Bình Luận , Quan Điểm

hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Tại Hà Nội bàn đổi mới chính trị

Ngô Nhân Dụng
Một bạn ở Hà Nội cho biết anh cứ tưởng mối lo lớn nhất của nhà nước trong hai ngày qua là vụ cái hầm cầu ở phi trường Nội Bài. Sau trận mưa hầm cầu bị nứt, nước nhơ bẩn tràn ra, ngập cả sân bay.

Nguyên do là vì nước mưa ngập không có lối thoát, chất phế thải từ dưới hầm chui lên, máy bay đang chờ khách phải đóng cửa cho đỡ ngửi mùi xú uế. Nhờ báo chí loan tin vụ này, với tựa đề, “Sân bay quốc tế Nội Bài bục bể phốt” mà dân ta học thêm được một tên gọi cái hầm cầu, tên chữ gọi là cái Bể Phốt. Chữ Phốt có lẽ do chữ Pháp fosse, cái hầm, cái hố, tiếng Tây gọi hầm chứa các chất phế thải là fosse septique, dịch sang tiếng Anh là septic tank. Cái sân bay của thủ đô, giống như cái cổng chính ngôi nhà mở ra thế giới, tại một nước Việt Nam đang tìm đường tiến tới Chủ Nghĩa Xã Hội, không lẽ lại để nước dơ chảy đem mùi hôi xông lên nồng nặc như vậy! Chắc Bộ Chính Trị phải quan tâm đến tai nạn này.

Nhưng người dân đoán lòng đảng bị sai hoàn toàn. Ngay trong lúc nhà nước chưa xử lý xong vụ nước lụt từ cái hầm, cái “phốt” tại sân bay, thì đảng đã nhanh tay chuyển mục tiêu sang một điểm mới, bắt buộc dân chúng phải quay mắt (hoặc mũi) về hướng khác, vào mục tiêu mới, rồi tha hồ bàn tán với nhau. Ðề tài mới đang được dân chú ý là một cuộc “tọa đàm” do tạp chí Cộng Sản tổ chức với đề tài lớn vô cùng: Ðổi mới chính trị! Cuộc hội thảo ngày Thứ Ba, 10 Tháng Năm 2011 vừa qua, góp mặt “nhiều nhà khoa học đến từ các viện nghiên cứu chiến lược và học viện lớn!” Có thể coi đây là một cái bể, cái phốt chứa đầy những bộ não siêu việt nhất của đảng và nhà nước, một cái bể tư duy!

Mạng Việt Nam Net thuật lời ông Vũ Văn Phúc, tổng biên tập tạp chí Cộng Sản, nói trong cuộc tọa đàm rằng nếu không đổi mới chính trị cùng với đổi mới kinh tế “đồng bộ, nhịp nhàng, ăn khớp” thì chúng sẽ cản trở lẫn nhau. Nói cách khác, đổi mới kinh tế không đi song song với đổi mới chính trị thì kinh tế sẽ ngừng tiến bộ. Ðây là một ý kiến đã được ký giả nêu lên trên tạp chí Thế Kỷ 21 từ 20 năm trước, trong một bài đặt câu hỏi “Ði Một Chân Ðược Bao Lâu?” Ý chính là: Không đổi mới chính trị thì sẽ tới lúc các tiến bộ kinh tế sẽ ngưng lại, vì các chế độ độc tài chuyên chế không tạo được khung cảnh để sử dụng hết các sức mạnh của kinh tế thị trường. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam mới cho mở cuộc hội thảo về đổi mới chính trị, nhưng lại chỉ cho các cán bộ nói chuyện với nhau và nghe lẫn nhau, trong một cái bể khép kín mà thôi!

Tại sao họ lại chậm trễ đến 20 năm như vậy? Một vị từng làm lớn trong Viện Báo Chí là ông Dương Xuân Ngọc nói rằng ở Việt Nam việc “đổi mới kinh tế được nghiên cứu kỹ” còn “vấn đề về đổi mới chính trị lại chưa được đề cập nhiều, thậm chí đôi khi né tránh.” Ðây là một nhận xét được người dân Hà Nội đánh giá là “tuyệt vời,” vì nó chứng tỏ người phát biểu ra câu nói đó không hề biết ở ngoài đường, trong tiệm cà phê dân chúng đang nói những chuyện gì với nhau!

Khi nói “vấn đề về đổi mới chính trị chưa được đề cập nhiều” có nghĩa là ông này không hề biết đến những vụ bắt giam, bỏ tù các nhà trí thức đòi đổi mới chính trị, như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Văn Ðài, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Ðan Quế, vân vân, cho tới Cù Huy Hà Vũ! Ai đã bịt mắt bịt tai các ông mà quý ông lại nghĩ rằng người Việt Nam không bàn đến đổi mới chính trị? Chỉ những bộ óc tự nhốt trong cái hầm, cái “phốt tư duy” của đảng Cộng Sản mới có thể phát ngôn như thế!

Hàng chục năm qua, bao nhiêu người Việt Nam lên tiếng đòi đổi mới chính trị, đòi dân chủ hóa. Gần đây, một thanh niên 21 tuổi là sinh viên Nguyễn Anh Tuấn quê ở Ðà Nẵng cũng mạnh dạn thách thức chính quyền bằng cách gửi thư cho Viện Kiểm Sát Tối Cao, xin họ bắt giam và đem anh ra xử, về những “tội” giống hệt Cù Huy Hà Vũ! Anh Nguyễn Anh Tuấn còn trưng trên mạng bức hình chụp anh đang cầm những bài do Cù Huy Hà Vũ viết, những bài được gọi là chứng cớ buộc tội trong vụ xử án cấp tốc tháng trước! Anh Tuấn thách thức rằng nếu trong 20 ngày mà không bắt anh, tức là nhà nước công nhận các tài liệu do Cù Huy Hà Vũ viết ra không “phạm tội,” tức là chính Cù Huy Hà Vũ cũng vô tội!

Một thanh niên 21 tuổi yêu cầu cơ quan công tố cao nhất nước phải trả lời mình theo quy tắc minh bạch, công khai; hành động đó có nghĩa anh đang đòi nhà nước thay đổi từ quan niệm chính trị đến định chế tư pháp. Như vậy thì nói rằng không ai đề cập đến đổi mới chính trị làm sao được? Ngoài đường, trong quán, người ta nói chuyện đổi mới chính trị từ hai, ba chục năm nay, các ông cứ sống trong cái hầm tư duy đóng kín của đảng, không biết gì hết! Ðáng lẽ các ông phải mời những người đã thảo luận vấn đề này từ 20 năm qua, như Hà Sĩ Phu, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Thanh Giang, Mai Thái Lĩnh, tới “tọa đàm” với các ông mới phải! Tại sao cứ tự nhốt mình trong cái hầm tư duy kín mít như thế? Người dân chỉ biết là cuộc tọa đàm này gồm toàn các “nhà khoa học” của đảng, họ nói cho nhau nghe trong một cái hầm của đảng, không cho người ngoài được tham dự, cũng không ai được vô dự thính! Cuối cùng chỉ có một bản tin tóm tắt trên mạng lưới của đảng, coi như hé cửa cái hầm cho người ngoài được ngửi một chút cho biết bên trong có những gì!

Nhưng người dân còn thắc mắc thêm, là tại sao bỗng dưng, trời không mưa dầm, nước không ngập lụt, mà Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam lại cho mở hé cái hầm tư duy để cho các “nhà khoa học” của họ lên tiếng nói với nhau và nghe lẫn nhau như vậy? Nhưng nếu ai tinh ý một chút thì thấy ngay đã có một tín hiệu được phát ra, báo trước “vụ mở cửa hầm” bàn về đổi mới chính trị, phát ra từ năm ngoái rồi. Không, không phải một tín hiệu loan ra trước đại hội đảng Cộng Sản. Trước, sau Ðại Hội XI, họ vẫn nói đi nói lại là không bàn vụ thay đổi chính trị, cấm ngặt! Cho tới khi đại hội đó bế mạc, đảng ta vẫn cương quyết đi một chân cho tới cùng!

Tín hiệu về đổi mới chính trị được phát ra từ năm ngoái, nhưng phát ra ở bên Tầu! Tháng Tám năm 2010, ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Quốc đi thăm thành phố Thẩm Quyến, đã đề cập tới vấn đề này. Thẩm Quyến là nơi thí nghiệm đầu tiên chương trình cải tổ kinh tế của Cộng Sản Trung Hoa. Nhân dịp họ kỷ niệm 30 năm thành lập đặc khu kinh tế Thẩm Quyến, ông Ôn Gia Bảo tới thăm đã báo động rằng việc đổi mới kinh tế mà Thẩm Quyến đi tiên phong, sẽ bị ngưng trệ, nếu Trung Quốc không bước đi thêm cái chân thứ hai, là thay đổi chính trị!

Tháng Ba năm nay, sau khi bế mạc phiên họp của Quốc Hội ở Bắc Kinh, ông Ôn Gia Bảo nhắc lại một lần nữa. Trong một cuộc họp báo, ông Ôn Gia Bảo còn nói rõ hơn về nhu cầu cải tổ chính trị, gia tăng các quyền tự do cho dân chúng. Ông nói chỉ có thay đổi chính trị mới giải quyết được những nỗi oán than của dân về lạm phát, tham nhũng, môi trường sống bị hủy hoại, và sự chênh lệch về giầu nghèo mỗi ngày một lớn hơn.

Trong một cuộc bút đàm trên mạng, ông Ôn Gia Bảo đã nhấn mạnh tới vấn đề hạn chế quyền lực của nhà nước. Ông nói quyền hành của các quan chức lớn quá, mà không có định chế nào kiểm soát các giới hạn cả; đó là một nguyên nhân gây ra tham nhũng.

Cái gì của Ôn thì trả lại cho Ôn, cho nên trong cuộc tọa đàm ở Hà Nội ông Phó Viện Trưởng Viện Chiến Lược Bùi Tất Thắng đã nhắc lại những ý kiến của ông Ôn Gia Bảo, tức là “nếu không có sự đảm bảo về cải cách thể chế chính trị thì các thành tựu cải cách kinh tế sẽ biến mất.” Ông Ôn Gia Bảo còn nói: “Muốn trừ bỏ cái đất sống của nạn tham nhũng, chúng ta cần thay đổi những định chế và hệ thống chính trị.” Cho nên, các ông khác ở Hà Nội cũng nói giống hệt như vậy, như khi nói cần đổi mới chính trị để “hạn chế được tầm ảnh hưởng của một vài cá nhân đến lợi ích toàn cục” (Dương Xuân Ngọc) hoặc để “khắc phục tình trạng tha hóa, yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có trọng trách cao ở các cấp” (Thiếu tướng Lê Văn Cương).

Tướng Lê Văn Cương, nguyên viện trưởng Viện Chiến Lược và Khoa Học, Bộ Công An cũng nói giống hệt như ông Ôn Gia Bảo: “Quyền lực không được giám sát là quyền lực sẽ bị tha hóa. Ðó là tất yếu và không có ngoại lệ.”

Như ta thấy, những lời Ôn gia Bảo nói ở Thẩm Quyến, Bắc Kinh, đã được lập lại ở Hà Nội trong cái “hầm tư duy” do Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam cho phép mở ra. Ðây là một truyền thống lâu đời của đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ năm 1950, Hồ Chí Minh đã theo đường lối đó. Khi Bác Mao hô “chỉnh huấn” thì Hồ cũng hô chỉnh huấn. Khi Mao hô “lao cải” thì Hồ cũng thành lập các trại tù “cải tạo lao động.” Mao đấu tố địa chủ thế nào thì Hồ cũng cải cách ruộng đất như vậy. Khi Mao hô “Bách hoa tề khai, bách gia tranh minh” thì Hồ cũng phát động “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng.” Tóm lại, cho đến nay đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn trước sau như một tiếp tục sự nghiệp “ăn theo, nói theo” đã được Hồ Chí Minh mở đường từ 60 năm qua! Bác đã nói theo Mao, giờ các cháu cũng biết nói theo Ôn!

Ðiều đáng chú ý là bữa Tháng Ba vừa qua, ông Ôn Gia Bảo đã lập lại các ý kiến về đổi mới chính trị sau khi đã nghe ông Ngô Bang Quốc, chủ tịch Quốc Hội, nhấn mạnh trong bài diễn văn khai mạc khóa họp, rằng đảng Cộng Sản Trung Hoa không chấp nhận cải tổ chính trị! Ông này còn dọa các đại biểu Quốc Hội rằng nếu thay đổi thì sẽ sinh loạn! Ngô Bang Quốc nói Trung Quốc không thể “sao chép” các thể chế chính trị dân chủ, mà ngược lại, phải “củng cố và nâng cao quyền lãnh đạo của đảng, phải làm cho quyền lãnh đạo này thêm chặt chẽ và hoàn hảo hơn!”

Như vậy thì đảng Cộng Sản Trung Quốc theo Ôn Gia Bảo hay theo Ngô Bang Quốc? Có lẽ họ theo cả hai. Nói theo Ôn, làm vẫn theo Ngô! Nên nhớ, Ngô Bang Quốc đứng hàng thứ hai trong Bộ Chính Trị, trên Ôn Gia Bảo và chỉ dưới Hồ Cẩm Ðào!

Ở Việt Nam, cái hầm tư duy của đảng cũng biết giữ mồm giữ miệng. Khi nói về đổi mới chính trị, ông tướng công an Lê Văn Cương không quên nhấn mạnh rằng “...đổi mới chính trị mạnh mẽ là để góp phần củng cố vai trò lãnh đạo của Ðảng!” Ðó là tóm tắt mục đích cuộc hội thảo trong hầm này: Ðổi mới chính trị làm sao cũng được, miễn là vẫn chỉ có một đảng thống trị!

Cái hầm tư duy được mở hé ra cho dân ngửi chút mùi “đổi mới chính trị.” Nhưng người dân Hà Nội vẫn chỉ ngửi thấy một thứ mùi từ bên trong cái hầm đó. lúc nào cũng vẫn một mùi cũ: Bên Tầu nói sao, bên ta nói vậy! Và mục đích vẫn là: Củng cố đảng!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ngày trước sợ ai? Bây giờ ai sợ?

Võ Long Triều
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 cả miền Nam Việt Nam sống trong lo âu sợ hãi! Công chức quân nhân bị đày đi tù khổ sai dưới chiêu bài “học tập cải tạo,” một sự trả thù, trấn áp, hôi của, giống như giặc thời thượng cổ, kẻ thắng trận có quyền cướp nhà, lấy đất, thu dọn chiến lợi phẩm chở về Bắc ngày nầy sang tháng khác, thậm chí máy in không chở được cũng tháo gỡ chở đi.
Image
Hình ảnh công an CSVN đàn áp dân chúng. (Hình: baotoquoc.com)

Dân chúng miền Nam, người thì bị cưỡng bức phải đi ‘kinh tế mới,” những nơi đất đai cằn cỗi, người thì bị buộc làm “lao động xã hội” mỗi tháng bao nhiêu ngày, mỗi gia đình bao nhiêu người. Rồi lại có tin đồn con gái miền Nam sẽ bị ép gả cho thương phế binh miền Bắc. Kết quả những cập trai gái hối hả lấy nhau để tránh cảnh đọa dày tình cảm.

Xã hội miền Nam đang sống trù phú bỗng dưng bị thiếu gạo ăn, toàn bộ nhu yếu phẩm được phân phối theo tiêu chuẩn. Tiền bạc đổi thành giấy lộn với hình Hồ Chí Minh không có vàng bảo chứng.

Trong tình huống đó miền Nam khởi sự có chống đối, cộng sản bắt người bừa bãi với khẩu hiệu “Bắt lầm hơn tha lầm.” Cái gọi là tòa án nhân dân xử 5, 10, 15, 20 năm đến chung thân, tử hình, tòa án không biết đếm số lẻ. Những năm tháng đó khu tử hình của khám Chí Hòa đầy người, sáng nào cũng có xe Volkswagen rè rè vô chở người đi hành quyết. Tôi bị giam trong đó khá lâu nhưng số may còn sống sót.

Sự đô hộ của cộng sản Hà Nội kéo dài với một chế độ hà khắc, khiến cho hàng trăm ngàn dân miền Nam liều chết bỏ xứ vượt biên, chấp nhận năm phần sống mười phần chết. Thời đó có một câu truyền miệng khắp xứ: “Một là nuôi cá, hai là nuôi má, ba là má nuôi.” Có nghĩa là nếu chết trên biển cả thì làm mồi cho cá, còn thoát được tới bến bờ bất cứ xứ tự do nào thì ra sức lao động kiếm tiền gởi về nuôi má, và nếu bị bắt lại ngồi tù thì má xách cơm nuôi.

Sự sợ hãi và tình trạng đói khổ kéo dài cho đến năm 1986, Tổng Bí Thư Trường Chinh tuyên bố “đổi mới để sống còn” thì người dân bắt đầu hy vọng thấy có ánh sáng. Tuy nhiên cái ánh sáng đó chiếu rọi trên người dân thì ít mà nó chiếu trên đảng viên cán bộ nhiều hơn nhờ hối lộ tham nhũng đều trời. Sự cai trị hà khắc, độc đoán độc tài kéo dài một phần tư thế kỷ!

Mãi đến đầu thế kỷ XXI sự sợ hãi mất dần vì sự bất công đàn áp, cướp đất, đuổi nhà, bất kể nhà đất của “gia đình cách mạng” hay của cán bộ về hưu. Từ đó có những cuộc biểu tình chống đối trước cửa Quốc Hội, trước dinh thự nhà cầm quyền, hay những nơi nào “dân oan” có thể tụ tập để phản đối. Trong số dân đó có đảng viên hưu trí mang mề đay đỏ ngực.

Công nhân hãng xưởng biểu tình đòi tăng lương, tố cáo chủ nhân người ngoại quốc cấu kết với nhà cầm quyền bóc lột nhân công. Mỗi năm xảy ra hàng ngàn cuộc đình công trên khắp xứ.

Công Giáo phản đối cướp đất nhà thờ, đàn áp giáo dân, bắt bớ đánh đập tu sĩ. Có lần giáo dân Công Giáo xuống đường đến 250,000 người, các hãng thông tấn ngoại quốc ước lượng gần 500,000 người.

Phật Giáo bị cấm đoán, giam cầm, quản thúc thượng tọa, đại đức.

Trí thức bất bình phê phán nhà nước công khai, hoặc bằng những trang blog cá nhân trên “Internet.” Những kẻ đó cũng bị tù đày, như blogger Ðiếu Cầy là điển hình. Phong trào dân chủ 8406 thành hình, bắt bớ càng đông.

Quân nhân, cựu tướng lãnh, đảng viên cao cấp phản đối nhà nước bán đất, dâng biển, cho thuê rừng.

Tóm lại sự sợ hãi biến thành sự phản đối và tố cáo nhà cầm quyền.

Hà Nội biết rõ, chẳng những dân chúng bất mãn mà đảng viên cũng chống đối. Ðứng trước tình trạng bất ổn ngày càng gia tăng, nhà cầm quyền Hà Nội khởi sự lo âu, lúng túng. Họ muốn tồn tại nắm giữ quyền hành lâu dài để thu gom của cải bất chính nên họ phải nặng tay đàn áp nhiều hơn. Bây giờ tình thế đổi ngược, dân, quân, trí thức không còn sợ nhà nước mà trái lại nhà nước lo sợ cho chế độ độc tài độc đảng có thể bị quần chúng đứng lên đạp đổ chưa biết lúc nào.

Sự lo sợ của nhà cầm quyền thể hiện bằng những cuộc bắt bớ vô cớ, phi lý, bằng những cuộc xử án phi pháp, bằng những sự hù dọa buộc dân đến sở công an làm việc, bằng sự ban hành điều 88 bộ hình luật, bằng những chỉ thị cho công an và quân đội phải cảnh giác theo sát những hiện tượng “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến.”

Gần đây nhứt, sau những biến cố chính trị ở Châu Phi lật đổ các chế độ độc tài, có đổ máu và không đổ máu, làm cho Hà Nội càng run sợ. Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế công khai kêu gọi xuống đường, và dùng điện thoại di động liên lạc để tập hợp. Công an không dám bắt ông Quế sợ đông đảo quần chúng xuống đường viện cớ đòi trả tự do cho BS Quế. Trước kia, một lời kêu gọi xuống đường lật đổ chính phủ như thế sẽ bị vào tù lãnh án chung thân hay tử hình ngay. Bây giờ Linh Mục Nguyễn Văn Lý hết phép dưỡng bệnh tại gia, công an không dám bắt trở lại, sợ ngài chết trong tù sẽ là nguyên do biểu tình lớn trong tang lễ của ngài. Nhà nước ra lệnh kiểm tra lý lịch khi đăng ký mua thẻ điện thoại di động trả tiền trước, đồng thời đóng cửa gần 500 cơ sở cho thuê mướn sử dụng Internet. Mục đích là ngăn chận tin tức và hình ảnh trong nước lọt ra ngoài và tin tức bên ngoài lọt vào trong xứ, làm sôi sục, tạo lửa đốt cháy chế độ.

Sự sợ hãi của đảng cộng sản Hà Nội còn thể hiện bằng thỏa ước “Hợp Tác Công Lực” ký kết giữa giám đốc công an Hà Nội và công an Trung Quốc. Phòng khi nào công an Hà Nội bị tràn ngập, hoặc không chấp nhận đàn áp dân lành theo lệnh của đảng, thì các nhà lãnh đạo Việt Nam nhân danh sự hợp tác công lực đó mà viện binh từ Mẫu Quốc Trung Hoa.

