Thời Sự, Bình Luân

aogiap
Posts: 14
Joined: Sat May 29, 2010 11:10 pm
Contact:

Post by aogiap »

KHÔNG THỂ HÒA GIẢI, HÒA HỢP_
HÀ PHUƠNG
Cho đến hôm nay, còn có một số người ray rức: vì sao cứ mãi hoài niệm(?) 30/4 mà tình thương dân tộc vẫn còn mờ nhạt? Ý họ muốn kêu gọi “lấy hòa hợp thay cho oán thù”. Họ đã quên rằng hòa hợp không thể đến chỉ từ một phía. Làm sao có thể hòa hợp với những người cho đến hôm nay, vẫn khư khư khẳng định "Thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa cộng sản" và xác định "Việt Nam không có nhu cầu Đa Nguyên Đa Đảng và nhất quyết không Đa Nguyên Đa Đảng". "Việt Nam không có nhu cầu Đa Nguyên Đa Đảng và nhất quyết không Đa Nguyên Đa Đảng". Trong khi đó, nhân dân Việt Nam, ngoài trừ đảng viên CS và những kẻ theo đám ăn tàn, đã trãi qua nhiều kinh nghiệm đau thương ở đó, nên đã thấy rõ bộ mặt thật của CS và xác định chính CS là "Nguyên Nhân Của Mọi Nguyên Nhân", đã đưa đến “NHỮNG THẢM TRẠNG CHO ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VN”, và chính CS là người phải chịu trách nhiệm.
Trách nhiệm là ở người gây ra oán thù, chứ không phải ở người trong tình thế phải oán thù. Tại sao có ngày 30/4? Ai đã họp ĐH đảng năm 1959, quyết định xâm lăng VNCH, thành lập MTGPMN năm 1960, sau đó mở màn cho kế hoạch từ đánh du kích, đánh trận địa, đến vượt đường Trường Sơn cả người và chiến cụ để cuối cùng bất kể HĐHB Paris 1973 mở chiến dịch HCM tổng tấn công VNCH tháng 3/1975 (do Văn Tiến Dũng và Lê Đức Thọ tổng chỉ huy) và kết thúc vào ngày 30/4/75? Ai đã lấy chiêu bài “giải phóng dân tộc” bằng bạo lực cách mạng để thực hiện đấu tranh giai cấp ở Miền Nam kể từ 1960, biến Miền Nam trù phú, phồn vinh trở nên xác xơ thảm đạm? Ai đã làm cho con người Miền Nam vốn hiền hòa, cần mẫn, vị tha trở thành căm hận, chai lười, vị kỷ? Nếu không phải do csHà Nội gây ra thì Ai là người đã gây ra những oán thù chồng chất từ đó đến nay? Bao nhiêu đó cũng đủ để nhân dân Miền Nam gọi ngày 30/4 là ngày Quốc Hận và cứ đến ngày đó họ lại thêm một lần chỉ “Tưởng Niệm” chứ không “Hoài Niệm” như những người khác. Cùng một ngày lịch sử nhưng có hai cái nhìn khác nhau đã cho thấy việc ai đó “tìm mãi yêu thương từ 30/4” là điều không lấy gì làm lạ, bởi vì ở đó “Tình Người” đã mất thì làm gì còn tình thương Dân Tộc?

Đem “Tình Thương để hòa hợp và hóa gỉải Hận Thù” là điều rất tốt và đáng khích lệ. Tuy nhiên, trước những kẻ hung tàn, chỉ biết bạo lực và trấn áp để "còn đảng còn mình", coi mạng người như cỏ rác, coi công lý như trò chơi, coi Tự Do như của riêng, coi Dân Chủ như "thúng gạo" (Dân Chủ Tập Trung, kiểu của HCM), coi nhân quyền là xa xỉ và coi Tổ Quốc là của Đảng (yêu nước là yêu CNXH), thì liệu cái Tình Thưong ấy có hóa giải được hận thù do cs VN gây ra, hay chỉ là công "Dã Tràng xe cát"? Vậy, Hòa Hợp để "gạn đục khơi trong" chứ không phải Hòa Hợp bằng mọi giá để tiếp tục nghe "Dân Oan kêu khóc" mà đau lòng, hoặc nhìn "Phiên Tòa Bao Cao Su biến thành Phản Quốc" mà tủi nhục!

Người ta còn nhớ, Ông ĐT/TT Dương văn Minh và đám thành phần thứ Ba ở miền Nam trước 30/4/75, không biết cố tình hay khờ khạo đến độ để mắc mưu cs Hà Nội, tưởng Hoà Giải Hòa Hợp Dân Tộc với "anh em phía bên kia" (csHN và MTGPMN) là điều có thể làm để biến MNVN thành một nước Trung Lập, nên ngày 29/4/75 đã ra lệnh cho tất cả Quân Cán Chính VNCH buông súng chờ bàn giao(?), trong khi quân của cs HN đã đến sát nách và đang hăm hăm tiến vào Saigon. ("Ngụy Tạo" và "Bất Ngờ" là một trong những kế mưu cần có trong quân sự cũng như trong chính trị để đánh lừa đối phương). CsHN dùng HĐ Paris 73 để chiếm nước VNCH trong sách lược nhộm đỏ Thế Giới của CSQT, chứ không phải để hình thành ở đó một chính quyền Trung Lập. Đối với chủ thuyết của CS thì chỉ có Tổ Quốc Cộng Sản chứ không có và nhất định không có(?) một Tổ Quốc VN hay một Tổ Quốc nào khác.

"Đối với cộng sản không thể sửa đổi, chỉ có thay thế" (Boris Yelsin). Việc đi tìm Tình Thương ở CS cũng như Đa Nguyên - Hòa Hơp với CS để xây dựng xã hội công bằng, bác aí và sống chung hòa bình là điều hoang tưởng, huống hồ với tập đoàn tư bản đỏ mafia Hà Nội, vì tham vọng và tiền của do cướp đoạt mà có, và cố tình dùng bọn côn đồ công an kèm kẹp nhân dân để duy trì chế độ như hiện nay, thì con đưòng chính trị dung hợp đươc đặt ra với chúng lại càng không những hoài công mà còn gặp hiểm nguy không ít!

Xin hỏi, không kể 3 triệu đảng viên, đảng cộng sản VN đã hòa giải hòa hợp được với hơn 8 triệu nhân dân ở trong nước chưa? Nếu đã hòa giải hòa hợp thì tại sao còn những tiếng nói đòi công lý, đòi Tự Do Dân Chủ, đòi Nhân Quyền, và quan trọng hơn nữa là đòi bỏ CNXH, đòi bỏ điều 4 Hiến Pháp? Và, tại sao cứ vẫn kèm kẹp, bắt bớ, giam cầm những người bất đồng chính kiến? Và còn nhiều cái tại sao nữa mà không đủ chỗ để nêu ra đây. Nếu không hòa giải hòa hợp được với dân của mình thì làm sao có thể nói chuyện đó với những người thuộc chính quyền và quân đội của VNCH trước 30/4/75 đang cư ngụ ở nước ngoài? Vấn đề đặt ra là tại sao không thể hòa giải hòa hợp? Hãy đọc lại những lời phát biểu trước đây của các ông Nguyễn Văn An, Cựu CTQH VN, BS Nguyễn Đan Quế, TS Cù Huy Hà Vũ, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, và của nhiều vị đảng viên lão thành cách mạng, của nhiều vị Trí Thức Yêu Nước, của các tầng lớp dân oan, của các tín đồ Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài v.v...rồi đối chiếu với Nghị quyết của ĐH đảng csVN lần XI: “Khẳng định thời kỳ quá độ tiến lên CSCN” và lời tuyên bố của đảng: “VN không có nhu cấu Đa Nguyên Đa Đảng và nhất quyết không Đa Nguyên Đa Đảng”, chúng ta sẽ thấy ngay câu trả lời cho v/đ “tại sao không thể hòa giải hòa hợp?”.

Vâng, Dân Tộc VN có thể hoà giải hòa hợp với nhau, NHƯNG DÂN TỘC VN KHÔNG THỂ HÒA GỈẢI HÒA HỢP VỚI CỘNG SẢN”. Ngày nay, trình độ nhận thức chính trị của nhân dân VN đã vững vàng, csHN đừng nhìn qua lăng kính từ một số ít người “mất lương tri, vô liêm sỉ, cơ hội xu thời, giá aó túi cơm” mà đánh giá sai lầm tinh thần bất khuất trước bạo quyền của đại khối người VN (vì Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Tiền Đồ Dân Tộc), để chuốc lấy thảm họa như những tập đòan độc tài ở Bắc Phi và Trung Đông hiện nay. Chiêu bài “Hòa giải hòa hợp” đã bị lật tẩy rồi, không còn ru ngủ và lừa mị được ai. Cứ xem một em bé gái 10 tuổi ở mìên Tây Nam Việt vừa qua đã dùng thuyền ba lá để vượt biên và đã bị công an biên phòng dùng tàu đuổi bắt. Tuy tuổi em còn nhỏ, hiểu biết em nông cạn, sức lực em non kém, nhưng quyết định và hành động của em có một tác dụng to lớn và một giá trị khác thường đủ để chứng minh cái tinh thần bất khuất ấy thì với cái chiêu bài hòa giải hòa hợp cũ rích của CS để giả bộ cầu hòa và cải thiện hầu tránh ngọn sóng CM Dân Chủ từ Bắc Phi và Trung Đông lan tới, làm sao có thể thuyết phục? CSHN hãy lo thu xếp hành trang đi, đừng om sòm nhiều chuyện để câu giờ, sẽ mất cả chì lẫn chài, không ai cứu được đâu!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mất gì ngày 30 Tháng Tư?

Ngô Nhân Dụng


Từ giữa thế kỷ 20 môn kinh tế học mới bắt đầu chú ý đến luân lý như một tài nguyên; có người gọi thẳng là Love (tình thương), có người gọi là Civic spirit hoặc Civic Culture (tinh thần công dân), hoặc như Albert O. Hirschman từ năm 1970, gọi chung là các tài nguyên tinh thần (moral resources).

Gọi là một tài nguyên, người ta công nhận nó giống như một thứ “Vốn” chung của xã hội, nó có thể giúp gia tăng của cải, sẽ sinh lợi không khác gì các thứ vốn như tiền bạc, đất đai, hiểu biết, vân vân; và nó cũng có thể bị phí phạm, hao mòn, hay được làm cho đầy, cho phong phú thêm.

Dần dần, hầu hết các nhà kinh tế đã đồng ý “tài nguyên tinh thần” rất quan trọng, nên giữ gìn và phải học cách sử dụng sao cho hiệu quả nhất. Một thứ tạo nên tài nguyên tinh thần là Niềm Tin (Trust) trong xã hội. Kinh tế chỉ có thể phát triển nếu mỗi người ký một hợp đồng có thể tin rằng phía bên kia sẽ hết sức thi hành bản hợp đồng đó. Ngay cả những doanh nhân không thích ký hợp đồng, nhưng họ biết đang làm ăn những người đáng tin (quân tử nhất ngôn), khi bắt tay nhau là họ có thể tin nhau rồi, thì việc kinh doanh của họ rất phát đạt. Các Hoa kiều hải ngoại hay làm ăn kiểu đó. Nhưng nếu niềm tin được bảo vệ bằng các định chế chính thức của xã hội, như luật lệ, hệ thống tư pháp sạch sẽ và tòa án công minh, thì thứ tài nguyên đó sẽ giúp cho kinh tế phát triển rất mạnh. Chỉ khi nào chứng kiến những xã hội lạc hậu về kinh tế vì người dân không ai dám tin ai mà cũng không nghĩ người khác sẽ tin mình, thì mới thấy thiếu niềm tin là mất một tài nguyên kinh tế rất quan trọng. Trong các xã hội lạc hậu, mọi người sống ích kỷ không nghĩ đến người khác, không có lòng tôn trọng công ích hơn tư lợi, thì nền kinh tế không thể nào phát triển cao được; vì mọi người khó cộng tác với nhau.

Tại sao có những xã hội mà người ta tạo được tài nguyên tinh thần rất giầu, còn nhiều xã hội thì không? Tài nguyên tinh thần cần được gieo giống, rồi được tưới tẩm, hết thế hệ này sang thế hệ khác. Muốn hiểu diễn trình cấu tạo nên tài nguyên tinh thần, có thể dùng một phương pháp kinh tế học là Game Theory (Lý thuyết Trò chơi). Một câu chuyện nổi tiếng là Chuyện Hai Người Tù (The prisoners dilemma). Ðại khái, có hai người bị bắt, nếu cộng tác với nhau cùng khai vô tội thì sẽ được bị án rất nhẹ, còn nếu nếu phản phúc thì cả hai sẽ bị án nặng nề. Nhưng hai người tù không tin được nhau. Khi suy xét một cách thuần lý, cuối cùng mỗi người tù thấy chọn đường phản phúc thì có lợi nhất, mặc dù cả hai đều bị thiệt. Trong xã hội, mọi người đều biết suy nghĩ như thế. Ðiều này trái ngược với nhận xét chung là trong rất nhiều xã hội người ta vẫn tin tưởng nhau, vẫn cộng tác với nhau. Làm cách nào giải thích được hiện tượng nghịch lý này?

Các nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội học đã thấy là có một cách để bảo đảm một người sẽ không phản phúc, là tiếng tăm. Nếu anh bị mang tiếng là hay phản phúc thì sẽ bị mọi người ruồng bỏ, không ai tin anh nữa, đó là một hình thức trừng phạt. Một “định luật” được công nhận là khi một người tham dự vào “nhiều cuộc chơi lập lại rất nhiều lần” (repeated games) thì dần dần họ sẽ sợ bị người chung quanh trừng phạt, do đó sẽ chọn hành vi cộng tác để được tín nhiệm. Có những điều kiện giúp cũng có luật chơi tín nhiệm này: Số người tham dự nhỏ (trong một xóm ai cũng biết ai, phản phúc là tự loại mình); hoặc thông tin về hành vi của mọi người đều dễ phổ biến cho tất cả biết (không cấm tự do thông tin, không có những quyết định trong các phiên họp bí mật); và các người tham dự biết giá trị của những lợi ích tương lai chứ không chỉ chú tâm đến hiện tại. Khi xã hội đã thiết lập được một hệ thống trừng phạt và tưởng thưởng như thế, niềm tin chung sẽ gia tăng. Nếu ngược lại, có lúc hệ thống tưởng thưởng và trừng phạt này bị phá vỡ vì xã hội theo những luật chơi mới, niềm tin sẽ tan mất. Muốn lập lại, phải bắt đầu cuộc chơi lại từ đầu, xây dựng niềm tin lên dần dần, mất nhiều thời gian.

Trước Hirschman có người đã nhận xét rằng Niềm Tin là “một thứ tài nguyên càng sử dụng thì càng giầu hơn chứ không bị hao mòn; nhưng nếu không được đem dùng thì nó sẽ dần dần tiêu tán.” Nó cũng giống như một kỹ năng (skill), chẳng hạn tài chơi đàn, hay nói được một tiếng ngoại quốc. Nó cũng không hiếm hoi như quặng mỏ hoặc trình độ giáo dục.

Albert Hirschman đưa ra một cách nhìn mới. Ông nhận thấy có hai trường hợp khiến tài nguyên tinh thần có thể bị hủy hoại: Một là khi nó không được dùng tới, sẽ hao mòn đi, như người khác đã thấy. Hai là nếu nó bị sử dụng nhiều quá, quá khả năng cung cấp của loài người, thì cũng sẽ giết chết nó.

