Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Việt Nam-thêm một lần lỡ tàu!

Song Chi

Thế là Việt Nam lại lỡ con tàu “cách mạng hoa nhài” từ các nước Bắc Phi và Trung Đông. Như đã từng lỡ con tàu cách mạng “nhung”, cách mạng “màu” ở các nước Đông Âu thuộc khối XHCN cũ và ở Liên Xô hơn 20 năm trước. Và trước đó, sau khi thống nhất đất nước, giai đoạn từ năm 1975-1985, nếu những người cộng sản biết nắm lấy cơ hội, biết nhìn xa và có tấm lòng rộng mở,
thi hành một đường lối chính sách khác hẳn về chính trị, đối nội, đối ngoại, lẫn kinh tế, văn hóa, Việt Nam có thể đã đi theo một con đường khác hẳn. Đối nội, người Việt Nam, nhất là người miền Nam đã không phải chịu thêm những vết thương hậu chiến nặng nề từ sự phân biệt Bắc-Nam, chủ nghĩa lý lịch, trại cải tạo và rất nhiều sự sai lầm khác buộc hàng triệu người phải bỏ nước ra đi và cho đến bây giờ việc hòa giải, hòa hợp vẫn chưa thực hiện được; kinh tế miền Nam có thể đã không bị phá sản, cả nước đã không phải suýt nữa thì chết đói chẳng khác nào Bắc Hàn bây giờ để rồi mãi đến năm 1986, những người lãnh đạo mới bừng tỉnh “mở cửa”, thay đổi, thực chất là đi lại từ đầu, học lại cách làm ăn theo lối kinh tế thị trường…Đối ngoại, Việt Nam có thể đã không phải vướng vào hai cuộc chiến tranh với Campuchia và Trung Quốc, có thể giảng hòa với Mỹ sớm hơn khi chính Mỹ đã chìa bàn tay ra trước trong giai đoạn này, để từ đó hội nhập với thế giới sớm hơn rất nhiều, điều mà Trung Quốc đã làm được sau cuộc chiến tranh biên giới với VN mà thực chất, như nhiều nhà nghiên cứu, bình luận chính trị sau này đã phân tích, là một “món quà” để đổi lấy quan hệ với Mỹ và phương Tây…
Và nếu nhìn xa hơn nữa vào quá khứ, Việt Nam đã từng bỏ lỡ rất nhiều cơ hội khác. Giữa thế kỷ XIX, Minh Trị Thiên Hoàng của nước Nhật đã biết nhìn xa trông rộng, quyết định thực hiện những cải cách triệt để về mọi mặt từ giáo dục, chính trị, quân sự cho đến kinh tế, học tập phương Tây, thoát Á, biến Nhật Bản từ một nước phong kiến với một nền nông nghiệp lạc hậu trở thành một cường quốc về kinh tế-quân sự đầu thế kỷ XX và mấy mươi năm sau nữa, cả thế giới phải khiếp sợ trước sức mạnh quân sự của Nhật trong thế chiến thứ 2. Trong khi đó, Việt Nam thời nhà Nguyễn thì lại làm ngược lại, “bế quan tỏa cảng” khước từ mọi cơ hội cải cách, học hỏi, hậu quả là nước Việt Nam nghèo đói, lạc hậu phải trở thành thuộc địa của Pháp…
Việt Nam. Một dân tộc luôn luôn nhỡ tàu. Nhà văn Võ Thị Hảo từng than như thế. Phải, số phận bi kịch của đất nước này, dân tộc này chính là như thế.
Và bây giờ điều đó đang lập lại.
Trong suốt những ngày qua, khi phong trào cách mạng hoa nhài bắt đầu bùng lên từ Tunisia rồi lan rộng sang Ai Cập và các nước khác ở Bắc Phi, Trung Đông…nhiều người Việt Nam trong và ngoài nước cũng nhân đó nghĩ suy đến vận mệnh của đất nước. Một câu hỏi đau đáu nhất được đặt ra: Liệu có một cuộc cách mạng như thế ở Việt Nam vào thời điểm này?
Nếu theo dõi một số bài viết, ý kiến của mọi người xung quanh chủ đề này, có thể thấy khá nhiều quan điểm đối chọi nhau nhưng nhìn chung, có thể chia làm hai luồng chính. Quan điểm thứ nhất, thường là của những người Việt ở hải ngoại và những người hoạt động cho phong trào dân chủ, cho rằng sẽ có, và cần phải có một cuộc cách mạng hoa nhài ở Việt Nam vào thời điểm này. Những người ủng hộ quan điểm này thường lý giải dựa trên tình hình kinh tế xã hội lẫn chính trị ở Việt Nam hiện nay quá bí bét, bất ổn về nhiều mặt chưa kể mối họa từ phương Bắc đã quá rõ ràng, người dân VN đã phải chịu đựng một cuộc sống tồi tệ quá lâu rồi, cần phải thay đổi để cứu mình, cứu dân tộc, cứu đất nước. Và rõ ràng là những cuộc cách mạng từ các nước Tunisia, Ai Cập…có những điểm khiến người ta có quyền hy vọng: không do các đảng phái tổ chức chính trị tạo nên, không có một gương mặt lãnh tụ nổi bật, hoàn toàn bất ngờ từ sự bức xúc của chính người dân, từ những cuộc biểu tình ôn hòa và đã đi đến thắng lợi…Tất nhiên, trường hợp của Lybia thì hoàn toàn khác. Có những người rất lạc quan, cũng đã có những lời kêu gọi được đưa ra trên các trang mạng…
Quan điểm thứ hai, thường là của những người ở trong nước, ngược lại, cho rằng VN sẽ không có một cuộc cách mạng, thậm chí chưa nên, không nên có, vào thời điểm này. Một số lập luận được đưa ra để lý giải tại sao như vậy: Có người cho rằng vì cuộc sống ở VN hiện nay dễ chịu hơn xưa nhiều, vì người dân VN đang tạm bằng lòng với những gì họ có. Có người thì chỉ trích phong trào dân chủ ở VN quá yếu, và lập luận: cứ cho là VN sẽ xảy ra một cuộc cách mạng tự phát của quần chúng, thế thì chuyện gì sẽ xảy ra sau đó, đâu là lực lượng đối lập có đủ sức đứng ra “làm việc”, thậm chí “giải giáp” đảng cộng sản VN , nắm quyền lãnh đạo đất nước? Liệu có chăng một tình trạng hỗn loạn, xâu xé tranh giành quyền lực khiến mọi chuyện càng thêm bí bét sau đó? Cũng có người cho rằng chỉ khi nào Trung Quốc thay đổi thì VN mới hy vọng có thay đổi, rằng ở VN không thể có cách mạng từ dưới lên mà chỉ có cách mạng từ trên xuống, rằng nên trông đợi vào sự thay đổi từ phía nhà nước VN, họ đã thay đổi nhiều và sẽ còn tiếp tục thay đổi v.v…
Thực tế cho thấy một cuộc cách mạng như mong đợi đã không xảy ra. Nhưng lại không hẳn từ những lý do như quan điểm thứ hai nói trên. Vậy thì vì sao?
Phân tích tình hình chính trị xã hội ở VN hiện nay, phải nói là thời cơ đã quá chín muồi. Quan điểm của ai đó cho rằng vì cuộc sống ở VN hiện nay dễ chiụ hơn trước kia nên người VN cảm thấy tạm bằng lòng như vừa nêu trên là hoàn toàn không đúng. Nếu là thời điểm nào khác, khi chính sách đổi mới bước đầu đã đem lại sự tăng trưởng về kinh tế, thoát khỏi nạn đói theo nghĩa đen…thì còn có lý. Còn hiện nay? Ai đang sống ở VN hoặc nếu không sống ở trong nước nhưng theo dõi đều đặn tình hình qua báo chí, đều thấy rõ VN hiện đang phải đối mặt với một giai đoạn khủng hoảng thực sự về kinh tế. Sự bất ổn đã thể hiện quá rõ. Đây là hậu quả của sự điều hành quản lý kinh tế kém cỏi và những phương pháp sai lầm suốt một thời gian dài, mà người dân đang phải trực tiếp gánh chịu. Lạm phát tăng cao, đồng tiền bị mất giá, vật giá leo thang tác động đến đời sống của từng gia đình. Chỉ trừ một bộ phận nhỏ là tầng lớp quan chức, giới giàu có, trung lưu trở lên ở các thành phố lớn, còn thì nông dân, công nhân, dân nghèo thành thị, sinh viên, công nhân viên chức bình thường cho tới đồng bào ở tỉnh lẻ, vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số…đời sống thực sự khó khăn. Khái niệm “ổn định” mà nhà nước VN thường đem ra để mỵ dân và “hù dọa” mọi ý muốn đòi thay đổi đã không còn đứng vững nữa. Bởi ổn định đây không chỉ là ổn định về chính trị do được cai trị bằng bàn tay sắt. Người dân cần có sự ổn định về kinh tế, xã hội. Cuộc sống hàng ngày, tương lai có thể hoạch định được. Nên nếu nói đời sống hiện nay đã tạm ổn là một cái nhìn phiến diện. Đừng quên đời sống và thu nhập đầu người của các nước như Tunisia hay Ai Cập còn cao hơn của VN nhiều vậy mà dân chúng họ đã không bằng lòng.
Kinh tế thì như vậy, còn xã hội? Có lẽ cũng không cần phải chứng minh về bức tranh thực trạng xã hội VN hiện nay là như thế nào, chính báo chí truyền thông nhà nước hàng ngày đã nêu lên quá rõ. Nạn tham nhũng, những bất công phi lý trong xã hội, khoảng cách giàu nghèo, đạo đức bị xuống cấp, cái xấu cái ác cái không tử tế ngày càng tràn lan như cỏ dại trong lúc cái đẹp, cái thiện, cái tử tế ngày càng hiếm hoi; giáo dục thì lạc hậu, nạn chạy chữ chạy chức, đạo văn, thói lừa lọc…nhan nhản, môi trường sống bị ô nhiễm, thiên nhiên bị tàn phá… Một người sinh ra trong một gia đình quan chức hoặc có tiền, không quan tâm đến bất cứ chuyện gì trừ việc kiếm sống và ngắm vuốt bản thân có thể sẽ không thấy hết mọi điều nhưng còn đa số người dân? Vì sao 36 năm sau ngày thống nhất đất nước, người VN vẫn tìm mọi cách bỏ nước ra đi? Đi bằng con đường “xuất khẩu lao động” làm thuê cho xứ người, đi lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc...-những cuộc hôn nhân qua môi giới may ít rủi nhiều; đi học, đi làm ăn rồi tìm cách ở lại v.v…
Nếu thử một lần, tìm hiểu số phận của những người nông dân một nắng hai sương, là một trong hai lực lượng chính đem lại đồng tiền ngoại tệ cho đất nước qua con đường xuất khẩu gạo và các sản phẩm nông nghiệp nhưng lại luôn luôn bị ép giá từ chính những công ty nhà nước, bị cưỡng bức bán rẻ đất đai nhà cửa từ những đợt giải phóng mặt bằng để rồi một ngày nhập trong hàng ngũ dân oan đi khiếu kiện đất đai…Những người công nhân với đồng lương rẻ mạt, bị bóc lột ngay trên đất nước mình. Những ngư dân đi làm thuê ở xứ lạ bị hải tặc bắt cóc, còn ở ngay trên vùng bờ biển nước mình thì bị “tàu lạ” đâm chìm tàu, bắt giữ, đánh đập, đòi tiền chuộc…Những cô gái nông thôn vì nghèo khó phải đi lấy chồng xa, đi làm Ôsin, đi làm gái, đi đẻ thuê…kiếm tiền….Những đồng bào dân tộc thiểu số sống nghèo nàn lạc hậu mọi thứ từ tinh thần đến vật chất…
Nếu thử tìm hiểu, thì câu trả lời cuộc sống ở VN hiện nay có ổn không sẽ khác ngay.
Hoặc nếu một ngày chẳng may đi trên đường bị tai nạn giao thông do một kẻ nào đó chạy xe ẩu tông phải nhưng nếu kiện thì cũng chẳng ăn thua gì; một ngày chẳng may chạy xe ngoài đường quên đội mũ bảo hiểm và bị mấy tay công an đánh cho gãy cổ, tử vong-như đã từng có nhiều người chết oan vì bị những ông công an chả coi mạng sống của dân ra gì, quen thói dùng bạo lực hành hung người dân đến tử vong chỉ vì những sai phạm hết sức nhỏ nhặt; một ngày thấy mình học hành tử tế, làm việc vất vả cả đời nhưng vẫn chỉ là một nhân viên quèn trong khi thằng bạn cùng lớp dốt đặc cán mai, đạo đức tệ hại lại là xếp mình chỉ vì con của ông X cháu của ông Y; một ngày thấy người anh là công nhân xây dựng chết oan chỉ vì công trình đang xây bị “rút ruột", đổ sập trên đầu; người chị ngồi khóc đứa con gái nhỏ bị làm nô lệ tình dục cho ông Hiệu trưởng đạo mạo và những vị quan chức tai to mặt lớn…v.v…và v.v…
Đến lúc đó, câu trả lời cuộc sống ở VN hiện nay có ổn không sẽ khác ngay.
Nghĩa là nói thẳng ra, tình hình kinh tế chính trị xã hội ở VN đã quá đủ cho những mâu thuẫn xã hội dồn nén từ bao lâu nay. Chưa kể, mối họa từ Trung Quốc mà tôi sẽ nói đến sau.
Thế nhưng ở VN vẫn chẳng có chuyện gì xảy ra. Vì sao? Phải chua xót mà nhận thấy rằng dân tộc nào chính phủ ấy và ngược lại. Nếu như tính cách của một con người có thể tạo ra số phận của người đó thì với một dân tộc cũng vậy, tính cách của một dân tộc sẽ góp phần quyết định làm nên số phận của dân tộc, đất nước đó. Mà tính cách của một dân tộc phần lớn là từ cái môi trường xã hội tạo nên. Tính cách của người Việt, vốn dĩ đã mang nhiều nhược điểm của người dân sống trong một nước nông nghiệp lạc hậu, cộng thêm một thời gian dài sống dưới một chế độ độc tài toàn trị và một môi trường xã hội tệ hại, đã dần dần hình thành một số “căn bệnh” khó chữa. Trước đây tôi đã từng viết bài “Những căn bệnh đang hủy hoại xã hội VN”, đó là: bệnh vô cảm;cái xấu cái ác lên ngôi; sự bạc nhược, cầu an; sự giả dối;hoài nghi và mất lòng tin. Và nếu nói kỹ hơn thì sẽ còn một số “bệnh” khác nữa. Một cuộc sống bất an, luôn phải vật lộn với cơm áo gạo tiền, bao nhiêu nỗi lo nỗi sợ hàng ngày, mặt khác, cũng đang tồn tại phổ biến ở VN một lối sống phụ thuộc nặng nề vào vật chất và những giá trị giả, giá trị ảo, qua đó con người được đánh giá dựa theo cái nhà, cái xe, quần áo bên ngoài hay mảnh bằng, cái “ghế”…Cả hai khía cạnh đều khiến tạo nên những thế hệ “phi chính trị”, chỉ quan tâm đến việc mưu sinh và kiếm một chỗ đứng trong xã hội, đến bản thân, gia đình mình. Chưa bao giờ nội lực xã hội VN lại cạn kiệt về mọi mặt và nguyên khí con người VN cũng cạn kiệt đi như bây giờ. Bao nhiêu sự dũng cảm, quật khởi bất khuất, lòng tự hào tự tôn dân tộc đã bị chính những người nắm quyền đất nước bào mòn đi, làm cho hèn hạ bạc nhược đi, như họ.
Tôi cũng muốn nói thêm một ý là một số người viết bài trong nước thường hay tỏ ra coi thường, chỉ trích người Việt hải ngoại và những người hoạt động dân chủ là không hiểu biết về tình hình trong nước, làm chính trị salon…rằng cách mạng nếu có, phải do người trong nước tạo nên. Không ai chối cãi và cũng không ai tranh công gì điều hiển nhiên này. Nhưng vận mệnh đất nước như thế này chưa lo được mà ngồi chỉ trích chê bai nhau làm gì, đất nước là của chung, ai cũng nên và có quyền đóng góp phần của mình, dù chỉ một bài viết, một câu nói, cũng đã là quý. Tôi nghĩ thế. Sự chia rẽ, dường như cũng là một trong những nhược điểm khá rõ của dân tộc tôi.
Với một dân tộc như thế, tinh thần đâu để có một cuộc cách mạng?
Lý do chính là nằm ở đó chứ không phải vì xã hội VN hôm nay đã ổn và người dân VN chưa muốn thay đổi.
Với quan điểm cho rằng ở VN không thể có cách mạng từ dưới lên, mà chỉ có cách mạng từ trên xuống, nên trông đợi vào sự thay đổi từ phía nhà nước VN, rằng họ đã thay đổi nhiều và sẽ còn tiếp tục thay đổi…tôi cũng nghi ngờ luôn vào điều này. Không phải vì quá cực đoan như Boris Yeltsin là "Cộng sản chỉ có thể thay thế chứ không thể thay đổi được". Đúng là trong những năm qua, các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản ở VN buộc phải thay đổi và có thay đổi. Ai cũng thấy, về mặt lý thuyết con đường đi của xã hội hiện nay cũng như trên thực tế, những gì họ đang tiến hành ở VN hoàn toàn trái ngược 180 độ so với những gì họ từng tuyên bố hay thực hiện trước kia, thời thập niên 50 cho tới 80. Nhưng có những cái không bao giờ họ thay đổi, ví dụ như sự bảo thủ đến cùng vì quyền lợi của chế độ, luôn luôn đặt quyền lợi của đảng, của chế độ, của một thiểu số đặc quyền đặc lợi lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc. Trong nhiều mặt, họ vẫn thay đổi rất chậm, họ tìm mọi cách để trì hoãn thời gian. Vả lại nếu có muốn đổi nhanh họ cũng không dám (và cũng không làm được) vì cứ nhìn qua các thế hệ lãnh đạo của VN thì thấy, không có ai có tầm nhìn xa, trí tuệ vượt trội, họ đều kém cả về đầu óc, tư duy lẫn bản lĩnh. VN không có một Mikhail Gorbachov hay Boris Yeltsin. Họ cứ dàn đều cùng nhau một bước tiến hai bước lùi.
Một dân tộc thì như thế, những người lãnh đạo thì như thế. Trong khi tình hình của VN thì không còn có thể chờ đợi được nữa. Bởi kinh tế quá nguy ngập. Xã hội nát bét. Nội lực, nguyên khí con người đều cạn kiệt. Bên cạnh đó là mối họa từ phương Bắc.
Tôi cũng từng viết: nếu đảng cộng sản Trung Quốc có tiếp tục lãnh đạo đất nước thêm cả trăm năm nữa, Trung Quốc cũng chẳng mất vào tay nước nào, nhưng nếu đảng cộng sản Việt Nam mà tiếp tục “tại vị” thêm chừng hai thập niên nữa thôi, VN chắc chắn sẽ mất vào tay Trung Quốc-không “mất” kiểu này thì kiểu khác.
Một chính quyền điều hành kinh tế kém cỏi, không đảm bảo được một sự ổn định trong đời sống hàng ngày của người dân. Một chính quyền bạc nhược để mất đất mất biển, đảo vào tay nước khác. Có còn xứng đáng để tiếp tục độc quyền lãnh đạo?
Trong cuộc đời một con người, chẳng bao giờ nên dùng chữ “nếu”. Vận mệnh của một dân tộc, một đất nước cũng vậy. Nhưng dù sao, cũng chỉ một lần thử đặt những chữ “nếu”…Hơn hai mươi năm trước, nếu VN cũng chuyển mình dứt khoát và triệt để như các nước Đông Âu, chúng ta đã có được 20 năm đi theo một con đường khác, với một thể chế chính trị khác, như hầu hết các nước tiến bộ trên thế giới đã lựa chọn. Những Hiệp ước Biên giới trên đất liền năm 1999, Hiệp định phân vịnh Bắc bộ VN-TQ năm 2000 đã không được ký, và VN đã không phải mất đi thêm hàng trăm kilomet vuông lãnh thổ dọc theo biên giới, hàng ngàn kilomet vuông lãnh hải, thác Bản Giốc, Ải Nam Quan vẫn còn…Chúng ta chắc chắn đã không mắc kẹt quá sâu trong mối quan hệ với TQ như bây giờ và TQ cũng không dám bắt nạt ta quá mức, bởi chúng ta có đồng minh quân sự chứ không phải như hiện tại. Hai mươi năm trước TQ khác xa bây giờ. Hai mươi năm là đủ cho một đất nước có thể tiến được rất xa nếu đi đúng đường.
Với một TQ ngày càng mạnh, càng đầy tham vọng, liệu sự mất mát của VN có dừng lại ở đó? Không ít lần trên những trang mạng TQ các tướng lĩnh thuộc phái diều hâu của TQ, với giọng điệu đầy hung hăng, đã từng hằm hè muốn gây chiến nữa ở vùng biển Đông nói chung và với VN nói riêng. Những ngày này nhiều bài viết cũng đã nói đến nguy cơ TQ có thể nhân dịp VN đang lao đao vì kinh tế, để tấn công chiếm thêm một số đảo ở Trường Sa. Và nếu sự thật xảy ra, gần như chắc chắn TQ sẽ chiếm được thôi, ai sẽ là đồng minh của VN, ai sẽ hỗ trợ VN? Mỹ ư. Đừng hy vọng hão. Hoặc chưa cần đến nói đến chuyện TQ tấn công bằng vũ lực. Nếu kinh tế VN sụp đổ, ai sẽ chìa bàn tay ra “giúp đỡ”? Vẫn không phải là Mỹ hay các nước phương Tây. Chỉ có ông anh cả TQ bỏ hầu bao ra và kèm theo đó là những điều kiện gì. Xin dành câu trả lời lại cho mọi người.
Lại nếu…Chính vì vậy, nếu VN lỡ tàu thêm lần này sẽ là ân hận vô cùng cho tương lai. Cũng có thể không còn đường lùi nữa, cái họa một ngàn năm phương Bắc lại trở lại chăng?
Song, số phận của VN là do chính người dân VN quyết định. Không một lời kêu gọi nào có tác dụng một khi người dân còn đang lơ mơ, mụ mị, chưa tỉnh thức. Hơn ba thập niên trước, cũng chính vì sự thờ ơ vô cảm với vận mệnh của đất nước đó mà người miền Nam đã khiến cho đồng minh của họ, người Mỹ thêm một lý do để nản lòng bỏ cuộc khi ván cờ VN vốn đã làm nước Mỹ quá thiệt hại, tốn kém. Trong khi miền Bắc thì quá quyết tâm đến cùng để giành chiến thắng, cho dù cái giá của chiến thắng là bao nhiêu.
Việt Nam-một số phận đầy bi kịch.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

'Mỹ chất' của dân một nước lớn

Ngô Nhân Dụng


Người Việt Nam vốn kính trọng dân Nhật. Mà ít thù hận họ, so với dân các nước Á Ðông khác. Có lẽ vì, không như ở Hàn Quốc và Trung Quốc, thời gian quân Nhật chiếm và cai trị nước ta rất ngắn, tháng 3 đến tháng 8 năm 1945.

