sau này đặt tên là Varyag. Đến năm 1992 thì mọi việc bỗng ngưng - vì Liên Xô sụp đổ. Chiến hạm có xác mà không hồn: trông thì rõ là hàng không mẫu hạm mà bên trong chưa có hệ thống điện tử!

Khi Liên Xô tan rã, Cộng hòa Liên bang chia của cho các nước Cộng hoà tách khỏi liên bang, chiếc Varyag được gán cho Cộng hoà Ukraine - như một của nợ. Và được Ukraine kéo lên ụ làm thịt bên bờ Hắc hải! Ruột gan tanh bành, không có máy, chẳng có cánh quạt, chân vịt, hay hệ thống điều dụng. Nó trở thành khối thép vô dụng, được cho bán đấu giá năm 1998.

Đấy là lúc các đấng con trời đỏ xuất hiện. Dưới dạng con buôn Hong Kong, của một hãng lữ hành.

Họ nhảy vào cò kè mặc cả và đấu giá rồi chi ra 20 triệu đô la để mua về cái vỏ tầu mà xứ Ukraine cho là đồ phế thải. Chẳng sao, năm đó Thiên triều đang chuẩn bị việc Macao “hồi quy cố quốc”. Cho nên lý do chính thức là kéo chiếc Varyag vô hồn này về làm sòng bạc nổi trên mặt nước! Mà nội một chuyện kéo cái vỏ tầu này qua mấy đại dương và eo biển về Hoa lục cũng mất gần hai năm.

Họ phải thuê một hãng Hoà Lan với thủy thủ đoàn Phi Luật Tân chạy lòng vòng trong Hắc hải qua vịnh Bosphorus rồi xuyên kênh đào Suez không được – không ai cho một con tầu chết đi qua hải lộ hiểm yếu này – nên phải trở qua eo biển Gibraltar, xuống tận mũi Hảo Vọng của Phi Châu mới về đến Châu Á… Một cuộc hành trình lịch sử chỉ kết thúc vào cuối năm 2001, gây tốn kém hơn 30 triệu đô la và rất nhiều giấy mực của báo chí.

Về đến nơi thì chiếc Varyag không ghé Macao mà lên thẳng Liêu Ninh, nằm ụ trong quân cảng Đại Liên.

Nơi đây, chiến hạm Varyag - sản phẩm thuộc diện đồng nát của Liên Xô thời tàn lụi, thuộc diện phế thài của xứ Ukraine thời khủng hoảng – bắt đầu thoát xác. Nó trở thành tàu sân bay đầu tiên của Hải quân Trung Quốc với tên mới là Thi Lang, tên của viên Đô đốc đã “giải phóng” Đài Loan vào thời Mãn Thanh. Mất 10 năm tròn cho việc đỏ da thắm thịt này!

Bây giờ, Trung Quốc có đồ chơi mới, nên hăm Mỹ là coi chừng phỏng tay!


***

Nói về việc thành hình một hàng không mẫu hạm, người ta nhớ trước tiên đến chữ "mẫu hạm".

Một chiến hạm đầu đàn, chung quanh trên dưới còn rất nhiều võ khí quái dị khác để bảo vệ và khai trển sức mạnh. Khi ra khơi thì đó là một đội quân hoàn chỉnh ngoài đại dương. Sau đấy mới là một sân bay ngoài biển, để phóng ra và thu vào các chiến đấu cơ có cánh cố định – không phải cánh xoay như trực thăng.

Một tập hợp như vậy đòi hỏi nhiều điều kiện phối hợp về tổ chức, kỹ thuật, liên lạc, kiểm soát rất phức tạp. Phải mất nhiều thế hệ thiết kế và huấn luyện mới xong.

Cho tới nay, những hình ảnh đầu tiên được tiết lộ về chiếc Thi Lang uy dũng này vẫn cho thấy nhiều của nợ ngổn ngang trên sàn bay. Còn việc máy bay lên xuống ra sao thì chưa ai biết… Dù sao, nếu cứ có động cơ để chạy ra chạy vào được vài cây số thì cũng đã là một thắng lợi vĩ đại.

Ngẫu nhiên sao, năm nay Hoa Kỳ lại kỷ niệm 100 năm ngày hạ thủy hàng không mẫu hạm đầu tiên của mình! Và các hàng không mẫu hạm thời nay của Mỹ đều sử dụng năng lượng siêu hạng: hai chục năm mới phải một lần… xạc bình điện!

Phần mình, sau 90 năm của đảng Cộng sản, từ thời “lập quốc” cách nay một vòng hoa giáp 60 năm, quân đội Trung Quốc chủ yếu là một lực lượng lục quân. Chiến pháp xứ này là lấy lượng làm phẩm, lấy quân số làm ưu thế - để trấn áp bên trong! Lục quân Trung Quốc ngày nay vẫn có chừng một triệu 600 ngàn lính, có trang bị áo quần súng ống đầy đủ. Đông lắm, nuôi không xuể, nhưng vẫn hát khúc quân hành cho vui vì là một đội quân cổ điển với võ khí lỗi thời. Mà vẫn vô dụng, vì khi hữu sự bên trong, xứ này vẫn cần tới công an võ trang, cảnh sát đặc biệt, v.v…

Hơn 700 ngàn nhân mạng chứ không ít.

Năm qua, việc ngân sách “nội an” cũng cao bằng ngân sách quốc phòng cho thấy ưu tiên của lãnh đạo: dẹp loạn bên trong hơn là bành trướng ra ngoài!

Không quân và Hải quân là những quân chủng mới chỉ được Bắc Kinh cho hiện đại hoá từ vài chục năm trở lại. Và hiện đại hóa với võ khí thụ đắc của Liên Xô trên đỉnh cao Xô viết, khi xứ này bắt đầu tan rã hơn hai chục năm trước! Binh đội của hai quân chủng này chưa tới 600 ngàn lính, còn thua lực lượng nội an. Siêu cường đại bá chưa có khả năng “giải phóng” – một định nghĩa khác của chữ “chiếm đóng” - bất cứ xứ nào nằm ngoài lãnh thổ cố hữu của họ. Muốn tái diễn một cuộc chiến tranh Triều Tiên với chiến thuật biển người thì chỉ can tội… sát sinh. Bắc Kinh rất hiểu từ cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991 khi Hoa Kỳ không tập và diệt gọn các sư đoàn ưu binh của Saddam Hussein.

Nhưng sức mạnh nào chỉ có quân số vì còn phải nói đến võ khí và kỹ thuật chiến tranh nữa chứ?

Thưa vâng: ngày nay, hơn 70% võ khí Trung Quốc vẫn lệ thuộc vào đồ nghề cổ lỗ của Nga sản xuất từ thời Xô viết, phần còn lại là học lóm, là ăn cắp và đôi khi bị cấy sinh tử phù khi đi ăn cắp mà không biết! Cho đến nay, giấc mơ đại cường hải dương của xứ này mới chỉ thành hình với hai chiến hạm duy nhất có khả năng viễn duyên và quả nhiên là đã… dám đi tuần tra ngoài khơi Somalia để cùng thế giới tham gia tiễu trừ hải tặc.

Bây giờ lại có Thi Lang!

Chúng ta sẽ rất lầm khi dựa vào Hoa Kỳ để khiêu khích Trung Quốc, như Bắc Kinh ám chỉ. Nhưng Trung Quốc sẽ rất lầm nếu đòi dằn mặt nước Mỹ để thu gọn Đông Nam Á vào trong túi.

Hãy nói về tương quan hai xứ đó: Hoa Kỳ và Trung Quốc có lãnh thổ tương tự, gần 10 triệu cây số vuông. Nhưng, Trung Quốc hơn Mỹ nhờ dân số nên… phải nuôi nhiều hơn Mỹ khoảng một tỷ người trên cùng một diện tích. Chỉ nội khái niệm “phải nuôi” ấy cũng là điều đáng kể. Hoa Kỳ có dân số hơn 300 triệu mà không bao giờ có chữ “nuôi dân”: người dân tự nuôi lấy mình và còn sản xuất dư thừa nông sản lương thực để nuôi xứ khác. Trung Quốc có một tỷ 350 triệu dân trên một diện tích tương đương mà đất khả canh thì hẹp và chưa bằng một phần ba của trung bình toàn cầu. Vặt mũi bỏ mồm là động tác truyền thống.

Làm sao đòi dọa nạt một quốc gia có truyền thống hải dương từ thời lập quốc và nay vẫn là siêu cường quân sự toàn cầu?

Bây giờ, chuyện dẹp êm nội loạn chưa xong, Trung Quốc còn đòi chinh phục thiên hạ! Bắc Kinh chỉ có thể uy hiếp Hà Nội và mua chuộc đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi. Vì sao không kín đáo thi hành việc đó như họ đã từng làm từ hai chục năm nay? Vì sao lại hung hăng dọa nạt và còn muốn cho Hoa Kỳ phỏng tay? Vì ta sắp có tầu sân bay?

Đúng là dịp may hy hữu cho Việt Nam tỉnh ngộ.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Người Việt Trên Đất Mỹ
Saturday, 02 July 2011
Theo kết quả kiểm tra dân số năm 2010 vừa được công bố, dân số người Việt đã tăng 38% ( thêm 425,921 đầu người ) trong thập niên 2000-2010. Số người Việt hiện ở Hoa Kỳ là 1,548,449, so với 1,122,528 năm 2000, 614,547 năm 1990, và 261,729 năm 1980. Vào thời điểm của cuộc kiểm tra dân số năm 1970 thì chưa có cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Trong 10 năm từ 2000 đến 2010, dân số người Việt ở mọi tiểu bang đều gia tăng, ngoại trừ thủ đô Hoa Thịnh Đốn thì giảm sút 18% -- vì đời sống mắc mỏ, nhiều người Việt đã phải di dời sang tiểu bang Virginia và Maryland.

Vào thời điểm năm 2010 gần ¾ dân số Việt tập trung trong mười tiểu bang: California (37.58%), Texas (13.62%), Washington (4.30%), Florida (3.78%), Virginia (3.46%), Georgia (2.92%), Massachusetts (2.77%), Pennsylvania (2.52%), New York (1.86%), và Louisiana (1.83%).
Khu vực đông dân Việt Nam nhất vẫn là vùng Los Angeles – Long Beach – Santa Ana (271,234 người). Đông thứ hai là vùng San Jose – Sunnyvale – Santa Clara (125,774). Hạng 3 -5 gồm có: Houston – Sugar Land – Baytown (103,525), Dallas – Fort Worth – Arlington (71,839), và Washington DC – Arlington – Alexandira với (58,767).
Thành phố đông dân Việt nhất là San Jose (100,486). Kế đến là Garden Grove (47,331). Tiếp theo là Westminster (36,058), Houston (34, 838) và San Diego (33,149).
Tuy nhiên, nói về tỉ lệ người Việt so với tổng số dân thì thị trấn Midway, CA đứng đầu (41.4%); tiếp theo là Westminster, CA (40.2%); Garden Grove, CA (27.7%); Fountain Valley, CA (20.7%); Morrow City, GA (20.3%).
Tuỳ theo lăng kính nhìn, những con số trên đây có thể gợi nhiều câu hỏi để chúng ta suy tư. Chẳng hạn, liệu các tổ chức cộng đồng ở mỗi địa phương có phát triển dịch vụ xã hội để đáp ứng nhu cầu của sự gia tăng dân số quá nhanh? Liệu nền kinh tế cộng đồng có phát triển lành mạnh đủ để gánh vác số nhân khẩu gia tăng trong khu vực? Liệu cộng đồng có kế hoạch để giúp người tị nạn và di dân mới trở thành công dân và ghi danh cử tri? Liệu cộng đồng có kế hoạch gì để chăm lo cho số người Việt bước vào tuổi xế chiều ngày càng đông? Liệu cộng đồng có dự tính gì để đưa người vào các guồng máy lập pháp và hành chính ở địa phương? Và nhiều nữa.
Tôi cũng đã nghe có người nhận định rằng cộng đồng Việt ở Hoa Kỳ không có vấn đề gì phải quan tâm vì phần lớn người Việt đều đỗ đạt, thành công. Nghĩ vậy là một ngộ nhận lớn. Cuộc thăm dò năm 2009 của Sở Thống Kê Dân Số phản bác nhiều ngộ nhận như vậy. Dưới đây là một vài ví dụ:
Người Việt 25 tuổi trở lên: 30.4% chưa hoàn tất trung học (so với 14.7% cho người Mỹ nói chung) và chỉ có 6.6% là học trên đại học (so với 10.3% cho người Mỹ nói chung). Đa số các cộng đồng Á Châu khác thua xa chúng ta về học lực.
Người Việt trên 65 tuổi: 40.4% bị khiếm dụng (disability) so với 37.4% cho người Mỹ nói chung.
Người Việt không sinh ở Hoa Kỳ: 50% chưa có quốc tịch.

Người Việt trên 50 tuổi: 55% gặp trở ngại về Anh ngữ. Nếu chỉ tính những người lớn thì tỉ lệ bị trở ngại ngôn ngữ tăng cao hơn nhiều.
Gia đình người Việt: 19.6% không có bảo hiểm sức khoẻ so với 15.1% cho người Mỹ nói chúng; 13.7% nằm trong diện nghèo khó so với 10.5% cho người Mỹ nói chung.
Thiếu dữ kiện về chính mình thì khó tránh được sự ngộ nhận. Và khi không biết thì cũng chẳng quan tâm. Thiếu sự quan tâm thì không có hành động để đối phó. Đó là tình trạng đáng lo của cộng đồng Việt sau 36 năm ở Hoa Kỳ. Trong binh thư, biết người biết ta là yếu tố tiên quyết để thành công. Chúng ta cần biết về chính mình.
Nhằm đáp ứng nhu cầu “biết ta”, trong nhiều năm qua BPSOS đã hợp tác với một số trung tâm nghiên cứu để tìm hiểu về một số khía cạnh của cộng đồng người Việt. Chúng tôi sẽ tuần tự công bố kết quả của các cuộc nghiên cứu này. Cho đến nay đây chỉ là những cuộc nghiên cứu này chỉ mang tính cách tủn mủn, vá víu tạm thời.
Để phục vụ kế sách thăng tiến cộng đồng trong 10 năm tới, BPSOS đang thành lập Viện Nghiên Cứu Người Mỹ Gốc Việt ( Vietnamese-American Research Institute ),
hay VARI ). Nỗ lực này sẽ khuyến khích, huy động các chuyên gia người Việt và không phải người Việt thực hiện các công trình nghiên cứu thực dụng trong cả ba lĩnh vực: chính trị, kinh doanh và xã hội. Nỗ lực này sẽ được chính thức công bố tại Hội Nghị Toán Quốc Những Người Lãnh Đạo Mỹ Gốc Việt, được tổ chức ngày 2 tháng 7 tới đây ở Hoa Thịnh Đốn.
Trong bước đầu của nỗ lực này, chúng tôi hợp tác với Phòng Kiểm Tra Dân Số để phổ biến những thông tin quý báu mà họ cung cấp thật rộng rãi
trong cộng đồng người Việt.

[ Trên đây là những thông tin được đúc kết bởi anh NguyễnThế-Anh, nhân viên Phòng Kiểm Tra Dân Số, Vùng Atlanta, CA, và một số nhân viên và thiện nguyện viên của BPSOS. ]

TS Nguyễn Đình Thắng
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Chính trường Thái Lan ra sao thời hậu bầu cử

Em gái cựu thủ tướng bị lật đổ Thaksin lãnh đạo phe đối lập giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử ngày 3/7, hứa hẹn đem lại cho Thái Lan sự ổn định và hoà giải, nhưng chính trường nước này vẫn tiềm ẩn nhiều bất trắc.
Sau khi giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên tại Thái Lan kể từ năm 2007, đảng Pheu Thai do bà Yingluck Shinawatra đứng đầu tuyên bố lập một liên minh với 4 đảng nhỏ, dù Pheu Thai giành được 265 ghế trên tổng số 500 ghế của quốc hội, đủ để có thể tự mình lập chính phủ.

Tuy nhiên, chiến lược liên minh của Pheu Thai nhằm kiểm soát được 60% ghế của quốc hội giúp đảm bảo một chính phủ ổn định trong tương lai và tạo điều kiện cho bà Yingluck dễ dàng hơn trong việc thúc đẩy những cam kết cải cách đã đưa ra trong quá trình vận động tranh cử.
Image
Thủ tướng tương lai của Thái Lan Yingluck Shinawatra. Ảnh: AFP.
Cái bóng của Thaksin

Những cuộc đàm phán phân chia nội các giữa Pheu Thai với các đảng trong liên minh đang được tiến hành, trong đó Pheu Thai nhắm các ghế chủ chốt như Bộ trưởng Nội vụ, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao và Vận tải. Những vị trí này đóng vai trò quyết định trong việc thực thi chính sách kinh tế của đảng và cũng có thể mở đường cho khả năng trở về của Thaksin.

Thaksin Shinawatra, người hùng trong mắt những người thuộc tầng lớp nghèo và sống ở vùng nông thôn của Thái Lan, từng hai lần đắc cử ghế thủ tướng trong các năm 2001 và 2005. Nhưng tháng 9/2006, ông này bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự rầm rộ và đang phải sống lưu vong tại Dubai, nhằm tránh án tù 2 năm vì tội tham nhũng.

Dù sống ở nước ngoài, ảnh hưởng của Thaksin vẫn bao trùm toàn bộ quá trình bầu cử tại Thái Lan vừa qua. Ông này được cho là lãnh đạo trên thực tế của đảng Pheu Thai và chiến thắng vang dội của đảng này mang nhiều dấu ấn cá nhân cũng như thương hiệu chính trị của anh trai bà Yingluck Shinawatra.

Chiến thắng cách biệt của Pheu Thai đã xoá tan lo ngại sẽ có bất ổn sớm tại Thái Lan nếu không có đảng nào chiếm ưu thế. Nhưng giới phân tích nhận định bầu không khí yên bình sẽ sớm chấm dứt, nếu Pheu Thai tìm cách ân xá để dọn đường cho Thaksin trở về như một công dân tự do. Động thái này có thể châm ngòi cho sự bất bình của phe quân đội, lực lượng từng hất cẳng Thaksin trước đây.

Những người ủng hộ Thaksin ca ngợi ông là chính trị gia duy nhất có thể giải quyết những khó khăn mà họ đang phải đối mặt, trong khi những người phản đối thì coi ông là kẻ mị dân, tham nhũng và nguy hiểm.

Biết rõ những hậu quả nếu đề cập đến tương lai của Thaksin quá sớm sau bầu cử, nên Pheu Thai đã ra một tuyên bố chính thức nói rằng họ không ủng hộ một lệnh ân xá cho cựu thủ tướng. Bản thân Thaksin cũng nhanh chóng làm giảm nhẹ mối lo ngại khi tuyên bố hạnh phúc với cuộc sống tại Dubai và muốn nghỉ hưu, đồng thời khẳng định không có kế hoạch quay lại ghế thủ tướng.

Tuy nhiên, những động thái trên chưa thể làm yên lòng phe đối lập Thái Lan vì mối quan hệ anh em ruột thịt giữa lãnh đạo Pheu Thai với Thaksin. Những người chỉ trích bà Yingluck vẫn giữ nguyên sự nghi ngờ và họ lo ngại bà sẽ tìm cách để anh trai được xoá các tội danh bị toà án tuyên trước đây.

Vai trò của quân đội

Quân đội từ lâu đã đóng vai trò trung tâm trong nền chính trị Thái Lan. Kể từ khi Thaksin bị các tướng lĩnh lật đổ trong cuộc đảo chính không đổ máu năm 2006, đất nước Đông Nam Á này đã chìm sâu trong sự chia rẽ giữa phe áo đỏ ủng hộ Thaksin và phe áo vàng bảo hoàng căm ghét chính trị gia này.

Năm ngoái, quân đội đã phải ra tay để trấn áp các cuộc biểu tình chống chính phủ kéo dài của phe áo đỏ, sự kiện làm hơn 90 người thiệt mạng và được coi là nội chiến tại Thái Lan. Ngay sau khi chiến thắng, bà Yingluck Shinawatra thuộc phe áo đỏ đã tuyên bố vấn đề khẩn cấp đầu tiên cần phải giải quyết là làm sao đem đến sự hoà giải cho đất nước.

