Page 66 of 156

Posted: Sat Nov 20, 2010 1:52 am
by vuphong
Cao Xuân Huy và 'chỗ tựa đầu'

Nguyễn Văn Khanh
1. Tôi bước vào phòng, anh cũng vừa trở mình thức giấc. Cháu Dung ngồi sát bên bố, khẽ lay: “Có chú Khanh về thăm bố đây.” Anh đưa mắt nhìn tôi, khẽ gật đầu thay cho lời chào hỏi.

Ðây, lần đầu tiên tôi gặp một Cao Xuân Huy nằm yên, không chịu mở miệng nói một tiếng nào cả. Dáng nhanh nhẹn mất hẳn, tóc đã thưa bớt nhiều, râu không còn đẹp như thủa nào và cũng chẳng còn đủ để anh có thể vuốt như anh thường làm lúc còn khỏe. “Ông thấy trong người thế nào?” tôi buông câu hỏi đầu tiên. Chỉ khẽ lắc đầu, vẻ mệt mỏi hiện rõ trên mặt. “Ông có khó chịu không?” tôi hỏi tiếp. Lần này anh gật đầu. Cháu Dung vừa lấy chiếc gối kê đầu anh lên cao hơn, vừa hỏi: “Bố có đau không bố.” Lại lắc đầu, vẫn không nói gì cả. “Tôi xoa lưng cho ông nhé?” Lại gật đầu. “Ông có thèm cà phê không, có muốn uống chai Henneken với anh em không?” Lại gật đầu tiếp.

Những cái gật đầu thật nhẹ, mỗi ngày vẻ mệt mỏi lại hiện rõ hơn trên khuôn mặt, khác hẳn một Cao Xuân Huy mà tôi biết gần 30 năm nay.


2. Tôi gặp anh lần đầu tiên khi mới vừa trở lại nghề báo, làm việc chung ở một tòa soạn nhưng mỗi đứa mỗi công việc khác nhau. Lúc đó tôi còn nắm vai trò trưởng văn phòng ở Washington D.C. cho nhật báo Người Việt, anh là người đặc trách phần layout và là một trong những người layout vừa giỏi vừa đẹp.

Tôi nhớ như in ngày đầu tiên gặp nhau ở tòa soạn. Hôm đó hai anh Ðỗ Ngọc Yến và Lê Ðình Ðiểu gọi tôi về họp, dặn dò sau phiên họp mọi người cùng nhau ăn cơm trưa. Tôi chú ý đến anh vì anh là một trong số rất hiếm người hút thuốc lá ngay trong buổi họp và trong cả bữa cơm - lúc đó, luật California chưa gắt gao như bây giờ. Tôi cũng đang thèm rít vài hơi nên ngồi cạnh anh, cho có bạn.

Tôi chào anh làm quen, bảo tôi từ Washington D.C. xuống đây. Anh nói với giọng sang sảng đi kèm theo tiếng cười: “Tôi biết ông là ai rồi,” nhưng không nói tên mình. May quá, lúc đó ông Nguyễn Xuân Hoàng đi qua, giới thiệu: “Khanh biết Cao Xuân Huy chứ?”

Cao Xuân Huy của “Tháng Ba Gãy Súng.”


3. Buổi gặp gỡ đầu tiên của hai anh em chúng tôi chỉ có thế, nhưng là bước đầu tiên cho một mối thân tình. Rất nhiều lần tôi về California ghé nhà anh ngủ, tối nào cũng thức đến gần sáng để nói chuyện với nhau. Chúng tôi kể cho nhau nghe rất nhiều chuyện, từ bạn bè, gia đình cho tới những chuyện thật riêng tư, nhưng chẳng khi nào anh nói với tôi về lý do dẫn anh đến quyết định viết một trong những quyển sách được nhiều người đọc nhất ở hải ngoại, và ngay lúc này tôi đang thắc mắc tại sao mình không hỏi ông bạn thân tình về chuyện đó.

Trong những câu chuyện được nói qua đêm, ít nhất vài ba lần anh nhắc lại chuyện bố anh vào trại cải tạo thăm anh, và mỗi lần như thế, tôi nhìn thấy rõ nét khổ sở của anh khi kể lại. Lần nào cũng như lần nào, tôi đều thấy anh nhăn mặt, chừng như không biết làm sao có thể nối kết giữa quá khứ và tương lai, giữa một đứa con bao nhiêu năm trời không thấy mặt bố mình, về cuộc gặp gỡ giữa ông bố và đứa con trai không cùng chiến tuyến. Cũng từng có lần anh bảo với tôi: “Ước gì cuộc gặp gỡ đó đừng diễn ra,” vì cả cha lẫn con “đều không biết phải nói gì với nhau” dù tình thân thiết bắt nguồn từ câu đầu tiên bố anh nói: “Thằng Ben đấy hả con?”

Qua những lần đó, tôi mới biết ở nhà ai cũng gọi anh là Ben. Cậu bé tên Ben của gia đình cũng chính là Cao Xuân Huy của “Tháng Ba Gãy Súng,” và của mọi người.


4. Anh là một người không may mắn. Trong suốt thời gian hàng chục năm trời có mặt ở Hoa Kỳ, hầu như năm nào anh cũng khoe “tôi vừa đuổi chủ, đang đi tìm việc làm mới.” Anh làm đủ mọi thứ nghề để kiếm tiền nuôi gia đình, kể cả những nghề “lương kém lắm, chỉ đủ uống chai bia, mua gói thuốc lá là hết sạch.”

Dù khó khăn đến thế nào đi chăng nữa, anh vẫn là người hết lòng với chữ nghĩa. Sau Tháng Ba Gãy Súng anh viết rất ít, nhưng quyển sách đã giúp anh cơ hội làm quen với những người viết khác và cùng nhau dựng nên nhưng tờ tạp chí văn chương. Tôi từng thấy anh đã quá nửa đêm vẫn cắm cúi trên bàn phím gõ bài, từng nghe anh than “mệt quá” mỗi lần sửa soạn đưa báo đến nhà in, và nhiều lần thấy anh xin tiền vợ để đi lấy báo. Có thể nói không sai: những tờ báo anh làm không đem được tiền về cho gia đình, mà gia đình còn phải bỏ tiền giúp anh làm công việc anh yêu thích.

Nói đến chữ nghĩa cũng phải nói đến một Cao Xuân Huy rất khó tính. Một đôi lần anh nhận lời đánh máy thuê, và lần nào anh cũng cho “chủ nghỉ việc.” Lý do rất giản dị: “Tôi không chịu nổi những đứa viết câu không ra câu, cú chẳng ra cú” nên không thể nào đánh đúng từng chữ người khác thuê anh đánh. Có lần anh bảo với tôi “vừa đánh máy vừa sửa câu cú cho đúng mệt lắm.” “Tại sao ông không nhắm mắt đánh kiếm tiền,” tôi hỏi ngược lại.

“Muốn nhắm lắm mà không được,” anh trả lời. “Tôi chịu không nổi, vả lại nhắm mắt thì làm sao đánh máy được.”

Nói xong, anh lại cười hề hề. Cười là nét thật đặc biệt của anh bạn tôi.


5. Ðiều may mắn duy nhất anh có chính là mái ấm gia đình. Hai chị em Dung “chị” và Dung “em” hết mực yêu bố. Bố đi làm về, cả hai đứa chạy ra quấn quýt bên chân, Dung “em” còn ngồi trước cây đàn piano đánh cho bố và chú Khanh nghe bài vừa mới học. Anh khoe cây đàn “là tài sản duy nhất tôi có cho chúng nó,” nói xong anh giải thích tiếp “con thích học đàn, bố mua ngay cho con.” “Ông để dành tiền mua hả ông?” tôi thắc mắc. “Ðâu có, tôi xin tiền vợ dẫn hai đứa con đi mua đàn.” Thế thì có gì đâu mà phải khoe? “Có chứ, bạn bè đến con cái ra khoe bố mua đàn cho tụi con, nghe cũng sướng chứ.”

Hạnh phúc nhất của anh là có người vợ mà anh hãnh diện khoe với tôi ngay từ ngày đầu: “Bà ấy đúng là chị lớn trong nhà, quán xuyến hết mọi chuyện.” Có lần khi nói về Chị Minh - vợ anh - anh bảo: “Người ta lấy chồng để có chỗ tựa đầu, bà ấy lấy tôi để cho tôi có chỗ tựa đầu.” Sợ chưa đủ để nói về vợ, anh bảo thêm: “Thằng như tôi mà có người cho tựa đầu thì vừa hiếm, vừa may mắn, phải không ông?”

Anh đã tựa đầu vào vai người vợ yêu quý nhất của mình cho đến giây phút cuối cùng.


5. Ngồi với anh chừng nửa giờ đồng hồ, tôi đứng dậy ra về. Tôi nhớ như in lúc đó khoảng 11 giờ sáng Thứ Sáu tuần trước. Tôi bảo: “Thôi tôi đi ra để ông nằm nghỉ nhé.” Anh gật đầu. Lại gật đầu, không nói một lời nào cả. Ít giờ đồng hồ sau đó, cô Nhã Lan của Little Saigon Radio gọi điện thoại báo tin: “Anh Cao Xuân Huy vừa mất.”

Tôi nhớ như in lúc rời khỏi phòng anh nằm. Anh Trần Như Hùng từ Australia sang thăm, bạn rủ tôi ra vườn hút thuốc lá, chị Minh vừa đun nước pha trà vừa nói chuyện với ông Phan Nhật Nam. Tự dưng lúc đó tôi muốn quay lại, mở cửa bảo với anh nếu có... đi xa, nhớ tìm chỗ nào coi được dành trước cho bạn bè, để mai này cùng nhau ngồi uống chai bia, hút điếu thuốc lá nói chuyện cho vui.

Tôi còn muốn bảo với anh điều gì nữa không? Có chứ. Tôi sẽ bảo anh nếu kiếm chỗ thì phải là chỗ thật rộng, đủ cho chị Minh trồng cây cảnh, nhắc lại với anh điều tôi may mắn được anh chia sẻ từ bao nhiêu năm trước: “Chắc kiếp sau tôi cũng phải nhờ tới bà này chứ không nhờ vả được ai cả.”

Anh bạn Cao Xuân Huy của tôi hiền, nhưng khôn quá. Anh biết trước, dù ở nơi nào thì anh cũng cần có chỗ để tựa đầu. Và anh đã chọn nơi tựa đầu tuyệt diệu nhất cho chính mình.

Posted: Sun Nov 21, 2010 8:02 am
by dailien
World Cup 2014: Chủ nhà Brazil nói không với rượu, bia

Theo thông tin mới nhất, nước chủ nhà của kì World Cup 2014, Brazil sẽ ra sắc lệnh cấm bán đồ uống có chất kích thích (đặc biệt là rượu)
tại tất cả các SVĐ có diễn ra những trận đấu trong khuôn khổ VCK bóng đá thế giới.

Image
CĐV sẽ ăn mừng chiến thắng mà không có rượu
Với quy định mới ban hành này, Brazil sẽ trở thành nước đầu tiên cấm bán chất men này nhằm kêu gọi hưởng ứng cho đạo luật chống nạn Hooligan tại các giải đấu thể thao lớn trên TG.

Do quan ngại những vấn đề về an ninh, bạo động và các CĐV quá khích, 12 SVĐ phục vụ cho WC sẽ không được phép bán đồ uống có chất kích thích cho CĐV. Con số 42 ngưòi chết trong suốt 10 năm, tính đến 2008 quả thực là một hồi chuông cảnh báo cho nạn bạo động làm hoen ố hình ảnh đẹp của môn thể thao Vua.

Giám đốc Uỷ ban tổ chức World Cup 2014 của Brazil, ông Rodrigo Paiva cho biết việc ban hành quy định mới là một việc làm hết sức cần thiết và xác đáng.

Chính quyền địa phương tại các thành phố sẽ diễn ra những trận đấu trong khuôn khổ VCK WC 2014 là Rio de Janeiro, Sao Paulo và Pernambuco cũng đã có quy định cấm bán các mặt hàng liên quan tới đồ uống có chất kích thích.
Image
Brazil hi vọng quy định mới sẽ giúp giảm thiểu tình trạng
quá khích của CĐV
Được biết, nhãn hiệu bia hàng đầu tại Mỹ, Budweiser đã chi tới 32 triệu bảng để được trở thành một trong những nhà tài trợ cho sự kiện bóng đá lớn nhất hành tinh diễn ra tại xứ Samba. Chính vì vậy, sản phẩm của Budweiser vẫn sẽ được quảng cáo tại SVĐ và được phép bán ở khu vực dành cho NHM.

Nước chủ nhà của kì WC 2014 hi vọng, những động thái mới này của Chính phủ sẽ giúp giảm thiểu tối đa nguy cơ gây rối và bạo động của các CĐV sau mỗi trận bóng.

Posted: Mon Nov 22, 2010 6:37 am
by quaichao

Image

Giải mật 2 tài Liệu của CIA :
1.Gia đình họ Ngô.

CIA and the House of Ngo: Covert Action in South Vietnam, 1954-1963 (CIA và Những Điệp Vụ Mật ở Miền Nam, 1954-1963) nói về những hoạt động bên trong để giúp đỡ chính phủ Ngô Đình Diệm, từ ngày ông Diệm về làm thủ tướng cho đến ngày tổng thống Diệm bị hạ sát trong cuộc cách mạng 1 tháng 11-1963.

Qua tài liệu này, lần đầu tiên chúng ta biết được, từ năm 1950 cho đến năm 1956, CIA có hai Sở tình báo ở Sài Gòn: một Sở CIA Saigon Station nằm dưới sự điều khiển thông thường từ bản doanh CIA ở Langley, Virginia; Sở kia, có tên là Saigon Military Mission, làm việc trực tiếp, và chỉ trả lời cho Giám Đốc Trung Ương Tình Báo.

Saigon Military Mission, theo Tài Liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) được giải mật trước đây, do đại tá Edward G. Lansdale chỉ huy. Lansdale đến Sài Gòn tháng 6-1954 với hai nhiệm vụ: huấn luyện những toán tình báo Việt Nam để gài lại ở miền Bắc trước ngày "di cư và tập kết" hết hạn; và, dùng mọi phương tiện ngầm (covert action) để giúp tân thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Nay, theo tác giả Thomas L. Aherns, chính Giám Đốc CIA Allen Dulles chỉ định đại tá Lansdale cho điệp vụ ở Sài Gòn - và cũng ra lệnh Lansdale làm việc trực tiếp cho ông. Tác giả Ahern viết, CIA có mặt từ năm 1950 để giúp đỡ quân đội Pháp xâm nhập và thu thập tin tức tình báo. Nhưng từ cuối năm 1953, khi thấy tình hình quân sự nguy ngập của Pháp, Hoa Thịnh Đốn thay đổi nhiệm vụ của CIA Saigon Station: Liên lạc và thu thập tình báo những thành phần quốc gia để lập một chánh thể chống cộng trong trường hợp Hoa Kỳ thay thế Pháp. Cùng lúc Hoa Thịnh Đốn gởi thêm một toán CIA để lo về quân sự, Saigon Military Mission.

CIA and the House of Ngo tiết lộ một số chi tiết ly kỳ như, CIA liên lạc và làm thân với ông Ngô Đình Nhu từ năm 1951, rất lâu trước khi Hoa Kỳ liên lạc với ông Diệm. Đầu năm 1954, khi có tin Hoa Kỳ chuẩn bị đề nghị quốc trưởng Bảo Đại và chánh phủ Pháp giải nhiệm hoàng thân Bửu Lộc và thay bằng ông Diệm, thì ông Nhu là người đầu tiên CIA gặp để bàn về liên hệ của Hoa Kỳ đối với thủ tướng tương lai Ngô Đình Diệm.

Liên lạc Ngô Đình Nhu

Tháng 4-1954, một nữ nhân viên Mỹ làm việc ở CIA Saigon Station, thông thạo tiếng Pháp, quen biết và liên lạc thân thiện với Bà Ngô Đình Nhu. Từ nữ nhân viên Virginia Spence này, Sở CIA Saigon bắt được nhiều liên lạc với hầu hết những người thân trong gia đình, hoặc thân cận với Nhà Ngô.

Tháng 4-1954, CIA ở Hoa Thịnh Đốn gửi Paul Harwood sang làm cố vấn riêng cho ông Nhu. Tuy là nhân viên CIA, nhưng Harwood đóng vai một nhân viên Bộ Ngoại Giao, làm việc từ Tòa Đại Sứ. Trong hai năm, Hardwood cố vấn là làm việc với ông Nhu để xâm nhập và ảnh hưởng đường lối ngoại giao quân sự của nền đệ nhất VNCH với tổng thống Diệm. Paul Hardwood thân thiện với gia đình ông bà Nhu đến độ ông ta là người đỡ đầu cho Ngô Đình Lệ Thủy, ái nữ của ông bà Nhu.