Trận động đất ở Fukushima vừa qua lại khiến nhiều người Việt thán phục tinh thần của người Nhật Bản hơn. Ở nhiều quốc gia, khi có một trận động đất làm cho bao nhiêu nhà cửa đổ nát như thế này, một mối lo của giới cảnh sát là người ta đến hôi của tại các cửa hàng. Ở Nhật Bản không thấy.

Chủ Nhật vừa qua, 13 tháng 3, 2011, ông Nguyễn Ðình Ðăng, làm việc ở Nhật Bản từ năm 1995, đã bày tỏ niềm kính trọng trong blog của ông: “...Xem trên TV thấy cụ già được quân lính cõng ra khỏi khu nhà đổ nát, vẫn mỉm cười trả lời phóng viên. Mấy phụ nữ nhận cơm nắm người ta phát trong căn nhà mất điện tối om, vẫn cúi lạy cảm ơn dưới ánh đèn pin. Cũng thấy có người khóc (cụ già và trẻ con). Toàn bộ Nội ác Nhật Bản làm việc hầu như 24/24 từ Thứ Sáu (ngày động đất). Ông kết luận: “Một đất nước mà người dân thực sự bình thản, lịch sự, giữ phẩm cách, rất trật tự, tử tế với nhau trong thảm họa... là một đất nước thực sự vĩ đại.”

Hai chữ “vĩ đại” có quá đáng hay không? Chúng ta nhớ trong phim “Chuyện Tử Tế” của Trần Văn Thủy, có đoạn một phóng viên hỏi mấy em bé (với biểu ngữ viết mấy chữ “vĩ đại”) rằng: “Các em đã thấy cái gì vĩ đại bao giờ chưa?” Các cháu bé cười! Có lẽ tấm lòng cảm phục diễn tả qua hai chữ “vĩ đại” cũng không phải là quá đáng. Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Ðăng, với hai bằng tiến sĩ Vật lý và Toán học, “đã sống 18 năm thời niên thiếu của mình rồi sau này làm việc vài năm tại Việt Nam, 11 năm tại Liên Xô cũ, một thời gian tại Châu Âu và thăm một số trường đại học tại Hoa Kỳ,” theo lời tự thuật trong một bài trước đây. Những lời ngợi khen của ông chắc rất có cân nhắc và rất thành thật.

Một dân tộc, và mỗi con người, khi bị thử thách trong những cơn hoạn nạn, là lúc chứng tỏ mình lớn hay nhỏ, có đáng kính trọng hay không. Một dân tộc sẽ được người ta kính trọng khi tư cách chững chạc, đường hoàng thể hiện ngay trong tư cách của những người dân bình thường, chứ không phải chỉ thấy trong những công trình văn hóa, kinh tế, đồ sộ. Khi nhìn các Kim Tự Tháp ở Ai Cập hay các vận hà và Vạn Lý Trường thành ở Trung Quốc, người ta không quên rằng trong đó cũng thể hiện chế độ khắc nghiệt của các vua chúa và thân phận khốn cùng của hàng vạn dân phu. Nền văn hóa của một dân tộc thể hiện ngay trong cuộc sống hàng ngày của người dân bình thường.

Trong cuốn tự truyện “Niên Biểu,” Phan Bội Châu kể những kinh nghiệm đầu tiên đối với dân Nhật vào năm 1905, là trên xe công cộng có ai bỏ quên đồ thì cũng không lo bị ai lấy mất. Cụ đi xe lửa từ Thần Hộ (Kobe) tới Hoàng Tân, xuống ga, chờ hành lý mà không thấy. Nhưng một viên chức đã trấn an, gọi xe đưa cụ Phan và cụ Tăng Bạt Hổ đến quán ăn mà ông ta đã giữ chỗ cho trước. Tới nơi, thì hành lý của họ cũng tới. Hai cụ đã từng bỏ quên đồ trên xe lửa, vài ngày sau tới tìm thấy vẫn ở chỗ cũ. Cụ nhận xét: “Chính trị của cường quốc với trình độ của quốc dân chỉ một việc ấy!” Cho nên, cụ cũng khen người Nhật không khác gì ông Nguyễn Ðình Ðăng, một trăm năm sau: “Mỹ chất của dân quốc nước lớn thiệt có như thế!” Chúng tôi lập lại hai chữ “Mỹ chất” trên tựa đề là để chúng ta cùng tưởng nhớ Phan Bội Châu.

Phan Bội Châu bày tỏ niềm cảm phục khi gặp một người phu kéo xe ở Tokyo. Trở lại Nhật Bản lần thứ hai sau khi về nước, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ đến Ðông Kinh để tìm một sinh viên người Trung Hoa học ở trường Chấn Võ. Một người phu xe biết đọc chữ Hán đưa hai ông khách Việt Nam từ ga xe lửa tới trường, nhưng anh du học sinh đó đã đi ở chỗ khác rồi. Người phu xe bảo hai khách ngoại quốc chờ ở một đầu phố, anh ta đi tìm giúp. Chờ từ 2 giờ đến 5 giờ chiều, anh phu xe trở lại, báo tin đã tìm được địa chỉ. Anh đưa hai người đến khách sạn nơi chàng sinh viên Trung Hoa đang ở trọ. Hai nhà cách mạng Việt Nam muốn đền ơn, đưa cho anh ta một đồng. Anh ta nhất định từ chối, chỉ nhận đúng 52 xu. Anh giải thích: Vì đó là giá một chuyến xe đi từ nhà ga Tokyo đến khách sạn này. Phan Bội Châu kết luận: “Than ôi! Trình độ trí thức dân nước ta xem với tên phu xe Nhật Bản chẳng dám chết thẹn lắm sao!

Một người Việt Nam khác cũng vừa mới “phải hổ thẹn về một bài học làm người” sau khi gặp một em bé lên 9 tuổi trong vùng Fukushima bị động đất. Câu chuyện của anh Hà Minh Thành đã được truyền bá khắp các mạng của người Việt Nam trong và ngoài nước, chỉ xin kể vắn tắt. Cùng với các cảnh sát Nhật đến Fukushima lo việc cứu trợ người bị nạn, anh Thành gặp một em bé 9 tuổi, rét lạnh vì chỉ mặc một mảnh áo thung và chiếc quần cộc tập thể dục, đang xếp hàng chờ nhận thức ăn cấp cứu. Cha mẹ và gia đình em có lẽ đã tử nạn cả. Anh Thành cởi chiếc áo lạnh của mình tặng em bé, em nhận lấy. Anh lại đưa cho em bao lương khô khẩu phần ăn tối của mình. Em bé cúi đầu, nghiêng mình cảm ơn như lối người Nhật. Xong, em đem gói lương khô đó tới để chung vào thùng thực phẩm mà người ta đang phân phát rồi lại quay lại xếp vào hàng như cũ. Anh Thành “mới hỏi nó tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Nó trả lời: ‘Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ.’”

Hà Minh Thành viết: “Xưa nay tôi không phục người Nhật lắm. Từ khi còn đi học, làm kỹ sư rồi làm cảnh sát thì phải luôn tiếp xúc với những người Nhật ở mặt trái của xã hội. Nhưng mà hành động của người dân Nhật trong vùng động đất bây giờ đã khiến tôi phục họ thật sự.” Anh kể chuyện một ký giả Trung Quốc tên là Vương Hy Văn cùng với anh đi ngang qua một ngôi nhà bị sập. Họ trông thấy rất nhiều đồng tiền giấy “có lẽ từ ngôi nhà đó trôi ra, ướt, nằm tứ tán cả bãi đất.” Tổng cộng số tiền rơi vãi chắc cũng vài chục triệu yen, một đô la Mỹ hiện đổi được khoảng 78 yen. Nhưng mà chẳng ai thèm nhặt. Cũng giống như năm 1905 Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ thấy không ai lượm lấy đồ người khác bỏ quên trên xe lửa! Một trăm năm sau, nhà báo Trung Hoa cũng phải thú nhận: “50 năm nữa, kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ đứng đầu thế giới, nhưng vĩnh viễn Trung Quốc không thể được gọi là cường quốc vì 50 năm nữa người Trung Quốc cũng chưa thể có trình độ dân trí và ý thức đạo đức công dân cao như người Nhật hiện tại. Tôi hổ thẹn mình là con cháu của Khổng Tử nhưng không hiểu cái đạo Nhân Nghĩa làm người bằng họ.” Vương Hy Văn không dùng hai chữ “vĩ đại” nhưng niềm kính trọng cũng cao như của Nguyễn Ðình Ðăng.

Khổng Tử vẫn còn “sống” ở Nhật Bản trong mấy thế kỷ qua, mặc dù họ đã “duy tân” theo Âu Mỹ được hơn một thế kỷ rưỡi. Nhà báo Mỹ T. R. Reid kể rằng khi các con ông được nhận vào học mấy năm ở trường tiểu học Yodobashi số 6, Tokyo, thì “bài học mạnh nhất mà các con tôi mang theo được sau khi rời ngôi trường Nhật Bản này là một điều mà chúng tôi không chờ đợi. Các cháu được dạy để trở thành những môn đồ Khổng Giáo tí hon (to be little Confucians).” Ngôi trường công lập đó dùng biết bao nhiêu thời giờ, kỹ xảo và năng lực để dạy các bài học đạo đức: đức hạnh công dân, cách cư xử đúng, hành vi đúng, như là những thành tử trong một cộng đồng. Reid đã việt cuốn “Confucius Lives Next Door” (Ông Khổng Tử bên hàng xóm). Mỗi khi nhà báo thắc mắc tại sao người Nhật lại hành động khác hẳn lối người Mỹ, ông hàng xóm của Reid ở Tokyo, ông Matsuda Tadao lại giải thích bằng một câu: “Ðức Khổng Tử nói rằng...” Trước năm 1945, ở Việt Nam các bậc cha mẹ, ông bà cũng thường dạy con cháu như vậy: “Ðức Khổng Tử nói rằng...” T R Reid giải thích tất cả những đức tính của người Nhật Bản, lễ độ, liêm khiết, trung trực, trọng công ích, danh dự, tín nghĩa, vân vân, là nhờ nền giáo dục Nho Giáo. Người Trung Hoa và người Việt Nam đã tự cắt đứt với truyền thống đó, thay các quy tắc đạo lý của Khổng Mạnh bằng các khẩu hiệu chính trị nhập cảng từ Nga Xô.

Trong một bài về đời sống dân Nhật, Nguyễn Ðình Ðăng đã kể chuyện bà vợ và con ông đánh mất ví, rồi sau đó có người lượm được đã đem trả, hoặc gửi bưu điện trả tận nhà. Trong một cuộc hội nghị khoa học, một giáo sư người Ý đến dự, cũng mất thẻ thông hành (hộ chiếu) trong khi đi chơi Tokyo. Anh ta hết sức hốt hoảng, nhưng mọi người nói anh cứ yên tâm, gọi điện báo cho Ðại Sứ Quán rồi chờ. Quả nhiên ngày hôm sau, Ðại Sứ Quán Italia gọi điện thoại nói có người đã nhặt được hộ chiếu của anh và gửi đến cho. Nhà khoa học người Ý kêu lên: “Thật là không thể tin được!”

Nguyễn Ðình Ðăng cũng giải thích tư cách đạo đức của người Nhật đạt được là nhờ nền giáo dục, giống như T R Reid. Nhưng ông còn nhận thấy một yếu tố quan trọng khác, nằm trong chế độ chính trị nước Nhật: Ðó là quyền tự do phát biểu. Reid là người Mỹ, đối với ông thì cuộc sống tự do dân chủ ở Nhật không có gì khác lạ với ở Mỹ, cho nên ông chỉ so sánh nền giáo dục hai nước. Nguyễn Ðình Ðăng từ Việt Nam sang Nhật nên nhìn thấy những điều T R Reid không quan tâm.

Nước Nhật đã có một hiến pháp dân chủ do người Mỹ soạn cho, sau khi Nhật bại trận. Ông Ðăng viết: “Quyền tự do cá nhân được Hiến Pháp tôn trọng tuyệt đối,” và “ở Nhật không có bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào có quyền bắt bạn cắt xén sáng tạo của bạn, hoặc ngăn cấm bạn triển lãm hoặc in ấn tác phẩm của mình vì những gì bạn viết hoặc vẽ ra trong tác phẩm...” Ông Ðăng còn thấy khi tới sống ở nước Nhật cả trẻ em cũng cảm thấy được sống tự do: “Một anh bạn Việt Nam mới sang Nhật cùng vợ và con trai học lớp Một. Tôi hỏi cháu: ‘Cháu thấy trường Nhật khác với trường Việt Nam thế nào?’ Cháu trả lời: ‘Ở trường Nhật cháu cảm thấy được nói năng tự do thoải mái.’”

Ông Ðăng nhớ lại câu chuyện của chính con trai của ông, nói với cha là cháu đã biết nói dối lần đầu tiên khi còn học lớp Một ở Hà Nội. Sáng hôm đó cô giáo quát: “Ai quên mang lọ mực, hãy để tay lên bàn.” Các học sinh để tay lên bàn đều lãnh một vụt thước kẻ vào tay rất đau. Con tôi cũng quên mực, nhưng không muốn ăn vụt, nên cháu đã nói dối: “Thưa cô, sáng nay lúc em chuẩn bị lọ mực đi học, mẹ em đã đánh đổ mất!” Cháu được cô tha.” Ông kết luận: “Dạy dỗ dựa trên sự sợ hãi không cảm hóa được con người mà chỉ làm con người trở nên dối trá, thủ đoạn.”

Nhưng Nguyễn Ðình Ðăng vẫn nhìn xa hơn câu chuyện trước mắt: “Không thể xây dựng một xã hội tự do, văn minh, hạnh phúc dựa trên sự sợ hãi của người dân. Có lẽ người Nhật hiểu rất rõ điều đó khi xây dựng xã hội của họ.”

Tất cả mọi người Việt Nam đều muốn nước mình sẽ tiến bộ, có ngày theo kịp dân Nhật Bản. Qua những câu chuyện trên đây ai cũng có thể rút ra những kết luận phải làm gì. Phải có tự do dân chủ. Phải xây dựng nền giáo dục dựa trên đạo lý; không bắt các nhà giáo, các khoa học gia, nhà văn, nghệ sĩ làm nô lệ cho các cán bộ chính trị. Ðừng để đến đầu thế kỷ 22 lại có người Việt Nam đến nước Nhật và cảm thấy hổ thẹn như ông, cha đã từng hổ thẹn.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tôi có những Kẻ Thù
Lê Minh Lương
Khác với Lưu Hiểu Ba, tôi có những kẻ thù!

Kẻ thù của tôi KHÔNG là những người cán bộ nhà nước, bộ đội, công an hay đảng viên Cộng sản bình thường. Kẻ Thù của tôi là những người lãnh đạo đảng và Nhà Nước CSVN, những kẻ lén lút dâng nhượng lãnh thổ nước nhà cho ngoại bang, những tên cán bộ ác ôn hiếp đáp thô bạo người dân lành, và những tên tham quan ăn cắp của công, ăn cướp của dân một cách đê tiện.

Tôi chỉ mặt những tên bán nước là Kẻ Thù vì họ đã thẳng tay đàn áp những người yêu nước dám lên tiếng nói đấu tranh cho sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền bất khả xâm phạm của quốc gia. Họ phản bội lại công lao dựng nước của bao thế hệ Cha Ông, và sự đóng góp xương máu của bao nhiêu người Việt trong suốt quá trình bảo vệ tổ quốc. Tôi khinh bọn nội thù này hơn cả những tên xâm lăng.

Tôi gọi những tên độc tài bất nhân là Kẻ Thù, bởi vì tự họ đã dùng quyền lực cai trị để giết đồng bào tôi trong thời chiến tranh, và sau khi đất nước đã được gọi là thống nhất,hoà bình. Trước năm 1975, họ giết người bằng súng đạn. Sau năm 1975, họ giết người bằng sự thống trị dã man, bằng những bản án tù phi lý, bằng những hành động gây phẩn uất, và bằng những chính sách cướp bóc tài sản, ruộng đất của người dân một cách công khai.

Tôi không sợ bị kẻ thù Cộng sản ám hại vì dù gọi họ như thế nào, họ cũng sẽ không dung tha cho bất cứ ai quyết tâm giành lại quyền lãnh đạo đất nước cho toàn dân. Một khi những tên lãnh đạo độc ác này xem bất cứ người nào muốn thay đổi đất nước cho dân chủ hơn thì là kẻ thù của họ, họ xá gì những người dấn thân đấu tranh quyết liệt để giải thể chế độ độc tài?!!

Nhưng tôi không ghét và phân biệt đối xử đối với những người đã hoặc đang là đảng viên Cộng sản. Vì nếu họ theo đảng CS vì lý tưởng, thì họ là nạn nhân của một hoàn cảnh lịch sử; và nếu theo CS chỉ vì nhu cầu thực tế, thì họ chỉ là nạn nhân của một hoàn cảnh xã hội.

Tôi không có thành kiến với các sĩ quan, bộ đội Quân đội Nhân dân, vì họ chỉ là những người lính mà chế độ nào cũng cần có. Vấn đề chỉ là hàng ngũ quân đội này cần phải được độc lập để làm tròn bổn phận bảo vệ Tổ Quốc, chứ không phải là công cụ để bảo vệ đảng cầm quyền.

Tôi không xem cán bộ nhà nước hay công an là Kẻ Thù, vì họ chỉ là những người thừa hành của một bộ máy. Những điều sai lầm họ gây ra là do mệnh lệnh cấp trên. Họ không có tội lỗi gì đáng kể, vì chế độ đã làm thay đổi bản chất bình thường thực sự của họ. Người Việt Nam sinh ra không phải để trở thành Cộng sản. Thành phần đáng bị nguyền rủa là những tên lãnh đạo độc tài, tham ô ở cấp cao đã biến những người cán bộ nhà nước thành những người đồng phạm xấu xa.

Tôi có thể là "kẻ thù" của chế độ nhưng điều đó không khiến tôi xem tất cả những người đã hoặc đang ở trong bộ máy cầm quyền đó là kẻ thù. Tôi phân biệt rõ ràng những ai là thành phần thừa hành -- kể cả thừa hành một cách thiếu ý thức hoặc lạm dụng quyền lực vì thiếu tri thức, và những ai là thành phần ác ôn lúc nào cũng muốn trù dập người dân thế cô để bảo vệ quyền lực thống trị.

Những tên lãnh đạo độc tài, tham ô và bất nhân cần được loại bỏ khỏi bộ máy nhà nước. Nhưng tôi không chủ trương sẽ đối xử tàn nhẫn với những kẻ thù xấu xí này. Luật pháp trong tương lai sẽ xử định thân phận họ một cách công minh.

Tôi không thù hận tất cả người Cộng sản như họ đã hận thù và đối xử với những người từng phục vụ cho chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Tôi không chủ trương khai thác lòng thù hận để làm động lực đấu tranh, dù tôi biết rằng chế độ Cộng sản đã gây oán thù chồng chất trong lòng bao nhiêu triệu người dân Việt trong quá trình mấy mươi năm cai trị. Tôi muốn chứng tỏ cho những người Cộng sản thấy rằng họ có thể đàn áp, thậm chí giết chết những người đối kháng; nhưng họ sẽ không giết được tinh thần nhân bản của những người đấu tranh cho dân chủ ngày nay.

Tôi biết hậu quả của chiến tranh thù hận đến ngày nay vẫn còn hoành hành dân tộc ta nên vẫn luôn chủ trương "Lấy tình thương xoá bỏ hận thù". Nhưng tình thương đó chỉ dành cho những người Cộng sản đã thức tỉnh và sẵn sàng trở về với dân tộc. Đối với những kẻ bán nước, hại dân, lúc nào cũng muốn dùng bạo lực để duy trì quyền lực lãnh đạo độc tài, thì thành phần này không đáng để được tha thứ. Không những thế, họ cần phải được trừng trị để làm gương cho các thế hệ mai sau.

Tôi ghét chiến tranh và ghê tởm bạo lực, vì nó đã tàn phá đất nước tôi, gây cảnh tang thương cho đồng bào tôi. Nhưng tôi sẽ không vì vậy mà chủ trương dân chủ hoá đất nước bằng cách van xin đảng cầm quyền hiện nay ban cho người Việt Nam thêm chút tự do. Quyền dân chủ, tự do là của người dân và phải được trao trả lại cho người dân. Tôi sẽ đấu tranh đến cùng để giành lại quyền sống và sự sống cho những người dân cô thế không có được điều kiện để giải phóng chính họ.

Tôi không xem tất cả người dân ở đất nước phía Bắc là kẻ thù. Với tôi, họ cũng là nạn nhân của chế độ Cộng sản, cũng cùng hoàn cảnh bị thống trị như đồng bào Việt Nam của ta. Nhưng đối với những người Trung Hoa muốn đô hộ nước Việt Nam, tôi xem họ là kẻ thù như Cha Ông tôi đã ứng xử.

Đất nước Trung Hoa là xứ sở láng giềng của nước tôi. Tôi tin rằng tình hữu nghị với dân tộc Trung Hoa cần thiết để hai dân tộc có thể sống hài hoà với nhau trong lâu dài, một khi cả hai quốc gia không còn dưới ách thống trị của Cộng sản. Nhưng tôi yêu đất nước tôi và sẽ chống lại bất cứ hành động hay âm mưu nào nhằm lấn chiếm quê hương tôi.