Cũng nhân cơ hội Hà Nội tỏ bày sự lo sợ đó, phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Tàu Cộng sang Việt Nam hâm nóng 16 chữ vàng, trong đó có hợp tác toàn diện. Nghĩa là kinh tế, quân sự, ngoại giao, toàn bộ những gì liên quan đến người đồng chí “tốt” thì cũng là vấn đề liên can đến người anh em “tốt” cần phải được hỗ trợ.

Mặc dù mọi biện pháp an toàn đều được Hà Nội chuẩn bị gần như chu đáo, nhưng còn vận nước và lòng dân, Hà Nội hoàn toàn không có khả năng ngăn chận khi nó xẩy đến. Một cuộc nổi dậy hy sinh có đổ máu, chừng đó công an và quân đội sẽ đứng về phía nhân dân bảo vệ quốc gia, chống Trung Quốc xâm lăng, lật đổ chế độ độc tài đảng trị là điều rất hữu lý.

Ðã có chỉ dấu tuổi trẻ trong nước dấn thân đòi phải thay đổi: gần đây nhứt là LS Cù Huy Hà Vũ, sinh viên Nguyễn Anh Tuấn, LS Lê Quốc Quân, BS Phạm Hồng Sơn... và còn bao nhiêu tuổi trẻ trong tù và ngoài đời vẫn tích cực tranh đấu đòi trả lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho dân tộc Việt Nam.

Nhìn về lịch sử của xứ người, ta thấy có nhiều sự thay đổi chế độ bắt nguồn từ sinh viên, trí thức, và những cuộc đàn áp càng thô bạo càng xui khiến những cuộc cách mạng càng đến mau. Ông Hoàng Louis XVI của Pháp ra lệnh cho giám đốc cảnh sát Fouchet bỏ tù và giết hại nông nô, kết cuộc Louis XVI và hoàng hậu lên đoạn đầu đài tại công trường “cách mạng” (place de la revolution), nay là Concorde.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Quyền lực không qua mặt luật pháp
Ngô Nhân Dụng
Vụ ông Dominique Strauss-Kahn bị bắt giữ cho thấy trước một hệ thống pháp luật chạy bình thường, mọi người đều bình đẳng. Giữa một “bồi phòng” vô danh thuộc lớp người “nghèo hèn” và một nhà chính trị có danh vọng quốc tế, không ai hơn kém ai.

Chúng ta không nên xử án ông trong công luận trước khi ông được ra tòa, không cần phê phán về đời tư của ông, nhưng vẫn có thể rút ra những bài học guồng máy công lý.

Dominique Strauss-Kahn đang là giám đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) với thẩm quyền sử dụng hàng tỷ đô la; ông có khả năng cứu nguy nhiều nước ra khỏi nguy cơ phá sản (ông đang thi hành các quyền đó trước khi bị bắt giam) với những món tiền cho vay hàng trăm triệu đô la Mỹ, ảnh hưởng đến công việc và nồi cơm hàng trăm triệu con người. Việc bắt giữ ông ở New York vào tối Thứ Bẩy vừa qua, có thể nói không ngoa, đã làm rung chuyển nhiều thủ đô trên thế giới. Ðáng lẽ ông đã tới Berlin ngày hôm sau để gặp bà Thủ Tướng Ðức Merkel vào hôm sau để thuyết phục bà ủng hộ việc cho Hy Lạp vay thêm tiền lần nữa để cứu kinh tế nước này khỏi suy sụp. Ngày Thứ Hai đáng lẽ ông đã tới Bruxelles để họp với các vị bộ trưởng tài chánh Âu Châu quyết định việc chi thêm tiền cho Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan và Bồ Ðào Nha. Ông có thể sẽ thuyết phục họ rằng cứu ba quốc gia này tức là cứu các nước dùng đồng Euro; nếu không cứu thì kinh tế Pháp, Ý, Áo, Tây Ban Nha sẽ gặp nguy hiểm! Nếu kinh tế Hy Lạp lâm cảnh khủng hoảng vì không đủ tiền trả nợ thì tất cả hệ thống ngân hàng trên thế giới sẽ bật đèn đỏ báo động; hậu quả là các nước khác cũng sẽ khó đi vay nợ! Ở Bắc Kinh, Brasilia, người ta cũng xôn xao; không phải vì sợ khủng hoảng tài chánh nhưng họ đã bắt đầu lên tiếng về việc tuyển chọn giám đốc mới cho IMF. Hai nước này muốn mở rộng cho nhiều quốc gia chứ không nên chỉ chọn người từ Âu Châu (ý nói Á Châu và Châu Mỹ La Tinh cũng nhiều nhân tài sẵn sàng ứng cử)!

Tóm lại, Dominique Strauss-Kahn là một nhân vật rất quan trọng! Chắc ông biện lý và ông chỉ huy trưởng cảnh sát New York đã phải suy nghĩ rất kỹ trước khi thi hành việc bắt giữ một người đầy quyền lực như thế. Chắc họ phải phỏng vấn người phụ nữ tố cáo ông Strauss-Kahn cưỡng ép tình dục rất kỹ để thấy có đủ lý do để tạm giam một nhân vật quốc tế. Nếu bắt giữ sai lầm, họ có thể bị khiển trách, ghi vào hồ sơ, sẽ khó được thăng thưởng sau này, có khi còn bị mất việc nữa. Hành động bắt ông Strauss-Kahn đã diễn ra rất gấp và bất ngờ.

Người tố cáo, cô nhân viên khách sạn Sofitel nói cô bị ông Strauss-Kahn tấn công vào buổi chiều khi cô vào dọn phòng. Ðến tối ông đã lên máy bay ngồi vào ghế rồi mới bị mời ra khỏi máy bay, và bắt giữ ngay. Người phụ nữ tố cáo ông là một di dân từ Phi Châu tới, 32 tuổi, có báo nói là cô góa chồng và có một con gái 16 tuổi, có báo nói cô đang sống với chồng, con ở Bronx. Luật sư của cô cho biết cô đã được đưa tới bệnh viện để chữa vết thương nhẹ. Nhưng luật sư của ông Kahn nói không hề có việc sử dụng bạo lực trong vụ này, nghĩa là nếu có chuyện gì xẩy ra còn để lại vết tích thì đó là do sự thỏa thuận của hai bên.

Nếu ra tòa, luật sư của bên tố cáo và của Biện Lý Cuộc New York có thể mời những nhân chứng để cho thấy trong quá khứ ông Strauss-Kahn đã có tiền lệ đối xử với phụ nữ một cách không xứng đáng.

Một người mới tái xuất hiện ở Pháp là cô Tristane Banon, đã từng tố cáo bị ông Strauss-Kahn tấn công trong khi ông mời cô đến phỏng vấn ông vào năm 2002. Năm 2007 cô đã nói chuyện trên một đài truyền hình ở Pháp, mô tả chi tiết cảnh cô giằng co rồi chạy thoát. Bà mẹ của cô Banon, một nhà chính trị cũng thuộc đảng Xã Hội Pháp, hôm Thứ Hai vừa qua kể, năm 2002 bà đã khuyên con gái không nên làm to chuyện. Lý do vì cô sẽ bị tai tiếng trong nghề làm báo, và sẽ khó kiếm việc làm. Hơn nữa, bà nói, chính ông Strauss-Kahn đã ngỏ lời xin lỗi rồi. Nhưng, bây giờ, sau khi vụ New York đăng đầy trên các báo ở Pháp, cô Banon đang nói cô có thể sẽ kiện ông Kahn.

Một nhân chứng khác nữa là bà Piroska Nagy, một nhân viên Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dưới quyền ông Kahn. Năm 2008, bà khai đã bị ông đã sách nhiễu tình dục, nhưng một hội đồng điều tra của IMF đã kết luận ông không có tội vì mọi liên hệ đều do hai bên thỏa thuận. Nếu Biện Lý Cuộc New York mời được những nhân chứng như trên, họ có thể đưa ra tòa để buộc tội, nói về tật xấu của ông Kahn.

Ngược lại, luật sư của ông có thể tìm cách chứng minh những gì xẩy ra trong khách sạn Sofitel ở New York vào Thứ Bẩy tuần trước cũng là một cuộc trao đổi có thỏa thuận. Ðây là một cuộc tranh luận theo lối “Anh nói thế này, ả nói thế khác.” Kết quả vụ án sẽ tùy thuộc vào những chứng cớ được đưa ra, do tài điều tra và lý luận của các luật sư.

Nhưng phản ứng trong dư luận nước Pháp không giản dị như ở Mỹ. Cựu Bộ Trưởng Văn Hóa Jack Lang mô tả vụ bắt giữ ông Kahn giống như một “cuộc hành hình người da đen” (lynching) để ám chỉ cảnh sát Mỹ có thể kỳ thị một người Pháp. Ông Bernard Debré nhận xét việc đưa ra cảnh ông Strauss-Kahn bị còng tay, râu ria chưa cạo, là một hình ảnh “sỉ nhục đối với IMF và sỉ nhục đối với công nhân Pháp.” Một đạo luật ở Pháp, từ năm 2002, đã cấm không được đưa hình ảnh một nghi can bị còng tay, vì như vậy là vi phạm nguyên tắc mọi người đều được coi là vô tội trước khi tòa tuyên án.

Nước Mỹ không có một đạo luật như vậy; mà có lẽ nên có. Vì một người với hình ảnh bị còng tay có thể sẽ tiêu tan sự nghiệp. Tai hại không khác gì bị tuyên án là có tội. Trong khi chưa có đạo luật tương tự, cảnh sát Mỹ không có quyền cấm các nhà báo không được chụp hình một nghi can khi giải ra tòa, dù người đó bị còng tay. Ở Mỹ người ta đã thấy hình ảnh những đại phú gia hoặc nhân viên cao cấp của các ngân hàng lớn bị còng tay đưa ra tòa vì bị tình nghi trốn thuế. Nghi can sau đó có thể thỏa thuận nộp tiền phạt để khỏi ra tòa, nhưng hậu quả của hình ảnh nhục nhã đó không bao giờ gột bỏ được.

Nhưng đối với dư luận bên Pháp, nhiều người đã đưa ra ý kiến là ông Strauss-Kahn đã bị gài bẫy. Ông đã nổi tiếng là người “đào hoa.” Trước đây hai tuần, được báo Libération phỏng vấn, Strauss-Kahn đã đề cập tới vấn đề này. Tờ báo hỏi nếu tranh cử thì ông nghĩ sẽ gặp những khó khăn thử thách nào. Ông nói rằng khi ông chính thức ra ứng cử (phải ghi danh trong Tháng Bẩy năm 2011) có ba điều sẽ được đối thủ dùng để đánh lại ông: Tiền, đàn bà, và gốc Do Thái (đương kim Tổng Thống Sarkozy cũng gốc Do Thái). Ông Kahn nêu lên cả một thí dụ: ông có thể bị gài bẫy tình dục, “một phụ nữ được trả 500,000 hay một triệu đồng Euro để tố cáo tôi hãm hiếp cô ta trong xe hơi chẳng hạn!” Ông Kahn nói thẳng với nhà báo: “Tôi yêu phụ nữ, thế thì sao nào, Alors?” Theo nhật báo Anh quốc The Telegraph, ông Henri de Raincourt, một bộ trưởng trong chính phủ Sarkozy tuyên bố ông không gạt bỏ giả thuyết ông Strauss-Kahn bị gài bẫy! bà Michelle Sabban, một nghị viên vùng Paris nói, bà tin chắc đây là một vụ âm mưu có tính chất quốc tế, vì nhiều người muốn ông phải ra khỏi IMF! Nhưng đằng nào thì cuối năm nay ông cũng hết nhiệm kỳ.

Chính Tổng Thống Sarkozy đã đề cử ông Kahn vào chức vụ giám đốc IMF bốn năm trước đây, nhiều người cho đó là một cách để đưa một đối thủ chính trị ra khỏi nước Pháp!

Ông Strauss-Kahn đang có triển vọng sẽ được đảng Xã Hội đưa ra làm đối thủ của Tổng Thống Nicolas Sarkozy trong cuộc tranh cử sang năm, mà trong tuần trước điểm dư luận của ông lên cao hơn đương kim tổng thống. Ông thuộc Ðảng Xã Hội Pháp có khuynh hướng trung-tả, nhưng bản thân ông lại được giới bảo thủ bên hữu tin tưởng vì thành tích khi làm bộ trưởng Kinh Tế, đã vận động và đưa nước Pháp vào khối sử dụng đồng Euro làm tiền tệ chung. Vì thế ông có nhiều triển vọng đắc cử tổng thống vào Tháng Tư năm tới. Sau vụ rắc rối này, triển vọng làm một ứng cử viên tổng thống của ông Kahn có lẽ sẽ chấm dứt, mặc dù tương lai chính trị của ông vẫn còn, nếu đóng vai bộ trưởng.

Biện lý có thể sẽ đòi tòa tuyên án nặng nhất, vì hệ thống tư pháp ở Mỹ thường đứng về phía những người thấp cổ bé miệng trong xã hội. Những người có quyền thế thường bị đề nghị án nặng hơn mức trung bình, nếu nạn nhân thuộc lớp người địa vị yếu kém. Ngoài ra, trong vụ này còn có một khía cạnh khác, là mối tương quan bất bình đẳng giữa người đàn ông và người đàn bà trong xã hội. Người Mỹ rất bén nhậy trong vấn đề này, và hệ thống công lý ở Mỹ thường thiên về phía phụ nữ khi họ tố cáo bị cấp trên sách nhiễu tình dục. Văn hóa ở các nước cổ truyền như tại Á Châu và Âu Châu thì không nhậy cảm như vậy; có lẽ vì thế cô Banon đã giữ im lặng trong nhiều năm qua. Quan tòa ở New York từ chối không cho ông tại ngoại hậu tra, vì sợ khi ông ra khỏi nước Mỹ thì sẽ khó kêu ông trở lại được, như trường hợp nhà đạo diễn Roman Polanski, từng bị tố cáo về tội tình dục, đang còn ở Âu Châu và khó bị dẫn độ về nước Mỹ.

Tuy nhiên, văn hóa các nước đều đang thay đổi, phụ nữ Âu Châu và Á Châu ngày càng mạnh bạo hơn. Khi một viên công an ở Việt Nam đe dọa và sách nhiễu tình dục một người đàn bà sau khi đã bắt giam chồng của bà (đã chết trong khi bị giam), thì chính người phụ nữ đó đã công khai lên tiếng tố giác. Chúng ta không ngạc nhiên khi hai người đầu tiên ở Âu Châu lên tiếng đề nghị ông Kahn từ chức là hai phụ nữ. Bà Maria Fekter, bộ trưởng Tài Chánh Công Nhân Áo nói tại Bruxelles rằng ông Kahn đang làm hại cho uy tín của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Bà Elena Salgado, bộ trưởng Tài Chánh Tây Ban Nha nói rằng nếu cần bày tỏ thái độ, bà sẽ ủng hộ người đàn bà bị tấn công, nếu đúng là có việc tấn công. Ðiều may mắn cho IMF là họ không phải trả tiền án phí trong vụ này, vì ông Strauss-Kahn đi New York về việc riêng, chỉ để thăm con gái ông đang học tại đây, và ông tự trả tiền khách sạn ($3,000/đêm).

Trong khi chờ đợi ra tòa để được thụ lý vào ngày Thứ Sáu tới, ông Strauss-Kahn vẫn được đối xử như một nhân vật quan trọng trong nhà tù ở đảo Rikers, New York. Trong một nhà giam với hàng chục ngàn tù nhân, ông được ở phòng riêng, ăn cơm riêng. Cảnh sát nói họ muốn bảo vệ ông, vì các tù nhân ở Mỹ rất ghét những người bị buộc tội về tình dục. Ngay ở trong nhà tù, hệ thống công lý cũng lo đến quyền lợi của người bị giam cầm. Tại nhà tù này, năm ngoái, một người gác đã bị án 6 năm tù vì ra lệnh đánh một tù nhân. Theo Biện Lý Cuộc, thì nhân viên này đã bảo một thanh niên đánh một thanh niên khác, vì hắn bước ra khỏi hàng. Vào Tháng Hai năm nay, ban giám đốc nhà tù này đã phải bồi thường gia đình một tù nhân bị chết, sau khi đánh nhau với lính gác.

Chúng ta không bao giờ có một hệ thống công lý hoàn hảo. Nhưng một hệ thống tư pháp có lo cho những người yếu thế, bảo vệ sự công đẳng giữa người giầu và người nghèo, giữa người nam và nữ, giữa người gác tù và người bị giam, đó là những điều kiện tối thiểu. Như vụ một du học sinh Việt Nam được tòa án ở San Jose bảo vệ, cảnh sát phải bồi thường cho anh trên 200,000 đô la, vì một cảnh sát đã có cử chỉ bạo hành với anh. Mặc dù anh không phải là công dân Mỹ nhưng quyền lợi của anh vẫn được bảo vệ, vì anh là một con người. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, đó là nguyên tắc chúng ta phải giữ gìn.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Trung Quốc dân chủ hóa được hay không?
Ngô Nhân Dụng
Tuần trước, mục này đã nhắc đến cuộc thảo luận (gọi là tọa đàm) ở Hà Nội nói đến nhu cầu đổi mới chính trị tại Việt Nam, vì nếu không thay đổi chính trị thì kinh tế sẽ không tiến được.

Tất cả những lời phát biểu (được đưa lên một mạng của đảng Cộng Sản) quanh đi quẩn lại chỉ tóm lược các ý kiến mà ông Ôn Gia Bảo đã nói công khai ở bên Tầu, từ tháng 8 năm ngoái tới tháng 3 năm nay.

Một điểm “nổi bật” trong cuộc tọa đàm này chính là những lời không được nói tới, ít nhất là không được tường thuật! Các diễn giả chỉ nói rất hùng hồn đến việc “đổi mới chính trị” một cách chung chung, nhưng không thấy ai dám đả động đến những chữ “dân chủ hóa.” Ðiều đó cũng có thể đoán trước được; vì chính ông Ôn Gia Bảo cũng vẫn tránh không nhắc đến ba chữ kỵ húy này khi nói chuyện với đồng bào của ông. Chỉ có ông Ngô Bang Quốc, khi nói ngược lại, thì trình bày những điều rất cụ thể, thí dụ, ông nói Trung Quốc không thể chấp nhận chế độ đa đảng tranh cử, cũng không chấp nhận bầu lên một Quốc Hội giống như các nước tây phương.

Trước đây Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu đổi mới kinh tế sau khi Ðặng Tiểu Bình đã thí nghiệm bên Tầu. Bây giờ nghe bên Bắc Kinh người ta nói đến “đổi mới chính trị,” ở nước ta cũng lập lại giống hệt!

Nhưng liệu Cộng Sản Trung Quốc có thể thực hiện được việc thay đổi về chính trị hay không? Có thể trả lời ngay, việc dân chủ hóa nước Trung Hoa sẽ vô cùng khó khăn. Vì họ sẽ gặp rất nhiều chướng ngại xuất phát ngay trong nội bộ. Trong 30 năm thay đổi kinh tế, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã gieo mầm và nuôi dưỡng những thế lực bảo thủ chống lại mọi thay đổi chính trị. Họ nằm trong các doanh nghiệp nhà nuớc và thế lực của họ hiện nay càng ngày càng mạnh hơn! Ông Tập Cận Ðình lên làm tổng bí thư, dù có muốn cũng khó lòng dân chủ hóa nước Trung Hoa.

Khi ông Ôn Gia Bảo báo động vào tháng 8 năm ngoái rằng Trung Quốc phải thay đổi về chính trị thì mới giữ được các thành quả do cải tổ kinh tế mang lại, người ngoài có thể rất ngạc nhiên. Nhưng các người theo dõi tình trạng kinh tế ở Trung Quốc thì biết rằng ông đang nói một nhu cầu khẩn thiết. Nhìn từ bên ngoài, kinh tế Trung Quốc đang phát triển gần 10% một năm, không có nhu cầu thúc bách nào bắt phải thay đổi. Nhưng nhìn rõ hơn vào tình trạng kinh tế Trung Quốc, thì người ta thấy chứa đầy mâu thuẫn nội tại, không thể giải quyết được nếu không thay đổi cơ chế. Ông Ôn Gia Bảo đã nói đến nhu cầu đặt ra những giới hạn trên quyền lực của những người đang cầm quyền như chính ông ta, nói đến nhu cầu phải để cho người dân được phê phán, được phát biểu ý kiến, và được bầu những người đại diện đích thực cho quyền lợi của họ lên nắm quyền. Nói cách khác, là phải dân chủ hóa.

Giới lãnh đạo như ông Ôn Gia Bảo biết đang có một mối mâu thuẫn ngày càng gay gắt là quyền lợi xung khắc giữa các doanh nhân ngoài đảng và những người nắm guồng máy kinh tế trong đảng. Như Giáo Sư Hoàng Á Sinh thuộc Ðại Học MIT thường nêu lên, kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng trong thập niên 1980 chính là nhờ giới tư doanh, nhưng sau vụ tàn sát ở Thiên An Môn, Cộng Sản Trung Hoa đã chuyển trục, lo củng cố các doanh nghiệp nhà nước và bỏ rơi, phải nói là kỳ thị các xí nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp nhà nuớc ngày càng lớn, lại được đảng Cộng Sản ưu đãi bằng cách cho vay tiền dễ dãi với lãi suất nhẹ. Trong khi đó, các xí nghiệp tư nhân phải đi vay trong một hệ thống “ngân hàng không chính thức” với lãi suất cắt cổ, cao gấp 10 lần lãi suất mà các doanh nghiệp nhà nuớc phải trả. Trong ba năm qua, đảng Cộng Sản lại bơm thêm tiền kích thích kinh tế, đi qua các doanh nghiệp nhà nuớc, tức là nuôi béo những thế lực bảo thủ nhất và kém hiệu năng nhất trong nền kinh tế. Các xí nghiệp tư rất năng động, thì đã bị bỏ rơi từ hai chục năm nay, nhưng vẫn cố tiến lên.