Từ tài liệu này chúng ta cũng biết thêm, ông bà Nhu được đưa qua thăm viếng Mỹ trước tổng thống Diệm. Để lấy tình cảm và ảnh huởng với ông Nhu, đầu tháng 3-1957 ông bà Nhu được CIA mời qua thăm Hoa Thịnh Đốn. Tuy không có một chức vụ gì chánh thức với chính phủ nhưng ông Nhu được diện kiến tổng thống Dwight Eisenhower, hai Bộ Trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng, và Giám Đốc CIA Allen Dullles. Tài liệu cho biết, với tài ăn nói và sắc diện, bà Nhu gây được nhiều chú ý với các thẩm quyền Mỹ. ... "Bà Nhu là một ngôi sao trong dạ tiệc" do CIA khoản đãi. Hai tháng sau chuyến thăm viếng âm thầm của ông bà Nhu, đầu tháng 5-1957, tổng thống Diệm lên đường công du theo lời mời của chánh phủ Hoa Kỳ.

Trong cuộc tranh chấp - rồi sau đó là giao chiến - giữa chánh phủ Diệm và quân phiến loạn Bình Xuyên, CIA biết được hầu hết kế hoạch và khả năng của Bình Xuyên, nhờ một cận thần của Bảy Viễn đang làm việc cho CIA. Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, một đảng chính trị thành lập để hổ trợ chính phủ Diệm, nhận tài chính và cố vấn từ CIA. Nhưng đến đầu năm 1960 thì CIA cắt ngân khoản vì cơ cấu nhân sự không còn hữu hiệu trong công tác tuyên truyền. CIA đã than phiền nhiều lần về những hoạt động của Đảng Cần Lao và hành vi của ông Ngô Đình Cẩn. Nhưng mỗi lần CIA than phiền với ông Nhu về những hoạt động bí mật - đôi khi trái phép - của ông Cẩn, thì ông Nhu "đưa hai tay lên trời" với một thái độ buông xuôi vì ông không thể nào làm gì được.

Ở một tài liệu khác cho biết, khoảng giữa năm 1956, CIA nhận được nguồn tin cho biết ông Cẩn đang bàn kế hoạch để loại trừ Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành và Cố Vấn Ngô Đình Nhu ra khỏi vòng ảnh hưởng ở Dinh Tổng Thống. Qua nhiều trang, chúng ta đọc được sự bất lực của chính phủ Sài Gòn đối với "lãnh chúa" Ngô Đình Cẩn ở miền Trung.

Với hai Sở CIA ở Sài Gòn hoạt động độc lập nhau, báo cáo gửi về cho CIA ở Hoa Thịnh Đốn đôi khi trái ngược: Cố vấn Paul Hardwood thì báo cáo tốt, nhân nhượng cho ông Nhu và có ý chỉ trích ông Diệm; Edward Lansdale ngược lại: bảo vệ ông Diệm và nói xấu ông bà Nhu. Cuối năm 1956, sau khi Lansdale bị triệu hồi về Mỹ, Al Ulmer, Trưởng Vụ Viễn Đông CIA, ra lệnh giải tán những gì còn lại của Saigon Military Mission - và thái độ của Hoa Kỳ cũng bắt đầu thay đổi với chính phủ Ngô Đình Diệm.

Liên lạc đối lập

Đầu năm 1958 Hoa Kỳ cho phép CIA Saigon bắt liên lạc với các đảng chính trị đối lập. Tài liệu nói nhân viên của CIA mua chuộc và thành lập một lực lượng đối lập "ngay sau lưng ông Nhu," để trong trường hợp phải thay đổi cấp lãnh đạo mới. Cuộc đảo chánh 11 tháng 11-1960 là một "hăm dọa" của Hoa Kỳ đối với tổng thống Diệm: Nhân viên CIA có mặt ở tại bộ chỉ huy của đại tá Nguyễn Chánh Thi và kế bên ông Hoàng Cơ Thụy để giới hạn bước tiến của quân đảo chính - điệp viên Russ Miller khuyên đại tá Thi nên thượng lượng với ông Diệm, trong khi biết rõ quân ủng hộ chính phủ của đại tá Trần Thiện Khiêm đang trên đường từ Vùng IV về thủ đô tiếp cứu. Khi thấy thái độ trở mặt của CIA, lưới tình báo của ông Nhu cũng không hoàn toàn thụ động: Phó Sở CIA Saigon, Douglas Blaufarb, ngỡ ngàng khi ông khám phá ra người tài xế Việt Nam của ông không bị điếc như lúc được giới thiệu vào làm việc (do Trần Kim Tuyến giới thiệu); người tài xế không điếc mà còn thông thạo hai ngoại ngữ Anh và Pháp!

Tài liệu thú nhận vào năm sau cùng của Nhà Ngô, Hoa Kỳ có một phần lớn trách nhiệm trong kế hoạch hạ bệ tổng thống Diệm. Nhưng chính gia đình ông Diệm cũng hủy hoại, vì sự chia rẽ từ anh em trong nhà. Từ mùa xuân năm 1963 ông Nhu yêu cầu CIA đừng nói lại những gì ông và CIA trao đổi. Và qua nhiều lần nói chuyện với CIA, ông Nhu tuyên bố ông muốn thay tổng thống Diệm! Trong khi đó bà Nhu thì thường làm hùng làm hổ với tổng thống Diệm: trong cuộc bầu cử Hạ Viện năm 1963, bà Nhu muốn ủng hộ 30 ứng cử viên mà ba ta ưng ý. Ông Diệm không đồng ý, nhưng bà Nhu "cằn nhằn, to tiếng" cho đến khi tổng thống Diệm nhượng bộ. Bà Nhu cũng thắng thêm một lần nữa, khi đòi làm người chủ tọa và đọc diễn văn ngày Lễ Hai Bà Trưng - thay phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ như ông Diệm đã chỉ định. Riêng về ông Ngô Đình Cẩn: ông Cẩn từ chối không ủng hộ hay giúp ông Nhu về Chương Trình Ấp Chiến Lược ở Miền Trung.

Ngày Lễ Quốc Khánh Hoa Kỳ, 4 tháng 7-1963, lần đầu tiên tổng thống Diệm cho phép các tướng lĩnh VNCH tham dự tiệc ăn mừng do tòa đại sứ tổ chức. Sau tiệc rượu ở khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ, một vài tướng lĩnh VNCH và nhân viên CIA kéo nhau ra quán để uống nữa. Tại quán rượu, tướng Trần Văn Đôn nói với nhân viên CIA là các tướng muốn đảo chính tổng thống Diệm. Thảm kịch của Nhà Ngô bắt đầu từ đó.

2.Các tướng lĩnh miền Nam

Tài liệu thứ hai, CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam (CIA và Các Tướng Lĩnh: Những Hỗ Trợ Ngầm Cho Chính Phủ Quân Sự Việt Nam Cộng Hòa), cũng tương đối "tối mật" so với những tài liệu được CIA công bố trước đây.

Tài liệu trong CIA & Generals bắt đầu sau cuộc đảo chính 1 tháng 11-1963. Những gì đến từ tài liệu cho thấy ngay sau đảo chính, như một tập thể, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được hòa thuận; và, như những liên hệ cá nhân, các tướng đã nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chính.

Trước khi đảo chính, tướng Nguyễn Khánh đã nói xấu về hai tướng Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm với tổng thống Diệm và một số nhân viên CIA. Qua nhiều chi tiết, chúng ta thấy các tướng làm việc chung vì phải tựa vào nhau để mưu cầu lợi quyền lợi riêng, chứ không thật sự có chung một lý tưởng. Trước ngày tướng Khánh "chỉnh lý" tướng Minh và bốn tướng Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, và Trần Văn Đôn, tướng Khánh thường xuyên rỉ tai với CIA về tin đồn những tướng nói trên sẽ theo Pháp để biến Việt Nam thành trung lập.

Tháng 2-1964 tướng Nguyễn Văn Thiệu đã đưa nhiều sĩ quan thuộc Đảng Đại Việt nằm vào những chức vụ quan trọng trong quân đội. Khi được hỏi để làm gì, tướng Thiệu trả lời để triệt hạ cộng sản và những thành phần thân cộng. Nhưng CIA có nguồn tin cho biết ông Thiệu sẽ dùng sĩ quan Đại Việt để đảo chính ông Khánh. Và chuyện xảy ra đúng như vậy. Tướng Khánh rất ngây thơ khi "hù" tướng Thiệu là Mỹ sẽ "chơi" ông. Nhưng, như chúng ta đã thấy, Mỹ chơi ông Khánh trước ông Thiệu!

Chân dung một số vị tướng

Những chi tiết được giải mật trong CIA & Generals: Trong các tướng VNCH, CIA kính trọng kiến thức của tướng Lê Văn Kim nhất. Trong một buổi thuyết trình về các kế hoạch "kín" đang thực hiện trên đất Bắc, trong khi mặt tướng Dương Văn Minh "ngớ" ra với những chi tiết tình báo quân sự, tướng Kim lấy được sự kính trọng của tình báo Hoa Kỳ với những câu hỏi rất chuyên nghiệp.

Tướng Nguyễn Đức Thắng được người Mỹ kính nể. Trong một báo cáo, Giám Đốc CIA Richard Helms đề nghị cho tướng Thắng cùng một lúc giữ hai Bộ Quốc Phòng và Xây Dựng Nông Thôn, với tất cả cơ cấu và cố vấn Hoa Kỳ "nằm dưới quyền thống thuộc của tướng Thắng."

Về tướng Nguyễn Ngọc Loan, mặc dù người Mỹ không thích tướng Loan vì sự thẳng thắn của ông, nhưng họ nhận định tướng Nguyễn Ngọc Loan là một người thật thà, can đảm, biết được ẩn ý của người Mỹ. Tướng Loan không sợ khi nói thật ý nghĩ của ông với tình báo Mỹ. Đầu năm 1967, khi biết được Hoa Kỳ đang đi sau lưng chính phủ VNCH, liên lạc với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, ông Loan nói với CIA là người Mỹ từ đây sẽ đi sau lưng người quốc gia ... và sau cùng người Mỹ sẽ bỏ đi, chỉ còn VNCH một mình đơn thân chống lại Bắc Việt.

Cuối năm 1966 Hoa Kỳ có ý định "bắt liên lạc" với một vài nhân sự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Lý luận của CIA là họ muốn xâm nhập vào nội bộ để gây chia rẽ giữa cấp lãnh đạo MTGPMN và Hà Nội. Muốn lấy lòng tin của MTGPMN, CIA xin chính phủ VNCH phóng thích vài nhân sự quan trọng của MTGPMN đang bị Cảnh Sát Quốc Gia VNCH giam giữ, trong đó có vợ của Trần Bạch Đằng (bà Mai Thị Vàng) và Trần Bửu Kiếm (bà Phạm Thị Yến), và một số cán bộ giao liên.

Ban đầu VNCH phản đối, nhưng sau cùng vì áp lực cũng phải cộng tác với Hoa Kỳ trong kế hoạch liên lạc với MTGPNM. Từ tháng 2-1967 cho đến tháng -1968, VNCH thả bà Vàng và bà Yến, cộng thêm 10 cán bộ giao liên phía bên kia. Đổi lại, phía MTGPMN chỉ thả ba tù binh Hoa Kỳ. Nhưng từ đó VNCH - nhất là tướng Nguyễn Ngọc Loan - thấy Hoa Kỳ sẵn sàng "xé lẻ" nếu tình thế phù hợp với đường lối ngoại giao của họ.

Qua các tài liệu giải mật sau này, chúng ta thấy CIA có một hồ sơ rất chi tiết về nhân sự và cơ cấu của MTGPMN. Thêm vào đó, CIA cũng có luôn những báo cáo của Chánh Phủ Lâm Thời Miền Nam Việt Nam (là hậu thân của MTGPMN từ tháng 6-1969) gởi về cho Trung Uơng Cục Miền Nam, cập nhật những diễn tiến ở Hội Đàm Paris 1968-1973.

3.Nội bộ VNCH

CIA xâm nhập sâu vào cơ cấu hành chính và nhân sự của VNCH trong khoảng 1967-1975, nhất là sau cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng Hòa (1967). Vì kết quả bầu cử phải được Hạ Viện VNCH chứng nhận hợp pháp - nhất là một cuộc bầu cử mà hai ứng viên cùng chung liên danh (Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ), đã cấu xé nhau trước khi ngồi lại với nhau, và hầu hết liên danh thất cử nào cũng phản đối kết quả - Hoa Kỳ chỉ thị cho CIA phải tìm mọi cách bảo đảm Hạ Viện sẽ chứng nhận kết qủa bầu cử. Hạ viện bỏ phiếu thuận 58 trên 43, xác nhận liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử.

Tài liệu trong CIA & Generals nói tình báo Mỹ đã khuynh đảo một số dân biểu trong hai bầu cử tổng thống 1967 và 1971 (và bầu cử Quốc hội của năm 1970). CIA mua chuộc được 10 dân biểu, "nhưng muốn có thêm 10 tiếng nói" ủng hộ nữa, để chắc ăn về những dự luật đang nghị luận! Tài liệu cho biết CIA đã tốn bao nhiêu tiền để thành lập hay giúp đỡ các đảng phái chính trị với hy vọng các lực lượng này sẽ ủng hộ và xây dựng một thế lực phía sau tổng thống Thiệu. Đảng Mặt Trận Cứu Nguy Dân Tộc, (của thượng nghị sĩ Trần Văn Đôn) được CIA tài trợ với hy vọng trên. Nhưng khi biết được người đứng ra tổ chức là Đặng Đức Khôi - một thân tín của ông Kỳ - ông Thiệu từ chối ủng hộ. Để có một tổ chức riêng, ông Thiệu cho ra đời Lực Lượng Dân Chủ.

Sau Đảng Dân Chủ, CIA tài trợ một lực lượng chính trị khác, có tên Đảng Liên Minh Cách Mạng Xã Hội, với hy vọng gom lại tất cả lực lượng chính trị thành một mặt trận chung, dưới sự lãnh đạo chung của tổng thống Thiệu và phó tổng thống Kỳ. Nhưng vấn đề là hai ông Thiệu, Kỳ không còn muốn xuất hiện chung với nhau ngoài công cộng! Sau cùng, với sự nài nỉ của người Mỹ, và vì lợi ích quốc gia, Khối Liên Minh được khai mạc ngày 4 tháng 7-1968, với sự chủ tọa của hai ông Thiệu và Kỳ.

Khối Liên Minh tập họp hơn 25 đảng phái chính trị lớn nhỏ ở Miền Nam. CIA tài trợ Đảng này cho đến cuối năm 1969. Tuy nghe theo lời cố vấn của Hoa Kỳ, nhưng tổng thống Thiệu lúc nào cũng nghi ngờ dụng ý của người Mỹ. Ông nói với nhân viên CIA là không những VNCH phải đương đầu với sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào Nam, mà còn phải đương đầu với sự xâm nhập của CIA vào nhân sự của chính phủ!

Những tiết lộ khác trong CIA & Generals: Tình báo của MACV biết rõ ngày giờ Bắc Việt sẽ tấn công qua vùng Phi Quân Sự trong trận tổng công kích Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, nhưng Hoa Kỳ không thông báo cho VNCH, hay tấn công vào các đơn vị Bắc Việt đang tập trung quân. Ngược lại, thái độ của đại tướng Creighton Abrams và đại sứ Bunker rất lạc quan, hai ông tuyên bố - trong cao điểm của cuộc tấn công - là Bắc Việt sẽ mất hết quân sau trận tổng tấn công. Những chi tiết này làm người đọc không khỏi thắc mắc, là có phải Hoa Kỳ đã cố ý để cho cuộc tấn công xảy ra? Chi tiết này làm cho đọc giả nhớ lại câu đối thọai của tổng thống Richard Nixon với Henry Kissinger là "... sau trận này, hai bên phải có một bên hết quân."

Từ tháng 8-1972, để chuẩn bị cho những thương lượng sau cùng của Kissinger và Lê Đức Thọ ở Paris, CIA được lệnh phải làm hao mòn sức chống đối của tổng thống Thiệu về một số điều khoản trong bản hiệp định (một trong những điều khoản ông Thiệu cực lực phản đối, là Hoa Kỳ đồng ý cho Bắc Việt để lại quân ở Miền Nam, Lào, Cam Bốt). Một số tài liệu giải mật ở giai đoạn này (tháng 8 1972 cho đến lúc ký Hiệp Định Paris, tháng 1-1972) cho thấy CIA có điệp viên nằm trong Trung Ương Cục, qua những tin tức họ nhận được về cuộc nói chuyện giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.

Tuy là tài liệu được giải mật, nhưng một số lớn chi tiết, tên tuổi của những điệp viên, điềm chỉ viên trong sách vẫn còn bị kiểm duyệt. Nhưng nếu độc giả gom những chi tiết trong CIA & Ngo, trong CIA & Generals, và so sánh với một số tài liệu đã được giải mật từ Bộ Ngoại Giao (Foreign Relations of the United States, Vietnam), đọc giả có thể suy luận ai là ai nằm dưới những lằn đen kiểm duyêt

Posted: Mon Nov 22, 2010 7:46 pm
by KýCóp
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?

Giao Chỉ, San Jose
Biết làm gì cho hết nửa đời sau?
(Cao tần...)


