Tạp Ghi

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

HOÀ GIẢI hay HOÁ GIẢI ?

Lê Duy San


Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, bọn Cộng San Hà Nội đã áp đặt một chế độ độc tài chuyên chính vô sản trên toàn quốc Việt Nam. Các chính sách vô cùng độc ác và tàn bạo như “Học Tập Cải Tạo” để cho đi tù không cần xét xử hàng trăm ngàn quân nhân, công chức của Việt Nam Cộng Hoà, các cán bộ, các đoàn viên của các đảng phài chính trị và cả các văn nghệ sĩ miền Nam, “Kiểm kê tài sản” để cướp đoạt tài sản của các các giới doanh thương cũng như các công kỹ nghệ gia, “Khu kinh tế mới” để cướp nhà, cướp của và xua đẩy những người này ra khỏi thành phố. Chưa hết, thấy nhiều người vượt biên bỏ nước ra đi, chúng cho “Vượt biên bán chính thức” để vừa thu được vàng, vừa tống xuất được bọn người Việt gốc Hoa và các thành phần mà bọn chúng cho là ăn bám xã hội nhưng không có lý do gì để bỏ tù hoặc bắt đi “học tập cải tạo”.

Với những chính sách vô cùng độc ác và tàn bạo trên, bọn Cộng Sản Hà Nội hy vọng rằng sẽ vô hiệu hoá được tất cả các thành phần chống đối chúng hoặc có thể trở thành đối nghịch để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh lên Xã Hội Chủ Nghĩa, một Thiên Đường mà bọn chúng tin tưởng rằng, nếu không hơn thì ít nhất cũng phải bằng các nước tiền tiến nhất thế giới.

Nhưng thực tế đã ngược hẳn lại, sau hơn 10 năm thống trị miền Nam và sau hơn 30 năm thống trị miền Bắc, bọn Cộng Sản Hà Nội đã đưa cả một đất nước giầu có về tài nguyên cũng như nhân lực, cả một dân tộc có tiếng là thông minh, cần cù và chịu khó thành một đất nước điêu tàn, một dân tộc ngu dốt và nghèo khổ nhất thế giới. Chính vì vậy mà năm 1985, bọn Cộng Sản Hà Nội đã phải noi gương quan thầy của chúng là Trung Cộng, nới lỏng một vài lãnh vực, nhất là lãnh vực kinh tế như cho phép dân chúng làm kinh doanh nhỏ và xã hội như cho phép những người có thân nhân ở ngoại quốc được nhận qùa cáp, tiền bạc của thân nhân gửi về để cứu vãn phần nào sự nguy khốn của chế độ.

Không những thế, bọn Cộng Sản Hà Nội còn giả vờ cởi trói văn nghệ để cho một số người trong đó có cả một số tay sai của chúng viết bài phê bình cán bộ, viết truyện chỉ trích nhà nước để tạo nên một bầu không khí cởi mở và một thứ văn nghệ chống đối gỉa tạo gọi là “Văn chương phản kháng”. Chúng cho cán bộ ra ngoại quốc ca tụng người Việt hải ngoại, những người mà trước kia bọn chúng gọi là những thành phần đĩ điếm, trộm cắp, là có khả năng cao, có tiềm năng lớn cùng khích động lòng yêu nước của người Việt hải ngoại và kêu gọi hãy quên đău thương, hận thù để cùng nhau xây dựng đất nước, đưa dân tộc ra khỏi tình trạng lạc hậu, nghèo đói. Điều này đã làm cho một số người Việt hải ngoại, ngay từ năm 1995, không hiểu vì nhậy cảm dễ tin hay vì hậu ý riêng hoặc vì muốn làm cò mồi cho bọn chúng, đã dám kết luận rằng”Hai mươi năm trước đây, chúng ta là những kẻ thua cuộc trong thời chiến. Ngày nay, năm 1995, chúng ta đã trở thành những kẻ thắng cuộc. Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này.”

“Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này” nghĩa là thế nào? Phải chăng họ muống chúng ta “hãy quên hận thù”, ‘hãy hoà hợp, hoà giải” với bọn Cộng Sản Hà Nội?

Làm sao chúng ta có thể quên được hận thù, làm sao chúng ta có thể hoà hợp, hoà giải với cướp của giết người? bọn bán nước, hại dân? Ngay nhà văn Tô Hải, một người đã đi theo Cộng Sản, một người suốt đời đã sống dưới chế độ Cộng Sản Hà Nội cũng đã phải than rằng”

“Làm sao có thể hòa giải-hòa hợp với hàng vạn gia đình, con cháu họ khi cha ông họ bị cướp sạch ruộng đất, nhà cửa, bị đấu tố rồi giết hại bằng đủ kiểu dã man như thời Trung Cổ bởi những Đoàn, Đội Cải cách ruộng đất cơ chứ?...........

Làm sao có thể hòa giải với hàng triệu gia đình , sau chiến thắng Điện Biên, phải bỏ hết của cải, nhà cửa, xưởng máy "di cư"vô Nam để tìm tự do. Những người ở lại, thì mất hết sau các đợt cải tạo tư sản, cải tạo nhà đất, bị tịch thu từ cái máy may đến cửa hàng không quá 3 mét ở các phố hàng Đào, hàng Ngang, hàng Trống.... và nhiều nhà hơi cao, cửa hơi rộng cũng vị tịch thu hoặc bố trí cho thành phần cốt cán vào ở cho đến nay cũng cấm đòi lại………

Làm sao hòa giải với con cháu những người văn nghệ sỹ, trí thức bị đi tù không án, không thời hạn, thậm chí ra tù cũng chết dần chết mòn cả thể xác lẫn sự nghiệp, dù hôm nay có đền bù một cái giải thưởng này nọ kèm theo tí tiền còm nhưng không một lời xin lỗi!! Tớ không tin con cái, cháu chắt họ thôi căm thù đâu!

Làm sao có thể hòa giảỉ với hàng triệu gia đình có cha, ông là sỹ quan phía "bên kia" bị đánh lừa bằng những lời hứa hẹn kiểu ông Trần văn Trà "Người Việt Nam không ai thắng ai thua, Chỉ có Đế Quốc Mỹ là thua thôi!", đã hồ hởi (?) đi "học tập mang theo lương thực 10- 20" ngày để rồi bị đi mút mùa ở các trại cải tạo nơi rừng sâu nước độc, để ỏ nhà vợ con bị xua đi kinh tế mới... và không ít người đã mất xác cho đến nay, bao gia đình vẫn phải về tìm hài cốt ở những nơi chồng, cha họ đã từng bị "học tập", dưới danh nghĩa "khúc ruột ngàn dặm" một cách đắng cay và mai mỉa...

Làm sao có thể hòa giải-hòa hợp với những người phải bỏ nước ra đi, sống ở quê người, những người bị làm mồi cho cá mập đại dương, cho lũ cướp biển, bỏ lại tất cả của cải ,nhà cửa, xe cộ cho mấy ông cán bộ lấy làm chiến lợi phẩm ? Cho đến tận hôm nay, mỗi lần về "du lịch thăm quê" nhìn ngôi nhà mình, cửa hàng mình, xưởng máy mình nay đã trở thành "của riêng" của mấy ông cán bộ cs đang làm chủ hợp pháp có đầy đủ giấy đỏ, giấy hồng mà chỉ dám đi qua mà chửi đổng?.........

Và còn hàng ngàn, hàng vạn thứ chủ trương, hành động gây thù, gây oán ngàn đời không rửa sạch nữa, xảy ra suốt hơn 60 năm tớ sống và làm việc trong kinh hoàng và sợ hãi thường trực nữa.....

Cho nên tớ mới nghĩ rằng: CHỈ KHI NÀO, NHỮNG KẺ GÂY NÊN THÙ HẬN NHÌN RA LÀ MÌNH CÓ TỘI THÌ MAY RA SỰ HẬN THÙ MỚI ĐƯỢC DẦN DẦN ĐƯỢC NGUÔI NGOAI”.

Có người cho rằng bọn Cộng Sản Hà Nội muốn “Hoà Hợp, Hoà Giải”. Thật ngây thơ và ngu xuẩn! Làm sao chúng chiụ hoà hợp hoà giải khi mà bọn đang nắm quyền trong tay, đang ăn trên ngồi trốc? Hoà hợp hoà giải gì mà chúng vẫn giam giữ cả ngàn người chỉ vì họ bất đồng chính kiến với chúng hoặc chỉ vì họ đã phổ biến một vài bài báo tỏ bầy những nguyện vọng chính đáng của dân tộc? Vậy mà nói: “Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này?” Vậy thì phải bắt lấy cơ hội này để làm gì? Phải chăng họ muốn chúng ta, những người đã bị bọn Cộng Sản Hà Nội cướp đoạt hết tài sản và đẩy lên rừng, ra biển với hai bàn tay trắng, nay lại đem tiền của trở về hợp tác với bọn chúng? Lời kêu gọi này cũng chẳng khác gì lời kêu gọi “Hãy xóa bỏ hận thù” và Hoà hợp hoà giải” của bọn Cộng Sản Hà Nội và một số tay sai , trở cờ hoặc cò mồi trước đây đã từng được cổ xúy rầm rộ qua các phong trào như “Ủy ban xây dựng và tái thiết VN” trước đây của NBC, NVT, “Kế hoạch hóa dân chủ VN và giải pháp chính phủ Liên Hiệp” của Stephen Young, của các nhón như “Thông Luận”, “Hợp Lưu” v.v…và vài cá nhân như Phó bá Long, Lê Xuân Khoa, Nhật Tiến, Thụy Khê, Khánh Trường v.v…

Thực ra thì chiêu bài ”Xóa bỏ hận thù” hay “Hoà hợp hoà giải” đã được bọn Cộng Sản Hà Nội dùng đi dùng lại nhiều lần, nhưng mỗi lần ở mỗi hoàn cảnh khác nhau và chủ đích khác nhau.

Năm 1945, để cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, bọn Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ được gọi là Việt Minh đã kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân, mọi đảng phái chính trị, mọi tôn giáo phải đoàn kết để làm một cuộc cách mạng dân tộc. Nhưng sau khi cướp được chính quyền, thay vì hoà hợp, hoà giải với các đang phái quốc gia, chúng đã hoà hợp hoà giải với thực dân Pháp để tiêu diệt tôn giáo và các đảng phái chính trị, nhất là Việt Nam Quốc Dân Đảng, một đảng phái quốc gia có thực lực nhất. Chính Đức thày Huỳnh Phú Sổ cũng vì qúa tin vào lời đường mật của bọn chúng nên đã bị bọn chúng thủ tiêu trên đường đi đến phó hội với bọn chúng.

Năm 1954, sau khi ký Hiệp Định Genève chia cắt Việt Nam, bọn Cộng Sản Hà Nội lại một lần nữa kêu gọi đoàn kết khi tiếp thu miền Bắc và cho các đàn em như Nguyễn Bảo Hoá (Tô Nguyệt Đình), Phạm Văn Huyến, Tôn Thất Dương Kỵ v.v… thành lập :Phong Trào Hoà Bình” ở miền Nam để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử vào năm 1956.

Năm 1967, bọn Cộng Sản Hà Nội lại cho các tay sai thành lập một phong trào khác lấy tên là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình để chuẩn bị cho cuộc tổng công kích vào năm 1968.

Năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, bọn Cộng Sản Hà Nội lại cho thành lập một lực lượng thứ ba với chủ trương “Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc” để chuẩn bị cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975.

Gần đây, trước sự Trung Cộng cưỡng chiếm biên giới và lãnh hải của Việt Nam cũng như sự bất mãn của dân chúng vì sự lộng quyền của chính quyền địa phương, nhất là bọn công an, chúng lại cho bọn tay sai, nằm vùng ở hải ngoại đưa ra chiêu bài “hãy xoá bỏ hận thù để đoàn kết chống giặc Tầu xâm lược” mà một trong những kẻ to mồm nhất la Bác Sĩ Nguyễn Thị Thanh ở Canada. Thử hỏi chúng (bọn Cộng Sản Hà Nội) có chính quyền, có quân đội, có vũ khí trong tay, sao chúng không chống mà lại kêu gọi chúng ta, những người Việt hải ngoại trong tay chẳng có gì, chống ?

Bởi vậy cho nên chúng ta có thể kết luận rằng chiêu bài “Xoá bỏ hận thù, Hoà Hợp Hoà Giải” của bọn Cộng Sản Hà Nội bây giờ được đề ra cũng không ngoài mục đích để hoá giải những nỗi khó khăn, những sự oán hận của dân chúng đang dâng cao chứ thực tâm chúng chẳng bao giờ chúng hoà hợp hoà giải hay đoàn kết gì cả. Không những thế, chúng còn luôn luôn gây căm thù, gây chia rẽ để dễ trị vì đó là chính sách của bọn chúng. Thực vậy, cứ mỗi lần bọn Cộng Sản Hà Nội đưa ra một chiêu thức nào đó, là y như rằng cộng đồng người Việt hải ngoại của chúng ta lại chia ra làm hai phe: phe ủng hộ và phe chống đối khiến cộng đồng chúng ta đã chia rẽ lại chia rẽ thêm.

Tóm lại, bọn Cộng Sản Hà Nội chỉ muốn chúng ta. những người Việt Quốc Gia chống Cộng, quên đi hận thù để chúng dễ dàng dẹp tắt những bất mãn của người dân đang manh nha nổi dậy và hoá giải được tất cả những gì bất lợi cho chúng, để chúng dễ dàng dụ dỗ những thành phần ngây thơ, nhẹ dạ nhưng có khả năng, có tài chánh, về nước để chúng dễ bề cướp đoạt. Chính Tạp Chí Cộng Sản do cơ quan Lý Luận và Chính Trị của Trung Ương Đảng Cộng Sản VN trong số phát hành vào tháng 5 năm 1990 đã viết: ” Đổi mới không phải là đổi hướng đi về phiá XHCN, mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện hiệu qủa bằng những quan niệm đứng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức , bước đi và biện pháp thích hợp”.

Thực ra thì đối với chúng ta, những người đã từng sống dưới chế độ Cộng Sản, nhất là những người đã từng bị Cộng Sản bỏ tù, chúng chẳng thể nào lừa bịp được chúng ta một lần nữa. Nhưng đối với những thành phần di tản tức những người chưa từng nếm mùi cộng sản, nhất là những thành phần trẻ, sinh sau, đẻ muộn lại có lòng yêu nước, thương nòi thì lại không phải là điều khó khăn đối với bọn chúng. Đây là điều mà chúng ta cần phải cẩn trọng, đừng vì qúa hăng say, đừng vì qúa căm thù mà vô tình xô đẩy họ về phía cộng sản.