Một hình ảnh tiêu biểu cho tình trạng các xí nghiệp tư là thành phố Ôn Châu trong tỉnh Chiết Giang, với gần 8 triệu dân nhưng đã có 300 ngàn xí nghiệp nhỏ và trung (MSE). Trước đây Ôn Châu chỉ là một làng đánh cá, khi cả vùng này bị đảng Cộng Sản bỏ rơi vì ở bờ biển với núi non bao bọc, rất dễ bị quân đội Trung Hoa Quốc Gia tấn công. Ngay cả khi Ðặng Tiểu Bình cải tổ kinh tế, vùng này vẫn tiếp tục bị bỏ rơi. Chính người dân ở đây đã đứng ra mở mang kinh doanh và làm giầu. Ôn Châu đã trở thành thủ đô của nghề sản xuất máy lửa (hộp quẹt máy), chiếm 70% thị trường thế giới. Ôn Châu sản xuất 20% số giầy dép cho hơn một tỷ dân ở Trung Quốc, mỗi ngày làm ra 40,000 đôi giầy, tức là mỗi giây đồng hồ một đôi.

Một người đã đóng góp vào việc biến Ôn Châu thành thủ đô giầy dép ở Trung Quốc là Lý Viên Niên, bắt đầu kinh doanh năm 1988, với số vốn do thân nhân cung cấp. Năm 1988 là lần đầu tiên Cộng Sản Trung Quốc chính thức công nhận các xí nghiệp tư có từ 8 công nhân trở lên, cho nên hầu hết các công ty tư đều được lập năm đó, mặc dù trước kia họ đã làm chui rồi! (Tại sao Bộ Chính Trị chọn con số 8 làm giới hạn? Vì Karl Marx đã viết rằng khi số công nhân lên trên 8 người thì bắt đầu sản xuất theo lối tư bản chủ nghĩa. Ông Marx viết cái đó hồi thế kỷ 19!) Năm 2007, công ty Cự Nhất (Juyi) của ông Lý đã có 3,600 công nhân và sản xuất 10 triệu đôi giầy, bán trong nước và xuất cảng sang Âu Châu.

Một doanh nhân khác tên Nam Tồn Huy (Nan Cunhui) bắt đầu sự nghiệp với nghề vá giầy, sau vay tiền bà con và rủ bạn bè, ban đêm làm thêm việc chế tạo cái chốt để bật đèn, với những đồ phế thải. Từ đó, anh lập ra công ty sản xuất đồ điện đặt tên là Chính Thái, Chint. Ðến năm 2008, theo nhật báo Financial Times, số bán của công ty Chính Thái lên tới 2 tỷ 300 triệu đô la Mỹ, trở thành công ty sản xuất đồ điện lớn nhất ở Trung Quốc.

Khi Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã quyết định thay đổi cương lĩnh để thu nhận các nhà tư bản, họ đã nhắm đến chính các nhà tư bản như ở Ôn Châu này. Năm 2007, trong số 300 ngàn xí nghiệp tư đã có gần 4,000 thành lập chi bộ đảng Cộng Sản. Trong phòng hội của công ty Cự Nhất đã treo hình của các lãnh tụ Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao, và Ðặng Tiểu Bình. Công ty Chint thì được ghi công là xí nghiệp tư đầu tiên đã thành lập một chi bộ đảng Cộng Sản, mặc dầu chủ nhân Nam Tồn Huy chưa được gia nhập đảng!

Một doanh nhân khác ở Ôn Châu mà tuần báo Economist kể chuyện, đã bỏ học năm 16 tuổi, vay mượn được 360 đồng nguyên, mua hai cái máy làm mì sợi, rồi mua cái vé xe lửa đem máy đi bán ở một tỉnh trong lục địa, được 480 nguyên. Sau 6 tháng nhiều người bắt chước, anh đổi sang nghề buôn khuy áo, rồi buôn đồ phế thải để chế ra khuy áo, rồi buôn tới máy móc để chế plastic làm khuy. Năm nay anh đang ở Hồng Kông, chuyển sang loại máy móc làm plastic cho các loại đèn LED.

Cuộc khủng hoảng tài chánh đưa tới suy thoái kinh tế ở Mỹ năm 2007, 08 đã lan khắp thế giới, ảnh hưởng tới Ôn Châu và các doanh nghiệp tư ở Trung Quốc. Chủ tịch Hội các Doanh nghiệp cỡ trung và nhỏ tại Ôn Châu, ông Chu Ðức Văn (Zhou Dewen) cho biết trong năm 2010 mức lời của các công ty này xuống tới số không! Những nhà tư bản mới ở Ôn Châu tất nhiên biết tìm cách đem tiền đi đầu tư nơi khác. Họ đã đổ tiền vào địa ốc, họ đã lập ra các quỹ đầu tư như ở Mỹ, góp vốn vào công nghê thông tin, vào mỏ than, vân vân.

Theo phòng thương mại tỉnh ủy Chiết Giang cho biết thì 90% trong số 43 triệu xí nghiệp trong cả nước Trung Hoa là các xí nghiệp tư. Những doanh nghiệp tư này sử dụng 92% số công nhân toàn quốc. Nhưng giới tư doanh ở Trung Quốc vẫn bị gạt ra ngoài hệ thống ngân hàng của nhà nước, họ phải đi vay với lãi suất cắt cổ. Theo Trung Quốc Nhật báo ở Bắc Kinh thì 57% các xí nghiệp và 89% dân chúng Ôn Châu đều đi vay tiền ngoài hệ thống ngân hàng của nhà nước. Lãi suất họ trả thường là 40% đến 80% một năm; có khi lên tới 10% trong 30 ngày (214% một năm) như tờ Economist kể, trong khi các doanh nghiệp nhà nuớc chỉ trả 6% hay 8%. Nhưng hệ thống “tín dụng chui” này sẽ giảm hiệu lực khi các cuộc kinh doanh phát triển cao hơn.

Chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản Trung Quốc ưu đãi các doanh nghiệp nhà nuớc, là bộ phận kém hiệu năng, và bỏ mặc cho giới tư doanh xoay trở lấy, mà các xí nghiệp tư thì chạy với công suất cao hơn. Tình trạng kỳ thị, phân biệt này sẽ đưa tới kinh tế trì trệ. Ðảng Cộng Sản vẫn chưa cải tổ được hệ thống ngân hàng, vì các thế lực chống đối trong đảng còn quá mạnh. Các doanh nghiệp nhà nuớc đã trở thành một đảng riêng trong đảng Cộng Sản. Họ liên hệ với nhau qua hệ thống đảng. Họ có tiền để vận động các ủy viên Trung Ương Ðảng và cả Bộ Chính Trị để bảo vệ quyền lợi của họ. Chính họ sẽ bảo vệ chính sách hiện nay, là ưu đãi quốc doanh, kỳ thị tư doanh! Nhưng chính sách đó chắc chắn sẽ đưa tới trì trệ kinh tế. Ðó chính là mối lo lớn đằng sau những lời tuyên bố muốn thay đổi chính trị của ông Ôn Gia Bảo! Nhưng ông khó có thể cải tổ chính trị, vì đụng chạm quyền lợi những người có thế mạnh nhất trong đảng.

Nếu Trung Quốc cải tổ chính trị, thì một Quốc Hội do dân bầu lên sẽ quyết định thay đổi cả chính sách kinh tế. Trong một xã hội dân chủ tự do các xí nghiệp tư cũng có quyền vận động trong các cuộc bầu cử, dân chúng được tự do phán xét và bầu chọn người đại diện. Các doanh nghiệp nhà nuớc sẽ thất thế, vì không một chính quyền dân chủ tự do nào chấp nhận tình trạng độc quyền kinh tế của họ như hiện nay. Cho nên, nhóm lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nuớc sẽ chống đến cùng việc dân chủ hóa Trung Quốc. Thế lực những người khao khát muốn dân chủ hóa thì còn rất yếu.

Khi kinh tế một nước phát triển, một giai cấp trung lưu thành hình, người ta tin rằng chính giai cấp trung lưu này sẽ trở thành động lực thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa. Nhưng giai cấp trung lưu ở Trung Quốc đã đủ lớn mạnh để làm sứ mạng đó hay chưa? Báo The Japan Times ở Nhật Bản vào cuối năm 2010 đã tìm hiểu vấn đề này trên khía cạnh thương mại, với mục đích cho các xí nghiệp ở Nhật biết thị trường tiêu thụ người Trung Hoa lớn hay nhỏ. Theo báo này thì hiện nay giai cấp trung lưu ở Trung Quốc chỉ chiếm độ 23% dân số, khoảng 300 triệu người. Tại các nước kỹ nghệ hóa đã phát triển thì giai cấp trung lưu chiếm khoảng 70% dân số. Các nhà nghiên cứu định nghĩa giai cấp trung lưu ở Trung Quốc là những gia đình có lợi tức hơn 6,000 đồng nguyên (dưới một ngàn đô la Mỹ). Với số lợi tức đó thì họ đang sống rất vất vả trong các thành phố như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, nơi mà giá một căn hộ trong cao ốc (condo) cao từ 200 ngàn đến 400 ngàn, gấp 30 lần đến 50 lần số lương một năm của một gia đình trung lưu. Thị trường tiêu thụ ở Trung Quốc trong năm 2009 chi tiêu khoảng 12 ngàn tỷ đồng nguyên, là một thị trường lớn tương đương với gần 2,000 tỷ đô la. Nhưng trong con số 12 ngàn tỷ đó, gần một nửa là chi tiêu vào việc mua nhà; số tiền còn lại rất nhỏ trong ngân sách các gia đình. The Japan Times kết luận rằng giai cấp trung lưu đang cố gắng để sống chứ không phải là một động lực chủ yếu trong xã hội Trung Hoa. Vậy tiền bạc của cải được tạo ra nhờ cuộc cải cách kinh tế trong hơn 30 năm qua đi đâu? Báo Times trong 10 năm qua đại đa số tiền tiêu thụ là do những người rất giầu có, khoảng 70 đến 80 triệu người là đảng viên hoặc có quan hệ mật thiết với đảng Cộng Sản Trung Quốc. Họ chính là những người sẽ bảo vệ chế độ chính trị hiện nay đến cùng!

Nếu tính ở Trung Quốc có gần 40 triệu xí nghiệp tư (trong đó các xí nghiệp tư do các đảng viên làm chủ có thể cũng lớn) thì con số những người muốn vận động thay đổi chính trị sẽ chỉ bằng một phần ba hay một nửa con số những người không muốn thay đổi.

Cho nên không có hy vọng gì đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ dân chủ hóa được chế độ. Như nhà tranh đấu dân chủ Ngụy Kinh Sinh đã nói khi đến thăm báo Người Việt: Ðảng Cộng Sản Trung Quốc không thể tự thay đổi được! Người dân Trung Quốc phải đứng dậy đòi dân chủ tự do!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cuộc ‘chiến tranh một phía’ với toàn dân
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Ai lãnh đạo đất nước Việt Nam hiện nay? Ðảng Cộng sản ư? Ðó là theo lý sự, theo văn kiện của đảng CS, còn trên thực tế hơn 3 triệu đảng viên chẳng có quyền hành gì.
Ban Chấp hành Trung ương 200 người (175 ủy viên chính thức và 25 ủy viên dự khuyết) vừa được Ðại hội XI cử ra ư?

Image
Người Hmong tại Việt Nam. (Hình: luongtamconggiao.wordpress.com)

Cũng chẳng phải. Mỗi năm Ban Chấp hành Trung ương họp vài ba lần, dơ tay biểu quyết vài nghị quyết do Bộ Chính Trị đưa ra, ít khi có tranh luận. Có ủy viên trung ương suốt 5 năm, chẳng mở miệng nói một câu nào. Theo nguyên tắc dân chủ tập trung, trên thực tế Bộ Chính Trị mới là cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng, cũng là cơ quan lãnh đạo duy nhất của đảng, tuy rằng trên lý thuyết Bộ Chính Trị chỉ là cơ quan cấp dưới của Ban Chấp hành Trung ương. Ðây là một nghịch lý giữa lý thuyết và thực hành, nói và làm trái ngược nhau.

Chính vì thế mà ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc Hội, nguyên ủy viên Bộ Chính Trị khóa VIII và IX đã nhận xét rằng tất cả quyền lực của đất nước, từ lập pháp, hành pháp và tư pháp, từ chính trị, kinh tế, quốc phòng đến đối ngoại và văn hóa đều tập trung trong tay chiếc ngai vàng tập thể của 14 ông vua, không chia sẻ cho một ai khác. Quốc Hội cũng chỉ là một công cụ của đảng, tức là của Bộ Chính Trị, của 14 ông vua ngồi chung một chiếc ngai vàng.

Quốc Hội khóa XIII gồm có gần 500 đại biểu sắp được bầu ngày 22 tháng 5 tới đây thực chất là sản phẩm của 14 ông vua tập thể do Ðại hội XI đầu năm nay bầu ra lựa chọn và xét duyệt.

Ðầu Xuân 2011 này, hàng loạt Quốc Hội ở Bắc Phi đã bị nhân dân nổi dậy giải thể và xóa bỏ cùng với những đảng độc quyền đẻ ra các Quốc Hội bù nhìn ấy. Họ gọi những Quốc Hội ấy là “những quốc hội ô nhục, được bầu ra một cách ô nhục trong một chế độ độc đoán ô nhục”.

Chẳng lẽ các ông vua tập thể ở Hà Nội không hề biết gì về những chuyện thời sự nóng bỏng như thế?

Gần đây một cuộc đàn áp đẫm máu ở huyện Mường Nhé, tỉnh Ðiện Biên, đã diễn ra quyết liệt. Dân quân của đảng, tự vệ của đảng, bộ đội địa phương huyện Mường Nhé cho đến bộ đội tỉnh Ðiện Biên đều là của đảng CS đã được điều động đến để đàn áp hơn 7,000 người dân tộc H'Mong, còn gọi là người Mèo, tay không, bồng bế trẻ em đi đòi lại đất, rừng, nương rẫy, mồ mả tổ tiên của họ bị tước đoạt bởi chính nhà nước này và cường hào địa phương.

Phó Thủ Tướng Trương Vĩnh Trọng đã lên tận nơi để một mặt điều hành cuộc đàn áp, đồng thời mặt khác để xóa vết tích “cuộc chiến tranh một phía” này, đồng thời chỉ đạo cho báo chí lề phải đối phó với dư luận quốc tế đang cất tiếng tố cáo mạnh mẽ cuộc đàn áp.

14 ông vua ngự trị ở Hà Nội không ngờ rằng ở Hoa Kỳ có một tập thể 20 vạn người H'Mong tỵ nạn, trong đó có nhóm trí thức, sinh viên người H'Mong theo dõi rất chặt cuộc sống của đồng bào họ ở Lào, Việt Nam và Trung Quốc. Họ có phương tiện thông tin hiện đại, máy điện toán, điện thoại cầm tay để liên lạc cập nhật với nhau, giữa trong và ngoài nước. Tổ chức Center for Public Politics Analysis (Trung Tâm Phân Tích Chính Sách Công) có uy tín ở Hoa Kỳ đã lên tiếng mạnh mẽ và theo dõi sít sao sự kiện nghiêm trọng này.

Vậy thì Bộ Chính Trị Hà Nội còn định sống với ai đây?

Với tuyệt đại đa số nông dân - chiếm 70 % số dân cả nước - các ông Vua tập thể đã cố tình bỏ qua đòi hỏi nóng bỏng là trả lại cho họ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất vốn có từ xa xưa; Quốc Hội khóa XII đã lần lữa bỏ qua không thảo luận về Luật Ðất đai đã dự định trong chương trình nghị sự; nông dân bị bạc đãi, nông nghiệp bị bỏ mặc, nông thôn biến thành bãi rác của thành thị công nghiệp hóa, công nông liên minh chỉ còn là niềm mỉa mai cay đắng, với một loạt cường hào cộng sản mới còn độc ác, tham lam gấp bội bọn cường hào thời đế quốc và phong kiến. Tỉnh nông nghiệp Thanh Hóa đang bị cơn đói to đe dọa, hàng vạn gia đình đứt bữa, trong khi đài phát thanh khoe đã xuất khẩu 2 triệu tấn gạo từ đầu năm.

Với lao động công nghiệp, các ông vua tập thể cấm việc lập công đoàn độc lập, đàn áp các cuộc đình công, luôn bênh các ông chủ quốc doanh và ông chủ tư bản nước ngoài, còn xuất khẩu lao động như buôn nô lệ ở Malaysia, Singapore, Ðài Loan, Nam Triều Tiên, Trung Ðông, Hoa Kỳ. Những thanh niên đứng ra bênh vực dân oan và dân lao động như Quốc Hùng, Huy Chương, Minh Hạnh ở Trà Vinh đã bị 9 và 7 năm tù. Giai cấp công nhân được coi trọng như thế đó.

Với trí thức, các ông vua ra lệnh cấm phản biện, từ chối nền đại học tự trị, “kiên trì” việc nhồi nhét thuộc lòng chủ nghĩa Mác-Lênin đã bị toàn thế giới loại bỏ khỏi chương trình ở mọi cấp, kiểm soát chặt Internet, bỏ tù các bloggers khảng khái, các luật sư trọng pháp luật, các chiến sỹ dân chủ can trường, từ Nguyễn Văn Hải - Ðiếu Cày, Anh Ba Sài Gòn - Phan Thanh Hải đến Cù Huy Hà Vũ, Vũ Ðức Hồi, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên và biết bao người khác.

Với tôn giáo, họ kỳ thị đạo Gia Tô, chèn ép đạo Phật, hung dữ với đạo Tin Lành, đàn áp các đạo Hòa Hảo, đạo Cao Ðài nhân danh học thuyết cộng sản vô thần, coi tôn giáo là “thuốc phiện”. Họ làm vua, ban cho các chức sắc tôn giáo nào chức nghị sỹ, nào huân chương đỏ vàng, bằng khen to nhỏ, là những cám dỗ của cuộc đời trần thế, trái ngược với tôn chỉ của giới tu hành.

Còn đối xử với các dân tộc thì sao? Các dân tộc ở Tây Nguyên đang bị tơi bời khói lửa trong đàn áp, tước đoạt rừng rẫy, gây hiểm họa bauxite; ở phía Nam, dân tộc Khơ-me và Chăm bị chèn ép đồng hóa về văn hóa, và nay ở miền Bắc là người H'Mong bị đàn áp bằng súng đạn, bằng cả trực thăng vũ trang. Thương vong hàng mấy trăm mạng. Ðây là tiêu biểu cho cuộc “chiến tranh một phía”, một bên là lính tráng, súng đạn, trực thăng, một bên là tay không, phụ nữ bồng bế trẻ em kêu gào, la khóc, đòi công lý.

Làm vua ắt phải quan tâm đến toàn dân trong thiên hạ, ắt phải lo cho mọi giới sỹ, nông, công, thương, binh. Coi tất cả các giới là đối tượng răn đe, là thù địch thì nhà vua, dù là vua tập thể đời nay, còn định sống với ai?

Dân gian đang truyền nhau rằng họ chẳng cần sống với ai, không cần chơi với giới nào hết. Họ giữ ghế, giữ quyền lực, giữ hầu bao, giữ nhóm tay chân bộ hạ, co cụm lại, dựa vào nhau, sống với nhau trong chia chác quyền hành, bảo vệ lẫn nhau để tồn tại.

Nông dân, công nhân, lao động, trí thức, giới kinh doanh tư nhân, sinh viên, học sinh, mọi tôn giáo, mọi dân tộc, họ đều thực thi các kiểu “chiến tranh một phía”. Theo một số nhà lý luận của Ngũ Giác Ðài Hoa Kỳ, “chiến tranh một phía” (one-sided war) là dùng bộ máy chiến tranh để đàn áp dân chúng tay không.

Thì ra nhóm chuyên gia Ðại học Harvard có mặt tại Hà Nội từ năm 2002 tinh đời thật. Họ nghiên cứu kỹ và đi đến kết luận là ở Việt Nam đang hình thành một chế độ kinh tế - chính trị mới có tính cách “phe nhóm cánh hẩu”. Chẳng có xã hội chủ nghĩa, chẳng có chủ nghĩa cộng sản, không có chủ nghĩa dân tộc, cũng không có chủ nghĩa tư bản đúng nghĩa, chỉ có chủ nghĩa phe nhóm, cầm đầu bởi 14 ông vua tập thể, một danh từ do chính nguyên chủ tịch Quốc Hội, nguyên ủy viên Bộ Chính Trị Nguyễn Văn An khai sinh.

Sự thật trên đây giải thích mọi sự kiện xảy ra trên đất nước Việt Nam hiện tại.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Lính đánh thuê trên mạng

* Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Sau khi viết xong bài “Tự do phát biểu và sân chơi dân chủ,” tôi đọc được một số bản tin rất thú vị trên báo chí tiếng Anh về hiện tượng Trung Quốc bỏ tiền thuê một lực lượng nhân viên đông đảo chỉ để làm mỗi một việc là viết các ý kiến phản hồi bênh vực cho đảng và chính phủ trên Internet (1). Tôi gọi đó là lực lượng lính đánh thuê trên mạng.