Trung tá Dương của Bộ Tổng Tham mưu vừa đến thăm tôi mấy bữa nay. Ông bạn già đi lính trước anh em, năm nay ngoài 80. Học thức uyên thâm nhưng chậm chạp từ tốn. Một thứ công chức nhà binh. Khi tôi lên Thiếu tá tại miền Ðông thì ở Saigon ông Dương vừa lên Trung tá. Rồi ông đóng luôn ở đó. Tôi lên Trung tá, rồi Đại tá. Trung tá Dương thành ông Dương già. Ngài chậm chân nên 75 ở lại đi tù. Hỏi bác Dương “cải tạo” mấy năm, ông đưa 2 ngón tay. Không phải là 2 năm đâu, mười một năm. Bác làm gì mà bây giờ mới qua? Trả lời rằng bà xã mới đầu không chịu đi. Ba đứa con thì một đứa một dâu vượt biên. Một đứa chìm xuống biển Ðông. Còn lại một đứa con cái đầy đàn nên không đủ điều kiện. Bác Dương gái không chịu đi. Khi muốn đi thì lại bệnh. Ðầu năm nay đến Wisconsin được mấy tháng thì qua đời. Ông HO già chôn vợ xong là bay qua San Jose hỏi chuyện 35 năm qua tại Hiệp Chủng Quốc, Hoa Kỳ. Suốt bao năm ông bạn già của tôi chỉ theo đuổi có một đề tài “Kháng chiến Phục Quốc”. Những năm còn ở Việt Nam ông sống bằng tin đồn, những năm sau này ông sống bằng tin tức trên thế giới mạng.

Trung tá Dương biết chuyện ông Hoàng cơ Minh chết trên báo Công An và bác quen biết rất nhiều với ông Phạm văn Liễu. Bác tâm sự:
“-Liễu hơn “moi” mấy tuổi, nhưng tụi này biết nhau đã lâu. “Moi” rất phục “lui”, tay chọc trời khuấy nước. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai, Ngày xưa báo chí gọi hắn là chuyên viên đảo chánh. Nghe tin mới chết ở San Jose mà làm sao chôn cất âm thầm lắm. Ông Lộc này, tôi qua đây ngoài chuyện Liễu, tôi muốn hỏi chuyện ông. Suốt 35 năm qua, bọn “toa” chạy trước ngoài cái vụ mưu sinh cơm cháo ra thì có ai làm được chuyện gì đáng kể không? Chuyện Minh với Liễu ngày xưa thực sự ra sao?”

Hỡi người chiến binh một đời anh dũng,
mày lang thang đất lạ đến bao giờ.(Cao Tần)


Câu trả lời cho Trung tá Dương già đã đưa tôi trở về với quá khứ năm 1980. Ngày đó mới vay tiền down $10,000 mua được ngôi nhà đường Mc.Laughlin. Ðang tập cắt cỏ vườn trước, vườn sau. Ðã nộp hồ sơ xin vô quốc tịch. Cuối tuần mới đi họp đấu tranh cho tù chính trị Việt Nam được trả tự do. Hoạt động hăng hái trong hội Cựu chiến sĩ cùng với Trần Ngọc Nhuận, Nguyễn Xuân Phác, lại có cả bác sĩ Trần Xuân Ninh. Nhà Nguyễn Xuân Phác ngay sau nhà tôi. Bác biết tay Phác con cụ Nguyễn Xuân Chữ. Ông già gật đầu nói rằng Trung tá Phác bên tình báo “moi” có biết. Ðúng vậy, Phác mời tôi qua nhà gặp khách phương xa. Ðến nơi Hoàng cơ Minh, Phạm văn Liễu đã ngồi sẵn, có cả Nguyễn Tường Bá và Ðỗ Hữu Phú. Các anh rủ bọn này theo kháng chiến, đi làm cách mạng phục quốc. Anh Minh tôi có gặp lần cuối ở căn cứ Cam Ranh lúc sắp tan hàng. Sau này khi di tản thì có ở chung trại Barrigada bên đảo Guam. Phần ông Liễu tôi có biết nhưng không quen.

Tối hôm đó anh Minh vào cỡ tuổi tôi, ngồi yên, ít nói. Ông Liễu là thuyết khách chính. Câu chuyện của mấy tay này rất "nghiêm túc" và gây xúc động cho anh em. Phải nói thực lòng, không biết người khác nghĩ sao, nhưng riêng tôi, dù chạy thoát được nhưng hết sức trăn trở. Nếu phải làm lại thì cũng vẫn phải chạy thôi, không làm khác được. Nhưng mặc cảm tội lỗi vẫn là sự thực. Phải mà bây giờ theo kháng chiến thì việc chạy trốn mới giải thích được cho chính lương tâm của mình. Tuy nhiên, tham gia vận động quần chúng lập phong trào thì bắt buộc phải thoát ly, không dễ gì bỗng chốc dứt bỏ được gia đình. Thêm vào đó, giải pháp tìm đường về qua miền Ðông Nam Á, Thái, Lào hay Tam Biên vẫn còn là những viễn ảnh rất mơ hồ. Cá nhân tôi hết sức ngưỡng mộ nên đã hứa hẹn yểm trợ, nhưng sự hy sinh toàn diện thì vẫn còn giới hạn. Tuy khéo léo chối từ nhưng mình cũng thừa biết rằng sự khôn ngoan vẫn là vỏ bọc của hèn nhát.

Tôi tiếp tục tâm sự với bác Dương, suốt từ năm 80 cho đến nay mình vẫn giữ trọn vẹn một lời nguyện ước. Tôi ngưỡng mộ những người đi kháng chiến phục quốc. Tôi hỗ trợ anh em, tin tưởng anh em, thông cảm anh em. Dù các anh từ trời Âu như Trần Văn Bá, Mai văn Hạnh, từ Úc như Võ Ðại Tôn, hay từ Mỹ như Hoàng Cơ Minh.

Nếu phải kể tên những người bỏ bác Dương ở lại mà chạy, vẫn có nhiều chiến hữu không hổ thẹn khi gặp lại anh em. Nhưng trong số các cấp chỉ huy “một đời anh dũng, không chịu lang thang nơi đất lạ” phải kể đến Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu.
Image
Hoàng Cơ Minh Hải quân
Ðiểm mặt anh hùng.

Chúng tôi uống thêm một tuần trà rồi đến lượt bác Dương nói chuyện về ông Liễu:

“Chắc ông Lộc biết, tụi này là Quốc Dân Ðảng thứ thiệt, vẫn thường sinh hoạt từ Saigon nên biết rõ anh em. Anh Liễu là đàn anh bí danh Trần Sơn Nam theo Quốc Dân Ðảng từ 1945, sinh viên của trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn trên Lào Kay. Năm 1951 vào võ bị Ðà Lạt khóa 5.
Năm 1955 nhận bàn giao các đại đội tác chiến của hải quân Pháp và trở thành tiền thân của Thủy quân lục chiến Việt Nam sau này.
1957 Anh làm Tham mưu trưởng trường Ðà lạt rồi Tham mưu trưởng Trung Tâm huấn luyện Quang Trung, Tham Mưu Trưởng Sư đoàn 7 bộ binh.

Năm 1965 Thủ tướng Phan Huy Quát, Anh làm tổng giám đốc cảnh sát quốc gia. Rồi Chỉ huy trưởng Ðồng Ðế. Sau cùng về Phụ tá đặc biệt tại Quân đoàn III từ 1968.”

“Giữa các chức vụ kể trên, anh Liễu tham gia rất nhiều cuộc đảo chánh nên gần như không được giao chỉ huy đơn vị. Phần lớn là công tác tham mưu, huấn luyện hay ngồi chơi xơi nước. Tính tình cương trực, nóng nảy nhưng rất nhiều sáng tạo và nhiệt thành. Phạm văn Liễu có khả năng thuyết phục và có dòng máu cách mạng luôn luôn chảy trong huyết quản ngay từ lúc còn là cán bộ quân chánh của Quốc dân đảng tại Vĩnh yên từ 1945.”

Trong khi đó tại Bộ TTM, bác Dương cũng đã từng biết Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh, một tướng lãnh trẻ tuổi của Hải quân đã có những thành tích xuất sắc trên các chiến trường miền Nam với hoạt động của các Hải đoàn xung phong. Ðã có một thời gian ngắn, Tướng Minh là Tư lệnh của mặt trận Thủy bộ duyên hải trong giờ phút tuyệt vọng tại Quân khu II trên biển Ðông.

Trăng tròn rồi trăng khuyết, mây hợp rồi mây tan. Người gần để ly biệt.

Bác Dương này, bây giờ để tôi nói cho bác rõ Liễu với Minh gặp nhau ra sao và tan hàng như thế nào.

Ông Liễu ở tuổi bác, anh Minh thì ở tuổi tôi, nhưng đó là những người ngoại hạng. Lúc nãy tôi có nói năm 1980 ông Liễu với anh Minh về San Jose thuyết phục chúng tôi gia nhập kháng chiến. Cũng năm đó Hoàng Cơ Minh “take over” Lực lượng quân dân của Trung tá Lục Phương Ninh rồi đem nhập vào Phục Hưng và Người Việt Tự Do từ Nhật để thành lập Mặt Trận. Sau này Phục Hưng rút ra, sự kết họp tổ chức chỉ là hình thức. Sự giao duyên của Liễu và Minh là yếu tố chính. Anh Minh sẽ là đầu tầu trở về và ông Liễu xây dựng hải ngoại.. Cụ Phạm Ngọc Lũy, thuyền trưởng tàu Trường Xuân là thành phần yểm trợ. Ngày 8/3/1982 tin tức mặt trận đưa lên TV thời sự Hoa Kỳ chỉ có hơn 4 phút làm rung động thế giới Người Việt hải ngoại.Với kịch bản đóng trong rừng núi Thái Lan kháng chiến trở thành thực thể và khởi đi như sóng trào dâng trong lòng người, tràn ra khắp mọi nhà. Lúc đó, tôi hết sức hân hoan, viết một bài báo đầu tiên ca ngợi kháng chiến, đó là bài “Ðường mòn Hoàng Cơ Minh.
Image
San Jose 1984
Cao điểm của phong trào là năm 1983 kháng chiến tổ chức đại hội chánh nghĩa tại Hoa Thịnh Ðốn. Những ngày tháng vinh quang rực rỡ và hết sức êm đẹp của huyền thoại kháng chiến. Người đi về từ khu chiến là tướng Hoàng Cơ Minh và người xây đắp nền móng của hậu phương hải ngoại là ông Phạm văn Liễu. Một sự kết hợp bất khả phân ly.

Anh đi đường anh tôi đường tôi. Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.

Ngày 17/3/1984 trên 10 ngàn người tham dự cuộc đón tiếp Hoàng Cơ Minh tại San Jose. Không thể tả được niềm hân hoan dâng cao đến mức nào trong lòng dân hải ngoại. Nhưng đến tháng 12-1984 thì tình hình đã khác biệt. Bên chiến khu tại Thái Lan ngày 25 tháng 12-84 cộng sản tấn công và thanh toán tiền đồn Hải Vân của kháng chiến. Ngày 29/12/84 anh Minh từ Thái Lan về quyết định giải nhiệm ông Liễu. Cùng một lúc Đại hội kháng chiến tại Nam Cali ủng hộ ông Liễu và đặt vấn đề với tướng Minh.
Tại Đại hội kháng chiến từ bốn phương về họp, với tư cách Tổng vụ trưởng hải ngoại, ông Liễu nói đi nói lại một lời: Lỗi tại tôi.

Vì đại cuộc, vì hiềm khích cá nhân, vì khác biệt đường lối, vì tài chánh,vì nhân sự hay vì bất cứ lý do gì thì Phạm văn Liễu cũng danh xác nhận: Lỗi tại tôi.

Thực vậy trước một đại hội thành phần tham dự phần lớn do chính ông thuyết phục và tổ chức. Ông đồng thời cũng là người xây dựng vai trò thần tượng Hoàng Cơ Minh. Khi chính vị tướng chỉ huy thần tượng giải nhiệm Tổng vụ trưởng thì việc ông Liễu nhận lỗi trước anh em cũng là phải phép.

Thời kỳ cuối năm 84 đó, tại chỗ cơ quan của tôi có bác sĩ Ðỗ văn Hội làm việc. Anh Hội nhiệt thành với kháng chiến. Anh ngồi khóc với nước mắt ràn rụa trong phòng của tôi. Anh ước mong có thể làm sao cho hai người mà anh gọi là các anh lớn gặp nhau. Bác sĩ Hội mong có phép lạ, có ai đủ sức nói cho Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu ngồi lại, cùng nhường nhịn, cùng hy sinh xây dựng lại đại nghĩa. Sau đó nhiều năm tháng, bác sĩ Ðỗ văn Hội vẫn còn giữ mãi giấc mơ tuyệt vọng.

Nếu đã không mong sum họp lại, sao đành lỗi hẹn lúc chia phôi.
Sau khi chia tay, ông Liễu có sinh hoạt với tổ chức mới một thời gian nhưng không thành công. Phía ông Minh kiên trì hơn, có nhân lực, có tài chánh và có lãnh đạo, con đường kháng chiến tiếp tục. Nhưng trong suốt 3 năm từ 85, 86 cho đến 87, tướng Hoàng Cơ Minh chỉ còn một con đường đi theo khẩu hiệu của chính ông “Kháng chiến hay là chết”.

Những chiến dịch Ðông Tiến hết sức hào hùng, lãng mạn và đầy ảo tưởng đều lần lượt đưa anh em vào chỗ chết.

Tháng 5-1985 đại tá Dương Văn Tư chỉ huy Ðông Tiến I lên đường. Tất cả đều hy sinh.

Tháng 9-1986 tướng Minh đích thân chỉ huy Ðông Tiến II, phá hậu cứ, tuyệt đường về. Quyết tâm một đi không trở lại. Nhưng vượt sông không thành thất bại phải quay về.

Tháng 7-1987 tướng Minh chỉ huy Ðông Tiến II lần thứ hai. 120 quân nhân bị các đơn vị cộng sản luân phiên đánh suốt 40 ngày. Cuối cùng tướng Minh và một số cán bộ bị bao vây. Hoàng cơ Minh bị thương đã dùng súng lục tự sát ngày 18-8-1987, 14 năm sau vào tháng 7-2002 mặt trận mới chính thức công bố tướng Minh đã hy sinh.

Sau Ðông Tiến II, sĩ quan nhảy dù Ðào bá Kế tiếp tục tổ chức Ðông Tiến III với tất cả thành phần còn lại của kháng chiến. Một lần nữa và cũng là lần sau cùng Ðông Tiến III bị đánh tan tại Nam Lào, tất cả đã bị hy sinh và bị bắt. Ðào bá Kế, người chỉ huy vẫn còn bị cộng sản giam giữ cho đến nay.

Như vậy năm 1987 anh Minh chết mới có 52 tuổi. Trong khi đó ông Liễu mất ngày 20 tháng 10 năm 2010 hưởng thọ 83 tuổi.

Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?
Image
Đại tá Phạm Văn Liễu
Xin nói đến đoạn cuối về cái chết của ông Phạm văn Liễu. Bác Dương chỉ biết ông Liễu ngày xưa, bác đã quan tâm đi từ Wisconsin về đây để hỏi thăm về chuyện sau này, tôi xin được kể tiếp.

Phải nói ngay rằng sau khi chia tay với mặt trận thì ông Liễu cũng đã lớn tuổi và không còn thời cơ để sinh hoạt mạnh mẽ như trước. Ông nỗ lực lo viết và hoàn tất 3 tập hồi ký “Trả ta sông núi.” Có điều rất đáng tiếc là ông Liễu sau đó đã đóng vai con người biết quá nhiều và cũng nói quá nhiều. Toàn là những chuyện xấu từ thủa cùng anh Minh kết nghĩa đoàn viên. Nếu nói rằng Minh và Liễu là sự kết hợp một đời cho đại cuộc thì khi hai người quay lưng hai ngả, họ đã phụ bạc nhau nhiều hơn so với những gì họ đã vun xới cho nhau. Nhưng Hoàng cơ Minh sau khi xuống tay, dứt điểm Phạm văn Liễu, dù đúng hay sai, anh dứt khoát Ðông Tiến, đi về phía mặt trời mọc, để tìm cái chết sau cùng. Anh Minh làm được,vì anh cô đơn giữa rừng già biên giới. Anh chỉ có con đường duy nhất: Kháng chiến hay là Chết. Và Hoàng cơ Minh đã chết.

Ông Liễu khi rời bỏ Kháng chiến, nhưng vẫn còn đầy đủ anh em. Bàn ra tán vào. Ông không có đủ nghị lực để im lặng. Ông nói xấu Kháng Chiến. Sau bao năm lưu lạc giang hồ, đã đến lúc ông trở về với gia đình tại Sacramento được vài năm thì vợ qua đời. Chị Liễu ra đi năm 1992 mới có 54 tuổi.

Năm 1996 thì ông Liễu bị đau nặng lúc thăm anh em bên Pháp. Hai vợ chồng bác sĩ Nguyệt tức ca sĩ Thu Hà ở San Jose phải chính thức qua hộ tống về Mỹ. Không có bác sĩ tháp tùng là không được lên máy bay. Từ ngày đó ông ngồi xe lăn về Texas ở với gia đình em gái.