Hirschman (năm nay 96 tuổi) đã nhìn thấy, từ 1970, 80, tình trạng tài nguyên tinh thần bị hao mòn hay bị hủy diệt, trong cả hai hệ thống kinh tế tư bản và cộng sản. Trong kinh tế tư bản, người ta không chú ý vận dụng tài nguyên tinh thần, vì rất khó đo lường để đưa nó vào phương trình kinh tế. Cho nên, tài nguyên tinh thần có thể bị hao mòn (atrophy) vì mọi người chỉ lấy lợi nhuận làm thước đo thành công. Nếu niềm tin còn tồn tại trong thế giới tư bản, đó là nhờ các định chế pháp luật và các quyền tự do dân chủ, chúng bảo đảm những người cộng tác được thưởng, kẻ phản phúc bị trừng phạt.

Trong hệ thống kinh tế cộng sản thì ngược lại. Họ tận dụng tài nguyên tinh thần, cổ động niềm tin vào chủ nghĩa, vào khả năng giới lãnh đạo; họ không coi niềm tin giữa các cá nhân là quan trọng như một tài nguyên tinh thần; vì tất cả đã được thay thế bằng niềm tin chung vào chủ nghĩa cộng sản. Chỉ cần động viên niềm tin vào đảng cho vững chắc là mọi chuyện sẽ thành tựu. Nhưng hệ thống kinh tế và chính trị cộng sản cổ động niềm tin quá khả năng cung cấp của tất cả mọi người, nhất là các đảng viên. Họ đưa ra những khẩu hiệu, như “Con người mới” của Fidel Castro, “Tự chủ” của Kim Nhật Thành. Ðiều nguy hiểm là sự thành công của cả hệ thống lại tùy thuộc vào tài nguyên tinh thần này. Cho nên họ đòi hỏi, “muốn có xã hội cộng sản phải có con người cộng sản.” Mà một mẫu người lý tưởng theo kiểu các tôn giáo vẫn đề cao như thế thì chỉ có trong tưởng tượng, không xã hội loài người nào đạt được. Hậu quả là hệ thống kinh tế cộng sản tạo ra một xã hội sống giả dối, dùng nhiều mặt nạ khi sống với nhau. Lối sống đó tất nhiên phá hoại tất cả tài nguyên tinh thần. Tình trạng tài nguyên tinh thần bị hao mòn là một phần nguyên do đã gây ra hậu quả kinh tế trì trệ rồi sụp đổ.

Ðảng Cộng Sản ở hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã “đổi mới kinh tế.” Họ đã khai thác ngay được một thứ tài nguyên lớn, là sức người. Chỉ cần họ nới lỏng guồng máy kiểm soát kinh tế; cứ cho người dân được thêm một chút tự do làm ăn là khả năng sản xuất của người ta chắc chắn sẽ tăng lên. Nhưng cả hệ thống chính trị của hai nước vẫn chưa nghĩ đến chuyện khôi phục lại các tài nguyên tinh thần đã bị mất. Ngược lại, việc họ tìm cách bảo vệ quyền lợi các đảng viên bằng hệ thống tham ô toàn diện còn làm cho các tài nguyên tinh thần bị hủy hoại mạnh và nhanh hơn trước. Tình trạng đạo đức giả chỉ tăng lên chứ không giảm đi, vì nó thể hiện từ cấp cao nhất: lý thuyết, tư tưởng chính thức của guồng máy cai trị. Họ vẫn nói đi theo chủ nghĩa Cộng Sản, nhưng trong thực tế họ pha trộn một hệ thống tư bản thời hoang dã với một chế độ công an trị thời phát xít. Miệng đề cao công ích nhưng ai cũng chỉ lo vơ vét tư lợi. Tham ô và nhũng lạm quyền hành được phơi bầy công khai, trâng tráo, trong khi nhà nước vẫn hô hào chống tham nhũng. Tài nguyên tinh thần đã bị phá hoại toàn diện chứ không phải chỉ bị hao tổn như khi còn theo kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Một độc giả Người Việt mới viết cho tòa soạn kể chuyến đi thăm quê hương mấy tháng. Vị độc giả nhận thấy guồng máy chính quyền bóc lột dân; chuyện đó nhiều người đã nói. Nhưng ông (hay bà) còn thấy, “người dân cũng bóc lột lẫn nhau vô tội vạ, đối xử với nhau bằng những cái mặt nạ nhân nghĩa giả dối trơ trẽn!”

Hồi đầu Tháng Ba năm 2011, ký giả Carl Robinson sau khi thăm Việt Nam, mới nêu một nhận xét: “Sau gần 60 năm cai trị của đảng Cộng Sản ở miền Bắc và hơn 35 năm ở miền Nam, tất cả người Việt Nam ngày nay theo chủ nghĩa cá nhân tột cùng. Thay vì tinh thần hướng về cùng một mục đích chung và đoàn kết với nhau thì bây giờ ai cũng chỉ lo cho bản thân mình, như tâm trạng sauve qui peux (ai chạy được thì thoát, tiếng Pháp trong nguyên văn)...” Robinson cho biết ông đã đi khắp nơi, gặp rất nhiều người ở Việt Nam trong 18 tháng trời.

Không biết Carl Robinson có đọc Albert O. Hirschman hay không, nhưng ông mô tả tình trạng ở Việt Nam hiện nay giống hệt điều mà nhà kinh tế đã nêu ra trước đây mấy chục năm: Lạm dụng tài nguyên tinh thần sẽ hủy hoại nó. Ông kể đã thấy người Việt Nam được đảng và nhà nước đối đãi giống như các học sinh trong các trường mà trong đó các vị giáo sĩ dạy trẻ những quy luật không bao giờ được ai theo cả: “Tất cả mọi người được coi như trẻ nít, được học giáo lý suốt ngày bằng những khẩu hiệu, các ngày lễ lạt, các giấc mơ vĩ đại. Khi tôi than phiền với một số người ở một thành phố ven biển gần đây về những bài phát thanh tuyên truyền mỗi sáng, một người cười lớn nói, Ðó chỉ là tuyên truyền thôi; chúng tôi không bao giờ nghe cả!”

Ðó là một cách tiêu diệt tài nguyên tinh thần một cách có hệ thống. Muốn xây dựng lại được vốn liếng tinh thần mà tổ tiên đã xây dựng trong mấy ngàn năm trước người Việt Nam biết sẽ phải làm gì. Phải thay đổi cách sống chung với nhau, tất cả mọi người. Một chế độ đã hủy hoại tài nguyên tinh thần của dân tộc hơn một nửa thế kỷ qua, không có lý do gì để tiếp tục việc tàn phá đó nữa.

Không phải ai cũng ở Việt Nam lâu ngày, được đi nhiều, thấy nhiều, gặp gỡ và chứng kiến nhiều cảnh sống để kết luận như ký giả Robinson. Nhưng chắc phần lớn mọi người quan sát đời sống ở nước ta hiện nay đều thấy nền tảng tinh thần, đạo đức đã bị xói mòn khá nặng nề trong mấy chục năm qua. Ðó là một sự mất mát lớn.

Tài sản mất sẽ tạo lại được. Của cải mất rồi có lúc lại làm ra, khá nhanh. Tự do bị mất, mất rất nhanh, ngay lập tức sau ngày 30 Tháng Tư, nhưng thế nào cũng sẽ đòi lại được, cũng không lâu lắm đâu. Nhưng có một thứ đã mất mất, mất từ từ chậm chậm; mà muốn phục hồi được rất khó, đó là nền tảng tinh thần của xã hội. Cái vốn tinh thần phải hàng ngàn năm mới dựng lên được. Khi muốn phá, chỉ cần một thế hệ cũng đủ. Muốn dựng lại, cần vài ba thế hệ mới hy vọng xong.

Vậy chúng ta đã mất gì sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975? Nếu nhìn lại lịch sử cả nước Việt Nam thì câu hỏi không còn là ngày 30 Tháng Tư nữa. Bởi vì chỉ có người Việt ở miền Nam bắt đầu thấy các tài nguyên tinh thần bị xói mòn từ ngày đó; còn đồng bào ở miền Bắc đã bị mất mát như vậy từ một phần tư thế kỷ trước, tính đến nay hơn 60 nam rồi.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Image


Sài Gòn, những ngày cuối tháng tư 1975

Tháng tư năm 1975 có lẽ là một thời điểm không thể nào quên của dân tộc chúng ta. Ở ngày tàn của cuộc chiến , là của chia ly và mất mát. Bao nhiêu người đã nằm xuống sau một cuộc chiến kéo dài hơn 20 năm.Tưởng đã hòa bình, đã hết những bi thảm nào ngờ bắt đầu từ lúc ấy lại kế tiếp hết những bi thương này qua những bi thảm khác…

Với ngày lịch sử ấy , từ nhạc đến thơ , từ tiểu thuyết đến hồi ký, đã có biết bao nhiêu tác phẩm ghi nhận lại những bi thảm nhưng hào hùng, những mất mát đau xót không thể nào quên được trong tâm khảm những người Việt Nam. Hôm nay, trong cái hồi tưởng để nhớ về những ngày đã qua ấy, chúng tôi nhắc lại những tác phẩm đánh dấu một thời điểm quan trọng của lịch sử Việt Nam , phản ánh tâm tư thời đại và những nỗi niềm của những người bị quay cuồng trong con lốc thời thế..

Là một người lớn lên và trưởng thành trong xã hôi miền Nam thì thế hệ chúng tôi có nhiều cái chung lắm. Cùng đi học, cùng đi lính, cùng vào tù, cùng vượt biển hay đi định cư theo diện HO, cùng lưu lạc ở hải ngoại và cùng chung những nỗi niềm, những tâm sự về ngày đổi đời bi đát của đất nước này. Với những cái chung của nhiều người ấy đã thành một phận đời dù có những nét tư riêng nhưng cũng phản ánh phần nào được xã hôi mà chúng tôi đã sống, đã buồn, đã vui, đã hy vọng và thất vọng theo mệnh nước nổi trôi…

Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ đã sáng tác rất nhiều về đề tài này. Đã là nghệ sĩ, thì làm sao tránh được cái nhạy cảm với thời thế, huống chi biến cố ấy đã ảnh hưởng trực tiếp vào đời sống. Viết văn, làm thơ, đặt nhạc về những ngày tháng ấy là một xu hướng biểu lộ chân thực nhất mà cảm xúc cũng như kỷ niệm riêng của mỗi người đã ảnh hưởng làm cho văn chương sinh động hơn và có hơi thở của cuộc sống thực hơn. Tôi thấy mình cũng có những xu hướng ấy và hơn nữa nó là một động lực để tôi đến với nghiệp cầm bút.

Trước 1975, tôi chỉ là một người lính yêu sách vở và đam mê văn chương. Sau năm 1975, khi trải qua nhiều cảnh huống và tâm tình không thể nào quên của cuộc đời mình, tôi chập chững đi vào công việc cầm bút cho đến ngày hôm nay. Có thể đó là một sự tình cờ , nhưng có khi trong thâm tâm tôi đó là một sự trả nợ cho những người mà mình phải mang ơn họ trong cuộc sống. Có thể họ là bạn cùng trang lứa cùng đồng ngũ với tôi , hay những người đã mất trong một cuộc chiến. Vì thế , nếu nói một cách bóng bẩy văn hoa thì viết là một cách thế sống để sòng phẳng với mình và với cuộc đời..

Thật ra có rất nhiều tác phẩm văn chương và âm nhạc viết về ngày cuối tháng tư đau đớn của lịch sử Việt Nam. Đáng kể như tập hồi ký “Tháng Ba Gẫy Súng” của Cao Xuân Huy viết về những ngày tan hàng ở Quảng Trị và Huế , như tác phẩm “ Ngày N+” của Hoàng Khởi Phong viết về cuộc di tản từ Pleiku đến Tuy Hòa , hay như những ký sự của ký giả Nguyễn Tú, của nhà văn Nguyên Vũ hay những đoản thiên của nhà văn Hải Quân Phan Lạc Tiếp, của nhà văn Không Quân Đào Vũ Anh Hùng, viết về những cuộc di tản bằng chiến hạm hoặc phi cơ ra biển Đông…

Về thi ca, thì cũng có rất nhiều thi sĩ và nhiều bài thơ viết về những ngày tháng tư buồn thảm như thơ Cao Tần, Thanh Nam, Tô Thùy Yên... Những bài thơ rất ngậm ngùi đầy tiếc nuối của những người đã trắng tay trong một cuộc đổi dời của lịch sử.

Nhưng với tôi, thì gây cảm xúc nhất lại là những bản nhạc .Những bản nhạc nhắc lại Sài Gòn, nói đến những cuộc chia ly, tả về những tiếc thương cho một thành phố bị xóa tên và nằm trong tay quân thù, Như bản nhạc “ Sài Gòn niềm nhớ không tên” của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.

Bản nhạc ấy đã gây thật nhiều cảm xúc cho tôi vì tôi nghe bản nhạc ấy lần đầu tiên ở trại tù Long Khánh do một người bạn đồng tù hát. Nhạc đệm chỉ là một cây đàn guitare tự chế bằng tôn nhôm và gỗ săn nhặt được và giây đàn được làm bằng những sơi dây điện thoại tước ra từng sợi nhỏ tạo thành. Cũng như ca sĩ là người chung cảnh ngộ hát bằng cả tấm lòng và giọng hát thầm thì như của một người đang làm một công việc mạo hiểm, hát để cho vơi tâm sự mặc kệ mọi sự cấm đoán đe dọa của hệ thống quản giáo cai tù đầy dẫy ăng ten báo cáo. Tôi cũng chẳng hiểu làm sao mà những bản nhạc như thế lại được hát và phổ biến ở trong tù như vậy. Chúng tôi xung quanh ngồi nghe như uống từng nốt nhạc, như chắt từng câu ca. Sài Gòn xa rồi, bây giờ ở ngoài vòng rào kẽm gai mịt mùng. Sài Gòn, vẫn còn gần gũi những ngày mà thành phố thảng thốt lọt vào tay giặc thù, những anh hồn liệt sĩ còn phảng phất đâu đây từ những ngày bi thảm mà chúng tôi bị buông súng một cách tức tưởi…

Lời nhạc lôi kéo chúng tôi; ngôn ngữ hiền từ tha thiết không kêu gọi máu lửa nhưng sao lại lôi cuốn chúng tôi dường ấy: “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên- như dòng sông nước quẩn quanh buồn-như người đi cách mặt xa lòng- ta hỏi thầm em có nhớ không… Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao-trong niềm vui tiếng hỏi câu chào- sáng đời tươi thắm vạn sắc màu- còn gì đâu..”

Lúc ấy, chúng tôi chưa biết bản nhạc ấy là của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn. Tên nhạc sĩ tác giả là cả một huyền thoại đối với chúng tôi lúc đó. Có người bảo đó là của nhạc sĩ P. hát bản nhạc ấy ở hải ngoại rồi cảm xúc đến nỗi bị ngất xỉu ngay trên sân khấu. Có người bảo đó là một bản nhạc của một nhạc sĩ đang bị giam ở khám Chí Hòa truyền ra ngoaiø và phổ biến. Đến mãi về sau , khi đã qua Mỹ định cư tôi mới biết tác gỉa là người chủ trương Chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Sài Gòn và là thi sĩ, văn sĩ nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam…

Chương trình Nhạc Chủ Đề do nhà văn Nguyễn Đình Toàn thực hiện trên đài phát thanh Sài Gòn vào buổi tối ngày thứ năm hàng tuần với mục đích giới thiệu với thính giả những bản nhạc được lựa chọn và được viết với lời giới thiệu và giọng đọc rất đặc biệt của người chủ trương. Theo như ý kiến của nhiều người, những lời giới thiệu nhạc hay nhất trong lịch sử âm nhạc có lẽ là bài viết và giọng đọc của nhà văn Mai Thảo và Nguyễn Đình Toàn. Những bài viết ấy đã mở ra những khung trời lãng mạn mà người nghe có cảm giác như đã quên đi hiện tại để bồng bềnh trong mênh mang của chữ nghĩa và âm nhạc…

Chương trình Nhạc chủ đề ấy có những lời mở đầu như những cánh ta mở khung cửa mơ mộng , để ở đó tình yêu trở nên mơ màng hơn , có chuốt lọc nhưng lạ có những cảm giác nhẹ nhàng như tơ làm mềm lòng những tuổi thanh xuân đang hăm hở vào đời với sự tinh khôi trong sáng của những bình minh hứa hẹn những giọt nắng thủy tinh ngời tin yêu nồng biếc.

