Bình Luận , Quan Điểm

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ðói nghèo làm giảm sự tự tin, bia rượu làm tăng sự ngu đần

Lê Nguyên Hồng
(Nguồn: lenguyenhong.blogspot.com)

Việt Nam đã và sẽ tiếp tục là một nước nghèo trên thế giới. Nhà nước thì đặt ra “định mức”
nghèo là người có thu nhập khoảng 400 ngàn đồng VN/người/tháng - Ðối với khu vực nông thôn.

Image
Bia, rượu. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt)

Và 500 ngàn đồng VN/người/tháng - Ðối với khu vực thành thị. “Chuẩn” nghèo nói trên nó chẳng giống ai vì người ta không biết dựa vào các chỉ số lao động và tiêu dùng nào, và sự khảo sát nào mà nhà nước Việt Nam hiện nay lại đẻ ra được cái gọi là chuẩn ấy?

Thôi thì cứ cho đó là “chuẩn” thật, thì theo với các số liệu có thể rất chủ quan cũng của nhà nước đưa ra, hiện nay cả nước có 3.1 triệu hộ nghèo, chiếm 14.42% và 1.65 triệu hộ cận nghèo, tỷ lệ 7.69%. Các tỉnh có hộ nghèo nhiều nhất là Lào Cai, Ðiện Biên (trên 50%), Lai Châu, Hà Giang (trên 40%), Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Hòa Bình, Kon Tum (trên 30%).

Trong tháng 5, 2011, tuy đến hôm nay chưa tròn tháng, nhưng chỉ số lạm phát tháng 5 của Việt Nam đã tăng lên 2.21% và làm cho mức lạm phát so với tháng 5 năm 2010 lên đến mức gần 20%. Bị nhà nước thắt chặt tiền tệ, nguồn vốn nhàn rỗi khó tìm, cho nên các ngân hàng đã đẩy lãi suất tín dụng tiết kiệm cao quá trần của ngân hàng quốc gia là 14% mà hiện nay đã lên tới 18%-19%. Vì vậy lãi suất cho vay bị đẩy lên đến 28%-29% là một mức lãi suất “ăn cướp” của doanh nghiệp. Nguy cơ phá sản của hàng loạt danh nghiệp nội địa là điều khó tránh khỏi...

Chưa bao giờ người dân nghèo lại càng bị xoáy sâu vào sự nghèo đói như lúc này. Bóng ma lạm phát đã gõ cửa từng mái nhà tranh của những người nông dân quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời,” những người lao động tự do và công chức “ba cọc ba đồng” nơi thành thị. Chưa bao giờ người ta lại lo lắng cho cái dạ dày lép kẹp của mình như lúc này...

Về tâm lý, khi đói người ta chỉ nghĩ đến việc ăn, khi khát người ta chỉ nghĩ đến việc uống. Các công việc khác tạm được quên, kể cả tình yêu là thứ ma lực cuốn hút con người mãnh liệt cũng sẽ phải nhường chỗ cho “con ma đói, ma khát.” Khi đói người ta thường hay nghĩ quẩn, nghĩ ngắn, không thể nhìn xa trông rộng. Bởi vậy những phạm trù như văn hóa, khoa học, ý thức công dân, v.v... sẽ mất đi. Con người trở nên đớn hèn, và mất đi sự tự tin, sự khôn ngoan sáng suốt...

Thời điểm này, nếu đối với một số người nghèo, có ai đó tìm giúp họ việc làm ra tiền ngay, dù phải vất vả nguy hiểm họ vẫn dám làm, vì mục đích của họ là cái ăn trước đã. Thậm chí, đối với những người lâm vào thế bí, có thể họ sẽ nghĩ quẩn đến việc đi ăn trộm ăn cướp để thỏa mãn cái dạ dày. Ta thử nghĩ xem, nếu bây giờ mà đem các kỹ chiến thuật đấu tranh bất bạo động đến với dân nghèo, rồi bảo họ xuống đường mà đi biểu tình chống độc tài cộng sản thì rất khó. Thà bảo họ xông vào đâu đó mà đoạt lấy áo cơm, có khi lại dễ hơn. Chính vì yếu tố tâm lý ấy, lịch sử đã tạo nên nhiều cuộc cách mạng thành công nhờ khẩu hiệu: “Cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo.” Như vậy đói nghèo vừa làm mất sự tự tin, nhưng ngược lại nó lại kích thích sự hung hãn bản năng của con người.

Có vẻ như bia rượu không liên quan gì đến đói nghèo. Nhưng không phải vậy! Một mặt nào đó bia rượu là thứ đốt tiền bền bỉ, vì uống là phải đi đôi với ăn thì mới thành cuộc nhậu: “Một tiền gà thì ba tiền thóc” là như vậy. Không những thế, bia rượu còn là thủ phạm hủy hoại nhân cách và tàn phá sức khỏe con người. Và khi những đồng tiền mồ hôi xương máu bị đem ra đốt vào những cuộc nhậu, mua lấy sự hao mòn sức lao động do mất sức trong ngộ độc rượu bia (say rượu bia là tình trạng ngộ độc thần kinh) làm mất sự tái sản xuất. Ðối với tầng lớp giàu có họ ăn uống với phong cách khác cho nên sức khỏe ít bị ảnh hưởng, đồng thời tiền bạc có tốn kém chút đỉnh với họ cũng chẳng hề hấn gì. Nhưng đối với anh dân nghèo, nạn rượu bia, chè chén chính là một trong những nguyên nhân lãng phí và tác động trực tiếp vào sự nghèo đói. Chưa kể đến những hệ lụy như mất kiểm soát về hành vi, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc trong ứng xử và gây tai nạn giao thông.

Theo thống kê của nhà nước, chỉ riêng các loại bia thương hiệu Sài Gòn, năm 2010 đã sản xuất và tiêu thụ hết 1,088 tỉ lít, năm nay dự kiến sẽ đạt 1.3 tỉ lít. Riêng loại bia Heineken thôi, thị trường Việt Nam đã được xếp thứ ba trên tổng số 170 thị trường của loại bia này trên khắp thế giới, chỉ xếp sau Mỹ và Pháp. Như vậy là một nước nghèo khó như Việt Nam đã “sánh vai với các cường quốc năm châu” đúng như lời ông Hồ Chí Minh đã mơ ước. Nhưng chỉ là việc “sánh vai” với các nước giàu về cái sự uống bia! Ðấy là chưa kể đến hàng tỉ lít rượu lậu tiêu thụ hàng năm, được chưng cất bằng men lá và công nghệ dân dã của Trung Quốc, hoặc pha cồn công nghiệp trực tiếp vào nước lã để “điều chế” thành đồ uống, kế đến mới là các loại rượu đóng chai “quốc doanh” mà đôi khi các đệ tử lưu linh gọi là “quốc lủi.” Ở các nước phát triển, bia rượu thường được uống rải rác theo lối thư giãn, có văn hóa hẳn hoi, phong cách không phải là “nốc” bia rượu trong cuộc nhậu như ở Việt Nam. Ðồng thời lượng cồn và các chất độc hại trong đồ uống này cũng được kiểm định chặt chẽ. Nhưng ở Việt Nam, chuyện kiểm định chất độc hại trong bia rượu có lẽ chỉ có ở khu vực quốc doanh và doanh nghiệp lớn, nhưng mức độ tin cậy thì cũng còn phải xem lại, còn khu vực tư nhân nhỏ lẻ trôi nổi thì 100% là không có kiểm soát.

Khi đã say, người ta luôn cảm thấy mình đúng, mình chuẩn xác. Các quyết định trong lúc nhậu nhẹt thường rất chóng vánh vì mất kiểm soát. Một khi con người hành động trong lúc không còn tỉnh táo thì chắc chắn là sai nhiều hơn đúng. Sau khi tỉnh rượu bia, tinh thần và thể xác hoàn toàn mệt mỏi, con người trở nên lười suy nghĩ, ngại lao động, họ trở nên bị thiểu năng trong tình trạng ít nhiều của sự ngu đần. Ngày trước người ta cho rằng thực dân Pháp dùng rượu cồn để đầu độc dân chúng, làm công cụ ngu dân, thì ngày nay bọn thực dân “nội địa” lại buông thả cho nạn bia rượu thả sức hoành hành. Không hiểu đây có phải là một kiểu ngu dân để dễ cai trị hay không?

Dự kiến trong những tháng tới của năm 2011, xã hội Việt Nam sẽ đại loạn. Thứ nhất vì nạn đói nghèo do lạm phát, giá cả “đại nhảy vọt” cho nên tệ nạn xã hội sẽ tăng theo, do dân chúng không tìm được lối thoát. Sự phân hóa chóng mặt của hai tầng lớp giàu và nghèo sẽ dẫn đến những thù địch giai cấp không thể tránh khỏi. Bên cạnh đó những bất công và bất minh trong quản lý hành chính của bộ máy công quyền sẽ làm tăng tư tưởng đối đầu giữa dân chúng và chính quyền. Các vụ chống người thi hành công vụ, tấn công cảnh sát, kiểm lâm, thuế vụ, quản lý thị trường sẽ gia tăng. Chúng ta cùng chờ xem những diễn biến đó sẽ xảy ra như thế nào?
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Nguyễn Chí Vịnh nói ngược Nguyễn Phương Nga

Ngô Nhân Dụng

“Nhà lại bị cướp rồi,” đó là lời báo động trên blog của Anh Ba Sàm, trước khi trang mạng của anh bị “giật sập,” nói theo lời một nhà trí thức yêu nước.

Sáng ngày 9 tháng 6, tàu Viking 02 của PetroVietnam đang thăm dò đáy biển như thường lệ thì lại bị một tàu hải giám của Trung Quốc, với sự yểm trợ của hai tàu ngư chính, lao vào cắt dây cáp trong vùng biển thuộc quyền nước ta, không khác gì vụ cắt dây cáp của Bình Minh 2 trước đây. Ðây là vụ tấn công lần thứ hai trong nửa tháng!

Bà Nguyễn Phương Nga đã đe dọa một lần rồi mà tụi nó không sợ, lạ thật! Bà Nga là phát ngôn viên của nhà nước cộng sản, bữa trước đã cảnh cáo: “Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm quyền chủ quyền,... đồng thời bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam.” Sau khi nghe bà Nga nói, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc lại bảo vụ tấn công tầu Bình Minh là một việc “bình thường và hợp lý ở khu vực biển thuộc thẩm quyển và quyền tài phán của Trung Quốc.” Thậm chí, họ còn yêu cầu Việt Nam “ngay lập tức ngưng những hành động xâm phạm và không được gây thêm rắc rối mới.” Nhà nước Cộng Sản Trung Hoa coi việc tầu hải giám họ đi cắt cáp tầu Việt Nam giống như một công việc của cảnh sát đi bắt trộm vậy! Giống như mấy anh cảnh sát Tầu qua Lào Kai hay Móng Cái bắt mấy người Việt Nam, đổ cho tội ăn trộm vậy! Bà Nguyễn Phương Nga đòi bồi thường thôi không đủ đâu!

Chưa thấy chúng bồi thường gì cả, mà chúng lại tỏ ra không sợ những lời bà Nga đe dọa lần trước: “Hải Quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết để bảo vệ vững chắc hòa bình, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.” Nghe rất mạnh. Nhưng có lẽ chúng cũng không sợ lời dọa này vì sau đó, trong một cuộc phỏng vấn đăng trên báo, ông tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng bộ Quốc Phòng lại nói trái ngược hẳn với lời đe dọa của bà Nguyễn Phương Nga!

Trong bài phỏng vấn đăng trên báo Tuổi Trẻ đầu tuần này, sau khi dân Việt Nam đã rầm rộ biểu tình phản đối ở Hà Nội và Sài Gòn, khi nhắc tới việc Philippines từng đưa Hải quân, Không quân ra đối đầu với tầu Trung Quốc xâm nhập hải phận của họ, Nguyễn Chí Vịnh lại nói là quân đội không dính vào vụ này: “Quân đội theo dõi, giám sát chặt chẽ không để vụ việc leo thang nhưng không tham gia giải quyết.” Vịnh nói rõ: “Như vụ tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02 vừa rồi, ta không đưa hải quân trở thành chủ thể giải quyết. Khác nhiều nước ở chỗ ấy.”

Nghe ông Vịnh nói không ai hiểu nổi, giống như lối nói của một em bé chưa đủ lớn khôn! Một đằng ông nói nói quân đội sẽ “theo dõi, giám sát chặt chẽ không để vụ việc leo thang;” đồng thời ông lại nói “nhưng không tham gia giải quyết!” Thế là thế nào? Không tham gia, không giải quyết thì làm sao “không để vụ việc leo thang” được? Nếu chúng nó cứ leo thang thì quân ta vẫn “không tham gia giải quyết” chỉ còn nước đi năn nỉ chúng hay sao? Mà chúng đã leo thang thật rồi đấy, chúng có xin phép ông Tướng Vịnh hay chưa? Nghe những câu ông Vịnh nói cũng khó hiểu như nghe ai nói tiếng Tầu vậy!

Tướng Vịnh còn giải thích thêm lập trường của đảng ông: “Chúng ta,... không cần huy động lực lượng quân sự!”

Một đằng bà Nga dọa: “Hải Quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết” nhưng đằng khác ông Vịnh lại nói: “Không cần huy động lực lượng quân sự!”

Hải quân chắc phải gọi là một lực lượng quân sự chứ? Không huy động thì còn làm được “mọi việc cần thiết?” Trong hai ông bà này ai nói Gà và ai nói Vịt, ai nói tiếng Việt và ai nói tiếng Tầu? Ðúng là họ “Khác nhiều nước ở chỗ ấy” thật!

Chưa hết, tại cuộc hội nghị ở Indonesia ngày hôm sau, ông Nguyễn Chí Vịnh còn sợ bà Nguyễn Phương Nga chưa hiểu ý đảng, nên nhấn mạnh lần nữa rằng: “Với những tranh chấp ở biển Ðông, các bên tuyệt đối không được sử dụng bạo lực với nhau!”

Nhưng ông Nguyễn Chí Vịnh không giải thích khi các “tầu lạ” đâm vào tầu đánh cá Việt Nam, khi họ dùng súng đạn bắt cóc các ngư dân, đánh đập, giam cầm, đòi tiền chuộc, rồi bây giờ thì đâm thẳng tầu của nó vào tầu của mình trước khi cắt dây cáp, như vậy đứa nào dùng bạo lực? Nếu giặc dùng bạo lực mà mình bị cấm không dùng bạo lực thì dân mình cứ chịu chết mãi hay sao? Ðồng thời, giặc còn tấn công ngay một số trang thông tin điện tử của Bộ Ngoại Giao nữa. Website của trung tâm biên phiên dịch đã bị hacker đánh, để lại một số lời bằng tiếng Trung Hoa kèm hình ảnh cờ Trung Quốc!

Chúng ta có thể tin ông Nguyễn Chí Vịnh phát biểu đúng lập trường của đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ không dám dùng quân đội, công an để bảo vệ người dân Việt đi đánh cá hay đi thăm dò đáy biển. Trên blog của nhà báo Huy Ðức có lời thuật: “Một blogger được nói là làm việc trên tàu Bình Minh 2 viết, khi tàu của anh bị (tầu Trung Quốc) tấn công, các tàu hải quân (Việt Nam) giả dạng tàu bảo vệ “đã sẵn sàng” phi thẳng vào “tàu giặc.” Nhưng, các anh ấy nói, chưa có lệnh từ Bộ Chính Trị, chưa dám bắn, “dù tức vãi ra rồi!” Dân mình chịu bó tay cho giặc tấn công, hai lần rồi!

Không dám đưa quân đội ra bảo vệ dân, thì còn một con đường khác, là sử dụng ngoại giao, vận động thế giới bắt “giặc” phải tôn trọng luật lệ quốc tế. Phải vận động các nước Ðông Nam Á, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, những nước có quyền lợi ở biển Ðông để họ hỗ trợ mình! Phải đưa “giặc” ra tòa, giống như khi bị nhà hàng xóm ức hiếp thì người dân nào cũng phải kêu cảnh sát vậy.

Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam lại không muốn làm những việc đó. Không lôi kéo các nước khác, mà cũng không tin thế giới có tòa án, có luật pháp! Ông Nguyễn Chí Vịnh cho thấy như vậy. Và trong hai lần phát biểu, ông không những nói ngược lại lời bà Nguyễn Phương Nga, mà còn có tài nói mâu thuẫn với chính ông nữa.

Trong bài phỏng vấn đăng trên Tuổi Trẻ, ông Vịnh nhắc lại lập trường cố hữu của đảng Cộng Sản Việt Nam là về các vụ tranh chấp hải phận với Trung Quốc họ chỉ thảo luận song phương với “nước bạn” chứ không đưa ra các diễn đàn quốc tế, dù là trong khối Ðông Nam Á. Ông Vịnh nói: “Chúng ta giải quyết trực tiếp với nước có tranh chấp, không lôi ai vào đây để cùng giải quyết, không nhờ vả ai để tạo lợi thế trong giải quyết vấn đề.” Nói thế rõ ràng lắm rồi.

Nhưng đường lối ngoại giao này rõ ràng là THUA, là chịu thua trước khi nói chuyện! Vì trong mọi cuộc bàn cãi về hải phận, Bắc Kinh đã nắm dao đằng chuôi, còn Việt Nam thì nắm được cái lưỡi dao! Mỗi lần cãi nhau, Bắc Kinh chỉ cần đưa ra bức thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958, nói chính phủ Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn đồng ý với bản tuyên bố về hải phận của chính phủ Cộng Sản Trung Quốc ! Trong bản tuyên bố về hải phận đó chính quyền Trung Hoa đã nêu tên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc về họ.

Tuy nhiên, chỉ một ngày sau, tại Hội nghị Chính sách An ninh Diễn đàn khu vực ASEAN (AFR) ngày 8 tháng 6, 2011 ở Indonesia, ông Nguyễn Chí Vịnh lại nói khác. Ông tuyên bố, “vấn đề biển Ðông cần được giải quyết thông qua đàm phán hòa bình đa phương,” dựa trên những quy tắc quốc tế theo UNCLOS 1982, DOC và COC vân vân. Như vậy là đa phương hay song phương? Hay là nói thì đa phương mà làm thì song phương? Chuyện tất cả biển Ðông thì đa phương còn nếu họ xâm phạm đến gần bờ biển mình quá, vào cách bờ biển Phú Yên có 120 hải lý, thì lại song phương cho tiện?

Chưa hết! Những lời ông Vịnh nói về các công ước quốc tế DOC, COC và UNCLOS 1982, nghe rất lạ! Vì mới bữa trước đó chính ông đã coi chúng là vô ích, vô hiệu. Khi trả lời báo Tuổi Trẻ, ông Vịnh nói: “Tôi rất mong có COC nhưng không coi COC là trang bị pháp lý tuyệt đối, đầy đủ để giải quyết mọi vấn đề ở biển Ðông. Ngay cả Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển họ còn coi thường thì cũng không lấy gì đảm bảo COC giải quyết được vấn đề.”

Tức là khi nói với người ngoài thì làm ra bộ coi thế giới này có luật pháp, còn nói với người Việt Nam thì không. Trên báo Tuổi Trẻ, nêu việc kiện Trung Quốc ra các tòa án thế giới, Nguyễn Chí Vịnh trả lời: “Tòa án quốc tế đem lại chính nghĩa về mặt lương tâm,... Còn về thực địa, không ai ‘sờ’ vào được.” Nói vậy tức là không tin tòa án nào làm được cái gì cả; vẫn chỉ mong được nói chuyện tay đôi thôi! Thói quen coi thường pháp luật đã được rèn luyện trong lối sống độc tài đảng trị rồi, khi bàn việc ngoại giao vẫn không thể bỏ lối suy nghĩ đó được! Nhưng khi chỉ có Trung Quốc với Việt Nam gặp gỡ tay đôi thì liệu có “sờ” được hay không? Mà thằng nào sờ thằng nào? Không dám sử dụng những định chế tài phán của thế giới vì không tin các công ước quốc tế, nhưng lại cứ đặt hết lòng tin vào nhưng lời hứa hão “16 chữ vàng” với “4 cái tốt,” của các “đồng chí, anh em,” được hay sao?

Tóm lại là nếu thằng căn cướp nó bất chấp pháp luật, thì thôi, ta không cũng không nói chuyện luật pháp với nó nữa! Nhưng không dùng quân sự ngăn chặn giặc, cũng không nói chuyện luật pháp. Vậy phải làm gì? Cứ để cho nó “được đằng chân lân đằng đầu” mãi hay sao? Phải năn nỉ? Phải hờn dỗi? Phải bám lấy các “đồng chí, anh em” mà van xin? Ông Nguyễn Chí Vịnh là một thứ trưởng bộ Quốc Phòng. Không biết ông sẽ phòng cái gì?

Trong khi đó, ông Nguyễn Minh Triết nói: “Chúng ta mong muốn các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc luôn hòa bình, hữu nghị, ổn định nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức mình để bảo vệ vùng biển đảo của đất nước.” Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng tuyên bố: “Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.” Và “nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình.” Nghe cũng thấy giống như ông Nguyễn Chí Vịnh mới nói: “Nhân dân ta rất yêu nước, sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ Tổ quốc!” Ông Nguyễn Tấn Dũng từng nói sẽ cương quyết diệt trừ tham nhũng, có ai còn tin ông ấy không?