Năm 2007 cô con gái ở San Mateo đưa ông về một dưỡng đường cho người già tại Half Moon Bay thuộc thị xã Moss Beach trên liên tỉnh lộ số 1 chạy dọc ven biển duyên hải Cali từ Bắc xuống Nam. Những năm sau này, ông không còn nói đến chuyện kháng chiến nữa.

Từ mấy năm qua thì anh em thân hũu San Jose cũng thường đến viếng thăm. Năm 2008 bác sĩ Vượng và bạn bè còn đẩy xe lăn cho Đại tá Liễu vào dự văn nghệ của IRCC tại San Jose. Lâu lâu chở ông đi ăn phở. Tuy nhiên, kể từ năm 2007 mà vào ngồi xe lăn trong viện dưỡng lão là kể như công cuộc kháng chiến với trời đất đã tính từng ngày.

Thời gian gần đây ông có nói lại với con gái là khi ra đi hãy thiêu đốt trong phạm vi gia đình rồi mới đăng cáo phó. Di chúc của ông đã được gia đình tuyệt đối tuân theo. Như vậy thì ai biết mà đi đưa. Thấy cáo phó chỉ còn kịp đăng báo chia buồn. Phút sau cùng của ông không có một bạn bè chiến hữu nào hiện diện.

Ông là Quốc Dân Ðảng mà đâu có ai là Quốc dân Ðảng viếng thăm?
Ông là Thủy quân lục chiến mà đâu có thấy lính mũ xanh phủ cờ, chào kính?
Ông là Tổng giám đốc Cảnh sát mà đâu có Hội Cảnh sát tiễn đưa?

Xin cho bác Dương hay vì năm xưa tôi đã có dịp chứng kiến một lần hỏa thiêu đơn giản ra sao. Từ nhà xác di hài đặt trong hộp carton trên một xe đẩy tay. Không cần quan tài. Có thể một cỗ hàng của nhà đòn chùm lên trên, có thể không có. Nhà đòn đẩy qua lò thiêu. Thân nhân đi theo sau. Cỗ hàng chùm bên trên được lấy ra. Ðẩy hộp carton vào lò và đóng cửa lại. Một người bấm nút điện. Lò thiêu chuyển động. Lửa bùng lên cấp kỳ với độ nóng khủng khiếp. Trong khoảng khắc là xong. Không có lời truy điệu, không có lễ nghi quân cách, không có phủ cờ.

Ông Phạm văn Liễu chết lúc 2 giờ chiều ngày 20/10/2010. Buổi sáng còn ăn sáng, đến trưa không thấy ngài lăn xe đi ăn, y tá đến thì thấy bác đi rồi, không có cả thân nhân bên cạnh. Khi vào tuổi già, như ngọn đèn dầu, ai biết tắt lúc nào mà canh thức ngày đêm?

Tôi kéo ghế ngồi lại cạnh ông Trung tá vốn tay Việt Quốc kỳ cựu, năm nay cũng 81 tuổi. Tôi nói thêm rằng ở đây có hai đám tang được coi là vĩ đại. Ðó là tang lễ của Trung tướng Nguyễn văn Thiệu và Đại tướng Cao Văn Viên. Có cả cờ sao và quốc kỳ. Có các binh chủng và binh phục. Khai quân hiệu và bế quân hiệu. Quan khách thăm viếng mấy ngày. Nhưng bác thử so sánh với cái chết của Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh và Đại tá Phạm Văn Liễu xem sao. Hai ông này đã đến với nhau trong tình tự xây dựng núi sông. Lại xa nhau cũng vì đòi Trả ta sông núi theo lề lối khác nhau. Một ông chết trẻ, một ông chết già. Ông chết cô đơn trên núi rừng. Ông chết lạnh lẽo bên bờ duyên hải sau khi đã ngồi trên xe lăn suốt 13 năm sau cùng.

Từ đầu tháng 7 năm 1987 ông Minh khởi sự Ðông Tiến là đã chuẩn bị cho chính mình cái chết sau cùng. Cái chết kéo dài 40 ngày. Kháng chiến quân bị bắt đã khai rằng ông Thầy bị thương, ngồi dựa gốc cây, cầm khẩu súng lục giơ cao, rồi tự bắn vào mang tai.

Vào năm 2007, ngồi xe lăn vào viện Seton, ông Liễu có 3 năm để chuẩn bị từ giã trần gian cho đến ngày cuối cùng. Khoảng cách 23 năm từ 1987 khi ông Minh chết tại Nam Lào cho đến 2010 lúc ông Liễu chết tại Bắc Cali có ý nghĩa gì. Xem ra như vậy chuyện chung sự của ông Minh và ông Liễu có phần rất giống nhau. Ðó là tang lễ của những người chiến sĩ anh hùng.
Còn nhớ năm xưa, ngày 29-12-1984 bác sĩ Ðỗ văn Hội ngồi khóc với niềm mong ước hải quân đề đốc Hoàng Cơ Minh và đại tá thủy quân lục chiến Phạm văn Liễu ngồi lại với nhau để làm nên đại cuộc. Bây giờ chẳng cần thuyết phục, các ông cũng đến gặp nhau, nhưng việc lớn ở trần gian sao vẫn còn dang dở.

Tiễn đưa bác Dương trở về lại với con cháu ở xứ tuyết Wisconsin tôi tặng bác tấm hình Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu, ông đem lên chùa bên đó để cạnh nhau, nếu Việt Quốc với Việt Tân có anh nào ở đó thắc mắc xin ông báo cáo về Tổng Tham mưu cho tôi giải quyết. Năm nay bác cũng đã ngoại bát tuần, xin cẩn thận. Khi nằm xuống ở miền băng giá lấy đâu ra lễ nghi quan cách. Thôi thì ta cứ liệu bề chôn cất rồi bảo trẻ con nó báo tin sau. Nếu đã không mong xum họp mãi, bận lòng chi nữa lúc ra đi...
Dạo này mình hay đem thơ thiên hạ ra đọc lảm nhảm.

Giao Chỉ, San Jose

Tái Bút

Chúng tôi sẽ lần lượt phát hành 5 bộ sách trong năm 2011 để lấy tiền trả nợ Museum với Tựa đề :

Giao Chỉ Văn Tuyển, từ 2,000 bài viết suốt 30 năm qua.

Xin đón coi tác phẩm đầu tiên tựa đề :
Bên kia biên giới, trích từ lời bài ca:
“Này em anh sẽ về bên kia biên giới,
đèn nhà ai hay đốm lửa quê người....”

Sách này gổm 20 bài viết của Giao Chỉ về các công cuộc
Kháng chiến Phục quốc trong 35 năm qua.
Chân thực, thương cảm, hào hùng
Người ra đi và người ở lại, đã sống và chết ra sao?
Sách đọc xong, nếu không vừa ý, xin đốt sách chụp hình tro tàn với bìa sách.
Gửi về, chúng tôi sẽ bồi hoàn với lời cáo lỗi.

Có thể gửi thư và chi phiếu 20$ về :

IRCC, Inc.
1445 Koll Circle #110
San Jose CA 95112
USA

Chúng tôi sẽ gửi sách đi khắp thế giới bao luôn cước phí ngay khi in xong vào cuối năm 2010.
Trân Trọng
IRCC, Inc.

Posted: Tue Nov 23, 2010 1:41 am
by vuphong
ĐIỆU MÚA TRÊN AO VÀNG - ON GOLDEN POND
(Đặc biệt gửi gắm tâm tình tới nhà thơ Hoa Văn mà tôi có dịp hạnh ngộ tại Boston College trong một buổi mạn đàm về Văn Học Tôn Giáo do nhóm Sứ Điệp tổ chức. Nhà thơ Hoa Văn trong tập thơ Tạ Ơn Đời với nhiều bài thơ lục bát mượt mà đã tạo nhiều rung cảm trong tim tôi...)

Bước vào mùa thu, trời bỗng trở lạnh, lá úa vàng rơi lả tả, lòng người tự nhiên thấy bâng khuâng. Lá còn, lá mất. Cái gì còn, cái gì mất, khó mà phân biệt được. Mọi sự đang nhìn thấy đó mà cũng chẳng phải vậy. Có cái gì xa hơn, cao hơn cái đang thấy. Quả thật, mỗi chiếc lá rơi là một công án thiền, là một chiếc bè chở sang bờ vĩnh cửu, là ngón tay chỉ về phía bên kia.

THỜI ĐIỂM CẶP VỊT QUẤN QUÍT

Nỗi bâng khuâng này được diễn tả qua câu truyện nổi tiếng "Trên Ao Vàng" (On Golden Pond) với Katharine Hepburn và Henry Fonda đoạt giải Oscar về tài tử diễn xuất.

Truyện kể về một cặp vợ chồng về già có thói quen chiều chiều đi dạo ở công viên, rồi sau đó ngồi nghỉ trên ghế bên cạnh hồ nước. Hai người thường nhắc lại cho nhau nghe những kỷ niệm của những năm chung sống: những ngọt bùi, những đắng cay, những thể hiện ước mơ trong đời...

Đây là cảnh một buổi chiều thu thật đẹp. Trời thanh thanh mở lên cao vút. Một làn gió lay nhẹ cũng đủ làm cho từng ngàn ngàn chiếc lá vàng rụng rơi đuổi nhau trên đường vắng. Nắng hoàng hôn rực rỡ lạ thường, phản chiếu long lanh trên mặt hồ như kết thành triệu triệu viên kim cương quí báu nhất đang nhảy múa. Cụ ông như khẽ rung lên một bài ca thuở yêu thương ban đầu nay vẫn còn sức lay động con tim. Đúng ra thì mùa thu đang hát, đang muốn thỏ thẻ một điều gì. Vì thế mà cụ ông muốn gợi lên cho cụ bà một khoảng trống để lắng nghe như lời thơ Lưu Trọng Lư vang vọng:

Em không nghe mùa thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.

Ở công viên này không có nai vàng ngơ ngác, nhưng có một cặp vịt vẫn tung tăng quấn quít trên hồ nước mỗi buổi chiều, cũng giống cảnh vợ chồng già đang thủ thỉ.

Chiều nay, sau khi đi dạo, vợ chồng già cũng ngồi nghỉ trên ghế bên hồ nhìn mặt trời lặn xuống sau hàng cây xa xa. Nhưng kìa, sao hôm nay cặp vịt vẫn tung tăng mọi khi chỉ còn lại một, lủi thủi bơi tới bơi lui, ngơ ngác chơi vơi thật tội nghiệp. Thấy thế, lòng cả hai người bỗng dưng chùng lại, cúi xuống im lặng, không nói với nhau một lời. Một hồi lâu thì cùng một lúc cả hai chợt ngước lên nhìn nhau, hai dòng nước mắt đã chảy ra từ hồi nào không biết!

Thì ra có quấn quít yêu thương mấy trên cõi đời này, rồi cũng phải đến một lúc chia lìa, mỗi người sẽ phải đối diện với vận mạng của mình trong cuộc sống vĩnh cửu, phía bên kia mặt trời lặn. Lúc này vợ chồng mới cảm được thấm thía lời của St Exupéry:

Yêu nhau không phải là nhìn nhau
Mà cùng biết nhìn về một hướng.

Nhạc sĩ Phạm Duy chắc cũng đã từng cảm thấy giây phút bâng khuâng ấy khi sửa soạn giã từ "những nẻo đường trần" để "nghe vang tiếng gọi càn khôn... đi vào Ngàn Mai", với khúc hát "Nắng Chiều Rực Rỡ" trong Mười Bài Rong Ca Hát Cho Năm 2000:

Chớ buồn gì trong giây phút chia lìa
Khi chiều về lung lay trúc tre.
Chớ buồn gì khi tan nắng đêm về...
Từng vạt nắng ấm êm
Còn là bao ước nguyện...
Thế kỷ này đang trong nắng ban chiều
Cho lòng người bâng khuâng nhớ nhau.
Trước cửa vào trăm năm rất xa vời...

CHUYỆN KHÓ TIN MÀ CÓ THẬT

Hai tổng thống của nước Mỹ bị ám sát là Abraham Lincoln và John Kennedy có nhiều điểm liên hệ trùng hợp rất lạ.

Cả hai đều bị ám sát vào ngày thứ sáu, và bị bắn vào đầu.

John Wilkes Booth ám sát tổng thống Lincoln sinh năm 1839. Lee Harvey Oswald ám sát tổng thống Kennedy sinh năm 1939.

Cả hai thủ phạm được biết đến qua tên gọi, tên đệm, tên họ. Và tên của họ đều gồm 15 chữ.

Booth chạy từ rạp hát ra và bị bắt tại nhà kho. Oswald chạy từ nhà kho ra và bị bắt tại rạp hát.

Cả hai đều bị ám sát chết trước khi được đưa ra tòa xử án.

Nhìn lui về trước thì thấy ông Lincoln đắc cử vào thượng viện năm 1846. Ông Kennedy đắc cử vào thượng viện năm 1946.

Ông Lincoln đắc cử tổng thống năm 1860. Ông Kennedy đắc cử tổng thống năm 1960.

Tên họ của ông Lincoln và ông Kennedy đều gồm 7 chữ.

Tên họ của nữ thư ký của tổng thống Lincoln là Kennedy. Tên họ của nữ thư ký của tổng thống Kennedy là Lincoln.

Người kế vị hai tổng thống đều xuất thân từ miền Nam Hoa Kỳ, và đều có tên là Johnson: Andrew Johnson kế vị tổng thống Lincoln, sinh năm 1808; Lyndon Johnson kế vị tổng thống Kennedy, sinh năm 1908.

TIN VUI TỪ BỐN TIẾNG KHÓC

Đúng là đời người có thời có nhịp. Nhiều trường hợp tương tự có những trùng hợp lạ lùng, với những đường nét theo nhịp theo hướng nào đó trong một trật tự lớn hơn. Như nhịp cây kia, nẩy sinh vào mùa xuân, phát triển vào mùa hạ, rụng lá vào mùa thu, và nằm ngủ suốt mùa đông. Kìa, điệu nhạc "Bốn Mùa" của Vivaldi đang diễn tả bốn nhịp dòng đời. Có những lúc hoa nở hân hoan thì cũng có lúc lá rụng trụi cành tàn tạ bâng khuâng.

Đường Về Sau Trước
Ảnh của Cao Tường

(đường chiều mùa thu ở New England)

Trăm năm có nghĩa gì đâu
Đường về sau trước trước sau cũng về.
(Hoa Văn, Tạ Ơn Đời)

Đời người là một điệu vũ gồm bốn nhịp qua bốn tiếng khóc, như bốn lời tạ từ mà thăng tiến. Tôi đã có dịp tham dự "Điệu Vũ Bốn Nhịp" này trong một lớp học về tâm lý thực hành của Trường Linh Hướng ở Pecos, New Mexico. Bà Paula diễn khúc vũ hôm ấy vốn là một vũ sư người Anh. Trước khi diễn, bà kể về những nhịp của đời bà: những lúc lên cao vời vợi, những lúc bị vất xuống bùn đen, những lúc vật vã ghì lại, nhất là vào nhịp cuối xuân xanh, và những lúc tóc bạc răng rụng như lá vàng rơi... Bà ta diễn hay quá, diễn được những gì đang ray rứt trong tim mỗi người. Và nhiều người tham dự đã bật khóc.

Tiếng khóc đầu tiên khi vừa ra khỏi lòng mẹ, tạ từ nơi đầy ắp yêu thương mà sinh vào trần thế như đã từng được diễn tả trong Đoạn Trường Tân Thanh:

Thảo nào khi mới chôn nhau,
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.

Tiếng khóc thứ hai khi đến tuổi phải rời mái ấm gia đình mà bước chân vào đời lập thân. Bao nhiêu lo lắng, bao nhiêu muộn phiền.

Tiếng khóc thứ ba được các nhà tâm lý thời mới gọi là tiếng khóc trung niên (mid-life), khi đã vượt qua đỉnh đồi "over the hill". Mái tóc đen nhánh thuở nào nay bỗng xuất hiện vài sợi bạc bẽo, rồi bắt đầu pha chút muối tiêu, và khóe mắt thấy điểm vài vết chân chim. Cũng chính là lúc giật mình thấy tuổi xuân xanh đang chớm qua đi trên đầu.

Tiếng khóc thứ tư là tiếng khóc lá vàng rơi, giống như cặp vợ chồng già trong câu truyện "Trên Ao Vàng", lúc mà con người thấy rõ sắp tạ từ những gì trông thấy để đi vào một thế giới khác chưa rõ nét. Đây là tiếng còi xe lửa tốc hành vượt bờ sinh tử mà đi về quê hương Hằng Thể, đúng như niềm tin "Sinh Ký,Tử Qui" của người mình: sống là tạm gửi, chết mới là đi về. Vì thế mà người Việt gọi giờ chết là sinh thì, là lúc bắt đầu cuộc sống mới.

Mỗi một cuộc ra đi đều mang theo một tiếng khóc. Có khi ngắn gọn, đứt quãng, có khi dài lê thê. Có khi phát ra thành tiếng giẫy giụa, có khi dội vào trong tim trăn trở.

