Bình Luận , Quan Điểm

nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Quyết định số phận đồng Euro

Ngô Nhân Dụng


Có người đã nêu đề nghị các nước Ðông Nam Á hãy theo gương Âu Châu dùng chung một đồng tiền, đồng Euro.

Ðó là một mục tiêu đáng theo đuổi, để kinh tế ASEAN không bị tùy thuộc vào đồng đô la Mỹ hay đồng nguyên của Trung Quốc. Nhưng bây giờ phải thấy ý kiến này rất khó thực hiện, chắc chờ một vài thế hệ nữa, họa may. Khối Euro đang khủng hoảng, có người còn đoán đồng Euro sẽ chết! Mà họ có một ưu điểm là thể chế chính trị, kinh tế các nước dùng đồng tiền chung tương đối giống nhau chứ không phức tạp như các nước ASEAN!

Cộng đồng Âu Châu phải nhiều năm thai nghén mới ra đời năm 1967, bây giờ có 27 quốc gia. Ðến năm 1999, 11 nước trong số đó thỏa thuận dùng chung một đồng Euro, bây giờ lên 17 nước, nước sau cùng nhập cuộc là Estonia.

Cuộc khủng hoảng hiện nay xảy ra vì một số nước đang lo vỡ nợ, chính phủ thiếu tiền thanh toán các công trái. Hy Lạp đứng hàng đầu, sau tới Ireland, Bồ Ðào Nha, hàng kế là Tây Ban Nha, rồi tới Ý. Tổng số nợ của Hy Lạp lớn bằng 165% tổng sản lượng nội địa; Ý, Bồ Ðào Nha, Ireland, Tây Ban Nha cũng từ 60% đến 120%. Từ năm ngoái, các nước khác thấy cần phải cứu Hy Lạp và giúp Ireland, Bồ Ðào Nha ngay. Nếu không thì các nhà đầu tư đã mua công trái ba nước trên, trong đó có các ngân hàng khắp Âu Châu, sẽ lo bán đi để đề phòng chính họ vỡ nợ. Họ bán rồi sẽ đổi lấy tiền Mỹ, Thụy Sĩ, Nhật, hay Anh Quốc để đầu tư. Không những các công trái này xuống giá mà đồng Euro cũng mất tín nhiệm. Nhiều ngân hàng sẽ bị nghi ngờ, không biết anh nào sẽ vỡ nợ trước. Nếu người dân lo quá, họ sẽ rút tiền từ ngân hàng thì thành đại khủng hoảng, cả hệ thống sụp đổ như những cây domino!

Năm 2008 cảnh tượng này đã xuất hiện ở Mỹ sau khi Lehman Brothers tuyên bố vỡ nợ; chính phủ Mỹ đem ngay 700 tỷ đô la ra cho các ngân hàng lớn vay tạm để chấn an thị trường (hai năm sau họ đã trả lại, cả vốn lẫn lời). Các nước khối Euro cũng đang tính đường cứu như vậy. Không đưa tiền cứu các ngân hàng tư mà cứu các quốc gia đang lo vỡ nợ.

Nhưng ở Mỹ chỉ có một chính phủ với một ngân hàng trung ương; còn trong khối Euro tuy chung một ngân hàng trung ương nhưng lại có đến 17 chính phủ, với chính sách chi thu khác nhau. Ðể cứu nguy, họ đã đồng ý nâng số tiền cấp cho cho một Quỹ Ổn Ðịnh Tài Chánh (European Financial Stability Facility, EFSF) từ 250 tỷ lên 440 tỷ đồng (tương đương với 350 và 542 tỷ đô la Mỹ) để cứu các nước suy yếu. Ðổi lại, họ yêu cầu các nước nhận tiền phải cải tổ tài chánh, thu nhiều hơn, chi bớt đi. Hy Lạp đã nhận được cứu đợt cứu trợ thứ hai vào Tháng Bảy; Ireland, Bồ Ðào Nha đã được giúp, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đóng góp một phần ba. Ngày mai, 13 Tháng Mười 2011, các nước Âu Châu sẽ họp để quyết định có đưa thêm cho chính phủ Hy Lạp 8 tỷ Euro nữa hay không.

(Các ngân hàng Mỹ may mắn không bị dính nhiều vào các món nợ xấu ở Âu Châu. Theo JP Morgan Chase công bố, thị trường cho vay ngắn hạn [gọi là money market] ở Mỹ đã giảm số tiền cho các ngân hàng Âu Châu vay, từ 391 tỷ đô la hồi đầu năm 2011 xuống chỉ còn hơn 200 tỷ đô la.)

Ở các nước Thụy Ðiển (không dùng đồng Euro, cho vay nhiều hơn đi vay); Phần Lan và Ðức (với ngân sách cân bằng), dân chúng đều chống việc đem tiền của cả Âu Châu đi cứu trợ. Khi Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu mua một số công trái của các chính phủ trên, mấy nhân viên cao cấp người Ðức đã từ chức. Cuối Tháng Chín, Quốc Hội Ðức thông qua cho chính phủ tham dự vào quỹ EFSF nhưng nhiều bộ trưởng công khai chống lại bà thủ tướng.

Người ta có lý do chống việc cứu các nước bị khủng hoảng, rất đơn giản. Chính phủ các nước này không đủ tiền trả nợ vì họ chi nhiều quá, mà thu ít quá. Vì dân chúng các nước đó được hưởng nhiều lợi ích xã hội từ bao nhiêu năm nay mà lại đóng thuế ít (nền kinh tế chui, dưới gầm bàn, rất lớn). Bây giờ họ chờ nước khác đem tiền tới giúp thoát khỏi cảnh khó khăn, nhưng chưa dứt khoát lo “thắt lưng buộc bụng,” thì không thể chấp nhận được?

Không những thế, các ngân hàng và người đầu tư đã mua công trái các chính phủ trên, được hưởng tiền lời rất cao so với công trái các nước khá giả. Cứu chính phủ các nước lo vỡ nợ cũng chính là cứu các ngân hàng và các nhà đầu tư bất cẩn! Trong một thị trường phải có kỷ luật; ai muốn có triển vọng lợi suất cao phải chấp nhận rủi ro cao. Nếu không chịu trách nhiệm, không chịu thiệt thòi về việc đầu tư sai lầm của mình, thì đâu còn là kinh tế thị trường nữa?

Ðiều người Ðức chống mạnh nhất là biện pháp “Âu Châu hóa” các giấy nợ của các chính phủ đang bị khủng hoảng. Âu Châu hóa tức là Cộng đồng Âu Châu sẽ phát hành công trái, dùng tiền thu được trợ giúp các nước trên trả nợ cũ. Như thế là bắt tất cả mọi người dân đóng thuế phải góp phần trả nợ cho các nước đã “tiêu xài phung phí” trong quá khứ. Và làm như vậy cũng nuôi dưỡng những nhà đầu tư đã cho vay bất cẩn rồi chờ được cứu!

Thủ Tướng Hy Lạp George Papandreou đã hứa nước ông sẽ thắt lưng buộc bụng, sa thải bớt công chức, giảm bớt các chương trình xã hội, và tăng thuế; để ngân sách bớt được 111 tỷ đô la thâm thủng. Dân chúng Hy Lạp biểu tình phản đối, dọa sẽ không đóng những thuế mới đánh trên tài sản.

Hy Lạp có thể chọn ra khỏi khối Euro; dù trong các thỏa ước thành lập không dự trù một quốc gia có thể rút ra như thế nào. Ra khỏi khối Euro rồi, họ có thể phát hành đồng tiền riêng, gây lạm phát, một cách để giảm bớt các món nợ phải trả. Nhưng cả thế giới đầu tư sẽ hỏi: Nước nào sắp sửa ra theo? Ireland, Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha, hay Ý? Hy Lạp rút ra có thể gây chấn động cho cơn khủng hoảng bùng lên, dân lo rút tiền khỏi các ngân hàng!

Cộng đồng Âu Châu có thể cho Hy Lạp tuyên bố phá sản, buộc các chủ nợ chấp nhận chịu thiệt thòi thì sẽ được trợ cấp. Có thể tổ chức việc phá sản với nhiều hình thức. Một cách là yêu cầu các chủ nợ đồng ý “tái tài trợ” chính phủ Hy Lạp với những công trái mới thay thế những giấy nợ họ đang giữ, giảm bớt lãi suất hoặc thay đổi mệnh giá để số vốn cũng thấp hơn. Ðiều này hợp với kỷ luật thị trường, những nhà đầu tư cho vay mà không tính toán đúng phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Nếu không thực hiện được điều trên, Hy Lạp có thể tự tuyên bố phá sản và bắt buộc các chủ nợ phải thương thuyết xem ai sẽ đòi được bao nhiêu tiền, không khác gì tình trạng một công ty tư nhân phá sản. Chính phủ Hy Lạp có thể tiến hành việc này qua một diễn trình có trật tự, với sự tham dự của các nước Âu Châu khác, chuẩn bị tâm lý cả thị trường, cho mọi người biết Hy Lạp không hoàn toàn bị bỏ rơi. Việc cấp cứu có thể diễn ra trên hai mặt; một bên là giúp các chính phủ trả nợ phần nào; và mặt khác là cho các ngân hàng gặp nạn “vay tạm” bù vào các món nợ bị mất, như chính phủ Mỹ đã làm năm 2008. Thị trường sẽ rúng động, nhưng không đến nỗi sụp đổ.

Tệ nhất, nếu quả thật các nước Âu Châu khác bỏ rơi Hy Lạp, chính phủ nước này có thể tuyên bố phá sản thẳng thừng, mặc cho các chủ nợ lấy lại được bao nhiêu thì lấy. Nhưng điều này không thể nào xảy ra được. Vì cơn khủng hoảng sẽ lan ngay sang các nước miền Nam Âu Châu và Ireland, rồi lan rộng khắp nơi. Cả khối Euro sẽ vỡ, ai đi đường nấy, không biết bao giờ mới hy vọng bắt đầu lại!

Cho nên cuối cùng, không những Âu Châu mà cả Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế sẽ phải cùng nhau cứu Hy Lạp. Hôm qua ông Jose Manuel Barroso nói rằng Ủy hội Âu Châu sắp họp sẽ đưa ra nhiều “sáng kiến” có tính toàn diện để giải cứu cơn khủng hoảng nợ nần. Ông nhấn mạnh tới việc “chỉnh đốn các ngân hàng” để họ có thể đối phó với cơn khủng hoảng hiện nay. Mọi sáng kiến sẽ phải phối hợp trong một Bộ Ba, ngoài Liên Hiệp Âu Châu còn có Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Cuối tuần này, các bộ trưởng tài chánh 20 nước gọi là G20 cũng họp, chắc chắn cũng bàn chuyện cứu cấp Hy Lạp!

Dù cho Hy Lạp phá sản một cách có trật tự, một nguyên tắc sẽ phải được tôn trọng. Là các chủ nợ cũng phải gánh chịu thiệt thòi, vì chính họ đã quyết định sai lầm khi cho vay. Nếu không thì chắc các thanh niên sẽ đi biểu tình! Một lý do gây ra phong trào “Chiếm Wall Street” ở Mỹ là những người trẻ, giới trung lưu, cảm thấy chính các ngân hàng gây ra cuộc khủng hoảng tài chánh và kinh tế kéo dài 4 năm nay, mà bây giờ hầu như đã trở lại tiếp tục làm giầu; trong khi đó bao nhiêu nạn nhân chịu cảnh thất nghiệp. Không những thế, giới có tiền này lại đang vận động Quốc Hội ngăn cản việc đặt ra các luật lệ kiểm soát mới có mục đích giảm bớt các quyết định sai lầm của ngân hàng gây tai họa cho công chúng!

Khối Euro sẽ thay đổi, và cộng đồng Âu Châu cũng phải thay đổi, sau cuộc khủng hoảng này. Vấn đề chính là 17 nước dùng chung một đồng tiền nhưng lại có các chính sách chi thu khác nhau. Họ đã đặt ra những quy luật để tránh tai nạn, như bắt buộc các chính phủ không được thâm thủng ngân sách quá 2% hoặc 3%. Nhưng quy luật đó để sót quá nhiều lỗ hổng cho các nhà chính trị du di; và việc thi hành không được kiểm soát chặt chẽ. Từ nay, phải có thêm những tổ chức chung cho các nước dùng đồng Euro, phải cho có nhiều quyền hành kiểm soát hơn. Như thế thì sẽ có hai hệ thống quyền hành song song, một bên là cho cả Cộng đồng Âu Châu với tất cả 27 nước, một bên là một tổ chức cho 17 nước dùng đồng Euro. Nếu hai guồng máy quyền hành đó xung đột thì bên nào nắm quyền về kinh tế, tài chánh chắc sẽ ở thế mạnh hơn; Âu Châu có thể chia ra làm hai vùng khác biệt, một vùng thống nhất chặt chẽ và một vùng lỏng lẻo. Nhưng riêng các nước dùng đồng Euro kết hợp với nhau cũng rộng lớn hơn đế quốc của những người đã từng ôm mộng thống nhất Âu Châu, như Ðại Ðế Charlemage hay Napoleon đời trước!
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

TRÒ NGOẠI GIAO HUÊ DẠNG CỦA VIỆTCỘNG
BỘC LỘ THÂN PHẬN ĐẦY TỚ BẮC KINH

Ngay sau khi Nguyễn Phú Trọng được bầu vào chức tổng bí thư đảng Việtcộng, giữa tháng 01/ 2011, thì tháng 2/2011, Hồ Cẩm Đào tổng bí thư, chủ tịch nước Trungcộng đã chính thức gửi thư thúc dục Trọng phải sang Tầu, bệ kiến triều đình Bắckinh. Nhưng Nguyễn Phú Trọng vốn đã bị dư luận trong, ngoài đảng cho là một người trung thành với Trungcộng. Mà tiến trình của Mỹ nhập nội Việtnam ngày càng ảnh hưởng mạnh trên khắp mặt nhân sinh, kinh tế, quân sự và chính trị. Nhất là giữa lúc luồng gió Cách Mạng Hoa Lài, từ Bắcphi ào ạt thổì vào Việtnam, làm cho Việtcộng run sợ. Nguyễn Phú Trọng không dám khinh suất, quá lộ liễu như các kẻ tiền nhiệm phải cúc cung sang Tầu nhận chỉ thị khi mới nhậm chức. Trong khi đó tình thế Biển Đông mỗi ngày một căng thẳng. Trungcộng hung hăng cưỡng nhận chủ quyền toàn vùng Biển Đông, đe dọa an ninh các nước Đông Nam Á. Hoakỳ quyết liệt trở lại Áchâu, được tất cả các nước Áchâu chấp nhận, như một chiếc dù an ninh chống lại sự bành trướng của Trungcộng. Nên chuyến đi truyền thống giữa Việtcộng và Trungcộng, mãi đến tình thế Biển Đông hơi dịu lại mới có thể tiến hành.

Hôm nay, ngày 11/10/2011, Nguyễn Phú Trọng mới dám sang Tầu. Sau khi dàn dựng ra cái trò “Ngoại Giao Đa Phương” toàn cầu, tự mình sang Lào. Nguyển Tấn Dũng thủ tướng, đi một vài nước Đông Nam Á và Âu Châu. Rồi tổ chức họp Trung Ương Đảng khóa 3. Cùng ngày, Trương Tấn Sang chủ tịch nước, chính thức sang thăm Ấnđộ, vốn là đối trọng chiến lược chính của Trungcộng tại Áchâu. Bất chấp sự đe dọa của Bắckinh, Ấnđộ dứt khoát vào khai thác dầu khí tại Việtnam. Ấn được Mỹ - Nhật – Úc, nắm tay cùng tiến vào Biển Đông để giúp các nước Đông Nam Á “Ngăn Bành Trướng Bắckinh”. Trương Tấn Sang hội đàm với tổng thống Ấn, Pratibha Devising Patil và thủ tướng Mamohan Singh để ký kết về quốc phòng, thương mại và chương trình khai thác dầu khí. Đây là nằm trong chiến lược “Nhìn về phía Đông” (Look East) của Dehli, nhằm đẩy mạnh quan hệ với Miếnđiện và Việtnam. Cũng hôm nay, 11/10/11, nữ thủ tướng Đức, Angela Merkel viếng thăm Việtnam đề cập tới “tình trạng nhân quyền đang xuống dốc tại Việtnam”. Ký tuyên bố chung 5 nội dung chính bao gồm: “ Hợp tác chính trị chiến lược; thương mại và đầu tư; tư pháp và luật pháp; phát triển và môi trường; giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa, truyền thông và xã hội” với Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việtcộng. Bà Merkel hiện là người có tiếng nói mạnh nhất trong Liên Hiệp Âu Châu. Bà có chương trình đi thăm các vị lãnh đạo tôn giáo, những nhà đối lập ở Hànội và Saigon.