Để kết luận bài này, xin nhắc lại lời của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn viết trong bài “Vài nét về văn học Trung Quốc sau Cách Mạng Văn Hóa” đăng trong Đặc San CVA Bắc Cali năm 1993 như sau: “Phê phán khuyết điểm để sửa đổi chế độ Cộng Sản là một việc làm vô vọng. Chỉ có xóa bỏ chế độ đó mới thật sự giải quyết được vấn đề của con người”. Cố Tổng Thống Nga Boris Yeltsin cũng nói:”Cộng sản không thể nào sửa chữa được, mà cần phải đào thải nó”. Cựu Tổng Thống Nga và hiện là Thủ Tướng cũng nói:”Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời Cộng Sản nói là không có trái tim”.

Chú thích
(1) Bài này được viết vào năm 1995 và đã được đăng trong Đặc San Chu Văn An Bắc Cali dưới bút hiệu Lê Nhân. Nay xin bổ túc và để tên thật.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Image

Câu chuyện người đàn bà quyền lực
Mới đây, báo Hong Kong rộ lên thông tin về một phụ nữ tên là Lý Vi, người được mệnh danh là "Nữ hoàng gái bao".

Bà Lý vừa chuyển sang định cư tại Hong Kong sau khi các bê bối liên quan tới quan hệ tình ái của bà với một loạt các quan chức cao cấp hàng đầu Trung Quốc vỡ lở tại Hoa lục.

Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng số cuối tuần rồi có bài của ký giả Simon Parry nói về nhân vật gây chú ý này:

Bên ngoài một biệt thự xây kiểu cổ điển nhưng không kém phần lộng lẫy tại thành phố duyên hải Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông, môt đám thanh niên cười nói, chụp ảnh lưu niệm, đôi người nhón chân nghểnh cổ chiêm ngưỡng cảnh trí bên trong.
Image
Đây là biệt thự của nữ tỷ phú Lý Vi, người nổi danh vì các quan hệ với đàn ông có chức quyền.
Một trong số khách tham quan, cô Lili, nữ thư ký 24 tuổi, trầm trồ: "Bà Lý cho thấy là ở Trung Quốc phụ nữ cũng có thể có quyền chẳng kém đàn ông. Tôi ước sao tôi có thể mạnh mẽ như bà ấy".

Từ tay trắng, không đồng xu dính túi, trở thành tỷ phú, Lý Vi có ba "bí quyết": bà là phụ nữ, bà kiếm tiền bằng quan hệ với ít nhất 15 tình nhân có thế lực trong thế giới kinh doanh và trên chính trường; bà trốn thuế và tham nhũng.

Mỗi khi tình nhân của bà bị vướng vòng lao lý, lại một lần Lý Vi ra tòa làm chứng chống lại các vị chồng hờ.

Thế nhưng cuối cùng bà cũng phải ngồi tù bốn năm, và mới được trả tự do đầu năm nay để bắt đầu cuộc sống mới có phần tĩnh lặng hơn tại Hong Kong.

Thật may là bà còn giữ lại được phần lớn của cải.

Gây chấn động

Câu chuyện của Lý Vi rọi tia sáng vào giới quan tham khủng khiếp ở Trung Quốc và khi được tạp chí có uy tín Tài Kinh đăng tải, nó đã gây chấn động dư luận.

Tạp chí này tiết lộ tên tuổi một loạt tình nhân có thế lực của Lý Vi, nhưng nhật ký của bà có lẽ còn chứa đựng nhiều cái tên quan trọng hơn.

Không thể đầu tư vào quan hệ với riêng một người, mà cần có mạng lưới quan hệ càng rộng càng tốt, như một chiếc ô vậy.

Lý Vi
Số báo đăng chuyện Lý Vi nhanh chóng bị tịch thu và nội dung online bị xóa bỏ, thế nhưng những người mau mắn đã kịp lưu lại và truyền tay nhau câu chuyện nghe như tiểu thuyết của người đàn bà sinh ra ở Việt Nam.

Lý Vi được cho là không thực sắc nước hương thành, nhưng ăn mặc khêu gợi và dày dạn kinh nghiệm tình trường.

Bà cũng là một chủ nhà khả ái, có tài tổ chức những cuộc tiếp tân linh đình cho giới có tiền và có địa vị, nơi người ta không chỉ gặp mặt, trò chuyện, giải trí, mà còn khép lại những phi vụ nhiều triệu đôla.

Sinh ra tại Việt Nam năm 1963, Lý Vi cùng cha mẹ chạy sang Vân Nam, Trung Quốc, năm 1970 khi bà có bảy tuổi.

Tại đây, cô thiếu nữ họ Lý bắt đầu khởi nghiệp bằng nghề buôn bán thuốc lá và từng bước gây dựng mạng lưới quan hệ của mình.

Một trong những người tình đầu tiên của Lý Vi là Trịnh Thiếu Đông, một quan chức Bộ Nội vụ đã có vợ con.

Ông này giúp bà Lý và các chị em bà lấy hộ khẩu và căn cước để có thể đi lại làm ăn dễ dàng giữa Hong Kong và lục địa.

Những năm 1990, bà Lý cưới một quan chức địa phương chuyên trách về ngành thuốc lá, người đã giới thiệu bà với ông Lý Gia Đình, tỉnh trưởng Vân Nam, hơn bà 20 tuổi.

Tạp chí Tài Kinh viết rằng khi chứng kiến ông tỉnh trưởng tặng cho người tình cũ một chiếc thuyền trị giá sáu triệu Nhân dân tệ, Lý Vi mới hình dung ra làm 'vợ bé' cho quan lớn thì lợi hại thế nào.
Image
Đỗ Thế Thành, cựu bí thư Thanh Đảo, một trong các người tình của Lý Vi
Chẳng bao lâu sau, quan tỉnh trưởng bỏ tình nhân, cặp bồ với bà Lý.
Kể từ đó, quan hệ với Lý Gia Đình được người phụ nữ quyến rũ này nhanh tay chuyển thành hợp đồng và tiền bạc. Có tin đồn rằng bà cũng cặp bồ với Lý Bột, con trai ông tỉnh trưởng.

Thế nhưng năm 2001, ông Lý bị bắt bỏ tù vì tội ăn hối lộ. Lý Vi cũng bị bắt thẩm vấn, nhưng được thả.

Bà đúc kết ra một kinh nghiệm là "không thể đầu tư vào quan hệ với riêng một người, mà cần có mạng lưới quan hệ càng rộng càng tốt, như một chiếc ô vậy".

Ô dù lớn

Những năm Thanh Đảo phát triển mạnh nhờ vị trí khá thuận tiện cho việc đi lại từ Bắc Kinh và Thượng Hải cũng là thời gian Lý Vi quan hệ với người quyền thế nhất thành phố: Bí thư Thành ủy Đỗ Thế Thành.

Bí thư Đỗ là người nổi tiếng lỗ mãng và nóng nảy, nhưng lại nhanh chóng siêu đổ trước hấp lực của người phụ nữ họ Lý.

Ông đã giúp bà mua nhiều bất động sản giá hời ở thành phố du lịch đang phát triển nhanh chóng này.

Một nhân viên chính quyền Thanh Đảo thời đó kể lại: "Ông Đỗ mê bà ta như điếu đổ, bà nói gì ông cũng làm. Thực ra ông ta không thông minh lắm nên suy tính chuyện gì cũng là nhờ bà ta cả".

Với chiếc ô của ông Đỗ, Lý Vi trở nên nhà đầu cơ địa ốc số một Thanh Đảo, với các dự án như sân vận động thể thao nước Thanh Đảo, bến đỗ thuyền hạng sang và khu dịch vụ mua sắm theo mô hình Darling Harbour ở Sydney.

Các hợp đồng đầu tư, phát triển bất động sản mang lại cho bà hàng tỷ đôla, và tất nhiên, bà cũng rộng rãi "lại quả" cho người tình.

Sau này, bà Lý khai đã đưa ông Đỗ nhiều khoản tiền từ 200.000 tới một triệu tệ trong thời gian 2003-2006.

Thế nhưng Lý Vi không dừng ở đó, mà bước tiến tiếp với một số tình nhân giàu có và thế lực khác, trong đó phải kể tới Trần Đồng Hải, Chủ tịch tập đoàn dầu khí Sinopec.

Thế nhưng bà không trung thành với bất kỳ ai.

Khi ông Đỗ, rồi ông Trần bị bắt ra tòa vì tội tham nhũng thì bà chính là người khai báo các thông tin góp phần khiến các ông này phải ngồi tù.

Có lẽ đây cũng là lý do giảm tội cho bà trong các vụ rắc rối mà bà bị liên quan.

Bí quyết

Người ta vẫn còn đồn đoán bí quyết quyến rũ quan chức của Lý Vi là gì vì ở Trung Quốc chắn chắn có nhiều phụ nữ đẹp hơn bà.
Image
Lý Vi trên bìa tạp chí Tài Kinh
Có lẽ bà thông minh và xảo trá hơn chăng?

Có người thì cho rằng "tài năng" của Lý Vi nằm ở chỗ bà biết suy nghĩ và hành động như một người đàn ông.

"Bà ấy dùng nữ tính để quyến rũ tình nhân, nhưng khi quay sang sử dụng quan hệ thì Lý Vi hành xử như một ông quan chức lắm mưu đồ."

Không bị lên án, ngược lại, Lý Vi lại trở nên nhân vật được nhiều phụ nữ ngưỡng mộ, phần nào vì đã "trả thù" được giới đàn ông có tiền nhưng mèo mỡ.

Thống kê những năm gần đây cho thấy có tới 90% quan chức Trung Quốc đang bị điều tra tham nhũng là có bồ bịch.

Mao Trạch Đông từng có nhiều bồ trẻ, người kế nhiệm ông sau này là Giang Trạch Dân mới đây cũng bị đồn có cô nhân tình là ca sỹ kém ông 40 tuổi.

Văn hóa "vợ nhỏ" tồn tại ở Trung Quốc xưa nay và chắc còn tiếp diễn.

Nhưng trường hợp Lý Vi cho thấy, các cô vợ bé nay không còn yên phận thủ thường mà ngày càng chủ động tìm cách kiếm chác chia phần gia tài của các ông hám của lạ.

Mới đây, Hiệp hội Vợ bé Trung Quốc đã được thành lập với diễn đàn trên mạng chia sẻ kinh nghiệm hành xử với các đức chồng hờ.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

‘Người Giàu Cũng Khóc’_Trịnh Hội


Hôm thứ Sáu tuần trước, tôi đã có dịp tham dự Đại Nhạc Hội “Việt Love 4 Japan” gây quỹ cho các nạn nhân động đất và sóng thần ở Nhật Bản do các anh chị em nghệ sĩ tổ chức ngay tại khu Little Saigon đông đúc người qua lại. Đặc biệt là người Việt vì nơi tổ chức được đặt ngay tại carpark nằm bên cạnh trung tâm Saigon Performing Arts Center và hoàn toàn…free.

Miễn phí từ âm thanh cho đến hình ảnh trực tiếp truyền hình của cả 4 đài TV của người Việt ở đây.
Và dĩ nhiên những nghệ sĩ tham dự cũng đều trình diễn miễn phí.

Vậy mà hầu như hôm đó những gương mặt lớn trong làng văn nghệ hải ngoại đều có mặt. Từ chị Ý Lan cho đến anh Nguyễn Ngọc Ngạn. Quang Lê vừa mới bay từ Việt Nam về cho đến chị Mai Lệ Huyền trong cơn gió lạnh của buổi chiều hôm ấy vẫn thoải mái nhảy rất… sung. Mặc dù ai cũng chỉ được cho hát độc nhất có một bài. Vì có quá nhiều nghệ sĩ xin ghi tên tham dự vào giờ chót.


Thành thật mà nói cách đây khoảng hai tháng khi được ban tổ chức liên lạc hỏi xem tôi có thể tham dự chương trình hay không thì tôi cũng có ậm ừ OK cho qua chuyện. Lúc ấy tôi nghĩ nếu giúp được thì mình cũng nên giúp mặc dù tôi không mặn mà lắm với chương trình này. Một phần vì tôi ở xa quá và trong thời gian gần đây tôi đã đi quá nhiều. Một phần lớn khác tôi lại nghĩ dù gì đi nữa thì nước Nhật cũng là một trong những nước giàu nhất thế giới. Người Việt tỵ nạn, người Haiti, người Phi Châu mình lo còn chưa xong nói chi đến việc giúp người giàu.

Nhưng ngay trong đêm hôm ấy tôi đã thấy tôi sai. Vì sau khi xem lại những hình ảnh kinh hoàng của cơn sóng thần đập vào miền đông bắc của nước Nhật cách đây đúng một tháng trước, những mất mát, đau khổ chồng chất của họ vì nạn động đất, sau đó là sóng thần và mãi cho đến bây giờ là tình trạng hiểm nguy có thể bị nhiễm phóng xạ từ các lò nguyên tử đang bị rò rỉ… tôi thấy là tôi đã quá vội nhận định sự việc theo cảm tính. Mà không hiểu được rằng người giàu hay người nghèo thì cũng đều như nhau.

Họ cũng đau khổ nếu bị mất mát.

Và phải chống chọi với bệnh tật, đói khát như tất cả mọi người.

Họ cũng khóc như người nghèo. Đôi khi còn hơn vì sức chịu đựng của họ có giới hạn.

Bởi vậy tôi nghĩ đối với những hoàn cảnh thương tâm cần tìm đến sự ân cần giúp đỡ, chia xẻ cảm thông với người khác, chúng ta không nên so sánh. Không nên bao giờ so sánh.

Nếu có thể chúng ta nên cứu giúp. Nếu không thể chúng ta nên im lặng. Chứ đừng nói ra nói vào để biện minh cho việc tại sao mình không thể giúp lần này. Vì bất kể bạn là ai, nếu rủi ro gặp tai nạn, tôi nghĩ điều mà bạn cần nhất là sự cảm thông. Chứ không phải là sự phân tích, tại với bị, ai đúng ai sai, điều này nên làm, điều kia không. Ngay cả khi đó là trường hợp mà chính bạn đã góp phần để xảy ra tai nạn.

Như hôm tôi đứng trên sân khấu vừa làm MC vừa cố làm tròn vai trò thông dịch viên dã chiến cho ông Tổng Lãnh Sự Nhật, Junichi Ihara, ở Los Angeles đến tham dự và có lời cảm ơn tất cả các khán giả Việt Nam trên toàn quốc. Ông đã nhắc đến nhiều những gì chính phủ Nhật đang cố gắng làm tốt hơn cho những nạn nhân. Ông cũng không quên gửi lời tri ân đến tất cả mọi người đã và đang cứu giúp đất nước Nhật trong đó có cộng đồng người Việt ở Mỹ.

Sau lời phát biểu của ông là đại diện của cơ quan American Red Cross bước lên sân khấu cảm ơn cũng như để tường trình về việc quyên góp ngay tại chổ và qua các đường dây điện thoại viễn liên từ khắp mọi nơi gọi về.