Ai đã nghe qua những lời mở thế này mà không rung động ?Nhất là những chàng tuổi trẻ ngày xưa nay đã thành những ông già lão nhìn lại quá khứ ngày nào đã rất xa , thật xa mà sao lại còn rưng rưng nỗi niềm chia sẻ:

“Tình ca- những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời nhất của một đời người- bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương , một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau.. Tất cả mùa màng , thời tiết, ho alá , cỏ cây, của cái vùng đất thần tiên đó , kết hợp lại, làm nên hạnh phúc,làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…”

Hay như một lời ngỏ khác, thầm thì, kêu gọi những bước trở về, đi ngược lại vòng quay vô tình của thời gian:

“Em đâu ngờ anh còn nghe vang tiếng em trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của cái ngày sung sướng đó: tiếng gió may thổi trên những cành liễu nhỏ,tiếng những giọt sương rơi trên mặt hồ, tiếng guốc khua trên hè phố…Ngần ấy thứ tiếng động ngân nga trong trí tưởng anh một thuở thanh bình nào, bây giờ đã gần im hơi, nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức làm ran lên trong ký ức một mùa hè háo hức, một đêm mưa bỗng trở về, gió cuốn từng cơn nhớ…Anh bỗng nhận ra anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hia thành phố…”

Tôi thời còn là sinh viên đã rất mê chương trình này. Có thể nói , đó là một phần khá đẹp của cuộc sống tôi. Bây giờ , nghe lại CD của Nhạc Chủ Đề cũ, tôi lại bồi hồi và một phần đời đã qua như hồi sinh lại.

Sau này, ở xứ Mỹ này, tôi có hỏi ông về trường hợp sáng tác bản nhạc này như thế nào thì ông chỉ nói qua với sự rất hờ hững coi như đó chỉ là một trong những gần trăm bản nhạc ông đã sáng tác. Và ngay cả khi tôi hỏi về cách ông thực hiện hàng trăm chương trình nhạc làm say mê cả một thế hệ trẻ trong thời kỳ ấy hoặc hỏi về mấy trăm bài thơ và mấy chục tác phẩm vừa tiểu thuyết vừa tùy bút nổi danh một thời thì cũng với vẻ hờ hững ấy , ông cũng trả lời với vẻ thản nhiên của một người đã trải qua nhiều thay đổi và hiểu được rằng có những điều không cần biện giải của cái tự nhiên đã có.

Cũng như, khi tôi hỏi về những khó khăn của cuộc sống hiện nay, ông cũng trả lời chẳng có gì cưc nhọc dù rằng tôi hiểu được đó là một sự thản nhiên chấp nhận của một người đã trải qua nhiều mệt mỏi của cuộc đời.

Đó là những ca khúc mà ông gọi là viết trong những thời gian tăm tối nhất của lịch sử và của chính cuộc sống ông .Nhưng đó lại là những lời kêu gọi yêu thương mong con người trở về với tình tự dân tộc. Có những bài hát trong tuyển tập nhạc “Hiên cúc vàng”, “ Tôi muốn nói với em “ và Mưa trên cây hoàng lan” đã chứng tỏ điều ấy. Chất nhân bản đã làm thành những ca từ đẹp và có sức thuyết phục mạnh với thính giả và cũng chuyên chở một cách thâm trầm những thông điệp gửi cho người cho đời những ước vọng và tâm sự.

Những lòi nhạc như “Tôi đã bám lấy đất nước tôi.bằng sức người vô hạn. Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom.Tim mang nghìn dấu đạn.Tôi đã đổ mồ hôi, đổ máu tươi.Để mong ở lại đây.Nhưng đất đã đỏ vì bị nung bằng những lời dối trá. Người bám vào lửa đã đốt cháy tay. Lửa hờn căm, lửa hiểm thâm, lửa khốn cùng cay đắng. Người lừa nhau trời đất còn bưng mặt thảm thương. Ba mươi năm cuộc tương tàn chưa đủ?người giết người không kịp mở mắt trông.Ba mươi năm mạng người như rác cỏ.giây hòa bình còn thắt cổ người tin…” trong bản nhạc ”Tôi cố bám lấy đất nước tôi” có phải là những lời chân thành dù trong cơn tuyệt vọng nhưng vẫn còn cố gắng bám víu vào cuộc sống một ý nghĩ nào tích cực nhất.?

Những lời ca viết cho thành phố Sài Gòn trong thời thế ấy bỗng dưng trở thành những lời kêu gọi của một dân tộc đã chịu quá nhiều đau khổ. Hết rồi những cơn mưa chiều cũ, mất rồi những buổi sáng rực rỡ xưa. Lời ca, ý nhạc lôi kéo chúng ta trở về con hẻm nào của những hẹn hò , của nụ hôn môi tuyệt vời , của hương tóc thề e ấp phả trong tà áo lụa xôn xao. Cái cảm giác ngày nào như sống lại, làm gai gai trong da thịt nỗi ngây ngất thuở nào. Nghe đâu đây như bước chân nào trở về đồng vọng….

Bản nhạc ấy là “ Sài Gòn ơi vĩnh biệt” của nhạc sĩ Nam Lộc. Lại cũng là tiếng gọi bi thiết nhưng tràn đầy thương yêu về thành phố mà có người nói rằng đó là chỗ để người ta yêu nhau. Nhạc Nam Lộc gợi cho tôi những nỗi niềm của một người mong nhớ với tâm trạng dằn vặt. Những lời ca thất thanh của một người mất quê hương:

“Sài Gòn ơi tôi đã mất người trong cuộc đời. Sài Gòn ơi thôi đã hết thời gian tuyệt vời. Giờ còn đây những kỷ niệm sống trong tôi. Những nụ cười ngắt trên môi. Những giọt lệ ôi sầu đắng.Sài Gòn ơi nắng có còn vương trên đường.đường ngày xưa mưa có ướt ngập lối đường về. Rồi mùa thu lá còn đổ xuống công viên. Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng. Hay đã khóc thương cho người yêu…” Hình như, tôi thấy tôi đã kêu thất thanh như thế trong cuộc đời tôi..

Không phải tôi nói văn hoa đâu mà tôi đã nhiều lần kêu “ thất thanh “như thế! Như một lần trong ngày 30 tháng tư năm 1975 khi tôi từ Cần Thơ trở về lại nhà ở Sài Gòn!

Trước ngày 30 tháng tư năm 1975, tôi chỉ đi học và đi lính, nhưng sau ngày ấy thì tôi đi tù vì không di tản được. Mặc dù tôi ở trong Không quân và ngày ấy đang làm việc ở phi trường Tân Sơn Nhứt.

Đơn vị của tôi là Đoàn phi đạo F5 thuộc Sư Đoàn 3 Không quân ở phi trường Biên Hòa sau ngày 20 tháng tư năm 1975 thì một phần lớn phi cơ di chuyển về phi trường Tân Sơn Nhứt. Ngày 30 tháng 3 đáng lẽ tôi phải biệt phái ra Đà nẵng để làm biệt đội trưởng kỹ thuật để bàn giao phi đạo cho Sư Đoàn I Không Quân nhưng Đà Nẵng đã thất thủ. Trước ngày đó chúng tôi đã chở từ Biên hòa ra Đà nẵng rất nhiều quân dụng và cơ phận thay thế của phi cơ trị giá cả chục triêu đô la và lúc đó kể như thiệt hại hết. Một số nhân viên biệt phái thoát về kể lại cảnh tượng ở Đà nẵng khiến người nghe phải rùng mình. Chiếc Boeing 727 thuê bao của Trung Hoa Quốc Gia cất cánh mà cửa chân đáp không đóng được vì một số hành khách đã ôm vào chân đáp nên phi cơ phải bay từ từ về Sài Gòn trong khi những người bám vào chân đáp bị rụng rớt vì không chịu nổi áp lực của không khí chỉ còn vài người buộc mình vào phi cơ mới không rớt dù khi máy bay đáp xuống đã bất tỉnh. Ở trên phi đạo Đà Nẵng là cả một rừng người và tình trạng lụn xộn khiến tất cả các phi cơ vận tải không thể đáp xuống để bốc người không vận về Sài Gòn. Chính ở Sư Đoàn 3 KQ cũng dự trù dùng phi cơ AD5 để bốc các chuyên viên kỹ thuật biệt phái về nhưng không thực hiện được…

Rồi sau đó các căn cứ Pleiku, Phù Cát, Nha Trang, di tản rồi căn cứ Phan Rang thất thủ.

Ỏ Tân Sơn Nhứt những ngày cuối tháng tư tình trạng khá hỗn loạn vì các sư đoàn KQ di tản về. Từ bãi đậu phi cơ vãng lai vào đến phi đạo bên trong phi cơ đậu thành hàng đông nghẹt. Trực thăng, A37, phi cơ quan sát xếp ken vào nhau thành ra vấn đề an toàn khá phức tạp. Ở khu huấn luyện sư đoàn đầy nghẹt những quân nhân về trình diện từ các đơn vị đã bị tan hàng.mọi người đều linh cảm rằng một cơn địa chấn dữ dằn sẽ tới

Gia đình tôi thì đã ra đi nên tôi làm việc và ở luôn trong phi trường. Hàng đêm, chúng tôi lái xe ra bãi đậu phi cơ xem những chuyến bay chở người di tản.Nếu quyết định ra đi lúc đó thì khá dễ dàng, chỉ cần thay quân phục và mặc đồ dân sự là có thể leo lên phi cơ một cách dễ dàng. Nhưng tôi vẫn nghĩ không thể nào thua trận mau chóng như vậy được và nghĩ rằng đi lúc đó là quá sớm. Đến đêm 27 tháng tư, căn cứ Biên Hòa di tản về Tân Sơn Nhứt. Và lúc đó quả thực tôi bị chấn động và hiểu rằng ngày cuối đã tới. Suốt đêm phi cơ bay đầy trời và chúng tôi đã phụ giúp để trang bị rocket và đạn cho phi cơ trực thăng gunship bay yểm trợ trên các mặt trận ven thành phố.

Chiều ngày 28 , lúc Tổng Thống trần Văn Hương bàn giao cho tướng Dương Văn Minh ở Dinh Độc Lập thì năm phi cơ A37 oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhứt do tên phản tặc Nguyễn Thành Trung dẫn về khi các phi tuần nghênh cản phòng không F5E chấm dứt túc trực. Lúc ấy, tôi đang tập họp biệt đội trong hangar thì xảy ra biến cố ấy. Và sau đó đến bốn giờ sáng thì các đợt pháo kích ác liệt của Cộng quân vào phi trường. Trong phi trường khói lửa tùm lum, một hỏa tiễn 122 ly rớt trúng phân đội nữ quân nhân. Lúc sáng sớm, tôi lái xe qua khu vực ấy còn thấy những mảnh quần áo và cả da thịt vương vãi trên những tàng cây. Buổi sáng , tôi leo lên F5 rồi không đi. Kết quả là chiếc phi cơ ấy bị rớt ở phi trường Utapao ở Thái lan hy sinh tất cả những người trên phi cơ. Rồi tôi lên trực thăng xuống Cần Thơ và bị kẹt lại đến chiều 30 thì xuống Rạch Giá kiếm đường vượt biển nhưng cũng không xong và ngày 1 tháng 5 thì phải trở lại Sài Gòn…

Trên đường từ Cần Thơ trở về tôi đã nhìn thấy ở dọc đường quốc lộ số 4 những cảnh tượng mà tôi không thể nào quên. Hai bên đường những chiếc xe tăng và những chiếc trực thăng nằm chỏng chơ và quần áo trận, nón sắt, dây ba chạc, giày lính ,.. vứt lộn xộn tạo ra một khung cảnh điêu tàn của một trận chiến về chiều. Đi từng đoạn rồi cũng về tới Sài Gòn về nhà để thấy căn nhà mình ở bị niêm phong. Tôi vô nhà đại và mang vài vật dụng đi ra và đau lòng biết bao nhiêu khi nhìn thấy vật dụng hàng ngày của mẹ tôi và các anh em tôi trong một căn nhà mà tôi bị đuổi ra vì cả gia đình đã di tản. Tôi muốn khóc khi nhìn thấy ô trầu của mẹ, khi nhìn thấy đôi dép mẹ đi, cái áo ấm mẹ mặc. Vật thì còn nhưng người đã đi xa, biết đến bao giờ mới gặp lại…Và không biết ở phương xa, có còn trầu cau để cho mẹ ăn không? Buồn thật phải không?. Quốc phá thì gia vong. Người xưa đã nói thì chẳng sai chạy được…

Nguyễn Mạnh Trinh
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tại Sao Có Ngày 30/4/1975 ?

Nguyễn Quang Duy
Sau ngày Cộng sản chiếm miền Nam 30/4/1975, khẩu hiệu “Chủ Nghĩa Mác Lê Bách Chiến Bách Thắng” đã được giăng khắp hang cùng ngõ hẻm. Khẩu hiệu trên cũng được các cán bộ cộng sản từ Bắc vào lên lớp giảng dạy cho dân miền Nam . Thực ra khẩu hiệu chỉ nói lên một điều duy nhất: chủ nghĩa Mác Lê do một thiểu số cộng sản cầm quyền lần này đã thắng Dân Tộc Việt Nam . Chúng ta đều biết chủ nghĩa Mác Lê là một chủ nghĩa quốc tế. Tại Việt Nam , chủ nghĩa này kết hợp với tư tưởng và hành động bạo chúa của Stalin và Mao trạch Đông. Chủ nghĩa Mác Lê Stalin và Mao lấy đấu tranh giai cấp, lấy bạo lực cách mạng để cướp và nắm giữ chính quyền.

Giở lại trang sử Việt Nam, những năm đầu 1920, khi Hồ chí Minh vừa gia nhập Quốc Tế Cộng Sản, Hồ đã gây ra nạn phân hóa trong hàng ngũ những ngừơi đấu tranh giành độc lập dân tộc tại Pháp. Những người Quốc Gia đã nhận ra ngay Cộng sản là một thế lực Quốc Tế. Nếu theo chủ nghĩa này khi đánh đuổi được người Pháp Việt Nam sẽ lại lại lọt vào vòng thuộc địa của đế quốc Liên Sô. Quốc Tế Cộng Sản còn chủ trương tiêu diệt giai cấp, tiêu diệt những thành phần quốc gia dân tộc. Chủ trương này đi ngược với truyền thống: dân tộc con trăm trứng - anh chị em một nhà. Bởi vậy các chiến sỹ quốc gia đã công khai bất đồng chính kiến với Hồ chí Minh và một thiểu số người chạy theo Quốc Tế Cộng Sản.

Ngày nay nhiều nguồn sử liệu cho thấy Hồ chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận các khỏan tài chính to lớn từ Liên Sô để thực hiện “Cách Mạng Cộng Sản” tại Đông Dương. Thậm chí có những bức thơ Hồ chí Minh bèo nheo với Quốc Tế Cộng Sản không được Quốc Tế Cộng sản trả tiền tương xứng về công lao “khuyển mã” của mình. Hồ lại còn bán Cụ Phan Bội Châu cho Pháp vừa có tiền vừa mượn tay Pháp tiêu diệt được một lãnh đạo Phong trào chống Pháp không theo Cộng sản.

Khi Chủ Nghĩa Mác Lê bắt đầu lan tới Việt Nam những năm 1930-40, đảng Cộng sản thay vì đấu tranh giành độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc, lại lo đấu tranh giai cấp. Đảng Cộng sản lấy chủ trương "trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ", lấy bạo lực cách mạng làm phương tiện tiêu diệt mọi thành phần không theo cộng sản. Nạn nhân của Sô Viết Nghệ Tĩnh, của Nam Kỳ Khởi Nghĩa không phải là người Pháp mà lại chính là những người Việt Nam không theo Cộng sản và những người nông dân bị Cộng sản lường gạt mang thân mình lót đường xây dựng đế quốc Liên Sô .