Trở lại chuyến công du Trungcộng của Nguyễn Phú Trọng với một phái đoàn hùng hậu gồm 3 ủy viên Bộ Chính Trị; một phó thủ tướng đặc trách song phương Việtnam Trungquốc; trưởng ban đối ngoại trung ương; chánh văn phòng trung ương; các bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng, công thương, kế hoạch đầu tư, nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông vận tải, giáo dục đào tạo… thứ trưởng bộ công an và đại sứ Việtnam tại Bắckinh. Tóm lại là các cơ quan đảng và các bộ có liên hệ tới việc hợp tác với Trungcộng, đều được Nguyễn Phú Trọng trình diện trước Hồ Cẩm Đào và các lãnh tụ Bắckinh để nghe chỉ dụ: “Hai bên nhấn mạnh tới sự tôn trọng, hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, hợp tác và tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế là cơ sở quan trọng cho quan hệ hai nước phát triển ổn định, lành mạnh; khẳng định tình hữu nghị Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được hai bên không ngừng củng cố, phát triển và truyền cho mãi thế hệ mai sau”. “Hai nhà lãnh đạo cùng nhất trí cho rằng, trong quan hệ hai nước còn tồn tại một số bất đồng xung đột quanh vấn đề biển Đông và nhất trí hai nước đều tránh làm phức tạp tình hình và bình tĩnh xử lý những bất đồng thông qua đàm phán hòa bình, nhìn từ tầm cao chiến lược quan hệ hai nước và ích lợi của nhân dân hai nước”. “Hai bên nhất trí áp dụng các biện pháp hữu hiệu thiết thực để mở rộng toàn diện và đi sâu hợp tác hữu nghị trên các lãnh vực giữa hai nước”.

Nhìn vào 9 điểm mà hai bên đã thỏa thuận thì Việtnam nhất định bị Trungcộng nuốt đứt, như ở điểm: “Một là…kịp thời trao đổi ý kiến về tình hình quốc tế, khu vực và các vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương…”. Nghĩa là phải báo cáo về tình hình giữa Việtnam với quốc tế và các nước khác với quan thầy. “Hai là…mở rộng và phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương giữa các cấp, ngành, địa phương của hai nước…”. Nghĩa là hai nước trở thành Một, xuyên suốt, từ trung ương xuống tới điạ phương. “Ba là…giáo dục các tầng lớp nhân dân về tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng và hai Nhà nước…mở rộng và tăng cường giao lưu nhân dân một cách phong phú, thiết thực, hiệu quả, nhất là giữa thanh-thiếu niên hai nước”. Nghĩa là đẩy mạnh công việc Hán hóa dân tộc Việtnam. “Bốn là:…phát huy đầy đủ và nâng cao hiệu quả của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương…trong quy hoạch tổng thể… khắc phục các cơ chế, chính sách còn vướng mắc…”. Nghĩa là thống nhất luôn cơ chế và chính sách giữa Việt-Tầu. “Năm là:…mở rộng họp tác trên lãnh vực quốc phòng và an ninh; chấp hành nghiêm túc và triển khai có hiệu quả những nội dung hợp tác mà hai bên đã thoả thuận; tăng cường giao lưu giữa lực lượng vũ trang hai bên…” Nghĩa là quân đội, công an Việtnam đều nằm trong tay Tầu. Sáu là tăng cường thế mạnh về thương mại. Bẩy là mở rộng hợp tác về khoa học - kỹ thuật và giáo dục. Tám là bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, bảo vệ nguồn nước. Nhưng Trungcộng cứ xây đập đầu nguồn và xả chất độc hại xuống hai dòng sông chính của Việtnam là Hồng hà và Cửu long. Chín là về biển thì rất mơ hồ “… kiên trì và bình tĩnh xử lý, giải quyết thỏa đáng thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị…”. “…quyết không để bất cứ vấn đề gì, bất cứ thề lực nào chia rẽ quan hệ hai Đảng, hai nước…” Xem vậy chủ quyền đang mất về tay Trungcộng, đất nước và dân tộc Vìệtnam cũng sẽ mất luôn, chừng nào Việtcộng còn cầm quyền!

Nhìn sang Miếnđiện, nhiều thập niên dưới chế độ quân phiệt, bị quốc tế cấm vận, Trungcộng hầu như một mình một chợ tha hồ thao túng. Đến nay các quân nhân đã trút áo nhà binh, mặc áo dân sự, tiến sang chế độ dân chủ, dù đất nước còn nghèo, nhưng tổng thống Thein Sein của Miếnđiện, vì ý nguyện của người dân, đã thông báo đình chỉ dự án xây đập thuỷ điện Myitsone do Trungcộng tài trợ, nhằm cung cấp điện cho Hoalục. Lần đầu tiên Miếnđiện mở cửa cho báo chí vào theo dõi khóa họp Quốchội ngày 07/10. Hôm nay, 11/10/2011, chính quyền dân sự Miếnđiện chính thức thông báo ân xá hơn 6.300 tù nhân, mà trước đây Hoakỳ, Liên Âu và phe đối lập Miến Điện chỉ đòi thả khoảng 2.000 tù nhân chính trị. Còn ở Việtnnam thì Việtcộng chẳng những không dám thả tù chính trị, lại gia tăng đàn áp, bỏ tù đối lập, tôn giáo, báo giới; thả lỏng cho bọn công an côn đồ đánh đập, giết hại người dân một cách vô tội vạ. Đối ngoại thì dở trò huê dạng “Ngoạì giao đa phương toàn cầu”, mà thực tế thì Việtcộng, cầm đầu bởi Nguyễn Phú Trọng và 13 ủy viên Bộ Chính Trị ăn hại, cứ chui đầu vào nách Trungcộng, làm đầy tớ Bắckinh, mà chẳng hề biết nhục.

LÝ ĐẠI NGUYÊN –
Little Saigon ngày 11/10/2011.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Image

Ngoại trưởng Mỹ cam kết trở lại Châu Á


Ngoại trưởng Hoa Kỳ nói Châu Á Thái Bình Dương có ý nghĩa quan trọng đối với Hoa Kỳ và thế giới

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton vừa có bài viết dài khẳng định cam kết của Washington với Châu Á Thái Bình Dương.

Trong bài viết mang tựa đề "Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ", bà ngoại trưởng nói Châu Á Thái Bình Dương trải dài Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương với gần một nửa dân số trên thế giới đã trở thành "động lực chính của chính trị toàn cầu."
Người đứng đầu ngành ngoại giao Hoa Kỳ nhận định:
"Vào lúc khu vực này đang xây dựng những cơ cấu kinh tế và an ninh chín chắn hơn để thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng, cam kết của Hoa Kỳ tại đây là hết sức cần thiết.

"Nó [cam kết của Hoa Kỳ] giúp xây dựng cơ cấu đó và giúp Hoa Kỳ giữ vai trò lãnh đạo trong nhiều năm trong thế kỷ này, cũng giống như cam kết hậu Thế Chiến II của chúng ta đối với việc xây dựng các quan hệ và hệ thống định chế xuyên Đại Tây Dương mang tính chiến lược và lâu dài đã mang lại kết quả lớn hơn nhiều so với đầu tư ban đầu và vẫn tiếp tục như vậy."
Bà Clinton nói việc đảm bảo hòa bình và an ninh tại Châu Á Thái Bình Dương ngày càng có ý nghĩa quan trọng cho tiến bộ toàn cầu cho dù đó là chuyện bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), ngăn chặn cố gắng phổ biến vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động quân sự của những nước lớn trong khu vực.
"Chúng ta là cường quốc duy nhất với mạng lưới liên minh mạnh mẽ trong khu vực nhưng không có tham vọng lãnh thổ trong khi có lịch sử phụng sự lợi ích chung," bà Clinton viết.

Theo Bấm bài viết trên Foreign Policy, Hoa Kỳ hiện có hiệp ước liên minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Philippines và Thái Lan.
Riêng tại Nhật Bản và Hàn Quốc đã có 50.000 quân nhân Hoa Kỳ hiện diện và Nhật Bản đã bỏ ra năm tỷ đô la để đảm bảo binh lính Hoa Kỳ tiếp tục có mặt ở nước này.

Bà Clinton nói bản thân bà đã chọn Châu Á là nơi đầu tiên tới thăm trong vai trò ngoại trưởng còn Tổng thống Barack Obama vào tháng 11 năm nay sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tham dự Diễn đàn Đông Á diễn ra tại Indonesia.

Vấn đề nhân quyền

Nhắc tới Trung Quốc, ngoại trưởng Hoa Kỳ nói cả hai nước sẽ được lợi hơn nhiều từ hợp tác thay vì đối đầu.
"Sự thật là một nước Hoa Kỳ hùng mạnh tốt cho Trung Quốc và một nước Trung Quốc hùng mạnh tốt cho Hoa Kỳ."

Bà Clinton nói Hoa Kỳ khuyến khích Trung Quốc tích cực tham gia vào giải quyết các vấn đề toàn cầu và cùng lúc tăng tính minh bạch trong các hoạt động quân sự để không có sự hiểu nhầm giữa quân đội Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Vị ngoại trưởng cũng nhắc tới những lo ngại của Washington về tình trạng nhân quyền ở đất nước đông dân nhất thế giới.
"Chúng ta đã nêu rất rõ, cả công khai và trong các cuộc gặp kín, những lo ngại sâu sắc của chúng ta về nhân quyền.
"Chúng ta đã nói rõ ...với Việt Nam rằng tham vọng phát triển quan hệ chiến lược đòi hỏi họ phải có những bước đi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị."

Hillary Clinton
"...Chúng ta đã giải thích cho các đồng nghiệp Trung Quốc rằng sự tôn trọng đúng mực luật lệ quốc tế và một hệ thống chính trị cởi mở hơn sẽ tạo cơ sở để Trung Quốc phát triển và ổn định hơn nhiều - đồng thời tăng niềm tin cho các đối tác của Trung Quốc.
"Nếu không Trung Quốc đã tự hạn chế sự phát triển của chính họ một cách không cần thiết."
Bà Clinton nói sức mạnh các giá trị Hoa Kỳ còn quan trọng hơn cả sức mạnh quân sự và kinh tế.

Bà nói trong khi họ thắt chặt thêm quan hệ với các nước mà Washington có khác biệt về hệ giá trị, người Mỹ luôn thúc giục các nước này thúc đẩy cải cách để cải thiện hệ thống quản trị, bảo vệ nhân quyền và tăng cường tự do chính trị.

Vị ngoại trưởng cũng đưa Việt Nam ra làm ví dụ.
"Chúng ta đã nói rõ ...với Việt Nam rằng tham vọng phát triển quan hệ chiến lược đòi hỏi họ phải có những bước đi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị."
"...Chúng ta không thể và không định áp đặt hệ thống của chúng ta lên các nước khác, nhưng chúng ta tin rằng một số giá trị có tính phổ quát và người dân của mọi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Châu Á, đều coi trọng - chúng [Những giá trị này] là những giá trị của những nước thịnh vượng, hòa bình và ổn định.
"Suy cho cùng chính người Châu Á sẽ tự theo đuổi những quyền và hoài bão của họ giống như chúng ta thấy người dân đã làm ở khắp nơi trên thế giới."

'Lãnh đạo toàn cầu'

Bà Clinton nói có nhiều người hoài nghi sức bền của Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới và bà nói những hoài nghi này không có gì mới.

Bà Clinton nói Hoa Kỳ vẫn có nhiều cái nhất trên thế giới trong đó có quân đội mạnh nhất
"Khi Cuộc chiến Việt Nam kết thúc, có vô vàn các nhà bình luận toàn cầu đưa ra ý tưởng rằng Hoa Kỳ đang rút lui và đây là đề tài cứ vài thập niên lại được lặp lại.
"Nhưng bất cứ khi nào Hoa Kỳ gặp trở ngại, chúng ta đều có thể vượt qua nhờ tái sáng tạo và đổi mới.
"Khả năng trở lại với tư cách mạnh hơn của chúng ta là chưa từng có trong lịch sử hiện đại.
"Nó bắt nguồn từ mô hình dân chủ tự do và doanh nghiệp tư do của chúng ta, mô hình hiện vẫn là phương tiện mạnh mẽ nhất sản sinh ra sự thịnh vượng và tiến bộ mà loài người từng biết tới."

Vị ngoại trưởng nhắc lại cho thế giới thấy Hoa Kỳ vẫn có nền kinh tế mạnh nhất thế giới, quân đội có vị trí số một, hiệu suất lao động của người Mỹ cao nhất thế giới và các trường đại học của Hoa Kỳ nổi tiếng khắp thế giới.
"Bởi vậy không thể nghi ngờ chuyện Hoa Kỳ có khả năng giữ vững và đảm bảo sự lãnh đạo toàn cầu trong thế kỷ này như chúng ta đã đạt được trong thế kỷ trước," bà nói.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

TRÒ NGOẠI GIAO HUÊ DẠNG CỦA VIỆTCỘNG BỘC LỘ THÂN PHẬN ĐẦY TỚ BẮC KINH

LÝ ĐẠI NGUYÊN
Ngay sau khi Nguyễn Phú Trọng được bầu vào chức tổng bí thư đảng Việt cộng, giữa tháng 01/ 2011, thì tháng 2/2011, Hồ Cẩm Đào tổng bí thư, chủ tịch nước Trung cộng đã chính thức gửi thư thúc dục Trọng phải sang Trung cộng, bệ kiến triều đình Bắc kinh. Nhưng Nguyễn Phú Trọng vốn đã bị dư luận trong, ngoài đảng cho là một người trung thành với Trung cộng. Mà tiến trình của Mỹ nhập nội Việt nam ngày càng ảnh hưởng mạnh trên khắp mặt nhân sinh, kinh tế, quân sự và chính trị. Nhất là giữa lúc luồng gió Cách Mạng Hoa Lài, từ Bắc phi ào ạt thổì vào Việt nam, làm cho Việt cộng run sợ. Nguyễn Phú Trọng không dám khinh suất, quá lộ liễu như các kẻ tiền nhiệm phải cúc cung sang Trung cộng nhận chỉ thị khi mới nhậm chức. Trong khi đó tình thế Biển Đông mỗi ngày một căng thẳng. Trung cộng hung hăng cưỡng nhận chủ quyền toàn vùng Biển Đông, đe dọa an ninh các nước Đông Nam Á. Hoa kỳ quyết liệt trở lại Á châu, được tất cả các nước Á châu chấp nhận, như một chiếc dù an ninh chống lại sự bành trướng của Trung cộng. Nên chuyến đi truyền thống giữa Việt cộng và Trung cộng, mãi đến tình thế Biển Đông hơi dịu lại mới có thể tiến hành.

Hôm nay, ngày 11/10/2011, Nguyễn Phú Trọng mới dám sang Trung cộng. Sau khi dàn dựng ra cái trò "Ngoại Giao Đa Phương" toàn cầu, tự mình sang Lào. Nguyển Tấn Dũng thủ tướng, đi một vài nước Đông Nam Á và Âu Châu. Rồi tổ chức họp Trung Ương Đảng khóa 3. Cùng ngày, Trương Tấn Sang chủ tịch nước, chính thức sang thăm Ấn độ, vốn là đối trọng chiến lược chính của Trung cộng tại Á châu. Bất chấp sự đe dọa của Bắc kinh, Ấn độ dứt khoát vào khai thác dầu khí tại Việt nam. Ấn được Mỹ - Nhật – Úc, nắm tay cùng tiến vào Biển Đông để giúp các nước Đông Nam Á "Ngăn Bành Trướng Bắc kinh". Trương Tấn Sang hội đàm với tổng thống Ấn, Pratibha Devising Patil và thủ tướng Mamohan Singh để ký kết về quốc phòng, thương mại và chương trình khai thác dầu khí. Đây là nằm trong chiến lược "Nhìn về phía Đông" (Look East) của Dehli, nhằm đẩy mạnh quan hệ với Miến điện và Việt nam. Cũng hôm nay, 11/10/11, nữ thủ tướng Đức, Angela Merkel viếng thăm Việt nam đề cập tới "tình trạng nhân quyền đang xuống dốc tại Việt nam". Ký tuyên bố chung 5 nội dung chính bao gồm: " Hợp tác chính trị chiến lược; thương mại và đầu tư; tư pháp và luật pháp; phát triển và môi trường; giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa, truyền thông và xã hội" với Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việtcộng. Bà Merkel hiện là người có tiếng nói mạnh nhất trong Liên Hiệp Âu Châu. Bà có chương trình đi thăm các vị lãnh đạo tôn giáo, những nhà đối lập ở Hà nội và Saigon.