Người nhìn ra và hòa được vào nhịp thì an nhiên tự tại. Người cố ghì lại thì la hét vật vã, và nhiều khi trở thành những hiện tượng lố bịch, tạo ra những nhịp rối loạn bất ổn.

Bảy anh em nhà Macabêô trong Kinh Thánh đã giữ vững niềm Tin vào cuộc sống vĩnh cửu, nên có đủ can đảm chấp nhận bất cứ cực hình nào. Trái lại, tiền thân của thuyết duy vật là phái Sa-đu-sêu ở Do Thái thì không thấy được gì bên kia cửa tử, suốt ngày chỉ biết lẩn quẩn ba chuyện trông thấy trước mắt như giành giật miếng ăn, thèm khát dục tình và đấu tranh quyền lợi, kể cả nhân danh giai cấp! Chả lẽ con người sinh ra đó, lớn lên đó, vật vã bon chen, rồi già đi và lăn ra chết là hết chuyện. Cuộc đời chỉ có thế thôi sao?

PHÚT BẮT LẠI ĐƯỢC NHỊP

Tháng Mười Một trong truyền thống Đạo Chúa là tháng dừng chân nhìn thấy trước được những gì bên kia cửa tử. Giọt nước mắt của cặp vợ chồng trong truyện "Trên Ao Vàng" cũng có thể là chính giọt nước mắt của nhiều người lúc này, khi nhìn xa hơn về cuộc đời mà thấy hụt nhịp. Giọt nước mắt này có thể mặn đắng với những trăn trở vật vã, mà cũng có thể ngọt bùi với niềm tin vào nhịp dòng đời và vào đích điểm đời sống khi gặp được chính Chúa của Nguồn Sống miên viễn như tâm tình thánh vịnh 23:

Mênh mông đồng cỏ xanh rì,
Tôi no búp mới, tràn trề lộc non.
Mát trong nước sạch suối nguồn,
Cho tôi nằm nghỉ tâm hồn thảnh thơi.

Và xin cùng được hòa với nhịp vũ được diễn trong Sách Giảng Viên (3:1-4) của Kinh Thánh:

Mọi sự đều có lúc, mọi sự đều có thời dưới bầu trời:
Thời sinh ra và thời để chết,
Thời để trồng và thời để nhổ cây,
Thời để giết chết và thời để chữa lành,
Thời để phá và thời để xây,
Thời để khóc và thời để cười,
Thời để than van và thời để nhảy múa.

(từ tác phẩm Nhịp Múa Sông Thanh, Thời Điểm xuất bản)
Tác giả: Trần Cao Tường, Lm.

Posted: Tue Nov 23, 2010 1:47 am
by vuphong
Tin Buồn!



Image

MẠNG LƯỚI DŨNG LẠC

Trân trọng báo Tin Buồn đến Qúy đọc giả khắp Năm Châu

Trong niềm tin vào Tình Yêu Nhân Hậu của Cha Trên Trời và được Thần Khí Yêu Thương của Cha nâng đỡ,
chúng tôi xin báo tin đến các bạn hữu:

Cha André Dũng Lạc Trần Cao Tường
Giám đốc MẠNG LƯỚI DŨNG LẠC


đã về nhà Chúa vào lúc 11:56 A.M. ngày Chúa Nhật 21.11.2010.
Chúng ta phó thác Cha Tường trong Lòng Thương Xót của Chúa Giêsu.
Nguyện xin Chúa Từ Nhân
ban cho Linh hồn Cha André Dũng Lạc Trần Cao Tường
được an nghỉ muôn đời trong Nước Hằng Sống.

Posted: Tue Nov 23, 2010 2:15 am
by thienthanh
Johnson vô địch đua xe NASCAR lần thứ 5 liên tục
Johnson là người phạm ít sai lầm nhất trong ba ứng cử viên ở chặng cuối mùa.
Trước chặng cuối ở đường đua Homestead-Miami Speedway hôm chủ nhật, Jimmie Johnson kém 15 điểm so với Denny Hamlin, người dẫn đầu bảng tổng sắp. Nhưng bằng phong độ thuyết phục, tay đua 35 tuổi này cán đích ở vị trí thứ hai, sau Carl Edwards, giành chức vô địch với khoảng cách hơn đối thủ 39 điểm.
Image
Johnson nâng cao Cup vô địch lần thứ 5 liên tục.
Ứng cử viên còn lại, Kevin Harvick chỉ về thứ ba ở chặng cuối, xếp thứ ba chung cuộc.

Chiến thắng của Johnson hôm chủ nhật đã chứng kiến lần đầu tiên chức vô địch Nascar, giải đua xe hay nhất ở Mỹ, thuộc về một tay đua lội ngược dòng trong 7 năm từ khi giải thay đổi thể thức - chuyển từ tính tổng điểm cả mùa như F1 sang thể thức vòng chung kết dành cho 12 tay đua dẫn đầu (đấu 10 chặng cuối).

Hamlin đã có cơ hội rất tốt để soán ngôi Johnson với 8 chiến thắng chặng từ đầu mùa. Nếu Hamlin không gặp sự cố trong khâu tiếp nhiên liệu trong chặng đua tuần trước nữa, khoảng cách giữa hai tay đua không chỉ là 15 điểm.

Trong chặng đua hôm chủ nhật, Ham lin tiếp tục gặp vận đen. Tay đua này va chạm với xe của Greg Biffle và bị tụt xuống vị trí 37. Cuối cùng Hamlin cán đích ở vị trí 14.

Trong khi đó, Harvick dẫn đầu chặng cho đến trước 80 vòng cuối thì bị phạt do chạy quá tốc độ cho phép khi trở lại đường đua từ pit-stop. Bị tụt xuống chạy thứ 29, Harvick để mất cơ hội gây bất ngờ cho Johnson.

Với chức vô địch lần thứ năm, Johnson đã vượt qua đồng đội Jeff Gordon ở đội Hendrick Motorsports để trở thành tay đua có nhiều lần vô địch nhất còn thi đấu.

Johnson xếp thứ ba trong danh sách những người có nhiều lần vô địch nhất, sau Richard Petty và Dale Earnhardt (đều 7 lần).

Johnson cũng là tay đua duy nhất có 5 lần vô địch liên tục trong lịch sử.

"Cuối cùng, sau nhiều trở ngại, Johnson đã giành lại sự tôn trọng và phần thưởng xứng đáng", Chad Knaus, giám đốc điều hành đội Hendrick Motorsports nhận xét.
Image
Johnson đã giành cả 5 chức vô địch với chiếc xe Chevrolet của đội Hendrick Motorsports.
5 tay đua về đầu chặng cuối mùa: Carl Edwards, Jimmie Johnson, Kevin Harvick, A J Allmendinger, Aric Almirola

5 tay đua dẫn đầu bảng tổng sắp:

Jimmie Johnson, 6.622 điểm
Denny Hamlin, 6.583
Kevin Harvick, 6.581
Carl Edwards, 6.393
Matt Kenseth, 6.294

Nguyễn Tuấn

Posted: Wed Nov 24, 2010 2:21 am
by quaichao
Image
Trung Quốc đồng ý cấp vé 1 chiều cho Lưu Hiểu Ba



Có nhiều khả năng vào ngày 10 tháng 12 tới tại Oslo sẽ không diễn ra lễ trao giải Nobel Hòa Bình năm nay – Ủy ban Nobel cảnh báo. Trung Quốc đã đề nghị cấp cho ông Lưu Hiểu Ba vé máy bay một chiều tới Oslo, nhưng nhà bất đồng chính kiến đã từ chối. Việc không trao giải thưởng Nobel Hòa Bình năm nay sẽ trở thành trường hợp đầu tiên trong lịch sử của giải Nobel.

Ngay cả trong năm 1935, khi Hitler không cho tù nhân Carl von Ossietzki tới Oslo, luật sư của ông đã đứng ra thay thế.

Theo các quy tắc được thắt chặt sau trường hợp của Ossietzki, người nhận thay chỉ có thể là thành viên trong gia đình của người được trao giải. Năm 1983, Lech Walesa, Thủ lĩnh Công đòan Đoàn kết Ba Lan sợ rằng nếu ông qua Oslo thì sẽ không được trở lại Ba Lan, nên vợ ông, bà Danuta, đã nhận thay. Tương tự trước đó vào năm 1975 đối với nhà văn nước Nga Andrei Sakharov. Ông cũng sợ rằng sẽ không thể trở về Liên Xô, nên vợ của ông đã đi. Giải thưởng Nobel của nhà dân chủ Miến Điện, bà Aung San Suu Kyi, đã được các con của bà nhận thay vào năm 1991.

Thư ký của Ủy ban Nobel, ông Geir Lundestad, cũng nói thêm rằng, Ủy ban Nobel Na Uy không có thói quen mời hoặc khuyến khích sự xuất hiện của những người đã được trao giải từ các năm trước. Nhưng nếu muốn tham gia buổi lễ này, họ có thể đến mà không cần có lời mời. Chính vì thế sáng kiến để Lech Walesa nhận thay sẽ không được thực hiện.

Trong trường hợp của Lưu Hiểu Ba, người đang chịu án 11 năm tù vì tội “âm mưu lật đổ chính quyền”, tác giả của Hiến chương 08 kêu gọi nhà chức trách Bắc Kinh cho dân chủ hóa Trung Quốc, không có ai đi đến Oslo. Vợ ông đang bị quản thúc tại gia và sẽ không được phép xuất ngoại. Hai người anh em của ông Lưu Hiểu Ba cũng chịu sự giám sát của cảnh sát và họ cũng sẽ không được ra khỏi biên giới.

Buổi lễ sẽ như thế nào khi không có nhân vật chính? Ông Geir Lundestad trả lời: “Sẽ tuyệt vời và xứng đáng!”.

Ông Lundestad cho biết trong ngày 10 tháng 12 khoảng một nghìn khách mời sẽ có mặt tại sảnh đường thành phố Oslo. Nữ diễn viên Na Uy nổi tiếng Liv Ullman sẽ đọc một bài luận ngắn của người đoạt Giải thưởng Nobel, một trong những bài cuối cùng mà ông Lưu Hiểu Ba đã viết về tự do, dân chủ. Nhưng nếu không một ai trong gia đình ông Lưu Hiểu Ba có thể tới, nghi lễ sẽ buộc phải bỏ 2 hay 3 phút dành cho việc trao huy chương và bằng chứng nhận.

Về mặt lý thuyết, mọi thứ vẫn mở cho đến phút cuối cùng. Ngay cả nếu một giờ trước khi buổi lễ tại Oslo cử hành, người được ủy quyền có mặt tại Oslo, Uỷ ban vẫn sẵn sàng để trao giải. Thế nhưng có lẽ chỉ còn là đề nghị – bạn bè của ông Lưu HIểu Ba yêu cầu Ủy ban cho đặt một cái ghế trống trên bục.

Trung Quốc đang hết sức cố gắng làm suy yếu các nghi lễ quan trọng nhất của buổi lễ trao giải và đe dọa trả đũa thương mại đối với quốc gia nào có đại diện tham dự buổi lễ tại Oslo.

Được biết, Bắc Kinh đã hăm dọa ít nhất sáu nước, bao gồm Nga, Kazakhstan, Cuba, Morocco, Iraq và Indonesia. Tuy nhiên Moscow giải thích rằng, việc đại sứ của họ không có mặt ở Oslo trong thời gian diễn ra buổi lễ không phải vì sức ép của Trung Quốc mà do lịch công vụ có sự trùng hợp. Trong khi đó, ông Lundestad nói rằng, các nước này đã không cung cấp cho Ủy ban lý do về quyết định của mình. Ông nói thêm rằng Trung Quốc đang thực thi một chiến dịch chưa từng có nhằm mục đích phá hoại sự tham gia của các đại sứ trong buổi lễ. – “Tôi chưa thấy một ví dụ nào khác về một quốc gia tìm cách ngăn cản đại sứ của các nước khác không tham gia buổi lễ” – Lundestad nhấn mạnh.

Đại sứ quán Trung Quốc ở Na Uy thậm chí còn gửi thư cho đại sứ quán khác, yêu cầu họ tẩy chay buổi lễ.

Ủy ban cho biết có 16 quốc gia ngần ngại cử đại sứ tới và con số vắng mặt có thể sẽ nhiều hơn. Người ta cũng đồn về Brazil và Hàn Quốc. Nhật Bản đang do dự vì Trung Quốc gây áp lực lớn. Cho đến nay 36 quốc gia của Tây Âu đã xác nhận sự có mặt của mình trong buổi lễ.

Thứ Sáu tuần trước, Đại sứ quán Đức tại Oslo nhận được cảnh báo bằng lời nói từ các nhà ngoại giao Trung Quốc. Nhưng phát ngôn viên của Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel, tuyên bố rằng, chính phủ Đức có truyền thống hàng năm cử đại biểu tham dự lễ trao giải Nobel và thấy không có lý do gì trong năm nay lại bỏ đi một thực tế lâu đời”.

Giải Nobel Hòa bình dành cho nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba đã thực sự làm Trung Nam Hải cực kỳ khó chịu. Thậm chí một tờ báo nhà nước “Global Times” đã đề xuất thành lập “Giải thưởng Khổng Tử” như là để cạnh tranh với giải Nobel. – “Đây sẽ là cơ hội tốt nhất cho thế giới thấy được quan điểm của Trung Quốc trong vấn đề hòa bình và nhân quyền” – Tờ báo viết.

Đồng thời Bắc Kinh đang tìm kiếm cách tống khứ người được trao giải thưởng Nobel. Tờ báo “The London Daily Telegraph” dẫn nguồn tin từ chính phủ của Trung Quốc, viết rằng, ông Lưu Hiểu Ba sẽ được trả tự do từ ngay lập tức nếu ông đồng ý bị trục xuất. Thế nhưng ông Lưu Hiểu Ba đã từ chối.

Lê Diễn Đức

Posted: Wed Nov 24, 2010 4:37 am
by nguyenvsau
Lời tỏ tình dễ thương của... loài vật

Cũng giống như con người, các loài vật cũng có những giây phút
thật lãng mạn, những lời tỏ tình dễ thương,
những cử chỉ âu yếm
và những nụ hôn thật ngọt ngào và tình tứ...
Image
Lời thì thầm mùa xuân.

Image
Hót cho vừa mình em nghe thôi...

Image
Những cảnh âu yếm tạo nên những hình ảnh thật ấn tượng.

Image
Sánh đôi cùng dạo biển.

Image
Tựa vai nhau, cho nhau yên vui, ấm áp cuộc đời...

Image
Tìm môi nhau...

Image
Biểu tượng muôn đời của tình yêu.

Image

Chúa tể sơn lâm trông rất hiền lành và say đắm trong tình yêu.

Image
Đôi mèo rừng đang ôm nhau nằm nghỉ ngơi.

Image
Tình yêu của đôi lứa này cũng cao như cái cổ của chúng.

Image
Thương yêu.

Image
Thay lời muốn nói...

Image
Tình cảm không chỉ giới hạn bởi tình yêu khác giới...

Image
... cũng không giới hạn bởi giống loài.

Image
Cặp cá này đang thực hiện màn “khoá môi” thật lãng mạn.

Image
Nỗi đau khi bạn đời của chúng vĩnh viễn ra đi...

Image
Thư tình cuối mùa Thu...

Image
Một cách tỏ tình ấn tượng.

Thái Phiên
(sưu tầm)

Posted: Thu Nov 25, 2010 3:13 am
by thienthanh
Hồi ký TT George W. Bush bán hơn 1 triệu cuốn



NEW YORK (Reuters) - Hơn 1.1 triệu cuốn hồi ký của cựu Tổng Thống George W. Bush, “Decision Points,” được bán ra kể từ khi tung ra thị trường hồi đầu tháng này, theo nhà phát hành cho hay hôm Thứ Tư.
Image
Cựu Tổng Thống George W. Bush ký sách cho độc giả tại buổi ra mắt sách ở Dallas, gần nhà ông. (Hình: AP Photo/LM Otero)



Hơn 135,000 cuốn sách theo dạng e-book được mua và các bản in hiện nay vào khoảng 2.1 triệu cuốn, theo nhà phát hành Crown.

Kể từ khi cuốn “Decision Points” được bày bán tại các nhà sách hôm 9 tháng 11, ông Bush đi nhiều nơi để quảng cáo cho cuốn sách của mình. Ông nói trong chương trình của bà Oprah Winfrey là ông “hoàn toàn chấm dứt chính trị.”

“Nhiều người nghĩ rằng tôi không biết đọc, chứ đừng nói đến viết,” ông Bush nói diễu về cuốn sách với bà Winfrey.

Sự xuất hiện của ông trên chương trình truyền hình “Today” gây lại sự giận dữ về cách chính phủ thời ông đối phó với thiên tai Katrina năm 2005, và ông bênh vực cho quyết định tấn công vào Iraq, dựa trên các tin tức tình báo sai lạc là chính quyền Iraq thời đó có võ khí hủy diệt, cũng như cách chính phủ ông đối phó với cuộc khủng hoảng tài chánh. (V.Giang)

Posted: Thu Nov 25, 2010 5:12 am
by KhoaiLang
Image
Khu phố văn hóa


Lần đầu tiên mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ khi tìm nhà của một người bạn, hiện làm trưởng một khu phố văn hóa.