Trước, nhiều quốc gia, kể cả một số cường quốc Tây phương, có một lực lượng quân đội đặc biệt, gồm những tên lính đánh thuê, chủ yếu được sử dụng trong việc chinh phạt các thuộc địa. Người Việt Nam vốn có rất nhiều kinh nghiệm cay đắng về những tên lính đánh thuê ấy: Tên của chúng, từ tiếng Pháp, légionnaire, đã được Việt hóa thành “lê dương.” Ðó là những người nước ngoài, phần lớn thuộc thành phần hoặc nghèo đói hoặc bất hảo, tự nguyện đánh thuê cho Pháp. Một đội quân lê dương, gồm 600 tên, ngày 18 tháng 11 năm 1883, đã đổ bộ vào miền Bắc Việt Nam, đánh chiếm các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Tuyên Quang và Lạng Sơn. Sau đó, trong suốt mấy chục năm đô hộ Việt Nam, trong hàng ngũ lính Pháp, bao giờ bọn lính lê dương cũng có mặt. Và cũng gieo rắc không biết bao nhiêu là kinh hoàng cho dân chúng.

Bây giờ, trong đội ngũ những người trung thành với Moammar Gadhafi ở Libya, cũng có khá nhiều lính đánh thuê, chủ yếu đến từ Mali, Nigeria, Chad, Sudan và Bosnia, được gọi là Lê dương Hồi giáo.

Dù mang tên gì, ở đâu, bản chất của những tên lính đánh thuê ấy cũng giống nhau: vì tiền. Vì tiền, chủ bảo đánh đâu, chúng đánh đó. Không có chuyện lý tưởng gì cả. Tất cả chỉ vì tiền.

Một loại lính đánh thuê như vậy, dưới hình thức mới, đã được ra đời trong một không gian hoàn toàn mới: Internet. Chúng không có quân phục; không có huy hiệu hay súng ống. Chúng chỉ có bàn phím và con chuột. Ngồi trước computer, chúng cũng xông xáo và hung hăng không kém gì những tên lính lê dương của Pháp ở Việt Nam trước đây hay những tên lính lê dương Hồi giáo tại Libya hiện nay.

Những tên lính đánh thuê trên mạng được thế giới biết đến đầu tiên mang một quốc tịch chung: Trung Quốc.

Nên biết là ở Trung Quốc hiện nay có khoảng gần nửa tỉ người sử dụng Internet và hơn một nửa trong số đó thường xuyên tham gia vào các blog hoặc với tư cách người viết, hoặc với tư cách “còm sĩ,” hoặc, nhiều hơn, với tư cách người đọc. Cái khối lượng người đồ sộ ấy hàng ngày chuyền cho nhau không biết cơ man nào là thông tin và ý kiến. Dĩ nhiên, có không hiếm những thông tin và ý kiến hoàn toàn trái ý của nhà nước: chúng vạch trần bộ mặt tham nhũng và tàn bạo của giới cầm quyền; chúng hô hào cho tự do, dân chủ và quyền làm người. Ðối diện với làn sóng dư luận độc lập ấy, chính phủ Trung Quốc đã sử dụng nhiều biện pháp ngăn chận khác nhau. Hai biện pháp chủ yếu là: kiểm duyệt và tin tặc. Kiểm duyệt có nhiều hình thức, từ việc dựng tường lửa đến việc kiểm soát gắt gao các tiệm Internet-Cafe. Khi không kiểm duyệt thì họ, hoặc sai công an đến bắt, hoặc tung lực lượng tin tặc ra đánh phá.

Cả hai biện pháp ấy đều có tính chất tự vệ và thụ động. Gần đây (ghi nhận sớm nhất là từ năm 2004), Trung Quốc tiến hành một biện pháp thứ ba, tích cực và chủ động hơn: thành lập đội ngũ lính đánh thuê trên mạng.

Theo blogger Li Ming, ở Trung Quốc hiện nay, có ít nhất vài chục ngàn lính đánh thuê trên mạng như vậy. Malik Fareed, trong bài “China joins a turf war” đăng trên The Guardian số ra ngày 22 tháng 9 năm 2008, đoán con số đó có thể lên đến 300 ngàn người. (2)

Nhưng chúng là ai? Jeremy Goldkorn, chủ bút tờ báo mạng Danwei.org cho biết: “Ðó là một sự bí ẩn. Những người này không bao giờ nói chuyện với giới truyền thông cả. Người ta chỉ đoán mò thôi.”

Với từng cá nhân thì khó biết. Nhưng với tư cách tập thể thì người ta có thể nhận diện được: Phần lớn các tên lính đánh thuê trên mạng ấy là cán bộ nhà nước và sinh viên muốn có thu nhập thêm. Ngoài ra, cũng có một số là những người hưu trí còn trung thành với chế độ. Rất nhiều người được trả lương để làm việc toàn thời. Ví dụ, tháng 6 năm 2007, thành phố Tiêu Tác (Jiaozuo) thuộc tỉnh Hà Nam (Henan) tuyển 35 nhân viên chuyên viết bình luận trên Internet (ở Trung Quốc gọi là “võng lạc bình luận viên”)

Họ cũng chọn hơn 120 công an có năng khiếu viết lách để tham gia vào việc viết bình luận trên Internet (3). Theo tờ Global Times, riêng tỉnh Cam Túc (Gansu), trong năm 2010, đã thuê 650 nhân viên làm việc toàn thời với nhiệm vụ “hướng dẫn dư luận trước những vấn đề gây nhiều tranh cãi” (4). Vào đầu năm nay, ở tỉnh Sơn Tây (Shanxi), người ta còn tung ra chiến dịch “Võng lạc hồng thiếu binh” (Internet Red Scout) với nội dung chính là khuyến khích các đoàn viên Ðoàn Thanh Niên thi đua viết ý kiến khen ngợi đảng để tung lên các blog. Chỉ tiêu là mỗi đoàn viên phải viết ít nhất 2 ý kiến một tuần. Các ý kiến ấy được giữ lại để nộp lên ban tổ chức đoàn. (5)

Công việc của các “bình luận viên” này, theo Renaud de Spens, một chuyên gia về Internet có trụ sở tại Bắc Kinh, cực kỳ đơn giản: cắt và dán. Họ cắt nơi này và dán vào nơi khác. Có điều hầu hết những gì được chúng cắt dán chỉ là các khẩu hiệu tuyên truyền rẻ tiền của đảng và chính phủ. Ðại khái, lúc nào cũng “Ðảng vĩ đại,” “lãnh tụ anh minh,” v.v... Sau, thấy lối tuyên truyền như vẹt ấy không có tác dụng, họ phát triển một chiến lược khác, tinh tế hơn, cũng ra vẻ hiểu biết một chút. Cũng lý luận. Cũng tranh luận. Cũng, thỉnh thoảng, ra vẻ như trí thức và công tâm. Nhưng mục đích cuối cùng vẫn là một: tuyên truyền cho chế độ.

Các “bình luận viên” - thực chất là lính đánh thuê - này “được trả tiền theo số lượng ý kiến phản hồi được đăng tải. Nếu ý kiến của họ được đọc nhiều, họ có thể được hưởng một số tiền thưởng thêm.” Ông Li Ming cho biết như vậy. Có điều, số tiền chắc là chả nhiều nhặng gì. Người ta đoán chỉ khoảng 50 xu. Bởi vậy, ở Trung Quốc, người ta gọi đó là đám “ngũ mao đảng” (wumao dang; trong tiếng Anh, người ta dịch là “The 50 Cent Party,” đảng 50 xu).

Giới quan sát quốc tế ghi nhận trong nhiều trường hợp, biện pháp sử dụng lính đánh thuê mạng này tỏ ra có hiệu quả. Chẳng hạn, vào ngày 10 tháng 8 năm 2007, nhân một vụ cãi cọ trên đường phố, một người dân ở thành phố Tiêu Tác viết một ý kiến ngắn phê phán công an một cách gay gắt và gửi đăng trên một diễn đàn mạng. Chỉ mười phút sau, công an đọc được; họ liền vận động hơn 120 nhân viên tham gia phản công. Hai mươi phút sau, ý kiến phê phán người nọ và bênh vực công an tràn ngập diễn đàn. Trước áp lực ấy, một số công dân mạng (netizen) yếu vía, quay sang tố giác và lên án người lên tiếng chỉ trích công an nọ. “Trận” ấy coi như công an thành phố Tiêu Tác toàn thắng. (3)

De Spens quan sát thấy rất nhiều trường hợp như thế: Vào blog hoặc website, chung quanh các đề tài nóng bỏng đang thu hút sự chú ý của đông đảo quần chúng, người ta chỉ thấy, trong nhiều ngày liên tiếp, toàn ý kiến bênh vực chế độ do đám lính đánh thuê mạng này thực hiện. Ðiều đó dễ gợi ấn tượng sai lầm là phe ủng hộ chế độ chiếm đa số, là chế độ được lòng dân, là tính hợp pháp của chế độ vẫn còn rất bền vững, v.v...

Tuy nhiên, nhiều người cho đó chỉ là một thành công tạm thời. Khi người đọc biết tỏng các ý kiến phản hồi ấy chỉ là trò lừa bịp của đám lính đánh thuê, người ta sẽ mất hẳn niềm tin. Sau đó, nghe ai nói theo khẩu khí hao hao như vậy, người ta sẽ tẩy chay ngay tức khắc.

Dù sao, ở trên, cũng là chuyện của Trung Quốc.

Vấn đề quan trọng hơn, với chúng ta, là: Ở Việt Nam thì sao?

Hiện nay, tôi không có tài liệu gì về vấn đề này cả. Không biết có bạn nào có không. Nếu có, xin cùng chia sẻ với mọi người. Nếu không thì chúng ta tạm thời tự đóng vai điều tra viên vậy. Công việc điều tra ấy cũng đơn giản thôi: Thử nhìn vào phần Ý kiến trên các blog tiếng Việt, xem có ai có khả năng là “bình luận viên 50 xu” không nhé?

***

Chú thích:

1. Ví dụ bài “China pays internet users to flood web forums with pro-government propaganda” trên http://www.news.com.au/technology/chine ... z1MezDGnwr. Các số liệu và trích dẫn không ghi xuất xứ trong bài viết của tôi đều được lấy từ bài này.

2. http://www.guardian.co.uk/media/2008/se ... etingandpr

3. http://chinadigitaltimes.net/2008/05/ch ... ent-party/

4. http://special.globaltimes.cn/2010-02/503820.html

5. http://blog.theepochtimes.com/1/china/2 ... ropaganda/
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

TT Obama viếng thăm quê tổ ở Ireland

DUBLIN (Reuters) - Tổng Thống Barack Obama khẳng định tình đoàn kết giữa Mỹ và quốc gia Ireland đang gặp khó khăn trầm trọng về kinh tế
qua một ngụm bia và bài diễn văn hùng hồn, nói với đám đông ở Dublin hôm Thứ Hai rằng: “Những ngày tươi đẹp nhất của các bạn sẽ tới.”

Image
Tổng Thống Barack Obama và Ðệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama tới trung tâm Dublin và được hàng ngàn người tiếp đón hôm Thứ Hai.
Tổng Thống Obama mở đầu chuyến công du Châu Âu 6 ngày với chuyến ghé qua Ireland vừa để thăm quê tổ bên ngoại
vừa biểu lộ sự ủng hộ với một quốc gia còn đang phục hồi sau cơn khủng hoảng tài chánh. (Hình: AP Photo, Pool)
Khởi sự chuyến viếng thăm bốn quốc gia Âu Châu với chặng dừng chân ở Ireland để viếng thăm quê ngoại, ông Obama được dân chúng nơi đây đón tiếp vô cùng nồng hậu.

Ðông đảo dân chúng tụ tập trên các con đường để lắng nghe bài diễn văn của ông ở Dublin và chuyến viếng thăm ngôi làng nhỏ bé ở Moneygall, nơi tổ tiên của ông Obama từng sống trước khi di dân sang Mỹ.

Sau lời giới thiệu của Thủ Tướng Ireland Enda Kenny là “Giấc Mơ Mỹ Quốc về lại cố hương,” ông Obama nói với đám đông ở Dublin rằng: “Tên tôi là Barack Obama, của những người dòng tộc Obama ở Moneygall.”

Ðối với quốc gia Ireland, chuyến viếng thăm của ông Obama và chuyến viếng thăm của Nữ Hoàng Anh Elizabeth Ðệ Nhị tuần qua, đã giúp họ quên đi những lo lắng về tình hình tài chánh khó khăn và nỗ lực vay tiền thế giới để thoát ra hoàn cảnh này.

Ông Obama cũng sẽ viếng thăm Anh, Pháp và Ba Lan trong chuyến công du để bàn về những vấn đề như Afghanistan và Pakistan sau khi hạ sát Osama bin Laden, nền kinh tế thế giới, và cuộc nổi dậy của dân chúng trong các quốc gia thuộc thế giới Ả Rập.

Ở ngôi làng Moneygall, với khoảng 300 dân, người trong làng và hàng ngàn người từ nơi khác tới, đứng dưới cơn mưa tầm tã để đón chào ông bà Obama. Ðây là nơi ông tổ bốn đời phía bên ngoại ông Obama, ông Falmouth Kearney, một người thợ giày, ra đi năm 1850 để sang Mỹ lập đời sống mới. Ðiều này khiến ông Obama, cha gốc Kenya và mẹ là người Mỹ gốc Ireland, có thể cùng với khoảng 37 triệu người dân Mỹ khác nhận mình cũng thuộc giòng dõi Ireland.

Trong quán rượu ở làng, ông bà Obama nếm thử loại bia Guiness đặc biệt được chế tạo cho dịp này cùng với những người dân khác.

Ông Obama phải lên đường đi London vào tối Thứ Hai thay vì Thứ Ba như đã dự trù vì có tro núi lửa bay tới từ Iceland. (V.Giang)
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Cơn nhức đầu 100 năm

Ngô Nhân Dụng

Ba năm trước khi nước Israel được thành lập, Tổng Thống Harry Truman đã yêu cầu chính phủ Anh Quốc phải cho thêm 100,000 người Do Thái được trở về định cư ở vùng Palestine, theo một đòi hỏi của những người gốc Do Thái ở Âu Châu; và cuối cùng chính phủ Anh đã nhượng bộ.

Chính phủ Truman đã công nhận ngay quốc gia Israel sau khi nước này thành lập năm 1948. Cho nên, khi ông Truman nói vấn đề Israel là cơn nhức đầu 100 năm của nước Mỹ, chúng ta có thể tin là ông không chống người Da Thái. Có lẽ người Mỹ chỉ mong rằng ông tiên đoán đúng sự thật, 100 năm chỉ là 100 năm. Nếu cơn nhức đầu này chấm dứt trước năm 2050, thì may mắn cho các vị tổng thống Mỹ. Nhưng không chắc điều đó sẽ xẩy ra!

Chắc cũng biết mối liên hệ với Israel là một cơn nhức đầu, cho nên cựu Tổng Thống Gorges W. Bush đã né rất kỹ trong 2 nhiệm kỳ của ông. Ông ủng hộ Israel hầu như vô điều kiện; và cũng được họ ủng hộ hết mình. Tổng Thống Bush đã tiêu diệt chế độ Saddam Hussein, chấm dứt một cơn nhức đầu của người Israel. Ông Bush phong tỏa và cô lập Iran, một mối lo khác của Israel. Chính quyền Palestine gần như bị bỏ rơi không được ngó tới. Mối bang giao Israel-Mỹ rất chặt chẽ.

Hình như Tổng Thống Barack Obama không chịu học tấm gương đó. Trong hơn 2 năm ngồi ở Tòa Bạch Ốc, ông Obama đã hai lần công khai xích mích với Thủ Tướng Israel Benjamin (Bibi) Netanyahu. Không những ông làm cho ông Netanyahu nổi giận và trả đũa, ông còn khiến những người Mỹ gốc Do Thái bất bình. Trong lịch sử Mỹ, người gốc Do Thái đã là những cử tri trung thành của đảng Dân Chủ, kể từ trước đầu thế kỷ 20, khi số di dân Do Thái từ Âu Châu qua ngày càng đông, mặc dù có lúc chính phủ Mỹ đã hạn chế. Chính ông Truman đã công nhận nếu không có người Do Thái ở New York ủng hộ thì ông khó đắc cử thị trưởng, khó đắc cử dân biểu, và đắc cử tổng thống năm 1948.

Nay, ông Barack Obama chỉ cần nói mấy câu đã làm cho ông Ed Koch, một tỷ phú gốc Do Thái và cựu thị trưởng New York, đang bày tỏ lòng bất mãn. Ông Kock chỉ trích ông Obama đã gây khó khăn cho chính phủ Israel trong các cuộc đàm phán với chính quyền Palestine sắp tới. Ông Koch tuyên bố với hãng Reuters rằng ông có thể sẽ ủng hộ một ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa nếu có lập trường ủng hộ Israel mạnh hơn ông Obama.

Ông Obama làm chính phủ Israel bất bình, là khi ông nói, hôm Thứ Năm trước, rằng một thỏa hiệp hòa bình giữa nước Israel và người Palestine phải dựa trên căn bản biên giới của Israel năm 1967, với sự trao đổi đất đai.

Từ khi nước Israel tự thành lập năm 1947, hàng triệu người Palestine thuộc giống dân Á Rập đã phải di cư và cho tới nay vẫn chưa thành lập được một quốc gia của họ; trong khi chính phủ các nước Á Rập chung quanh thì không công nhận quốc gia Israel. Liên Hiệp Quốc và các nước lớn đều đồng ý miền đất này phải lập ra hai quốc gia riêng biệt, Israel cho người Do Thái và Palestine cho người Á Rập.

Trong cuộc chiến tranh 6 ngày, sau ngày 4 tháng 6 năm 1967 quân đội Israel đã chiếm một vùng đất rộng lớn trước thuộc nước Jordanie, nơi có hàng triệu người Palestine tị nạn. Sau đó, các chính phủ Israel đã cho dân tới vùng đất gọi là Tây Ngạn (sông Jordan) đó lập trại định cư, mặc nhiên biến các nơi này thành một tình trạng đã rồi trước khi có những thỏa hiệp phân chia địa giới tạo hòa bình lâu dài. Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã làm nghị quyết yêu cầu Israel ngưng hành động trái với luật pháp quốc tế này, nhưng các chính phủ Israel thường làm ngơ. Israel đã trả lại bán đảo Sinai cho Ai Cập, trừ miền Gaza không trả lại mà để cho người Palestine sinh sống. Nhưng việc thành lập một quốc gia Palestine gồm cả vùng Tây Ngạn và dải Gaza là một vấn đề Israel muốn thương lượng, để họ đạt được những đòi hỏi của họ.

Trước đây, các chính phủ Mỹ, cũng như các vị tổng thống Mỹ đều khuyến khích chính phủ Israel và các nhà lãnh đạo Palestine đàm phán để thiết lập một quốc gia Palestine. Các cuộc đàm phán đều tranh cãi về biên giới Israel đối với vùng Tây Ngạn. Các cuộc mặc cả giữa Palestine và Israel xoay quanh vấn đề Israel được giữ những vùng định cư nào ngoài biên giới năm 1967. Nhưng chưa vị tổng thống Mỹ nào công khai nhắc đến căn bản về “biên giới Israel trước năm 1967,” một điều các chính phủ Israel không muốn ai nhắc tới! Ông Obama là vị tổng thống đầu tiên nói đến những chữ “nhậy cảm” đó, nói công khai những lời mà mọi người chỉ nói trong chỗ kín đáo! Và chính phủ Mỹ không báo trước cho Thủ Tướng Netanyahu rằng ông Obama sẽ nói tới vấn đề “nhậy cảm” này. Ðúng là ông Obama đã tự mình mua lấy một cơn thịnh nộ của một chính phủ đồng minh!

Có thể ông Obama đã đáp lễ một hành động của ông Netanyahu vào năm ngoái. Giữa tháng 3 năm 2010, đúng lúc Phó Tổng Thống Mỹ Joe Biden đến Jerusalem, chính phủ Israel công bố một chương trình xây thêm 1,600 đơn vị gia cư cho một nơi định cư mới của người Do Thái tại miền Ðông Jerusalem, xây giữa một khu sinh sống của người Á Rập. Ông Biden phản đối ngay, nói rằng khu định cư mới này gây trở ngại cho việc đàm phán hòa bình. Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố hành động của Israel có tính cách cố tình hạ nhục (insult) chính phủ Mỹ. Ít khi có một nhân viên chính phủ Mỹ nói những lời lẽ nặng nề như vậy với một chính phủ Israel. Sau đó Thủ Tướng Netanyahu lập tức ngỏ lời xin lỗi phó tổng thống Mỹ, đổ tội cho ông bộ trưởng Nội Vụ công bố việc lập khu đình cư không đúng lúc, mà không hề hỏi ý chính phủ. Nhưng khu định cư mới vẫn tiếp tục tiến hành.

Năm nay, đến lượt ông Netanyahu bày tỏ lòng giận dữ. Hội kiến ông Obama vào ngày Thứ Sáu, thủ tướng Israel đã lớn tiếng lên lớp tổng thống Mỹ về lịch sử dân tộc Do Thái, với 4000 năm lịch sử, với những tai ách phải chịu trong mấy ngàn năm đó. Trước ống kính các đài truyền hình, hai ông Netanyahu và Obama bày tỏ những bộ mặt không thân thiện cho cả thế giới trông thấy!

Một ký giả gốc Do Thái ở Mỹ, ông Jeffrey Goldberg, đã bực mình với ông thủ tướng Israel, viết trên blog của mình để nhắc nhở với một tựa đề: “Ông Netanyahu thân mến, Xin Ðừng Nói Với Tổng Thống Của Tôi Như Thế!” (Dear Mr Netanyahu, Please Don't Speak to My President That Way).