Trở lại chuyến công du Trung cộng của Nguyễn Phú Trọng với một phái đoàn hùng hậu gồm 3 ủy viên Bộ Chính Trị; một phó thủ tướng đặc trách song phương Việt nam Trung quốc; trưởng ban đối ngoại trung ương; chánh văn phòng trung ương; các bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng, công thương, kế hoạch đầu tư, nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông vận tải, giáo dục đào tạo… thứ trưởng bộ công an và đại sứ Việt nam tại Bắc kinh. Tóm lại là các cơ quan đảng và các bộ có liên hệ tới việc hợp tác với Trung cộng, đều được Nguyễn Phú Trọng trình diện trước Hồ Cẩm Đào và các lãnh tụ Bắc kinh để nghe chỉ dụ: "Hai bên nhấn mạnh tới sự tôn trọng, hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, hợp tác và tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế là cơ sở quan trọng cho quan hệ hai nước phát triển ổn định, lành mạnh; khẳng định tình hữu nghị Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được hai bên không ngừng củng cố, phát triển và truyền cho mãi thế hệ mai sau". "Hai nhà lãnh đạo cùng nhất trí cho rằng, trong quan hệ hai nước còn tồn tại một số bất đồng xung đột quanh vấn đề biển Đông và nhất trí hai nước đều tránh làm phức tạp tình hình và bình tĩnh xử lý những bất đồng thông qua đàm phán hòa bình, nhìn từ tầm cao chiến lược quan hệ hai nước và ích lợi của nhân dân hai nước". "Hai bên nhất trí áp dụng các biện pháp hữu hiệu thiết thực để mở rộng toàn diện và đi sâu hợp tác hữu nghị trên các lãnh vực giữa hai nước".
Nhìn vào 9 điểm mà hai bên đã thỏa thuận thì Việt nam nhất định bị Trung cộng nuốt đứt, như ở điểm: "Một là…kịp thời trao đổi ý kiến về tình hình quốc tế, khu vực và các vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương…". Nghĩa là phải báo cáo về tình hình giữa Việt nam với quốc tế và các nước khác với quan thầy. "Hai là…mở rộng và phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương giữa các cấp, ngành, địa phương của hai nước…". Nghĩa là hai nước trở thành Một, xuyên suốt, từ trung ương xuống tới điạ phương. "Ba là…giáo dục các tầng lớp nhân dân về tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng và hai Nhà nước…mở rộng và tăng cường giao lưu nhân dân một cách phong phú, thiết thực, hiệu quả, nhất là giữa thanh-thiếu niên hai nước". Nghĩa là đẩy mạnh công việc Hán hóa dân tộc Việt nam. "Bốn là:…phát huy đầy đủ và nâng cao hiệu quả của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương…trong quy hoạch tổng thể… khắc phục các cơ chế, chính sách còn vướng mắc…". Nghĩa là thống nhất luôn cơ chế và chính sách giữa Việt-Trung cộng. "Năm là:…mở rộng họp tác trên lãnh vực quốc phòng và an ninh; chấp hành nghiêm túc và triển khai có hiệu quả những nội dung hợp tác mà hai bên đã thoả thuận; tăng cường giao lưu giữa lực lượng vũ trang hai bên…" Nghĩa là quân đội, công an Việt nam đều nằm trong tay Trung cộng. Sáu là tăng cường thế mạnh về thương mại. Bẩy là mở rộng hợp tác về khoa học - kỹ thuật và giáo dục. Tám là bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, bảo vệ nguồn nước. Nhưng Trung cộng cứ xây đập đầu nguồn và xả chất độc hại xuống hai dòng sông chính của Việtnam là Hồng hà và Cửu long. Chín là về biển thì rất mơ hồ "… kiên trì và bình tĩnh xử lý, giải quyết thỏa đáng thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị…". "…quyết không để bất cứ vấn đề gì, bất cứ thề lực nào chia rẽ quan hệ hai Đảng, hai nước…" Xem vậy chủ quyền đang mất về tay Trung cộng, đất nước và dân tộc Vìệt nam cũng sẽ mất luôn, chừng nào Việt cộng còn cầm quyền!

Nhìn sang Miến điện, nhiều thập niên dưới chế độ quân phiệt, bị quốc tế cấm vận, Trung cộng hầu như một mình một chợ tha hồ thao túng. Đến nay các quân nhân đã trút áo nhà binh, mặc áo dân sự, tiến sang chế độ dân chủ, dù đất nước còn nghèo, nhưng tổng thống Thein Sein của Miến điện, vì ý nguyện của người dân, đã thông báo đình chỉ dự án xây đập thuỷ điện Myitsone do Trung cộng tài trợ, nhằm cung cấp điện cho Hoa lục. Lần đầu tiên Miếnđiện mở cửa cho báo chí vào theo dõi khóa họp Quốchội ngày 07/10. Hôm nay, 11/10/2011, chính quyền dân sự Miến điện chính thức thông báo ân xá hơn 6.300 tù nhân, mà trước đây Hoa kỳ, Liên Âu và phe đối lập Miến Điện chỉ đòi thả khoảng 2.000 tù nhân chính trị. Còn ở Việt nam thì Việt cộng chẳng những không dám thả tù chính trị, lại gia tăng đàn áp, bỏ tù đối lập, tôn giáo, báo giới; thả lỏng cho bọn công an côn đồ đánh đập, giết hại người dân một cách vô tội vạ. Đối ngoại thì dở trò huê dạng "Ngoạì giao đa phương toàn cầu", mà thực tế thì Việt cộng, cầm đầu bởi Nguyễn Phú Trọng và 13 ủy viên Bộ Chính Trị ăn hại, cúi đầu vào nách Trung cộng, làm đầy tớ Bắc kinh, mà chẳng hề biết nhục. LÝ ĐẠI NGUYÊN – Little Saigon ngày 11/10/2011.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Cung đàn lỗi nhịp

BS Nguyễn Ðan Quế


Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN) đang vươn mình trở thành tổ chức hợp tác vùng để cùng nhau phát triển với mẫu số chung là Dân Chủ.

Việt Nam lỗi nhịp ASEAN, bơ vơ lạc đàn giữa chợ đời thế giới, không bắt kịp lịch sử loài người. Làm theo Miến Ðiện mới là đi vào sinh lộ, thoát tử lộ. Chung qui chỉ vì không sớm chịu học hai “nốt nhạc” Nhân Quyền và Dân Chủ mà ra nông nỗi này...

***

Chỉ trong năm ngày từ 11 đến 15 tháng 10, 2011 có nhiều sự kiện chính trị liên quan đến sinh mệnh của tập đoàn lãnh đạo độc tài Hà nội.

Trước tiên là Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh, lần này không dùng từ “viếng thăm hữu nghị,” mà thay bằng “viếng thăm chính thức.”

Cùng đi với ông Trọng là một phái đoàn hùng hậu gồm ba ủy viên Bộ Chính Trị là Ðại Tướng Phùng Quang Thanh, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương đảng Ngô Văn Dụ và Trưởng ban Tuyên giáo Ðinh Thế Huynh; Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh; chưa kể trưởng các ban, văn phòng của Trung Ương Ðảng.

Vừa tới nơi, thấm mệt, được Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo đón tiếp với bộ mặt nghiêm nghị, không cười, và ký ngay văn kiện chính trong chuyến viếng thăm này là “Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.”

Thỏa thuận nhằm giải quyết ôn hòa các tranh chấp trên biển trong khu vực Biển Ðông, nhưng mơ hồ về thời gian, không quy định thời hạn cho việc tiến hành đàm phán. Văn kiện được Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn của Việt Nam ký với người tương nhiệm phía Trung Quốc là ông Trương Chí Quân ngày 11 tháng 10 tại Bắc Kinh.

Chữ ký chưa khô mực, Hải Quân Trung Quốc loan báo vừa thiết lập một trạm xá quân y tại một đảo thuộc Trường Sa, gần nơi hải chiến 1988.

Còn Tổng Thống Philippines B. Aquino III lên tiếng chỉ trích Việt Nam chấp nhận đàm phán song phương với Trung Quốc, thay vì đa phương trong khuôn khổ Asean. (Ghi nhận thêm là cùng lúc Miến Ðiện sau khi bỏ xây một đập thủy điện do Trung Quốc đầu tư, đã tuyên bố cởi mở tự do thông tin, thả tù nhân chính trị và chấp nhận quyền thành lập nghiệp đoàn và đình công của công nhân).

Austin Ramzy (Time) nhận định: “Thỏa thuận giữa hai nước Việt-Trung - vốn đã có cuộc chiến ngắn dọc đường biên giới đất liền hồi năm 1979 và đụng độ tại Trường Sa ở Biển Ðông năm 1988 - được cho như một sự hòa hoãn đáng hoan nghênh, nhưng nó chưa phải là giải pháp lâu dài. Thỏa thuận này, nói một cách giản lược nhất, là thỏa thuận tiếp tục đối thoại với nhau về vấn đề Biển Ðông. Tuy chưa phải là đột phá, nhưng có đối thoại còn hơn là không đối thoại.”

Thứ đến, chuyến công du Ấn Ðộ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Việt Nam và Ấn Ðộ đồng ý mở đối thoại an ninh hai năm một lần; tăng hơn gấp đôi kim ngạch thương mại từ mức 2.7 tỷ đô la lên thành 7 tỷ đô la vào năm 2015, đồng thời thúc đẩy đầu tư hai chiều. Hai bên cũng nhất trí tăng cường trao đổi trong công tác phòng chống khủng bố.

Thủ Tướng Manmohan Singh của Ấn Ðộ mô tả mối quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam là một yếu tố của hòa bình, ổn định, và phát triển trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Ngày 12 tháng 10, thủ tướng Ấn Ðộ và chủ tịch nước Việt Nam đã chứng kiến lễ ký kết thỏa thuận giữa công ty dầu khí quốc doanh ONGC Videsh của Ấn Ðộ với Tập đoàn Dầu khí PetroVietnam có hiệu lực trong 3 năm, bao gồm các dự án đầu tư, khai thác, và cung cấp dầu khí.

Trung Quốc phản đối dự án này.

Ấn Ðộ thuộc Tiểu lục địa Ấn Ðộ nằm ở phía Nam Châu Á cùng với Afganistan, Pakistan, Bangladesh, Nepal và vài nước nhỏ khác như Bhutan, Sikkim, Sri Lanca, Maldives. Là nền kinh tế lớn thứ 9 của thế giới, dân số 1.2 tỉ, thu nhập đầu người thấp hơn 3,000 đô la, vẫn thuộc khối Nam. Quan hệ Việt Nam-Ấn Ðộ chỉ là hợp tác Nam-Nam, nên tầm quan trọng không nhiều lắm.

Rời Ấn Ðộ, ông Trương Tấn Sang đi thăm Sri Lanka, có tính cách ngoại giao.

Sau cùng, gây chú ý là thủ tướng Ðức bà Angela Merkel Merkel đến thăm Việt Nam ngày 12 tháng 10, 2011.

Hai bên ra tuyên bố chung tại Hà Nội “Việt Nam và Ðức - đối tác chiến lược về tương lai.” Hai bên không chỉ hợp tác trong lĩnh vực kinh tế-thương mại; mà còn cả trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao, giáo dục, khoa học... Nhưng qua cuộc họp báo ở Hà Nội, Việt Nam chỉ nhấn mạnh đến hợp tác kinh tế-thương mại, giáo dục và văn hóa; còn lĩnh vực chính trị, luật pháp ông Nguyễn Tấn Dũng tìm cách tránh né.

Cũng như Hoa Kỳ và nhiều nước trong Cộng đồng Âu Châu, bà Merkel nhấn mạnh: Ðể phát triển, Việt Nam phải tôn trọng quyền con người, tự do báo chí và tự do tôn giáo.

***

Trong khi ba sự kiện chính trị quan trọng Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh, Trương Tấn Sang đi Ấn Ðộ và Merkel đến Việt Nam, thì phía Mỹ bà Ngoại Trưởng H. Clinton cho đăng bài xã luận trên tạp chí Chính Sách Ngoại Giao (Foreign Policy) khẳng định:

Khai phá đà tăng trưởng và sức năng động của Châu Á-Thái Bình Dương là lợi ích trung tâm về kinh tế và chiến lược của Mỹ và ưu tiên quan trọng cho Tổng Thống Obama.

Mở cửa thị trường ở Châu Á cho Hoa Kỳ những cơ hội chưa từng có về đầu tư, thương mại, đường vào kỹ-thuật-cao của Mỹ.

Phục hồi kinh tế Mỹ sẽ phụ thuộc vào xuất khẩu và khả năng của các công ty Mỹ khai thác thị trường tiêu dùng rộng lớn và ngày càng tăng của khu vực Châu Á.

Về mặt chiến lược, duy trì hòa bình và an ninh ở Châu Á-Thái Bình Dương ngày càng quan trọng cho tiến bộ toàn cầu, qua tự do hàng hải, chống chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên; hay đảm bảo tính minh bạch trong các hoạt động quân sự của các đối thủ quan trọng của khu vực.

Chính vì Châu Á là quan trọng đối với tương lai của Mỹ, nên vai trò Mỹ tham gia là quan trọng đối với tương lai của Châu Á. Ðiều này thúc đẩy vai trò lãnh đạo và mậu dịch của Mỹ - có lẽ là ghê gớm hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử hiện đại.

Trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ, đặc trách Á Châu-Thái Bình Dương Kurt Campbell khai triển rõ hơn ở Ðại Học Choulalongkorn (Bangkok).

Ðề cập đến vấn đề tế nhị về mối tương quan giữa các nước trong khu vực với một cường quốc đang lớn mạnh là Trung Quốc, trợ lý ngoại trưởng Mỹ Kurt Campbell nói:

Ðiểm quan trọng ở đây là chiến lược địa lý của từng quốc gia trong bang giao với Trung Quốc. Hoa Kỳ hiểu rõ sự cố gắng cải thiện bang giao giữa từng nước đối với Hoa lục và luôn ủng hộ nỗ lực đó.

Về tình hình khá phức tạp và nhạy cảm tại vùng biển Nam Trung Hoa, trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ Kurt Campbell nói tiếp:

Hoa Kỳ muốn khẳng định không thể đứng về phía nào, mà chỉ có thể khuyến khích cổ vũ cho những cuộc họp hoặc những vòng đối thoại để giải quyết vấn đề, đồng thời hoan nghênh thái độ thận trọng, tự chế của từng quốc gia.

***

Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) đang vươn mình trở thành tổ chức hợp tác vùng để cùng nhau phát triển với mẫu số chung là Dân Chủ.

Việt Nam lỗi nhịp ASEAN, bơ vơ lạc đàn giữa chợ đời thế giới, không bắt kịp lịch sử loài người.

Làm theo Miến Ðiện mới là đi vào sinh lộ, thoát tử lộ.

Chung qui chỉ vì không sớm chịu học hai “nốt nhạc” Nhân Quyền và Dân Chủ mà ra nông nỗi này.

Tháng 10, 2011
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Mất nước rồi ư?
“Mất nước rồi ư” tiếng kêu thảng thốt của người dân trong nước hôm nay có khác nào tiếng kêu của người dân Miền Nam khi xích xe tăng nghiến trên đường phố Sài Gòn. Xin mời quý độc giả cùng đọc và cùng chia xẻ nỗi đau đớn tột cùng, và cùng nhau làm một cái gì để cứu Quê Hương(chungtoimuontudo))

- “Mất nước rồi cháu ơi, không làm gì được nữa đâu!” – Tôi nhận tin nhắn của một bác trong Friend list mình mà thấy đắng lòng. Người bác, người bạn vong niên với tấm lòng lúc nào cũng thiết tha với đất nước có lẽ vừa đọc xong toàn văn bản tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc sau chuyến viếng thăm của ông Nguyễn Phú Trọng vừa qua.

Lần đầu tiên tôi không gửi hồi đáp tin nhắn cho bác, bởi tôi không biết nói gì.Bởi tôi đang có cảm giác hình như đang có một sự im lặng “đến tê người” trước đối sách ngoại giao vừa được ký kết giữa lãnh đạo hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Với những gì trong bản Tuyên bố chung hôm nay thể hiện, thì tương lai của Việt Nam 5 – 10 năm tới hoàn toàn không có gì là sáng sủa.

Trí thức ở đâu?

Những học giả, những vị lão thành cách mạng, những người có tiếng nói với thời cuộc nghĩ gì khi đọc bản tuyên bố này?

Còn nhớ cách đây 2 năm, khi những người đầu tiên ký tên vào bản kiến nghị dừng dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên bị sách nhiễu, nhiều người khác vẫn thờ ơ với vấn đề này. Hôm nay, khi sự cố tại các hồ chứa bùn xảy ra, khi không kiểm soát được tình trạng công nhân Trung Quốc tràn ngập tại Việt Nam.

Người ta nghĩ gì?

Còn nhớ, khi Thác Bản Giốc bị chia hai, có quá nhiều người không quan tâm đến nó, giờ đây khi các thời báo và tạp chí nước ngoài đăng tải thông tin có lợi cho chủ quyền đối với Thác Bản Giốc, người Việt Nam nghĩ gì?

Sự thờ ơ của quá khứ đã đóng đinh cho cỗ quan tài mất mát của hiện tại.

Không lẽ, dân tộc ta cứ phải đi sau cỗ quan tài chôn cất những mất mát đã rồi của Mẹ Việt Nam??

Không lẽ chúng ta cứ mãi xếp hàng trong chuyến tàu muộn màng để khẳng định chủ quyền “đã bị cướp” của đất nước mình với toàn thế giới mãi sao?

Mất nước rồi ư?

Có lẽ thế thật!. Bởi trong lịch sử 1000 năm trước dân tộc này không thể bị đồng hóa bằng hình thức xâm lấn, thống trị… thì nay đã có những hình thức ngoại giao tinh vi hơn, buộc cả dân tộc phải tự đồng hóa mình, phải cam chịu vì lép vế, đớn hèn im lặng, chấp nhận cúi đầu mà quên đi truyền thống quật cường của cha ông để lại.

Mất nước rồi ư?

Có lẽ thế thật, nếu không thì tại sao Trung Quốc có thể ngang nhiên phủ nhận đặc quyền khai thác dầu khí của Việt Nam trên thềm lục địa nước Việt trong khi ông Trọng đang thăm viếng Bắc Kinh?

Mất nước rồi ư?

Có lẽ thế thật, nếu không tại sao lại im lặng tháo gỡ những tin tức làm dấy lên một loạt câu hỏi về ý thức dân tộc của người Việt Nam? Tại sao lại âm thầm “sửa đổi lịch sử”, thay ngày đổi tháng, thêm sao trên cờ cốt làm vui lòng tên láng giềng xấu tính?