Thấy có mấy đứa trẻ đang nô đùa ngoài đầu ngõ, tôi hỏi :

- Này các cháu, các cháu có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở đâu hay không ?

Một đứa bé trai, khoảng trên dưới mười tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt xấc láo và ranh mãnh, rồi đáp gọn lỏn :

- Biết nhưng…đéo chỉ.

Tôi lắc đầu, tiếp tục đi sâu vào con hẻm văn hóa. Gặp một thanh niên, tôi liền hỏi:

- Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở chỗ nào hay không?

Gã trẻ tuổi chẳng thèm nhòm ngó gì đến tôi và trả lời cộc lốc :

- Đéo biết.

Miết rồi cũng tìm thấy nhà ông trưởng khu phố văn hóa. Khi gặp ông, tôi kể lại chuyện này cho ông ta nghe với lời than thở :

- Anh ạ, các bậc cha mẹ ở đây không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với những người khách lạ một cách thô bỉ và tục tĩu đến thế hả anh ?

Chẳng cần suy nghĩ, ông trưởng khu phố văn hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay:

- Có dạy đấy chứ, nhưng chúng nó…đéo nghe !

Lúc ấy người con gái của ông bạn tôi, hiện là một cô giáo dạy môn văn, vừa từ nhà trường trở về và tôi liền đem câu chuyện ấy ra mà kể. Thay vì trả lời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuật lại một sự việc như sau :

Hôm ấy, cháu giảng bài văn, có đoạn trình bày thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đã đánh gục giặc Tây, đánh nhào giặc Mỹ…Cuối cùng, cháu kêu một em trai lớn nhất lớp và bảo :

- Em hãy định nghĩa xem hai chữ “dũng cảm" là gì ?

Nó đứng lên, suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn :

- Thưa cô, nghĩa là…đéo sợ ạ.

Sau đó, trong cuộc tiếp xúc với ông bộ trưởng giáo dục và đào tạo, cháu liền đem câu chuyện thằng bé học trò đã cắt nghĩa hai chữ “dũng cảm” là…”đéo sợ” cho ông ta nghe.

Nghe xong, ông bộ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm. Cuối cùng, ông nghiêm nghị nhìn tôi, rồi gật gù như một triết gia uyên bác vừa mới khám phá ra một chân lý cao siêu, ông ta chậm rãi đáp :

- Ừ, nó cắt nghĩa như thế thì cũng…đéo sai.

Nghe vậy, người bạn của tôi lắc đầu, buồn rầu than rằng :

- Giáo dục và đào tạo theo kiểu này thì đất nước mình…đéo khá lên được.

(Thấy trên NET, không rõ tác gỉa)

Posted: Thu Nov 25, 2010 7:45 am
by khieulong
Image

Posted: Thu Nov 25, 2010 6:20 pm
by KýCóp
Image

LỄ TẠ ƠN TẠI HOA KỲ


Quả thực người Mỹ đã có đầy đủ lý do để giữ gìn truyền thống với ngày lễ tạ ơn vào tháng 11 mỗi năm.Lịch sử ghi rằng vào năm 1620 có một nhóm gia đình người Anh theo Tin Lành đã đi tìm đất mới để sống đời tự do tín ngưỡng. Con tàu Mayflower nổi danh vượt Ðại Tây Dương chở di dân với các niềm tin giáo lý khác nhau đến vùng Plymouth Rock của tiểu bang Massachusetts bây giờ. Nhóm gia đình người Anh chỉ có hơn ba chục, số còn lại là phần đông thủy thủ đoàn. Tổng sốÔ 102 người.

Ðây là con tàu chính thức của di dân vì gồm cả gia đình vợ con. Trải qua một năm đầu với mùa đông khắc nghiệt, không đủ thực phẩm, không có đủ quần áo, không có nơi cư trú nên di dân đã phải chôn cất 46 người. Qua năm sau, mùa gặt 1621 thành công, di dân cùng dân da đỏ bản xứ tổ chức tiệc mừng lễ tạ ơn trên đất Mỹ.

Ðó là ngày lễ hội đầu tiên tại Mỹ Châu và truyền thống còn mãi đến ngày nay. Không dựa theo 1 đạo giáo nào, lễ tạ ơn trải qua gần 400 năm đã thành ngày hội của cả quốc gia cảm ơn trời đất cho mọi người đủ cơm áo để sinh tồn.

Trong bữa tiệc lễ tạ ơn năm đầu tiên di dân đã ăn thịt già rừng, ăn bánh làm bằng trái bí đỏ và thực đơn này đã trở nên món ăn truyền thống ngày lễ hội của Mỹ quốc cho tới ngày nay.

Tuy nhiên để trở thành 1 ngày quốc lễ chính thức thì phải tới năm 1863, vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ là ông Lincoln mới đề nghị vào tháng 11 và tổng thống Roosevelt ban hành luật. Từ đó Lễ Tạ Ơn được chính phủ công nhận vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ tư tháng 11 hàng năm.

Bây giờ Hiệp Chủng Quốc đã trở thành quê hương mới của các sắc dân. Từ 102 di dân trên tàu “Hoa Tháng Năm,” Hoa Kỳ đã có 300 triệu dân và trở thành quốc gia hùng cường nhất thế giới. Nước Mỹ có tiềm lực lớn hơn tất cả quốc gia Âu Châu gộp lại. Và điểm đặc biệt nhất, Hoa Kỳ chính là miền đất của cơ hội.

Hãy đưa ra một thí dụ cụ thể tại quốc gia dù tiến bộ như Nhật Bản nhưng không bao giờ một di dân nước ngoài có thể trở thành triệu phú, chính khách, khoa học gia, hay tài tử tại đất nước của Thiên Hoàng. Nhưng tại Mỹ thì bất cứ chuyện gì cũng có thể xẩy ra cho người ngoại nhập.

Một tài tử điện ảnh gốc Áo là ông Arnold đã trở thành thống đốc California. Ngoại trưởng Hoa Kỳ vốn là một người da đen sinh trưởng ở Hải Ðảo thuộc Mỹ. Tướng Colin Powell trước khi làm ngoại trưởng đã từng là tham mưu trưởng liên quân. Mới đây khi ông Powell đệ đơn từ chức, tổng thống Bush đã đưa bà Condoleezza Rice lên kế nhiệm. Báo chí thân mật gọi bà là “Condi.” Cần phải biết là chức vụ ngoại trưởng ởợ vị trí quan trọng thứ 4 trong guồng máy hành pháp Hoa Kỳ. Nếu xảy ra biến động thì người thay thế tổng thống là phó tổng thống kiêm chủ tịch thượng viện. Người thứ ba là chủ tịch Hạ Viện và rồi đến ngoại trưởng Hoa Kỳ. Vị trí thứ 4 của bậc thang trong quốc gia đầy quyền lực trên thế giớiờ nằm trong tay một phụ nữ da đen độc thân 50 tuổi đã từng nổi danh trong giới khoa bảng tại đại học Stanford California.

Trước khi được mời về làm cố vấn an ninh Bạch Cung, nàng Condi da đen đã làm khoa trưởng đại học danh tiếng nhất thế giới với ngân sách 1 tỷ rưỡi mỹ kim, 1400 giáo sư với nhiều tước hiệu Nobel dạy 14,000 sinh viên ưu tú trên toàn thế giới. Không phải vì là bà Rice có khả năng nói tiếng Nga với tổng thống Putin mà bởi vì bà may mắn sống ở miền đất Hứa nơi đã tạo cơ hội cho tất cả mọi người. Cho đến mùa lễ tạ ơn 2008 thì một huyền thoại đã thành sự thực. Một người con của di dân da đen, thượng nghị sĩ Obama đã được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ.

Không nước nào trên thế giới có thể dành cho người dân những cơ hội như thế.

Là quốc gia được thành lập và xây dựng bởi các di dân, tiền nhân của Mỹ quốc đã viết nên các bản văn bất hủ là hiến pháp và tu chính án Dân Quyền.

Ðạo luật quốc tịch của Hoa Kỳ ban hành 1790, hơn 200 năm trước đã có những lời vàng ngọc như sau:

“Bất cứ ai tỵ nạn đến Hoa Kỳ, sau khi được xác nhận sẽ hưởng quy chế nhập cư.”

Như vậy chúng ta hiểu một cách giản dị là nếu đã đến Mỹ thì sẽ có cơ hội trở thành người Mỹ.

Căn cứ vào điều khoản của luật 1790, một đạo luật khác đã ra đời năm 1975 có tên là Indochina Migration and Refugee Act.

Sau đây là đoạn văn năm 75 mà di dân Việt Nam cần đọc lại trong mùa tạ ơn năm 2008.

“Tổng thống Hoa Kỳ sẽ làm bất cứ điều gì để mở rộng cánh cửa đón người tỵ nạn đến từ 3 quốc gia Ðông Dương. Các viên chức trách nhiệm tại Mỹ sẽ đưa ra tất cả mọi phương tiện để giúp cho người dân tỵ nạn định cư. Phải nỗ lực làm giảm những đau khổ kinh hoàng của người tỵ nạn đến từ Ðông Nam Á.”

Vào tháng 7-1977 sau 2 năm đầu giúp đỡ người tỵ nạn Ðông Dương di tản đợt 75, Hoa Kỳ ban hành luật gia hạn việc cứu trợ về tài chánh, y tế, và dịch vụ.

Tháng 3-1980 Mỹ ban hành thêm luật quy chế tỵ nạn vĩnh viễn và đề ra một chính sách tỵ nạn áp dụng chính thức tại Mỹ. Suốt 33 năm qua, khi nhiều khi ít, khi khó khăn, khi dễ dàng, Hoa Kỳ đã dành ra những cấp khoản lớn lao cho người Việt đến Mỹ để trở thành 1 cộng đồng di dân đông đảo nhất trong cuối thế kỷ thứ 20.

Trong buổi bình minh của lịch sử Hoa Kỳ lập quốc, di dân vượt Ðại Tây Dương đến Mỹ Châu đa số gốc Âu Châu. Sau đó, Thái Bình Dương đưa đến Mỹ dân Tầu và Nhật.

Từ bao lâu nay hoàn toàn không có người Việt đến Mỹ cho đến khi gặp cơn hồng thủy 1975. Truyền thống của dòng giống Việt tộc thường không khích lệ con đường tha phương cầu thực. Vì vậy ngoại trừ số nhỏ qua lập nghiệp bên Miên, Lào và Thái, phần lớn người Việt đều ở lại với quê hương ven biển Nam Hải.

Khi miền Nam xụp đổ tháng 4-1975 đợt di tản đầu tiên của người Việt đã mở ra một đầu cầu quan trọng cho lịch sử di dân từ Châu Á. Những chuyến đi vô cùng mạo hiểm của thuyền nhân đã làm thành thiên anh hùng ca của con đường đi tìm tự do với hàng ngàn con tàu Mayflower của dân Việt đã ra đi không bao giờ đến được miền đất Hứa.

Cũng nhân dịp ghi dấu 30 năm định cư tại Hoa Kỳ 1975-2005. Bảo tàng viện do cơ quan IRCC,Inc. gây dựng đã hoàn thành hai tác phẩm. Ðóng lại con tàu Vượt biên có tên là Tân Phát đúng kích thước và chi tiết con tàu thật. Ðồng thời họa sĩ thực hiện bức hình sơn dầu vĩ đại cao 10 feet và dài 15 feet mô tả con tàu Tân Phát đang lướt sóng trên biển Ðông.

Ðây là con tàu thực sự đã đưa được nhóm gia đình Việt Nam vượt biển thành công hiện định cư tại Úc Châu và Bắc Mỹ.

Những người di dân Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ trong đợt đầu khi xây dựng cuộc đời đã ăn những con gà Tây cùng với các gia đình bảo trợ, với các họ Ðạo trên 50 tiểu bang Hoa Kỳ.

Rồi những bức hình và những lá thơ gửi về cho thân quyến tại quê nhà đã trải qua suốt 10 năm khốn khổ sau 75. Miền Bắc là nơi giam giữ tù cải tạo. Miền Nam là những khu kinh tế mới.

Khi di dân Việt Nam trải qua 10 lần dự tiệc tạ ơn tại Hoa Kỳ thì những thùng quà gửi về đã làm cho cả đất nước hồi sinh. Từ cây kim sợi chỉ, từ chai thuốc tây đến thước vải. Những tờ giấy Mỹ Kim nằm trong hộp thuốc đánh răng với lời thư dặn dò đầy nước mắt. Thư viết rằng thuốc đánh răng này tốt lắm. Cố sức giữ lại mà dùng, đừng bán đi. Vỏ cũng xài được, đừng vất đi. Người ở lại đã phải nát óc vò đầu để tìm ra được ý nghĩa mật thư là trong túp thuốc có tiền. Có khi lá thư viết rằng nếu đói quá thì bán vải, bán đá lửa, bán bút bi đi mà ăn, nhưng cố giữ lấy cái thùng giấy đựng quà mà dùng. Hiểu được ý nghĩa lá thơ, người Saigòn phải lần mò tháo hết vỏ thùng để tìm thấy giấy 100 đô giữa hai lớp bìa cứng

Và cứ như thế dưới nhiều hình thức những con gà Tây của lễ tạ ơn Hoa Kỳ đã về đến Việt Nam. Quà và tiền gửi về thể hiện cho hình ảnh vật chất đầy đủ ở phía chân trời và đồng thời cũng là hình ảnh cuộc sống tự do rực rỡ nở hoa với chan hòa ánh sáng.

Và dù 5 ăn 5 thua con tàu Mayflower đã ra đi từ khắp miền duyên hải Việt Nam có khi chỉ là những chiếc ghe nhỏ bé mong manh.

Người Việt đã vì nhiều lý do để ra đi suốt bao nhiêu năm qua. Và danh từ Boat People trong tự điển thế giới đã không còn cùng ý nghĩa xưa cũ để chỉ những người sinh sống ở trên thuyền.

Boat People ngày nay có nghĩa là người Việt đã đi tìm tự do bằng thuyền vượt biển Nam Hải.

Lịch sử các cuộc di dân của nhân loại đã đưa đến nhận định rằng “Ta không thể lựa chọn sinh quán, nhưng ta có thể chọn lựa để sống ở miền đất mà chúng ta yêu quý.”

(You cannot choose the land you birth, but you can choose the land you love)

Thực đúng như vậy, chúng ta đã sinh ra đời trên quê hương không hề có sự lựa chọn nhưng nếu phải trả giá với sự sống chết thì chúng ta vẫn có cơ may lựa chọn nơi sinh sống.

Vì vậy không phải là chỉ người Mỹ hậu duệ của con tàu Hoa Tháng Năm đến từ Ðại Tây Dương mới có quyền ăn gà Tây tháng 11.

Dân Việt tỵ nạn cũng có đủ tư cách để cúng trời đất vào mùa lễ hội tạ ơn hàng năm. Xem chuyện Do Thái và Palestine tranh chấp đẫm máu ở miền Trung Ðông để biết rằng cả hai dân tộc này đã khốn khổ biết chừng nào. Năm ngàn năm trước người Do Thái vì lý do tôn giáo đã bỏ nước ra đi đến bốn phương trời. Họ thành công trên khắp thế giới nhưng vẫn hướng về đất thánh Jerusalem đầy huyền thoại. Sau khi bị Ðức Quốc Xã bức hại dã man tại Âu Châu, khi đại chiến kết thúc, thế giới mở đường cho Do Thái trở về quê xưa dựng nước.

Bây giờ lại đến lượt người dân của đất Palestime phải ra di. Và cuộc đấu tranh giành đất giữa 2 mối cựu thù vì niềm tin tôn giáo bắt đầu. Hận thù chất ngất đến nỗi có hàng ngàn người quyết đổi mạng sống để giết hết sắc dân thù nghịch gồm cả đàn bà và trẻ con vô tội.

Mối hận thù truyền kiếp đã đưa đẩy Hoa Kỳ và cả thế giới vào cơn Hồng Thủy của cuộc chiến chống khủng bố hiện nay.

Ðã từ lâu miền Trung Ðông không hề có những ngày lễ tạ ơn với cuộc sống bình yên. Và cũng không có triển vọng sẽ có một tương lai bình yên ở một nơi đầy dầu hỏa được gọi là vàng đen trong lòng đất.

Người Việt tại Hoa Kỳ đang sống bình yên ở miền đất cơ hội nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng ta có dịp mở rộng viễn kiến để nhìn ra thế giới đầy thảm họa và biến động.

Với các tin tức, với các hình ảnh ghi nhận được, mỗi công dân Hoa Kỳ dù là bổn sinh hay ngoại nhập đều dễ dàng trở thành người dân có tri thức, có sự hiểu biết, có tấm lòng rộng lượng, có đức tính tha thứ, để sống với nhau tử tế. Ðặc biệt có đủ hạnh phúc căn bản với cơm no áo ấm và tự do để cùng nhau dâng lễ tạ ơn với các niềm tin tôn giáo khác nhau.