Người dân chỉ mong những lời nói phải đi đôi với việc làm! Bởi vì nói thì dễ, lại nói chỉ cốt cho dân mình nghe thôi, càng dễ nữa! Có dám nói với người ngoài không? Có dám đem bọn giặc ra tòa không hay là chỉ nói chơi? Người dân Việt Nam không dại. Các ông nói thật hay chỉ tuyên bố hung hăng để trì hoãn “mua thời giờ,” cho dân bớt oán hận, nhất là cho thanh niên bớt đi biểu tình! Rồi lâu ngày bao lời lẽ văn hoa của các ông cũng “hóa bùn” hết thì người Việt Nam lại bị các “đồng chí anh em” đặt trước những “sự đã rồi?”
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

'Ði dây' với nhân dân, coi chừng té

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt


“Ði dây” là hai chữ được dùng khá thường xuyên để miêu tả cách thức “lăng ba vi bộ” của nhà cầm quyền Việt Nam.

Image
Biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội hôm 12 tháng 6. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)

Thông thường nhất, người ta nói chính quyền Việt Nam “đi dây” giữa Mỹ và Trung Quốc. Trong quá khứ, khi nội bộ quốc tế cộng sản hục hặc nhau, người ta cũng từng nói Việt Nam thời Hồ Chí Minh đã “đi dây” giữa Trung Quốc và Liên Xô.

Khi đi dây như vậy, chính quyền Việt Nam không thể hiện rõ lập trường. Anh phe ai, Brezhnev hay Mao? Không biết. Anh muốn thân ai, Mỹ hay Tàu? Cũng không biết.

Tất nhiên, nhà nước Việt Nam, hay cụ thể hơn là nhà nước cộng sản Việt Nam, cũng nghĩ ra được một câu trả lời để nói nghe như một thứ lập trường. Hỏi anh phe ai, Brezhnev hay Mao, nhà nước Việt Nam sẽ trả lời nước đôi rằng chúng tôi về phe xã hội chủ nghĩa, cả Nga lẫn Tàu. Thoáng nghe qua thì cũng hợp lý, nhưng thật ra không hợp lý chút nào. Như hỏi anh yêu ai, Hoạn Thư hay Thúy Kiều, anh không thể trả lời chung chung là tôi yêu phụ nữ. Khi Nga với Tàu tố cáo lẫn nhau là không theo đúng chủ nghĩa cộng sản, nếu anh tự gọi là cộng sản anh phải chọn một trong hai.

Nhưng đó là bản chất của đi dây. Người đi dây không có lập trường mà chỉ muốn nửa bên này nửa bên kia, vừa A vừa B, vừa say vừa tỉnh. Nếu đi giỏi, động tác đi dây sẽ có tính hài hòa. Ði dây không giỏi, sẽ giống như người tâm thần phân liệt.

Trong hai tuần mới đây, một hiện tượng đi dây mới, lại diễn ra. Ðó là chuyện biểu tình. Trong chuyện này, nhà nước Việt Nam lại một lần nữa biểu hiện sự thiếu lập trường và động thái nửa muốn thế này nửa muốn thế nọ.

Một mặt, nhà nước ra vẻ như muốn chống hành động xâm lăng của Trung Quốc, nên nhá đèn xanh hay vàng gì đó, cho người dân xuống đường biểu tình.

Ở Hà Nội, Sài Gòn trong ngày 5 tháng 6, cuộc biểu tình diễn ra ôn hòa, không có xung đột lộ liễu giữa dân với công an.

Nhưng bên cạnh đó, nhà nước vẫn sợ hãi khi nhìn một cuộc xuống đường. Nhiều nhân vật nhạy cảm bị ngăn chặn không được tham gia. Nhạc sĩ Tuấn Khanh chẳng hạn, đóng vai trò quan trọng trong cuộc biểu tình 2007, bị chặn không được vào trung tâm Sài Gòn. An ninh bủa vây một loạt nhân vật khác, các blogger Hồ Lan Hương, Uyên Vũ, Bướm Ðêm, Tạ Phong Tần. Blogger Mẹ Nấm bị bắt, bị giam hơn một ngày.

Một thí dụ của nỗi sợ “biểu tình” là cuộc đối thoại giữa an ninh và Mẹ Nấm. “Ý kiến của công an: Nhà nước không cho phép biểu tình, biểu tình là vi phạm pháp luật, cho dù đó là tuần hành ôn hòa” - Mẹ Nấm kể lại.

Bản tin Thông Tấn Xã Việt Nam, gọi cuộc biểu tình tuần hành là chuyện “một số người đi ngang qua” tòa đại sứ, tòa tổng lãnh sự, cũng là kết quả của tính tâm thần phân liệt đối với hiện tượng “biểu tình”: Cũng muốn dân chống Trung Quốc lắm, nhưng cũng không muốn dân “biểu tình” chút nào.

Nhất là biểu tình tự phát. Nếu để dân tự phát lần 1, rồi tự phát lần 2, biết làm gì khi dân tự phát lần 3, lần 4, lần n?

Nỗi sợ này lên cao hơn khi người dân biểu tình tự phát tuần thứ nhì. Tất cả những gương mặt trí thức tham gia biểu tình Chủ Nhật trước đều bị theo dõi và đe dọa không được bước ra khỏi nhà. Họ cũng bị cô lập thông tin, nhiều người còn không biết có cuộc biểu tình lần 2.

Và tất nhiên, không thể không nhắc đến những vụ bắt thanh niên giữa ban ngày, với tấm hình nóng nhất trong ngày và nhiều hình khác.

Ði dây giữa nhu cầu chống ngoại xâm và nhu cầu cai trị dân chúng, Ðảng Cộng Sản lại biểu lộ lập trường mập mờ, không rõ rệt.

Nhưng đi dây có gì xấu? Chẳng phải chính sự điêu luyện đi dây giữa Liên Xô và Trung Quốc đã giúp miền Bắc nhận viện trợ từ cả hai phía? Không phải vậy. Lợi điểm đó chỉ ngắn hạn. Ơn mưa móc nhận được từ Nga với Tàu, thế nào cũng có lúc phải trả.

Tới khi đánh nhau xong, cả hai bên Liên Xô - Trung Quốc đều quay sang đòi nợ, không chỉ nợ vật chất, mà còn đòi nợ tinh thần. Thắng rồi, cả hai bên đều hết nhân nhượng với sự lấp lửng, và đòi hỏi Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải nói rõ: Anh đứng ở đâu trong quốc tế cộng sản? Anh về với Nga, hay về với Tàu? Khi Việt Nam ngả hẳn về phía Liên Xô, Trung Quốc cho rằng cộng sản Việt Nam tráo trở, “dạy cho một bài học.”

Lẽ ra bài học phải rút ra, là “chớ có mà đi dây.” Nhưng Việt Nam dường như vẫn cứ không chịu học bài này. Khi đi dây giữa Tàu với Mỹ, Việt Nam tập trận với Mỹ là bị Trung Quốc lên án. Thử hỏi Philippines, Nam Hàn, nhiều nước khác tập trận với Mỹ, có bị Trung Quốc lên án không? Tại sao lại lên án Việt Nam? Vì Trung Quốc lại một lần nữa có cảm tưởng cộng sản Việt Nam tráo trở, đi nước đôi.

Ði dây, do đó, thực ra là có hại chứ không lợi lộc gì.

Ði dây với nhân dân, lại càng hại nữa. Nhân dân thấy gì khi mình biểu tình chống Trung Quốc mà bị bắt?

Nhân dân thấy gì khi tuần trước được bật đèn xanh đèn vàng, mà mấy ngày sau, Trung Quốc đòi Việt Nam xử lý dư luận, thì tuần sau đó quả nhiên dư luận bị xử lý?

Sẽ tới một ngày, nhân dân hết nhân nhượng với sự lấp lửng, và đòi hỏi Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải nói rõ: Anh đứng ở đâu, về với dân, hay về với Tàu?

Liệu có dễ dàng đi dây với lòng yêu nước của dân mãi được không?
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Zawahri: Từ cuộc sống an nhàn đến một tay khủng bố bị săn đuổi
Ayman al-Zawahri, lãnh tụ mới của mạng lưới khủng bố al-Qaida, ra đời trong một gia đình giàu có tại Ai Cập nhưng được trui rèn trong kinh nghiệm sống để trở thành một tay khủng bố Hồi Giáo cực đoan gây khiếp sợ.Ông là một bác sỹ giải phẫu nhưng đã chọn để trở thành một người cổ xúy cho ý thức hệ. Hiện nay Zawahri thay thế Osama bin Laden,người đã bị biệt kích Mỹ giết tháng trước trong một cuộc đột kích vào nơi ẩn núp của ông ta tại Pakistan.

Zawahri là người phụ tá của bin Laden, ủng hộ al-Qaida bằng kỹ năng tổ chức và chiến thuật, là người đầu tiên cổ vũ cho việc sử dụng đánh bom tự sát và những tổ chức khủng bố độc lập. Sứ mạng jihad hay còn gọi là thánh chiến của ông giản dị và rõ ràng—gây nên thiệt hại nhân mạng càng nhiều càng tốt nhắm vào người Mỹ và đồng minh, nhất là Israel.

Hiện nay ông được biết là sống tại một nơi nào đó trên vùng núi gần biên giới Afghanistan-Pakistan. Hoa Kỳ đã treo giải thưởng 25 triệu đô la cho những tin tức dẫn đến việc bắt giữ ông. Trong những video được công bố thường xuyên, ông lên án Mỹ, nói rằng cuộc chiến đấu của al-Qaida sẽ không chấm dứt trừ phi các cường quốc phương Tây rời khỏi “đất đai của những người Hồi Giáo.”

Zawahri sinh ra tại Cairo trong một gia đình giàu có gồm những bác sĩ và học giả và đã bắt đầu có liên hệ với những người Hồi Giáo cực đoan khi còn là một thiếu niên. Như nhiều người trẻ Ai Cập có học thức, ông bất bình vì cách đối xử với những người Hồi Giáo vào những năm 1960 khi Ai Cập tiến dần đến một quốc gia kiểu Sô Viết dưới thời lãnh tụ xã hội Gamel Abdel Nasser. Hàng ngàn người tình nghi lật đổ chính quyền bị tống giam.

Trong khi học lấy bằng y khoa, ông giúp thành lập một tổ chức Thánh chiến Hồi Giáo Ai Cập.

Zawahri đến Pakistan lần đầu tiên vào năm 1980, làm việc với Hội Lưỡi Liềm Đỏ tại thành phố Peshawar để chữa trị cho những người Afghanistan bị thương khi chiến đấu chống lại quân đội Xô Viết đang xâm chiếm nước láng giềng Afghanistan. Trong năm đó ông cũng sang Afghanistan lần đầu tiên.

Sau đó, ông là một trong hàng trăm người bị xét xử vì có liên hệ đến việc ám sát Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat vào năm 1981. Ông được tha bổng nhưng bị giam ba năm vì sở hữu vũ khí bất hợp pháp. Sau khi được trả tự do vào năm 1984, Zawahri trở lại Peshawa để ủng hộ cuộc nổi dậy của Afghanistan chống lại quân Xô Viết và thiết lập mối quan hệ với bin Laden, phục vụ với tư cách bác sĩ riêng của bin Laden.

Vào năm 1998, Zawahri thành lập một liên minh với bin Laden, trở thành phụ tá của lãnh tụ al-Qaida. Hoa Kỳ cáo buộc người Ai Cập này giúp tổ chức những cuộc đánh bom Tòa Đại sứ Mỹ tại Kenya và Tanzania sau đó trong năm.

Zawahri cũng bị nghi đóng vai trò chính trong vụ tấn công khủng bố vào nước Mỹ năm 2011 mà al-Qaida công nhận trách nhiệm từ căn cứ tại Afghanistan. Zawahri rút lui vào nơi trú ẩn cùng với bin Laden khi lực lượng Mỹ tấn công Afghanistan những tuần lễ sau đó, lật đổ nhà cầm quyền Taliban từng cho màng lưới khủng bố al-Qaida trú ẩn.

Zawahri thù ghét Hoa Kỳ cũng vì lý do cá nhân. Một cuộc không kích của Mỹ giết chết vợ và ít nhất hai người con của Zawahri tại tỉnh Kandahar thuộc miền nam Afghanistan vào tháng 12 năm 2001.

Zawahri tiến hành việc xây dựng lại al-Qaida tại vùng bộ tộc vô luật pháp nằm tại khu vực biên giới Afghanistan-Pakistan và trở thành khuôn mặt mới của mạng lưới khủng bố, công bố những video và băng ghi âm đả kích Hoa Kỳ trong khi hình ảnh của bin Laden mờ nhạt dần.

Trong một số băng video, Zawahri với bộ râu, giơ ngón tay chỉ chỏ và nhìn chòng chọc sau cặp kính có vành dày cộm. Đã nhiều lần cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ suýt hạ sát hoặc bắt sống được Zawahri tại khu vực bộ tộc ở Pakistan.

Tuy nhiên Zawahri vẫn tại đào và hiện nay khi bước qua tuổi 60 trong tuần này, ông ta đã trở thành người đứng đầu của al-Qaida. ( VOA)
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Image


Không bao giờ quên những Chiến sĩ QLVNCH
Phan Đức Minh

( Mến tặng các chiến hữu, đồng bào, nhất là những người bạn trẻ của tôi Phan Đức Minh )

Mọi sự qua rồi nên cho qua luôn, nhưng những Bài Học Lịch Sử quý giá thì không được phép quên, nhất là đối với những quốc gia hùng cường muốn “ làm chủ “ thế giới hay lãnh đạo một Châu Lục ( Continent ), cũng như đối với những quốc gia nhược tiểu khi kết bạn đồng minh, sống chết với nhau trong những cuộc đấu tranh sinh tồn.

Ở đây, tôi muốn vinh danh các chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua những dòng ngắn ngủi này, và nói lên một vài nét nhỏ để chứng minh rằng: nhiều kẻ, có cả những nhân vật lãnh đạo quốc gia, những nhân vật cầm đầu Bộ máy chiến tranh của những cái gọi là “Superpowers” đã lẩm cẩm, thiếu hiểu biết, hay cố tình với ác tâm, ác ý bôi nhọ Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Họ đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ của những vụ xuống đường biểu tình chống chiến tranh Việt Nam của giới sinh viên Ðại Học, mà cái tổ phát xuất của nó từ Trường Ðại Học Kent State Unuversity, do 1 Giáo Sư, cán bộ của Ðảng Cộng Sản Mỹ, lãnh đạo, chỉ huy theo kế hoạch của Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Cộng Sản Quốc Tế. Bởi vì họ biết rằng đánh thắng Hoa Kỳ trên chiến trường Việt Nam thì khó, nhưng đánh thắng Hoa Kỳ tại Quốc Hội, trên đường phố, ở các trường Ðại Học, trên mặt trận truyền thông thì không khó lắm. Bởi thế cho nên công cuộc lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, góp phần đập tan tinh thần chiến đấu, quyết thắng của Quân Ðội Mỹ - vốn có từ xưa - trong cuộc chiến Việt Nam phải được giao cho 1 Giáo Sư Ðại Học có uy tín và là cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng Sản Mỹ. Sự việc này chỉ được người ta biết đến khi vị Giáo Sư lãnh đạo phong trào sinh viên biểu tình chống chiến tranh Việt Nam này từ trần, có Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Mỹ dự tang lễ, đọc điếu văn, nêu cao thành tích của người quá cố, đã góp công sức vào việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam theo đường lối, kế hoạch của “Phong trào Cách Mạng Vô Sản thế giới”.

Nhiều người đã đánh giá toàn thể Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa qua hành độỳng xấu xa của một vài Sĩ Quan cao cấp đích thân, hay cho vợ con, đệ tử lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, nhất là giai đoạn Mỹ đổ quân tác chiến vào Việt Nam (sai lầm chiến lược) để buôn lậu, làm áp-phe tiền bạc bằng nhiều cách. Họ đánh giá Quân Ðội VNCH qua hình ảnh tan rã của nhiều đơn vị quân đội vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, mà kẻ gây ra tình trạng thê thảm này đích danh thủ phạm là Ông Nguyễn Văn Thiệu, một Tướng Lãnh làm Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Ðội VNCH, ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Khu 2, và Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I - một Tướng Lãnh từng được kể vào hàng Danh Tướng - phải bỏ Quân Khu I lúc chưa đánh nhau chi cả và các đơn vị quân đội của 2 Tướng này đang sẵn sàng chờ địch tiến đánh, với tinh thần rất cao, như họ đã từng đánh bại quân cộng sản trên lãnh thổ 2 Quân Khu này. Ông Thiệu ra lệnh bỏ 2 Quân Khu này khi chưa chạm địch để làm áp lực, lôi kéo người bạn Ðồng Minh khổng lồ (đang bỏ đi bằng mọi giá) quay trở lại cứu Nam Việt Nam. Nếu không, “Tiền đồn chống cộng sản của Mỹ tại Ðông Nam Á Châu sẽ sụp đổ”.

Tổng Thống Mỹ Richard Nixon phải hứa với nhân dân Mỹ là chấm dứt chiến tranh Việt Nam, đem quân đội Mỹ trở về trong danh dự, trả người thân về với gia đình của họ.

Qua trung gian của Tổng Thống Hồi Quốc, Ông Nixon cho Cố Vấn Henry Kissinger (một nhân vật chính trị, ngoại giao quỷ quyệt, độc ác và tàn nhẫn) dọn đường cho Ông Nixon gặp Mao Trạch Ðông, lãnh tụ Cộng sản Trung Quốc. Họ Mao với sức mạnh của Sư Phụ, với uy thế của Ông Thầy bao nhiêu năm trợ giúp cố vấn, vũ khí chiến tranh, lương thực... đã ra lệnh cho cộng sản Hà Nội không được chơi trội, bắt bí phái Ðoàn Mỹ tại Hội Nghị Paris, dọa đánh cho Mỹ phải chạy mà không có “Hiệp Ðịnh ngưng bắn - Agreement of cease- fire” chi cả.

Họ Mao đã cứu Ông Nixon, nhưng Ông Nixon phải đền ơn xứng đáng:

1/- Vận động để cho Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Quốc ngồi vào cái ghế Hội Viên Thường Trực của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc với quyền Phủ quyết cuối năm 1971, trước khi Ông Nixon gặp Họ Mao vào đầu năm 1972, mặc dầu Họ Mao đã chiếm hết lục địa Trung Quốc, thiết lập chính quyền, cai trị cả tỉ dân từ năm 1949. Còn Ông Quốc Dân Ðảng Trung Hoa thì vẫn là bạn của Mỹ nhưng phải rời khỏi cái ghế đó, chạy ra đảo Ðài Loan.

2/- Ông Nixon phải bằng mọi cách, nhưng kín đáo, bán cho Họ Mao những vũ khí, kỹ thuật chiến tranh tối tân hiện đại nhất lúc đó để Trung Quốc đủ sức “đánh nhau tay đôi” với Liên Xô khi cần, vì Liên Xô đã kết án, và đe dọa trừng trị Họ Mao về nhiều tội:

* Bất phục tùng Trung Tâm Lãnh Ðạo phong trào cộng sản thế giới là Ðiện Kremlin ở Moscow.

* Dám thiết lập Tư Tưởng Mao Trạch Ðông, trái nghịch với Học Thuyết Marx - Lenin là: Thiết lập nền vô sản chuyên chính kiểu Trung Quốc: lấy Nông Dân (đại đa số dân Trung Quốc) làm giai cấp lãnh đạo, thay vì giai cấp Công Nhân lãnh đạo, như Học Thuyết Marx-Lenin, đã được dùng làm Phương Châm Ðấu Tranh cho Phong Trào Cộng Sản Toàn Cầu.

* Muốn thống trị Á Châu bằng sức mạnh của Trung Quốc và Tư Tưởng Mao Trạch Ðông, tách ra khỏi sự lãnh đạo của điện Kremlin ở Moscow. Mao không chấp nhận “Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Quốc Tế Vô Sản”, theo luận điểm của Lenin về khả năng tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội không qua giai đoạn phát triển Tư Bản Chủ Nghĩa (Lenin's thesis on the possibility of advancing to Socialism by passing the stage of capitalist development) vì Liên Xô đã có cơ sở công nghiệp trong khi Trung Quốc chỉ có “Con trâu đi trước cái cầy”.

Như thế mới gọi là tư tưởng Mao Trạch Ðông, chớ Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản Hà Nội chỉ có biết trò “Ðu dây” theo voi ăn bã mía cả 2 phía Liên Xô và Trung Quốc thì làm gì có cái gọi là Tư Tưởng Hồ Chí Minh như cộng sản Hà Nội vẫn ồn ào, ba hoa về Tư Tưởng Hồ Chí Minh.

Nhiều Sĩ Quan cao cấp của VNCH trông cảnh quân sĩ dưới quyền bị tan rã một cách thê thảm, đau đớn, trông cảnh dân chúng cả triệu người trên đường tháo chạy, phải làm bia lãnh đạn trọng pháo, hỏa tiễn của Liên Xô và Trung Quốc tiêu diệt một cách tàn bạo, kinh hoàng, dã man mà thấy xót xa trong tim, trong lòng, phát điên phát khùng lên vì sự khờ dại, của ông Nguyễn Văn Thiệu. Là Tướng Lãnh, là Tổng Thống, là Tổng Tư Lệnh Quân Ðội mà Nguyễn Văn Thiệu không hiểu rằng: Những phòng tuyến đầu tiên bị tan rã, quân đội chưa đánh mà bỏ chạy tán loạn cùng hàng triệu dân chúng thì hậu quả quân sự, chính trị, tâm lý của Nam Việt Nam sẽ ra làm sao! Họ đã cố tình quên đi tinh thần chiến đấu của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trong dịp Tết Mậu Thân (1968). Lúc đó quân cộng sản được trang bị cá nhân, tất cả bằng súng tiểu liên xung kích AK-47 của Liên Xô, Tiệp Khắc, cùng với lực lượng võ trang của “Mặt Trận Giải phóng miền Nam”, lợi dụng yếu tố bất ngờ khi phản bội thỏa hiệp ngưng bắn trong dịp Tết thiêng liêng cổ truyền của dân tộc Việt Nam, thình lình mở cuộc “Tổng tấn công” vào hầu hết các thành phố, thị trấn của Nam Việt Nam. Trong khi đó Quân Ðội VNCH hầu hết chỉ được trang bị bằng súng trường bán tự động Garant M-1, Carbin M-1 và tiểu liên loại nhẹ Carbin M-2 của quân đội Mỹ sử dụng trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến.