Mất nước rồi ư?

Có lẽ thế thật, nếu không vì sao người ta cướp giật, vò nát những chiếc nón lá hiền lành ghi đậm dòng chữ “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam” ngay giữa lòng Hà Nội?

Mất nước rồi ư?

Có lẽ thế thật, bởi chúng ta chưa vượt qua được nỗi sợ hãi của chính bản thân mình.

Có nhiều người hy vọng ở một cuộc cách mạng đổi mới, nhưng tôi tin rằng khó có thể làm nên một cuộc cách mạng khi mỗi cá nhân chưa đi đến với cách mạng bản thân. Làm sao vượt qua được sợ hãi khi mỗi chúng ta có quá nhiều thứ phải cân nhắc để mất: công việc, gia đình, người thân, bạn bè….

Có những việc làm tưởng chừng như đơn giản là công khai thắc mắc, đòi hỏi quyền công dân của mình phải được thực hiện bằng cách công khai trao đổi qua thư tín, qua điện thoại với cơ quan công quyền thì chúng ta thường bỏ qua, bởi suy nghĩ “rồi sẽ chẳng đi đến đâu”. Dù không bao giờ hy vọng có một câu trả lời thỏa đáng với mình mỗi khi hỏi, nhưng tôi vẫn hỏi, vẫn yêu cầu được giải đáp. Bởi tôi tin rằng, khi một người hỏi người ta có thể im lặng, 10 người, 100 người, 1000 người… cũng thế, nhưng nếu 10.000 người, 100.000 người cùng hỏi, cùng quan tâm cùng yêu cầu trả lời… thì đáp lời chúng ta, không thể là một sự im lặng mãi được.

Và quan trọng hơn hết, tôi tin rằng: im lặng là đồng lõa với tội ác.

Im lặng là đồng tình với những người công an đang chà đạp lên lòng yêu nước – cái vốn quý nhất của dân tộc – khi họ cùng nhau xâu xé chiếc nón “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam” và bắt cóc người chủ của chiếc nón Việt Nam ấy.

Im lặng là đồng tình, là chấp nhận chính mình là một phần tử được nhân danh trong những giao kết đời đời biết ơn Trung Quốc, đặt quan hệ giữa hai đảng lên trên hết mọi sự…

Im lặng là tự chính mình làm quan tòa đóng dấu cho bản án bỏ tù lương tâm, bổn phận và trách nhiệm của chính mình đối với quê hương.

Im lặng là hành động cụ thể nhất để đánh mất chính mình.

Tôi đã viết:

“Vận mệnh của đất nước phụ thuộc vào chính chúng ta”, bởi tôi tin rằng: “lịch sử có mắt”.

Hôm nay chúng ta im lặng, chúng ta không có ý kiến với những gì đã xảy ra, hoặc có, giả chăng chỉ là những lời than van, cay đắng, đầy buồn tủi… Tức là, chúng ta tự chấp nhận định mệnh đã được sắp đặt sẵn cho chính bản thân mỗi người, cho dân tộc trong tương lai.

Tôi tin rằng sẽ có ngày tôi phải nhìn thẳng vào mắt của con cái tôi, trả lời câu hỏi của chúng về thực trạng của đất nước và biết rằng tôi chỉ có thể nhìn chúng mà không cúi mặt, biết rằng câu trả lời đàng hoàng và có trách nhiệm nhất phải được bắt đầu bằng thái độ và hành động của chính mình từ bây giờ.

Sự thờ ơ của hiện tại sẽ đóng đinh tiếp cho những cỗ quan tài mất mát tương lai.

Mất nước rồi ư?

Không tôi không tin.

Không thể nào, bởi tôi tin rằng, một khi ta yêu, ta muốn bày tỏ tình yêu thương thực sự, chắc hẳn ta sẽ tìm ra cách thể hiện nó, chứ không thể im lặng giấu mãi trong lòng.

Tôi không cho phép tôi tin vào điều bi thảm ấy giữa những im lặng tê người này. Một thứ không thể bị mất đi khi còn có người yêu thương nó, vì vậy, không thể nào, không thể nào đất nước Việt Nam mà tôi yêu thương đến bật máu trong lòng này có thể mất được.

Mẹ Nấm
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Từ Miến Ðiện nghĩ về Việt Nam

LS Nguyễn Văn Ðài


Giống như Việt Nam, trước đây Miến Ðiện luôn phủ nhận có giam giữ tù nhân chính trị hay tù nhân lương tâm.

Nhưng gần đây chính quyền Miến Ðiện đã công khai thừa nhận có tù nhân chính trị và họ sẽ xem xét để thả tự do cho tất cả tù nhân chính trị. Và ngày 12 tháng 10, 2011, chính quyền Miến Ðiện đã trả tự do cho hơn 200 tù chính trị.

Chính quyền Miến Ðiện gần đây cũng tuyên bố “không cần thiết phải duy trì kiểm duyệt thông tin.” Tổng Thống Thein Sein đã khởi đầu đối thoại với lãnh tụ phe đối lập Aung San Suu Kyi vốn bị tập đoàn quân sự giam giữ và quản thúc suốt 15 năm. Trước đó, Miến Ðiện đã tiến hành chuyển từ chế độ quân sự sang chế độ dân sự, xây dựng hệ thống chính trị đa đảng bằng việc cho các đảng phái chính trị khác nhau đăng ký thành lập và hoạt động Trong cuộc bầu cử đa đảng năm 2010, đã có hàng chục chính đảng tham gia.

Có thể nói Miến Ðiện đã thực sự bước vào giai đoạn dân chủ hóa đất nước. Những khó khăn có thể vẫn còn ở phía trước, nhưng những chuyển biến và tín hiệu tích cực gần đây đã đem lại hy vọng về một tương lai xán lạn cho đất nước và nhân dân Miến Ðiện.

Tại sao nhân dân Miến Ðiện đã đạt được rất nhiều tiến bộ trong tiến trình dân chủ hóa của mình?

Thứ nhất, đó là nhờ sự đấu tranh kiên trì, không biết mệt mỏi của các từng lớp nhân dân Miến Ðiện trong suốt nhiều thập kỷ qua.

Ðã có hàng chục ngàn lượt người dũng cảm đứng lên đấu tranh và họ đã bị sự sách nhiễu, đàn áp, bắt giữ và cầm tù của chính quyền. Nhưng hết thế hệ này đến thế hệ khác, nhân dân Miến Ðiện vẫn kiên trì con đường đấu tranh dân chủ mà thế hệ trước đã lựa chọn.

Ðồng thời phe đối lập của Miến Ðiện có vị lãnh tụ Aung San Suu Kyi, người được giải thưởng Nobel Hòa Bình và được toàn thế giới biết đến và ủng hộ. Bà không chỉ là tấm gương dũng cảm, không sợ gian khó, tù đày của nhân dân Miến Ðiện. Bà còn là tấm gương cho nhân dân các nước đang bị áp bức, chưa có tự do dân chủ.

Thứ hai, đó là sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Miến Ðiện. Liên Hiệp Châu Âu đã cùng Hoa Kỳ áp đặt trừng phạt kinh tế Miến Ðiện từ cuối thập niên 90. Trong số các điều kiện mà các nước Tây phương đòi hỏi để bỏ cấm vận là chính quyền Miến Ðiện phải tôn trọng nhân quyền và trả tự do cho toàn bộ 2.000 tù nhân chính trị.

Bởi áp lực mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế mà trong nhiều năm chính quyền quân sự của Miến Ðiện đã bị cô lập về kinh tế, chính trị và ngoại giao với thế giới. Ðiều này đã góp một phần trong tiến trình dân chủ hóa của đất nước Miến Ðiện.

Nỗ lực của người dân

Ðồng thời chúng ta cần nhận thức rằng để tiến đến một xã hội dân chủ thì cần phải có nỗ lực từ hai phía chính quyền và người dân.

Về phía nhân dân Miến Ðiện, họ khát khao xây dựng một xã hội dân chủ, họ nhận thức được rằng chỉ có một xã hội dân chủ thì đất mới phát triển và hội nhập được với cộng đồng quốc tế. Và điều đó cũng sẽ đem lại tự do và hạnh phúc cho các thế hệ người dân Miến Ðiện hôm nay và mai sau.

Do đó mà nhân dân Miến Ðiện đã nỗ lực đấu tranh và họ đã gặt hái được những bông trái đầu mùa.

Còn về phía chính quyền, chúng ta thấy rằng các nhà lãnh đạo Miến Ðiện cũng nhận thức được chỉ có con đường thực thi dân chủ hóa đất nước thì họ mới được gỡ bỏ cấm vận về kinh tế của Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ. Và cũng từ đó họ mới có thể phát triển được kinh tế và hội nhập quốc tế.

Dân chủ hóa đất nước cũng là cách để chính quyền Miến Ðiện có thể nhận được sự ủng hộ của nhân dân. Dân chủ hóa là con đường để chính quyền tiếp tục duy trì được quyền lãnh đạo để phục nhân dân và Tổ quốc của họ.

Ngưỡng mộ và chúc mừng thành quả của nhân dân Miến Ðiện, chúng ta nhìn lại công cuộc đấu tranh dân chủ của nhân dân Việt Nam trong những năm qua.

Trong Hiến Pháp và pháp luật của Việt Nam đã qui định khá đầy đủ các quyền con người về chính trị. Ðồng thời các nhà lãnh đạo của Việt Nam cũng luôn long trọng tuyên bố với thế giới rằng các quyền con người về chính trị ở Việt Nam luôn được tôn trọng và thực thi trong thực tế.

Như vậy nhân dân Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực thi các quyền con người về chính trị của mình.

Trong những năm qua đã có nhiều từng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh dân chủ bằng cách thực hiện các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, thành lập và tham gia các đảng phái chính trị. Mặc dù các quyền đó đã được ghi nhận trong Hiến Pháp, pháp luật và chính quyền luôn tuyên bố tôn trọng. Nhưng nhận thức và sự hiểu biết của chính quyền, của đảng Cộng Sản, về dân chủ và các quyền con người còn hạn chế nên đã dẫn đến việc sách nhiễu, đàn áp, bắt giữ và cầm tù nhiều người đấu tranh dân chủ.

Ðồng thời còn có quá ít người dân yêu nước và có trách nhiệm với đất nước dám dấn thân cho công cuộc đấu tranh dân chủ. Nếu như đất nước Việt Nam chúng ta cũng có hàng ngàn, hàng vạn người dân dám dũng cảm đứng lên đấu tranh cho dân chủ thì chắc chắn chính quyền sẽ phải lắng nghe và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.

Chúng ta đều biết rằng thành quả của nhân dân Miến Ðiện ngày hôm nay, cũng như những thành tựu về quyền con người mà các nước dân chủ văn minh đã giành được đều không phải tự nhiên mà có.

Tất cả đều đã phải trải quá trình đấu tranh gian khổ và bền bỉ của nhân dân các nước đó. Các thế hệ người Việt Nam ngày hôm nay muốn được hưởng những giá trị đích thực của quyền con người, giá trị đích thực của nền độc lập. Và chúng ta cũng muốn để lại những giá trị tốt đẹp đó cho các thế hệ con cháu thì ngay từ lúc này mỗi người dân cần phải có trách nhiệm với đất nước của chúng ta.

Trong những năm vừa qua, chúng ta cũng đã nhận được sự lên tiếng ủng hộ của chính phủ và nhân dân các nước trên khắp thế giới, các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế. Khi công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ của chúng ta càng phát triển mạnh mẽ thì chúng ta cũng sẽ nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ hơn từ cộng đồng quốc tế.

Tiến trình dân chủ hóa Việt Nam phải đến từ hai phía.

Chúng ta mong rằng đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ nhận thức được việc xây dựng một xã hội dân chủ sẽ giúp cho đất nước chúng ta hội nhập một cách trọn vẹn với thế giới về kinh tế, chính trị, ngoại giao. Chúng ta có cơ hội để xây dựng mối quan hệ đồng minh với các cường quốc dân chủ và từ đó giúp ta bảo vệ được chủ quyền quốc gia, phát triển kinh tế.

Những điều đó sẽ đem lại cuộc sống sung túc và hạnh phúc cho mọi người dân. Ðồng thời khi đảng Cộng Sản Việt Nam tiến hành dân chủ hóa đất nước sẽ giúp cho uy tín của họ tăng lên, nhận được sự ủng hộ nhiều hơn từ nhân dân. Từ đó giúp cho họ duy trì được quyền lãnh đạo để phục vụ đất nước và nhân dân.

Ðấu tranh cho tự do, dân chủ là quyền và trách nhiệm cao cả của mỗi công dân Việt Nam. Quí vị độc giả nghĩ gì về vai trò của mình trong công cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ?
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Đưa Quân Vào Uganda Làm Gi?
Nguyễn Xuân Nghĩa
Những mục tiêu của một cuộc phiêu lưu mới...

Hôm 14 Tháng 10, Tổng thống Barack Obama thông báo quyết định sẽ đưa vào Uganda một lực lượng biệt kích khoảng trăm người với nhiệm vụ yểm trợ chính quyền xứ này truy lùng lãnh tụ Joseph Kony của một lực lượng phiến loạn và khủng bố xưng danh "Quân Kháng Chiến của Thiên Chúa" (the Lord's Resistance Army - LRA).

Chưa đầy một tuần sau, Ngoại trưởng Hillary Clinton bất ngờ vào Tripoli gặp gỡ lực lượng nổi dậy chống lại chế độ Moammar Gaddafi của Libya rồi thăm viếng A Phú Hãn và Pakistan. Bà chưa đến Paskistan thì đã có tin Gaddafi bị bắn hạ vào ngày 20. Xuất phát từ các viên chức của Hội đồng Chuyển tiếp NTC của phe nổi dậy, có hai nguồn tin khác nhau về cái chết của Gaddafi: bị Minh ước NATO oanh kích trên đường tháo lui khỏi cứ điểm cuối cùng là thành phố Syrte, hoặc bị phe nổi dậy bắn hạ bằng vũ khí cá nhân trong một cuộc giao tranh cuối cùng.

Rất khéo léo, cho đến chiều ngày 20, giờ miền Đông nước Mỹ, Chính quyền Hoa Kỳ vẫn thủ vai vô can và chưa chính thức xác nhận tin này. Nhưng hầu hết các giới chức chính trị đều coi rằng chế độ Gaddafi đã kết thúc sau tám tháng cầm cự. Cũng chính biến cố ấy lại dẫn ta đến câu hỏi, sau Libya, Hoa Kỳ tính gì tại Uganda?

Hôm 18, nhật báo chuyên đề về kinh doanh xuất bản từ Los Angeles là tờ Investor's Business Daily, theo khuynh hướng bảo thủ về chính trị và tự do về kinh tế, đã có bức hý họa của Michael Ramizez về quyết định này. Đại lược thì từ Toà Bạch Ốc có lời phát biểu ám chỉ là của Tổng thống: "Xứ Iran đã có thành tích yểm trợ việc sát hại binh lính Mỹ. Âm mưu vừa qua là một hành động tuyên chiến. Vì vậy chúng ta phải đưa lính... qua Uganda!"

Tại sao không can thiệp vào Iran - hoặc trì hoãn việc rút quân khỏi Iraq – mà lại đưa quân vào Uganda?

Âm mưu được tờ IBD nhắc tới ở đây là việc Iran cho mật vụ hợp tác với tổ chức ma túy tại Mexico để đưa người vào ám sát Đại sứ Saudi Arabia tại Hoa Kỳ và thi hành một số hành động khủng bố. Âm mưu này đã được Tổng trưởng Tư pháp và Giám đốc FBI long trọng trình bày trong cuộc họp báo ngày 11 Tháng 10 với quyết định truy tố một nghi can. Bài này không đề cập đến hồ sơ Libya hay Iran – xin để một kỳ khác! – mà nói về Uganda.

Chỉ vì tờ IBD có thể đã nhận định sai về động lực thật của Chính quyền Obama khi mở ra một cuộc chiến khác tại khu vực Trung Phi sau quyết định can thiệp vào Libya. Động lực này là gì?


Có thể là để bảo vệ an ninh trong khu vực, mở rộng quan hệ thương mại, chặn đường Trung Quốc và tranh thủ một số hậu thuẫn cho nhu cầu bầu cử. Chúng ta sẽ tìm hiểu về chuyện đó, sau khi nhắc lại hồ sơ Uganda.

***
Uganda có 32 triệu dân, lãnh thổ bị khóa trong đất liền ở miền Đông Phi Châu. Theo chiều kim đồng hồ thì giáp giới với Kenya ở phía Đông, với hồ Victoria và xứ Tanzania ở phía Nam, rồi Rwanda, Cộng hoà Dân chủ Congo ở phía Tây và quốc gia mới giành lại nền độc lập từ đầu năm nay là Nam Sudan. Về địa dư, xứ này là một bình nguyên nằm trên thượng nguồn sông Nile và các mặt hồ rất lớn của Phi Châu, có khí hậu nhiệt đới, dân nghèo, nước nhỏ nhưng lại có nhiều tài nguyên chưa khai thác.