Nhân dịp Thanksgiving, xin gửi đến quý vị lời chúc mừng một lễ tạ ơn đầy hạnh phúc.

Giao Chỉ, San Jose

Posted: Thu Nov 25, 2010 11:43 pm
by caolynh
NGƯỜI TA ĐÃ PHỤ TÔI RỒI …..

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Nghe ông Ngô Kỷ la thất thanh: Ngưòi ta đã phụ tôi rồi (Chúa ơi), nhiều người giật mình, không biết có phải ông bị tình phụ không, bởi vì xưa nay ông Ngô Kỷ rất kị đàn bà. Ngưòi ta đây tưởng ai, đọc Thông Báo của ông Ngô Kỷ thì hóa ra là người Mỹ. Đúng là người Mỹ đã phụ ông Ngô Kỷ thiệt. Và như ông Ngô Kỷ nói, người Mỹ đã phụ cả cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng ta. Thông báo của ông Ngô Kỷ viết: …… các viên chức chính quyền tiểu bang Calififornia gồm Thống Đốc Arnold Schwarzenegger (Cộng Hòa), Thị Trưởng San Francisco Gavin Newsom (Dân Chủ, và cũng vừa đắc cử Phó Thống Đốc California vào tháng 11 năm 2010 vừa qua), và Phó Chủ Tịch Thượng Viện California Leland Y. Yee (Dân Chủ) đã gởi thư và Tuyên Cáo cho Tổng Lãnh Sự Cộng Sản Lê Quốc Hùng để công nhận ngày 2 tháng 9 là Ngày Quốc Khánh Việt Nam và cũng là Ngày Truyền Thống của cộng đồng Người Mỹ Gốc Việt, và khen ngợi tên Việt cộng Lê Quốc Hùng đã khéo léo lãnh đạo cộng đồng người Mỹ gốc Việt.



Theo thiển ý của người viết, ông Ngô Kỷ là một người chống CS kiên trì và có lý tưởng. Từ Nam chí Bắc California, hầu như không mấy người là không biết điều đó. Ông là một người Việt tỵ nạn rất hiếm hoi đại diện đảng Công Hòa trong nhiều Đại Hội Đảng. Ông có học (cử nhân luật Đại Học Luật Khoa Saigon?), thông thạo tiếng Mỹ như người Mỹ, giao du chụp hình với các chính khách đảng CH Mỹ như bạn bè, kể cả tổng thống. Ông hy sinh hạnh phúc riêng tư, không vợ con, sống như dân homeless (có người gọi ông là homeless thật) để hoạt động chống cộng. Ông cống hiến cuộc đời cho lý tưởng Quốc Gia. Người viết khâm phục ông ở những điểm son đó. Thế nhưng xin phép được nghi ngờ về khả năng của ông ở một điểm, chỉ một điểm thôi. Đó là xem ra ông chẳng hiểu gì về mấy ông chính khứa Mỹ cả. Hình như ông Ngô Kỷ quá ngây thơ và khờ khạo đối với những người này. Vì thế ông bị phụ là đúng thôi. Trên thế gian này, các ông chính quyền Mỹ phụ người ta là chuyện cơm bữa, chẳng có gì là lạ. Các ngài Tưởng Giới Thạch, Lý Thừa Vãn, Ngô Đình Diệm v.v. còn bị Mỹ phụ nữa là. Một cái Quyết Định hành chánh, một tấm bằng khen chẳng là gì đối với chính khứa Mỹ. Họ ký xong rồi xé bỏ không áy náy. Khi làm việc với người Mỹ, ông Ngô Kỷ có thể vẫn thường được họ tấm tắc khen “wonderful” hay “good job” v.v., có đúng không? Chắc ông Ngô Kỷ tưởng là người ta khen thiệt. Họ khen cho ông mát bụng để ông giang thân làm chết bỏ cho họ đấy. Sự thực là chẳng có gì khác biệt giữa cái quyết định, cái bằng khen, hay một lời khen. Chỉ tiếc rằng ông đã không học được bài học từ những người đi trước, và trong cuộc sống thường ngày. Cho nên khi nghe ông Ngô Kỷ la hoảng cũng đừng có nóng lòng quá. Một người dân ngu cu đen bị Mỹ phụ không là chuyện lạ. Một người tin Mỹ, phục Mỹ, và theo Mỹ (tiếng của VGCS đấy) như ông Ngô Kỷ mà để cho Mỹ nó phụ mới đau. Giả như Mỹ Dân Chủ phụ ông Ngô Kỷ còn nghe được. Mỹ Cộng Hòa phụ ông thì thật là hết biết, còn đau hơn hoạn nữa. Hàng chục năm qua, ông bôn ba, lăn lộn cho đảng Cộng Hòa trong cộng đồng tỵ nạn, thế mà nay Họ đối xử với ông như vậy thì còn gì nữa là đạo nghĩa? Như vậy, thiết tưởng cũng nên tìm hiểu xem chính khứa Mỹ là hạng người nào?



Câu hỏi khá bao quát, nhưng một tác giả Mỹ, ông Ted Flynn trả lời vắn tắt và đầy đủ như sau: trên tầng lớp niên trưởng của đám lãnh đạo chóp bu, họ là những kẻ chẳng trung thành với cái gì cả. Không có gì khác biệt giữa Cộng Hòa, Dân Chủ, Tự Do, Xã Hội, Cải Cách hay Bull Moose (nhóm progressive tách ra từ đảng Cộng Hòa thời TT Roosevelt). (At the senior levels of the elite cabal are men with no loyalties. There is an indifference to Republican, Democrat, Libertine, Socialist, Reform, or the Bull Moose Party. The issue is, can they control the individual? -Ted Flynn: Hope of the Wicked, The Master Plan to Rule the World, p.119.) Vấn đề là họ có thể kiểm soát được con người hay không mà thôi. Đó là điểm đồng qui của tư bản và cộng sản: kiểm soát con người và kiểm soát tất cả. Việc hứa lèo hứa cuội, nói ở đầu môi quên chót môi của các chánh khách Mỹ chỉ là mầu mè riêu cua thêm một tí cho vui. Chính vì cái bản chất bất trung (disloyalty) của chính quyền Mỹ nên ngày nay cả thế giới mới ghê tởm nước Mỹ.



Ở đâu cũng thế, tham vọng của các nhà chính trị là quyền lực và tiền tài. Ít có người, vì có nhiều tiền bạc rồi, nên chê lương lương của nhà nước như ông thống đốc Arnold Schwarzenegger. Ông từ chối lương thống đốc hàng năm 175.000 Mỹ kim. Ngược lại, Clinton thì khác. Lúc tập tểnh vô chính trị, ông kể lể: “I never had a nickel to my name.” (Tôi không có lấy một xu dính túi). Nhưng nay ông thừa nhận: “Now I’m a millionaire” (bây giờ tôi là triệu phú rồi). Ngoài lương hưu, ông Clinton mỗi tháng còn kiếm thêm 84.550 USD nữa, (xin nhớ một tháng thôi đấy) bằng một anh MBA làm mửa mật một năm trời. Nói tóm lại thì quyền hành bao giờ cũng đi đôi với tiền bạc. Có quyền tất có tiền. Trừ người như ông Arnold vì ông đã quá thừa tiền rồi, chỉ say mê quyền lực thôi.



Cái tham vọng, và hơn thế nữa, là khát vọng của các chánh khách là quyền lực. W. Cleon Skousen viết trong cuốn sách của ông The Naked Capitalist: “Quyền lực bất cứ từ đâu tới đều dẫn đến khuynh hướng tạo ra sự thèm khát quyền lực. Điều không tránh được là, kẻ đã giầu nứt khố đổ vách mơ một ngày nào đó kiểm soát không những tài sản của riêng mình, mà còn luôn tài sản của cả thế giới. Để đạt mục đích này, người ta nuôi dưỡng tính đam mê của những chính trị gia lắm mưu đồ, luôn đói khát quyền lực muốn lật đổ mọi chính quyền hiện hữu để thiết lập một nền độc tài trên toàn thế giới.” Ở Mỹ, muốn leo cao trên con đường danh vọng tức quyền lực, con người phải vong thân. Vong thân ở đây có nghĩa là bán mình cho các tổ chức nắm được cái cán quyền lực trong tay. Vô các hội kín dễ thăng tiến danh vọng hơn. Khát vọng quyền lực đòi hỏi con người phải có lòng khao khát quyền hành, và sẵn sành dứt bỏ những nguyên tắc đạo đức mà con người hấp thụ được từ các tôn giáo để sống lương thiện. Xin nêu vài nhân vật mà ông Ngô Kỷ đã kể tên.



- Arnold Schwarzenegger : Ký giả Leigh mô tả Arnold là một con người bị ma ám (obsessed) bởi quyền lực. Arnold nói: “Tôi muốn là một thành phần nhỏ thôi trong số rất ít các nhà lãnh đạo, chứ không muốn ở trong cái đám đông theo đuôi. Tôi đã thấy những người lãnh đạo sử dụng toàn khả năng của mình. Tôi luôn luôn bị quyến rũ bởi việc con người này kiểm soát được người khác.” Thế nhưng tháng Tư vừa qua, nhóm Bảo Vệ Đạo Đức ( Ethics Watchdog Group) đánh giá Arnold là một trong số 11 thống đốc tồi tệ nhất.



- Gavin Newsom : San Francisco là một thành phố của đồng tính luyến ái và same sex marriage. Để lấy phiếu của hai giới này, năm 2004, Gavin chỉ thị cho thư ký thành phố cấp hôn thú cho giới đồng tính. Điều này vi phạm luật Tiểu Bang. Tháng 8-2004, Tối Cao Pháp Viện California hủy bỏ các giá thú do Gavin ký, nhưng Gavin chuyển vấn đề ra dư luận toàn quốc bằng cách nêu vấn đề quyền đồng tính kết hôn và quyền đồng tính luyến ái để tranh thủ hậu thuẫn chính trị tại San Francisco.



- Tiện đây cũng nên nói một chút về ông TT Hussein Obama. Cha của Obama là một tín đồ Muslim, nên khi sinh ra, Obama khó lòng không phải là người Muslim theo luật Hồi Giáo. Năm 2006 khi còn là thượng nghị sĩ, Obama tuyên bố mập mờ có chủ đích: Cho dù đã có thời chúng ta là gì, nhưng bây giờ chúng ta không còn phải là quốc gia Thiên Chúa Giáo nữa. Ít ra lúc này thì chưa, nhưng biết đâu chừng chúng ta sẽ là một quốc gia Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Phật Giáo, Ấn Giáo, hay là một quốc gia vô thần. (Whatever we once were, we’re no longer a Christian nation. At least not just. We are also a Jewish nation, a Muslim nation, and a Buddhist nation, and a Hindu nation, and a nation of nonbelievers.) Điều trớ trêu là khi tuyên thệ nhậm chức, TT Obama phải đặt tay trên cuốn Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo mà tuyên thệ. Khi tuyên thệ, không biết vì vô tình hay cố ý, ông đã đọc sai đi một chút để đến mỗi ông tòa Tối Cao sau đó phải bắt ông tuyên thệ lại trong phòng riêng.



Ông Obama coi niềm tin tôn giáo chỉ là một trò đùa chỉ biểu diễn để mị dân. Các ông Arnold và Gavin đều là tin đồ Công Giáo nhưng ly dị và làm ngược lại giáo lý của Đạo để đạt được quyền hành. Có thể rút ra một nhận định chung từ các thí dụ cá nhân trên là, cho dù theo bất cứ một tôn giáo nào, con ngưòi cần phải trung thành với điều mình đã tin theo, bởi vì đây là một niềm tin khắc cốt nhất đối với con người. Một khi đã chối bỏ hoặc coi thường niềm tin nơi tâm linh thì con người không thể là người lương thiện được, họ chẳng trung thành với ai hết. Cộng sản cũng bởi vì vô thần nên chúng mới dã man và tàn bạo như chúng ta thấy. Làm sao ông Ngô Kỷ bắt buộc các ông Arnold Schwarzenegger và Gavin Newsom, những con người bất trung thành với niềm tin khắc cốt nhất của mình phải trung thành với ông được.



Muốn các chính khách Mỹ trung thành với những cam kết họ đã hứa, chúng ta nên thực tế một chút. Người Mỹ rất thực tế. Lối sống của họ là trao đổi lợi lộc, không hơn không kém. Chúng ta không thể chống cộng bằng hai bàn tay trắng. Hoặc là phải có tiền, hoặc là phải có trong tay một cái gì đó để trao đổi. Tiền bạc, nếu không được bằng Nhà Rothschild, Rockefeller, hay Morgan, thực lực, nếu không huy động nổi ít nữa vài ba trăm ngàn lá phiếu trên tổng số 3 triệu dân tỵ nạn, chúng ta đừng hy vọng nói chuyện phải quấy với mấy ông chính khứa Mỹ. Chúng ta nên hiểu tại sao nước Mỹ lại bênh vực chằm chằm thằng bé Do Thái tí hon, vùng đất chó ăn đá gà ăn sỏi mà bỏ rơi anh chàng khổng lồ Ả Rập với lòng đất đầy ắp mỏ vàng đen.



Sau hơn ba chục năm kể từ ngày mất nước, người tỵ nạn vẫn cứ đi theo lối mòn chống cộng bằng biểu tình, kiến nghị, thỉnh nguyện thư v.v. Chẳng đi đến đâu cả. Một thí dụ cụ thể, chúng ta biểu tình chống văn công VGCS chẳng hạn, văn công đã không hết, mà càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn, hát hò công khai hơn. Báo cáo IRS chúng hát lậu cũng chẳng ăn thua gì. Sở thuế làm ngơ. Vấn đề là, nếu chúng ta không coi hát thì chúng hát cho ai nghe đây, cho Mỹ đen hay cho Ấn Độ nghe à. Dân Mỹ đen ưa chơi nhạc Rap. Dân Ấn khoái nhạc kèn đám ma. Chỉ có vậy mà chúng ta không làm được thì còn làm cái gì. Hy sinh một chút lạc thú nhỏ nhoi thôi mà không hy sinh nổi thì làm sao chống cộng.



Sống trên đất Mỹ, người Việt tỵ nạn chúng ta nên học hỏi cách đấu tranh của người Mỹ da đen. Một điểm đáng chê trách mà người tỵ nạn cần phải đấm ngực xám hối là chúng ta rất nặng đầu óc kỳ thị, rất hay coi thường người Mỹ da đen. Về cơ sở để gắn bó với nhau, người Mỹ da đen hoàn toàn không có điểm nào được như chúng ta, ngoài một điểm duy nhất là mầu da trên thân thể. Chúng ta là một chủng tộc thuần nhất, người Mỹ đen có nguồn gốc từ rất nhiều bộ lạc, sắc tộc, quốc gia trên khắp châu Phi. Người Mỹ đen đã mất tiếng nói riêng, trong khi chúng ta vẫn còn giữ được tiếng nói và chữ viết. Họ không còn chút gì gọi là văn hóa dân tộc, chúng ta vẫn giữ nguyên phong tục, tập quán, và lối sống riêng như lễ tết, tang ma, cưới hỏi v.v. Thế nhưng phải thừa nhận rằng cái gì người Việt tỵ nạn cũng thua xa người Mỹ da đen. Ở đây chúng tôi chỉ nêu lên sự yếu kém trong cung cách đấu tranh của chúng ta so với người da đen.



Có hai mục tiêu đấu tranh: đấu tranh dành quyền lợi và đấu tranh đòi công lý. Chúng tôi không đi vào chi tiết mà chỉ nêu lên vài trường hợp làm điển hình để học hỏi. Nói đến vấn đề đấu tranh dành quyền lợi của người da đen tại Hoa Kỳ thì họ là số một. Chắc chắn rằng nếu không có cuộc tuần hành của mục sư Martin Luther King Jr. tại Washington D.C tháng 8-1963 thì cho đến bây giờ người da đen vẫn chưa thoát ra được khỏi cái nạn kỳ thị trong xã hội Mỹ. 13 triệu người Mỹ da đen đã được giải phóng sau cuộc biểu dương của 250.000 người cùng mầu da. Người ta chỉ có chung cùng một mầu da thôi, ấy thế mà khi ông mục sư Luther King hô lên một tiếng, đã có mấy trăm ngàn người tập hợp lại sau lưng ông. Chúng ta có làm được như họ không? Trong các điều kiện ký kết để được gia nhập WTO, VGCS phải chấp nhận công bằng trao đổi hai chiều các văn hoá phẩm của hai bên. Chính quyền Mỹ để chiều chuộng bọn VGCS, đã để mặc cho VGCS cấm nhập cảng sách báo của người Mỹ gốc Việt chúng ta. Nếu chúng ta tập trung được vài trăm ngàn trên tổng số 3 triệu người Việt tỵ nạn trên đất Mỹ để đòi lại quyền lợi này thì thử xem chính quyền Mỹ có dám thiên vị nữa không. Ít ra nếu cấm thì phải cùng cấm, còn nếu tự do thì cũng phải tự do đồng đều. Đó là quyền lợi mà người Mỹ gốc Việt chúng ta để mất mát thiệt thòi. Còn nhiều quyền lợi chúng ta bị chơi ép nữa chỉ vì chính sách thiên vị của chánh quyền Mỹ. Tại sao chúng ta không biết đòi hỏi như người da đen mà cứ phải khúm núm xin xỏ: thỉnh nguyện, kiến nghị lôi thôi?