Vì bất ngờ cho nên chúng đã kiểm soát được một số lãnh thổ có tính cách chiến lược tại Quân Khu 2 và Quân Khu I, đồng thời tấn công mưu toan đánh chiếm luôn Thủ Ðô Sài Gòn. Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng tại Hà Nội ra lệnh phải giữ đất đã chiếm bằng mọi giá để đưa dân chúng Nam Việt Nam vào 1 cuộc “Tổng nổi dậy”, cướp chính quyền. Do đó, khi chiến trường đã được quân đội VNCH giải tỏa, quân cộng sản bị đánh bại, phải bỏ chạy, phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đi theo quân đội mới thấy những xác chết của lính cộng sản bị xiềng chân vào công sự chiến đấu, các ổ bích kích pháo, súng đại liên. Cộng sản Hà Nội không bao giờ ngờ được rằng Quân Ðội VNCH có thể đánh bật chúng ra khỏi thành phố Huế sau 1 thời gian cộng sản chiếm đóng, toan tính thành lập chính quyền tại một thành phố giáp lưng với hậu phương to lớn của chúng ở bên kia sông Thạch Hãn, Quảng Trị, hay vĩ tuyến 17. Vậy mà cộng sản đã phải bỏ chạy khỏi thành phố Huế trong chiến dịch lịch sử Tết Mậu Thân (1968), chỉ kịp lùa theo chúng hàng ngàn sĩ quan, binh sĩ, nhân viên chính quyền, đảng phái chính trị do chúng bắt được tại Huế, để dẫn đi tàn sát, chôn sống tập thể theo kiểu Hitler giết người Do Thái, Staline giết người Ba Lan, nhưng ghê tởm hơn, vì chúng giết bằng đạn AK, bằng dao găm, mã tấu, còn sống cũng đạp xuống hố chôn luôn hàng chục, hàng trăm người 1 lúc.

Bốn năm sau, 1972, nắm được tinh thần “Bỏ cuộc, chạy làng” của tay “Sen đầm quốc tế” khổng lồ, nhưng đã quá mệt mỏi, chán chường với cuộc chiến tranh không thể thắng ở tiền tuyến bằng súng đạn tối tân vì nó chẳng có mặt trận, chiến tuyến nào rõ ràng để mình chủ động sử dụng “ưu thế hỏa lực- Superiority of firepower” được cả, mà hậu phương thì rối loạn, nát bấy vì biểu tình, phản đối chiến tranh, đốt cờ, đốt thẻ trưng binh, Quốc Hội cãi nhau như mổ bò về chuyện có hay không viện trợ chiến tranh cho người bạn đồng minh để giữ vững cái “Tiền đồn chống công ở Á Châu”. Thế là cộng sản Hà Nội lại áp dụng bài học cũ, 18 năm về trước, đã dùng chiến thắng Ðiện Biên Phủ để đánh gục người Pháp tại Hòa Hội Geneva.

Năm 1972 cũng thế, Hà Nội tung vào miền Nam những Sư Ðoàn tinh nhuệ, thiện chiến nhất đã từng đánh tan 2 Binh Ðoàn Lưu Ðộng (Groupements mobililes) của Pháp tại chiến trường Bắc Kạn-Lạng Sơn hồi 1950, sau khi sư phụ Trung Quốc đã chiếm xong toàn thể lục điạ, bắt sống 2 Binh Ðoàn Trưởng ( Commandants de Groupements mobiles): Ðại Tá Le Page và Trung Tá Charton, đưa những Sư Ðoàn lừng danh từng đánh thắng, dứt điểm người Pháp tại chiến trường Ðiện Biên Phủ năm 1954 bằng những trận đánh vũ bão theo lối “Chiến tranh quy ước -Conventional War” hẳn hoi. Hà Nội nhắm đánh vào Quân Khu I, lãnh thổ địa đầu của Nam Việt Nam, cho 15 ngàn quân của Sư Ðoàn 304 tràn qua vĩ tuyến 17, dưới sự yểm trợ của pháo binh và hỏa lực phòng không trang bị hỏa tiễn địa - không SAM-2 của Liên Xô, sau 3 ngày đêm đội những trận bão lửa Pháo Binh và Hỏa Tiễn. Sư Ðoàn 3 Bộ Binh VNCH là Sư Ðoàn mới thành lập, trong đó chỉ có Trung Ðoàn 2 Bộ Binh nòng cốt là tương đối thiện chiến, còn hầu hết là tân binh, lính mới, và vị Tư Lệnh Sư Ðoàn là Trung Ðoàn Trưởng mới được vinh thăng Chuẩn Tướng thì làm sao mà chịu cho nổi sức tiến quân của cộng sản ? Tại sao Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội VNCH, Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, lại cho Sư Ðoàn 3 Bộ Binh mới thành lập trấn giữ cái cửa ngõ ngăn chặn quân cộng sản Bắc Việt ngay sát vĩ tuyến 17 như thế này ? Có ai xúi dại 2 ông Thiệu và Viên làm như thế hay không?

Cộng sản đánh chiếm Tỉnh Lỵ Quảng Trị, mở đường xuống Huế rồi sẽ phối hợp với các đơn vị chính quy Bắc Việt, xâm nhập từ đường mòn Hồ Chí Minh, cũng như các lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội chủ lực của Tỉnh và Huyện, dứt luôn Quân Khu 1. Ngoài mục tiêu quân sự, cộng sản còn nhắm vào những mục tiêu chính chính trị và ngoại giao to lớn, quan trọng hơn: Cuộc Hòa Ðàm tại Paris để quân đội Mỹ ra đi trong danh dự, không đến nỗi bị cộng sản quốc tế và Hà Nội đánh cho phải chạy mà không có Hiệp Ðịnh ngưng bắn chi cả.

Tỉnh Lỵ Quảng Trị bị chiếm, cộng sản cho xe tăng T-54 của Liên Xô dẫn đầu, Bộ Binh và cơ giới kéo xuống Huế theo quốc lộ I, được pháo binh và hỏa tiễn 122 ly của Trung Quốc dọn đường. Quân cộng sản tiến về Huế như đi vào chỗ không có người. Dân chúng Quảng Trị thoát chết khi qua khỏi “Ðại Lộ Kinh Hoàng” tràn xuống Huế, trong khi dân chúng Huế cũng xô nhau bỏ chạy vì dân ở đây làm sao quên được vụ tàn sát ghê gớm với những mồ chôn tập thể trong dịp Tết Mậu Thân - 1968!

Tướng 3 sao Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Quân Ðoàn I- Quân Khu I (người được nhiều nhân vật chính trị cũng như quân sự trong và ngoài nước đánh giá: chỉ là 1 Tướng Tư Lệnh Sư Ðoàn loại trung bình, chớ không đủ khả năng giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn trong giai đoạn địch quân tiến như vũ bão thế này) hoảng hốt, không biết phải đối phó ra sao, chỉ biết cầu cứu liên tục về Dinh Ðộc Lập ở Sài Gòn với tinh thần chủ bại. Tuyến đầu bị phá vỡ thì địch quân sẽ thừa thắng xông lên dễ dàng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Còn phía ta đã rút lui, tan vỡ bỏ chạy thì tinh thần quân đội và dân chúng rối loạn ra sao, ai cũng biết rồi.

Giới truyền thông ngoại quốc, nhất là ở Mỹ đã đánh giá Quân Ðội và các cấp chỉ huy của Quân Lực VNCH qua những Tướng Lãnh như vậy đó! Cho tới khi đài phát thanh loan báo: Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động từ Quân Khu 4 ở trong Nam ra, nắm chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng I chiến thuật thay thế Tướng Lãm, dân chúng đang hỗn loạn bỏ chạy khỏi thành phố Huế cùng đồng thanh la lên “Tướng Ngô Quang Trưởng về làm Tư Lệnh Quân Ðoàn I, bảo vệ Huế và chiếm lại Quảng Trị thì bà con không có chạy đi đâu nữa cả! “Lòng dân tin tưởng mãnh liệt là thế!” Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, gốc binh chủng “Thiên Thần Mũ Ðỏ Nhẩy Dù”, nhưng lúc này đã mang lon 3 sao vì những chiến công ngoài mặt trận, và luôn luôn hòa đồng với các Sư Ðoàn Bộ Binh dưới quyền nên Tướng Trưởng luôn mặc quân phục tác chiến của Bộ Binh, thay vì quân phục Nhẩy Dù. Có lẽ Tướng Trưởng nghĩ rằng: Bộ áo không làm thành Thầy Tu, Tướng giỏi không cần phô trương bên ngoài mà cần phải đánh thắng trên trận địa và được lòng kính phục của quân sĩ. Tướng Ngô Quang Trưởng về Huế, chỉnh đốn lại quân ngũ, tái phối trí lực lượng, kêu gọi dân chúng an tâm, xin tăng phái lực lượng Tổng trừ Bị: Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến từ Sài Gòn bay ra. Thế rồi trước sân cờ Phú Văn Lâu, Cổ Thành Huế, Ông đã thề trước ba quân “Sẽ chiếm lại thành phố Quảng Trị trong thời gian ngắn nhất” như thời Nhà Trần, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, khi ra quân đã cầm gươm chỉ xuống sông Bạch Ðằng mà thề trước Tướng Sĩ: “Nếu phen này không phá tan được quân Mông Cổ thì ta sẽ không còn trông thấy con sông này nữa! Ôi, Lịch Sử dân tộc Việt Nam, làm sao quên được những giờ phút bi hùng và oanh liệt như thế này! Dưới quyền Tư Lệnh của Danh Tướng Ngô Quang Trưởng, Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu, chặn đứng những Sư Ðoàn thiện chiến, lẫy lừng nhất của cộng sản Hà Nội, trước sự ngỡ ngàng của dư luận trong và ngoài nước. Cổ Thành Quảng trị đã được chiếm lại. Quân cộng sản đành tháo chạy trở ngược về bên kia vĩ tuyến 17, giống như năm 1953, Danh Tướng MacActhur của Hoa Kỳ đã phản công, đánh bật quân cộng sản Bắc Hàn ra khỏi những vùng chiếm đóng trên lãnh thổ Nam Hàn, bỏ chạy bán sống bán chết trở ngược về phía Bắc vĩ tuyến 38.

Tướng Ngô Quang Trưởng và quân sĩ của Ông đã bảo vệ được Huế, chiếm lại thành phố Quảng Trị đúng như lời thề trước sân cờ Phú Văn Lâu bữa nào. Ðó! Tinh thần chiến đấu của Quân Ðội VNCH là như thế đấy! Tướng Lãnh của Quân Ðội VNCH có những người như thế đó!

Tờ báo Time Tạp Chí cỡ lớn của Hoa Kỳ, tôi có trong tay hàng tuần, một lần đã đăng những dòng cảm nghĩ của Ðại Tướng 4 sao Hoa Kỳ, Norman Schwarzkopf, Tư Lệnh Chiến Dịch” Bão Sa mạc - Desert storms” chinh phạt hung thần Saddam Hussein của xứ Iraq đầu thập niên 1990, đại để như sau “Hồi còn chiến đấu ở Khe Sanh thuộc lãnh thổ Quân Khu I Việt Nam Cộng Hòa, với tư cách là 1 Trung Tá Tiểu Ðoàn Trưởng Nhẩy Dù của Hoa Kỳ, tôi đã học được ở Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I VNCH rất nhiều kinh nghiệm quý báu trong nghệ thuật chỉ huy cũng như tác chiến.

Những kinh nghiệm đó đã giúp tôi rất nhiều, ngay cả mấy chục năm sau, trong Chiến thắng “Bão Sa Mạc - Desert Storms' Victory”. Nhiều nhân vật chính trị, truyền thông tại sao không biết những điều này khi nói về Quân Ðội VNCH? Họ ngu dốt hay mang đầy ác ý trong đầu!

Rồi đến chiến trường An Lộc, Tỉnh Bình Long. Ở Hòa Hội Paris, Lê Ðức Thọ và Xuân Thủy, Ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng cộng sản, ra mặt lấn áp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger trong các buổi mật đàm qua thế mạnh của quân cộng sản tại Miền Nam, trong khi Hoa Kỳ muốn rút chân cho mau Khỏi “Vũng lầy kinh khủng” này. Ðại Tướng cộng sản Võ Nguyên Giáp, “người hùng Ðiện Biên Phủ”, Bộ Trưởng Quốc Phòng của cộng sản đã tuyên bố trên đài phát thanh Hà Nội “Nhân dân Việt Nam đã đánh gục 3 đời Tổng Thống Hoa Kỳ, và sẽ đập tan chính quyền Nixon bằng 1 cuộc chiến thắng hoàn toàn - Defense Minister Vo Nguyen Giap says that the people of Vietnam have defeated 3 U.S. Administrations and are about to complete victory over President Nixon...” Với cái khí thế như vậy, xe tăng T-54 của cộng sản đã tràn ngập, làm chủ tình hình thị xã An Lộc, dẫn theo sau những đơn vị bộ binh thiện chiến, danh tiếng nhất, sau khi những trận bão lửa pháo binh đã quét dọn sạch sẽ, không để lại những gì có thể sống sót. Các chiến sĩ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh VNCH cùng 1 số đơn vị bạn còn lại của địa phương Bình Long đã chiến đấu vô cùng anh dũng, ác liệt, giữ từng tấc đất, từng góc phố, ngõ hẻm để có chỗ đứng hay nằm mà chiến đấu vì ngưng chiến đấu tức là chết. Mặt trận An Lộc làm rung động thế giới, làm rối loạn không khí hòa đàm tại Paris vốn đã nghiêng hẳn thế thuận lợi về phía cộng sản.

Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh cũng như Hà Nội muốn An Lộc phải thất thủ kinh hoàng như Ðiện Biên Phủ ngày nào. Những tay cá độ quốc tế đã dám đánh 100 ăn 1 là An Lộc sẽ thất thủ để cho cộng sản tiến quân về Sài Gòn, đập tan chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ngay trong năm 1972. Tướng 3 sao (Général de Division) Vanuxem của Pháp, Tư Lệnh quân đội Pháp tại Bắc Phi, người đã từng giữ chức vụ “Commandant de la Zône Sud du Nord Vietnam - Tư lệnh Quân Khu tả Ngạn Sông Hồng Hà” thời kỳ Ðiện Biên Phủ thất thủ tại Việt Nam- 1954 ố khi trả lời phỏng vấn của báo chí, truyền thanh, truyền hình, đã nói: Quân Ðội VNCH không thể nào giữ nổi An-Lộc. Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cảnh pháo binh cộng sản bất ngờ hiện diện tại các đỉnh đồi chung quanh lòng chảo Ðiện Biên Phủ (do trâu, voi, người kéo lên, dân công khiêng vác từng bộ phận) dội như mưa bão suốt ngày đêm, làm tê liệt hoàn toàn các giàn trọng pháo hùng hậu của Pháp cho đến nỗi Ðại Tá Pirotti, chỉ huy trưởng pháo binh của Pháp tại chiến trường này quá thất vọng và khủng khiếp, phải mở chốt lựu đạn mà tự sát. Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cái cảnh những Sư Ðoàn cộng sản cuồng tín, đông như kiến cỏ, theo chiến thuật “Biển Người “ của Thống Chế Lâm Bưu Nguyên Soái Hồng Quân Trung Quốc, tràn qua các bãi mìn, đạp nát các công sự phòng thủ, các hàng rào kẽm gai chằng chịt, tràn xuống các giao thông hào, đạp lên xác chết của lính Pháp, Bắc Phi và cả cộng sản, phối hợp với quân cộng sản từ dưới đất chui lên từ các đường hầm đã được máy móc, cơ giới của Trung Quốc đào bới ngày đêm trong lúc pháo binh hỏa tiễn Trung Cộng liên tục nổ rầm trời. Chắc Tướng Vanuxem liên tưởng đến cái cảnh Tư Lệnh chiến trường Ðiện Biên Phủ, Tướng De Castries, mặt mũi hốc hác, bị quân cộng sản bắt sống ngay tại căn hầm Chỉ huy, cùng với toàn thể Sĩ Quan Bộ Tham Mưu của Ông để rồi chiến tranh Việt-Pháp kể như chấm dứt từ chỗ này, mà phần thất bại tất nhiên thuộc về phía người Pháp. Tướng Vanuxem tin chắc là Quân Ðội Việt nam Cộng Hòa không thể nào giữ nổi An Lộc một khi Hà Nội đã quyết định biến An Lộc thành một thứ Ðiện Biên Phủ để giành thế chủ động trên bàn Hội Nghị tại Paris, một khi cộng sản Hà Nội có Liên Xô và Trung Quốc đứng sau lưng, nhất định bắt người Mỹ phải “nhắm mắt lại mà ký vào Hiệp Ðịnh Paris” như cộng sản đã bắt người Pháp phải làm như thế ở Hội nghị Geneva 1954. An Lộc đã bị thế giới coi như đã bị mất vào tay cộng sản. Thế mà, khi Liên Ðoàn 81 Biệt Kích Dù, hợp lực với Biệt Ðộng Quân và 1 số đơn vị Bộ Binh VNCH kéo tới đánh những trận phản công sấm chớp, lở đất long trời thì xe tăng T-54 Sô Viết, cũng như Bộ Binh cộng sản từng làm mưa làm gió trước đó trên vùng đất An Lộc tan hoang, trơ trụi, đành phải mở đường máu mà tháo chạy mặc dù lệnh của Hà Nội: phải giữ An Lộc đã chiếm bằng mọi giá. An Lộc vẫn còn đó, không thất thủ như Ðiện Biên Phủ năm 1954. Cả thế giới kinh ngạc. Tướng 3 sao của Pháp Vanuxem cùng dân cá độ quốc tế đã thua đậm trong keo này. Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Ðệ Nhị Việt Nam Cộng bỗng dưng có được giờ phút vinh quang và oai hùng nhất trong cuộc đời binh nghiệp cũng như chính trị của ông: đáp trực thăng xuống ngay chiến trường An Lộc giữa tiếng hoan hô vang dậy không ngớt của của các chiến sĩ VN Cộng Hòa vừa tái chiếm An Lộc, trong khi tiếng đại bác của 2 bên, tiếng hỏa tiễn 122 ly của Trung Cộng vẫn còn nổ vang quanh vùng, và An Lộc vẫn còn mù mịt, khét lẹt mùi lửa đạn.

Ðó! Tinh thần chiến đấu của Quân Ðội VN Cộng Hòa là như thế đấy! Và còn biết bao nhiêu trận đánh lẫy lừng khác trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật. Một bài báo có hạn làm sao kể hết!

Năm 1975, Cộng sản đánh chiếm Ban Mê Thuột, cũng chẳng khác gì cộng sản đánh chiếm Huế năm 1968, đánh chiếm Quảng Trị, kiểm soát An Lộc năm 1972 bao nhiêu. Vậy thì khi Ban Mê Thuột mới rơi vào tay giặc trong sự bất ngờ, tại sao Ông Thiệu lại hạ lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải bỏ Quân Khu 2, cho Tướng Ngô Quang Trưởng phải bỏ Quân Khu I, trong khi hai Tướng Tư Lệnh này đang có trong tay 6 Sư Ðoàn Bộ Binh, hầu hết đều thiện chiến, chưa kể đến các Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, mấy chục Tiểu Ðoàn Ðịa Phương Quân, bao nhiêu là đơn vị yểm trợ chiến đấu, đó là chưa kể đến hỏa lực yểm trợ của Hải Quân, Không Quân, lực lượng Tổng trừ Bị của Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, tất cả đều đang sẵn sàng chiến đấu vì chỉ có chiến đấu hay là chết mà thôi. Ông Thiệu hạ lệnh rút bỏ 2 Quân Khu cửa ngõ, địa đầu của Nam Việt Nam như vậy để làm gì?- Có nhận lệnh từ đâu không? - Ðể tạo nên một sự tan rã, hỗn loạn của cả một lực lượng Quân Ðội to lớn, hùng mạnh như nói ở trên, trong khi tất cả đang sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu để sống còn. Sự tan rã hỗn loạn này kéo theo sự hỗn loạn tràn ngập của hàng triệu dân chúng đổ vào Quân Khu 3, bao quanh Thủ Ðô Sài Gòn. Trong tình thế đó thì Quân Khu 3 còn đánh đấm gì được nữa? Quân Cộng sản chẳng cần đánh, mà cứ như đi vào chỗ không có người. Nên nhớ rằng, khi gặp sự quyết chiến của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh VNCH, với sự tăng cường của một số đơn vị bạn, mà Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng đã phải tung ra 2 Sư Ðoàn thiện chiến để hòng nhân đà thắng lợi, đánh tan Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, dưới sự chỉ huy của vị Tướng Trẻ Lê Minh Ðảo, nhưng không thắng nổi. Sau cùng Văn Tiến Dũng phải tung thêm 2 Sư Ðoàn nữa vào mặt trận này, là 4 Sư Ðoàn tất cả, lấy 4 đánh 1, trong thế thuận lợi hoàn toàn về phương diện tinh thần quân sĩ đang lên. Vậy mà Sư Ðoàn 18 Bộ Binh VNCH chỉ chịu rời bỏ trận tuyến khi có lệnh của Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 kiêm Vùng 3 Chiến Thuật. Vị Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 không muốn trông thấy Sư Ðoàn 18 Bộ Binh VNCH anh dũng, kiên cường bị tiêu diệt trước thế trận bất quân bình, địch đông gấp 4 và có thể tăng gấp 5, gấp 6 nếu cần, vũ khí đạn được, xe tăng, pháo binh được cộng sản quốc tế đổ vào như mưa bão, quyết đánh chiếm Sài Gòn như đã định.

Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quốc Phòng Mỹ tại sài Gòn, ngày 13 đã gửi cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ ca ngợi ý chí và tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa dù những bất lợi đang đè nặng trên vai họ. Sau 5 ngày theo dõi cuộc chiến An Lộc, Tướng Smith đã nói: “Sự chiến đấu anh hùng và dũng cảm của quân đội Nam Việt Nam... kể cả Ðịa Phương Quân Tỉnh Long Khánh, đã cho người ta thấy rõ tinh thần và khả năng chiến đấu của những người lính này giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều...” Ðó là chưa nói đến các chiến sĩ Sư Ðoàn 18 Bộ Binh tại chiến trường Xuân Lộc.

Trong lúc đó tại Quân Khu 4, ở miền Tây, Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, một Tướng giỏi, với Tướng Tư Lệnh Phó Lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, có trong tay 3 Sư Ðoàn Bộ Binh thiện chiến và các lực lượng Biệt Ðộng Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Ðịa Phương yểm trợ chiến đấu

hùng hậu, tinh thần rất cao, sẵn sàng chờ địch tiến đánh Quân khu này.

Khi Tổng Thống... cà chớn Dương Văn Minh, với tư cách Tổng Tư Lệnh lúc đó, bị chỉ huy trực tiếp bởi Sư Phụ Thích Trí Quang và ngay cả từ Hà Nội qua trung gian của người em ruột Dương Văn Minh, Sĩ quan cao cấp cộng sản là Dương Văn Nhựt (đã liên lạc với Dương Văn Minh từ hồi 1956) hạ lệnh cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng cộng sản vô điều kiện (để bàn giao cho cộng sản, hi vọng kiếm cho bản thân và bè lũ, chỗ đứng chỗ ngồi mà cộng sản sẽ dành cho trong chính quyền “Cách Mạng giải phóng”, thì Tướng Nguyễn Khoa Nam đã họp các Sĩ Quan có trách nhiệm chỉ huy dưới quyền, và ra lệnh: anh em tùy nghi lo liệu về phần mình, trước tình thế chúng ta bị bắt buộc phải đầu hàng. Kế hoạch chiến đấu để tự cứu mình và bảo vệ vùng lãnh thổ trách nhiệm của chúng ta đã không thi hành được như anh em đã có thể biết... Sau đó, Tướng Nguyễn Khoa Nam, trong bộ quần áo tác chiến, mũ sắt 2 lớp (sẵn sàng chiến đấu) đã vào Văn Phòng Tư Lệnh, ngồi xuống ghế của mình, nhìn lại lần cuối tấm bản đồ Tổ Quốc trên tường, nhìn lá cờ nhỏ nền đỏ với 2 ngôi sao trắng, tượng trưng cho uy quyền của một Tướng Lãnh chỉ huy, để trên bàn rồi rút súng bắn vào đầu tự sát. Chắc chắn là trước khi bóp cò cho viên đạn xuyên qua đầu, vị Tướng đáng kính phục này đã nói những gì với Tổ Quốc, với đồng bào, với chiến hữu của ông.

Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn, anh hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, trở về căn cứ chỉ huy phụ, nói với người vợ thân yêu “Em ở lại nuôi con, anh phải ra đi vì thân làm Tướng không thể sống nhục như thế này...” Người vợ thân yêu nói với ông “Anh Hưng! Cho em chết theo với! Tất cả chúng ta và các con cùng chết với nhau!” thì Tướng Hưng đã thuyết phục người vợ: Không được! Cha Mẹ không có quyền giết con. Em phải sống để nuôi dậy con nên người để trả thù nhà và cùng với thế hệ mai sau lấy lại Ðất Nước này! Em phải sống dù phải chấp nhận hi sinh, khó khăn, gian khổ. Người vợ thương yêu và can trường của vị Tướng anh hùng này nói trong nước mắt: Em nghe lời mình với hai điều kiện: Nếu cộng sản bắt em phải xa lìa các con hay chúng làm nhục em thì em có quyền tự sát! Tướng Hưng bằng lòng, nắm lấy tay vợ rồi chào từ biệt vợ con cùng một vài Sĩ Quan, Binh Sĩ đã có mặt từ trước tại đây để dự định liên lạc với các đơn vị thi hành kế hoạch chiến đấu cứu mình, cứu Quân Khu 4, của hai Tướng Nam và Hưng, rồi vào phòng riêng, gạt đi lời yêu cầu của người vợ xin được chứng kiến tận mắt sự ra đi của chồng. Tướng Hưng đóng cửa lại, và 1 phát súng nổ... Tướng Lê Văn Hưng đã ra đi vĩnh viễn cùng với Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, để lại cho Lịch Sử dân tộc Việt Nam những tấm gương bất khuất sáng ngời, như những tấm gương bất khuất của Cha Ông ngày trước, của những thời đại Lý Thường Kiệt phá quân ngoại xâm Nhà Tống, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Mông Cổ v.v... Hai Tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng đã cùng một số Tướng Lãnh khác như Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ và nhiều Sĩ Quan cao cấp khác của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã chết theo vận nước. Các Ông không muốn bị bắt làm tù binh hay đầu hàng giặc để lại ô danh cho hậu thế. Các ông cũng không muốn bỏ quân mà chạy lấy thân để rồi ra nước ngoài, mang theo tiền bạc ăn cắp của Quân Ðội, của Quốc Gia, làm giầu bất chính trên xương máu của chiến sĩ như một số Tướng Lãnh hèn hạ khác. Quân đội của quốc gia nào có những Tướng Lãnh anh hùng và can đảm như thế hay không?

Một số Sĩ Quan cao cấp của Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, không muốn dư luận cũng coi mình như những kẻ khác không biết gì về cuộc chiến Việt Nam, cuộc chiến kỳ lạ này, về sau đã phải lên tiếng nói ra sự thật là: Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng và kiên cường, mặc dầu họ luôn luôn phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, không được chiến đấu trong những điều kiện đầy đủ, dễ dàng như quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ðúng như thế.

* Quân Ðội Hoa Kỳ chỉ chiến đấu khi nắm chắc được yếu tố “Vượt trội về hỏa lực - Superiority of Firepower”. Quân đội VNCH phải chiến đấu trong mọi trường hợp cần thiết.

* Quân đội Hoa Kỳ chỉ chiến đấu tại Việt Nam trong thời gian ngắn hạn rồi thay nhau về xứ. Như thế không bị dồn vào thế mệt mỏi căng thẳng quá độ, thường trực về thể chất cũng như tinh thần. Còn Quân dội VNCH thì ngược lại, phải chiến đấu liên tục, không ngưng nghỉ. Sức chịu đựng của người chiến binh VNCH nó khủng khiếp đến thế nào?

* Trong khi chiến đấu cũng như lúc đóng quân trong đồn lũy, người chiến binh Hoa Kỳ luôn luôn được bảo vệ bằng những phương tiện chiến tranh dồi dào, tối tân, hiện đại nhất, cả về tấn công, phòng thủ cũng như yểm trợ. Người chiến binh VNCH làm sao có được như vậy! Cái mạng sống của người chiến binh Việt Nam nó cũng mỏng manh.

* Ðiểm nữa, ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần, thể chất, tâm lý của người chiến binh Việt Nam là: trong khi mình xả thân chiến đấu bảo vệ đất nước, bảo vệ mạng sống của chính mình thì lúc đó gia đình, những người thân yêu phải sống ra sao? Liệu có đang kẹt trong vùng lửa đạn, chết chóc hay không? Về điểm này, người chiến binh Hoa Kỳ khỏe hơn là cái chắc, tinh thần ổn định, thoải mái hơn rõ ràng.

Bây giờ, nếu đặt người chiến binh của các cường quốc Âu-Mỹ vào vị trí, hoàn cảnh chiến đấu khó khăn, thiếu thốn, khắc nghiệt của người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, thử hỏi liệu những người chiến binh ấy có thể chiến đấu được như người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa hay không? Chịu được bao lâu? Chính Phủ, Quốc Hội và Nhân Dân các quốc gia đó chịu được mấy tháng, mấy năm?

Câu trả lời xin dành cho những nhà viết sử chân chính, cho những Sĩ Quan và Quân Nhân Hoa Kỳ từng chiến đấu anh dũng, can trường bên cạnh những người bạn chiến binh Việt Nam Cộng Hòa của họ từ các chiến trường Khe Sanh, Ðác-Tô, Pleiku, Kontum, Ðồng Xoài, Bình Giả, Củ Chi, cho đến các chiến trường vùng đồng bằng sông Cửu Long, điểm tận cùng của Ðất Nước Việt Nam... Nếu muốn, quý vị có thể đọc thêm đoạn tài liệu mới đây thôi để thấy rõ thêm sự thật.

*
HENRY KISSINGER: LỖI LẦM TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM LÀ DO NGƯỜI MỸ GÂY RA
Ngày 2 Tháng 10 Năm 2010
(AP) - Tiến Sĩ Henry Kissinger, từng giữ các chức vụ cố vấn an ninh quốc gia và Ngoại Trưởng Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Richard Nixon, là nhân vật nòng cốt trong việc chính sách của Washington vào những năm cuối của cuộc chiến Việt Nam, tuyên bố rằng những lỗi lầm trong cuộc chiến ấy là do chính người Mỹ gây ra.

Ông Kissinger đưa ra nhận định này tại hội thảo về chiến lược và lịch sử cận đại của Hoa Kỳ tổ chức hôm thứ Tư 29-9-2010 tại trụ sở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở thủ đô Washington. Theo ông thì người Mỹ muốn thương thuyết hầu chấm dứt cuộc chiến đó, nhưng phía Hà Nội thì nhất định phải đạt chiến thắng. Cộng Sản Việt Nam ấp ủ, tiến hành mục tiêu đó để thống nhất hai miền Nam Bắc từ khi họ đánh đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương vào năm 1954. Trước khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc hồi năm 1975, ông Kissinger cũng ca ngợi phía Hà Nội là khôn khéo nên đã thành công trong việc đàm phán với Mỹ. Tuy nhiên qua những lời nhận lỗi cho rằng thất bại hoàn toàn về phía Hoa Kỳ, ông đã làm lu mờ những chiến công mà từ phía đối thủ Bắc Việt, luôn cho đó là một chiến thắng “thần thánh” giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước về một mối.

Dư luận vẫn chưa quên lời phát biểu của ông Kissinger sau ngày 30 tháng tư, 1975, khi nói rằng “thời gian sẽ trả lời ai thắng ai

San Diego, California
Phan Ðức Minh
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Lòng dân như một vũ khí

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Suốt buổi trưa và buổi chiều Chủ Nhật ngày 5 tháng 6, tôi cứ ngồi lì trước computer để theo dõi các bài tường thuật về các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Sài Gòn và Hà Nội.

Image
Bản thông báo của Ðại Học Công Nghiệp Sài Gòn. (Hình: Blog Anh Ba Sàm)


Theo tin sơ bộ trên blog của Dân làm báo, Anh Ba Sàm, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện và Phạm Viết Ðào, số người tham gia biểu tình tại Hà Nội lên đến khoảng gần một ngàn; ở Sài Gòn lên đến mấy ngàn. Công an có vẻ như không can thiệp mạnh dù trước đó một số trường đại học ở Sài Gòn, theo chỉ thị của sở công an thành phố, gửi thông báo ra lệnh cho các sinh viên không được tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc (1), và dù, ngay sáng Chủ Nhật, công an cũng tìm cách ngăn chận và xua đuổi, hình như bắt đi một số người (2). Tuy nhiên, cuối cùng, cuộc biểu tình cũng đã diễn ra một cách sôi nổi.

Có thể xem đây là cuộc biểu tình lớn và tự phát đầu tiên của dân chúng tại Việt Nam từ sau năm 1975. Trước, liên quan đến biểu tình, chỉ có một trong hai trường hợp: Một, do chính nhà nước tổ chức để ủng hộ... nhà nước; và hai, do dân chúng xuống đường tranh đấu cho điều này điều nọ, nhưng tất cả đều bị công an trấn áp nên thứ nhất, không quy tụ được đông người; thứ hai, không kéo dài được lâu; và thứ ba, cái giá mà người biểu tình phải trả có khi khá đắt: Bị bắt bớ và tù đày.

Ngay cả khi người dân xuống đường biểu tình một cách chính đáng, xuất phát từ lòng yêu nước, chủ yếu chống lại những hành động xâm lấn hoặc gây hấn thô bạo của Trung Quốc, cũng bị chính quyền đàn áp một cách tàn bạo. Ví dụ cuộc biểu tình vào cuối năm 2007 dẫn đến hậu quả là nhà báo Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải bị bắt và bị giam cho đến tận bây giờ!

Lần này, cuộc biểu tình, ngược lại, diễn ra khá suôn sẻ, ít nhất trong mấy tiếng đồng hồ vào buổi sáng.

Có thể xem đây như một chiến thắng của lòng yêu nước.

Nên nhớ là cuộc biểu tình không hề được tổ chức một cách đường đường chính chính. Không ai được phép vận động và tuyên truyền công khai cả. Chỉ có một số bản tin đăng tải trên Internet; tất cả đều thuộc “lề trái” và thường xuyên bị công an dòm ngó, không những dựng tường lửa mà còn sai cả tin tặc tấn công. Vậy mà, cuối cùng, chúng cũng quy tụ được cả hàng ngàn người.

Cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Trước đó cả tuần, dư luận dân chúng Việt Nam đã cực kỳ sôi sục. Trong một tuần, tôi nhận không biết bao nhiêu là email từ bạn bè trong nước. Hầu hết đều tập trung bình luận về sự kiện Trung Quốc ngang nhiên xâm lấn lãnh hải Việt Nam, cắt đứt dây cáp ngầm của Việt Nam trước những cặp mắt bất lực của công nhân, bảo vệ và cả hải quân Việt Nam; sau đó, bắn súng uy hiếp và xua đuổi các thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam. Tất cả đều đặt câu hỏi: Phải làm gì đây? Ra kháng thư chống Trung Quốc? Cổ vũ cho cuộc biểu tình chống hành vi gây hấn của Trung Quốc mà một số anh chị em thanh niên yêu nước dự định tổ chức tại Sài Gòn và Hà Nội?

Qua các email ấy, tôi thấy rõ một điều: Mọi người đều đau đáu trước vận mệnh của đất nước, đều tức giận trước thái độ ngang ngược của Trung Quốc, và đều nôn nao muốn làm một cái gì đó cho quê hương.

Tâm trạng ấy cũng có thể được nhìn thấy rất rõ trên phần lớn các website hoặc blog độc lập lâu nay vẫn bị chính quyền Việt Nam thù ghét và luôn luôn tìm cách phá hoại. Cứ vào các blog của nhóm Bauxite Việt Nam, của Anh Ba Sàm hay Quê Choa thì thấy. Ðâu đâu cũng tràn ngập tin tức và bình luận về sự kiện nóng bỏng trên biển Ðông. Ðâu đâu cũng hừng hực nhiệt huyết.

Dĩ nhiên không có mấy người muốn chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc bùng nổ, trong đó, phần thua có phần chắc là nghiêng về phía Việt Nam. Nhưng cũng không ai chịu đựng nổi cảm giác nhục nhã khi thấy tên đế quốc ngay sát bên cạnh chà đạp lên chủ quyền của đất nước mình. Người ta thấy cần phải làm một cái gì đó. Ít nhất là một tiếng nói.

Chính quyền, vì lý do nào đó, có thể không muốn nghe những tiếng nói ấy. Nhưng theo tôi, đó là điều họ cần nhất bây giờ.

Những người ủng hộ chính quyền thường lập luận: Hãy để yên cho đảng và chính phủ giải quyết mâu thuẫn với Trung Quốc. Hãy tin cậy và hy vọng. Chính Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam, cũng nói như thế trong cuộc phỏng vấn của phóng viên đài BBC tại Singapore vào trưa ngày 5 tháng 6, lúc cuộc biểu tình đang diễn ra rầm rộ ở Sài Gòn và Hà Nội:

“Người dân phải tin rằng nhà nước sẽ có giải pháp, có đủ trách nhiệm để vừa giữ chủ quyền lãnh thổ, vừa duy trì hòa khí và quan hệ với Trung Quốc.” (3)

“Phải tin”? Xin lỗi, làm sao dân chúng tin được điều đó khi vẫn còn sờ sờ trên giấy trắng mực đen bức công hàm do Phạm Văn Ðồng ký gửi Chu Ân Lai ngày 14 tháng 9 năm 1958 trong đó chính phủ ông thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các hòn đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa? (4) Làm sao có thể tin được điều đó khi, cho đến nay, hầu như đảng và chính phủ không có một chiến lược, thậm chí, một thái độ gì rõ ràng cả? Những gì người ta có thể thấy được thì toàn là những sự khiếp nhược. Ðến độ báo chí chính thống cũng không dám tường thuật bất cứ điều gì liên quan đến những hành động ngang ngược của Trung Quốc. Ðến độ các lãnh đạo đảng và nhà nước đều im thin thít.

Người ta bảo giới lãnh đạo sẽ đàm phán hay mặc cả với Trung Quốc hầu giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình. Nhưng họ sẽ sử dụng vũ khí gì để đàm phán?

Trong mọi thứ vũ khí mà người ta có thể sử dụng được trong những trường hợp như thế, từ kinh tế đến quốc phòng và hậu thuẫn quốc tế, Việt Nam đều ở thế yếu. Cực kỳ yếu.

Chỉ có một vũ khí duy nhất thì người ta lại không dám sử dụng: Lòng dân.

Vâng, chính lòng dân, chính nhiệt huyết chống xâm lược của dân chúng, chính sự đoàn kết của mọi người sau lưng một chính phủ sáng suốt và can đảm, quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền, mới có thể là một vũ khí trên các bàn hội nghị.

Quay lưng lại với lòng dân, đàm phán chỉ đồng nghĩa với nhượng bộ. Hết nhượng bộ này đến nhượng bộ khác.

Không thể khác được.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »


Image

Phim tài liệu thật vô cùng quý giá.
Bộ mặt thật và ghê tởm cũa Cộng Sản .


Phim có phụ đề việt ngữ rất hay

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Không thể ‘chết dưới tay Trung Quốc!’

Tíến sĩ Vũ Thị Phương Anh

Một ngày trước ngày Father’s Day 19/6/2011, cũng là ngày cộng đồng mạng Việt Nam chọn làm ngày biểu tình chống Trung Quốc lần thứ 3 liên tiếp
trong mấy tuần qua, báo Tuổi Trẻ đăng bài cuối cùng của loạt phóng sự về tình trạng báo động chảy máu nguyên liệu thô từ Việt Nam sang Trung Quốc.


Image
Khai thác mủ cao su ở Việt Nam. Mỗi năm Việt Nam xuất cảng hàng trăm ngàn tấn mủ cao su với mức thuế bằng 0%, chủ yếu là xuất sang Trung Quốc.
(Hình: TTXVN)
Như những bài khác trong loạt bài này, phóng sự “Ồ ạt xuất thô ‘vàng trắng’”cung cấp những thông tin khiến người đọc không thể không bức xúc. Việt Nam hiện đang xuất khẩu mỗi năm hàng trăm ngàn tấn mủ cao su với mức thuế bằng … 0%, chủ yếu là xuất sang Trung Quốc. Khi cần sử dụng trong sản xuất, các doanh nghiệp trong nước nhập cao su từ Thái Lan với mức thuế là … 5%. Nhưng không thể trách các doanh nghiệp xuất khẩu mủ cao su sang Trung Quốc, vì nếu họ bán trong nước họ sẽ phải chịu thuế giá trị gia tăng 5%!

Những chính sách kinh tế kỳ lạ như trên đang góp phần đẩy nền kinh tế Việt Nam đến chỗ kiệt quệ và có nguy cơ lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc. Nhưng kinh tế chỉ là một trong rất nhiều rủi ro trong quan hệ giữa Việt Nam với anh bạn “16 chữ vàng” to xác mà xấu tính này.

Chưa cần kể ra những sự kiện đang làm nóng dư luận Việt Nam và quốc tế trong thời gian qua – tham vọng độc chiếm biển Đông của Trung Quốc, đẩy Việt Nam vào tình trạng lãnh hải thường xuyên bị đe dọa, ngư trường bị thu hẹp bởi người “đồng chí tốt” của mình. Chỉ xét ngay trong cuộc sống đời thường, cũng đủ thấy người Việt đang bị rất nhiều tai họa về sức khỏe và sự an toàn tính mạng ngày đêm rình rập quanh mình.

Phóng sự với tựa đề “Tràn lan đồ chơi Trung Quốc độc hại” trên báo Thanh Niên Online ngày 14/6/2011 cho biết bất chấp những cảnh báo về đồ chơi độc hại của nhiều tổ chức trong và ngoài nước, đồ chơi Trung Quốc không rõ nguồn gốc vẫn đang được bày bán khắp nơi tại Sài Gòn với giá rất rẻ, từ vài ngàn đến vài chục ngàn. Theo bài báo, trong số những đồ chơi này, có khá nhiều loại trông giống các loại đã được báo chí Trung Quốc cảnh báo là có vấn đề về an toàn sức khỏe cho người sử dụng.