Một cái may mà cũng là cái rủi!
Sau khi lãnh tụ độc tài Idi Amin Dada bị lật đổ, từ giữa thập niên 1980, một nhóm phiến loạn xưng danh Thiên Chúa nổi dậy tranh hùng với chế độ của Tổng thống Yoweri Museveni. Xuất phát từ bộ tộc Acholi, nhóm phiến loạn do một kẻ tự xưng là phát ngôn nhân của Thiên Chúa - thực ra là của Chúa Thánh Thần – lãnh đạo từ năm 1987 đã gieo rắc nhiều tai họa cho cả Uganda lẫn các nước phụ cận. So sánh với "Quân kháng chiến của Thiên Chúa" và lãnh tụ Joseph Kony thì chế độ Museveni tại thủ đô Kampala tương đối ít tệ hơn, nên được các nước Tây phương yểm trợ trong mấy chục năm liền của nội chiến, tàn sát và chà đạp nhân quyền ở mọi nơi.

Dù đã được chính quyền Sudan ở miền Bắc yểm trợ, sau mấy chục năm tung hoành, nhóm phiến loạn LRA bị tiêu hao lực lượng và nay chỉ còn ba bốn trăm tay súng. Sudan là quốc gia rất lớn ở phía Bắc, cũng lâm vào nội chiến và dân chúng miền Nam đã trưng cầu dân ý để thành lập một quốc gia riêng là Nam Sudan, nơi tập trung rất nhiều tài nguyên.

Ẩn náu ở bên ngoài Uganda, lãnh tụ Kony chuyển dần quyền hành cho các tổ đặc công lẩn khuất trong những vùng hẻo lánh của Cộng hoà Trung Phi, Cộng hòa Dân chủ Congo và Nam Sudan, và một vài cứ điểm nhỏ trong lãnh thổ Sudan. Ông ta chỉ là con cá nằm trong lưới...

Từ 2008, Chính quyền George W. Bush đã viện trợ gần 500 triệu Mỹ kim và đưa qua Uganda 17 cố vấn để giúp chế độ Museveni tiêu diệt các thủ lãnh của phiến quân LRA. Tháng Năm năm ngoái, Quốc hội Mỹ trong tay đảng Dân Chủ còn biểu quyết một đạo luật "Giải giới LRA và Vãn hồi miền Bắc Uganda" và đưa tên tổ chức LRA cùng lãnh tụ Joseph Kony vào danh sách khủng bố. Đạo luật cũng cho phép lập ra một chương trình hợp tác về tình báo và yểm trợ quân sự cho chế độ Kampala. Về tình báo thì có các phương tiện hiện đại nhất, kể cả máy bay thám thính không người lái loại RQ-11 Raven nhỏ như một đồ chơi trẻ em, về quân sự thì cung cấp trực thăng, chiến cụ và cố vấn về kỹ thuật chống khủng bố....

Với việc tăng phái 100 cố vấn là biệt kích chuyên về kỹ thuật chống khủng bố, Chính quyền Obama không làm gì khác, hoặc trái, với những quyết định của Chính quyền Bush và Quốc hội. Nhưng có hy vọng xoay chuyển tình hình trong cả khu vực, trên lý thuyết thì với rất ít phí tổn.

Chúng ta nên nhìn rộng ra ngoài thì càng hiểu rõ hơn quyết định ấy.
Từ nhiều năm qua, Uganda và hai nước lân bang là Rwanda và Cộng hòa Dân chủ Congo vẫn thường phối hợp hoạt động chống lại phiến quân LRA. Nhóm cố vấn Mỹ sẽ vào tăng cường khả năng phối hợp này giữa các nước, và tại chỗ theo dõi mọi hành tung của phiến quân LRA. Nếu nhìn vào địa dư hình thể thì người ta có thể hiểu ra lợi thế của việc tham dự - hay can thiệp, tùy cách gọi.

***
Đây là cơ hội cho Hoa Kỳ mở ra một nan quạt rất rộng để kiểm soát an ninh trong một khu vực trực tiếp liên hệ đến các nhóm khủng bố Hồi giáo hoạt động tại Đông Phi Châu và vùng Sừng Phi Châu, nhất là nhóm khủng bố al Shabaab tại Somalia. Chính quyền Uganda đã góp quân cho lực lượng truy lùng khủng bố tại Somalia là "African Union Mission", vì vậy mới được Hoa Kỳ viện trợ. Và nay sẽ được đền bù công lao với đợt tăng phái thật ra rất nhỏ chỉ có 100 cố vấn.

Uganda là hàng lang tiến vào mạn Bắc xứ Kenya và miền Nam Somalia nên sự can thiệp của Mỹ có nhắm vào việc truy lùng khủng bố al Shabaab và kiểm soát một khu vực rộng lớn của Sừng Phi Châu, lên tới Djibouti và trổ ra biển, nơi hải tặc vẫn tung hoành.

Uganda còn là vùng tiếp cận với Nam Sudan, một quốc gia ly khai khỏi Sudan do sự yểm trợ của quốc tế - và Hoa Kỳ. Việc tăng cường hợp tác với Uganda là một cách trợ giúp Nam Sudan, một khu vực có nhiều tài nguyên dầu khí và đang tìm đường chuyển vận ra ngoài mà khỏi đi qua mạn Bắc, của nước Sudan độc tài và can tội diệt chủng.

Vì vậy, Hoa Kỳ thực tế can thiệp vào tình hình Sudan để bảo vệ miền Nam tương đối dân chủ hơn, trù phú hơn và cũng thân Tây phương hơn.

Với việc yểm trợ Uganda, Hoa Kỳ còn tăng cường mối quan hệ về an ninh và tình báo với Rwanda và Cộng hòa Dân chủ Congo và có thể kiểm soát chặt chẽ hơn tiến trình cải cách – và giải trừ tham nhũng - của chế độ Museveni.

Còn lại, lực lượng LRA đang bị khoanh gọn và lãnh tụ Joseph Kony chỉ như cá nằm trong rọ, có thể bị bắt giữ hoặc bị bắn hạ, một thành tích không nhỏ trong mùa bầu cử tại Hoa Kỳ.
Nhưng mục tiêu không chỉ có thế.

Khu vực hoang vu, rộng lớn và nhiễu nhương này còn có mạng lưới thương mại và kinh tế gọi là "Cộng đồng Đông Phi", với trung tâm là Uganda, nơi có trữ lượng dầu hỏa là 2,5 tỷ thùng, bên cạnh một mỏ đồng cực lớn tại Cộng hoà Dân chủ Congo và nhiều thứ hiếm quý khác như kim cương, quặng sắt và... bauxite!

Dầu khí tại Nam Sudan, tài nguyên chưa khai thác của Cộng đồng Đông Phi và của Uganda làm nhiều quốc gia Á châu thèm thuồng, từ Nhật Bản, Nam Hàn, Ấn Độ đến Trung Quốc, nhất là Trung Quốc. Trong khu vực, Trung Quốc là nơi xuất phát các khoản đầu tư hay viện trợ béo bở - vô điều kiện về nhân quyền hay dân chủ - mà nước Mỹ dân chủ không thể cạnh tranh nổi! Chính quyền Museveni vừa bị Quốc hội Uganda đả kích là cho tay chân yểm trợ các dự án dầu khí của Bắc Kinh.

Làm ăn với một chế độ độc tài và tham nhũng, hoặc đút lót cho một hợp đồng đầu tư có lời, v.v... là những điều phi pháp và thất nhân tâm ở nhà. Các doanh nghiệp Mỹ bị kẹt vì lý luận "tư bản chủ nghĩa hợp tác với chế độ độc tài để bóc lột các nước nhược tiểu", Bắc Kinh thì không bị vậy!

Hoa Kỳ phải đi ngả khác!

***
Dù là con trai của một người Kenya, Barack Obama đã từng bị phê phán là không mấy quan tâm đến Phi châu.

Việc can thiệp vào Libya còn gây phản ứng ngược là ác cảm của nhiều nước miền Nam sa mạc Sahara, vốn dĩ gắn bó từ lâu với Gaddafi mà họ coi là một người hùng Phi châu! Việc can thiệp - thực tế là lâm chiến - mà không thông qua Quốc hội cũng bị một số dư luận coi là vi hiến.

Khi chế độ Gaddafi bị rung chuyển và sẽ sụp đổ, Chính quyền Obama mở ra một hồ sơ do vị tiền nhiệm tiến hành từ trước, với sự đồng ý của Quốc hội, đó là Uganda. Đảng Cộng Hoà chỉ có thể vỗ tay hưởng ứng, và sẽ không mấy vui nếu Joseph Kony gặp số phận của Gaddafi ngay trước khi dân Mỹ đi bầu! Nhưng chính là Bắc Kinh mới thấy khó chịu nhất về quyết định này của Đế quốc Mỹ! Sau khi bị hất cẳng tại Libya, Thiên triều sẽ nhìn vào mạng lưới dẫn dầu từ Nam Sudan qua Uganda với niềm nuối tiếc.

Còn lại, chuyện xây dựng quốc gia và phát huy dân chủ cho Libya là một chương khác. Việc đối phó với Iran cũng vậy!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Qaddafi: Chế độ độc tài nào cũng sẽ chết
Friday, October 21, 2011 7:12:51 PM

Ngô Nhân Dụng

Các chế độ độc tài sớm muộn thế nào cũng sẽ bị lật đổ, nhưng ở mỗi nước có thể chấm dứt một cách khác nhau. Khi Mùa Xuân Á Rập bắt đầu từ Tunisie lan tới Ai Cập, nhiều người đã liên tưởng ngay đến những cuộc cách mạng nhung lật đổ chế độ cộng sản ở Ðông Âu.

Không phải cuộc cách mạng nào cũng bọc nhung. Tunisie và Ai Cập kết thúc ách độc tài một cách êm đềm giống Ðông Ðức, Ba Lan, Tiệp Khắc. Ðến bây giờ Libya kết thúc giống kiểu Romanie.

Một điều khác biệt là Nicolae Ceau escu bị đem ra xử nhanh chóng trong vòng bí mật rồi bị hành quyết. Còn Gaddafi sau khi bị bắt ngoài mặt trận, đã bị bắn chết. Nhờ thế, có lẽ hàng ngàn người Libya giữ được mạng sống. Nếu chờ đến khi đưa ông ta ra tòa rồi treo cổ như Saddam Hussein thì tàn quân của ông ta sẽ còn kháng cự lâu hơn.

Năm 2008, Qaddafi còn tiếp kiến bà Condoleezza Rice (và sau đó tiết lộ ông “phải lòng” bà ngoại trưởng Mỹ xinh đẹp). Năm 2009, ông ta còn đọc diễn văn trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, lần đầu tiên và lần duy nhất. Sau khi nói 15 phút như mọi vị nguyên thủ quốc gia khác được phép sử dụng, ông tiếp tục nói thêm 80 phút nữa; coi cả thế giới cũng phải ngoan ngoãn lắng nghe như dân Libya dưới quyền mình. Năm ngoái, ông còn công du sang Roma một cách vẻ vang. Thoáng chốc, tất cả trở về cát bụi.

Trong thế kỷ 20 khi nhiều nước giành lại độc lập, có những nước lo xây dựng các định chế chính trị, xã hội làm nền tảng lâu dài; những nước khác thì có các “lãnh tụ anh minh” xuất hiện đóng vai “anh hùng cứu quốc”. Một trong những Người Hùng đó là ông Qaddafi.

Sau khi ông Qaddafi chết, nước Libya sẽ ra thế nào, chưa ai biết chắc. Di sản của ông là một xã hội phân liệt, chỉ có dầu lửa phong phú ngoài ra không có một thứ gì khác để sống như một quốc gia. Những người cầm đầu cuộc nổi dậy chỉ chia sẻ một ý chí, là lật đổ Qaddafi; ngoài ra chưa biết họ sẽ làm gì với di sản ông ta để lại. Vì họ không được chuẩn bị. Cả nước Libya không được chuẩn bị, sau 42 năm sống dưới một chế độ độc tài khắc nghiệt.

Qaddafi rất giống những Người Hùng thuộc thế hệ trước ông, những Fidel Castro (còn sống), Pol Pot (đã chết), giống cả Mao Trạch Ðông, Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật; hay xa hơn nữa, Stalin, Hitler. Họ lật đổ trật tự xã hội cũ và kêu gọi người dân theo mình bằng giấc mộng xây dựng một quốc gia hùng cường trên những nền tảng hoàn toàn mới. Qaddafi chọn cho mình những danh hiệu như Giảng sư (Imam) của Thế giới Hồi Giáo; Nhà Ðại Cách Mạng; Khoa Trưởng của các Nhà Cai trị Á Rập; Anh Cả Lãnh đạo (khi cướp chính quyền, Ðại Tá Qaddafi chưa đầy 30 tuổi; nếu già hơn vài chục tuổi chắc ông ta cũng muốn được tôn xưng là Bác, hay là Cha già Dân tộc).

Qaddafi cũng đề cao một chủ nghĩa quốc tế, không tự giới hạn mình trong phạm vi quốc gia, quá chật hẹp. Ông ta cũng tuyên bố một thứ Chủ nghĩa Xã hội; giống như Hitler cũng dùng cái tên hấp dẫn này. Dưới danh nghĩa một chủ nghĩa xã hội, ông cũng tịch thâu tài sản của tư nhân, một cách vừa tích lũy tiền bạc trong tay vừa bắt mọi người phải chịu làm nô lệ cho guồng máy ban phát cơm áo, nhà cửa và các thứ ân huệ khác. Theo gương của Stalin và Mao, Qaddafi biết rằng khi kiểm soát được nồi cơm là có phương pháp kiểm soát toàn thể xã hội hữu hiệu nhất. Nhưng nắm đầu kinh tế chưa đủ. Qaddafi cũng tạo ra một guồng máy công an, mật vụ, bắt, giết, tra tấn những người có ý kiến khác. Qaddafi sử dụng guồng máy chuyên chế của mình để nuôi một đám thuộc hạ tham nhũng, tập trung quanh gia đình ông ta; nhờ tài nguyên dầu lửa dồi dào. Giống các bác Mao, bác Kim, Qaddafi bên ngoài rất lãng mạn. Anh Cả đòi sống trong một cái lều. Chung quanh nuôi lạc đà, nuôi dê, cừu theo lối sống cổ truyền của những người du mục. Khi sang New York họp Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc, Qaddafi đòi dựng một cái lều để ngủ chứ không vào khách sạn. Khi các dân quân nổi dậy chiếm Tripoli người dân Libya mới khám phá ra cả một cuộc sống xa hoa của gia đình lãnh tụ kính yêu.

Ðể bảo đảm bộ máy kềm chế xã hội, Qaddafi tất nhiên cũng dựng lên một bộ máy nói dối trá tuyên truyền cho chế độ. Theo gương cuốn Sách Ðỏ của Mao Trạch Ðông, ông ta xuất bản cuốn Sách Xanh năm 1975; bắt học sinh, sinh viên học tập “Tư tưởng Gaddafi,” môn học quan trọng nhất trong các khóa trình. Qaddafi ra lệnh mỗi thành phố phải dựng tượng, không phải chỉ có hình ông ta mà cả hình bộ Sách Xanh của “Tư Tưởng Gia Cách Mạng” Qaddafi nữa.

Cũng giống như các bác Kim Chính Nhật, bác Pol Pot và bác Mao, Anh Cả Lãnh đạo Qaddafi phải được tôn thờ, chiếm độc quyền niềm kính ngưỡng của dân chúng. Báo, đài không được nhắc đến, không được in hình một nhân vật nào khác ngoài lãnh tụ anh minh. Cả đến các ngôi sao bóng đá cũng không được đề cao trong các phương tiện truyền thông.

Kinh nghiệm của các quốc gia sống dưới những Người Hùng như Qaddafi cho thấy di sản mà họ để lại là những xã hội tan rã, những quốc gia thiếu nền tảng. Tất cả guồng máy quốc gia được lập ra để phục vụ một cá nhân hay một đảng. Không có một định chế chính trị và xã hội nào đủ cứng cỏi và bền vững để thiết lập một guồng máy cai trị dựa trên luật pháp. Không một nhóm hay một tổ chức xã hội độc lập nào làm môi trường, làm khung cảnh cho người dân tham dự vào việc quốc gia. Cho nên sau khi chế độ độc tài sụp đổ thì thường sinh ra hỗn loạn.

Ở những nước như Ba Lan, Tiệp Khắc, hoặc ở Nam Hàn, Ðài Loan, ngay trong lúc chế độ độc tài còn cai trị, đã xuất hiện những hạt giống đang nẩy mầm của xã hội công dân. Giới trí thức Hiến Chương 77, Phong trào Công đoàn Ðoàn Kết, hay các tổ chức sinh viên đại học, các công đoàn ở Nam Hàn đều là những tế bào đầu tiên sau này phát triển thành xã hội công dân, nền tảng của chế độ dân chủ. Ở các quốc gia thiếu những mầm mống của xã hội công dân, như Nelorussia, Ukraina, Iraq, hay các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ, sau khi lật đổ chế độ độc tài rồi, việc xây dựng các định chế dân chủ tự do rất khó khăn và chậm trễ.

Ðó là những tấm gương mà người dân các nước sống trong chế độ độc tài phải suy ngẫm. Thay vì chờ đợi những Người Hùng, người lãnh đạo “tài đức vẹn toàn,” một dân tộc hãy lo xây dựng các định chế xã hội công dân ngay để tái thiết quốc gia sau khi lật đổ chế độ độc tài.