Vấn đề tranh đấu đòi công lý cũng thế. Nếu chúng ta so sánh vụ Rodney King bị cảnh sát hành hạ với vụ Trần Thị Bích Câu bị cảnh sát bắn chết không có lý do, rồi tòa án xử ra làm sao, chúng ta sẽ thấy công lý phải đòi lại bằng cách nào. Cách thức tranh đấu đòi công lý của người da đen cho Rodney King so với cách thức đòi công lý của người Việt cho chị Bích Câu, rõ ràng cách của người da đen có hiệu quả hơn. Nó hữu hiệu đến độ sau đó 3 năm, năm 1995 xẩy ra vụ OJ Simpson giết vợ đã ly dị và tình địch, tòa án đã không dám xử Simpson có tội vì sợ người da đen xuống đường làm loạn. Rodney King là một anh chàng chẳng tử tế gì, việc người da đen xuống đường bạo động là hành động quá đáng, chúng tôi hiểu. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nói đến cái tinh thần đoàn kết tương thân tương trợ của người da đen đáng làm gương cho người Việt tỵ nạn chúng ta. Chúng ta nên nhìn vào mà tự vấn. Trong vụ Rodney King, chẳng ai hô hào người da đen xuống đường cả. Khi xẩy ra nội vu tại Los Angeles, hàng trăm ngàn người da đen trên nhiều thành phố, nhiều tiểu bang trên nước Mỹ đã tự động xuống đường vì thấy người đồng mầu da với mình bị xúc phạm. Đã có không ít đồng bào chúng ta bị cảnh sát bắn chết vô tội vạ, tòa xử cảnh sát vô tội nhưng rồi vấn đề bị chìm vào quên lãng, và cộng đồng vẫn thản nhiên như chuyện hàng xóm.



Bây giờ đến chuyện mấy ông chính khứa Mỹ tung hê thằng lãnh sự VGCS Lê Quốc Hùng thì ông Ngô Kỷ mới nghĩ rằng mấy ông chính khứa Mỹ phụ ông là hơi muộn rồi đấy. Người Mỹ đã phụ ông từ lâu lắm rồi. Nhưng nói đi thì cũng phải có nói lại, chính nhiều người Việt tỵ nạn bây giờ cũng tự gọi mình là VIỆT KIỀU rồi thì ông Thống Đốc hay ông Thị Trưởng bảo rằng thằng lãnh sự VGCS lãnh đạo cộng đồng người Mỹ gốc Việt có gì là sai. Tiên trách kỷ thì hậu mới trách nhân được. Muốn cho người Mỹ nói đúng thì cách hữu hiệu nhất nên làm là học đòi cách đấu tranh của người da đen. Nhìn vào thực tế mà coi, giới lãnh đạo Mỹ đều là hạng người ưa nặng chứ không ưa nhẹ đâu. Thằng VGCS nó đập Mỹ những đòn chí tử, chửi Mỹ y như chửi chó, còn người Quốc Gia coi Mỹ thân thiết như bạn bè, thế mà mấy ông chính khứa Mỹ lại dã tâm giết chết bạn bè, coi thằng VGCS như ông cố nội của mình vậy. Còn như đấu tranh chống VGCS, chúng tôi xin lặp lại một lần nữa, không có phương pháp nào tốt hơn phương pháp boycott và embargo được. Làm thế nào để chận được 10 tỷ bạc mỗi năm người tỵ nạn tiếp sức cho VGCS, chúng ta mới có cơ thắng được chúng. Và, chừng nào lãnh sự quán VGCS tại San Francisco vắng như chùa Bà Đanh, không còn người đến xin visa nữa thì tên Lê Quốc Hùng cũng dẹp tiệm, cuốn gói trở về Hànội thôi. Lúc đó mấy ông chính khứa Mỹ mới trung thành với người Việt tỵ nạn chúng ta.

Happy ThanksGiving Day

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Posted: Fri Nov 26, 2010 2:26 am
by dailien
Hoàng Tử William đính hôn

Hai người phụ nữ trong cuộc đời hoàng tử Anh

Hoàng tử William cầu hôn bạn gái Kate Middleton bằng chính chiếc nhẫn đính hôn của người mẹ quá cố nổi tiếng,
Công nương Diana, như muốn khẳng định hai người phụ nữ đặc biệt nhất trong cuộc đời mình.

Image
Chiếc nhẫn đính hôn đặc biệt của Hoàng tử William trao cho Kate Middleton.
Ảnh: AFP
Sau 8 năm với bao điều phỏng đoán về mối quan hệ trong tương lai, cặp đôi nổi tiếng nhất nước Anh cuối cùng cũng công bố đã làm lễ đính hôn, sau khi Hoàng tử William đã báo cho bà nội là Nữ hoàng Elizabeth II và cha là Thái tử Charles về quyết định quan trọng của mình. Ngay lập tức sự kiện này trở thành tin nóng đối với tất cả các hãng tin lớn trên thế giới.

Lễ cưới của Hoàng tử William và Kate Middleton sẽ diễn ra vào mùa xuân hoặc mùa hè năm sau. Sự kiện này được dự đoán sẽ trở thành một trong những lễ cưới được truyền trực tiếp có sức hút khán giả lớn nhất thế giới kể từ khi Hoàng tử xứ Wales tức Thái tử Charles làm lễ cưới Công nương Diana Spencer năm 1981.

Khi Hoàng tử William quyết định chọn chiếc nhẫn đính hôn của Công nương Diana để trao cho người vợ tương lai thì việc dư luận so sánh đám cưới của anh với với đám cưới cổ tích năm xưa của cha mẹ mình là điều không tránh khỏi. Nhưng hoàng tử vẫn khẳng định rằng Kate Middleton sẽ "không phải chịu bất cứ sức ép nào" trong việc phải tái hiện hình ảnh của người mẹ quá nổi tiếng của mình.
Hoàng tử cũng hứa sẽ không để lặp lại cảm giác "như chim vào lồng" mà Công nương Diana đã từng phải trải nghiệm khi bà gia nhập gia đình hoàng gia Anh năm xưa, khi nói rằng anh đã "rút ra được những bài học" từ quá khứ. Hoàng tử cũng giải thích thêm rằng đã trì hoãn lễ đính hôn để người vợ sắp cưới của mình có cơ hội "xả hơi", nếu cảm thấy sức ép là quá lớn cho thiên chức làm vợ của vị vua tương lai ở xứ sương mù.

Giấu nhẫn đính hôn trong ba lô

Trong quá khứ, những cô dâu của hoàng gia Anh thường xuất thân từ tầng lớp quý tộc hoặc hoàng gia nước ngoài, nhưng Kate Middleton lại là một cô gái có nguồn gốc hoàn toàn bình dân đến từ vùng Berkshire. Cha cô là doanh nhân thành đạt Michael Middleton và mẹ là bà Carole, một cựu tiếp viên hàng không. Sau thời thơ ấu yên ấm được học tại nhà, Kate vào trường nội trú, nơi được cho là cô đã treo tấm ảnh của Hoàng tử William trong phòng của mình. Sau đó cô đã gặp hoàng tử của lòng mình tại Đại học St Andrews, Scotland.

Nhưng từ trước khi họ gặp nhau, cặp đôi cùng 28 tuổi này đã đi chung một con đường. Ít người biết rằng hai người đã từng chọn chung cách thức trải nghiệm một năm thực tế (gap year) sau khi tốt nghiệp trung học năm 2001. Khi đó Kate làm việc cho một dự án ở Chile, nơi mà Hoàng tử William cũng có mặt chỉ một tháng trước đó. Sau một năm thực tế cả hai lại chọn chung Đại học St Andrews để theo học, thậm chí có thời điểm họ đã chọn chung chương trình học là lịch sử mỹ thuật, trước khi William chuyển sang ngành địa lý.

Những năm tháng sinh viên, Hoàng tử William đã sống như một người bình thường khi cùng thuê một căn nhà với những người bạn. Chính Kate Middleton đã giúp người có quyền kế vị ngai vàng của nước Anh vượt qua những khó khăn khi hoà nhập cuộc sống "bình dân" trong năm học đầu tiên.

Sau đó hai người cùng tốt nghiệp năm 2005 và hai gia đình thông gia tương lai đã chạm mặt nhau lần đầu tiên cùng năm này trong một buổi ăn trưa. Mối tình của hai người bắt đầu được công chúng và báo chí biết đến từ năm 2005 khi bị chụp hình ở khu trượt tuyết Klosters của Thụy Sĩ.

Sau 8 năm gắn bó và là chủ đề quan tâm của báo chí Anh, cuối cùng cặp đôi cũng thông báo họ đã bí mật đính hôn trong một kỳ nghỉ lãng mạn tại Kenya vào tháng trước. Hôm qua Kate Middleton lần đầu tiên xuất hiện với nhẫn đính hôn gắn kim cương và đá sapphire. Hoàng tử William đã giấu chiếc nhẫn này trong ba lô của mình suốt 3 tuần cho đến khi tìm được thời điểm thích hợp để cầu hôn Middleton.

Điều đặc biệt đây chính là chiếc nhẫn đính hôn của Công nương Diana năm xưa, được chế tác từ 14 viên kim cương gắn quanh một viên đá sapphire lớn. Những nguồn tin thân cận với gia đình hoàng gia Anh cho biết, chiếc nhẫn đính hôn mà Thái tử Charles trước kia đã trao cho Công nương Diana vào tháng 2/1981 đã vừa như in với Kate Middleton mà không cần phải chỉnh sửa gì.

"Chiếc nhẫn rất đặc biệt với tôi và Kate giờ đây cũng rất đặc biệt với tôi. Đó là cách để cả hai nhập làm một. Đó cũng là cách của tôi để đảm bảo rằng mẹ tôi không bỏ lỡ sự kiện mà tôi chờ đợi và chúng tôi sẽ bên nhau trong suốt phần đời còn lại của mình", Hoàng tử William bày tỏ với Telegraph. Còn Middleton thì mô tả màn cầu hôn của hoàng tử là "rất lãng mạn và riêng tư", nhưng cô khéo léo tránh cho biết thêm chi tiết.
Image
Vua và hoàng hậu tương lai của Vương quốc Anh. Ảnh: AFP
Thái tử Charles, cha của Hoàng tử William, đã công bố lễ đính hôn của cặp đôi trong một tuyên bố đưa ra vào sáng qua. Sự kiện này trước đó được giữ bí mật đặc biệt mà chỉ có một người khác được biết là cha của Middleton, ông Michael, người đã đồng ý khi Hoàng tử William đề nghị xin được cưới con gái ông sau khi cặp đôi trở về từ châu Phi.

Những thủ tục trên tuân thủ một đạo luật có từ thế kỷ 18 trong hoàng gia Anh, theo đó Hoàng tử William cũng phải xin phép đương kim Nữ hoàng Elizabeth II để được làm lễ cưới. Chỉ có điều hoàng tử mới làm việc này trong một cuộc điện thoại vào sáng hôm qua, ngay trước khi tin về lễ đính hôn được công bố với thiên hạ.

Những người thân của cả Hoàng tử William và Middleton cũng chỉ được thông báo về lễ đính hôn hơn 3 tiếng đồng hồ, trước khi sự kiện này được bố cáo với công chúng. Em trai của Hoàng tử William là Hoàng tử Harry cũng mới biết tin về lễ đính hôn của anh trai vào hôm qua. "Tôi rất vui vì anh trai mình đã đính hôn. Điều đó có nghĩa tôi đã có một chị gái, điều mà tôi hằng mong muốn", Hoàng tử Harry bày tỏ.

Sự kiện được chờ đợi từ lâu

Khi được hỏi tại sao lại để nhiều năm mới chính thức cầu hôn, Hoàng tử William giải thích: "Tôi đã từng không cho đây là cuộc chạy đua về thời gian, nhưng ngay bây giờ cả hai chúng tôi đang rất hạnh phúc và tôi thấy thật vui khi mình đã làm điều đó". Còn Middleton thì bày tỏ: "Đến nay chúng tôi đã gắn kết với nhau một thời gian dài và điều đó chỉ giống như một bước đi tự nhiên của hai chúng tôi mà thôi".

Cũng có nguồn tin cho biết, cặp đôi đã bàn về lễ cưới "từ hai đến ba năm nay" và trì hoãn việc công bố lễ đính hôn do ông nội của Middleton vừa qua đời và lễ tang mới được tổ chức tuần trước. Cặp đôi đang là tâm điểm của nước Anh cũng cho biết họ đã bàn với nhau về những đứa con và Middleton bày tỏ: "Tôi hy vọng có một gia đình hạnh phúc".

Một phát ngôn viên của Điện Buckingham thì tiết lộ, cả Nữ hoàng Elizabeth II và Thái tử Charles đều vui mừng, nhưng cũng "có ý kiến" về việc đôi trẻ đã để trì hoãn quá lâu việc đính hôn. Khi được hỏi cảm giác khi biết tin, Thái tử Charles đùa rằng: "Thật là bất ngờ, nhưng chúng đã thực hành đủ lâu rồi". Còn trong cuộc tiếp đón lãnh đạo các vùng lãnh thổ hải ngoại của Anh tại Lâu đài Windsor, Nữ hoàng Elizabeth II nói với các vị khách: "Thật là một tin tuyệt vời. Sự kiện đó đã khiến chúng mất rất nhiều thời gian mới làm được".
Image
Hoàng tử Charles và Diana Spencer sau khi công bố lễ đính hôn năm 1981.
Ảnh: Telegraph
Đám cưới trong tu viện

Hiện hoàng gia Anh chưa quyết định chính thức nơi sẽ cử hành hôn lễ, nhưng các nguồn tin thân cận cho rằng cặp đôi sẽ lựa chọn giữa Tu viện Westminster và Nhà thờ St Paul đều ở London để thực hiện nghi lễ quan trọng nhất cuộc đời. Trong đó nhà thờ St Paul là nơi cha mẹ Hoàng tử William đã làm đám cưới năm 1981, còn Tu viện Westminster là nơi ông bà chàng, tức đương kim Nữ hoàng Elizabeth II và Công tước Edinburgh, đã làm lễ cưới năm 1947.

Đặc biệt Tu viện Westminster cũng chính là nơi đã tổ chức lễ tang cho thân mẫu hoàng tử là Công nương Diana năm 1997. Bản thân hoàng tử cho biết thích được tổ chức lễ cưới của mình tại đây hơn. Anh cũng bày tỏ mong muốn lễ cưới diễn ra "giản dị" hơn so với các lễ cưới của hoàng gia Anh trước đây.

Tháng 7 là thời điểm ưa thích tại châu Âu cho việc tổ chức lễ cưới, nhưng tháng 7 năm sau lại "đụng hàng" với một đám cưới hoàng gia khác tại châu Âu là Hoàng tử Albert của Monaco sẽ diễn ra vào ngày 9/7. Điều này dẫn đến phỏng đoán nhiều khả năng lễ cưới của Hoàng tử William sẽ diễn ra vào tháng 4 hoặc tháng 5 năm tới.

Trong khi đó, tổ ấm đầu tiên của cặp đôi sau khi thành hôn sẽ là một ngôi nhà nông thôn tuyệt đẹp ở Anglesey, miền bắc xứ Wales, mà Hoàng tử William đã thuê. Ngôi nhà này nằm gần căn cứ của không quân hoàng gia Anh, nơi hoàng tử đã bắt đầu 3 năm quân ngũ với tư cách là phi công lái máy bay trực thăng cứu hộ. Thông tin về nơi ở của cặp đôi sau khi cưới đã được đích thân văn phòng Thái tử Anh xác nhận.

Khi nào Hoàng tử William lên kế vị ngai vàng của Vương quốc Anh, vợ chưa cưới của anh là Middleton sẽ được gọi là Hoàng hậu Catherine và cô sẽ nhận tước hiệu đầu tiên của mình vào ngày cưới. Còn bản thân Hoàng tử William theo nghi thức cũng sẽ nhận tước công của mình và tước hiệu đó có thể là Công tước Clarence hoặc Công tước Cambridge. Điều này đồng nghĩa với việc Middleton sẽ có tước hiệu đầu tiên là nữ công tước.

Nhưng trước khi chính thức trở thành vua và hoàng hậu, Hoàng tử William và Kate Middleton cũng đều chọn cho mình một nghề nghiệp như bao thanh niên khác. Hoàng tử đã thực hiện xong khoá đào tạo để trở thành phi công chuyên nghiệp trong lực lượng máy bay trực thăng tìm kiếm và cứu hộ của không quân hoàng gia Anh. Còn Middleton sau khi học xong ngành lịch sử mỹ thuật cô muốn theo đuổi sự nghiệp là một nhiếp ảnh gia.
Image
Đám cưới cổ tích của cha mẹ Hoàng tử William năm 1981.
Ảnh: Royal