Sau đó là phần giới thiệu các quan khách khác và chào quốc kỳ, quốc ca Việt, Mỹ.

Trong cơn gió chiều lồng lộng của buổi chiều hôm ấy, tai nghe tiếng kèn mặc niệm trầm buồn để tưởng nhớ đến hơn 25.000 nạn nhân đã vĩnh viễn ra đi, như mọi người tôi đã cảm thấy thật sự xúc động.

Nhưng sau đó là một cảm giác vui mừng xen lẫn chút tự hào dân tộc lại dâng lên.

Vì ít nhất ra cũng có một lần người Việt chúng ta đã giúp được ngược trở lại người dân Nhật.

Không phải chỉ là vài trăm, vài ngàn hay vài ba chục ngàn như dự đoán. Mà chỉ riêng tính đến đêm hôm ấy, số tiền quyên góp đã lên đến trên 320.000 đô-la Mỹ.

Vâng, 320.000 ngàn đô-la Mỹ.

Nếu bạn là người Việt Nam, bạn có hãnh diện không? ( VOA)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Bạn bè bạn có hay tán tỉnh chồng bạn không?

Triệu Phong/Người Việt

Trên trang mạng MSN nổi tiếng, có trang blog “My Married Life” (đời hôn nhân của tôi) do hai cặp vợ chồng Holly và Jack phụ trách.

Image
Tán nhau đi. Tranh sơn dầu “Le Flirt” (1904) của Eugen von Blaas. (Nguồn: ArtRenewal Center)

Không ai biết họ của Holly với họ của Jack là gì, người ta chỉ biết Holly và Jack lấy nhau đã 9 năm.

Ngày 23 tháng 3, Holly lên blog viết về đề tài ông xã cứ bị bạn bè tán tỉnh hoài, và đặt câu hỏi: Phải làm gì đây?

Holly viết: “Thỉnh thoảng bạn tôi có đứa gọi đến tâm sự rằng một số bạn bè hư thân mất nết của nó khi đến nhà chơi, cứ ron ren kiếm cách lại gần chồng nó. Cô ta kể: 'Trời đất ơi mày tin không, con đó dám tán chồng tao tỉnh bơ ngay trước mặt tao?!?!'

“Tôi không biết làm chi hơn là cứ lịch sự ngồi nghe và chốc chốc lại góp lời chia sẻ cảm thông. Nhưng thực ra, không phải nói dóc, bản thân tôi cũng có vấn đề tương tự: có nghĩa là chồng tôi cũng bị lũ bạn đến chơi tán tỉnh hoài.

“Tôi biết trong trang blog trước đây tôi có nổ ít nhiều về anh Jack, chồng tôi, rằng anh ấy gợi cảm ra phết. Ðọc được như vậy, tôi cam đoan nhiều người sẽ ngỏ lời chúc mừng cho tình yêu của tôi, nhưng làm ơn đi mà, đừng có nói như vậy được không, tụi tôi nghe mà phát ói. Thành thật mà nói chồng tôi như có một ma lực đối với đàn bà. Ngay cả mấy mụ ăn mặc kín bưng, tướng tá đạo mạo như 'ma-sơ' nhưng gặp chồng tôi là thành quỉ liền. Ðó là một hiện tượng tôi đã được chứng kiến nhiều lần mà cứ mỗi lần xảy ra là tôi chỉ biết cười và mở tròn xoe con mắt.

“Một lần nọ con bạn tôi bước cà tưng vào nhà, trông thểu não, bực bội, rên rỉ ỉ ôi, vậy mà nhác thấy chồng tôi là mặt nó bỗng sáng ngời lên. Con này bỗng ăn nói lắp ba lắp bắp, cười khúc khích và ra dáng ngây thơ vô số tội; cả điệu bộ cũng khác thường nữa; nó bắt đầu vuốt tóc vuốt tai làm bộ làm tịch thấy mà ghét.

“Nhỏ bạn này và cả lũ mấy đứa khác đều thú thực với tôi là chúng nó YÊU chồng tôi cuồng nhiệt, nào là chúng đã có những giây phút tuyệt vời được chuyện trò với chồng tôi (Jack thú thực có khi nói chuyện không dứt suốt hơn 20 phút).

“Mấy chuyện tán tỉnh này có làm tôi bực mình không? Thiệt tình mà nói tôi hoàn toàn tỉnh bơ. Có đôi lúc tôi đặt câu hỏi với Jack, rằng có bao giờ anh và mấy cô bạn tôi đi vượt giới hạn không (được biết cho tới nay thì chưa hề có lần nào - ngoại trừ khi say).

“Ðiều quan trọng là thái độ của Jack, mà theo tôi và cũng may mắn cho tôi là anh ấy hoàn toàn trong trắng. Tôi muốn nói là cả hai chúng tôi đều thích được người ngoài chú ý, và cũng muốn được người ngoài công nhận mình là loại người gợi cảm. Nhưng tôi nói thật rằng Jack không lợi dụng sự gợi cảm của mình để đi dụ dỗ người khác, đó là lý do khiến tôi tỉnh bơ trước việc người khác tán chồng tôi. Tôi nói thật đấy. Nhiều lần tôi đâm tức cười trước ma lực quyến rũ của Jack.”

Vài ngày sau khi blogger Holly nêu lên đề tài này, nhiều độc giả lập tức gửi lời góp ý. Một nữ độc giả tên Paula viết:

“Ngược với trường hợp của Holly, chồng tôi cứ mãi nhắc nhở với các bạn trai của tôi đừng có tán tỉnh tôi! Thật hết sức tức cười, anh ấy làm vậy vì tính tôi thân thiện và vui vẻ, khiến mọi người ai cũng muốn gần gũi bên tôi chứ không riêng gì các đấng đàn ông. Bản thân tôi thì tôi không bao giờ tán tỉnh ai khác vì với tôi, chồng tôi là tất cả và còn là một người đàn ông tuyệt vời, đến nỗi tôi còn sợ anh ấy bị mấy bà khác tán tỉnh thì có. Anh ấy vui tính, có duyên mà còn dễ thương nữa, có người lạ nào lại không muốn tán tỉnh anh. Thú thật là tôi có đôi chút ghen tuông nhưng kín đáo che giấu mà thôi. Tuy nhiên anh ấy dù có bị người ta tán chắc cũng không biết, riêng tôi chỉ nhìn điệu bộ là có thể biết ngay. Thỉnh thoảng tôi nhắc nhở bạn bè làm ơn đừng tán chồng tôi, mười phương xin chừa một phương tôi cám ơn. Tôi biết giữa đàn bà với đàn ông, chuyện tán tỉnh người phối ngẫu của bạn mình thì đàn bà xí xọn hơn, nhưng tại sao đàn bà lại cứ thích theo đuổi chồng người khác?”

Một độc giả tên RobInPA góp ý:

“Theo tôi, ở một chừng mực nào đó thì tán tỉnh chẳng gây hại gì cho ai. Có một số người, cả đàn ông lẫn đàn bà, đôi khi lại ưa săn đuổi người đã có gia đình. Tuy nhiên nguyên tắc của tôi là nếu đi quá trớn thì cần phải tỏ thái độ để chấm dứt ngay.” (TP)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Tách trà và tô phở
Tạp ghi Huy Phương

Tôi xin khoe với quý bạn là tôi vừa đi ăn phở về. Hàng ngày đã ăn cơm nhà, lâu lâu đổi món ăn bát phở, tôi chắc các bạn cũng thông cảm. Ở Little Saigon này muốn ăn phở ngon thì phải xếp hàng, nhất là đối với những tiệm phở có tiếng. Ở Việt Nam người ta nói XHCN là “xếp hàng cả ngày”, nhưng sang đây mới thấy Mỹ là “sư” xếp hàng. Ở các tiệm ăn, người ta không xếp hàng rồng rắn như ở chỗ trả tiền trong tiệm buôn hay ở các chỗ “fast food”, nhưng đứng ngồi lố nhố trông rất thiếu thẩm mỹ không khác gì mấy quầy vé số, có để cái radio trực tiếp các cuộc xổ số ở Saigon, khoảng sau năm 1980. Mấy hôm nay trời quá lạnh, khách ngại đứng ngoài trời, tràn cả vào trong tiệm, cạnh cả bàn của người đang ăn. Ðang húp bát phở, nhìn lên thấy cái giây nịt bụng bằng da của một người, nhìn cao hơn nữa thì thấy có đôi mắt đang nhìn thẳng vào mặt mình, tự dưng đâm ra ngượng về cái mồm của mình đang nhai.

Hôm nay là một ngày Thứ Bảy, ngủ nướng, dậy trưa, đến tiệm phở đã một giờ chiều, nhưng còn thấy khách đứng chờ lố nhố bên ngoài rất đông. Ði một mình, vào ghi danh thì nhận ra mình được xếp hạng 16. Ðang thất vọng muốn về, thì gặp một ông bạn già cũng đi ăn một mình, cho biết đứng đợi đã 45 phút, nhưng cũng sắp được “xướng danh” rồi. Từ khi đỗ xe cho đến khi được vào ngồi bàn, đã mất 45 phút. Từ khi được ngồi cho đến lúc bát phở được bưng ra, lâu hơn nửa giờ nữa. Tôi thấy một bà cụ ở bàn cạnh bên vào sau, cụ đang móc một cái nón len dang dở trên tay. Tôi mỉm cười với cụ và khen cụ có nhiều kinh nghiệm, cụ bà cười hiền nói với tôi: “Tuổi già vừa có kinh nghiệm, vừa thừa kiên nhẫn, ông ạ!” Tôi nghĩ ngày xưa, tôi phải đợi bao nhiêu năm mới được cái sướng đi Mỹ, bây giờ bốn mươi lăm phút hay một giờ để được cái khoái ăn một bát phở nóng cũng chẳng sao.
Hai chúng tôi ăn bát phở xong, uống tách cà phê, nhưng không thấy nhà hàng đem nước trà ra, bèn gọi trà, nhưng biết ý nên hỏi: “Nước trà có tính tiền không?” Nhà hàng cho biết: “Trà nóng $0.75.” Tôi nói với bạn là tôi vốn ghét cái lối tính tiền nước trà để móc túi thêm khách, thà tô phở tính thêm $0.50, khách không hề phàn nàn, nhưng tính tiền trà thì chỉ phát sinh ra ở một vài tiệm mới đây thôi. Người bạn tôi nói: “Không sao! Tôi có tiền đây! Thay vì mình bỏ tiền “tip” $2.00, bây giờ uống hai tách trà $1.50, còn lãi $0.50, sao mình không uống trà cho ấm bụng!” Anh bạn tôi có lý. Không trả tiền nước trà, nhà hàng níu áo, nhưng không ai bắt buộc khách phải trả tiền “tip” khi ăn xong, xem như mình là người bên Sydney mới sang Cali lần đầu, chưa quen với phong thổ. (Úc không có thói quen cho tiền “tip”.)
Miền Nam trước năm 1975, trong tiệm ăn không ai tính tiền nước trà. Khách vào tiệm, việc trước tiên là rót trà mời khách, sau đó mới hỏi khách đặt món ăn. Chúng ta đi, mang theo lối sống ấy. Ở Nam Cali, cách đây khoảng 10 năm, nhóm kịch trẻ “Cup O’ Noodle” đã “đùa” ông Tony Lâm lúc đó là chủ nhà hàng Viễn Ðông, với cử chỉ và lời mời: “Mời trà! Nước trà đây!” Ai cũng biết là ông Lâm rất hiếu khách, khách vào tiệm, ông mời trà liên tục từ lúc vào cho đến lúc đứng dậy đi ra. Ðó là văn hoá của những người tử tế. Chúng ta cũng biết trà ở các nhà hàng cho khách uống không phải là trà Thiết Quan Âm, Ô Long hay Kim Ngân Trà... mà là loại trà xổi bán kí lô, không đáng giá bao nhiêu đến phải tính tiền. Nhưng đến thời mà “không xin, không cho, chỉ bán,” phát sinh từ cái thời quái thai “bao cấp” thì người ta chủ trương kiếm được càng nhiều càng tốt, với suy nghĩ, ai vào ăn bát phở, tô bún mà để miệng... mỡ đi ra.
Từ ngày các tay tài phiệt trong nước bung ra làm ăn ở Mỹ, thì theo phong tục “ở ngoài ta”, nước trà bắt buộc phải tính tiền, không như người Việt, lâu nay không nói chuyện trà đã hoàn toàn miễn phí, mà khách ăn còn được mời chén chè hay ly nước mát để mời khách trở lại. Tô phở đắt thêm năm bảy chục xu, khách hàng ít khi lưu tâm miễn là phở ngon, nhưng du nhập lối tính tiền từ chút giá trụng, chén hành trần... có vẻ thiếu chút lòng hiếu khách.
Ly trà là sự tử tế đón khách, sự giao tiếp đầu tiên. Chắc bạn còn nhớ ở các quán “cóc” Saigon, năm ba ông khách ngồi uống cà phê buổi sáng, tán chuyện gẫu, ly cà phê đã cạn, nhưng bình trà vẫn được chủ châm đều, vui vẻ xem nhưng chuyện đương nhiên. Lửa trên bếp đang đỏ, ấm nước vẫn sôi đều, chốc chốc chủ quán lại châm nước vào bình trà, không tính toán đó là bình trà thứ mấy. Tôi đến Mỹ đã hai mươi năm, mà mãi đến gần đây mới thấy quán xá có nơi bắt đầu tính tiền trà, vậy là họ bắt đầu đuổi theo chúng ta đến nơi rồi.
Trong khi thiên hạ bàn chuyện quốc gia đại sự, tôi lại nói chuyện đi ăn phở, bàn chuyện ly trà, không đầu không đuôi, không biết có lẩm cẩm không? Vả lại, sáng nay đi ăn phở, tưởng vui, hoá ra mang thêm mấy chuyện bực mình. Từ nhà, lái xe đi về ăn tô phở, chờ đợi, xếp hàng tính ra mất hơn hai tiếng đồng hồ, quả là không bõ công cho một tô phở, cũng gọi là ngon, nhưng không phải quá đỗi cần thiết đến phải bỏ công lao và thời gian như thế.
Ăn phở phiền thật, sợ xương hầm nhiều cholesterol, sợ bột ngọt, thì thôi cứ “cơm nhà” cho xong. Thế mới biết tuổi già, răng yếu, cơm nhà thì thích nhão, mà giờ ra đường thấy phở sáng mắt cũng ngại ăn.
(Viết nhân buổi đi ăn tại một tiệm phở mới khai trương).
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image

Đàn Bà Đàn Ông
Nếu đời không có đàn bà thì đàn ông chỉ biết nhậu , coi đá banh rồi … chết .
Nếu trên thế giới số lượng đàn bà chỉ bằng một phần mười đàn ông thì mười ông Adam sẽ giành nhau một bà Eva , sẽ đánh nhau rồi cũng … chết . Còn nếu như đàn bà nhiều hơn đàn ông như hiện nay thì đàn ông vẫn tiếp tục lai rai bỏ mạng vì bị đàn bà nó ghen , nó hành cho chết .