Những chính quyền độc tài chuyên chế còn sót lại trên thế giới cũng phải suy nghĩ. Họ muốn được kết thúc trong bàn tay bọc nhung như ở Ðông Ðức, Ba Lan, Tunisie, Ai Cập? Hay họ muốn theo số phận của Ceau escu và Qaddafi? Phải lựa chọn sớm, không thể nào nuôi mãi giấc mộng “muôn năm trường trị” được. Muốn kết thúc êm thắm, tốt nhất nên dần dần trả tự do cho người dân được sinh hoạt đoàn thể, tụ họp, phát biểu, lập những hội đoàn để chuẩn bị cho một xã hội công dân tương lai.

Chú Thích: Cách viết tên nhà độc tài Libya bằng mẫu tự La tinh thay đổi. Vì mẫu tự tương đương với Q trong tiếng Á Rập có thể phát âm nhiều cách khác nhau, “q” hoặc “k” hay “g” và “gh” tùy theo vùng. Cho nên hãng thông tấn Associated Press, báo Wall Street Journal và công ty CNN hay viết là “Gadhafi”, báo Los Angeles Times viết “Kadafi.” Ðài ti vi Á Rập Al Jazeera, viết “Gaddafi,” trong khi nhật báo New York Times viết “el-Qaddafi,” cho có vẻ Á Rập hơn!
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Cali Tiểu Bang Vàng Nay Còn Đâu
Tác giả : Vi Anh


Tờ báo thiên hữu Pháp bên kia bờ Đại Tây Dương là tờ báo Le Figaro mà gần đây còn có một phóng sự đáng buồn cho tiểu bang Cali, đông dân nhứt Mỹ, đông người Mỹ gốc Việt nhứt Hiệp Chủng Quốc Hoa kỳ. Cali tiểu bang vàng của Mỹ, của người Mỹ gốc Việt chúng ta chỉ là một tiểu bang nhưng từng đứng so kè với nước Pháp, nay còn đâu! Với 16.3% dân số sống dưới mức nghèo khó. Như Cô Sheila Magsby - do báo Figaro viết trong phóng sự - thất nghiệp ba năm, suốt ba năm chạy đôn chạy đáo hết trung tâm tìm việc này đến trung tâm khác, vỏ xe mòn, tay lái mỏi, sau 36 tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp, người nữ thơ ký bốn mươi tuổi này với hai mươi năm kinh nghiệm làm thơ ký ở Los Angeles vẫn chưa tìm được việc làm dù sẵn sàng nhận một việc làm với mức lương tối thiểu.

Từ một tiểu bang dứng ngang hàng Pháp đệ ngũ siêu cường kinh tế, mấy năm kinh tế Mỹ suy thóai Cali sụt xuống hạng tám. Với mức thất nghiệp 12.1%, cao hơn tòan quốc 9.1%, chỉ đỡ hơn TB Nevad13,4 %. Chỉ riêng vùng San Francisco, trái tim của nền kỹ nghệ kỹ thuật cao và Internet thì hơi đỡ một chút nhờ công ty Twitter và Facebook tiếp tực thu dụng người làm. Phần còn lại tòan tiểu bang vàng lún sâu trong thất nghiệp và suy thóai kinh tế. Còn Miền Trung Cali đồng bằng San Joaquin Valley, tỷ lệ thất nghiệp lên đến 40% tại nhiều thành phố. Miền Nam gần biên giới nước Mễ , thất nghiệp cao 26% đối với cư dân quần cư ở 'El Centro.

Với kinh tế ngưng đọng, thị trường chứng khóan tuột dốc, khủng khỏang tài chánh nhà đất, công ăn việc làm khó khăn, khan hiếm. Tháng Tám rồi - ở lãnh vực tư- các cơ sở sản xuất kinh doanh cho nghỉ việc 8400 người trong khi từ đầu năm đến đó tiểu bang chỉ tạo dược 98.500 việc làm, vừa ngám với số lao dộng trẻ đúng tuổi tham gia vào thị trưởng nhân dụng. Ở lãnh vực công, 3600 giáo chức bị cho nghỉ việc. Có người phải chạy kiếm sống cho gia đình bằng cách đi giữ trẻ, săn sóc người già (những việc làm ngòai chuyên môn, uổng phí công sức học hành) với giá 50 Đô một ngày làm việc – thấp hơn đồng lương tối thiểu.

Người đông việc ít, việc mới tạo ít hơn việc mất đi khiến trung bình có ba trăm người xin cho một việc làm. Có người phải đi học nghế khác, hay làm việc ngòai chuyên môn được đào, làm việc với đồng lương tối thiều vẫn không kiếm ra việc làm như Cô Sheila Magsby nói ở trên . Có người không còn đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp vì hưởng quá thời hạn luật định mà kiếm không ra việc làm. Nên 16,3 % sống dưới mức nghèo khó. Nhà bị ngân hàng siết. Chưa đến tuổi đủ điều kiện hưởng MediCal rơi vào gần 50 triệu người Mỹ không có một thứ bảo hiểm y tế công hay tư nào.

Theo bộ Lao dộng của TB Cali có khỏang 300 người tranh nhau xin một việc làm mổi khi có thông báo cần người. Nên chánh quyền Cali rất thiết tha với kế họach tạo việc làm của TT Obama công bố gần đây. Ba tỷ chín Đô la dành cho việc tân trang hạ tầng cơ sở TB Cali có thế tạo ra 51.500 việc làm, 37.000 giáo chức có thể trở lại trường. Nhưng số tiền TT Obama hứa đó còn nằm ở Quốc Hội. Cali đã hơn một lần bên bờ phá sản. Tin trên Việt Báo, hồi cuối tháng 1 năm 2009, nhơn chuyền viếng thăm quí vị cao niên ở ba nhà dưỡng lão, Dân biểu Tiểu bang Cali, Luật sư Trần Thái Văn thưa cùng quí cụ, “Hiện nay ngân sách tiểu bang đang trong cơn khủng hoảng và có thể bị thâm thủng khoảng 42 tỷ Mỹ kim tính đến cuối tháng 6 năm naỵ. Dân biểu Văn cho biết đến cuối tháng 2 sắp đến, ngân sách tiểu bang sẽ cạn tiền và không có khả năng thanh toán cho bất cứ ai”.

Còn Giám sát viên Janet Nguyễn lúc bấy giờ đưọc cử làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Giám sát Quân Cam, nơi có một cộng đồng người Mỹ gốc Việt đông nhứt Mỹ, trong Nhật Ký trên mạng cũng nói điêu không vui của Quận Cam. Tổng Uûy Viên Ngân Khố John Chiang cho biết sẽ đình hoãn chi trả những công chi quan yếu nếu Thống Đốc và Lập pháp không thể đưa ra những giải pháp để giải quyết cơn khủng khoảng tài chánh ở Cali. Còn thông tấn xã AFP và báo Liberation của Pháp đi tin còn thảm hơn, “Cali gần kề phá sản”.

Cali là tiểu bang đông dân và kinh tế mạnh nhứt Mỹ. Cali là tiểu bang có ngưòi Mỹ gốc Việt, đông nhứt Mỹ tức đông nhứt thề giới, chỉ sau công đồng ngưòi Việt trong nước đang sống trong gông kềm CS Hà nội thôi. Tìền trợ cấp an sinh xã hội Cali chơi ngon nhứt, giúp người lớn tuổi nhiều nhứt, cho thêm 200 mấy Đô, cao hơn tất cả các tiểu bang. Về diện tích Cali ngang với nước Ý nhưng có chỉ có 36 triệu rưởi dân. Mà về kinh tế Cali đứng hàng thứ 8 so với các siêu cường kinh tế trên thế giới. Nhưng tỉểu bang vàng đang gặp khó khăn. Đã 5 năm thời Ông Arnold Schwarzenegger làm Thống Đốc, Ông đã gắn một đồng hồ khiếm hụt ngân sách ở tòa nhà Capitol nơi thủ phủ Sacramento. Cứ 1 giây thì ngân sách Cali khiếm hụt 500 Đô la. Ông phải đề nghị công chức TB Cali phải nghi 2 ngày không lương để tiết giảm chi phí nhân viên và điều hành. Ông còn đề nghị tăng thuế giá trị gia tăng. Nhưng phải có đa số tuyệt đối tức 2 phần 3 Quốc Hội đồng ý mới được. Quốc Hội Cali do đảng Dân Chủ kiểm soát. Chưa có một dự án thoả hiệp dàn xếp nào.Thống đốc mới của Cali lên cùng Đảng Dân Chủ với đa số dân biểu nghị sĩ Quốc Hội Cali. Ông lãnh một gánh nặng công nợ của tiểu bang, tìm cách gỡ nhưng chưa thấy dấu hiệu lạc quan nào.

Trở lại cộng đồng ngươi Mỹ gốc Việt ở Cali của chúng ta, một cộng đồng đông người Mỹ gốc Việt nhứt so với các tiểu bang. Nhiều đoàn thể đấu tranh ở hải ngoại đã hơn một lần lên tiếng kêu gọi kế hoạch hoá việc gởi tiền và đi VN. Sẵn dịp nền tài chánh kinh tế Cali khó khăn người Mỹ gốc Việt có thể cùng chia xẻ với dân Cali nói chung. Người Việt có câu cứu ngặt chớ không ai cứu nghèo để bà con ở nước nhà liệu cơm gấp mấm, không ỷ lại vào cái vú sữa ở ngọai quốc gởi về. Người Pháp có câu từ thiện sắp đặt đúng bắt đầu từ mình trước . Trừ khi tang gia hữu sự ở nước nhà, cực chẳng đả phải đi VN. Chớ bỏ ra cả ngàn tiền máy bay để đi VN, mới tới phi trường mà thấy bộ mặt “hình sự” của công an, hải quan VC đã mất hứng du lịch rồi. Đó là chưa nói những bịnh hoạn do đồ ăn thức uống, bò lạc, cỏ non ô nhiễm bịnh xã hội làm khổ thân và gia đình khi trở lại Mỹ nữa. Muốn hay không muốn bây giờ Mỹ cũng như các quốc gia người Việt định cư và nhập tịch ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc châu hiện là nước nhà của người Mỹ, Pháp, Anh, v.v. gốcViệt; và VN chỉ là cố quốc thôi.

Chế độ CS đang kềm kẹp VN. Tiền của những ngưòi CS Hà nội gọi là Việt Kiều gởi càng nhiều thì CS Hà nội càng có nhiều ngoại tệ mạnh. Sưu khảo cho biết tiền của người Việt hải ngọai gởi về thừa để nuôi, trang bị, cho quân đội và công an cánh sát của CS Hà nội hai cánh tay chuyên chính vô sản kềm kẹp đồng bào trong nước. Quyền phát hành tiền VN là quyền của Đảng Nhà Nước, muốn in bao nhiêu đề đổi lấy ngọai tệ gởi về CS làm cũng được và không ai biết vì CS Hà nội xếp việc ấy vào hồ sơ bí mật quốc gia như ngân sách của đảng CSVN và sức khoẻ của lãnh tụ Đảng. Ngoại tệ nào vì thế sau cùng rồi ra cũng vào tay nhà cầm quyền CS Hà nội vì ngưòi Việt phải đổi ra tiền VNCS để xài. “Việt Kiều” càng về kiếm cỏ non bò lạc ở VN thì CS Hà nội càng có lý do tuyên truyền hoà giải hoà hợp, gia đình ở ngoại quốc càng dễ mất hạnh phúc, và lớp thiếu nữ VN càng bị hư hỏng thêm vì tiền.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Libya và Syria thiệt hại nhiều nhất do 'Mùa xuân Arab'

Biến động chính trị Trung Đông - Bắc Phi làm các nước bị ảnh hưởng mất hơn 55 tỷ USD, nhưng các nước sản xuất dầu được lợi lớn.

Số liệu thống kê của nhóm tư vấn về rủi ro chính trị thuộc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết, những nước bị thiệt hại nhiều nhất là những nơi xảy ra các vụ đụng độ đẫm máu nhất, trước hết là Lybia, Syria, tiếp đến là các nước Ai cập, Tunisia, Bahrain và Yemen..

Trong số các nước này, thiệt hại về GDP và tài chính công là 20,6 tỷ USD, thất thu ngân sách và chi phí là 35,3 tỷ USD.

Tuy nhiên trong khi đó GDP của các nước sản xuất dầu chủ chốt như Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Saudi Arabia và Kuwait lại tăng và họ tránh được biểu tình lớn, thường là do chương trình trợ cấp khi giá dầu tăng.

Giá dầu thô Brent tăng vọt từ khoảng 90 USD/thùng hồi đầu năm lên 130USD/thùng vào tháng 5/2011, trước khi rút xuống còn 113/USD ở thời điểm hiện nay.

Theo báo cáo của IMF, cả thời gian tính đến tháng 9 sản xuất của khu vực đạt được khoảng 38,9 tỷ USD.
Image
Các cuộc biểu tình rầm rộ từ đầu năm 2011 đã làm nền kinh tế một số nước A Rập thiệt hại nặng.

Libya dường như là nước bị tác động mạnh nhất với các hoạt động kinh tế trong cả nước, kể cả sản xuất dầu, bị đình trệ với cái giá phải trả là 7,7 tỷ USD, hay trên 28% GDP. Tổng chi phí trong cân bằng ngân sách lên tới khoảng 6,5 tỷ USD, gần bằng 29% của tổng sản phẩm quốc gia.

Tại Ai cập, 9 tháng hỗn độn đã làm thất thoát khoảng 4,2% GDP với chi phí công cộng lên đến 5,5 tỷ USD, trong khi thu ngân sách giảm 75 triệu USD.

Bố thí chứ không phải cải cách

Tại Syria, nơi mà các cuộc biểu tình phản đối diễn ra suốt năm với các cuộc đàn áp đẫm máu, khó tính được tác động cụ thể, nhưng những con số ước tính ban đầu cho thấy tổng thiệt hại cho nền kinh tế của Syria đã lên đến 6 tỷ USD, hay 4,5% GDP của nước này.

Còn Tunisia, nơi các cuộc biểu tình nổ ra từ cuối năm 2010, đã thiệt hại khoảng 2,0 tỷ USD, gần bằng 5,2% GDP của nước này, với các tác động tiêu cực ảnh hưởng đến hầu hết các ngành của nền kinh tế như du lịch, khai khoáng, sản xuất phân hóa học photsphates và đánh cá.

Chính phủ Tunisia đã tăng chi phí công lên gần 746 triệu USD, làm cho cán cân tài chính thâm hụt khoảng 489 triệu USD.

Những khoản trợ cấp mới được thông qua và chương trình đầu tư công rộng lớn của Saudi Arabia đã lên đến gần 30 tỷ USD – Có lẽ được các nhà lãnh đạo của nước này coi là một cách né tránh cải cách thực thụ. Tuy nhiên, với việc cả giá và sản lượng dầu tăng giúp cho GDP tăng thêm hơn 5 tỷ USD và thu ngân sách cũng tăng thêm 60,9 tỷ USD.

Tại Bahrain, dầu đã giúp giảm tác động của các cuộc biểu tình diễn ra trong nhiều tuần, với việc GDP giảm sút tương đối thấp, vào khoảng 2,77%. Chi phí công tăng khoảng 2,1 tỷ USD, một phần vì các khoản chi, khoảng 2,660 USD, trực tiếp cho mỗi gia đình.

Bản báo cáo lập luận rằng những biện pháp này không thể nào giải quyết được những nguyên nhân gây ra rối ren, và một giải pháp tốt hơn là cần được sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế thông qua Nhóm G-20 hoặc Liên Hợp Quốc nhằm thúc đẩy một sự cải cách rộng rãi hơn.

Phạm Ngọc Uyển
(theo Reuters)
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Người Trung Quốc tự vấn

Ngô Nhân Dụng


Có thể đo lường tình trạng tinh thần của một xã hội qua phản ứng chung trước một thảm kịch. Ðầu năm 2011, thế giới khâm phục thái độ người Nhật Bản sau một trận động đất và sóng thần.

Năm 2008, thanh niên từ khắp nước Trung Hoa xúc động đến cứu giúp các nạn nhân động đất ở tỉnh Tứ Xuyên. Ở Việt Nam, những năm miền Trung bị bão lụt, như năm 1964, một phong trào của thanh niên, sinh viên toàn quốc nổi lên lo việc cứu trợ.

Một tai nạn mới xảy ra đang làm rung động hàng chục triệu “công dân mạng” ở Trung Quốc trong mấy tuần lễ cuối tháng 10 năm 2011. Một bé gái bị xe cán chết mà nhiều người thờ ơ đi qua. Cô bé 2 tuổi tên là Vương Duyệt (Wang Yue), ở thành phố Phật San, tỉnh Quảng Ðông. Cha mẹ thường gọi cháu là Duyệt Duyệt (Yue Yue), nói tiếng Việt sẽ gọi là “Vui Vui”. Cháu bị một chiếc xe tải cán trên một đường phố chật chội và đông đúc, vào lúc sau 5 giờ chiều, sắp tối.

Ðiều đáng kinh ngạc là hàng phố không thấy chạy ai ra cứu cháu bé mặc dù các cửa hàng còn mở, người qua lại đông đảo. Có 18 người đi xe gắn máy hoặc đi bộ băng qua, tránh cô bé đang bị thương nằm trên đường, mà không dừng lại. Một chiếc xe tải thứ hai đè qua cô bé lần nữa. Sau cùng một phụ nữ bước tới, cúi ôm nhấc cô bé lên, la lớn kêu mọi người, lúc đó cha mẹ mới biết chạy tới. Người cha đang mắc bận ở cửa hàng, người mẹ đang phơi quần áo, không để ý con chạy ra đường. Tám ngày sau, cháu bé Duyệt Duyệt chết trong bệnh viện.

Máy quay phim của khu phố gắn để theo dõi về an ninh đã thu hình cảnh tượng này. Ngày hôm sau, các đài truyền hình chiếu lên. Ðoàn phim được đưa lên một mạng coi chung (video-sharing site) tên là Youku (Ưu Khốc, nghĩa là Thứ Rượu Tốt Nhất - mời cùng uống!) Các mạng lưới khác tiếp tay đưa phim lên, cả nước Trung Hoa chấn động. Tại sao bao nhiêu người qua lại có thể thờ ơ, trong suốt bảy phút đồng hồ, không ai dừng chân cứu một em bé mới bị xe cán; và đang nằm giữa đường đầy xe đang chạy? Nhiều người lên mạng đặt câu hỏi: “Nước Trung Hoa đã mất linh hồn hay sao?” Nhiều người nói đến “Khoảng trống đạo đức”. Nhiều người than xã hội đã “mất niềm tin”. Có người thú nhận, “Ðây là nỗi sỉ nhục của Trung Quốc.” Một công dân mạng viết trên Wiebo (Vi Bác, giống như Twitter ở Mỹ) trong mạng Sina: “Xã hội này đang mắc bệnh trầm trọng! Ngay cả đối với chó, mèo, người ta cũng không đối xử vô tình như vậy!”

Ngay bữa đoạn phim video cảnh em bé Yue Yue trên lên Youtube, một nhà văn ở bên kia bờ đại dương gửi cho tôi một bản qua email. Ông yêu cầu tôi coi để suy nghĩ. Xin trích lá thư: “Tôi vừa xem một đoạn phim (không cắt xén) thu từ cái surveillance camera về vụ đứa bé Trung Quốc hai tuổi bị xe cán. Các đài BBC, CNN chỉ chiếu chút đỉnh vì quá kinh hoàng... vì ghê tởm quá.

Tôi đã mò mẫm tìm để xem cho hết mà tìm hiểu tinh thần, văn minh, văn hóa của người Trung Quốc ngày nay... Phải nói thật là tôi đã khóc khi kể lại cho vợ tôi nghe (vợ tôi sẽ không dám xem). Tai nạn mới xảy ra tức thì... Ðây là nước Trung Quốc với các vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa, Lưỡi Bò, Bô Xít... mà Việt Nam đang phải đối mặt... Xem để hiểu thêm về tinh thần và văn minh của người Trung Quốc... Xem đoạn phim này, còn thấy trẻ con nó mà nó không thương thì nó thương thế chó nào được cái thằng đầy tớ Ố Nàm?”

Dù rất yêu mến, quý trọng người bạn đã gửi cho mình đoạn phim, tôi không dám mở phim ra coi, ngần ngại mãi, trong suốt một tuần lễ. Ðến khi thấy tất cả các báo khắp thế giới đều loan tin này; tôi phải coi, và tôi cũng khóc.

Không phải chỉ khóc thương em bé Duyệt Duyệt. Mà thương cả một xã hội đang mất linh hồn. Thương tất cả những người ở các xã hội khác nhưng cũng đang sống giống như vậy. Ngày xưa Mạnh Tử, một người Trung Hoa sống trước đây hơn 2000 năm, nói là bản tính con người là thiện. Ông nói tại sao ông tin như vậy: Vì ai thấy một đứa trẻ sắp bị tai nạn cũng (động lòng trắc ẩn) vội vàng lo cứu. Ðó là đầu mối của Ðức Nhân. Trắc ẩn chi tâm, Nhân chi đoan dã. Tôi chắc ai coi đoạn phim tai nạn của em bé Duyệt Duyệt đó cũng phải khóc. Ðầu mối của lòng nhân vẫn còn trong lòng người. Những người ở Phần Lan, Canada, Úc Châu ai xem cũng phải khóc. Nói như vậy, để chúng ta thấy vẫn còn có thể tin ở Tính Thiện trong tâm con người, loài người ai cũng biết động lòng trắc ẩn. Người Việt Nam hay người Trung Quốc cũng vậy.

Hàng triệu công dân mạng ở Trung Quốc cũng khóc, không khác gì chúng ta cả. Và họ lên tiếng, đặt câu hỏi, họ nổi giận, chắc chắn giận dữ hơn người Việt Nam! Vì ngoài nỗi khổ đau họ còn cảm thấy nhục nhã nữa. Một nỗi nhục chung, khó lòng phai nhạt. Nhớ lại hình ảnh dân Nhật Bản sau trận động đất được truyền khắp thế giới, người Trung Hoa càng cảm thấy xấu hổ. Hai ngày sau, một nhật báo ở Thượng Hải đăng tin một bà gieo mình tự trầm ở Tây Hồ, tỉnh Triết Giang, đã được một người nhẩy xuống cứu sống. Báo có đăng hình cảnh hai người lúc còn trên mặt hồ, người cứu mạng là một phụ nữ da trắng. Tờ báo không thể nói gì về tên, họ và tung tích “nữ hiệp” này, chỉ nói là một người Mỹ. Vì sau việc cấp cứu, người đàn bà đó đã bỏ đi.

Xã hội Trung Quốc đang mắc bệnh. Xã hội Việt Nam có khá hơn không, chúng ta không dám quả quyết. Ngay ở các xã hội khác, những cảnh như vậy cũng có thể xẩy ra. Ðiều đáng cho chúng ta suy nghĩ là câu hỏi mà chục triệu công dân mạng ở Trung Quốc đang hỏi: “Vì đâu nên nỗi?”

Trên các mạng lưới ở Trung Quốc, nhiều người đã thử tìm hiểu nguyên nhân. Người ta đổ tội đồng tiền; cả xã hội đang chỉ lo kiếm tiền, lạnh nhạt với tai nạn xẩy ra cho người khác. Lại nói đến tình trạng đô thị hóa. Khi hàng trăm ngàn người từ khắp nơi đổ về thành phố sống, họ đối xử với nhau như những người xa lạ, không có tình hàng xóm, láng giềng. Tìm trong tâm lý học, nhiều người đã nêu lên hiện tượng gọi là “hiệu ứng bang quan,” (bystander effect). Hiện tượng này được các nhà tâm lý học Mỹ gọi tên nhân một bản tin năm 1964. Cô Catherine “Kitty” Genovese, 29 tuổi, bị một hung thủ đâm ngay trước cửa tòa nhà nơi cô cư ngụ, lúc nửa đêm về sáng. Cô khóc, cô la, kêu cứu. Nhiều hàng xóm thức dậy, mở cửa ra nhìn, nhưng không ai cứu, 38 người tất cả. Có bà bảo chồng gọi cảnh sát, nhưng ông già nói: Ðừng lo. Chắc đã có hàng chục người gọi rồi. Ðó là một hiện tượng tâm lý: Không ai nghĩ mình có trách nhiệm cứu, vì nghĩ rất nhiều người cùng chia sẻ trách nhiệm.

Ngoài những yếu tố tâm lý trên, có người giải thích hiện tượng bé Duyệt Duyệt không được cứu là do “những đặc tính Trung Hoa” như nhật báo New York Times viết khi kể chuyện này. Một đặc tính là “Quan hệ”. Mối quan hệ lớn nhất của người Trung Hoa là gia đình, đại gia đình, còn quan hệ đối với “người ngoài” rất yếu. Có thể nói tình “lối xóm” ở nông thôn Việt Nam quan trọng không thua tình gia đình; người Trung Hoa khác.

Tinh thần trọng nam, khinh nữ có thể ảnh hưởng, khiến người ta thờ ơ khi nạn nhân là một bé gái. Nếu đó là một em trai, liệu có khác hay không, chúng ta cũng khó đoán. Một yếu tố khác ảnh hưởng tới thái độ lãnh đạm của những người qua đường là người ta sợ bị lôi thôi. Một câu chuyện cũ đã được các nhà tâm lý xã hội ở Trung Quốc nhắc tới là vụ án Bành Vũ ở Nam Kinh, năm 2006. Bành Vũ là một thanh niên, thấy một bà già té bị thương ngay cửa xe buýt đầy người chen lấn, xô đẩy, anh ta đã đỡ lên rồi đưa tới bệnh viện. Sau đó, gia đình bà ta kiện, cho là chính Bành Vũ đã làm bà bị ngã. Và quan tòa bắt anh trả 40% số tiền chi phí trị liệu, khoảng 7,000 đô la Mỹ. Quan tòa phán thế này: Nếu không phải là người gây ra tai nạn, tại sao anh lại lo đưa bà ấy tới bệnh viện?

Chúng ta phải kinh ngạc trước lý luận của quan tòa! Lời phán này giả thiết rằng trong xã hội ai cũng sống như ông quan tòa, thì bình thường không ai giúp đỡ ai bị nạn cả; trừ khi chính mình gây tai nạn!

Nhưng ở nước Trung Hoa vẫn có nhiều người sống theo lối cổ, theo lối Mạnh Tử, họ sẵn sàng cứu giúp kẻ khác. Trong câu chuyện bé Duyệt Duyệt, người được cả thế giới ca ngợi là một bà già lượm rác, người đã cúi xuống nâng bé lên rồi hô hoán hỏi cha mẹ đứa bé này ở đâu. Bà Trần Hiền Muội (Chen Xianmei), ban ngày làm công cho một cửa hàng, ban đêm đi lượm rác.

Người phụ nữ 58 tuổi này không bỏ đi sau khi cứu đứa bé, vì bà ở ngay đó, và lúc đó mới 6 giờ chiều, bà còn lo đi lượm rác tiếp cho tới nửa đêm. Mọi người có thể nhìn thấy bức hình chụp cảnh người mẹ bé Duyệt Duyệt quỳ lạy trước mặt bà và khóc lóc cảm ơn. Bà Hiền Muội lộ vẻ bối rối, đứng ngay đơ, mắt trông có vẻ ngạc nhiên, đưa tay ra đỡ, bàn tay buông thõng như thể bà không muốn đụng chạm vào tóc tai, quần áo vừa sạch vừa đẹp của một “bà chủ”.

Khắp thế giới vẫn có những người như bà Hiền Muội. Ở nước Trung Hoa cũng thế. Nhưng một điều khác chúng ta cần suy nghĩ là làm sao để một xã hội có nhiều bà Hiền Muội hơn? Có phải vụ án Bành Vũ làm cho những bà Hiền Muội biến dần mất hay không? Phải tổ chức xã hội ra sao để đảo ngược lại tình hình xuống dốc đó?
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Vì Ai Nên Nỗi

Vi Anh

Ngày xưa ở bên Tây thời vua chúa, cuộc Cách Mạng năm 1789 của Pháp bùng nổ như thùng thuốc súng khi bé gái đánh phèn la kêu lên tôi đói, tôi cần bánh mì, và dân Paris phá ngục Bastilles, giết Hoàng Hậu Marie Antoinette, phá tan chế độ độc tài của dòng vua Louis, làm nên cuộc Cách Mạng Dân chủ, Dân quyền năm 1789.


Còn bây giờ ở bên Tàu thời CS độc tài đảng trị tòan diện còn nghiệt ngã hơn vương quyền chuyên chính của Trung Hoa, cái chết của hai em bé, một gái một trai, bị xe cán chết trên đường phố. Trong khi bao khách bộ hành kẻ đi qua, người đi lại đều thờ ơ, vô cảm, lãnh cảm, không ai cứu giúp. Trước mắt ai cũng sợ phiền tóai với công an, cảnh sát, luật pháp của CS. Và lối sống cũng như cách cai trị của CS từ lâu đã tạo cho người dân ich kỷ tột cùng, vì sợ CS nên phải thủ thân, cầu an, mất tinh thần cộng động và tình liên đới trong xã hội. Hai cái chết bi thảm của hai em bé này làm cho cả thế giới bàng hòang, làm người dân Trung Quốc thấy ghê tởm và phẩn nộ chế độ CS đã làm cho tinh thần văn minh và nền đạo đức Trung Hoa bại họai. CS đã làm nền văn hóa Trung Hoa rất “nhân nghĩa, lễ trí tín”, rất “kiến nghĩa bất vi vô dũng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” – trở thành vô nhân đạo, vô lương tâm, ích kỷ hết nói nổi như vậy.


Thực vậy thông tin, nghị luận, hình ảnh trên mạng và trên nhiều báo chí ngọai cho thấy bé gái Vương Duyệt Duyệt 2 tuổi bị xe hàng cán ở thành phố Phật Sơn ngày 11/10. Em nằm sát bên lề đường, chết trong sự thờ ơ của cả chục người qua lại. Họ liếc mắt nhìn và bỏ đi luôn, không dừng lại, để mặc em nằm chảy máu ở trên đường cho tới khi em bị một chiếc xe khác cán một lần nữa. Mãi sau mới có một người hốt rác đến giúp em nhưng quá trễ vì em chết rồi.


Cùng ngày em bé Duyệt Duyệt 2 tuổi chết thê thảm thì cũng trên đường đông ở thành phố một em bé trai 5 tuổi, đi học về, bị một chiếc xe thùng đụng phải, em bé gượng đứng lên, nhưng lại bị chiếc xe lùi lại, cán em một lần nữa, chết luôn. Và cũng biết bao hành khách đi qua mà vẫn thờ ơ vì sợ phiền phức, liên lụy khi bị công an hạch hỏi làm biên bản về việc cứu giúp người.


Hai cái chết đáng thương của hai em bé, thái độ và hành động ích kỷ đáng tởm của những khách bộ hành đã làm tan tác quyềt nghị của hội nghị lần thứ 6 toàn thể của Ủy viên Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc ban hành cùng thời gian này. Một quyết nghi tền dài lê thê mà thiếu vắng tính văn hóa. Đó là “tăng cường cải cách thể chế văn hóa, thúc đẩy cho sự phát triển và phồn vinh của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.” Dù Tân Hoa Xã tô lục chuốt hồng - nào là quyết định này tăng cường sức mạnh mềm của Trung Quốc , nào giới hữu trách sẽ dành riêng nhiều nguồn lực để gia tăng sự tự giác văn hóa và tăng cường sự tự tin văn hóa của người Trung Quốc và cải thiện phẩm chất văn hóa của toàn dân.


Nhưng vô ích. Ai cũng biết TC muốn bành trướng thế lực bằng văn hóa như tài trợ cho các đại học ngọai quốc mở lớp dạy tiếng Quan Thọai và mở nhiều hội Khổng Học ở ngọai quốc để chứng tỏ TC là một chế độ văn minh. Nhưng thực tế trên thư tịch dịch thuật những sách hay của Trung Hoa trên thế giới người ta chỉ thấy sách của Trung Hoa trước thế kỷ 19, chưa thấy một quyền sách hay nào thời CS nhuộm đỏ nước Trung Hoa.


Và hai cái chết của hai em bé gái mới 2 tuổi và trai 5 tuổi này đã làm cho người dân TQ và người dân các nước ghê tởm và phẫn nộ nền văn hóa CS mà TC đã áp đặt lên đất nước và nhân dân Trung Hoa này.


Những đọan video ngắn loan tải trên Internet về cái chết thảm thương của hai em bé làm cho thiên hạ thấy cái mặt trái của những tuyên truyền của TC. Tai họa của cái gọi là “Văn hóa xã hội chủ nghĩa’ đã làm cho người dân Trung Hoa, một trong những nền văn minh cỗ đại, văn minh xuất phát từ trên Sông Hoàng Hà ở Trung Hoa rực rỡ như văn minh Sông Nile ở AiCập, văn minh Sông Hằng ở Ấn đô, và văn Minh Lưỡng Hà Euphrate, Trigris của Iraq, cảm thấy trở về thời đại ăn lông ở lổ, ai chết nấy chịu, không có tình người.


Văn hóa truyền thống, đạo lý lâu đời của người Trung Hoa, văn minh gần 5000 năm của Trung Hoa bị CS không phải cào bằng, mà là đào tận gốc, bốc tận rễ. Mà theo một nhà văn hóa ở Hongkong nói CS đã phá hủy hoàn toàn bởi các chính sách cai trị của đảng Cộng Sản trong 62 năm qua, từ Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông, chủ nghĩa sùng bái kim tiền của Đặng Tiểu Bình, cho tới chủ trương “duy trì ổn định trên hết” của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào.


Giáo sư Châu Chính Hiếu của Đại học Nhân Dân ở Bắc Kinh cũng thấy "Giá trị cốt lõi của đạo đức là thuộc về phần mềm. Cũng giống như phần cứng phần mềm của máy tính. Không có phần mềm thì phần cứng chỉ là một mớ sắt vụn. Những năm trước đây chúng ta hay nói GDP là 'lý lẽ cứng'. Và kết quả là như thế này. Cổ nhân nói 'quốc phá sơn hà tại'. Giờ đây thì 'quốc tại sơn hà phá' -- nước còn đó nhưng sơn hà đã mất. Ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, vân vân… mọi thứ đều có vấn đề nghiêm trọng. Dĩ nhiên trong đó có văn hóa là phạm trù quan trong nhứt của một dân tộc.


TC đã thay vào đó lối sống của CS qua chủ trương đấu tranh giai cấp, con tố cha, vợ tố chồng, bè bạn, đồng chí phải láo khóet với nhau. Bao lần cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa do Đảng phát động giết hàng triệu triệu người khiến ai cũng thủ thân, mất tinh thần cộng đồng, và bổn phận đối với người khác.