Phần kết của phóng sự này đưa ra nhận định: “Với tình trạng không quản nổi đầu vào và cũng không thu hồi nổi khi phát hiện sản phẩm có nhiễm độc như nói trên, đặc biệt là đối với hàng Trung Quốc, nhiều chuyên gia cảnh báo, VN có nguy cơ biến thành “bãi rác độc” của thế giới” [xin đọc là: “của Trung Quốc”].

Từ đồ chơi cho trẻ em chứa chất Phthalates gây ảnh hưởng đến gan, thận; những ly cốc, chén bát thủy tinh chứa cadimi - yếu tố chính gây ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú; đến các loại thực phẩm thông dụng có chứa chất độc như sữa bột nhiễm chất melanine gây suy thận, ớt bột chứa chất Rhodamine B, một loại phẩm màu công nghiệp có khả năng gây ngộ độc và ung thư, rồi trái cây chứa chất bảo quản độc hại có khả năng gây đột biến gien vv; rồi cả vải vóc, quần áo và hầu như hết thảy những gì có xuất xứ từ Trung Quốc, dường như đều có nguy cơ gây hại cho sức khỏe cho người Việt Nam.

Dường như mọi việc đã được sắp sẵn cho Việt Nam vào vai diễn viên chính trong vở kịch bi thảm mang tên “Chết dưới tay Trung Quốc”. Hệt như lời cảnh báo cho toàn thế giới của hai tác giả Peter Narvarro và Greg Autry trong cuốn sách cùng tên vừa ra mắt công chúng tại Mỹ vào đầu tháng 6 này.

Cuốn sách dài hơn 300 trang đang làm xôn xao dư luận thế giới nói trên dù chưa được đề cập trên các phương tiện truyền thông chính thức tại Việt Nam, nhưng đã nhanh chóng lan truyền rộng rãi trong giới trí thức. Gõ cụm từ tiếng Việt “chết dưới tay Trung Quốc” vào google search, ta nhận được trên 60,000 đường dẫn đến các bài giới thiệu và thảo luận bằng tiếng Việt về cuốn sách này. Từ đâu chẳng rõ, bản mềm bằng tiếng Anh của cuốn sách đã được đưa lên mạng. Địa chỉ truy cập của cuốn sách này được các blogger Việt giới thiệu với nhau để có thể tải về đọc, chỉ vài ngày sau khi cuốn sách ra mắt độc giả.

Viết về cuốn sách này, tờ báo mạng Petrotimes của Việt Nam ngày Thứ Sáu 16/6/2011 đã đăng bài một bài giới thiệu khá đầy đủ của tác giả Lê Đức, với một cái tựa gây “shock”: “Mỹ sẽ ‘chết dưới tay Trung Quốc’?”. Mục đích của cái tựa trên có lẽ là nhằm thu hút sự chú ý của độc giả, nhưng cũng có thể là để lách hệ thống kiểm duyệt báo chí gắt gao – một lời giải thích xem chừng hợp lý hơn trong tình trạng kiểm soát thông tin chặt chẽ hiện nay tại Việt Nam.

Bất chấp cái tựa có vẻ ca ngợi sức mạnh của Trung Quốc và chế diễu Mỹ, văn phong trong bài viết của Lê Đức lộ rõ vẻ thiếu thiện cảm với Trung Quốc ngay từ những giòng đầu tiên: “Giữa lúc những hành động được xem là bất thường của Trung Quốc (TQ) ở biển Đông gần đây làm cho nhiều người cảm thấy hoài nghi về tuyên bố "hòa bình quật khởi" của Bắc Kinh …”. Thái độ chống Trung Quốc càng thể hiện rõ hơn trong bài qua các từ ngữ như “cạnh tranh bất chính”, “con buôn thủ lợi”, “ngược đãi công nhân, biến họ thành lao nô”.

Một vài bạn đọc cho biết, bài viết của Lê Đức có những ý tưởng, chi tiết và cả từ ngữ mang đậm ảnh hưởng của loạt phóng sự của phóng viên Hà Giang trên tờ Người Việt viết về buổi ra mắt cuốn sách này tại Mỹ.

Tờ Người Việt được xem là tờ báo tiếng Việt lớn nhất bên ngoài Việt Nam. Trang mạng của tờ báo này cũng thường được những độc giả trong nước tìm đọc, mặc dù để vào trang này phải vượt qua tường lửa. Loạt bài của Hà Giang rõ ràng đã làm cho dư luận Việt Nam chú ý, vì nó được khá nhiều blogger Việt chia sẻ lại, ví dụ như Ngoclinhvugia’s Blog đã đưa bài này lên vào ngày 11/6/2011 (giờ Việt Nam), chỉ 2 ngày sau khi bài viết của Hà Giang được công bố.

“Mỹ sẽ ‘chết dưới tay Trung Quốc’?”, tựa bài viết nói trên của Lê Đức cũng là tên của một đề tài thảo luận sôi nổi trên trang “Web trẻ thơ” (webtretho.com), một trang web vốn dành cho các bà mẹ thảo luận về việc nuôi dạy con cái. Tương tự như các cộng đồng mạng khác, không khí chống Trung Quốc tràn ngập diễn đàn với này những nhận xét khá nóng, và thỉnh thoảng lại còn có đưa ra những lời hô hào, kêu gọi tẩy chay hàng Trung Quốc. Thật trùng hợp, tẩy chay hàng Trung Quốc cũng là một biện pháp quan trọng để khỏi chết dưới tay Trung Quốc mà hai tác giả Narvarro và Autry đã đưa ra trong chương kết luận của cuốn sách.

Tẩy chay hàng Trung Quốc còn là lời kêu gọi gần đây của cộng đồng mạng Việt Nam như một cách biểu thị lòng yêu nước mà ai cũng có thể thực hiện, không sợ chính quyền làm khó dễ như đi biểu tình. Trang Đọt chuối non (dotchuoinon.com), một trang mạng với phương châm “tư duy tích cực” do các nhà văn, nhà báo, nhà giáo và sinh viên Việt Nam lập ra với mục đích xây dựng xã hội, ngày 16/6/2011 đã đưa lên bài hiệu triệu “Người Việt quyết tẩy chay hàng Trung Quốc” để đáp trả lại “những chiêu bài có chủ ý của chính quyền Trung Quốc [ nhằm] thâu tóm các vùng biển của Việt Nam và đất nước Việt Nam sau này.”. Bài hiệu triệu trên cũng nêu rõ “mọi người dân Việt đều bức xúc, căm phẫn và hiểu rõ hành vi thâm độc này”, và nhắc rằng “Dân tộc Việt Nam có tinh thần chống Tàu đã mấy ngàn năm trước.”

Trong đoạn kết (epilogue) của cuốn “Chết dưới tay Trung Quốc”, các tác giả của cuốn sách đã nhắc lại bài học lịch sử cay đắng của nước Mỹ trong mối quan hệ với các nước trong thế kỷ trước, khi ngây thơ tin tưởng vào khả năng trỗi dậy hòa bình của các chế độ toàn trị, lúc ấy là chế độ Đức quốc xã và Liên Xô cũ. Bài học lịch sử đó đang được lập lại trong mối quan hệ với Trung Quốc hiện nay. Thông điệp của tác giả: Không bao giờ được tin tưởng và làm bạn với những chế độ độc tài toàn trị. Cần luôn luôn cảnh giác nếu không muốn bị lừa để đến nỗi phải đứng trước nguy cơ chết dưới tay chúng.

Thông điệp về một Trung Quốc luôn cần phải cảnh giác có lẽ không dân tộc nào hiểu rõ hơn Việt Nam với bốn ngàn năm làm láng giềng của anh chàng bạn to xác xấu tính này. Có lẽ đó chính là lý do tại sao dù nhỏ hơn, nhưng Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục trước một nước láng giềng vĩ đại, hùng cường hơn mình rất nhiều và luôn có âm mưu ngàn đời xâm chiếm, khuất phục đất nước mình. Trước đây như thế nào thì bây giờ vẫn thế, và cả ngàn đời sau cũng vẫn mãi như thế.

Cho dù ở thời đại nào và chế độ nào, người Việt Nam vẫn sẽ không bao giờ để cho mình phải chết dưới tay Trung Quốc.

Ngày 18/6/2011
V.T.P.A
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Học giả quốc tế bác bỏ 'đường lưỡi bò' của Trung Quốc

Image
Đảo Đá Lớn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ảnh: TTXVN.



Nhiều học giả quốc tế phản bác các lập luận của Trung Quốc về "cơ sở lịch sử" của đường lưỡi bò, trong Hội thảo quốc tế về an ninh Biển Đông đang diễn ra tại Washington, Mỹ.

Sau khi ông Su Hao, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu quốc tế của Đại học Ngoại giao Bắc Kinh, có bài phát biểu về tuyên bố chủ quyền cũng như chính sách của Trung Quốc tại Biển Đông, ông Termsak Chalermpalanupap, Giám đốc phụ trách chính trị và an ninh của Ban Thư ký ASEAN, lên tiếng: "Tôi không cho rằng Công ước của Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền".

Theo Vietnamplus, giáo sư Peter Dutton thuộc Đại học Hải quân Mỹ, không đồng tình với cách giải thích của Trung Quốc về ý nghĩa của đường lưỡi bò liên quan tới lịch sử. Ông nói: "Về quyền tài phán đối với các vùng biển, lịch sử không liên quan gì cả, mà phải tuân theo UNCLOS."

Tiến sỹ Dutton cũng nói rằng việc dùng lịch sử để giải thích chủ quyền làm xói mòn các quy tắc của UNCLOS.

Nhà nghiên cứu nổi tiếng, giáo sư Carlyle Thayer từ Học viện Quốc phòng Australia nói rằng việc học giả Trung Quốc sử dụng "di sản lịch sử" để giải thích về tuyên bố chủ quyền một lần nữa bộc lộ việc thiếu cơ sở pháp lý theo luật quốc tế trong tuyên bố chủ quyền này.

Cũng liên quan đến khía cạnh luật quốc tế, bà Caitlyn Antrim, Giám đốc Ủy ban Pháp quyền Đại dương của Mỹ, khẳng định tuyên bố đường 9 đoạn (đường lưỡi bò) không có cơ sở theo luật quốc tế bởi cơ sở lịch sử là rất yếu và rất khó bảo vệ.

Bà Antrim nói: "Tôi không hiểu Trung Quốc tuyên bố cái gì trong đường lưỡi bò đó. Nếu họ tuyên bố chủ quyền với các đảo do đường ấy bao quanh, thì câu hỏi đặt ra là họ có chứng minh được chủ quyền với các đảo đó hay không. Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu. Đối với các đảo không có cư dân sinh sống thì họ chỉ có thể tuyên bố lãnh hải, chứ không thể tính vùng đặc quyền kinh tế từ các đảo đó."

Trong phiên thảo luận buổi chiều 20/6, các học giả Bonnie Glaser của Mỹ, Trần Trường Thủy của Việt Nam, Carl Thayer của Australia và Ian Storey của Singapore đã trình bày về các diễn biến gần đây trên Biển Đông, đưa ra cách giải thích cho các sự kiện này.

Trước câu hỏi của học giả Trung Quốc về việc tại sao các sự kiện giữa tàu Trung Quốc và tàu thăm dò của Việt Nam lại xảy ra vào thời điểm này, tiến sĩ Trần Trường Thủy nói: "Đây cũng là câu hỏi của chúng tôi. Tại sao tàu Trung Quốc lại cắt cáp tàu thăm dò của Việt Nam vào thời điểm ngay trước khi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng như Hội nghị Shangri-la".

Tại hội thảo, ngoài các học giả còn có bài phát biểu của Thượng nghị sĩ John McCain, cựu Giám đốc Tình báo Quốc gia John Negroponte và một số quan chức của Mỹ.

Về tình hình tại Biển Đông, Thượng nghị sĩ McCain nói: "Một trong nhưng nguyên nhân chính làm xấu thêm những căng thẳng tại Biển Đông và khiến cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp tại đây trở nên khó khăn hơn là thái độ hiếu chiến của Trung Quốc và tuyên bố chủ quyền mà Trung Quốc muốn thúc đẩy."

Hội thảo sẽ tiếp tục trong buổi sáng ngày 21/6 với các phiên thảo luận về tính hiệu quả của các khuôn khổ và cơ chế an ninh trên biển hiện nay cho Biển Đông và các đề xuất chính sách nhằm thúc đẩy an ninh trong khu vực.

Anh Minh
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Bạn hay Thù

Ngô Nhân Dụng

Ðối với mỗi cá nhân, các nền đạo lý đều khuyên chúng ta hãy coi mọi người khác như bạn. “Tứ hải chi nội giai huynh đệ” là lời Khổng Tử nói, hoặc Chúa Giêsu dạy ngay cả những kẻ đã “tát vào một bên má” của mình cũng không nỡ ghét bỏ.

Ðó là những châm ngôn rất đáng theo. Nhưng đối với các dân tộc thì sao? Một quốc gia có thể coi “mọi người như bạn” đối với một nước khác hay không?

Trong việc bang giao, có một quy tắc đã được nhắc tới nhiều lần: Một quốc gia không có kẻ thù và cũng không có bạn; giao thiệp với các nước khác chỉ cần biết đến quyền lợi của mình mà thôi. Các quyền lợi được chia sẻ theo những bản hiệp ước, sòng phẳng giống như các hợp đồng thương mại. Người kinh doanh thương thuyết với nhau về quyền lợi, không cần phải yêu nhau người ta mới ký các hợp đồng; những ai làm trái hợp đồng sẽ bị trừng phạt. Việc bang giao nên làm như theo lối đó.

Trong lịch sử nước ta, nước láng giềng lớn nhất là Trung Quốc. Nước Việt Nam thường coi Trung Hoa là bạn hay là kẻ thù? Hầu như Tổ tiên chúng ta không bao giờ chọn Trung Quốc làm bạn vàng; cũng không ai gọi họ là kẻ thù vĩnh viễn. Lúc nào người Việt Nam cũng sẵn sàng cư xử với họ, như bạn hoặc như thù, tùy theo hoàn cảnh. Bạn: Giống như các dân tộc Á Ðông khác, người Việt qua bao đời vẫn học hỏi phương pháp trị quốc, tổ chức giáo dục, và văn hóa Trung Hoa. Thù: người Việt không bao giờ quên đề phòng quân phương Bắc xâm lăng.

Mỗi lần đánh đuổi quân xâm lăng từ phương Bắc xong, các người lãnh đạo nước Việt Nam đều xin “giảng hòa,” vì biết chiến tranh sẽ chỉ làm chết dân. Không bao giờ người dân được nghe chính quyền gọi cả nước Trung Hoa là kẻ thù của nước mình. Lý Thường Kiệt khi mang quân sang đánh chiếm các vùng trên biên giới cũng không tuyên bố đi đánh một quốc gia láng giềng để “cho nó một bài học,” mà lại nêu chính nghĩa là đem quân giúp người dân phương Bắc hạch tội một chính quyền đang làm hại cho dân chúng của họ. Bản Bình Ngô Ðại Cáo nêu danh quân địch là “Cuồng Minh tứ ngược,” dùng tên hiệu nhà Minh, một chính quyền đang cai trị, chứ không gọi chung họ là “quân Hán.” Vua Trần Nhân Tông sau khi thắng trận đã khiêm tốn tự xưng là “vi thần” khi “dâng sớ” gửi tới vua nhà Nguyên. Lê Thái Tổ không những đã “xin hòa” theo lối xưa mà còn xin bồi thường thiệt hại nữa. Quang Trung thắng trận rồi, chịu thần phục và đưa một người giả làm mình đi sang chào kính. Vua nhà Trần đã cấp thuyền bè, lương thực cho tàn quân nhà Nguyên về nước. Lê Thái Tổ cũng vậy đối với quân Minh. Chỉ có một thời chính quyền Việt Nam nhất thiết coi Trung Quốc là “nước bạn” để dựa dẫm, là vào nửa cuối thế kỷ 19, khi nhà Nguyễn cố bám lấy “thiên triều” cầu mong họ giúp chống lại quân Pháp, rồi không thành. Và một lần nữa, từ giữa thế kỷ 20, khi chính quyền miền Bắc Việt Nam muốn nhân dân phải coi Trung Quốc là nước bạn quý, là đàn anh vĩ đại của nước mình; rồi sau đó có lúc lại coi họ là kẻ thù tuyệt đối, để mươi năm sau thì đổi ngược lại. Những sai lầm vì dốt nát hay vì nông nổi của một nhóm người lãnh đạo đều dẫn đến những hậu quả tai hại, các thế hệ sau còn phải chịu đựng.

Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, trong lúc người dân miền Bắc đang phải hát bài ca ngợi Tình Bạn: “Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông.” Trung Quốc lại đánh chiếm thêm một số đảo ở Hoàng Sa năm 1988 trong lúc dân Việt được nghe chính quyền gọi họ là Kẻ Thù truyền kiếp! Các chính sách coi Trung Quốc là bạn hay là thù, đều đưa người Việt Nam đến chỗ bị thiệt thòi. Những cuộc thảo luận và điều đình về biên giới và hải phận đầu thập niên 1990 càng khiến cho người dân Việt thêm căm giận khi thấy nước mình bị lấn áp để mất mát nhiều quá. Những xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc đang biểu hiện rõ ràng sau những vụ tầu Trung Quốc cắt dây cáp của tầu thăm dò đáy biển của Việt Nam trong tháng 5 và tháng 6 năm 2011 khiến chúng ta nên suy ngẫm thêm một lần nữa để áp dụng một quy tắc trong mối bang giao với Trung Quốc: Không nên coi một quốc gia nào là kẻ thù hay là bạn! Thước đo duy nhất trong việc ngoại giao là quyền lợi quốc gia. Tại sao cứ phải nhắc lại quy tắc trên? Vì nó có hiệu quả, nghĩa là nó mang lại lợi ích thiết thực nhất khi biết áp dụng. Các quốc gia tồn tại được lâu đời lúc nào cũng cư xử theo quy tắc này.

Dân Mỹ đã đánh đuổi quân Anh để giành độc lập vào cuối thế kỷ 18; đến thời Nội Chiến Mỹ chính quyền Anh vẫn còn muốn can thiệp. Nhưng trong thế kỷ 20, ít có nước đồng minh nào gắn bó với nhau như Anh và Mỹ. Tuy vậy, các chính phủ này họ không hành động theo “tình bạn” mà chỉ theo quyền lợi quốc gia. Năm 1956, liên quân Anh Pháp tấn công Ai Cập, đến khi bị Mỹ đề nghị triệu tập đại hội đồng Liên Hiệp Quốc làm nghị quyết phản đối, và dùng cả IMF làm áp lực, Anh Pháp phải rút lui nhục nhã. Ngay trong Ðại Chiến Thứ Hai, hai nước chắc chắn là bạn nhưng quyền lợi vẫn khác nhau. Tháng 8 năm 1941, sau hai năm tìm cách thúc đẩy chính quyền Mỹ tuyên chiến với Ðức, Ý và Nhật mà không được, Thủ Tướng Anh Winston Churchill bí mật gặp Tổng Thống Mỹ Franklin Roosevelt ở ngoài khơi Canada trong Ðại Tây Dương. Hai người bắt đầu trở thành đôi bạn tâm đắc, họ đồng ý với nhau là phải ngăn cản những bước tiến của quân Ðức ở Nga và quân Nhật ở Á Châu. Nhưng khi trở về nói chuyện với dân Mỹ, các nhà báo hỏi, “Nước Mỹ có sắp tham chiến hay không?” Roosevelt trả lời: “Tôi nghĩ là không.” Churchill thấy bị ông bạn quý bỏ rơi!

Ðầu tháng 12 năm đó, Churchill gặp Ðại Sứ Mỹ John G. Winant ở London, hỏi: Ông có nghĩ là Nhật sẽ gây chiến hay không? Thưa thủ tướng, có! Churchill quả quyết: Nếu Nhật Bản tuyên chuyến với nước Mỹ, chúng tôi sẽ tuyên chiến với họ ngay lập tức, ông biết không? Dạ tôi biết, thủ tướng đã nói điều đó nhiều lần. Churchill: Nếu Nhật Bản tuyên chiến với nước Anh, thì chính phủ Mỹ có tuyên chiến với họ hay không? (Lúc đó Churchill đang lo Nhật, sau khi vào Việt Nam, sắp tấn công các thuộc địa Anh ở Hồng Kông, Singapore, Miến Ðiện, Mã Lai). Ðại sứ Mỹ đáp: Thưa thủ tướng tôi không thể trả lời được. Vì theo Hiến Pháp chỉ Quốc Hội Mỹ mới có quyền tuyên chiến!

Nỗi thắc mắc của Churchill sau được giải quyết, nhờ Nhật Bản. Ngày 7 tháng 12 năm 41, Nhật tấn công Pearl Habor, Quốc Hội Mỹ biểu quyết tham dự vào cuộc Ðại Chiến Thứ Hai - vì quyền lợi của nước họ, tuy nhiên vẫn có một phiếu chống!