Tôi quý đất nước Hoa Kỳ vì tính nhân đạo bao dung của người dân Hiệp Chủng Quốc. Tôi tôn trọng quyền lợi của đất nước Hoa Kỳ, vì đây là đất tạm dung cho tôi. Tuy nhiên, tôi không tin rằng Hoa Kỳ sẽ là một đồng minh tốt trong công cuộc đấu tranh giải thể chế độ CSVN. Chính phủ Hoa Kỳ rất tốt nhưng khi cần phải thay đổi chính sách cho một nhu cầu chiến lược quan trọng hơn, đồng minh có thể sẽ bị phản bội. Nhưng tôi tin một cách mãnh liệt rằng Hoa Kỳ sẽ hậu thuẫn mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh dân chủ hoá Việt Nam, một khi đảng CSVN không còn khả năng tồn tại nữa.

Tôi quý trọng tư cách và lòng bao dung của ông Lưu Hiểu Ba. Tôi nghĩ, ông rộng lượng được là nhờ ông có tên tuổi lớn, có địa vị xã hội cao và có uy tín lớn với quốc tế. Ít nhất, ông không bị ngược đãi một cách tàn bạo như những người tù chính trị không tên tuổi khác ở Trung Hoa. Ông cũng không bị phẩn uất vì đảng Cộng sản Trung Hoa đem lãnh thổ nước Tàu dâng nhượng cho ngoại bang và mỗi ngày phải phập phồng trong nỗi lo mất nước. Ông cũng không phải đau đớn khi thấy hàng chục ngàn phụ nữ nước ông phải đem danh dự và chính thân thể mình để đổi lấy miếng cơm cho gia đình, trong khi bọn cầm quyền giàu sang cực độ bằng tiền bạc bất chính. Có lẽ nhờ vậy mà ông có cái nhìn bao dung, thanh thản với đảng cầm quyền ở nước ông.

Ở nước tôi, những người từ hải ngoại về hoạt động chính trị cũng không bị tra tấn, ngược đãi khi bị bắt. Những nhà dân chủ có bằng cấp cao hay nổi tiếng ở trong nước cũng vậy. Nhưng những người đấu tranh không tên tuổi thường bị hành hạ, tra tấn rất dã man. Trong nhà tù Cộng sản hiện nay, những nhân chứng đó vẫn còn bị giam cầm. Nhưng những người dấn thân chống chế độ độc tài đều đủ trưởng thành để không oán trách hay van xin chế độ. Chỉ tội nghiệp cho mấy mươi triệu dân lành, chờ đợi độc lập, tự do, hạnh phúc từ gần nửa thế kỷ qua, nay vẫn còn tiếp tục sống trong nghèo đói, bất công.

Như ông Lưu Hiểu Ba, tôi mong người tù chính trị vừa bị kêu án những ngày qua sẽ là nạn nhân sau cùng bị giam cầm vì nỗ lực đấu tranh nhằm đòi lại những gì của chính mình đã bị chế độ độc tài cướp mất.. Đó là quyền dân chủ, tự do tất nhiên của con người. Nhưng tôi đủ cảnh giác để tin rằng: chỉ khi nào chế độ Cộng sản này không còn nữa, thì ngày đó những người tù lương tâm đang ở tù mới được tự do. Và lúc đó, những người đối lập với chính phủ mới sau này sẽ không phải bị giam cầm vì sự bất đồng chính kiến.

Ông Lưu Hiểu Ba ơi! Ngày nào chế độ Cộng sản không còn thì ngày đó hai tiếng "kẻ thù" mới không còn hiện hữu trong ngôn ngữ chính trị của nước tôi. Và có lẽ của nước Trung Hoa của ông cũng vậy! Mong ông và thế giới cảm thông rằng: Trong hoàn cảnh nước tôi bị xâm lăng và dân tôi bị thống trị, tôi không có sự chọn lựa nào khác hơn: Tôi có những kẻ thù!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Toàn cảnh giai đoạn đầu chiến dịch đánh Libya

Cuộc tấn công của liên quân vào Libya mở màn đêm 19/3 mới chỉ là giai đoạn đầu Anh, Mỹ và Pháp
thực thi chiến dịch thị uy sức mạnh quân sự, chống lại chế độ Gadhafi mà họ cáo buộc đang “điên cuồng tàn sát dân lành”.

Image
Chiến đấu cơ Rafale của Pháp tại căn cứ quân sự Saint-Dizier chuẩn bị cho chiến dịch tại Libya, hôm 19/3. Ảnh: AFP.


Việc lên kế hoạch tấn công các mục tiêu là cơ sở hạ tầng quân sự của Libya đã được liên quân nghiên cứu từ vài tuần trước, bằng cách sử dụng ảnh vệ tinh cùng những chuyến bay trinh sát của máy bay do thám Anh và Mỹ. Mục tiêu của việc thu thập thông tin tình báo này là theo dõi mọi di biến động và liên lạc giữa các lực lượng ủng hộ đại tá Gadhafi.

Tổng tư lệnh chiến dịch đánh Libya là đô đốc Mỹ Samuel Locklear, chỉ huy lực lượng liên quân đóng tại căn cứ Naples, Italy. Sau hội nghị thượng đỉnh bất thường về Libya tại Paris ngày 19/3, đô đốc Locklear được giao nhiệm vụ đập tan cỗ máy quân sự của Gadhafi và đảm bảo lệnh cấm bay trên toàn cõi Libya.

Theo đó, tấn công hệ thống radar và tên lửa phòng không của Libya là giai đoạn đầu của chiến dịch “đánh hội đồng” này. Mở màn chiến dịch, chiến đấu cơ Rafale của Pháp tiêu diệt một chiếc xe quân sự của Libya, có thể là xe tăng, lúc 16h45’ giờ GMT (23h45’ giờ Hà Nội) ngày 19/3, gần Benghazi. Khi màn đêm buông xuống, chiến dịch mang tên Odyssey Dawn của liên quân mới thực sự ác liệt khi Lầu Năm Góc cho biết có tổng cộng 110 quả tên lửa đối đất Tomahawk đã được Anh và Mỹ bắn vào Libya.

Cơn mưa tên lửa Tomahawk của liên quân đã rơi xuống dọc khu vực bờ biển trải dài của Libya. Những quả hỏa tiễn hạng nặng bay với tốc độ siêu thanh này được phóng từ tàu ngầm lớp Trafalgar của Anh và hai chiến hạm của Mỹ là khu trục hạm USS Mason mang tên lửa dẫn đường và tàu ngầm USS Providence gắn tên lửa Tomahawk tại Địa Trung Hải.

Tham gia màn phủ đầu này còn có những chiếc chiến đấu cơ cường kích mặt đất Tornado GR4 của Anh, trang bị tên lửa Storm Shadow chuyên oanh tạc các trung tâm chỉ huy, hầm điều khiểu và trạm radar của đối phương. Bên cạnh đó, những chiếc F-18 Super Hornet của hải quân Mỹ cũng xuất kích từ tàu sân bay USS Enterprise tại Biển Đỏ và máy bay chiến đấu Pháp từ tàu sân bay Charles de Gaulle tại cảng Toulon của Pháp.

Tổng cộng, Guardian cho biết trong đêm 19/3 đã có tổng cộng hơn 20 mục tiêu đã định của quân đội Libya bị tiêu diệt. Các đơn vị tên lửa đất đối không của lực lượng thân Gadhafi bị phá hủy hàng loạt. Ngoài ra, mạng lưới thông tin liên lạc quân sự có ý nghĩa sống còn đối với Gadhafi cũng bị đánh tơi tả.

Cuộc oanh tạc bằng tên lửa và máy bay nhằm vào quân đội Gadhafi này được mô tả là giai đoạn “tạo động lực” cho chiến dịch, với mục tiêu làm “câm họng” hệ thống phòng không của Libya. Đồng thời đợt tấn công này mở đường cho giai đoạn hai của màn dạo đầu đánh Libya.

Ngay khi hệ thống phòng không của Libya được xác định đã mất năng lực chiến đấu sau đợt tấn công đêm 19/3, đến lượt các chiến đấu cơ của NATO xuất hiện để tấn công các mục tiêu khác trên mặt đất. Mục tiêu của giai đoạn tấn công thứ hai này đa dạng từ các đơn vị xe tăng, xe bọc thép, hệ thống tên lửa tầm xa và những cỗ xe phóng hỏa tiễn tự hành của đại tá Gadhafi.

Ngay khi hai giai đoạn tấn công mục tiêu quân sự trên mặt đất hoàn tất, liên quân sẽ bước vào giai đoạn “làm cảnh sát trên không”, trong đó các máy bay liên tục quần đảo trên không phận Libya để đảm bảo vùng cấm bay có hiệu lực. Trong giai đoạn này, ngoài Anh, Mỹ và Pháp sẽ có máy bay và phương tiện của nhiều nước khác như Đan Mạch, Qatar, Canada, Các tiểu vương quốc Ảrập thống nhất và một số quốc gia tham gia.

Giai đoạn thực thi và giám sát vùng cấm bay thực sự cho thấy chiến dịch can thiệp vào Libya mang tính đa quốc gia. Nhưng việc điều phối các chuyến bay của chiến đấu cơ nhiều nước, cất cánh từ nhiều khu vực khác nhau cùng đến không phận Libya làm nhiệm vụ sẽ thực sự là một thách thức trong chiến dịch can thiệp Libya.

Vùng cấm bay tại Libya được Anh và Pháp cùng đề xuất sau khi quân đội ủng hộ đại tá Gadhafi tấn công người chống đối bằng vũ khí hạng nặng hồi tháng trước. Ban đầu Mỹ lưỡng lực với đề xuất này, nhưng sau đó ủng hộ. Sau khi chịu sức ép gay gắt, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đầu tuần này đã bỏ phiếu phê chuẩn lập vùng cấm bay tại Libya, nhằm ngăn chặn cuộc tấn công của quân Gadhafi vào thường dân.

Để thiết lập vùng cấm bay, liên quân đã tập trung một lượng lớn vũ khí gần Libya với hàng trăm máy bay chiến đấu có khả năng tiếp cận quốc gia Bắc Phi này trong thời gian ngắn. Trong số này có những phi đội F-16 của Mỹ, Đan Mạch, CF-18 của Canada, Tornado và Typhoon của Anh, chủ yếu đóng ở miền nam Italy. Pháp thì triển khai khoảng 100 máy bay chiến đấu, gồm chủ yếu là Rafale và Mirage 2000 cùng tàu sân bay Charles de Gaulle tham gia chiến dịch tại Libya.

Đình Nguyễn
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Libya được cứu vớt như thế nào
National Post
PBD dịch
Tính ra thì chẳng cần phải lâu lắc gì: Mới chưa hết một ngày của chiến dịch quân sự do Âu Châu lãnh đạo để kềm chế cuộc tấn công của Muammar Gaddafi nhắm vào chính dân của y mà lãnh tụ Liên Hiệp Ả Rập đã lạnh cẳng. Hôm Chủ Nhật, Tổng Thư Ký Amr Moussa của Liên Hiệp Ả Rập nói: "Những gì diễn ra tại Libya khác với mục tiêu áp đặt một vùng cấm bay và điều chúng tôi muốn là bảo vệ thường dân chứ không phải oanh kích vào thường dân khác". Lời chỉ trích này cho thấy giọng điệu thay đổi đáng kể của tổ chức này, sau khi chính họ đã kêu gọi áp đặt một vùng cấm bay vào ngày 12 Tháng Ba - một tuần trước khi Liên Hiệp tự thức để hành động. (Tính đến lúc viết bài này, các nước Ả Rập, gồm Qatar và UAE, theo dự liệu vẫn sẽ đưa các chiến đấu cơ của họ tham gia chiến dịch áp đặt vùng cấm bay.)

Đúng là có thể có một số thường dân Libya bị thiệt mạng hồi cuối tuần vì các cuộc oanh kích bằng bom và hỏa tiễn của Hoa Kỳ và Âu Châu vào các mục tiêu phòng không tại Tripoli. Nhưng ông Moussa biết rất rõ là việc thành lập một vùng cấm bay đòi hỏi phải tiêu diệt khả năng phòng không của địch, và – nhất là trong các khu vực thành thị - có nghĩa là có thể gây thương vong cho thường dân. Không có bằng chứng nào khả tín cho thấy các cuộc oanh kích hồi cuối tuần là bừa bãi; và con số thương vong – Libya lúc đầu loan tin là 48, mà không được phân biệt rõ ràng giữa thường dân và nhân viên quân sự - không hề cho thấy là cố ý tàn sát. Một cách giải thích khả tín hơn về các nhận xét của ông Moussa là ông ta đang vuốt đuôi thái độ thù ghét chống Tây Phương theo phản xạ vẫn thường bùng lên trong thế giới Ả Rập trong những cuộc chiến như thế này.

Thế nhưng ông Moussa có thể hiểu sai hết bản chất thay đổi nhanh chóng của dư luận Ả Rập, kể cả tại Ai Cập, nơi mà ông ta có thể sắp sửa ra tranh cử tổng thống. Trong toàn vùng này, một làn sóng mạnh mẽ chán ghét những kẻ độc tài như Đại Tá Gadaffi đã làm bùng phát các cuộc xuống đường biểu trình rầm rộ tại Ai Cập, Tunisia, Yemen và Bahrain. Ngay cả tại Syria, một nước cai trị bằng công an và hầu như đã mất hết khả năng chống đối chính trị có tổ chức suốt cả một thế hệ, cũng đã bùng phát các cuộc phản đối hồi cuối tuần. Trong bầu không khí này, thái độ nghi ngờ chống Tây Phương và các thuyết cho là có âm mưu thiên về dầu hỏa đang nhường chỗ cho các quan điểm có lý lẽ hơn. Abdul Gader Dejuli, một người chăn dê tại Libya chứng kiến các cuộc oanh kích của Pháp và Mỹ phá hủy đoàn chiến xa bọc thép của Đại Tá Gaddafi bên ngoài tổng hành dinh của phe nổi dậy tại Libyan hồi cuối tuần, đã cho thấy được thái độ này qua mấy chữ thật vắn tắt: “Cảm ơn Pháp, cảm ơn Hoa Kỳ ... Obama tốt, Sarkozy tốt."

Trong khi đó, ngoài mặt trận, xem chừng như biện pháp can thiệp của Tây Phương đã đổi hướng cuộc chiến trong hai ngày cuối tuần: Sau khi các lực lượng của Gaddafi bị oanh kích tơi tả thật thảm hại ra khỏi Benghazi, tên bạo chúa đang bị vây hãm lại lên tiếng kêu gọi ngưng bắn, cho thấy là y biết y sẽ bại trận trong bất cứ cuộc giao tranh nào mới.

Mặc dù có biến chuyển đáng mừng này, chúng ta cũng không nên quên là hành động can thiệp của Tây Phương thật là quá sát nút. Tính đến hôm Thứ Bảy, khi loạt oanh kích đầu tiên bắt đầu, các lực lượng của Libya đang tiến vào Benghazi. Nếu các xe tăng và xe bọc thép khác của Đại Tá Gaddafi tiến vào được trung tâm thành phố đang thuộc quyền kiểm soát của phe nổi dậy, thì ắt chúng đã bố trí gần các bệnh viện, nhà thờ Hồi giáo và các tòa nhà chung cư để hầu như không còn có thể mở các cuộc oanh kích từ trên không. Quân nổi dậy rồi ắt sẽ không còn cách nào khác mà phải rời bỏ căn cứ của họ và phong trào của họ ắt đã bị bẻ gãy để lại thực tế là chiến thắng sẽ lọt vào tay Đại Tá Gaddafi.

Nói cách khác, vào lúc Tây Phương mở cuộc không kích thì tình thế lúc đó có thể chỉ còn vài ngày, hoặc ngay cả vài giờ, là không còn thay đổi được nữa cho Libya. Trước những lời tuyên bố của Đại Tá Gaddafi là sẽ trả đũa dữ dội các lãnh tụ của cuộc nổi dậy, hậu quả ắt có lẽ đã là một cuộc tắm máu.

Ai có công giải cứu quân nổi dậy tại Libyan và duy trì phong trào của họ? Hôm Thứ Sáu, tờ New York Times tường thuật là Obama chỉ đi đến quyết định can thiệp vào Libya đêm Thứ Hai, và cũng là chỉ để đáp ứng các nỗ lực của Ngoại Trưởng Hillary Clinton, mà chính bà ta cũng chỉ đổi ý muốn hành động như vậy vào cùng ngày hôm đó. “Trong vòng vài giờ,” Tờ Times viết, "Tổng Thống ra lệnh lập các kế hoạch quân sự, và Đô Đốc Mike Mullen, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, đã đích thân cầm tay đến Tòa Bạch Ốc ngày hôm sau. Vào ngày Thứ Năm, trong phiên họp một tiếng rưỡi, ông Obama đã quyết định cho phép các phi công Mỹ tham gia cùng với các lực lượng Âu Châu và Ả Rập trong các cuộc tấn công quân sự vào chính quyền Libya."

Trong nhiều năm qua, bà Clinton đã phải chịu đủ mọi lời qua tiếng lại từ tất cả mọi phía trong chính giới Hoa Kỳ. Thế nhưng tại Libya, nêu phe nổi dậy thành công, bà sẽ được xem đúng đắn là một nữ anh hùng ngoại giao đối với người dân Libya. Có lẽ ông Moussa, khi đang theo đuổi các tham vọng làm tổng thống tại Ai Cập mà bà Clinton cũng đã một thời từng có tại Hoa Kỳ, cũng nên học vài bài học từ bà về các quyết định khó khăn trong thời chiến.

Source: http://www.nationalpost.com/todays-pape ... story.html
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Liên quân đánh Libya có nguy cơ 'rắn mất đầu'

Chiến dịch không kích Libya của liên quân mới đang trong giai đoạn đầu, nhưng Mỹ đã tuyên bố thoái thác quyền chỉ huy, trong khi các nước chưa thể dàn xếp việc ai sẽ đứng ra tiếp quản cầm đầu chiến dịch đa quốc gia này.

Khi Anh và Pháp đi đầu trong chiến dịch không kích Libya với việc máy bay Pháp lĩnh ấn tiên phong khai hoả, nhiều người đã thắc mắc về chỉ huy thực của hành động can thiệp quân sự này. Trên thực tế ngay từ đầu Mỹ đã đóng vai trò chỉ huy của chiến dịch không kích có nhiệm vụ tiêu diệt hệ thống phòng không của quân đội đại tá Gadhafi.
Image
Một chiến đấu cơ F-16 của Đan Mạch tham gia không kích Libya. Ảnh: AFP
Chiến dịch của liên quân đang được điều hành bởi Sở chỉ huy châu Phi (Africom) thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ, đặt tại một căn cứ ở Stuttgart, Đức. Các sở chỉ huy như thế này thường có sẵn tất cả các phương tiện và hệ thống liên lạc để điều hành một chiến dịch, nên mọi hành động quân sự đều tính đến các cơ sở có sẵn như vậy để đặt đầu não.

Với một sứ mệnh đa quốc gia phức tạp như tại Libya thì rõ ràng ứng viên được chọn để chỉ huy sẽ là NATO hoặc những sở chỉ huy đã có sẵn của Mỹ như Centcom (điều hành cuộc tiến chiếm Iraq lật đổ Saddam Hussein năm 2003). Trong khi đó, Libya nằm ở Bắc Phi thuộc khu vực chịu trách nhiệm của Africom, nên sở chỉ huy này của Mỹ đã nhanh chóng được chọn.

Africom hiện nằm dưới quyền tướng trẻ Carter Ham mới nhậm chức được 3 tuần, là một trong 6 sở chỉ huy khu vực của quân đội Mỹ được lập ra năm 2007, một dấu hiệu về việc Washington ngày càng quan tâm đến vấn đề an ninh tại lục địa đen. Ban đầu Mỹ có ý định đặt Africom tại một nước châu Phi nhưng không thể thu xếp được kế hoạch này nên Đức được chọn thay thế.

Africom được coi là sở chỉ huy "ảo" đầu tiên của Mỹ vì không có binh sĩ hay cơ sở nào tại châu Phi nơi nó phụ trách. Công việc của sở chỉ huy có 1.500 người này chủ yếu là huấn luyện và hỗ trợ cho lực lượng vũ trang 53 nước châu Phi và phối hợp với Bộ Ngoại giao cùng các cơ quan khác của Mỹ thúc đẩy các chương trình kinh tế, chính trị và xã hội trong khu vực, như nâng cao nhận thức về HIV trong quân đội châu Phi.

Mỹ muốn 'buông'

Washington cũng nhiều lần nêu rõ việc họ chỉ huy giai đoạn đầu của chiến dịch không kích Libya là nhằm thực hiện nghị quyết của Hội đồng Bảo an, đập tan hệ thống phòng không của Gadhafi để mở đường cho việc thiết lập vùng cấm bay. Mỹ cũng nhấn mạnh mục tiêu tối thượng là bảo vệ dân thường khỏi các vụ tấn công của quân đội Gadhafi, không lấy lãnh đạo Libya làm mục tiêu tiêu diệt cũng như không hỗ trợ cho lực lượng chống đối tại nước này.

Tuy nhiên, chỉ hơn một ngày sau trận không kích Libya mở màn ngày 19/3, từ tướng tư lệnh Africom Carter Ham đến Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đều cho biết Mỹ sẽ sớm chuyển giao quyền chỉ huy chiến dịch cho các đối tác trong liên quân như Anh và Pháp.

Hôm qua đến lượt Tổng thống Barack Obama chính thức tuyên bố về quan điểm này. Ông khẳng định Washington sẽ trao lại vai trò cầm đầu tại Libya nhằm đảm bảo việc thực thi nghị quyết của Liên Hợp Quốc phải được chia sẻ giữa các nước. Theo đó ngay khi đạt được các mục tiêu ban đầu, sẽ có "một cuộc chuyển giao quyền chỉ huy việc thiết lập vùng cấm bay trong thời gian vài ngày tới".

"Chúng tôi sẽ là một trong số nhiều đối tác của chiến dịch", BBC dẫn lời Tổng thống Mỹ phát biểu khi đang ở thăm Chile. Động thái này một lần nữa cho thấy quan điểm muốn hạn chế sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến tranh Libya, trái ngược với cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq trước đây.

Tổng thống Mỹ cũng không úp mở khi nói đến lý do Washington không muốn tiếp tục dẫn dắt liên quân đánh Libya, bằng cách nhắc đến các sự kiện trong quá khứ, khi Mỹ thường "hành động đơn phương không có sự ủng hộ hoàn toàn của quốc tế" và chúng kết thúc với việc Mỹ phải "chịu toàn bộ gánh nặng chiến tranh". Lần này Mỹ không muốn Libya tiếp bước Afghanistan và Iraq thành "của nợ" đối với riêng họ.