Trong bối cảnh đó, quân đội Thái tuyên bố ủng hộ kết quả bầu cử và cam kết đứng ngoài cuộc để các chính trị gia làm phận sự của mình. BBC dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng sắp mãn nhiệm Prawit Wongsuwan nhấn mạnh, quân đội sẽ không làm bất cứ điều gì có thể làm tổn hại đến đất nước.

Tuy nhiên vẫn có những lo ngại về việc quân đội sẽ làm gì khi kết quả bầu cử cho thấy phe áo đỏ ủng hộ Thaksin, người mà họ lật đổ trước đây, giành chiến thắng. Do đó việc quân đội có thực sự đứng ngoài chính trường Thái Lan trong tương lai hay không, phụ thuộc nhiều vào việc Thaksin có quyết định đứng ngoài cuộc hay sẽ lại dấn thân vào chính trường.
Image
Cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra tại Dubai. Ảnh: AFP.
Những tác động kinh tế
Thị trường chứng khoán Thái Lan và đồng Bath đều tăng giá trị vì những kỳ vọng về sự ổn định chính trị sau khi đảng của em gái Thaksin giành chiến thắng áp đảo trong cuộc tổng tuyển cử hôm chủ nhật. Bản thân bà Yingluck cũng được biết đến nhiều với tư cách là một doanh nhân thành đạt dù ít kinh nghiệm chính trường.

Nhưng giới lãnh đạo doanh nghiệp Thái cũng bày tỏ mối lo ngại về việc liệu đất nước có thể tiến hành các cải cách dân tuý mà đảng Pheu Thai đã cam kết hay không. Đảng mới chiến thắng hứa sẽ nâng mức lương tối thiểu, cải thiện kết nối giao thông tới khu vực miền bắc đất nước, mở rộng dịch vụ và giảm chi phí chăm sóc y tế, đồng thời tiếp tục quan tâm đến khu vực nông thôn. Pheu Thai còn hứa sẽ cung cấp máy tính bảng cho khoảng 800.000 học sinh mới mỗi năm.

Những biện pháp cải cách dân tuý nói trên sẽ đòi hỏi một khoản chi tiêu bổ sung khổng lồ và có thể kích thích nền kinh tế Thái Lan, nền kinh tế lớn thứ hai tại Đông Nam Á. Tuy nhiên, theo giới phân tích, đây cũng sẽ là nguyên nhân khiến chính phủ mới của Thái Lan phải đối mặt với mức thâm hụt ngân sách lớn hơn dự toán, đồng thời đẩy mạnh nợ công và tăng sức ép lạm phát.

Đình Nguyễn
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Suy nghĩ nhân một bài mới đăng trên báo Đảng -

Hà Sĩ Phu
Biển Đông cuộn sóng, quân xâm lăng truyền kiếp lại đang táo tợn, dồn dập, thách thức sự tồn vong của đất nước và thách thức nhân phẩm mỗi người Việt Nam chúng ta.

Trong không khí vừa sục sôi sục căm giận vừa lo âu của dân chúng, bài báo Những bước đi có tính toán…, (ký tên Tấn Vũ) xuất hiện trên Báo điện tử của ĐCSVN có thể xem là một bước ngoặt rất mới, rất có ý nghĩa trong quan điểm và thái độ của Đảng đối với sự xâm lấn của Trung quốc và với toàn bộ mối quan hệ Việt-Trung.

NẾU (xin được nhấn mạnh chữ nếu) những lời này là nhận thức và quyết tâm thật sự của Đảng để biến thành hành động trong thời gian tới thì biết đâu đây chẳng là một tín hiệu đáng mừng về một sự chuyển đổi, cho thấy khả năng hồi sinh hiếm thấy của Đảng trong cuộc hồi sinh của Dân tộc, sẽ kết lại thành dinh lũy phòng thủ kiên cường khi Dân tộc đã đứng bên bờ vực.

Tại sao việc nói đúng sự thật và có dũng khí của một bài báo thôi lại đáng quan tâm đặc biệt như thế? Vì đó là báo Đảng, một Đảng mà cách xử sự trước họa xâm lăng từ phương Bắc lâu nay cứ mềm yếu triền miên, bưng bít sự thật, tôn kẻ xâm lăng làm láng giềng tốt, đồng thời đã có những bằng chứng về sự không song hành, không đồng bộ giữa lợi ích của Đảng và lợi ích Dân tộc. Tình hình đã đến nước khẩn trương như hiện nay thì thiết tưởng không gì tốt hơn là phải nói thẳng, nói thật với nhau mong góp phần làm sáng tỏ nhận thức chung trước những thời cơ và hiểm họa của đất nước.

1/ Sự khiếp nhược trường kỳ gây đau thương vĩnh viễn cho Dân tộc

Tình hình xã hội lâu nay bị dồn nén đáng ngai. Anh láng giềng phương Bắc to xác nhưng tham lam và xấu thói bao năm nay cứ đeo cái mặt nạ “láng giềng hữu nghị” để xục xạo khắp đất nước ta, cài cắm khắp nơi, bủa vây tứ phía, xiết gọng kìm toàn diện…, nay đã đến lúc hắn chuyển thế trận, vứt phăng cái mặt nạ thân yêu giả tạo ấy cho đỡ vướng, để tiện việc hành xử một cách côn đồ cấp tập.

Dân đã nhìn thấy nguy cơ từ lâu và nóng lòng chờ đợi, trong khi những người cầm quyền thì đi đâu cũng đội lên đầu 16 chữ vàng , hớn hở tuyên truyền về hữu nghị và thắng lợi, nhộn nhịp phát triển nhiều hợp đồng, gia tăng nhiều mối quan hệ rất nguy hiểm, có ai lên tiếng báo động thì bảo “ an ninh vẫn ổn định, chẳng có gì mới”, ai biểu tình giữ nước thì đuổi học, cho Công an bắt bớ, nhốt vào nhà tù…Quân đội không bảo vệ được ngư dân nghèo đánh cá trên lãnh hải của mình, lại bảo quân đội không can thiệp vào chuyện dân sự , quân đội trốn ở đâu khi tàu nước ngoài ngang nhiên xâm nhập hải phận nước mình để đánh phá, cướp bóc? Tất cả sự đầu hàng khiếp nhược ấy được núp dưới chiêu bài “chiến thuật mềm”, kiên trì đàm phán song phương, ngoại giao hòa bình, giữ tình hữu nghị làm vốn quý (!)...

Vẫn biết cách ứng xử ở đời phải có cương có nhu, không quên ta là nước nhỏ. Nhưng điều khôn ngoan ấy không đồng nghĩa chút nào với sự khiếp nhược , đầu hàng.

Ông cha ta, thuở xưa nước ta còn nhỏ bé và nghèo lắm, nhưng đối với anh “kẻ thù truyền thống” phương Bắc ta đã biết phối hợp cương-nhu rất đúng quy luật. Bình thường thì xã giao hữu nghị, song cứ “kính nhi viễn chi”, chứ không được chui hẳn vào vòng tay của họ. Nhưng khi họ giở thói xâm lăng thì ta phải đổi ngay cách ứng xử, đi thẳng từ cấp độ 1 lên cấp độ 3 của sự kiên cường:

- cấp độ 1: dám đánh
- cấp độ 2: đánh thắng
- cấp độ 3 : đánh thắng đến mức quân thù phải khiếp vía, phải trọng ta và phải sợ không dám bén mảng nữa. Ta chỉ trở lại giao hảo (đúng với tầm một nước nhỏ) sau khi đã đánh tan ý đồ xâm lược.

Nay xem ra sự ứng xử vừa qua của nhà nước ta (hãy nói từ sau cuộc chiến 1979 trở lại đây) thì thấy độ “kiên cường” luôn nằm ở dưới “cấp độ 1”, nên kết quả thật đáng buồn, đã không dám thắng thì không có chiến thắng đã đành, lại cứ thua từng phần . Kẻ địch tât nhiên chẳng những không sợ, không trọng mà còn khinh ta hèn, họ càng nuôi chí xâm lấn, mỗi ngày một táo tợn hơn. Kinh nghiệm của ông cha bị một lớp con cháu thời Cộng sản vận hành ngược lại nên kết quả cũng lộn ngược.

Còn hèn và nhục nào hơn khi báo chí “lề phải” không dám đưa tin biểu tình một cách xứng đáng mà còn bôi nhọ rằng đây là sự “tụ tập” chỉ đi ngang qua cơ quan của Trung quốc (như vô tình hoặc vì sợ sệt), và khi được giải thích thì đã tự giải tán? Người đưa tin như thế thật không xứng đáng là một công dân nước Việt chứ nói gì danh hiệu cao quý của một nhà báo? Còn hèn và nhục nào hơn mang danh Hiệu trưởng một trường mà cấm và đuổi học sinh viên đi biểu thị lòng yêu nước? Họ định “giáo dục” cho thanh niên điều gì đây, định dạy môn “cừu học” thay cho môn “công dân giáo dục” chăng? Tấm hình chụp em bé biểu tình chống Trung quốc ngày 12-6-2011 chẳng biết có gây cho các nhà giáo dục ấy một chút cảm xúc?

Sự nhu nhược quá mức chẳng những làm mình bị thua thiệt biên cương, tài nguyên, chẳng những làm nhục nhân dân, mà điều nguy hiểm hơn cả là sự khiếp nhược của nạn nhân đã nuôi dưỡng ý chí xâm lược của đối phương ngày một lớn hơn.

Chịu thua một lần là trút thêm khó khăn cho lần sau, và cứ thế ngày càng thêm khó. Khi sự leo thang lên đến nấc cuối cùng, thì mọi sự thương lượng đều đã muộn. Nếu để họ dồn đến đường cùng chẳng còn gì mà thương lượng, thì còn cách gì ngoài cách làm chiến tranh để tự vệ? Khi ấy kẻ hèn sẽ bị giết chết nhưng chết trong tư thế là kẻ tội phạm gây chiến. Hiện nay một mặt họ vu cáo “Việt nam xâm lược”, một mặt khiêu khích ở Biển Đông chính là cái bẫy như vậy, vừa thôn tính ta vừa đổ được tiếng ác cho ta. Bài báo nói trên của tác giả Tấn Vũ trên trang mạng ĐCSVN đã vạch rõ được mưu mẹo rất hiểm ác này. Thế là đã tỉnh. Tóm lại chính sự nhu nhược cũng góp phần vào nguy cơ nổ ra chiến tranh. Muốn ngăn chiến tranh không gì bằng phải cứng rắn ngay từ đầu.

Trung quốc đang tiến tiến hành một chế độ Thực dân kiểu mới cực kỳ hiểm độc. Chiến thuật của họ là cứ lao thẳng vào nơi ta hoàn toàn có chủ quyền (cả trên đất liền và lãnh hải), thế là biến nơi không tranh chấp thành nơi có tranh chấp. Có tranh chấp thì thương lượng song phương. Song phương thì họ dùng sức mạnh ép chia đôi vùng tranh chấp ấy, hoặc cùng khai thác. Cưa đôi 50-50 là công bằng nhá ! Cứ thế vết dầu loang sẽ dần dần biến tất cả biển trời của ta thành biển trời của họ.

Ta là nước yếu hơn, nhưng ta có lý lẽ, hợp công pháp quốc tế, nên phải tận dụng mọi thuận lợi để đương đầu với kẻ khổng lồ tham lam bất chấp. Trong lĩnh vực này Bộ Quốc phòng đã có những chủ trương rất khó hiểu. Dứt khoát không để mình bị đơn độc trước anh khổng lồ, nên cần những cuộc đàm phán đa phương và quốc tế hóa (chỉ sợ ai đó đã bán cho họ thật rồi thì về pháp lý khó mà đảo ngược).

Nước nhỏ muốn chống sự chèn ép của nước lớn buộc phải liên kết, nhất là liên kết với nước lớn khác. Tuyên bố “không liên kết với nước này để chống nước khác” thì nghe có vẻ hợp đạo lý nhưng là thứ đạo lý tự diệt, khác nào dâng đất nước cho kẻ thù. Liên kết để phòng thủ, để tự vệ chứ không tấn công ai, đó là quyền của mỗi dân tộc. Nếu dùng thứ đạo lý ngụy biện tự diệt ấy để khước từ liên kết với Hoa Kỳ thì sao lại chấp nhận “hợp tác chiến lược” với Trung Quốc, tức hợp tác chiến lược với chính kẻ xâm lược? Chính vì có mối liên kết chiến lược với Trung quốc nên Trung Quốc mới tuyên bố “Ai xâm phạm Việt nam cũng tức là xâm phạm Trung quốc, Trung quốc có nghĩa vụ can thiệp” ! Sao Đảng ta lại gửi trứng cho Ác như thế? Nếu lời tuyên bố kia là của Hoa Kỳ từ một hiệp ước phòng thủ thì Trung Quốc dễ gì dám gây hấn như hiện nay?

Đâu có phải cứ liên kết là nghĩa là hiếu chiến, là không yêu hòa bình, trái lại có liên kết đúng mới đề phòng được chiến tranh. Nếu có sự hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ trong lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật-văn hóa-du lịch quanh vùng Cam Ranh thôi thì sẽ chặn được bàn tay gây hấn của Trung quốc mà chưa cần động đến súng đạn. Như vậy mới là yêu hòa bình và yêu nước, và giữ gìn được mọi tình hữu nghị nữa. Tại sao cứ tìm chính kẻ xâm lược để trao thân gửi phận? Đã tự gài nước mình vào thế kẹt đó thì có tuyên bố mạnh mẽ nghìn lần cũng vứt đi. Đến đây tôi thấy ý kiến của Cù Huy Hà Vũ mới là cứu nước và chính xác : liên kết với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại ! Chẳng trách Hà Vũ bị bắt ngay !

Nói ta phải tự kiềm chế để khỏi mắc mưu khiêu khích thì chỉ đúng một phần, còn như nói thế để bó tay thì không chấp nhận được. Họ dùng những phương tiện bán vũ trang hoặc vũ trang trá hình như “hải giám, ngư chính…”, những hình thức dân sự trá hình để gây thiệt hại về người và của cho ta, thì ta chưa thể chính thức dùng hải quân can thiệp là đúng , nhưng chẳng lẽ ta là kẻ bị hại lại không nghĩ được hình thức đối phó nào hữu hiệu tương xứng hay sao? Khi đối chọi với những kẻ thù ngắn hạn như Pháp và Mỹ những tố chất biến hóa tài tình ấy trong ta có thừa, nay trước “kẻ thù lịch sử” Trung quốc, vừa là đồng chí vừa là anh em, thì những ưu điểm ấy biến đi đâu hết cả, để quanh đi quẩn lại cứ bắt bà Nguyễn Phương Nga quay mãi một điệu hát cũ? (câu trả lời xin xem phần sau) . Khi “nắn gân” thì hai bên phải nắn gân lẫn nhau, ăn thua ở sức mạnh tinh thần hay sự bạc nhược chứ đâu nhất thiết phải dùng súng đạn?

Thực tiễn đã quá đủ để nhà giáo Hà Văn Thịnh kết luận : hãy vứt vào sọt rác cái tình “hữu nghị” vẫn rêu rao với 16 chữ vàng. Tôi xin thêm: Và vứt luôn vào sọt rác cả cái “chiến lược mềm” đầu hàng, khiếp nhược mà một thế lực trong Đảng lâu nay vẫn viện ra để trấn áp mọi tiếng nói yêu nước tỉnh táo trong và ngoài Đảng!.

Đối mặt với chủ nghĩa bành trướng bá quyền ngông cuồng, kiên định và ác hiểm của Trung quốc thì đối sách gọi là “khôn ngoan”, đặt hữu nghị lên trên, mềm dẻo trường kỳ… giữa hai đảng Cộng sản, chưa biết vô tình hay hữu ý, chỉ tiếp tay cho kẻ xâm lược, dẫn đến nỗi nhục nghìn đời, đau thương vĩnh viễn cho Dân tộc.

2/ Đồng hành cùng lợi ích Dân tộc

2a/ Mấy lời xin thưa trước:

- Chủ nghĩa bành trướng hung hãn và hiểm độc ở tầm thế giới, như bài báo của Tấn Vũ vừa mạnh dạn phân tích, đã đặt đất nước Việt nam ta trước một thử thách muôn ngàn khó khăn. Muốn thoát khỏi mối hiểm họa có thể làm tiêu tán Dân tộc thì yếu tố tiên quyết không gì thay thế được là SỰ CỐ KẾT TOÀN DÂN TỘC THÀNH MỘT KHỐI ĐOÀN KẾT VỮNG CHẮC , giữa những khối quần chúng đa dạng trong Dân tộc với bộ máy đang cầm quyền đất nước mà thực chất là đảng Cộng sản.

- Muốn có sự đồng thuận vững bền để cùng lo một việc quá lớn thì LỢI ÍCH CỦA ĐẢNG PHẢI HOÀN TOÀN NẰM TRONG LỢI ÍCH DÂN TỘC nếu Đảng còn muốn tồn tại, hơn thế tồn tại như một lực lượng lãnh đạo.

- Yếu tố quyết định tiếp theo của sự đoàn kết là phải thành thực để TIN CẬY nhau, không thể nghĩ một đằng nói một nẻo, rồi nói một đằng lại làm một nẻo khác nữa.

- Vì hiểu nhu cầu sinh tử của một khối đoàn kết là phải thật thà trung thực nên tôi xin mở lòng mình bằng sự nói thật, mặc dù tôi biết rõ mình đang sống trong một môi trường mà sự NÓI THẬT hoặc là điều cấm kỵ, điều liều mạng, điều ảo tưởng, điều điên rồ mất trí, hoặc là một kẻ bất thường đáng nghi, một kẻ ngớ ngẩn đáng chê cười !

Khó mà tìm ra một người nói thật, nhất là nói thật chính trị, nói nửa câu cũng phải uốn lưỡi,lựa lời. Những sự thật tôi viết ra đây có điều đã thành nhận thức chung, có điều mới là lượm lặt chưa thể sàng lọc kỹ càng, chỉ như một gợi ý tham khảo, nhưng tất cả đều là sự thật.

Mỗi người đọc tôi đây coi tôi là loại gì tùy ý, chỉ một câu tôi tự nhủ lòng: Sống mà không còn nói thật nữa thì sống làm gì? Cứ nói quanh co suốt một đời thì khổ lắm, Một dân tộc không thể cố kết nhau bằng sự nói thật thì dù đông đến trăm triệu người cũng chỉ là một đám hỗn độn, rời rạc. lừa đảo lẫn nhau, làm mồi cho chủ nghĩa lưu manh cơ hội hủy diệt. Cú nói thật đi, vượt qua cơn vật vã nói thật nhất định sẽ đến một thế giới tốt đẹp hơn.

2b/ Về lòng tin hiện nay :

- Dân tin Đảng không? Khi chưa cầm quyền, Đảng ở một phia với dân, dân tin lắm, và yêu nữa. Từ khi nắm quyền, người có quyền cứ triển khai các mục tiêu “xây dựng Chủ nghĩa Xã hội” đến đâu là khổ dân đến đấy. Con SÂU tham nhũng nào càng bự thì càng ca ngợi Mác Lê, càng nói đạo đức Bác Hồ. Đảng viên bên dưới còn nhiều người tốt nhưng càng lên cao sự tốt càng giảm đi. Nhà văn Phạm Đình Trọng cứ mở Tivi nhìn thấy ông Tổng Bí thư hoa chân múa tay là phải nhìn thấy “nỗi ngán ngẩm ngày thường” , dân chúng cứ nhìn thấy mặt quý vị lãnh đạo là muốn tắt Tivi. Vậy là có tình trạng Dân rất ngán Đảng.

- Đảng tin Dân không? Người dân giải thích vì sao Đảng bị Trung quốc o ép mà khi Dân đứng về phía Đảng biểu tình chống Trung quốc thì Đảng cho Công an bắt bớ, chính vì Đảng đề phòng Dân hơn đề phòng kẻ thù xâm lược, để cho chúng biểu tình lỡ chúng chống Đảng thì sao? Giữa hai cái xấu Đảng phải chọn cái ít xấu hơn là bá quyền Trung quốc.

- Xã hội hiện nay đang chịu 2 áp lực lớn : Trong nước thì kinh tế suy thoái, giá cả leo thang, tài chính kiệt quệ. Ngoài Biển Đông thì Bành trướng o ép. Người ta lo sợ khả năng Đảng sẽ bán bớt Biển Đông để lấy tiền vực kinh tế trong nước, thế là “lấy khó khăn giải quyết khó khăn” , phải đề phòng bọn bán nước dám tán tận lương tâm thế lắm !