Nhưng tại sao quý ông cứ lẽo đẽo chạy theo đàn bà ?
Đó là vì đàn bà có sức quyến rũ .

Trước hết sự quyến rũ nằm ở làn da .

Dân gian thường ví da cô gái đẹp trắng như tuyết , nhưng dưới ánh mắt của bác sĩ da liễu thì da trắng như tuyết là da bị bệnh bạch tạng (albinisme) , tế bào da không có hắc tố (mélanine) . Bệnh này rất khó trị . Vậy làn da đẹp phải trắng hồng , tươi thuận , săn chắc , lỗ chân lông nhỏ và nếu có một chút lông tơ lại càng hay . Phụ nữ châu Âu da trắng quá nên họ muốn làm cho rám nắng bằng cách phơi nắng trên những bãi biển mùa hè .
Tuy nhiên cũng có những thiếu nữ da màu đồng . Làn da ấy đi đôi với cái dáng cao , thon thon , với mái tóc đen hoang dã sẽ gợi lên hình ảnh một thiếu nữ digan huyền thoại .

Tiêu chuẩn sắc đẹp ngày nay trước hết là phải cao . Chiều cao cộng với số đo lý tưởng của ba vòng là niềm hãnh diện của nữ giới .
Hiện nay có một câu nói được truyền miệng trong giới người mẫu thời trang : “Người đàn ông thành đạt là người ra đường với một phụ nữ cao hơn mình” .

Còn tôi , tôi lại nghĩ rằng “người phụ nữ không thành đạt là người ra đường với một người đàn ông không cao hơn mình” .
Hai vai của người phụ nữ cũng rất quan trọng . Vai xuôi làm cho dáng người có vẻ tần tảo , khốn khó và mặc cảm . Vai xuôi mặc áo dài không đẹp . Mặc đầm hở ngực lại không nên . Cách khắc phục nhược điểm này thường là dùng mút độn vai .
Đó là nói về da và dáng người .

Bây giờ sang tới răng và tóc .

Nói tới răng , thấy ớn lạnh . Nhưng bạn đã từng “được” một hàm răng đẹp huyền thoại cắn bật máu chưa ?
Hãy bỏ ra mười năm đi khắp thiên hạ , tìm một cô nương có hàm răng ngà ngọc ấy rồi quỳ xuống cho người ta … cắn .
Yên chí , bạn sẽ không bị lây bệnh dại đâu nhưng hãy coi chừng cú cắn đó sẽ làm bạn đau khổ suốt đời .

Thế còn tóc ?

Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm .



Tóc mai là tóc gì mà quan trọng vậy ? Người xưa hay để tóc mai dài ở mang tai , vuốt cong lên hai bên má , có khi xoắn lại như cái lò xo .
Người có tóc mai đẹp chắc chắn sẽ có mái tóc đẹp . Tóc dày như rừng . Tươi mới . Thanh xuân . Mạnh mẽ . Cuồng nhiệt .
Thử hỏi làm sao không thương hoài ngàn năm cho được .

Cuối cùng là đôi mắt .
Sách tướng số ghi :

Những ngưới ti hí mắt lươn
Trai thời trộm cắp , gái buôn chồng người .


Thật ra mắt lươn hay mắt phượng là vấn đề nhân chủng học , chẳng dính dáng gì tới tướng số . Người Hàn Quốc , người Nhật đa số là mắt lươn mà họ rất văn minh , rất đáng yêu . Cái quan trọng không phải là mắt lươn hay mắt phượng mà chính là cái “thần” của con mắt .
Tây Thi , Vương Chiêu Quân , Điêu Thuyền , Dương Quý Phi là tứ đại mỹ nhân trong lịch sử Trung Quốc có “cái thần của con mắt” ấy .
Họ liếc một cái nghiêng cả thành quách , liếc cái thứ hai sụp cả chế độ (nhất cố khuynh thành , tái cố khuynh quốc) .
Con gái Việt Nam cũng không hiếm mắt một mí , nhưng có chàng thi sĩ kia cũng muốn phát rồ vì đôi mắt ấy :

Mắt một mí vì không cần hai mí
Một mí thôi cũng đủ ngả nghiêng đời
Mắt hai mí tức là thừa một mí
Một mí thừa xin giữ lại cho tôi


Vậy thì sự quyến rũ trong đôi mắt đàn bà chính là cái ma lực bí ẩn . Có những ánh mắt như thu hồn người ta , có những đôi mắt quyến rũ đàn ông bằng sự tự tin , đằm thắm … Mỗi người đàn ông thích một ánh mắt khác nhau nhưng những người đàn ông có tật đá lông nheo thì chỉ thích những ánh mắt lẳng lơ , còn các chàng hay dụ dỗ gái vị thành niên thì lại ưa sưu tầm những cặp mắt nai tơ ngơ ngác …

Tóm lại , mỗi kiểu mắt có sự quyến rũ riêng , chỉ trừ những ánh mắt vô hồn , thờ ơ , tẻ nhạt thì chắc chắn không có người đàn ông nào thích .
Nhưng một người đàn bà quyến rũ thực ra không nhất thiết phải hội đủ những “tiêu chuẩn” về cái da , cái dáng , về răng hàm mặt hay tai mũi họng … mà có khi chỉ cần một cái miệng cười .
Đôi khi gặp một người đàn bà không có gì đặc sắc . Mà ta vẫn yêu .
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Image

Lịch Sử Ngày Của Mẹ - The Mother’s Day

Ngày Của Mẹ đã được thế giới công nhận từ năm 1914.

Cách đây hàng chục thế kỷ, người ta đã thờ Mẹ của các vị Thần. Chẳng hạn, cổ Hy Lạp có thờ Rhea, mẹ của vị các Thần. Cổ La Mã thờ Cybele, vị nữ thần của tạo vật. Ngày lễ kéo dài ba ngày từ 15/3 đến 18/3. Tuy nhiên ngày lễ đó không mang ý nghĩa giống với ý nghĩa như Ngày Của Mẹ hiện nay. Chỉ có ngày “Mothering Sunday” (Ngày Mẹ Sanh) hay “Mid-Lent-Sunday”, cử hành vào ngày Chủ Nhật thứ tư ở Anh Quốc là có ý nghĩa khá tương tự như Ngày Của Mẹ hiện nay.
*
Ở Hoa Kỳ, hàng năm cứ đến ngày Chủ Nhật của tuần lễ thứ nhì trong Tháng Năm, toàn quốc cử hành lễ Ngày Của Mẹ - Mother’s Day để vinh danh Ðời Làm Mẹ (Motherhood), một cuộc đời biểu hiện của lòng hy sinh và tận tụy suốt đời người mẹ cho con. Thi sĩ Hoa Kỳ Edgar Allan Poe (1809- 1849) viết cho mẹ ông bốn câu thơ như sau:

To My Mother
Because I feel that in the Heavens above
The angles whispering to one anther
Can find among their burning terms of love
None so devotional as that of Mother
Dịch là:
Kính Mẹ
Con đang cảm thấy Cõi Trên
Thiên thần thầm kiếm dâng lên nhiều từ
Yêu nào nồng cháy vô tư
Suốt đời tận tụy bằng từ Mẹ đây
(Hải bằng.HDB)
*
Ai đã đứng ra đấu tranh cho ngày Của Mẹ được công nhận?

Câu chuyện về một vị hiền mẫu sắp tóm trình đây không phải là một huyền thoại. Bà ta tên là Ann Reeves Jarvis sinh năm 1833 và mất năm 1905, thọ 72 tuổi. Bà Jarvis lúc 12 tuổi theo cha định cư tại West Virginia. Cha bà là Linh Mục Josiah W. Reeves.
Năm 17 tuổi, bà lập gia đình với ông Granville E. Jarvis và họ có với nhau 11 người con, nhưng chỉ còn sống được 4 cháu. Có lẽ nỗi đau khổ quá lớn lao vì mất mát 7 người con khiến bà quyết tâm lăn xả vào công tác từ thiện xã hội nhằm giúp nâng cao điều kiện vệ sinh lúc đó còn quá thấp kém đã khiến cho số tử vong ở trẻ thơ tăng rất cao.

Tới 26 tuổi, bà bắt đầu kêu gọi tất cả các bà mẹ ở Webster, Philippi, Pruntytown, Fetterman, và Grafton hội tại các nhà thờ địa phương để tổ chức thành những câu lạc bộ lấy tên là Mothers Day Work Clubs (Câu Lạc Bộ Nhật Hành của Các Bà Mẹ). Bà kêu gọi anh của bà là Bác Sĩ James Edmund Reeves và B.S. Amos Payne ở Pruntytown làm cố vấn và thuyết trình viên cho các câu lạc bộ của bà. Câu Lạc Bộ hướng dẫn các bà mẹ cách chăm sóc những gia đình mắc bịnh lao phổi; cung cấp thuốc men cho người nghèo, và sữa cho trẻ em đã được khám bịnh.

Năm 1961, e rằng Cuộc Nội Chiến Mỹ Châu (1861- 1865) bùng nổ sẽ làm tê liệt các hoạt động của Câu Lạc Bộ Nhật Hành, bà Jarvis kêu gọi một cuộc họp khẩn cấp để các hội viên cùng thỏa thuận rằng dù chính kiến là Nam hay Bắc, họ vẫn duy trì tình hữu nghị (friendship) và thiện chí (good will) với nhau trong và sau cuộc chiến.

Khi bịnh sốt thương hàn (typhoid fever) và bịnh đậu mùa (measles) lan tràn trong quân lính, bà Jarvis và các Câu Lạc Bộ của bà được kêu gọi giúp đỡ, bà trả lời: “Quý vị sẽ có sự giúp đỡ. ... Các hội viên chúng tôi sẽ không có sự đối sử sai trái nào. Chúng tôi bao gồm cả sắc phục Xanh (Bắc) và sắc phục Xám (Nam).” Do đó, các Câu Lạc Bộ Nhật Hành đã nhận được những tưởng lục cao quý nhất của các hai phe Nam và Bắc.

Sau Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ (1861 – 1865) để làm nhẹ những nỗi va chạm hậu chiến, một lần nữa, bà Jarvis lại được chính quyền kêu gọi giúp đỡ. Bà tập họp những hội viên tại Tòa Án Pruntytown, và đặt kế hoạch tổ chức Ngày “Mothers Friendship Day” tức Ngày Hữu Nghị Của Các Bà Mẹ tại Pruntytown có mời tất cả binh sĩ Quân Phục Xám hay Xanh và gia đình tới dự.

Một khối lượng người rất lớn đã tới tham dự. Khi chương trình bắt đầu, bà Jarvis xuất hiện trong y phục xám với một bà khác trong y phục xanh. Hai em bé gái trong tuổi mười cùng với ban nhạc trổi lên kêu gọi mọi người tập họp. Bà Jarvis trình bày mục đích của Ngày Hữu Nghị Các Bà Mẹ và yêu cầu ban nhạc hướng dẫn tất cả cùng ca bài “Way Down South in Dixies” (bài dân ca nhạc Jaz rất được ưa chuộng thời đó). Bà mặc y phục Xanh (tượng trưng Miền Bắc) kế đó yêu cầu ban nhạc hướng dẫn bà và khán giả hát bản quốc ca “The Star-Spangled Banner”. Tiếp đó là tiếng hoan hô và tiếng cười. Hai em bé gái cầm tay của bà Jarvis và của bà y phục Xanh yêu cầu họ bắt tay và ôm hôn nhau. Rồi hai bà kêu gọi mọi người cùng làm như vậy trong khi ban nhạc chơi bản “Should Auld Acquaintance Be Forgot” – Xin Hãy Quên Ði Chuyện Ngày Xửa Ngày Xưa - được lược dịch như sau:

Ngày xưa quên đi hãy nên, ngày xưa, hãy cùng đồng lòng quên hết
Hãy nên quên đi ngày xưa để tâm trí mình hoàn toàn thảnh thơi
Có nên quên đi ngày xưa? Ngày xưa có nên đồng lòng quên hết?
Hãy nên quên đi ngày xưa hàm bao nỗi buồn ngày xửa, ngày xưa

Bài này đã được biết tới tại nước ta từ trước 1945 với bài ca có tên là “Au Revoir” tức là “Tạm Biệt” thường được các em hướng đạo hát. Lời của bài “Tạm Biệt” ngày trước không còn nhớ trọn vẹn. Bây giờ xin đặt lời mới như sau:

Giờ đây anh em chúng ta cùng nhau giã từ, lòng càng lưu luyến
Nắm tay ta hãy cùng nhau hòa ca hát bài tạm biệt từ đây
Trước khi chia tay rời xa, cầm tay chúc nhau mọi điều như ý
Chúc nhau gia quyến bình an và mong có ngày lại được gặp nhau

Vào lúc bài “Xin Hãy Quên Ði Chuyện Ngày Xửa Ngày Xưa” kết thúc, hầu như mọi người đều khóc và bắt tay nhau.
Ngoài công việc với Câu Lạc Bộ Nhật Hành, bà Jarvis còn hoạt động tích cực cho nhà thờ. Trong hơn một phần tư thế kỷ, bà dạy các trẻ em học và đã nhìn thấy chúng trưởng thành và lại tiếp tục đem các con của họ đến lớp học của bà. Bà không những là một giáo chức ngoại hạng mà còn là diễn giả tài ba. Nhiều lần bà giảng thuyết trong các nhà thờ có thính giả rất đông về các đề tài như “Giá Trị của Văn Học là Nguồn Gốc của Văn Hóa và Tinh Hoa” (The Value of Literature as a Source of Culture and Refinement) , “Sự Quan Trọng của Những Trung Tâm Giải Trí có Giám Sát cho Học Trò Nam và Nữ” (Importance of Supervised Recreational Centres for Boys and Girls), và “Những Bà Mẹ Vĩ Ðại của Kinh Thánh” (The Great Mothers of The Bible).