Ngày Chủ Nhật, ông tổng thống Mỹ đã tự mình “vào hang cọp.” Ông Obama đến diễn thuyết trước một hội nghị của Aipac, Ủy Hội Mỹ Israel, một tổ chức vận động của người gốc Do Thái ở Mỹ, thuộc loại diều hâu nhất và mạnh nhất. Trước cử tọa 10,000 người, ông Barack Obama thản nhiên nhắc lại một lần nữa, là việc thỏa hiệp hòa bình giữa quốc gia Israel và người Palestine sẽ dựa trên căn bản biên giới trước năm 1967!

Tuy nhiên, ông Obama cũng nhân cơ hội giải thích thêm những lời ông nói ngày Thứ Năm. Ông chỉ nhắc lại lập trường của các chính phủ Mỹ từ trước đến nay: phải công nhận những thực thể về cư dân mới ngoài biên giới năm 1967 (ý nói, các vùng định cư của người Israel). Cho nên, ông Obama công nhận cuộc đàm phán Israel Palestine sẽ đưa tới một biên giới khác năm 1967. Nhưng ông Obama không bày tỏ một lời nói hay cử chỉ nào chứng tỏ ông ân hận đã vì làm cho ôn thủ tướng Israel nổi giận. Nhiều người Mỹ gốc Do Thái đã khen ngợi bài diễn văn hôm Thứ Năm của ông Obama, trong đó ông đã đề cập tới nhiều vấn đề cơ bản ở vùng Trung Ðông, ca ngợi những người dân Tunisie và Ai Cập, lên án các chính phủ Barhain và Syria, và đặt hy vọng vào các cuộc đàm phán Israel và Palestine. Năm 2008, chính một vị thủ tướng Israel, ông Ehud Olmert, đã từng đề nghị một thỏa hiệp dựa trên đường biên giới trước năm 1967, với lãnh tụ Palestine Mahmoud Abbas. Bởi vì lúc đó cựu Tổng Thống Gorges W. Bush sắp mãn nhiệm mà ông Olmert thì cũng sắp phải rời ghế thủ tướng, ông muốn đưa một nhượng bộ chót để tiến tới một thỏa hiệp, may ra có thể được dân bầu trở lại! Ông Daniel Levy, một cựu nhân viên ngoại giao Israel, bênh vực ông Obama: “Trên căn bản, ông ấy chỉ muốn nói với chính phủ Israel rằng, 'Chúng tôi sẽ bảo vệ các anh đến cùng, nhưng nếu anh không đưa ra một cái gì để tiến tới hòa bình, thì nước Mỹ cũng không giúp gì được các anh hết!'”

Vậy tại sao ông Netanyahu lại tỏ ra giận dữ với một ông tổng thống Mỹ như thế? Vì bàn cờ chính trị trong nước ông. Ðây là một cơ hội để ông củng cố uy tín đối với đảng ông và các đảng liên minh trong chính phủ ông. Sau khi tỏ ra mình cứng rắn, dám đương đầu với một ông tổng thống đồng minh đang lên (sau vụ giết Osama bin Laden), chắc chắn ông Netanyhu khi trở về nước sẽ được hoan hô!

Nhưng ông Obama đi mua lấy cơn nhức đầu như vậy để làm gì?

Ai cũng biết rằng trong cuộc bầu cử sang năm, ông sẽ cần lá phiếu và tiền ủng hộ của người Mỹ gốc Do Thái. Nhiều người ủng hộ ông lo rằng sang năm người Mỹ gốc Do Thái sẽ bỏ rơi ông. Chuyện này có thể xẩy ra, mặc dù các cố vấn chính trị chung quanh ông rất nhiều người gốc Do Thái. Trước đây ông Obama đã từng nói những điều làm người Do Thái ở Mỹ bất bình rồi. Trong cuộc tranh cử năm 2008, ông Obama đã than, “Chưa dân tộc nào chịu thống khổ như người Palestine!” Chưa hết, lúc đó ông còn nói sẽ sẵn sàng nói chuyện với chính phủ Iran, không điều kiện tiên quyết! Mà ai cũng biết ông tổng thống Iran là người luôn miệng hô hào tiêu diệt nước Israel! Cuối cùng, năm đó có 78% cử tri gốc Do Thái bỏ phiếu cho ông Obama thay vì Nghị Sĩ John McCain.

Người ta sẽ chờ coi trong cuộc tranh cử năm 2012 vấn đề Israel và Palestine có trở thành một đề tài tranh cử hay không. Các nhà chính trị Mỹ sẽ còn phải đối phó với cơn nhức đầu 100 năm này trong nửa thế kỷ nữa, mà chưa chắc đã hết!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Từ chuyên chế bước sang dân chủ

LS Trần Thanh Hiệp

Bàn về dân chủ hóa Việt Nam bao hàm việc đặt lại nhiều vấn đề tưởng như đã được giải quyết từ nhiều thập niên. Thật vậy tình hình quốc tế, tình hình trong nước, chủ nghĩa cộng sản, các đảng cộng sản đã không còn như thời chiến tranh lạnh. Xã hội Việt Nam, trái với chủ trương của nhà cầm quyền cộng sản và dưới áp lực của thực tế, đang trở thành một xã hội mở.


Các nhà đấu tranh dân chủ (từ trái qua) Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và Lê Công Ðịnh bị chính quyền CSVN đem ra tòa xử. (Hình: x-cafevn.org)

Cuộc tranh đấu của những người dân chủ Việt Nam không còn chỉ diễn ra tại môi trường hải ngoại mà còn phải diễn ra được ở trong nước, nghĩa là thực tế đi vào vận hành của xã hội. Do đó, vấn đề ưu tiên phải đặt lại là thanh toán chuyên chế để đặt nền móng cho dân chủ. Vì lẽ không thể dân chủ hóa được Việt Nam nếu chế độ độc tài đảng phiệt, toàn trị vẫn còn tồn tại. Dân chủ không thể chung sống với chuyên chế.

Có người dễ dãi đặt kế hoạch dân chủ hậu cộng sản. Nhưng nếu cộng sản vẫn còn nắm quyền thì làm gì có hậu cộng sản!

Bởi vậy, thanh toán chuyên chế là vấn đề hàng đầu mà những người dân chủ Việt Nam không thề lẩn tránh. Làm thế nào để thanh toán được chuyên chế mà mở đường xây dựng dân chủ?

Trước hết, có những điều hiển nhiên không thể bỏ qua. Ðó là sự kiện nhà cầm quyền cộng sản, như hơn hai mươi năm “đổi mới” vừa qua đã cho ta thấy, nhất quyết không chịu từ bỏ chuyên chế, mặc dù từ đầu những năm 90 đến nay đã có biết bao nhiêu lời kêu gọi tìm cách chuyển hóa chế độ trong tinh thần hòa giải. Tiếc thay, đáp ứng độc nhất của nhà cầm quyền cộng sản chỉ thấy có hàng loạt đàn áp thô bạo bằng đầy đọa, giam cầm trí thức, tu sĩ, văn nghệ sĩ thậm chí cả những đảng viên của chính họ. Tình trạng này không thể kéo dài mãi, nó buộc những người dân chủ phải đặt lại vấn đề tranh đấu với chuyên chế.

Lịch sử phương Tây, hơn hai trăm năm vừa qua, đã ghi lại những cuộc tranh đấu bằng súng đạn để thanh toán chuyên chế. Ngày nay, không mấy ai còn cổ võ hình thức tranh đấu ấy nữa. Tuy nhiên, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền vẫn còn nhắc đến quyền “Nổi dậy” để chống áp bức.

Hai thập niên trước đây, ở Ðông Âu và Liên Xô cũ, với sự hỗ trợ của truyền thông quốc tế, các giới tranh đấu dân chủ, trí thức, tôn giáo, văn hóa, văn nghệ đã phối hợp với dân chúng trong đó có cả cựu đảng viên cộng sản, cùng nhau chung sức thanh toán nạn chuyên chế cộng sản. Ðầu năm nay, tại Bắc Phi, Trung Ðông, nhân dân của nhiều chế độ độc tài, với sự yểm trợ mạnh mẽ - thậm chí còn bằng vũ lực, của các cường quốc dân chủ phương Tây, hơn nữa, được sự đồng tình của Liên Hiệp Quốc, đã nổi dậy đòi lại chủ quyền quốc gia đã bị độc tài sang đoạt rồi chiếm đoạt. Chưa ai có thể đoán trước một cách chính xác rằng bế tắc do chuyên chế đã và đang gây nên ở Việt Nam sẽ được giải tỏa ra sao. Ở đây chỉ bàn tới cách thanh toán chuyên chế theo con đường pháp lý.

1. Con đường pháp lý là con đường ít đắt giá nhất

Nói đến pháp lý là nói đến quyền của con người, của mỗi người trong hệ thống tương quan xã hội. Pháp lý là biểu tượng của một xã hội đã ra khỏi tình trạng hoang sơ man dã, biết đặt ra quy phạm để chế ngư bạo lực.

Thanh toán chuyên chế bằng con đường pháp lý có nghĩa là tìm những quy phạm đã có sẵn của nhân xã liên hệ của nhân loại văn minh, đem ra áp dụng để phân định phải trái, xử lý các tranh chấp giữa dân chủ và chuyên chế.

Ta đã thấy mỗi khi nhắc đến những người dân chủ, nhà cầm quyền cộng sản vẫn chỉ dùng những luận điệu đầy tính cách tiêu cực, xuyên tạc nhằm hoặc vu cáo, bôi nhọ hoặc hăm dọa, đe nạt. Ðó không phải là đối thoại. Âu cũng là điều tự nhiên, vì đã chủ trương độc quyền về mọi mặt thì đâu còn nhu cầu đối thoại!

Dù sao, phía những người dân chủ phải đưa ra trước công luận một lập trường tranh đấu thật sáng tỏ. Ít ra là ở hai bình diện: Khái niệm dân chủ và chế độ dân chủ.

Về mặt khái niệm, dân chủ chúng ta chủ trương là dân chủ tự do, loại dân chủ đã trở thành một giá trị phổ quát của nhân loại trừ cuối hậu bán thế kỷ thứ XX. Dân chủ này đối nghịch với các loại dân chủ kiến cộng sản như “dân chủ mới”, “dân chủ nhân dân”, “dân chủ pháp quyền”, “dân chủ xã hội chủ nghĩa”. Nó đối nghịch với chuyên chế như nước với lửa. Chuyên chế chủ trương nhất nguyên, tập quyền. Dân chủ tự do chủ trương đa nguyên phân quyền. Chuyên chế giới hạn, khinh miệt, chà đạp nhân quyền, dân chủ tự do mở rộng, tôn trọng, bảo vệ nhân quyền. Chuyên chế phân chia và kỳ thị giai cấp, dân chủ tự do hòa hợp, hòa giải giai cấp. Chuyên chế tiêu diệt cá thể, dân chủ tự do giải phóng cá thể. Chuyên chế phủ nhận quyền tư hữu, dân chủ tự do công nhận quyền tư hữu, v.v.

Nhưng có khái niệm đúng, tiến bộ không thôi chưa đủ. Còn phải thể hiện khái niệm ấy ra thành chế độ chính trị cụ thể.

Giải thích một cách thật dễ hiểu, chế độ chính trị của một nước là cách tổ chức cai trị của nước ấy: Những ai cai trị, những ai bị trị và quyền hạn giữa hai bên liên hệ với nhau ra sao? Tuy nhiên cũng phải đi sâu hơn một chút vào chuyên môn - luật học và chính trị học - để nói về chế độ chính trị sẽ thay thế chế độ chuyên chính cộng sản. Dưới cách nhìn này thì chế độ chính trị bao gồm bốn thành tố, đó là sự chính thống, các định chế, hệ thống chính đảng và bộ máy nhà nước. Sự chính thống là khả năng của một chế độ được nhìn nhận là chính đáng, hợp với lòng dân, có uy lực để bắt dân nghe theo. Ngày xưa, dưới thời quân chủ, sự chính thống dựa vào huyết thống và ngành trưởng. Với cộng sản, sự chính thống dựa vào ý hệ (chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh). Với những người dân chủ Việt Nam, sự chính thống tùy thuộc vào toàn bộ các giá trị dân chủ như sự phù hợp với Hiến pháp, phân quyền, tuyển cử tự do, v.v. Ðiều tối kỵ đối với dân chủ tự do là sự chính thống dựa vào ý hệ như cộng sản vì dân chủ là đa nguyên không dung thứ độc quyền ý hệ nào. Về định chế thì dù là công hay tư đều được tự do. Không có một định chế nào đứng trùm để chi phối các định chế khác.

Về chính đảng, tất nhiên không độc đảng mà đa đảng, tự do kết ước liên minh với nhau. Ðảng cầm quyền không tiêu diệt đảng đối lập, tùy sự tín nhiệm của dân, các đảng thay phiên nhau cầm quyền. Bộ máy nhà nước, nhờ tản quyền cho các vùng và cả cho xã hội dân sự nên không cồng kềnh quan liêu. Nhờ phân quyền rồi hợp quyền và kềm chế nhau mà không lâm vào tình trạng giằng co tê liệt. Ðặc điểm khác là bộ máy nhà nước này là “Nhà nước pháp trị!” đích thực, thượng tôn luật pháp dưới sự kiểm sát của một tòa án bảo hiến hoàn toàn độc lập. Tư pháp được đưa lên hàng một quyền lực độc lập tách ra khỏi sự giám hộ của hành pháp, v.v. Hành pháp với những công thức một đầu, Tô hay hai đầu, Tổng thống và Thủ tướng, cả hai đều có những quyền hiến định. Quốc hội có hai viện. Hành pháp có thể giải tán Hạ viện trong những trường hợp giới hạn. Bù lại lập pháp có thể bất tín nhiệm chính phủ theo một thủ tục bảo đảm không thể có lạm quyền. Các kinh nghiệm hợp lý hóa chế độ chính trị qua các mẫu Anh, Mỹ, Ðức, Pháp sẽ giúp cho cơ chế của bộ máy nhà nước dân chủ Việt Nam thêm tinh vi, cho bản Hiến pháp dân chủ tương lai thêm hoàn hảo.

Nguyên mẫu dân chủ tự do nói trên là đối tượng tranh đấu của những người dân chủ Việt Nam. Nó có đem ra thực hiện được hay không điều này không phải là không phần nào tùy thuộc vào thái độ của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Mấy giả thuyết có thể nêu lên.

Hoặc là nhà cầm quyền cộng sản lấy sáng kiến sửa đổi hay bãi bỏ để thay Hiến pháp, tự ý từ bỏ chuyên chế, giống như các nước cộng sản cũ ở Ðông Âu (tưởng cũng nên nhắc lại rằng nhiệm kỳ Quốc hội hiện tại - Khóa VIII - sẽ chấm dứt vào tháng 9 năm 1997).

Hoặc là họ chấp nhận thương lượng với phe dân chủ để cùng thỏa thuận một tiến trình chuyển tiếp dân chủ hóa trong một thời hạn định trước không quá thúc bách đối với chính quyền tại chức.

Hoặc là cao trào tranh đấu dân chủ của những người dân chủ ở trong và ngoài nước buộc nhà cầm quyền cộng sản phải nhượng bộ thì tiến trình chuyển hóa có thể rút ngắn nhờ trưng cầu dân ý.

Ba giả thuyết này thật ra cũng chỉ là điều mong ước dưới ánh sáng pháp lý hiện nay chưa có chỉ dấu nào cho thấy là sẽ xảy ra. Nhưng nếu chọn con đường pháp lý nhờ có luật pháp, đam mê chính trị có thể được chế ngự thay cho xung đột. Trừ phi sự xung đột này đã đạt tới mức gay gắt không còn giải quyết bằng luật pháp được nữa.


2. Phương hướng và mục tiêu tranh đấu của những người dân chủ ở ngoài nước

Tưởng cũng không phải là điều quá đáng nếu chúng ta nói rằng đối với những người dân chủ Việt Nam giờ phút chân lý đã điểm. Nếu không thực sự bắt tay vào công việc một cách nghiêm túc thì e rằng sẽ bị chậm trễ trong cuộc hẹn với lịch sử.

Ðể bắt đầu từ chỗ bắt đầu, phải vạch ra ngay từ bây giờ phương hướng cho hoạt động trong tương lai. Và trong những phương hướng ấy, xác định một số mục tiêu cần đạt tới.

Về phương hướng, những người dân chủ Việt Nam trước hết và trên hết phải tập trung nỗ lực hình thành càng sớm càng tốt một lực lượng dân chủ có qui mô lớn, ngang tầm với nhu cầu của tình thế. Không thể thay đổi chế độ nếu có lực lượng để thay đổi nghĩa là chuyển hóa chuyên chế thành dân chủ. Ðã đến lúc chấm dứt tình trạng hội đoàn hữu danh vô thực. Chấn chỉnh hàng ngũ là một đòi hỏi cấp bách, tất nhiên chấn chỉnh không có nghĩa là thanh trừng loại bỏ mà sắp xếp lại theo tinh thần đa nguyên, đa tâm nhưng có điều hợp.

Phương hướng thứ hai là công khai mở rộng phạm vi tranh đấu dân chủ vào tận trong nước, không có mặc cảm đối với cộng sản cũng như đối với chống cộng. Vì nhà cầm quyền cộng sản chủ trương độc quyền chính trị nên những người dân chủ Việt Nam không có cách nào khác hơn là phải hoạt động với tư cách những người đối lập “ở ngoài chế độ” để thanh toán chuyên chế và thay vào đó nền dân chủ đa nguyên.

Phương hướng thứ ba là tìm chỗ dựa quốc tế trên căn bản dân chủ tự do. Cuộc tranh đấu chống chuyên chế ở Việt Nam chẳng những để giải quyết những vấn đề của xã hội Việt Nam mà còn góp phần vào sự ổn định, sự thịnh vượng chung ở trong vùng, xây dựng hòa bình cho cộng đồng quốc tế. Nhà cầm quyền cộng sản đang tận dụng lá bài ngoại giao khắp phía để duy trì chuyên chế. Không vì lý do gì mà những người dân chủ Việt Nam lại tự cô lập mình để tự an ủi bằng những hình thức hoạt động thủ công nghiệp “mẹ hát con khen hay”. Phải đem lại cho lực lượng dân chủ Việt Nam vóc dáng một nguồn sinh lực dồi dào cả về phẩm lẫn lượng có khả năng lôi cuốn sự hợp tác quốc tế trong việc xây dựng lại và mở mang nước Việt Nam.

Hai mục tiêu cụ thể mà những người dân chủ Việt Nam phải thực hiện cho kỳ được là:

Thứ nhất, hình thành được một tổ chức Mặt Trận Dân Chủ đang manh nha ở trong cũng như ở ngoài nước. Mặt Trận này sẽ là nơi tập hợp của tất cả những ai muốn thanh toán chuyên chế, trở lực cuối cùng để khai thông lịch sử bắt kịp trào lưu tiến hóa của nhân loại.

Thứ hai, thực hiện ngay tại chỗ nghĩa là ở nước ngoài, những nơi có người Việt sinh sống, một sinh hoạt dân chủ gương mẫu cho những người Việt ở trong nước. Muốn có được sinh hoạt như thế điều kiện tiên quyết là phải ngăn cản được mọi hành vi nhân danh bừa bãi, tiếm danh tiếm vị, coi thường đạo lý, coi rẻ nhân quyền, hạ thấp uy tín của cộng đồng người Việt ở nước ngoài, mở đường cho đạo quân nằm vùng của chuyên chế xâm nhập gây rối. Không có dân chủ, văn minh nếu không có sự tôn trọng đạo lý, nhân quyền.

Kiểm điểm thành tích mười năm đổi mới của cộng sản, những người dân chủ Việt Nam đã thấy rõ được hai điều.

Ðảng cộng sản Việt Nam không có ý định từ bỏ chuyên chế, chỉ thay đổi những gì xét ra có lợi cho cho việc duy trì chuyên chế, bất chấp những hậu quả tai hại mà đất nước phải gánh chịu không những ở hiện tại mà còn cả trong tương lai.

Thế tranh đấu của những người dân chủ Việt Nam chưa bao giờ thuận lợi bằng bây giờ. Tiếc rằng những người dân chủ Việt Nam chưa sẵn sàng để lãnh trách nhiệm trước lịch sử.

Bản tổng kết của chuyên chế chẳng có gì là ngoạn mục. Nhưng bản tổng kết của chúng ta cũng không hơn gì bản tổng kết của đối phương.

Ghi nhớ công ơn của những chiến hữu của chúng ta đang bị vùi dập trong lao tù cộng sản ở trong nước, chúng ta suy nghĩ, bàn thảo, rồi bắt tay vào việc, ước hẹn sẽ lập được một bản tổng kết mới mà tích sản sẽ vô cùng to lớn: Sự ra đời của một nước Việt Nam đích thực dân chủ, nghĩa là toàn dân toàn diện.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Ðồng bào sắc tộc người Hmong

Võ Long Triều
Ngày 20 tháng 5, bản tin đài tiếng nói Hoa Kỳ VOA đưa tin theo Bloomberg News là Bộ Ngoại Giao Hà Nội khẳng định “không có sử dụng vũ lực để giải tán cuộc tập hợp người sắc tộc Hmong ở quận Mường Nhé tỉnh Ðiện Biên.” Nhiều ngày qua, ký giả và nhân viên ngoại giao bị cấm tuyệt đối không ai được phép đến tỉnh Ðiện Biên.

Hà Nội khẳng định một điều trái ngược với những gì các giới chức địa phương xác nhận, cũng theo tin đài VOA, “lực lượng an ninh đã dùng vũ lực để giải tán những người Hmong và một số tổ chức cổ vũ nhân quyền, có một số người thiệt mạng.”