Ai sẽ chỉ huy liên quân

Mỹ tuyên bố sẽ chuyển giao quyền chỉ huy chiến dịch cho một liên quân do Pháp, Anh hoặc NATO đứng đầu, nhưng trên thực tế mọi chuyện không đơn giản như vậy. Hiện vẫn còn bất đồng nội khối khi Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ và Đức phản đối NATO nắm quyền chỉ huy. Cuộc họp giữa đại sứ các nước thành viên của khối hôm qua kết thúc mà chưa đạt được sự đồng thuận trong vấn đề này.

Trong khi đó, Italy lại ủng hộ nhiệt tình việc NATO dẫn dắt chiến dịch với tuyên bố, nếu đều này không diễn ra thì họ có thể không cho phép các nước tiếp tục sử dụng những căn cứ quân sự của mình khi đánh Libya. Nước Anh cũng có quan điểm tương tự khi Thủ tướng David Cameron ủng hộ NATO "thử nghiệm vai trò chỉ huy" tại Libya.

Một số nước khác không ra mặt ủng hộ ai làm chỉ huy chiến dịch tại Libya, nhưng muốn có câu trả lời rõ ràng. Na Uy cho biết 6 chiếc máy bay chiến đấu của họ đóng góp vào cuộc không kích sẽ không tham chiến trực tiếp, chừng nào vẫn chưa biết chính xác ai sẽ nắm quyền chỉ huy lực lượng đa quốc gia.

Trong trường hợp Mỹ kiên quyết thoái thác quyền chỉ huy chiến dịch như hiện nay thì việc NATO trở thành sự lựa chọn tiếp theo là điều khó tránh khỏi. Nhưng bất đồng nội khối sẽ gây ra khó khăn đáng kể, vì NATO chỉ có thể chính thức nắm quyền dẫn dắt sau khi đã nhận được sự đồng thuận của toàn bộ 28 nước thành viên.

Ngoài ra còn có một trở ngại chính trị khác với NATO đến từ Liên đoàn Ảrập. Trước đó việc tổ chức này ủng hộ vùng cấm bay có vai trò quyết định để Liên Hợp Quốc phê chuẩn nghị quyết cho phép can thiệp quân sự vào Libya. Thậm chí sau đó một số nước Ảrập như Qatar và Các tiểu vương quốc Ảrập thống nhất còn đề nghị đóng góp máy bay chiến đấu vào liên quân.

Tuy nhiên, các chính phủ Ảrập được cho là không mấy dễ chịu nếu NATO nắm quyền chỉ huy chiến dịch. "Liên đoàn Ảrập không muốn chiến dịch này đặt hoàn toàn trong sự chịu trách nhiệm của NATO", Ngoại trưởng Pháp Alain Juppe nhấn mạnh thêm.

Một số nhà phân tích đang tính đến phương án thoả hiệp trong việc chọn ai chỉ huy chiến dịch. Giám đốc Học viện Royal United Services tại London là Michael Clark đề xuất: "Giao quyền chỉ huy cho một nước thành viên NATO khác ngoài Mỹ, nhưng vẫn sử dụng cấu trúc chỉ huy của NATO, điều này sẽ tạo ra tác động tốt cả về chính trị lẫn quân sự".

Trong khi đó, chiến dịch không kích Libya của liên quân đã bước sang ngày thứ tư liên tiếp, với việc hệ thống phòng không của quân đội Gadhafi được xác định đã bị đánh tê liệt. Qua đó vùng cấm bay tại quốc gia Bắc Phi này theo nghị quyết của Liên Hợp Quốc đã chính thức có hiệu lực thi hành. Nhưng việc ai sẽ nắm quyền chỉ huy giai đoạn tiếp theo của chiến dịch vẫn chưa có câu trả lời, dù Mỹ đã khẳng định muốn "buông".

Đình Nguyễn
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Cái khó trong vấn đề Libya

* Nguyên bản Anh ngữ: Fareed Zakaria/Time
Chuyển ngữ: Vann Phan/Người Việt


Nếu có một bài học nào cho chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trong 10 năm qua thì chắc chắn đó là bài học với nội dung nói rằng chuyện can thiệp quân sự nom có vẻ đơn giản nhưng trên thực tế lại là một công cuộc phức tạp với khả năng gây ra những hậu quả khôn lường. Vì thế, tôi vui mừng khi thấy chính quyền Obama đang nghiên cứu mọi chọn lựa dành cho Libya. Ðiều quan trọng hơn cả là phải tìm đạt một chính sách khôn ngoan trước khi cứ khởi sự nổ súng trước rồi mới dừng lại để hỏi vì sao và đi về đâu cuộc nổ súng này.

Image
Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton (phải) được Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy chào đón lúc bà đến Ðiện Elysee ở Paris
tham dự hội nghị thượng đỉnh về việc thiết lập vùng cấm bay tại Libya, ngày 19 Tháng Ba, 2011. (Hình: Franck Prevel/Getty Images)



Những kẻ lý luận rằng chúng ta không có lợi ích an ninh quốc gia nào tại Libya thì đều đúng trong ý nghĩa chật hẹp. Nhưng trường hợp Libya tiêu biểu cho một vấn đề rộng lớn hơn. Thế giới Ả Rập đang trải qua một cuộc thức tỉnh thật sự. Dân chúng trong vùng đã mất tin tưởng vào trật tự cũ. Cho dẫu rằng họ có thể lật đổ chính phủ, như họ đã làm tại Ai Cập và Tunisia, hoặc là họ chỉ đòi hỏi suông các cải cách thực sự, như tại Jordan và các tiểu vương quốc Vùng Vịnh, thì việc làm đó vẫn có nghĩa là họ đang đi tìm một căn cước chính trị mới.

Ðối với Hoa Kỳ, điều này đưa tới một cơ hội mạnh mẽ. Từ nhiều thập niên qua, các nước Ả Rập coi Hoa Thịnh Ðốn là thù địch bởi vì Mỹ là kẻ ủng hộ chính yếu cho trật tự cũ -tạo lập các liên minh kỳ lạ trong đó nền dân chủ hàng đầu của thế giới bị đặt lên cái ách của các lực lượng phản dân chủ trên hành tinh này. Ðiều này cũng tạo nên một vấn đề an ninh quốc gia thật sự: Sự trỗi dậy của chủ nghĩa khủng bố Hồi Giáo. Lập luận đầu tiên của tổ chức khủng bố quốc tế al Qaeda chống Hoa Kỳ là vì Hoa Kỳ ủng hộ các chế độ độc tài trong thế giới Ả Rập để họ đàn áp dân chúng của họ.

Giờ đây, Hoa Kỳ có cơ hội phá vỡ sức ì đã tạo nên lòng thù ghét và bạo động chống Mỹ.

Chính quyền Obama đã đi đúng hướng khi cùng đứng về phía những hy vọng và hoài bão của dân chúng Ả Rập, và họ đã kêu gọi các chính phủ trong vùng thực thi những cải cách nghiêm chỉnh. Nhưng ngay bây giờ tất cả các cố gắng đó đã bị gạt qua bên lề. Libya đang bốc cháy. Dân chúng của họ nổi dậy, và nhà độc tài bắn hạ đám dân chúng kia. Trừ phi có sự thay đổi, Muammar Gaddaf và các con trai của ông sẽ có đủ sức tái xác nhận quyền kiểm soát lên đất nước Libya giữa những vụ tàn sát tập thể thường dân của họ.

Ðây sẽ là một kết quả khủng khiếp. Tổng Thống Obama đã nói một cách rõ ràng, dứt khoát là ông muốn Gaddafi phải từ bỏ chức vụ và ra đi. Hoa Kỳ đang tích cực tìm cách loại bỏ ông Gaddafi. Ðể cho ông ta sống sót sẽ là điều sỉ nhục cho Hoa Thịnh Ðốn vào lúc này và tại một nơi mà tiếng nói của Mỹ vẫn còn ảnh hưởng lớn. Nó cũng gởi đi một tín hiệu tai hại cho các nhà cai trị khác trên thế giới -ở Syria, Algeria, Iran- rằng cựu Tổng Thống Ai Cập Mubarak đã sai lầm, và rằng cách thế để ngồi lại chức vụ là cứ tham gia vào cuộc tàn sát đại quy mô, dọa cho Hoa Kỳ sợ mà tránh xa và chờ đợi các biện pháp cấm vận và cô lập hóa mỏi mòn đi. Hoa Kỳ sẽ mất cơ hội để tham gia cùng các lực lượng đang lên trong thế giới Ả Rập.

Vì thế, Hoa Kỳ phải theo đuổi đến cùng các nỗ lực đẩy Gaddafi ra khỏi chức vụ, thúc giục mọi đòn bẩy ngoại giao và tìm kiếm tối đa sức ủng hộ đa phương. Mỹ phải yêu cầu phe đối lập tại Libya cung cấp một số đòi hỏi, để làm như Hoa Thịnh Ðốn đang đáp ứng với dân chúng chứ không phải áp đặt ý muốn của mình. Nếu dân chúng Libya yêu cầu viện trợ quân sự, Hoa Thịnh Ðốn phải tiến theo hướng đó. Tôi không tin rằng vùng cấm bay là một viên đạn màu nhiệm. Ðây là một chính sách được quảng bá nhiều nhằm đưa quân đội Mỹ trực tiếp và cuộc xung đột nhưng trên thực tế không làm xoay chuyển tình thế rõ ràng. Lợi điểm chính của Gaddafi không phải là trên không trung mà là trên mặt đất. Ông ta có xe tăng, xe bọc thép và hỏa lực hùng hậu. Câu hỏi căn bản có tính cách quân sự là làm sao chuyển đổi cán cân sức mạnh ra khỏi tay ông và về phía quân nổi dậy.

Trong năm thập niên qua, Hoa Kỳ đã gặt hái được các thành quả hỗn tạp khi họ can thiệp vào cuộc chiến tranh của các dân tộc khác, dù là trên không hay trên bộ. Nhưng Mỹ đã hành động khá tốt khi giúp một bên nào đó trong cuộc giao tranh. Võ trang cho phiến quân tại Afghanistan, Trung Mỹ và Phi Châu đã chứng tỏ tương đối là một chính sách ít tốn kém mà tỉ lệ thành công lại cao. Cung ứng vũ khí, thực phẩm, trợ giúp tiếp vận, tin tức tình báo và các khí cụ khác cho phe đối lập tại Libya sẽ gia tăng sức mạnh của họ và tạo cho họ khả năng tồn tại.

Một khi Gaddafi nhận thức được rằng ông đang phải đối phó với một dây chuyền tiếp vận vô tận vũ khí và đạn dược, chắc chắn ông sẽ điều chỉnh lại các quyết định của ông. Ðã có các báo cáo cho thấy ông Gaddafi từng tung ra ý kiến rằng ông sẽ rời bỏ chức vụ nếu ông được bảo đảm ra đi an toàn. Trong một giây phút yếu đuối, ông đã nài nỉ xin được đối xử như là Nữ Hoàng Anh hoặc Quốc Vương Thái Lan, một khuôn mặt tượng trưng mà không có thực quyền.

Một số người lo ngại rằng khi chúng ta võ trang cho phiến quân, mọi sự sẽ diễn ra y như kiểu tại Afghansitan, tại đó những kẻ chiến đấu cho tự do đã trở thành quân tuẫn đạo Hồi Giáo và quay trở lại đánh chúng ta. Nhưng đó không phải là điều thực sự đã xảy ra. Sau sự thất bại của Liên Xô, Hoa Kỳ đã bỏ rơi Afghanistan, để mở ngỏ nước này cho quân thánh chiến Hồi Giáo do quân đội Pakistan yểm trợ muốn làm gì thì làm. Sự tương đồng khá hơn là trường hợp Chechnya. Nơi đây, khi cuộc nội chiến tiếp tục, phiến quân trở nên cực đoan hơn và quân tuẫn đạo Hồi Giáo nhảy vào cuộc chiến đấu để rồi chẳng bao lâu trở thành các nhà lãnh đạo phong trào. Cách thế tốt nhất để ngăn chặn al Qaeda khỏi biến Libya thành một vùng sức mạnh của họ là phải có mục tiêu chiến đấu -là phải đánh bại Gaddafi. Vậy thì chúng ta hãy giúp phe đối lập tại Libya hoàn thành sứ mạng đó.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

Chuyến Đi Thăm Việt Nam Khiến Lại Phải Ghét Chủ Nghĩa Cộng Sản
Tác Giả: Dennis Prager / PBD dịch


Nhìn thấy Miền Bắc Cộng Sản khiến phải nổi giận trước những cái chết vô nghĩa và những lời dối trá lịch sử.

Thật khó mà kềm nổi các xúc động của tôi — nhất là không tránh được phải nổi giận — trong chuyến viếng thăm Viêt Nam của tôi hồi tuần trước. Tôi càng ngưỡng mộ người dân Việt bao nhiêu — thông minh, yêu đời, tự trọng, và chăm chỉ — thì tôi lại càng tức giận lũ Cộng Sản đã gây đau khổ quá nhiều cho người dân nước này (và dĩ nhiên cả người Mỹ chúng ta) trong nửa thế kỷ sau của thế kỷ 20.

Điều không may là lũ Cộng Sản vẫn cai trị nước này. Mà Việt Nam ngày nay đã đón nhận cách duy nhất, chủ nghĩa tư bản và thị trường tự do, để thoát khỏi cảnh nghèo đói, chứ khoan nói đến chuyện thịnh vượng. Vậy thì 2 triệu người Việt phải bỏ mạng trong Chiến Tranh Việt Nam để làm gì? Tôi muốn hỏi một trong những tên lãnh đạo Cộng Sản đang cai trị Việt Nam câu hỏi đó. Tôi muốn hỏi: “Này đồng chí, đồng chí đã bỏ hết tất cả những gì mà đảng Cộng Sản của đồng chí đã tranh đấu cho kỳ được: nào là cộng sản, nông nghiệp tập thể, hoạch định trung ương, và quân phiệt, ngoài những lý tưởng khác nữa. Vậy thì hãy nhìn lại xem Hồ Chí Minh yêu kính của đồng chí và đảng của đồng chí đã hy sinh hàng triệu đồng bào người Việt của đồng chí thì đúng ra là để được cái gì?”

Không có câu trả lời nào là câu trả lời hay. Chỉ có một lời nói dối và một lời nói thật, và lời nói thật thì thật là thê lương.
Lời nói dối chính là câu trả lời của Cộng Sản Việt Nam, cũng như hầu hết mọi lời nói dối của Cộng Sản, và đã được khối Thiên Tả không Cộng Sản trên Thế Giới lặp lại. Lời nói dối này đã (và vẫn tiếp tục đang) được dạy tại hầu hết các viện đại học ở phương Tây, và đã (và vẫn tiếp tục đang) được hầu hết mọi phương tiện truyền thông trên địa cầu truyền tải: Lời nói dối đó là Cộng Sản Việt Nam (tức là Bắc Việt), và Việt Cộng chỉ tranh đấu giành độc lập cho nước họ khỏi tay ngoại bang. Trước hết là tranh đấu chống Pháp, sau đó là Nhật, rồi đến Mỹ. Những người Mỹ sinh vào thời hậu chiến (sau thế chiến 2) sẽ nhớ là họ cứ được nhắc nhở mãi Hồ Chí Minh là George Washington của Việt Nam, và ông ta yêu mến Hiến Pháp Hoa Kỳ và đã dùng bản hiến pháp này làm nền tảng mô phỏng hiến pháp của ông ta, và chỉ muốn giành độc lập cho Việt Nam.

Sau đây mới là sự thật: Tất cả những tên độc tài Cộng Sản trên thế giới đều là những tên côn đồ ngông cuồng, thần thánh hóa cá nhân, tham quyền, khát máu. Hồ Chí Minh cũng thế. Hắn thủ tiêu các đối thủ, tra tấn biết bao nhiêu người Việt vô tội mà chỉ có trời mới biết chính xác được bao nhiêu người, và đe dọa hàng triệu người để họ phải cầm súng ra trận cho hắn — phải, cho hắn và cho đảng Cộng Sản Việt Nam đẫm máu, và được một tên sát nhân “vĩ đại” muôn năm khác yểm trợ: Mao Trạch Đông. Nhưng những kẻ ngu dốt đạo lý tại Hoa Kỳ lại cứ hô to “Ho, Ho, Ho Chi Minh” trong các cuộc biểu tình chống chiến tranh và gọi Hoa Kỳ là những kẻ giết người — “Hey, Hey, LBJ, hôm nay ngươi giết được bao nhiêu trẻ con?”

Đảng Cộng Sản Việt Nam không đánh Mỹ để giành độc lập cho Việt Nam. Mỹ không bao giờ muốn kiểm soát người dân Việt, và có một trường hợp tương tự để chứng minh điều đó: Chiến Tranh Triều Tiên. Mỹ có đánh Cộng Sản Triều Tiên để kiểm soát Triều Tiên hay không? Hay là 37,000 người Mỹ bỏ mạng tại Triều Tiên để người dân Triều Tiên được hưởng tự do? Ai đã (và vẫn là) người có tự do hơn — một người Triều Tiên sống dưới chế độ Cộng Sản Triều Tiên ở Bắc Triều Tiên hay một người Triều Tiên sống tại nơi mà Hoa Kỳ đã đánh bại Cộng Sản Triều Tiên?

Và ai đã là người có tự do hơn ở Việt Nam — những người sống ở miền Nam Việt Nam không Cộng Sản (dù là với tất cả các khuyết điểm của chế độ đó) hay những người sống dưới chế độ Cộng Sản của Ho, Ho, Ho Chi Minh ở Bắc Việt Nam?

Hoa Kỳ tranh đấu để giải phóng các nước, không phải để cai trọ họ. Sự thật là, chính đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải Hoa Kỳ, mới là những kẻ muốn kiểm soát người dân Việt. Nhưng lời dối trá lại được tuyên truyền lan rộng khắp nơi và hiệu nghiệm đến mức đa số mọi người trên thế giới — trừ những người Mỹ hậu thuẫn cho cuộc chiến đó và thuyền nhân người Việt và những người Việt khác khao khát tự do — cứ tin rằng Hoa Kỳ nhập trận là để lấy kẽm, tungsten, và để thành lập cả một “đế quốc Mỹ” giả tưởng trong khi Cộng Sản Việt Nam thì tranh đấu cho tự do của người Việt.

Tôi ghé đến “Bảo Tàng Viện Chứng Tích Chiến Tranh Việt Nam” — tòa nhà triển lãm các hình ảnh chống Mỹ cao ba tầng của đảng Cộng Sản. Chẳng có gì để tôi phải ngạc nhiên — tôi chẳng ngạc nhiên vì không có đến một chữ chỉ trích Cộng Sản Bắc Việt hoặc Việt Cộng, không có đến một chữ về việc đe dọa mạng sống của mọi người khắp nơi nếu họ không chiến đấu cho Cộng Sản, không có đến một chữ về những người liều mạng để vượt thoát bằng thuyền, thà chịu nguy hiểm bỏ mạng ngoài biển cả, vào bụng cá mập, hoặc bị hải tặc tra tấn hoặc hãm hiếp tập thể, còn hơn sống dưới chế độ Cộng Sản đã “giải phóng” Nam Việt Nam.

Điều cũng không có gì đáng ngạc nhiên là không thấy có khác biệt gì mấy giữa lịch sử Chiến Tranh Việt Nam do đảng Cộng Sản Việt Nam kể lại với lịch sử cuộc chiến đó mà hầu như sinh viên nào cũng sẽ được nghe kể lại từ hầu như bất cứ giáo sư nào tại bất cứ trường đại học nào ở Mỹ Châu, Âu Châu, Á Châu, hoặc Châu Mỹ La Tinh.

Tôi sẽ kết thúc bằng đề tài tôi đã bắt đầu— người Việt. Đã đến thăm Việt Nam thì không thể không mang ấn tượng tốt đẹp về người dân nước này. Tôi hy vọng tôi còn sống để thấy ngày người dân Việt Nam, được giải phóng khỏi những lời dối trá của Cộng Sản hiện vẫn lan tràn trong đời sống hàng ngày của họ, hiểu rằng mỗi mạng người Việt hy sinh trong cuộc chiến chống Mỹ đều bị phí phạm vô nghĩa, là thêm một mạng người nữa trong số 140 triệu sinh mạng bị đem ra hy sinh trước bệ thờ tên giả thần khát máu nhất trong lịch sử: Chủ Nghĩa Cộng Sản.

Dennis Prager hiện có một chương trình truyền thanh thính giả đàm thoại (Talk Show) hàng ngày trên đài KRLA tần số 870AM bao gồm vùng Los Angeles và Orange County. KRLA liện hợp với 140 đài khác trên toàn quốc Hoa Kỳ. Ông viết xã luận hàng tuần, là tác giả của bốn cuốn sách và là sáng lập viên của Đại Học Prager trên mạng (www.prageru.com).
Quí vị có thể liên lạc với Dennis Prager trên trang mạng www.dennisprager.com.

This is an e-mail from (Sai Gon Echo) sent by T.Tran (tranngoctham2008@yahoo.com). You may also find the following link interesting: http://saigonecho.com/main/lichsuvn/chi ... t-nam.html
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Quyết định lịch sử của LHQ:
Ðặt cuộc sống đồng loại ở tầm cao nhất_VOA

Bùi Tín
Image
Nghị quyết số 1973 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chiều ngày 17-3-2011 là một nghị quyết lịch sử.
Có thể nói trong lịch sử 69 năm của LHQ (1942 – 2011), Nghị quyết 1973 là một trong những nghị quyết có ý nghĩa chính trị và tư tưởng quan trọng nhất, cao quý nhất về tôn trọng quyền sống của đồng loại trên trái đất, về bảo vệ quyền tự do của một dân tộc đang bị nguy cơ tàn sát bởi một chính quyền cực kỳ hung bạo đang lên cơn điên.

Cái cao quý của Nghị quyết 1973 là nội dung của nó nhắm cấp cứu nhân dân một nước quyết nổi dậy chống ách độc tài cá nhân của Moammar Gadhafi, tên điên khùng ở Địa Trung Hải, và đang bị đàn áp điên cuồng, đang kêu cứu thế giới can thiệp gấp để tránh khỏi bị diệt chủng.