Bà Jarvis qua đời vào ngày 9 Tháng 5, 1905, thọ 72 tuổi, và được chôn cất tại West Laurel Hill Cemetery ở Philadelphia. Vào ngày bà an nghĩ, chuông của Andrews Methodist Episcopal Church ở Grafton đổ 72 hồi để tưởng niệm bà.
Năm 1907, vào ngày giỗ mẹ lần thứ nhì, cô con gái của bà Jarvis là Anna Jarvis thuyết phục nhà thờ của mẹ cô cử hành Ngày Của Mẹ vào Chủ Nhật thứ nhì của Tháng Năm và cô khởi sự vận động cho Ngày Của Mẹ được nhìn nhận trên toàn quốc. Sáu năm sau, năm 1914, Tổng Thống Woodrow Wilson tuyên bố Chủ Nhật thứ nhì trong Tháng Năm là Ngày Của Mẹ trên toàn nước Mỹ.
Ngày nay, trên thế giới nhiều nước nhìn nhận ngày Của Mẹ như Anh, Pháp, Thụy Ðiển, Ðan Mạch, Ấn Ðộ, Trung Hoa, và Mexico, ngày lễ kéo dài tới hai ngày. Hoa biểu tượng cho Ngày Của Mẹ là hoa cẩm chướng (carnation): cẩm chướng màu hồng dành cho người nếu mẹ còn sống; cẩm chướng màu trắng dành cho người con nếu mẹ đã qua đời. Nhiều người Việt hải ngoại ngày nay cũng ăn mừng Ngày Của Mẹ. Con cái mua quà tặng Mẹ và đưa mẹ đi ăn tiệm.
*

Từ Mẹ Phát Sinh Từ Ðâu

Khởi đầu cũng mẫu tự “mờ” (M) tạo nên

Công đức của bà Javis thật xứng đáng được ca ngợi. Nỗ lực của con gái của bà tranh đấu cho Ngày Của Mẹ được toàn quốc nhìn nhận là một nỗ lực đầy ý nghĩa. Lòng thương con thể hiện tình thương của Thượng Ðế đối với con người. Bởi vậy từ “mẹ” rất là thiêng liêng tạo một cảm giác hạnh phúc kỳ diệu nơi con người được xưng là “mẹ” và nơi con người cất tiếng gọi “mẹ”. Song, từ “Mẹ” thiêng liêng ấy đã phát sinh từ đâu? Xin quý độc giả nghe bài thơ sau đây diễn tả một ý niệm về từ “Mẹ”:

Một ngày kia ...
Trời, đất đã hoàn thành
Muôn cỏ cây
Hoa lá lộng trời xanh ...

Ðại dương mênh mông
Bình nguyên hiền hòa
Mẹ sinh ra ...
Từ những ý niệm thăng hoa
Mẹ sinh ra ...
Hiện thân của Lộng Lẫy, Bao La
Mẹ sinh ra
Của tận tụy, hiền từ
Mẹ sinh ra
Thiên thần mở hoan ca

Mẹ sinh con
Sứ mạng của Trời ban
Mẹ sinh con
Bích ngọc ý thiên đàng
Và cũng từ những bụi đục trần gian ...
Con lớn lên trong tiếng ru của mẹ
Trong vòng tay che chở của cha
Con vươn lên trong sóng gió của đời

Con có thể quên
Con quên tất cả
Nhưng không thể
Không nhớ mãi những lời ...
Mẹ ru con ạ ời ơi ...
Mẹ đã yêu con suốt cuộc đời
Con thương, con nhớ mãi, Mẹ ơi!
(Hải Bằng.HDB)

Bà Mẹ Việt đầu tiên trong lịch sử Việt là ai?

Lịch sử nhân loại bắt nguồn từ những truyền thuyết. Truyền thuyết thường chứa những huyền thoại có tính triết lý. Ngưới Nhật tự cho mình là con cháu của Thái Dương Thần Nữ. Người Mẹ của giống nòi Việt là Mẹ Âu Cơ xuất phát từ triết thuyết của Vòng Thái Cực âm dương giải thích sự xuất hiện của giống nòi Lạc Hồng: Mẹ thuộc dòng Tiên tên là Âu Cơ và Cha thuộc dòng Rồng tên là Lạc Long Quân. Tiên là biểu tượng của Vẻ Ðẹp tuyệt trần, Nhân Ái vô cùng, và Dịu Hiền hết sức. Rồng là biểu tượng của Uy Dũng vô song, Tự Do vô hạn, và Sáng Tạo không ngừng.

Mẹ Việt Âu Cơ sinh được 100 con trai. Một nửa theo cha xuống biển. Một nửa theo mẹ lên núi. Cả hai cùng hẹn ước với nhau rằng: hễ khi nào có nguy cơ thì báo cho nhau biết để cứu ứng. Từ đó nẩy nở dòng giống gọi là Bách Việt.
Từ thời đại các Vua Hùng dựng nước cách đây trên 4000 năm, có không biết bao nhiêu bà mẹ Việt đã sản sinh những vị hào kiệt, anh hùng, liệt nữ như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Ký Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyển Huệ, Bùi Thị Xuân, Ðoàn Thị Ðiểm, Bà Tú Xương, Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Bắc, Công Chúa Huyền Trân, v.v.

Thừa hưởng những đặc điểm “Tiên” của Mẹ Âu Cơ, nói chung lớn các bà mẹ Việt có nét đẹp, tính hiền, và tình yêu rất thánh thiện không thể tả hết được. Tuy nhiên, tâm phải có tu tập, thì sự thánh thiện mới sáng tỏ.
Người mẹ mang nặng, để đau, tận tụy chăm sóc con từ lúc mới lọt lòng và lo lắng cho con cho tới khi nhắm mắt. Xã hội có những nhân vật tài giỏi phần lớn cũng là nhờ có các bà mẹ hiền. Những ai có hạnh phúc sống bên mẹ hay đã làm mẹ sẽ thấy nhạc sĩ Y Vân nói về một số những công lao của mẹ qua bài “Lòng Mẹ” thật là tuyệt vời như sau đây:

Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào
Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào
Lời ru êm ái như đồng lúa chiều rì rào
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu

Lòng mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu
Tình mẹ âu yếm như làn gió đùa mặt hồ
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ

Thương con thao thức bao đêm trường
Con đà yên giấc, mẹ hiền vui sướng xiết bao
Thương con khuya sớm bao tháng ngày
Lặn lội gieo neo, nuôi con đến ngày lớn khôn

Dù cho mưa gió không quản tháng ngày mẹ hiền
Một sương, hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền
Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm
Tiếng ru êm đềm, mẹ hiền năm tháng triền miên

Một lòng nuôi nấng vỗ về những ngày còn thơ
Một tình thương mến như là tiếng đàn, lời ca
Ngày đêm, sớm, tối, khuyên nhủ bao lời mặn mà
Khắc ghi bên lòng con trẻ muôn bước đường xa

Thương con mẹ hát câu êm đềm
Ru lòng thơ ấu, quản gì khi thức trắng đêm
Bao năm nước mắt như suối nguồn
Chảy vào tim con, mái tóc trót đành đẫm sương

Dù cho ai vắng trên đường sớm chiều về đâu
Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu
Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng lạt màu
Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu

Hình ảnh của các bà mẹ Việt hôm nay thế nào?

Hình ảnh của các bà mẹ Việt hôm nay, không còn là “một nắng hai sương”, không còn là “áo rách sờn vai”, và có lẽ cũng không còn có “những tiếng ru êm đềm” nữa. Người mẹ hôm nay văn minh hơn, đời sống vật chất đầy đủ hơn nhiều, nhưng ít có đủ thì giờ để chăm chút cho con, do đó tình cảm giữa mẹ con cũng không còn đậm đà như thuở trước tuy lòng thương con vẫn không hề phai giảm. Chính điều này làm cho lòng nhiều người mẹ kém an vui. Ðây là một trong những hình ảnh của các bà mẹ thời nay trong bài “Người Mẹ Hôm Nay”:

Mẹ dậy khi con còn ngủ say
Trăng đêm chênh chếch có ai hay?
Mẹ thầm sửa soạn: khi con dậy
Có sẵn cơm ngon đủ suốt ngày

Rồi mẹ rời nhà trời chửa sáng
Ðường xa, xe phóng lướt như bay
Sương đêm đọng giọt mờ khung kiếng?
Mẹ tưởng lệ nhòa, mắt mẹ cay

Bao năm quên sống nuôi con dại
Cho được nên người không kém ai
Muốn con đầy đủ, con ăn học
Ðời con là đời mẹ nối dài

Thôi hãy ngủ ngoan và mộng đẹp
Ước đời con sự học đi lên
Làm tia sáng rọi đường cho mẹ
Mát lòng nghe người nói con hiền
*
Nhưng do đâu, các bà mẹ Việt có được tấm lòng tận tụy cho con như vây?

Có hai nguyên do căn bản. Trước hết là do từ ý Trời dành cho người nữ thiên chức làm mẹ: Trời đã gài đặt trong tâm hồn người nữ tấm lòng thương yêu tuyệt đối dành cho con còn hơn cả cho chồng nữa. Hầu như không có một người nữ nào không cảm thấy tràn ngập hạnh phúc khi thấy mình trở thành người mẹ. Thật vậy:

Con ra đời từ Nguồn Yêu của mẹ
Con chào đời nối Mạch Sống của cha
Nụ hôn đầu, cha nhẹ hôn trán bé
Vòng tay bồng, khóe mắt mẹ long lanh
Phút thiêng liêng: Sự Sống đã hoàn thành
Con tiếp nối cuộc tồn sanh bất diệt
(Hải Bằng.HDB)

Kế đến là do từ ý của con người: người mẹ phải tu tâm và thực hành những giá trị đạo đức làm người đặt trên nền tảng của chữ Thiện như thương người (ấy là Nhân), biết ơn (ấy là Nghĩa), tôn trọng (ấy là Lễ), biết phân biệt phải trái (ấy là Trí), và giữ lời hứa (ấy là Tín). Ðó chính là ý nghĩa của câu:

Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
(Nguyễn Du: Kiều)
Các bà mẹ Việt đều ít nhiều thấm nhuần lẽ Phúc Họa của Ðạo Trời, đạo của người Việt từ ngàn xưa:

Sư rằng phúc họa Ðạo Trời
Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra
(Nguyễn Du: Kiều, câu 2655- 56)

Thêm vào là đạo tu thân của Khổng Giáo và đạo tu tâm của Phật Giáo nên lòng thương con hết sức thâm sâu. Bà mẹ nào cũng sẵn sàng hy sinh hết mình cho sự sống của con như trường hợp của bà Nguyễn Thị Nga ở Tân An Hội, Củ Chi, sau 1975: bà ta đã, trong 8 năm liền, lên thành phố Saigòn bán máu mỗi tháng 2 lần để có tiền mua thuốc cho con và tất nhiên chính bà ta cuối cùng cũng ngã bịnh. Nhưng ước muốn chung của các bà mẹ vẫn là con cái được đến trường học cho có tương lai sán lạn hơn bởi vì các bà mẹ nhận chân rằng “để của lại cho con không bằng để lại chữ nghĩa.” Ở Việt Nam hiện nay, số học sinh bỏ học ngày một gia tăng gấp bội khiến rất nhiều bà mẹ hết sức đau lòng.

Quan niệm của người xưa đối xử với mẹ như thế nào?

Mạnh Tử (Trung Hoa) viết:Người con có hiếu thờ cha mẹ: lúc ở thì tôn kính rất mực; khi nuôi thì vui vẻ hết mực; khi bịnh thì lo lắng hết mực; khi mệt thì xót thương hết mực; khi tế thì nghiêm trang hết mực. Cho nên không yêu cha mẹ mà yêu người ngoài là trái đức; không kính cha mẹ mà kính người ngoài là trái lẽ.

Thiên Khúc Lễ có viết:
Hễ làm con thì khi đi phải cho cha mẹ biết; lúc về phải cho cha mẹ hay; chơi phải có chỗ; tập phải có nghiệp; nói năng chớ bảo mình già.

Ðức Khổng nói:
Tuổi của cha mẹ không thể không biết. Biết để mà mừng; biết để còn lo.

Tăng Tử nói:
Cha mẹ yêu thì mừng mà không quên ơn; cha mẹ ghét thì buồn mà không oán; cha mẹ có sai trái thì can mà không làm phật ý.

Thái Công nói:
Mình hiếu với cha mẹ, con mình sẽ hiếu với mình. Còn mình không hiếu, hỏi sao con hiếu được? Hiếu thuận lại sinh con hiếu thuận; ngỗ nghịch lại sinh con ngỗ nghịch. Chẳng tin, hãy xem nước mái nhà: giọt trước nhỏ sao, giọt sau nhỏ vậy.

Ca dao:
Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.


S/T Net
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »


Image

CÁI LƯỠI

- Gã Siêu
Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triết Bias một con vật vừa quí lại vừa hiếm để tế lễ các thần của minh. Thế nhưng ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triết một vố, bèn phán :

- Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quí hiếm ấy.

Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi mà trao cho ông vua. Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng :

- Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.

Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Hồi tôi còn bé, mẹ gã thường răn đe :

- Con mà chửi tục, thì cái lưỡi sẽ thụt vào trong cổ, để rồi từ rày mà đi cho đến lúc rình xinh thì sẽ chẳng còn nói năng được nữa !

Hay :

- Con mà chửi tục, ông ba bị nghe thấy, thì ông ấy sẽ cắt ngay cái lưỡi để xơi…tái.

Và như chúng ta đã thấy :

- Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín ấp ủ tận đáy tâm can tỳ phế, nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông.

Chính vì thế, mấy ông triết gia đã phát biểu :

- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy ngàn đời vẫn không thay đổi.

Một kẻ câm ú a ú ớ, diễn tả bằng cử điệu thật là vất vả và người không quen cũng khó mà hiểu được những cử điệu ‘’búa xua’’ ấy.

Tuy nhiên, cái lưỡi cùng với lời nói lại là điều chúng ta thường hay vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào và bất kỳ với ai.

Do đó Kinh thánh đã bảo :

- Số người chết vì cái lưỡi thì nhiều hơn số người ngã gục vì gươm giáo ngoài chiến trường.

Và tục ngữ dân Ăng lê cũng xác quyết :

- Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi.

Trước hết là trong lãnh vực gia đình. Nhiều khi sóng gió nổi lên chỉ vì một lời nói nóng nảy và thiếu tế nhị.

Có một chị vợ cặm cụi nhổ cỏ ở thửa ruộng sau nhà. Theo sự phân công thì hôm đó anh chồng đóng vai tề gia nội trợ. Và thế là anh chồng bèn trổ mấy món ruột của mình để lấy điểm ‘’mí’’ bà xã. Mồ hôi mồ kê chảy xuống ròng ròng. Khi đã nấu nướng xong, yên chí nhớn và hớn hở bắn một điếu thuốc lào, anh chồng mới sai đứa con nhỏ ra mời mẹ.

Đứa bé chạy tới và nói :

- Bu ơi bu, bố bảo về ăn cơm.

Chẳng nói chẳng rằng, chị vợ vẫn cứ lặng lẽ nhổ cỏ. Đứa bé trở về, mặt xụ xuống như bánh bao chiều. Một lúc sau, anh chồng lại sai đứa khác ra mời, nhưng chị vợ vẫn cứ nín thinh cặm cụi nhổ cỏ. Đứa bé trở về, mặt xìu xìu như trái bóng xì hơi.

Dường như không chờ đợi được nữa, vả lại sợ thức ăn để lâu sẽ nguội và mất ngon, nên lát sau anh chồng liền sai đứa út ra mời, ông cười ruồi và thầm nghĩ trong bụng :

- Quá tam ba bận. Ba keo mèo phải mở mắt đứt đuôi con nòng nọc chứ còn gì.

Thế nhưng lần thì chị vợ lại tỏ ra tức tối. Chị ta đứng lên. Hai tay chống nạnh. Mắt long còng cọc như một tia chớp. Miệng hét toáng chẳng khác gì sư tử rống :

- Bố con mày có hốc thì cứ việc hốc đi.

Trước sự nổi tam bành của chị ta, đứa út run cầm cập, ba chân bốn cẳng vội chạy về méc bố. Đến đây thì chuyện phải đến ắt sẽ đến. Sau khi nhổ hết đám cỏ bợ, chị vợ đủng đỉnh về nhà. Thế nhưng vừa mới tới sân thì hàng xóm đã phải nghe thấy những tiếng kêu la thất thanh :

- Ối giời ơi ! Ối đất ơi ! nó đánh tôi, nó giết tôi, làng nước ơi, cứu tôi với…

Rồi thì nồi niêu soong chảo, chổi cùn rế rách, mâm bàn chén đĩa cùng với những thứ cao lương mỹ vị thi nhau bay ra ngoài sân, bởi sức người chịu đựng có hạn. Và lúc này đến lượt anh chồng đang nổi máu yêng hùng, đùng đùng nổi trận lôi đình như Trương Phi !

Giá như chị vợ biết nhún nhường và tế nhị một chút trong lời nói của mình thì đâu đến nỗi xảy ra sự việc đáng tiếc kể trên. Còn thân thể ‘’liễu yếu đào tơ’’ của chị ta đâu đến nỗi tím bầm và lãnh đủ những thứ cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay của đức ông chồng, ‘’vai năm thước rộng, thân mười thước cao’’, như vóc dáng của anh chàng Từ Hải trong truyện Kiều !

Bởi đó, tục ngữ đã dạy :

- Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười tươi hỏi rằng anh giận gì.

- Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.

Còn nếu ông cũng ghê bà cũng gớm, thì chắc chắn phải kết thúc bằng xô xát, bằng tan hoang và đổ vỡ.

- Bên thẳng thì bên phải chùng

Hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây.

- Bên giận thì bên phải lùi

Hai bên cùng giận thì… dùi nó quăng.

Cho nên, muốn gia đình được êm ấm thì phải biết nhường nhịn và tha thứ :

- Một sự nhịn là chín sự lành.

Đồng thời phải biết phát ngôn cho êm dịu và tế nhị, bởi vì :

- Lời nói chẳng mất tiền mua

Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Tiếp đến là trong tương quan xã hội, trong mối liên hệ với người khác. Hẳn rằng, đã có lần chúng ta bực bội tức tối trước những luồng dư luận xuyên tạc, trước những miệng lưỡi thâm độc và xảo trá của người đời. Bởi vì dư luận vẫn thường là luận dư, lời đôn thổi bao giờ cũng phóng đại tô màu, chẳng biết đâu mà lường :

- Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.

Hay như ca dao đã diễn tả :

- Ở sao cho vừa lòng người

Ở rộng người cười ở hẹp người chê

Cao chê ngỏng, thấp chê lùn

Béo chê béo trục béo tròn

Gầy chê xương sống, xương sườn hở ra.

Tuy nhiên, chúng ta không thể nào sống cu ky, đơn độc, lẻ loi như một hòn đảo giữa biển khơi hay như một pháp đài biệt lập. Trái lại, sống là sống là sống với người khác. Và trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền.

Nếu biết dùng những lời nói ôn tồn, chúng ta sẽ hóa giải được những thù oán, triệu tiêu được những giận hờn, bởi vì mật ngọt chết ruồi. Người ta có thể giết được nhiều ruồi chỉ bằng một giọt mật, còn hơn là bằng cả một thùng dấm chua.

Một lời thiếu ý thức được sánh ví như một lon dầu đổ vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu hủy hết tình ruột thịt cũng như nghĩa bà con lối xóm.
Một lời nói vu oan có thể làm người khác mất hết tiền bạc, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp để rồi thân bại danh liệt và đi vào thế giới lao tù.

Sau cùng là trên bình diện cá nhân.

Như chúng ta đã biết :

- Lòng đầy thì mới tràn ra ngoài.

Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn chúng ta. Dựa vào lời nói, thiên hạ sẽ đánh giá con người và nhận rõ bộ mặt thực của chúng ta.

Nếu chúng ta nói những điều hữu lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là người tài giỏi và khôn ngoan. Nếu chúng ta nói những điều vô lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ ngu ngốc và dại khờ. Nếu chúng ta nói những điều xằng bậy, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ tầm phào và láo khoét.

Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ một phần lớn là do bởi cái lưỡi và lời nói của chúng ta.

Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mọi người, như một câu danh ngôn đã bảo :

- Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang.

Bởi đó, phải biết đắn đo cân nhắc, để tránh đi những lời lộng ngôn xúc phạm đến Đấng Tối Cao, những lời chua cay độc địa nhằm hạ nhục uy tín người khác, cũng như những lời côc cằn tục tĩu làm hoen ố những tâm hồn đơn sơ trong trắng, đồng thời bôi nhọ chính bản thân mình, vì ngậm máu phun người dơ miệng mình.

Như thế, nếu không biết sử dụng cái lưỡi cho đúng đắn, thì lời nói sẽ là nguồn ngốc phát sinh rất nhiều giống tội thay vì là một phương tiện giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau.

Êsôpe là một tên lô lệ, nhưng lại được ông chủ tên là Santô rất yêu mến và kính trọng. Ngày kia có khách đến chơi, ông chủ sai Êsôpe ra chợ mua thức ăn, nhưng không bảo là mua những thứ gì. Êsôpe bèn rinh về đủ các thứ lưỡi : lưỡi lợn, lưỡi bò và lưỡi ngựa… để nấu nướng.

Lạ miệng nên xơi ngon. Ông chủ và khách khứa đều hài lòng về tài bếp núc của Êsôpe. Rồi khen lấy khen để.

Lần sau cũng có khách, ông chủ lại sai Êsôpe đi chợ và cũng không dặn phải mua những gì, Êsôpe cũng lại rinh về toàn những lưỡi là lưỡi, chỉ khác ở cách chế biến và thêm bớt gia vị. Thấy vậy, ông chủ rất đỗi ngạc nhiên, còn Êsôpe thì kính cẩn làm một màn lý luận, bàn về cái lưỡi như sau :

- Phàm ở trên đời này, mọi sự tốt hay xấu, lợi hay hại… tất tật đều do bởi việc sử dụng cái lưỡi một cách khôn khéo hay vụng về.

Chính nhờ vậy, mà Êsôpe được chủ yếu mến và sau này được giải thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than.

Ý thức được tầm mức quan trọng của cái lưỡi là như vậy, chúng ta hãy lắp đặt một cái phanh vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “sì tốp” lại đúng nơi và đúng lúc.

Viết tới đây, gã bèn nhớ tới lời khuyên của người xưa, đó là :

- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói

Gã Siêu
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Ngày Của Mẹ, Của Cha

Vi Anh
Lịch sử chỉ đánh giá đúng anh hùng khi người anh hùng nằm yên dưới mộ. Ngày của Mẹ, của Cha năm thứ 36 của tập thể người Mỹ gốc Việt này,, số những người cha, người mẹ Việt Nam đầu tiên đưa gia đình tỵ nạn CS ở hải ngoại chắc cũng không còn nhiều lắm. Đây là cơ hội tốt để thấy công ơn trời biển của những người cha, người mẹ đã liều mình đưa con cái đến bến bờ tự do và quên mình nơi quê hương mới, lao động chân tay cắt chỉ, ũi đồ, cắt cỏ, nấu cơm tháng mướn để lo có tiền cho con cái - là lớp trẻ Việt hải ngoại -- ăn học, trưởng thành được như ngày hôm nay.

36 năm là thời gian gần nửa đời người, hơn một thế hệ xã hội học. Thế hệ thứ nhứt đại đa số là những quân dân cán chánh VN Cộng Hoà dẫn gia đình con cái đi tỵ nạn CS ở hải ngoại, lúc bấy giờ trẻ nhứt cũng 30, năm nay đã hơn sáu bó rưởi, bảy bó cả rồi. Những người cha, người mẹ đó thường là những người đã có ăn học, nghề nghiệp, chức vụ trong chế độ VNCH, người trẻ nhứt lúc bấy giờ cũng phải khoảng 40. Dù nhờ y tế tân tiến, chế độ tư do, tự tại, môi trường trong lành, đời sống hải ngoại đầy đủ làm tuổi thọ gia tăng, những người cha người mẹ thuộc thế hệ thứ nhứt của cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt đó, nay tuổi hạc cũng đã quá thất thập cổ lai hi rồi. Không ít người đã ra đi; số còn lại cũng mấp mé bờ sanh tử theo luật vô thường của Tạo Hoá và vòng sanh lão bịnh tử của kiếp con người.

Tre tàn măng mọc là qui luật sinh tồn. Con hơn cha nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần là đà tiến hoá của một dân tộc. Hậu duệ của người cha người mẹ đến bến bờ tự do, đứa con sanh sớm nhứt tại nước hải ngoại bây giờ cũng tròn 36 tuổi. Có người gọi là thế hệ thứ hai bây giờ cũng đã tứ thập tri thiên mạng rồi. Còn thế hệ thứ ba thì nhiều lắm đang đại học hay ngoài đời, hoà nhập sâu sát vào xã hội Mỹ. Dù có bi quan và khiêm tốn sắc tộc thế mấy đi nữa cũng thấy lớp người hậu duệ của những bậc cha mẹ thuộc thế hệ thứ nhứt của những người Việt tỵ nạn CS, không thua sút bất cứ sắc tộc nào đã nhập cừ các siêu cường Tây Phương hàng thế kỷ trước. Đặc biệt ở Mỹ là hiệp chủng quốc, nơi người Việt định cư đông nhứt trên thế giới, những cố gắng vươn lên, thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội của người gốc Việt thấy rõ nhứt. Bác sĩ, luật sư, kỹ sư, giáo sư, chuyên viên gốc Việt đã bảo hòa so với tỷ lệ dân số gốc Việt. Ngành nào lớp trẻ VN cũng có mặt, quân dân cán chính của Mỹ đều có người gốc Việt chen vai sát cánh với những sắc tộc khác .

Sự thành công này của thế hệ hậu duệ theo phân tích và nhận định của những nhà xã hội học là do yếu tố gia đình VN. Nói đến gia đình VN là nói đến cha mẹ. Gia đình tự nó là một nhóm xã hội (social group). Bất cứ nhóm xã hội nào cũng có sự lãnh đạo mới mưu cầu hạnh phúc và thăng tiến được. Nhóm xã hội gia đình VN, người cha thường đóng vai trò lãnh đạo thực hiện (instrumental leadership), nặng về lý trí, thực tiễn, đòi hỏi con cái phải thực hiện hoàn thành nhiệm vụ của gia đình. Do đó người cha tỏ ra cứng rắn với con cái và ít được con cái thân tình như đối với mẹ. Còn người mẹ đóng vai trò lãnh đạo hoà họp, tạo sự thông cảm chung, hạnh phúc, êm ấm chung cho gia đình nên được lòng con cái hơn người cha. Hai thể thức lãnh đạo này không xung khắc nhau mà bỗ túc cho nhau, làm gia đình VN phát triển tốt trong xã hội Tây Phương và làm cho lý do lớp trẻ VN thăng tiến nhanh trong xã hội các quốc gia định cư cách nước nhà có nơi nửa vòng Trái Đất.

Trên đường định cư cũng như trên bất cứ đường đời mới, vạn sự khởi đầu nan. Cha mẹ lấy thân phận lót đường cho con cái để lớp trẻ có ngày nay. Hầu hết thế hệ thứ nhứt hy sinh quên mình, để dĩ vãng qua một bên, hướng về tương lai phía trước, lo cho gia đình thăng tiến. Tướng lãnh Quân Lực VNCH không ngần ngại đi làm người lau cửa sổ cho các building, người quản lý nhà hàng (như Tướng Đồng văn Khuyên). Nghị sĩ, dân biểu VNCH đi bán xăng, bán tiệm rượu, làm thợ nhà in, thợ lắp ráp điện tử, bán thịt cá cho chợ. Công chức cao cấp đi cắt chỉ, ủi đồ, cắt cỏ, làm móng tay, làm mặt trong thời kỳ chân ướt chân ráo. Làm với tất cả lòng tận tụy, với sự hiểu biết và tin tưởng nơi lớp trẻ tiến lên, tiến thân.

Con cái vần công, cùng nhau xây đấp đại gia đình. Một chiếc xe đôi ba anh chị em chia giờ nhau đi và đưa rước nhau. Anh học ra trường tiếp cha mẹ đóng tiền trường cho em đi đại học cao hơn. Cả nhà chung đậu tiền cho người anh mua căn nhà đầu tiên và anh tiếp tay em mua căn nhà hay sang căn tiệm mới. Việc đó thực hiện được nhờ sự lãnh đạo thực hiện và hoà họp của cha mẹ.

Sự kết họp này có và làm được là do tình thương gia đình, và chữ tín nghĩa này có và mạnh hơn mọi credit mà ngân hàng nào có thể so sánh được. Bất thành văn tự nhưng long trọng và chắc chắn như nền tảng gia đình VN.

Do vậy Ngày Của Mẹ, Của Cha thứ 36 của người Mỹ gốc Việt này là ngày tưởng nhớ tới những người cha người mẹ đã dẩn dắt con ra khỏi chế độ CS, đến miền Đất Hứa. Ngày tưởng nhớ những hy sinh của những người cha người mẹ lót đường cho cái tiến thân nơi quê hương mới. Ngày ngưỡng mộ lòng dũng cảm của những người cha người mẹ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, một ngày 24 giờ, 1 tuần 7 ngày để con cháu được như ngày nay. Lòng dũng cảm của những người mẹ người cha đó can đảm hơn người chiến sĩ can trường xung phong ngoài mặt trận vì giờ phút can đảm xung phong ngắn hơn, ít khi xảy ra hơn so với lòng dũng cảm gần như suốt đời của cha mẹ.

Chẳng những thế có nhiều cha mẹ gốc Việt còn muốn hy sinh cho con khi mình không còn ở cõi trần này nữa. Nhiều người cha người mẹ dặn dò hay di chúc cho con cái, sau khi theo ông theo bà, thì con cái đem hoả thiêu, lấy tro đem rải ngoài biển hay gởi trong chùa. Vì không muốn đem tro xương của mình trở lại nước nhà còn nằm trong tay CS. Vì biết con cháu ở xứ văn minh kỹ nghệ, quá bận bịu này phải chạy theo việc làm, thường khi phải ở xa, ngày giỗ tết, thanh minh mà vì kẹt công việc làm ăn không về viếng mộ được, thì bùi ngùi, tủi buồn tội nghiệp. Trong những lý do vệ sinh, giản dị, niềm tin tôn giáo, nhiều gia đình VN bớt theo phong tục Việt sống cái nhà chết cái mồ, mà chấp nhận hoả táng thân nhân, lấy tro rải biển hay gởi ở chùa, có lý do gia đình ấy./.(Vi Anh)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tính xấu của người Việt qua ca dao

Người xưa có câu “Nhân vô thập toàn” - nghĩa là con người ta, dù ít hay nhiều (tùy theo mức độ cá nhân) đều có những phần chưa “trọn vẹn”. Vâng! Chỉ một chữ “vô” ấy thôi, là khoảng cách mênh mông của thế giới thói hư tật xấu. Nhận chân giá trị của mình để hoàn thiện và phát triển là rất cần thiết. Đáng buồn thay, một thời gian dài trước đây - khi chúng ta xây dựng con người mới hay phát huy phẩm chất “anh hùng cách mạng”, đã không nhận ra - thậm chí cho rằng cái xấu không có “đất để tồn tại”. Nói cách khác, nhắc đến thói hư tật xấu của con người cũng đồng nghĩa với những điều “phạm húy”, “cấm kỵ”. Khi còn sống, GS Trần Quốc Vượng từng ấp ủ một cuốn sách theo kiểu “Người Việt Nam xấu xí”; ấy vậy mà lúc ông có ý định vận động để in, một vị GS - cựu quan chức đã thẳng thừng “lắc đầu”. Thế mới biết, ở đầu thế kỷ XXI này, số người thích đeo mặt nạ, sống trong “lễ hội hóa trang” cũng không phải là ít.

Xin đừng đồng nhất việc nhận diện, chỉ ra thói hư tật xấu với “vạch áo cho người xem lưng”. Một dân tộc hay cộng đồng người chỉ có thể tiến bộ khi biết phê phán và tự phê phán. Trung Quốc, Mỹ, Nhật… vĩ đại là vậy mà vẫn có một tập đại thành về thói hư tật xấu của họ với tiêu đề “Người Trung Quốc xấu xí”, “Người Mỹ xấu xí”, “Người Nhật xấu xí” đó sao?. Thiết nghĩ, ở một phương diện nào đó, việc nêu ra những mặt hạn chế trong tính cách của một dân tộc sẽ là hành trang cần thiết trao truyền cho các thế hệ trên con đường phát triển nhân cách.

Tìm về ca dao truyền thống, chúng ta có tới hàng trăm đơn vị câu (bài) dành riêng cho thói hư tật xấu. Đây thật sự là những số liệu biết nói, giúp chúng ta nhận chân giá trị con người. Những thói hư tật xấu bao gồm nhiều khía cạnh: quan hệ gia tộc (cha mẹ - con cái, chồng - vợ, lại cả mẹ chồng - nàng dâu…), quan hệ xã hội và nhất là tu thân; trong đó nổi bật hơn cả là thói lẳng lơ, bội bạc, tham ăn - nhác làm. Không phải ngẫu nhiên, anh chàng tham ăn và cô gái lẳng lơ đã là nhân vật của folklore, của hội hè đình đám…
Trước hết, không thể không nhắc đến thói lẳng lơ - thường gắn liền với người phụ nữ. Thật khó tưởng tượng lẳng lơ lại là nét lớn của tính cách người Việt truyền thống, vì xưa nay, chúng ta quen với cái gọi là “tam tòng, tứ đức”… Song đó lại là sự thật. Tiếp cận ca dao, thói lẳng lơ cũng muôn hình nghìn vẻ, lắm cung bậc - đủ mọi lứa tuổi, ngôi thứ, thành phần xã hội. Đó có thể là người già

(Bà già bưng thúng gạo xay/
Gãi bụng sồn sột hỏi chầy cối đâu),

những kẻ khoác áo “nhà nước quân chủ”
(Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình/
Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi),

sư sãi
(Nam mô ba chữ từ bi/
Phật còn ve gái huống chi thầy chùa);

thậm chí là con gái mới lớn
(Con gái mười bảy mười ba/
Đêm nằm với mẹ khóc la đòi chồng),

những người trưởng thành hơn
(Gái đâu có gái lạ đời/
Chỉ còn thiếu mỗi ông trời không chim)

hay bộc lộ qua một điểm nhìn, quan điểm cụ thể
(Lẳng lơ chết cũng ra ma/
Chính chuyên chết cũng đưa ra ngoài đồng)

…Có thể hiểu, con người của thời đại quân chủ chuyên chế đã phải khoác trên mình quá nhiều bộ quần áo của nghi lễ, buộc trói; đấy là chưa nói đến thói đạo đức giả của những bậc “Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt”. Cho nên, ở phương diện nào đó, lẳng lơ cần được nhìn nhận như một sự “phản kháng”, “bất hòa” với thực tại xã hội, hay “bí hạ phá thượng” - nói cho sướng miệng. Tuy nhiên, xét đến cùng, lẳng lơ chưa bao giờ được xem là tính tốt.

Sánh đôi cùng với lẳng lơ là bội bạc. Mặc dù người Việt Nam luôn sống vì nghĩa, hy sinh xả thân cho nghĩa lớn, hoặc răn dạy cháu con tích phúc, để đức cho đời sau, trọng nghĩa khinh tài…Nhưng sao mà vô ơn, phụ nghĩa, bạc tình nhiều đến thế:
Tò vò mà nuôi con nhện/
Đến khi nó lớn nó quện nhau đi…

Còn đâu nhân nghĩa, thuỷ chung khi người vợ phải kêu gào thảm thiết:
Chẳng ai phụ bạc như chàng/
Bẻ cành gai bạc lấp đàng chốn đi.

Và lời của chàng trai nọ cũng thật là ai oán, lay động tâm can:
Bậu nghe ai dỗ ai dành/
Bậu tham chốn khác bậu đành bỏ qua…

Đến đây, chắc chắn độc giả đã có thể bổ sung thêm dẫn chứng cho mục từ bội bạc của cuốn từ điển về thói hư tật xấu.

Sẽ là thiếu sót lớn nếu chúng tôi không nhắc đến ở đây cái sự tham ăn - nhác làm, khi đề cập đến vấn đề thói hư tật xấu truyền thống của người Việt. Vẫn biết xưa nay,
“miếng ăn là miếng nhục”,
“lời chào cao hơn mâm cỗ”…

song không thể phủ nhận: miếng ăn - cái đói (dẫn đến tham) có một sức ám ảnh ghê gớm đối với người bình dân xưa (nó còn là một chủ đề lớn trong văn xuôi Nam Cao trước 1945). Đây là nỗi niềm đã được ca dao ghi nhận:

Bực mình chẳng muốn nói ra/
Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời.

Và câu chuyện dân gian nọ kể về thầy đồ giận học trò chỉ vì lỡ ăn nắm xôi do không hiểu ý thầy cũng thật là sâu sắc. Điều hiển nhiên, tham ăn luôn hợp thành cặp bài trùng với nhác làm:

Ăn no rồi lại nằm khoèo/
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem,

hay hình ảnh một “chân dung” khác cũng đáng chê trách không kém:
Làm thì chẳng dám bằng ai/
Ăn thì thứ nhất thứ hai trong vùng…

Xét đến tận cùng căn nguyên, chúng ta có thể hiểu: các bậc “tiền nhân” đã trải qua quá nhiều cơ hàn, đói khổ - thậm chí những năm mất mùa, những ngày giáp hạt… từng để lại “dấu ấn” không quên trong lịch sử. Đói nghèo đến độ không thể “sạch”, không thể “thơm” (như ý câu: Đói cho sạch, rách cho thơm) trở thành bia miệng ngàn năm, lưu cùng hậu thế…
Ngoài lẳng lơ, bội bạc, tham ăn - nhác làm…với những thói xấu khác của người Việt, chúng ta không thiếu những “dẫn chứng” đắt giá - cho dù đó là tính cơ hội

(Nghèo giữa thị thành không người hỏi/
Giàu tại rừng sâu lắm kẻ tìm),

sự tráo trở
(Yêu nhau nấu cháo củ tre/
Nấu canh vỏ nhãn, nấu chè nhân ngôn),

ganh ghét đố kỵ
(Trâu buộc thì ghét trâu ăn/
Quan võ thì ghét quan văn dài quần),

bê tha
(Cờ bạc là bác thằng bần/
áo quần bán hết ngồi trần tô hô),

ích kỷ
(Khi giàu có chẳng đỡ ai/
Đến khi hoạn nạn chẳng ai đỡ mình),

rởm đời
(Con cóc nằm lép bờ ao/Lăm le lại muốn đớp sao trên trời)…Rồi quan hệ hai chiều giữa cha mẹ - con cái cũng không hoàn toàn hiếu, nghĩa

(Trời mưa bong bóng phập phồng/
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai;
Cha mẹ nuôi con Biển Hồ lai láng/
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày);

quan hệ vợ chồng không hợp đạo lý
(Con gái Linh Xá dạy chồng bằng dao -

hay
Cái cò là cái cò quăm/
Mày hay đánh vợ mày nằm với ai);

quan hệ mẹ chồng - nàng dâu thì thật là bi kịch:
Thật thà cũng thể lái trâu/
Dẫu yêu thương cũng nàng dâu mẹ chồng…

Nói chung, mọi thói hư tật xấu của con người đều có thể tìm thấy trong ca dao truyền thống - một bộ bách khoa toàn thư giá trị, nhiều ý nghĩa. Hy vọng, tiếp cận với những gì “xấu xí” ngày hôm qua (bây giờ nhiều tính nết truyền thống vẫn còn tồn tại hoặc chưa mất hẳn, dù cuộc sống đã đi sang một giai đoạn khác), chúng ta sẽ tìm được những điều bổ ích, không cũ với thời gian.

Hà Đan
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Đại thắng Mường Nhé

Nguyễn Bá Chổi (danlambao)
Quân Đội Nhân Dân, hay là gọi cho vừa thân mật vừa để thể hiện tấm lòng đạo hiếu “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, Bộ Đội Cụ Hồ – đã chiến thắng cả hai trận chiến trên cùng một địa bàn Điện Biên Phủ. Trận chiến năm 1954 với quân Pháp thực dân chiếm đóng; trận chiến năm 2011 với quân… đồng bào Mường Nhé (1) tập trung kêu oan.

Quả đúng danh bất hư truyền, Bộ Đội Cụ ta vì trung với đảng nên kệ mẹ dân, ai cũng là kẻ thù được; kẻ thù nào cũng đánh, đã đánh là thắng. Không thắng to thì thắng nhỏ. Chiến thắng Điện Biên 57 năm về trước là chiến thăng nhỏ; chiến thắng Mường Nhé hôm nay là chiến thắng to, tức là đại thắng. Đại thắng Mường Nhé.

“Đại Thắng Mường Nhé ? Hừm!” Cùn Chổi tạm mở cái ngoặc ở đây để xin thưa cùng Đại tướng quân người hùng Điện Biên năm xưa. Nếu sức khoẻ ngài dạo này khắm khá hơn chút tị – khỏi còn phải hít thở bằng ống chuyền như hình chụp dịp Đại tướng được các quan nhớn mang đến tận giường nằm đọc giấy mời đi dự lễ 1000 năm Thăng Long – ngồi dậy được, mần mò lên mạng, lân la “lề trái”, và táy máy lỡ đọc “Đại Thắng Mường Nhé” này, xin ngài hãy kìm cơn nóng giận trước đứa cả gan hỗn hào dám so sánh tào lao, chịu khó khó chịu một chút thôi để đọc cho hết mà tỏ tường nguồn cơn. Cám ơn ngài đã vuốt ngực. Đóng ngoặc.

Với Chổi cùn là đứa con nhà bần tiện chỉ biết nương thân nơi gầm bàn xó chợ, binh thư binh pháp là chuyện trên trời dưới bể, chẳng dám có ý đồ “múa rìu qua mặt thợ”. Nhưng nhớ lại chuyện năm nảo năm nao, một ký giả người Pháp cà chớn cà chác nào đó hỏi xách mé Võ tướng quân học quân trường nào ra mà leo đến hàm đại tướng thì được Đại tướng trả lời – nếu Chổi nhớ không sai – đại khái rằng, “Như ta đây không xuất thân từ quân trường nào cả, nhưng việc ta đã đánh bại tướng Jean de Lattre deTassigny của các anh cũng đủ để ta đây làm tướng rồi”. Noi gương không cần học trường quân sự nào mà vẫn làm được đại tướng, Chổi tui mù chữ binh đui chữ pháp cũng làm đại cái so sánh chiến thắng Điện Biên với chiến thắng Mường Nhé, xem cái nào to, cấy mô nhỏ.

Về tương quan lực lượng:

Mặt trận Điện Biên, 1954: chỉ kể về quân số: Ta: 11 trung đòan bộ binh; Địch: 12 tiểu đoàn bộ binh; đại bác

Mặt trận Mường Nhé , 2011: Ta: 1000 Cảnh Sát + 2000 bộ đội (không kể xe bọc thép và tàu bay lên thẳng). Địch: 5000-7000 đồng bào (phần lớn lão ông lão bà phụ nữ con nít)

Nhìn tương quan lực lượng trên đây rồi liên hệ điều Chổi học mót được, câu “Chiến đấu không gian lao, chiến thắng chẳng vinh quang” (nghe đâu là của “chú” Pierre Corneille, nguyên văn tiếng Tây tiếng U gì đó hình như là: “A vaincre sans peril, on triomphe sans gloire.” Rồi mần mò suy theo:

Trận Điện Biên: quân ta lấy 11 nhân 3 (cứ lấy con số tối thiểu 1 trung đoàn chỉ có 3 tiểu đoàn), thành 33 tiểu đoàn, so với quân Pháp chỉ có 11. Với con số gấp ba lần, quân ta đầu nón cối, chân dép râu nhào vô lòng chảo lửa của tướng De Castries, vừa nướng vừa lấy thịt đè người, địch cũng bỏ mẹ rồi. Đó là chưa nói đến bên cạnh chú Giáp luôn túc trực một lố quân sư made in China xì xồ chỉ chỏ bày mưu dạy kế (2); rồi lại được thế giới loài người ủng hộ qua Phong trào Giải Thực; lại có đồng bào cả nước nô nức đồng tình, hậu phương vĩ đại Trung Quốc, quân ta không thắng mới là điều lạ.