- Trước cảnh tượng hàng ngàn dân chúng vược qua nỗi sợ Công an để biểu thị lòng yêu nước chống quân bành trướng, có người thì hồ hởi, mong cho số người tham gia đông hơn nữa cho bọn bành trướng biết lòng dân Việt nam. Nhưng có người thũng thẵng đưa lời can: Đông vừa vừa thế thôi, đông quá Đảng sợ Dân chủ, sợ bạo loạn, sợ mất chủ nghĩa Xã hội, Đảng lại mời các đồng chí Trung quốc sang dẹp loạn thì xe tăng nó nghiền dân mình ra bã! Nghe mà đau lòng.

Khi sự nghi kỵ đến mức như thế thì việc xây dựng một khối đoàn kết “vững như thép gang” đủ sức chống xâm lăng từ nước khổng lồ quả thực không đơn giản. Nhưng tôi dám nói hết những sự thật này vì tôi không tuyệt vọng trước những tâm trạng ấy, xin có lời bàn ở cuối bài.

2c/ Những liên kết do lợi ích

Tại sao Bành trướng Trung quốc xâm lấn đất nước mình mà đảng CSVN cứ phải bám lấy Trung quốc? TS Nguyễn Thanh Giang thì giải đáp bằng cả một một bài viết dài giải thích :vì theo Tàu tuy mất nước nhưng còn hơn theo Mỹ thì mất ghế ! Ghế quan trọng vì gắn với lợi quyền.

Dân quán nước thì chẳng cần lý luận chỉ đọc Bút Tre:

Từ hồi sụp đổ Đông Âu
Đảng Ta không bám Đảng Tàu thì…toi !

Đề tài cái ghế Chuyên chính Mác Lê gắn với lợi quyền thống trị thế nào thì đã quá phong phú, đầy những dẫn liệu từ thâm cung bí sử, chẳng cần nói lại ở đây.

Tôi chỉ xin nói thêm một điều là nạn NGOẠI XÂM (bành trướng Trung quốc) và NỘI XÂM (đàn SÂU tham nhũng, độc tài, cửa quyền, áp bức dân chúng) ở nước ta vốn cùng một nguyên nhân phát sinh.

Ảo tưởng Mác-Lê ở quy mô một nước là “chủ nghĩa tập thể”, ở quy mô quốc tế thì sinh ra “thế giới đại đồng” , tất thẩy cứ muốn tập trung vào một khối lớn để tự quản lý lẫn nhau , và tin như thế là chẳng còn kẻ thống trị nữa, quyền lực sẽ tự tiêu vong.

Nhưng tập thể hóa mà không có cơ chế Dân chủ và Pháp trị thì kẻ cầm đầu là Đảng của vùng ấy sẽ tự tung tự tác, lạm quyền mà sinh ra “một bầy SÂU nhỏ SÂU to” , rồi thành kẻ những NỘI XÂM chiếm mất quyền làm chủ của dân, dân có nước mà cũng như mất nước.

Ở quy mô “quốc tế đại đồng” mà coi nhẹ biên giới quốc gia (trong gia đình đại đồng Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn gọi Anh cả Liên xô và Chị hiền Trung quốc), thì nước lớn sẽ nuốt nước bé sinh ra nạn bá quyền Cộng sản như Liên xô, Trung quốc. Việt nam bị chui tụt vào vòng tay của bà “chị hiền Trung quốc” chính vì bị mê hoặc bởi cái ảo tưởng đại đồng phi quốc gia ấy, nay đã ngập sâu từ mấy chục năm, “chị hiền” tham lam đâu có chịu nhả "thằng em" ra.

Ai cũng biết một câu tuyên ngôn cơ bản nhất của đảng Cộng sản là: Ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có lợi ích gì khác ! Và quả thực đã có thời kỳ lý tưởng, có những nhân vật lý tưởng đã trung thành với đạo đức ấy, nhưng suốt dặm đường dài mấy ai thoát khỏi sự nhào nặn của con quái vật Lợi Quyền?

Ngày nay lực lượng Công An thì nêu khẩu hiệu “Chỉ biết còn Đảng còn mình” !. Lực lượng Quân đội thì trước hết phải trung với Đảng rồi mới đến Dân, coi Quốc hội trước hết của Đảng rồi mới “cũng là của Dân” !. Chỉ chừng ấy thôi đủ minh họa cho độ chênh giữa giữa dòng ưu tiên Lợi ích của Đảng và dòng ưu tiên Lợi ích của Dân. Dân tộc là thể ổn định và trường tồn, lợi ích Dân tộc là mặc nhiên khách quan. Đáng lẽ lợi ích của Đảng phải theo đó mà phù hợp, nếu có phù hợp cũng ở vị trí thứ hai, phát sinh. Nhưng cả hai lực lượng vũ trang đều đưa yếu tố thứ hai thành thứ nhất, xép lợi ích Dân tộc thành yếu tố thứ hai phải thích nghi theo ! Chừng nào lợi ích của Đảng còn xếp lên trên thì không bao giờ có khối đoàn kết dân tộc chân chính, nếu có cũng chỉ là khiên cưỡng, áp đặt, buông sự áp đặt ra là vỡ. Chính vì thế Đảng luôn tự hào tuyên bố về khối đoàn kết do Đảng lãnh đạo mà thực chất trong lòng vẫn sợ , vẫn không dám tin vào lời tuyên bố bố ấy của mình, cứ phải nuôi một bộ máy khổng lồ để giám sát dân.

Ảo tưởng "đại đồng" nơi quốc tế hay “tập thể hóa” nơi quốc nội của Mác-Lê đều là một cơ chế phi dân chủ, à uôm, phi luật pháp, là cái ổ phát sinh nạn độc tài và tham nhũng ở những cấp độ khác nhau. Muốn giải phóng nhân dân khỏi độc tài quốc nội hay giải phóng nước Cộng sản nhỏ Việt Nam ra khỏi bá quyền Cộng sản Trung quốc đều cần dùng đến DÂN CHỦ và PHÁP TRỊ (cả luật quốc tế) mới "giải nô" được. Riêng Trung quốc gốc gác đã có máu bá quyền Đại Hán, sau lại được sự tiếp tay của tư tưởng bá quyền Cộng sản nên thành bọn bá quyền bình phương, nó đang bành trướng nhanh như thổi, trở thành hiểm họa cho cả thế giới.

Bầy SÂU trong nước và bá quyền Cộng sản Trung hoa chính là chị em sinh đôi, cùng một mẹ đẻ ra, mang cùng dòng máu gia trưởng Mác xít phi dân chủ và duy lợi, gắn kết với nhau cũng là tự nhiên. Chỉ cần khảo sát mấy năm gần đây, những hiện tượng cho thấy Lợi ích của Đảng không phù hợp với Lợi ích Dân tộc cũng không ít. Tuy vậy những con SÂU nào chưa nguội hẳn dòng máu Dân tộc thì máu của nó còn là máu pha, vẫn còn cơ hội tìm về lợi ích Dân tộc, nhất là có lúc nó nhận ra có bám theo “chị hiền” thì cũng cam phận tôi đòi vong bản.

Trong hai đợt biểu tình chống Trung quốc xâm lược năm 2007 và 2011, những người có tư tưởng dân chủ đều mừng vì nhân dân đã thức tỉnh trước nguy cơ bị xâm lăng và thức tỉnh nhận ra vai trò công dân phải làm chủ đất nước của mình, các anh em đó coi cuộc biểu tình là sự hồi sinh của dân tộc sau bao năm im ắng, chìm đắm. Họ tiếc rằng cơ hội ấy không phát triển tiếp được để đẩy mạnh những tiến bộ xã hội. Nhưng lực lượng “chỉ biết còn Đảng còn mình” lại coi các cuộc biểu tình ấy là điều xấu cần trấn áp, và họ mừng là đã trấn áp được để nó không phát triển ra. Cùng một sự việc nhưng người của Dân thì gọi nó là cơ hội và tiếc rằng chưa phát triển, người của Đảng thì coi nó là tiêu cực và mừng rằng đã dẹp được yên. Vậy “cơ hội vàng” của bên này lại chính là “thảm họa đen” của bên kia và ngược lại. Ước vọng ngược nhau bởi quyền lợi trái ngược nhau. Nếu còn như vậy thì không thể có những thời cơ hay thảm họa chung cho cả Đảng và cho Dân tộc. Hai dòng lợi ích trái chiều nhau làm sao có thể tạo nên khối đoàn kết để chống xâm lăng. Sự bất hòa ấy chính là thời cơ vàng cho kẻ xâm lược.
Xem như vậy đủ thấy bức tranh liên kết lợi quyền còn nhiều dằn vặt vô cùng phức tạp.

d/ Mấy lời tóm lại

Chủ đề mà tác giả Tấn Vũ qua bài Những bước đi có tính toán…, đã gợi cho tôi dòng suy nghĩ miên man về số phận dân tộc mình, trước hiểm họa của mưu đồ bá quyền Cộng sản-Đại Hán quá ư tàn bạo và nham hiểm, mà nguy thay, họ đã đi được một bước khá dài.

Làm gì đây để cứu Dân tộc ra khỏi nguy cơ? Muốn làm gì trước hết cũng phải tìm sức mạnh ở khối đoàn kết toàn dân tộc. Đảng thì bảo khối đoàn kết ấy luôn luôn có rồi, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng theo tôi một khối đoàn kết vững chắc, đồng tâm, đủ sức đương đầu với hiểm họa hiện nay chưa có. Chẳng những chưa có mà muốn hình thành được cũng còn muôn vàn khó khăn.

- Làm sao đặt lợi ích của Đảng nằm dưới và hoàn toàn phù hợp với lợi ích Dân tộc?

- Làm sao để ngày càng nhiều người biết thành tâm và dũng cảm nói sự thật, sống với sự thật?

- Làm sao toàn dân biết thức tỉnh nhìn nhận đúng nguy cơ và sức mạnh của Dân tộc mình?

- Làm sao biết tạm gác lại mọi khác biệt để tập trung đối phó với lực lượng ngoại bang xâm lược?

Chưa thể một lúc giải quyết hết mọi nguyên nhân tận gốc. Nhiều việc còn phải gỡ dần. Tự nhiên tôi thấy hai chữ”đồng bào” thật quá thiêng liêng, người trong một nước…

Để đất nước lần này rơi vào tay kẻ Bành trướng phương Bắc thì mọi việc đánh dấu chấm hết, không chỉ những chiến công gần đây mà những trang sử vàng chống Bắc thuộc suốt 4000 năm cũng đổ xuống sông xuống bể , những Hưng Đạo Vương, Nguyễn Huệ… sẽ khóc giống nòi, dân tộc này sẽ mất hết quyền tự chủ, “mỗi việc mỗi lời” cũng để cho người ta “dắt tựa trâu bò”!

Nạn Bắc thuộc mới do bá quyền Đại Hán và bá quyền Cộng sản chập lại thì muôn đời không thoát khỏi.

Lời cuối tôi khẩn thiết đề nghị các cấp chính quyền hãy trả lời sự “nắn gân” dân tộc anh hùng chúng ta bằng sự biểu dương truyền thống đoàn kết giữ nước, để khỏi làm nhục cha ông chúng ta. Ít nhất là tiếng nói xứng đáng của báo chí, là sự bình đẳng xứng đáng của quý vị mỗi khi làm việc với đối tác Bắc phương, là sự dừng ngay việc xâm lấn kinh tế, văn hóa, dân cư…của họ đang triển khai trên khắp đất nước, và một sự trả lời rất có ý nghĩa là thả ngay, ít nhất 2 người : Cù Huy Hà Vũ và Điếu Cày mà tinh thần yêu nước chống xâm lược của họ đã thành tiêu biểu. Nếu được trả tự do trong tình thế này tin chắc họ hiểu ý nghĩa thiêng liêng của nghĩa cử , và biết phải làm gì để đáp ứng xứng đáng lòng yêu nước, bảo vệ đất nước mà mọi người mong đợi.

Bài viết của Tấn Vũ trên báo Đảng, cùng với những phát biểu mới mẻ gấn đây của ông Lê Đức Anh, ông Nguyễn Tấn dũng…về tinh thần chống xâm lấn , giữ vững chủ quyền, bảo vệ đất nước liệu có thể báo hiệu một bước chuyển gì chăng?

***

Có thể tôi đã mở lòng ra như một kẻ vô duyên, hay như “gái góa lo việc triều đình”.

Nhưng từ đêm nay tôi không còn xấu hổ với dòng máu đang chạy trong huyết quản tôi, không còn phải cúi mặt mỗi khi nghĩ đến những thế hệ sẽ ra đời sau tôi mấy chục năm, mà số phận họ thế nào tôi chưa thể hình dung được.

Chỉ biết, xin các bạn hãy cùng tôi cầu chúc cho những thế hệ Việt hậu sinh ấy được muôn ngàn lần tự do và hạnh phúc.

Đà Lạt 14/6/2011
Hà Sĩ Phu
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Ðòi quyền hội họp, quyền thông tin tự do

Ngô Nhân Dụng



Hai bản ý kiến mới được công bố trong vòng hai tuần lễ cho thấy giới trí thức Việt Nam đã mạnh bạo nhập cuộc trong việc tranh đấu của người dân Việt trước những hành động gây hấn mới của Trung Quốc tại biển Ðông. Nhưng đằng sau những đòi hỏi vì lòng yêu nước đó, các nhà trí thức cũng nêu lên và đòi thực hiện những quyền tự do căn bản mà người dân Việt chưa được hưởng: Tự do hội họp và tự do thông tin.

Những bản ý kiến này thực ra chỉ nhắc lại một cách chính thức các ý kiến đã được nêu lên trong các blog do nhiều nhà trí thức và văn nghệ sĩ đã thực hiện gần đây, như các ông Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Xuân Diện, Tô Hải, vân vân. Bản ý kiến thứ nhất được làm tại Sài Gòn ngày 25 Tháng Sáu, mang tên là một Tuyên Cáo “Về Việc Nhà Cầm Quyền Trung Quốc Liên Tục Có Những Hành Ðộng Gây Hấn, Xâm Phạm Nghiêm Trọng Chủ Quyền Và Toàn Vẹn Lãnh Thổ Việt Nam Trên Biển Ðông.”

Sau khi lên án nhà cầm quyền Trung Cộng với những hành động gây hấn nhằm xâm chiếm biển Ðông, sau khi tuyên bố ủng hộ các cuộc biểu tình của đồng bào, tuyên cáo này nhấn mạnh “biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc, của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước ở trong nước cũng như ở ngoài nước.” Ðó là xác định không ai được chiếm độc quyền yêu nước. Nhưng ý kiến cụ thể nhất là nói với nhà cầm quyền ở Việt Nam “không vì lý do gì ngăn chặn những hành động yêu nước của nhân dân bao gồm các cuộc biểu tình, mít tinh ôn hòa, trật tự của thanh niên, sinh viên học sinh và đồng bào Việt Nam trên toàn quốc.” Nói cách khác, người Việt Nam phải có quyền tự do hội họp để phát biểu ý kiến khi cần bảo vệ tổ quốc.

Bản ý kiến thứ nhì là một kiến nghị gửi Bộ Ngoại Giao ngày 4 Tháng Bẩy 2011, “Yêu Cầu Bộ Ngoại Giao Cung Cấp Thông Tin Liên Quan Ðến Quan Hệ Với Trung Quốc.”

Giống như bản tuyên cáo trước đó, kiến nghị này dựa trên một sự kiện cụ thể gần đây, là một bản tin bằng tiếng Anh của Tân Hoa Xã ngày 28 Tháng Sáu 2011 loan báo cuộc gặp gỡ giữa ông Hồ Xuân Sơn, thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Nam, với ông Trương Chí Quân, thứ trưởng Bộ Ngoại Giao về phía nhà nước Trung Quốc, và ông Ðới Bỉnh Quốc, ủy viên Bộ Chính Trị đặc trách về ngoại giao trong đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Bản tin Tân Hoa Xã nói rằng trong các cuộc gặp gỡ trên hai chính quyền đều “...phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam...” Nếu đúng như vậy thì hai đảng Cộng Sản đã tước bỏ quyền của nước Việt Nam nếu muốn liên minh với các nước Ðông Nam Á hay các cường quốc khác khi phải đối đầu với Bắc Kinh! Và Tân Hoa Xã viết tiếp là hai bên “nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy...” Lời “nguyện” này rõ ràng là lời Bắc Kinh bắt chính quyền Hà Nội phải ngăn chặn các cuộc biểu tình của dân phản đối các hành động gây hấn của Trung Quốc. Nếu thực hiện lời “nguyện” này, đảng Cộng Sản đã mặc nhiên nghe lệnh Bắc Kinh bác bỏ lời yêu cầu tự do hội họp nêu trong bản tuyên cáo thứ nhất, giống như họ vẫn làm trước đây.

Bản tin của nhà nước Trung Quốc còn nhấn mạnh, “Những hồ sơ lịch sử của Trung Quốc đã cho thấy rằng năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Hoa Nam như là bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó Thủ Tướng Việt Nam Phạm Văn Ðồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao ngắn của mình gửi tới thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai.” Bản tin Tân Hoa Xã không cho biết ông Hồ Xuân Sơn đã phản ứng thế nào khi được nhắc nhở điều đó. Những người ký kiến nghị nhận xét: “Những thông tin trên chúng tôi không thấy đăng trên báo chí của Việt Nam.”

Chính vì thấy bản tin của thông tấn xã nhà nước cộng sản ở Việt Nam không hề nói đến các chi tiết trên, cho nên những người ký kiến nghị đã yêu cầu phải công bố tất cả những thỏa thuận giữa ông Hồ Xuân Sơn và chính quyền và đảng Cộng Sản Trung Quốc; đặc biệt là thỏa thuận cấm dân Việt bày tỏ ý kiến và lời cam kết không mời nước nào khác tham dự các cuộc hội đàm về hải đảo.

Những nhà trí thức đưa ra các đòi hỏi trên nhân danh hai điều ghi trong Hiến Pháp năm 1992, Ðiều 53 nói: “Công dân có quyền... tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước,...”, và Ðiều 69 nói: “Công dân... có quyền được thông tin;...”

Hai bản tuyên cáo và kiến nghị trên đây đánh dấu một chuyển biến trong nhiều nhà trí thức trong nước, trong đó một số từng là đảng viên cộng sản hoặc đã ủng hộ chế độ cộng sản. Ðó cũng chỉ là một bước tiến trong quá trình phản kháng của giới trí thức Việt Nam gần đây, khi họ lên tiếng đòi các quyền tự do dân chủ cho đồng bào. Những người làm blog từng nêu lên những ý kiến giống như vậy sớm hơn, và còn đi xa hơn nữa. Những người đã đấu tranh trong vòng pháp luật như Nguyễn Văn Ðài, Nguyễn Vũ Hải, Nam Phương, Tạ Phong Tần, vân vân, còn đưa ra những đòi hỏi cụ thể với tính chất toàn diện và căn bản hơn nữa. Tất cả phong trào tranh đấu trên mặt trận tư tưởng, tác động trên dư luận trong mấy năm nay cũng có thể coi là đã noi theo truyền thống của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ở Hà Nội trước đây hơn nửa thế kỷ. Năm 1958 chế độ chuyên chính đã dập tắt phong trào Nhân Văn Giai Phẩm và đày đọa những Phùng Quán, Trần Dần, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Ðang, Ðặng Ðình Hưng. Năm nay, người Việt Nam sẽ không cho phép tái diễn hành động đó.

Trong những năm 1955, 56, các văn nghệ sĩ và trí thức Nhân Văn Giai Phẩm chưa nêu lên vấn đề quyền làm người, một khái niệm mà ngày nay đương nhiên ai cũng phải quan tâm. Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm cũng chỉ giới hạn trong việc tranh đấu để giới trí thức văn nghệ được góp ý kiến với đảng cộng sản trong việc lãnh đạo văn nghệ. Ngày nay, phong trào trí thức tranh đấu mới đòi hỏi thực hiện các quyền làm người, cụ thể nhất là những quyền căn bản như tự do hội họp, tự do thông tin, cho tất cả mọi người dân Việt.