Nhưng trong thời gian sau đó, chính phủ Mỹ luôn luôn tỏ ý muốn ngăn cản không cho nước Anh trở về thống trị các thuộc địa cũ. Họ tìm cách hạ thấp vai trò của Anh tại Thái Bình Dương. Bộ chỉ huy quân Mỹ ở không cho Hải quân Hoàng gia Anh tham dự các trận đánh Phi Luật Tân hay Okinawa, mặc dù Tướng Mountbatten ngỏ ý muốn giúp. Khi quân Nhật đảo chính Pháp ở Ðông Dương, Anh Quốc yêu cầu quân Mỹ giúp vũ khí cho mấy ngàn quân Pháp đang chạy qua trú ở Trung Quốc để họ quay về đánh Nhật. Bởi vì nếu để một xứ Việt Nam trở về tay chính quyền do người Việt Nam cầm đầu (chính phủ Trần Trọng Kim), thì sẽ có hại cho nền cai trị của Anh ở Miến Ðiện, Mã Lai sau này. Nhưng quân đội Mỹ, đang có mặt bên cạnh Tưởng Giới Thạch, đã từ chối không giúp tàn quân Pháp; ngược lại họ còn giúp các người Việt chống Pháp. Cố vấn chính trị của Tướng Mountbatten than rằng chính quyền Mỹ coi nước Anh như “tiểu bang thứ 49” của họ! Tại Paris, Tướng De Gaule than phiền với Ðại Sứ Mỹ Jefferson Caffery, “Tôi không hiểu các ông muốn cái gì! Các ông có muốn nước Pháp sẽ thành một nước trong Liên Bang Xô Viết hay không?” Ngày 19 tháng 3, hơn hai tuần sau cuộc đảo chính Nhật, Churchill đánh điện kêu gọi chính phủ Mỹ hãy giúp vũ khí cho tàn quân Pháp. Ngoại trưởng Mỹ chuyển qua cho Tướng Wedemeyer ở Trùng Khánh, nhưng quân Mỹ bất động, chỉ lo gửi hai máy bay qua Việt Nam cứu các điệp viên OSS của họ. Sau khi Nhật đầu hàng, quân Anh được phép vào miền Nam Việt Nam, nhưng khi họ để cho quân Pháp trở lại Sài Gòn thì đại diện quân đội Mỹ rút ra khỏi Ủy Ban Kiểm Soát, không tham dự vào đạo quân đồng minh ở đó nữa.

Hai nước Anh và Mỹ từ đầu đến cuối Ðại Chiến Thứ Hai vẫn là đồng minh, nhưng mỗi nước vẫn chỉ lo cho quyền lợi của chính mình. Mà không phải chỉ có hai nước đó. Nga và Ðức đã ký hiệp ước không đánh nhau trước khi Ðức tấn công Pháp (Bạn). Nhưng sau đó, Ðức đã đánh sang Nga (Thù). Nhật Bản và Nga đã kết bạn, ký thỏa ước bất tương xâm năm 1941, nhưng sau khi bom nguyên tử Mỹ đã thả xuống nước Nhật, Nga tuyên chiến và tiến quân vào Mãn Châu. Nếu không có Mỹ ngăn cản thì Nga đã tiến chiếm lấy đảo Hokkaido ở phía Bắc nước Nhật.

Trong việc ngoại giao, các quốc gia không thể coi một nước khác hoàn toàn là bạn, hay là kẻ thù. Chính quyền mỗi nước phải theo quy tắc đó, không nên bắt dân chúng tụng đọc mỗi ngày những bài tuyên truyền ca ngợi các nước bạn vĩ đại, hoặc phỉ nhổ nước khác là kẻ thù man rợ! Khi cả nước tỉnh táo, người ta không cần yêu quá mà cũng không ghét quá, thì lòng người không thù hận mà cũng sợ hãi.

Trong các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc tháng 6 năm 2011 có một điều đáng mừng là người Việt Nam đi biểu tình ở khắp nơi chỉ hô hào chống lại những hành động sai trái cụ thể của chính phủ Bắc Kinh mà không bày tỏ lòng thù hận với người dân Trung Hoa ở lục địa. Thế giới sẽ nhìn vào thái độ đó mà kính trọng người Việt Nam, nước Việt Nam. Nhờ thế, chúng ta mới có thể kêu gọi các nước khác giúp nước ta tránh khỏi bị nước láng giềng tiếp tục lấn áp.

Các cuộc chiến thường xẩy ra giữa các nước khi chính quyền của một nước muốn gây chiến mà người dân không được quyền quyết định cũng như không biết những tai hại của chiến tranh. Các chính quyền độc tài thường sử dụng một khí cụ để gây chiến, là kích thích lòng ái quốc, thúc đẩy thù hận bằng lối tuyên truyền một chiều. Cuối cùng thì sau mỗi cuộc chiến tranh, người dân luôn luôn bị thiệt hại. Nếu được tự do chọn lựa, dân chúng các nước đều không muốn chiến tranh. Chỉ có thể giảm bớt chiến tranh khi người dân các quốc gia đều được thông tin đầy đủ. Khi nào hai quốc gia đều theo chế độ tự do dân chủ thì chính quyền khó nói dối người dân để đưa họ vào vòng chinh chiến.

Chỉ khi nào hai nước Việt Nam và Trung Hoa đều sống trong thể chế tự do dân chủ thì chúng ta mới hy vọng giảm bớt được những xung đột trên mặt biển hiện nay. Trong khi chờ đợi, người Việt Nam cứ phải luôn luôn bày tỏ thái độ kịch liệt phản đối những hành động lấn áp, có lúc tàn bạo, của chính quyền Trung Quốc, để chứng tỏ dân Việt Nam không chịu khuất phục.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

'Trung Quốc rất ngạc nhiên trước phản ứng của Việt Nam'

Phỏng vấn Giáo sư Su Hao của Trung Quốc tại CSIS

Hà Giang/Người Việt

Trước bối cảnh những tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông ngày càng trở nên căng thẳng, buổi hội thảo có tên “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông” do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức tại Hoa Thịnh Ðốn vào hai ngày 20 và 21 tháng 6 đã thu hút khoảng 200 người tham dự, trong đó gần một nửa là các nhà nghiên cứu tầm cỡ quốc tế và nhiều viên chức cao cấp của các quốc gia liên quan trực tiếp và không trực tiếp như Việt Nam, Trung Quốc, Phi Luật Tân, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Indonesia v.v...
Image
Giáo Sư Su Hao, Ðại Học Ngoại Giao Bắc Kinh, tại buổi hội thảo do CSIS tổ chức. (Hình: Hà Giang/Người Việt)


Trong gần hai ngày làm việc liên tục với một thời khóa biểu dầy đặc, những bài thuyết trình của các diễn giả được xen kẽ với phần thảo luận sôi nổi, căng thẳng, qua đó cả cử tọa lẫn diễn giả đã nêu câu hỏi với nhau và đặt vấn đề về quyền lợi, vị trí của các nước, những sự kiện dẫn tới tình hình căng thẳng hiện nay, và cùng xem xét những đề nghị để có thể hóa giải quyết những tranh chấp ngày càng leo thang này.

Phần trình bày của Giáo Sư Su Hao, phó giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế, trường Ðại Học Ngoại Giao, Bắc Kinh, mở đầu cho tiêu đề “Quyền lợi và lập trường của các bên tại biển Ðông,” đã tạo nhiều tranh cãi sôi nổi nhất. Có tất cả là 3 diễn giả cho tiêu đề này, nhưng hầu hết những câu hỏi được đặt ra trong phần thảo luận theo sau đều nhắm vào Giáo Sư Su Hao, đến nỗi người dẫn chương trình là ông Ernest Bower đã phải kêu lên là “buổi hội thảo sáng nay vô tình đã biến thành the Su Hao's conference.”

Bài thuyết trình của các diễn giả đến từ Việt Nam là Tiến Sĩ Trần Trường Thủy, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Biển Ðông, thuộc Học Viện Quan Hệ Quốc Tế, và Tiến Sĩ Ðặng Ðình Quý, giám đốc Học Viện Ngoại Giao, Luật Sư Nguyễn Duy Chiến - Trung Tâm Nghiên Cứu Biển Ðông thuộc Học Viện Ngoại Giao Việt Nam cũng tạo được nhiều chú ý.

Phần phỏng vấn của phóng viên Hà Giang của nhật báo Người Việt với Giáo Sư Su Hao, Tiến Sĩ Trần Trường Thủy, Luật Sư Nguyễn Duy Chiến, và nhiều diễn giả khác trước và sau cuộc hội thảo sẽ lần lượt được tường thuật trên Người Việt, trong nhiều số báo liên tiếp.

Dưới đây là phần phỏng vấn Giáo sư Su Hao, phó giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế, trường Ðại Học Ngoại Giao, Bắc Kinh, ngay sau phần thảo luận về tiêu đề “Quyền lợi và lập trường của các bên tại biển Ðông.”

-Hà Giang (NV): Thưa giáo sư, trước buổi hội thảo này khoảng hơn một tuần, Bắc Kinh lên tiếng yêu cầu những nước không liên quan (ám chỉ Hoa Kỳ) đừng can dự vào tranh chấp Biển Ðông. Nhưng trong phần thuyết trình của giáo sư vừa rồi, ông kêu gọi sự giúp đỡ của Hoa Kỳ trong việc làm ổn định tình hình, nhưng ở đoạn kết luận của bài ông lại nói một trong ba điều có thể làm trở ngại việc ổn định tình hình Ðông Nam Á là “sự xen vào của Mỹ”. Có mâu thuẫn nào không, thưa ông?

-GS Su Hao: Vâng, Hoa Kỳ là một nước không liên quan đến tranh chấp trong vùng Biển Ðông, nhưng vì là một cường quốc, Hoa Kỳ có những quyền lợi chung với những nước thành viên của ASEAN. Trung Quốc mong có sự tiếp tay của Hoa Kỳ như một đối tác trong việc ổn định an ninh cũng như hợp tác với nhau trong vùng, vì các nước nhỏ thường cảm thấy không an tâm với sự lớn mạnh của Trung Quốc. Chúng tôi hoan nghênh việc Hoa Kỳ giúp cho tình hình ổn định hơn. Vấn đề là đôi khi sự có mặt của Hoa Kỳ làm một số quốc gia trở nên hung hãn hơn.

-NV: Giáo sư nhắc đến từ “hung hãn,” thì qua buổi thảo luận vừa rồi, giáo sư cũng thấy là hai chữ hung hãn được nhiều học giả và giới phân tích dành cho Trung Quốc, nhất là qua sự kiện Trung Quốc vừa hai lần cắt dây cáp của các tàu Việt Nam ngay bên trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Ông nghĩ sao khi các nước cho rằng chính Trung Quốc mới hành xử một cách hung hăng?

-GS Su Hao: Chúng tôi cắt dây cáp, nhưng dây cáp này nằm ở đâu? Lãnh hải của Trung Quốc và Việt Nam chồng chéo lên nhau. Và trong quá khứ, chúng tôi đã từng làm như thế khi tàu Việt Nam đi đến vùng đánh cá của chúng tôi, đi vào vùng biển của chúng tôi, nhưng lần này Việt Nam phản ứng rất dữ dội hơn hẳn với truyền thống hành xử của họ. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên trước phản ứng này.

-NV: Xin hỏi lại, theo ông thì Trung Quốc rất ngạc nhiên trước phản ứng mạnh mẽ vừa rồi của Việt Nam khi hai lần bị cắt dây cáp, có phải không ạ?

-GS Su Hao: Ðúng như vậy!

Khi buổi họp tiếp diễn ngày thứ hai, nhiều học giả và đại diện các bên tiếp tục cho rằng Trung Quốc phải chịu trách nhiệm vì sự hung hãn, hiếu chiến của mình.

Thậm chí Tiến Sĩ Stein Tonneson, học giả thuộc Học Viện Hòa Bình Hoa Kỳ (United States Institute or Peace) nhắn nhủ thẳng với Giáo sư Su Hao là khi về nước nên khuyên chính quyền Trung Quốc xét kỹ lại chính sách sai lầm của mình, và tôn trọng UNCLOS cũng như những nước láng giềng. Nhật báo Người Việt thực hiện cuộc phỏng vấn thứ hai với Giáo Sư Su Hao sau khi buổi hội thảo kết thúc để tìm hiểu về quan niệm của ông đối với các vấn đề Biển Ðông.

-NV: Thưa giáo sư, ông nghĩ gì về buổi hội thảo, nhất là sự kiện Trung Quốc bị đa số cho là nguyên nhân chính đưa tranh chấp của Biển Ðông đến tình trạng nóng bỏng hiện nay, vì thái độ hung hăng, hiếu chiến với các nước láng giềng trong thời gian qua?

-GS Su Hao: Tôi không nghĩ là Trung Quốc hung hãn tí nào cả. Không hiểu tại sao những người đứng ngoài cuộc tranh chấp lại cứ thấy bất cứ hành động nào của Trung Quốc cũng là hung hãn, mà không thấy là những người láng giềng kia giờ này mới chính là nguyên nhân làm leo thang sự căng thẳng. Hy vọng một ngày người ta sẽ hiểu rõ sự thật. Tôi nói điều này với tất cả sự thông cảm rằng chủ quyền quốc gia là một vấn đề nhậy cảm, cả ở Việt Nam lẫn ở Trung Quốc.

-NV: Những người cho là Trung Quốc hung hãn có thể đơn cử việc Trung Quốc cắt dây cáp, việc Trung Quốc đánh phá tàu ngư dân Việt Nam, bắt giữ họ, việc Trung Quốc ra lệnh cấm đánh cá đơn phương trong vùng biển chung. Vậy giáo sư có thể đưa ra một vài thí dụ cụ thể về những hành động làm căng thẳng tình hình của các nước láng giềng không?

-GS Su Hao: Như tôi đã nói hôm qua, các nước láng giềng đã có những phản ứng mạnh hơn cả những phản ứng truyền thống trước kia của họ.

-NV: Trở lại với cuộc hội thảo, ông có nhận xét gì, và đã rút tỉa ra được những điều gì đặc biệt trong hai ngày qua thưa ông?

-GS Su Hao: Tôi nghĩ rằng buổi hội thảo khiến mọi bên có dịp nói ra quan điểm và lập trường của mình, khiến mọi bên hiểu nhau nhiều hơn. Tôi thấy giữa chúng tôi còn nhiều khác biệt, và cả những lời chỉ trích cũng tốt nữa, và từ đó mới tìm ra được điểm chung, là mọi người đều muốn tình hình trong vùng ổn định. Lần sau khi chúng tôi ngồi xuống thảo luận, chẳng hạn giữa Trung Quốc và Việt Nam, tôi hy vọng chúng tôi có thể bình thản hơn, dùng lý trí hơn để bàn bạc.

-NV: Khi trở về Bắc Kinh, ông dự định sẽ đề nghị gì với các học giả khác, và với chính quyền Trung Quốc.

-GS Su Hao: Thật ra tôi chưa sẵn sàng và chưa quyết định được là mình sẽ đề nghị gì cả, vì cần thời giờ để suy nghĩ thêm.

-NV: Theo giáo sư thì tranh chấp Biển Ðông có triển vọng được giải quyết ổn thỏa không? Cụ thể hơn, ông có nghĩ là sau này Bắc Kinh sẽ hành xử sao cho bớt bị đánh giá là hung hăng đi không?

-GS Su Hao: Vấn đề chủ quyền quốc gia rất nhậy cảm, rất phức tạp, đụng đến nó thì không ai bình tĩnh được. Tuy thế tôi nghĩ là nếu mọi bên ngồi xuống một cách bình thản thì có thể tìm cách giải quyết vấn đề được. Tôi không cho là Bắc Kinh hung hãn, mà phải nói là chính quyền Trung Quốc rất vừa phải, rất biết kiềm chế. Hy vọng là các nước láng giềng cũng sẽ biết kiềm chế.

Tôi có một nhận xét nữa là tuy Hoa Kỳ không là một quốc gia liên quan trong tranh chấp Biển Ðông, nhưng cuộc hội thảo này lại được tổ chức trên đất Hoa Kỳ. Tôi đoán có lẽ vì Hoa Kỳ là một cường quốc, cho nên quyền lợi của họ nằm ở khắp nơi. Hai nữa, tôi không hiểu tại sao tôi là diễn giả duy nhất từ Bắc Kinh được mời đến, trong khi đó Việt Nam được mời đến những ba diễn giả và nhiều viên chức của họ cũng đến tham dự. Ðiều này khá lý thú.

-NV: Cám ơn ông đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Kinh tế Mỹ còn chưa lên

Ngô Nhân Dụng


Ngày hôm qua giá dầu thô trên thế giới đã giảm, nhưng đó không phải là một tin mừng. Giá dầu hạ thấp một phần vì có 60 triệu thùng dầu được lấy từ các kho dự trữ quốc tế được đưa ra thị trường.

Nhưng 60 triệu thùng dầu không đủ làm cho giá tụt xuống mất 4.4%. Nguyên nhân chính yếu và ảnh hưởng lâu dài là những nhà buôn dầu tiên đoán kinh tế thế giới sẽ giảm tốc độ tăng trưởng, do đó sẽ bớt sử dụng dầu; đặc biệt là hai nền kinh tế dùng nhiều năng lượng nhất là Mỹ và Trung Quốc.

Một ngày trước, Thứ Tư, 22 tháng 6, chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ (tức Ngân Hàng Trung Ương Mỹ) báo tin chấm dứt chương trình Q2 kích thích kinh tế bằng tiền tệ; mặc dù ông cũng tiên đoán nỗi khó khăn kinh tế sẽ còn tiếp tục ít nhất qua năm 2012. Trong ba tháng qua, rất nhiều tin đáng lo, cả số tiêu thụ và các nhà sản xuất công nghiệp đều không gia tăng hoạt động như mọi người trông đợi. Hai triệu chứng xấu nhất là số nhà cửa mới xây bán được vẫn tiếp tục xuống và tỷ lệ người thất nghiệp vẫn nhấp nhỉnh ở mức 9%. Tại Trung Quốc, chính quyền cố kìm hãm khối lượng tiền tệ để giảm nhiệt độ lạm phát đã lên trên 5%; các ngân hàng bớt đổ tiền ra cho các xí nghiệp vay trong lúc việc xuất cảng cũng trì trệ; cả hai hiện tượng đó khiến cho trong tháng 6 số sản xuất công nghiệp không gia tăng được, một dấu hiệu rất đáng lo cho một nước còn đang phát triển với tình trạng lúc nào cũng có vài trăm triệu công nhân đi tìm việc.

Những tin tức kinh tế từ khu vực Âu Châu cũng không lạc quan, các nhà lãnh đạo đang báo trước sẽ giảm bớt chi tiêu và tăng lãi suất, đặc biệt là Hy Lạp phải tăng thuế để được cho vay thêm nợ. Trận động đất và sóng thần ở Nhật khiến cho sức sản xuất tê liệt cũng là một sức kéo kinh tế thế giới cùng xuống; tất cả cho thấy rất đáng lo ngại. Riêng tại Mỹ, đã có báo động về một hiện tượng kinh tế “Xuống Hai Lần,” theo hình chữ W có thể xẩy ra như những năm 1936, 37.

Kinh tế Mỹ thực sự suy thoái từ cuối năm 2007 khi tổng số sản xuất giảm chứ không tăng; nhưng đến tháng 6 năm 2009 đã chính thức chấm dứt; nghĩa là bắt đầu tăng lên. Nhưng đó chỉ các số thống kê; khi tổng số sản xuất trong nước tăng lên được 1% hay 2% thì coi như cơn suy thoái đã hết rồi. Nhưng trên thực tế, người dân không đọc các con số đó mà chỉ quan tâm đến công việc làm. Cho nên khi thấy trong tháng 5 cả nước Mỹ chỉ tăng thêm được 54,000 công việc làm mới (đáng lẽ phải tăng thêm 200 ngàn), con số này thấp hơn cả 2 tháng trước; đồng thời số người nộp đơn xin trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp lần đầu đã tăng lên; thì ai cũng lo lắng. Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã hạ thấp dự đoán tỷ lệ tăng trưởng cho cả năm 2011, kinh tế Mỹ sẽ chỉ tăng với nhịp độ từ 2.7 đến 2.9% chứ không phải trên 3% như tiên đoán lạc quan trước đây; và tỷ lệ thất nghiệp vào cuối năm nay sẽ vẫn giữ mức 8.9%.

Trong một chu kỳ kinh tế bình thường, một năm sau khi chấm dứt suy thoái thì kinh tế Mỹ đã phải tăng lên với tốc độ 3% trở lên để lấy lại cái đà đã mất. Theo kinh nghiệm, lúc suy thoái xuống càng sâu thì khi lên đà gia tăng càng mạnh. Nhưng điều này đã không xẩy ra trong chu kỳ này. Mặc dù kinh tế Mỹ đã xuống rất nặng nề trong năm 2008, nhưng cho đến nay vẫn chưa có đà lên đủ mạnh. Lý do chính là cuộc suy thoái vừa qua do một cuộc khủng hoảng tín dụng gây nên; không như những cuộc suy thoái phần lớn do chênh lệch cung cầu gây nên.

Phần lớn các vụ suy thoái kinh tế khởi sự khi số cung tăng lên quá so với số cầu, vì các nhà sản xuất hoạt động mạnh hơn trong khi giới tiêu thụ không tăng nhu cầu cùng một tốc độ. Cơn suy thoái bắt đầu khi một số nhà sản xuất phải ngưng hoạt động, gây ra cảnh thất nghiệp khiến giới tiêu thụ càng giảm số cầu xuống nữa. Suy thoái là một hiện tượng tự nhiên để bắt buộc nền kinh tế phải tự điều chỉnh.