Trong khi đó, thông cáo báo chí đề ngày 5 tháng 5, 2011 của một tổ chức có trụ sở tại Washington lấy tên Center for Public Policy Analysis (Trung Tâm Phân Tích Chính Sách Công) cho biết có ít nhứt 28 người Hmong thiệt mạng, 33 người bị thương và hang trăm người khác mất tích.

Bà Christy Lee, thuộc tổ chức chuyên tranh đấu cho quyền lợi của người sắc tộc Hmong ở Lào và Việt Nam, nói rằng người Hmong và những người thiểu số khác theo đạo Tin Lành và theo thuyết “Vạn Vật Hữu Linh,” đang bị xua đuổi ra khỏi đất đai của họ và bị sát hại, áp bức bởi những giới chức cộng sản. Thông cáo nầy còn cho biết một số đông binh sĩ của quân đội Việt Nam và quân đội Lào được điều động đến khu vực Ðiện Biên từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 5, 2011 theo lệnh của Tướng Trần Quang Khuê, tham mưu trưởng quân đội Việt Nam.

Ngày Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011, tổ chức nhân quyền Human Rights Watch công bố: “Chính phủ Việt Nam không thể chỉ chụp một bức màn đen che kín tình hình và coi như mọi chuyện đã trở lại bình thường.”

Phát ngôn viên Sứ Quán Mỹ tại Saigon nói chính phủ Hoa Kỳ kêu gọi lực lượng anh ninh và người Hmong tự chế. Như vậy đủ thấy Hà Nội chối cãi không có dùng vũ lực là gian dối.

Một biến cố vừa có tính cách chính trị và tôn giáo tương đối quan trọng, mà nhà cầm quyền Hà Nội cố tình bưng bít che giấu, cho thấy việc nầy đối với Hà Nội rất đáng lo ngại:

Thứ nhứt, trong thời đại mà kỹ thuật thông tin liên lạc tiến bộ đến độ không nước nào còn có thể che đậy bằng bức “Màn Tre” hay “Màn Sắt” gì được nữa. Do đó sự bưng bít vụng về của Hà Nội làm cho cả thế giới nghi ngờ thiện ý của nhà cầm quyền.

Thứ hai, sự lên án của nhiều tổ chức nhân quyền và chính trị, do lời kêu cứu của nạn nhân, sẽ gây bất mãn trong dư luận quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ, cộng thêm những cuộc vận động yêu cầu Quốc Hội và bộ Ngoại Giao Mỹ có thể đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần đặc biệt lưu ý (CPC) vì đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền.

Thứ ba, bạo lực đàn áp sẽ tạo thành bạo lực chống trả, chẳng những người Hmong không mà thôi, còn nhiều sắc tộc khác, còn nhiều tôn giáo và dân oan bị cướp đất, cũng chịu sự đàn áp dã man, thậm chí đảng viên cũng bị vu khống tù đày. Nếu một ngày nào đó tất cả hợp nhau chống lại nhà nước thì chế độ khó mà tồn tại. Ðó là sự lo ngại hàng đầu của đảng cộng sản thống trị đang làm băng hoại xã hội về giáo dục văn hóa và đất nước về kinh tế tài chánh.

Trở về vấn đề Mường Nhé, lý do gây xáo trộn là nhà cầm quyền địa phương cướp đất, cấm đạo. Bà Laura Loxiong giám đốc điều hành Hmong Internatinal Human Rights Watch cho biết: Nhà cầm quyền địa phương giải thể không cho phép người Hmong ăn Tết theo tục lệ cổ truyền, ngược lại còn buộc họ phải ăn Tết theo ngày tháng âm lịch của người Việt Nam. Ðồng thời tịch thu gia súc, gạo, tài sản của bộ tộc Hmong bày biện trong ngày Tết cổ truyền, để cho những đồng bào của họ thiếu thốn đem về tiêu dùng.

Ông Philippe Smith, giám đốc Trung Tâm Phân Tích Chính Sách Công tại thủ đô Washington nói: “Quá nhiều bất bình dồn nén. Theo tôi, người Hmong chỉ quan tâm về tình hình đất đai và tự do tôn giáo mà thôi.” Ðúng vậy, cướp đất và cấm đạo đồng nghĩa với cướp sự sống của người Hmong. Không còn đất trồng trọt để nuôi ăn, không cho tin tưởng vào Thần Linh, nghĩa là đời sống vật chất và tinh thần đều bị quản lý, khóa chặt. Chế độ cầm quyền tàn nhẫn còn hơn thực dân đô hộ. Trong điều kiện đó, bất cứ đồng bào Thượng hay Kinh cũng phải nổi dậy đòi quyền sống. Người Việt mình còn biết vượt biên, đồng bào Thượng biết vượt đi đâu ngoài rừng núi!

Thông thường, các sắc tộc người Thượng sống bằng nghề làm rẫy. Có nghĩa là một nhóm người tìm trong rừng một khu đất trống, đầy cỏ tranh, họ đốt tranh, tàn tro coi như phân (loại phân bồ-tạt “Potasse” cần cho cây lúa). Ðến mùa lúa chín họ thu hoạch xong di đi chỗ khác. Ðôi khi lửa lan cháy rừng gây thiệt hại. Trách nhiệm của nhà cầm quyền là huấn luyện giúp đỡ thay vì lợi dụng cướp đất đã được người Hmong dày công khai phá, một sự lạm dụng, ỷ quyền dựa trên chế độ độc tài đảng trị.

Ngày xưa, dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chính sách đối với đồng bào Thượng là giúp đỡ, huấn luyện, giáo dục, có trường học riêng cho đồng bào sắc tộc. Thời của tôi, trong nội các chiến tranh, anh Paul Nua làm bộ trưởng Phát Triển Sắc Tộc, chuyên lo việc nâng cao đời sống đồng bào miền núi Cao Nguyên Trung phần. Sau nầy ông Nay-Louet thay Paul Nua. Ngược lại chế độ Hà Nội xem đồng bào Kinh người mình như cỏ rác, huống chi là đồng bào Thượng bị coi là thiếu học, kém văn minh, là miếng mồi ngon để cộng sản dễ bề đàn áp, cho đến khi “quá nhiều sự bất bình dồn nén,” như Philippe Smith nói, thì mới có sự nổi dậy như ngày nay.

Ngoài sự cướp đất là nguyên nhân chính về vật chất. Còn về mặt tín ngưỡng và thờ phượng Thần Linh, như bà Christy Lee cho biết, người Hmong tin thuyết “Vạn Vật Hữu Linh.” Trong điều kiện đó, Giáo Sư James Levis thuộc Ðại Học Bethel Minnoseta, chuyên viên nghiên cứu về tôn giáo và về sắc tộc Hmong, ông nói: “Ðối với người Hmong bị mất đất và bị nói xấu là những điều họ không chịu được.” Theo ông James Levis thì người Hmong tin vào một truyền thuyết ngày xưa bộ tộc Hmong có một vương quốc ở miền Nam nước Trung Hoa, vị hoàng đế cai trị gọi là “Vàng Chứ.” Và quan trọng hơn nữa là có một quyển sách xưa ghi rằng sẽ có một Vàng Chứ xuất hiện trở lại để dẫn dắt dân tộc Hmong về miền đất hứa.

Vì vậy mà khi mục sư đạo Tinh Lành và linh mục đạo Công Giáo rao truyền Chúa Giêsu từ trời xuống cứu thế, là người sẽ dẫn dắt nhân loại về miền đất hứa là thiên đàng, đúng vào tâm trạng của người Hmong đang chờ đợi Vàng Chứ trở về cứu dân. Vàng Chứ có nghĩa mới là Giêsu-Christ. Cũng trong tinh thần đó mà có khoảng 3,000 tín đổ người Hmong theo đạo Tin Lành và 2,000 theo đạo Công Giáo trên tổng số dân ước lượng 34,829 tại Mường Nhé (Yahoo France, Mường Nhé).

Ông James Levis đổ trách nhiệm cho Hà Nội là không chịu tìm hiểu vấn đề mà cả quyết vu khống rằng người Hmong nổi dậy đòi tự trị. Sự thật là do sự cướp đất cấm đạo, bắt bớ đánh đập, giết chóc. Người Hmong tin rằng Chúa Giêsu là Vàng Chứ của họ. Là Ðức Chúa Trời, vị vua trở về đưa họ về đất hứa, nơi không còn đói khổ, hà hiếp áp bức nữa, là thiên đàng. Vì độc tài, ỷ quyền, thiếu hiểu biết, nên Hà Nội vu khống sắc tộc Hmong tập trung đòi tự trị để lấy cớ đàn áp. Chứ sự thật là vì cộng sản cướp đất bắt đạo.

Tóm lại, chế độ Hà Nội độc tài cướp đất của bất cứ của ai, đồng bào Kinh cũng như sắc tộc Thượng, bất cứ nơi chốn nào, miền Nam, miền Bắc hay miền núi, và bất cứ thời gian nào. Một chế độ tàn nhẫn, gian ác sẵn sàng đàn áp bằng vũ lực, tàn sát dân lành, không thể nào tồn tại lâu dài, cho dù có cầu viện mẫu quốc Trung Cộng thì cũng có ngày toàn dân đoàn kết loại bỏ chế độ đó. Ngày xưa, ông cha ta đã nhiều lần đánh đuổi quân Tàu, thời đại ngày nay chắc chắn sự cai trị ác độc hay “Bắc thuộc” kiểu mới, kiểu cũ gì cũng không thể tồn tại được lâu dài.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

MỘT MẦM “GORBACHEV VIỆT NAM” BỊ DIỆT

Cách hành xử của đảng CSVN đối với ông Trần Xuân Bách làm cho hầu hết những ai quan tâm đến chính trường không khỏi sững sờ. Giáo sư Carl Thayer – một chuyên gia Úc uyên thâm về nền chính trị Việt Nam hiện đại – trong buổi phỏng vấn của đài BBC, khi được hỏi: “Ông có ngạc nhiên trước cách thức người ta đối xử với ông Bách hay không? Từ một lãnh đạo cao cấp, sau đó bị đưa ra ngoài rìa mà chẳng có sự giải thích gì cả?”, đã nói:

“Điều làm cho nhiều người giật mình khi đọc qua thông cáo của Đảng thì ông này bị cách chức và sa thải ngay lập tức. Tuy nhiên nếu nhìn lại có lẽ chúng ta không thấy ngạc nhiên vì cũng có một số nhân vật lãnh đạo khác tại Việt Nam như Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Cơ Thạch cũng đã bị cho về vườn theo kiểu như vậy” .

Trường hợp tướng Võ Nguyên Giáp ( 1 ), dư luận cho rằng ông bị Lê Duẩn “triệt hạ” để loại bỏ một người mà uy tín và tài năng có thể lấn át mình. Đây là một nỗi éo le đau đớn, làm ảnh hưởng xấu đến cách mạng Việt Nam ( 2 ).

Trần Xuân Bách thì bị sát thủ Đào Duy Tùng cầm đầu bọn giáo điều, thần phục Trung Quốc phang đòn chí mạng ( 3 ).

Không thể không khinh bỉ, căm giận bọn gian thần. Hãy bình tâm thẩm xét lại để thấy: Trần Xuân Bách không những không chống ĐCSVN mà không chống chủ nghĩa Marx, không chống chủ nghĩa xã hội, cũng chưa hề đòi đa đảng.

Chẳng những thế, ông thành kính tạ tội: “Ta phải nhận lỗi trước Mác vì đã làm méo mó chủ nghĩa Mác”. Ông viết: “Lịch sử đang thay đổi mạnh. Mác trao cho chúng ta vũ khí biện chứng duy vật và biện chứng lịch sử, chớ không phải trao ta Kinh Thánh! Việc vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử đương thời như Mác nói."

Mác sống thời chủ nghĩa tư bản cổ điển, ngày nay là chủ nghĩa tư bản hiện đại, có nhiều cái khác với thời Mác. Ngay thời Lê-nin, khi đề ra chính sách kinh tế mới (NEP), cũng đã đổi khác. Phải có tư duy khoa học. Tụng từng câu “Kinh Thánh“ trong sách Mác không bảo vệ được chủ nghĩa Mác đâu” ( 4 ).

Ông tìm cách cứu chủ nghĩa xã hội và tìm đường xây dựng một thứ CNXH hiện đại, nhân ái: “Cho đến nay ta thấy có nhiều kiểu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội kiểu Staline, chủ nghĩa xã hội kiểu Mao Trạch Đông, kiểu Pôn Pốt. Bây giờ đang có nhiều ý kiến khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Những dòng ý kiến khác nhau là quá trình trưởng thành, không sợ gì cả. Ở Liên Xô, người ta đang tranh luận Liên Xô ở vào thời kỳ nào của chủ nghĩa xã hội, và khái niệm chủ nghĩa xã hội phát triển bị bác bỏ vì nó được dùng để che đậy cho tình trạng trì trệ.
Vấn đề của mọi vấn đề hiện nay là tư duy khoa học. Đại hội 6 đã khởi động theo hướng này và phải tiếp tục hoàn thiện thêm. Đại hội 6 đúc kết bốn bài học có tính lý luận, tuy mới ở dạng sơ chế, lấy dân làm gốc, nắm vững quy luật khách quan, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đảng phải ngang tầm nhiệm vụ lịch sử. Bản thân Đảng phải trở thành trí tuệ tiên phong của cả dân tộc, muốn thế phải có lý luận tiên phong.
Những gì đang diễn ra ở thế giới chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, là sự phát triển tiến bộ, là thời kỳ thai nghén chủ nghĩa xã hội đích thực (dân chủ, khoa học, nhân đạo, hiện đại)” ( 4 ).

Ông hướng theo con đường cải tổ của Gorbachev: “Ở Liên Xô, Gocbachốp coi cải tổ là cuộc cách mạng với các thành phần và các nhân tố khác nhau, đan xen nhau, thống nhất với nhau và độ dài của cải tổ có thể là hàng chục năm. Đồng chí Gocbachốp nêu lên ba vấn đề chính của cải tổ dân chủ hóa, hạch toán kinh tế và cải tổ Đảng, cải tổ để có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn. Đặt vấn đề như vậy là đúng chứ không sai. Kinh tế Liên Xô năm 1989 phát triển chậm. Nhưng theo Rưgiơcốp, mặc dù căng thẳng, song không thể quay lại con đường cũ, vì đó là ngõ cụt. Năm 1989 là năm khó khăn nhất của Liên Xô, nhưng rồi sẽ trở lại bình thường. Liên Xô rất thận trọng trong vấn đề xử lý giá và tỉ giá, vì đây là một nước rất lớn” ( 4 ).

Và nghi ngờ tư duy bảo thủ, giáo điều của Trung Quốc: ”Ở Trung Quốc, Giang Trạch Dân đọc diễn văn coi là đã giải quyết được cơ bản vấn đề ăn no mặc ấm. Tôi rất nghi ngờ điều đó, Giang lại nêu lên độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, kế hoạch hóa tập trung và tư tưởng Mao Trạch Đông. Cuộc cải cách của Trung quốc như vậy là đi theo chu kỳ vòng tròn, không phải theo đường xoáy trôn ốc. Sau vụ đàn áp Thiên An Môn, Trung Quốc không tuyên truyền về cải tổ ở Liên Xô nữa” ( 4 ).
Tội lớn của Trần Xuân Bách đối với Đảng chỉ là do ông đã hô hào phải đổi mới chính trị:

“ …vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là thế nào? Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân” ( 4 ).

“Vấn đề đặt ra lúc này là phải đổi mới đồng bộ, tổng thể, cả cơ chế kinh tế lẫn cơ chế chính trị. Hai vấn đề chủ yếu của cơ chế kinh tế là vấn đề sở hữu và vấn đề thị trường (luận đề: Kế hoạch nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên thị trường). Hai vấn đề chính của cơ chế chính trị là: quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh, vai trò lãnh đạo của Đảng và quyền lực của nhân dân (luận đề: Đảng nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên xã hội )” ( 4 ).

Tội càng nặng hơn khi ông cổ súy dân chủ rất mạnh mẽ:

“Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ (mở rộng). Đó là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ hóa là khơi động trí tuệ của toàn dân tộc để tháo gỡ khó khăn và đưa đất nước đi lên kịp thời đại” ( 4 ).

Ông đòi phải để nhân dân tham gia quyết đinh vận mệnh dân tộc, chứ không chỉ mình ĐCSVN:

“Chỉ còn 10 năm nữa là bước sang thế kỷ XXI, dân tộc nào bị tụt hậu vào giữa thế kỷ XXI là nguy hiểm vô cùng, vì đây là thời đại của cách mạng khoa học kỹ thuật, của bùng nổ thông tin và giao lưu quốc tế.

Xử lý vấn đề này không thể một nhóm, một người nào làm được. Cả dân tộc phải chuẩn bị và làm công việc này” ( 4 ).

Bài viết này thắp một nén hương thơm kính viếng hương hồn ông nhân tưởng niệm 87 năm sinh của ông vì lẽ đó.

Trần Xuân Bách tên thật là Vũ Thiện Tuấn, sinh ngày 23 tháng 5 năm 1924 tại xã Nam Ninh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định ( ông cùng tuổi Tý nhưng hơn tôi một giáp), đã từng giữ các chức vụ: Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Giám đốc Công an Khu III, Chánh Văn phòng Liên khu ủy III, Bí thư Tỉnh ủy các tỉnh: Nam Định, Sơn Tây, Nam Hà, Trưởng Ban Tôn giáo vận Trung ương, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Trong chiến dịch tấn công Campuchia năm 1979 ông tham gia Bộ chỉ huy tối cao với tư cách là Phó Chính ủy, sau đó ông ở lại làm trưởng Ban B68 của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ đạo bộ máy hành chính của Campuchia.

Ông là Bí thư Trung ương Đảng từ khóa V (1982). Tại Đại hội VI (1986), ông được bầu làm ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng và được giao nhiệm vụ nghiên cứu về lý luận.
Do lâm bệnh nặng, ông đã mất hồi 15 giờ 34 phút, ngày 1 tháng 1 năm 2006. Thọ 82 tuổi.

Trong tang lễ, Hà Sỹ Phu đã viếng đôi câu đối:
° Đường XUÂN đã hướng đa nguyên, sao để ước mơ về Chín suối?°
Chiếc BÁCH giữa dòng đơn độc, âu đành duyên nợ với Ba sinh!

Có một thời, Trần Xuân Bách làm bí thư tỉnh ủy Hà Nam Ninh (gồm ba tỉnh ghép lại: Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình). Với hai giáo phận nổi tiếng: Bùi Chu ở Nam Định và Phát Diệm ở Ninh Bình, cùng với những giáo xứ trải dài ở các huyện duyên hải: Kim Sơn, Vụ Bản, Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Xuân Trường, Giao Thủy, vùng đất này được mệnh danh là thủ đô của công giáo miền Bắc.

Lúc đó sự xung đột giữa công giáo và chính quyền xảy ra thường xuyên ở khắp nơi. Nhưng riêng ở Hà Nam Ninh, dưới sự lãnh đạo mềm mỏng, khôn khéo, và khoáng đạt của Trần Xuân Bách, đường làm ăn tương đối thông thoáng, giá trị tinh thần của các tôn giáo tương đối được tôn trọng hơn các nơi khác nên không có cuộc va chạm đáng tiếc nào xẩy ra.
Trình độ của ông nổi trội hơn hẳn đại đa số ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư cùng nhiệm kỳ. Ngay thời đó, vợ tôi trong cương vị Chánh Văn phòng Trung ương Liên hiệp Hội Phụ nữ Việt Nam, sau các buổi giao ban ở Trung ương về đã đánh giá cao và rất ca ngợi Trần Xuân Bách.

Ông có tiếng là giản dị, trong sạch, thành thạo tiếng Anh, tiếng Pháp và rất tôn trọng trí thức.
Năm 1987, trong không khí hồ hởi của Đổi mới, tôi gửi một bản kiến nghị 12 điểm lên một số nhà lãnh đạo (Nguyễn Văn Linh, Trần Xuân Bách, Võ văn Kiệt, Võ Chí Công, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Khánh). Thư hồi âm duy nhất tôi nhận được là của Trần Xuân Bách. Cuối 1999, người dẫn tôi đến nhà Trần Xuân Bách lần đầu là lão thành cách mạng Phạm Hiện, người đã từng là cận thần của Trần Xuân Bách trong cương vị Chánh Văn phòng Ban B68 của Đảng tại Campuchia. Từ bấy có thể nói chúng tôi đã trở nên khá thân thiết. Trần Xuân Bách cùng phu nhân đã từng nhận lời mời đến ăn cơm ở nhà tôi. Khi nhạc phụ Trần Xuân Bách qua đời, tôi có được báo tin và đã cùng Trần Dũng Tiến sang tận Gia Lâm dự tang lễ. Mỗi khi tôi đến nhà, Trần Xuân Bách thường ngồi sát vào tôi (ông hơi nặng tai). Một đôi khi tôi quá sôi nổi, ông nắm tay tôi rất nhẹ. Cho đến giờ tôi vẫn không khẳng định được đấy là cử chỉ tán thưởng hay sự nhắc nhở cần chừng mực. Có điều là hôm nào ông cũng tiễn tôi ra tận cổng. Có lần còn níu tôi lại, đi một vòng quanh sân để nói chuyện thêm. Thỉnh thoảng ông gửi đến tôi một bài thơ mời họa, qua bưu điện; phong bì do ông cắt dán cầu kỳ, tẩn mẩn.