Nào ‘cải cách văn hóa’, nào đấu tố, cổ võ người dân làm những việc bất nhân, thất đức, như con cái đi đấu tố cha mẹ. Nào các chiến dịch ‘Tam Phản’, ‘Ngũ Phản’, các phong trào như ‘Trăm hoa đua nở’, ai có ý kiến khác với CS là đời tàn với những hình phạt chết thê thảm. Nên ai cũng phải thủ thân, cầu an, ích kỷ.


Trong hệ thống luật pháp của TC, do tinh thần “bao cấp của CS” không có luật qui định người thấy tai nạn có nhiệm vụ phải báo cáo nhân viên công lực và cứu giúp ban đầu như các nước tự do, dân chủ.


Vì ai nên nổi? Chế độ CS ở Việt Nam và Trung Quốc là những chế độ cai trị quá sức chịu đựng của người dân. CS làm cho đạo đức bại hoại và người dân quá sợ, nỗi sợ không rời. Sợ thì phải thủ thân, thành ra ích kỷ, mất tính cộng đồng, tình liên đới, che mắt lương tâm để sống ỵên thân. Sợ riết rồi thấy đúng cũng không dám làm ví không biết pháp luật, chế độ, công an cảnh sát có thấy như vậy không. Nên không có lợi thì người sợ CS không làm, cầu an cho yên thân. Những toan tính vị kỷ vì quyền lợi riêng tư, yên thân và cầu an làm nhân tính thui chột, thái độ và hành động vô cảm.


Ở VN trong thời CS cũng không khác gì. Cùng “bài bản” thì cùng tình trạng. Bây giờ người dân Việt ai cũng thủ thân, sợ liên lụy, tỏ ra thờ ơ trước những đụng chạm nhau, ít khi cứu giúp người bị tai nạn vì sợ công an, cảnh sát gây khó khăn khi làm chứng, nhiều khi còn buộc tội để vòi vĩnh nữa.


Bao nhiêu trẻ em đi học qua sông bằng cầu dây treo rớt ở Cao Nguyên, đi đò trên sông rạch bị chìm chết ở Miền Tây. Bao nhiêu công an, cảnh sát đánh chết dân, trong đồn, ngòai đường, có mấy người bị đưa ta tòa. Đảng Nhà Nước CS Hà nội cũng như CS Bắc Kinh đã vô cảm trước bao nhiều niềm đau nỗi khổ của ngưới dân vì đang mê say “ làm kinh tế”, hưởng thụ và chuyên chú “duy trì ổn định trên hết” cho Đảng CS mất rồi./.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Mối Họa Chiến Tranh

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Gadhafi đã chết sau 42 năm cầm quyền độc tài bạo ngược, nước Libya đã được giải phóng, một chính quyền mới tự do dân chủ sẽ thành hình. Người lãnh đạo chính quyền chuyển tiếp ở Libya đã lên tiếng nhấn mạnh đến việc Hồi giáo hóa Libya và cũng trấn an những nước Tây phương đã giúp phe cách mạng lật đổ Gadhafi rằng chế độ mới lên cầm quyền sẽ chủ trương giúp những người Hồi giáo ôn hòa ở Libya.

Hôm thứ Ba tuần này, một phát ngôn nhân của phe Cách mạng cho biết xác của Gadhafi, và xác của con ông ta cũng như xác của Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Gadhafi sẽ được đem chôn ở một nơi bí mật.
Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu miền Trung Đông, kể cả bán đảo Á rập đã hết họa chiến tranh chưa?

Chiến tranh là một mối họa cho loài người từ cổ chí kim, bởi vậy trước hết tôi muốn nhắc đến 2 cuộc chiến tranh trên toàn thế giới: Thế chiến I (1914-1918) và Thế chiến II (1939-1945).

Tai hại và dữ dội nhất là Thế Chiến II, khi Mỹ phải sử dụng một loại vũ khí tối tân là bom nguyên tử đánh xuống Nhật Bản.
Hai cuộc Thế chiến đó đã xẩy ra trong Thế kỷ 20. Loài người đã bước sang Thế kỷ 21 đuợc 11 năm rồi, nên tôi thiết nghĩ Thế chiến sẽ không bao giờ xẩy ra nữa vì hai cuộc Thế chiến đã gây ra biết bao sự tàn phá khủng khiếp. Khoa học hiện đại đã cho thấy bộ óc con người là nơi phát sinh ra những sáng kiến và hành động mới.

Tuy nhiên nếu không có chiến tranh toàn cầu, vấn đề chiến tranh cục bộ lại là chuyện khác. Chúng ta đã thấy xẩy ra loại chiến này ở Libya, Afghanistan, Pakistan và Iraq. Đây là chiến tranh cục bộ, nhưng lại có sự can dự trực tiếp hay gián tiếp của các cuờng quốc từ bên ngoài. Hãy trở lại những diễn biến mới, có một ý nghĩa rất quan trọng. Cuối tuần qua, TT Obama tuyên bố Mỹ sẽ rút hết quân khỏi Iraq vào cuối năm và đến đầu năm tới Mỹ và Iraq sẽ khởi sự một “mối bang giao bình thường”.

Việc Mỹ đem quân đến Iraq, cũng như đến Afghanistan, Pakistan và một số nước ở Trung Đông là do quyết định của Tổng Thống Bush sau khi bọn khủng bố al-Qaida cướp phi cơ đánh vào New York năm 2001.

Trở lại việc rút quân Mỹ ra khỏi Iraq, TT Obama nói: ”Người lính Mỹ cuối cùng sẽ rút khỏi Iraq với niềm hãnh diện họ đã thành công trong sứ mạng ở đây, biết rằng người dân Mỹ sẽ đoàn kết trong sự yểm trợ quân đội của chúng ta”.

Dĩ nhiên không có gì bảo đảm từ nay Trung Đông sẽ yên ổn.
Thứ Ba tuần này, Đại sứ Mỹ Robert Ford đã rời khỏi nước Syria vì lý do an toàn. Syria cũng đang có nội loạn chống Tổng Thống Assad, người đã cai trị nước này theo chế độ độc tài độc đảng từ 40 năm qua.

Tại Tunisia, đảng Hồi giáo Ennahda ôn hòa đã thắng cử đầu tuần này. Nhưng sự đắc thắng này có thể sẽ khích lệ những đảng Hồi giáo khác ở Bắc Phi và Trung Đông. Trong khi đó Thổ Nhĩ Kỳ bị nạn động đất tới 7.2 độ.
Tất cả những diễn biến và khó khăn ghi trên đã khởi sự từ Thế kỷ 20 hay trước nữa. Chúng ta đã đi đến một thời đại mới, vào năm thứ 11 của Thế kỷ 21.

Cá nhân tôi vẫn tin ở luật tiến hóa kỳ diệu của bộ óc con người sống trên hành tinh này.
Trí tuệ tạo ra hành động. Chúng tôi nghĩ Thế kỷ 21 sẽ hoàn toàn khác.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Chống cộng còn hợp thời không ???

Vi Anh

Nếu Tú Xương sống lại thời này ắt sẽ than,

“Chống Cộng ngày nay đã hết thời,
Mười người chống Cộng chín người thôi.
HO về nước tìm bò lạc.
Tỵ nạn về quê kiếm chỗ chơi,”

như một số người bi quan, cầu an, sống nhiều với vợ con ít có dịp ra sinh họat với cộng dồng người Việt tỵ nạn CS đã nói. Còn nữa, còn nhiều “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” nơi không ít người người Việt tỵ nạn CS trên thế giới.

Mỗi năm người Việt tỵ nạn CS gởi về nước khoảng 8 tỷ. Mỗi năm không dưới 300 ngàn lượt người Việt hải ngoại đi về VN. Nhiều người trẻ tỏ ra cấp tiến, tỏ ra “ta đây đã Mỹ hóa” hơn cha mẹ, đồng hương, nghe lời những chánh trị gia Mỹ thực dụng và giả đạo đức chuyên thăm thò, thậm thụt với CS Hà nội kêu gọi bỏ quá khứ ra sau nhìn về tương lai phiá trước, “hoà giải hòa hợp” với CS Hà nội.

Thương buôn thì len lỏi về làm ăn, lợi dụng việc CS kềm “giá lương tiền” của công nhân VN, bóc lột mồ hôi nước mắt đồng bào, “ăn theo” với CS. Một số nhà báo tiếng Việt ở hải ngoại tiếp đón cán bộ cao cấp CSVN, tạo cơ hội cho các quan chức này tuyên truyền thêm cho ngôn ngữ vốn đã có sẵn trên 700 tờ báo quốc nội. Càng ngày càng có nhiều người ở Mỹ, đặc biệt ở Little Saigon thủ đô của người Việt tỵ nạn CS, bớt đi biểu tình chống Cộng, sợ bị hình chụp được mình, CS Hà nội không cho đi VN hay đi VN bị công an làm khó dễ. Càng ngày CS Hà nội càng chiêu dụ Việt Kiều đem chất xám, giấy xanh về phục vụ quê hương, miển chiếu khán nhập cảnh, cho mua nhà đất. Càng ngày CS Hà nội càng mở rộng và làm mạnh Nghị Quyết 36, để lũng đoạn hàng ngũ, phá hoại tinh thần Quốc gia của người Việt hải ngoại.

Song song CS Hà nội đã dùng nhiều hư chiêu câu móc và lũng đoạn tập thể người dân Việt trong ngoài nước. Ô Võ văn Kiệt, Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn minh Triết nói nhiều, nhiều chuyện, nhiều điều lắm, kể cả kiếm chuyện và vẽ chuyện để chiêu dụ. Nào là chuyện quên quá khứ hướng về tương lai đất nước; chuyện ra quyết định dân sự hóa Nghĩa Trang Quân đội Biên Hòa; chuyện ra quyết định giải tư một số lớn quốc doanh; chuyện Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đi diện kiến Giáo Hoàng Công Giáo La Mã; chuyện Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN hứa xét không cho đảng, quân đội, và Mặt trận Tổ quốc làm kinh tế trong đại hội sắp tới; chuyện có thể mời một số “Việt kiều yêu nước” về làm quan sát viên tại Quốc hội; chuyện phát hành sách trắng về Tôn giáo và chánh sách tôn giáo tại VN; chuyện miễn chiếu khán cho Việt kiều về VN; chuyện cho Việt kiều mua nhà ở VN; và chuyện có thể cho Việt kiều được ứng cử bầu cử.

Đừng tưởng những tuyên truyền CS nói trên không có ảnh hưởng trong hàng ngũ người Việt tỵ nạn CS ở hải ngoại. Tin ghi nhận được ở Âu châu, có người định đến thảo luận dân chủ với nhân viên sứ quán Cộng Sản Việt Nam ở Hoà Lan vì cho rằng họ rất cởi mở. Có người “tạo điều kiện” cho tân Đại sứ Việt Cộng ở Mỹ tuyên truyền, hoá giải vụ Trường Sa, Hoàng Sa qua báo chí của người Việt tỵ nạn CS ở hải ngọai. Có luồng tuyền truyền ngầm về hạ trào chống Cộng “10 người chống Cộng 9 người thôi”.. Hề hóa, nói diễu, ngạo mấy ông chống Cộng là mấy ông già “chống gậy”, mấy ông “nhà banh mặc đồ trận, mấy ông chánh khách chánh khứa” muốn phục hồi chế độ Việt Nam Cộng Hòa để làm tướng làm tá, làm bộ trưởng, nghị sĩ. Rồi lại còn hỏi tại sao không về nước nhà cho rõ sự tình, đất nước bây giờ xây dựng lại “giàu mạnh” lắm. CS cũng là người Việt tại sao không đem tiền bạc và kinh nghiệm, kiến thức về xây dựng quê hương. CS bây giờ đâu còn là CS nữa, Mỹ đã vào rồi, tại sao không dựa vào Mỹ về “tham chánh”, chia ghế, “dựa vào chánh quyền” phát triển đạo; chống Cộng làm gì nữa, đấu tranh với CS rồi “tránh đâu.” Số ấy tuy là số tối thiểu số, nhưng có người lén về VN, đi bằng hai đầu gối định xin “chia ghế” nếu không được dân biểu thì làm quan sát viên.

Nhưng chân lý lịch sử cận đại đã chứng minh. Các phong trào đấu tranh tự do, dân chủ yếu cỡ nào, còn CS Liên xô và CS Đông Âu mạnh ra sao nào. Người dân bị trị ở đó sống trong gọng kềm CS, mà dấu tranh, chiến đấu chống Cộng nào khác gì châu chấu chống xe. Nhưng xe lại lật đổ, như Liên xô và các nước CS ở Đông Au sụp đổ, chết yều mới 70 năm so với lịch sử tính bằng thế kỷ.

Trước những hư chiêu của CS và những người đón gió trở cờ, còn có một số đông dĩ bất biến ứng vạn biến. Tin tưởng chống Cộng là đấu tranh cho điều Thiện và diệt Ác, đấu tranh giữa hữu thần và vô thần, giữa chủ nghĩa quốc gia dân tộc và Cộng sản quốc tế vô tổ quốc. Chống Cộng là đấu tranh cho tự do tôn giáo, tự do dân chủ, và nhân quyền VN. Chống Cộng là chống độc tài đảng trị tòan diện như người dân Tunisia, Ai cập, Libya đã dứng lên lật đổ độc tài tạo nên Mùa Xuân Á rập đang diễn tiến. Bạo chúa Gadhafy trấn áp dân tàn bạo rồi cũng kết thúc cuộc đời độc tài trong một ống cống.

Không phải một mình người Việt trong ngoài nước chống Cộng, mà Loài Người tiến bộ đang chống Cộng. Quốc Hội Liên Âu đã kêu án và đưa chủ nghĩa CS nhốt chung với Đức quốc xã. Mỹ đã xem CS Hà nội là chế độ vi phạm tự do tôn giáo. Quốc kỳ VN nền vàng ba sọc đỏ được chánh quyền của phân nửa dân số Mỹ thừa nhận là biều tượng của người Việt đấu tranh cho tự do, dân chủ. Các tổ chức quốc tế bảo vệ nhân quyền, Hội Ân xá Quốc tế trụ sở ở Anh, Hội Phóng Viên Không Biên giới trụ sở ở Pháp, Hội Bảo vệ Nhà báo trụ sở ở Mỹ đều lên án CS Hà nội chà đạp quyền tự do căn bản của Con Người.

Chống Cộng là chống chế độ CS Hà nội độc tài, đảng trị toàn diện, chống chế độ cai trị đã tước đoạt quyền tự do căn bản bất khả tương nhượng của con người VN, chớ không chống đất nước và nhân dân VN là chủ thể thực sự của vận mạng nước non. Chống chế độ độc tài đảng trị CS Hà nội vì đó là chế độ vì đảng, do đảng, của đảng CS. Không nhơn danh nào, không lý do gì có thể biện minh cho CS có thể “làm vua suốt đời, làm chúa muôn thuở”, sống trên đầu trên cổ người dân Việt như vậy được. CS là một chủ nghĩa đã rõ rệt thất bại ngay tại cái nôi của CS ở Liên xô và Đông Âu. CS là một cái gì xấu xa, hư hại không thể thay đổi, chuyển hóa được, chỉ có thể vứt bỏ nó đi thôi. CS Hà nội biết rõ nên không bao giờ nhượng một tí quyền hành nào, sợ ngồi trên lưng cọp xuống bị cọp ăn.

Trong suốt nửa thế kỷ ở Miền Bắc và một phần ba thế kỷ ở Miền Nam, chưa bao giờ phong trào nhân dân chống Cộng mạnh và đều, đa dạng, đa diện và đa số hơn 3% Cộng sản so với dân số VN như bây giờ. Có đấu tranh ôn hòa, có quá khích. Có quốc tế vận là đấu tranh gián tiếp qua trung gian các siêu cường làm áp lực CS Hà nội. Có đấu tranh trực tiếp và trực diện như quí vị lãnh đạo tôn giáo, trí thức đang làm trong nước. Có biểu tình chống đối CS, kiến nghị gởi chánh khách quốc tế hay phê bình, chỉ trích nhà cầm quyền CS là cách làm ở xứ sở tự do hải ngoại. Các cuộc cách mạng giải trừ CS ở Đông Âu và các cộng hòa cựu Sô viết của Liên xô tuy được gọi là “cách mạng màu” nhung, cam, tulip nghe rất hòa dịu nhưng trận đương đầu cuối cùng lúc nào cũng là một cuộc biểu tình triều dâng thác đổ của người dân, có máu, nước mắt, mô hôi.

Chống Cộng là sự nghiệp của đời người, công trình của thế kỷ, là sự sống còn của đất nước dân tộc, tuổi thọ tính bằng đơn vị, trăm hay ngàn năm. Không có chuyện hợp thời hay không hợp thời. Tình hình thay đổi, chiến thuật có thể quyền biến. Nhưng cứu cánh chưa đạt thì không thế nói công cuộc đó hợp thời hay lỗi thời. 75 năm dai dẳng và âm thầm đấu tranh bằng nhiều cách, người dân Nga, các cộng hòa trong Liên bang sô viết trong sô viết, và các nước Đông Âu mới lật được chế độ CS, có ai nói lỗi thời hay lạc hậu đâu!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 11 guests