Nhưng khi một cơn suy thoái lại do thị trường tín dụng gây ra thì tốc độ điều chỉnh rất chậm chạp. Hệ thống ngân hàng gây nên cơn khủng hoảng vì cho vay bừa bãi không đúng tiêu chuẩn đưa tới cảnh nhiều người vỡ nợ vì sau đó không đủ sức trả tiền lãi và vốn. Các ngân hàng đã tung tiền vào thị trường, và trong một thời gian gánh chịu hậu quả. Hiện tượng này đã diễn ra trong năm 2007, 2008 ở nước Mỹ; chính phủ Gorges W. Bush đã phải dùng 700 tỷ tạm cứu các ngân hàng lớn trên đà phá sản. Nhưng sau đó, hoạt động của cả hệ thống các ngân hàng rơi vào cảnh trì trệ. Những luật lệ mới đặt ra với mục đích buộc các ngân hàng phải làm ăn cẩn trọng hơn để tránh những cuộc khủng hoảng tương lai; nhưng vì thế mà chính các ngân hàng càng trở nên càng dè dặt hơn, không dám cho vay như trước nữa. Cùng trong thời gian này, hệ thống ngân hàng ở nước láng giềng Canada vẫn không bị khủng hoảng, chỉ vì họ theo những quy tắc bảo thủ và dè dặt khi cho vay nợ; nhờ thế cơn suy thoái ở Mỹ lần này không ảnh hưởng tới Canada như thường xẩy ra trong quá khứ.

Khi số tiền đổ vào nền kinh tế Mỹ bị ngưng trệ, không lưu hoạt và năng động nữa, thì cả nền sản xuất và hoạt động tiêu thụ cũng trì trệ. Trong những chu kỳ kinh tế bình thường, guồng máy sản xuất tự điều chỉnh nhanh hơn. Còn tốc độ tự điều chỉnh của hệ thống ngân hàng chậm hơn. Chúng ta có thể hiểu là việc thanh toán những kho hàng hóa ế không bán được tương đối dễ dàng hơn việc thanh toán những món nợ không đòi được! Năm 2000, tổng số nợ của dân chúng Mỹ lớn bằng 100% tổng số lợi tức kiếm được của họ trong năm đó; đến năm 2005, tỷ số Nợ trên Lợi tức tăng lên thành 120% và qua năm 2007 vượt lên gần 140%! Cho tới nay, tổng số nợ của dân Mỹ đã giảm xuống nhưng mới xuống tới tỷ số 120% như năm 2005!

Khi tổng số nợ của dân chúng giảm bớt, chính quyền liên bang và Ngân Hàng Trung Ương đã phải đứng ra đóng vai con nợ để thay thế, miễn sao cho đồng tiền tiếp tục lưu thông. Chính phủ Obama đã đưa vào nền kinh tế Mỹ khoảng 1,200 tỷ đô la với các chương trình kích thích kinh tế; Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã in thêm tiền để bơm vào hệ thống tài chánh tổng cộng 2,300 tỷ đô la, hiện đang chấm dứt chương trình gọi là Q2, mua 600 tỷ công trái từ các ngân hàng trong nửa đầu năm 2011.

Nhưng các nỗ lực “kích thích” của chính quyền Obama và Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (độc lập với chính phủ) hiện vẫn chưa thúc đẩy được cho nền kinh tế chạy với một tốc độ nhanh hơn để thoát khỏi cảnh trì trệ. Nhiều người cho rằng đáng lẽ chính phủ Obama phải gia tăng chi tiêu để kích thích kinh tế ngay từ năm ngoái, thay vì giới hạn ở con số 700 tỷ. Tổng số người đang làm việc ở Mỹ đã giảm xuống rất nhanh trong những năm từ 2007 đến 2009; và cho tới nay vẫn chưa tăng lên được trên mức thấp nhất đó. Muốn giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp thì phải thêm một chương trình kích thích kinh tế nữa! Nhiều người cũng chỉ trích ông Ben Bernanke, chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, không mạnh dạn tiếp tục với một chương trình Q3 để thúc đẩy tiền tệ lưu hoạt hơn.

Tuy nhiên, trong đời sống kinh tế người ta luôn luôn phải lựa chọn, và phải lựa chọn trong khi không biết chắc chắn hậu quả của các chính sách mà mình theo đuổi.

Trong lúc chính quyền Mỹ có thể gia tăng số chi để kích thích kinh tế thì thế nào cũng phải đồng thời tăng số khiếm hụt ngân sách, tăng số nợ của quốc gia, cả hai sẽ khiến cho mức độ tín nhiệm của thế giới vào nền kinh tế Mỹ giảm bớt. Khi Ngân Hàng Trung Ương Mỹ in thêm tiền đẩy qua cho ngân hàng thì họ cũng biết một hậu quả có thể làm cho giá cả gia tăng, lạm phát sẽ khó tránh được. Khi lạm phát tăng, thí dụ từ 2% lên 4%, tức là toàn thể dân chúng bị “tăng thuế” thêm 2% một cách gián tiếp! Những người quyết định về kinh tế luôn luôn phải lựa chọn, giữa các giải pháp với các hậu quả đối nghịch với nhau. Hiện nay ông Bernanke không đồng ý với một chương trình Q3 nhưng cũng chưa hoàn toàn gạt bỏ đề nghị này.

Ðiều đáng lo là chương trình 700 tỷ kích thích kinh tế của Tổng Thống Barack Obama sẽ chấm dứt vào cuối năm nay và cả hành pháp và các nhà lập pháp Mỹ hiện vẫn chưa thỏa hiệp được về những việc cần làm tiếp. Ðảng Cộng Hòa kêu gọi phải chú ý giảm bớt khiếm hụt ngân sách; đảng Dân Chủ quan tâm đến nạn thất nghiệp hơn. Phó Tổng Thống Joe Biden đang họp bàn với sáu nghị sĩ thuộc cả hai đảng để quyết định việc nâng cao mức trần của tổng số nợ quốc gia lên trên con số 14,300 tỷ đô la. Cuộc mặc cả này là một cơ hội để hai đảng thỏa hiệp. Các đại biểu Quốc Hội cũng như ông tổng thống đều biết rằng sang năm 2012 cử tri sẽ đánh giá họ qua tình hình kinh tế, một thước đo khách quan và giản dị nhất, khi quyết định có bỏ phiếu cho họ nữa hay không.

Trong khi chờ đợi, người ta có thể thấy vài niềm hy vọng. Kinh tế thế giới sẽ không xuống nữa mà có thể vươn lên, khi giá dầu lửa giảm xuống; đồng thời nền kinh tế Nhật Bản sẽ hồi phục lại sau những ảnh hưởng nhất thời của cuộc động đất và sóng thần. Khi giá xăng dầu xuống thì người dân Mỹ thấy có thêm tiền tiêu thụ vào những sản phẩm và dịch vụ khác, thay vì đem tiền nộp cho các quốc gia sản xuất dầu lửa! Khi người tiêu thụ chịu chi tiền ra, tự nhiên các nhà sản xuất sẽ chạy theo, họ sẽ tuyển dụng công nhân, và tỷ lệ thất nghiệp sẽ thấp xuống. Bao giờ sẽ thấy cảnh đó? Theo ông Ben Bernanke nhìn, thì ít nhất chúng ta phải đợi tới nửa cuối năm 2012!
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Khi học giả quốc tế ‘chỉnh huấn’ Trung Quốc về biển Ðông

Hoàng Phương
(Nguồn: Thông Luận)

“Nghe phần trình bày của GS Tô Hạo, tôi mới thấy rõ một điều, Trung Quốc và ASEAN khác nhau về phong cách”,
TS Termsak Chalermpalanupap, giám đốc ban an ninh chính trị thuộc ban thư ký ASEAN nhận xét.

Image
Bản đồ biển Ðông và vị trí lúc tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02 của Việt Nam. (Hình: tuoitredatquang.com)

Dừng một chút, ông tấn công: “Các nước ASEAN thì nói và nói (talk and talk) còn Trung Quốc thì miệng nói và tay làm (talk and take)”.

Một phóng viên nước ngoài đã nhận xét, có lẽ vì vấn đề biển Ðông nên thu hút rất đông học giả và chính khách tên tuổi đến dự hội thảo về an ninh hàng hải tại biển Ðông do CSIS tổ chức. Căn phòng chật kín đến mức TS Termsak Chalermpalanupap phải ngạc nhiên và nghiệm ra độ nóng của vấn đề biển Ðông.

Ngày thảo luận đầu tiên 20 tháng 6 (giờ Washington) căng và nóng rẫy sau phần tham luận trình bày quan điểm và chủ trương của Trung Quốc ở biển Ðông của GS Tô Hạo đến từ ÐH Ngoại Giao Trung Quốc.

Chất vấn và chỉnh huấn, có vẻ đó là những gì các học giả và chính khánh quốc tế tại hội thảo đã làm với vị giáo sư Trung Quốc và những đồng sự của ông. Ðã có lúc, TS Tô Hạo phải kêu lên: “tôi không phải là người phát ngôn của Trung Quốc”.

Ai sợ ai?

Trong bài phát biểu của mình, GS Tô Hạo cho rằng, chính hành động của các nước trong khu vực đã làm cho Trung Quốc “sợ” (scared).

“Một vài nước nói rằng Trung Quốc những năm gần đây có thái độ quá mạnh đối với vấn đề biển Ðông, nhưng tôi tin là lý do Trung Quốc có thái độ quyết đoán như vậy bởi một vài nước đã có những phản ứng quá mạnh đối với những gì đang xảy ra chống lại Trung Quốc. Ðó là lý do làm cho Trung Quốc sợ và làm cho chúng tôi phải nói gì đó để bảo vệ chủ quyền đối với biển Ðông”.

Ðến từ Viện Nghiên Cứu Brookings, TS Tạ Tuấn đặt câu hỏi, “hành động nào của láng giềng khiến Trung Quốc sợ? Là hoạt động đánh bắt cá của ngư dân Việt Nam và Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở được công nhận bởi Công ước Luật biển quốc tế 1982 của mỗi nước chăng? Là hoạt động thăm dò của công ty dầu khí cũng trong vùng đặc quyền kinh tế ấy mà Trung Quốc đã cho tàu hải giám (tàu quân sự cải hoán) cắt cáp chăng?

Không chỉ ra được hành động nào, vị GS Trung Quốc phân bua: “Không hẳn là sợ... Nhưng cá nhân tôi lo ngại. Rõ ràng, những năm trước, có rất nhiều hoạt động hợp tác giữa Trung Quốc và các nước ở biển Ðông. Một năm trở lại đây, căng thẳng gia tăng...

Vì sao căng thẳng gia tăng một năm trở lại đây? Câu hỏi của ông Tô Hạo đã được hầu hết các học giả tại diễn đàn này chỉ ra. Thỏa thuận về các nguyên tắc ứng xử trên biển Ðông đã không thể ngăn được leo thang tranh chấp, không ngăn được hành động gây hấn của Trung Quốc. Hơn nữa, như TNS Mỹ John McCain chỉ ra, các hành động này dựa trên “các quyền tự phong” của Trung Quốc.

Ðiều đáng nói, như TS Termsak Chalermpalanupap lưu ý, khi chiến hạm Mỹ đi qua đường chữ U để vào Ðà Nẵng thì Trung Quốc không lên tiếng phản đối, nhưng khi ngư dân Việt Nam hay các tàu của VietNamPetro hoạt động ở khu vực này thì gặp những phiền nhiễu do phía Trung Quốc gây nên.

“Nghe phần trình bày của GS Tô Hạo, tôi mới thấy rõ một điều, Trung Quốc và ASEAN khác nhau về phong cách”, TS Termsak Chalermpalanupap, giám đốc ban an ninh chính trị thuộc ban thư ký ASEAN nhận xét.

Dừng một chút, ông tấn công: “Các nước ASEAN thì nói và nói (talk and talk) còn Trung Quốc thì miệng nói và tay làm (talk and take)”.

Giáo sư Peter Dutton thuộc Ðại học Hải quân Mỹ chia sẻ, “nếu tôi là các nước ASEAN, tôi sẽ rất lo lắng”.

“Theo tôi biết, Trung Quốc đề xuất thương lượng với ASEAN, rằng cùng hợp tác, lo phát triển kinh tế, và chấp nhận yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Ðó là cuộc thương lượng tồi, bởi lẽ ASEAN sẽ phải hy sinh lợi ích lâu dài để đổi lại lợi ích thương mại ngắn hạn với Trung Quốc”.

“Tại sao Trung Quốc quyết tâm thực hiện kiểm soát biển Ðông và các nguồn tài nguyên của nó?”, TS Peter Dutton nêu câu hỏi trong khi chính học giả Trung Quốc lại thắc mắc với học giả Việt Nam, tại sao các sự kiện giữa tàu Trung Quốc và tàu thăm dò của Việt Nam lại xảy ra vào thời điểm này.

“Ðây cũng là câu hỏi của chúng tôi. Tại sao tàu Trung Quốc lại cắt cáp tàu thăm dò của Việt Nam vào thời điểm ngay trước khi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng như Hội nghị Shangri-la”, TS Trần Trường Thủy, Học Viện Ngoại Giao Việt Nam đáp lời.

Bà Bonner Glaser, giám đốc Ban Trung Quốc của CSIS nhắc lại việc Trung Quốc vi phạm tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Ðông (DOC) như dựng cột mốc chủ quyền trên các bãi đá ngầm ở Amy Douglas Bank thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và cắt dây cáp thăm dò dầu khí thuộc tàu Bình Minh 2 và tàu Viking của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, khu vực trước đây chưa hề bị tranh chấp.

Theo bà, những diễn tiến xảy ra tại biển Ðông gắn chặt với các vấn đề nội bộ của Trung Quốc, nơi mà chủ nghĩa quốc gia đã đi hơi quá đà, đặt ra thách thức cho giới lãnh đạo Bắc Kinh trong thời điểm nhạy cảm khi Trung Quốc đang bước vào giai đoạn chuyển giao lãnh đạo.

Trước đó, dẫn lại lời của GS Tô Hạo, “chủ quyền là lợi ích quốc gia mà một chính thể không thể từ bỏ, nếu muốn tồn tại”, một học giả đến từ Philippines đưa ra nghi vấn, phải chăng, có quá nhiều vấn đề chính trị nội bộ của Trung Quốc trong vấn đề biển Ðông.

Hơn nữa, “Trung Quốc chưa thu được giọt dầu nào từ biển Ðông, trong khi nhiều nước ASEAN như Việt Nam, Philippines đã khai thác được dầu khí. Chúng tôi đòi chia sẻ lợi ích công bằng”, GS Tô Hạo nói.

“Ðường lưỡi bò - một yêu sách tham lam, thiếu căn cứ”

“Vấn đề là Trung Quốc yêu sách tất cả”, học giả đại diện cho ASEAN, TS Termsak Chalermpalanupap lên tiếng. “Vì yêu sách này, Trung Quốc đã tạo chồng lấn với các nước thành viên ASEAN, và đó là lý do Trung Quốc luôn muốn tiếp cận song phương”, ông nói.

Các học giả đều chia sẻ quan điểm rằng Trung Quốc đang “yêu sách tham lam, thiếu căn cứ” với bản đồ 9 đoạn hình chữ U mới được trình lên LHQ cách đây chưa lâu.

Với yêu sách đường chữ U, Trung Quốc thực sự đòi bao nhiêu trên biển Ðông? Tất cả biển Ðông chăng? Bản đồ 9 đoạn hình chữ U thực chất thể hiện điều gì, và dựa trên cơ sở nào, rất nhiều học giả nêu câu hỏi.

Khẳng định “không phải Trung Quốc đòi hỏi toàn bộ biển Ðông”, thế nhưng GS Tô Hạo cũng không lý giải được nguồn cơn của đường chữ U. “Ðây là vấn đề phức tạp.”

Ông đã viện dẫn “di sản lịch sử” để biện minh cho đường chữ U, rằng đó là di sản lịch sử sau Chiến tranh thế giới thứ 2, là di sản của thời Tống để lại...

Giám đốc Ủy Ban Pháp Quyền Ðại Dương của Mỹ, Caitlyn Antrim, khẳng định đường chữ U không có cơ sở theo luật quốc tế bởi cơ sở lịch sử là rất yếu và rất khó bảo vệ.

“Tôi không hiểu Trung Quốc tuyên bố cái gì trong đường chữ U đó. Nếu họ tuyên bố chủ quyền với các đảo do đường ấy bao quanh, thì câu hỏi đặt ra là họ có chứng minh được chủ quyền với các đảo đó hay không. Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu. Ðối với các đảo không có cư dân sinh sống thì họ chỉ có thể tuyên bố lãnh hải, chứ không thể tính vùng đặc quyền kinh tế từ các đảo đó”, bà Caitlyn Antrim nói.

Không đồng tình với cách giải thích của Trung Quốc về ý nghĩa của đường lưỡi bò liên quan tới lịch sử, TS Peter Dutt nói: “Về quyền tài phán đối với các vùng biển, lịch sử không liên quan gì cả, mà phải tuân theo UNCLOS... Việc dùng lịch sử để giải thích chủ quyền làm xói mòn các quy tắc của UNCLOS”.

Giáo Sư Carl Thayer từ Học Viện Quốc Phòng Australia nói rằng việc học giả Trung Quốc sử dụng “di sản lịch sử” để giải thích về tuyên bố chủ quyền một lần nữa bộc lộ việc thiếu cơ sở pháp lý theo luật quốc tế trong tuyên bố chủ quyền này.

“Trung Quốc yêu sách đường chữ U nhưng lại không rõ thực ra đường chữ U thể hiện điều gì. Trung Quốc nói quan hệ bạn bè, thực ra cũng không biết có phải là bạn hay không. Giống như anh vừa giơ tay ra bắt, vừa cướp thức ăn trên tay bạn”, một học giả Philippines nói. “Nếu Trung Quốc đã tự tin như vậy về cơ sở cho yêu sách của mình, sao lại phản đối sự tham gia của bên thứ ba trong việc giải quyết vấn đề? Hiện có nhiều cơ chế theo UNCLOS hay ICJ...

Chia sẻ góc nhìn này, một học giả gốc Việt đang sống tại Mỹ nói, sao Trung Quốc lại khăng khăng đòi giải quyết song phương với các nước nhỏ? Ðể Trung Quốc dễ bề “chia rẽ các nước ASEAN, để các nước đối đầu với nhau” như nhận định của TNS John McCain chăng?

Hành xử trách nhiệm?

Học giả Trung Quốc luôn khẳng định, Trung Quốc “hành xử trách nhiệm”, “hành xử theo luật và các quy chuẩn quốc tế”, vì “hình ảnh quốc gia”. Trung Quốc luôn “cố gắng hạ nhiệt để giảm căng thẳng”, “sẵn sàng chia sẻ lợi ích trên biển Ðông”.

“Nghe Trung Quốc nói về chính sách, nước nào cũng thấy vui, nhưng hy vọng, Trung Quốc thực hành những gì mình nói”, TS Ðặng Ðình Quý, giám đốc Học Viện Ngoại Giao Việt Nam dẫn lại phát biểu của một quan chức ASEAN. Ðáng tiếc “vẫn tồn tại khoảng cách giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc, và khoảng cách ấy đang lớn lên”.

Thiện chí hợp tác của Trung Quốc đến đâu, cứ nhìn quá trình chuyển từ tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Ðông DOC, mang tính cam kết chính trị, sang bộ quy tắc ứng xử trên biển Ðông COC mang tính ràng buộc pháp lý cao là thấy.

ASEAN đã rất nỗ lực để đạt đồng thuận trong vấn đề COC, TS Termsak Chalermpalanupap cho hay.

Gần 10 năm trước, khi bàn về DOC, chính các nước ASEAN đã không thể thống nhất được phạm vi điều chỉnh của các quy tắc ứng xử, đành chấp nhận một giải pháp tình thế, không nhắc đến trong văn bản.

“Lúc này, tất cả các thành viên ASEAN đã sẵn sàng thảo luận về phạm vi điều chỉnh của bộ quy tắc ứng xử trên biển Ðông COC”, vượt qua trở ngại cũ.

20 lần, các nước ASEAN đã thống nhất được đề nghị về COC để đưa ra bàn với Trung Quốc. Và cả 20 lần, Trung Quốc đều bác bỏ. Tuần qua, ASEAN lại vừa họp, và bản đề nghị thứ 21 đã hình thành.

“Trung Quốc đang gây khó khăn trong đàm phán về quy tắc ứng xử”, vị học giả đại diện cho ASEAN nói.

“Muốn giải quyết vấn đề biển Ðông, trước hết, Trung Quốc phải thay đổi quan điểm của mình”, một học giả nói.

Muốn “giữ hình ảnh quốc gia”, Trung Quốc sẽ không được quên, thế giới đang nhìn vào hành xử của nước này ở biển Ðông.

“Thái độ hành xử của Trung Quốc ở biển Ðông giúp Ấn Ðộ hiểu được thái độ và hành xử mà Trung Quốc có thể áp dụng với nước láng giềng Ấn Ðộ và với biển Ấn Ðộ Dương”, ông Amer Latif, thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế Ấn Ðộ nói.

Tại hội thảo, có học giả đã lạc quan hy vọng, GS Tô Hạo và các đồng nghiệp của ông sẽ “thay đổi cách nhìn về biển Ðông” bằng cách lắng nghe các nước. Và sự thay đổi nhận thức từ những học giả lớn của Trung Quốc sẽ lan tỏa đến chính sách.

Còn giám đốc Học Viện Ngoại Giao Việt Nam nhắn nhủ tới đồng nghiệp Trung Quốc, có lẽ, ông nên tới Hà Nội hay Manila, để nhìn chính sách của Trung Quốc theo cách khác.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Việt Nam và Philippines
Monday, June 27, 2011 2:17:21 PM

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Thời gian vừa qua, liên quan đến biển Ðông, Trung Quốc không phải chỉ uy hiếp Việt Nam mà còn gây hấn với cả Philippines.

Image
Dân chúng Philippines biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Trường Sa tại thành phố Makati ở phía Ðông Manila, ngày 16 Tháng Sáu. (Hình: AP)

Trước khi tàu hải giám của Trung Quốc nhào tới cắt dây cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 và Viking 2 của công ty dầu khí Việt Nam, họ đã từng gây hấn với tàu thăm dò MV Venture của Philippines ở khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank), cách đảo Palawan 200 cây số, nơi Philippines tuyên bố là thuộc vùng kinh tế đặc quyền của họ vào ngày 2 tháng 3. Sau đó, tàu Trung Quốc liên tiếp uy hiếp các tàu thăm dò của Philippines thêm một số lần nữa.