Ngày 9/3/1945, khi Nhật đảo chánh Pháp và trao quyền cho Hòang Đế Bảo Đại. Chính phủ Trần trọng Kim được thành lập, vừa lo nạn đói, lo cải cách xã hội và giáo dục, lo soạn thảo hiến pháp, lo xây dựng một chính quyền dân chủ. Việt Minh ngược lại xây dựng bạo lực để nổi dậy cướp chính quyền.

Sau đó đến lượt người Nhật đầu hàng Đồng Minh. Ngày 19/8/1945, Việt Minh cướp được chính quyền, Hòang Đế Bảo Đại phải thóai vị. Khi đã củng cố được quyền hành đảng Cộng sản quay súng tiêu diệt mọi tổ chức hay cá nhân không theo cộng sản. Đức Thầy Hùynh Phú Sổ, Lý Đông A, Trương Tử Anh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu và hằng trăm lãnh đạo các Tổ Chức Quốc Gia khác đã bị Cộng sản tiêu diệt. Hàng chục ngàn các chiến sỹ đấu tranh cho độc lập và tự do dân tộc thuộc Cao Đài, Hòa Hảo , Việt Quốc và thuộc hàng trăm các Tổ Chức Chính Trị Quốc Gia khác đã bị đảng Cộng sản xuống tay tiêu diệt. Nhân lực và tiềm lực của Dân Tộc đã bị đảng Cộng sản bán rẻ cho Tổ Quốc Liên Sô trong Thế Giới Đại Đồng.

Tất cả Chương Trình quan trọng của đảng Cộng sản đều đã được Báo cáo cho Quốc Tế Cộng sản. Gần đây hai bức thư của Hồ Chí Minh gởi Stalin, xin được xem xét và cấp chỉ dẫn cho Chương trình Cải cách Ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam đã được phát hiện trong đống hồ sơ của Cục Lưu trữ Quốc gia Nga. Một ngày không xa chúng ta sẽ có được những tài liệu đảng Cộng sản buôn dân bán nước để viết lại một trang sử bi hùng dân tộc.

Người Pháp quay lại Đông Dương và từng bước trao trả độc lập cho cả 3 nước Việt Miên Lào . Nhưng người Pháp cương quyết không trao quyền lực cho Hồ chí Minh vì biết rõ ông ta là một cán bộ Quốc Tế Cộng sản, đảng Cộng sản và Việt Minh chỉ là một tổ chức ngọai vi của đảng Cộng sản Quốc Tế. Người Pháp từng bước chính thức trao trả độc lập cho Cựu hoàng Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc Gia. Những người Quốc Gia với tâm huyết giành độc lập và thống nhất đất nước đã liên kết dưới sự lãnh đạo của Cựu Hòang . Trong khi đó vì muốn đảng Cộng sản nắm được độc quyền chính trị, Hồ Chí Minh cương quyết tiếp tục chiến tranh tiêu diệt chính quyền, quân đội và mọi cá nhân, tổ chức Quốc gia.

Năm 1949, đảng Cộng sản Trung Hoa chiếm được lục địa Trung Hoa, khi ấy Mao Trạch Đông nói rõ ý đồ dùng Đông Dương làm bàn đạp và đảng Cộng sản Việt Nam làm tay sai để bành trướng phong trào Cộng sản xuống các nước Đông Nam Á. Sẵn mang bản chất tay sai từ thể xác lẫn tư tưởng, Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam đã sang Tàu rồi sang Nga để chính thức nhận lãnh trách nhiệm Quốc Tế tại Đông Dương. Chính yếu tố này đã làm cho cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-1954) mở rộng thêm và càng ngày càng khốc liệt hơn.

Chiến tranh Việt Nam còn được gọi là chiến tranh Đông Dương, vì ngòai chiến trường chính là Việt Nam, còn hai chiến trường phụ là Lào và Cam Bốt. Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Quốc Tế Cộng Sản phân công nhiệm vụ trên cả ba chiến trường.

Nếu Đông Dương không có đảng Cộng sản Việt Nam thì Đông Dương đã không xảy ra chiến tranh. Thật vậy sau thế chiến thứ hai, tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á có hoàn cảnh địa lý và chính trị tương tự Việt Nam đều đã giành được độc lập, được tự do và đều không bị lâm vào chiến tranh như tại Đông Dương. Người Pháp cũng đã từng bước chính thức trao trả độc lập cho Cựu hoàng Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc Gia.

Khi chiến tranh Đông Dương đến hồi khốc liệt nhất, đảng Cộng sản đã theo lệnh của Liên Sô và Trung Cộng chia đôi đất nước Việt Nam . Thay vì lo cho đời sống của người dân miền Bắc, đảng Cộng sản lại tiếp tục đưa quân đội và khí giới vào miền Nam . Nói một cách khác nếu không có đảng Cộng sản Việt Nam thì cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã tránh được, và cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1954-1975) dĩ nhiên đã chẳng xảy ra.

Sau Hiệp Định Đình Chiến Geneve, tiếp tục vai trò bành trướng được Quốc Tế Cộng Sản giao phó, quân đội và cán bộ cộng sản với trang bị vũ khí của Liên Sô, Trung cộng và các nước Đông Âu, đã ào ạt xâm lấn ba quốc gia Đông Dương. Phản ứng lại Hoa Kỳ và các Quốc Gia Đồng Minh gởi quân sang nhưng chỉ nhằm bảo vệ các quốc gia này không để lọt vào tay quân cộng sản. Phía Cộng sản tăng cường chiến tranh. Cuộc chiến càng ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Phía Cộng sản quyết tâm nhuộm đỏ Đông Dương, trong khi đó Hoa Kỳ lại vẫn chạy theo chiến lựơc ven bờ chỉ lo giữ Đông Dương thay vì tấn công Khối Cộng Sản.

Để duy trì chiến lược bảo vệ Đông Dương Hoa Kỳ đã phải trả một giá rất đắt cả về cả nhân lực lẫn tài lực. Trên các Đài truyền hình Hoa Kỳ tin tức chiến trường tạo ra hình ảnh Hoa Kỳ đã thất bại trong cuộc chiến tại Việt Nam . Mỗi tuần hàng ngàn binh sỹ Hoa Kỳ tử trận hay bị thương, cuộc chiến như đang xẩy ra tại chính Hoa Kỳ. Phong trào phản chiến nổi lên gây ảnh hưởng đến chính giới và chính sách Hoa Kỳ.


Mặt khác Hoa Kỳ khi ấy đã bắt tay được với Trung Hoa Cộng Sản. Vì thế họ cũng thay đổi chiến lược và chính sách tại Đông Dương. Hiệp Định Ba Lê được ký kết. Hiệp Định này lại ngầm chấp nhận sự hiện diện quân đội Bắc Việt tại Đông Dương. Hoa Kỳ rút quân đội trong khi đó quân đội Bắc Việt lại gia tăng xâm nhập người và vũ khí vào Nam . Quốc Hội Hoa Kỳ lại quyết định cắt giảm Quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa. Thiếu quân trang, quân cụ Việt Nam Cộng Hòa đã lọt vào tay quân cộng sản ngày 30/4/1975.

Trong gần 3 thập niên từ 1949 tới 1975, dân tộc Việt đã kiên cường chống lại Khối Cộng sản Quốc Tế do Nga Tàu lãnh đạo. Bao chiến sỹ Quốc Gia , chiến sỹ quân đội Việt Nam Cộng Hòa và người dân miền Nam đã anh dũng chiến đấu bảo vệ miền đất cha ông để lại và xây dựng một miền Nam tự do. Ở cuối cuộc chiến Trung cộng lộ rõ bản chất xâm lược mang quân xâm chiếm Hòang Sa. Ngặt nỗi quần đảo này đã đựơc Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam chuyển giao cho Trung cộng từ những năm 1958.

Ba mươi sáu năm qua, thiểu số cầm quyền cộng sản đã thiết lập một thể chế tòan trị tại Việt Nam . Thiểu số cầm quyền cộng sản lại xuất thân từ những kẻ chuyên lấy đấu tranh giai cấp, lấy bạo lực cách mạng làm phương tiện tiến thân. Như Hồ chí Minh họ đã hiến dâng thể xác và tinh thần cho tư tưởng ngọai lai Mác Lê Stalin Mao , vì thế họ luôn sẵn sàng tình nguyện làm tay sai cho ngọai bang Nga Tàu . Ngay sau 1975, Đảng Cộng sản lại đưa Việt Nam vào hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam (1975-1989) và biên giới phía Bắc (1979-1989), hai cuộc chiến này lại do những mâu thuẫn nội bộ giữa các đảng Cộng sản Liên Sô, Trung Quốc, Việt Nam và Cam Bốt tạo ra. Đảng Cộng sản Việt Nam khi ấy luôn mồm hãnh diện làm “nhiệm vụ quốc tế” cho Liên Sô để chống lại “chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc”.

Chiến tranh từ 1945 đến 1989 đã làm cho hàng triệu binh lính và thường dân vô tội Việt Nam bị chết và bị thương tổn cả tinh thần lẫn thể xác. Chiến tranh cũng làm phân hóa dân tộc chỉ mang lợi cho đảng Cộng sản tiếp tục cầm quyền và Trung cộng từng bước thực hiện chiến lược xâm chiếm Việt Nam . Trung Cộng đã đánh chiếm Hòang Sa, Trường sa và nhiều phần lãnh thổ Việt Nam. Thế mà đảng cộng sản lại bắt bớ, đàn áp mọi tiếng nói yêu nước đòi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Gần đây chúng ta lại biết thêm Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đã bán sống Tây Nguyên cho Trung Cộng khai thác bauxite, bán rừng để Trung cộng tòan quyền khai thác hay xây dựng căn cứ để xâm thực Việt Nam.

Sau chiến tranh đảng Cộng sản đưa tòan dân tộc Việt vào nhà tù cộng sản, mọi tiếng nói bất đồng đều bị đảng Cộng sản xuống tay đàn áp dã man. Mất tự do, mất dần độc lập quốc gia, ngày 30/4/1975, miền Nam lọt vào tay quân cộng sản, nhưng cũng là ngày khởi đầu cho một cuộc đấu tranh mới: đấu tranh để giành lại tự do, dân chủ và vẹn tòan lãnh thổ.

Ba mươi sáu năm qua, cứ đến 30/4 hằng ngàn bà con khắp các tiểu bang tại Úc châu lại hướng về Canberra biểu tình trước tòa Đại sứ Việt cộng. Những người biểu tình nhắc nhở nhau Úc châu là vùng cấm Việt cộng và phải góp một bàn tay mang dân chủ tự do đến cho Việt Nam .

Ba mươi sáu năm qua, Úc Châu luôn luôn nêu cao tinh thần quyết tâm giải thể cộng sản mang tự do dân chủ đến cho Việt Nam . 30/4 năm nay Cộng Đồng Ngừơi Việt Tự Do tại Úc châu sẽ vận động đồng bào khắp nơi trên Thế giới đồng ký tên Thỉnh Nguyện Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam . Thỉnh nguyện thơ này sẽ được đồng bào tất cả các tiểu bang ký tên, cũng như sẽ đưa lên trên mạng để đồng bào khắp nơi trên thế giới cùng ký.

Đặc biệt vào ngày 12/6/2011 sắp tới Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Victoria sẽ tổ chức một cuộc biểu tình tuần hành với tiêu đề là “ Vinh Danh Cờ Vàng - Giải Thể Cộng Sản Việt Nam ”. Đòan biểu tình sẽ phát xuất từ Federation Square, tuần hành vào giữa trung tâm thành phố Melbourne để tiến về Quốc Hội Victoria trao Thỉnh Nguyện Thư. Cuộc biểu tình nhằm nói lên nguyện vọng của người Việt tại Victoria luôn luôn ước mong và đấu tranh để tự do dân chủ sớm đến với dân tộc Việt Nam. Mong Cách Mạng Hoa Nhài sớm đến Việt Nam . Các Tiểu Bang khác tại Úc châu cũng đang thảo luận với các hội đòan để hoặc sẽ tổ chức biểu tình cùng ngày hoặc sẽ tổ chức trao Thỉnh Nguyện Thư đến chính giới địa phương.

Cộng đồng Úc châu cũng như Cộng đồng Người Việt Tự Do Hải Ngọai luôn hướng về quê cha đất tổ để Việt Nam sớm có Tự Do. 30/4 khi ấy sẽ chỉ còn là một ngày trong lịch sử. Lịch sử một Dân Tộc đã kiên cường chống lại chủ nghĩa Mác Lê, Quốc Tế Cộng Sản và thiểu số tay sai “cõng rắn cắn gà nhà” cộng sản Việt Nam.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi 27/4/2011
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Bin Laden chết còn tên này: Trùm khủng bố "tàn độc hơn cả Bin Laden"

Cái chết của Osama bin Laden đưa phó lãnh tụ al-Qaida ra trước ánh đèn sân khấu với nhiều trông đợi sẽ thay thế cho người mới chết.

Ayman al-Zawahiri, một công dân Ai Cập, có thể sắp trở thành người bị thế giới truy lùng gắt gao nhất.

Đã từ lâu, những người trong cuộc vẫn nghĩ Zawahiri là nhân vật chính, soạn ra chiến lược và tổ chức điều hành, giúp duy trì được hầu như toàn bộ mạng lưới khủng bố sau khi họ bị đẩy ra khỏi các căn cứ ở Afghanistan năm 2001.

Trong khi đó, Osama bin Laden được xem là người có sức thu hút đối với những người muốn gia nhập hoặc ủng hộ tài chính cho al-Qaida.

Năm nay 59 tuổi, Zawahiri là một chuyên gia phẫu thuật, chào đời tại Cairo trong một gia đình có nhiều bác sĩ và nhà khoa bảng. Ngay từ khi còn là một thiếu niên ông đã can dự vào sinh hoạt của phe Hồi giáo cực đoan. Trong thời gian học bác sĩ ông đã tiếp tay lập ra cánh Ai Cập của nhóm thánh chiến Hồi giáo.

Zawahiri du hành sang Pakistan lần đầu vào năm 1980, làm cho hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ tại thành phố Peshawar để chữa trị cho những người bị thương được đưa từ Afghanistan sang, trong thời gian Liên-xô chiếm đóng Afghanistan. Cùng năm đó, ông sang Afghanistan mấy lần.

Nhà chức trách Ai Cập sau đó bỏ tù ông 3 năm trong chiến dịch truy quét các nhóm cực đoan có liên hệ đến vụ ám sát Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat.

Sau khi ra tù năm 1984, Zawahiri trở lại Peshawar để giúp phong trào kháng chiến Afghanistan chống lại người Xô-viết, dịp này ông kết thân với Osama bin Laden trong tư cách là bác sĩ riêng.

Năm 1998, Zawahiri lập một liên minh với Osama bin Laden và trở thành phó lãnh tụ của tổ chức và theo tin của Hoa Kỳ, Zawahiri là người chủ mưu đánh bom hai đại sứ quán Mỹ Kenya và Tanzania năm đó.

Zawahiri cũng được xem là người đóng vai trò lớn trong vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ. Từ Afghanistan, phe al-Qaida nhận mình là thủ phạm.

Vì lý do đó, vài tuần lễ sau Hoa Kỳ đã tấn công Afghanistan đang do phe Taliban lãnh đạo, sau khi phe này không chịu giao nạp các thủ lĩnh của al-Qaida.

Cùng với sự sụp đổ của chế độ Taliban, Zawahiri đã bỏ trốn đi nơi khác chung với Osama bin Laden.

Tháng 12 năm 2001, một cuộc không kích của Hoa Kỳ tại tỉnh Kandahar của Afghanistan giết chết bà vợ của Zawahiri và ít nhất hai người con của ông.