Cuối 1989, trong quá trình chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam Trần Xuân Bách tập hợp một nhóm nghiên cứu gồm 5 người: Lê Hồng Tâm, nhà kinh tế, tên thật là Phó Bá Doanh, em ruột của giáo sư Phó Bá Long (Ông Phó Bá Long trước 1975 là Hiệu trưởng Trường Chình trị Kinh doanh, Đại học Đà Lạt, sau là giáo sư Đại học Georges Town, Hoa Kỳ); Vũ Cao Đàm, viện trưởng Viện nghiên cứu Chính sách thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ; Bùi Thế Vĩnh, viện trưởng Viện Hành Chính học, Học viện Hành chính Quốc gia; Nguyễn Mạnh Tôn, chuyên viên Ngân hàng Ngoại thương và Nguyễn Thanh Sơn, chuyên viên Ban Công nghiệp Trung ương ĐCSVN.

Từ những kết quả tư vấn của nhóm này, ông đã rút ra những kết luận cơ bản:

Một là, cần mạnh dạn thực hành chính sách kinh tế theo kiểu chính sách kinh tế mới của Lênin, và gọi tên là “kinh tế thị trường”, với sự tham gia của mọi thành phần xã hội;


Hai là, theo kinh tế quyết định luận của Marx, đã đa thành phần kinh tế, tức là “đa nguyên kinh tế”, thì tất yếu sẽ dẫn đến “đa thành phần” trong xu hướng chính trị, tức là “đa nguyên chính trị”.


Ba là, khẳng định rằng: “Thị trường và đa nguyên là những thành tựu nổi bật của nhân loại”.


Bốn là, cần quan tâm thực sự đến vấn đề hàn gắn vết thương dân tộc. Đấu tranh cho công bằng xã hội là lý tưởng cao cả của người Cộng sản, nhưng đáng tiếc, cải cách ruộng đất và cải tạo tư sản lại là hai cuộc vận động đã mắc những sai lầm dẫn tới sự chia rẽ dân tộc lớn nhất trong lịch sử nước nhà.


Năm nhà nghiên cứu này về sau đã ghi lại những ấn tượng rất tốt đẹp trong bài viết “ Ông Trần Xuân Bách – Một tấm lòng son”:

“Trong suốt những ngày làm việc với anh Bách, chúng tôi học được ở anh tấm gương làm việc nghiêm túc. Anh đọc và trao đổi ý kiến rất tỉ mỉ về tất cả những công trình của các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước mà chúng tôi giúp anh sưu tầm. Anh rất thích những tài liệu nguyên gốc bằng tiếng Pháp … Anh luôn luôn tự viết tất cả những bài anh cần phát biểu trên các diễn đàn.

… Tuy là những người có nhiều cơ hội làm việc với các nhà lãnh đạo, nhưng chúng tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng vì cách làm việc của anh: khi anh cần gặp riêng một người nào đó trong chúng tôi, anh hầu như không cho thư ký gọi chúng tôi lên văn phòng, mà chính anh đến tận nơi chúng tôi làm việc, với chiếc xe Peugeot 404 đã cũ, không có bảo vệ và cần vụ đi cùng (cần vụ là cách gọi những người phục vụ sinh hoạt cho các nhà lãnh đạo), mặc dầu khi đó anh đã là nhà lãnh đạo rất cao cấp của ĐCSVN. Những lần làm việc như thế, thường khi anh ngồi riêng với chúng tôi cả buổi, cũng không có thư ký, không có bảo vệ và cần vụ, chỉ một mình anh. Có lần ngồi quá trưa, chúng tôi lo anh đói, hỏi anh có muốn ăn chút gì không, và anh đã rất hào hứng ăn nắm xôi gói lá dong riềng mà các chị trong cơ quan chúng tôi ra phố mua ở các quán bán xôi dành cho dân nghèo.

… Trong số những kỷ niệm còn lưu đọng mãi trong chúng tôi, là hồi tết nguyên đán năm 1990, anh chị mời chúng tôi đến biệt thự mà anh chị được Văn phòng Trung ương Đảng bố trí trên phố Phan Đình Phùng (thời Pháp có tên là phố Carnot, một trong những phố đẹp nhất của Hà Nội hiện nay). Chúng tôi vô cùng sững sờ: Trong căn biệt thự sang trọng, chúng tôi nhận ra toàn một loại đồ gỗ tồi tàn, mà thời đó được gọi là bàn ghế “tài chính”, tủ “tài chính”, giường “tài chính”, nghĩa là những đồ gỗ do Bộ Tài chính đóng hàng loạt bằng gỗ tạp để phân phát đồng loạt cho cán bộ nhà nước các cấp từ khi vào tiếp quản các thành phố lớn, năm 1954. Chúng tôi nhìn quanh bàn làm việc của anh, thấy dán chi chít những bài thơ mộc mạc với nét chữ nắn nót mực tím của các cháu viết tặng bố mẹ. Chúng tôi được anh chị tiếp đón với những món mứt đơn sơ truyền thống, nhưng thật ấm áp như những người trong nhà. Tuy là vợ một nhà lãnh đạo cao cấp, nhưng chị xử sự thật khiêm nhường, chị giản dị xưng “em” với chúng tôi, không thể hiện chút gì là cao xa theo kiểu các mệnh phụ phu nhân”.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

Tàu cộng hăm doạ đánh Việt Nam
Mời các Anh Chị đọc bài dưới đây trên mạng "Trung Quốc Binh khí Đại toàn", . Toàn lời lẽ khích động, hô hào chuẩn bị chiến tranh với VN.


Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.
Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.
Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.
Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”.
Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền.
Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.
Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.
Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa:
1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.
2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.
3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.
4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.
5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.
6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.
7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.
8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân đảo Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.
9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như: cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.
10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.
Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.
Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.
Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.
Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu như các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.
Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney..giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ . Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.
Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa. Nguyên bản tiếng Trung Quốc trên trang mạng “Trung Quốc Binh khí Đại toàn” http://www.cnweapon/ .com/html/ news/2010- 01/news14304
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Phản kháng suông sẽ hóa bùn

Ngô Nhân Dụng

Trên diễn đàn mạng trong nước đang có lời kêu gọi người Việt Nam đi biểu tình tuần hành ôn hòa vào sáng ngày Chủ Nhật, 5 tháng 6 sắp tới, trước tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Hà Nội và tòa tổng lãnh sự tại Sài Gòn, để phản đối việc tầu Trung Quốc xâm nhập hải phận Việt Nam, cắt đứt dây cáp của tầu Bình Minh 02 của Tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam.

Nhiều người đã hứa sẽ tới biểu tình, dù chính quyền có cho phép hay không. Một độc giả của mạng Mẹ Nấm đọc lời kêu gọi trên xong đã gửi lời căn dặn: “Mẹ Nấm đi biểu tình nhớ mang hình chị Phương Nga theo nhé, bọn Tầu nó sợ lắm đấy... he he!” Hai tiếng cười “he he” này cho thấy người dân Việt Nam đã khinh thường thái độ khiếp nhược của chính quyền cộng sản như thế nào!

Vậy bà Nguyễn Phương Nga là ai mà bị người dân chế nhạo như thế? Bà là “người phát ngôn” của bộ Ngoại Giao Cộng Sản Việt Nam. Mấy hôm trước bà đã nói “...Hải Quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết để bảo vệ vững chắc hòa bình, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam!” Nếu muốn chứng tỏ mình có can đảm thì ngày Chủ Nhật này bà Nguyễn Phương Nga hãy đi biểu tình cùng với đồng bào coi! Nếu không, thì những lời tuyên bố hung hồn của bà sẽ chất đống đó, lâu ngày sẽ biến thành bùn hết!

Một độc giả mạng khác nêu ý kiến: “Ba triệu đảng viên cộng sản phải xung phong trước” trong cuộc biểu tình này! Nhưng không biết có bao nhiêu người can đảm như nhạc sĩ Tô Hải, dám bỏ đảng vì yêu nước? Chúng tôi tin rằng vì vụ cắt dây cáp này nó trắng trợn quá, rất nhiều đảng viên cộng sản sẽ noi gương Tô Hải.

Các vụ xâm phạm hải phận Việt Nam của Trung Quốc đã xẩy ra nhiều lần từ mấy chục năm qua, nhưng vụ cắt dây cáp tầu Bình Minh 02, con tầu thăm dò địa chấn, là một bước leo thang mới, nằm trong cả một chiến lược có tính toán của Trung Quốc mở đường tiến xuống biển Ðông. Vùng biển xẩy ra vụ cắt dây cáp này hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền ven biển của Việt Nam, không liên quan gì tới quần đảo bị tranh chấp từ trước tới nay. Giờ đây Trung Quốc vẫn còn nể nang các nước Philippines hay Indonesia, mỗi lần bị các nước này phản đối vì tới gần bờ biển của họ quá, họ đưa máy bay và tầu chiến ra đương đầu, thì tầu Trung Quốc rút lui và xin hòa ngay. Hiện nay Bắc Kinh chỉ nhắm lấn chân Việt Nam, từng bước một, để cho “Vùng Lưỡi Bò” của họ trên thực tế được vững chắc trên một phần biển gần nước ta trước đã. Khi nào cả vùng biển Việt Nam đương nhiên thuộc vào Trung Quốc, họ muốn làm gì thì làm không trở ngại, họ sẽ tính việc lấn áp các nước Ðông Nam Á khác sau!

Ðối với Việt Nam, Bắc Kinh có thể tính rằng cứ mỗi ngày lấn một bước, năm này qua năm khác, mỗi bước lại đặt mọi người trước một sự đã rồi, nhiều bước nhỏ sẽ góp thành một bước lớn. Cứ để cho “người phát ngôn” của Cộng Sản Việt Nam tha hồ “nói phét,” miễn là tầu thăm dò thềm lục địa của Việt Nam “tạm ngưng” hoạt động, tầu đánh cá Việt Nam không dám đi xa kiếm ăn nữa, miễn là đừng để xẩy ra cảnh hải quân đương đầu nhau trên mặt biển, dần dần chính người Việt Nam quên lãng đi. Sau nhiều lần nghe đảng “nói phét” mà không làm gì khác cả, dân Việt sẽ nghe quen tai và không còn thấy chướng nữa. Không những thế, dư luận thế giới cũng sẽ nghe quen những lời phản đối lấy lệ của bà Nguyễn Phương Nga. Nếu không ai nghe tiếng súng, nếu không nhìn thấy cảnh tầu chiến hầm hè đối điện ngoài biển, lâu ngày các nhà báo nghe bà Nguyễn Phương Nga nói mãi cũng thành nhàm, báo chí quốc tế cũng chẳng thấy cần đăng tin nữa! Chiến lược này người Tầu gọi tên là “Tàm Thực,” nghĩa là Tằm Ăn Dâu, còn người Việt ta dùng hình ảnh mộc mạc hơn, qua câu tục ngữ “Ðể lâu cứt trâu hóa bùn!”

Trong thời gian chờ đợi những lời phản kháng của bà Nguyễn Phương Nga tích lại lâu ngày hóa thành bùn hết, Bắc Kinh sẽ luôn luôn thân thiện với các lãnh tụ đảng ở Hà Nội. Nay mời một quan sang du lịch, mai lại gửi một quan chức Thiên triều qua thăm viếng; lần nào gặp nhau cũng ca ngợi tình đồng chí, anh em, nhắc đi nhắc lại 16 chữ vàng, hợp tác chiến lược toàn diện, vân vân. Cứ như vậy, Bắc Kinh hy vọng lâu ngày dân Việt Nam sẽ quen, coi Trung Quốc đúng là nước anh em của mình, không khác gì mình cả! Lâu ngày là bao nhiêu lâu? Ðối với người Trung Hoa, một thế kỷ cũng chỉ là một khoảng thời gian ngắn!

Trước đây Trung Quốc đã đơn phương ban hành “lệnh cấm đánh bắt cá trong biển Ðông” có hiệu lực từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 1 tháng 8 năm 2011, trên vùng biển thuộc chủ quyền nước ta. Cũng như những lần “tầu lạ” đâm vào tầu Việt Nam, “tầu lạ” cướp thuyền đánh cá ta, “tầu lạ” bắt cóc ngư dân, tịch thu máy móc, trước đây, chính quyền cộng sản đều cho bà Nguyễn Phương Nga phản đối lấy lệ, người dân đi đánh cá phải lo tự bảo vệ lấy thân. Trong lịch sử Việt Nam đã từng nói đến “Tầu khách” khi có những đợt “thuyền nhân” Trung Hoa sang Việt Nam tị nạn sau mỗi lần ngai vàng đổi chủ; nhưng đến thế kỷ 20 mới xuất hiện hai chữ “Tầu lạ!” Lâu ngày lạ cũng thành quen, đó là do công trạng của đảng Cộng Sản Việt Nam!

Trước vụ tấn công tàu Bình Minh 02 vào ngày 26 tháng 5, Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đã đi thăm các nước Singapore, Indonesia và Philippines và Tham Mưu Trưởng Trung Quốc Trần Bỉnh Ðức qua thăm Mỹ. Tấn công tầu Bình Minh 02 cùng thời gian có những chuyến công du đó, họ muốn cho thế giới và người Việt Nam thấy rằng vụ cắt dây cáp của tàu Việt Nam chỉ là một công việc bình thường có tính cách “nội bộ,” giống như công việc của cảnh sát đi bắt trộm, không ai cần quan tâm cả!

Chính vì vậy, người dân Việt Nam phải chứng tỏ cho cả thế giới thấy đây không phải là chuyện bình thường! Ít nhất, một lần này, phải nói lớn: “Chúng tôi phản đối!”

Cuộc biểu tình ngày Chủ Nhật 5 tháng 6 sắp tới là một cơ hội để thực hiện mục tiêu đó! Người Việt Nam càng đi biểu tình đông thì dư luận thế giới càng phải chú ý. Nếu chính quyền cộng sản đàn áp, như họ đã từng làm trước đây, thì báo chí thế giới càng chú ý nhiều hơn. Cuộc biểu tình ngày 5 tháng 6 sắp tới là một cơ hội cho dư luận quốc tế biết việc tấn công tầu Bình Minh 02 là một vụ vi phạm hết sức ngang ngược, trắng trợn của một nước lớn đối với một quốc gia láng giềng!

Cuộc biểu tình này nên biến thành một phong trào, kéo dài, tổ chức liên tiếp trong các ngày Chủ Nhật sau, cho đến khi nào hai chính quyền cộng sản phải giải quyết những đòi hỏi của người dân Việt Nam. Ngay từ bây giờ người Việt ở nước ngoài cũng nên tổ chức các cuộc biểu tình song song với người trong nước. Người Việt khắp thế giới cùng kéo đến trước các tòa đại sứ và lãnh sự Trung Quốc ở khắp nơi, trương cao khẩu hiệu và phát các tài liệu chứng minh Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của nước Việt Nam bao nhiêu lần, bắt đầu với cuộc tấn công chiếm Hoàng Sa năm 1974, và chiếm Trường Sa năm 1988. Các cuộc biểu tình ở các nước Ðông Nam Á phải vận động báo chí địa phương, kêu gọi người bản xứ tham dự! Ðề tài chính trong các cuộc biểu tình này là công bố trước dư luận quốc tế việc Trung Quốc đã vi phạm Công ước về Luật biển 1982 mà Trung Quốc và Việt Nam đều đã ký kết.

Song song với các cuộc biểu tình, nếu chính quyền Cộng Sản Việt Nam không làm thì người Việt khắp thế giới phải gửi những bản lưu chiểu tới Liên Hiệp Quốc, công bố bằng chứng những vụ Trung Quốc vi phạm chủ quyền trên biển của người Việt Nam cho cả thế giới biết; phải kêu gọi các tổ chức phi chính phủ trong vùng Ðông Nam Á ủng hộ mình. Với một phong trào như vậy thì sau cùng chính quyền cộng sản sẽ phải làm theo, họ sẽ phải đưa nội vụ ra trước các cơ quan tài phán quốc tế, trước tòa án về luật biển của Liên Hiệp Quốc.

Trên tạp chí Dân Chủ và Phát Triển, Tiến Sĩ Âu Dương Thệ đã đặt hết trách nhiệm về vụ Trung Quốc lấn chân trên biển này cho Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản, đặc biệt là hai người: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, kiêm bí thư Quân Ủy Trung Ương, và Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, phó bí thư QUTU. Ông Âu Dương Thệ kể lại, vào giữa tháng 4 vừa qua Trung Quốc đã cho Thượng Tướng Quách Bá Hùng, ủy viên Bộ Chính Trị và phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Cộng Sản Trung Quốc, sang Việt Nam, đưa ra yêu sách ba điểm với Nguyễn Phú Trọng và Phùng Quang Thanh. Các yêu sách đó nhấn mạnh hai đảng Cộng Sản phải “(1) tăng cường tiếp xúc chiến lược, nắm vững định hướng đúng đắn phát triển quan hệ Trung-Việt; (2) coi trọng tuyên truyền hướng dẫn, tích cực tạo bầu không khí hữu nghị, đoàn kết, hợp tác Trung-Việt; (3) làm phong phú nội dung giao lưu, nỗ lực nâng cao trình độ hợp tác thiết thực giữa quân đội hai nước.”

Ông Âu Dương Thệ nhận xét: “Trong biến cố ngày 26 tháng 5 đã cho thấy, cả ba yêu sách trên của Bắc kinh đã được Nguyễn Phú Trọng và Phùng Quang Thanh thực hiện tốt: (1) Họ đã ra lệnh không cho các đơn vị Hải Quân và Không Quân Việt Nam ngăn chặn ba tầu tuần thám của Trung Quốc xâm phạm hải phận Việt Nam và tấn công tầu Bình Minh 02 - đó là nắm vững định hướng đúng đắn. (2) họ đã ra lệnh cho bóc ngay hai bài trên tạp chí Cộng Sản ngày 27 tháng 5; và không cho phép các báo Nhân Dân và Quân Ðội Nhân Dân được tường thuật với những hình ảnh tấn công ngang ngược của ba tầu Hải Quân Trung Quốc ngày 26 tháng 5! Chỉ còn một tờ báo điện tử của Cộng Sản Việt Nam còn đăng tin về vụ này (đó là tuyên truyền hướng dẫn).

Ngày Thứ Ba, 31 tháng 5, người phát ngôn bộ Ngoại Giao Trung Quốc Khương Du nói với các nhà báo tại Bắc Kinh rằng: “Chúng tôi yêu cầu phía Việt Nam dừng ngay các hoạt động của họ và không gây thêm rắc rối.” Không biết ai gây ra rắc rối? Chắc chỉ có hai ông Nguyễn Phú Trọng và Phùng Quang Thanh và Trung Ương Ðảng Cộng sản là muốn “không rắc rối!”

Còn tất cả mọi người Việt Nam yêu nước đều muốn phải làm cho ra nhẽ. Không thể để cho công lao bảo vệ non sông của bao thế hệ tổ tiên bị đảng Cộng Sản để cho biến thành bùn tất cả!
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Tại sao Trung Cộng lấn chiếm tại Biển Ðông?

Ngô Nhân Dụng
Vụ tàu hải giám của Trung Cộng cắt dây cáp của tầu Bình Minh 2 của PetroVietnam không phải là một biến cố lẻ loi, đơn giản, mà có thể là một bước nằm trong một chiến lược lâu dài của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh.

Có những lý do chiến lược khiến Bắc Kinh muốn bảo đảm quyền hành động tự do của họ trong vùng Biển Ðông nước ta. Họ có thể đạt được mục đích này bằng nhiều cách, nhưng đứng trước những phản ứng yếu ớt của chính quyền Việt Nam từ hàng chục năm qua mỗi lần phải đương đầu với nước láng giềng thì họ đã chọn chiến thuật lấn chiếm từng bước một, để đặt thế giới trước những sự đã rồi.

Vụ Bình Minh 2 tuy không đổ máu, không giết người, nhưng quan trọng hơn hẳn những vụ cướp, chiếm tầu đánh cá trước đây. Bằng cớ là Hoàn Cầu Thời báo, một cơ quan ngôn luận của Cộng Sản Trung Hoa đã lên tiếng về biến cố này với những lời lẽ đe dọa nặng nề, một hiện tượng trước đây chưa bao giờ thấy. Nhật báo Asahi, Nhật Bản, cũng nói rằng Trung Quốc ngày càng cứng rắn trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông; vì Cục Quản Lý Ðại Dương của Bắc Kinh mới đây đưa ra một phúc trình khuyến cáo sử dụng vũ lực quân sự để đạt mục tiêu trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng.

Tạp chí Hoàn Cầu Thời báo ở Bắc Kinh ngày 30 Tháng Năm 2011 đã viết bài bình luận nói đến vụ cắt dây cáp tầu Bình Minh 2. Bài viết không ký tên tác giả nào, cho thấy đây là lập trường chung của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Họ nhấn mạnh rằng vụ này là biến cố “nghiêm trọng nhất trong những năm gần đây.” Hoàn Cầu Thời báo, thuộc nhật báo Nhân Dân, Bắc Kinh, là cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Ðiều đáng chú ý là bài báo này không hề nhắc đến những khẩu hiệu êm ái như “đồng chí, anh em, hợp tác toàn diện, 16 chữ vàng,” vân vân mà các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng gần đây đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trái lại, tờ báo cảnh cáo bằng những lời đe dọa rất cứng rắn. Thí dụ, họ viết rằng việc tầu Bình Minh 2 đi khảo sát địa chấn là “thách thức lòng kiên nhẫn của Trung Quốc... Nếu như Việt Nam cứ tiếp tục hoạt động trong vùng biển chủ quyền của Trung Quốc, thì sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.”