Trận Mường Nhé ngược lại, quân ta cao tay chỉ bằng phân nửa quân địch; đám quân sư ngày xưa bây giờ đã thành quân cướp (biển, đất, rừng, bôxít..). Dư luận thế giới đâu đâu cũng la làng phản đối; đồng bào cả nước lại nhảy sang hàng ngũ địch. Đường “ra mặt trận” theo bà phát ngôn nhà nước Phương Nga thì “đang tu sửa” nên không nỡ để cho phóng viên chiến trường quốc tế và nội địa thuộc“lề trái” phải vất vả lội suối trèo non; chỉ cần ở yên tại nhà rồi sẽ có hình ảnh tin tức từ “lề phải” hy sinh tính mạng lấy về cho, chẳng những miễn phí hoàn toàn, mà còn tặng, biếu cả đống… Tình hình như thế, mà quân ta vẫn chiến thắng địch H’Mong, theo đài phản động RFA thì ta giết được 69 giặc, bắt sống 130 tên; phe ta đương nhiên là vô sự.

Mặt trận Điện Biên 1954 quân ta chiến thắng nhờ lấy thịt đè người và lòng dân quyết thắng và thế giới văn minh ủng hộ. Mặt trận Mường Nhé 2011quân ta gặp vô vàn khó khăn gian lao: quân ta ít quân địch nhiều; quân ta lại vừa đánh vừa nghe chửi tứ phía.Vậy mà quân ta vẫn thắng! Thế mới là chiến thắng huy hoàng. Là đại thắng. Đại thắng Mường Nhé. Ôi Mường Nhé, mừng nhé, sướng nhé!!!

Đại thắng Mường Nhé! Đại thắng của một băng đảng tàn ác gian manh quỷ quyệt bạo tàn. Hay là đại thảm họa trên quê hương Mường Nhé của sắc tộc H’Mong, một trong số 53 sắc tộc kết hợp lại làm nên nhà Việt Nam đã cùng nhau hy sinh bao xương máu để có được chiến thắng Điện Biên năm xưa cùng bao chiến thắng chống ngoại xâm suốt dòng lịch sử 4 ngàn năm.

Nguyễn Bá Chổi (danlambao)

http://danlambao.com/
http://danlambaovn.blogspot.com/
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Cảm nghĩ của Đàn Ông về Phụ Nữ.
Phụ nữ giống như người dự báo thời tiết: chỉ nhận là mình đoán thiếu chính xác chứ không sai.
Phụ nữ giống như chiếc tháp: có rất nhiều lối vào nhưng không tìm được lối ra.

Phụ nữ là một bản nhạc dài không có các nốt trầm.
Phụ nữ giống như cuốn tiểu thuyết: có mở đầu chứ không có kết thúc.

Phụ nữ do Chúa sáng tạo ra nhưng chính người cũng không hiểu được chủ đề của tác phẩm của mình.
Phụ nữ giống như bức tranh trừu tượng mà mãi 300 năm về sau cũng chẳng có ai hiểu được.

Người đàn ông thành công là người có thể kiếm được nhiều hơn số tiền vợ anh ta chi tiêu.
Người phụ nữ thành công là người tìm được một người đàn ông như vậy.
Một người phụ nữ toàn diện: sáng diện, trưa diện, chiều diện, tối diện.

Để có được hạnh phúc với một người đàn ông, bạn cần phải hiểu anh ta nhiều và yêu ít thôi.
Để có được hạnh phúc với môt người phụ nữ, bạn cần phải yêu nhiều và đừng cố hiểu cô ta.

Phụ nữ cưới chồng với hi vọng anh ta sẽ thay đổi, nhưng xong rồi anh ta lại không thay đổi.
Đàn ông cưới vợ với hi vọng cô ta sẽ không thay đổi, nhưng xong rồi cô ta lại thay đổi.

Trong một cuộc tranh cãi, phụ nữ phải là người nói câu cuối cùng.
Bất cứ điều gì người đàn ông nói sau đó sẽ là sự mở đầu của một cuộc tranh cãi mới.
Đàn Ông: Người Phụ Nữ lý tưởng đời này tìm đâu cho ra?
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Lời than vãn của Phụ Nữ về Đàn Ông.
Những người đàn ông tốt thường hay xấu xí, còn những người đàn ông đẹp trai thường hay không tốt.
Những người đàn ông vừa đẹp trai lại vừa tốt lại thường là kẻ đồng tính.
Còn những người đàn ông vừa đẹp trai, lại vừa tốt, không phải là kẻ đồng tính thì thường đã cưới vợ mất rồi!

Những người đàn ông không đẹp trai lắm, nhưng là người tốt thì lại thường không có tiền.
Nhưng những người đàn ông không đẹp trai lắm, nhưng là người tốt và có tiền thì lại thường nghĩ rằng
phụ nữ theo đuổi họ chỉ vì tiền bạc.
Những người đàn ông đẹp trai, không có tiền bạc chỉ theo đuổi phụ nữ chỉ là để "đào mỏ".

Những người đàn ông đẹp trai, mà không tốt lắm, không phải là người đồng tính, thì lại không nghĩ rằng
phụ nữ là người đẹp.
Những người đàn ông nghĩ rằng phụ nữ đẹp, lại không là người đồng tính, cũng có thể hơi tốt và có tiền,
lại thường là những kẻ nhát gan, sợ phụ nữ.
Những người đàn ông hơi đẹp trai, hơi tốt và có một số tiền nào đó và cảm ơn Chúa họ không đồng tính,
thì thường rất nhút nhát và không bao giờ đi bước đầu tiên.
Nhưng những người đàn ông mạnh bạo đi bước đầu tiên mà khi phụ nữ khởi động thì họ lại hết hứng...

Đàn Bà: Ôi, thời nay lựa chọn Người Đàn Ông lý tưởng sao mà khó khăn đến thế!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Tàn nhẫn
Tôi không có dịp đi nước ngoài nhiều, nên không biết ở ngoài người ta có hệ thống chăm sóc sức khỏe cho lãnh đạo hay không. Nhưng nhìn từ góc độ y đức tôi thấy chuyện dành ra một tài khoản và ban bệ chỉ để lo chuyện sức khỏe cho lãnh đạo thật là vô minh.

Thời còn làm trong bệnh viện nhà nước tôi chứng kiến nhiều cảnh đau lòng. Thường dân không có thuốc phải nằm chờ chết. Cán bộ cao cấp thì được lệnh mua thuốc ngoại, giá bao nhiêu cũng được duyệt. Thường dân nằm la liệt hành lang bệnh viện. Cán bộ nằm phòng có máy lạnh. Đó là thời 79-85. Nhưng thời nay cũng chẳng có gì khác. Cũng như giữa giàu và nghèo, khoảng cách giữa dân và quan càng ngày càng lớn. Quan thì giàu, dân thì nghèo.

Người ta nói một chuyện làm một chuyện khác. Nói xóa bỏ giai cấp, nhưng lại tạo nên một giai cấp ăn trên ngồi trước. Nói là đầy tớ nhân dân, nhưng trong thực tế là cha mẹ nhân dân. Ngôn ngữ dưới thời XHCNVN không còn ý nghĩa thật của nó nữa.

Sài Gòn có bệnh viện Thống Nhất dành cho lãnh đạo. Nhưng ít ai biết rằng bất cứ tỉnh nào cũng có một khu trong bệnh viện chỉ dành cho lãnh đạo. Phải bao nhiêu tuổi đảng mới được nằm ở các khu đặc trị đó. Tôi không có vinh dự điều trị cho các vị lãnh đạo vì tôi đoán lý lịch của mình không “sạch” mấy (do học y thời trước 75). Nhưng tôi được biết đồng nghiệp điều trị cho các lãnh đạo than trời lắm. Họ nói các vị lãnh đạo coi bác sĩ chẳng ra gì, đối xử với bác sĩ như là cấp trên và cấp dưới. Chán lắm. Bực tức lắm. Nhưng nhiệm vụ và y đức thì phải làm, chứ chẳng ai ham làm trong các khu đặc trị cho lãnh đạo cả.

Thật ra, mấy khu đặc trị là những khu nguy hiểm trong bệnh viện. Dù trang bị tốt hơn các khu khác, nhưng tử vong vẫn cao trong mấy khu đặc trị. Lý do đơn giản là bác sĩ chẳng dám quyết định gì cả. Cái gì cũng hỏi cấp trên. Có lẽ nhiều người không biết, nhưng có ca phải hỏi ý kiến … cấp ủy. Không có hệ thống y khoa nước nào quái đản như nước ta, bác sĩ xin ý kiến cấp ủy để điều trị! Có cụ bị để nằm cho đến chết vì chẳng ai dám quyết định, ai cũng sợ trách nhiệm. Có lần tôi tham dự hội chẩn về một trường hợp và bị ám ảnh lâu dài về hệ thống y tế dưới thời XHCN. Ông cụ không phải là cán bộ cao cấp, nhưng là bố của một ông thứ trưởng, nên cũng được nằm khu dành cho lãnh đạo. Ông cụ bị cao huyết áp và tiểu đường, bệnh rất hay gặp. Người ta hội chẩn mãi, xin ý kiến mãi, thậm chí ông thứ trưởng bay vào Sài Gòn thăm bố. Chẳng ai dám làm gì! Ba tuần sau, ông cụ qua đời. Chính cái hệ thống phân biệt đối xử và giai cấp làm cho ông cụ chết.

Chính cái hệ thống đó đang giết người dân nữa. Đọc blog thấy có tin Thanh Hóa “đầu tư xây dựng trụ sở Ban Bảo vệ – Chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Thanh Hóa“. Có cái gì ghê tởm ở đây. Chúng ta biết rằng người dân Thanh Hóa đang đói. Gần 250.000 người đói. Vậy mà người ta thản nhiên xây tập trung tiền bạc vào việc chăm sóc sức khỏe cán bộ!

Thử nhìn qua hai hình dưới đây để thấy bản chất của chế độ

Đâu chỉ Thanh Hóa mới lo chăm sóc sức khỏe cán bộ. Trung ương cũng thế. Chẳng những huy động, mà còn huy động toàn hệ thống. Thử đọc bản tin Huy động sức mạnh của toàn hệ thống trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ thì biết người ta muốn gì. Đọc bản tin đó gần chục lần tôi vẫn không giải thích được tại sao người ta lại vô cảm, ngạo mạn, ngang nhiên, trắng trợn như thế.


Trong khi bệnh viện các cấp quá tải, trong khi hai ba bệnh nhân phải nằm chung giường, trong khi bệnh nhân nằm ghế bố la liệt ngoài hành lang, mà có một giai cấp ngang nhiên huy động toàn hệ thống để chăm sóc cho một nhúm cán bộ đảng viên. Họ xem bệnh viện, bác sĩ, y tá, chuyên gia như là tài sản của riêng họ, muốn làm gì thì làm. Không hiểu trong lịch sử nước nhà, đã có một giai cấp thống trị nào chẳng những bất tài mà còn tàn nhẫn với người dân như hiện nay. Tìm hoài trong cổ sử mà chưa thấy.

Tạm thời có thể nói đảng viên là giai cấp tàn nhẫn nhất với người dân trong lịch sử Việt Nam?
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Chìa khóa để giữ được niềm vui

Tác giả chuyên mục nổi tiếng Sydney Harries và một người bạn dừng chân mua báo ở một quầy bán báo, người bạn mua xong rất lịch sự nói lời “cám ơn” nhưng người chủ quầy báo thì ngược lại, mặt lạnh như tiền một tiếng cũng không mở miệng.
Hai người rời quầy báo tiếp tục đi về phía trước, Sydney Harries hỏi “ông chủ đó thái độ kỳ quái quá phải không”?
Anh bạn nói “cứ mỗi buổi tối là anh ta đều như vậy cả”.
Sydney Harries lại hỏi tiếp “như vậy, tại sao bạn lại đối xử tử tế với ông ta chứ”?
Người bạn trả lời: “tại sao tôi để ông ta quyết định hành vi của tôi chứ”?
Một người biết nắm chắt chìa khóa niềm vui của mình, thì người đó không đợi chờ người khác làm cho mình vui mà ngược lại mình còn có khả năng đem niềm vui đến cho người khác.

Trong tâm của mỗi người đều có “chìa khóa của niềm vui”, nhưng chúng ta lại không biết nắm giữ mà đem giao cho người khác quản lý.

Một người phụ nữ thường than phiền trách móc : “tôi sống rất buồn khổ, vì chồng tôi thường vắng nhà!”, cô ta đã đem chìa khóa niềm vui của mình đặt vào tay chồng.

Một người mẹ khác thì nói “con trai tôi không biết nghe lời, làm cho tôi thường xuyên nổi giận!”, bà đã trao chìa khóa vui của mình vào tay con trai.
Một vị trung niên của một công ty thở dài nói “ công ty không thăng chức cho tôi, làm tinh thần tôi giảm sút,...!” anh ta lại đem chìa khóa niềm vui của cuộc đời mình nhét vào tay ông chủ.

Bà cụ kia than thở “con dâu tôi không hiếu thuận, cuộc đời tôi sao mà khổ!”.
Một thanh niên trẻ từ tiệm sách bước ra la lên “thái độ phục vụ của ông chủ đó thật đáng ghét, ...”

Những người này đều có một quyết định giống nhau, đó là để người khác đến khống chế tâm tình của mình. Lúc chúng ta cho phép ngừơi khác điều khiển và khống chế tinh thần chúng ta, chúng ta có cảm giác như mình là người bị hại, đối với tình huống hiện tại không có phương pháp nào khác nên trách móc và căm giận trở thành chọn lựa duy nhất của chúng ta.
Chúng ta bắt đầu trách móc người khác đồng thời chúng ta cũng truyền tải một yêu cầu là “tôi khổ như vậy là do anh/ chị/con ...và anh/ chị/con... phải chịu trách nhiệm về nổi khổ này”!

Lúc đó chúng ta đem trách nhiệm trọng đại phó thác cho những người xung quanh và yêu cầu họ làm cho chúng ta vui.

Chúng ta dường như thừa nhận mình không có khả năng tự chủ lấy mình, mà chỉ có thể nhờ người nào đó xếp đặt và chi phối mình.

Nhưng, một người biết nắm chắt chìa khóa niềm vui của mình thì người đó không đợi chờ người khác làm cho mình vui mà ngược lại mình còn có khả năng đem niềm vui đến cho người khác. Tinh thần người đó ổn định, biết chịu trách nhiệm về chính mình không đỗ lổi cho người khác; biết làm chủ cảm xúc và biết tạo cũng như giữ được niềm vui cho chính mình ,như thế thì trong cuộc sống và công việc hằng ngày người đó sẽ thảnh thơi vui vẻ không bị áp lực từ người khác.

Chìa khóa của bạn ở đâu rồi? Đang nằm trong tay người khác phải không?

Hãy nhanh lên mà lấy lại bạn nhé!!!

Chúc mọi người đều giữ được niềm vui.

(Như Nguyện )
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 12 guests