Zawahiri tiến hành xây dựng lại al-Qaida trong khu vực biên giới Afghanistan và Pakistan, một khu vực được xem là vô luật pháp.

Từ khu vực này, Zawahiri trở thành một khuôn mặt mới của al-Qaida, tung ra các video và băng ghi âm những lời lẽ và hình ảnh chế nhạo Hoa Kỳ, trong lúc hình ảnh Osama bin Laden bắt đầu mờ nhạt.

Trong vài video, khán giả nhìn thấy Zawahiri đóng vai chính, vừa nói vừa chỉ chỏ ngón tay trước khuôn mặt có bộ râu rậm và cặp kính có gọng dầy cộm.

Tháng giêng 2006, Zawahiri thoát chết trong một vụ không kích của Hoa Kỳ tại một khu vực bộ tộc của Pakistan mà chủ đích nhắm vào ông.
Hoa Kỳ treo giải thưởng 25 triệu đôla cho những ai cung cấp thông tin giúp bắt được hoặc kết tội Zawahiri. ( VOA)
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Quan hệ Mỹ-Pakistan khó khăn hơn sau vụ triệt hạ Ben Laden

Đức Tâm RFI

Vụ lực lượng đặc nhiệm Mỹ triệt hạ trùm khủng bố Oussama Ben Laden ngay trên lãnh thổ Pakistan đã đặt chính quyền Islamabad vào tình thế lúng túng.
Trong vụ trừ khử Ben Laden, Pakistan đã bị mất mặt. Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Pakistan, vốn đã phức tạp, nay lại càng có nguy cơ khó khăn thêm.

Image
Tổng thống Obama và đồng nhiệm Asif Ali Zardari (RFI / P. Moussart)

Hôm qua, Pakistan tố cáo vụ tấn công của Mỹ để tiêu diệt Ben Laden. Bộ Ngoại giao nước này « bầy tỏ sự lo ngại sâu sắc và dè dặt về cách thức chính phủ Mỹ thực hiện thành công hoạt động này mà không thông báo và xin phép trước chính phủ Pakistan », Islamabad không chấp nhận « những hoạt động đơn phương không xin phép như vậy », kể cả đối với Hoa Kỳ. Thậm chí, Pakistan còn đe dọa là những vụ tấn công theo kiểu này làm « tổn hại sự hợp tác và đôi khi trở thành mối đe dọa đối với hòa bình và an ninh quốc tế ».

Trong vụ trừ khử Ben Laden, Pakistan đã bị mất mặt. Trả lời phỏng vấn tạp chí Time, giám đốc cơ quan tình báo Mỹ CIA, Leon Panetta, không ngần ngại cho biết, Mỹ đã không thông báo cho Pakistan về vụ đột kích bởi vì nước này có thể sẽ báo động cho thủ lãnh Al Qaeda.

Từ nhiều năm nay, Pakistan đã bị nghi ngờ áp dụng chính sách hai mặt trong cuộc chiến chống khủng bố. Tháng 10 năm 2009, chính Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khi công du Pakistan đã nói thẳng với chính quyền Islamabad, xin trích, « Al Qaeda đã ẩn náu tại Pakistan từ 2002. Tôi khó có thể tin rằng không một ai trong chính phủ của các ngài lại không biết những kẻ này ở đâu và không thể bắt giữ được chúng nếu như họ thực sự muốn làm việc này ».

Sự kiện Ben Laden bình thản sống cùng vợ con trong một khu biệt thự ở Abbottabad, cách Islamabad khoảng 80 km càng củng cố những cáo buộc nói trên. Thủ tướng Anh David Cameron, Ngoại trưởng Pháp Alain Juppé cũng đòi Pakistan phải làm rõ vấn đề này.

Trên tờ Washington Post, tổng thống Pakistan Asif Ali Zardari đã bác bỏ những nghi ngờ và khẳng định rằng việc trừ khử Ben Laden là kết quả của một thập niên hợp tác và quan hệ đối tác giữa Mỹ và Pakistan.

Việc triệt hạ được thủ lãnh Al Qaeda không chỉ là một thắng lợi đối với nước Mỹ mà còn là một thắng lợi của cá nhân tổng thống Barack Obama, trong bối cảnh có nhiều khả năng ông sẽ ra tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm tới. Theo một cuộc thăm dò dư luận do Reuters và Ipsos thực hiện, thì 39% số người được hỏi nói rằng quan điểm của họ về ông Obama đã được cải thiện sau khi Ben Laden phải đền tội.

Bất chấp những nghi ngờ về thái độ của Pakistan, Hoa Kỳ vẫn cần đến vai trò của nước này trong cuộc chiến hiện nay tại Afghanistan. Do vậy, Washington tìm cách tránh làm cho quan hệ với Islamabad xấu đi. Thế nhưng, theo giới phân tích, chính quyền Obama sẽ gặp khó khăn trong việc thuyết phục Nghị viện Hoa Kỳ viện trợ cho Pakistan. Kể từ biến cố 11/09/2001 đến nay, viện trợ tài chính và quân sự của Mỹ cho Pakistan lên đến 20 tỷ đô la. Một số nghị sĩ Hoa Kỳ đòi xem xét lại chính sách viện trợ cho Pakistan bởi vì chính phủ hiện đang gặp khó khăn về tài chính, tại sao lại đi giúp đỡ một quốc gia không hoàn toàn ủng hộ Hoa Kỳ chống khủng bố.

Nhà Trắng thừa nhận sự bất bình của các nghị sĩ là có cơ sở và hứa sẽ thảo luận với phía Pakistan về việc tại sao Ben Laden lại có thể lẩn trốn ngay sát Islamabad trong một thời gian dài như vậy. Còn phát ngôn viên bộ Ngoại giao Mỹ Mark Toner thì nhấn mạnh rằng viện trợ cho chính quyền Islamabad là vì lợi ích lâu dài của Pakistan đồng thời cũng phục vụ lợi ích an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Mỹ tung video về Bin Laden


Lầu Năm Góc vừa tung ra các đoạn video ghi hình tại nhà của trùm khủng bố Osama Bin Laden,
thu được trong vụ đột kích tại Abbottabad, Pakistan, hồi đầu tháng.

Image
Bin Laden xuất hiện trong một đoạn băng. Ảnh: BBC.
Tổng cộng, 5 cuốn video thu được trong cuộc đột kích đã được tung ra. Trong đoạn video đầu tiên, Bin Laden đội một khăn trùm đầu màu trắng, mặc một áo sơ mi và áo choàng màu vàng. Hắn nói vào camera giống như cách từng làm trong các đoạn video trước được tung ra. Các quan chức Lầu Năm Góc cho biết âm thanh đã được lọc bỏ do lo ngại về an ninh, nhưng tiết lộ thông điệp là để gửi cho Mỹ.

Ba đoạn video khác là phần tập dượt cho video gửi thông điệp này. Cuốn video cuối cùng cho thấy Bin Laden đang xem một chương trình về chính mình trên một kênh truyền hình tiếng Ả rập. Hắn ngồi trên sàn và khoác một tấm chăn hoặc áo khoác, tay cầm điều khiển từ xa. Trong khi xem TV, trùm khủng bố vuốt bộ râu trong có vẻ bạc hơn nhiều so với các đoạn video khác.

Trong một cảnh, hắn xem một chương trình có hình ảnh mình gắn trên một bức ảnh Trung tâm Thương mại Thế giới chìm trong lửa sau khi bị máy bắn đâm xuyên qua.

Video về Bin Laden thu được trong cuộc đột kích.

Theo các chuyên gia, việc tung ra các đoạn băng này là một phần nỗ lực của chính quyền Mỹ nhằm khẳng định rằng Osama bin Laden đã bị giết trong cuộc đột kích ngày 1/5. Cuộc đột kích này đã thu được "bộ tài liệu khủng bố cấp cao lớn nhất từ trước tới nay", một quan chức quốc phòng Mỹ tuyên bố hôm qua.

Tại một cuộc họp báo tại Washington, các quan chức tình báo cũng cho hay Bin Laden vẫn điều hành tích cực mạng lưới Al Qaeda từ khu trú ẩn ở Abbottabad. Trong khi đó, cô vợ người Yemen của Bin Laden cho biết chồng mình đã hồi phục bệnh thận từ lâu. Amal Ahmed Abdulfattah - 29 tuổi - bị bắn vào chân trong cuộc đột kích của đặc nhiệm Mỹ - khẳng định chồng mình sức khỏe rất tốt trước khi chết.

Song Minh
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Cái chết của Bin Laden: Những biểu tượng và hiện thực
Cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo, chắc chắn không kết thúc, nhưng phải thừa nhận rằng Hoa Kỳ, mặc dù chi phí rất lớn, đã đạt được mục tiêu của mình, bất kể Bin Laden còn sống hay đã chết. Phải thấy rằng, trong gần 10 năm trôi qua kể từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 trên nước Mỹ đã không có bất kỳ cuộc tấn công nào nghiêm trọng của quân khủng bố Hồi giáo.

Osama bin Laden đã là một biểu tượng. Biểu tượng cho cú sốc lớn của ngày 11 tháng 9 và một thập kỷ của cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ.

Chiến tranh lần thứ hai với Iraq (mặc dù tay siêu khủng bố Bin Laden chẳng có gì chung nhiều với đất nước này), nhưng trên hết – sự hiện diện lâu dài ở Afghanistan. Cái chết của Bin Laden khép lại một kỷ nguyên nào đó, tạo ra cửa ngõ để người Mỹ giữ được thể diện rút ra khỏi khu vực này của thế giới. Những gì thất bại vào năm 2001 trong các hang động tại Tora Bora, nơi Osama bin Laden trong tích tắc đã thoát chết hoặc bị bắt giữ, đã được hoàn thành trong vòng chưa đầy một thập niên sau đó.

Thậm chí đối với cái chất “hòa bình” của Obama – một kiểu nói về ông mà các đảng viên đảng Cộng hòa nỗ lực khiêu khích – cũng không có lựa chọn khác: Osama bin Laden phải chết. Những tiếng nói phẫn nộ trước việc tiến hành hoạt động biệt kích trên lãnh thổ của một nước khác chỉ là những giọt nước mắt cá sấu. Và bởi vì đây là lần đầu tiên? Ngay trên cùng lãnh thổ Pakistan, nơi giáp biên giới với nước láng giềng Afghanistan, người Mỹ từ nhiều tháng nay đã thực hiện thành công chiến dịch với sự tham dự của máy bay không người lái. Các cuộc tấn công mang tính “phẫu thuật”, nhưng khó lòng tránh được ảnh hưởng tới thường dân, bởi vì không một cơ quan tình báo nào hoàn hảo và không phải mọi tên lửa sẽ bắn trúng mục tiêu dự tính. Nhờ máy bay không người lái người Mỹ đã phá hủy được các cơ sở của al-Qaeda, buộc quân khủng bố phải di chuyển đến Yemen và các miền trú ẩn khác trong bán đảo Ả Rập.

Ngoài sự tuôn trào niềm tự hào quốc gia, phần lớn người Mỹ không có bất kỳ sự nghi ngờ nào rằng – 40-phút tấn công của hải kích trước hết là một hành động đúng đắn của công lý. Đây là lý do tại sao mọi người, từ những người theo chủ nghĩa tự do dữ dằn, đến những người ủng hộ phong trào “Tea Party”, đều xuống đường phố hát vang bài “God Bless America” ​​và “Star Spangled Banner“. Họ hiểu rằng người dân New York đặc biệt ghi nhớ sâu đậm những tàn tích vẫn còn cháy âm ỉ sau khi Trung tâm Thương mại Thế giới bị phá huỷ và chịu đựng rất lâu trong khắp thành phố mùi cháy hôi khét từ asbestine, giây cáp, máy vi tính và cơ thể người.
Image
Người Mỹ chờ đón TT Barack Obama, “Ground Zero” ngày 5/05/2011
Vượt qua các biểu tượng tất nhiên của thời điểm này – việc chấm dứt 10 năm săn lùng Bin Laden không làm thay đổi bao nhiêu. Mối đe dọa trả đũa là có thật, nhưng thật khó để tin rằng mạng lưới khủng bố ngay lập tức năng động hơn, và bỗng nhiên tổ chức các cuộc tấn công đánh bom ở Mỹ và châu Âu. Sẽ còn phải ở lại Afghanistan thêm một thời gian. Cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo, chắc chắn không kết thúc, nhưng phải thừa nhận Hoa Kỳ, mặc dù chi phí rất lớn, đã đạt được mục tiêu của mình, bất kể bin Laden còn sống hay đã chết. Phải thấy rằng, trong gần 10 năm trôi qua kể từ ngày 11 tháng 9 năm 2001, trên nước Mỹ đã không có bất kỳ cuộc tấn công nào nghiêm trọng của quân khủng bố Hồi giáo.
Image
TT Obama và Bộ tham mưu cao cấp nhất theo dõi trực tiếp cuộc công kích tiêu diệt Bin Laden

Giết chết Bin Laden là sự thành công không thể phủ nhận của Ngũ Giác Đài và bản thân Barack Obama, người đã ngay lập tức nhảy qua bức rào cản sự ủng hộ của dân chúng. Thế nhưng với tất cả những ai nhân cơ hội này thổi kèn chiến thắng bầu cử cho vị Tổng thống của ngày hôm nay vào năm 2012, cần phải được cảnh báo rằng, còn quá sớm để chào đón với sự ngây thơ này. Trong thời điểm khó khăn, niềm hưng phấn sẽ nhanh chóng biến mất. Người Mỹ sẽ bắt đầu nghĩ tới giá xăng dầu tăng, về sự lạm phát chính thức không tồn tại và về công ăn việc làm đã bị bay qua Ấn Độ và Trung Quốc. Tình trạng tương tự đã được một vị tổng thống khác trải nghiệm, George H.W. Bush (cha), mười mấy tháng trước khi bầu cử vào năm 1992, đã giành chiến thắng ngoạn mục trong cuộc chiến vùng Vịnh. Chỉ số ủng hộ của ông lúc đó cao ngút trời. Một năm rưỡi sau, ông đã bị đánh bại, vì suy thoái kinh tế, cũng như với một Thống đốc trẻ tuổi hơn nhiều của bang Arkansas, Bill Clinton. Lịch sử sau 20 năm có lặp lại không?■

* Bài được dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan của “Newsweek” (ấn bản Ba Lan), phóng viên Tomasz Deptuła viết từ New York ngày 4 tháng 5 năm 2001. Hình minh hoạ trong bài là của người dịch.

Tomasz Deptuła
Theo: “Newsweek”

Lê Diễn Đức dịch
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Trung Quốc lẳng lặng ‘đe’ láng giềng bằng tàu sân bay

Thụy Phương (theo FT)
(Nguồn: Thông Luận)


Tại cửa hàng Ikea ở Ðại Liên, thành phố phía Ðông Bắc Trung Quốc, khách hàng chủ yếu là những phụ nữ trung tuổi, tới chọn lựa bộ đồ ăn và hàng dệt may.

Image
Hàng không mẫu hạm Vayrag mà Trung Quốc mua lại của Ukraine để cải tiến thành tàu sân bay Shi Lang. (Hình: anhbasam.wordpress.com)

Tuy nhiên, ở gian hàng bán đồ cho phòng ngủ, có những hoạt động xem ra khá khác thường. Một người đàn ông hướng chiếc máy quay đặt trên giá ba chân, cố xem hình ảnh một con tàu ở bến cảng: đó là tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc.

Ðược Trung Quốc mua lại năm 1998 từ Ukraine, tàu sân bay Varyag mang thiết kế thời Liên Xô đang trong giai đoạn hoàn tất như hãng Tân Hoa đưa tin. Ðầu tháng 4, Tân Hoa Xã đưa ra những hình ảnh về một tàu sân bay đang trong quá trình khôi phục lại và gần như sắp hoàn thành. Ðoạn chú thích các bức ảnh cho thấy, công việc sẽ sớm kết thúc và con tàu có thể hạ thủy vào cuối năm nay.