Chúng ta biết rằng Bình Minh 2 chỉ hoạt động trong khu vực thuộc phạm vi “đặc quyền kinh tế” của nước ta, mà mỗi quốc gia đều có quyền đó trên vùng ven biển của mình. Khu vực này nằm hoàn toàn bên ngoài, ở về phía Tây của “đường chín đoạn” mà Trung Cộng đã vẽ trên bản đồ, coi Biển Ðông nước ta như là “ao nhà” của họ. Cả thế giới phủ nhận “vùng lưỡi bò” của Trung Cộng. Cho nên họ gây xung đột với Việt Nam, là để nhân cơ hội đó xác nhận “vùng biển chủ quyền của Trung Quốc,” đặt thế giới trước một sự đã rồi nếu mỗi lần bị họ lấn áp Việt Nam không phản đối mạnh mẽ, công khai, ra trước các cơ quan tài phán quốc tế.

Hoàn Cầu Thời báo đã đe dọa rằng “tình trạng tự kiềm chế của Trung Quốc không phải là không có giới hạn,” sau khi tố cáo tầu Bình Minh 2 vi phạm vùng chủ quyền của họ. Và họ còn nhắc nhở, “Trung Quốc là nước lớn, sức mạnh hơn hẳn Việt Nam!” Báo này đã đăng thêm những lời “góp ý kiến” của độc giả, và tất cả biểu lộ tinh thần đề cao Hán tộc, khinh thường người Việt Nam.

Liệu Trung Cộng có sẵn sàng tấn công Việt Nam để thực hiện quyền làm chủ vùng Biển Ðông hay không? Chắc họ sẽ không gây chiến tranh nếu có thể đạt được cùng một mục tiêu một cách hòa bình, theo lối tầm ăn dâu.

Nhưng đối với Trung Quốc, hoạt động tự do trong vùng Biển Ðông nước ta là một điều kiện thiết yếu về cả kinh tế lẫn quân sự. Chiếm được vùng này là bảo đảm an ninh cho Trung Quốc nếu xẩy ra chiến tranh với các cường quốc khác. Liệu những người cầm quyền ở Bắc Kinh có trù liệu sẽ có ngày lâm chiến với Mỹ, hay Ấn Ðộ, hoặc Nhật Bản hay không? Trong một tương lai gần thì chắc chiến tranh khó xẩy ra vì Trung Quốc còn quá yếu. Nhưng không ai tiên đoán được 50 năm đến 70 năm nữa thế giới sẽ như thế nào. Ðối với Bắc Kinh thì tốt nhất là hãy chuẩn bị sẵn sàng để nếu có chiến tranh thì Trung Quốc không bị phong tỏa kinh tế trên mặt biển, như Nhật Bản thời Ðại Chiến Thứ Hai.

Các nhà chỉ huy quân sự ở Trung Quốc chắc hẳn đã nghiên cứu lịch sử để thấy bài học Nhật Bản thất trận. Hiện nay hơn ba phần tư số nhập cảng về dầu khí, nguyên liệu của Trung Quốc đang phải chuyển qua eo biển Malacca giữa Indonesia và Mã Lai Á, rồi đi qua ngang vùng Biển Ðông của nước ta để tiếp tế cho các nhà máy hoạt động trong lục địa. Tình trạng này không khác gì Nhật Bản trước cuộc Ðại Chiến Thứ Hai.

Quân đội Thiên Hoàng thua năm 1945 không phải vì những người lính Nhật và cấp chỉ huy của họ yếu kém. Lý do khiến Nhật gây chiến với Mỹ, rồi thua trận, đều vì kinh tế bị phong tỏa.

Trước chiến tranh, Nhật Bản là quốc gia xuất cảng đứng hàng thứ tư trên thế giới; hàng hải thương thuyền có trọng tải đứng hàng thứ ba; trong thập niên 1930 kinh tế Nhật phát triển nhanh chóng, bành trướng sang Mãn Châu, Cao Ly, rồi vào Trung Quốc trong khi cả thế giới lâm vào cảnh đại khủng hoảng. Số sản xuất công nghiệp Nhật lớn hơn tất cả các nước Á Châu khác cộng lại. Số công nhân trong các công nghiệp tăng từ 5.8 triệu năm 1930 lên tới 9.5 triệu năm 1944.

Sau khi quân Nhật tiến vào Việt Nam với sự thỏa thuận của chính quyền thuộc địa Pháp, năm 1941 Hải Quân Mỹ đã bắt đầu ngăn cản các tầu chở dầu lửa của Nhật đi qua vùng biển Ðông Nam Á. Nhật đã tấn công Pearl Harbor vì nghĩ rằng có thể làm tê liệt lực lượng Hải Quân Mỹ ở Thái Bình Dương, để buộc Mỹ phải đứng ngoài. Giới tướng lãnh Nhật đã tính lầm vì hoàn toàn không biết gì về tiềm năng kinh tế của Mỹ. Trong những năm từ 1942 đến 1945, Mỹ sản xuất hơn 2,000 triệu tấn than đá, Nhật chỉ có dưới 200 triệu tấn; Mỹ sản xuất 6,660 triệu thùng dầu, Nhật dưới 30 triệu; Mỹ chế tạo 280,000 máy bay, Nhật chỉ có 65,000. Những năm sau cùng 1944, 45, sức mạnh của quân đội Nhật tàn dần vì kinh tế suy yếu, càng ngày càng yếu, khi lực lượng tầu ngầm, Không Quân và Hải Quân Mỹ tấn công các tầu chở hàng của Nhật trong Ðông Nam Á, trong đó có vùng Biển Ðông nước ta.

Nên nhớ đến năm 1945 Nhật vẫn chiếm đóng Mãn Châu, Hàn Quốc, Ðài Loan, các vùng duyên hải Trung Quốc, cùng Miến Ðiện, Việt Nam, chính phủ Nhật tự do bóc lột tài nguyên các nước này, phục vụ guồng máy chiến tranh. Nhưng bấy nhiêu vẫn chưa đủ. Nhật Bản cần ít nhất mỗi năm 6 triệu tấn dầu mua từ Miến Ðiện, từ Borneo và các đảo thuộc Indonesia bây giờ, vì trong nước chỉ sản xuất được 250,000 tấn. Dầu nhập cảng về Nhật phải đi qua vùng Biển Ðông nước ta, cũng như tình trạng Trung Quốc bây giờ.

Chỉ tới Tháng Ba năm 1945 máy bay Mỹ mới đánh bom vào các thành phố Nhật một cách quy mô; nhưng kinh tế Nhật đã co cụm vì bị phong tỏa trên mặt biển khi tầu ngầm Mỹ bắt đầu tấn công các thương thuyền chở hàng hóa, nguyên liệu và dầu lửa từ năm 1944. Năm đó, Nhật Bản tiêu thụ gần 20 triệu thùng dầu nhưng chỉ nhập cảng được 5 triệu vì bị tầu ngầm Mỹ ngăn cản. Riêng tầu ngầm Flasher đã đánh đắm 21 chiếc tầu thủy Nhật, trong đó có 4 tầu chở dầu chở mỗi chiếc 100,000 thùng dầu; trong Tháng Mười Hai năm 1944 tầu ngầm này đã làm cho số dầu lửa về đến nước Nhật giảm bớt 2 phần ba. Trong năm đó, tầu ngầm Mỹ đánh hư hơn 600 thương thuyền Nhật tổng cộng trọng tải 2.7 triệu tấn. Số hàng nhập cảng vào nước Nhật giảm 40%. Vào lúc cuối cuộc chiến, kinh tế Nhật chỉ bằng 10% của Mỹ, mà một lý do chính là không đủ nguyên liệu và dầu lửa, nhiều nhà máy bỏ trống không dùng đến. Từ đầu năm 1945 Nhật Bản không còn sức tiếp tế cho các đạo quân viễn chinh, vũ khí không sản xuất đủ, trang bị kỹ thuật cho quân sĩ như máy radar, máy truyền tin, không tân tiến bằng quân Ðồng minh vì các ngành khoa học, kỹ thuật và việc sản xuất trong nước bị tê liệt.

Thua kém vì kỹ thuật tiến chậm là một yếu tố thua trận. Ở Miến Ðiện, quân Nhật đã bị quân Anh đánh lừa bằng kế dương Ðông kích Tây; đánh vào hai địa điểm ở phía Tây Mandalay để nhử quân Nhật, nhưng cuối cùng tấn công vào yếu điểm ở phía Nam để chặn đường tiếp tế từ Rangoon lên. Quân Nhật bị lừa vì hệ thống truyền tin quá cổ lỗ! Tháng Ba 1945, Tướng Masaki Honda tại mặt trận Meiktila, Miến Ðiện báo cáo lên cấp chỉ huy: “Trong 2 sư đoàn của tôi, không tới 20 khẩu súng còn hoạt động bình thường... Súng chống xe tăng của chúng ta bắn trúng xe địch nhưng đạn bị văng ra!” Tháng Năm năm 1945, phi công Nhật Masashiko Ando bay thám thính khám phá một tầu ngầm Mỹ ở ngoài khơi Cam Ranh. Ando bay trên cao 2000 mét, quay đầu để đuổi theo phía sau chiếc tầu ngầm, xuống thấp, tới 200 mét thì thả loại bom chìm sâu chống tầu ngầm xuống mục tiêu, nơi chiếc tầu mới lặn. Ando về Cam Ranh, báo cáo đã thành công. Nhưng chiếc tầu ngầm Mỹ đã thoát nạn, vì kỹ thuật “lặn nhanh” của tầu Mỹ đã tiến xa hơn Nhật. Chỉ trong 35 giây đồng hồ là tầu đã lặn rất sâu, trong khi bom Nhật không xuống được sâu như vậy!

Không một quốc gia nào có thể nhắm mắt không nhìn thấy bài học thất trận của Nhật Bản trong cuộc Ðại Chiến Thứ Hai, sau khi kinh tế bị phong tỏa. Nếu những người lãnh đạo Trung Quốc lo xa có ngày nước họ phải lâm chiến, thì họ sẽ phải lo bảo đảm các con đường tiếp liệu. Trên đất liền, Trung Quốc đang thiết lập những ống dẫn dầu từ các nước vùng Trung Á, từ Iran, vân vân, qua miền Tây nước họ; và cả dự án ống dẫn dầu từ bờ biển Miến Ðiện đi lên Vân Nam. Ðồng thời, họ thiết lập đầu cầu cho các căn cứ hải quân ở bờ biển Miến Ðiện, trong khi nhòm ngó cả Campuchia. Bộ tham mưu chiến lược của họ chắc phải đặt câu hỏi: Tại sao không nhắm tới bờ biển Việt Nam? Năm 1945, máy bay diệt tầu ngầm của Nhật đã xuất phát từ phi trường Cam Ranh đi tìm bắn các tầu ngầm Mỹ.

Trung Cộng có cần phải chiếm để sử dụng các hải cảng của Việt Nam hay không? Chắc họ không cần. Vì các hòn đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa cũng đủ để thiết lập các phi trường và căn cứ bảo vệ con đường hàng hải trong vùng Ðông Nam Á. Nhưng Trung Cộng nhất thiết phải được tự do hoạt động, nếu có thể thì làm chủ cả vùng Biển Ðông, để bảo đảm con đường tiếp liệu này. Hiện nay Phi Luật Tân, Indonesia và Singapore đều thân Mỹ, eo biển Malacca bị Mỹ kiểm soát. Chỉ còn có một nước Việt Nam có thể là nơi Trung Cộng có thể dùng để củng cố thêm cho hàng rào bảo vệ đường tiếp tế cho họ.

Giờ đây Trung Cộng không thể gây chiến rồi chiếm Việt Nam, vì cả thế giới sẽ ngăn cản. Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đang tới dự một Hội nghị Shangri-La về an ninh vùng ở Singapore; từ năm ngoái các nước Ðông Nam Á đã yên tâm vì chính phủ Mỹ không bỏ rơi vùng này. Nhưng dù không gây chiến, Trung Quốc vẫn có thể tìm lý do để “cho Việt Nam một bài học” rồi lại rút về ngay, như Ðặng Tiểu Bình đã làm trước đây. Nói cho cùng thì ngày nay một cường quốc cũng không cần chiếm đóng một nước khác mà vẫn thiết lập được một chính quyền hoàn toàn nghe theo lời của họ, bằng những phương pháp mua chuộc, dọa nạt!

Vì vậy, chúng ta cần phải chứng tỏ cho cả thế giới thấy nhân dân Việt Nam không chấp nhận quyền bá chủ của Trung Quốc bằng cách phản đối mạnh mẽ những vụ xâm phạm hải phận nước ta. Chính quyền Việt Nam phải bày tỏ thái độ một cách cứng rắn hơn, không khiếp nhược trước những lời đe dọa của Hoàn Cầu Thời báo. Một cách cụ thể, Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải chính thức rút lại một lá thư mà ông Phạm Văn Ðồng đã ký năm 1958, trong đó ông nhân danh một chính phủ Việt Nam tỏ ý hoàn toàn ủng hộ bản “Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải” ngày 4 Tháng Chín năm 1958. Vì bản Tuyên bố này công nhiên nói Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Lá thư trên là một hành động phản quốc, mà hậu quả là từ đó Bắc Kinh coi Việt Nam như một nước do họ bảo hộ. Phải chấm dứt tình trạng đó!
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

TC Bán Trẻ Sơ Sinh
Vi Anh
Nghe phần điểm báo liên quan đến Trung Cộng “Bán trẻ sơ sinh của những gia đình vượt tiêu chuẩn một con” của đài RFI của Pháp vào Thứ năm 12 Tháng Năm 2011, mà chưa dám tin ở lỗ tai mình. Phải tìm trên Internet hai tờ Le Figaro và Liberation để đọc hai bài báo gốc viết về thông tin nghị luận này - cho chắc ý. Coi rồi dù cắn răng dằn thế mấy từ lương tâm cũng thốt ra,Nghe phần điểm báo liên quan đến Trung Cộng “Bán trẻ sơ sinh của những gia đình vượt tiêu chuẩn một con” của đài RFI của Pháp vào Thứ năm 12 Tháng Năm 2011, mà chưa dám tin ở lỗ tai mình. Phải tìm trên Internet hai tờ Le Figaro và Liberation để đọc hai bài báo gốc viết về thông tin nghị luận này - cho chắc ý. Coi rồi dù cắn răng dằn thế mấy từ lương tâm cũng thốt ra, “Trời ơi, TC ác gì mà ác dữ vậy.” Chẳng những Trung Cộng ác trong việc để cho đồ ăn thức uống độc hại tràn lan trong nước và trên thế giới, khiến hầu như nhãn hiệu made in China bây giờ thiên hạ coi như dấu hiệu hiểm nghèo. Thế vẩn chưa đủ. TC còn ác với trẻ em sơ sinh hoàn toàn vô tội vì các em đâu có chọn được cha mẹ để sanh ra, thế mà Đảng Nhà Nước lại hành tội những trẻ em này vì cha mẹ vi phạm pháp lịnh và kế hoạch của Đảng Nhà Nước CS chỉ cho mỗi gia đình gia đình 1 con thôi. TC để cho đảng viên cán bộ ở các tỉnh, quận, xã tịch thu đứa bé đem bán cho ngoại quốc làm con nuôi để lấy tiền bỏ túi riêng và tăng ngân sách địa phương để “cải thiện” cho đảng viên cán bộ như tỉnh ủy và ủy ban tỉnh Hồ Nam mới bị phanh phui đây.

Trước tiên chuyện cũ nhưng đang vẫn còn là thời sự dài dài, đồ ăn, thức uống “Made in China” nổi tiếng độc hại cho sức khoẻ con người và súc vật. Công luận nước Mỹ, thị trường lớn nhứt thế giới, bắt đầu bàng hoàng với những thức ăn cho thú cưng mà người Mỹ thích nuôi, do Trung Cộng xuất cảng sang Mỹ để bán. Con nào ăn vô không đau cũng chết. Kế đến là đồ chơi cho trẻ em có chất độc như trong sơn, màu bị Mỹ phát giác trả về cả tàu. Tiếp theo kem đánh răng có chất độc có người chết ở Mễ.
Và trở nên phổ thông là những tin đồ ăn thức uống của TC gây độc hại lan tràn khắp TQ và thế giới. Sữa bột pha độc chất melamine năm 2008, làm 6 em nhỏ thiệt mạng, 300,000 em khác ngã bệnh; thỉnh thoảng vụ này vẫn còn tái diễn. Làm giá sống bằng đậu lại để độc chất sodium nitrite cho to cọng, có vẻ tươi bóng ngon lành. Đậu đũa thấm đẫm thuốc trừ sâu. Sữa có pha hoá chất từ phế liệu da. Bánh bao nhưn làm bằng giấy cạt tông. Bánh bột có chất nhôm để nhiều bột nổi. Thịt heo phát quang vì nhiễm chất lân tinh. Thịt heo nhiễm chất hoá học vỗ béo, nuôi mau lớn. Gạo nhiều chất kim khí nặng trong đó có 10% chất cadmium rất độc. Còn hột dưa nhuộm màu có chất rhodamine. Trà sấy bằng ống thoát hơi máy nổ đầy chất than, monooxide. Thuốc Bắc đầy bụi bậm khi phơi trên sân, đường là chuyện quá phổ thông rồi. Măng tre làm bằng đũa tre ngâm độc chất hoá học hai ngày.
Nên hầu hết người mua cầm món đồ ăn, uống, thuốc lên thấy “made in China” thì đa số bỏ xuống, bỏ đi, dù giá rẻ.

TC làm đồ gian, đồ giả, đồ độc bán cho dân và cho thế giới chưa đủ.
Thứ đến, TC còn bán trẻ sơ sinh nữa. Báo Pháp Le Figaro thân chính và Libération thiên tả cùng một ngày đi một tin chấn động về TC. Nhà cầm quyền CS ở tỉnh Hồ Nam qua nhiều mánh khoé như làm giấy tờ giả để bán trẻ sơ sinh cho người ngoại quốc xin con nuôi. Bán liên tục, bán lâu rồi, bán có tổ chức, bán thành hệ thống. Những trẻ bị bán không phải là con cán bộ đảng viên lỡ ham vui, vi phạm luật gia đình một con của Đảng Nhà Nước, tìm cách che đậy tội của mình với Đảng để khỏi bị kỷ luật, mất chức, mất quyền. Cán bộ đảng viên có tiền có quyền có thể che dấu con ngoài kế hoạch không khó.

Những đứa trẻ bị bán đó là con của người dân lỡ có hơn 1 con, trái với chánh sách của Đảng Nhà Nước TC. Pháp lịnh gia đình 1 con của Đảng, phong tục trọng nam của người Trung Hoa, có con trai nối dõi gia đình làm người dân TQ thường phải vi phạm pháp lịnh Đảng nếu đứa con đầu lòng lỡ sanh là gái thì phải lén sanh thêm một đứa trai. Những người dân này bị phạt. Nếu không đủ tiền nộp phạt (khoảng 6.000 yuan, tương đương 600 euro). Đảng Nhà Nước bắt buộc cha mẹ phải giao con cho trại trẻ mồ côi của chính quyền địa phương, như buộc đem con đi thế nợ thời phong kiến vậy. Nhưng CS bạo hơn thời phong kiến, tịch thu đứa con luôn và giả mạo giấy tờ đem “bán” cho người ngoại quốc muốn nhận con nuôi.

Theo hai tờ báo Figaro và Liberation, người Mỹ và người Hoà Lan là những người bị nhà cầm quyền tỉnh Hồ Nam giả giấy tờ bán trẻ em dưới hình thức con nuôi, nhiều nhứt. Giá mua là 2000 Euros trở lên. Trại mồ côi của Đảng Nhà Nước, nơi tạm chứa những trẻ em ngoài kế họach cán bộ đảng viên CS tước đoạt của cha mẹ, được chia 100 euros khi giao đứa trẻ cho người mua nuôi. Còn cha mẹ đứa nhỏ thì chẳng biết và chẳng được đồng nào. Đảng Nhà Nước coi đưa nhỏ sanh ngoài kế khoạch là sở hữu của Đàng Nhà Nước, Đảng Nhà Nước tự do buôn bán như chủ nô thời nô lệ. Số tiền thu được một phần sung vào quỹ của Ủy Ban, một phần vô túi cho cán bộ đảng viên có chức có quyền, mà còn được “trên” khen là “hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch gia đình 1 con”.

Theo Libération, hoạt động này rất phổ biến tại vùng đất nghèo đói Thiệu Dương (Shaoyang), tỉnh Hồ Nam kể từ năm 2003.
Tuần báo Caixin phanh phui tệ nạn này ra. Công luận trên các trang mạng ở TQ chấn động. CS Bắc Kinh nói sẽ mở cuộc điều tra.
Chuyện bán trẻ sơ sinh cho người ngoại quốc mới là một tập của truyện dài mà chánh sách một con của TC gây ra cho dân. Từ lâu lắm rồi để thi hành nghiêm chỉnh, đạt thành tích kề hoạch gia đình 1 con với trung ương, nhà cầm quyền địa phương siết dân. Nhà cầm quyền áp lực buộc dân phá thai, nạo thai, sa thải khỏi việc làm, đuồi nhà đi chỗ khác. Dân muốn có con trai nồi dõi tông đường mà lỡ sanh con gái trước hay dùng gối làm nghẹt thở, trấn nước cho chết, nhà cầm quyền nhắm mắt làm ngơ để đạt thành tích gia đình 1 con.

CS còn lợi dụng pháp lịnh này làm tiền nữa như phần điểm báo của RFI “Bán trẻ sơ sinh của những gia đình vượt tiêu chuẩn một con”, dựa vào hai bài báo của hai tờ báo Pháp Le Figaro va Liberation đã phân tích ở trên.
Sau cùng, cái tội trời không dung, đất không tha, người người oán hận đó, Đảng CS coi như không có gì vì người CS tin “cứu cánh biện minh cho phương tiện”./.

( Vi Anh)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 9 guests