Cả 15 nước trong Hội đồng Bảo an, cả 192 nước thành viên của LHQ đều không có một lợi ích riêng tư nào khi bàn bạc về Nghị quyết này. Do đó động cơ để ra nghị quyết về tình hình Libya hoàn toàn là trong sáng, vô tư; đó là tình Người, là lòng Nhân ái giữa cộng đồng nhân loại, là thương Người như thể thương thân, người chung Quả đất hãy thương nhau cùng. Mục tiêu của Nghị quyết là bảo vệ cuộc sống vô giá của người dân tay không.

Một Nghị quyết vô tư, trong sáng, đẹp đẽ, cao thượng như thế là rất hiếm, cho nên rất đáng quý. Nghị quyết này sẽ có ý nghĩa dài lâu, vượt qua không gian và thời gian, làm nức lòng mọi người dân lương thiện trên trái đất, củng cố niềm tin cho mọi dân tộc chưa có tự do và quyền công dân thật sự, đang khao khát quyền sống dân chủ, tự do giữa thế giới văn minh hiện tại. Đây là một mũi đột phá có ý nghĩa lịch sử, mang lại tiếng thơm và vinh dự cho Hội đồng Bảo an và cho cả LHQ trong sứ mạng cao quý bảo vệ hòa bình và an ninh của toàn nhân loại.

Cần chỉ rõ vinh quang trước hết thuộc về 10 nước đã bỏ phiếu thuận cho bản dự thảo đã được Pháp và Anh khởi thảo, được Ngoại trưởng Alain Juppé Pháp đọc ttrước Hội đồng Bảo an. Đó là các nước: Pháp, Anh, Brazil, Colombia, Gabon, Bosnia Herzegovina, Lebanon, ibania, Nigeria, Bồ Đào Nha và Nam Phi.

Theo tin các nhà báo Pháp theo dõi chặt chẽ cuộc bỏ phiếu lịch sử, đến phút chót, Nigeria và Nam Phi định không tham gia bỏ phiếu, đại biểu Pháp và Lebanon đã ra sức thuyết phục có kết quả, do đó mà đạt vừa đủ 10 phiếu thuận. Thật đáng mừng.

Cũng nhờ đại biểu Lebanon đã thay mặt khối nước A-rập ra sức thuyết phục các đại biểu Nga và Trung Quốc để 2 nước này chỉ không tham gia bỏ phiếu mà không dùng quyền phủ quyết của nước thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, do đó mà cuộc bỏ phiếu tránh khỏi thất bại.

Thái độ của Đức cũng đáng ghi nhận. Bà Merkel tuy giữ lập trường không can thiệp, không bỏ phiếu, nhưng ngày 19-3 bà vẫn sang Paris để tỏ tình đoàn kết với các nước châu Âu, A-rập và châu Phi; bà cho biết Đức sẽ gửi ngay một số máy bay quan sát AWACS hiếm hoi sang Afghanistan, để các nước bạn có thể điều các máy bay AWACS ở đó sang hoạt động ở bầu trời Libya và quanh đó.

Ngay chiều 19-3, máy bay quân đội Pháp đã đánh trúng 4 xe tăng Libya đầu tiên từng bắn vào dân thường. Các máy bay Anh, Canada đang hành động tiếp. Quân đánh thuê của Libya đang hoang mang, có dấu hiệu tan rã từng mảng.

Nghị quyết 1973 ngày 17-3-2011 của Hội đồng Bảo an LHQ sẽ cổ vũ các dân tộc Bắc Phi và Trung Đông vùng dậy giành dân chủ và tự do theo đường lối hòa bình không bạo lực. Nhân dân Algerie đang rục rịch. Nhân dân Bahrain đã xuống đường đông đảo. Nhân dân Yemen đang xuống đường quyết liệt đòi tự do và công ăn việc làm. Nhà Vua Maroc đã cam kết dân chủ hóa vương quốc với một bản hiến pháp mới. Nhân dân các nước trên đây tin rằng thế giới đã chi viện, tiếp sức cho nhân dân Libya thì cũng sẽ ủng hộ chi viện các dân tộc khác.

Ở Việt Nam, các báo nhà nước được lệnh không đưa tin sâu đậm, không bình luận gì về Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an. Nhưng dấu diếm hay úp mở chỉ khêu gợi tò mò của bạn đọc, và không thiếu nguồn thông tin và bình luận phong phú trên mạng lưới thông tin dày đặc.

Sau Nghị quyết 1973, có thể thấy trên trái đất, quan hệ người với người đã đổi khác. Gần gụi, thân quen, tinh thần cứu giúp nhau trong hoạn nạn nồng ấm hơn trước. Cái lý sự cùn «không can thiệp vào nội bộ nước khác» đã bị bẻ gãy vụn từ lâu rồi. Người với người, nước này với nước khác bị ràng buộc chặt chẽ cả về luật pháp và đạo lý. Đã có cả một lập luận văn minh về «quyền can thiệp», «về bổn phận can thiệp», «về nghĩa vụ can thiệp». Đã có nhiều đạo luật văn minh nghiêm trị những công dân thấy đồng bào, đồng loại lâm nguy mà bỏ qua không ứng cứu. Làm ngơ khi đó là phạm tội, tội nặng.

Rất cần giới thiệu kỹ cho 14 người trong Bộ Chính trị của đảng CS Việt Nam về sự hình thành của Nghị quyết 1973 trên đây, cũng nên cho họ tập huấn sâu sắc về «quyền can thiệp», về «nghĩa vụ can thiệp». Và cũng nên mời người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hà Nội tham dự.VOA
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

VNCH, biết mới tiếc....
Đào Nương
Sau 36 năm Miền Nam rơi vào tay cộng sản, ngày nay không chỉ những người sinh sống tại Miền Nam Việt Nam trước đây, không công nhận lá cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản Việt Nam mà ngay cả những người trong nước cũng không tôn trọng lá cờ này mặc dù đó là lá cờ đang tung bay khắp lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Người Việt hải ngoại tôn trọng lá cờ vàng ba sọc đỏ, không chỉ thuần túy vì đó là lá cờ của Việt Nam Cộng Hoa, của chính phủ Miền Nam Việt Nam mà vì đó là một biểu tượng cho một quốc gia mà đáng lẽ dân tộc Việt Nam phải có, một chính phủ tự do dân chủ, một nền kinh tế thịnh vượng, một xã hội công bằng bác ái mà lá cờ đỏ và cái chính phủ Việt gian cộng sản ngày nay tại Hà Nội sau 36 năm làm chủ đất nước đã chứng minh những điều ngược lại.

Dĩ nhiên, lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ mà những người sinh sống tại Miền Bắc không quen mắt, không chấp nhận dù họ có thù ghét chế độc cộng sản mà họ đang sinh sống đến tận xương tủy. Người ta không thể chấp nhận một biểu tượng mà người ta không biết, không hiểu, không có những kỷ niệm đẹp, không hy sinh xương máu để bảo vệ nó. Nhất là khi chỉ một sớm, một chiều, những người Việt Nam không chấp nhận Cộng Sản đã mang theo lá cờ vàng trên đường lưu vong, dù phải trải qua những nơi địa ngục trần gian là những nhà tù của cộng sản, và đã phải để lại sau lưng quê hương yêu dấu, mảnh vườn nhỏ, mái nhà ấm cúng, con sông hiền hoà, sau khi đã được chứng kiến chủ nghĩa xã hội cộng sản tiêu biểu cho văn hoá, đạo đức, luân lý Việt Nam phân hoá dần dần trước mắt. Việt Nam Cộng Hoà mặc dù là một xã hội chưa hoàn bị nhưng đã hình thành được mọi cơ cấu của một xã hội văn minh, công bình và dân chủ. Người Việt sống tại Miền Bắc đói khổ, đã phải hy sinh mọi thứ cho nhu cầu chiến tranh theo sự tuyên truyền của cộng sản nên có thể nói hầu hết đều không biết gì về Việt Nam Cộng Hoà.

Việt Nam Cộng Hòa không phải là Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ.... mà là xã hội Miền Nam Việt Nam xây dựng trên căn bản giáo dục. Đó là những cô bé, cậu bé đến trường mỗi buổi sáng, mặc đồng phục với nét mặt tinh anh trong sáng của tuổi thơ. Đó là những cô nữ sinh áo trắng dễ thương và ngoan ngoãn, thuần hậu trong gia đình. Đó là những thầy, cô giáo sống và hãnh diện với thiên chức của một bậc thầy và được mọi người trong xã hội kính trọng. Trước 1975 Việt Nam Cộng Hoà đã đào tạo nhiều chuyên viên với tiêu chuẩn quốc tế, văn bằng của VNCH được chính phủ Hoa Kỳ, Pháp và nhiều quốc gia khác công nhận tương đương hoặc gần tương đương. Nghề thầy do đó không phải là một thứ... “chuột chạy cùng đường mới vào sư phạm” như ngày nay. Nhưng trong ký ức của tuổi trẻ miền Nam Việt Nam thì Việt Nam Cộng Hoà là những con đường ngợp bóng lá me, các nam sinh đi theo nữ sinh mỗi khi tan học nhưng không dám có một cử chỉ sàm sỡ, một lời nói vô lễ. Phải nhắc đến điều này vì những kỷ niệm đẹp của thời thiếu niên thường ghi sâu trong ký ức người ta suốt đời:

Lời ru nào níu được
Lúc những cánh me xanh
Bay mềm con lộ nhớ

Em sau khung cửa đạn soi
Sách ngăn tầm mắt đời ngoài lộ cao
Khi không lòng bỗng dạt dào
Sông tôi cạn nước nguồn nào bỗng đi

(Bài cho người trong vườn dược thảo, thơ Du Tử Lê)

Cuộc chiến càng thảm khốc thì lại có biết bao thanh niên theo tiếng gọi của núi sông lên đường nhập ngũ để bảo vệ một hậu phương bình yên trong đó có cha, có mẹ, có anh, có em, có cái gia đình nhỏ bé của mình. Đó là lý tưởng. Đó là những chàng trai anh hùng của thế hệ. Hàng trăm ngàn bài hát, bài thơ đã được viết ra trong giai đoạn này và cho đến nay vẫn còn là nguồn cảm hứng bất tận cho toàn nước Việt Nam thống nhất. Nó chính là “nhạc vàng” của văn hoá Việt:

Anh rót cho khéo nhé
Kẻo trúng nhằm nhà tôi
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý có người tôi thương. (thơ Yên Thao)

Hay

Năm năm rồi đi biệt
Đường xưa chưa lối về
Thương người em năm cũ
Thương goá phụ bên song (thơ Phạm Văn Bình)

Hình ảnh của những tân sinh viên sĩ quan trong quân phục đại lễ ngày tốt nghiệp ở Đà Lạt, ở Nha Trang, ở Thủ Đức là những hình anh tinh anh của dân tộc Việt, không phải là hình ảnh của “nợ máu với nhân dân” sau ngày 1975 đâu. Họ đã chọn binh nghiệp để bảo vệ từng tấc đất của quê hương đang bị dày xéo vì bom đạn gây ra bởi bọn lãnh tụ cộng sản vô thần. Bây giờ sau 36 năm nhìn lại, nhìn thế hệ thanh niên tan rã mệt mỏi, tương lai không lối thoát của Việt Nam thời cộng sản mà thương cho họ không biết là bao nhiêu. Thương tuổi thơ của những người không lý tưởng, chỉ nắm“cái đuôi của đảng cộng sản Việt Nam” mà nhìn ra thế giới bên ngoài và trở thành một thế hệ “vô cảm” đến rợn người. Đời sống chỉ còn là sự tranh đua để đạt được điạ vị trong đảng vì quyền đi với tiền. Bằng được mua bằng tiền chứ không cần học để có kiến thức. Trong một quốc gia nghèo đói vào hàng nhất thế giới nhưng có hàng nửa triệu “tiến sĩ ma” làm trò cười cho thế giới.

Xã hội Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 không phải là hoàn toàn trong sạch, không có bóng dáng của tham nhũng nhưng tham nhũng không phải là một chính sách để cai trị nước như đảng cộng sản Việt Nam ngày nay. Người dân Miền Nam sống hiền hoà trong tôn ti trật tự, trong đời sống hàng ngày, họ không phải đối đầu với cảnh sát, công an. Không phải bất cứ khi nào có việc liên hệ với chính quyền thì phải trả tiền cho công an từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương. Khi vào bệnh viện, không có việc đút lót tiền thì mới có được giường nằm. Trẻ con học giỏi thì được xếp hạng cao, được cho đi du học dù là con nhà nghèo. Sĩ quan đánh trận oai hùng, gan dạ thì được thăng thưởng. Nhà cháy thì được cứu hỏa chữa cháy chứ không phải trả tiền mới được chữa cháy.

Về chính trị, Việt Nam Cộng Hoà là một nước dân chủ tự do thực sự mặc dù cũng có những khuyết điểm. Trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam, chính phủ công nhận đối lập, cho biểu tình chống đối tự do nên từ những năm 1965 đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ, chống Thiệu Kỳ, chống tham nhũng thoải mái của sinh viên học sinh, của nhân dân. Có những ông giáo sư đại học nhận mình là thành phần thứ ba, theo chủ thuyết xã hội chứ không phải là chủ thuyết Mác Lê công khai ra báo, viết sách, viết luận án đại học lên án chính phủ, lên án chiến tranh, nhưng lại ve vãn cộng sản vì lý luận ấu trĩ rằng chính phủ Miền Nam bị Mỹ giựt dây, muốn chấm dứt chiến tranh thì phải nói chuyện với Hà Nội. Kinh tế thương mại tự do không bị chính phủ kiềm chế, về an ninh xã hội người dân được luật pháp bảo vệ, cảnh sát công an ức hiếp nhân dân bị truy tố ra trước pháp luật ngay.

Xã hội Miền Nam tự do tạo môi trường để tinh anh phát tiết trên mọi phương diện. Ngày nay, sau 36 năm nhìn lại, đảng cộng sản Việt Nam vẫn không biết rằng khi giam hãm, đầy đọa hàng triệu người sống ở Miền Nam có liên hệ với chính quyền đem nhốt vào ngục tù, họ đã hủy diệt đi hầu hết những nhân tài về mọi mặt của đất nước, những trí thức khoa bảng mà có thể vài trăm năm sau, Việt Nam chưa thể có lại. Miền Nam Việt Nam không chỉ “sản xuất”có hai “thiên tài” là Trịnh Công Sơn và Bùi Giáng đâu. Nhưng Việt cộng chỉ “chấp nhận’ có hai người này vì một anh thì trốn lính, sống hèn mọn trong sự che chở bao dung của chính phủ Miền Nam tôn trọng nghệ sĩ, còn người kia thì mang bệnh tâm thần. Cứ đếm lại số sách đã được xuất bản tại Miền Nam trong 20 năm từ 1954 đến 1975, từ khoa học đến chính trị, từ truyện ngắn, truyện dài, thơ văn đến âm nhạc rồi so sánh với 60 năm cộng sản CAI TRỊ Việt Nam thì sẽ hiểu.
Do đó, so với xã hội Việt Nam dưới thời Việt gian cộng sản thì xã hội Việt Nam Cộng Hoà là thiên đường, là con đường mà Việt Nam cần nhiều thập niên mới “back to the future” được. Những người Việt Nam sống tại Miền Nam trước 1975, biết rõ điều này. Lá cờ vàng và danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà vì sao vẫn được họ sùng kính dù Việt Nam Cộng Hoà đã mất đi phần đất cuối cùng đã 36 năm.

Vì không được sống, không được trưởng thành, không được hoạt động chính trị, văn hoá hay sống đời quân ngũ của xã hội Miền Nam nên không có gì ngạc nhiên khi những người trí thức Cộng Sản thù ghét bọn cầm quyền cộng sản vì đã hất cẳng họ, đã đẩy họ ra khỏi nước, rồi vì hậm hực nên suốt ngày ngồi viết những điều phản đối bọn cầm quyền cộng sản nhưng vẫn vinh danh bác Hồ và “kẻ cả” xem cộng đồng Người Việt hải ngoại là những kẻ bại trận, lá cờ vàng là vô nghĩa nên không muốn đoàn kết để lật đổ chế độ độc tài cộng sản mà họ là một thành phần cốt cán trước đây. Sống nơi xứ sở tự do này, chúng ta nên tôn trọng họ. Thái độ không muốn đứng chung trong hàng ngũ với Người Việt quốc gia cũng là một điều dễ hiểu: bối cảnh lịch sử do đảng cộng sản Việt Nam từ 60 năm qua đã chia dân tộc và đất nước Việt Nam ra thành nhiều khối: trí thức, công nhân, cộng sản, quốc gia, vv...vv... Điều khó hiểu là những người cán bộ đảng trung kiên bị thất sủng như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín, ông Vũ Thư Hiên thường viết bài dạy Người Việt quốc gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà chống cộng trong khi họ nhìn thấy trước mắt, cái đảng tạo ra họ, cho họ một vị thế, một tên tuổi, chính cái đảng đó đang làm tan rã đất nước và con người Việt Nam. Cái đảng bất nhân đó đang chia 85 triệu Người Việt ra làm hai khối: đại đa số quần chúng bình dân, không có phương tiện về an sinh xã hội, không có giáo dục, sống đời nô lệ phục vụ cho một thiểu số cán bộ tham ô mà ngôn ngữ Việt cộng gọi là “quan tham”. Cái đảng bất nhân đó đang đưa đất nước đến cái họa diệt vong trong tay Tàu Cộng.

Sau 1975, Người Việt Quốc Gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà vì thất thế nên chúng gọi là “ngụy”, đày ải quân dân cán chính trong rừng già để chết dần chết mòn, gia đình ly tán, con cái thất học, nên bằng mọi cách Người Việt Quốc Gia phải ra đi và bằng ý chí cương cường quật khởi cuả dân tộc Việt Nam, khối Người Việt Tự Do, những công dân cuả Việt Nam Cộng Hoà đã chọn thế giới làm lãnh thổ, phát triển tài lực và trí tuệ, ngăn chận được sự tuyên truyền và bành trướng của bọn Việt gian cộng sản khắp nơi. Có mà nằm mơ, người ta cũng không thể nghĩ rằng những công dân Việt Nam Cộng Hòa trong điều kiện sinh sống dù lưu vong, dù trong lao tù cộng sản đã giữ vững được ý chí chống cộâng đến thế. Thế hệ thứ hai của cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản, của những công dân của Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ được nguyên vẹn đạo đức và luân lý của Việt Nam. Trong mọi gia đình, những đứa trẻ không nói rành tiếng Việt hay nói tiếng Việt với giọng ngọng nghịu của người bản xứ nhưng đều là những đưá trẻ ngoan ngoãn vì chúng biết rằng cha mẹ chúng phải lưu vong, phải hy sinh nhiều để chúng được lớn lên ở một đất nước tự do, có cơ hội để phát triển trí tuệ, những điều chúng sẽ không có được nếu sống dưới một chế độ cộng sản, như Việt Nam cộng sản ngày nay, như Cuba, như Bắc Hàn, hay ngay cả Trung cộng...

Nhưng những người như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín đâu phải là ngụy. Các ông này là những “trí thức cộng sản” lớn lên trong lòng chế độ. Đáng lẽ các ông đừng hèn, hãy ở lại Việt Nam, hãy kêu gọi nổi dậy, hãy dẫn dắt toàn dân chống lại cái đảng cướp đã tạo ra các ông, hãy cho toàn dân biết ‘chúng” đã đi sai... đường cách mạng. “Con đường Bác đi” cuả các ông không lẽ lại là con đường... bi đát, đưa hàng trăm ngàn gái Việt ra hải ngoại lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan, làm mãi dâm mới có cơm ăn? “Con đường Bác đi” không lẽ lại là con đường dâng nước Việt cho Tàu? Các ông hãy can đãm đứng dưới ngọn cờ do các ông lựa chọn miễn là các ông bảo vệ được dân, được đất nước khỏi rơi vào tay giặc là được. Hãy hành động như các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã làm trước khi bị tước súng vì một thế cờ chính trị thế giới: họ đã đứng lên, đã anh dũng hy sinh, đã chống lại áp bức của chính quyền để bảo vệ dân, bảo vệ từng tấc đất Miền Nam để rồi đảng các ông đã lừa gạt dân Miền Bắc, đưa họ vào Nam, đem sinh mạng làm bia đỡ đạn để “giải phóng” một Miền Nam trù phú, một xã hội tôn ti trật tự, đạo đức văn hoá, luân lý cần được bảo tồn.

Mới đây có một bài viết của một người thuộïc thế hệ trẻ có tựa đề “Hãy để cho ViệtNam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” do diễn đàn danchimviẹt.comphổ biến với lời toà soạn như sau:

(Trích) LTS: Trong công cuộc đấu tranh dân chủ hóa VN hôm nay, tìm hiểu tư duy của lớp người trẻ không tham dự vào cuộc chiến quốc-cộng trước kia - mà sẽ là chủ lực cách mạng nay mai - là một điều cần thiết. ĐCV chọn đăng bài viết của tác giả Tiên Sa trên mạng xã hội facebook cũng nằm trong tinh thần đó. Mời bạn đọc cùng suy tư và chia sẻ. (hết trích)

Nội dung bài viết của người bạn trẻ này cũng như nội dung bài viết của ông cán bộ già thất sủng Nguyễn Minh Cần giống nhau ở chỗ: cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền cộng sản chưa xảy ra nhưng họ đã sợ lá cờ vàng và chế độ Việt Nam cộng hoà được tái lập ở Việt Nam... sau 36 năm bỏ chạy. Đào Nương tôi không tin đây là bài viết của một người viết trẻ ở hải ngoại. Thật ra, tháng 4, 1975, Người Việt Miền Nam đã quá mệt mỏi với một cuộc chiến không lối thoát giữa hai ý thức hệ tự do và cộng sản. Cái thành trì bảo vệ thế giới tự do đã không còn đứng vững sau khi tổng thống Hoa Kỳ Nixon qua gặp Mao Trạch Đông va øChu Ân Lai. Giữa một bên chiến đấu với viện trợ có điều kiện và một bên được viện trợ vô điều kiện của khối cộng sản, sự chiến thắng khó lòng ở về phía VNCH. Khi buông súng năm 1975, Người Việt Miền Nam đã muốn “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên”để hai miền cùng nhau xây nước và dựng nước chứ. Nhưng việc gì đã xãy ra sau đó, chắc Ban Biên Tập của Đàn Chim Việt, nơi phát tán những bài viết của ông Nguyễn Minh Cần và “người bạn trẻ” Tiên Sa chắc đã biết rõ hơn ai hết: hàng triệu quân dân cán chính Miền Nam bị đầy vào lò “cải tạo”, gia đình họ bị đẩy đi vùng kinh tế mới, cướp nhà, cướp cuả, con cái họ không được đến trường. Cho đến ngày nay, những người sinh sống tại Miền Nam vẫn còn là những công dân hạng hai trên đất nước mình. Vì nghĩ rằng “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên”nên hàng triệu người Miền Nam đã buông súng, xếp hàng đi tù cải tạo vì nghĩ rằng một giai đoạn chiến tranh tương tàn đã đi qua, đi trình diện một tháng rồi về sống đời công dân của một quốc gia độc lập và thống nhất. Chuyện gì đã xãy ra cho họ, cho những người sinh sống tại Miền Nam sau 1975?

Không lẽ ngày nay, trong công cuộc cứu nước, khi không còn ở vị thế cầm quyền thì những công dân của Việt Nam Cộng Hoà không thể là một tiếng nói đối lập với cái chính quyền vô nhân đang cai trị đất nước Việt Nam hay sao? Chúng ta sẽ đấu tranh để những người dân của đất nước Việt Nam dân chủ và tự do có quyền lựa chọn cho họ một đảng phái cầm quyền, họ sẽ biểu quyết về một lá cờ tượng trưng cho đất nước. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay có 3 triệu đảng viên hầu hết là bọn thất học, tham ô. Cứ nhìn vào xã hội Việt Nam ngày nay thì thấy rõ. Cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản ở nước ngoài có 3 triệu người nhưng đồng thời họ cũng là công dân của những quốc gia tự do và dân chủ. Việc họ phải sống lưu vong ở hải ngoại không phải là một việc trốn chạy hèn nhát mà là hậu quả tất nhiên cuả một cuộc chiến tương tàn có kẻ thua, người thắng. Khi họ tập hợp để nói lên tiếng nói của Người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản, một tiếng nói đối lập là một việc làm cần thiết khi Người Việt không thể làm được điều này ở quê hương. Tiếng nói đối lập này và lá cờ vàng trong giai đoạn này chắc hẳn là cần thiết cho công cuộc đấu tranh hơn là tiếng nói “lèm bèm” của những ông đảng viên thất sủng “chạy trốn” ra nước ngoài chứ?

Hy vọng bài viết này sẽ giải thích được phần nào tại sao Người Việt không cộng sản không thể “Để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên”được. Vì đó là tương lai của đất nước Việt Nam. Đừng bàn cãi trên những trang giấy hay trên những trang mạng điện tử. Thực tế chứng minh cho hành động. Trong 60 năm, đảng cộng sản Việt Nam đã tàn phá đất nước và con người Việt Nam đến tận cùng đáy vực, khi các ông “trí thức cộng sản” đủ hết hèn để la làng (nhưng cũng phải núp đàng sau cái xác còn thở của “đại tướng”) về cái hoạ mất nước mà cũng chỉ như tiếng rên trong lăng Ba Đình cuả cái xác thối rữa chưa chôn thì chúng ta có cần bàn cãi thêm về cờ vàng hay cờ đỏ không? Ngược lại, chỉ trong 36 năm, cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản đã “bành trướng” điạ bàn hoạt động khắp năm châu, những khu phố Việt Nam sầm uất, vững mạnh hơn các ChinaTown của người Tàu, mỗi năm cộng đồng Người Việt gửi về nuôi thân nhân hàng chục tỹ đô la. “Chạy trốn, thua trận” mà làm nên ... nghiệp lớn như vậy trong khi bọn cộng sản Việt Nam thì co cụm lại trong các toà sứ quán, ra đường thì mắt la, mày lét sợ người dân bắt gặp. Lãnh tụ ngoại giao như tên Nguyễn Xuân Việt ở Jordanie thì hành xử như bọn đầu gấu, du đãng khiến thế giới phải bàng hoàng và người nữ công nhân 20 tuổi bị xúc phạm đã được Hoa Kỳ cho nhập cảnh vì lý do chính trị thì đủ hiểu.

Dĩ nhiên, ở đâu, xã hội nào thì cũng gồm đủ con gà, con công, con phụng... đừng nhìn vào đàn gà của cộng đồng Việt Nam hải ngoại rồi kết luận tất cả chỉ là một đàn gà mà lầm to. Nhưng có một điều có thể coi như là chân lý “không thay đổi” dù bên này hay bên kia bờ Thái Bình Dương: đảng viên cộng sản thì anh nào cũng hèn, cứ phải dựa vào nhau để sống còn, để được làm “quan tham” bóc lột dân lành. Chúng đoàn kết theo đúng tôn chỉ “tranh đấu đến cùng với kẻ thù, chỉ hoà giãi với nội bộ”. Trong khi nếu vì tương lai dân tộc thì phải tìm cách liên kết mọi người với nhau chứ. Ra đến hải ngoại vẫn còn sợ lá cờ vàng nhưng tiền bạc của cờ vàng thì đưa lên mặt mà hít hà. Khinh bọn “thất trận, giặc ngụy” bỏ chạy, nhưng lại sợ chúng nó trở thành một thế chính trị đối lập trở về nhưng vẫn ra chính sách ve vãn Việt kiều. Chơi với cái đầu “ngụy” thì không dám chơi chỉ muốn chơi với các “khúc ruột thừa” của họ?

Việt Nam Cộng Hoà phải sống mãi trong lòng người Việt không cộng sản là vì thế! Vì không muốn nhận sự nhục nhã là công dân của một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, muốn bảo vệ ngư dân cũng phải xin phép “thằng” Tàu cộng!

Chúng ta hãy hành động. Tự cứu mình và cứu những người khác nữa. Vì tương lai, xin tất cả hãy tìm cách liên kết với nhau trong tình dân tộc.

Đào Nương
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Điều hành quốc gia theo kiểu dân chợ búa

Cái dân anh chị trùm đứng đường, bao bến bãi cũng có luật, cũng có “điều 4 hiến pháp”. Đôi khi chúng cũng áp dụng luật bất thành văn. Hễ không đồng ý, chúng dùng đàn em gọi là nhân dân tự phát để “nói chuyện phải quấy” với đối phương; nếu không xong thì ép cho té xe gây tai nạn rồi bỏ chạy. Chúng cũng chơi luật theo cảm tính, lôi bè kết cánh, mạnh thắng, yếu thua; tạo sự đồng thuận để đàn em xum xuê, tâng bốc, cùng ngồi chung bàn dễ chấm mút, có chuyện thì bao che, bênh vực nhau; thích thì để yên, ai đầu phục chúng thì xong chuyên; ngược lại thì trấn áp, cưỡng chế, đánh cho… bỏ mẹ đứa nào mà dám xía vào chuyện nội bộ của chúng…
*

Lời người xưa:

Lấy nhân nghĩa chinh phục nhân tâm là kẻ trí
Lấy sức mạnh cự lại sức mạnh là kẻ dũng
Mỗi cái điều dùng sức mạnh là kẻ bất tài

Cách nay ngót nghét chắc cũng hai mươi năm, nhà văn Nhật Tiến – được biết đến với cuốn Thềm Hoang, đoạt giải văn học hồi thập niên sáu mươi của thế kỷ trước – về VN “thăm dân”, rồi trở qua Mỹ mới “cho biết sự tình”. Ông tuyên bố rằng: tình trạng VN như nồi cám heo. Đến hôm nay, hai mươi năm sau, “nồi cám heo” đã “bốc mùi”, còn tệ hại hơn nồi cám heo của ông Nhật Tiến thời đó.

Bây giờ cánh cửa căn nhà VN đã he hé, Internet có sẵn, chỉ cần ngồi một chỗ, người ta dầu ở bất kỳ nơi đâu trên quả địa cầu này cũng đều biết mọi việc từ Bắc chí Nam.

Cũng chính vì mở cửa nên dân nghèo đói vùng nông thôn phân tán, lưu lạc khắp mọi nơi, mạnh ai nấy kéo về nơi có “ánh sáng” của thành phố; đi Tây, đi Mỹ, đi Tàu… , bằng đủ mọi ngành nghề, bằng đủ mọi kiểu cách tìm việc, tìm chỗ nương thân để kiếm sống. Cái gì chứ khi mà con người tập trung nơi phố thị đông đúc thì đương nhiên sinh ra lắm “tật” và cũng nhiều “tài”. Người nghèo đói nhìn kẻ có tiền, nhìn hào nhoáng vật chất nẩy sinh lòng tham, là một trong hàng trăm ngàn nguyên nhân để họ sinh tật. Đó là một trong nhiều trường hợp chính quyền không có khả năng điều hành trong quản lý quốc gia, phân bổ dân số, dẫn đến tệ nạn.

Nói về quản lý đất nước thì phải nhìn nhận rằng chính quyền VN không có một chút xíu gì khả năng cả. Chính vì không có khả năng nên mới có chuyện: cái gì không ổn thì cấm. Cấm không xong thì tịch thu, bắt nhốt gọi là cải tạo, giáo dục, học tập. Cải tạo xong, thả ra thì cũng vẫn chứng nào, tật nấy. Là một kinh nghiệm sống, nên họ có lắm mưu nhiều kế đối với chính quyền còn tinh vi hơn xưa. Rồi chính quyền cũng lập mưu chống trả. Sự tha hóa cứ thế mà leo thang.

Cái tư tưởng, lòng dạ của con người không thể ép, cấm. Muốn giáo dục con người là giáo dục bắt đấu từ cái tâm. Cái tâm bộc lộ ra bằng lời, tâm địa xấu thì sẽ dẫn đến hành động không tốt. Trước tiên phải trị cái tâm bằng ngôn luận, không ai đi trị bằng roi, bằng đòn thù. Tranh luận để đi tìm mục đích chung nằm giữa cái đúng và cái sai.

Xã hội sa đọa là thuộc về căn bệnh đạo đức nhiều năm biến thái tinh vi, bám trong cơ thể quốc gia ăn lan ra ngoài xã hội. Mà là căn bệnh quái ác của xã hội thì không thể điều trị bằng cách cắt khối u, giải phẫu là xong. Chữa bằng cách cấm, nhốt, đó chưa phải là biện pháp hữu hiệu và là nền tảng ổn định về lâu về dài. Như thế là đường lối, chủ trương quản lý quốc gia đó sao?! Rồi cưỡng chế. Mà hễ nghe đến hai chữ cưỡng chế (có người còn gọi là ép buộc) thì dầu đúng hay sai người ta cũng coi đó là hành động của những kẻ côn đồ, dân chợ búa. Không thể biện minh cho hành động này.

Đã không có khả năng điều hành quốc gia mà lại còn cấm kiến nghị tập thể thì chắc ai cũng nhận ra là kẻ ngu dốt đang ngồi trên đầu dân tộc. Đồng thời, nếu người ta góp ý thì bảo thiếu tinh thần xây dựng. Người lãnh đạo mà đã ăn nói theo kiểu này thì ai cũng biết ngay trình độ nhận thức của họ, là người ngu hay khôn? Thử hỏi: nếu lãnh đạo để thất để thoát hơn bốn tỷ Mỹ kim của dân, dầu người dân có hạch sách, chửi cha lãnh đạo đi nữa thì đó cũng là tinh thần xây dựng quốc gia đấy. Mà như thế nào mới gọi là xây dựng nhỉ!? Cái thằng ăn bẩn, phá của quốc gia trực tiếp với một số tiền khổng lồ như thế, nếu tìm ra được bằng chứng tham ô, đương nhiên theo luật VN là phải đem nó tử hình; còn cái thằng chi tiền cho cái đám tham ô thì kiểm điểm, phê bình, xây dựng, nhận trách nhiệm rồi huề tiền thôi sao!? Ai tin là thằng chi tiền trong sạch? Bây giờ còn giao cho thanh tra – mấy con gà nhà- “làm rõ”, chỉ để làm kiểng. Quốc hội tới mấy trăm thằng, biết thằng nào ngoan, thằng nào chứng mà giao! Điều hành đất nước như thế, một đứa con nít ma lanh cũng làm được. Một thằng tự kiểm; Một thằng bị khóa sổ, giơ cao đánh khẽ rồi mọi chuyện sẽ êm ru thôi! Khỏi cần truy cứu trách nhiệm thêm chi nữa. Làm chi cho lớn chuyện, sợ cái bọn lợi dụng quyền tự do dân chủ sẽ bới móc, đánh phá lòi ra tùm lum thì không đẹp mặt chút nào. Đó cũng là một nguyên nhân bao che mờ ám làm cho xã hội đi đến tha hoá.

Cái dân anh chị trùm đứng đường, bao bến bãi cũng có luật, cũng có “điều 4 hiến pháp”. Đôi khi chúng cũng áp dụng luật bất thành văn. Hễ không đồng ý, chúng dùng đàn em gọi là nhân dân tự phát để “nói chuyện phải quấy” với đối phương; nếu không xong thì ép cho té xe gây tai nạn rồi bỏ chạy. Chúng cũng chơi luật theo cảm tính, lôi bè kết cánh, mạnh thắng, yếu thua; tạo sự đồng thuận để đàn em xum xuê, tâng bốc, cùng ngồi chung bàn dễ chấm mút, có chuyện thì bao che, bênh vực nhau; thích thì để yên, ai đầu phục chúng thì xong chuyên; ngược lại thì trấn áp, cưỡng chế, đánh cho… bỏ mẹ đứa nào mà dám xía vào chuyện nội bộ của chúng.

Vì trong khuôn khổ bài viết, đáng lý ra còn quá nhiều chuyện liên quan đến pháp lý, dài dòng, báo chí lề trái cũng đã đề cập không thiếu. Càng nhắc tới, thì càng làm nóng mặt thêm! Tôi chỉ muốn viết, đem so sánh hai trường hợp, giữa lãnh đạo quốc gia VN với dân chợ búa, có tương đương nhau không?

Nguyễn Dư
(danlambao)

http://danlambao1.wordpress.com/2011/03 ... BB%A3-bua/
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tại sao nước Nhật sẽ phục hồi

Trần Mạnh Trác
Theo cơ quan GSI (sở địa dư của Nhật bản) thì trận động đất 8.9 độ richter và cơn sóng thần dường như đã di dời các hòn đảo chính của Nhật tới 8 feet (2.4 mét) và chuyển trục trái đất lệch đi gần 9 inches (10cm).

Sau khi chứng kiến sự tàn phá chung quanh những hải cảng đã một thời rất nhộn nhịp, người ta phải đồng ý với lời của vị thủ tướng Nhật Naoto Kan than rằng nước ông đang phải chịu một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất sau Thế chiến II.

Cảnh tàn phá gợi lại hình ảnh của thành phố Hiroshima sau trận đánh bom nguyên tử năm 1945, mới hai tuần trước, còn là những đường phố, nhà ở, cửa hàng, nhà máy, nhà kho, hôm nay là một dải đất bùn kéo dài tới tận chân trời, đầy nghẹt những di tích lạnh tanh của nhiều cuộc sống đã bị bức tường nước cuốn trôi ngày 11 Tháng 3.

Xe cộ lật nhào bẹp dúm. Những cột đèn bê tông gẫy gục, uốn cong như ống hút. Một vài ngôi nhà còn nguyên vẹn nhưng bị bật ra khỏi nền móng, nằm nghiêng ngả đây đó như những tên say rượu.

Những hình ảnh giống ngày tận thế đó xuất hiện ở mỗi thị trấn và làng mạc dọc theo vùng duyên hải đông bắc. Hơn thế nữa và mỉa mai thay, quốc gia duy nhất đã hứng chịu những tác hại của vũ khí nguyên tử, nay lại phải đương đầu với một thảm họa hạt nhân mới khi nhà máy điện Fukushima Daiichi chiến đấu tận lực để ổn định các lò phản ứng bị hư hại.

Nhật Bản, một nước đã vật lộn hai chục năm với tình trạng trì trệ về chính trị và kinh tế, đôi khi dường như đã bị lay động vì nghi ngờ bản thân, và đang còn phải đối phó với gánh nặng của một dân số già đi nhanh chóng, thì với số tử vong lớn vì thiên tai, với chi phí tài chính nặng nề và những tác dụng hạt nhân nguy hại, tình trạng bất ổn sâu rộng sẽ có nguy cơ còn kéo dài thêm?

Nước Nhật chắc chắn sẽ phải mất nhiều năm để phục hồi. Nhưng không đâu người ta chứng kiến một dân tộc có sức bật mạnh mẽ và gắn bó với nhau như ở Nhật Bản.

Peter Ford của tờ The Christian Science Monitor cho biết nhiều nhà quan sát trong và ngoài nước nghĩ rằng trong thực tế những đòi hỏi cho việc phục hồi từ cuộc khủng hoảng này có thể sẽ cung cấp cho đất nước này một tâm trạng mới về mục đích: Cái may có thể sinh ra từ cái rủi theo câu châm ngôn của Nhật Bản.

"Thảm họa này có thể đòan kết dân Nhật trong việc phục hồi và tái thiết", theo ông Koichi Nakano, giáo sư chính trị tại Đại học Sophia ở Tokyo. "Những thách thức để đưa mọi thứ trở lại như xưa sẽ đoàn kết chúng tôi, và chúng tôi đã từng biết phải làm thế nào."

Nhật Bản đã từng làm điều đó trên một quy mô rộng lớn hơn nhiều. Cuối Thế chiến II, 60 thành phố đã bị san bằng, nửa triệu người chết, 10 triệu người vô gia cư, và một phần tư tài sản quốc gia bị tiêu huỷ.

Trong vòng chưa đầy bốn chục năm sau, nước này đã chuyển đổi thành một nền kinh tế lớn thứ hai trên trái đất. "Họ hợp sức và xây dựng lại một cách ngoạn mục," theo lời ông John Dower, tác giả của cuốn sách kể lại cuộc phục hồi đó có tên là "Embracing Defeat" "Ôm hôn thất bại", "Tôi nghĩ họ sẽ hợp quần một lần nữa và sẽ phục hồi một cách đáng kinh ngạc."

Sâu thẳm trong tâm khảm của người Nhật Bản là tinh thần "gaman" ("Kiên trì".) Là trọng tâm của tinh thần quốc gia, gaman có nghĩa là "Chịu đựng, nhận lấy bất cứ điều gì đến và hãy cố gắng", ông Roland Kelts nói, ông là người đã dựa vào di sản hỗn hợp Nhật và Mỹ để viết cuốn "Japanamerica." "Họ thừa hưởng những DNA văn hóa qua nhiều thế kỷ phải đương đầu với hòan cảnh bị vây bủa."

Đó là một tinh thần mà người dân Nhật đã buộc phải rút ra từ một quá khứ thường xuyên đối diện với thảm họa tự nhiên và do con người gây ra. Từ các trận động đất lớn ở Tokyo năm 1923, qua chiến tranh thế giới II đến trận động đất Kobe năm 1995, "những trường hợp trên dù có khác biệt, nhưng vẫn có một hằng số chung," theo lời ông Merry White, một nhà nhân chủng học chuyên về Nhật Bản tại Đại học Boston, "đó là tương đối có rất nhiều sinh động và rất ít tinh thần buông xuôi."

Makoto Mizenoya là một trong những người không buông xuôi. Đứng bên ngoài một ngôi trường dùng làm chỗ tạm cư cho tất cả các cư dân của thành phố Narahama, gần nhà máy hạt nhân Fukushima, ông gạt bỏ những lo ngại rằng ông có thể đã bị ô nhiễm phóng xạ.

"Tôi không thực sự nghĩ về điều đó," ông vừa nói vừa lo giúp cho những ông bà lớn tuổi đang tụm năm tụm ba trên một sàn lớp học. "Tôi cảm thấy có lỗi mỗi khi nghe những lời chúc may mắn từ bạn bè. Tôi chỉ muốn tiếp tục làm tốt công việc của tôi bây giờ."

Tuy nhiên quy mô của thảm họa, và một trường hợp khẩn cấp liên quan đến hạt nhân, "có thể là bài kiểm tra cuối cùng của tinh thần Nhật Bản", ông Kelts cảnh báo.

Số tử vong do động đất và sóng thần đã tăng cao hơn 10.000. Gần nửa triệu người mất nhà. 850.000 nhà mất điện, và 1,5 triệu gia đình không có nước. Trong vùng động đất, thực phẩm thiếu hụt và xăng nhớt cạn kiệt.

Đối diện với những khó khăn, các nạn nhân đã chứng tỏ một tinh thần khắc kỷ đáng nể. Dù cho các nỗ lực cứu trợ đã không trơn tru, rầy rà vì thiếu thông tin và vận tải, nhưng các nạn nhân không phàn nàn. Họ kiên nhẫn chờ đợi trong trật tự để nhận nước, thức ăn, khí đốt, chăn mền, hoặc bất cứ những gì được cấp phát.

Tại Sendai, một thành phố mà một nửa dân số không có điện nước, một hàng người đứng đợi ngòai trời tuyết bên ngoài một cửa hàng mở cửa lần đầu sau trận động đất. "Tôi chờ để mua thức ăn và nước," là lời của Yuta Okada, một thanh niên trẻ vừa đứng vào cuối hàng. "Tôi lo lắng vì các nhân viên nói rằng họ không có đủ cho mọi người. Tất cả tôi có thể làm là nhẫn nại chờ xem."

Ở phố Fukushima, cách nhà máy điện Fukushima khoảng 25km, ông Hà Minh Thành, một cảnh sát Nhật gốc Việt, đã kể lại chuyện một em bé 9 tuổi cô đơn đứng ở cuối hàng phát thực phẩm. Động lòng thương ông đã khóac cho em tấm áo và nhường cho em khẩu phần của mình. Trước con mắt ngạc nhiên của ông, em khom mình cám ơn rồi mang khẩu phần đó đặt vào thùng thực phẩm chung và quay lại chỗ cuối hàng tiếp tục chờ đợi. Em nói với ông: "Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng".

Các ký giả ngọai quốc từng săn tin các thảm họa trên thế giới đã ngạc nhiên khi không thấy có tin tức về cướp bóc, dù cho các cửa hàng không có nhân viên bảo vệ. Trong một xã hội mà quyền lợi tập thể được coi trọng hơn những ước muốn cá nhân, theo lời giáo sư Nakano, "thì có một tinh thần tôn trọng trật tự, sẵn lòng tuân thủ các quy định và không gây ra khó khăn cho người khác. Thật là một tinh thần rất hữu ích trong những tình huống như thế này.."

Nhiệm vụ xây dựng lại những thị trấn bị tàn phá sẽ khó khăn, và có thể chi phí sẽ lên đến 185 tỷ đô la theo ước tính của hãng Barclays Capital. Ngay cả với một nước Nhật Bản có quyết tâm và có nhiều gắn bó xã hội, vẫn có thể cần tới nhiều năm.

Những thảm họa ở các nơi khác như New Orleans chẳng hạn, sau cơn bão Katrina 5 năm rưỡi mà vẫn còn nhiều khu phố chưa xây dựng lại được. Mười năm sau cơn bão Andrew ở miền Đông Nam Hoa Kỳ năm 1992, công việc phục hồi vẫn còn chưa kết thúc.

Tuy nhiên, không thể áp dụng những đo lường từ những thảm họa thiên nhiên ở nơi khác cho Nhật Bản, vì đây là nơi đầu tiên phải đối diện với ba cuộc khủng hoảng cùng một lúc: sóng thần, động đất, và nguy cơ nguyên tử. "Chúng ta chưa bao giờ có một trường hợp như thế này," theo lời ông David Neal, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu thiên tai và những sự cố khắc nghiệt tại Oklahoma State University.

Duy chỉ một việc làm sạch cơ sở hạt nhân Fukushima sẽ là một nhiệm vụ ghê gớm. Ngay cả khi tình hình ổn định, ít nhất là có ba trong số sáu lò phản ứng tại cơ sở đã bị hư. Nếu người Nhật quyết định dỡ bỏ các đơn vị hư hỏng, thì dựa trên bài học của Three Mile Island, Pennsylvania, có thể sẽ cần đến hai năm. "Ngừng hoạt động là một công việc rất, rất lớn", theo ông Charles Forsberg, một chuyên gia hạt nhân tại MIT (Học viện Công nghệ Massachusetts) ở Cambridge, Mass "Nó giống như là xây dựng một lò phản ứng mới vậy."

Người Nhật cũng sẽ phải đối diện với sự gián đoạn kinh tế. Tất cả các hãng xe lớn đã tạm thời đóng cửa, một phần vì thiếu bộ phận từ các nhà máy bị hư hỏng ở miền bắc. Nhiều nhà máy điện tử trong khu vực động đất cũng đình chỉ hoạt động. Những hải cảng miền đông bắc Nhật Bản đều bị thiệt hại, và nhiều công ty nước ngoài và trong nước đã ngưng việc kinh doanh vì công nhân bỏ chạy trước nguy cơ phóng xạ.

Tuy nhiên, nhiều kinh tế gia hy vọng rằng những thiệt hại có ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung sẽ chỉ là tối thiểu. "Tác động trực tiếp của thiên tai trên nền kinh tế là rất hạn chế", theo ông Martin Schulz, một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu Fujitsu tại Tokyo. Đổ đồng, Nhật mất đi một nhà máy thép, hai nhà máy lọc dầu, và một số nhà máy khác bị suy giảm. Nhưng khu vực động đất và sóng thần chỉ có ảnh hưởng tới 6 % của nền kinh tế. Các vành đai công nghiệp lớn ở miền trung và miền nam Nhật Bản vẫn còn nguyên vẹn, và mặc dù nhiều nhà máy vẫn còn đóng cửa, họ có thể mở lại ngay khi giao thông được phục hồi.

Trong trận động đất Kobe trước đây, cũng có nhiều thiệt hại như lần này nhưng "đã không gây ra thậm chí là một đốm sáng trên các số liệu thống kê kinh tế," ông Schulz nhớ lại, và ông ta nghĩ sự suy giảm tốc độ tăng trưởng sẽ rất nhỏ nhoi (marginal drop,) cho năm nay, sẽ vẫn nằm ở số 1.5% như những dự đoán trước thiên tai. Năm tới nhiều đầu tư lớn để xây dựng lại nhà cửa, cầu cống, đường xá, và đường sắt sẽ có thể thúc đẩy tăng trưởng GDP lên chút ít.

Trên mặt trận chính trị, chính phủ cách đây vài tuần đã có nguy cơ xụp đổ, nay được hưởng lợi nhờ nhửng tham gia đi kèm với tình trạng khẩn cấp quốc gia. Và dù cho có nhiều chỉ trích mạnh mẽ xung quanh vấn đề hạt nhân và sự chậm trễ đưa hàng cứu trợ lên miền bắc, cuộc khủng hoảng quốc gia này đã cung cấp một cơ hội cho các nhà lãnh đạo để tập hợp quốc gia, và cải thiện cơ may của chính mình, dĩ nhiên là nếu chính phủ không thực hành đúng đắn thì rủi ro sẽ tăng lên. "Nhờ cuộc khủng hoảng, các đảng đối lập không thể chỉ trích chính phủ, và trong thời gian này thì điều đó đã giải cứu chính phủ", Eisuke Sakakibara, cựu bộ trưởng tài chính, cho biết.

Chính phủ đã phản ứng hợp lý, theo ý kiến của nhiều chuyên gia chính trị, và những công dân bình thường đang bận tâm với những vấn đề cá nhân không còn quan tâm nhiều đến chính trị. Nhắc lại những năm trước đây dân chúng đã không hài lòng cách sâu sắc với nhiều chính phủ kế tiếp nhau: Nhật Bản đã có 5 thủ tướng trong 5 năm. Đã có chút hy vọng khi cử tri bỏ phiếu lọai Đảng Dân chủ Tự Do trong năm 2009 (sau khi đảng này cầm quyền một nửa thế kỷ) nhưng rồi hy vọng cũng đã bị tiêu tan khi tỷ số được lòng dân của ông Kan đã giảm xuống dưới 20 phần trăm trước trận động đất ",nhưng sự việc này (Thiên tai) có thể thực sự khởi động lại một cái gì đó," ông Schulz nói.

Chuyển động mới trên chính trường có thể bắt đầu, ông nói, nếu cử tri đổ lỗi cho Công ty Điện lực Tokyo vì những tai nạn hạt nhân. Là một cơ chế quan liêu cổ điển bí mật và là sở hữu chủ nhà máy nguyên tử Fukushima, sự giận dữ của công chúng đòi hỏi sự minh bạch trong cơ chế "sẽ gây ra những thay đổi lớn," ông Schulz tin tưởng.

Một cách sâu xa hơn, một số nhà quan sát nhìn thấy một cơ hội ở chỗ các nỗ lực phục hồi sẽ khích lệ một xã hội dường như bị sa lầy trong sự nghi ngờ bản thân sau khi đã đạt được nhiều điều kỳ diệu sau chiến tranh. Một mặt, nó có thể làm sống lại hình ảnh truyền thống của người dân Nhật, tóm gọn trong câu tâm niệm của quốc gia, đó là đất nước là một quần đảo nhỏ với rất ít tài nguyên mà luôn phải đối phó với các lực lượng thù địch từ bên ngoài.

Đồng thời, người dân đã rất phấn khởi với các làn sóng cảm thông đến từ bên ngòai thế giới. Không giống như hồi năm 1995, khi chính quyền từ chối sự trợ giúp của các nước ngoài sau trận động đất Kobe. Tokyo ngày nay đang đón tiếp viện trợ, yêu cầu quân đội Mỹ và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế phụ giúp.

Phản ứng của quốc tế "đã nhắc nhở chúng tôi rằng chúng tôi vẫn được coi là quan trọng và rằng mọi người vẫn quan tâm đến chúng tôi ngay cả khi chính người Nhật chúng tôi có cảm giác không an toàn về vị thế quốc tế của chúng tôi", ông Nakano nói.

Đồng tình với ông, ông Michael Green, một nhà phân tích châu Á tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ở Washington thêm rằng những thảm họa "đang xây dựng lại sự tự tin trên những khía cạnh văn hóa và xã hội cốt lõi của Nhật Bản."

Nhật Bản có thể đã mất đi sự năng động từng là sức bật cho sự tăng trưởng bất thường trong hậu bán thế kỷ 20, nhưng nước Nhật là một quốc gia còn đủ năng lực để phục hồi từ các thảm họa vừa qua miễn là một thảm họa hạt nhân mới có thể tránh khỏi. Nhật là một trong những nước giàu nhất thế giới, với một lực lượng lao động được đào tạo tốt nhất và tài năng nhất và có một cơ chế quốc gia vững mạnh. Nhật Bản rõ ràng không phải là Haiti. Hậu thuẫn cho những sức mạnh đó là cảm xúc hiện tại của những người dân đã mất tất cả mọi thứ và không có cách nào khác hơn là "bắt đầu trong một đất nước tan vỡ", như Giáo sư Dower mô tả nhiệm vụ của quốc gia Nhật vào năm 1945.

Trong một làng nhỏ ven biển của vùng Yamamoto, người quản lý của một cửa hàng nông nghiệp, ông Toshiyo Shishido, đang điều khiển các nhân viên dọn dẹp đống gạch vụn, cây cối, và bùn lầy che lấp lối đi và cửa hàng. Ông lo lắng rằng có thể phải mất hàng tháng trước khi ông có thể kinh doanh trở lại. "Nhưng chúng tôi phải xây dựng lại," ông nói. "Đây là nhiệm vụ của những người còn sống sót."
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Thế giới lo lắng cùng Nhật Bản


Ngô Nhân Dụng

Thế giới xúc động trước ba thảm kịch đến với người Nhật: Động đất, sóng thần tsunami, rồi phóng xạ nguyên tử đang đe dọa. Nhưng không ai nói mình thương hại dân Nhật; như trước đây nghe tin động đất ở Haiti hoặc bão lụt ở Miến Điện. Nhật Bản là một dân tộc được kính trọng, không chờ đợi được ai mở lòng thương hại. Họ sẽ cắn răng nhẫn nhục, đứng dậy ngay để xây dựng lại giữa cảnh tàn phá. Trong tinh thần kỷ luật, đức tự tin, chia sẻ, đùm bọc nhau, và trên dưới một lòng.

Cũng giống như năm 1945, người Nhật đã cho cả thế giới thấy câu “không lấy thành bại mà luận anh hùng” rất đúng. Chưa đầy dăm bẩy năm sau khi thua trận, vua và dân nước Nhật đã nghiêm chỉnh thi hành bản hiến pháp dân chủ hóa, xó bỏ chế độ quân chủ cổ truyền. Xe Honda bắt đầu được xuất cảng. Akira Kurosawa lại làm phim khiến cả thế giới kinh ngạc; Kawabata vẫn ngồi viết những tiểu thuyết rồi được tặng Giải Nobel.

Bây giờ, Nhật Bản lo sẽ gặp rất nhiều khó khăn kinh tế trong vài năm sắp tới. Nhưng cả thế giới cũng lo ngại. Vì khi guồng máy cường quốc kinh tế thứ ba này tạm ngưng chạy một thời gian thì kinh tế toàn cầu sẽ bị ngưng trệ. Trong bài này chúng tôi sẽ chú ý đến những mối lo lắng đó.

Mối lo biểu lộ qua thị trường chứng khoán: Chỉ số Nikkei của thị trường Tokyo ngày Thứ Hai mở ra lần đầu sau trận động đất đã mất hơn 6%, ngày hôm sau lại tụt giảm hơn 10% khi nghe tin về phóng xạ nguyên tử. Trong hai ngày thị trường Tokyo đã xóa đi khoảng 620 tỷ đô la Mỹ tổng cộng giá trị cổ phần của các công ty, lớn hơn 6 lần Tổng sản lượng nội địa của Việt Nam trong năm 2010.

Ảnh hưởng trên thế giới thấy rõ ràng khi giá dầu lửa sụt giảm. Giá xuống 97 đô la một thùng, mà tuần trước có lúc đã lên tới 105 đô la Mỹ. Cùng với dầu lửa, các kim loại như vàng, bạc, đồng đều xuống giá vì mọi người chờ đợi các xí nghiệp sẽ bớt hoạt động và người ta bớt tiêu thụ ở khắp nơi. Các thị trường Thượng Hải ở Trung Quốc, Hang Seng ở Hồng Kông, DAX ở Đức đều xuống từ một rưỡi đến 3%. Tại Mỹ, Chỉ số Dow Jones mất 51 điểm trong ngày Thứ Hai, sáng Thứ Ba khi mới mở cửa đã sụt 300 điểm rồi lên lại, sau cùng chỉ mất 138 điểm; trong 2 ngày đã giảm hơn 1%. Chỉ có thị trường Bolsa ở Mexico giảm rất nhẹ, nửa phần trăm.

Hậu quả kinh tế trực tiếp, tính trên những thiệt hại vật chất do sự tàn phá của động đất và sóng thần sẽ lên tới 73 tỷ mỹ kim. Cộng thêm những thiệt hại do các tai họa trên gây ra vì hoạt động kinh tế cả nước Nhật bị ngưng trệ thì tổng số có thể lên tới 183 tỷ mỹ kim, bằng hơn 3% GDP nước Nhật. Có thể so sánh với với trận động đất ở Kobe trước đây, khi đó tổng số thiệt hại kinh tế vào khoảng 100 tỷ. (Trận bão Katrina ở Mỹ đã gây thiệt hại kinh tế khoảng 45 tỷ đô la, nhưng chỉ bằng 3 phần mười của một trăm GDP của Mỹ). Kobe là một hải cảng nằm tại trung tâm các vùng công nghiệp của Nhật Bản cho nên ảnh hưởng trên thiệt hại kinh tế rất nặng trong khi lần này động đất xẩy ra tại Fukushima, một vùng chỉ đóng góp khoảng 6% vào Tổng sản lượng nội địa Nhật Bản. Tuy nhiên, số thiệt hại về nhân mạng lớn hơn lần trước: Năm 1995 động đất ở Kobe làm chết 6,000 người; lần này đã kể tới con số 10 ngàn người chết và hàng chục ngàn người khác mất tích, với nửa triệu người mất nhà cửa.

Ngay sau khi có tin động đất, giới đầu tư quốc tế đã “bỏ chạy” khỏi thị trường Nhật Bản vì biết kinh tế nước này sẽ giảm sụt tức khắc. Nhiều người rút tiền ra, bán các chứng khoán rồi đua nhau đổi đồng yên lấy đô la Mỹ, khiến cho giá đồng yen giảm xuống nhanh. Nhưng ngay sau đó, dòng tiên tệ đã đổi chiều. Nước Nhật cần tiền, các công ty và chính phủ Nhật Bản phải rút tiền đầu tư ở nước ngoài về; họ cũng bán các chứng khoán rồi đổi tiền euro hay mỹ kim lấy yên. Giá đồng yen lại tăng lên.

Trước trân động đất này, người Nhật đang giữ trong tay 882 tỷ đô la các trái khoán và công trái của Mỹ, gần 10% tổng số nợ của nước Mỹ. Khi cần tiền người ta đem bán các công trái sớm nhất, vì đó là thứ chứng khoán có thị trường lưu hoạt, tức là dễ bán, bán được nhanh nhất. Năm 1995 sau trận động đất Kobe, các công ty bảo hiểm Nhật Bản đã đem bán công trái ngắn hạn của Mỹ vì họ cần tiền bồi thường các thân chủ. Năm nay, số tiền bồi thường sẽ còn lớn hơn nữa.

Nhiều người có thể lo rằng khi người Nhật đua nhau rút tiền về nước thì giá công trái Mỹ và trái khoán nói chung sẽ sụt giảm. Trong thị trường trái khoán (giấy nợ), khi giá giảm xuống tức là lãi suất thật tự động tăng lên. Nhưng trong ngày hôm qua, điều đáng chú ý là giá các công trái của chính phủ Mỹ lại lên cao; tức là lãi suất, luôn đi ngược chiều, đã giảm. Lý do chính vì thị trường cổ phiếu trên cả thế giới đang tụt xuống. Khi thấy tương lai việc đầu tư vào các cổ phiếu có vẻ ít lời vì kinh tế yếu đi, giới có tiền đã bán bớt cổ phiếu để đi tìm nơi “trú ẩn an toàn.” Và cho tới nay vẫn không món đầu tư nào được coi là an toàn hơn là giấy nợ của chính phủ Mỹ.

Ảnh hưởng của động đất trên nền công nghiệp của nước Nhật sẽ rất nặng, đặc biệt là xe hơi. Những công ty Nhật nổi tiếng như Toyota, Honda, và cả Sony đều phải tạm ngưng sản xuất. Các nhà máy của Toyota, Honda không bị thiệt hại bao nhiêu nhưng hệ thống sản xuất các món đồ để ráp thành chiếc xe hơi bị ngưng trệ. Một chiếc xe hơi cần có từ 20 ngàn đến 25 ngàn món phụ tùng để ráp thành; chỉ cần một phần nhỏ trong số đó ngừng không cung cấp là cả hệ thống phải đứng lại. Các công ty xe hơi Nhật đã phân tản việc sản xuất ra khắp thế giới nên ảnh hưởng được giảm nhẹ. (Thị trường xe hơi ở Mỹ chắc không thấy ảnh hưởng quan trọng, vì các nhà bán xe ở Mỹ thường giữ đủ số xe bán trong 30 ngày. Không ai lo các hãng xe và phụ tùng xe ở Nhật Bản xẽ phải đóng cửa cả tháng).


Nói chung, tài sản của nhiều xí nghiệp và tư nhân Nhật Bản đã bị mất mát nặng. Người ta lo số tiêu thụ vốn rất thấp của dân Nhật sẽ còn giảm nữa. Nhu cầu kích thích kinh tế rất gay gắt. Ngân hàng trung ương Nhật Bản không thể giảm bớt lãi suất nhiều nữa; vì hiện đã ở mức gần số không. Nhưng họ đã phản ứng nhanh chóng bằng cách bơm thêm tiền vào nền kinh tế, qua hệ thống ngân hàng thương mại, để kích thích tiêu thụ và sản xuất. Ngày Thứ Hai họ đã mua 15 ngàn tỷ yen các chứng phiếu ngắn hạn, khoảng 184 tỷ đô la. Ngày Thứ Ba lại đổ thêm 8 ngàn tỷ yen, 98 tỷ đô la nữa, vào thị trường tiền tệ.

Một điều mọi người lo ngại là tinh thần kinh doanh của dân Nhật sẽ bị ảnh hưởng. Vì trước một thiên tai lớn lao, trông thấy con người nhỏ bé trước thiên nhiên, ai cũng sinh lòng dè dặt và e ngại trước các mối rủi ro khác. Một sức mạnh của kinh tế thị trường là óc mạo hiểm của người đầu tư. Nếu người ta sợ rủi ro hơn trước thì công cuộc phục hồi kinh tế sẽ chậm trễ.

Mọi người có thể làm an lòng là trong cơn nguy khó, chính phủ Nhật đã chứng tỏ họ có khả năng đứng mũi chịu sào. Ông Thủ tướng Naoto Kan đã có mặt tại những nơi nguy hiểm và xuất hiện trên ti vi nhiều lần để trấn an dân chúng. Chính phủ của ông đang ở thế yếu, sau khi ông bộ trưởng ngoại giao từ chức vì xì căng đan, và tuần trước ông vẫn bị báo chí cũng như phe đối lập chỉ trích nặng nề. Nhưng khi có động đất thì tất cả người Nhật đã bỏ qua những bất đồng ý kiến để cùng nhau xây dựng lại. Chính phủ Naoto Kan có thể đứng vững thêm nhiều tháng nữa.

Thử thách của ông Kan là việc phục hưng kinh tế; nhưng ông có thể làm nhiều hơn thế nữa. Nhiều người thấy trận động đất mới này có thể là một cơ hội để “câu điện” cho bộ máy Nhật Bản chạy lại (jump-start). Trong khi đó, người lãnh đạo Nhật có thể thay đổi cơ cấu nền kinh tế mà không lo bị các phe nhóm quyền lợi ngăn cản.


Kinh tế Nhật đã trì trệ từ hơn hai chục năm nay, vì cơ cấu nặng nề cổ lỗ. Nước Nhật chỉ chú trọng đến xuất cảng, việc tiêu thụ trong nước bị coi nhẹ. Từ năm 2008 đến nay Nhật Bản vẫn sống trong khung cảnh kinh tế trì trệ, giá cả bị đe dọa với mối nguy giảm phát (khiến mọi người ngưng tiêu thụ để chờ giá xuống sẽ mua); tình trạng lương bổng ngưng không lên (một nguyên do nữa khiến số tiêu thụ giảm) và chính phủ càng ngày càng mang nợ nhiều hơn (số nợ lớn gấp đôi GDP, nhưng may mắn đa số chủ nợ là người Nhật Bản chứ không phải nước ngoài). Các đại công ty, ngân hàng và bộ máy hành chánh của nhà nước cùng lo bảo vệ quyền lợi của nhau, không chịu thay đổi nhanh chóng. Nước Nhật Bản cần những luật lệ mới để kích thích cạnh tranh trong thị trường nội địa, thay đổi các thủ tục hành chánh để giảm bớt quyền giới thư lại, tăng quyền tự do cho giới kinh doanh.

Đối với người Đông phương, các thiên tai thường là điềm xấu, cho thấy những người đang cầm quyền đang làm phật lòng “trời đất.” Năm 1855 một trận động đất lớn xẩy ra trước khi chính quyền Mạc Phủ Tokugawa sụp đổ. Sau trận động đất năm 1923, giới quân phiệt ở Nhật bắt đầu lên, tiến tới giai đoạn xâm lăng xưng bá xưng hùng, rồi gây ra cuộc đại chiến đưa tới bại trận.

Nhưng trong nghề bói toán người ta có thể giải thích các hiện tượng trên theo cách khác. Có thể nói trận động đất năm 1855 thay đổi chính trị để chuẩn bị công cuộc duy tân của thời Minh Trị Thiên Hoàng. Cũng có thể nói trận động đất năm 1923 mở đầu công cuộc kỹ nghệ hóa nước Nhật.

Việc tái thiết nước Nhật sau trận động đất năm nay sau cùng có thể là một cơ hội để đưa nền kinh tế Nhật Bản lên cao, chứ không phải chỉ chịu cảnh tàn phá. Bao nhiêu vốn liếng được hồi hương để đầu tư. Bao nhiêu người sẽ có việc làm thêm vì công việc nhiều quá, riêng việc xây cất không thôi đã đủ kích thích kinh tế hàng chục năm. Thủ tục, luật lệ sẽ phải được nới lỏng cho thị trường chạy nhanh hơn, thay vì phải chờ các bàn giấy nhà nước từ từ cứu xét rồi mới đóng con dấu. Tất cả sẽ thúc đẩy kinh tế lên nhanh. Người Nhật Bản cũng nhìn thấy đây là một cơ hội để thay đổi mạnh và lâu dài.

Nếu ông Thủ tướng Naoto Kan đủ đảm lược ông có thể đưa ra những biện pháp cải tổ mạnh mẽ để thay đổi cơ cấu tài chánh và hành chánh nước Nhật, mở đầu một thời kỳ thịnh vượng mới. Muốn vậy, ông phải vượt qua những chướng ngại do những nhóm có quyền lợi riêng bầy đặt ra, từ hai chục năm nay. Các ngân hàng rất ngần ngại không muốn cải tổ. Giới quan chức thư lại không muốn giảm bớt quyền. Đảng Dân Chủ Tư Do đã nắm quyền nửa thế kỷ từ sau Đại Chiến, họ có những quyền lợi tương đồng với hai giới trên. Ông Naoto Kan phải thuyết phục được dân chúng Nhật để “đổi mới kinh tế!” Vì hơn 20 năm trì trệ kể từ sau trận động đất Kobe đã quá dài. Nếu không thì ông đáng được dân Nhật cho về nghỉ hưu sớm nội trong năm nay.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Quyền và sử dụng quyền

Ngô Nhân Dụng


Gần đây ở nước ta có rất nhiều người dân chết trong đồn công an. Từ giữa năm 2007 đến nay hơn 20 người đã chết sau khi bị công an bắt giữ; nhiều người được nói là đã tự hủy mình. Khắp thế giới, chính quyền nào cũng phải chịu trách nhiệm về nơi mình giam người. Sơ ý để một người tự tử trong phòng giam là những cơ quan giam giữ bị khiển trách và trừng phạt. Không biết ở Việt Nam hiện nay có theo tục lệ văn minh đó hay không.

Tháng 3 năm nay là một tháng xấu; không chỉ vì lạm phát mà còn vì công an. Trong một tháng 3 năm 2011, ba người Việt Nam bị công an đánh tới chết hoặc “treo cổ tự tử” trong đồn công an. Bắt đầu là ngày 6 tháng 3, ông Nguyễn Lập Phương 46 tuổi tắt thở sau khi bị công an huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) giam giữ 4 ngày vì tình nghi ông ăn trộm cau ở Khu Công Nghiệp Shinec. Ngày 8 tháng 3, ông Trịnh Xuân Tùng, 54 tuổi, đã chết sau khi bị một trung tá công an dùng gậy đánh gẫy cổ, sau khi ông bị bắt ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội, trước đó 8 ngày. Ngày 14 tháng 3 năm 2011, ông Ðặng Ngọc Trung, 48 tuổi, xô xát với một phụ nữ trước quan Karaoke ở thị xã Ðồng Xoài (Bình Phước), ông bị bắt, rồi sáng hôm sau thấy chết ở trụ sở công an; họ nói ông Trung tự tử.

Hai nạn nhân đầu tiên đều bị công an đánh đập, trước và trong khi bị giam giữ. Khẩu hiệu của công an Việt Nam là “Ðảng Còn thì Mình Còn.” Nhưng không có dấu hiệu nào chứng tỏ ba nạn nhân trên từng có ý định chống đối nhà nước. Chắc chắn họ không bao giờ tính lật đổ độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nghĩa là việc đánh những người này đến chết không hề có lý do chính trị, công an không giết họ vì cần bảo vệ chính quyền “chuyên chế vô sản.” Các hành động sát nhân đó xẩy ra hoàn toàn trong những nghiệp vụ bình thường của các vị “công an nhân dân.” Chính cái vẻ bình thường đó mới thật là điều đáng kinh ngạc. Và đáng lo ngại.

Anh Nguyễn Lập Phương bị bắt ngày 2 tháng 3 năm 2011, 4 ngày sau, công an nói, họ thấy anh “có dấu hiệu bất thường về sức khỏe nên cho đi cấp cứu, lên viện thì chết.”Trong đêm mùng 1 tháng 3, bị bắt giữ tại Khu Công Nghiệp Shinec, anh Nguyễn Lập Phương đã bị những người “bảo vệ” của xí nghiệp này đánh.” Sáng hôm sau, họ đưa anh tới công an xã Thiên. Vì trên người anh Phương có nhiều vết bầm tím, nên công an xã đã đưa anh đến bệnh viện huyện Thủy Nguyên. Các bác sĩ ở đó chứng nhận anh Phương đã “bị chấn thương phần mềm ở mặt, chân tay, đầu gối, sườn sưng tím, không kêu đau bụng, đau đầu hoặc ngực, trạng thái tỉnh táo.” Ngày 6 tháng 3 năm 2011 anh lại được công an huyện đưa vào bệnh vào buổi chiều. Nửa giờ sau, công an xã nhận được tin anh Phương đã tử vong và đã đến báo cho gia đình biết. Anh Nguyễn Trung Trực, em trai nạn nhân cùng người nhà có mặt tại nhà xác bệnh viện Thủy Nguyên, chứng kiến thi thể anh Phương có nhiều vết bầm tím trên 2 tay, dọc hai bên sườn, chân, cằm và ngực bầm tím, hai mi mắt và hai bên tai có vết rách. Các bác sĩ cho biết: “Bệnh nhân Nguyễn Lập Phương được công an huyện đưa vào bệnh viện lúc 15 giờ 30 phút ngày 6 tháng 3 trong tình trạng đã ngưng thở.”

Theo lời thân nhân của Nguyễn Lập Phương thì lối giải thích ông bị tử vong “do suy tim” là vô lý. Họ cả quyết “từ trước đến nay, anh này không hề có bệnh gì.” Ông Hoàng Phú Giảng, phó trưởng công an xã Thiên Hương cũng khẳng định: “Trong thời gian từ sáng đến chiều ngày 2 tháng 3, tại trụ sở công an xã, anh Phương hoàn toàn khỏe mạnh, không có biểu hiện bệnh tật, trừ việc kêu đau ở tay vì bị đánh. Buổi trưa, anh này còn ăn được hai bát cơm đầy do công an xã đem cho.” Nguyễn Lập Phương cao khoảng 1m70, nặng 65 ký, khi làm việc trong tổ bốc vác, anh được các đồng sự coi là người khỏe nhất. Do đó, cái chết của anh chắc vì bị đánh đập trong lúc ở đồn công an huyện.

Sau khi anh Phương qua đời 2 ngày, đến lượt ông Trịnh Xuân Tùng chết, sau khi bị công anh cùng với một nhóm dân phòng đánh đập ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội từ 8 ngày trước. Ông Tùng đã bị trung tá công an Nguyễn Văn Ninh dùng gậy đánh vào cổ.

Theo lời tường thuật của thân nhân thì trưa ngày 28 tháng 2, 2011, ông Tùng thuê xe ôm đi đến bến xe Giáp Bát đón xe lên đường vào Nam. Khi gần tới bến xe, ông xin người lái xe ôm dừng lại, ông cởi mũ an toàn ra để gọi điện thoại cho một người bạn. Trung Tá Nguyễn Văn Ninh (Công an phường Thịnh Liệt, Hoàng Mai) thấy ông Tùng không đội mũ an toàn bèn đòi phạt người lái xe, bắt xe, đưa về phường Thịnh Liệt và hẹn chiều sẽ giải quyết. Khi hai người trở lại để “giải quyết,” anh lái xe không chịu nhận lỗi. Hai bên cãi nhau, Trung Tá Ninh đã túm cổ người lái xe, cho nên ông Tùng can ngăn, gỡ tay ông ta ra khỏi cổ người lái xe ôm; từ đó đưa tới giằng co. Sau đó viên trung tá công an đòi 150 ngàn đồng tiền phạt (khoảng 10 đô la Mỹ), nhưng ông Tùng chỉ chịu nộp 100 ngàn đồng thôi. Cuộc mặc cả đưa tới cãi cọ, xô xát; ba cán bộ về trật tự trong bến xe cũng tới đánh ông Tùng. Trung Tá Ninh đã dùng gậy đánh vào đầu và cổ ông Tùng, xích ông vào gốc cây, rồi giải về phường với lý do đã chống người thi hành công vụ.

Năm giờ chiều, gia đình ông Tùng tới trụ sở công an phường Thịnh Liệt thăm, thấy ông quá yếu, đã bị liệt nửa người, nên xin cho đưa ông đi bệnh viện, nhưng bị từ chối. Công an nói họ “không có thời gian để giải quyết vụ việc này.” Ông Trịnh Xuân Tùng tiếp tục bị còng, cho tới 9 giờ 30 tối mới được cho đi tới bệnh viện Bạch Mai, hai tay vẫn bị còng. Vì tình trạng nguy kịch, ông Tùng được đưa tới bệnh viện Việt Ðức. Ông đã qua đời ngày 8 tháng 3, 2011, mười ngày sau khi bị đánh vào đầu và cổ.

Cuối cùng người Việt Nam nào cũng phải tự hỏi: Có cách nào cho những vụ đánh chết người đó không tái diễn nữa? Ðể trả lời câu hỏi này,chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân vì sao những người gác Khu Công Nghiệp Shinec và công an huyện Thủy Nguyên lại đánh chết ông Nguyễn Lập Phương chỉ vì trộm mấy buồng cau? Vì đâu Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh lại đánh ông Trịnh Xuân Tùng đến nỗi chết chỉ vì nghi đã đi xe gắn máy không đội mũ an toàn? Người Việt Nam nào cũng phải tìm hiểu căn nguyên những cái chết này.

Không nên giải thích rằng lý do chính là tính tình các ông công an này nóng nẩy, cục cằn. Ðổ tội cho tính vũ phu, tàn ác của những cá nhân thì không chấp nhận được. Có người sẽ chua chát nói rằng mạng sống dân ta rẻ lắm, ai cũng giết người khác dễ dàng chỉ vì những vụ cãi nhau, đánh nhau. Nhưng đây không phải là chuyện giết nhau giữa những người dân thường. Nhũng vụ đánh chết người này xẩy ra trong mối quan hệ giữa các nhân viên công lực đang làm việc với một người dân (mà các vị công bộc này có nhiệm vụ bảo vệ). Chắc chắn đây không phải là những tranh chấp riêng tư.

Cuối cùng, chúng ta phải vượt trên phạm vi cá nhân mà đi tìm đến “lỗi hệ thống!” Ðó một từ thông dụng bây giờ, từ khi được ông Nguyễn Văn An nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và lại được cô Song Chi ghi nhớ. Nhìn tới cả hệ thống, ta cần hiểu vì sao có các vị công an lại ra tay đánh chết người dân chỉ vì những cái lỗi nhỏ nhoi như cái mũ an toàn, giờ quen gọi là mũ bảo hiểm; hoặc vì một vụ trộm cau.

Rất nhiều người sẽ lên án cả chế độ chính trị đã tạo ra những người công an như ông Nguyễn Văn Ninh và các ông ở Thủy Nguyên. Nhưng chế độ chính trị đó như thế nào, nó làm cái gì mà gây ra những vụ đánh chết người này?

Chắc chắn không một hệ thống chính trị nào lại cho phép cảnh sát, công an đánh chết người chỉ vì phạm luật đi đường hay đi ăn trộm vặt. Không có đạo luật giao thông nào nói rằng nếu người dân cãi lời, đôi co to tiếng với cảnh sát, hoặc dám mặc cả giá tiền phạt với công an, thì nhân viên công lực được quyền đánh cho hắn gẫy cổ, chết bỏ. Tàn bạo như chế độ của các ông Hitler, Stalin hay các ông Mao Trạch Ðông chắc cũng không thiết lập những định chế cho phép công an giết dân dễ dàng như vậy.

Thế thì cái gì trong hệ thống chính trị ở nước ta đã đưa tới những vụ công an giết dân?

Như ai đã nghe chuyện đều biết, Trung Tá Nguyễn Văn Ninh đã gây ra cái chết của ông Tùng khi đang thi hành quyền của một người cảnh sát. Ông có trách nhiệm bảo đảm rằng luật lệ về giao thông được dân chúng tuân thủ. Công an Thủy Nguyên gây ra cái chết của ông Phương trong khi thi hành quyền giam giữ một người, để bảo vệ tài sản của các công dân khác. Những người công an trên biết rằng họ đang thi hành quyền bắt người, do nhà nước giao cho; họ là những người được ủy nhiệm. Họ tin rằng nhà nước mà họ đại diện đã được xã hội ủy nhiệm các quyền đó, để bảo vệ trật tự, an ninh. Các ông công an đã giết người khi nhân danh cả chuỗi những sự ủy nhiệm này. Tất cả các xã hội loài người đều ủy nhiệm những quyền bảo vệ an ninh, trật tự cho nhà nước.

Tất cả các guồng máy nhà nước đều ủy nhiệm cho cảnh sát công an làm những công việc bắt người vi phạm luật để đưa ra tòa án. Ở Việt Nam cũng như ở Bắc Phi. Ngày 17 tháng 12, tại nước Tunisia một sinh viên tốt nghiệp nhưng không có việc làm, anh Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, bị một chị công an 45 tuổi tát tai, bắt về bóp, sau khi cãi nhau về tội anh đẩy xe bán rau không giấy phép. Ngày 4 tháng 1, 2011, anh Bouazizi chịu nhục nhà không nổi, đổ xăng tự thiêu. Ngày 6 tháng 6 năm 2010, tại Ai Cập, anh Khaled Said, 28 tuổi, bị công an đánh chết. Hai cái chết đó đưa tới những cuộc nổi dậy lật đổ chế độ độc tài ở hai quốc gia này, rồi lan ra các nước Á Rập khác.

Tại sao ở các nước văn minh chúng ta không thấy cảnh công an giết chết người một cách dễ dàng như ở Tunisia, Ai Cập, và ở nước ta? Chúng ta cần suy nghĩ đến vấn đề Quyền và sử dụng Quyền trong xã hội.

Bao nhiêu người dân Hà Nội đã tới dự đám tang của ông Trịnh Xuân Tùng dù không quen biết. Trong lòng nhiều người chắc cũng phải suy nghĩ về những câu hỏi này: Người dân ủy nhiệm cho nhà nước những quyền nào? Những quyền hành đó có giới hạn hay không? Có định chế nào bảo đảm rằng những giới hạn này được tôn trọng hay không? Tất cả những câu hỏi đó là để trả lời tại sao anh Tùng bị đánh chết. Người dân Hà Nội đã có ai đưa các câu hỏi trên ra thảo luận trước công chúng, trên các mạng lưới hay chưa?

Một bài thơ của Quang Dũng viết về Người Hà Nội kết thúc với hai câu thơ:

“Hàng Gai tay bỏng trục ba càng.

Ðất cũ Thăng Long người lẫm liệt.”

Con người Thăng Long lẫm liệt, không phải chỉ vì biết ôm súng chống ngoại xâm. Con người lẫm liệt phải đặt ra những câu hỏi căn bản về cuộc sống của xã hội mình: Tại sao chúng tôi phải sống mãi như thế này?
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Một phiên tòa lập nhiều kỷ lục đen
Bùi Tín viết riêng cho VOA Thứ Hai, 04 tháng 4 2011

Image
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ trước tòa án ở Hà Nội, ngày 04/04/2011


Phiên tòa xét xử luật sư Cù Huy Hà Vũ về tội «Tuyên truyền chống nước Cộng hòa XHCN Việt Nam» đã được tiến hành ngày 4-4-2011 tại Hà Nội, với một bản án 7 năm tù giam và 3 năm quản thúc cho bị cáo.

Phiên tòa chỉ diễn ra trong có hơn 3 tiếng đồng hồ - 3 giờ buổi sáng, nửa giờ buổi chiều, sau khi nghỉ trưa.

Ngay khi phiên tòa kết thúc, các luật sư dự phiên tòa là Ls Trần Đình Triển, Ls Trần Vũ Hải, Ls Hà Huy Sơn và Vương Thị Thanh đều lập tức lên tiếng công khai tuyên bố là phiên tòa vi phạm pháp luật, viên chánh án Nguyễn Hữu Chính chủ tọa Hội đồng xét xử đã ngang nhiên vi phạm điều 214 của Bộ Luật tố tụng khi từ chối yêu cầu của luật sư đòi công bố 10 tài liệu – gồm các bài viết của bị cáo mà viện kiểm sát dựa vào để kết tội. Trước sự từ chối của chủ tọa Hội đồng xét xử, các luật sư tuyên bố không thể làm nhiệm vụ trước tòa. Thế là chủ tọa liền kết luận phiên tòa với lời tuyên án độc đoán kiểu phát xít: xử phạt Ls Cù Huy Hà Vũ 7 năm tù giam và 3 năm quản chế.

Ngay tại tòa, Ls Nguyễn Thị Dương Hà, vợ của Ls Hà Vũ, công khai tuyên bố là phiên tòa đã ngang nhiên vi phạm pháp luật, do đó không có giá trị.

Những điều ngang nhiên vi phạm pháp luật của phiên tòa và của Hội đồng xét xử là: bị cáo chưa được nói một lời nào để tự bào chữa. Ông đứng thẳng, tư thế đàng hoàng giữa 2 công an mặc sắc phục, mới chỉ kịp tuyên bố: đây là một vụ án dựng lên nhằm chống ông.

Thứ hai là các luật sư được chấp nhận bào chữa cho bị cáo chưa hề được phát biểu; do đó phiên tòa không có sự biện hộ cần thiết. Phiên tòa hoàn toàn thiếu sự tranh biện để Hội đồng xét xử nghe kỹ cả bên công tố và bên bị cáo, có cơ sở để cân nhắc một cách công bằng, theo luật. Việc tuyên án do đó không mảy may có cơ sở pháp lý, khi các luật sư đã rút hết. Chỉ còn có bị cáo. Tại sao lại kết án 7 năm tù và 3 năm quản chế? dựa vào những nội dung, chứng cớ và các điều luật nào?

Chỉ có thể nhận định rằng đây là một phiên tòa được định trước, dựa vào quyết định tiền chế của Bộ Chính trị đảng Cộng sản, đã được đặt sẵn trong túi áo của ông Nguyễn Hữu Chính. Ông Nguyễn Hũu Chính đã từ bỏ trách nhiệm theo luật định là chỉ xử án theo công tâm, không được theo một sức ép nào khác, chỉ dựa vào luật pháp hiện hành, không để lọt kẻ gian, không được xử oan người ngay.

Hậu quả của vụ xử án phi pháp này sẽ tệ hại cho đảng cộng sản cầm quyền, cho chế độ chính trị độc đảng, cho nền tư pháp bị đảng khống chế sai bảo…thật không sao lường hết được.

Đây là một sự khiêu khích ngang nhiên và thô bạo đối với nhân dân lương thiện, có công tâm, yêu nước và yêu công lý. Hàng ngàn người dân thủ đô đã bất chấp sự ngăn cản của cảnh sát, công an chìm và nổi, kéo đến quanh tòa án. Hàng vạn giáo dân Nam Định, Thái Hà, Quảng Nam-Đà Nẵng thắp nến cầu nguyện cho Ls Hà Vũ. Chùa Liên Trì (Phật giáo Thống nhất) tụng niệm cho anh. Bà con Tin Lành Mennonite ra tuyên bố ủng hộ anh. Các blog cá nhân Ba Sàm, Người Buôn Gió, Anh Ba Sài Gòn, Quê Choa, mạng Dân làm báo…ca ngợi anh là «người trí thức yêu nước chân chính», là «người luật sư can đảm mà đất nước cần đến», rằng anh chẳng những hoàn toàn vô tội mà còn có công, đáng khen ngợi, đáng biểu dương; họ còn suy tôn anh là một anh hùng của thời đại mới.

Bộ Chính trị và bộ máy tư pháp do họ giật dây đã phạm một sai lầm không thể tưởng tượng được, không gì sửa chữa được. Đã có người phán đoán rằng họ sẽ biết điều, sẽ kết án treo, hoặc xử 1 hay 2 năm tù giam, để rồi sớm trả tự do cho anh Ls Cù Huy Hà Vũ, nhưng họ lại tính sai và lên gân quá mức. Để dọa ai, để nát ai, khi căn bệnh sợ cường quyền phi nghĩa đã giảm đi trông thấy, khi mọi chế độ độc đoán, độc đảng bỏ tù các chiến sỹ dân chủ ở Bắc Phi, Tây Phi, Trung và Cận Đông đang sập đổ dây chuyền?

Cũng cần nhắn nhủ các chức sắc tư pháp, chánh án, thẩm phán, công tố viên, kiểm sát viên… hãy làm nhiệm vụ với trách nhiệm công dân, với lương tâm nghề nghiệp trong sáng; nếu cứ mù quáng vâng theo bạo quyền tham nhũng, làm hại người ngay, ắt có ngày phải đền tội đấy.

Đại diện truyền thông châu Âu, phóng viên Hoa Kỳ AP dự phiên tòa (ở phòng bên cạnh) đã chuyển ra thế giới thông tin về phiên tòa kỳ khôi, hoang dã, đạt mức kỷ lục về phi pháp; đó là những kỷ lục trên các mặt : xử nhanh vội nhất, bị cáo tuy không bị bịt mồm nhưng không được tự bào chữa một câu nào, luật sư có 4 người đều bị câm như hến, tuyên án rất nặng mà không có dẫn giải vì sao lại xử nặng đến thế, trong khi bị cáo không hề có hành động gì, chỉ toàn quan điểm, ý nghĩ riêng trong đầu óc. Ngay chiều 4-4 báo chí ở Đức, Hoa Kỳ, Pháp, Anh.. đã đưa tin về vụ xử án kỳ quặc, quá quắt, khó hiểu đối với một luật sư nổi tiếng, ngay thẳng, “con của một người bạn ông Hồ Chí Minh”, được giới trẻ quý mến.

Ở quanh tòa án họ còn bắt đi 30 người dân không hề phạm một tội gì, trong đó anh Phạm Hồng Sơn bị đánh đập dã man; luật sư Lê Quốc Quân cũng bị trói quẳng lên xe kín, mất cà giày và kính cận.

Các chế độ độc đoán, độc đảng trong thoái trào mất hết tư thế thường liều lĩnh lội ngược dòng thác dân chủ tự do của thời đại. Lội ngược dòng suối, dòng sông còn được, có ai dám lội ngược dòng thác đổ, để bị cuốn trôi đi mất tăm, chỉ để lại tiếng xấu trong lịch sử đất nước và loài người.

BUI TIN
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 8 guests