Ðây là lần đầu tiên, hãng này đưa ra bằng chứng trực quan của dự án tàu sân bay vốn được xem là cốt lõi của tham vọng hiện đại hóa quân sự và hải quân của Trung Quốc. Tân Hoa Xã dẫn lời tạp chí phân tích quân sự tại Canada, Kanwa Asian Defense Review, cho hay, con tàu sẽ sẵn sàng hạ thủy trong năm nay. Trên thực tế, việc Tân Hoa Xã sử dụng thông tin này cho một chú thích ảnh dường như đã chính thức chứng thực điều này.

Những tấm ảnh khác mà Tân Hoa Xã đăng tải có nội dung như: “Con tàu chiến khổng lồ gần ra mắt, thực hiện giấc mơ tàu sân bay 70 năm của Trung Quốc,” chú thích khác nói: “Chỉ vài ngày trước đây, các diễn đàn quân sự trực tuyến trong nước dồn dập đăng tải những hình ảnh về tàu sân bay Varyag đang được xây dựng lại tại xưởng đóng tàu Ðại Liên. Từ những tấm hình này, chúng ta có thể thấy dự án đang tiến vào giai đoạn cuối cùng.”

Con tàu sân bay dự kiến sẽ hạ thủy trong năm nay và mang tên Shi Lang, cái tên của một đô đốc Trung Quốc thế kỷ 17 là người đã chinh phục Ðài Loan.

Kể từ khi con tàu xuất hiện từ xưởng đóng tàu vào năm ngoái, rất nhiều người đã tìm đường đến Ðại Liên, mang theo kính thiên văn và máy quay đắt tiền. “Tôi đã từng tới xưởng đóng tàu hải quân Vũ Hán để xem tàu ngầm, nhưng điều này quả thực thú vị hơn,” người đàn ông trẻ tuổi có chiếc máy quay đặt trên giá ba chân vui vẻ cho biết.

Con tàu có thể nhìn thấy được từ các nhà cao tầng, các trục đường giao thông tầng cao ở Ðại Liên nhưng hai cửa thoát hiểm của Ikea ở tầng ba được coi là vị trí đắc địa.

Và tàu sân bay Trung Quốc đã thu hút sự chú ý vượt ra ngoài biên giới nước này. Robert Willard, chỉ huy lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương gần đây tuyên bố, các nước láng giềng Trung Quốc theo dõi sát sao những diễn biến mới xung quanh con tàu này. “Các đối tác khu vực của chúng ta đánh giá đây là bước tiến đáng kể trong khả năng quân sự của Trung Quốc,” ông nói.

Quan chức Hải Quân Mỹ và hải quân các nước Thái Bình Dương khác nhấn mạnh, Trung Quốc sẽ cần nhiều năm nữa trước khi có thể hoạt động hiệu quả một tàu sân bay. “Sở hữu tàu sân bay là một vấn đề, vận hành nó thậm chí là cả một nhóm tàu lại là điều hoàn toàn khác biệt,” một sĩ quan hải quân nước ngoài đánh giá.

Vì lẽ đó và vì việc hạ thủy tàu sân bay được cho là khá lâu, nên giới phân tích coi con tàu không đóng góp nhiều vào việc giúp Trung Quốc bắt kịp Hải Quân Mỹ - vốn là cường quốc hải quân chiếm ưu thế và cũng là “đối tượng” để Hải Quân Trung Quốc cuối cùng có thể tìm cách thách thức.

Trong thời gian này, một thách thức dường như hiển hiện hơn đến từ chương trình tên lửa đạn đạo chống hạm mà các chuyên gia quân sự Mỹ tin rằng sẽ giúp Trung Quốc chạm tới mục tiêu là các tàu sân bay Mỹ.

Những bình luận từ các quan chức chính phủ Trung Quốc cho thấy, nước này coi tàu sân bay là biểu tượng sức mạnh đang trỗi dậy của họ. Trung Quốc cũng tin rằng, tàu sân bay có thể giúp lực lượng hải quân thực hiện sứ mệnh tốt hơn ở những khu vực cách xa bờ biển Trung Quốc khi các lợi ích kinh tế đất nước ngày một mở rộng.

Sứ mệnh chống hải tặc của Trung Quốc tại vịnh Aden đã nhấn mạnh một điều, hải quân nước này đã phải vật lộn để giúp các binh lính trên một con tàu được cung cấp đủ nước ngọt và lương thực. Một căn cứ nổi trên biển sẽ cho phép sự hạ cánh dễ dàng với các máy bay chiến đấu, trực thăng có thể góp phần giải quyết nhiều vấn đề, Bắc Kinh tin như vậy.

Các nguồn tin quân sự Trung Quốc tránh đề cập tới các tính năng chiến đấu có thể của một tàu sân bay, nhưng những nhà phân tích quân sự độc lập cho rằng, một tàu sân bay đi vào hoạt động sẽ đẩy Trung Quốc tiến gần tới mục tiêu chiếm ưu thế trên không.

Còn với quân đội Trung Quốc (PLA), đưa Shi Lang vào hoạt động sẽ chỉ là bước đi đầu tiên trên con đường dài trước mặt. “Chiếc tàu sân bay đầu tiên sẽ chắc chắn hướng tới việc đào tạo huấn luyện để hải quân PLA sẽ có thể tiến tới các vùng biển lạ,” Gary Li, một chuyên gia nghiên cứu hải quân Trung Quốc tại Exclusive Analysis, tổ chức cố vấn rủi ro chính trị ở London, khẳng định.

Bắc Kinh vẫn im hơi lặng tiếng về nơi Shi Lang sẽ được triển khai hoặc chính xác họ sẽ làm gì với con tàu này. Ông Li nói rằng, về mặt tương tác giữa con tàu với các khả năng hải quân hiện tại, thì căn cứ hạm đội Nam Hải ở đảo Hải Nam sẽ là chọn lựa tốt nhất. “Các tàu chiến, tàu khu trục hiện đại nhất cũng như tàu ngầm đã sẵn sàng ở đó và thêm một tàu sân bay sẽ dễ dàng cho phép một đội hình chiến đấu hình thành nhanh chóng nếu cần thiết,” ông nói.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Khi giấy vụn thành của quý

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Tự do xuất bản là một bộ phận trọng yếu của quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận. Sách và báo là thức ăn tinh thần của một xã hội. Một xã hội phát triển hài hòa, văn minh là xã hội thực hiện quyền tự do xuất bản rộng rãi, tạo nên nhiều sách báo có chất lượng cao, người dân ham chuộng xem sách, đọc báo để mở mang kiến thức, đưa khoa học, lời hay lẽ phải vào cuộc sống.

Image
Bùi Chát, giám đốc nhà xuất bản Giấy Vụn. (Hình: phoatruoc.wordpress.com)

Ở Việt Nam, lĩnh vực xuất bản sách và báo nằm trọn trong tay nhà nước, tư nhân không có quyền xuất bản, mặc dầu như thế là trái với Hiến Pháp trong đó ghi rõ bảo đảm quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận của mọi công dân.

Năm 2002, trên mạng Internet ở Việt Nam xuất hiện một nhà xuất bản tự do, không trụ sở, không nhà in, không có hệ thống phát hành, không cần xin phép chính quyền, không đăng ký xuất bản, tự coi là nhà xuất bản “chui,” nhưng theo đúng Hiến Pháp, do đó tự coi là hợp pháp.

Nhà xuất bản chui này lấy tên là Giấy Vụn, giám đốc lấy tên là Bùi Chát, tên khai sinh là Bùi Quang Viễn, tốt nghiệp khoa Ngữ Văn-Báo Chí thuộc ngành Văn Học của trường Ðại Học Khoa Học Nhân Văn tại Sài Gòn năm 2001.

Nhà xuất bản Giấy Vụn gây ngay được tiếng vang ngày càng rộng lớn. Tuổi trẻ, học sinh, sinh viên trong Nam, ngoài Bắc truyền tin nhanh cho nhau về nhà xuất bản độc đáo này. Bà con ta ở hải ngoại, đặc biệt là các bạn trẻ, du sinh ở Pháp, Ðức, Ba Lan, Tiệp, Nga, Hoa Kỳ, UÔc,... ngày càng chú ý, tán thưởng những sản phẩm của Giấy Vụn. Nhiều bài thơ, văn trong Giấy Vụn được dịch ra tiếng Anh, Pháp, Ðức, Ba Lan, Tây Ban Nha.

Giấy Vụn rất được chú ý vì có sự cộng tác từ đầu của nhà thơ trẻ Lý Ðợi, người từng làm sôi nổi giới văn thơ trẻ trong nước khi thành lập nhóm Mở Miệng và công bố tập thơ rất lạ, rất mới mẻ, rất trẻ cả về nội dung và phong cách: Vòng tròn 6 mặt. Ðây là công trình sáng tác của 6 bạn thơ tâm đầu ý hợp: Lý Ðợi, Bùi Chát, Khúc Duy, Trần Văn Hoài, Hoàng Long và Nguyễn Quán.

Ðặc điểm nổi bật của Giấy Vụn là ở chỗ tuy nó là một nhà xuất bản “chui,” ngoài vỉa hè, ảo, như đùa vui, cười cợt với cuộc đời đầy nghịch lý này, nhưng nó lại rất nghiêm cách, chính quy trong việc xuất bản kiểu hiện đại, có biên tập công phu, có người chịu trách nhiệm, ngày ra mắt, số hiệu, lưu chiểu, có trình bày, minh họa, nhiều kiểu chữ khác nhau, hài hòa, đẹp mắt, mỗi tác phẩm là một giai phẩm văn học-nghệ thuật, do tôn trọng bạn đọc và tự trọng. Nhờ vậy nó sẽ tồn tại lâu dài. Ðến nay Giấy Vụn đã ra hơn 30 đầu sách, một số in với nhiều thứ tiếng, Anh, Pháp, với các tác giả đang được mến mộ như Ðào Hiếu, Hoành Lê, Nhật Tân, Nguyễn Viện, Cung Tích Biền, Liên Thái...

Mới đây, Hiệp hội các nhà Xuất bản Quốc tế International Publishers Association (IPA) là hiệp hội thành lập lâu năm ở Pháp, có thành viên khắp thế giới đã chú ý đến nhà xuất bản độc đáo Giấy Vụn ở Việt Nam, tìm hiểu về hoạt động và ảnh hưởng xã hội của nhà xuất bản này. Mấy năm trước, giám đốc Bùi Chát từng được mời sang Hán Thành, Nam Triều Tiên, và Berlin, Ðức, để dự họp xuất bản quốc tế và giới thiệu về nhà xuất bản Giấy Vụn.

Tháng 4, 2011, Giám Ðốc Bùi Chát được mời sang thủ đô Buenos Aires của Argentina để nhận phần thưởng quốc tế IPA năm 2011 tặng cho nhà xuất bản Giấy Vụn.

Ðây là vinh dự rất lớn cho tập thể nhà xuất bản Giấy Vụn, cho nền “văn học vỉa hè,” cho “nền sáng tạo ngoài luồng,” cho nền văn học-nghệ thuật tự do, tự khẳng định mình giữa chế độ chuyên chế một đảng, một chế độ bóp nghẹt tự do sáng tạo, kiểm soát ngặt nghèo các văn nghệ sĩ với đủ hình thức kiểm duyệt từ lộ liễu đến tinh vi.

Hiểu rõ bản chất độc tài đảng trị, thực tế là độc tài tập thể của Bộ Chính Trị 14 người - mà nguyên Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An gọi là Vua tập thể 14 vị - Nhà xuất bản quốc tế IPA đã lẳng lặng nhắn tin cho nhà thơ Bùi Chát về phần thưởng quốc tế IPA năm nay, và nhà thơ Bùi Chát đã lặng lẽ lên đường đi du lịch nước Pháp rồi mới sang Argentina nhận giải, một bằng khen lớn, với 6 ngàn france Thụy Sỹ (gần bằng $7,000).

Xin hãy nghe ông giám đốc nhà xuất bản chui Giấy Vụn, 32 tuổi, vừa bỡ ngỡ vừa dõng dạc phát biểu trước hàng mấy trăm đại biểu và nhà báo quốc tế khi được mời lên nhận thưởng:

“...Ở một nơi mà tự do chỉ tồn tại trong những hành vi tùy tiện của chính quyền thì những cố gắng cho việc hiện diện của công lý và tình người dường như là vô nghĩa; và để hành động cho những điều tưởng như là viễn vông này, chúng tôi đã chọn xuất bản.

“Cũng như những anh em đang bị tù đày, quản thúc và tất cả những người đang đấu tranh cho một tương lai tốt đẹp ở Việt Nam, chúng tôi luôn tin tưởng ở lương tri.

“Thông qua xuất bản một cách tự do những điều cần thiết, chúng tôi biết rằng nhiều độc giả của chúng tôi sẽ tìm thấy lương tri của mình.

“Sách có thể biến thế giới thành tự do, chính vì thế chúng tôi tin rằng tự do sẽ đến, trước hết với những người làm sách, những người đọc sách và những người bàn luận về những điều mà sách mang lại.

“Bằng tất cả tình yêu dành cho sách và dành cho con người, tôi đón nhận và san sẻ niềm vinh dự này cho tất cả độc giả, bạn bè và những người ủng hộ.

“Hy vọng giải thưởng sẽ là cú hích đáng kể cho sự phát triển của phong trào xuất bản độc lập, đặc biệt cho sự phát triển của xã hội dân sự tại Việt Nam.”

Ði hơn 10,000 dặm, chỉ để nói trong có 2 phút, nhưng đó có thể nói là tuyên ngôn của nhà xuất bản Giấy Vụn, là tâm huyết của Bùi Chát, Lý Ðợi và các bạn cùng chí hướng, cũng là cuộc tuyên chiến hòa bình nhưng nảy lửa với chính quyền của 14 ông Vua tập thể, là sự thách thức có vẻ nhẹ nhàng nhưng dữ dội với giới công an và giới tuyên huấn tận tụy phục vụ cho vua chúa cộng sản đời nay.

Do đó mà Bùi Chát bị đón lỏng ở sân bay Tân Sơn Nhất, bị khám xét ngặt, hỏi cung kỹ lưỡng, bị mời làm việc dài dài.

Bộ Chính Trị cay lắm, công an và tuyên huấn bực bội tức tối lắm, nhưng làm gì bây giờ.

IPA lập tức lên tiếng, Human Rights Watch lên tiếng, Reporter sans Frontières lên tiếng.

Bùi Chát đã thành người của thế giới thông tin tự do.

Chế độ độc đảng muốn phong anh, tôn anh lên thành anh hùng, thì xin cứ việc.

Tòa án trong tay họ, tư pháp trong tay họ, họ muốn hành hạ anh thanh niên 32 tuổi chỉ có nắm giấy vụn trong tay, thì xin cứ việc. Nhưng mọi sự đều có giới hạn cả. Sự mù quáng, sự điên cuồng, sự tàn bạo cũng vậy thôi.

Thế là anh Bùi Chát được trả tự do với nhiều răn đe.

Nhưng anh thanh niên có lương tri, 9 năm trước đã không biết sợ, nay đã là người công dân của thế giới dân chủ văn minh lại còn biết sợ cường quyền hắc ám nữa ư?

Thế là chúng ta được biết Giấy Vụn sẽ điềm tĩnh mở hội mừng công, sẽ liên hoan ăn mừng rất thân mật và tiết kiệm, sẽ cải tiến cả nội dung và hình thức, sẽ có đông bạn đọc hơn, có đông người ủng hộ và yểm trợ hơn, hiệu quả xã hội sẽ mạnh mẽ, rộng và sâu hơn, sau giải thưởng quốc tế IPA rất xứng đáng và vang dội, một cú hích lịch sử cho ngành xuất bản Việt Nam.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Diễn tập ‘chống bạo loạn’ ở Thanh Hóa trong lúc dân đói
Monday, May 16, 2011 6:37:58 PM

THANH HÓA (TH) - Tỉnh Thanh Hóa, hôm Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011, đã tổ chức một cuộc “diễn tập phương án xử lý tình huống gây rối,
gây bạo loạn, đánh bắt khủng bố, giải cứu con tin” qui mô.