Những đòi hỏi tự do của các nhà trí thức sẽ ảnh hưởng lâu dài trên tương lai đất nước nếu được đấu tranh bền bỉ cho tới khi đảng cộng sản phải nhượng bộ. Chỉ cần một quyền tự do được thể hiện, như quyền tự do hội họp, là có thể sẽ có một bước ngoặt mở đầu một trang mới trong lịch sử đất nước. Trong 5 tuần lễ qua, người dân Hà Nội đã đi biểu tình liên tiếp để bày tỏ lòng yêu nước trước các hành động ngang ngược và thái độ xấc láo của chính quyền Trung Cộng. Ðiều cốt yếu trong yêu cầu tự do hội họp này là đòi quyền tự do yêu nước, không còn để cho một nhóm người chiếm độc quyền nữa. Nhưng đó cũng là tiếng nói đòi cho mọi người dân quyền tập họp và phát biểu những nguyện vọng chính đáng. Ngày Chủ Nhật vừa qua, đoàn người biểu tình đã tiến đến trước Nhà Hát Lớn Hà Nội, một địa điểm đã chứng kiến lịch sử Việt Nam thay đổi. Chúng ta không quên rằng cuộc biểu tình ngày 19 Tháng Tám năm 1945 do giới trí thức tiểu tư sản Hà Nội tổ chức cũng khởi đầu tại Nhà Hát Lớn, trước khi bị các cán bộ cộng sản “cướp diễn đàn.” Tại Sài Gòn, thanh niên cũng đã biểu tình chống Trung Quốc trên các đường mang tên cũ là Duy Tân, Thống Nhất, nơi đã xuất phát các cuộc biểu tình chống Hiến Chương Vũng Tầu năm 1964, biểu tình đòi bầu cử Quốc Hội lập hiến năm 1966, mà từ đó mới thiết lập bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1967. Những địa điểm trên đã đi vào lịch sử, và sẽ còn làm lịch sử. Ðảng Cộng Sản Việt Nam biết khó kiểm soát người dân Sài Gòn, trong đó có những người đã từng đi theo cộng sản trong thời chiến, cho nên công an Sài Gòn đã đàn áp mạnh mẽ hơn trong hai tuần qua, các người tổ chức biểu tình đã bị chặn lại từ khi chưa bắt đầu. Nhưng dân Hà Nội vẫn được phép tụ họp, chứng tỏ nhà nước cộng sản đã phải nhượng bộ trước tinh thần bất khuất của người dân.

Khi người dân một nước tự đứng ra thực hiện quyền hội họp tự do, một xã hội công dân sẽ thành hình, làm động lực thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa. Chúng ta biết rằng Phong trào Công Ðoàn Solidarnos tự phát ra đời năm 1980 cũng là một biểu hiện cụ thể của xã hội công dân ở Ba Lan. Trước đó, ở Ba Lan chỉ có giáo hội Công Giáo đứng bên ngoài guồng máy kiểm soát của nhà nước, tạo được một không gian tư và “dễ thở.” Lần đầu tiên năm 1980 mới có một tổ chức đứng ngoài guồng máy đảng cộng sản, Solidarnos vừa độc lập vừa tự nguyện, tự giành lấy quyền hoạt động công đoàn và đảng Cộng Sản Ba Lan cũng phải nhượng bộ. Nhờ những hoạt động của xã hội công dân như thế mà quá trình dân chủ hóa ở Ba Lan từ năm 1990 đã tiến nhanh hơn nhiều nước cựu cộng sản khác. Một Xã hội Công dân gồm các tổ chức độc lập và tự nguyện phát xuất từ những khát vọng và nhu cầu cụ thể của người dân, là căn bản để xây dựng nếp sống dân chủ. Nó khác với xã hội dân sự trong đó bao gồm cả guồng máy hành chính dân sự và các tổ chức phụ dân sự do chính quyền dựng lên, tiếng gọi là tư nhân nhưng hoàn toàn lệ thuộc đảng cầm quyền.

Nhưng bản kiến nghị ngày 4 Tháng Bẩy 2011 còn nêu lên một đòi hỏi lớn là yêu cầu chính quyền Cộng Sản Việt Nam xác định lập trường của họ đối với lá thư Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Như nhiều lần đã trình bày trong mục này, muốn lên tiếng nói được quốc tế kính trọng, nhà cầm quyền ở Việt Nam phải xác định dứt khoát rằng lá thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958 là vô giá trị. Lúc đó, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền cai quản của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, ông Phạm Văn Ðồng đứng đầu một chính phủ chỉ cai trị phía Bắc vĩ tuyến 17 cho nên không có thẩm quyền trên các đảo đó. Mặc dù ông Phạm Văn Ðồng có viết thư nói ông đồng ý với ông Chu Ân Lai, nhưng về một vấn đề lãnh thổ quốc gia, văn kiện đó không phải là một hiệp ước, không được một Quốc Hội nào của nước Việt Nam thông qua, thì cũng vô giá trị. Ngược lại, hành động đánh chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc đầu năm 1974, việc đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa năm 1988 rõ rệt là những cuộc tấn công xâm lược của quân đội Trung Hoa đối với các hải đảo thuộc nước Việt Nam. Xác định những điều trên là một dịp để đảng cộng sản tạ tội đối với tổ tiên, với các thế hệ tương lai, về một hành động lầm lẫn trong quá khứ.

Tháng Tám năm 1945, khi các công chức thành phố Hà Nội, thuộc bộ máy hành chánh của chính phủ Trần Trọng Kim, tổ chức mít tinh ở Nhà Hát Lớn, giấc mộng của toàn dân là giành độc lập quốc gia. Cuộc mít tinh đó đã bị chiếm đoạt, đảng cộng sản sau đó đã cướp quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, đưa đến cảnh cốt nhục tương tàn. Bây giờ người dân Việt Nam còn tự hỏi trong 55 năm qua nước mình có thực sự độc lập toàn vẹn hay vẫn luôn luôn bị ngoại bang thao túng; mà chính vì thế đã đưa tới cảnh cốt nhục tương tàn? Người trí thức Việt Nam bây giờ khi tiến đến Nhà Hát Lớn Hà Nội, chắc không phải chỉ nghĩ đến ước vọng quốc gia độc lập thực sự mà còn phải biết đòi hỏi những quyền tự do căn bản cho mọi người dân Việt được sống xứng đáng với phẩm giá làm người. Tự do thông tin, tự do hội họp, là những quyền căn bản để thực hiện các quyền tự do bỏ phiếu chọn những chính phủ của dân, do dân và vì dân đích thực.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trường Hợp Phạm Xuân Ẩn


Vi Anh

Phạm Xuân Ẩn
Trường hợp các lãnh tụ đảng phái, tôn giáo Quốc gia tham gia mặt trận Việt Minh trong đó có CS để chống Pháp giành độc lập cho nước nhà VN, bị CS ám hại, thủ tiêu để CS độc chiếm quyền hành quốc gia là một bài học tập thể về CS. Người Quốc gia thua vì không thể hành động vô đạo đức, vô lương tâm như CS, lấy phương pháp bá đạo lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện. Thí dụ trường hợp CS nhờ phục Đức Huỳnh Giáo chủ về Miền Tây dàn xếp xung đột giữa CS và Phật Giáo Hoà Hảo, lợi dụng lời mời hội họp để ám hại Ngài. Một bài học để đời, khiến nhiều thế hệ người Việt Quốc gia chống Cộng tới cùng, chống Cộng hết mình. Chống suốt hai thời Đệ nhứt và Đệ nhị Cộng hoà, sau khi Saigòn sụp đổ, di tản chiến thuật ra hải ngoại vẫn tiếp chống Cộng.

Trường hợp ông Phạm Xuân Ẩn, nhà báo ăn cơm Quốc gia thờ ma CS, bán mạng làm gián điệp cho CS Hà nội, mới qua đời, thọ 78 tuổi, phải ôm hận xuống Âm phủ là một bài học cá nhân về CS. Qua những nhà báo Pháp, Mỹ, độc lập và từng thâm giao với ông Ẩn khi còn làm cho làng báo Anh Mỹ ở Saigòn và sau Chiến tranh VN trở lại thăm ông Ẩn ở Saigòn, cho biết ông Ẩn rất thất vọng, bất mãn, cay đắng trước những tồi tệ, tham nhũng của chế độ CS, và thú thật lý tưởng của Ông theo suốt đời bị phản bội.

Nhưng đã dính với CS rồi khó mà thoát thân cho toàn mạng. Không phải riêng với ông Ẩn thời CS mới bắt đầu chiếm được nửa nước. Mà thời bây giờ CS đã tóm thu tất cả quyền hành và toàn bộ đất nước. Họ có đầy đủ phương tiện và thế lực để chiêu dụ và bắt hồn lẫn xác những người lỡ dính với họ. Yếu bóng vía, thiếu kinh nghiệm CS, tưởng chơi với CS Hà nội như chơi với người Việt Quốc gia, chơi với dân Tây Phương là sẽ mắc mồi CS. Lúc đó "cá cắn câu biết đâu mà gỡ, chim vào lồng biết thuở nào ra". Lịch duyệt, cảnh giác như ông Ẩn làm gián điệp cho CS suốt Chiến tranh VN mà không bị lộ kia, giờ chót còn không lối thoát khỏi CS, chớ đừng nói cỡ những người trẻ Việt ăn học cao ở Tây Phương, chưa biết CS thực sự là gì.

Ba nhận định trên có thể chứng nghiệm qua trường hợp ông Phạm xuân Ẩn. Là một người đi học Mỹ về trong thời Mỹ mới vào, ông có quá nhiều cơ may để thành đạt trong chế độ mới. Thế mà ông Ẩn không thoát được "tổ chức" dù người đầu mối của Ông đã bị chánh quyền mới của VN bắt. Và trớ trêu nhứt, chính nhân vật có thế lực an ninh cao nhứt của VN Cộng Hòa, BS Trần kim Tuyến là người đã vô tình cứu ông Ẩn và mở đường và tạo vỏ bọc cho ông thi hành điệp vụ - điệp vụ phục vụ cho CS Hà nội.

Theo nhà báo Dan Southerland, vốn là bạn đồng nghiệp trong báo Chistian Science Monitor, Time, nay là Phó Giám đốc Chương trình của Đài Phát Thanh RFA, nói sau khi biết ông Ẩn đã qua đời đến thăm ông Ẩn hai lần mới được gặp xưa là người làm chung với ông Ẩn trong báo chí. Ẩn vận động giúp cho BS Trần kim Tuyến di tản ngày 29 tháng tư, là điều có thật và thuần ơn nghĩa. Dan Sotherland chính là người mà ông Phạm Xuân Ẩn nhờ giúp tìm cách đưa bác sĩ Tuyến rời Việt Nam vào ngày 29 tháng 4. ông Southerland nói đó là vấn đề thuần ơn nghĩa, "lý do sâu xa là khi ông Phạm Xuân Ẩn đi học báo chí ở Hoa Kỳ trở về Việt Nam năm 1959 trong một tâm trạng hết sức lo lắng vì người chỉ huy trực tiếp của ông đã bị chính quyền bắt. Thời gian trước và sau năm 1960, chính phủ ông Ngô Đình Diệm truy quét hầu hết các phần tử Việt minh cài lại miền Nam. ông Ẩn đã trốn trong nhà cả tháng trời và sau đó nhờ mối quan hệ gia đình, bắt liên lạc được với bác sĩ Trần Kim Tuyến, lúc đó đang là giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị của chính phủ ông Diệm, tức là cơ quan mật vụ của chế độ, có trụ sở ngay dinh Độc Lập. Nhờ mới du học về báo chí ở Hoa Kỳ (Đại học Cộng đồng OCC và Fullerton) về, ông Phạm Xuân Ẩn được bác sĩ Tuyến bố trí phụ trách các ký giả nước ngoài làm việc cho Việt Nam Thông Tấn Xã. Nhờ vỏ bọc này và nhiệm vụ phù hợp, ông Ẩn dần dần xây dựng niềm tin và phát triển hoạt động, chuyển qua làm việc cho hãng thông tấn Reuters, nhật báo The Christian Science Monitor và rồi tuần san Time. "Nếu không có vỏ bọc đó và sự quen biết với BS Tuyến thời Đệ nhứt và thân thiện thời Đệ nhị Cộng Hoà, ông Ẩn khó mà trở thành một gián điệp như Hà nội đã đánh bóng.”

Nhưng sự thật, theo nhà báo Southerland quen biết và thân thiện với ông Ẩn từ rất lâu "về một nghĩa nào đó ông Ẩn ít nhất có thể cung cấp thông tin cho Hà Nội về một số việc, chẳng hạn như cách suy nghĩ, lý luận của người Mỹ. Đó là khả năng lớn nhất của ông Ẩn. Ông ta có thể cảm nhận sự thật. Nhiều người Việt Nam tôi biết, người phía Nam Việt Nam, rất thông minh, rất luận lý, thường cho là nước Mỹ rất hùng mạnh có thể làm tất cả mọi sự. Nếu Mỹ muốn chiến thắng thì họ đã có thể thắng ngay lập tức. Ông Ẩn lại có một cái nhìn rõ nét hơn về những điểm yếu của phía Hoa Kỳ, về hệ thống hoạt động, về mối tương quan kiểm tra chồng chéo nhưng hữu hiệu giữa Hành pháp và Lập pháp. Kiến thức đó dĩ nhiên là giúp ích Hà Nội rất nhiều, vốn không có chuyên viên đầy đủ kiến thức về đối phương như ông Ẩn." Theo ông Southerland, chính sự thân thiện đã khiến BS Trần kim Tuyến thời Đệ nhị Cộng Hoà dù không còn làm tình báo nhưng quảng giao trong chánh quyền, đã vô tình nói lại một số chiến lược của Mỹ thời BS Tuyến còn làm trùm tình báo VN và giúp cho ông Ẩn có thêm dữ kiện so sánh để phân tích và báo cáo tình hình cho Hà nội.

Theo Thông tấn xã Pháp AFP viết sau khi ông Ẩn chết 1 ngày, rằng sau khi Sàigòn rơi vào tay CS năm 1975, CS Hà Nội thoạt tiên định đưa ông tham gia cùng những nhân vật nằm vùng chưa bị lộ diện chạy sang Hoa Kỳ tỵ nạn để tiếp tục hoạt động. Nhưng rồi họ nghi ngờ, đổi ý. Họ xét lại quan điểm, lập trường của ông vì ông làm gián điệp đơn tuyến cho họ, quá lâu ở Miền Nam trong lòng địch. Họ móc lại hồ sơ ông đã góp phần giúp đỡ một số người như trường hợp ký giả Robert Sam Anson, đồng nghiệp ở tuần báo Time, bị CS bắt bên Kampuchia. Hà nội nghi là ông Ẩn đã vận động để Mặt trận Giải phóng và phe Khmer Đỏ thả. Và trường hợp bác sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị thời đệ nhất Cộng hòa, Hà nội nghi là ông Ẩn đã dàn xếp với nhà báo Mỹ để được rước đi ngày 29-4.

Từ đó, ông Ẩn coi như bị CS Hà nội bị CS thực sự "quản thúc tại gia" ở một biệt thự tại Quận 3. Ai thăm cũng phải có sự đồng ý của "tổ chức." Ông Ân không thể thoát ra ngoài "tổ chức" CS được dù đã thất vọng ê chề và bất mãn tột độ đối với chế độ CS Hà nội vì cảm thấy bị phản bội trắng trợn. Nhưng bên ngoài CS Hà nội đánh bóng ông như một James Bond tại thế, một gián điệp toàn vẹn, báo cáo tình báo của ông được ông Hồ chí Minh và Tướng Võ nguyên Giáp khen khi đọc như đang ở ngay trong Phòng Tình Hình Chiến tranh của Bộ Quốc Phòng Mỹ. Khi CS khen là coi chừng, sắp có tai họa lớn đó.

Trong cô đơn, thất vọng và bất mãn, ông Ẩn chỉ còn một ít cơ hội hiếm hoi, liều mạng bộc lộ với một vài nhà báo Tây Phương bạn cũ được CS cho gặp với ý đồ dùng bài viết để kiểm soát tư tưởng ông Ẩn hay đánh bóng cho ngành gián điệp của CS Hà nội. Trong những dịp hiếm hoi này, trong chỗ tín cẩn riêng tư với nhau (lương tâm con người và nhà báo chân chính không cho phép tiết lộ những gì được dặn giữ kín khi nguồn tin còn sống và có thể gây hại cho đương sự), nên một số tiết lộ về ông Ẩn là những về thất vọng của ông Ẩn chỉ nói phớt qua thôi và được giữ kín đến sau khi ông Ẩn chết mới tiết lộ rõ ràng như vụ BS Tuyến. Năm ngoái, ông Ẩn tâm tình với nhà báo Dan Southerland đến thăm ông Ẩn hai lần mới được gặp. Rằng "Họ [những người ngoài Bắc vào] tham nhũng tệ hại hơn nhiều lắm, ông vỡ mộng vì đã hỗ trợ họ hết sức mình, để rồi họ hành xử không xứng đáng khi chiến thắng."

Cũng trong thời gian năm ngoái, ông Ẩn còn đắng cay hơn khi tâm sự với nhà báo của tờ New Yorker ghi lại trong bài viết về ông Ẩn như một điệp viên trọn vẹn, trong một bài dài 10 ngàn chữ. ông Ẩn nói đã đau đớn thấy lý tưởng suốt đời ông theo đuổi bị phản bội. Ông "tự khẳng định là chưa thể chết được. Lý do: Không có chỗ nào giành cho ông cả. Địa ngục chỉ dành cho những tên bợm bãi, mà Việt Nam đang còn quá nhiều, nên chật chỗ rồi." Với một nhà báo Pháp cũng thân lâu đời với ông Ẩn, ông Ẩn cũng nói nội dung tương tự.

Sai lầm, hối hận, thất vọng, bất mãn và bất lực của ông Ẩn đến chết không thoát được tổ chức CS là một bài học cho lớp trẻ VN có ăn học nhiều mà ít kinh nghiệm CS. Xe trước đổ, xe sau phải tránh. Kể cũng có ích, lời khuyên của TT Nguyễn văn Thiệu, đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm. Ông Ẩn làm việc "bán mạng" cho CS Hà nội mà sau cùng vẫn ôm hận CS xuống âm ty. Huống hồ gì lớp trẻ ở Mỹ là những người mỏ trắng, bị CS chiêu dụ công khai bằng Nghị quyết 36 và thí dụ đường mật rẻ tiền, "ấn tượng" không đẹp là "khúc ruột ngàn dặm của quê hương." Trường hợp Phạm xuân Ẩn đáng cho lớp trẻ ở hải ngoại có ăn học nhiều chuyên môn mà thiếu kinh nghiệm CS -- suy gẫm.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Trung Quốc: Ngoại giao lòng dân đổ vỡ

Phá hỏng giấc mơ thành rồng thế giới

Nhà văn Văn Cầm Hải

Trung Quốc là một nước lớn về mặt dân số với hơn 1.3 tỷ người sinh sống trên cương vực lãnh thổ rộng lớn vào hàng thứ tư thế giới.

Nhưng tại sao, dù ngày càng giàu mạnh về kinh tế và quân sự, Trung Quốc vẫn không trở thành một con rồng tung hoành dọc ngang trong sự ngưỡng vọng của nhân loại như nước Mỹ hay Nga?

Câu trả lời nằm ở một điểm yếu chí mạng: Trong khi các cường quốc đã yên dân để mở mang đất nước theo chiều sâu và chiều thẳng đứng của khoa học và trí tuệ, Trung Quốc vẫn còn phải bận tâm với việc mở mang đất nước theo chiều ngang, vật lộn với công cuộc mở đất, đồng hóa dân chúng ở các vùng phên giậu bất thành!

Những ai từng đến thăm Lhasa-thủ phủ Tây Tạng đều có tâm nguyện đảnh lễ Phật ở cung điện Potala. Ðối mặt với Thánh địa huyền bí với hơn 1,000 bảo tháp chứa đựng Thánh tích lama này là một công trình kiến trúc hiện đại phản ánh mối quan hệ đặc trưng đầy máu và nước mắt giữa chính quyền Trung Quốc và Tây Tạng: Tượng đài hòa bình nhưng dưới chân nó lại lấp loáng những chiếc lưỡi lê tuốt trần đầy khí sắc đe dọa từ các tay súng người Hán.

Từ Lhasa - thủ phủ của các Dalai Lama chống Trung Quốc cho đến Tashilhungpo, nơi trú ngụ uy quyền của các Panchen Lama thân Bắc Kinh, tôi khó tìm được một nụ cười thân thiện giữa người Hán và người dân bản địa.

Mở đầu chương trình ti vi vào ban mai là cảnh chào cờ, hát quốc ca Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa với sự tham gia rực rỡ của các cháu thiếu nhi Tây Tạng. Nhưng trên đường phố Lhasa, mỗi sáng sớm tôi chỉ nhìn thấy những gương mặt trẻ thơ, gò má cháy nắng bán dạo trên phố hay lăn lóc bên cạnh những bà mẹ lấm bụi. Ðêm về tôi đã gặp một cô gái Tạng chưa đến 18 tuổi phải làm điếm trong một nhà thổ!

Chính sách ngoại giao lòng dân của Trung Quốc bị phá sản ở Tây Tạng vì chiến lược đồng hóa của họ. Trung Quốc đã tiến hành các biện pháp “diệt chủng văn hóa” (chữ dùng của Dalai Lama) bản địa với nhiều phương thức: hủy diệt nhân mạng, triệt phá tu viện tôn giáo, đưa chữ Hán vào nhà trường, xây dựng các công trình kiến trúc vô thần với các phương tiện kỹ thuật hiện đại.

Những cái gọi là “cải thiện dân sinh” không làm cho người Tạng khâm phục, ngược lại càng tăng thêm sự căm phẫn vì đời sống tâm linh của họ như bị cưỡng hiếp.

Là một miền đất tâm linh, 800 năm qua Tây Tạng dành 75% ngân sách để dựng xây 60,000 tu viện nhưng từ năm 1950, thời điểm Ðặng Tiểu Bình - Bí thư thứ nhất cục Tây Nam của Mao tiến quân vào Tây Tạng, cho đến nay như đại sư Sogyal Rinpoche công bố trong Tạng Thư Sống Và Chết: đã có hơn 1 triệu trong số 6 triệu người dân Tây Tạng bị tiêu diệt và đại đa số các tu viện trong số 6.500 tu viện bị tàn phá. [1]

Bước vào thế kỷ 21 cho dù Bắc Kinh và Lhasa đã nối liền một dải đường sắt, chính quyền Trung Quốc đã phải ra tay đàn áp các phong trào nổi dậy đòi độc lập của người Tạng. Hơn 203 người bị giết, 1,000 người bị thương, hơn 6,000 người bị bắt vào năm 2008. [2]

Xét về mặt kiên trì và thâm sâu, Trung Quốc thực sự là một dân tộc vĩ đại khi họ ròng rã theo đuổi công cuộc Hán hóa đối với các vùng đất họ thèm muốn. Tân Cương là một ví dụ điển hình.

Quá trình chiếm đất lấn dân diễn ra từ 139 trước Công nguyên khi Trương Khiên đời Hán Vũ Ðế dấn thân ra chốn quan ải tìm đến con đường tơ lụa nối liền Âu-Á cho đến 1884 triều Mãn Thanh đã biến lãnh thổ Ðông Turkestan thành Xinjiang-Tân Cương.

Ðặc biệt là từ 1949 cho đến nay, người Hán không ngừng đẩy mạnh chiến dịch “hán hóa” vùng “ biên giới mới” bao gồm lòng chảo sa mạc Gobi-Taklamakhan mênh mông gió cát; Thánh địa của dòng Hồi Giáo Sunni chính thống Hanafi của tộc người Uyghur.

Từ chỗ chỉ có 4% là người Hán năm 1949 nhưng đến nay Tân Cương đã có hơn 40% là người Hán với hơn 8 triệu người. Người Uyghur bản địa trở thành “kẻ xa lạ,” bị người Hán áp đảo về mặt dân số, kinh tế, chính trị và văn hóa ngay trên chính mảnh đất tổ tiên của mình.

Theo Baline Kaltman, 82% người dân Uyghur nhìn nhận quan hệ Hán-Uyghur rất tệ hại và có cái nhìn tiêu cực về chính sách tự do tôn giáo của chính quyền vì những đạo luật không cho phép trẻ em đến nguyện cầu ở thánh đường hoặc tham gia các lễ hội tôn giáo cho đến năm 18 tuổi. 82% dân bản địa không muốn kết bạn với người Hán và 94% dân chúng Uyghur không không biết đến những ngày lễ quốc gia Trung Quốc! [3]

Không đơn độc như Tây Tạng, nhờ có vị trí địa lý tựa lưng vào những người anh em Hồi Giáo ở Afghanistan, Pakistan và các nước Trung Á bao quanh, những phong trào ly khai của người Uyghur bị chính quyền Trung Quốc xem là các tổ chức khủng bố đã gia tăng những vụ xung đột sắc tộc và tôn giáo giữa người Hán và Uyghur.

Nếu trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 chỉ có 200 vụ việc với 162 người bị chết, 440 bị thương thì chỉ riêng trong năm 2008, theo số liệu chính thức đã có 184 người bị chết từ những vụ đàn áp của chính quyền trong khi các phong trào ly khai công bố có đến 600 đến 800 nạn nhân Ughur bị giết hại. [4]

Chính quyền Trung Quốc, theo nhận định của Ziad Haiker, rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan: tiếp tục đàn áp dân chúng Hồi Giáo Uygur hay xa lánh họ, hoặc là khuyến khích người Uyghur bảo vệ tín ngưỡng tôn giáo của họ cho dù những điều này sẽ làm cho dân Uyghur tăng cảm giác khai và ác cảm với xã hội người Hán. [5]

Cùng chia sẻ sa mạc Gobi với Tân Cương là Nội Mông - vùng đất của Thành Cát Tư Hãn nay cũng nằm dưới sự cai trị của Trung Quốc. Những cuộc xung đột dẫn đến chết người giữa chính phủ và người dân du mục trong những tháng gần đây báo hiệu sự nổi dậy công khai của phong trào ly khai bí mật vận động cho vùng đất Nội Mông trở về với đất mẹ Mông Cổ.

Sự nhẫn nhịn của người Mông Cổ, tôi đã biết qua một người bạn Mông Cổ mời tôi ăn thịt nướng trong đêm mưa ở Lan Châu, thủ phủ tỉnh Cam Túc. Anh ta khuyên tôi rằng, nếu muốn giết sói, hãy cho nó chạy và hú đến lúc nào nó quỵ xuống vì sức lực mà chúng bỏ ra! Người Mông Cổ đang chờ đợi điều ấy diễn ra với người Trung Quốc.

Trong thời đại Internet liên thông, ước mơ của người Mông Cổ không phải là một sự hão huyền. Công cụ truyền bá thông tin góp sức làm những vùng đất phên giậu phía Tây và Tây Nam, Tây Bắc trở thành những thùng thuốc súng sẵn sàng bùng nổ trên trên lưng Trung Quốc.

Một phóng viên truyền hình người Hazark, quê ở Yili, tôi gặp ở Urumqi đã mong ước một ngày người Tạng Mật Giáo, người Uyghur Hồi Giáo Sunni và Mông Cổ liên kết với nhau đứng lên giành lại lãnh thổ của cha ông. Lần hiếm hoi trong đời, tôi nhìn thấy một ước nguyện chính trị vượt lên sức mạnh của đức tin vì các tín đồ khác đạo cùng có chung một kẻ thù. Sự phản kháng này cho thấy, sức mạnh của nền văn hóa bản địa và bản lĩnh sắc tộc tôn giáo đã làm cho công cuộc hán hóa của Trung Quốc thất bại trong việc tìm thấy sự chiến thắng lòng người trên mọi vùng đất nằm ngoài cõi hoa hạ dọc sông Hoàng Hà sau hàng ngàn năm gắng sức.

Trung Quốc từ xa xưa cho đến nay, dù trải qua bao nhiêu thời đại - Hán, Nguyên hay Mãn Châu, cộng sản hay không cộng sản, những kẻ cầm quyền đất nước này vẫn theo quán tính thực hiện những âm mưu đã trở thành cố hữu lịch sử của họ: Tự cho mình là dân tộc trung tâm của thế giới và có quyền bành trướng lãnh thổ bất chấp, coi khinh các nền độc lập của các dân tộc khác.

Năm 1911, trong cuộc gặp gỡ giữa Tôn Trung Sơn - vị lãnh tụ cách mạng Tân Hợi và chính trị gia Ki Tsuyoshi Inukai ở Tokyo. Inukai đã hỏi Tôn có cái nhìn như thế nào về người Việt Nam. Tôn trả lời không chút do dự rằng người Việt Nam bẩm sinh là loài nô lệ. Dân Việt Nam bị cai trị bởi người Hán và bây giờ (1911) họ lại bị người Pháp cai trị nên họ không thể có một tương lai tươi sáng!

Inukai đã đáp lại: Tôi không đồng ý với nhận định của Ngài vì dù người Việt Nam chưa được độc lập trong hiện tại nhưng họ chính là bộ tộc duy nhất trong các bộ tộc Bách Việt đã thành công trong việc chống lại sự Hán hóa. Do đó trước sau gì họ cũng giành độc lập!

Tôn tiên sinh đỏ lựng mặt xấu hổ tức giận nhưng đành lặng câm vì Tôn hiểu Inukai biết ông xuất thân từ Quảng Ðông, một dân tộc trong nhóm Bách Việt đã bị Hán hóa!

Mấy chục năm sau, bỏ qua tinh thần giai cấp và chủ nghĩa cộng sản quốc tế, Mao không ngần ngại nói ra tham vọng bành trướng ngay cả với người anh em Việt nam cùng hệ tư tưởng cộng sản.

Năm 1963, Mao trâng tráo nói với Lê Duẩn và Trường Chinh, hai cựu tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam, rằng ông ta sẽ là chủ tịch của 500 triệu dân đang thiếu đất và ông ta sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Ðông Nam Á! [6]

Người Trung Quốc đâu có thiếu đất làm ăn, gần 50 năm trôi qua từ ngày Mao nói câu đó, tuy dân số đã vượt 1.3 tỷ người nhưng từ Tây An nơi có lặng mộ Tần Thủy Hoàng, ra Gia Dụ Quan miền đất của Hung Nô ở Cam Túc đến Kashgar giáp biên Pakistan của Tân Cương, tôi vẫn thấy những lục châu dân cư thưa thớt trên sa mạc rộng lớn đầu giàu dầu lửa và khoáng sản.

Chưa hết, Mao còn kiểu nắn gân Lê Duẩn bằng 3 câu hỏi dồn dập: “Các đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên? Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh nữa phải không? Và cả quân Minh nữa phải không?” Mao hỏi 3 lần, Lê Duẩn đáp lại 3 lần với chỉ một từ không thay đổi: Ðúng! [7]

Ðể trở thành một cường quốc, điều kiện tiên quyết phải có là sự ổn định nội địa, hai là có sự tâm phục của lòng dân trong và ngoài nước. Trung Quốc thiếu vắng cà hai yếu tố quan trọng đó. Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông trở thành những chuỗi mắt xích của đổ vỡ và li khai, buộc Trung Quốc chỉ còn một cách là tiến ra biển khơi mà biển Ðông là mục tiêu trọng yếu. Ở đó họ không gặp phải liên quân Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn hay con gấu Nga chắn giữ mà chỉ gặp một khối ASEAN có sức mạnh trên giấy nhiều hơn thực tiễn. Nhưng dù sao đây vẫn là một khối mà muốn phá vỡ nó trước hết phải bước qua một chướng ngại vật có tên gọi là Việt Nam.

Những sự kiện bắn giết, tịch thu tài sản những ngư dân Việt Nam vô tội, tự tuyên bố chủ quyền hơn 80% diện tích biển Ðông trong khi vẫn thuyết khách về một sách lược “trỗi dậy hòa bình, thân thiện và hợp tác” đã làm cho các quốc gia trên thế giới củng cố sự nghi ngờ, gia tăng nỗi lo sợ về đặc tính cố hữu bành trướng của người Hán.

Qua hai sự kiện phá hoại tàu thăm dò Bình Minh II và Vicking II của Việt Nam ngay trong phạm vi thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc đã tự làm phá sản toàn bộ “16 chữ vàng, 4 tốt” họ đã cố công dựng lên.

Báo chí Trung Quốc cảnh báo Việt Nam cần phải học lại lịch sử! Trớ trêu thay, điều này càng làm cho lòng dân Việt Nam thêm tự hào về những chiến công hiển hách của cha ông mình trong suốt ngàn năm chống lại quân phương Bắc vốn đã trở thành di sản họ đã kế thừa thành công trong mọi cuộc chiến. Sau nhiều năm nhẫn nhịn để đổi lấy sự hòa hiếu, Việt Nam đã có động thái phản ứng quyết liệt trước hành động xâm lược của Trung Quốc.

Giữa hai cuộc biểu tình của dân chúng phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh hãi Việt Nam diễn ra tại Sài Gòn và Hà Nội, tối 8/6 thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố: ‘Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình.’

Lời tuyên bố này rất có ý nghĩa khi nó được phát ra từ vùng biển Nha Trang, nơi có căn cứ quân sự Cam Ranh và vùng biển lừng danh trong vùng Ðông Nam Á. Về mặt quân sự, đáp lại lời kêu gọi của ông thủ tướng, ngày 13 tháng 6, Hải Quân Việt Nam đã tập trận bắn đạn thật ngoài khơi tỉnh Quãng Nam. Ðối với lĩnh vực ngoại giao, Việt Nam công khai kêu gọi sự tham gia giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, kể cả Mỹ trong việc giải quyết vấn đề Biển Ðông trên cơ sở đảm phán hòa bình đa phương.

Thay mặt Ðảng, không như lệ thường đến thăm Trung Quốc, tân tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chọn Lào là nơi ông đến viếng thăm đầu tiên từ ngày 20 tháng 6-22 tháng 6. Ông Trọng đã có lý khi chọn một con voi hiền lành và trung tín để làm bạn hơn là bay dưới bóng một con Rồng biến ảo khó lường. Những bước đi có tính toán và nhịp nhàng này bắt đầu cho người ta thấy một điều bất ngờ: đằng sau vẽ nho nhã của một ông quan văn, ông Trọng là một nhà lãnh đạo sát với thực tiễn, khéo léo và được lòng dân hơn.

Chính quyền Trung Quốc kịch liệt phản đối trước những hành động của Việt Nam, thậm chí họ còn dùng những lời lẽ đe dọa khiếm nhã để tấn công Việt Nam trên mặt trận thông tin. Nhưng người ta có thể phải nghe chứ ít ai tin kẻ mạnh nên Trung Quốc càng phản ứng họ càng lộ rõ những nhược điểm cố hữu của mình trong chính sách ngoại giao lòng dân.

Trung Quốc, trong khi đang ra sức mài giũa một chuỗi ngọc trai từ vùng Hải Nam xuống Ấn Ðộ Dương làm bàn đạp tiến ra với thế giới mà chưa thành, lịch sử và những sự kiện đang diễn ra ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông và biển Ðông đã trở thành một “chuỗi ngọc trai nhức nhối” khác phá vỡ tham vọng của Trung Quốc khi lòng dân không thuận.

Hậu quả là Trung Quốc có nguy cơ trở lại nguyên hình một “vị vua không ngai,” bị suy vong và xâu xé bởi những mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống do tình hình bất ổn từ nội địa bung ra và sự phản ứng chống đối từ các nước hùa theo làm nên một cơn bão tố chính trị, ngoại giao và quân sự khó lường với Trung Quốc.

Thực sự đây không phải là điều hoang tưởng mà soi chiếu từ lịch sử của Trung Quốc được dựng lên bằng nội chiến và đồng hóa bờ cõi, đất nước này đã từng sụp đổ vì sự tranh giành lãnh địa giữa các vương quốc và bởi sự can thiệp từ người Mông Cổ, Mãn Châu, Anh Quốc đã minh chứng cho quan điểm này là một khả năng hiện hữu.

Trung Quốc cần có một sự thay đổi tận gốc quan điểm lịch sử và thời đại về sức mạnh và sự tồn tại hài hòa của mình với thế giới. Nếu không thay đổi, dù có bỏ ra hàng tỷ dollar, dù có hào nhoáng kết nối với chính quyền bản địa bằng những thỏa thuận kiềm chế nhưng không thể nào mua được lòng dân, Trung Quốc sẽ quỵ ngã bỏi chính sức mạnh hung hãn của mình như hình ảnh con sói mà người Mông Cổ từng nói với tôi trong đêm mưa ở Lan Châu.

Ước muốn hóa thành con rồng làm tung hoành ngang dọc trên thế giới chỉ là một ảo tưởng không bao giờ có thật đối với người Trung Quốc.

Giấc mơ đó càng khó trở thành sự thật khi Trung Quốc có vị trí địa chính trị “bất lợi” do nằm gần Việt Nam. Một đất nước không lớn diện tích và dân số nhỏ nhưng lúc bị dồn vào chân tường, Việt Nam luôn xuất hiện những Lê Duẩn, dù trong hoàn cảnh phải nương tựa vào Trung Quốc, vẫn không vì thế mà nhụt chí mà ngang nhiên cảnh cáo Mao rằng ông ta sẽ đánh và thắng Mao nếu Mao tiếp bước quân Nguyên, Minh và Thanh xâm lược Việt Nam. [8]



* Văn Cầm Hải: Nhà văn, thành viên các chương trình Viết văn và báo chí quốc tế tại Trung tâm đào tạo phát thanh truyền hình vương quốc Hà Lan (2002), đại học Iowa (2005) Hong Kong Baptist (2007), Massachussetts in Boston (2008), Yale (2008). Tác giả từng có những công trình nghiên cứu độc lập tại Tây Tạng (2003), Tân Cương, Pakistan (2005), The Vietnam Center (2008-2009) đã được xuất bản thành tác phẩm như Người Ði Chăn Sóng Biển, Trên Dấu Chim Di Thê, Tây Tạng-Giọt Hoa Trong Nắng... và nhiều bài viết nghiên cứu lịch sử và triết học, văn hóa về các vùng đất trên thế giới. Hiện đang học tập và nghiên cứu tại Ðại học Texas Tech Hoa Kỳ.

Hiện đang học tập và nghiên cứu tại Ðại Học Texas Tech Hoa Kỳ.

Chú thích:

[1] Sogyal Rinpoche, The Tibetan Book of Living and Dying (NewYork: HarperCollin Publishers, 2002).

[2] Tú Anh, “Tây Tạng, Tân Cương : Chính sách đồng hóa của Trung Quốc là nguyên nhân gây bất mãn”. http://www.rfi.fr/actuvi/articles/115/article_4176.asp. Retrieved on June 5, 2011.
[3]. Baline Kaltman, Under the Heel of the Dragon: Islam, Racism, Crime, and the Uygur in China( Athens: Ohio University Press, 2007). Ibid., p.67.
[4] Tú Anh, “ Tây Tạng, Tân Cương”.
[5] Ziad haider, “Sino-Pakistan Relations and Xinjiang's Uighuirs: Politics, Trade, and Ílam along the Karakoram Highway”, Asian Survey, p. 545.
[6] Le Duan, “Comade B on the Plot of the Reactionary Chinese Clique Against Vietnam”, Woodrow Wilson International Center for Scholars. www. Wilsoncenter.org. Retrived on 4 May, 2011.
[7] Ibid.
[8] Ibid.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cuộc tranh luận về nợ nần ở Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Hôm qua 7 tháng 7, Tổng Thống Barack Obama gặp các lãnh tụ thuộc hai đảng trong hai viện Quốc Hội Mỹ để tìm cách thỏa hiệp về việc nâng cao mức trần, cho phép chính phủ Mỹ được vay nợ trên con số tối đa hơn 14 ngàn tỷ Mỹ kim hiện nay.

Ðây là lần đầu tiên ông Obama tham dự chính thức vào cuộc thương thuyết này. Trước đây Phó Tổng Thống Biden phụ trách nói chuyện với Quốc Hội, cho tới khi các đại biểu Cộng Hòa từ chối không thảo luận nữa.

Tại sao chính phủ Mỹ cần Quốc Hội cho phép vay thêm nợ ngay? Vì mức nợ hiện giờ đã “đụng trần” rồi, đi vay thêm là phạm luật. Nhưng nếu không được vay nợ thêm thì nước Mỹ có thể sẽ lâm vào cảnh “vỡ nợ.” Cũng như quý vị đang vay nợ, khi đáo hạn là phải trả tiền lãi và vốn. Một chính phủ với các món nợ khổng lồ, phải liên tiếp vay nợ các khoản mới để trả các món nợ cũ, chưa kể việc đi vay để chi tiêu vì ngân sách khiếm hụt (thu ít, chi nhiều). Ðến ngày 2 tháng 8 sắp tới này, nếu không được phép vay nợ thêm, chính phủ Mỹ sẽ không hoàn trả được nhiều món nợ đáo hạn, theo định nghĩa là vỡ nợ.

Nếu chính phủ Mỹ vỡ nợ, kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng; vì người ta vẫn coi việc đem tiền cho chính phủ Mỹ vay là cách đầu tư an toàn nhất; là chỗ trú ẩn cho đồng tiền cho qua những cơn bão tố tài chánh. Hiện nay cả thế giới đang là chủ nợ của nước Mỹ, trong đó Trung Quốc đang cầm những giấy nợ tổng cộng hàng ngàn tỷ Mỹ kim. Khi đi vay lẫn nhau hoặc vay các ngân hàng, các nước đều có thể dùng giấy nợ của chính phủ Mỹ làm vật thế chấp. Nếu các giấy nợ của Mỹ mà mất giá trị thì đồng đô la cũng sụp đổ, dòng tiền tệ trên thế giới sẽ bị ngưng đọng, hoặc tê liệt, một điều không ai dám tưởng tượng! Ðó là chưa kể, mỗi ngày chính phủ liên bang phải chi ra bốn tỷ đô la, không có tiền vô thêm là guồng máy nhà nước chết cứng! Cho nên, thế nào rồi chính quyền Obama và Quốc Hội Mỹ cũng phải tiến đến thỏa hiệp.

Nhưng việc nâng mức trần của tổng số nợ quốc gia không phải là một hiện tượng mới mẻ, tự dưng vừa mới xuất hiện. Trong 8 năm Tổng Thống Gorges W. Bush ngồi ở Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội đã đồng ý nâng mức nợ quốc gia lên tất cả 7 lần! Thật ra, nếu ngân sách không thiếu hụt nặng như hiện nay, thì chỉ cần ảnh hưởng của lạm phát khiến đồng tiền mất giá không thôi, bình thường người ta vẫn phải nâng mức nợ tối đa lên. Nếu lạm phát khiến giá cả tăng 3% thì mức nợ tối đa cũng phải tăng 3% mới giữ đúng mức trần cũ, nếu không thì coi như cái trần nhà đã bị hạ thấp xuống 3%!

Vậy tại sao vấn đề có thể coi là bình thường này bỗng dưng trở nên trầm trọng như vậy? Vì các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng Cộng Hòa muốn nhân dịp này yêu cầu chính phủ phải là sao cho việc quản lý tài chánh quốc gia cho được lành mạnh và vững chắc hơn. Cụ thể, họ muốn đạo luật cho phép nâng cái trần nợ lên cao phải kèm theo những điều kiện cắt bớt chi tiêu của guồng máy nhà nước liên bang, để giảm bớt số khiếm hụt ngân sách. Khi Tổng Thống Bush lên chấp chánh năm 2001, ngân sách nước Mỹ đang thặng dư; khi ông Obama lên thay thế, ngân sách thâm thủng nặng nề chưa từng thấy. Cả nước Mỹ lo lắng về cảnh khiếm hụt đó, ai cũng đồng ý phải quay lại tình trạng ngân sách cân bằng.

Nhưng có hai cách để cân bằng ngân sách. Một là giảm chi; hai là tăng thu. Bất đồng ý kiến giữa hai đảng trong Quốc Hội khiến việc thương thuyết bế tắc là do bên Cộng Hòa chăm chú nhắm vào việc giảm chi, trong khi phía Dân Chủ nhấn mạnh đến việc tăng thu.

Cả hai đảng đều nêu cao ngọn cờ “cân bằng ngân sách” nhưng muốn đi qua những con đường khác hẳn nhau. Số khiếm hụt ngân sách của chính phủ liên bang năm ngoái đã lên tới trên 200 ngàn tỷ Mỹ kim. Nhưng mối lo chính là ngân sách sẽ càng ngày càng khiếm hụt nặng nề hơn, khi gần 80 triệu người thuộc thế hệ “bùng nổ trẻ sơ sinh” (baby boomers) tới tuổi về hưu. Thế hệ này ra đời sau Ðại Chiến Thứ Hai, sẽ phải cấp hưu bổng xã hội cho họ và chữa bệnh cho họ. Quỹ hưu bổng xã hội và chi phí cho các chương trình y tế của chính phủ hiện chiếm gần 40% các món chi tiêu của nhà nước, các món chi tiêu đó sẽ tăng vọt lên. Cứ mỗi người già bước vào tuổi về hưu sẽ làm tốn cho ngân sách quốc gia trung bình 40,000 đô la một năm, tổng cộng các món Social Seccurity, Medicare và Medicaid (ở California gọi là Medical). Cứ như thế nhà nước sẽ hết tiền chi cho các chương trình dân sự khác!

Muốn tránh thảm họa đó, phải tăng số thu nhập của nhà nước, qua những khoản thuế lợi tức cá nhân, thuế doanh nghiệp, thuế hưu bổng xã hội và y tế, thuế đánh trên di sản. Chính quyền Obama đã đề nghị bãi bỏ những khoản trợ cấp cho các công ty dầu lửa và hơi đốt, trợ cấp dưới hình thức miễn thuế; và lấp các lỗ hổng giảm thuế cho các người giầu. Một số đại biểu Dân Chủ đề nghị tăng thuế ngay trên những người lợi tức trên 250,000 đô la một năm. Phía Cộng Hòa cực lực phản đối việc tăng số thu trên thuế má, và muốn chính phủ phải cắt những khoản chi tiêu đặc biệt là những chương trình xã hội, y tế và hưu bổng.

Muốn tiến đến cân bằng ngân sách thì guồng máy chính phủ liên bang phải chọn, hoặc tăng số thu thêm 64%, hoặc giảm số chi tiêu 40% không kể các số tiền chỉ dùng để trả lãi cho các món nợ của chính phủ.

Nếu chính phủ và Quốc Hội Mỹ trì hoãn, không tăng thu và giảm chi ngay bây giờ mà đợi 20 năm nữa mới bắt đầu, thì trong 20 năm nữa sẽ phải tăng thu thêm 77% hoặc giảm chi bớt 46%. Cắt bây giờ thì những người đang tuổi 65 đến 100 sẽ bị thiệt thòi, họ sẽ kêu trời lên mà phản đối. Nhưng nếu trì hoãn đến năm 2031 mới cắt thì thế hệ con em họ, bây giờ 45 đến 50 tuổi, sẽ bị cắt nặng nề hơn, và những người trẻ hơn sẽ bị tăng thuế nặng nề hơn!

Nếu đến lúc đó còn chần chừ mà đợi thêm 20 năm nữa thì lúc đó phải tăng thu, tức là tăng thuế 93% hoặc giảm chi, các dịch vụ mà guồng máy nhà nước cung cấp cho dân chúng sẽ bị cắt bớt khoảng 53%! Thế hệ con và cháu nội cháu ngoại của các cụ sẽ phải chịu đựng! Tức là càng trì hoãn các biện pháp cân bằng ngân sách thì các thế hệ sau càng phải chịu hậu quả nặng nề, hoặc tăng thuế, hoặc bị giảm bớt các dịch vụ y tế, xã hội! Có một bức tranh hài hước vẽ cảnh một bệnh nhân già nằm trên giường, bà bác sĩ đứng bên trấn an: “Cụ đừng lo. Các hóa đơn chữa bệnh mai mốt sẽ được các con và cháu cụ thanh toán!”

Hiện nay, hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vẫn nhất định không ai chịu thua ai. Bên Cộng Hòa tuyên bố quyết tâm không tăng thuế bất cứ người nào, giầu cũng như nghèo, kể cả những khoản trợ cấp hiện cho các hãng dầu cũng không được bỏ. Bên Dân Chủ không muốn cắt bớt các chi phí xã hội. Ông Obama tất nhiên cùng quan điểm với các đại biểu Quốc Hội Dân Chủ; nhưng ông đứng ngoài cuộc tranh luận để chờ tới khi hai phe trong Quốc Hội bế tác, ông mới chính thức can dự, với cuộc họp tại Tòa Bạch Ốc ngày hôm qua. Với vai trò người đứng đầu Hành pháp, ông Obama có thể đề nghị một số cắt giảm trong ngân sách để thỏa mãn các đại biểu Cộng Hòa, và ông sẽ yêu cầu họ đáp lễ bằng một số khoản tăng thu mà bên Cộng Hòa vẫn chống lại. Cuộc thương thuyết sẽ kéo dài, nhưng thế nào cũng đến lúc phải đưa tới một thỏa hiệp trong hai tuần lễ, trước ngày 22 tháng 7 này. Vì sau khi hai bên đồng ý với nhau rồi sẽ cần thời gian để viết các điều được thỏa hiệp ra thành dự luật. Mà trong khi diễn tả các chi tiết trong dự luật thì người ta sẽ còn tranh cãi nhau từng chữ, từng câu.

Cuối năm ngoái, nước Mỹ đã trải qua một kinh nghiệm tương tự. Hai đảng trong quốc hội, Cộng Hòa kiểm soát Hạ Viện và Dân Chủ chiếm đa số ở Thượng Viện, hoàn toàn bất đồng ý kiến về việc triển hạn các đạo luật cắt thuế năm 2001 và 2003 của cựu Tổng Thống Bush. Dân Chủ muốn chỉ tiếp tục cắt thuế cho những người lợi tức dưới 250,000 đô la một năm thôi, Cộng Hòa muốn vẫn cắt tất cả. Tổng Thống Obama đã đợi tới phút chót mới tham dự, đồng ý triển hạn cho tất cả, nhưng chỉ trong vòng 2 năm thôi; đợi đến năm 2012 cho các cử tri Mỹ quyết định trong cuộc bỏ phiếu cả Hành pháp lẫn Quốc Hội. Bên Cộng Hòa thỏa mãn, vì những người lợi tức cao không phải trả thuế nhiều như trước thời Tổng Thống Bush; bên Dân Chủ cũng phải chấp nhận vì chính vị tổng thống cùng đảng đã thỏa hiệp.

Còn dân chúng Mỹ, họ nghĩ sao? Một cuộc nghiên cứu dư luận của Pew Research cho thấy có 42% dân Mỹ cho là nếu không đi tới thỏa hiệp tăng mức trần của các món nợ quốc gia thì đảng Cộng Hòa sẽ chịu trách nhiệm. Có 33% cho là lỗi ở ông tổng thống và đảng Dân Chủ.

Khi hỏi làm cách nào để cân bằng ngân sách, 59% dân Mỹ nghĩ nên pha trộn một phần tăng thuế, một phần cắt giảm chi tiêu, theo một cuộc nghiên cứu của đài ABC và nhật báo Washington Post; chỉ có 33% đồng ý là chỉ cần nhà nước cắt chi tiêu cũng đủ. Số người nghĩ chỉ cần tăng thuế thôi thì rất ít, chỉ có 3%.

Một cuộc nghiên cứu khác của đài CNN cho thấy 50% đồng ý với chiều hướng cắt giảm ngân sách của Tổng Thống Obama, và 42% ủng hộ đường lối của đảng Cộng Hòa. Nói chung trong cuộc tranh cãi hiện nay, dân Mỹ tỏ ý bất tín nhiệm các nhà chính trị cả hai đảng, Dân Chủ (67%) và Cộng Hòa (69%).

Cuối cùng, nếu hai bên không thể nào thỏa hiệp được để nâng mức trần nợ quốc gia lên đúng kỳ hạn ngày 2 tháng 8 thì Tổng Thống Barack Obama vẫn còn một món võ cất trong túi, không đến nỗi phải ngưng vay thêm nợ khiến chính phủ Mỹ phá sản. Ðó là một khoản trong Tu Chính Án số 14 trong Hiến Pháp Mỹ, viết rằng: “Giá trị công trái của Hiệp Chủng Quốc,... không thể nghi ngờ được.” (The validity of the public debt of the United States... shall not be questioned.” Ông Obama vốn là một giáo sư về Luật Hiến Pháp, chắc ông có thể giải thích rằng với tư cách người đứng đầu Hành pháp, ông cứ đi vay nợ để bảo đảm giá trị của các tờ giấy nợ đã phát hành. Ai ngăn cản sẽ bị coi là vi hiến! Nhưng chắc ông sẽ không phải dùng đến món võ đó.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Tranh cử 2012 bắt đầu

Ngô Nhân Dụng

Chúng ta đang chứng kiến màn chót trong cuộc tranh luận về giới hạn của công trái (debt ceiling, mức nợ tối đa mà chính phủ Mỹ được phép vay); đồng thời, có thể nói hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ở Mỹ (trong đó có Tổng Thống Barack Obama) đã mở màn cuộc tranh cử năm 2012.

Mọi lời nói, hành động của ông tổng thống và các lãnh tụ hai viện Quốc Hội Mỹ đều được thẩm lượng xem có ảnh hưởng như thế nào đối với lá phiếu của dân Mỹ trong năm tới. Nếu không nhìn như vậy thì không hiểu được hiện tượng bé xé ra to, tại sao một vấn đề bình thường lại trở thành một đề tài tranh cãi gay go suốt mấy tháng trời như vậy. Bởi vì chính phủ Mỹ thường xuyên đi vay, cứ mấy năm Quốc Hội lại cho phép chính phủ vay thêm, ít khi nào vấn đề đó lại khiến guồng máy nhà nước bị bế tắc.

Câu chuyện giới hạn của công trái năm nay bỗng biến thành cuộc tranh luận về đường lối trị quốc, vì đảng Cộng Hòa muốn nhân dịp này đưa ra vấn đề giảm bớt khiếm hụt ngân sách. Ðây là một đề tài tranh cử năm 2010 do nhóm Ðảng Trà (Tea Party) cổ động. Nhờ phong trào đó, đảng Cộng Hòa đã chiếm lại đa số trong Hạ Viện, đảng Dân Chủ thảm bại trong cuộc bỏ phiếu năm ngoái. Từ hơn một năm nay, các nhà chính trị gần như bỏ qua không nói đến nạn thất nghiệp mà chỉ than phiền về ngân sách khiếm hụt. Hạ Viện Mỹ, do đảng Cộng Hòa kiểm soát đã biểu quyết một ngân sách do Dân Biểu Paul Ryan đưa ra, theo chiều hướng cắt giảm chi phí, trong đó có khoản y tế Medicare, và cắt giảm thuế cho các người lợi tức cao. Ðảng Dân Chủ chiếm đa số trên Thượng Viện đã bác bỏ dự luật Ryan. Nay vấn đề lại được đặt ra, nhân dịp Quốc Hội phải quyết định cho phép nhà nước vay thêm nợ: Nếu không quyết định về ngân sách cân bằng thì các đại biểu Cộng Hòa sẽ không bàn chuyện nợ! Thế là dân Mỹ được nghe các đại biểu bàn cãi về chuyện giảm chi hoặc tăng thu.

Cả hai đảng đều đồng ý: Chính phủ Mỹ phải tiến tới ngân sách cân bằng. Họ khác nhau ở chỗ bên Cộng Hòa nhắm vào việc cắt giảm chi tiêu; trong khi bên Dân Chủ muốn tăng thu, bằng cách tăng thuế các người lợi tức cao và lấp những lỗ hổng trong luật thuế khóa mà các công ty dầu và hơi đốt được hưởng. Vì thế cuộc tranh luận kéo dài.

Trước đây ông Obama trao cho Phó Tổng Thống Joe Biden ngồi bàn với các đại biểu hai đảng để tìm cách thỏa hiệp. Ðúng là công việc tiêu biểu mà một ông phó tổng thống Mỹ thường phải làm: Chủ tọa những cuộc thương thuyết kéo dài mà cuối cùng không đưa tới kết quả nào cả, vì một phó tổng thống không có đủ uy quyền khiến hai bên phải thỏa hiệp với nhau! Cuộc họp bàn kéo dài tới cuối Tháng Sáu thì chấm dứt nửa chừng, khi bên Dân Chủ đưa ra đề nghị chấp thuận cắt bớt 2,000 tỷ trong các món chi tiêu nhưng đòi tăng thêm 400 tỷ số thuế thu vào. Người đứng đầu phái đoàn Ðảng Cộng Hòa là Dân Biểu Eric Cantor, lãnh tụ khối đa số ở Hạ Viện đã từ chối không chịu thảo luận đề về việc tăng thuế, bất cứ một đồng thuế nào. Ông Joe Biden được nghỉ ngơi, trái banh được trao tới Tòa Bạch Ốc cho Tổng Thống Obama đá!

Khi ông Cantor bước khỏi phòng họp thì chỉ còn 4 tuần trước khi giới hạn công trái phải được nâng lên, nếu không thì vào đầu Tháng Tám chính phủ Mỹ sẽ “vỡ nợ!” Có thể nói các đại biểu Quốc Hội, đặc biệt là các đại biểu Cộng Hòa, đã cố tình gây ra tình trạng căng thẳng này để bắt cả nước Mỹ phải nghe họ bàn cãi. Họ được dịp trình bày các chính sách trị quốc của họ ngay từ bây giờ, không cần chờ đến cuộc tranh cử năm 2012! Thực ra chính trị nước Mỹ là tranh cử thường xuyên, quanh năm suốt tháng; nhưng ít khi các màn tranh cử lại mở màn sớm trước cả năm trời như lần này!

Ông Obama cũng thấy có cơ hội để lên tiếng chế nhao các đối thủ chính trị! Ông mang chuyện các cô con gái của ông ra nói với công chúng, kể rằng: “Malia và Sasha thường làm xong bài trước khi đến ngày phải nộp cô giáo. Các cháu không đợi tới đêm sau cùng mới làm bài. Chúng mới có 13 tuổi và 10 tuổi. Quốc Hội Mỹ cũng nên làm như vậy. Nếu biết mình có bổn phận nào phải làm thì hãy làm ngay đi!” Có thể coi đây là một bài diễn văn mở màn cuộc tranh cử tổng thống năm 2012!

Ông Obama lại “tranh cử sớm” một lần nữa, khi ông so sánh các đề nghị của hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Ông tổng thống yêu cầu Quốc Hội “hãy bỏ bớt những khoản miễn giảm thuế (tax breaks) cho các nhà triệu phú, các tỷ phú,... các công ty dầu lửa, các nhà quản lý quỹ đầu tư lớn và chủ nhân của những máy bay tư nhân.” Nếu không, thì chính phủ sẽ phải cắt giảm các món chi tiêu để nghiên cứu y học, giảm bớt chi tiêu thanh tra an toàn thực phẩm, và cả ngân sách sở khí tượng!

Bài diễn văn trên bị các công ty sản xuất máy bay nhỏ mà các xí nghiệp tư mua cho các quản đốc dùng lên tiếng phản đối. Họ nói, nếu bỏ mất khoản miễn thuế khi dùng máy bay nhỏ thì cả kỹ nghệ máy bay nhỏ sẽ mất khách hàng; hàng triệu công nhân làm trong ngành này sẽ bị ảnh hưởng! Mà số thuế thu thêm được sẽ chẳng đáng là bao so với số thiếu hụt trong ngân sách! Nhưng ông Obama đã đánh trúng mục tiêu mà ông muốn công chúng Mỹ chú ý: Trong lúc kinh tế còn khó khăn, những người lợi tức cao phải hy sinh nhiều hơn, không nên chỉ bắt những người lợi tức thấp chịu hy sinh để chính phủ cân bằng ngân sách! Lập luận này sẽ được lập đi lập lại từ nay cho đến ngày bỏ phiếu năm 2012!

Tuần trước, sau cuộc họp ở Tòa Bạch Ốc để bắt đầu cuộc thương thuyết mới, báo chí loan tin ông Obama đã “đặt lên bàn” hai món chi tiêu lớn của chính phủ liên bang, là Hưu Bổng Xã Hội (Social Security) và Y Tế Xã Hội (Medicare, Medicaid). Có nghĩa là ông sẽ ép các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng ông phải chấp nhận cắt bớt các chi tiêu trong các chương trình đó, mà những lúc bình thường thì đảng Dân Chủ coi đó là những tiết mục thiêng liêng không được đụng tới. Các cử tri bầu cho họ sẽ nổi giận nếu họ đồng ý cắt bớt những món chi tiêu này. Những người Mỹ lợi tức hàng triệu đô la trở lên không quan tâm đến các món chi tiêu này của chính phủ, vì dù chính phủ có cắt bớt tiền hưu bổng và y tế, tài sản và lợi tức riêng của họ cũng đủ để trang trải. Nhưng những người thuộc lớp trung lưu trở xuống thì rất lo lắng nếu các chương trình trên bị cắt.

Ðề nghị này được cụ thể hóa trong tuần trước, khi ông Obama nâng con số các món chi tiêu bị cắt lên tới 4,000 tỷ Mỹ kim, gấp đôi con số đưa ra trước đây! Ðề nghị này sẽ làm nhiều người ủng hộ đảng Dân Chủ bất mãn, và nhiều đại biểu đã chỉ trích ông tổng thống “đầu hàng” đảng Cộng Hòa, giống như cuối năm ngoái khi ông đồng ý triển hạn các đạo luật cắt thuế của cựu Tổng Thống Gorges W. Bush. Ðây cũng là một nước cờ tranh cử. Ông Obama muốn cho công chúng thấy hình ảnh một người lãnh đạo quả quyết, dám có những quyết định mạnh bạo, để giải quyết một vấn đề nhanh chóng và dứt khoát. Ðể đổi lại con số 4,000 tỷ đô la bị cắt, ông Obama yêu cầu phải tăng thuế, nhất là những khoản miễn trừ cho các công ty dầu lửa. Ông đã từng đưa ra đề nghị với Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner là cứ cắt giảm chi tiêu ba đồng thì phải tăng thu một đồng. Nhưng ngay trong ngày Thứ Bẩy tuần trước, ông Boehmer đã bác bỏ đề nghị mới của ông Obama, đảng Cộng Hòa nhất định không bàn chuyện tăng thuế, dù chỉ là lấp những chỗ hổng trong luật miễn trừ thuế cho các công ty dầu lửa. Ông Cantor hòa hoãn hơn, đồng ý có thể lấp một số lỗ hổng, nhưng nếu chính phủ thu được thêm đồng thuế nào thì phải bớt một đồng thuế khác để bù lại.

Cho đến ngày Thứ Ba, đó là tình hình cuộc đàm phán khi Tổng Thống Obama mời các đại biểu Quốc Hội đến họp lẫn nữa tại Tòa Bạch Ốc. Trước khi cuộc họp bắt đầu, bỗng dưng Nghị Sĩ Mitch McConnell, lãnh tụ khối Cộng Hòa thiểu số ở Thượng Viện lại đưa ra một ý kiến mới. Ông tuyên bố sẽ không để cho chính phủ Mỹ phải vỡ nợ. Ông đề nghị một số thủ tục để có thể cho phép Tổng Thống Obama tiếp tục ký giấy nợ, tức là nâng cao giới hạn của công trái liên bang, từng bước một, nếu các cuộc thương thuyết vẫn bế tắc. Ðề nghị của ông McConnell khiến giới bảo thủ trong đảng ông nổi giận, vì coi đó là một hành động “tước khí giới” của đảng Cộng Hòa ngay trong lúc họ đang sử dụng một cách hữu hiệu để mặc cả với Tòa Bạch Ốc! Một lãnh tụ nhóm Ðảng Trà nhắc nhở ông Mitch McConnell đừng quên rằng năm ngoái chính nhờ các vận động của họ mà đảng Cộng Hòa đã chiếm được thêm 87 ghế trong Quốc Hội!

Nhưng ông McConnell chắc hẳn đã nghĩ kỹ đến hậu quả của tình trạng bế tắc kéo dài. Người dân Mỹ sẽ đổ tội cho bên nào nếu chính phủ lâm vào cảnh vỡ nợ? Nhiều phần, họ sẽ không kết tội ông tổng thống. Hai phần ba dân Mỹ (62%) nghĩ rằng tình trạng kinh tế khó khăn hiện nay không phải do ông Obama gây ra, mà ông chỉ thừa hưởng di sản của chính phủ Bush để lại; trong số đó cỏ những người ủng hộ đảng Cộng Hòa (30%) và các cử tri độc lập (64%). Cảnh khiếm hụt ngân sách chắc chắn do 8 năm của Tổng Thống Bush để lại. Chiến tranh làm tăng các món chi tiêu; cắt thuế khiến các món thu bị giảm; và chính Tổng Thống Bush đã tăng các khoản chi về y tế, như chương trình trợ cấp thuốc cho người về hưu, tốn đến 400 tỷ Mỹ kim!

Trong khi tỷ lệ thất nghiệp lại ngoi lên tới 9.2% và tỷ lệ tăng trưởng chỉ có 2%, bất cứ ai quan tâm đến kinh tế học cũng biết rằng bây giờ không phải là lúc chính phủ cắt giảm chi tiêu, cũng không phải là lúc tăng thuế. Cả hai đều có thể kéo dài tình trạng kinh tế trì trệ. Nếu cuộc tranh cãi còn tiếp tục, người dân Mỹ sẽ thấy chán các nhà chính trị, và sang năm họ sẽ trừng phạt.

Nhiều người sẽ nhìn vào những cuộc mặc cả lằng nhằng này mà nghĩ rằng nền chính trị nước Mỹ đầy khuyết điểm, nó làm cho chính phủ tê liệt một cách vô ích. Nhưng đó là cái giá phải trả khi người ta chọn thể chế tự do dân chủ. Thực ra, chế độ này có nhiều nhược điểm nhưng nó “vẫn chạy!” Tức là sau cùng người ta vẫn vượt qua các trở ngại để xây dựng một nền kinh tế giầu mạnh, một xã hội ổn định trong đó mọi người có cơ hội bình đẳng. Nước Mỹ vẫn như vậy từ 200 năm nay, không phải chờ tới khi có các ông Obama, Cantor và Boehmer nó mới lằng nhằng như vậy!
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Chương trình không gian của Hoa Kỳ:
Nhu cầu quân sự & Chiến tranh tâm lý


Trần Bình Nam

Ngày 8 tháng 7, 2011, 11:29 AM giờ Florida, Hoa Kỳ bắn phi thuyền con thoi Atlantis do phi trưởng Christopher Ferguson cầm lái bay đi tiếp tế
cho Trạm Không gian Quốc tế (International Space Station - ISS).

Image
Phi hành gia Mỹ Mike Fossum làm việc bên ngoài Trạm Không Gian Quốc Tế, ngày 12 Tháng Bảy. (Hình: NASA via Getty Images)

Ðây là phi vụ cuối cùng của chương trình phi thuyền con thoi kéo dài 30 năm. Hơn nửa triệu người đã đến Miami để tận mắt chứng kiến chuyến bay lịch sử.

Mười phút sau khi phóng, phi thuyền Atlantis chỉ còn là một chấm mờ trên nền trời Ðại Tây Dương để lại một không gian trống rỗng. Cơ quan Không Gian Hoa Kỳ (NASA) hiện chưa có một chương trình cũng như ngân sách để thực hiện một kế hoạch không gian nào khác. Chương trình thám hiểm sao Hỏa (Mars, một hành tinh của Thái dương hệ) chỉ có trên giấy tờ.

Phi hành đoàn gồm 4 người mang theo 5 tấn thực phẩm, bộ phận rời và dụng cụ thí nghiệm đủ dùng trong một năm đã an toàn đến ISS vào ngày Chủ Nhật, 10 tháng 7, và được 6 phi hành gia ở ISS gồm các quốc tịch Nhật, Nga, Mỹ tiếp đón nồng hậu.

Chương trình chế tạo phi thuyền con thoi (TBN: phi thuyền dùng được nhiều lần, đi và về như con thoi trên khung cửi) do Tổng Thống Richard Nixon chấp thuận năm 1969 là chương trình tiếp nối chương trình Apollo đưa người lên cung trăng của Tổng Thống Kennedy.

Mục đích của chương trình Apollo là để chứng tỏ khả năng kỹ thuật của Hoa Kỳ trong cuộc chạy đua vào không gian với Liên Xô sau khi Liên Xô đưa phi hành gia Yuri Gagarin vào quỹ đạo trái đất ngày 12/4/1961. Hơn một tháng sau (ngày 25/5/1961) Tổng Thống John F. Kennedy tuyên bố trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ đưa người lên cung trăng trước cuối thập niên 1960's, và lời tuyên bố này đã được thực hiện ngày 20 tháng 7, 1969 khi phi thuyền Apollo 11 đưa hai phi hành gia Neil Armstrong và Buzz Adrin đáp xuống cung trăng.

Sau khi đưa người lên cung trăng, nhiều nhà khoa học Mỹ muốn tiếp tục chương trình thám hiểm sâu hơn vào không gian như thám hiểm sao Hỏa. Tuy nhiên cuộc chiến Việt Nam tiêu tốn và tình hình trong nước không ổn định do phong trào chống chiến tranh, Tổng Thống Nixon chấp nhận một chương trình không gian giới hạn ít tốn kém gọi là chương trình phi thuyền con thoi. Ðồng thời hợp tác với Liên Xô thiết đặt một trạm không gian chung.

NASA đã chế tạo một đội ngũ phi thuyền con thoi gồm 5 phi thuyền Challenger, Columbus, Endeavour, Discovery và Atlantis, thay phiên nhau đi đi về về sau khi phi thuyền con thoi Columbia bay chuyến đầu tiên ngày 28 tháng 1, 1981 thành công tốt đẹp.

Các phi thuyền con thoi tiếp tục công việc nghiên cứu không gian và áp dụng quân sự. Con thoi khi bay trên quỹ đạo có thể làm công tác trinh thám diện địa, thả các vệ tinh truyền tin và quan sát khí tượng...

Từ chuyến bay Columbia đầu tiên đến chuyến bay Atlantis cuối cùng, chương trình con thoi đã thực hiện 135 chuyến bay, đưa 357 phi hành gia lên quỹ đạo, hoàn thành việc lắp ráp ISS, phóng và sửa chữa Viễn vọng kính không gian (Hubble Space Station), phóng người máy (robots) đi thám hiểm mặt trời và các hành tinh Venus, Jupiter.

NASA dự tính biến các chuyến bay con thoi thành các phi vụ thương mãi hằng tuần. Nhưng trong suốt thời gian hoạt động phi thuyền con thoi chưa ra khỏi quá trình thử nghiệm một cách an toàn. Các trở ngại kỹ thuật chưa bao giờ được giải quyết thỏa mãn và đã xẩy ra hai tai nạn. Con thoi Challenger nổ trên bầu trời Ðại Tây Dương năm 1986, và con thoi Columbia nổ trên bầu trời bang Texas năm 2003 khi trở về trái đất. Mười bốn phi hành gia thiệt mạng.

Cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9, 2001 tiếp theo chiến tranh Afghanistan, Iraq buộc Tổng Thống George W. Bush quyết định tạm ngưng đóng thêm phi thuyền và dự trù năm 2014 chấm dứt công tác của ISS. Ðể vớt vát trước khi rời chức vụ Tổng Thống Bush nói rằng trong tương lai Hoa Kỳ sẽ tái lập chương trình thám hiểm cung trăng và đi thăm sao Hỏa.

Năm 2010, Tổng Thống Obama chấm dứt chương trình con thoi và kéo dài công tác ISS thêm 6 năm cho đến năm 2020 và giao việc thám hiểm không gian cho các công ty tư nhân. Ðể làm vui lòng giới mộ điệu không gian Tổng Thống Obama nói một cách mơ hồ về việc đi thăm sao Hỏa năm 2030!

Một giới quần chúng và giới chức NASA cho quyết định của Tổng Thống Obam chấm dứt chương trình con thoi là thiển cận làm mất uy tín của Hoa Kỳ, và đem so sánh chương trình thám hiểm sao Hỏa năm 2030 của Tổng Thống Obama với chương trình mang người lên cung trăng của Tổng Thống Kennedy để chế nhạo. Sự thật không một vị tổng thống nào không muốn đưa ra các chương trình không gian to lớn. Nhưng “cái khó bó cái khôn.” Năm 19961, Hoa Kỳ đang mạnh về kinh tế, lại có nhu cầu chạy đua với Liên Xô khi chiến tranh lạnh đang ở cao điểm, nên chương trình thám hiểm cung trăng của Tổng Thống Kennedy là một chương trình đương nhiên có tính quốc phòng. Trong khi năm 2010 kinh tế Hoa Kỳ suy thoái, hai trận chiến tranh Afghanistan, Iraq tiêu hao chưa giải quyết xong, ngân sách thâm thủng, nợ nần tứ phía, Tổng Thống Obama không thể có một quyết định nào khác là chấm dứt chương trình không gian tốn kém.

Các nhà nghiên cứu nói đến hai hệ lụy về việc chấm dứt chương con thoi mà không có một chương trình không gian nào rõ ràng trước mắt. Thứ nhất là tác dụng tâm lý. Thứ hai là quân sự.

Năm 2003 Trung Quốc đưa Trung Tá Không Quân Yang Liwei vào quỹ đạo trái đất và trong 8 năm qua đã đưa thêm 5 phi hành gia đi thám hiểm không gian. Trung Quốc quảng cáo tên lửa Trường Chinh (Long March) đặt vệ tinh nhân tạo lên quỹ đạo và sẵn sàng cho bất cứ quốc gia nào muốn thuê. Và kế hoạch của nhà nước dự trù cuối năm nay (2011) sẽ phóng và xây dựng Phòng Thí nghiệm Không gian theo mô thức của ISS. Trung Quốc cũng dự trù năm 2017 đi thám hiểm cung trăng bằng phi thuyền không người lái, và đến năm 2025 sẽ cho người đáp xuống cung trăng.

Chưa nói tới các chương trình không gian của Ấn Ðộ, các chương trình của Trung Quốc được tuyên truyền rầm rộ khi Hoa Kỳ không có chương trình gì sẽ tạo nên ảnh hưởng tâm lý hơn thua trên thế giới. Nhưng nghĩ cho cùng nếu Trung Quốc giữ đúng lịch trình năm 2025 đưa người lên cung trăng thì Trung Quốc cũng đi sau Hoa Kỳ 56 năm (2025 - 1969). Ði sau 56 năm không phải là một vinh dự hay tiến bộ gì ngoài lợi ích tâm lý trong cuộc tranh chấp thế siêu cường.

Về phương diện quân sự nếu Trung Quốc dùng các chương trình không gian trong hai thập niên tới để phát triển tình báo không gian, chế tạo vệ tinh bắn hạ phi đạn thì Trung Quốc cũng không thể vượt qua các phương tiện quân sự Hoa Kỳ đang có và sẽ có.

NASA là một tổ chức dân sự công lập làm một số việc cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ theo giao kèo. Ngoài NASA, quân đội Hoa Kỳ có một chương trình không gian do Không Quân nắm với một ngân sách công khai (chưa kể ngân sách mật) lớn hơn cả ngân sách NASA. Quân đội Hoa Kỳ không ngừng tối tân hóa, phát triển, đặt thêm vào không gian các vệ tinh trinh thám, truyền tin, định vị (GPS), theo dõi các cuộc chuyển quân của địch, phát hiện, và có khả năng phá hủy các cơ sở trên đất liền hay hỏa tiễn đang bay của địch đề phòng một cuộc tấn công bất ngờ bằng vũ khí nguyên tử. Ngoài ra Không Quân Hoa Kỳ đang chế tạo máy bay X-37 có khả năng đánh hạ hỏa tiễn và bỏ bom chính xác từ quỹ đạo.

Tóm lại, chương trình không gian của Hoa Kỳ chấm dứt sau chuyến bay và trở về lịch sử của phi thuyền con thoi Atlantis chỉ là một bước lùi biểu kiến. Thực chất, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia làm chủ không gian, ít nhất cũng cho đến giữa thế kỷ 21.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Biển và đất - Hai nỗi đau cắt ruột

Nguyễn Trọng Tạo

Dân ta sao khổ thế: Ngoài biển thì bị lính Tàu đánh người cướp của, trên đất thì bị công an đạp vào mặt. Mà họ có tội gì đâu. Họ đi biển để làm ăn trên biển của Tổ quốc mình, và họ đi biểu tình để phản đối quân cướp biển. Những việc làm ấy không những không có tội mà là việc làm của những người yêu nước và mong cho nước nhà tự do độc lập, bình yên. Sao bọn Trung Quốc lại đánh dân ta? Sao công an bảo vệ dân lại đạp vào mặt dân mình?

Đó là một sự thật mà chính người dân đã chứng kiến, nói lên.
Image
Ngư dân VN bị TQ đánh đập, bắt bớ
Theo lời kể của anh Nguyễn Thừa trưởng tàu QNg 98 868 TS, thì tàu hải quân TQ ép tàu đánh cá của anh: “khoảng mười người (TQ) nhảy lên tàu cá, tay cầm súng tiểu liên, dùi cui điện, máy quay phim. Tui vừa bước ra khỏi ghế cầm lái, hai người Trung Quốc đã nhào vào đánh. Tui đưa tay vừa đỡ, vừa né đòn của mấy thằng lính to con. Trong lúc né tránh, tui bị tụi nó gí dùi cui điện châm sau lưng, nên tui văng xuống biển. Sau đó, bọn họ đưa dây kéo lên…” Không chỉ thuyền trưởng bị đánh, những ngư dân còn lại trên tàu cũng bị mấy người Trung Quốc đánh tới tấp bằng dùi cui, bằng tay chân và báng súng. Sau đó, họ mang két, thùng, giỏ ở trên tàu 44 061 qua, rồi ra lệnh cho năm lao động trên tàu QNg 98 868 TS vào các hầm cá để xúc cá cho vào giỏ, két chở sang tàu 44 061. Sau một tiếng khống chế, tàu hải quân Trung cộng đã cướp đi hơn một tấn cá và bốn tạ mực khô trên tàu QNg 98 868 TS – (theo SGTT).

Còn trước cửa ĐSQ Trung Quốc tại Hà Nội thì đoàn biểu tình yêu nước của dân ta lại bị chính lực lượng CAND ngăn chặn và đuổi bắt rất kỳ lạ. Khi tôi đến gần đó thì thấy cảnh công an đang bắt dân biểu tình đưa lên 3 xe buyt, mà cảnh bắt thật không ngờ: Những người dân tay không, chỉ có lá cờ Tổ quốc trên người và các biểu ngữ phản đối Trung Quốc vi phạm biển Việt Nam, và họ chỉ hô khẩu hiệu với nội dung ấy thôi. Vậy mà lực lượng đeo băng đỏ cướp giật cờ Tổ quốc như là bọn cướp chợ. Vậy mà họ bị lôi xềnh xệch như lôi súc vật. Vậy mà họ bị đánh, bị đạp vào mặt. Thử hỏi ai đã ra lệnh như thế? Tôi nghĩ chắc không có đ/c lãnh đạo nào lại ra lệnh họ làm như thế. Nhưng những kẻ đã hành động thô bạo thú dữ như vậy chắc chắn đó là bọn có lòng căm thù nhân dân sâu sắc, thì mới dám hành động thô bạo như vậy.

Qua đoạn video này, chắc chắn ngành CA sẽ biết người đạp vào mặt người dân thô bạo đó là ai. Và không thể dung túng cho hành động đó được: http://nguyentrongtao.org/2011/07/19/bi ... E1%BB%99t/

Image
Công an bắt người biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm lãnh hải VN (Hà Nội, 17.7.2011)
Trong lần gặp mặt gần đây tại một buổi lễ báo chí bên Tổng cục cảnh sát chống tội phạm ma túy có đ/c Tổng cục trưởng đến dự, tôi có phát biểu: Cảnh sát ta muốn có hình ảnh đẹp trên công luận thì phải tạo ra những hình ảnh đẹp trong cuộc sống. Ý kiến của tôi được hoan nghênh. Nhưng nhìn những hình ảnh trên trong cuộc biểu tình ngày 17/7 vừa rồi tại Hà Nội, tôi thấy ớn lạnh.

Chỉ dẫn 2 sự kiện trên đã thấy dân ta sao khổ thế. Đau cắt ruột!

Chúng ta đứng với ai để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam với bao máu xương đã đổ? Chắc ai cũng biết điều sơ đẳng: Chỉ có đứng cùng Nhân Dân thì mới có Thành Công!!!


Nguồn: http://nguyentrongtao.org/2011/07/19/bi ... E1%BB%99t/
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

Quyền biểu tình

Luật sư Nguyễn Văn Đài

Quyền biểu tình được qui định tại điều 69 Hiến pháp Việt Nam 1992.

Phần I: Ý nghĩa và mục đích của quyền biểu tình.

Quyền biểu tình là quyền Hiến định để nhân dân thể hiện quyền lực của mình như qui định tại điều 2 Hiến pháp 1992 “…Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,..”. Quyền biểu tình cũng là phương tiện để nhân dân bày tỏ ý trí, nguyện vọng và đòi hỏi của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước. Quyền biểu tình còn là vũ khí đấu tranh mạnh nhất và cuối cùng của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi tất cả các biện pháp giải quyết bằng thủ tục pháp lý khác không mang lại kết quả hài lòng cho nhân dân. Bởi ý nghĩa to lớn của quyền biểu tình và quyền biểu tình là quyền Hiến định nên nó không bị hạn chế bởi qui định của các văn bản dưới luật. Quyền biểu tình chỉ có thể bị hạn chế trong thời gian tình trạng khẩn cấp được công bố chính thức, đe dọa sự sống còn của quốc gia. Và luật về tình trạng khẩn cấp phải do Quốc hội ban hành.
Biểu tình chống Trung Quốc bá quyền ở Hà Nội. (Hình: Blog Anh Ba Sàm)

Mục đích của quyền biểu tình:

1/ Nhân dân thực thi quyền lực của mình:

“…Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…” thể hiện ở chỗ nhân dân có quyền bầu ra Quốc hội, Quốc hội bầu ra chính phủ. Nhân dân cũng có quyền thực thi các công cụ pháp lý để giải tán Quốc hội và chính phủ.

Theo Hiến pháp Việt Nam 1992, nhân dân có hai công cụ pháp lý để thực hiện quyền lực của mình. Thứ nhất, quyền bầu cử được qui định tại điều 54. Thông qua việc bầu cử, nhân dân có quyền lựa chọn người đại diện cho mình tại Quốc hội.

Công cụ pháp lý thứ hai là quyền biểu tình được qui định tại điều 69. Tại sao khi nhân dân thực hiện quyền biểu tình là thực thi quyền lực của mình? Bởi sau khi nhân dân bầu ra Quốc hội và Quốc hội bầu ra chính phủ để điều hành công việc của đất nước. Và trong suốt 5 năm nhiệm kỳ của mình chưa chắc là Quốc hội và chính phủ đã thực hiện đúng với những gì mà họ đã hứa hẹn với nhân dân. Có thể là họ đã ban hành những đạo luật hay thực hiện những chính sách kinh tế xã hội, đối nội, đối ngoại gây thiệt hại cho lợi ích của nhân dân và lợi ích của quốc gia, đồng thời gây ra bất bình cho nhân dân. Khi đó nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để phản đối những đạo luật hay những chính sách bất hợp lý đó của Quốc hội và chính phủ, buộc Quốc hội và chính phủ phải sửa đổi hoặc hủy bỏ các đạo luật hay chính sách đó. Nếu như yêu cầu đó của nhân dân không được đáp ứng, thì những cuộc biểu tình của nhân dân sẽ kéo dài đến khi Quốc hội và chính phủ đó phải bị giải tán. Nhân dân sẽ thực hiện quyền bầu cử của mình để bầu ra Quốc hội và chính phủ mới phù hợp với ý trí và nguyện vọng của nhân dân. Thực hiện quyền biểu tình để giải tán Quốc hội và chính phủ đó là nhân dân thực thi quyền lực của mình và đó mới thực sự là mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.

2/ Quyền biểu tình là phương tiện để nhân dân đòi hỏi, bày tỏ ý trí, nguyện vọng của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước.

- Khi nền kinh tế rơi vào lạm phát, giá cả hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm, xăng dầu tăng cao làm ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống của nhân dân, trong khi chính phủ không có giải pháp hoặc có giải pháp nhưng không hiệu quả mà nguyên nhân có thể do lãnh đạo chính phủ quan liêu, yếu kém về năng lực. Bởi vậy nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để đòi hỏi sự thay đổi, trừng phạt những quan chức quan liêu, năng lực yếu kém và buộc họ phải từ chức để cho những người có tâm huyết và năng lực thực sự lãnh đạo.

- Khi nền kinh tế được đổi mới và phát triển nhanh chóng, trong khi thể chế chính trị không được đổi mới và cải cách cho phù hợp. Những quyền chính trị căn bản của nhân dân chưa được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để đòi hỏi đổi mới và cải cách chính trị, thực hiện dân chủ hóa xã hội.

- Tham nhũng, đạo đức xã hội bị suy thoái đều là những vấn nạn xã hội nghiêm trọng. Và để thúc đẩy và tạo động lực mạnh mẽ trong việc chống tham nhũng, nhân dân có thể thực hiện quyền biểu tình nhằm vào những quan chức đã bị tố cáo tham nhũng, hoặc biểu tình ủng hộ cho những chiến dịch chống tham nhũng.

- Khi chủ quyền, an ninh quốc gia bị ngoại bang đe dọa, xâm chiếm. Nhân dân thực hiện quyền biểu tình để bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của cả dân tộc trong việc phản đối và chống lại sự đe dọa, xâm chiếm của ngoại bang.

3/ Quyền biểu tình là vũ khí đấu tranh của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm:

Trong quá trình ban hành và thực thi các chính sách kinh tế xã hội của chính phủ hay của các chính quyền địa phương sẽ có những chính sách kinh tế xã hội như thu hồi và đền bù đất đai không phù hợp với thực tế, dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân bị thiệt hại. Nhân dân sẽ thực thi các công cụ pháp lý như quyền khiếu nại, tố cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhưng trên thực tế đa số các trường hợp khiếu nại, tố cáo của nhân dân không đạt được kết quả mong muốn. Lúc đó việc nhân dân thực hiện quyền biểu tình được qui định trong Hiến pháp là giải pháp cuối cùng và cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Phần II. Thực thi quyền biểu tình

1/ Quyền biểu tình qui định tại điều 69 Hiến pháp 1992 và các đạo luật liên quan:

Để đảm bảo quyền biểu tình của công dân được thực hiện một cách đúng đắn, thông thường trong hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới, Quốc hội của họ ban hành luật về biểu tình để qui định trình tự, thủ tục cho người dân đăng ký biểu tình. Đồng thời họ cũng ban hành luật về tình trạng khẩn cấp hoặc luật an ninh để qui định trong trường nào thì quyền biểu tình bị hạn chế một phần hoặc toàn bộ.

Ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, Quốc hội chưa ban hành luật biểu tình và các đạo luật khác có liên quan đến quyền biểu tình. Bởi vậy mọi công dân Việt Nam được tự do thực hiện quyền biểu tình mà không cần phải xin phép hay đăng ký. Quyền biểu tình của công dân Việt Nam không bị giàng buộc hoặc hạn chế bởi bất cứ một đạo luật nào đang có hiệu lực.

2/ Thực trạng của việc thực hiện quyền biểu tình ở Việt Nam:

Hiến pháp năm 1946 chỉ qui định công dân Việt Nam có quyền tự do tổ chức và hội họp. Nhưng từ Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đều qui định công dân Việt Nam có quyền biểu tình.

Trong thực tế, từ năm 1975 hầu như nhân dân ít thực hiện quyền biểu tình của mình, ngoại trừ những cuộc biểu tình tự phát, qui mô nhỏ ở các địa phương khi có tranh chấp với chính quyền trong việc đền bù, thu hồi đất. Cho đến năm 2008 khi Trung Quốc bắt đầu gây hấn ở biển Đông thì nhân dân bắt đầu ý thức được quyền biểu tình của mình để bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và để phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam. Đặc biệt từ đầu tháng 6 năm 2011 tới nay, các tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức, hưu trí… đã tổ chức các cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn vào ngày Chủ nhật hàng tuần để phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lãnh hải, và phá hoại tài sản của Việt Nam.

Những cuộc biểu tình này chưa thực sự thu hút được nhiều người dân tham gia, nhưng nó lại mang ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là nhận thức và hiểu biết của nhân dân về quyền biểu tình đã được nâng cao và những người đã, đang và sẽ tham gia biểu tình thực sự là những con người có bản lĩnh và lòng dũng cảm. Họ đã thể hiện lòng yêu nước của mình, tinh thần đoàn kết dân tộc khi kẻ thù xâm phạm đến chủ quyền lãnh hải quốc gia. Ngoài ra những cuộc biểu tình này còn có ý nghĩa tập dượt và tích lũy kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước trong tương lai gần.

Thật đáng tiếc, hai tuần gần đây khi chính quyền ra tay đàn áp và giải tán các cuộc biểu tình, những người tham gia biểu tình đã bị bắt giữ, nhiều người bị đánh dã man. Lúc này lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc của nhân dân đã bị chính quyền xúc phạm và làm tổn thương.

3/ Những người ra lệnh và những người thực hiện lệnh giải tán và trấn áp biểu tình phạm tội gì?

Điều 71 Hiến pháp qui định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật…”

Do đó trước hết phải khẳng định ngay những người ra lệnh và thực hiện mệnh lệnh đã vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp Việt Nam năm 1992 khi họ giải tán, trấn áp và bắt giữ những công dân Việt Nam đang thực thi quyền biểu tình theo điều 69 Hiến pháp. Đồng thời người ra lệnh và người thực thi mệnh lệnh giải tán và trấn áp biểu tình đều là đồng phạm trong các trường hợp sau đây:

- Gây hậu quả chết người tham gia biểu tình: Họ có thể phạm tội giết người theo điều 93 Bộ luật hình sự(BLHS); hoặc tội làm chết người trong khi thi hành công vụ theo điều 97 BLHS.

- Gây thương tích cho người tham gia biểu tình: Họ có thể phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác theo điều 104 BLHS; hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trong khi thi hành công vụ theo điều 107 BLHS.

- Khi họ bắt và giam giữ những người biểu tình thì họ có thể phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo điều 123 BLHS.

- Trong trường hợp làm hư hỏng tài sản của người tham gia biểu tình, người thi hành công vụ có thể phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo qui định tại điều 143 BLHS.

Như vậy, những người ra lệnh và thực hiện lệnh trấn áp biểu tình là họ vi phạm Hiến pháp, pháp luật và đang chống lại nhân dân.

4/ Vận động các tầng lớp nhân dân tham gia biểu tình.

Đây là không chỉ là thời điểm hết sức quan trọng trong việc phản đối và chống lại Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải và phá hoại tài sản quốc gia của Việt Nam. Mà còn là thời điểm đấu tranh chống giặc nội xâm( tham nhũng ) và đấu tranh cho quá trình dân chủ hóa đất nước.
Thực thi quyền biểu tình là thể hiện truyền thống anh hùng bất khuất của cha ông chúng ta trong việc chống giặc ngoại xâm và những kẻ đang có mưu đồ bán rẻ chủ quyền lãnh hải quốc gia.

Thực thi quyền biểu tình sẽ thúc đẩy quá trình dân chủ hóa đất nước và tiến bộ xã hội.

Bởi vậy tất cả mọi người dân Việt Nam lúc này cần phải thực thi quyền biểu tình để thể hiện tinh thần trách nhiệm với đất nước, thể hiện bản lĩnh và lòng dũng cảm, thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc.

Hà nội, ngày 20 tháng 7 năm 2011
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Khủng bố ở Na Uy có thể đến từ nhiều hướng
Wednesday, July 27, 2011 7:22:37 PM

HÀ TƯỜNG CÁT/Người Việt


Từ lâu, nói đến khủng bố, người ta chỉ nghĩ rằng đó là hành động của al-Qaeda hay những nhóm Hồi giáo quá khích.


Image
Một bông hồng đỏ trong hàng ngàn bông hoa đặt phía trước nhà thờ chánh tòa ở thủ đô Oslo, Na Uy hôm 27 Tháng Bảy,
tưởng nhớ 76 người thiệt mạng trong hai vụ thảm sát hôm 22 Tháng Bảy. (Hình: Jonathan Nackstrand/AFP/Getty Images)


Ít ai nghĩ là có những nhóm cực đoan khác có thể gây nên những hành động khủng khiếp không kém dù chưa có mạng lưới tổ chức quy mô.

Hãy nhìn lại trường hợp vụ nổ bom tàn phá tòa nhà chính quyền ở trung tâm thành phố Oklahoma năm 1995 làm 168 người chết và 680 người bị thương, tổn thất vật chất cho những kiến trúc lân cận và xe cộ trên đường phố ước lượng $650 triệu. Tại Hoa Kỳ, tầm mức tàn hại của vụ nổ bom Oklahoma chỉ kém cuộc tấn công khủng bố tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Hai can phạm Timothy McVeigh và Terry Nichols cùng 2 đồng lõa lần lượt bị bắt giữ sau đó. Những cuộc điều tra rất sâu rộng cho thấy đây là những phần tử chống đối trật tự xã hội và có khuynh hướng cực đoan về tín ngưỡng. Ðộng lực hành động của nhóm này là trả thù cho vụ chính quyền liên bang vây hãm trang trại của giáo phái Branch Davidian ở Waco Texas trong 50 ngày và kết thúc bất ngờ bằng một vụ hỏa hoạn đưa đến cái chết cho hơn 70 người.

Vụ khủng bố ở Na Uy vừa qua khiến người ta phải chú ý trở lại các tổ chức, nhóm hay cá nhân được gọi là chung là “quá khích cực hữu,” mặc dầu cách định nghĩa này không diễn tả đầy đủ tính chất, nội dung và đường hướng hành động phức tạp rất khó giải thích của những thành phần ấy trong xã hội.

Cho đến bây giờ người ta biết rằng cuộc nổ bom khủng khiếp đánh phá các cơ sở chính phủ giữa thủ đô Na Uy và vụ tấn công tàn sát thanh thiếu niên ở một trại Hè trên hòn đảo nhỏ giữa hồ nước cách Oslo 20 dặm vài giờ sau đó đều chỉ do một thủ phạm. Nghi can Anders Behring Breivik 32 tuổi, là một công dân Na Uy mặc dầu chào đời tại Anh năm 1979 vì ông bố khi ấy là nhân viên sứ quán Na Uy ở London. Như vậy xuất xứ của Breivik chẳng phải là một người ngoại quốc có hận thù gì với Na Uy, một nước chủ trì giải Nobel và đã từng đóng góp trợ lực cho nhiều nỗ lực hòa đàm trên thế giới, một xứ sở sống bình yên từ trên nửa thế kỷ nay và cảnh sát thường không cần mang súng.

Vậy thì Breivik phải là một cá nhân có đầu óc bất bình thường và người ta coi là thuộc vào những phần tử quá khích cực hữu. Cuộc điều tra về những mối liên hệ quốc tế của Breivik còn đang được khởi đầu và chưa tìm ra nhiều manh mối. Theo những tin tức của những cơ quan truyền thông quốc tế thì Breivik đã khai là có hai tổ chức khủng bố quốc tế khác sẵn sàng tham dự nỗ lực giết người của đương sự. Chưa biết đó là tổ chức nào, nhưng có dấu hiệu đương sự liên hệ với các nhóm cực hữu và quá khích ở Anh.

Theo hồ sơ cảnh sát thì từ tháng 3, tên của Breivik đã nằm trên hồ sơ những cá nhân bị lưu ý. Bộ phận an ninh của cảnh sát Na Uy (Politiets sikkerhetstjeneste) hôm Thứ Hai xác nhận là Breivik bị chú ý vì có tên trong danh sách những người mua nhiều hóa chất của một hãng Ba Lan, tuy nhiên những kiểm tra sau đó không cho thấy có điều gì đáng nghi ngại nên không có biện pháp nào được đưa ra. Ðây có thể là một trong những sơ xuất lớn của cơ quan an ninh Na Uy.

Anders Breivik không phủ nhận mục tiêu hành động của mình. Bản “tuyên ngôn” dài 1,500 trang được đưa lên mạng lưới điện toán ngày thực hiện cuộc tấn công khủng bố, ký một tên giả là “Andrew Berwick,” mang tên “A European Declaration of Independence” (Tuyên ngôn độc lập cho Âu Châu), được khai là đã viết tại Anh. Tuy nhiên nhiều ngụy danh được đề cập đến trong bản văn này chưa hẳn đã là nói đến các cá nhân hay tổ chức cụ thể mà có thể chỉ là xuất phát từ những suy luận tối tăm hoang tưởng của Breivik.

Có một điều chắc chắn, Breivik thuộc trong số những người thù ghét Hồi Giáo và chống di dân. Cuộc “cách mạng” đề cập trong bản tuyên ngôn chủ ý là chống đường lối đa văn hóa mà đương sự tin rằng sẽ hủy hoại truyền thống của Âu Châu. Theo một định nghĩa tổng quát “Chủ trương của thành phần cực hữu là duy trì trật tự xã hội và bảo vệ di sản cố cựu” thi rõ ràng Anders Breivik là một phần tử như vậy và là phần tử quá khích với một tâm trạng bất bình thường. Tâm trạng này có thể do từ quá khứ phức tạp trong lý lịch cá nhân của đương sự.

Anders Behring Breivik sinh ở London ngáy 13 tháng 2 năm 1979, ông bố là Jens David Breivik, nhân viên ngoại giao làm việc trong sứ quán Na Uy ở London và sau đó qua Paris. Bà mẹ là Wenche Behring, nữ y tá. Khi Brevik được 1 tuổi, bố mẹ ly dị, bà mẹ mang Breivik về Na Uy và sau đó lấy một sĩ quan quân đội, Breivik sống với một người em cùng mẹ khác cha ở Oslo. Mặc dầu ông bố không giành được quyền giữ con nhưng Breivik thường xuyên được qua thăm bố và bà mẹ kế, cũng là một nhà ngoại giao, ở Paris, cho đến khi hai người này ly dị năm Breivik 12 tuổi.

Breivik đã học hết bậc trung học ở Oslo và sau đó vào trường thương mại. Bạn bè cho biết anh là một sinh viên thông minh và thích bênh vực cho những người bị bắt nạt, Nhưng từ khi đến tuổi trưởng thành Breivik là một thanh niên quậy phá và tham gia băng đảng. Trong “bản tuyên ngôn,” Breivik kể lại là sau một lần bị bắt vì vẽ bậy lên tường (graffiti), ông bố ngừng liên hệ với mình.

Ông bố Breivik bây giờ nghỉ hưu ở miền Nam nước Pháp và nói là từ 1995 không biết con mình làm gì. Sau này Breivik đi làm cho một hãng tư và đổi việc nhiều lần. Theo lời khai của đương sự để thực hiện vụ khủng bố, đã chi hết 317,000 Euros, một phần bằng tiền dành dụm và một phần bằng tiền kiếm ra không hợp pháp. Năm 2009, Breivik đã qua Tiệp Khắc có ý định mua vũ khí nhưng âm mưu không thành. Ðầu năm nay, Breivik về một vùng quê cách Oslo khảng 80 dặm về phía Ðông Nam và lập một nông trại để có lý do mua một số lượng lớn phân bón chế tạo chất nổ.

Breivik xây dựng những tư tưởng quá khích qua nhiều năm và người ta chưa thể hiểu rõ về quá trình này. Trong “bản tuyên ngôn,” đương sự có viết một chi tiết là bố mẹ ủng hộ chính sách của đảng Lao Ðộng Na Uy, đảng của Thủ Tướng Jens Stoltenberg, còn Breivik thì “không chấp nhận khuynh hướng quá cấp tiến của đảng ấy.” Trại Hè thanh thiếu niên mà Breivik đã tấn công tàn sát do đảng Lao Ðộng Na Uy bảo trợ tổ chức.

Một điều rõ ràng là một trong những yếu tố phát triển của tư tưởng cực hữu ở Âu Châu trong những năm gần đây là vấn đề di dân. Tại một số nước Bắc Âu, các đảng phái chính trị khai thác tâm lý lo ngại của quần chúng đối với di dân đã làm tình trạng kinh tế sút kém và cuộc sống khó khăn hơn, Thêm vào đó những vụ khủng bố của những tổ chức Hồi Giáo khiến người ta nghi ngờ những di dân mới nhập cư.

Thủ Tướng Anh David Cameron, Thủ Tướng Ðức Angela Merkel và Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy gần đây đều đồng ý là nỗ lực xây dựng một xã hội đa văn hóa không thành công, mặc dầu di dân đem đến những đóng góp cống hiến đáng kể cho xứ sở tạm dung. Những nhóm cực đoan về tín ngưỡng ở nhiều nước Âu Châu lập luận là Hồi Giáo không phù hợp với các giá trị truyền thống của Âu Châu.

Nhưng chống đối những hành động được coi là thiếu nhân bản bằng phản kháng tàn bạo hơn là một đường hướng mà chắc chắn không ai cho là hữu lý hay có hiệu quả. Dù sao vụ khủng bố thê thảm tại Na Uy là một bài học đắt giá để cho các chính trị gia phải suy nghĩ và cân nhắc trong mọi chủ trương hoạt động ở thời đại thế giới toàn cầu hóa này. (HC)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 9 guests