Ðiều đáng chú ý là trước thái độ gây hấn thô bạo của Trung Quốc, phản ứng của Việt Nam và Philippines khác hẳn nhau. Ðiều đó có thể thấy rõ ngay trên báo chí chính thống ở Việt Nam.

Trong khi trên báo chí chính thống ở Việt Nam, ngoài vài bản tin và lời phát biểu chung chung ngay sau hai biến cố cắt cáp vào ngày 26/5 và 9/6, chỉ thấy một sự im lặng lạ lùng và khó hiểu từ phía chính quyền thì, ngược lại, người ta thấy có khá nhiều bài tường thuật các phản ứng của Philippines đối với Trung Quốc. Các phản ứng ấy bao gồm: Chỉ trích gay gắt Trung Quốc trên báo chí trong nước cũng như trên các diễn đàn quốc tế; điều tàu chiến và máy bay chiến đấu (gồm cả máy bay ném bom) ra hộ tống các tàu thăm dò dầu khí; nâng cấp căn cứ Rancula thuộc quần đảo Trường Sa; tăng cường tuần tra không quân và hải quân trên vùng tranh chấp; nỗ lực phát triển quốc phòng; tháo gỡ các cột trụ mà Trung Quốc đã lắp đặt tại ba bãi đá ngầm trong khu vực tranh chấp; báo cáo hành động xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc lên Liên Hiệp Quốc; đề nghị Indonesia hợp tác khai thác dầu khí chung trên biển Ðông, gần khu vực Trường Sa; kêu gọi các nước trong khu vực có tiếng nói và hành động chung nhằm đối phó với Trung Quốc; tham gia tập trận chung với Mỹ; gợi ý thành lập một đoàn ngoại giao chuyên trách để đàm phán với các nước ASEAN về việc thành lập một khối liên kết để giải quyết vấn đề ở biển Ðông và kết nối với Liên Hiệp Quốc để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Trường Sa, v.v.

Không phải chỉ nói suông. Họ làm thật. Và một cách hiệu quả, ít nhất là ở bước đầu: Họ thuyết phục được chính phủ Úc ủng hộ lập trường của họ trong cuộc họp cấp bộ trưởng giữa hai nước vào ngày 16/6. Họ cũng thuyết phục được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ Mỹ qua lời phát biểu của Ðại sứ Mỹ tại Philippines: “Tôi đảm bảo với các vị rằng Mỹ sẽ sát cánh với Philippines trong tất cả các vấn đề. Mỹ và Philippines là những đồng minh chiến lược. Chúng tôi sẽ tiếp tục tham vấn và hợp tác với nhau trong các vấn đề, bao gồm cả biển Ðông” (Vietnamnet). Mới đây, họ thuyết phục được sáu nước thành viên trong khối ASEAN (trong đó có Việt Nam) ủng hộ lời kêu gọi cho một giải pháp hòa bình do họ đưa ra.

Ngoài việc tường thuật các chính sách và các lời phát biểu của giới lãnh đạo cao cấp, bao gồm cả Tổng Thống Benigno Aquino của Philippines, báo chí trong nước cũng tường thuật cả dư luận của quần chúng và trí thức Philippines trước sự đe dọa của Trung Quốc. Một số bài viết đăng trên báo lớn ở Philippines được nhắc nhở, trong đó có bài mang nhan đề “Kẻ du côn trong khu vực” (Regional bully) nói về cách hành xử của chính quyền Trung Quốc. Nhiều bài báo gọi đích danh Trung Quốc đang “trực tiếp xâm phạm lãnh thổ Philippines” và tuyên bố: “Sự việc này một lần nữa cho thấy, Trung Quốc thật đáng sợ, chứ không phải là quốc gia hiền lành như các nhà ngoại giao nước này rao giảng”.

Ở đây, có hai điều chúng ta cần lưu ý: Thứ nhất, mức độ đe dọa của Trung Quốc đến chủ quyền và lãnh thổ cũng như lãnh hải của Philippines chắc chắn không trầm trọng như là Việt Nam, một nước giáp biên giới với Trung Quốc và có một lịch sử xung đột gần như triền miên với Trung Quốc; và thứ hai, như chính chính quyền Philippines nhìn nhận, lực lượng quân sự, cả không quân lẫn hải quân, của họ rất yếu. Không những yếu hơn Trung Quốc mà còn yếu hơn Việt Nam rất nhiều.

Một nước yếu và không trực tiếp đối diện với nguy cơ xâm lược của Trung Quốc như vậy nhưng cách phản ứng của họ rõ ràng là mạnh mẽ, quyết liệt, nhất quán và có tầm chiến lược hơn Việt Nam nhiều. Ðó là điều đáng cho chúng ta suy nghĩ.

Từ trước đến nay, lúc nào Việt Nam cũng tự hào là đi đầu trong các cuộc chống ngoại xâm và các cuộc bành trướng quốc tế: Xưa, Việt Nam đi đầu trong việc chống lại đế quốc Mông Cổ đang giẫm nát gần trọn Châu Á và một phần Châu Âu; sau, Việt Nam đi đầu trong việc chống lại chủ nghĩa thực dân cả cũ lẫn mới.

Còn bây giờ?

Ðối diện với sự đe dọa trắng trợn từ Trung Quốc, Việt Nam lại chọn một thái độ nhịn nhục gần như bất động. Họ cố lừa dối dư luận trong nước là họ đang âm thầm giải quyết tranh chấp qua con đường đàm phán trực tiếp với Trung Quốc. Nhưng luận điệu ấy không thể dối gạt được ai cả. Người ta không thể ngồi vào bàn đàm phán mà không có một chiến lược rõ ràng và không có một sự hậu thuẫn nào hết, kể cả hậu thuẫn của dân chúng và quốc tế, hoặc ít nhất, trong khu vực. Sự im lặng và bất động của chính quyền Việt Nam, do đó, phải được hiểu như một sự đầu hàng.

Ðầu hàng ngay từ đầu.

Có một điều hình như giới tuyên truyền ở Việt Nam chưa nhận ra được: Việc họ loan tin các phản ứng của Philippines mà không hề tường thuật bất cứ phản ứng nào từ phía Việt Nam, kể cả các cuộc biểu tình tự phát của dân chúng, cho thấy, hoặc ít nhất gợi cảm giác, là họ nhường trận địa chống Trung Quốc lại cho Philippines: Không phải Việt Nam mà chính Philippines mới là quốc gia xông xáo và quyết liệt nhất trong việc chống trả và ngăn chận âm mưu xâm chiến biển Ðông cũng như khu vực quần đảo Trường Sa.

Ðiều mỉa mai là giới truyền thông chính thống Việt Nam, một mặt, làm điều đó; mặt khác, lại tỏ vẻ đứng về phía Trung Quốc hơn là phía Philippines. Trên tờ báo mạng nổi tiếng của Việt Nam, Vietnamnet, ngày 8/6, có bài viết nhan đề “Trung Quốc mắng Philippines ‘tuyên bố vô trách nhiệm’”. Nội dung của bài viết là tường thuật lại lời phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Hồng Lỗi do hãng Tân Hoa Xã loan đi: “Trung Quốc yêu cầu phía Philippines ngừng làm tổn hại tới chủ quyền và các quyền hàng hải cũng như lợi ích của Trung Quốc, dẫn tới các hành động đơn phương làm leo thang và phức tạp vấn đề tranh chấp biển Ðông. Phía Philippines nên ngừng đưa ra các tuyên bố vô trách nhiệm không phù hợp với thực tế.” (VietNamNet)

Một lời phát biểu như thế, từ phía Trung Quốc, chả có gì đáng ngạc nhiên cả. Họ cũng đã từng nói như vậy với Việt Nam. Vậy tại sao tác giả bài báo lại dùng động từ “mắng”: “Trung Quốc mắng Philippines”?

Thứ nhất, ai cũng biết không nên dùng chữ “mắng” để mô tả các cuộc tranh cãi ngoại giao giữa hai nước.

Thứ hai, việc dùng chữ “mắng” trong văn cảnh như vậy, người viết - và giới lãnh đạo tuyên huấn Việt Nam nói chung - có vẻ đồng tình với Trung Quốc: Kẻ đáng trách ở đây, do đó, không phải là cái kẻ ỷ mạnh xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải của nước khác mà lại là kẻ đang phản đối điều đó.

Nên giải thích việc này như thế nào đây?

Thực tình, tôi không hiểu.

Không thể nào hiểu được.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Có cần sợ Trung Quốc hay không?

Ngô Nhân Dụng

Ngày Thứ Bẩy vừa qua, hai thứ trưởng Ngoại Giao Việt Nam và Trung Quốc đã gặp nhau.

Sau đó ông Hồ Xuân Sơn đã yết kiến Ủy viên Quốc vụ Ðới Bỉnh Quốc, người phụ trách các chính sách đối ngoại trong Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Quốc. Bản tin của nhà nước Cộng Sản Việt Nam viết rằng: “Hai bên cho rằng, quan hệ Việt-Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt-Trung. Hai bên nhấn mạnh cần kiên trì đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển theo đúng phương châm 16 chữ ‘láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’ và tinh thần 4 tốt ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.’”

Ðọc bản tin này người ta tưởng như đang nằm mơ. Quan hệ như thế nào thì gọi là “phát triển lành mạnh, ổn định?” Tầu cảnh sát trên biển (hải giám) của Trung Quốc đã cắt dây cáp của tàu thăm dò Việt Nam hai lần, mặc dù đã bị phản đối ngay sau lần thứ nhất. Dân chúng Việt Nam đã đi biểu tình ba cuối tuần liên tiếp để phản đối Trung Quốc lấn ép Việt Nam. Như vậy mà ông thứ trưởng Ngoại Giao lại nhận định là việc bang giao “lành mạnh, ổn định!” Và còn chính quyền Việt Nam vẫn còn nhắc lại những khẩu hiệu “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt!” Không phải chúng ta nằm mơ mà chính những người cầm quyền ở nước ta đang nằm mơ! Những khẩu hiệu “16 chữ vàng” và “4 tốt” mà hai đảng Cộng Sản vẫn đề cao hầu như không liên can gì tới thực tế trên mặt biển ở ngay ngoài khơi, trong vùng đặc quyền kinh tế của nước Việt Nam cả. Nó cũng không liên hệ gì tới lòng dân Việt Nam, như được phản ảnh trong một bài của một người ở Cần Thơ, ký tên Bạch Ðằng, với tựa đề: Hãy vứt “Mười sáu chữ vàng” vào mặt kẻ dối trá!

Bản tin về cuộc hội đàm giữa ông Hồ Xuân Sơn với các ông Ðới Bỉnh Quốc và Trương Chí Quân cũng hoàn toàn không liên can gì đến những lời ông Nguyễn Tấn Dũng nói rất hăng ở Nha Trang trước đó, với những hứa hẹn “quyết tâm bảo vệ chủ quyền” của nước Việt Nam trên đất và hải phận. Bản tin trên khiến người ta càng thấy rõ những lời ông Nguyễn Tấn Dũng nói chẳng qua chỉ là lời nói suông, cốt xoa dịu nỗi phẫn uất trong lòng dân, chứ không có ảnh hưởng nào trong việc đối đãi với chính quyền Trung Quốc.

Ông Ðới Bỉnh Quốc chính là người năm ngoái từng nói với nhiều nhân viên ngoại giao Mỹ, kể cả bà Hillary Clinton, ngoại trưởng Mỹ, rằng vùng biển Ðông Nam Á, tức biển Ðông của nước ta, là một vùng “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc. Trước đó, chính quyền Bắc Kinh chỉ gọi Ðài Loan, Tây Tạng là những vùng thuộc vào “quyền lợi cốt lõi” mà thôi. Nói như vậy tức là Ðới Bỉnh Quốc muốn xác định Trung Quốc coi cả vùng biển Ðông cũng thuộc vào nước họ, giống như Ðài Loan và Tây Tạng. Một ý tưởng rõ ràng muốn chiếm lấy của người làm của mình như vậy, không thể gọi là “lành mạnh” được! Và sau những vụ cắt dây cáp tầu và những cuộc biểu tình sôi nổi trong nước Việt Nam, trong cuộc hội thảo quốc tế gần đây ở Washington, tất cả những người thuyết trình, ngoài phái đoàn Trung Quốc, đều chỉ rõ những hành động lấn chiếm và uy hiếp của Hải Quân Trung Hoa trong vùng biển Ðông. Một tình trạng sôi sục và uất hận như vậy cũng không thể gọi là “ổn định” được.

Bất cứ người Việt Nam nào cũng phải nổi giận khi người lãnh đạo một nước láng giềng mô tả tất cả vùng biển thuộc nước Việt Nam là của họ! Bất cứ người Việt Nam nào nếu có dịp gặp ông Ðới Bỉnh Quốc cũng phải lên tiếng nhắc nhở ông biết rằng quan niệm “quyền lợi cốt lõi” của ông bao trùm cả biển Ðông là sai, hoàn toàn sai lầm, và chúng tôi có đủ các chứng cớ lịch sử để chứng minh các quần đảo trong biển Ðông thuộc chủ quyền của nước Việt chúng tôi! Trong tình trạng như vậy, không ai gặp ông Ðới Bình Quốc lại có thể nói rằng mối bang giao là “lành mạnh” và “ổn định!” Nhưng ông Hồ Xuân Sơn đã cúi đầu đồng ý với ông Ðới Bỉnh Quốc; người mà cuối năm ngoái đã viết một bài 9,000 chữ trên mạng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc trong đó ông khẳng định: “Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc không có truyền thống chiếm bá quyền.”

Nếu ai tin được là lịch sử nước Trung Hoa chưa bao giờ có truyền thống bá quyền, thì có thể cũng tin như ông Hồ Xuân Sơn!

Một người đại diện ngoại giao cho nước Việt Nam không nhất thiết lúc nào cũng phải gây gổ với chính quyền Trung Quốc. Nhưng phải biết tỏ thái độ tự trọng. Trước những việc sai trái như cắt dây cáp tầu thăm dò đáy biển trong hải phận nước mình mà không chính thức lên tiếng phản đối, lại không dám ghi lời phản đối đó trên giấy trắng mực đen, tức là tự sỉ nhục mình và làm nhục cả quốc gia mà mình đóng vai đại diện. Trong các triều đại quân chủ ở nước ta, những sứ thần Việt Nam sang Trung Hoa cũng không bao giờ phải sợ hãi thiên triều như vậy.

Gần đây một học giả ở Học Viện Hoover nước Mỹ đã nhắc đến thời kỳ các nước Á Ðông phải thần phục triều đình Trung Quốc, và đưa ra một ý kiến rất sai lầm khi viết rằng: “Các hoàng đế Trung Hoa coi các nước thần phục theo lối giống như các vị vua Âu Châu coi các thuộc địa của họ.” (The Chinese emperors viewed their vassal kingdoms the same as the European monarchs viewed their colonies). Ðiều này sai, vì mối liên hệ giữa các hoàng đế Trung Hoa và các nước chung quanh như Việt Nam, Cao Ly, vân vân, chỉ gây cảnh bất bình đẳng trên danh nghĩa mà thôi. Mối tương quan đó mô phỏng liên hệ giữa thiên tử nhà Chu và các nước chư hầu đời Xuân Thu, Chiến Quốc. Vua các nước nhỏ chịu công nhận nhà Chu là bề trên của mình, nhưng họ hoàn toàn độc lập về mọi phương diện. Các vị vua Việt Nam đời xưa chỉ được xưng là Vương, dành cho ông vua Tầu xưng Ðế. Nhưng trong nước, người dân vẫn gọi vua mình là hoàng đế! Cũng như vua các nước Tề, nước Lỗ phải coi thiên tử nhà Chu trên danh nghĩa là vua của mình, vua nước nhỏ như Cao Ly, Việt Nam phải nhún mình, tự coi là phận dưới đối với vua nước Tầu. Nhưng họ chỉ có một bổn phận đối với vua nước Tầu là “cống tiến” một số phẩm vật, theo định kỳ, để bày tỏ mình ở địa vị thấp hơn. Sự thần phục trên danh nghĩa như thế không đưa tới các hậu quả như bóc lột về kinh tế, không có việc nước lớn xâm phạm chủ quyền các nước nhỏ về lãnh thổ, về ngoại giao, như thuộc địa của các nước Âu Châu phải chịu.

Nhưng chúng ta đang sống trong một thời đại khác hẳn những thời trước thế kỷ 19. Thời xưa, bên cạnh nước Việt Nam hay Cao Ly chỉ có một quốc gia lớn là Trung Hoa. Chịu nhún, xưng thần là một biện pháp ngoại giao, tránh không cho vua Tầu kiếm cớ xâm lăng nước mình; dù mình có đuổi được giặc đi thì dân cũng vẫn chịu khổ. Ngày nay, những nước nhỏ chung quanh nước Tầu không chịu cảnh cô đơn như vậy; vì quyền lợi các quốc gia trên thế giới đang liên hệ chồng chéo với nhau. Ðứng trước một nước Trung Hoa lớn gấp hàng chục lần, nhưng quốc gia láng giềng biết tự trọng vẫn không cần phải “thần phục!”

Bà Yuriko Koike, cựu bộ trưởng Quốc Phòng Nhật Bản, hiện đang là lãnh tụ đảng đối lập Tự Do Dân Chủ mới viết trên nhật báo Japan Times nhắc nhở mọi người Nhật rằng: “Việc bành trướng sức mạnh quân sự nhanh đến chóng mặt của Trung Quốc gần đây khiến nhiều người lo ngại. Nhưng dù ước tính ở mức cao nhất, thì hiện nay ngân sách quân sự của Trung Quốc cũng chỉ xấp xỉ bằng của Nhật Bản; mà còn rất thấp so với ngân sách quân sự của ba nước gần Trung Quốc là Nhật Bản, Ấn Ðộ và Nga, cả ba nước có chung biên giới với Trung Quốc. Ðó là chưa kể những nước láng giềng khác như Ðại Hàn, Indonesia, và một đảo Ðài Loan đang hiện đại hóa quân đội của họ.”

Bà Yuriko Koike viết tiếp: “Cho nên Trung Quốc không thách thức về mặt quân sự, mà là về chính trị và kinh tế. Nhưng chính thái độ ngoại giao hung hăng của Trung Quốc đã khiến các quốc gia Á Châu khác thấy cần phải liên kết trong một hệ thống đa quốc gia được Hoa Kỳ ủng hộ, thay vì chấp nhận một hệ thống trong đó Trung Quốc đóng vai trò dẫn đầu.”

Bà Yuriko Koike bác bỏ lý thuyết “ngăn chặn” (containment) Trung Quốc như thời xưa đã ngăn chặn Liên Bang Xô Viết. Chính sách bành trướng của Trung Quốc không có tính chất quân sự như Nga Xô ngày xưa. Bà nhắc lại binh thư Tôn Tử, khuyên “công tâm, công lương” hơn là “công thành.” Lấn áp về kinh tế, làm cho đối phương nản chí, sợ sệt, chứ không cần xâm chiếm lãnh thổ. Bà viết: “Cho tới gần đây, sự bành trướng bá quyền của Trung Quốc trong vùng vẫn theo đúng binh thư Tôn Tử.” Nhưng Trung Quốc cần phải thỏa hiệp với các nước chung quanh, chứ không thể gây sự, vì trong hơn một tỷ người Trung Quốc thì một nửa vẫn còn sống trong cảnh cực kỳ nghèo khó. Trung Quốc không thể cắt đứt những liên hệ kinh tế với thế giới được.

Nói đến kinh tế, người ta thường tỏ ý khiếp phục về tốc độ tăng trưởng, về cán cân mậu dịch thặng dư, về dự trữ ngoại tệ khổng lồ. Nhưng, như đã trình bày nhiều lần trong mục này, đằng sau những con số lớn lao đó là một nền kinh tế còn đang trên đà phát triển và mất thăng bằng.

Sức bành trướng kinh tế của Trung Quốc dựa trên cảnh bóc lột người lao động để làm hàng xuất cảng. Hiện nay chính phủ Ôn Gia Bảo đang chủ trương chuyển hướng nền kinh tế sang lãnh vực tiêu thụ nội địa, để bớt tùy thuộc vào hàng xuất cảng. Chính sách này sẽ giúp nền kinh tế Trung Quốc cân bằng hơn, và nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn. Hiện nay tỷ lệ tiết kiệm của dân Trung Hoa lớn bằng 45% tổng sản lượng nội địa (GDP), vì họ bị “cưỡng bức tiết kiệm.” Việc thay đổi chính sách sẽ giúp dân được tiêu thụ nhiều hơn, và giảm bớt tỷ lệ tiết kiệm. Khi đó, cán cân mậu dịch của Trung Quốc sẽ thay đổi. Số thặng dư thương mại của nước Trung Hoa hiện nay là gần 320 tỷ đô la một năm, lớn bằng 6% GDP. Nếu tỷ lệ tiết kiệm giảm từ 45% xuống 39% GDP, tức là dân chúng có cơ hội tiêu thụ thêm 6% GDP nữa, thì con số thặng dư mậu dịch của Trung Quốc sẽ biến mất.

Chúng ta không có lý do nào phải khiếp sợ trước một Trung Quốc còn đang trên đường ngoi lên, về kinh tế cũng như về quân sự. Một chính quyền Việt Nam phải biết tự trọng, nếu thấy những việc khiến nhân dân bất bình thì phải nói lên, không khiếp nhược; nếu không thì làm nhục cả nước.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 11 guests