Image
Cuộc diễn tập có cả xe thiết giáp của quân đội. (Hình: Báo Thanh Hóa)

Cuộc diễn tập quy mô này được cho là lần đầu tiên diễn ra tại tỉnh Thanh Hóa, nơi mà gần 1/4 triệu người ở các huyện dọc theo miền biển đến miền núi, hiện đang phải đối mặt với cái đói vì mùa màng thất bát và người nông dân mất đất.

Theo tin của báo Thanh Hóa, cuộc diễn tập được chỉ thị từ Thủ tướng Chính phủ nhằm bảo vệ cuộc bầu cử Quốc Hội khóa 13.

Tin cho hay, cuộc diễn tập có sự chứng kiến và “chỉ đạo: của Trung Tướng, Thứ Trưởng Bộ Công An Ðặng Văn Hiếu, Bí Thư Tỉnh Ủy Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến cùng nhiều cơ quan và lực lượng khác nhau.

Không thấy báo Thanh Hóa mô tả chi tiết cuộc diễn tập nhưng các hình ảnh cho thấy các lực lượng cứu hỏa dập lửa, cảnh sát cơ động dàn hàng chống bạo loạn và có cả xe thiết giáp tham gia diễn tập.

Hồi cuối tháng 2, 2011, một cuộc diễn tập tương tự cũng được tổ chức tại thành phố Phan Thiết của tỉnh Bình Thuận với 500 sĩ quan và binh lính tham gia.

Trước đó, một cuộc diễn tập qui mô có cả tàu, máy bay trực thăng với hơn một ngàn cán bộ nhiều ngành khác nhau tập luyện “chống khủng bố, giải cứu con tin” ngay ở sông Hồng, Hà Nội ngày 10 tháng 11, 2010.

Image
Công an và quân đội CSVN diễn tập “chống gây rối, gây bạo loạn” ở Thanh Hóa ngày Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011. (Hình: Báo Thanh Hóa)

Cuộc tập luyện “chống gây rối, gây bạo loạn” ở Thanh Hóa được tiến hành chỉ ít ngày sau khi nhà cầm quyền Hà Nội giải quyết xong một vụ mà họ gọi là “tụ tập trái phép” ở Mường Nhé tỉnh Ðiện Biên với số lượng người tham dự có thể từ hơn 5 ngàn đến hơn 8 ngàn người.

Theo một số nguồn tin không chính thức, nhà cầm quyền Việt Nam đã phải điều động một lực lượng quân sự nhiều hơn một trung đoàn có cả chiến xa và trực thăng yểm trợ để đối phó với cuộc biểu tình người Hmong.

Cùng với cuộc diễn tập “chống gây rối, gây bạo loạn” nhằm đối phó với dân, báo Thanh Hóa hôm Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011 phỏng vấn ông Vương Văn Việt, phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa. Ông này loan báo số gạo cứu đói cho dân sắp được cấp phát.

Nạn nói kinh niên ở Thanh Hóa một phần, theo báo điện tử của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn ngày 13 tháng 5, 2011, là do nhà cầm quyền cưỡng bách dân đóng thuế quá nặng đến độ họ không còn gì để sống. Vừa thu hoạch vụ mùa xong, từ thôn tới xã tới siết thuế và đủ các loại “phí” làm người nông dân bắt đầu phải đi vay nợ mới từ đây.

Sự đói khổ quá sức chịu đựng vì sưu cao thuế nặng hoặc sự đàn áp tôn giáo dễ dẫn tới bạo động, có thể là nguyên nhân thúc đẩy nhà cầm quyền độc tài đảng trị tại Hà Nội luôn luôn nghĩ tới các bài bản đối phó với quần chúng.

Báo điện tử Nông Nghiệp Việt Nam của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đưa tin từ ngày 27 tháng 4, 2011 rồi một số báo như Tuổi Trẻ, Sài Gòn Tiếp Thị cũng tìm hiểu và đưa tin, viết phóng sự chứng tỏ nạn đói ở Thanh Hóa có thật và cần cứu đói khẩn cấp.

Gần 3 tuần lễ sau thì ông Việt đại diện nhà cầm quyền tỉnh mới nói sắp có gạo. Ông cũng không quên chỉ trích một số huyện đã báo cáo láo khi sử dụng “số liệu cứu trợ trong dịp tết Tân Mão vừa qua để báo cáo.” (TN)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Phái viên của Gadhafi tới Nga đàm phán
Các phái viên của đại tá Gadhafi hôm nay tham gia các cuộc đàm phán với giới chức Nga tại Matxcơva, trong bối cảnh Tòa án Tội phạm Quốc tế (ICC) đang gây sức ép đòi bắt giữ nhà lãnh đạo Libya này.

"
Ban đầu, các đại diện của ông Gadhafi dự định tiếp xúc với cả các quan chức phe đối lập trong các cuộc đàm phán riêng tại Nga. Tuy nhiên, vì những lý do kỹ thuật, các cuộc gặp này đã không được diễn ra, BBC đưa tin. Điện Kremlin vẫn từ chối thừa nhận phe đối lập là chính quyền hợp pháp tại Libya, đồng thời duy trì quan hệ chính thức với chính quyền Gadhafi.
Image
Ông Gadhafi đang phải đối mặt với lệnh bắt của ICC. Ảnh: AP
Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov hôm qua cho hay: "Chúng tôi đồng ý tổ chức các cuộc gặp tại Matxcơva với các đại diện của cả chính quyền Gadhafi lẫn phe đối lập." Ông Lavrov cũng hi vọng các cuộc đàm phán với phe đối lập sẽ được nối lại trong một tương lai gần, sau khi bị hoãn lại.

Ngoại trưởng Nga nhấn mạnh nước này sẵn sàng đối thoại với tất cả các bên, đồng thời nhắc lại rằng Matxcơva kêu gọi chấm dứt giao tranh tại Libya.

Các phái viên của Gadhafi tới Nga trong bối cảnh ICC bắt đầu gây sức ép. Công tố viên trưởng Luis Moreno-Ocampo của ICC hôm qua tuyên bố đại tá Gadhafi, con trai ông là Saif al-Islam và giám đốc cơ quan tình báo Libya phải chịu trách nhiệm lớn nhất cho "những cuộc tấn công có hệ thống và tràn lan" nhằm vào thường dân nước này.

Ông Moreno-Ocampo cho hay, sau khi nghiên cứu hơn 1.200 tài liệu và 50 đoạn phỏng vấn với những nhân vật trong cuộc và các nhân chứng quan trọng, ICC có đầy đủ bằng chứng cho thấy đại tá Gadhafi "đã ra những mệnh lệnh cá nhân để thực hiện các vụ tấn công nhằm vào những thường dân không có vũ khí tại Libya".

"Các lực lượng của ông ta tấn công thường dân Libya tại nhà của họ và cả những nơi công cộng, bắn đạn thật vào những người biểu tình, sử dụng vũ khí hạng nặng để bắn vào các đám tang và bố trí các tay súng bắn tỉa để tiêu diệt những người rời các nhà thờ Hồi giáo sau khi cầu nguyện", vị công tố viên nói trong một cuộc họp báo tại trụ sở ICC ở The Hague, Hà Lan.

Theo ông Moreno-Ocampo, các hành động bức hại này vẫn đang tiếp diễn tại những khu vực thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Gadhafi. Các lực lượng trung thành với nhà lãnh đạo Libya chuẩn bị sẵn một danh sách những người bị cáo buộc là có tư tưởng chống đối, để lùng bắt và bỏ tù họ tại thủ đô Tripoli, rồi tra tấn những người này và khiến họ biến mất.
Image
Công tố viên trưởng Moreno-Ocampo trong cuộc họp báo tại The Hague. Ảnh: AFP


Vị công tố viên ICC cũng cho biết thêm rằng, dựa trên những bằng chứng thu thập được từ những người trốn thoát khỏi Libya, ông đã gần như chuẩn bị xong một phiên tòa dành cho Gadhafi và các nhân vật liên quan.

Các thẩm phán của ICC hiện vẫn chưa quyết định việc có đưa ra lệnh bắt với những người kể trên hay không. Trong khi đó, chính phủ Libya tuyên bố không quan tâm tới động thái của ICC, còn Hội đồng Chuyển giao Quốc gia của phe đối lập lại ca ngợi diễn biến có lợi cho họ. Tuy nhiên, Abdel Hafez Ghoga, phó chủ tịch của hội đồng này mong muốn rằng Gadhafi phải bị xét xử tại Libya trước khi bị đưa ra một tòa án quốc tế.

Kể từ khi những cuộc biểu tình chống chính phủ nổ ra ở Libya ngày 15/2 tới khi liên quân NATO bắt đầu tấn công nước này ngày 19/3, khoảng 500 tới 700 dân thường đã chết.

Phan Lê
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

QUÂN ÐỘI SYRIA ÐANG BẮN GIẾT DÂN CHÚNG
KHU VỰC WADI KHALED Ở BIÊN GIỚI LEBANON
Tin Wadi Khaled - Tiếng súng đã nổ trong khu vực Wadi Khaled ở biên giới Syria và Lebanon. Người dân Syria tiếp tục chạy qua Lebanon lánh nạn, cho biết quân đội với ít nhất 10 chiếc xe tăng đã tới làng Arida và Tel Kelakh để đàn áp dân chúng sau khi các cuộc biểu tình chống Tổng thống Bashar al-Assad diễn ra.

Ông Mohamed nói rằng ít nhất 10 chiếc xe tăng đang bao vây làng Arida và Tel Kelakh, quân đội đến từng nhà, giết bất cứ ai chúng bắt gặp, phá hủy mọi thứ trong nhà, dân làng không ai dám ở lại. Chính mắt ông đã chứng kiến quân nhân giết chị và những người dì của ông, chúng đã giết nhiều người, nhưng không ai có thể mang xác người chết bỏ chạy.

Một nhân viên y tế Lebanon nói kể từ ngày thứ Bảy, bệnh viện đã nhận 7 người bị thương trầm trọng, có một người chết. Hầu hết người bị thương bị bắn trúng ngực hay phần trên của thân thể. Một nhà tranh đấu nói chỉ riêng trong ngày Chủ Nhật quân đội Syria đã bắn chết 7 người tại làng Tel Kelakh, con số người chết từ ngày thứ Bảy đến nay là 12 người. Cơ quan thông tấn nhà nước Syria tuyên bố có 5 quân nhân đã tử thương qua các trận chiến chống lại các nhóm vũ trang ở Tel Kalakh.

Người tỵ nạn Syria đã tạm trú tại làng Debbabiyeh của Lebanon, nằm sát biên giới. Quân đội Syria tấn công những ngôi làng đứng lên chống Tổng thống Al-Assad, những người chạy được qua Lebanon là những người may mắn, trong lúc nhiều người thân của họ không thể chạy kịp nên đã bị giết.

Bà Rehab nói rằng anh của bà là ông Majed đã bị lực lượng của người em họ của Tổng thống Bashar al-Assad là tướng Maher bắn chết. Bà Rehab cho biết trong năm ngoái tình báo Syria đã giết một người anh của bà. Ngày hôm qua, tay sai của Maher al-Assad đã bắn chết một người anh khác ở thị trấn Tel Kelakh, người anh bị bắn chết trên đường phố và xác lúc này cũng chưa được chôn cất. Bà Rehab đã khóc trong lúc ngồi bên những người cháu đang đau buồn vì mất cha, và trả lời báo chí. Bà Rehab là người ở Tel Kelakh, nhưng lấy chồng ở làng Dabbabiyeh.

Thị trấn Tel Kelakh đã trở thành nơi kinh hoàng từ ngày thứ Sáu, sau khi dân chúng đa số là người Sunni hưởng ứng cuộc biểu tình trên toàn quốc, xuống đường đòi Tổng thống Bashar al-Assad từ chức. Vào ngày thứ Bảy, 10 chiếc xe bus đã chở lực lượng đặc biệt mang băng đỏ gọi là shabbiha tới thị trấn Tel Kelakh. Vào ngày Chủ Nhật, xe tăng được đưa tới bao vây và pháo kích vào thị trấn. Những nhà tranh đấu nhân quyền cho biết tại Tel Kelakh đã có ít nhất 12 người chết trong ngày Chủ Nhật.

Em Monya là con gái ông Majed đang đau khổ và tức giận, thề sẽ trả thù, nói rằng cha cô bị bắn chết lúc 6 giờ chiều ngày hôm qua, 3 người chú bị bắt hiện giờ đã biết có 2 người chết. Chúa sẽ không để cho những kẻ giết cha cô có thể sống và cô sẽ trả thù. Tất cả người tản cư đều nói rằng lực lượng an ninh Syria đã bắn phá bừa bãi trong thị trấn và tập trung tấn công người Sunni. Thị trấn Tel Lalakh nằm trong một thung lũng, bao quanh có nhiều ngôi làng người đạo Alawite, là một hệ phái Shiite. Tổng thống Assad và những người lãnh đạo cao cấp ở Syria hiện giờ là người theo đạo Alawite.

Các đoạn video đưa lên các trang web xã hội trong ngày hôm nay đã cho thấy hình ảnh các cuộc biểu tình chống chính phủ ở thủ đô Damascus, ở các thành phố Homs và Hama ngày hôm qua. Ngày hôm nay, người dân ở thành phố Deraa cho biết đã tìm thấy 2 ngôi mồ tập thể chôn khoảng 26 người.

Chính phủ Syria bác bỏ tin tức có mồ chôn tập thể ở Deraa, nói rằng những tin tức này được tung ra nhần kích động bạo loạn. Tuy nhiên, đài truyền hình nhà nước Syria cho biết cảnh sát đã tìm thấy 5 thi hài nằm gần thành phố Deraa và đang mở cuộc điều tra. Bốn người dân trong thành phố Deraa đã nói với đài truyền hình Reuters rằng dân chúng đã thấy 2 gò đất lớn trên một cánh đồng lúa mì bên ngoài khu phố cổ Deraa, và khi đào gò đất này mới thấy 26 thân thể đã rã mục.

Cách nay 3 tuần, chính phủ Al-Assad đã đưa xe tăng tới đàn áp người biểu tình ở thành phố Deraa và hiện đang đưa xe tăng tới các thành phố khác trong nước. Ngưỡng mộ các cuộc tranh đấu ở Tunisia và Ai Cập, dân chúng Syria đã đầu tiên đứng lên ở thành phố Deraa trong trung tuần tháng 3 và cuộc tranh đấu cho dân chủ tự do đang lan khắp toàn quốc.

Trong nhiều ngày qua quân đội đã dùng pháo xe tăng, đại liên để giải tán người biểu tình và đã lùng bắt hàng loạt những người tranh đấu trong nước. Chính phủ luôn luôn nói rằng bạo động trong nước là do thành phần băng đảng khủng bố Hồi giáo gây ra và đã có 120 nhân viên an ninh và quân nhân tử thương. Hoa Kỳ và Liên Âu đã dùng nhiều biện pháp cấm vận đối với một số viên chức cao cấp Syria, nhưng trong đó không có Tổng thống Assad.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Một số điểm chính trong bài diễn văn của TT Obama
Thứ Năm, 19 tháng 5 2011

Image
Hình: AP
Tổng thống Obama đọc bài diễn văn về Bắc Phi và Trung Ðông

Tổng thống Barack Obama nêu lên chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với một số quốc gia Trung Đông trong bài diễn văn hôm thứ Năm:

Đối với Ai Cập

Tổng thống Obama nói Hoa Kỳ cần phải giúp người dân Ai Cập phục hồi sau vụ gián đoạn đột ngột vì biến động đòi dân chủ bằng cách giúp những nhu cầu tài chánh ngắn hạn của nước này.

Hoa Kỳ sẽ giúp Ai Cập giảm khoảng 1 tỉ đô la tiền nợ và giúp Cairo được trở lại tiếp cận các thị trường bằng cách bảo đảm 1 tỉ đô la tiền vay.

Đối với Tunisia

Chính quyền Obama sẽ làm việc với Quốc hội để thành lập “quỹ doanh thương” để đầu tư vào Tunisia và Ai Cập. Quỹ này sẽ theo khuôn mẫu của quỹ từng giúp sự chuyển đổi của Đông Âu ra khỏi chế độ cộng sản trong những năm 1990.

Đối với Syria

Đề cập một cách trực tiếp khác với bình thường, Tổng thống Obama nói Tổng thống Syria Bashar al-Assad có một lực chọn: lãnh đạo việc chuyển tiếp dân chủ hay tránh đi nơi khác. Tổng thống Obama nói quân đội Syria phải ngưng việc nổ súng vào những người biểu tình, cho phép những cuộc biểu tình ôn hòa, thả tù chính trị và chấm dứt những vụ bắt bớ vô cớ.

Ông cũng kêu gọi Syria để cho những quan sát viên nhân quyền đến những thành phố hiện là các địa điểm nóng như Dara'a và cho phép họ tham dự vào những cuộc đối thoại nghiêm chỉnh để tiến đến chuyển tiếp dân chủ. Bằng không, theo lời tổng thống Obama, Tổng thống Assad sẽ tiếp tục bị thách thức trong nước và bị cô lập tại nước ngoài.

Đối với Bahrain

Tổng thống Obama gọi Bahrain là một đối tác lâu đời mà an ninh của quốc gia này được Hoa Kỳ cam kết bảo vệ. Ông nói chính phủ do phe Hồi Giáo Sunni lãnh đạo có quyền lợi chính đáng trong việc cai trị bằng luật pháp trong một quốc gia có đa số là người Shia.

Tuy nhiên Tổng thống Mỹ nói Hoa kỳ vẫn một mực giữ lập trường, cho dù công khai hay trong phạm vi riêng tư là những hành động bắt bớ hàng loạt và dùng vũ lực mạnh bạo là trái với quyền phổ quát của công dân Bahrain, và sẽ không chấm dứt được những đòi hỏi cải cách chính đáng.

Tổng thống Obama nói con đường duy nhất ở trước mặt là chính phủ và đối lập cần phải đối thoại. Ông nói chính phủ cần phải tạo ra những điều kiện đối thoại trong đó những người đối lập ôn hòa không bị cầm tù và đối lập phải được tham gia vào việc hình thành một tương lai công chính cho tất cả mọi người dân Bahrain.

Đối với Iran

Iran nói họ ủng hộ những cuộc biểu tình “mùa xuân Ả Rập,” nhưng lại áp chế quyền của chính người dân trong nước. Tổng thống Obama nói điều này là đạo đức giả.

Ông nói chính phủ Iran đàn áp tàn bạo phụ nữ và nam giới và bỏ tù những người vô tội vì đã tổ chức những cuộc biểu tình ôn hòa trên đường phố Tehran cách đây vài năm.

Tổng thống Obama hứa Hoa Kỳ sẽ tiếp tục kiên trì lập trường là người dân Iran cần phải lấy lại được những quyền của họ và có một chính phủ không bóp nghẹt những nguyện vọng của người dân.

Đối với Libya:

Tổng thống Obama nói việc nhà lãnh đạo Libya Moammar Gadhafi rời bỏ quyền lực là một điều không tránh khỏi khi những cuộc không kích của NATO và những chế tài quốc tế tiếp tục. Ông nói sự can thiệp quốc tế vào Libya cứu được hàng ngàn sinh mạng của những người chống đối ông Gadhafi.

Đối với Israel và Palestine

Tổng thống Barack Obama ủng hộ đòi hỏi chính của người Palestine về ranh giới của một quốc gia tương lai. Ông nói ông tin là ranh giới này sẽ căn cứ vào đường ranh 1967 - ranh giới có sẵn trước khi cuộc chiến 6 ngày xảy ra trong đó Israel đã chiếm những vùng đất của người Palestine.

Tổng thống Obama nói việc tiến đến một nền hòa bình bền vững chấm dứt cuộc xung đột Ả Rập-Israel khẩn thiết hơn bao giờ hết và Israel và người Palestine phải giải quyết những vấn đề then chốt xuyên qua những cuộc thương thuyết, để thành lập một quốc gia Palestine vững mạnh và một nước Israel được bảo vệ.

Tổng thống Barack Obama nói Hoa Kỳ tin tưởng là những cuộc thương thuyết cần đưa đến kết quả là thành lập hai quốc gia. Ông nói tiếp là Palestine cần có biên giới thường trực với Israel, Jordan và Ai Cập.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Không Cho Phép Mình Quên

Nhiều người cho rằng chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm rồi, vả lại Việt cộng cũng thay đổi rồi, sao lại chống hoài?

Với tôi, những bài học, những kinh nghiệm thương đau mà thế hệ Cha Anh đã có với Việt Cộng nhắc tôi phải cảnh giác luôn luôn.

-Bài học số 1: Việt Cộng giết người Quốc Gia ngay trong thời kỳ phôi thai kháng Pháp, đánh Nhật, vì Việt Cộng muốn cướp quyền lãnh đạo đất nước, để có thể toàn quyền làm tay sai cho Cộng Sản quốc tế trước kia, và nay cho quan thầy Trung Cộng.

-Bài học số 2: Trong những kỳ cải cách ruộng đất, Việt Cộng đã giết biết bao người dân vô tội, giết ngay cả những người mà có lẽ chẳng bao lâu trước đó đã hào phóng bỏ ra vàng, tiền của đóng góp trong các cuộc quyên góp cho Việt Cộng.

-Bài học số 3: Ký kết ngưng bắn với Việt Cộng chưa ráo mực thì Hồ Chí Minh xua ngay quân giết hàng ngàn đồng bào miền Nam vô tội trong Tết Mậu Thân 1968.

-Bài học số 4: Việt Cộng xé ngay bản hòa đàm Paris mà chúng vừa ký 1973.

-Bài học số 5: Trường học Cai Lậy, nơi bao trẻ thơ đang ê a bên trang sách, sao lại là mục tiêu pháo kích của Việt Cộng? Sao Việt Cộng lại nhẫn tâm bắn vào hàng ngàn đồng bào vô tội đang trốn chạy "giải phóng quân" trên đại lộ kinh hoàng?

-Bài học số 6: "Nhà nước thông báo để nhân dân đừng tin vào các tin đồn thất thiệt. Nhà nước sẽ không đổi tiền". Và việc đổi tiền, thực chất là một cuộc ăn cướp tài sản của người dân miền Nam, được tiến hành chỉ một ngày sau đó. Đây là một nhóm thổ phỉ cai trị, chứ không phải là một nhà nước pháp trị. 500 đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy 1 đồng tiền Hồ! Việt Cộng có cái gì để mà đổi?

-Bài học số 7: "Ngày mai em sẽ chở các con đến đây thăm anh", Mẹ tôi bịn rịn chia tay Ba tôi sau khi chở Ba tôi đến địa điểm tập trung "cải tạo".

- "Em về ráng lo cho Thầy Mẹ và các con. Đêm nay chắc chắn anh sẽ bị đem đi nơi khác. Và em cũng đừng mong anh sẽ về sau 10 ngày ", Ba tôi căn dặn.

- "Nhưng...Cách mạng thông báo tập trung 10 ngày mà!", Mẹ tôi trả lời.

Ôi thương thay cho người dân hiền lành, thật thà của đất nước tôi. Và chắc đâu đó ở Hà Nội, đã có một nhóm người ngồi cười khoái trá.

Trên đây là một ít trong số những bài học "cơ bản" mà tôi luôn tự nhắc mình và “không bao giờ cho phép mình quên!”

Có nhiều người cho rằng Việt Cộng đã thay đổi rồi. Với tôi, Việt Cộng chỉ là một loài tắc kè dỏm và hạ cấp. Nó thay đổi màu để tồn tại, để tiếp tục lừa bịp, che đậy cái bản chất bất biến của chúng là tàn ác và đê hèn. Với những người cùng một dòng máu Việt thì chúng chẳng chừa một hành vi bẩn thỉu nào, nhưng với kẻ thù phương Bắc, kẻ thù mà ngàn năm trước cha ông ta đã chỉ mặt đặt tên, thì chúng lại quì gối. Khi đọc bản tin Giang Trạch Dân vào tắm ở Đà nẵng, rồi vào Saigon gặp mặt hoa kiều Chợ Lớn, sau đó mới bay ra Hà nội để gặp bọn đàn em ở Ba Đình, lòng tôi sôi sục căm hờn, tủi nhục.

Với cái thằng Tàu phù này, Việt Nam xem chừng chỉ là cái ao làng của nó. Khi đọc bản tin thấy đám du khách Trung Cộng phất cờ, đón đuốc thế vận trên đường phố Saigon trong khi những người dân Việt bị cô lập, bị đẩy ra xa, tôi biết rằng tôi vẫn còn sáng suốt. Tôi vẫn thấy rõ cái tồi tệ, xấu xí của Việt Cộng dù đang được che đậy dưới một cái áo màu mè bên ngoài của một con tắc kè. Việt Cộng đã thay đổi?

Tôi may mắn có một người cha sáng suốt với những phân tích sắc bén, thuyết phục. Ông luôn là người đầu tiên tôi tìm đến để tham khảo và hỏi ý kiến khi nghe hoặc đọc thấy những biến động nào trong xã hội. Là một cựu quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ở tuổi ngoài 70, ông vẫn canh cánh trong lòng chuyện vận mạng đất nước. "Muốn chống Cộng, mình phải hoặc là có tiền hoặc là có quyền", Ba tôi nói. Và trong tình thế không có cả hai, ông vẫn chống Cộng theo cách riêng. Ông hun đúc tinh thần yêu nước cho con cháu trong gia đình qua các câu chuyện kể, qua những nhận định tình hình, nhắc nhở con cháu tỉnh táo trước những mưu chước của Việt Cộng. Ông nhắc con cháu dành chút thời gian thắp một nén nhang, đặt một ít hoa, nơi đài chiến sĩ Việt-Mỹ nhân ngày Chiến Sĩ Trận Vong. Ông cố gắng đến với các cuộc biểu tình nghiêm túc trong cộng đồng. "Mình đến dù không làm được gì nhưng mình phải đến để thể hiện chính kiến của mình, đồng thời động viên anh em", ông thường nói như vậỵ Ông đến với các buổi ra mắt sách có liên quan đến lịch sử, đến quân đội và luôn ủng hộ mua sách từ những đồng tiền ít ỏi ông nhận được hàng tháng. Tôi được nghe rất nhiều lần từ những người bạn của ông, từ sơ giao đến thân tình, "Mỗi lần gặp anh, tôi hiểu ra nhiều vấn đề quá!".

Tôi luôn cố gắng theo Ba tôi tham gia các cuộc biểu tình nghiêm túc trong Cộng Đồng. Tôi phụ giúp giảng dạy Việt ngữ cho các em nhỏ với hy vọng góp một bàn tay phá vỡ cái nghị quyết 36 mà Việt cộng đã và đang cố gắng thực hiện tại hải ngoại qua sách báo, qua các chương trình ca nhạc của chúng. Tôi tranh thủ giờ ăn trưa trong công ty, để viết bài và tham gia tranh luận trên các diễn đàn với cố gắng "giành dân, lấn đất" với Việt cộng trên mạng điện toán. Tôi luôn mua băng gốc các chương trình ca nhạc, các tài liệu lịch sử để ủng hộ các trung tâm, các cơ sở có đường hướng chống Cộng rõ ràng. Tôi cố gắng giải thích cho các con tôi khi chúng thắc mắc về lá cờ máu chúng thấy trong sách báo.

Bạn bè tôi, có người cho tôi chống Cộng cực đoan. Là người Việt nên tôi vẫn nhớ Ông Bà ngày xưa có dạy "một câu nhịn, chín câu lành". Tôi cũng cho mình là một người Công giáo kiên định và vâng phục. Chúa tôi có dạy rằng "Nếu có kẻ tát con má bên phải, con hãy đưa má bên trái cho kẻ đó tát".

Kính thưa Ông Bà,

Việt cộng ngày xưa đày Ba con nơi rừng sâu, chỉ thả về khi Ba con khập khễng trên đôi nạng gỗ với một bệnh án sống thêm được vài tháng là hết. Mấy chị em con bị xếp vào hàng cuối cùng trong xã hội vì "trúng" đủ mọi "tiêu chuẩn" của Việt Cộng, dân Bắc di cư - đạo Công giáo - con Ngụy quân Ngụy quyền. Ngày xưa Việt Cộng gọi chúng con là đĩ điếm bám chân "đế quốc" thì nay là "khúc ruột ngàn dặm", một khúc ruột mà hàng năm có thể gửi về trong nước gần 10 tỉ "tiền đế quốc". Bao nhiêu đồng bào nghèo lê lết sống bên Cambodia hay còn kẹt lại ở Philippines, bao nhiêu công nhân làm "tôi mọi" khắp nơi, bao nhiêu cô gái bán thân khắp vùng Đông Nam Á, thì sao không là "khúc ruột"?

Trước, Việt cộng giết dân miền Bắc trong "cải cách ruộng đất", chôn sống dân miền Trung trong Mậu Thân, đày đọa, thủ tiêu quân cán chính miền Nam sau ngày "giải phóng", nay Việt cộng lại tiếp tục cướp đất của bao người dân thấp cổ, bé miệng, tiếp tục tàn phá quê hương, phá bỏ đạo đức làm người. Người dân đã chẳng những "một nhịn", mà trăm ngàn "nhịn", mà "lành" vẫn không thấy.
Ông Bà kính, làm sao có "lành" với quỷ?

Lạy Chúa, Việt Cộng đánh đồng bào con thê thảm trong "cải cách ruộng đất". Việt Cộng chôn sống đồng bào con trong Tết Mậu Thân. Việt Cộng đánh gia đình con và biết bao gia đình miền Nam tan nát sau "ngày giải phóng". Việt Cộng đày đọa áp bức đến nổi dân chúng miền Nam phải rời bỏ quê hương vượt biển Đông. Hàng ngàn người đã bỏ mình, đã ô nhục, nhơ nhớp dưới tay hải tặc. Nay Việt Cộng tiếp tục đánh phá các Cộng Đồng người Việt hải ngoại, nơi chúng con đang xây dựng lại cuộc sống mới cho thế hệ mai sau. Lạy Chúa, chẳng những cả hai má chúng con đã để cho Việt Cộng tát, mà toàn thân, lục phủ ngũ tạng cũng tang thương. Thì nay xin Chúa cho con theo câu "có lúc con phải hiền như con trừu, có khi con phải khôn ngoan như con rắn". Tôi có cực đoan không khi tôi chống Cộng hay Việt Cộng đã thay đổi chăng?

Tôi sẽ còn chống Cộng ngay cả khi Việt Cộng không còn trên quê hương tôi. Ngày quê hương thanh bình, tôi sẽ về lại vùng quê Mỹ Tho hiền hòa, mở một ngôi trường dạy học cho các em nhỏ. Và lồng trong những bài học Việt văn, toán học, tôi chắc chắn sẽ kể cho các em nghe những tội ác của Việt Cộng, nhắc cho các em những kinh nghiệm thương đau của cha ông, với một hy vọng các em sẽ không bao giờ để cái chủ nghĩa quái thai này xuất hiện một lần nữa trên đất nước thân yêu dưới bất kỳ hình thức nào.

Tôi viết bài này trong niềm tưởng nhớ người Chú, người Cậu, những sĩ quan anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong cuộc chiến, những đứa em và bà con xa gần chết trên biển Đông, vì lý tưởng tự do.

Nguyễn Khánh Vũ
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest